Ngày 15/5, Đại sứ Việt Nam tại Đức Nguyễn Thị Hoàng Anh cùng toàn thể cán bộ, nhân viên đã tới dâng hương tại bàn thờ Bác ở Đại sứ quán ở Berlin, để kỷ niệm 125 ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2015).
Đại sứ Nguyễn Thị Hoàng Anh phát biểu tại lễ kỷ niệm. (Ảnh: Mạnh Hùng/Vietnam+)
Đại sứ Nguyễn Thị Hoàng Anh đã điểm lại thân thế và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó khẳng định lòng tự hào và biết ơn vô hạn đối với Bác, vị Cha già của dân tộc, Lãnh tụ kiệt suất của đảng CS Việt Nam.Đại sứ nêu rõ sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3/2/1930 gắn liền với tên tuổi của Người, đánh dấu mốc son chói lọi trên con đường phát triển của đảng
Dân nhịn đói đảng bỏ tiền tỉ làm tượng đài Hồ Chí Minh mới khắp nước!
Tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được chính quyền dựng nhiều nơi ở Việt Nam
Một bức tượng của cố Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa được khánh thành tại trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh hôm Chủ nhật ngày 17/5 nhân kỷ niệm 125 năm ngày sinh của ông.
Bức tượng theo dáng đứng, khắc họa ông Hồ Chí Minh đang đứng vẫy tay, được đặt tại vị trí trước Ủy ban Nhân dân Thành phố – tức đoạn đầu đường Nguyễn Huệ vừa được cải tạo thành phố đi bộ Nguyễn Huệ.
‘Giáo dục giới trẻ tin Đảng’
Bức tượng này có chiều cao 7,2 mét tính từ bệ tượng và thay vào chỗ bức tượng ngồi trước đó cũng khắc họa Chủ tịch Hồ Chí Minh với thiếu nhi, theo truyền thông trong nước. Riêng bức tượng có chiều cao 4,5 mét và được làm bằng hợp kim đồng.
Báo chí trong nước không hề cho biết chi phí để làm bức tượng mới này là bao nhiêu. Trong khi đó, bức tượng cũ đã được chuyển vào khuôn viên Nhà Văn hóa Thiếu nhi.
Tượng đài này được thực hiện sau khi đã trải qua sự thẩm định kỹ lưỡng của Bộ Chính trị và Ban bí thư của Đảng Cộng sản Việt Nam.
“Tượng Bác phải thật sự đẹp, sinh động, tự nhiên, tư thế vững chắc, khỏe khoắn... phản ánh được thần thái ung dung, phúc hậu, nhân từ và tình cảm của Bác đối với đồng bào miền Nam,” – đây là yêu cầu của Ban bí thư đối với bức tượng này được Thông tấn xã Việt Nam dẫn lại.
“Đối với miền Nam, đối với Sài Gòn, Bác Hồ luôn có tình cảm yêu thương đặc biệt sâu nặng,” Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng được dẫn lời phát biểu tại buổi lễ khánh thành bức tượng.
Ông Trọng mong rằng bức tượng này sẽ ‘góp phần giáo dục truyền thống đối với các thế hệ trẻ, qua đó hun đúc lòng yêu nước, thương dân, tin Đảng’.
‘Nhân vật gây tranh cãi’
Nhà thơ Đỗ Trung Quân, một người dân ở Thành phố Hồ Chí Minh và là người mới tuyên bố ra khỏi Hội Nhà văn Việt Nam do chính quyền kiểm soát, nói với BBC rằng trong buổi sáng khánh thành tượng đài ông thấy ‘an ninh xuất hiện trước cửa’ nhà ông.
Bình luận về việc dựng tượng này, anh Nguyễn Tiến Trung, một cựu tù chính trị, nói với BBC: “Thật ra việc dựng tượng danh nhân là điều nên làm, nhưng đối với một nhân vật gây tranh cãi với các thông tin đều bị bóp méo (như ông Hồ Chí Minh) thì không nên.”
“Sau này nếu các thông tin được bạch hóa thì có thể sẽ xảy ra chuyện không hay với bức tượng đó,” anh nói.
Theo anh Trung thì dựng tượng ông Hồ Chí Minh hay phát động phong trào học tập và làm theo tấm gương của ông ‘không giải quyết các vấn nạn của xã hội hiện nay’ vì ‘tham nhũng vẫn tràn lan và đạo đức xã hội vẫn suy đồi’.
“Vấn đề là các lãnh đạo hiện nay có làm tấm gương hay không,” anh nói.
Những nụ hôn vượt "biên giới" của "Bác"
x...
Chủ Tịch Hồ được bảo hãy dừng hôn các em gái. "Nó vi phạm phong tục của Indonesia"
Jakarta, Thứ 7, 03, 1959- Chủ tịch Hồ Chí Minh của Bắc Việt, 68 tuổi, đã bị bảo một cách thẳng thừng rằng phải ngưng việc hôn hít các em gái Indonesia và tôn trọng những điều dạy của Hồi giáo. Báo chí Indonesia đã phê bình Chủ tịch Hồ về việc thường xuyên hôn hít trong chuyến viếng thăm 10 ngày xuyên qua Java và khu nghỉ mát quần đảo Bali. Hôm nay, ông A. N. Firdaus, tổng thư ký của Toàn Quốc hội Hồi Giáo Indonesia tuyên bố: "Những hôn hít đó vi phạm luật Hồi giáo được 90% dân chúng Indonesia tin vào".
x...
"Ảnh hưởng" "Hôn hít các em gái nơi công cộng cũng là một vi phạm phong tục Indonesia." Ông Firdaus bổ túc. "Có thể chủ tịch Hồ Chí Minh bị ảnh hưởng quá nhiều bởi tuyên truyền cộng sản nên ông ta nghĩ rằng những giá trị đạo đức của Indonesia cũng tương tự như của cộng sản." Tờ báo của cánh xã hội Pedoman, một trong những tờ báo hàng đầu của Jakarta mới đây cũng ám chỉ đến một bài chủ bút trên Harian Rakjat trong đó đã chỉ trích vụ sôi động này là "kết quả của văn hoá Mỹ" và bồi thêm rằng "chuyện hôn hít của Chủ tịch Hồ rõ ràng là sản phẩm mới nhất của văn hoá Liên Sô."
"Đoàn Kết" Báo chí cộng sản đã nhào vào chống đỡ lãnh đạo Bắc Việt và gọi chuyện hôn hít của ông ta là "biểu lộ của sự đoàn kết và thương cảm, điều đã được thúc đẩy bởi Tổng thống Soekarno". Tờ Harian Abadi cho rằng người trưởng khánh tân của Bộ Ngoại giao nên nói nhỏ vào tai những người khách của quốc gia rằng họ nên hành xử như thế nào". Tờ báo cũng viết thêm: "Chúng ta thật tình không hiểu từ đâu mà những người khách ngoại quốc có cảm giác rằng ở đất nước chúng ta việc hôn hít những bà vợ và những con gái của chủ nhà là tạo nên một tục lệ cao quý. "May mà Bác Hồ là một ông già" Một nghị viên nữ của Nghị viện Indonesia, bà Mawardi Noor nói rằng việc hôn hít của Chủ tịch Hồ là điều đáng tiếc. "Tôi hy vọng cách cư xử của Hồ sẽ không trở thành tập quán ở đây." Hồ Chủ tịch trở lại Jakarta hôm nay từ Bali. Ông ta sẽ rời vào ngày mai để đi Medan, Sumatra nơi mà ông ta sẽ nghỉ tối trên đường về lại Hà Nội. Dân Làm Báo dịch U.P.I Nguồn: The Straits Times eresources.nlb.gov.sg/newspapers/Digitised/Article/straitstimes19590308-1.2.69.aspx
Đây có hình ảnh hẳn hoi chứ không thì lại bảo là nói xấu bác dê.
x...
Tay Hồ nâng cằm bé gái, miệng Hồ chúm hôn bé gái và liền sau đó Hồ khen các cô bé gái: You are beautiful. Theo những nghiên cứu của Âu Mỹ, bọn mắc chứng Ấu Dâm (Pedophile) như Hồ Chí Minh không thể nhịn được khi gần các em bé gái. Hồ Chí Minh đúng là tên "Cha Già Dâm Tặc".
Từ trái qua: Ông Tôn Đức Thắng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và ông Hoàng Quốc Việt trong căn cứ kháng chiến Việt Bắc năm 1948.
AFP photo
Nỗ lực của hệ thống cộng sản phương Đông là tạo nên một tính chất tôn giáo, và nguồn cảm hứng của một tôn giáo.
Albert Einstein
Đời sống không Tình Thương giống như cây không nở hoa, đơm trái.
Khalil Gibran
Tôi biết nó!
Thằng nói câu nói đó!
Tôi biết nó!
Đồng bào miền Bắc biết nó!
Nguyễn Chí Thiện, 1968
Không có gì quý hơn Độc Lập–Tự Do.
Hồ Chí Minh
Xã hội chủ nghĩa dẫu chưa hoàn chỉnh nhưng tốt đẹp gấp vạn lần chế độ tư bản!
Trường Chinh, dịp “Thống nhất nước nhà về mặt nhà nước”, 1976.
Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô. Đánh cho Trung Quốc.
Lê Duẩn
Đường vinh quang xây xác quân thù! Thề phanh thây uống máu quân thù!
Tiến Quân Ca của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa/Cộng Hòa XHCN Việt Nam
Văn Cao, Trưởng Ban Ám Sát Thành Phố Hải Phòng, 1945
Người cộng sản phải luôn sẵn sàng trong mọi thời thế để đấu tranh cho Sự Thật, bởi Sự Thật chính là Quyền Lợi của Nhân Dân.
Mao Trạch Đông “Về Chính Phủ Liên Hiệp” (Ngày 24 tháng 4, 1945)
Dẫn Nhập: Vào một ngày dịp Tết năm 1950 qua 1951, trong chiến khu tả ngạn sông Hương, đứa nhỏ hỏi một cán bộ cộng sản loại cao cấp tên Nhân (chắc chỉ là bí danh; có cây súng cá nhân nhỏ): Tại sao súng chú to vậy? Chú Nhân đáp: Súng to dùng để bắn Tây. Vài ngày sau người trong khu khám phá xác bà mẹ chị Trang ( người giúp việc cho gia đình đứa nhỏ) chết ngã sấp nơi bờ sông, chỗ đứa bé và chú Nhân có đối thoại kể trên. Vừa thấy xác mẹ chị Trang, đứa nhỏ nhớ ngay đến hai hình ảnh: Đêm đêm bà đút nước cháo cho du kích. Và ánh mắt tìm kiếm, dò xét của chú Nhân khi loay hoay nơi bờ sông.. Nay, sáu mươi năm hơn, trí nhớ của đứa trẻ chưa lên mười năm ấy vẫn còn nguyên độ với câu tự xác định từ tấm bé: Chú Nhân bắn mẹ chị Trang chứ không ai hết. Chú Nhân ÁC quá!
Kể thêm câu chuyện, qua năm 1954 sau khi đã vào Đà Nẵng, đến khu bệnh viện Đường Lê Lợi (sau 1954 sửa chữa thành Trường Nam Tiểu Học; sau 1975, nhà nước cộng sản đổi thành Trường Trung Học Cơ Sở Phan Châu Trinh thay thế Trường Phan Châu Trinh cũ (đối diện với trường Nam Tiểu Học) xem cuộc triển lãm tranh ảnh của Chiến Dịch Tố Cộng.. Nhìn thấy bức ảnh ông Hồ ngồi giữa một đám thiếu nữ với lời ghi chú “Bác Hồ dâm bôn”. Dẫu chưa hiểu đủ nghĩa chữ “dâm bôn” nhưng gã thiếu niên tin rằng ““Bác Hồ (quả thật) dâm bôn” vì nhìn ra nét mặt hả hê thống khoái của ông Hồ được nhiều thiếu nữ vây quanh. Qua thập niên 60, lớn lên đi lính dịp hành quân, bản thân tìm thấy trong mật khu cộng sản những hình ảnh ông Hồ ôm hôn trẻ con (phần đông là trẻ gái) từ trong Nam ra Bắc...
Từ những sự kiện nầy, ý “dâm bôn” đối với Hồ Chí Minh từ nhỏ được khẳng định/rõ hơn là ấu dâm-Hiện thực nên thành chữ nghĩa trong Phan Nhật Nam, Chương “Cái Chết Của Một Lãnh Tụ - Dọc Đường Số I, NXB ĐạiNgã Sàigòn, 1970. Và sau nầy, khi đọc đến vụ việc Hồ Chí Minh thuận để bộ trưởng công an Trần Quốc Hoàn hiếp xong giết hại cô Nông Thị Xuân, người đã thai sinh Nguyễn Tất Trung sau thời gian dài ăn ở với ông Hồ dưới danh nghĩa “con nuôi của bác”. Với vụ việc nầy cảm nhận từ những năm 50, 60 xa xôi kia càng trở nên hiện thực qua kết luận: Hồ Chí Minh là biểu hiện thuần thành của Tính Dâm/Sự Ác.Nói rõ hơn: Nơi nhân sự có tên Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Sinh Côn, Nguyễn Ái Quốc, Linov, Lão Vương, Hồ Quang.. mà cuối cùng là Hồ Chí Minh thì Lực Dâm đã được chuyển hóa nên thành Mưu Thuật/Trí Hiểm/Bản Lãnh một cách toàn diện và triệt để của Sự Ác.
Ý niệm ÁC từ 1950, 1960.. về người và chế độ cộng sản điển hình với HCM dần được xác chứng bởi mắt thấy/tai nghe/thính giác ghi nhận/xúc giác chạm đủ với tận mười đầu ngón tay tại những hiện trường còn mùi bom đạn/âm âm sự chết/đầm đìa sự tàn nhẫn do người cộng sản gây nên khắp từng thước đất miền Nam. Sự Chết với tác nhân cộng sản bày ra đủ từ vùng Châu Thổ sông Cửu Long qua chiến khu D, vùng rừng miền Đông Nam Bộ; ở Cao Nguyên Trung Phần đầu nguồn sông Ia Drang.. Và cụ thể với mỗi con đường, mỗi căn nhà ở Huế sau Mậu Thân (2/1968). Điển hình hơn hết trên 9 cây số đường từ Hải Lăng đến Cầu Câu Nhi Phường, ngày theo Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù tái chiếm Quảng Trị 25 tháng 6, 1972. Và cuối cùng, nói sao cho đủ, viết sao cho hết với mỗi bước chân dẫm lên xác người di tản từ Pleiku về Tuy Hòa, bắt đầu Ngày 16 Tháng 3, 1975 đề kết thúc đúng giờ Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng với thây một con trẻ nát nhầy trước Trại Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù Đường Lê Văn Duyệt, đối diện Nghĩa Trang Đô Thành. Tiếp theo với mười-bốn năm nơi những nhà tù Bắc/Nam sau 1975 thì xác chứng kể trên đã nên thành một xác quyết không thể nào phủ nhận được - Cộng Sản/Sự Ác là Một.
Đèn Cù của Trần Đĩnh đến năm 2014 mới được in ra. Quá trễ. Nhưng muộn còn hơn không bởi còn nhiều người, rất nhiều người vẫn tin rằng: Người cộng sản dẫu sao cũng là người việt nam (không thể có can đảm viết hoa vì không đủ nhẫn tâm đối với 90 Triệu Người Việt Nam hiện tại đang ở trong nước). Bài viết sẽ được chứng minh từ, với chữ của Trần Đĩnh chứ không phải của ai khác – Đảng viên đảng cộng sản việt nam, từ 1948, bắt đầu 1951 viết báo “Sự Thật”. Cái gọi là “Sự Thật” đến bây giờ mới được soi tỏ bởi ánh sáng một cây Đèn Cù – Một loại đèn với hình ảnh, ánh sáng không thật.
Một- Đảng không thật/Đảng không mạnh
Đảng không thật. Vì ngay từ lúc chưa chính thức thành hình, năm 1925, Nguyễn Sinh Côn (Hồ Chí Minh sau nầy) thử “Việt Nam Hóa” tổ chức thanh niên cộng sản do ông thành lập qua danh xưng Việt Nam Thanh Niên Kách Mệnh Ðồng Chí Hội. Mưu định “Việt Nam Hóa” bị khám phá, ông Côn bị thất sủng do nghi ngờ có tinh thần “hữu khuynh quốc gia” đối với Ban Phương Ðông của Quốc Tế Cộng Sản. Năm 1930, ông lại thêm một lần bị chỉ trích và phê phán vì đã tự động thống nhất ba chi phái cộng sản (Đông Dương Cộng Sản Đảng; Đông Dương Cộng Sản Liên Đoàn; An Nam Cộng Sản Đảng) dưới danh xưng Việt Nam Cộng Sản Ðảng! Quốc Tế Cộng Sản cực lực lên án sự thống nhất với danh xưng nầy vì cho đây là biểu hiện của sự phân liệt, đặt mục tiêu quốc gia lên mục tiêu quốc tế. Cuối cùng, tổ chức cộng sản (gọi là Việt Nam) đầu tiên phải lấy lại tên cũ: Đông Dương Cộng Sản Đảng! Quyết định do Đại Hội Trung Ương Đảng Lần Thứ Nhất họp tại Hồng Kông (Tháng 10, 1930) căn cứ trên nghị quyết của Quốc Tế Cộng Sản. Như thế Đảng cộng sản (gọi là) Việt Nam sống đúng được 8 tháng từ tháng 2 đến tháng 10 năm 1930.
Nhưng dẫu đã ngoan ngoãn tuân hành Quốc Tế Cộng Sản.. Tháng 12, 1945, Đảng Cộng Sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán với tờ báo đầu tiên của nó, Cờ Giải Phóng. Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác (không cõng kèm theo chủ nghĩa Lê-nin) bèn ra đời cùng báo Sự Thật (Lại thêm một lần của nhiều vay mượn, vì “Pravda -Sự Thật" là cơ quan ngôn luận của Ủy ban Trung ương Đảng Lao động Dân chủ Xã hội Nga và Đảng Cộng sản Liên Xô từ 1912 đến 1991. Sau nầy, Sự Thật/VN được thay thế bởi Nhân Dân, số báo đầu tiên ra ngày 11 Tháng 3 năm 1951 tại chiến khu Việt Bắc. Báo Sự Thật/Nhân Dân/CSVN giữ vai trò tương tự như báo của Liên Xô cho đến hôm nay, Thế Kỷ 21, với tổng số phát hành 180.000 tờ/ngày. Hầu hết người Việt, kể cả đảng viên, các cơ quan nhà nước thường dùng gói đồ, việc vệ sinh.. Pnn) Đây là một vận động trái khoáy, ngược chiều cực kỳ hiếm mà lúc ấy (1945-Pnn) tôi chưa biết: Vừa giành được chính quyền để nổi lên thì đảng đảng lập tức “thoái trào”, rút vào bí mật, giấu tiếng, ẩn danh như chưa từng có bao giờ.. (ĐC, trg 19)
Giải tán đảng, đổi tên báo không phải là việc làm tùy tiện, nhất thời của HCM, ủy ban trung ương đảng.. Trần Đĩnh giải thích: “..Cụ Hồ mượn tên Trần Lục (HCM luôn có thói tiếm danh/dấu tung tích (như đã một lần với danh xưng Nguyễn Ái Quốc của nhóm Ngũ Long – Năm Người An Nam Yêu Nước ở Paris, 1919) của Cụ Sáu, Phêrô Trần Lục (1825-1899), giáo sĩ nổi tiếng vùng Bùi Chu, Phát Diệm) chỉ viết đến kháng chiến thắng lợi và đất nước hạnh phúc chung chung. Ai rồ mà nói lại chủ nghĩa xã hội, cải cách ruộng đất,thủ tiêu giai cấp? Để cho dân bỏ vào tề (Tề/Thành/T: Vùng quốc gia –Pnn). Về danh nghĩa đảng đã giải tán hoạt động trong bóng tối che chắn của chính quyền (Chính phủ liên hiệp/Chính phủ kháng chiến, thành hình tại Hà Nội, 2/9/45 -Pnn) do đảng nắm chặt (ĐC- Trg 28)
Cần nhắc lại, năm 1942, Hồ Chí Minh (đang mang tên Nguyễn Ái Quốc bị Quốc Dân Đảng Trung Hoa cầm tù) và tổ chức cộng sản (Việt Nam) cũng đã một lần buộc phải cởi lốt, mặc áo khác, trốn sau lưng một danh xưng khác.. “Theo lệnh trung ương (đảng), Hoàng Quốc Việt đến bảo Kỳ Vân (Một đảng viên trung ương cự phách, sau nầy phải tự vẫn vì tội “chống đảng”, cả gia đình phải chịu liên hệ. Sẽ nói lại nhân vật kiệt liệt nầy ở chương sau-Pnn) sang Hoa Nam tham dự đại hội Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội do Quốc Dân Đảng Trung Hoa, Tưởng Giới Thạch triệu tập cuối năm 1942. Họ (Quốc Dân Đảng Trung Hoa-Pnn) muốn thống nhất các tổ chức chính trị Việt Nam ở Hoa Nam để đánh Nhật ở trong nước.. Cũng nhờ Hồ Học Lãm (Phe cách mạng quốc gia-Pnn) nói với Trương Phát Khuê(Một thủ lãnh Quốc Dân Đảng Trung Hoa-Pnn) nên cụ (NAQ/HCM-Pnn) được ra khỏi tù cùng với Nguyễn Hải Thần(Phe cách mạng quốc gia-Pnn) về nước lãnh đạo Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội (Gọi tắt Việt Minh) - ĐC; Trg 39).
Tóm lại, tất cả nguyên nhân quyết định tiên khởi để có “Cách mạng mùa Thu/Cướp chính quyền/Tuyên ngôn độc lập đọc tại Ba Đình ngày 2/9/45” là từ đây: Nguyễn Ái Quốc/Hồ Chí Minh được ra khỏi nhà tù của Tưởng Giới Thạch do sự bảo chứng của Hồ Học Lãm, Nguyễn Hải Thần, những lãnh tụ cách mạng quốc gia đối với Quốc Dân Đảng Trung Hoa.
Đảng không mạnh. Tháng 10, 1949 nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa ra đời. Hơn hai tháng sau cụ Hồ (đã là chủ tịch nước VNDCCH từ 2/9/1945-Pnn) bí mật len qua vùng địch ở Phục Hòa, Cao Bằng đi Trung quốc..
...Đâu biết đại thí sinh sắp dự cuộc khẩu thí mà nếu trúng tuyển thì đất nước sẽ đoạn tuyệt hẳn với thế giới..
...Ông cụ sang kiểm thảo với Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai..
... Ông cụ kiểm thảo xong, Lưu Thiếu Kỳ nhận xét, góp ý kiến..
...
-Sao lại kiểm thảo?
-Là một chi bộ của quốc tế. Phải xin quốc tế cho nhận xét chứ!…
Nhưng hệ lụy đã nằm sâu bến trong vô thức đảng viên cộng sản Việt Nam: Vị trí đàn em, bên dưới, yên phận, biết ơn..
...Xuân Trường (Ủy viên trung ương đảng, thập niên 60, 70-Pnn) bác nhà mình chủ động khẳng định với Bác Mao quan hệ môi răng giữa Việt Nam và Trung Quốc..
...Bác tự động nhận mình chỉ nêu được có tác phong, còn tư tưởng, lý luận thì để cho Mao Chủ Tịch. Được lãnh tụ ráo riết giáo dục (?-Pnn) điều lệ thêm câu: Lấy tư tưởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam…
…Từ 1951, tuần nào báo Nhân Dân cũng có vài mẫu của CB (tức cụ Hồ) phổ biến mọi mặt của Trung Quốc.. Dần dà đảng viên cộng sản Việt Nam lại tìm ra chỗ để tự hào được làm em của hai nước vĩ đại: Liên Xô anh cả và Trung Quốc anh hai..
(ĐC, từ trg 47-51)
Từ 1951 đã là vậy huống gì đến năm 1954 với yểm trợ của Trung cộng từ bát ăn cơm, bánh lương khô, đến khẩu pháo kéo vào trận địa.. Nên dẫu đã chiến thắng trong những ngày đầu Tháng 5, 1954. Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp đã buộc phải đến Liễu Châu theo lệnh từ Bắc Kinh trong lúc thế nước đang hồi quyết định để tiến hành tám lần họp trong ba ngày (3-5 Tháng 7, 1954). Cuộc họp đưa ra quyết định trọng đại tại Hội Nghị Đình Chiến Đông Dương đang họp tại Genève (7/1954) đối với số phận tương lai của Việt Nam dưới chủ trì của Chu Ân Lai nhận lệnh trực tiếp từ Mao Trạch Đông.
40 năm sau, 1990 tại Thành Đô, Trung Hoa khi hệ thống đảng cộng sản thế giới đang trong tình thế ngàn cân treo sợi tóc. Với tập đoàn lãnh đạo gồm những nhân vật thứ yếu như Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười..Và dẫu có sự tham dự của cố vấn Phạm Văn Đồng, thuộc thế hệ lãnh đạo cộng sản thứ nhất cùng đến Thành Đô. Nhưng cố vấn Đồng cũng chỉ có mặt đề xác chứng thêm một lần thuận nhượng Hoàng-Trường Sa qua công hàm ấn ký ngày 14 tháng 9, 1959 về quy định của Châu Ân Lai. Vậy hỏi thử tập đoàn cầm đầu đảng cộng sản nơi Hà Nội hôm nay có thể xoay trở được gì qua sự kiện giàn khoan HD981?
Trong suốt quá trình gần một thế kỷ (1930-2014), Đảng cộng sản Việt Nam không hề thật/Đảng không hề mạnh/Đảng chỉ là vệ tinh của Quốc Tế Cộng sản, nói rõ hơn thống thuộc với Đảng cộng sản Trung Hoa. Và tất cả tai họa cuối cùng chung nhất của toàn Dân Tộc Việt Nam rộng ra với dân chúng ba nước Đông Dương (tất nhiên bao gồm cả người/tổ chức đảng cộng Đông Dương/Đảng cộng sản VN) không phải là vấn đề: “Mao nhều”- Chữ của Trần Đĩnh để chỉ nhóm ”thuần Mao” nơi tòa soạn báo Nhân Dân, nhà xuất bản Sự Thật, Bộ chính trị ở Hà Nội.. Hay là nhóm gọi là “Xét Lại” tức là thành phần “Mao (không) nhều” mà là “Khruschev gộc” tức là nhóm theo Liên Xô/Thuần Nga..v..v.
Những vấn đề như trên là “VẤN ĐỀ GIẢ”. Vấn đề chính là “Hồ hàm” tức là “Thuần Hồ/Từ Hồ/Của Hồ/Với Hồ” – Đầu mối toàn bộ tai họa của Phận Mệnh Việt Nam/Đông Dương. Tập thể “Hồ hàm”” không chỉ giới hạn nơi Hà Nội mà có mặt của Mặt trận giải phóng Miền Nam; Đảng Nhân Dân Cách Mạng Lào; đảng Nhân Dân Cách Mạng Khmer – Những sản phẩm thuần thành từ Đảng cộng sản Đông Dương/VN – Tức là của “Hồ hàm” chứ không thể của ai khác. Đây là nội dung của những phần kế tiếp mà bản thân phải nói cho đến tận cùng khi Viết với Tính Thật của hôm nay 2/9/2014 thay thế Lịch Sử bị đánh tráo từ 2/9/1945 khi đọc Đèn Cù của Trần Đĩnh.
Bởi, chỉ mấy chục trang sách từ 19 đến 51 thôi mà Trần Đĩnh phải đợi hết một đời người mới viết được viết nên!
Hai- Thuần Hồ/ Của Hồ/Với Hồ
Quả thật Đảng cộng sản Việt Nam không phải hên may mà đoạt thắng suốt lịch sử dài từ 1945, 1954, 1968, 1972, 1975... nhưng bởi đã tập họp đủ các điều kiện thuận tiện, vận động thời cơ đúng lúc, lợi dụng được tình thế.. do những sơ hở, nhầm lẫn của lịch sử luôn lập lại. Những nhầm lẫn khách quan và chủ quan của thế trận quốc tế, nơi khu vực Đông Nam Á đưa tới để thực hiện “Cách mạng Tháng 8 năm 1945”; những lổ hổng (có dự tính của các bên đàm phán) của Hiệp Ước Đình Chiến Đông Dương 1954; những mù mờ (rất nhiều tính toán của các bên giữ phần quyết định) khi ký kết Hiệp Định Tái Lập Hòa Bình Tại Việt Nam 1973.. Những nhầm lẫn, dự mưu, tính toán từ nhiều thế hệ lãnh đạo mang đủ quốc tịch Mỹ, Hoa, Nga, Anh, Pháp..Những nhân sự khôn ngoan, trí hiểm nói lên lời và thực hiện đủ sách lược: “Trong chính trị không có kẻ thù vĩnh viễn chỉ có lợi ích (quốc gia của mỗi bên) là không thay đổi.. “ Đây là những người không hề kể đến mối đau VN, vì “Việt Nam Cộng Hòa” hay “Việt Nam Cộng Sản” không là mối quan tâm của họ như trong lần Cố vấn an ninh quốc gia Kissinger bàn tính với Thủ tướng Châu Ân Lai ở năm 1972 về cục diện Đông Nam Á, thế trận toàn cầu. Và cuối cùng, nhân vật tên gọi Nguyển Tất Thành, Nguyễn Sinh Côn, Linov, Thầu Chín, Lão Vương, Hồ Quang, Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh và những kẻ phụ tá, Trường Chinh, Lê Duẩn, Võ Giáp, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ… cùng một tập thể gồm những cá nhân thuộc tổ chức đảng cộng sản – Tập thể tuy gọi là người Việt nầy nhưng suy nghĩ, hành động theo chỉ đạo của tổ chức cộng sản quốc tế, cụ thể những nghị quyết xuất phát từ Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh.
Kể từ Hội Nghị Thành Đô 1990 Bắc Kinh chiếm giữ độc quyền chỉ đạo Hà Nội, sau khi đảng và nhà nước cộng sản Liên Xô tan rã, 1991. Đồng thời trong quá trình tuân phục tổ chức quốc tế cộng sản, giới cầm quyền đảng, nhà nước cộng sản VN luôn áp dụng một phương cách, phương tiện, điều kiện,hoàn cảnh riêng để thực hiện cho bằng được mục tiêu: “Bao nhiêu lợi quyền tất qua tay mình. Đấu tranh này là trận cuối cùng. Kết đoàn lại để ngày mai.. Sẽ là xã hội tương lai..” như bài hát Quốc Tế Ca kêu gọi thúc dục. Chỉ khác, nội dung bài hát được sáng tác năm 1870 từ lời thơ viết bởi trái tim cao thượng của Eugène Pottier (1816–1887), sau được Pierre Degeyter (1848–1932) phổ thành khúc ca hùng tráng thì quyền lợi hôm nay không vào tay của giai cấp công nhân-nông dân như lời tuyên truyền khuyến dụ của Karl Marx, Lenin, Stalin, Fidel Castro, Kim Nhật Thành, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh khi khởi nghiệp bạo loạn, cướp chính quyền. Trái lại, hai giai cấp tiền phong nầy trở thành thành phần cùng khổ, đọa đày nhất với thực tế suốt một thế kỷ vừa qua và hiện nay. Công nhân, nhất là nông dân chiếm số lượng lớn trong tổng số 100 triệu người bị giết bởi những chế độ cộng sản Đông- Tây. Và giai cấp gọi là “vô sản chuyên chính cầm quyền” trở thành một loại “tư bản đỏ/thái tử đảng” – Hội đủ toàn phần những tính chất “tàn bạo/bóc lột/phản động/lạc hậu/độc đoán/tham lam/ích kỷ..” của tất cả những chế độ, cá nhân độc tài cầm quyền mà lịch sử nhân loại hẳng chứng kiến. Tập đoàn những cá nhân - gia tộc-phườnghội-bè đảng hiện đang ở Bắc Kinh, Hà Nội, Bình Nhưỡng, La Havana.. Putin, kẻ cầm quyền hiện tại nơi nước Nga cũng là một sản phẩm của thứ loại cầm quyền nầy chứ không thể ai khác. Chúng ta hãy xem người cộng sản VN đoạt quyền/thu lợi/chiếm giữ vị thế như thế nào.
Cần nhắc lại sự kiện, được sự đồng ý của Quốc Tế Cộng Sản, Tháng 12, 1945, Hồ Chí Minh giải tán Đảng Cộng Sản Đông Dương, tức tiền thân của đảng cộng sản VN. Đồng thời tuyên bố kết thúc tờ báo đầu tiên của đảng, báo Cờ Giải Phóng. Tiếp theo, đảng (đã rút vào bí mật) cho ra báo Sự Thật, tiếp là Nhân Dân để thay thế. Đây là tờ báo mà Trần Đĩnh hãnh diện kể lại là một trong ba người biên tập đầu tiên, lúc mới qua tuổi 20 (TĐ sinh năm 1930). Mối hãnh diện mà nay viết lại sau hơn nửa thế kỷ vẫn còn nguyên cảm xúc “..Cái gì còn lại của bài học Tổng bí thư (Trường Chinh) trực tiếp buổi ngu ngơ nhập môn… Tinh thần được nhìn, phê phán, xây dựng y như Tổng bí thư “ (ĐC, trg 23). Báo Sự Thật hay báo Nhân Dân thay thế sau nầy giữ vai trò quan trọng tương tự như các báo chính thức của đảng cộng sản Liên Xô, Trung Cộng cho đến hôm nay, Thế Kỷ 21.
Báo Nhân Dân với ba thành viên cốt cán đầu tiên gồm Trường Chinh, Hoàng Tùng, Trần Đĩnh còn có một cây bút ần danh khác.. “Có lẽ để phối hợp với bài báo của tôi (TĐ), CB (bí danh của Bác Hồ) gởi đến bài “Địa chủ ác ghê” có nội dung: Thánh hiền dạy rằng: “Vi phú bất nhân”. Ai cũng biết rằng địac chủ thì ác: như bóc lột nhân dân, tô cao lãi nặng, chây lười thuế khoa –thế thôi. Nào ngờ có bọn địa chủ giết người không nháy mắt. Đây là một thí dụ: Mụ địa chủ Cát-Hanh-Long cùng hai đứa con và mấy tên lâu la đã kể các tội cụ thể và con số cụ thể (ĐC, trg 85). Trần Đĩnh đã kể lại chính xác hành vi, bút phê, chữ ký của HCM khi quyết định giết bà Nguyễn Thị Năm (Cát-Hanh-Long), là người chủ gia đình đã đón bản thân HCM và đám cán bộ trung ương Việt Minh cộng sản về trú ngụ tại nhà bà ở Hà Nội trong những ngày tháng 8, tháng 9, 1945 trước khi Hồ khai sinh nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ngày 2 Tháng 9, 1945.
Bà Nguyễn Thị Năm không phải “được chết oan” một cách yên lành nhưng với cảnh kinh hoàng.. “Khi du kích đến đưa bà đi, bà ta đã cảm thấy như có sự gì nên cứ van lạy “các anh làm gì thì bảo em trước để em còn tụng kinh..” Bà ta vừa quay người thì mấy loạt đạn tiểu liê nổ sát lưng.. Mua áo áo quan được thì không cho bà ta vào lọt. Du kích mấy người bèn đặt bà ta lên miện cổ áo quan rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô: “chết rồi còn ngoan cố này..” Nghe xương kêu răng rắc.. Cuối cùng bà ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối vậy..” (ĐC, trg 86). Bà Nguyễn Thị Năm không bị thanh toán một mình, con bà.. “Chính Ủy Công, Trung đoàn pháo 105 ly đang học ở Côn Minh, Trung Quốc (Bài báo trên của CB (bác Hồ) có nhắc đến trường hợp Chính Ủy Công) bị điệu về cùng mẹ chịu đấu tố, nhưng “nghe nói” không được chứng kiến vụ chôn cất mẹ (Theo cách man rợ kể trên –pnn)” ( ĐC trg 86) . Sợ rằng viết như thế chưa trình bày đủ khả năng/quyền giết người của HCM, Trần Đĩnh viết rõ hơn.. ”Sở dĩ báo chí báo chí không dự đấu là vì giữ bí mật, ngại Đồng Bẩm cách Hà Nội vài chục cây số đường chim bay, Pháp có thể nhảy dù xuống đó. Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường chinh thì đeo kính râm suốt”. (ĐC, trg 84)
Giết bà Nguyễn Thị Năm, (Ân nhân lớn của đảng nhà nước cộng sản khi đang trong hoạt động bí mật) không phải chỉ do hành vi đơn lẻ của một đội cải cách ruộng đất, nhưng là một sách lược chung được chỉ đạo nhất quán từ quyền giết người của HCM.. “Tôi (TĐ) đọc lại danh sách những người bị tuyên án tử hình do các đoàn ủy thí điểm giảm tô trong Thanh-Nghệ gửi lên Cụ Hồ đề duyệt ân xá. Mỗi bản gồm tên bảy tám con người khốn khổ” (ĐC, trg 90). Nhưng HCM thật ra cũng chỉ là kẻ thi hành vì: “Hoàng Tùng (Biên tập/Tổng biên tập Nhân Dân (1951-1982); Ủy viên BCH/TUĐ (1976-82) -pnn) hồi ký: “..Mùa hè năm 1952 Mao Trạch Đông và Stalin gọi Bác sang, nhất định bắt phải cải cách ruộng đất. Sau thấy không thể từ chối được nữa Bác mới quyết định phải thực hiện… Họ muốn qua cải cách ruộng đất để “chỉnh đốn” lại Đảng ta. Thời gian từ lúc tiến hành cải cách ruộng đất đến lúc dừng là 3 năm” (Trích đăng từ hối ký Hoàng Tùng “Vài chuyện về Bác Hồ với Trung quốc –Pnn). “Trung quốc đã rắp tâm đưa đảng cộng sản VN vào qũy đạo của Trung quốc như bóng với hình” (ĐC, trg 95).
Cuối cùng, sợ rằng viết rõ như trên sẽ làm sứt mẻ đến “uy tín, đạo đức của bác Hồ”, Trần Đĩnh biện hộ mập mờ quanh quẩn: “Trong hồi ký nói về mười nỗi buồn của Bác Hồ, viết bác không tán thành đấu Nguyễn Thị Năm” (ĐC, 85).
Đến đây chúng ta có thể kết luận không sợ sai lầm: Chính Hồ Chí Minh chứ không ai khác là tác nhân xây dựng/lãnh đạo/điều hành toàn diện các kế hoạch của đảng cộng sản VN từ ngày thành hình 1930 qua các giai đoạn cao trào cũng như thoái trào của tổ chức chính trị bạo lực nầy. Tiến trình nầy hiện thực cụ thể trong chiến dịch cải cách ruộng đất khởi động từ 1953 đến năm 1956 như trên đã đề cập với những nhân sự điển hình: “Phá đảng lừng danh quân Đặng Thí. Giết người khét tiếng gã Chu Biên” (ĐC, trg 111). Những tên sát nhân thành danh nầy không hề bị trừng phạt, trái lại được tưởng thưởng do công lao xây dựng chế độ với thành tích: “Chu Văn Biên, bí thư đoàn ủy cải cách ruộng đất Nghệ-Tĩnh, bắt ghế ngồi trên thềm cao chỉ tay vào mặt mẹ đẻ chấp tay đứng dưới sân gằn giọng..Tao với mi khôn gmẹ không con mà chỉ là kẻ thù giai cấp của nhau. Tao có phận sự tiêu diệt mi.. Chu Biên được đề bạt thứ trưởng nông nghiệp do“nhiệt tình cách mạng”. (ĐC trg 111) Và Đặng Thí được đề cử vào BCH/TUĐ khóa 1967-1982 cùng với Hoàng Tùng, đồng nghiệp, đồng chí thân thiết của Trần Đĩnh trong ban biên tập báo Nhân Dân từ 1951.
Thế nên những giọt nước mắt của HCM trong lần khóc lóc nhận lỗi trước dân chúng miền Bắc vào ngày 18 tháng 8 năm 1956 không đủ đề xóa mờ tội ác đối với những người chỉ sở hữu 0,65 hécta đất! Hitler, Himmler thậm chí đến Rudolf Höss, chỉ huy trưởng trại hành quyết Auschwitz không hề bóp cò súng hay bấm nút lò hơi ngạt để giết một ai, nhưng đích thực là những thủ phạm tội ác diệt chủng 6 triệu người Do Thái. Cũng thế, Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, Lê Duẩn.. tất cả tập đoàn bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam là thủ phạm lần tàn sát tập thể dân chúng Việt Nam một cách có hệ thống kể từ ngày đảng cộng sản thành lập. Qúa trình tàn sát được thực hiện qua những cao điểm: Cải cách ruộng đất 1953-1956 ở Miền Bắc; Mậu Thân Huế, 1968; Đại Lộ Kinh Hoàng, Quảng Trị 1972.. Và mỗi thước đất, mỗi làng xóm, thị trấn, thành phố của miền Nam dài theo chiến dịch Hồ Chí Minh khởi đi từ 10 tháng 3, 1975 với cuộc tấn công Ban Mê Thuộc. “Tội Ác-Đảng Cộng Sản” không ngừng lại tại Ngày 30 Tháng Tư, 1975 với 600.000 người Việt chết trên đường vượt biên, vượt biển bởi kế hoạch “công an tổ chức vượt biên/cộng an bán bãi vượt biên/công an tàn sát vượt biên”. Tội ác diệt chủng nầy được thực hiện bởi một “sợi chỉ hồng xuyên suốt”: Hồ Chí Minh.
Và tội ác có hệ thống/được chỉ đạo kể trên được lập lại với hình thức và đối tượng thụ nạn khác trong đợt “Cải Cách Công Thương Nghiệp miền Bắc” tại hai năm 1958-1960. Đây cũng là tiền đề “Chiến dịch cướp giật cấp nhà nước”đối với miền Nam sau khi đợt tiến công quân sự/Chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc tại Ngày 30 Tháng 4, 1975. Và hiện tại là bước cuối cùng – Chiếm đoạt Quyền Sống của 90 triệu người dân Việt -Toàn khối dân chúng bị xóa bỏ quyền sở hữu đất đai trên khu đất, nhà ở từ trăm năm trước do tổ tiên để lại. Tất cả tội ác hôm nay chỉ là hệ quả tất yếu sau lần đoạt chiếm Miền Nam với cuộc xâm lăng ngụy danh chiến tranh giải phóng (1960-1975). Cuộc chiến mà Trần Đĩnh đã tích cực hãnh diện dự phần nay cố tâm làm nhẹ tội đối với Hồ Chí Minh, Trường Chinh - Những người Trần Đĩnh vẫn còn “nặng tình” khi viết Đèn Cù gần 40 năm sau lần đoạt chiếm miền Nam cho dẫu có lúc ông nói thật: “Bởi vì gần suốt cuộc đời viết, lách tôi đã tự nguyện làm thủ phạm tàn phá trước hết vào chính ngay mình”.
Trần Đĩnh nói thật nhưng chưa đủ. Phải nói như Nguyễn Chí Thiện: “Tôi biết nó! Thằng nói câu nói đó! Tôi biết nó! Đồng bào miền Bắc biết nó! “ Lời buộc tội phải tuyên cáo cùng thế giới, với dân tộc cụ thể sau Mậu Thân, 1968 khi Hồ Chí Minh ban lệnh tiến công giết dân miền Nam: “Xuân Nầy hơn hẳn mấy Xuân qua. Thắng lợi tin vui khắp mọi nhà . Nam Bắc thi đua diệt giặc Mỹ. Tiến lên toàn thắng ắt về ta!” Trần Đĩnh không nói lên lời “PHẢI NÓI” nầy, ông khôn khéo chạy tội cho Hồ: “Luận điểm của Lê Duẩn.. Cho là cụ Hồ đứt gánh giữa đưởng! Ở Đại Hội 3 (9/1960- Pnn) để những người gắn bó với Nam Bộ, Trung Bộ như Lê Duẩn, Nguyễn Chí Thanh, Phạm Hùng..v.v vào Bộ Chính Trị đông là Cụ (luôn được TĐ viết hoa – Pnn) muốn bày tỏ ý gửi gắm công cuộc giải phóng miền Nam cho họ… Phải nhận là từ tuyên bố Hồ-Notvotny (?) đến việc không biểu quyết ở Hội Nghị 9 (Hội nghị trung ương đảng 9 quyết định đánh miền Nam bằng vũ lực, 1960 – Pnn), Ông Cụ nhất quán về quan điểm (Quan điểm “Chung Sống Hòa Bình của Khruschev/Không gây chiến tranh miền Nam (?!) – pnn) (ĐC, Trg 253)
Bắt đầu viết năm từ 1990 để năm 2014 có được những giòng chữ “khôn ngoan/sáng suốt/thành thực” như trên kể ra quá muộn và quá nhẹ đối với “Tội Diệt Chủng/Hồ Chí Minh –Tội ác thấmmáu chính ông già vợ của Trần Đĩnh và bao nhiêu nước mắt, mạng sống từ thân tộc, đồng bào của ông – Nhà văn Trần Đĩnh.
Ba – Mao “nhều”/Mao “ít”
Sau thời gian viết loạt bài Một và Hai về cuốn Đèn Cù. Người viết phải tạm ngừng vì lần ra đi của Người Bạn Nguyễn Xuân Hoàng - Nhân dáng điển hình Kẻ Sĩ Miền Nam trước, sau 1975 ở trong nước, nơi hải ngoại. Người Bạn không lớn vì văn nghiệp-Văn nghiệp là gì khi con người đối diện cánh cửa tử/sinh với cơn đau cào xé từng tế bào nhỏ bị nhiễm độc?! Người Bạn cũng không lớn do quá trình đã đào tạo những thế hệ môn sinh, cao đồ lẫy lừng danh tính. Không, Bạn Chúng Ta – Nguyễn Xuân Hoàng là điển hình mẫu mực của Những Thế Hệ/Một Thế Hệ/Kẻ Sĩ Miền Nam. Thế hệ với những con người bình thường dạy học/viết văn/làm báo với một tấm lòngchân thực trong giai đoạn 1954-1975 ở trong nước, và sau ra hải ngoại khi đã gánh chịu đủ tháng năm dài tù ngục không án lệnh/không tội danh từ chế độ gọi là xã hội chủ nghĩa. Một chế độ mà hiện nay được cuốn Đèn Cù của Trần Đỉnh đốt lên một phần ánh sáng chiếu rọi. Nhưng thật ra chỉ là ánh sáng nhập nhằng lẫn quẩn của một cây đèn cù xoay quanh một trục Sự Thật Giả. Cũng vô tình, lần ra đi của Nhà Giáo/Nhà Văn/Nhà Báo Nguyễn Xuân Hoàng làm rõ ràng, chính xác thêm khi so sánh Thật/Giả- Nam/Bắc. Chúng tôi tiếp tục chứng minh.
Với lối hành văn của một người viết báo, viết sách chuyên nghiệp từ 1951, Trần Đĩnh dựng nên thế giới bát nháo xoay vòng như cây Đèn Cù của xã hội tệ hại, ác độc từ miền Bắc nói chung, của tập đoàn cầm quyền, giới viết văn làm báo Hà Nội trước 1975, của cả nước sau 1975. Đấy là lối hành văn tuyên truyền chính trị dùng để viết báo Nhân Dân cơ quan ngôn luận trung ương đảng cộng sản; lối viết sách hô hào chiến đấu gọi là chống thực dân Pháp trước 1954 (cuốn Bất Khuất/Trần Đỉnh (?)); những chữ nghĩa gọi là chống đế quốc Mỹ trước 1975; chống Ngụy Quân-Ngụy Quyền kể cả sau ngày 30 tháng 4, 1975. Loại sách, báo có lời văn và nội dung sau nầy được những “liệt sĩ” Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc..lấy làm khuôn mẫu viết nên những lời khí thế: “Thằng Mỹ như thế nào?Tôi muốn đâm lưỡi dao vào trái tim đen đúa của nó.. Nguyễn Văn Thạc. Mãi Mãi Tuổi Hai Mươi. NXB Thanh Niên, VN, 2005”.
Tuy nhiên khác hơn đám văn công máu me được khai sinh từ Hội Nhà Văn Hà Nội/Hội Nhà Văn Việt Nam sau 1975, Trần Đĩnh cao hơn vì ông được dẫn dắt vào nghề viết bởi Tổng Bí Thư Trường Chinh, Đặng Xuân Khu, tay lý luận hàng đầu của đảng cộng sản Việt Nam. Tổng bí thư TC “giáo dục” anh thanh niên 21 tuổi Trần Đĩnh: “Làm báo phải phát hiện vấn đề. Đề xuất ý kiến.. Trường Chinh cầm bút giập đi chữ “nhật” thừa (Của bài xã luận có tiêu đề “Nhân ngày sinh nhật của Hồ Chủ Tịch”-Pnn ) rồi kéo từ đó ra ngoài lề bằng một đường thẳng mà anh cho tận cùng bằng một ốc sên, nói.. Chữ tắt nầy là chữ “d” của deleitur, tiếng La-tinh có nghĩa là xóa… Còn gì của bài học Tổng bí thư trực tiếp dạy tôi buổi ngu ngơ nhập môn? Tinh thần không sùng bái, tinh thần được nhìn, phê phán xây dựng y như Tổng bí thư.. ĐC, Trg 23)
Trời đất! Cho phép chúng tôiđược kể ra một so sánh.. Bài học nhập môn của Tổng bí thư Trường Chinh dạy nhà văn/nhà báo trụ cột Trần Đĩnh là việc làm hằng ngày của thợ sắp chữ (thường lả trẻ vị thành niên) và giới thầy cò của các báo và nhà sách ở Sài gòn, nơi Miền Nam trước 1975. Hoạt động nầy được xem như một nghề thủ công/sửa bản vỗ cho nhà in trước khi đem đi đăng báo, in thành sách. Đám trẻ thợ sắp chữ và giới thầy cò Sàigòn không hề cần đến một ông thầy gọi là tổng bí thư đảng cộng sản.
Trở lại với Trần Đĩnh, từ buổi đầu “ngu ngơ” (chữ của TĐ), ông tiến nhanh trên nghiệp vụ, trở nên là người thân cận(thân cận nhất) của tập thể nhân sự cầm đầu đảng cộng sản.. Ông nghe tận tai lời của Trường Chinh (Nhân vật “ấn tượng” của TĐ suốt một đời dài cho dến hôm nay) nói về sinh hoạt tính dục của bản thân “.. thì cũng dặn sách vở giáo điều thế thôi, chứ tôi ấy, mai bà Minh đây (chỉ bà vợ) đẻ, tối nay tôi vẫn jusqu’au bout - đến cùng..” (ĐC, trg 26).Ông được chứng kiến và nghe kể trực tiếp từ người trong cuộc: “ Một dạo Phan Kế An ngày ngày đến vẽ Cụ Hồ. Một chiều về sớm hơn, An nói: À cái P.M. (Phương Mai) tự nhiên mang ba lô chăn chiếu đến chỗ Ông Cụ, tớ được xua về sớm..” (ĐC trg 30) . Trần Đĩnh còn đem chuyện riêng tư ăn nằm với phụ nữ của Hồ Chí Minh ra kể lại công khai để bảo đảm tính cách thân thích/chính xác đối với lãnh tụ “..Ông Bác chỉ tìm nạ dòng. “Sao lại thế”. Thấy Bác dại chúng tôi kêu lên. Thì được giải thích. “Thế là Bác khôn. Nạ dòng thì đỡ rầy rà hậu sự” (ĐC Trg32) .
Những chuyện“ bí mật/phòng the” củaHồ Chí Minh, Trường Chinh dẫu đã được Trần Đĩnh trình bày dưới những góc cạnh “thật thà” như trên vẫn chưa đủ để dựng nên cảnh tượng trân tráo của “đèn cù cộng sản Hà Nội”. Trần Đĩnh gắn thêm những con rối khác: Trước tiên là Tố Hữu, đệ nhất văn công của chế độ. Đây là nhân sự nhờ đã viết những vần thơ rừng rực “thi khí” (Mượn chữ “văn khí” từ Ngô Nhân Dụng/Báo Người Việt khi tán tụng Trần Đĩnh) nên đã lên chức phó chủ tịch Hội đồng bộ trưởng (phó thủ tướng) đảm trách nông nghiệp khiến dẫn đến tình cảnh cả nước gần chết đói sau 1975 khi đã tịch thu hết lúa gạo miền Nam trả nợ cho Tàu. Tố Hữu bị mất uy tín vì vai trò "nhà (làm) thơ (lại) đi làm kinh tế (trật)" qua những vụ khủng hoảng tiền tệ (1985), cải cách nông nghiệp (1981) nên bị miễn nhiệm mọi chức vụ, chỉ còn làm một chức nghiên cứu hình thức hờ. Tuy nhiên “thi khí” của Tố Hữu vẫn luôn luôn “cực kỳ” với những chữ/nghĩa mà Trần Đĩnh trong nhiều trang sách không dấu sự ghen ghét/ganh tỵ nên liệt Tố Hữu vào loại “Mao nhều” nặng nề nhất (sẽ nói rõ thêm về “Mao nhều” ở đoạn sau).
Năm 1953, Tố Hữu khi chưa là “Mao nhều” đã có màn kêu khóc: “Ông Stalin ơi! Ông Stalin ơi! Thương cha, thương mẹ, thương chồng. Thương mình thương một. Thương ông thương mười! “ để ngợi ca tên sát nhân thấm máu 20 triệu dân Nga và các sắc dân thuộc Liên Bang Sô Viết chết. Tố Hữu không khóc một mình, y có “đồng chí/bác vĩ đại” đồng tế: “..Một tối kẻng thình lình gọi toàn thể lên hội trường.. Thì Tố Hữu ủ rũ đi vào theo sau là cụ Hồ. tôi bỏ chỗ leo ngồi đàng sau lưng ông Cụ.. Tố Hữu bước lên sân khấu, cầm đè lên hai tay bưng một vật gì ấp vào ngực.. Tố Hữu mới từ từ quay lại nước mắt chan hòa trên mặt từ lúc nào. Trên phông màn đò hiện nên chân dung đại nguyên soái Stalin.. Tôi thấy bàng hoàng hơn là đau buồn.. Tôi vẫn bị khó chịu vì cái cảnh “đánh đố loài người” của Tố Hũu. Ông ấy hình như tranh hơn thiên hạ (cụ thể là hơn “tôi” đang ngồi sau lưng Cụ! TĐ) cả ở chỗ được biết sớm hơn hung tin, do đó được ưu tiên đau xót trước (Tội nặng hơn nữa là trước cả ”tôi” đang ngồi sau lưng Cụ! TĐ). Trước mặt tôi. Cụ Hồ nức nở. Không ngừng đưa khăn tay màu trắng lên lau nước mắt. Và nước mắt thì cứ chảy trên hai má Cụ đỏ bóng, vì khóc, vì xúc động. (ĐC, trg 73-74).
Mấy năm sau, “thi khí” của Tố Hữu (khi đã bắt đầu thành Mao “nhều”) vượt biên giới Xô Viết, chuyển qua Trung cộng với: “Mao Trạch Đông! Mao Trạch Đông! Tôi đã thấy: Dáng người cao lồng lộng. Đẹp như một ngọn cờ hồng. Trên mặt người. Mặt đất mênh mông.” Hoặc: “Bác Mao tuy ở rất xa. Bác Hổ ta đó ấy là Bác Mao”. Hay:“Bên đây biên giới là nhà. Bên kia biên giới cũng là quê hương”(ĐC, trg 233). Thơ như thế quả thật rất xứng đáng với thành tích giết 50 triệu người Hoa (Có thể cao hơn nữa, tài liệu của nhà nghiên cứu Trung Hoa, Stuart Schram nêu ra con số 70 triệu –Pnn). Tệ hại hơn, Tố Hữu được Trần Đĩnh mô tả dưới dạng tướng, tầm tầm, vụn vặt ”..Tố Hữu một trưa dậy ra suối giặt quần đùi .. Ca cẩm với Kim Lân.. Xuân Diệu nó mó máy mà tuột bu nó mất xích, mệt quá! Mà hai hôm nay lại ăn toàn cơm với măng (ĐC, Trg 32). Hoặc cảnh ăn thịt chó của những tay đầu sõ, lẽ tất nhiên có mặt Trần Đĩnh vì bữa thịt chó là do tiền ăn mừng thành tích viết xong tiểu sử Hồ Chí Minh mà Trần Đĩnh được đến 400 đồng trong tổng số 900 đồng nhuận bút (Vàng 16 Đồng/Một chỉ) “..Mừng tiểu sử chính thức của Hồ Chủ tịch ra đời, Tố Hữu khao một bữa thịt chó thịnh soạn tại nhà.. Tố Hữu còn mời Nguyễn Chí Thanh (Thao) và Hoàng Tùng (Tổng biên tập lâu nhất của báo Nhân Dân (1954-1982); Tùng cũng là một “Mao nhều” được TĐĩnh “luộc” rất kỹ. Dẫu Tùng là đồng nghiệp/đồng sự với Đĩnh từ 1951-Pnn). (ĐC, trg172). Bữa tiệc thịt chó được mô tả sống động qua những trao đổi thủ thỉ ân tình “..Thao Thao (NcThanh) đưa Lành (Tố Hữu) chai dấm.. Lành, Lành đưa Thao chai vang.. (ĐC, trg 173). Cũng bởi Thanh là đối thủcủa Giáp(gốc cộng sản Bắc Kỳ, có học đại học, cánh của TĐĩnh -Pnn) nên bị Đĩnh khinh thường xếp vào loại “Mao nhều” với những đặc chất: “.. Thao (NCThanh) đã luận thuyết hào hứng về thiên tài bếp núp dân tộc- đã thịt chó thì nhất định phải thằng bún đi với thằng mắm tôm.. Về chính trị, Thanh nghe Bắc Kinh nồng nhiệt hơn Giáp. Và ít ra lý lịch (của Thanh) không dính đến đại học.“ (ĐC, trg 173) . Nhưng Nguyễn Chí Thanh (ông tướng nông dân/chỉ thiếu chữ “vô học”- Cách TĐ gọi NcThanh- Pnn) ngoài khả năng uống sâm banh Moet & Chandon, ăn thịt chó, Thanh còn có những khả năng đa dạng khác.. Với những chức vụ quan trọng như Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội miền Bắc (1950); Bí thư Trung ương Cục miền Nam, kiêm Chính ủy Quân Giải phóng miền Nam (1965-1967) (bị thanh toán, không rõ nguyên nhân và thủ phạm, ngày 6 tháng 7, 1967 tại Hà Nội).. Viên tướng gốc nông dân nầy phát động chiến dịch : “..Đánh phá ác liệt tiểu thuyết “Phá Vây” của Phù Thăng vì có câu: “Hòa bình là nguyện ước của vạn vạn con người” rồi tiểu thuyết “Vào Đời” của nhà văn quân đội Hà Minh Tuân..” (ĐC, trg 234-235). Không chỉ chỉ đạo sâu sắc trong mặt trận văn hóa/tư tưởng, nhân vật được mệnh danh “con người của những đột phá”, mang quân hàm đại tướng, Nguyễn Chí Thanh còn nâng cao khả năng lãnh đạo/nhận thức lên một tầm vóc mới: “Năm 1963, NguyễnChí Thanh có bài đăng trang nhất của báo Nhân Dân (Nhắc lại, Thanh là “ông tướng nông dân” theo cách đánh giá của TĐ, nói trắng ra là đồ “vô học”- Pnn) kêu gọi tiết kiệm lương thực.. Biện pháp duy nhất là bóp miệng lại. Thanh nay liệt bún vào bảng xa xỉ phẩm. Viết hẳn: Tại sao phải ăn bún!! (ĐC, trg 235). Cũng nên nhắc lại: Khi ăn thịt chó nhà Tố Hũu, chính Thanh đã một lần hùng hồn ca ngợi: “.. Thao (NCThanh) đã luận thuyết hào hứng về thiên tài bếp núp dân tộc- đã thịt chó thì nhất định phải thằng bún đi với thằng mắm tôm..“ (ĐC, trg 173). Tóm lại theo quan điểm chính trị sáng tạo của viên đại tướng quân đội nhân dân thì “thằng bún” đã tiếp tay cho Mỹ-Ngụy, là thủ phạm phá hoại nền kinh tế xã hộ chủ nghĩa! Tại sao Tướng Thanh mắc phải quan điểm tả khuynh sai trái như vậy? Trần Đĩnh gom chung vào một bọc – Bọn “Mao nhều” – Thủ phạm chính của bi kịch Việt Nam!
Sự sáng suốt của Trần Đĩnh sau nầy được Như Phong “Là cựu Văn Hóa Cứu Quốc nhưng nay cũng đang ở danh sách, những người mê Mao, sùng bái Mao, Mao “nhều”.. Cuối những năm 70, chính anh đã bảo tôi: Mầy nhìn rõ lão Mao rất đúng và rất sớm (ĐC, trg 235).
Đến đây, chúng ta có thể kết luận về “Phát hiện Mao nhều/Trụ cột của Đèn Cù ” của Trần Đĩnh và những tác động hậu quả, hệ quả của nó tại ngày trước và hôm nay.
Kết Luận: Đèn Cù- Bi kịch của một cọng lông trong bãi máu!
Sau ba bài viết căn cứ từ chữ nghĩa của Trần Đĩnh (Của chính Trần Đĩnh viết về mình và về người).. Người viết có thể khẳng định với lương tâm/lương tri/lương năng của một người đã đi trọn con đường khổ nạn/Cùng về một phía những người khổ nạn - Tử khi khởi đầu câu chuyện/Cũng là thời điểm (Thập niên 50) Trần Đĩnh bắt đầu viết báo Nhân Dân do dẫn dắt của Tổng Bí thư Trường Chinh. Người viết xác định thêm một lần: Viết từ phía của Nạn Nhân Cộng Sản. Và Trần Đĩnh (Cho đến năm 2014 nầy/Năm phát hành cuốn sách) vẫn luôn luôn là một Người Cộng Sản/Người Cộng Sản Phản Tỉnh (nếu muốn nói rõ hơn) – Tức là nhân tố của tập thể /tổ chức chính trị bạo lực gọi là Đảng Cộng Sản Việt Nam – Tác nhân chính đã gây nên tai họa vô tận/không cùng/không thể chấm dứt/không cách giài quyết của toàn bộ Việt Nam (Không phân biệt Cộng Hòa/Cộng Sản; Bắc/Nam; Trước/Sau 1945; 1954; 1968; 1975 ). Người viết minh chứng điều xác quyết nầy.
Từ tiền đề kể trên, những phát hiện gọi là “Mao Nhều/Mao nhuần/Mao thuần..” của Trần Đĩnh trãi dài trong nhiều trang sách đối với Tố Hữu, hoặc đám ủy viên trung ương giữ chức tổng biên tập Báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận trung ương đảng cộng sản từ 1951 như Trần Quang Huy ; Vũ Tuân; Hoàng Tùng; Hồng Hà; Hà Đăng ; Hữu Thọ; Hồng Vinh; Đinh Thế Huynh; cho đến tên tuổi mới nổi từ 2011 là Thuận Hữu, một nhà thơ không ai đọc, một tác giả không ai biết..vv. Những công thần/thợ viết báo (đảng) nên danh phận nầy góp một mẫu số chung về tính chất “Mao nhều” chất nặng.
“Mao nhều” của Trần Đĩnh cũng không loại bỏ Nguyễn Chí Thanh, viên đại tướng có khả năng uống champagne và ăn thịt chó; viên đại tướng gốc nông dân có khả năng đặt vấn đề “lớn”: Tại sao phải ăn bún! Và tướng Thanh dẫu có “Mao nhều /hay/Mao ít” cuối cùng phải tắc tử vì: “.. Nguyễn Chí Thanh đại diện cho phái tả” chết trước Tết Mậu Thân nửa năm là giọt nước làm tràn li. Thanh chết mồng 6 thì 28 tháng 7 -1967 bắt bốn xét lại đầu tiên trong đó có Hoàng Minh Chính, Hoàng thế dũng, Trần Châu (anh của Đĩnh), Phạm Viết.. (ĐC, trg 320)
Nguyễn Chí Thanh/Phái Tả/”Mao nhều” bị thanh toán tháng 7/67 thì Võ Giáp/Phái Hữu/”Mao (không) nhều/Cánh “xét lại” của Đĩnh “..Tháng 9 Giáp thình lình đi Bastislava dưỡng bệnh – Cuộc xa xứ nầy là đền bù vào sự vắng mặt mãi mãi của Nguyễn chí Thanh – Lê Đức Thọ vào quân ủy trung ương, thế lực Thọ hùng mạnh lên nhiều (ĐC, trg320)
Như thế là thế nào? Mao “nhều”/Mao ít/Mao (không) nhều/Xét lại.. cuối cùng tất cả đều bị tắc tử, ngồi tù, đi chữa bệnh.. Không loại trừ “ông bác” bị tống qua Tàu ngay trong dịp Tết Mậu Thân . Chúng ta hãy xem lại tình cảnh: “..Sau hội nghị trung ương 14, chiều 20 tháng 1, 1968 Lê Đức Thọ có đến Bắc Kinh để “báo cáo bác Hồ”.. Sáng 25 tháng 1, 1968 trong khi “Cha già dân tộc” và “Anh cả của quân đội” vẫn đang “an trí” ở Bắc Kinh thì những binh đoàn chủ lực miền Bắc bí mật áp sát các độ thị miền Nam.. (Huy Đức. Bên Thắng Cuộc/II/Quyền Bính. OSIN Book, USA. 2012, Trg 158).
“Cha già dân tộc/HCM”, “Anh cả quân đội/VG” (Chữ của Huy Đức-Pnn) làm những gì, ở đâu khi cả miền Nam đang dầm trong biển máu lửa Mậu Thân 1968. Hãy nghe Huy Đức kể lại để thấy ra điều “thành thật/khôn ngoan/mục đích/yêu cầu của Trần Đĩnh khi viết Đèn Cù.. “Cái đêm mà cả miền Nam chìm trong khói lửa của Tổng tiến công ấy, Hồ Chí Minh đang ở Bắc Kinh “trong căn phòng vắng” chỉ có ông và thư ký Vũ Kỳ, Bác mĩm cười nghe một em bé hát “Bé né bồng bông..” và lời chúc Tết của chính mình (?!): Xuân nầy hơn hẳn mấy xuân qua/Thắng lợi tin vui khắp mọi nhà/Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ/Tiến lên toàn thắng ắt về ta” (Huy Đức Ibid; trg 158). Về phần tướng Võ Giáp (tên thật) thì tình cảnh cũng không khá hơn.. “Máy bay Trung Quốc đưa tướng Giáp về Hà Nội ngay trong ngày 29 Tết. Hôm sau ông mới được tướng Vũ Lăng , Cục Trưởng Cục Tác Chiến báo cáo “kế hoạch Tổng Công Kích, Tồng Khởi Nghĩa”. Vũ Lăng nói: Anh Văn Tiến Dũng (Tổng Tham Mưu Trưởng/Gốc thợ may – Pnn) bây giờ thì có thể báo cáo với anh Văn (Giáp). Tướng giáp cố giữ vẻ mặt bình thản để che dấu niềm cay đắng. Ông, vị tổng tư lệnh đã không được biết một kế hoạch lớn như vậy cho đến trước khi nổ súng một ngày (Huy Đức Ibid; trg 159)
Từ những chi tiết “cần thiết/quan trọng” như trên buộc chúng ta phải thấy những chữ nghĩa đầy “văn khí-Lời tán/ Ngô Nhân Dụng/NV” từ Trần Đĩnh chỉ cốt viết nên những trò đấu đá ấm ớ, vớ vẫn giữa hai phe “Mao nhều/Mao (không) nhều”: “..Từ đấy Mao“nhều”thường từng đám túm tụm chưởi Khrouschev (Bí thư thứ Nhất/Thủ tướng Liên xô chủ trương “Chung sống Hòa Bình với Mỹ, 1960-Pnn) rồi hễ thấy chúng tôi (Mao (không) nhều-Pnn) thì lại cố tình liếc liếc và ré lên cười.. Gần tháng sau Hoàng Tùng (Tổng Biên Tập báo Nhân Dân 1954-1982-Pnn) thăm Trung quốc mang theo Hồng Hà, Phan Quang (Sao lại không mang Trần Đĩnh, học tại Bắc Kinh 5 năm? -Pnn).. Trở về viết “Vĩ đại Trung Quốc dài hết trang báo (ĐC, trg 249-250); hoặc diễn tả chi tiết sờ mó tục tỉu giữa Trưởng Ban Tuyên Truyền/TU Lê Quang Đạo với chính Trần Đĩnh (ĐC, trg 22); giữa Tố Hữu/Xuân Diệu ((ĐC, Trg 32); hay cách ăn nằm với vợ của Trường Chinh (ĐC, trg 26); thói ham gái, sở thích đàn bà của HCM (ĐC Trg 30, 32); hoặc cách ăn nói xỏ xiên, đểu cáng (tương tự như những nhân vật trong Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng) từ những tay thủ lĩnh văn nghệ miền Bắc như Tô Hoài, Chế Lan Viên, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng..” ..Nguyên Hồng đọc được hai câu thì Nguyễn Tuân giật giật tay tôi (TĐ) – Nghe thơ tình lũy (Lui/Nó/Tiếng Pháp- Pnn) làm gì? Lũy tay chìa tiền. Tay tụt yếm.. (ĐC, trg 446); hay “bí mật cuộc tình của các quan văn nghệ Hà Nội ” “.. Một sáng vào Việt-Xô khám bệnh, tôi (TĐ) gặp Tô Hoài năm chữa thần kinh tim.Anh cho hay một tên tuổi văn nghệ vừa bị cô nhân tình nộp tố Hữu bức thư cha nầy gửi cho cô.. Vừa lúc ấy Chế Lan Viên đi vào. Anh bảo tôi: Nầy Trần đĩnh mình bị cái nầy lạ lắm. Ngọt với mặn bây giờ đếch phân biệt được. Tô Hoài tưng tửng: Ăn phải một thìa cứt mà không phân biệt thì phải chữa thật! (ĐC, trg 455)
Chúng ta có thể đóng lại những “chữ nghĩa/văn khí” của Đèn Cù diễn tả về những vụ việc/ngôn ngữ/con người tầm phào bát nháo nơi Hà Nội trước 1975 như vừa kể ra tại đây để nêu lên kết luận: Đây là Vấn Đề Giả mà Trần Đĩnh mất đến 24 năm để viết nên – Bi Kịch Việt Nam Không Phải Là Vậy.
Đây, Bi Kịch Việt Nam với một trong những thủ phạm cần phải gọi đích danh: Tổng Bí Tư Lê Duẩn với cái đầu được tán tụng là có đến “200 bougies/hai trăm bóng đèn/đơn vị khởi động diện của một động cơ”. Nhân sự nầy với cái đầu cực kỳ ghê gớm kia có khả năng..”Ông không bận tâm tới ý người khác. Chúng tôi là những mặt người giống như các vách hang đá cho ông thử nghiệm độ vang của lời ông.. Lê Duẩn cáu tức thì. Hai con mắt càng xáp lại gần nhau. tiếng nói càn ríu lại
.. Marx..Marx..Ở đây có ý gì? (ĐC, trg 186). Quả thật cái đầu tổng bí thư “200 bougie” của Duẩn không hiểu Marx là cái gì hết nên mới xẩy ra hoạt cảnh hài hước.. “Duẩn nói hết (về Marx), Bình (NĐBình thư ký của Duẩn) lên tiếng: Tổng bí thư đã nói xong, xin giáo sư góp ý kiến. Ngơ ngác một lúc, Thảo (Trần Đức Thảo, giáo sư tiến sĩ đại học Sorbone Pháp, năm 1951 xin “cụ Hồ về nước phục vụ kháng chiến”. Sau 1956 do dính líu với vụ Nhân Văn-Giai Phẩm, tuy không bị tù nhưng được giao công tác cho ra nông trường chăn bò –Pnn). Thảo nói: Tôi không hiểu gì cả! Thảo vừa dứt lời, thoắt một cái rất nhanh, Duẩn đã nhào đến đằng sau lưng anh, quàng hai tay vào ngực anh rồi liên tiếp xốc lên , dội xuống anh mấy bận.. Bị Duẩn dộng mình xuống đất nhưng Thảo vẫn không chừa thói của kẻ ỉ mình có học/đại trí thức. Thảo phân giải cùng Đĩnh: “Ở ta chỉ có Trường Chinh hiểu được chủ nghĩa Marx chứ Duẩn thì không. Thảo lắc đầu quần quậy (ĐC, trg 436). Điều nầy được Đĩnh hoàn toàn đồng ý, vì đối với Đĩnh Trường Chinh luôn là: “Anh (TCh) là cây bút lão luyện, dạy tôi từ chữ “ngày sinh nhật..”(ĐC, trg 221) – Nhắc lại bài học ngày nhập môn năm 1951 với Trường Chinh, chứng tỏ Đĩnh là người biết “ăn trái nhờ kẻ trồng cây”. Nhưng biết ơn là một chuyện, Đĩnh hình như không nhớ cách hiểu “Marx nhều/Mao nhều” của Trường Chinh: “Chế độ xã hội chủ nghĩa dẫu chưa hoàn chỉnh những tốt đẹp gấp vạn lần chế độ tư bản“ - Tuyên bố với tư cách gọi là chủ tịch quốc hội Việt Nam (Tức là của toàn thể dân chúng người Việt theo quy định của quốc hội kháng chiến 1946 –Một quốc hội mà kẻ ứng cử/người đi bầu hoàn toàn không hề biết nhau –Pnn) nhân dịp “Thống Nhất Nước Nhà Về Mặt Nhà Nước” khi ông chủ tịch đến Sài Gòn năm 1976.
Chúng ta tiếp xem xét “cái đầu 200 bougies” của tổng bí thư Duẩn đã làm gì với thảm kịch Việt Nam. Với cái đầu “cực kỳ” nầy, Duẩn chỉ đạo: “Kìa, không có thì in ra! In ra! Không sợ lạm phát! Tư bản đế quốc in tiền mới sợ lạm phát chứ ta, chuyên thì sao lại là lạm phát mà sợ (ĐC, trg 187) Và chuyên chính vô sản là gì? Duẩn ngắn gọn vô cùng: “Người ta lầm Marx đã đề ra đấu tranh giai cấp. Không, nhiều người đã nói đã nói cái nầy trước Marx rồi. Vậy phát kiến vĩ đại của Marx là gì? Rồi Duẩn cười cười đưa cạnh bàn tay lên ngang cổ nói: Là như Jacobin thời Đại Cách Mạng Pháp –Giết! Thủ tiêu! Bạo lực! (ĐC 187) Với cách hiểu Marx “chính xác” như thế nầy mà giáo sư tiến sĩ Thảo bảo Duẩn không hiểu Marx thì quả tình đáng để bị Duẩn dộng người lên xuống là phải. Có điều trong suốt cuốn sách, Đĩnh vẫn không dám gọi Duẩn là “Mao nhều” dẫu Duẩn đã chết từ 1986.
Nhưng Duẩn không nói suông. Con người nầy với Đảng cộng sản đã lập nên thành tích qua báo cáo chính trị của Đại Hội 4, 1977: Đã đập tan của cuộc phản công lớn nhất của tên đầu sỏ chỉ vào các lực lượng cách mạng (Tức chủ yếu Việt Nam, Trung Quốc, Liên Xô), đã đẩy lùi trận địa đế quốc, mở rộng trận địa xã hội chủ nghĩa.. Về miền Bắc, ông (Duẩn) nói: Thành tựu to lớn nhất là đã thủ tiêu chế độ người bóc lột người (..) Các giai cấp bóc lột đã bị xóa bỏ..Người với người sống có tình nghĩa, đoàn kết, thu7ong yêu nhau cùng với “chuyên chính vô sản được củng cố..Hệ tư tưởng và nền văn hóa xã hội chủ nghĩa được đặt trên nền móng vững chắc.. (ĐC, 462)
Tóm lại “Thành tích” kể trên không chỉ là :“Bác Hồ vô vàn kính yêu” luôn sống mãi trong “Sự Nghiệp Chúng Ta” - Khẩu hiệu chiến lược luôn đi kèm theo “Chân lý: “Không có gì quý hơn Độc Lập-Tự Do” . Thành tích nầy là tổng hợp của: Cách mạng Tháng 8, 1945 -Tuyên ngôn độc lập Ngày 2 Tháng 9/1945-Toàn quốc kháng chiến 19/12/1946-Cải Cách Ruộng Đất 1953-1956-Cải tạo Công Thương Nghiệp miền Bắc (1956-1958)-Đại Hội 3/Nghị Quyết 9 TUĐ/Đồng khởi miền Nam/1960- Tổng Công Kích Mậu Thân 1968- Chiến Dịch Nguyễn Huệ 1972-Chiến Dịch Hồ Chí Minh 1975. Đoạn đường dài đẫm máu toàn Dân Tộc Việt nầy không loại trừ một ai được tổ chức/chỉ đạo/điều hành bởi: Nguyễn Sinh Côn, Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc, Linov, Vương Đông Hải, Hồ Quang, Hồ Chí Minh.. được thi hành, thực hiện với Trường Chinh, Võ (Nguyên) Giáp, Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh, Phạm Hùng, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nguyễn Văn Linh.. Danh sách sẽ rất dài nếu muốn kể đủ. Tất nhiên bao gồm “Mao nhều”/Xét lại/Báo Nhân Dân/Báo Sự Thật/Hội Nhà Văn vv”.. Những quân cờ tay em chạy quanh cái Đèn Cù nơi Hà Nội gần nửa thế kỷ nay mới được Trần Đĩnh thắp lên quá đỗi muộn màng.
Phan Nhật Nam
Ôi Bác Hồ Kính Yêu!
Hồ Chí Minh, một tên bị bịnh ấu dâm
*****
Sự đánh bóng NGU ĐẦN đã tới mức ‘Đỉnh Cao Trí Tuệ Loài Người’!
Đúng thật Thày nào thì Trò đó mà thôi!
Ôi, bác rữa chân nơi đây và phảng phất đâu đây cũng là mùi hương ‘thơm’ mồ hôi THÚI mà đôi chân yêu quý của Bác đã từng đổ ra dọc Trường Sơn dạo nào!
Ôi, ai đái thì HÔI, nhưng bác Hồ đã đái thì phải THƠM ngàn năm!!!
Và dĩ nhiên kết quả phải là cái biệt thự nguy nga của vị đảng viên trung thành nhất của Bác Kính Yêu mà thôi!
Cũng như những con người quá ư là tội nghiệp này!
Ngay cả Tạo Hóa cũng không được hoàn hảo, và do một sự trục trặc đầy tai ương, đã lại sáng tạo ra loài ‘cộng sản’, người không ra người, quỷ còn thua xa.
Ấy vậy, cũng lại do một sự trục trặc khác, trong loài này, cũng rơi rớt được một vài thành phần ‘đở’ hơn một chút xíu, điển hình như tay VC Lê Hiếu Đằng quyết định tuyên bố mình không phải thuộc cái loài CS đó đâu (tên này chơi ăn gian vì vào lúc cũng không còn gì để mà ‘ăn’ nữa, thì mới làm bộ chưởi quỷ Đỏ để kiếm chút hậu thơm).
Không một tên nào có được sự liêm khiết về tri thức như David Horowitz, một trong những lý thuyết gia hàng đầu của phong trào Tân Tả và CS Mỹ, người đã trưởng thành và lớn lên trong một gia đình mà cả cha lẫn mẹ đều cùng là đảng viên đảng CS Mỹ. Sống cả nữa đời người dâng hiến trọn vẹn cho lý tưởng (sai lầm) của mình, sau khi trực tiếp chứng kiến trong nội bộ những dơ dáy, đạo đức giả, tàn ác thanh trừng lẫn nhau của CS và Tả phái, vào năm 36 tuổi (1975), cùng với sự sụp đổ của Chính Phủ VNCH (mà lâu nay tác giả vẫn đã từng hùa theo mắng chưởi, và cái CHXHCNVN nay lại không phải là ‘cái’ thiên đường hạ giới như bọn CS và Tả phái Mỹ vẫn gạt gẫm dân chúng Mỹ để đòi hỏi phải bỏ Miền Nam Việt Nam), lại thêm tin tức mọi rợ về những cánh đồng xử tử (Killing Fields) từ Kampuchia lọt ra thế giới, David Horowitz đã thức tỉnh và bắt đầu sưu tầm cùng dấn thân, quay ngược hẳn 180 độ đề trở thành một người chống Cộng trọn vẹn đúng với ý nghĩa của nó.
Dỉ nhiên, bọn CS và nay là Tân Tả Mỹ thì đã điên cuồng ‘đánh’ David Horowitz bằng đủ mọi cách và mọi nơi, nhưng đúng với câu “Vàng thiệt không sợ lữa”, đó cũng là nguyên nhân để ông viết ra, như một lời ăn năn sám hối, quyển “Radical Son ~ A Generational Odyssey” (Đức ConTrai Quá Khích ~ Một Hành Trình Xuyên Thế Hệ), do Touchstone xuất bản năm 1997, mà đã nhanh chóng trở thành một ‘best seller’, để vạch trần trụi ra MỌI DƠ DÁY và BẨN THỈU KHÔNG THỂ NÀO TƯỞNG TƯỢNG ĐƯỢC của cái phong trào mà mình đã từng lở lầm cống hiến cả nữa đời người niên thiếu vừa qua.
Và hiện nay, David Horowitz đã xuất bản được 4 quyển đầu trong bộ trường thiên 10 quyển, sưu tập những bài viết và bình luận cùng khảo cứu theo thứ tự thời gian, để đáp lại yêu cầu nồng nhiệt của các độc giả mong muốn được theo dõi tiến trình quay ngược quan điểm chính trị và xã hội của ông. Đó là bộ The Black Book of the American Left: The Collected Conservative Writings of David Horowitz, do nhà xuất bản Encounter Books đang lần lượt in.
Đó là bên Mỹ.
Bên Trời Tây thì cũng lại có một tên khác, không tham lam như tay Đằng để la lớn này nọ, nhưng lại lẳng lặng để lại những tài liệu và hình ảnh hầu chuộc tội trước khi về với Mác và Lê-nin (và bạn Hồ!).
Cũng lạ: ‘loài’ này mà cũng còn chút lương tâm ta?!
Đó là Raymond Aubrac, mà đã nhờ một điêu khắc gia (không hiểu tại sao không nhờ được một văn sĩ?) là Pascal Convert, để viết dùm tiểu sử mình và nhờ nhà xuất bản Le Seuil ấn hành vào tháng 5 năm 2011 tại Ba-lê, viết theo một kiểu rất là CS: lươn lẹo, pha lẫn những đoạn ngay chính của đương sự với những nhận xét ‘dùm’ của cái ông bạn cũng viết dùm!
Theo tài liệu tại http://fr.wikipedia.org/wiki/Raymond_AubracthìStéphane Courtois, một giáo sư đại học kiêm sử gia Pháp, Giám đốc the French National Centre for Scientific Research (CNRS) ~ Trung Tâm Quốc Gia Pháp Quốc về Nghiên Cứu Khoa Học, đã bình luận làRaymond Aubriac nguyên chính gốc là một điệp viên quốc tế của Liên-xô nằm trong loại ‘hors-cadres ~ siêu cán bộ’, được bố trí trong Đảng CS Pháp, và đó là loại đảng viên cao cấp không cần phải mang thẻ đảng!
Lẻ dĩ nhiên, nòi nào thì sanh ra nòi đó mà thôi. Đã là nòi CS thì dù là da trằng, đen, đỏ, cà-phê hay vàng thì cũng vậy mà thôi.
Tiêu biểu là tên đầu đảng cáo Hồ, mà nay, với bộ hình được công bố của tên giao liên CS quốc tế chuyên nghiệp Raymong Aubrac, ta lại thấy được một tật bệnh khác trong quá ư là nhiều bệnh tật của y là cái BỆNH ẤU DÂM!
“Pedophilia, also spelled paedophilia,also called pedophilic disorder, psychosexual disorder in which an adult has sexual fantasies about or engages in sexual acts with a prepubescent child of the same or opposite sex.”
“Pedophilia, cũng có thể viết là paedophilia, cũng bị gọi là rối loạn pedophilic, một triệu chứng rối loạn tâm lý về tình dục, mà theo đó, một người đã trưởng thành mà lại nuôi nấng ấp ủ những hoang tưởng về tình dục hay thực sự có những hành vi tình dục với một trẻ thơ cùng giới hay khác giới tính”.
Vài chi tiết về sự dính líu của cái tayCSRaymond Aubrac này, mà theo truyền thống CS, vẫn cứ luôn luôn mang muôn trùng nào là tên họ, với cái tên cúng cơm nguyên làRaymond Samuel:
Khởi thủy là một kháng chiến quânPhápsanh năm 1914, lớn lên thời Thế Chiến Thứ 2, tốt nghiệp kỹ sư cầu cống năm 1937, bị mê hồn trận của ‘người đẹp’ CS Pháp là Lucie, sau Thế Chiến đãm trách công tác gở mìn toàn Pháp quốc khi làm việc tại Ministère de la Reconstruction (Bộ Tái Xây Dựng), sau đó được CS Quốc Tế (qua trung gian đảng CS Pháp), giao cho quản lý ngôi nhà của đảng tại Soisy-sous-Montmorency, rất rộng và tiện lợi cho sinh hoạt chính trị của CS Quốc Tế, ở ngay ngoại ô Ba-lê, nơi đã được dùng để cho Hồ tới tá túc sau khi bị Pháp ‘gạt’ tại Hội nghị Fontainebleau vào tháng 8 năm 1946, theo đề nghị của Nguyễn Mạnh Hà, nguyên là Chủ Tịch Hội Các Sinh Viên Thiên Chúa Gìáo, cái tay ‘yêu’ Nước Việt nhưng cũng yêu đầm nên đã là rể của George Marrane (gốc tích là một thợ sữa đồng hồ đảng viên đảng CS Pháp, dân biểu CS đơn vị Seine tại Quốc Hội Pháp năm 1956, thượng nghị sĩ từ 1959 tới 1969 để rồi về chơi vui với Mác và Lê-nin năm 1976).
Chiếu theo hồ sơ của CIA, Henry Kissinger bèn đã phải nhờ tên CS Quốc TếRaymond Aubrac đứng ra để trở về vai trò giao liên của y, hầu cầm mấy cái trao đổi văn thơ giữa Kissinger với Hồ (mà y đã QUÁ Ư là hãnh diện kể khoe trong quyển ‘tự truyện nhờ viết’!).
Raymond Aubrac
Rất là Cộng Sản, theo khuôn mẫu của những tên cuồng tín tướng lãnh và đảng viên trung ương ‘Bolshevik’ từng bị Sì-ta-lin đem ra tòa ‘đóng kịch’ xử, mà khi nhận án tử hình dạo 1936-38 vẫn hô lớn như tên Sergei Mrachkovsky, tên thân cận nhất của Trotsky, vào 22 tháng 8 năm ‘I end as a traitor to my party, a traitor who must be shot ~ Tôi kết thúc chỉ là một tên phản đảng, một tên phản đảng cần phải bị xử tử”, thì nay trong thời hiện đại, ta lại có tên giao liên Cộng Sản Pháp Raymond Aubrac, nhưng VỚI MỘT SỰ BIẾN THÁI NHẸ NHÀNG nào đó (vì CS thì cũng phải biến đổi theo với thời gian mà thôi!)
Phải chăng Trời Đất trừng phạt giống nòi Việt ta vì từng phạm tội xóa bỏ cả một dân tộc Chân-lạp, để mà giao cho chúng ta phải hứng chịu một cái đảng thảo khấu, với một thằng đảng trưởng, Người không là Người mà chỉ là một quỷ dữ, với đặc điểm là tất cả những cá tính cực kỳ xấu xa nhất từng biết được trên thế gian về động vật, thì đã ôm hết vào, không biết TRÊN, không biết DƯỚI, mà lại còn bị cả căn bịnh ấu dâm ‘pedophilia’!
NHƯNG, Vì sao NAY, CS Pháp cho phép Raymond Aubrac bật mí?
Hay chỉ là một cử chỉ HỐI HẬN MUỘN MÀNG CÁ NHÂN để tạ tội với Việt Nam ta?
Nếu ta ráng hình dung, nạn nhân lại chính NGAY là đứa con trai đầu lòng của y, thì quả thật, đã là CON NGƯỜI, chúng ta KHÔNG thể và KHÔNG nên ráng tìm hiểu cái ‘loài CS” mà làm chi!
Cáo Hồ, sau cơn hoang dâm bị CS Quốc Tế và Pháp
chụp giữ làm tài liệu để ‘nắm đầu’!
Trang 7, trong loạt hình xen kẻ giữa trang 512 và 513 của sách
“Raymond Aubrac”, người viết Pascal Convert, do Le Seuil, xuất bản Tháng 5 Năm 2011 tại Ba-lê, với chú thích em bé trai là Jean-Pierre.
Vì sao mà ngay tại buổi hạ quan của y tại Saône-et-Loire năm2012,đức con trai trưởng, nạn nhân vụ ấu dâm, Jean-Pierre Aubrac đã chịu không nổi những ám ảnh khủng kinh thời con nít để phải xỉu ngay giữa buổi lể và được chở vào bệnh viện?
Tất cả những bức hình ‘khủng’ (danh từ VC để diễn tả VC thì quả là tuyệt vời!) này đều do chính Raymond Aubrac tự động cung cấp cho Pascal Convert, một điêu khắc gia Pháp mà đã từng quay nhiều bộ phim tài liệu, và vào năm 2011 đã cho ra mắt quyển tiểu sử của tên ‘cắc kè’ này, nguyên là một kháng chiến quân Pháp thời Thế Chiến 2, là một đảng viên đảng CS Pháp theo tài liệu CIA, một tên mà Kissinger từng dùng làm tay giao liên với cáo Hồ ngay từ năm 1967, mà cũng là, theo lời của sử gia Stéphane Courtois, là một loại đảng viên CS Sô-viết được bố trí vào hàng «hors-cadres / đặc biệt » cho đảng CS Pháp mà không cần công khai mang thẻ đảng ngõ hầu thi hành những công tác tế nhị do CS Liên Sô quốc tế giao phó khi cần. Y đã từng được ‘lựa’ ra để làm ‘mối liên lạc công khai với Tây phương’ cho Hồ tặc và công tác đầu tiên là chứa chấp y tại ngôi nhà (của CS Quốc Tế ?) rất rộng (luôn luôn sẳn sàng để chứa nhiều khách lạ hay để họp hành) ở ngoại ô Ba-lê, tại Soisy-sous-Montmorency, khi Hồ qua họp tại Hội Nghị Fontainebleau và bị Pháp ‘gạt’, để rồi sau đó, trong khi chờ chỉ thị của CS Quốc tế, buồn quá đâm ra sống buông thả theo bản tính và chắc cũng vì tự thấy ‘vô phương và hết phương cúu chữa’ rồi, để không còn tự chủ mà bị chụp những hình buồn nôn mữa này.
Phải chăng tay Raymond Aubrac, như rất nhiều kẻ, trước khi chết, đã muốn chuộc lổi mình đã lầm lở từng phục vụ cho ma quỷ, khi giao lại cho Pascal Covert những hình này? Chỉ trong năm sau, thì y cũng về ‘nơi đó’, nhưng không hiểu có chịu ‘gặp’ Hồ hay không dưới tuyền đài?
Một nhân cách như tên Raymond Aubrac, đầy mặc cảm về mọi phương diện, thậm chí còn ‘khoe’ tiền bạc giữa mình và vợ là Lucie:
Sur le plan financier, c’est vrai que j’ai jamais gagné de grandes sommes . . .mais je me suis toujours arrangé pour gagner autant que Lucie. Je prenais le salaire de Lucie comme reference.
(trang 533 của sách đã dẫn).
Về phương diện tài chánh, quả thật là tôi vẫn chưa bao giờ kiếm được nhiều tiền . . . nhưng tôi vẫn luôn luôn thu xếp để kiếm được tiền bằng Lucie. Tôi thì dùng mức lương của Lucie để làm tiêu chuẩn.
Một nhân cách như tên Raymond Aubrac, mà theo báo La Rédaction tại
En 1997, Raymond et Lucie font face à une polémique suite à la diffusion dans les rédactions du Testament de Barbie, un texte de 63 pages écrit par l’ancien chef de la Gestapo Klaus Barbie. Il affirmait qu’Aubrac était un agent double et que Lucie lui avait indiqué la date de la réUNI0N de Caluire. Des accusations que Raymond réfute et qui donneront lieu à des cercles de réflexion sur le témoin dans l’Histoire.
Vào năm 1997, Raymond và Lucie đã phải trực diện với một trận bút chiến nhân sau khi bộ biên tập Testament de Barbie ~ Di Chúc của Barbie được phổ biến, một bút tích dài 63 trang của tay đầu sỏ Mật vụ Đức Quốc Xã Gestapo tên Klaus Barbie. Y đã xác nhận là Aubrac từng là một điệp viên nhị trùng và chính Lucie cũng đã cung cấp cho y về ngày tháng mà vụ họp Caluire sẽ đã xẩy ra. Đó là những cáo buộc mà Raymond bác bỏ, mà cũng sẽ gây ra nhiều cuộc ngồi lại để suy tưởng về người chứng nhân của Lịch Sử.
Dù sao, MỌI tên CS đều sống KHÔNG NGAY THẲNG, và trong mọi hoàn cảnh và xử sự đều lương lẹo và mờ ám thôi. Y không có được cái ‘honnêteté intellectuelle ~ liêm-khiết trí thức’ để nhận là mình SAI, để thú nhận là chủ thuyết CS chỉ là một đại họa nhân thế, hoặc ‘hơi hơi’ như Jean Paul Sartre để vô Điện Élysée xin chính phủ Pháp hãy nhận các ‘boat people’ người Việt để chuộc lổi ‘phá thối’ dạo củ cuả nhóm y cùng với tay Tướng de Gaulle, chớ chưa nói đến sự dũng cảm trí thức đáng kính của chính trị gia kiêm nhà văn Mỹ David Horowitz, một trong những lãnh tụ tả phái, có cha mẹ là đảng viên CS Mỹ, nhưng khi chấp nhận ‘sáng mắt’ ra thì đã ĐANG miệt mài tạ lổi với bao bài viết trải dài dạo sau này, như từ quyển Radicalized Son, đến bộ trường thiên tuyển tập 10 quyền thu thập tất cả những bài viết của mình với tên là The Black Book of the American Left (đã xuất bản được 3 quyển đầu bởi Second Thoughts Books, để VẠCH TRẦN MỌI TỘI LỖI GIAN ÁC CỦA CS VÀ TẢ PHÁI MỸ!
Hay là vì sau khi trốn lén đi ký kết dâng Đất Nước Tổ Tiên bao xương máu dành giữ cho bọn quan thày trong loạt họp bí mật Thành đô năm 1990, nay VC không còn ‘ke’ lãnh tụ kính yêu nên CS Pháp cũng không còn cần giữ mấy tấm hình đó để mà ‘mặc cả ~ chantage’ nữa chăng?
Tài liệu bán nước của VC năm 1990 có các ‘link’ để tham khảo tại
Càng ngày, bản tính bần cùng đê tiện xấu xa của tên đảng trưởng của cái đảng cướp đã lần lượt được phơi bày ra. Tuy nhiên, vấn đề là tại vì chúng ta không chịu nhìn thẳng vào sự thật mà thôi.
Ngay cả tác giả Jean Lacouture, từng được xếp vào loại có ‘thiện cảm’ với con súc vật này, cũng đã có viết xuống trên giấy trắng và bằng mực đen, từ mãi năm 1967 trong quyển Hô Chi Minh, Nhà Xuất bản Le Seuil, Nouvelle edition, cái tài nghệ của ‘nó’, trong tư cách một Đại diễn viên, sau khi hạ bút ký hiệp ước nhượng bộ Chính phủ thuộc địa Pháp (để có thêm thì giờ tận diệt các đảng phái Quốc gia khác), và trên đoàn xe lữa từ bến cảng Hải Phòng về Hà Nội, với toàn dân đang ‘hồ hởi’ đả đảo ‘nó’, thì ‘nó’ bèn thò cái đầu với chòm râu dê ra, và, TUY MẮT KHÔ REO với các quan chức Pháp đứng cạnh thấy rỏ ràng, bèn rút cái khăn tay màu đỏ dơ dáy đang dùng để hỉ mũi và LÀM BỘ chậm nước mắt, tỏ vẻ xin lổi ‘cái đám đồng bào ngây thơ’ của ‘nó’. Và rồi thì có nhiều thằng nằm vùng được bố trí trước tại những nơi tàu ‘được’ thu xếp phải ngừng lại (60 dặm Anh mà phải mất tới 12 tiếng đồng hồ để Bác có cơ hội trổ tài!) bèn la lên ‘Hoan hô bác Hồ’, thì là ‘cái đám đồng bào ngây thơ’ cũng bèn ngây thơ đổi giọng hoan hô theo! (trang 157 của sách nêu dưới đây).
Quá giỏi! Tài nghệ tuyệt diệu, Nguyễn Chánh Tín cũng còn thua xa!
Ho Chi Minh: A Political Biography, Random House, Inc. (January 1968)
Và chắc chỉ chi tiết bí mật này cũng giải thích vì sao BAO NHIÊU XƯƠNG MÁU GIÓNG NÒI VIỆT ĐÃ PHẢI ĐỔ RA: vì CS Quốc tế nắm được con tẩy của tên cáo Hồ bịnh hoàn nên đã CÓ THỂ BIỂU GÌ THÌ NGHE ĐÓ cho một tên chỉ biết mình mà không hề bao giờ có được chút tình dân tộc!
Lê Bá Hùng,
Mùa Quốc Hận 2015
Xin hãy gọi “Bác Hồ” là tên “Lợn đẻ”
Nguyễn Vĩnh Long Hồ
I. VÌ SAO ĐỪNG GỌI “BÁC HỒ” LÀ TÊN CHO ĐẺ:
Trong bài viết trước: “Xin đừng gọi “Bác” Hồ là tên chó đẻ”. Đúng vậy, vì bản chất lưu manh, gian ác, tàn bạo của một tên lãnh tụ thất học như HCM không thể nào đem so sánh được với “HACHIKO” mà Hachiko là ai mà vĩ đại vậy ta? Xin thưa với quý vị, Hachiko không phải là con người mà chỉ là một…chú chó.
Hachiko là một chú chó nhỏ lông trắng, nó chào đời vào tháng 11/1923 ở nông trại gần thành phố Odate, tỉnh Akita bên Nhật Bản. Năm 1924, Hidesaburo Ueno là giáo sư thuộc khoa Nông nghiệp trường Đại học Tokyo, ông đã mua Hachiko lúc vừa tròn 2 tháng tuổi. Và trong suốt khoảng thời gian sau đó, Hachiko và ông trở thành người bạn không thể tách rời. Mỗi buổi sáng, Hachiko theo tiễn ông tới tận nhà ga Shibuya, nơi ông đi tới làm việc và trở lại chờ đón ông tại đó vào lúc 3 giờ chiều, khi ông trở về trong cuối ngày.
Nhưng, vào ngày định mệnh 21 tháng 5 năm 1925, giáo sư Ueno đột ngột qua đời vì một cơn đột quỵ khi đang đứng trên bục giảng của trường Đại học và mãi mãi không trở về đúng giờ như đã hẹn với Hachiko hay kịp nói một lời vĩnh biệt với nó. Khi Ueno qua đời, Hachiko linh cảm rằng có chuyện gì chẳng lành đã xảy ra. Tuy vậy, như thường lệ ngày hôm đó, nó vẫn đến nhà ga Shibuya vào đúng 3 giờ chiều để đón chủ nhân của mình. Dù thời điểm 3 giờ đã qua rất lâu, nhiều chuyến tàu lần lượt đi qua hay thậm chí đã tối khuya mà vẫn không thấy bóng giáo sư Ueno trở về, Hachiko vẫn không nản lòng. Hàng ngày, nó vẫn đến nhà ga Shibuya đúng 3 giờ chiều để chờ đợi người chủ Ueno từ ngày nầy qua ngày khác.
Chẳng bao lâu sau, những người xung quanh bắt đầu để ý tới sự chờ đợi vô vọng của Hachiko đối với người chủ nhân đã qua đời của mình. Lần lượt, từ người làm vườn trước đây của giáo sư Ueno, cho đến ông giám đốc nhà ga và những người trong vùng đã cho Hachiko ăn uống và thay phiên chăm sóc nó tử tế.
Câu chuyện về chú chó trung thành nhanh chóng được lan truyền khắp nơi, được coi như một tấm gương trong sáng về lòng trung thành. Người ta tìm đến ga Shobuya chỉ để được nhìn tận mặt Hachiko, cho nó ăn hoặc nhẹ nhàng xoa đầu nó để chúc phúc. Năm 1932, khi Hachiko đợi chủ nhân được 7 năm, một cựu sinh viên của GS Ueno đã trông thấy Hachiko và được nghe về câu chuyện cảm động về cuộc đời của chú. Sau đó, anh vẫn tiếp tục đến thăm chú chó Hachiko và tiếp tục công bố những bài viết về sự trung thành tuyệt đối của Hachiko.
Và một trong số bài viết nầy đã được đăng tải trên tờ báo Asahi Shimbun, một tờ báo lớn nổi tiếng của Tokyo với số lượng độc giả rất lớn, đã khiến cho nhiều người biết tới Hachiko. Lòng trung thành của Hachiko đã gây ấn tượng sâu sắc trong lòng tất cả mọi người, các giáo viên đã lấy Hachiko như một tấm gương sáng về lòng trung thành cho thế hệ trẻ noi theo. Các nghệ sĩ nổi tiếng lúc bấy giờ đã bắt đầu tạc tượng Hachiko và danh hiệu CHŨKEN (chú chó trung thành) đã nổi tiếng trên khắp nước Nhật.
Thế rồi nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm đã âm thầm lặng lẽ trôi qua, Hachiko vẫn có mặt đều đặn ở nhà ga Shibuya vào lúc 3 giờ chiều mỗi ngày. Hết mùa hạ sang mùa đông, từ những ngày nắng gắt đến những cơn mưa giông lạnh lẽo, thậm chí cho đến những cơn bão tuyết dữ dội cũng không làm cho Hachiko nản lòng. Khi nó trở nên già yếu và mắc bệnh viêm khớp, đau đớn mỗi khi di chuyển bằng bốn chân khập khễnh, nhưng nó không bao giờ sai hẹn một ngày nào. Cuối cùng vào ngày 8 tháng 3 năm 1935, hơn 10 năm kể từ ngày thấy chủ nhân lần cuối cùng, người ta nhìn thấy Hachiko, lúc đó đã 12 tuổi nằm chết gục tại cái nơi nó đã đứng đợi chủ nhân của mình trong suốt nhiều năm dài. Cuối cùng, Hachiko đã có thể gặp lại chủ nhân của mình ở bên kia thế giới.
Thông tin về cái chết của Hachiko được tất cả các tờ báo của Nhật thời bấy giờ đồng loạt đưa lên trang nhất. Hàng triệu người Nhật đã dành một ngày làm lễ tang cho Hachiko. Cùng năm đó, câu chuyện về Hachiko được viết trong sách giáo khoa về ĐẠO ĐỨC cho học sinh lớp 2 với chủ đề “KHÔNG BAO GIỜ QUÊN TRI ÂN ĐẠO ĐỨC”.
Bức tượng đồng đầu tiên của Hachiko – tác phẩm của nhà điêu khắc nổi tiếng Nhật bản Ando Teru – được dựng vào tháng 4 năm 1934 tại nhà ga Shibuya. Tại quê nhà của Hachiko, một bức tượng tương tự cũng được đặt ngay phía trước nhà ga Odate và bên cạnh ngôi mộ của giáo sư Ueno tại nghĩa trang Aoyama cũng có đặt một bức tượng đài của Hachiko.
Bộ phim “Hachiko Monogatan” sản xuất năm 1987 đã mô tả một cách chân thật nhất cuộc đời, niềm kiêu hãnh về lòng trung thành của chú chó Hachiko. Bộ phim đạt thành công lớn, tạo tiếng vang cho ngành điện ảnh Nhật lúc bấy giờ như đề cử giải thưởng “Award of the Japanese Academy”, giải phim “Genesis Award 1988” và “Mainichi Film Concours 1988”. Bộ phim mộc mạc, giản dị lại vô cùng xuất sắc, chân thật và vô cùng cảm động. Đến năm 2009, câu chuyện về Hachiko đã được Hollywood dựng thành phim với tựa đề “Hachiko: A Dog’s Story” với sự tham gia của diễn viên nổi tiếng Richard Gere, Hachiko được cả thế giới ngưỡng mộ và tôn vinh.
Còn tên ác ôn Hồ Chí Minh thì sao? Tờ POLSKA TIMES của Ba Lan số ra ngày 5/3/2013 đưa ra một bản xếp hạng 13 tên độc tài đẫm máu nhất Thế kỷ XX, trong đó có Hồ Chí Minh. Theo đó, Hồ Chí Minh qua 24 năm cầm quyền và lãnh đạo ĐCSVN đã gây ra cái chết của 1,7 triệu người VN qua các cuộc chiến tranh đẫm máu.
Theo tôi, tờ Polska Times đưa con số nầy quá khiêm nhượng mà phải là trên 4 triệu người mới đúng. Tôi xin chứng minh: Ngày 16/6/1997, Thông Tấn Xã nhà nước CSVN đã công bố con số thiệt hại qua 2 cuộc chiến kéo dài 30 năm như sau: 4 triệu người chết. Còn theo ký giả Satya Sivaraman, người Campuchia, cho biết: Đánh chiếm MNVN, CSBV đã hy sinh 4,1 triệu người chết là một sự thật. Kết quả là HCM và ĐCSVN đã xóa sạch nguyên cả thế hệ thanh thiếu niên Việt Nam để phục vụ cho âm mưu bành trướng của Đệ Tam QTCS Nga – Tàu.
Thảm kịch của Việt Nam gây ra bởi những tên lãnh đạo “THẤT HỌC & NGU NGỐC” như HCM và những tên lãnh đạo ĐCSVN sau nầy như Lê Duẩn, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Lê Đức Anh…toàn là những tên thiến heo, thiến bò…nhờ vậy mà Mao Trạch Đông và bọn lãnh đạo Bắc Kinh mới thành công trong chiến lược chính trị của chúng “ĐÁNH MỸ ĐẾN NGƯỜI VIỆT NAM CUỐI CÙNG” và chỉ đạo bọn lãnh đạo ĐCSVN phải áp dụng chiến thuật “DU KÍCH CHIẾN” trường kỳ kháng chiến để kéo dài cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn càng lâu, càng có lợi cho Trung Cộng, nó sẽ làm cho Việt Nam kiệt quệ hoàn toàn về nhân lực, tài lực dễ bề không chế và “HÁN HÓA” dân tộc Việt Nam sau nầy.
oOo
Đọc câu chuyện về cuộc đời của Hachiko thì trong mỗi chúng ta “XIN ĐỪNG GỌI “BÁC” HỒ LÀ TÊN CHÓ ĐẺ”, vì gọi như vậy là chúng ta đã xúc phạm tới danh dự và vô tình đã sỉ nhục họ hàng nhà Hachiko. Nói về lòng trung thành thì bác Hồ không bằng cái móng chân của Hachiko. Tôi xin dẫn chứng một giai đoạn lịch sử để chứng minh về “BẢN CHẤT THÚ VẬT” tàn bạo, dã man của tên Hồ Chí Minh đại gian ác như sau:
[1] HCM BÁN ĐỨNG NHÀ CHÍ SĨ PHAN BỘI CHÂU CHO GIẶC PHÁP:
Đó là tháng 6 năm 1925, cụ Phan Bội Châu bị cảnh sát Pháp ở Thượng Hải bắt ngay tại tô giới Pháp. Theo lời ghi thuật của nhà học giả Hoàng Văn Chí thì cụ Phan bị Pháp bắt là do Hồ Chí Minh bán đứng cụ cho Thực dân Pháp để lấy số tiền thưởng 150.000 đồng của Phòng Nhì Pháp treo thưởng. Tin tức nầy, trước tiên là do đồ đệ của cụ Phan thu lượm được, sau đó thì lan truyền trong khắp các lực lượng cách mạng VN hoạt động tại Trung Hoa. Sự việc này, về sau đã được tay chân HCM giải thích rằng: “Cụ Phan già rồi, không còn thích hợp với cách mạng nữa; mặt khác việc cụ Phan bị bắt, chắc chắn sẽ khích động mạnh mẽ tinh thần yêu nước của người Việt; mặt khác nữa với số tiền thưởng nhận được của người Pháp, có thể dùng để nuôi dưỡng các lực lượng mới”.
Sau nầy tìm hiểu thêm thì biết rằng tên Lâm Đức Thụ (tên thật là Nguyễn Công Viễn) đại diện cho cụ Phan tại Hương Cảng đã hợp tác với HCM trong việc bán đứng cụ Phan cho Thực dân Pháp. Sự việc xong, hai người chia đôi số tiền 150.000 đồng đó. HCM đã dùng phần tiền nầy để tổ chức “Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội”; còn Thụ thì dùng đồng tiền nầy để tiêu phí trong các hộp đêm tại Hương Cảng. Và từ đó, HCM và Lâm Đức Thụ tiếp tục hợp tác trong nhiều năm nữa để bán các đồng chí của cụ Phan. Nguyên vì lúc bấy giờ, các thanh niên VN trốn sang Quảng Châu để xin vào học Trường Võ Bị Hoàng Phố rất đông. Những ai không chịu theo Hồ gia nhập “Đồøng Chí Hội” thì sau khi tốt nghiệp xong sẽ được bảo đảm bí mật trở về nước được an toàn; còn những ai vẫn trung thành với tổ chức của cụ Phan, khi trở về đến biên giới Hoa – Việt, tức thì bị mật thám Pháp bắt ngay. Những người nầy sở dĩ bị bắt, vì trước đó HCM đã báo trước cho Thụ ở Hương Cảng biết, Thụ đem ảnh của họ nộp cho lãnh sự Pháp ở Hương Cảng. Sau đó khi họ bị bắt, HCM và Thụ lại được chia nhau tiền thưởng. Trong tình hình đó, Tổng Chi bộ Việt Nam Quốc Dân Đảng tại Quảng Châu dần dần mất liên lạc với quốc nội. Kết quả là các thanh niên VN tốt nghiệp trường Võ Bị Hoàng Phố mà không gia nhập tổ chức của Hồ thì không dám trở về nước và chỉ có cách là gia nhập vào đoàn quân cách mạng Dân Quốc của Trung Hoa, khiến cho “Việt Nam Quốc Dân Đảng” ở quốc nội dần dần tan rã và Đảng Cộng Sản thì cứ mạnh lên dần.
Theo chú thích J. Buttinger, Việt Nam, tr. 109 thì cụ Phan bị bắt là do sự sắp đạt của HCM và một người khác nữa. Tháng 6 năm 1925, một buổi sáng nọ tại Thượng Hải, cụ Phan nhận được giấy mời đi Quảng Châu tham dự lễ thành lập “Chi bộ Việt Nam của Hội Liên Hiệp các Dân Tộc Nhược Tiểu trên Thế Giới”. Khi cụ sắp lên tàu ở Thượng Hải để đi Quảng Châu thì bị một nhóm người tập kích và dẫn vào tô giới Pháp, rồi bị đưa sang Hải Phòng và giải về Hà Nội. HCM đứng giữa nhận số tiền thưởng 150.000 đồng, cưa đôi với tên đại lưu manh Lâm Đức Thụ…
[2] HCM GIẾT ÂN NHÂN BÀ NGUYỄN THỊ NĂM:
Bà Nguyễn Thị Năm là người đầu tiên bị mang ra xử bắn trong cuộc “Cải Cách Ruộng Đất”. Bà là có công với cái gọi là “cách mạng”. Bà là người đã che giấu và nuôi dưỡng các tên lãnh đạo cộng sản như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Phạm văn Đồng, Lê Đức Thọ, Lê Thanh Nghị…trong thời gian ĐCSVN còn hoạt động trong vòng bí mật. Hai người con trai của bà là Nguyễn Công và ông Nguyễn Hanh đều theo Việt Minh từ trước năm 1945. Khi phong trào “Cải Cách Ruộng Đất” được phát động, Nguyễn Công đang làm chính ủy Trung đoàn và Nguyễn Hanh là Đại đội phó Bộ đội Thông tin.
[3] HCM GIẾT VỢ LÀ NGUYỄN THỊ XUÂN:
Sau Hiệp định Geneve 1954, HCM về ở trong Bắc Bộ Phủ, bọn ma cô chuyên đi săn tìm gái đẹp về phục vụ sinh lý cho HCM và bọn lãnh đạo cao cấp để thỏa mãn dục vọng với lời giải thích đạo đức giả : “Bác cần phải giải quyết sinh lý điều hòa để tốt cho sức khỏe và công việc hoạt động của Bác được hiệu quả”.
Đầu năm 1955, tên Trần Đăng Ninh (Tổng cục trưởng Hậu Cần) dụ được cô Nguyễn Thị Xuân (tức Nông Thị Xuân) mới 20 tuổi. Ninh đưa cô Xuân về Hà Nội để phục vụ HCM. Cô Xuân thực thà tin là được về làm vợ HCM, lúc đó HCM đã 65 tuổi. Họ bố trí cho cô ở căn nhà số 66 phố Hàng Bông Thợ Nhuộm Hà Nội. Nhà nầy thuộc Bộ trưởng Công an Trần Quốc Hoàn. Mỗi tuần lễ, tên Trần Quốc Hoàn cho xe chở cô Xuân vào Phủ chủ tịch và HCM tỏ ra rất hài lòng.
Đến năm 1956, cô Xuân sinh cho HCM được một đứa con trai, đặt tên là Nguyễn Tất Trung. Cô Xuân nói với HCM: “Nay đã có con rồi, xin cho ra công khai”. Nhưng, cô Xuân có ngờ đâu rằng, đó chính là bản án tử hình của cô. HCM đã giao cô cho Trần Quốc Hoàn ra tay cưỡng hiếp cô dã man tại căn nhà số 66 phố Hàng Bông kể trên.
Rồi đến tối ngày 11/02/1957, tên Ninh (bảo vệ HCM) và Tạ Quang Chiến (tài xế HCM) đem xe chở cô Xuân vào Phủ chủ tịch để phục vụ HCM như thường lệ. Nhưng, sáng hôm sau, ngày 12/02/1957, người ta phát hiện xác cô Xuân bị xe cán ở dốc Cổ Ngư lên Chèm. Công An báo cáo là nạn nhân đã chết trước khi bị xe cán. Bác sĩ khám nghiệm tử thi xác nhận nạn nhân bị chùm chăn và “ĐẬP VỠ SỌ BẰNG BÚA”. Nhưng, Trần Quốc Hoàn ra lệnh đem chôn gấp, không cho mổ tử thi giáo nghiệm. Vẫn theo báo cáo của công an, chiếc xe gây tai nạn chạy từ Phủ Chủ Tịch ra. Và sau đó, vụ án mạng cực kỳ dã man đã được chìm xuồng. Dĩ nhiên, làm sao tên lãnh tụ khốn nạn HCM có thể chấp nhận được công khai lấy vợ thì còn chi hình ảnh vĩ đại giả tạo của vị lãnh tụ được thần thánh hóa suốt đời sống độc thân, chỉ biết sả thân phục Tổ quốc & Nhân dân.
[4] HCM CON QUỶ RÂU XANH MẮC BỆNH “ẤU DÂM”:
“Lần gặp bác Hồ tôi bị mất trinh”, đó là tâm sự của Huỳnh Thị Thanh Xuân. Xin tóm lược: “Năm 1964, tôi mới 15 tuổi, được cơ quan và “Mặt trận dân tộc Giải phóng Miền Nam” cho ra Miền Bắc học văn hóa Trường Hành Chánh, gần Cầu Giấy. Thật là vinh dự biết bao cho bản thân tôi, có tên trong danh sách gặp bác Hồ, nhà ái quốc vĩ đại của dân tộc ta.
Đó là lúc 17 giờ, ngày 30/8/1964. Sau buổi cơm chiều, bác Tố Hữu người phụ trách chung, nói: “Các cháu có danh sách sau đây ở lại cùng với anh HANH, phụ trách đội thiếu niên tiền phong”. Bác Tố Hữu đọc danh sách: “…Lập, Lộc, Dung, Đệ, Hòa, Độ, Đâu, Thanh, Kiến.” Nghe vậy, tất cả chúng tôi có tên trong danh sách reo ầm cả lên về phòng thay quần áo. Xuống cầu thang, có 2 xe Vônga và 2 xe com măng ca đậu trước cửa. Đoàn chúng tôi có 16 người chia nhau lên xe đầy đủ. Xe chạy đến Cầu Giấy chạy thẳng, rẽ phải vào đường Hoàng Hoa Thám, đến đường Hùng Vương rồi dừng lại. Một chú công an mở cổng, đoàn chúng tôi đi bộ dọc theo con đường rải sỏi đá.
Gần đến nhà khách, xuất hiện một ông già mặc bộ đồ kaki màu xám với đôi dép râu đen đang từ từ đi ra. Bỗng anh Hanh và tất cả reo lên: “Bác Hồ!”. Chúng tôi tranh nhau ôm chặt Bác, rồi bác dẫn chúng tôi đi vào nhà và bước lên cầu thang tầng 2. Lên khỏi cầu thang, rẽ tay phải đi vào phòng họp mặt. Bác giới thiệu với chúng tôi: “Bác là Hồ Chí Minh, còn đây là bác Phạm Văn Đồng, bác Trường Chinh, bác Võ Nguyên Giáp , bác Lê Thanh Nghị, các bác ở Bộ Chính Trị hôm nay cũng có mặt với các cháu” thì thấy một ông già đi vào, bác Hồ giới thiệu luôn : “Đây là bác Tôn của các cháu!”
Bác Hồ đi đến từng người trong chúng tôi và ôm hôn mỗi người một cái. Khi hôn tôi, bàn tay của bác không chịu dừng lại sau bờ mông của tôi, rồi bác lướt qua bạn bên cạnh. Tự dưng, tôi chảy nước mắt, tôi thấy bác Hồ này kỳ cục quá, không giống như tôi tưởng. Lúc nầy, các bạn nhìn lẫn nhau và thấy mắc cỡ vô cùng…
Đêm đó tôi được chị Nhàng, thư ký của bác, nói cho tôi biết là tôi hân hạnh được bác muốn gặp riêng, rồi tôi được chị Nhàng dẫn đi tắm rữa sạch sẽ. Sau đó, chị Nhàng dẫn tôi tới phòng ngủ của Bác. Chị Nhàng gõ cửa ba tiếng, cánh cửa mở ra, chị bảo tôi đi vào và xoay lưng bỏ đi. Khi tôi bước vào phòng, Bác ôm chầm lấy tôi, hôn môi tôi, hai tay bác xoa nắn khắp người tôi, bác bóp hai bờ ngực nhỏ của tôi, rồi bóp mông, bác bồng tôi thều thào vào trong tai tôi: “Để bác cấy hạt giống đỏ cho cháu mang về miền Nam cho bác nhé!” rồi bác bồng tôi lên giường, hai tay bác đè tôi ra và lột quần áo tôi. Bác như một con cọp đói mồi. Sau một hồi chống cự, tôi biết mình không thể nào làm gì hơn nên đành nằm xuôi tay…hai hàng lệ một cô gái vị thành niên miền Nam vừa tròn 15 tuổi đã bị bác cướp đi mất cái trong trắng.
Những đêm sau, mấy đứa con gái khác cũng được dẫn đi như tôi, tôi biết là chuyện gì sẽ xảy ra với chúng. Nhưng, chúng tôi không ai dám nói với ai lời nào. Và qua cái chết của con Lành và con Hoa thì những ngày sau đó chúng tôi sống trong hoang mang và sợ sệt không biết là khi nào tới phiên mình…
Bây giờ ngồi đây, tự điểm mặt lại trong số chúng tôi được vinh dự gặp Bác Hồ hơn 40 năm về trước, chúng tôi đều trưởng thành, ngồi ngậm ngùi nhớ lại những đứa bỏ xác lại trong Phủ Chủ Tịch và không bao giờ trở lại được Miền Nam. (bài viết nầy được Huỳnh Thị Thanh Xuân viết ngày 2/9/2005).
Bao giờ sự thật nầy sẽ được phanh phui? Có bao nhiêu bé gái vị thành niên của MNVN đáng thương bị dụ dỗ đưa ra miền Bắc XNCN để phục vụ cho con quỷ râu xanh Hồ Chí Minh và bọn lãnh đạo ĐCSVN? Có bao nhiêu bé gái ngây thơ đã bị chúng giết chết sau khi thỏa mãn thú tính, để bịt miệng hành động dâm dục đồi bại của cả lũ chúng nó?
II. VÌ SAO HÃY GỌI BÁC HỒ LÀ TÊN “LỢN ĐẺ”?
Trong văn hóa Đông Phương nói chung và VN nói riêng, con lợn hay con heo là biểu tượng cho thói tham ăn, tham dục, sự bẩn thỉu, dơ dáy và đặc biệt là cá tính “NGU NHƯ HEO”. Đồ con lợn như là một câu chửi những tên “ngu như heo” hoặc những tên “thiến heo”. Vì vậy, theo kinh Qur’an, người theo đạo Hồi bị cấm ăn thịt lợn. Người Do Thái cũng bị cấm ăn thịt lợn theo luật Kashrut?
Vì bản chất của Hồ Chí Minh “NGU QUÁ LỢN” nên đã gây tội ác tày trời đối với dân tộc. Bi kịch của Tổ quốc & Dân tộc Việt Nam xảy ra ngày hôm nay, bắt đầu từ tên lãnh tụ thất học và cực kỳ ngu ngốc là Hồ Chí Minh. Xin dẫn chứng:
[1] TỘI DU NHẬP CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN NGOẠI LAI VONG BẢN:
Trong lịch sử chống ngoại xâm của Dân tộc Việt Nam, không có cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc nào ngu xuẩn cho bằng hai cuộc “KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP” và cuộc chiến tranh “CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC” do HCM và ĐCSVN lãnh đạo. HCM như một tên hề tấu hài tên sân khấu cải lương. Hắn viết: “Luận cương của Lênin làm tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc. Ngồi một mình trong buồng mà tôi mà tôi muốn nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!” Từ đó, tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc Tế Thứ Ba.” (HCM toàn tập, T10, Tr 127).
Với trình độ văn hóa cấp ba trường làng và kiến thức bậc tiểu học hiểu biết được bao nhiêu về chủ nghĩa Marxism – Leninism? Làm thế nào HCM nhận thức nổi “sách lược chính trị của Lênin viết trong tập tham luận “VỀ CÁC VẤN ĐỀ DÂN TỘC & THUỘC ĐỊA”? Cái gọi là “CHIẾN TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC” và “ĐẤU TRANH GIAI CẤP” chỉ là “LƯỠNG DIỆN”, Hồ Chí Minh làm sao đủ kiến thức và sự thông minh tối thiểu để thấy điểm “CHIẾN LƯỢC” tham vọng của Lênin và Staline là lần lượt giậït sập toàn bộ hệ thống “THUỘC ĐỊA CŨ” của Đế quốc Anh và Thực dân Pháp để biến nó thành hệ thống “THUỘC ĐỊA KIỂU MỚI” của Đệ tam QTCS? Cái sai lầm cực kỳ ngu xuẩn của HCM là lấy “DIỆN” của Lênin & Staline làm “ĐIỂM” chiến lược của mình và hy sinh quyền lợi Tổ quốc & Dân tộc VN, điên cuồng tới độ mù quáng tình nguyện làm tay sai cho Nga – Tàu.
HCM thất học, cực kỳ ngu dốt làm sao đủ bản lĩnh của Josip Broz Tito? Nhà lãnh đạo của Đảng CS Nam Tư từ năm 1939 đến năm 1980. Mặc dù Tito là một trong những thành viên ban đầu của Cominform, Tito là nhà lãnh tụ duy nhất và đầu tiên có khả năng chống lại sự điều khiển của Đế quốc Liên Xô do Staline lãnh đạo. Do đó, Nam Tư thuộc Phong trào không liên kết, không chống nhưng cũng không ngả theo phe nào trong hai phe đối đầu trong “Chiến tranh lạnh”.
[2] TỘI TIÊU DIỆT CÁC ĐẢNG PHÁI QUỐC GIA:
Ngày 19/8/1945, HCM và đồng Đảng CSVN đã tổ chức một cuộc biểu tình tại Nhà Hát Lớn Hà Nội, tiến thẳng tới Phủ Khâm Sai, cơ quan đầu não của chính phủ Trần Trọng Kim, bắt giữ Khâm Sai Bắc Kỳ Nguyễn Xuân Chữ và cướp chính quyền của Chính phủ hợp pháp Trần Trọng Kim. Ngày 2/9/1945, HCM đọc cái gọi là “Tuyên ngôn Độc Lập”, một thứ độc lập trá hình, một khi HCM chỉ là tên tay sai của Đế quốc LX và tên Mao Trạch Đông.
Ngày 6/3/1946, sau khi cướp được chính quyền bằng thủ đoạn ma giáo, HCM ký kết “Hiệp Ước Sơ Bộ” với Thực dân Pháp, cho phép quân đội Pháp đổ bộ vào miền Bắc VN thay thế quân đội Trung Hoa, lúc đó đang hậu thuẫn cho VNQDĐ để tước khí giới quân đội Nhật. Nhưng, thực chất là để cho Việt Minh rảnh tay tiêu diệt các “Đảng phái Quốc gia” nhất là VNQDĐ.
HCM và ĐCSVN bịa đặt ra chuyện: “VNQDĐ & Đại Việt Quốc Dân Đảng nhờ có số vũ khí do Trung Hoa Dân Quốc chuyển giao đã tổ chức các lực lượng vũ trang bắt cóc, tống tiền, tổ chức ám sát những người theo Việt Minh và cả những người trung lập như ông Ba Viên rồi đổ lỗi cho Việt Minh. Với lý do trên, HCM đã chỉ thị Võ Nguyên Giáp tìm cách sát hại các “đảng phái đối lập” như: Việt Quốc, Đại Việt và cả những người theo Đệ Tứ Quốc Tế, còn gọi là Cộng Sản Đệ Tứ là liên minh của những người theo chủ nghĩa TROXKIZM thành lập tại Paris vào năm 1938, theo khuynh hướng “cách mạng thường trực” do Trotsky đưa ra từ sau khi Lenin chết (1924) để chống lại đường lối “cách mạng vô sản trong một quốc gia” của Stalin như: Nguyễn An Ninh, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Hồ Hữu Tường, Ngô văn Lực…
Võ Nguyên Giáp đã dùng “chiêu tá đao sát nhân”, mượn bàn tay Phòng nhì Pháp tàn sát những đảng viên của các đảng phái quốc gia. Võ Nguyên Giáp âm mưu tạo ra vụ án, vu oan giá họa cho tổ chức Quốc Dân Đảng là giết người rồi chôn quanh căn nhà số 9 phố Ôn Như Hầu để ngụy tạo cái cớ để lính Pháp và Việt Minh tấn công vào các chiến khu của VNQDĐ và Đại Việt QDĐ ở miền Bắc và miền Trung.
Ngày 12/7/1946, theo lệnh của Trường Chinh, Việt Minh cho lực lượng CAND đột nhập vào trụ sở VNQDĐ ở số 9 phố Ôn Như Hầu. Hằng trăm người bị giết bằng cách trói lại và bị quăng xuống sông cho đi “mò tôm” rồi loan tin là những người nầy bị VNQDĐ thủ tiêu. Sau vụ nầy làm VNQDĐ tan rã, nhiều người phải chạy trốn sang Tàu như cụ Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Hoàng Đạo, Nhất Linh Nguyễn Tường Tam.
Nhiều lãnh tụ Quốc gia đã bị Việt Minh thủ tiêu như: Trương Tử Anh (Đại Việt QDĐ) bị giết ở Hà Nội, Khái Hưng & Phan Khôi (VNQDĐ) bị giết ở Mỹ Lộc, Nam Định; Lý Đông A, Phạm Lãi, Nguyễn Ân (Duy Dân) bị giết ở Nho Quan, Hòa Bình; Tạ Thu Thâu ở Quảng Ngãi; Phan Văn Hùm, Dương Bạch Mai ở Biên Hòa; Bửu Viêm, Nguyễn Trung Thuyết ở Huế; hơn 3.000 chức sắc, tín hữu Cao Đài bị tàn sát ở xã Nghĩa Trung, Quảng Ngãi cuối tháng 8/1945 và 115 chức sắc và tín hữu khác bị giết ngày 12/3/1947 tại Trung Lập Thượng, Tây Ninh; trên 400 tín đồ PGHH bị thủ tiêu tại Phú Lâm vào cuối năm 1945 và 235 chức sắc & tín đồ PGHH bị bắt rồi bị giết bằng dao găm, mã tấu, sau đó đem chôn tập thể tại Phú Thuận, Cao Lãnh. Đức Huỳnh Phú Sổ bị tên Việt Gian Bửu Vinh mưu sát tại làng Tân Phú (tức Đốc Vàng), tỉnh Long Xuyên ngày 16/4/1947 theo kế hoạch của HCM.
HCM thú nhận: “Chủ nghĩa Quốc gia nếu không bị khống chế thì sẽ là một hiện tượng nguy hại cho sự phát triển Chủ nghĩa Cộng Sản ở các xứ thuộc địa”
[3] TỘI GIẾT HÀNG TRĂM NGÀN NGƯỜI TRONG PHONG TRÀO CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT:
Chiến dịch CCRĐ long trời lở đất, máu đổ thịt rơi vào những năm cao điểm 1955-1956 tại Miền Bắc XHCN. Theo chứng nhân lịch sử, ông Hoàng Hữu Quýnh viết trong cuốn “Tôi bỏ Đảng” trang 31 & 32, ông viết: “Theo sự chỉ đạo của TBT Trường Chinh và Hồ Viết Thanh, Trưởng ban CCRĐ T.Ư, con số tối thiểu dành cho những bản án tử hình phải tăng từ 1 đến 5 người cho mỗi xã. Ở Nghệ An, thực tế mỗi xã có tới 6,7 địa chủ bị xử tử hình. Họ dấy lên “THÀ GIẾT LẦM HƠN BỎ XÓT”. Con số địa chủ tự tử và bị giam bỏ chết đói cao hơn cả số bị tử hình.
Cho tới nay, ngay chính cả ĐCSVN tìm ra con số chính thức người chết trong phong trào CCRĐ là bao nhiêu? Nhưng, người ta nghĩ đến một con số đáng ghê sợ. Một nguồn tin cho biết cuộc tàn sát tập thể nầy lên tới “MẤY TRĂM NGÀN NGƯỜI” ( con số ước tính khoảng 500.000 người). Số người chết trong chiến dịch long trời lở đất nầy nhiều đến độ mà khắp miền Bắc vào lúc ấy, đi đâu người ta cũng thấy những vành tang trắng để tang cho thân nhân bị đấu tố. Số người bị gọi là địa chủ chết đã nhiều, thế nhưng chưa thấm vào đâu so với thân nhân của địa chủ bị chết đói vì “BAO VÂY KINH TẾ” của Trường Chinh: “Thà giết 10 người vô tội, còn hơn bỏ sót một kẻ thù”. Mỗi chiến dịch giảm tô và CCRĐ đều được thực hiện bằng 5 đợt liên tiếp theo chiến dịch vết dầu loang.
Với chủ trương “TRÍ, PHÚ, ĐỊA, HÀO” phải đào tận gốc, trốc tận rễ, HCM và bọn lãnh đạo ĐCSVN sau khi cử người đi Liên Xô và học tập, đã phát động phong trào CCRĐ với mục đích không những làm tê liệt giới đại chủ mà còn để “BẦN CÙNG HÓA” nhân dân. Nhiều nông dân có năm sào ruộng cũng bị liệt vào hàng địa chủ để phải chịu đấu tố đến vong mạng.
Tên “lợn đẻ” HCM và Trường Chinh là hiện thân của tên Lý Tự Thành và Trương Hiến Trung xuất thân là những tên thiến heo và đồ tể. Nhân lúc vương quyền thời kỳ cuối triều Minh thối nát, thái giám lộng hành lại gặp nạn mất mùa, nông dân đói rách lầm than nên Lý và Trương tập hợp được một số quần chúng nổi dậy. Ảnh hưởng nghề nghiệp là đồ tể, hai tên nầy nghĩ rằng làm cách mạng là phải loạn đả, loạn sát làm cho thiên hạ kinh sợ.
Năm 1630, sau khi gây được thanh thế rồi, Lý và Trương xưng vương và cho dựng tấm bia mệnh danh là “THẤT SÁT BI” và đặt ra bài hát có 7 chữ “GIẾT”. Quân của Lý & Trương đi đến đâu cướp của giết người tới đó. Cuối cùng cả hai chết trong binh loạn. Bài hát có 7 chữ “giết”, chưa chắc đã rùng rợn bằng bài thơ của Tố Hữu viết trong chiến dịch CCRĐ:
Giết, giết nữa bàn tay không phút nghỉ
Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong
Cho Đảng bền lâu rập bước chung lòng
Thờ Mao chủ tịch, thờ Stalin bất diệt.
Luật sư Nguyễn Mạnh Tường, trả lời báo “Quê Mẹ” khi ông du lịch sang Pháp sau năm 1975, đã nói: “Trong lịch sử Việt Nam, từ hồi lập quốc đến nay, chưa có một cuộc thanh trừng giết dân nào khủng khiếp, tàn bạo như CCRĐ. Hầu như mọi cuộc đấu tố đều có sự nhúng tay của CỐ VẤN TRUNG CỘNG. Điều đó cho thấy, chính quyền HCM lệ thuộc ngoại bang như thế nào”.
[4] THI HÀNH LỆNH CỦA MAO, HCM TIÊU DIỆT NỀN VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC:
Trong 1.000 nô lệ giặc Tàu + 100 năm nô lệ Thực dân Pháp, dân tộc VN chưa ai lẫn lộn căn cước của mình và mất gốc. Người VN vẫn là người VN, trước sau như một không thay đổi bản chất. Nhưng, từ khi tên lãnh tụ thất học “đại ngu” Hồ Chí Minh thi hành độc kế của Mao Trạch Đông, đem nền “VĂN HÓA XƯỞNG ĐẺ” vô thần du nhập vào Việt Nam đã tạo nên một thế hệ thanh niên miền Bắc XHCN lẫn lộn căn cước và vong bản. Hồ Chí Minh đã từng bước tấn công trực diện, phá nát nền “Văn hóa truyền thống Dân tộc” và ngụy tạo cả “Lịch sử Việt Nam” là cái khiên bảo vệ giống nòi “Con Rồng Cháu Tiên” để mở đường cho bọn lãnh đạo Trung Nam Hải thực hiện “Giấc mơ Chệt” hoang tưởng là muốn “Hán hóa Việt Tộc”. Đây là một đòn hết sức hiểm độc của Bắc Kinh mà HồChí Minh và ĐCSVN thi hành một cách triệt để.
Cổ nhân nói rằng: “Làm thầy thuốc sai chỉ giết một người. Làm chánh trị sai lầm tiêu vong cả một thế hệ. Làm văn hóa sai lầm di hại tới nhiều thế hệ”. Phải nói lên điều nầy, mới lột trần hết tội ác của tên “lợn đẻ” Hồ Chí Minh đã gây nên đại thảm họa làm hệ lụy đến thế hệ con cháu của chúng ta hiện nay. ĐCSVN đã biến thiên đường XHCNVN từ kinh dị đến kinh hoàng…luân thường đảo ngược, xã hội đầy rẫy bạo lực, tệ đoan xã hội ma cô đĩ điếm, những tụ điểm xì ke ma túy, quán nhậu bán rượu độc…nở rộ như nấm sau cơn mưa từ Hà Nội cho đến Sài Gòn, từ các tỉnh thành cho tới tận hang cùng ngõ hẹp… đây là chủ trương của những tên lãnh đạo ĐCSVN dùng ma túy, rượu độc để làm liệt kháng tinh thần đấu tranh của giới trẻ Việt Nam.
[5] HCM MUA CHỊU SÚNG ĐẠN XÂM LƯỢC MNVN – DÂNG BIỂN ĐẢO CHO TC ĐỂ TRỪ NỢ:
Ngày 20/7/1954, HCM & Việt Minh đã cấu kết với Pháp, Liên Xô và Trung Cộng chia cắt đất theo Hiệp Định Geneve. Tại miền Bắc XHCN, HCM áp đặt chế độ Cộng Sản độc tài toàn trị. Trong khi nhân dân miền Bắc hoàn toàn chìm đắm trong hỏa ngục cộng sản. Mọi quyền tự do căn bản của nhân dân bị tước đoạt, các tôn giáo bị khống chế, tài sản của họ bị cưỡng đoạt bất hợp pháp trong chiến dịch CCRĐ…đã đưa đến nhiều vụ nổi dậy, bạo động lớn nhỏ đã xảy ra sau đó và vụ nổi dậy lớn nhất là vụ “QUỲNH LƯU KHỞI NGHĨA” ở Nghệ An vào đầu tháng 10 năm 1956.
Theo Cẩm Ninh, tác giả bài viết: “Quỳnh Lưu khởi nghĩa” thì đây là “Một cuộc đấu tranh đẫm máu chống lại chính sách cai trị dã man của lãnh đạo ĐCSVN mà qua đó, chính sách CCRĐ đã là nguyên nhân chính làm bùng nổ cơn phẫn nộ của người dân.”
Rạng ngày 13/11/1956, một cuộc biểu tình vĩ đại với sự tham gia của gần 100.000 đồng bào tỉnh Nghệ An. Trước tình hình nầy, HCM ra lệnh cho Văn Tiến Dũng điều động Sư đoàn 304 từ Thanh Hóa vào bao vây. Tới ngày 14/11/1956, Văn Tiến Dũng huy động thêm Sư đoàn 312 vào trận địa quyết tiêu diệt nhân dân Quỳnh Lưu theo chỉ thị của HCM, nhận chìm cuộc nổi dậy nầy trong biển máu. Theo những người dân Quỳnh Lưu kể lại thì số người bị giết ít nhất cũng cả ngàn người và số người bắt đi tù ít nhất cũng trên 6.000 người.
Trong khi đó từ phía Nam vĩ tuyến 17. Ngay từ tháng 7/1954, chánh phủ của Thủ tướng Ngô Đình Diệm đặt trọng tâm thương thuyết với Pháp, buộc Thực dân Pháp phải trao trả ngay chủ quyền Quốc Gia mà không cần đổ máu.
Ngày 26 tháng 10 năm 1955 là Ngày QUỐC KHÁNH, mở đầu kỷ nguyên nước VIỆT NAM CỘNG HÒA do Tổng Thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo. Suốt 9 năm cầm quyền, chánh phủ do ông lãnh đạo đã được trên 80 quốc gia trên thế giới công nhận và được gia nhập ĐẠI HỘI ĐỒNG LHQ. Trong những năm đầu cầm quyền, Tổng thống Ngô Đình Diệm không tán thành sự sự can thiệp trực tiếp của quân đội đồng minh Hoa Kỳ vào MNVN vì ông cho rằng phía Quốc Gia đủ sức đối phó với quân CSBV nếu được viện trợ đầy đủ vũ khí, quân trang, quân dụng và tài chánh. Chính vì tính cương trực, bất nhân nhượng với đồng minh Hoa Kỳ của Tổng thống Ngô Đình Diệm, đó một trong những lý do quan trọng, đưa đến vụ đảo chánh tháng 11/1963. Ông và bào đệ Ngô Đình Nhu bị một nhóm tướng lãnh phản phúc giết chết.
Như chúng ta đã biết, ngày 4/9/1958, khi TC ngang ngược tuyên bố lãnh hải, đường “LƯỠI BÒ” chạy dọc bờ biển Việt Nam, xuống Nam Dương, rồi vòng lên phía đông, chạy dọc theo bờ biển Phi Luật Tân và tất cả quần đảo HOÀNG SA & TRƯỜNG SA đều thuộc chủ quyền của TC. Để trả nợ Bắc Kinh cho mua chịu 20 tỷ USD vũ khí, bom đạn, quân trang, quân dụng…để phục vụ cho cái gọi là “CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC” để giết người VIỆT QUỐC GIA. HCM đã muối mặt, chỉ thị cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhân danh chánh phủ VNDCCH đặt bút ký công hàm đề ngày 14/9/1958 gởi Thủ tướng Chu Ân Lai: “Ghi nhận và tán thành bản tuyên bố của chánh phủ nước CHND Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc.”
Nếu chiếu theo điều 73 Lê Triều Hình Luật thì cái tội phản bội tổ quốc, bằng cách cấu kết với ngoại bang xâm phạm chủ quyền của quốc gia, xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc, HCM phải bị bêu đầu làm gương. Điều 73 Lê Triều Hình Luật: “Ai bán ruộng đất nơi biên cương cho người nước ngoài thì bị tội chém.” (Chư mại biên cương điền thổ dữ ngoại quốc nhơn trảm).
[6] TỘI ÁC CUỐI CÙNG CỦA HỒ – THẢM SÁT TẾT MẬU THÂN TẠI HUẾ:
Tội ác cuối cùng của tên “LỢN ĐẺ” HCM là cuộc thảm sát Tết Mậu Thân – Vành khăn sô cho Huế năm 1968, đã nói lên đầy đủ cái bản chất lưu manh, lật lọng, tráo trở, dối trá đến độ vô liêm sĩ của một tên “chủ tịch” của cái gọi là nước VNDCCH. HCM đã nhận chìm MNVN trong biển máu vào những ngày Tết Nguyên Đán truyền thống thiêng liêng của dân tộc.
Khi tiếng pháo nổ vang tiễn năm Đinh Mùi và đón mừng năm mới Mậu Thân thì người ta nghe tiếng của HCM oang oang trên đài phát thanh, bài thơ chúc Tết của HCM:
Xuân nầy hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp mọi nhà
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!
Nhưng dân chúng MNVN đâu có ngờ rằng đây là “MẬT LỆNH” mở đầu cuộc Tổng tấn công và nổi dậy toàn diện của quân CSBV và MTGPMNVN mà trọng điểm là các thành phố lớn như Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ…
Khi chiếm được Huế, HCM tưởng là đã “giải phóng vĩnh viễn” cố đô Huế. Sau khi “Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Thừa Thiên Huế” được thành lập, chúng ra thông cáo, yêu cầu tất cả quân cán chính của chính quyền VNCH phải ra trình diện rồi bắt giữ họ. Những tên cộng sản nằm vùng bắt đầu lộ diện như anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân…đi lùng bắt những người không ra trình diện và những người bị chúng cho là thành phần phản động. Nhiều người bị giết ngay tại nhà, trước ngõ hoặc trên đường phố và được chúng chôn tập thể tại các hố chôn người trong 28 ngày đêm chiếm giữ Huế.
Sau khi QL/VNCH tái chiếm lại HUẾ, người ta đã khám phá được gần 100 hầm hố chôn người tập thể. Tổng cộng số xác chết vào khoảng hơn 5.000 người, đó là chưa kể hơn 2.000 người mất tích. Nhiều nạn nhân bị trói hai tay và bị bắn vào đầu. Theo lệnh của HCM, đây là cuộc tàn sát dã man nhất của quân CSBV trong chiến tranh Việt Nam từ 1955 – 1975.
Thảm kịch của đất nước gây ra bởi những tên lãnh tụ thất học, ngu dốt bắt đầu từ tên Hồ Chí Minh. Thật vậy, HCM đã gia nhập Đảng Cộng sản Pháp năm 1921, được huấn luyện tại Moskva năm 1923 để trở thành một đảng viên phục vụ Quốc Tế Cộng Sản. HCM từng tuyên bố: “Con đường giải phóng Dân tộc phải là con đường cách mạng vô sản. Độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội.” và “Yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa” (HCM: Toàn tập, nxb Sự Thật, Hà Nội 1980, tập 1, tr.3-4).
Nếu như, HCM không đem cái chủ nghĩa cộng sản vong bản du nhập vào Việt Nam thì đất nước ta ngày hôm nay đã không trở thành “THUỘC ĐỊA” hay “CHƯ HẦU” của Trung Cộng. Vì vậy, xin đừng gọi bác Hồ là tên “CHÓ ĐẺ” mà phải gọi bác Hồ là tên “LỢN ĐẺ” vì HCM ngu quá lợn mới đúng!
16/02/2015
Nguễn Vĩnh Long Hồ
Lần Gặp "Bác Hồ" Tôi Bị Mất Trinh
Năm 1964, tôi được cơ quan và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam cho ra miền Bắc học văn hóa, đi bộ trên 3 tháng vượt Trường Sơn ra Hà Nội. Trường hành chính gần cầu Giấy, Hà Nội là nơi đón tiếp chúng tôi đầu tiên. Năm đó tôi mới 15 tuổi. Bởi vì sống trong vùng tạm chiếm của Mỹ - Diệm nên hiểu biết của tôi về Bác Hồ rất chi là ít ỏi.
Tôi đã sớm giác ngộ cách mạng, đã tham gia làm giao liên hợp pháp cho Thành ủy, Biệt động thành Đà Nẵng và Huyện ủy Điện Bàn, Đại Lộc. Cho đến khi lên chiến khu, tôi được ba tôi và các chú trong cơ quan dạy bảo thêm về tiểu sử của "Bác Hồ" - nhà ái quốc vĩ đại của dân tộc ta. Phải lúc bấy giờ "Bác" như là thần thánh trong đầu tôi. Trước khi tôi ra miền Bắc, ba mẹ tôi ôm tôi ngồi trên chõng tre căn dặn: "Con ơi, ra đến miền Bắc nếu được gặp Bác Hồ, con nói ba mẹ và gia đình mình cũng như các cô chú trong cơ quan gởi lời thăm sức khỏe của Bác. Con phải cố gắng học thật tốt để sau này về phụng sự quê hương nghe con". Lúc đó tôi chỉ biết im lặng. Thật là vinh dự biết bao cho bản thân, gia đình và quê hương chúng tôi, tôi có tên trong danh sách gặp Bác Hồ. Đó là lúc 17 giờ ngày 30-8-1964. Sau khi ăn cơm chiều về có lệnh tập trung, bác Tố-Hữu - người phụ trách chung - nói: "Các cháu có danh sách sau đây ở lại cùng với anh Hanh phụ trách đội thiếu niên tiền phong". Bác Hữu đọc: "... Lập, Lộc, Dung (con bác Nguyễn Hữu Thọ), Đệ, Hòa (Khánh Hòa), Độ, Đâu và Thanh, Kiến (QNĐN)". Bác Hữu nói: "Các cháu chuẩn bị tư trang, sau 20 phút tập trung lên xe và được đi gặp Bác Hồ". Nghe vậy, tất cả chúng tôi có tên trong danh sách REO ầm cả lên làm vang dội cả phòng. Trong lòng ai nấy đều phấn khởi chạy về phòng thay áo quần, quàng khăn đỏ, chải đầu tóc gọn gàng rồi chạy xuống cầu thang (lúc đó chúng tôi ở tầng 3 nhà A1 của Trường hành chính Hà Nội). Xuống khỏi cầu thang chúng tôi thấy có 4 xe đậu trước cửa, 2 xe Vônga - 1 xe màu đen, 1 xe màu cà phê sữa - và 2 xe com măng ca màu rêu. Tôi nhanh chân nhảy lên chiếc xe Vônga ở gần cùng với Ba Đen và anh Hanh phụ trách. Đoàn chúng tôi gồm 16 người lên xe đầy đủ. Chiếc xe từ từ lăn bánh rẽ tay trái đến cầu Giấy đi thẳng đường đê Bưởi rồi rẽ phải vào đường Hoàng Hoa Thám, đến đường Hùng Vương chạy từ từ và dừng lại. Một chú công an mở cổng và đoàn chúng tôi đi bộ vào dọc theo con đường rải đá sỏi nhỏ, hai bên trồng nhiều cây cảnh đều và gọn đẹp.Gần đến nhà khách, chúng tôi thấy xuất hiện ông già mặc bộ đồ kaki màu xám với đôi dép cao su đen đang từ từ đi ra nở nụ cười phúc hậu. Bỗng anh Hanh và tất cả chúng tôi reo lên: "Bác Hồ!" rồi thi nhau chạy đến ôm chầm lấy Bác. Chúng tôi tranh nhau ôm chặt lấy Bác, còn Bác thì xoa đầu và vỗ lưng chúng tôi rồi Bác dẫn chúng tôi cùng đi vào nhà và bước lên cầu thang tầng 2. Chúng tôi ríu rít như đàn chim được tụ về tổ ấm. Lên khỏi cầu thang rẽ tay phải đi vào phòng họp mặt, lúc đó chúng tôi và các chú, các bác đi cùng với Bác ngồi vào từng ghế quây quần xung quanh chiếc bàn lớn. Câu đầu tiên Bác nói: "Dân chố gộ có mặt đây không?" (ý nói vui người dân QNĐN). Bạn Dung ngồi gần chọc nách và nói "có ạ". Bác nói tiếp: "Dân dưa cải mắm cái có không?" (ý nói chỉ người địa phương Quảng Ngãi), tất cả chỉ qua phía Ba Đen (người dân tộc Tây nguyên). Ba-Đen nói "có ạ". Bác lại nói: "Dân đầu gấu (đầu gối chân) có không?" (ý nói người quê ở Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận). Tất cả chúng tôi rất khó chiụ với sự giả tiếng và hỏi một cách kỳ cục của Bác. Sau đó Bác chỉ qua phía bạn Hòa..., rồi Bác nói tiếp: "Các cháu ăn mích chính ích ích thôi nghen" (ý nói quê ở Nam bộ). Tất cả lại chúng tôi lại không biết Bác nói gì nữa, sao bác diễu dỡ quá vậy, những gì tôi học được về Bác khi còn ở miền Nam hoàn toàn ngược lại khi tôi gặp con người bác thật sự.
Bác nói: "Hôm nay là ngày vui mà Bác cháu chúng ta gặp nhau, như vậy chúng ta lại hát bài Kết đoàn". Bác vẫy tay bắt nhịp cùng chúng tôi, hội trường lúc này ngày càng tươi vui náo nhiệt. "Kết đoàn chúng ta là sức mạnh, kết đoàn chúng ta là sắt gang...". Khi mà chúng tôi say sưa hát thì bác đi bóp vai những đứa con gái, tới chỗ tôi thì bác không những xoa lưng tôi mà bác còn để cho bàn tay đi xuống hai bờ mông của tôi xoa xoa bóp bóp làm cho tôi thâý rất là khó chịu, nhưng tôi không dám lên tiếng, đành đứng yên chiụ thôi. Trước mắt chúng tôi là bánh cức chó và kẹo bột cám ngào đường và nước chè xanh mà Bác cho dọn sẵn, Bác nói: "Mời các cháu cùng ăn với các bác cho vui". Nói xong, Bác giới thiệu với chúng tôi: "Bác là Hồ Chí Minh, còn đây là bác Phạm Văn Đồng, người dưa cải đấy! Và đây là bác Trường Chinh, bác Võ Nguyên Giáp, bác Lê Thanh Nghị, các bác ở Bộ Chính trị hôm nay cũng có mặt với các cháu". Bác đang nói thì thấy một ông già từ từ đi vào, miệng cười, vừa đi vừa vỗ tay, Bác Hồ giới thiệu luôn: "Đây là bác Tôn của các cháu", cả phòng lại vỗ tay một lần nữa. Bác đi đến từng người trong chúng tôi và ôm hôn mỗi người một cái.
Đến lượt tôi được Bác hôn vào môi tôi một cách say đắm, lưỡi của bác còn thò vào miệng tôi ngoáy ngoáy, ngay lập tức tôi nhổm dậy và né khuôn mặt tôi qua một bên. Lúc này tôi muốn nói về tình cảm gia đình tôi, quê hương tôi với Bác nhưng bàn tay của bác không chiụ dừng lại sau bờ mông của tôi, còn tôi thì nghẹn ngào và mắc cỡ, rồi Bác lướt qua bạn bên cạnh. Tự dưng tôi chảy nước mắt, tôi thấy Bác Hồ này có gì kỳ cục qúa không giống như bác hồ mà chúng tôi học được trong miền Nam.... Bác nói: "Bây giờ có cháu nào đứng lên hát cho các chú và các bác ở đây nghe một bài nào?" Lúc này các bạn nhìn lẫn nhau vì đột ngột quá và thấy mắc cỡ không ai chuẩn bị kịp. Sau đó, anh Hanh chỉ Dung hát một bài. Bạn Dung hát: "Ngày con mới ra miền Bắc con còn bé xíu như là cái hạt tiêu...", hát xong Dung nhận được một tràng vỗ tay khích lệ. Đến bạn Hòa mạnh dạn đứng lên hát bài: "Vui họp mặt. Từ ngàn phương về đây cùng nhau đoàn kết cùng đi tới tương lai...", lại một tràng vỗ tay khích lệ nữa vang lên. Sau đó Bác nói: "Bác đại diện các chú ở đây căn dặn các cháu mấy điều. Bác biết các cháu ngồi đây là ở khắp các địa phương của miền Nam, Bác muốn gặp tất cả các cháu cũng như gia đình của các cháu và toàn thể đồng bào miền Nam song điều kiện chưa cho phép, đất nước đang bị chia cắt nhưng các cháu tin tưởng một ngày không xa Tổ quốc ta được thống nhất, gia đình chúng ta được sum họp, Bác sẽ có điều kiện đi thăm hỏi. Các cháu viết thư hoặc nhắn tin cho gia đình là Bác và các chú ở đây gửi lời thăm gia đình và bạn bè các cháu ở miền Nam". Một tràng vỗ tay nữa lại vang lên trong không khí trang nghiêm và ấm cúng. Bác Hồ nói tiếp: "Các cháu đã ra đến miền Bắc xã hội chủ nghĩa rồi đấy. Bác mong các cháu ngoan, học giỏi để xứng đáng là cháu ngoan của Bác. Các cháu là những "hạt giống đỏ" của đồng bào miền Nam gửi ra đây học tập cho nên phải làm sao cho xứng đáng với lòng mong mỏi đó. Bác chúc các cháu ngoan, khỏe, vui và học tập thật giỏi". Nói xong, Bác Hồ quay qua bên cạnh hỏi: "Các chú có ý kiến chi không?" (ý hỏi ý kiến các bác trong Bộ Chính trị có mặt lúc đó). Các bác đều không nói thêm và tán thành ý kiến với Bác. Bác nói tiếp: "Bây giờ các cháu xuống dưới xem phim". Chúng tôi đứng lên và đi xuống với Bác, bạn thì đi cạnh bác Tôn, bạn thì đi cạnh bác Đồng, bác Duẩn, bác Chinh, bác Giáp, bác Nghị...Vào phòng chiếu phim ở tầng 1, Bác chiêu đãi bộ phim thiếu nhi miền Nam đánh Mỹ (phim hoạt hình). Lúc đó tự nhiên tôi thấy vinh dự đến lạ kỳ, một niềm vui khó tả, Bác Hồ ngồi cạnh tôi, bác ôm chặt tôi, một tay choàng qua vai tôi và xoa xoa lên ngực tôi, bộ ngực mớí lớn của một cô gái miền Nam. Khi đèn phòng bật sáng Bác hỏi về gia đình tôi và cuộc hành trình của tôi đi bộ vượt Trường Sơn hơn 3 tháng như thế nào kể cho Bác nghe. Bác xoa đầu và hôn lên trán tôi hai cái rất lâu, tôi nhớ rất kỹ, tôi kể sơ về hoạt động giao liên của tôi cho Bác nghe và nhớ đến lời căn dặn của ba mẹ tôi cùng các chú trong cơ quan, ba tôi ở chiến khu Đại Lộc QNĐN thế nào. Ngồi một lúc, Bác đi qua bên con Hoa, Con Lan và tôi thâý bàn tay của bác cũng không bao giờ chịu làm biếng.
Đêm hôm đó tôi được một chị thư ký của bác nói nhỏ cho tôi biết là tôi hân hạnh được bác muốn cho gặp riêng bác, có những chuyện bác muốn hỏi tôi nhưng vì sáng nay đông quá bác không tiện. Khi tôi cùng Chị Nhàng đi tớí chổ Bác ở thì tôi được Chị Nhàng dẫn đi tắm rữa sạch sẽ và chị Nhàng nhìn tôi trong đôi mắt u buồn và tội nghiệp. Tôi được chị Nhàng dẫn đi qua một hàng lang, và tớí phòng ngủ của bác, chị Nhàng gõ cữa ba tiếng cánh cửa mở ra, Chị Nhàng bảo tôi đi vào và chị xoay lưng bỏ đi. Khi tôi vào phòng Bác ôm chầm lấy tôi, hôn môi tôi, hai tay bác xoa nắn khắp người tôi, Bác bóp hai bờ ngực nhỏ của tôi, bác bóp mông tôi, bác bồng tôi lên thều thào vào trong tai tôi:
Bác Hồ rất ...thưong cháu . Một tấm hình bằng ngàn lời nói.
- Để bác cấy hạt giống đỏ cho cháu, cháu mang về miền Nam cho bác nhé. Bác bồng tôi lên giường, hai tay bác đè tôi ra và lột áo quần tôi. Bác như một con cọp đói mồi, sau một hồì kháng cự tôi biết mình không thể nào làm gì hơn nên đành nằm xuôi tay... Hai hàng lệ một cô gái miền Nam vừa tròn 15 tuổi đã bị bác cướp đi mất cái trong trắng. Những đêm sau mấy đứa con gái khác cũng được dẫn đi như tôi, tôi biết là chuyện gì sẽ xảy ra với chúng, nhưng chúng tôi không ai dám nói với ai lời nào. Và qua cái chết của con Lành và con Hoa thì những ngày sau đó chúng tôi sống trong hoang mang và sợ sệt không biết là khi nào tới phiên của mình. Cho đến khi thống nhất nước nhà, ba mẹ tôi không còn nữa, đã hy sinh cho độc lập dân tộc, song họ hàng tôi vẫn vui lòng, bởi vì tôi đã thay mặt gia đình và các cô chú trong cơ quan cũng như bạn bè tôi được vinh dự gặp Bác Hồ.
Nhưng có ai biết được rằng sau cái gọi là vinh danh gặp bác hồ là chuyện gì xảy ra đâu. Kể cả chồng tôi khi hỏi tới trinh tiết của tôi, tôi cũng không dám nói, vì anh ấy là một đảng viên cao cấp, là một người lảnh đạo của tỉnh QNDN. Tôi chỉ nói là khi đi công tác tôi bị bọn ngụy quân bắt tôi và hãm hiếp tôi, chứ làm sao tôi dám nói tôi bị hãm hiếp lúc mới 15 tuổi và bị hãm hiếp ngay phủ chủ tịch và chính là "Bác hồ" hãm hiếp tôi, cho chồng tôi nghe. Bây giờ ngồi đây tự điểm mặt lại trong số chúng tôi được vinh dự gặp Bác Hồ hơn 40 năm trước đây, chúng tôi đều trưởng thành, ngôì ngậm nguì nhớ laị những đứa bỏ xác lại trong phủ chủ tịch và không bao giờ về lại được miền Nam. Tự nghĩ lại, chúng tôi thấy rất thấm thía lời Bác Hồ đã dạy: "Bác sẽ cấy những hạt giống đỏ của bác cho đồng bào miền Nam."
2 bồ nhí của « Bác » trong chiến khu , Châu & Quyên Quảng Nam-Đà nẵng (QNĐN) Ngày mùng 2 tháng 9 năm 2005.
Huỳnh Thị Thanh Xuân
=================================
2/ Những bí mật bên trong xác ướp HCM: thì ra là một thằng chệt chuột cống .
Thâm cung bí sử về xác ướp của tên cáo hồ vừa được bạch hóa, thì ra là một thằng chệt chuột cống, mang virus cộng sản vào Việt nam là để thôn tính Việt Nam thông qua đám thái thú đang hút máu người.
Những bí mật bên trong xác ướp HCM
Ngày 12 tháng 8 năm 1969, Bộ Chính Trị đảng CS Việt Nam công bố trước hội đồng chính phủ, chủ tịch Hồ Chí Minh đang lâm sàng nguy cơ bệnh nặng. Ông được những y sĩ Trung Quốc và Liên Xô điều trị chu đáo, nhưng bệnh vẫn không tuyên giảm. Mọi chăm sóc đều không kết quả, tình trạng bệnh nhân nằm trên báo động đỏ. Mặc dù đội ngũ y khoa bậc nhất Trung Quốc đã đem hết khả năng y nghiệp cũng đành tuyệt vọng. Thủ tướng Chu Ân Lai lo lắng không yên tâm vì sợ có kẻ cướp lấy xác ông Hồ.
Trước đó vào những ngày 24 - 26/8/69, Bắc Kinh đã gửi hai phái đoàn y sĩ đến Hà Nội. Thực sự một trong hai nhóm này do tình báo Hoa Nam phối trí điều động để bảo vệ và nếu cần cướp xác Hồ Chi Minh đưa về Bắc Kinh. Cho đến nay vẫn còn nhiều người chưa biết ông Hồ Chí Minh thực sự là ai.
Người họ Hồ từ đâu đến? Tại sao họ Hồ lại xuất hiện tại Việt Nam ? Do thế lực chính trị nào? Vì lý do nào Bắc Kinh sợ hãi, phải đích thân gửi lực lược cảm tử tình báo Hoa Nam bảo vệ cẩn mật họ Hồ [1]. Ngày nay cảnh tượng Việt Nam đang dần dần mất lãnh thổ, lãnh hải và chủ quyền cho phép chúng ta nghi ngờ là họ Hồ đã do Mao Trạch Đông tạo dựng lên để cướp chính quyền Việt Nam và đô hộ nhân dân Việt Nam.
Cuối tháng 8 năm 1969, bệnh của Hồ Chí Minh càng lúc trầm trọng. Bệnh lý không hề thuyên giảm. Tất cả dược phẩm Đông-Tây điều trị không còn hiệu quả mặc dù khả năng y khoa Trung-Xô cũng có hạng. Thủ tướng Chu Ân Lai thúc giục những chuyên gia Y khoa chăm sóc khẩn cấp.
Qua ngày 31/8, Chu Ân Lai tiếp tục gửi thêm nhóm thư ba với những chuyên gia nổi tiếng, có Giáo sư Ngô Gia Bình Wu Jieping)tổng giám đốc Trung Quốc Học viện Khoa học, Y khoa Bắc Kinh. Nhóm này đến Hà Nội bằng một chiếc máy bay chuyên dụng, đặc biệt cung cấp dụng cụ cấp cứu, dược phẩm hảo hạng, xúc tác thêm phần hô hấp của Hồ Chí Minh, để điều trị kéo dài hơi thở.
Ngày 01 tháng 9, Chu Ân Lai đích thân nghe Giáo sư Ngô Gia Bình
báo cáo qua điện thoại. Cuối cùng Bắc Kinh cho triệu tập các chuyên gia nghiên cứu và thảo luận Khoa học, Y khoa. Chu Ân Lai lấy quyết định gửi tiếp theo bốn nhóm y sĩ, mang theo một số chuyên gia, chuyên khoa, thiết bị tối tân, dược phẩm Đông y. Chuyến bay đặc biệt này đến Hà Nội vào sáng sớm ngày 02 tháng 9/1969.[1]
Con người thực của Hồ Chí Minh mắt phải lớn, mắt trái nhỏ, môi dày với trạng thái bi quan. Còn chân dung Hồ Chí Minh người dân Việt Nam thường thấy, hai mắt đều nhau và môi mỏng, mồm chếch mép có trạng thái lạc quan. Hy vọng nhân dân Việt Nam sáng suốt nhận định, đừng vội nhận ông ta là "Cha già dân tộc", hình dung 5.000 văn hiến chỉ có một Hồ Chí Minh. Ông cũng chưa xứng đáng để gọi "Cha già nhân dân", hai chữ "nhân dân" vốn nguyên bản Hán. Hình ảnh nguồn: Hoa Nam .
Theo báo cáo của Giáo sư Ngô Gia Bình , tình hình sức khỏe họ Hồ đã xấu đi nhiều, nhưng nhờ chăm sóc đúng liều lượng thuốc, nên cuộc sống kéo dài được thêm một năm nữa. Họ Hồ đã bệnh hai năm qua và ngày nay đã đến thời kỳ cuối.
Các cấp lãnh đạo Việt Nam đã chuẩn bị sẵn sàng. Tất cả vấn đề đều được tham khảo, phải xem xét làm thế nào để tiết kiệm ngân khoản chi phí cho tang lễ của họ Hồ. Tình hình Việt Nam lúc bấy giờ quá lệ thuộc vào Trung Cộng, nền kinh tế không phát triển, lạc hậu về khoa học, kỹ thuật, công nghệ, sản xuất, tất cả đều bị đình trê. Trong hoàn cảnh chiến tranh, đảng CSVN hầu như không có khả năng giải quyết những vấn đề quan trọng của đất nước. Xã hội chỉ biết tiêu thụ không biết sản xuất, sống theo nhịp tim thoi thóp với tiền viện trợ của Trung Cộng và Liên Xô.
Hai năm trước, vào ngày 14 tháng 9 năm 1967, Nhà nước CS Việt Nam đã lặng lẽ đưa một nhóm chuyên gia Y khoa đi Liên Xô để thực hiện công tác đặc biệt là nghiên cứu kỹ thuật ướp xác. Những chuyên gia của Viện Nghiên Cứu Lăng Lênin tận tình giúp đỡ, khuyến khích đồng nghiệp. Sau bảy tháng đào tạo kỹ thuật, nắm vững phương pháp lưu trữ các bộ hài cốt trong vòng 15-20 giờ đầu tiên, sau khi một người ngừng thở.
Nhóm chuyên viên Y khoa học xong trở về Việt Nam tiếp tục học tập, nghiên cứu tỉ mỉ về môi trường, về khí hậu nhiệt đới của Việt Nam, và thực hiện phương pháp đặc trưng ướp xác đã học được tại Viện Nghiên Cứu Lăng Lênin, Liên Xô.
Và trước đó vào tháng 6 năm 1968, đảng CS Việt Nam bí mật thành lập một nhóm kỹ thuật đặc biệt có nhiệm vụ chuyên sâu, nghiên cứu phương pháp ướp xác, chủ yếu làm thế nào lưu trữ xác ướp Hồ Chí Minh trong thời gian, vĩnh viễn vô trùng, dù trong môi trường nhiệt đới.
Vào thời điểm 1967, các nhà lãnh đạo Việt Nam suy nghĩ cho rằng:
– Nếu như Hồ Chí Minh chết quá sớm, lăng mộ chưa được xây dựng, riêng nhóm kỹ thuật ướp xác phải có phương thức bảo vệ an toàn. Điều này, yêu cầu tiêu chuẩn cẩn mật, kỹ thuật cao, để duy trì một xác ướp với nhiệt độ ổn định 16 độ C, hoặc trừ dưới 0,2 độ; phải được giữ tuyệt đối vô trùng, độ ẩm ổn định duy trì ở mức 75% tại nơi lưu xác, bằng không xác ướp sẽ bị hư hao thối nát.
Khi ấy Đại tướng tư lệnh Chu Đức, người bạn cũ của thiếu tá quân báo Hồ Quang (Hồ Chí Minh) phúng điếu một câu đáng ghi nhớ:
– Vốn họ Hồ khi sống đã thối nát rồi, bây giới không có lý do gì mà sợ xác chết ấy thối nát!
Ngày 08 tháng 9 năm 2010, trên trang 7 của tác giả: Cố Tô Niên
, tiêu đề ghi rõ: "Xác ướp Hồ Chí Minh không còn lưu trữ bí mật tại Việt Nam ". Nội dung luận về xác ướp Hồ Chí Minh đã bí mật di chuyển khỏi Lăng Ba Đình Hà Nội, những nghi vấn, xác chết Hồ Chí Minh đang lưu trữ ở đâu hay đã thủ tiêu từ lâu, những chân dung nào của Hồ Chí Minh, liên hệ thế nào với Hoa Nam, và ông là ai. Loan tải trên Thường Châu Vân Báo nhiều kỳ. Nguồn: Thường Châu Vân Báo.
Vào năm 1968, nhà nước CS Trung Quốc bắt được mùi xác ướp, hối hả, bí mật đưa chuyên gia Y khoa đổ xô vào Việt Nam . Trung Quốc lấy cớ bảo vệ xác chết của họ Hồ, nhưng thực chất là để tiếp cận phương pháp ướp xác. Thứ nữa, Trung Quốc muốn bảo vệ sự nghiệp họ Hồ sau khi chết, để tiếp tục bưng bít đầu mối câu chuyện bí ẩn nấp đàng sau lưng những huyền thoại mập mờ, không bình thường về nhân vật này.
Nhiều thập niên qua, tình báo Hoa Nam tạo ra rất nhiều huyền thoại về họ Hồ, đưa đến tình trạng người dân Việt Nam mơ hồ, tưởng ông ta sống nghèo trong mái nhà tranh tại Bắc Bộ Phủ, trong cảnh thiếu thốn điều kiện vật chất. Họ Hồ trở thành thánh nhân của Việt Nam và để rồi bây giờ đảng CS Trung Quốc lo lắng sức khỏe cho tác phẩm huyền thoại do chính tay họ dựng lên, một tác phẩm của sự dối trá, bịp bơm vĩ đại.
Trong lúc bối rối, Chu Ân Lai tiếp nhận chỉ đạo của Mao, từ Quân Ủy trung ương (CPC) gửi khẩn cấp chuyên gia Y khoa đến Việt Nam. Vào thời điểm đó, đội ngũ chuyên gia Y khoa Trung Quốc được lệnh túc trược ngày đêm, bảo vệ xác chưa nguội của Hồ Chí Minh. Nói rằng để chăm sóc cho Hồ Chí Minh, nhưng thực chất là để ngăn ngừa không cho lộ bí mật thân thế thực sự của Hồ Chí Minh. Cử chỉ này cho thấy Trung Cộng rất sợ hãi, bởi vì Liên Xô cũng chờ đợi giờ phứt này để phát hiện thây ma kịch sĩ chính trị đã cướp chính quyền Việt Nam. Liên Xô là đồng minh CS cũng phải ngỡ ngàng trước hành động quá liều lĩnh của Trung Cộng.
Hồ Chí Minh đang hấp hối, nhưng thật không may cho Trung Cộng, bốn nhóm chuyên gia Y khoa mới bay đến Quảng Tây, được tin Hồ Chí Minh ngừng thở, vào lúc 9 giờ 47 sáng. Ngày hôm đó nhằm ngày 02 tháng 9 năm 1969, ngày Quốc khánh của CS Việt Nam . Kết quả chiếc máy bay phải quay đầu trở về Bắc Kinh. Chính phủ CS Việt Nam bối rối liền ngăn chặn, đề phòng dư luận dân sự hay bất ổn nội bộ trong đảng CS Việt Nam, Ban bí thư Đảng, lấy quyết định dời lại ngày khai tử Hồ Chí Minh, chính thức vào ngày 03 tháng 9 năm 1969.
Đảng CSVN lên kế hoạch tang lễ cấp nhà nước, cử hành ngày 09 tháng 9 năm 1969. Điện văn ngoại giao gửi đi các đại sứ quán, thông báo Hồ Chí Minh qua đời.
Điện tín của Mao Trạch Đông gửi Hồ Chí Minh:
– Trong quá trình anh bệnh tật, chúng tôi đã gửi một bác sĩ tốt nhất của Trung Quốc, đến Việt Nam chữa trị cho anh. Chúng ta đồng chí, hữu nghị Trung-Việt, và anh em".
Phái đoàn Trung Quốc, gồm có:
– Ông Lý Tiên Niệm
thành viên của Bộ Chính trị, Quân Uỷ Trung ương (CPC), và Phó Thủ tướng của Hội đồng Nhà nước, đứng đầu đảng, và phái đoàn chính phủ tham gia tang lễ cấp nhà nước của Việt Nam.
– Ông Chu Ân Lai cũng phá vỡ các thông lệ, ngày 04 tháng 9/1969, đích thân đã dẫn đầu một phái đoàn Quân Ủy Trung ương (CPC), bay tới Hà Nội chia buồn. Tháp tùng có các thành viên đoàn đại biểu Bộ Chính trị, và Quân Ủy Trung ương (CPC) cùng các Ủy ban Quân sự Trung ương.
– Ông Phó Chủ tịch Diệp Kiếm Anh
và Quân Ủy Trung ương (CPC), – Ông Vi Quốc Thanh Wei Guoqing), thành viên giám đốc khu tự trị dân tộc Choang, và nhân dân cách mạng Quảng Tây.
Phái đoàn Liên Xô:
– Ông Jie Bofu, Quân Ủy Trung ương CS Liên Xô, và một nhóm chuyên gia ướp xác của Viện nghiên cứu Lăng Lenin, đến Hà Nội.
Trong khi xác chết của Hồ Chí Minh vẫn còn nằm đó, các chuyên gia Liên Xô thảo luận đặt vấn đề có nên chuyển phần thi thể của Hồ Chí Minh đưa đi Moscow để ướp xác, bởi vì Việt Nam đang trong thời kỳ chiến tranh. Nhưng các nhà lãnh đạo Việt Nam không đồng ý với chương trình này. Vì vậy, Liên Xô khẩn cấp đưa dụng cụ ướp xác, và thiết bị chuyển qua bằng đường hàng không đến Việt Nam .
Hồ Chí Minh nằm trong quan tài pha lê, tang lễ cử hành tại Quảng trường Ba Đình Hà Nội. Báo chí Hoa Nam được dịp bốc thơm: "Bác Hồ nằm trong pha lê, mặt hồng hào, như là giấc ngủ thanh thản". Tưởng tượng phong phú của những tên tình báo Hoa Nam , chủ yếu hướng dẫn dư luận vào nguồn thiện cảm, thổi phồng những thành tích của ông ta.
Diễn biến của quan tài pha lê.
1 – Hồ Chí Minh chết vào thời điểm chiến tranh, lăng mộ chưa đặt viên đá xây dựng, trước mắt xác họ Hồ sẽ không thoát khỏi các vụ đánh bom của máy bay Mỹ. Muốn bảo vệ quan tài, đảng CS Việt Nam phải di chuyển vào hang núi sâu, cách Hà Nội 30 km. Đôi khi phải đem quan tài chạy trốn ra khỏi núi, tạm lánh lẩn quẩn trong cánh rừng lân cận, vì núi bị đánh bom sập. Muốn tránh được bom đạn cũng khó. Lúc này những chuyên viên Hoa Nam phụ trách bảo vệ quan tài.
( Được biết xác Hồ , để gần khu vực sơ tán của mấy "Đầy Tớ" - Khu này thường được gọi là : " Hang Chùa Thầy" thuộc Tỉnh Hà Tây cũ)
Những ngày đó tình báo Hoa Nam báo cáo, quan tài pha lê chứa thi thể họ Hồ đã bị đánh cắp ngay từ giờ đầu tiên sau khi di chuyển đến hang núi. Và một thi thể khác được thay thế đặt vào quan tài pha lê. Thi thể họ Hồ đã có mùi hôi tanh, đã bắt đầu rữa đang khi di chuyển đến nơi trú ẩn. Trong khi ấy những chuyên viên Y khoa cứ thế tiếp tục ướp xác của kẻ vô danh. Trong điều kiện ướp xác thiếu phương tiện, không ổn định duy trì ở mức 16 độ C, theo phương thức xác ướp cần phải có, khí hậu miền nhiệt đới ngày nóng, đêm lạnh bất thường, hình dung chung thi thể không thể lưu giữ tốt tươi được.
2 – Một lần nữa đảng CS Việt Nam di chuyển xác họ Hồ đến nơi an toàn, tạm thời xây dựng trong một khu rừng nhiệt đới, quan tài thi thể Hồ Chí Minh được chôn sâu dưới trong lòng đất. Ngay sau đó, nhóm bảo vệ ngôi mộ họ Hồ, xác nhận rằng:
– Quân đội Mỹ cho lính nhảy dù xuống cách ngôi mộ 2 km, để tìm phi công bị bắn rơi. Đảng CS Việt Nam sợ ngôi mộ họ Hồ bị lộ, nhanh chóng lấy quyết định quật mồ di chuyển nơi khác.
Nhưng tình báo Hoa Nam tiết lộ:
– Không phải quân đội Mỹ nhảy dù xuống cách ngôi mộ 2 km, chính là KGB nguỵ trang lính Mỹ, đã quật mồ cướp xác, để làm thử nghiệm, tìm nguồn cội, xuất xứ của kẻ thay xác họ Hồ là con nhà ai, và đối chiếu nắm trò tàn của Nguyễn Ái Quốc đã qua đời năm 1932, tại nhà tù Hương Cảng, hưởng dương 40 tuổi (1892-1932), hiện đang lưu trữ tại nghĩa trang Kuntsevo Moscow.
3 – Lần này, chuyển xác họ Hồ vào sâu trong hang động bảo vệ an toàn hơn, đồng lúc cho sửa chữa con đường núi bí mật, để vận chuyển quan tài pha lê trên xe bọc thép, thông qua một khoảng ngắn nhất của ngọn núi này, và sau đó lập tức phá hủy để bít lối đi của người dân địa phương. Hang động được canh phòng cẩn mật, và được sửa chữa lại cho tạm ổn tiêu chuẩn ướp xác. Bằng cách này, chiếc quan tài pha lê đã được giữ bí mật, mọi đảm bảo an ninh đã tuyệt đối, chờ đến khi kết thúc chiến tranh sẽ di chuyển về Hà Nội.
4 – Ngày 29 tháng 8 năm 1975. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hoàn thành, quan tài pha lê được chính thức chuyển vào lăng mộ.
Như vậy, từ tháng 9 năm 1969 đến tháng 8 năm 1975, cái xác của Hồ Chí Minh, phải trải qua 5 năm sương gió, và một năm chôn vùi dưới đất sâu. Việc bảo quản hài cốt đương nhiên không được trọn vẹn và bị hư hao nghiêm trọng. Có thể xác nhận cho đến nay xác họ Hồ đã được chôn xuống, và bị quật mồ đến 3 lần, lần thứ 4 ông mới được an nghỉ bình yên. Thi thể họ Hồ biến dạng rất khác thường, mặt gãy, mũi gãy, mồm hô.
Bác sĩ người Nga Yuri Denisov-Nikolsky [2], chuyên gia nhiều năm kinh nghiệm ướp xác, biết chuyện biến thể chân dung họ Hồ, thú vị phản ảnh:
– Lý do nào không cho chụp ảnh chính diện xác ướp họ Hồ, mà chỉ được chụp phiến diện nhỉ?
Tranh cua datviet.com Trong cuộc chạy đua đi tìm nơi trú ẩn an toàn, không ai có thể phân biệt ai là Hồ 1, Hồ 2 hay Hồ 3. Và Hồ (Nguyễn Tất Thành) xứ Nghệ ở đâu? Việc ướp xác không hề đơn giản. Đội ngũ chuyên viên ướp xác của Việt Nam lại không làm việc đều đặn, thiếu phương tiện, thiếu kinh nghiệm, mặc dù có sự giúp đỡ của chuyên gia Liên Xô, nên việc giữ gìn thi thể hoàn toàn thất bại.
Hồ Chí Minh chết đi để lại di chúc "yêu cầu mọi người hãy thực hiện hỏa táng". Nhưng đảng CS vì muốn tạo nên hình ảnh một vị lãnh tụ vĩ đại vì dân, vì nước nên phải lập một ngôi mộ khác thường. Cuộc đời thống khổ tuyệt đỉnh, sau 6 năm chết, Hồ Chí Minh vẫn phải chạy vào hang núi trốn bom đạn 3 lần, bị cướp xác rồi thay da đổi thịt 2 lần, rồi mới nằm yên. Ngày nay người dân Việt Nam có quyền nghi vấn người nằm trong Lăng Ba Đình có phải là Hồ thật hay Hồ giả!
"Bác Hồ , rồi lại Bác Mao ... Bác nào cũng muốn sờ "Mào Chị Em" . Miệng rao 'đạo đức" triền miên . Bác nào cũng muốn rủ em lên giường . Nào là "lãnh tụ thiên đường", Nào là " giống đỏ gieo mầm mai sau " ... Thiên đường cả lũ như nhau . Tham ăn , nói phét , ... toàn sâu , không Người ." Thơ Mới XHCN .
Tranh cua datviet.com Nội vụ 5 lần di chuyển hài cốt Hồ Chí Minh, có những sơ hở qui luật an ninh, và nội bộ đảng CS Việt Nam có dấu hiệu hờ hững không đồng tình bảo quản xác ướp quá tốn kém, lại không hoàn hảo. Từ khi Liên Xô sụp đổ năm 1990, xác ướp của họ Hồ báo động một lần nữa xuống cấp theo thời gian khá dài, do chuyên viên Liên Xô không thể tiếp tục hướng dẫn kế hoạch ướp xác chu đáo.
Đối mặt với tình hình này, những chuyên gia Việt Nam rất khó khăn vượt qua khả năng kinh nghiệm. Một lần nữa những chuyên gia Liên Xô, trực tiếp giúp đỡ và trao công thức mới ướp xác. Cho đến nay, Việt Nam đã đào tạo chuyên gia, hy vọng nắm vững kỹ thuật do chuyên gia Liên Xô hướng dẫn và trao kiến thức mức độ cao hơn. Chuyên gia Việt Nam đã nỗ lực nhưng kết quả khả năng kém, đưa đến sự kiện lưu xác Hồ Chí Minh trở nên khó khăn.
Hiện nay, chuyên gia ướp xác vẫn lo âu về mỗi một sợi râu, râu sẽ rơi ra khỏi mồng cho nên chải rất cẩn thận, và tóc cũng trong tình trạnh như râu. Một báo động khác, không bao lâu sự hóa trang dung mạo họ Hồ hết tác dụng, dù hiện nay đã sử dụng đến mỹ phẩm thượng hạng, lớp da họ Hồ xuống cấp, cần bảo quản cẩn thận, trước khi tiêm thuốc dưới da, từ đó mỗi khi xuyên kim, xem xét toàn diện xác ướp có kết quả mới an tâm. Không khéo xác ướp biến thành tro bụi!
Hồ Chí Minh nép mình trong quan tài pha lê, mặc một chiếc áo đại cán, màu vàng kaki, tay đặt trước bụng, một đôi dép lốp trên bàn chân, làm bằng cao su lấy từ vỏ xe hơi, thể hiện người kháng chiến. Cỗ quan tài thủy tinh bao quanh bởi bốn người lính đứng nghiêm làm nhiệm vụ canh chừng, thực chất Hồ Chí Minh đã rã xác và biến mất tự bao giờ, thế đảng CS Việt Nam vẫn cố biện giải còn nguyên vẹn, "trong chiếu xạ ánh sáng mềm mại".
Trong nhiều thập kỷ qua, các nhà lãnh đạo đảng CS Việt Nam biết rõ xác ướp này là ai, tuy nhiên họ phải tạo ra một biểu tượng nên họ phải trả giá cao. Họ sẵn sàng chi phí một ngân khoản lớn để bảo vệ uy tín của đảng cho dù người trong quan tài pha lê là một tên vô danh, tình cờ được nằm vào đó để cho dân tộc Việt Nam tung hô muôn năm.
Trong một lô dâm kể trên, chúng không thèm xài. Chúng lại thích “ấu dâm” nghĩa là hãm hiếp trẻ con, gái vị thành niên để “giải đen” và “cầu hên” trên đường thăng quan tiến chức.
Bọn chúng nhờ tham nhũng, hút máu dân, thừa tiền nên “rững mỡ”, biến thái tâm lý, trở thành súc vật, thích bạo dâm và nhất là ấu dâm.
Cẩu phụ sinh cẩu tử. Thằng chúa đảng hoang dâm vô đạo thì bọn tay chân bộ hạ ắt phải noi gương a tòng.
Hồ chí Minh đích thị là một kẻ xảo dâm. Hồ hoang dâm nhưng rất khéo che đậy sự dâm đãng để luôn tạo cho mình một hình tượng “cha già dân tộc” đạo đức trong sạch, suốt đời hy sinh bản thân để lo cho dân, cho nước, không tơ tưởng tới những vật dục, bẩn thỉu, tầm thường.
Suốt thời gian ngồi trên ngai vàng cho đến lúc bị hai gian thần là Lê Duẫn và Lê Đức Thọ kềm chế, lấn quyền, cả đến khi chết rồi, hình tượng “cha già dân tộc” đạo đức đầy mình vẫn luôn được bọn văn nô, thi nô, khuyển nô ra sức đánh bóng, thổi ống đu đủ lên tận mây xanh, biến thành thần linh để làm bình phong cho chúng ẩn núp phía sau làm điều xằng bậy.
Ngày nay, với cuộc cách mạng thông tin bùng nổ, mạng lưới Internet toàn cầu đã mở toang cánh cửa bí mật của những “lãnh tụ vĩ đại anh minh kính mến” mà chúng đã từng che dấu nhiều tội ác tày trời, những bí ẩn xấu xa, ghê tởm của mình, xưa nay vẫn được đồng đảng tung hô, bôi son trát phấn, ca ngợi như thần thánh.
Hồ chí Minh là một trong cái đám dâm đãng hung thần Mao Trạch Đông, Xít Ta Lin, Lê Nin… ấy bị lật tẩy. Cuộc đời tình ái, dâm ô của Hồ đã bị phơi bày lồ lộ rõ nét dưới ánh mặt trời.
Trong bài viết: “Những bí ẩn về Nguyễn Tấn Dũng”, ông Hoàng Dũng, một cán bộ Văn phòng Trung Ương của cựu TBT Nguyễn văn Linh, đã kể lại theo tiết lộ của Nguyễn văn Linh lúc cuối đời, về một phần bí mật “thâm cung bí sử” của “cha già dâm dục”.
Trích dẫn:
“Theo cụ Nguyễn Văn Linh kể thì Bộ Chính trị lúc bấy giờ, biết rằng cụ Hồ gặp những thiếu thốn và khó khăn về tình cảm cá nhân, như chuyện muốn nối lại mối tình duyên với người vợ cũ ở Trung quốc nhưng đã bị phản đối. Do vậy sau đó, Bộ Chính trị có bí mật sắp xếp nhiều người phụ nữ khác để chăm sóc và phục vụ cụ Hồ về mặt sinh hoạt tính dục. Đặc biệt, từ thuở còn thanh niên cụ Hồ đã có một mối tình đầu rất đẹp với một người con gái miền Nam (sự thật này đã được nhà văn Sơn Tùng sưu tầm và công bố trong bài viết “đi tìm Út Huệ”), do vậy cụ Hồ có một ấn tượng và thiện cảm đặc biệt với những người phụ nữ Nam bộ. Biết thế, nên Bộ Chính trị đã chỉ đạo cho Trung ương cục miền Nam, mà lúc này Nguyễn Văn Linh là Bí thư Trung ương cục, phải kín đáo tìm kiếm trong số những cán bộ, du kích miền Nam một vài cô gái còn trẻ, đẹp để đưa ra miền Bắc phục vụ cụ Hồ và các vị trong Bộ Chính trị. Thời điểm đó thì Võ Văn Kiệt đang là Ủy viên Trung ương cục được cụ Nguyễn Văn Linh tin tưởng tuyệt đối và giao cho trực tiếp phụ trách nhiệm vụ đặc biệt này. Trong số vài cô gái tuyển lựa được lúc đó đang chuẩn bị bố trí bí mật đưa ra miền Bắc, có một cô còn trẻ và rất sắc sảo họ Phan. Giữa lúc đó thì tình hình chiến sự đang diễn ra khá ác liệt nên không thể đưa các cô đi ngay được và rồi không hiểu thế nào mà ông Kiệt lại quan hệ dan díu với chính cô gái họ Phan kia. Đến lúc sự việc vỡ lở thì cô gái đã có thai được mấy tháng rồi. Thế là cô ta phải ở lại và cái bào thai đó chính là vị tổng Giám đốc Tracodi : Phan Thanh Nam sau này.
… Tôi đang bần thần như người ngủ mê và còn chưa biết phải nói thế nào, cụ Linh lại nói tiếp: … cũng không phải chỉ riêng có Sáu Dân đâu (bí danh của Võ Văn Kiệt), mấy ông tướng nhà ta cũng đầy con rơi ra đấy, còn thằng Ba Dũng là con Nguyễn Chí Thanh, rồi thằng Trần Nam là con Trần Văn Trà hiện đang làm bên Học viện lục quân ấy.
Thế là cụ lại kể cho tôi biết thêm những sự thật khác.
Theo cụ Nguyễn Văn Linh thì trong thời gian tướng Nguyễn Chí Thanh làm Bí thư liên khu ủy khu IV khoảng từ năm 1948 đến 1950 đã có quan hệ với một cán bộ phong trào ở đây và sinh ra Nguyễn Tấn Dũng, và cụ còn cho biết là sau Nguyễn Tấn Dũng vẫn còn một người em trai nữa cũng là con của tướng Thanh.
Còn tướng Trần Văn Trà thì có quan hệ với một người phụ nữ quê ở miền Bắc (hình như là họ Hoàng, điều này tôi không còn nhớ rõ) rồi sinh ra Trần Nam, cũng là một sỹ quan quân đội đang công tác tại Học viện lục quân Đà lạt.
Sau buổi tối hôm ở nhà cụ Nguyễn Văn Linh ra về tôi bàng hoàng và băn khoăn nhiều lắm. Như vậy những thứ được gọi là tư cách, đạo đức, mẫu mực của các lãnh đạo cao cấp của Đảng ta thật ra chỉ là những thông tin tuyên truyền thôi ư ? Và những kẻ bày ra những trò này chắc cũng không ngoài mục đích nhằm thao túng cụ Hồ và thao túng cả Bộ Chính trị ? Vậy thì đã có biết bao cô gái trẻ đã bị đánh mất tuổi thanh xuân và sự trinh trắng ở đó, và để đảm bảo tuyệt đối bí mật những thông tin này, dứt khoát phải có nhiều người đã bị thủ tiêu hoặc làm cho mất trí nhớ hoàn toàn. Như vậy những câu chuyện đồn thổi về những bóng ma trong quảng truờng Ba Đình phải chăng cũng là có thật ?
“Khi tôi vào phòng, Bác ôm chầm lấy tôi, hôn môi tôi, hai tay Bác xoa nắn khắp người tôi, Bác bóp hai bờ ngực nhỏ của tôi, Bác bóp mông tôi, Bác bồng tôi lên, thều thào vào trong tai tôi :
- Để bác cấy hạt giống đỏ cho cháu, cháu mang về miền Nam cho bác nhé.
Bác bồng tôi lên giường, hai tay bác đè tôi ra và lột áo quần tôi. Bác như một con cọp đói mồi. Sau một hồì kháng cự, tôi biết mình không thể nào làm gì hơn nên đành nằm xuôi tay. Hai hàng lệ một cô gái miền Nam vừa tròn 15 tuổi đã bị bác cướp đi mất cái trong trắng.
Những đêm sau, mấy đứa con gái khác cũng được dẫn đi như tôi, tôi biết là chuyện gì sẽ xảy ra với chúng, nhưng chúng tôi không ai dám nói vớí ai lời nào. Và qua cái chết của con Lành và con Hoa thì những ngày sau đó chúng tôi sống trong hoang mang và sợ sệt không biết là khi nào tới phiên của mình.
Cho đến khi thống nhất nước nhà, ba mẹ tôi không còn nữa, đã hy sinh cho độc lập dân tộc song họ hàng tôi vẫn vui lòng bởi vì tôi đã thay mặt gia đình và các cô chú trong cơ quan cũng như bạn bè tôi được vinh dự gặp Bác Hồ. Nhưng có ai biết được rằng sau cái gọi là vinh dự ấy là chuyện gì xảy ra đâu. Kể cả chồng tôi khi hỏi tớí trinh tiêt' của tôi, tôi cũng không dám nói vì anh ấy là một đảng viên cao cấp là một người lảnh đạo của tỉnh QNDN. Tôi chỉ nói là khi đi công tác tôi bị bọn ngụy quân bắt tôi và hãm hiếp tôi, chứ làm sao tôi dám nói tôi bị hãm hiếp lúc mớí 15 tuổỉ và bị hãm hiếp ngay tại phủ Chủ tịch và chính là "Bác hồ " hãm hiếp tôi, cho chồng tôi nghe .
Bây giờ ngồi đây tự điểm mặt lại trong số chúng tôi được vinh dự gặp Bác Hồ hơn 40 năm trước đây, chúng tôi đều trưởng thành, ngôì ngậm nguì nhớ laị những đứa bỏ xác laị trong phủ Chủ tịch và không bao giờ về lại được miền Nam. Tự nghĩ lại, chúng tôi thấy rất thấm thía lời Bác Hồ đã dạy: "Bác sẽ cấy những hạt giống đỏ của bác cho đồng bào miền Nam".
Lần theo chiều dài thời gian và đoạn đường “anh Ba” đã “bôn ba” khắp nơi trên thế giới để tìm đường cứu nước, người ta hết sức bất ngờ, sững sốt khi bắt gặp một Sở Khanh thứ hai, tài nghệ “chơi hoa bẻ cành”, “quất ngựa truy phong” còn “hoành tráng”, “tuyệt chiêu” hơn họ Sở trong truyện Kiều gấp mấy mươi lần.
Thời gian ở Pháp, lúc còn đang chạy công văn cho nhóm “Nguyễn ái Quốc” (bút hiệu chung của 4 người: Phan Châu Trinh, Phan văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn tất Thành) để kiếm ngày 2 bữa cơm, bác đã dzớt nhẹ hai em đầm. Một em tên Bourdon. Một em tên Biere.
Năm 1924, lưu lạc sang Tàu, bác xực hai thím xẩm. Một thím là Mao từ Mẫn, bà con xa với Mao Xếnh Xáng. Một thím nữa là Lý xảo Vân.
Năm 1926, bác quất ngựa chuối đến Quảng Châu, bợ em Tăng tuyết Minh. Lần này có hôn thú hẵn hoi. Giấy kết hôn lập ngày 18/10/1926.
Năm 1930, lúc chạy trốn sang Hồng Kông, bác cặp kè với Nguyễn thị Minh Khai, vợ của đồng chí Lê Hồng Phong.
Lúc ở Nga, bác “mần thịt” hai phụ nữ Nga. Một em có tên là Véra Vasiliera.
Năm 1942, thời gian bác “đăng ký” cư trú ở hang Pác Bó, có cháu gái Đỗ thị Lạc phục vụ hậu cần, bác xài luôn.
Năm 1955, bác tuy đã 65 tuổi nhưng vẫn còn bạo dâm lắm. Bác chơi ngọt cháu Nông thị Xuân mới 22 tuổi, sinh ra thằng nghiệt tử là Nguyễn Tất Trung. Cháu Xuân đòi Bác “công khai vợ chồng” cho danh chánh ngôn thuận. Bác chỉ ậm ừ. Sợ tiếng đồn “bác bị mất trinh” lan ra ngoài sẽ làm hoen ố hình tượng “thần thánh” của mình, Bác ra lệnh cho tên súc sinh Bộ trưởng Công an Trần Quốc Hoàn thủ tiêu cháu Xuân để bịt miệng. Tên súc sinh này đã hãm hiếp, hưởng sái nhì của Bác trước khi đập đầu giết chết cả hai chị em Xuân và Vàng một cách dã man.
Trên đây chỉ mới sơ sơ nửa bản tình ca về “đạo đức bác Hồ”. Chỉ là phần nổi của tảng băng dâm ô của Bác nhìn thấy được. Phần chìm dưới nước thì hãy đợi đấy!
“Một đại gia than ở Quảng Ninh cho rằng, Đoàn Văn Thức đang bị "soi" về câu chuyện "than củi”, cộng với thói ngông nghênh “coi trời bằng vung" vì cậy thế người nhà làm to nên tìm mua trinh đế "giải đen”. "Đi đêm lắm cũng có ngày gặp ma những lần trước không làm sao, Thức tưởng không ai dám đụng đến mình, lần này bị bắt thì hết ngông nghênh. Đúng là giải đen không được Lại còn đen hơn.
Một đại gia than khác tâm sự: "Bất kể công việc gì, từ làm lễ động thổ khai mỏ mới hay tiếp đãi các “sếp lớn”, bọn em đều kiếm cái “món đấy" vừa để lấy hên vừa lấy lòng các sếp để được chia những điểm khai thác ngon lành…”.
Báo Dân Trí tường thuật:
“Kết thúc phiên toà, Hội đồng xét xử đã tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thị Bến và Nguyễn Thị Thuỳ mỗi bị cáo 5 năm tù giam; Lê Văn Nam và Vũ Thị Bốn mỗi bị cáo 7 năm tù giam và nộp phạt 5 triệu đồng về tội “Môi giới mại dâm”; bị cáo Đỗ Bá Dương 8 năm tù giam và nộp phạt 5 triệu đồng về tội “Môi giới mại dâm và Mua dâm người chưa thành niên”; Đoàn Văn Thức 2 năm tù giam về tội “Mua dâm người chưa thành niên”.
Một lần nữa, chúng ta thấy “cong lý” (cong không có dấu ^) của đảng CSVN. Những người môi giới không phải đảng viên thì bị phạt từ 5 đến 7 năm tù. Còn đảng viên “mua dâm hại người” thì chỉ có 2 năm. Nhẹ hều.Nẳm nghỉ mát chừng mươi tháng, đảng lại đặc cách ân xá thôi!
Một lòng theo đảng là phải dzồi! Bác Hồ vưỡn muôn năm trường trị, thống nhất giang hồ!
Số cán bộ đệ tử học tập theo gương đạo đức của bác, lập thành tích về “ấu dâm”, xiển dương công đức sáng ngời của bác, lưu sử sách cho đời sau “rút kinh nghiện” hãy còn nhiều , còn dài dài, không giấy mực nào kể cho xuể.
Mới đọc cái tiêu đề trên ai cũng lầm tưởng báo chí đang nói về con chó Tô Tô nào đó, lại cắn chết người như vụ chó bẹc giê cắn chết bà Phạm thị Ngắn một cách thương tâm đã xãy ra ở buôn H’ drat, xã Ea Kao, Buôn mê Thuột Đắc Lắc, ngày 21/1/2010.
Nhưng đọc vào bên trong bài báo mọi người mới ngã ngữa, tá hỏa ra thì-là-rằng TÔ-TÔ đây không phải là chó mà còn tệ hơn chó. Đó là hai “ngài” cán bộ quan chức cao cấp “gương mẫu đạo đức” của bác Hồ, của đảng ta.
Một ngài tên là TÔ huy Rứa, ngài kia là Nguyễn trường TÔ.
-Ngài Nguyễn Trường Tô ngạc nhiên không biết những tấm hình này chụp hồi nào, ở đâu (nhiều qua không nhớ nổi) và khẳng định “sự việc trên là không có căn cứ… việc đó là nhằm hạ uy tín của ông”.
- Bà Tô thì cả quyết:
- Bây giờ công nghệ thông tin phát triển, người ta hoàn toàn có thể ghép ảnh chồng tôi vào những bức ảnh đó. Dù thế nào đi nữa, tôi vẫn luôn vững tin vào chồng tôi.
Bà Tô sơ chồng bị cách chức và có thể ngồi tù thì sẽ mất tất cả gia sản của chồng bà tham nhũng ký cóp lâu nay nên tuyệt đối bênh vực cho chồng là đúng.
Nhưng liệu dư luận xã hội và Ủy Ban Kiểm tra đảng có tin hay không?
Có thể nhiều người không tin lời bà Tô. Nhưng hàng xóm láng giềng chung quanh nhà vợ chồng ông bà Tô ở, tin lời bà. Bởi bầy con hiện nay đâu phải giống của ông Tô Tô. Bà đã đi phối giống ở những thằng KiKi, Vàng, Vện, Mực… khác.
Hồ Chí Minh có mấy vợ và bao nhiêu người tình lẻ ?
(Theo tác giả Nguyễn Minh Cần, lúc xảy ra vụ án ông là Phó chủ tịch Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội (tức Phó thị trưởng), thì Trần Quốc Hoàn, bộ trưởng bộ Công An chính phủ Hà Nội, nhiều lần đến nhà bà Xuân để hãm hiếp bà từ ngày 6-2-1957, và cuối cùng đã giết bà Xuân ngày 11-2-1957 bằng cách đánh búa vào đỉnh đầu (theo khám nghiệm của bác sĩ), rồi quăng xác ở dốc Cổ Ngư.)
1. Tăng Tuyết Minh (vợ chính thức có hôn thú, đã có thai với Hồ, nhưng sau phải phá thai vì mất liên lạc với Hồ)
2. Nguyễn Thị Minh Khai (người đồng chí, người tình đã ăn nằm như vợ chồng với Hồ, nhưng Hồ bệnh chết năm - 1932, nên sau đó Minh Khai lấy Lê Hồng Phong sau Hội nghị 7 CSQT)
3. Nông Thị Ngát (gái Nùng có 1 con trai với Hồ, tên Nông Đức Mạnh)
4. Đỗ Thị Lạc (có một người con gái với HCM)
5. Nông Thị Xuân (gái trẻ sơn cước, có 1 con trai Nguyễn tất Trung sinh năm 1956 với Hồ)
6. Nông Thị Vàng (em gái bà Xuân vào ở chung với bà Xuân số 66 Hàng Bông Thợ Nhuộm)
7. Nguyệt (em gái bà Xuân vào ở chung với bà Xuân số 66 Hàng Bông Thợ Nhuộm)
8. Marie Bière (người tình lẻ Pháp)
9. Véra Vasiliéva (người tình lẻ trong đảng CS Nga)
10. Nguyễn Thị Phương Mai, tỉnh ủy viên tỉnh ủy Thanh Hóa, đòi Hồ phải làm công khai làm đám cưới, nhưng đảng không cho, sau đó hủy bỏ !
(Đây chỉ là mặt nổi của những người đàn bà qua tay cha già dzâm tặc Hồ Chí Minh, còn những cháu gái miền Nam vượt Trường Sơn ra Bắc cho bác "CẤY HẠT GIỐNG ĐỎ" để mang về Nam thì ko thể đếm hết ?!)
Một người đến tuổi trưởng thành, lập gia đình là chuyện bình thường. Nhưng bản thân Hồ Chí Minh cũng như đảng Cộng Sản Việt Nam luôn luôn xưng tụng ông Hồ là một người chỉ nghĩ đến việc phục vụ đất nước nên không có thời giờ lập gia đình, và không có vợ con. Thực sự có phải như thế không?
1. TĂNG TUYẾT MINH, người vợ Trung Cộng :
Khoảng giữa tháng 11-1924, Hồ Chí Minh, lúc đó có tên là Lý Thụy, đáp tàu thủy từ Vladivostok (Liên Xô) đến Quảng Châu (Trung Hoa) với tư cách là thư ký kiêm thông ngôn cho phái đoàn cố vấn Borodin (Liên Xô) bên cạnh chính phủ Tôn Dật Tiên ở Quảng Châu, trong giai đoạn liên minh quốc cộng lần thứ nhất ở Trung Hoạ Trong thời gian sống ở Quảng Châu, ngoài những hoạt động chính trị, Lý Thụy lấy một cô gái Quảng Châu tên là Tăng Tuyết Minh, đảng viên đảng Cộng Sản Trung Hoa, làm nghề nữ hộ sinh, ngày 18-10-1926.
Sau đây là lá thư của Lý Thụy gởi cho Tăng Tuyết Minh do Nha Liêm Phóng Đông Dương phát hiện ngày 14-8-1928: “Dữ muội tương biệt, Chuyển thuấn niên dư, Hoài niệm tình thâm, Bất ngôn tự hiểụ Từ nhân hồng tiện, Dao ký thốn tiên, Tỷ muội an tâm, Thị nã da vọng. Tịnh thỉnh nhạc mẫu vạn phúc. Chuyết huynh Thụy. Tóm dịch: “Cùng em chia tay nhau, Thấm thoát nháy mắt đã hơn năm, Nhớ nhung tình sâu, Không nói cũng tự biết. Nay nhân gởi tin hồng nhớn, Xa xôi gởi lá thư mang tấm lòng, Mong em yên tâm, Là điều anh trông ngóng. Cũng xin vấn an nhạc mẫu vạn phúc. Người anh vụng về Thụy”.
Theo tác giả Daniel Hémery, L Thụy không gặp lại được Tăng Tuyết Minh từ sau năm 1927, có thể vì Tuyết Minh bị thất lạc do chiến tranh quốc cộng ở Trung Hoa vào đầu năm 1927. Cộng Sản Hà Nội phủ nhận mối quan hệ giữa Lý Thụy và Tăng Tuyết Minh. Họ cho rằng nếu lá thư có thật, chẳng qua là Lý Thụy thường thông tin với các đồng chí dưới dạng thư tình để qua mặt giới tình báo của các nước tới Quảng Châụ. Chú ý đọc kỹ lá thư với lời lẽ rất thân thiết lãng mạn (muội, huynh, tình thâm) thì không thể là thư liên lạc bình thường.
2. NGUYỄN THỊ MINH KHAI, người đồng chí:
Nguyễn Thị Minh Khai tên thật là Nguyễn Thị Vịnh, sinh năm 1910 tới Vinh (Nghệ An), con ông Nguyễn Huy Bình là nhân viên hỏa xa, và là chị của Nguyễn Thị Quang Thái, vợ đầu của Võ Nguyên Giáp. Minh Khai học trường tiểu học Pháp Nam ở Vinh. Năm 1928, Khai gia nhập Tân Việt Cách Mạng Đảng, sau đó qua đảng Cộng Sản Đông Dương, và sang Hồng Kông hoạt động năm 1930. Ở Hồng Kông, tới trụ sở chi nhánh Bộ Đông Phương của Quốc tế cộng sản, hằng ngày, vào buổi sáng, Minh Khai học chính trị do Lý Thụy đích thân truyền dạỵ Từ đó nẩy sinh tình cảm nam nữ giữa hai ngườị
Khi đến Moscow, Minh Khai khai báo lý lịch là đã có chồng, và mở ngoặc tên chồng là Lin. Lin là bí danh của Nguyễn Ái Quốc lúc đó. Cũng theo nguồn tài liệu nầy, những phiếu ghi nhận đồ đạc trong phòng riêng hai người tới nhà ở tập thể của các cán bộ cộng sản cũng đều ghi hai vợ chồng Minh Khai, Lin cùng chung phòng, chung giường, chung đồ dung.
Tháng 4-1931, Minh Khai bị bắt ở Hồng Kông, đến đầu năm sau thì được thả rạ Trong khi đó, Lý Thụy cũng bị bắt và bị trục xuất ra khỏi Hồng Kông. Lý Thụy qua Quảng Châu, lên Thượng Hải, đáp tàu đi Vladivostok, rồi Moscow.
Ngày 25-7-1935, tới Moscow khai mạc đại hội cộng sản quốc tế. Phái đoàn đại diện đảng Cộng Sản Đông Dương do Lê Hồng Phong dẫn đầu gồm có: Lê Hồng Phong, Quốc, Kao Bang, vợ Quốc và hai đại biểu khác từ Nam Kỳ và Ai Lao đến. (3) Khi đến Moscow, Minh Khai khai báo lý lịch là đã có chồng, và mở ngoặc tên chồng là Lin. Lin là bí danh của Nguyễn Ái Quốc lúc đó.
Cũng theo nguồn tài liệu nầy, những phiếu ghi nhận đồ đạc trong phòng riêng hai người tới nhà ở tập thể của các cán bộ cộng sản cũng đều ghi hai vợ chồng Minh Khai, Lin cùng chung phòng, chung giường, chung đồ dùng... (5) Theo lời con gái của bà Vera Vasilieva (bà nầy là một nhân viên người Nga trong tổ chức Quốc tế Cộng Sản), kể cho nhà nữ sử học Sophia Quinn Judge (Hoa Kỳ), được ông Thành Tín viết lới trong Về ba ông thánh, thì trong thời gian diễn ra đới hội nầy, ông Lin (tức Hồ chí Minh) hay ghé lới nhà bà Vera Vasilieva thăm, và thường đi cùng với một phụ nữ Việt Nam tên là Phan Lan. Phan Lan là bí danh của Nguyễn Thị Minh Khai dùng khi ở Moscow. (6)Minh Khai học ở Viện Thợ thuyền Đông Phương tức trường Staline đến tháng 2-1937 thì về nước qua đường Pháp, đến Sài Gòn năm 1938. Năm 1940, Khai bị bắt, bị lên án tử hình, và bị bắn tại Hóc Môn năm 1941.
Theo tài liệu của đảng Cộng Sản Việt Nam, Nguyễn Thị Minh Khai là vợ của Lê Hồng Phong (tức Lê Huy Doãn), và có với Phong một người con gái tên Lê Thị Hồng Minh, sinh năm 1939. Nhưng trước khi làm vợ Lê Hồng Phong, những tài liệu trong tờ khai lý lịch và những câu chuyện do bà Sophia Quinn Judge đưa ra cho thấy một thời Minh Khai đã là vợ của Nguyễn Ái Quốc tức Hồ Chí Minh.
Nhà báo Thành Tín còn đi xa hơn nữa khi đặt câu hỏi biết đâu tên Hồ Chí Minh là kỷ niệm về Minh Khaị Ngoài ra ông Hồ còn lấy tên là T. Lan để viết một quyển sách tự truyện tựa đề là "Vừa đi đường vừa kể chuyện". Cũng theo tác giả Thành Tín, biết đâu chữ Lan cũng lấy từ Phan Lan, bí danh của Minh Khai khi ở Moscow.
3. ĐỖ THỊ LẠC LÀ AI ??
Sau đại hội Moscow ngày 25-7-1935, Lê Hồng Phong (1902-1942) được Quốc tế Cộng Sản gởi về nước hoạt động, còn Nguyễn Tất Thành (hay Lý Thụy, Nguyễn Ái Quốc) bị thất sủng và bị giữ lại ở Liên Xô cho đến cuối năm 1938, Thành được gởi về Trung Hoa dưới một tên mới là Hồ Quang, điều khiển ban Hải ngoại đảng Cộng Sản Đông Dương. Đầu năm 1940, Lê Hồng Phong bị bắt ở Phan Thiết, đưa vào Sài Gòn, bị đày đi Côn đảo rồi chết ở ngoài đó năm 1942. (8) Trong khi đó, cuối năm 1940, Nguyễn Tất Thành bắt đầu sử dụng thông hành mang tên Hồ Chí Minh, ký giả một báo do Cộng Sản Trung Hoa điều khiển.(9)
Vào đầu năm 1941, Hồ Chí Minh về nước, đặt căn cứ ở hang Pắc Bó, châu Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. (10) Sau khi củng cố nội bộ, huấn luyện đảng viên, phát triển cơ sở, và tổ chức hội nghị trung ương đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ 8 (tháng 5-1941), đưa Trường Chinh đặng Xuân Khu (1909-1988) lên làm Tổng bí thư đảng, Hồ Chí Minh qua Trung Hoa tiếp tục hoạt động, đánh phá các cơ sở cách mạng không cộng sản, và kiếm cách xin Trung Hoa viện trợ. Cuối tháng 8-1942, Hồ bị chính quyền Trung Hoa Quốc Dân Đảng bắt giữ đến tháng 9-1943.(11) Ra khỏi tù, Hồ luôn luôn kiếm cách lấy lòng các tướng quân Trung Hoa ở Liễu Châu như Trương Phát Khuê, Tiêu Văn.
Lúc bấy giờ, phía Trung Hoa đang có sự hợp tác quốc cộng để chống Nhật. Tướng Tiêu Văn áp lực các tổ chức cách mạng Việt Nam hợp nhất với nhaụ Dầu bị Việt Nam Quốc Dân Đảng và Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội phản đối, Tiêu Văn vẫn cho tiến hành đới hội tới Liễu Châu ngày 28-3-1944 gồm đại biểu của tất cả các tổ chức chính trị Việt Nam. Các phe phái không cộng sản và cộng sản tranh luận gay gắt, nhưng cuối cùng cũng bầu ra được một ban chấp hành mới gồm có bảy ủy viên chính thức và một ủy viên dự khuyết là Hồ Chí Minh, và ba ủy viên giám sát.
Trong danh xưng mới, Hồ khéo léo ẩn mình, rất được Tiêu Văn tin cậỵ Hồ đề nghị Tiêu Văn cho mình về nước cùng một số cán bộ đã được Trung Hoa huấn luyện, và một số súng đớn, thuốc men và tiền bớc. Tiêu Văn đồng Ọ cho Hồ về Việt Nam với 18 cán bộ vừa mới tốt nghiệp khóa huấn luyện quân sự dựới Kiều (gần Liễu Châu), cộng thêm 76.000 quan kim, tài liệu tuyên truyền, bản đồ quân sự và thuốc men, nhưng không cấp vũ khí. Hồ về tới Pắc Bó (Cao Bằng) vào gần cuối năm 1944.
Trong số 18 cán bộ theo Hồ về nước lần nầy có Đỗ Thị Lạc tức "chị Thuần." Nhân thân của Đỗ Thị Lạc không được rõ ràng, chỉ biết rằng vào năm 1942, khi tướng Quốc Dân Đảng Trung Hoa là Trương Phát Khuê tổ chức lớp huấn luyện chính trị và quân sự cho các tổ chức cách mạng Việt Nam ở Đại Kiều (gần Liễu Châu), Đỗ Thị Lạc theo học lớp truyền tin. Khi về Pắc Bó, Đỗ Thị Lạc sống chung với họ Hồ một thời gian, lo dạy trẻ em và vận động vệ sinh ăn ở của dân chúng ở Khuổi Nậm gần Pắc Bó.
Sử gia Trần Trọng Kim, trong sách Một cơn gió bụi đã cho biết Đỗ Thị Lạc đã có một người con gái với Hồ Chí Minh. Do tình hình biến chuyển, Hồ rời Pắc Bó đầu năm 1945 qua Trung Hoa, bắt liên lạc và hợp tác với tổ chức OSS dưới bí danh Lucius vào tháng 3-1945.
Đầu tháng 5-1945, Hồ về Việt Nam, ghé Khuổi Nậm (Cao Bằng) thăm Đỗ Thị Lạc một thời gian ngắn rồi đi Tân Trào (Tuyên Quang), và bị cuốn hút vào những biến chuyển lịch sử sau đó. Chuyện tình giữa Hồ với Đỗ Thị Lạc, cũng như với Minh Khai, Tăng Tuyết Minh bị giấu nhẹm, nên sau đó không còn dấu vết gì nữa.
4. NÔNG THỊ XUÂN, Gái sơn cước
Sau khi hiệp định Genève được ký ngày 20-7-1954, đất nước chia hai, hòa bình tái lập, Hồ Chí Minh về Hà Nội làm chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt). Ban bảo vệ sức khỏe trung ương, chuyên trách sức khỏe các nhân vật cao cấp, đã tuyển 1 phụ nữ thuộc "gia đình cách mạng" (16) tên là Nông Thị Xuân, người làng Hà Mạ, xã Hồng Việt, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, thuộc sắc tộc Nùng.
Cô Xuân được đưa về Hà Nội sống với ông Hồ năm 1955. Lúc đó, ông Hồ đã khoảng 65 tuổi, còn cô Xuân 22 tuổị Sau vài tháng có thêm một em gái của cô Xuân tên là Vàng, và một em gái con cậu ruột là Nguyệt cũng được đưa theọ Cả ba được sắp đặt sinh sống trong ngôi nhà số 66 phố Hàng Bông Thợ Nhuộm, gần đường Quang Trung, Hà Nộị.
Thông thường, để giữ bí mật về mối quan hệ giữa Nông Thị Xuân và Hồ Chí Minh, chính bộ trưởng bộ Công an của chính phủ Hà Nội là Trần Quốc Hoàn đưa cô Xuân vào gặp ông Hồ, rồi sau đó chở về. Bà Xuân rất được ông Hồ ưa thích, và có với ông Hồ một con trai năm 1956, đặt tên là Nguyễn Tất Trung, nhưng trước sau ông Hồ vẫn không cho bà Xuân vào ở phủ chủ tịch với ông, và không làm lễ cướị.
Thế rồi bỗng nhiên "vào một buổi sáng mùa xuân năm 1957, người ta thấy có xác một người đàn bà bị xe ô tô đụng chết ở dốc Cổ Ngư lên Chèm [Hà Nội]. Xác chết được đưa vào bệnh viện Việt Đức, được nhận dạng, đó chính là cô Xuân. Nhưng xác không được mổ theo thường lệ, mà bị chôn cất vội vã, theo lệnh của Trần Quốc Hoàn..."
Theo tác giả Nguyễn Minh Cần, lúc xảy ra vụ án ông là Phó chủ tịch Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội (tức Phó thị trưởng), thì Trần Quốc Hoàn, bộ trưởng bộ Công An chính phủ Hà Nội, nhiều lần đến nhà bà Xuân để hãm hiếp bà từ ngày 6-2-1957, và cuối cùng đã giết bà Xuân ngày 11-2-1957 bằng cách đánh búa vào đỉnh đầu (theo khám nghiệm của bác sĩ), rồi quăng xác ở dốc Cổ Ngư.
Điều nầy chứng tỏ thẩm quyền tối cao về chính trị tới Hà Nội lúc đó, hoặc Hồ Chí Minh, hoặc Bộ Chính trị trung ương đảng, hoặc cả hai bên, đã quyết định thanh toán bà Xuân khi bà nầy muốn công khai hóa mối liên hệ giữa bà với ông Hồ và đòi chính thức nhìn nhận đứa con, nên Trần Quốc Hoàn mới dám làm hỗn với bà Xuân trước khi giết. Người chứng kiến việc chị mình bị hãm hiếp và bị đem đi giết chết là cô Vàng cũng bị thủ tiêu khoảng ngày 2 hay 3-11-1957.
Ở đây, có lẽ nên mở một dấu ngoặc để tìm hiểu vì sao Trần Quốc Hoàn, ủy viên bộ Chính trị, bộ trưởng bộ Nội vụ nắm giữ ngành công an là một bộ quan trọng trong chế độ cộng sản, quyền lực đầy đủ trong tay, dư điều kiện và phương tiện để hành lạc trác táng, lại hành xử lạ lùng như vậỷ Trước hết, tuy được coi là lãnh tụ số một của chế độ công sản Hà Nội lúc bấy giờ, Hồ Chí Minh không được các lãnh tụ khác cũng như bộ hạ thực tâm kính trọng.
Điều nầy được bộc lộ rõ nét trong những quan hệ riêng tư nội bộ mà dân chúng bên ngoài không được biết, ví dụ tuy bà Xuân đã từng là vợ của Hồ Chí Minh, Trần Quốc Hoàn vẫn xem thường và xài xễ cho bỏ ghét. Cũng có thể việc xài xễ nầy bắt nguồn từ quan niệm dùng người hết sức tàn bạo của cộng sản: đó là khi một người đã hết sử dụng được thì tuyệt đối không còn được chút lưu tình chút nào, và bị coi là một thứ công cụ vứt đị.
Hồ Chí Minh quyết định thanh toán bà Xuân, cho Trần Quốc Hoàn muốn làm gì thì làm; hoặc Trần Quốc Hoàn biết bà Xuân sắp bị thanh toán, coi bà như một thứ đồ dùng, xài kẻo phí của trờị Ngoài ra, hành vi của Trần Quốc Hoàn còn chứng tỏ một tâm lý kiêu hãnh và tự cao, lãnh tụ số một dùng được thì "ta" cũng dùng được, "ta" có thua gì lãnh tụ đâu?
SỐ PHẬN NGUYỄN TẤT TRUNG SAU KHI BÀ XUÂN CHẾT RA SAO ?
Sau khi bà Xuân qua đời, Nguyễn Tất Trung mới một tuổi, mồ côi mẹ, được dì là cô Vàng nuôi, nhưng rồi bị bắt đem đi gởi cho Nguyễn Lương Bằng (1904-1979), bí danh Sao đỏ, một lãnh tụ cộng sản Việt Nam. Năm bé Trung năm tuổi (1961), người ta lại chuyển cho tướng Chu Văn Tấn nuôị. Chu Văn Tấn cùng sắc tộc Nùng với bà Xuân, là kẻ đứng ra tổ chức đơn vị cứu quốc quân đầu tiên của cộng sản ở vùng rừng núi Việt bắc.
Khi ông Hồ qua đời ngày 2-9-1969, thư ký kiêm cận vệ của ông Hồ là Vũ Kỳ nhận Trung làm con nuôi và đổi tên là Vũ Trung. Ngoài bốn nhân vật chính trên đây, theo tác giả Thành Tín tức cựu đại tá Bùi Tín của quân đội cộng sản Hà Nội, trong cuộc đời Hồ Chí Minh còn có một vài cuộc tình nhỏ như khi còn ở Paris, ông Hồ có một người tình tên là Marie Bière, lúc sang Hoa Nam, ông Hồ yêu bà Đặng Dĩnh Siêu, vợ Chu Ân Laị.
Sau đây là lời Thành Tín viết về hai "mối tình con" nầy của ông Hồ: "...Theo tài liệu ở Pháp, khi trẻ tuổi, làm thợ ảnh, ông Hồ có quan hệ với một cô đầm tên là Marie Bière nào đó..." Ở một đoạn khác, Thành Tín tiếp : "... Theo chị Sophia, có người kể với chị là ông Hồ còn có lúc yêu cả vợ ông Chu Ân Lai là bà Đặng Dĩnh Siêu, khi gặp nhau ở Hoa Nam thời trẻ ông cũng có lúc có tình cảm mặn nồng với cả chính bà Véra Vasiliévạ Chị Sophia kể rằng con gái bà Véra Vasiliéva nhớ lới rằng anh thanh niên Quốc ăn mặc rất chải chuốt, luôn mang cà vạt màu rất diện, xức cả nước hoa cực thơm..."
Sau hiệp định Genève, trước vụ cô Xuân, ban lãnh đạo đảng Cộng Sản Hà Nội có ý kiến là ông Hồ cần có vợ để điều hòa tâm sinh lý, giúp giữ gìn sức khỏe được tốt. Người ta chọn cho Hồ Chí Minh một nữ cán bộ trẻ đẹp là cô Nguyễn Thị Phương Mai, tỉnh ủy viên tỉnh ủy Thanh Hóạ Khi về Hà Nội gặp họ Hồ, cô Phương Mai đồng ý lấy ông Hồ với điều kiện là phải danh chánh ngôn thuận, nghĩa là phải làm lễ cưới công khai đàng hoàng.
Ông Hồ và các cán bộ lãnh đạo đảng Cộng Sản Hà Nội cho rằng ông Hồ không lấy vợ thì có lợi cho uy tín chính trị hơn (?) nên cuối cùng việc cô Phương Mai không thành. Về sau, cô Phương Mai được đưa lên làm thứ trưởng bộ Thương binh trong chính phủ Hà Nộị. Qua các cuộc tình của Hồ Chí Minh, và nhất là qua sự kiện Nông Thị Xuân và Nguyễn Thị Phương Mai, người ta thấy rõ ông Hồ và cả đảng Cộng Sản Việt Nam muốn ông ta có cơ hội giải quyết sinh lý của một con người bình thường, nhưng không chịu công khai hóa một cách danh chánh ngôn thuận đời sống vợ chồng, nhắm tạo cho ông ta thành huyền thoại về một siêu nhân suốt đời sống cô đơn, hy sinh bản thân cho đới cuộc của đất nước.
Đó là chưa kể chính bản thân của ông Hồ là một người say mê công danh đến cùng tột, và sự say mê đó được thể hiện rõ qua việc đảng Cộng Sản đã in cả hàng chục triệu quyển sách để thần thánh hóa ông Hồ, mà ông vẫn chưa thỏa mãn. Ông ta còn lấy những bút hiệu khác để viết sách tự đề cao mình. Đó là hai quyển “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch” bút hiệu Trần Dân Tiên, và “Vừa đi đường vừa kể chuyện” bút hiệu T. Lan.
Các danh nhân trên thế giới viết hồi ký kể lại quá trình hoạt động của mình là chuyện bình thường. Trong hồi ký của họ, đôi khi họ cũng ca ngợi chính bản thân họ, nhưng vấn đề là họ tự đề tên thật và chịu trách nhiệm về những điều họ viết. Ngược lại, Hồ Chí Minh giấu mình qua những tên khác để tự ca tụng mình. Dưới tên Trần Dân Tiên, ông Hồ đã mở đầu sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch như sau: "Nhiều nhà văn, nhà báo Việt Nam và ngoại quốc muốn viết tiểu sử của vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, nhưng mãi đến nay, chưa có người nào thành công. Nguyên nhân rất đơn giản: Chủ tịch Hồ Chí Minh không muốn nhắc lới thân thế của mình..." Sau đó, ông Trần Dân Tiên tức Hồ Chí Minh tự đề cao mình: "...
Một người như Hồ Chủ tịch của chúng ta, với đức khiêm tốn nhường ấy và đương lúc bề bộn biết bao nhiêu công việc, làm sao có thể kể cho tôi [?] nghe bình sinh của người được?..." (23) Trước phần kể chuyện của Trần Dân Tiên tức Hồ Chí Minh, nhà xuất bản Sự Thật đã viết lời dẫn nhập như sau: "...Trải qua một cuộc đời oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, Hồ Chủ Tịch đã nêu tấm gương đạo đức cách mạng vô cùng trong sáng và đẹp đẽ, quyết tâm cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta và nhân dân thế giớị.."
(24) Nhà xuất bản Sự Thật là cơ quan chuyên xuất bản sách vở kinh điển của Trung ương đảng Cộng Sản, không thể không biết rõ lai lịch của quyển sách, lý lịch của người viết. Nếu nhà xuất bản Sự Thật không biết sách của ai, hoặc tác giả chỉ là một nhà báo tầm thường không tên tuổi như Trần Dân Tiên hoặc T. Lan, thì chắc chắn không bao giờ sách được nhà xuất bản Sự Thật in ra. Do đó, chắc chắn những được in trong nước, mà các sách nầy còn được nhà xuất bản Ngoại Văn dịch thành nhiều thứ tiếng khác nhau để phát hành khắp các nước trên thế giới trong suốt cuộc chiến tranh từ 1960 đến 1975.
Đây không phải chỉ là ý đồ cá nhân của Hồ Chí Minh mà còn là chủ tâm của toàn đảng Cộng Sản Việt Nam nhắm suy tôn lãnh tụ, thần thánh hóa Hồ Chí Minh để đánh lừa chẳng những đồng bào Việt Nam ở trong nước, mà còn cả toàn thể dư luận thế giới trong thời gian chiến tranh trước đây.
Trở lại chuyện vợ con của ông Hồ, ông ta cũng chỉ là một con người bình thường như mọi người, có vợ có con, nhưng lúc trẻ tham vọng trở thành lãnh tụ chính trị đã thúc đẩy ông chối bỏ trách nhiệm làm chồng, làm cha, và nhất là giấu kỹ tất ca? những quan hệ tình cảm cá nhân, nhắm tự tạo cho mình hình ảnh của một lãnh tụ chính trị độc thân, trong sạch, hy sinh cá nhân để suốt đời tận tụy lo toan việc nước, nhắm lôi cuốn quần chúng đi theo đường lối cộng sản của ông ta. Huyền thoại nầy rất cần thiết để xây dựng chế độ độc tài, nên ông Hồ và các đảng viên thân tín của ông càng ra sức gia công phát huy rộng rãi huyền thoại nầy cho những toan tính của đảng Cộng Sản.
Nhưng một khi nhà lãnh tụ vong thân trong huyền thoại thì họ không còn được cuộc sống bình thường của con người, mà nhất nhất đều phải theo sự điều hành trong guồng máy của chủ nghĩa độc tàị. Do đó, khi trở thành lãnh tụ nhà nước ở Hà Nội, ông Hồ muốn quyết định bất cứ việc gì, dù có tính cách riêng tư, cũng đều có ý kiến của bộ chính trị đảng Cộng Sản, tức là nhóm lãnh đạo chóp bu của đảng Cộng Sản Hà Nội lúc bấy giờ.
Vì thế mới có chuyện đảng Cộng Sản đi tìm phụ nữ cho Hồ Chí Minh thỏa mãn nhục dục, nhưng một khi các cô gái đòi chính thức hóa bằng hôn lễ công khai, thì lại thoái thác rằng "bác" không lấy vợ để lợi cho uy tín chính trị hơn. Trong chế độ cộng sản hiện nay ở Việt Nam, không phải chỉ có một trường hợp điển hình là Hồ Chí Minh, mà có thể còn nhiều khuôn mặt khác nữa...
Hiện tượng nầy cũng không phải chỉ riêng ở Việt Nam mà là một hiện tượng chung của thế giới cộng sản. Lý do chính là trong thế giới cộng sản không có cơ chế dân chủ, không có tự do ngôn luận, không có tự do báo chí từ đó không có sự chế tài đối với các lãnh tụ và các lãnh tụ vượt ra ngoài vòng dư luận, muốn làm gì thì làm, không sơ. sự phê bình của dân chúng. Điều nầy đưa đến nhiều hậu quả tai hại rộng và lâu dài cho đất nước, khiến đất nước càng ngày càng đi xuống thê thảm như tình trạng Việt Nam ngày nay.
Chính vi thế mà nhà thơ Nguyễn Chí Thiện mới làm ra bài thơ ca tụng bác: