Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Sáu 2026
T2T3T4T5T6T7CN
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30          
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 8
 Lượt truy cập: 29341974

 
Góc thư giãn 15.06.2026 20:57
Những người CS ăn năn sám hối tội lỗi
01.05.2015 14:06

Ăn năn và Hối hận của một thành viên Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam:

Thổn thức cho Việt Nam – Đoàn Văn Toại

Đoàn Văn Toại là một trong một số người trong Ban Chấp Hành của Tổng Hội Sinh Viên Sài gòn vào những năm cuối thập niên 1960-1970. 

Mê muội tin vào những lời tuyên truyền của Cộng sản, ông Toại gia nhập làm cán bộ nằm vùng, hoạt động cho họ. Lợi dụng sinh hoạt dân chủ của chánh quyền VNCH, tuân theo lệnh của CS, ông hô hào, phát động những cuộc xuống đường, biểu tình chống đối chánh quyền đương thời. Đến khi chiếm xong Miền Nam, bộ mặt thật, bản chất thật của CSBV đã lộ thật rõ: tàn ác, dã man, gian trá, cướp bóc đã làm cho ông và những người đồng chí của ông vỡ mộng. Chính ông và những đồng chí của ông khám phá thêm bản chất vô lương cùng thành tích giết, và sẵn sàng giết với chủ trương “giết lầm hơn bỏ sót” của CS. May cho ông và một một số đồng chí của ông đã đạt được ước nguyện thoát thân.

http://www.caotraonhanban.org/./?option=com_content&view=article&id=519:thn-thc-cho-vit-nam-am-vn-toi&catid=19:din-an-t-do&Itemid=25

So với những người trong nhóm, sau khi đến bến bờ tự do, ông Toại còn chút lương tri của con người, đã can đảm lên tiếng thú nhận sự ngây thơ, mù quáng và bài học kinh nghiệm CS của mình. Tuy lời trần tình sám hối nầy được viết và đăng trên New York Time khá lâu, nhưng nhân đại Hội Việt Kiều được CS Hà Nội vừa tổ chức năm 2009, lời mật ngọt, ma mánh của chúng vẫn còn mê hoặc được một số người nên chúng tôi xin đăng lại bài học ê chề của một người trong cuộc. Bản chất thật của CS không bao giờ thay đổi, “con tắc kè” có thể thay đổi màu nhưng bản chất xù xì của nó vẫn còn nguyên vẹn. (CTNB)

Thổn thức cho Việt Nam

Khi cộng sản chiếm miền Bắc Việt Nam năm 1954, hàng triệu người đã lũ lượt di cư vào Nam.

Tôi đã tận tai nghe nhiều câu chuyện về sự đau khổ tột cùng của họ. Nhưng cũng như nhiều người miền Nam lúc ấy, tôi đã không tin vào những câu chuyện đó. Cả về sau này, tôi cũng đã không tin về những câu chuyện được kể trong tác phẩm Quần Đảo Ngục Tù (The Gulag Archipelago) của văn hào Solzhenitsyn. Tôi không tin vì cho rằng đó là những luận điệu tuyên truyền chống Cộng. Nhưng vào năm 1979, tôi đã cho xuất bản cuốn sách Việt Nam Ngục Tù của chính tôi. Liệu những người đã từng nếm trải những kinh hoàng dưới chế độ cộng sản có bao giờ thử thuyết phục những người không có cái kinh nghiệm này?

Kể từ năm 1945, năm tôi ra đời tại huyện Cái Vồn thuộc tỉnh Vĩnh Long, một tỉnh lỵ cách Sài Gòn 160 km về hướng Nam, cho đến khi ngày tôi rời Việt Nam vào tháng 5/1978, tôi chưa từng một ngày vui hưởng hoà bình. Căn nhà gia đình tôi đã bị đốt 3 lần trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong suốt cuộc đời niên thiếu, tôi đã phải theo cha mẹ di tản từ làng này sang làng khác để tránh tên bay đạn lạc. Cũng giống như những người Việt Nam yêu nước khác, cha mẹ tôi cũng tham gia kháng chiến chống Pháp. Khi tôi lớn lên, tôi lại tận mắt chứng kiến các nông dân đã bị các quan chức địa phương của chính quyền Sài Gòn áp bức ra sao, và họ đã phải chịu những cuộc oanh tạc tàn khốc của quân Pháp như thế nào. Tôi đã học trong lịch sử sự chiến đấu kiên cường của dân tộc chống lại ách đô hộ ngàn năm của giặc Tàu rồi đến các cuộc kháng chiến gian khổ chống ách thống trị trăm năm của giặc Tây. Với hành trang đó, tôi và các bạn đồng lứa đã lớn lên cũng với nỗi căm thù sự can thiệp của ngoại bang.

Khi các sinh viên Sài Gòn bầu tôi vào chức Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Sinh viên Sài Gòn vào năm 1969 và 1970, tôi đã tham gia vào các hoạt động đòi hoà bình khác nhau, đã lãnh đạo sinh viên biểu tình chống chế độ Thiệu và sự dính líu của người Mỹ. Tôi đã ấn hành nguyệt san Tự Quyết, và đã làm một cuộc du hành đến California để thuyết trình về các hoạt động phản chiến ở Đại học Berkeley và Stanford vào tháng 1/1971. Vì các hoạt động đó, tôi đã bị bắt và tống giam nhiều lần dưới chế độ Thiệu.

Vào thời điểm ấy, tôi tin rằng tôi đang thi hành sứ mệnh hoà bình và độc lập cho đất nước tôi. Tôi cũng tin tưởng vào đề cương của MTDTGPMN, một tổ chức đang lãnh đạo cuộc kháng chiến cách mạng ở miền Nam Việt Nam. Tôi căm ghét các nhà lãnh đạo Sài Gòn, các người như Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, Trung tướng Đặng Văn Quang ‒ những cựu chiến binh trong quân đội viễn chinh Pháp. Đó là những người được Pháp tuyển mộ vào năm 1940 để giúp chúng tiêu diệt các phần tử kháng chiến Việt Nam. Theo thời gian, họ đã vươn lên thành những nhà lãnh đạo, nhưng sự lãnh đạo của họ không thu được lòng dân. Và chính vì không có được ủng hộ của người dân, nên họ phải dựa vào các thế lực nước ngoài.

Với tư cách một lãnh tụ sinh viên, tôi cho rằng tôi phải hoàn thành khát vọng của người dân Việt Nam về dân chủ, tự do và hoà bình.

Một cách ngây thơ, tôi nghĩ rằng chế độ Hà Nội ít nhất cũng là người Việt Nam, trong khi người Mỹ chỉ là những kẻ xâm lược giống như người Pháp trước đó. Như nhiều người trong phong trào đối lập tại miền Nam lúc ấy, tôi tin rằng dù sao các đồng bào cộng sản miền Bắc cũng sẽ dễ có sự tương nhượng và dễ nói chuyện hơn là người Mỹ. Hơn thế nữa, tôi lại thấy choáng ngợp trước các thành tích hy sinh và tận tâm của các lãnh tụ cộng sản. Chẳng hạn, Tôn Đức Thắng, Phó Chủ tịch Bắc Việt, đã bị nhốt đến 17 năm trong nhà tù của Pháp. Tôi cũng bị hớp hồn trước bản đề cương chính trị được MTDTGPMN áp dụng, bao gồm chính sách hoà giải dân tộc, không hề có sự trả thù, và chính sách ngoại giao phi liên kết. Cuối cùng, tôi đã chịu ảnh hưởng của các phong trào tiến bộ khắp thế giới và các nhà đại trí thức phương Tây lúc ấy. Tôi đã có cảm tưởng rằng các lãnh đạo phong trào phản chiến ở Mỹ cuối thập niên 60 đầu 70 đã chia sẻ cùng niềm tin với tôi.

Niềm tin ấy càng được củng cố hơn sau khi Hiệp định Paris ký kết vào năm 1973 và sự sụp đổ của Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa năm sau đó. Khi cuộc giải phóng đã hoàn tất, tôi chính là người đã khuyên bảo bạn bè và thân nhân không nên di tản. “Tại sao các người lại bỏ đi?” tôi hỏi, “Tại sao các người lại sợ cộng sản?” Tôi chấp nhân một viễn cảnh khó khăn trong thời gian tái thiết quê hương nên đã quyết định ở lại và tiếp tục làm việc với tư cách một quản trị viên một chi nhánh của Ngân hàng Saì Gòn, nơi tôi đã làm việc hơn 4 năm, và là nơi tôi viết các báo cáo mật về tình hình kinh tế Nam Việt Nam cho MTDTGPMN (Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi đã không bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa động viên vì là con một trong gia đình. Tôi cũng không gia nhập Việt Cộng vì MTDTGPMN nghĩ rằng tôi sẽ phục vụ tốt hơn trong vai trò báo cáo tài chính từ ngân hàng).

Sau khi Sài Gòn thất thủ được nhiều ngày, MTDTGPMN thành lập chính quyền Cách mạng Lâm thời, mời tôi gia nhập một uỷ ban tài chính, một nhóm bao gồm các trí thức có nhiệm vụ cố vấn cho chính quyền về các vấn đề kinh tế. Tôi hăng hái tham gia, chấp nhận mức cắt giảm lương đến 90%. Nhiệm vụ đầu tiên của tôi là giúp thảo ra một kế hoạch nhằm tịch thu tất cả các tài sản tư nhân ở miền Nam Việt Nam. Tôi cảm thấy sốc, và đề nghị chỉ nên thi hành điều đó với tài sản những người từng cộng tác với chính quyền cũ và với những người đã làm giàu nhờ chiến tranh, và sẽ phân phối lại theo một cách thức nào đó cho các người nghèo và nạn nhân chiến tranh không phân biệt thuộc phe nào. Đề nghị của tôi bị bác bỏ, dĩ nhiên.

Tôi đã quá ngây thơ khi nghĩ rằng các quan chức địa phương đã sai lầm, rằng họ đã hiểu lầm ý định tốt của các lãnh đạo đảng cộng sản. Tôi đã tranh đấu với họ nhiều lần, vì hoàn toàn đặt niềm tin vào các tuyên bố của Hà Nội trước đây rằng “tình hình ở Nam Việt Nam rất đặc biệt và rất khác với tình hình miền Bắc Việt Nam”. Chỉ vài tháng trước khi Sài Gòn thất thủ, Lê Duẩn, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản, đã tuyên bố “miền Nam cần có chính sách riêng của nó”. Sau cùng, tôi không thể tuân theo lệnh sắp đặt các cuộc tịch thu tài sản tư hữu, một kế hoạch vẫn đang được xúc tiến. Một kế hoạch như vậy không hề đáp ứng nguyện vọng của người dân Nam Việt Nam, và nó đi ngược với lương tâm của tôi. Tôi quyết định từ chức. Nhưng không ai được phép từ chức trong chế độ cộng sản.

Một ngụ ý bất tuân lệnh sẽ không được người cộng sản tha thứ. Khi tôi đưa đơn từ chức, người lãnh đạo uỷ ban tài chính đã cảnh cáo rằng hành động của tôi “sẽ bị xem là sự tuyên truyền nhằm kích động quần chúng, và rằng chúng ta không bao giờ cho phép điều đó xảy ra”. Nhiều ngày sau đó, trong khi tôi đang tham dự một buổi hoà nhạc tại Nhà Hát Lớn (trước đây là trụ sở Quốc hội Việt Nam Cộng hòa, nơi mà tôi đã lãnh đạo các sinh viên chiếm giữ nhiều lần trước đây dưới chế độ Thiệu), tôi bị bắt. Không có sự truy tố cũng như không có lý do nào được đưa ra. Sau khi Sài Gòn thất thủ, rất nhiều nhà trí thức tiến bộ cũng như nhiều nhà lãnh đạo các phong trào phản chiến trước đây đều tin rằng chính quyền mới sẽ đem lại dân chủ và tự do thay cho sự thống trị của ngoại bang. Họ tin rằng chính quyền mới sẽ đeo đuổi các quyền lợi tốt nhất cho nhân dân. Sẽ giữ đúng lời hứa của chính họ về chính sách hoà giải dân tộc, không có sự trả thù. Phủi sạch những hứa hẹn, nhà cầmn quyền cộng sản đã bắt giam hàng trăm ngàn người ‒ không chỉ những người đã cộng tác với chế độ Thiệu mà cả những người khác, bao gồm các vị lãnh đạo tôn giáo và các cựu thành viên MTDTGPMN.

Việt Nam ngày nay trở thành một quốc gia không có luật pháp nào khác hơn là sự điều hành độc đoán của những kẻ đang nắm quyền lực. Không hề có cái gọi là dân quyền. Bất cứ ai cũng đều có thể bị bắt mà không cần truy tố cũng như không cần xét xử. Và khi đã ở trong tù, các tù nhân đều được giáo dục rằng chính các thái độ, hành vi và sự “cải tạo tốt” là yếu tổ chủ chốt đễ xét xem liệu họ có thể được trả tự do hay không- không cần biết họ đã phạm tội gì. Vì vậy, các tù nhân thường là phải tuân lệnh tuyệt đối các quản giáo để hy vọng được thả sớm. Trong thực tế, họ không bao giờ biết được khi nào họ sẽ được thả – hay có thể bản án của họ sẽ được kéo dài thêm. Ở đất nước Việt Nam ngày nay có bao nhiêu tù chính trị? Không ai có thể biết được con số chính xác. Bộ Ngoại giao Mỹ cho rằng có khoảng từ 150.000 đến 200.000 chính trị phạm, người Việt tỵ nạn thì ước đoán con số đó là 1 triệu.

Hoàng Hữu Quýnh, một trí thức tốt nghiệp Đại học Mạc Tư Khoa, hiệu trưởng một trường kỹ thuật tại Tp. HCM (trước đây là Sài Gòn), vừa mới bỏ trốn trong một chuyến đi tham quan các nước Châu Âu do nhà nước bảo trợ. Ông đã nói với báo chí Pháp, “Hiện nay ở Việt Nam có ít nhất 700.000 tù nhân”. Một nhân chứng khác, Nguyễn Công Hoan, một cựu thành viên trong Quốc hội thống nhất được bầu vào năm 1976, đã vượt biển thành công vào năm 1978, đã tuyên bố chính bản thân ông được biết về “300 trường hợp xử tử” chỉ nội trong tỉnh Phú Yên của ông.

Vào năm 1977, các quan chức Hà Nội khăng khăng rằng chỉ có 50.000 người bị bắt giữ vì có những hành vi gây nguy hại cho an ninh quốc gia. Nhưng trong khi đó, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tuyên bố trên tờ Paris Match số ra ngày 22/9/1978, “Trong vòng 3 năm qua, tôi đã trả tự do cho hơn 1 triệu tù nhân từ các trại cải tạo.” Người ta có thể tự hỏi làm thế nào có thể thả 1 triệu tù nhân trong khi chỉ bắt giữ có 50.000!

Tôi bị tống vào một xà lim 1m x 2m, tay trái bị xiềng vào chân phải và tay phải xiềng vào chân trái. Thứ ăn của tôi là cơm trộn với cát. Khi tôi khiếu nại về cát trong cơm, các quản giáo đã giải thích rằng cát được cho vào cơm để nhắc nhở các tù nhân về các tội ác mà họ đã phạm. Tôi đã khám phá ra khi đổ nước vào tô cơm có thể tách cát ra khỏi cơm và lắng nó xuống đáy. Nhưng phần nước chỉ có 1lít cho một ngày dùng cho uống và tắm rửa, do vậy tôi phải dùng nó hết sức tiết kiệm.

Sau 2 tháng biệt giam, tôi được chuyển ra phòng giam lớn, một phòng giam 5m x 9m, tuỳ theo thời điểm được nhồi nhét từ 40 đến 100 tù nhân. Nơi đây chúng tôi phải thay phiên để được nằm xuống ngủ, và phần lớn các tù nhân trẻ và còn mạnh khoẻ phải chịu ngủ ngồi. Trong cái nóng hầm hập, chúng tôi cũng phải thay phiên để được hứng vài cơn gió mát của khí trời từ một lỗ thông gió chút xíu và cũng là cửa sổ duy nhất của phòng giam. Mỗi ngày tôi đều chứng kiến các bạn tù chết dưới chân tôi.

Vào tháng 3, 1976, khi một nhóm phóng viên phương Tây đến viếng thăm nhà tù của tôi, các quản giáo đà lùa các tù nhân đi và thay vào đó là các bộ đội miền Bắc. Trước cửa nhà tù, không còn thấy các hàng rào kẻm gai, không có tháp canh, chỉ có vài công an và một tấm bảng lớn chăng ngang cửa chính đề câu khẩu hiệu nổi tiếng của Hồ Chí Minh, “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Chỉ có những người đang bị giam và các quản giáo là biết cái gì thực sự ẩn giấu đằng sau những dấu hiệu đó. Và mọi tù nhân đều biết rằng nếu họ bị tình nghi đào thoát thì người bạn đồng tù và người thân của họ tại nhà sẽ bị trừng phạt thay vì chính họ.

Chúng ta sẽ không bao giờ biết được con số thực sự của những tù nhân bỏ mạng, nhưng chúng ta đã biết cái chết của nhiều tù nhân nổi tiếng, những người trong quá khứ chưa bao giờ cộng tác với Chính quyền Thiệu hay với người Mỹ: chẳng hạn, Thích Thiện Minh, nhà chiến lược cho các phong trào tranh đấu hoà bình của Phật tử tại Sài Gòn, một nhà đấu tranh phản chiến đã từng bị kết án 10 năm dưới chế độ Thiệu, sau cùng bị buộc phải thả ông vì sự phản đối mạnh mẽ của nhân dân Việt Nam và các nhà hoạt động phản chiến khắp thế giới. Đại Đức Thiện Minh đã chết trong tù 6 tháng sau khi ông bị bắt vào năm 1979. Một cái chết âm thầm khác là của Luật sư Trần Văn Tuyên, một lãnh tụ khối đối lập tại Quốc hội dưới thời Tổng thống Thiệu. Nhà hoạt động nổi tiếng này đã chết dưới bàn tay cộng sản vào năm 1976, mặc dù vào cuối tháng 4/1977, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tuyên bố với các phóng viên Pháp rằng ông vẫn còn sống mạnh khoẻ trong trại cải tạo. Một trong những tổn thất to lớn nhất là cái chết của triết gia nổi tiếng Việt Nam Hồ Hữu Tường. Tường, bạn đồng môn với Jean Paul Sartre thập niên 30 tại Paris, có lẽ là nhà trí thức hàng đầu tại Nam Việt Nam. Ông chết tại nhà tù Hàm Tân vào ngày 26/06/1980. Đây là những người bị bắt, cùng với rất nhiều những người khác trong nhóm những người Nam Việt Nam ưu tú và được trọng nể nhất, với mục đích ngăn ngừa bất cứ một sự chống đối nào với chế độ cộng sản.

Một số người Mỹ ủng hộ Hà Nội đã làm lơ hoặc biện minh cho những cái chết này, như họ đã từng làm với vô số các thảm kịch đã xảy ra từ khi Việt Nam Cộng hòa sụp đổ năm 1975. Rất có thể họ sẽ vẫn tiếp tục giữ im lặng nhằm lãng tránh một sự thật về Việt Nam nếu tiết lộ sẽ mang lại một nỗi vỡ mộng sâu xa đối với họ. Cay đắng thay nếu tự do và dân chủ vẫn là mục tiêu xứng đáng để chiến đấu tại Philippines, tại Chile, tại Nam Hàn hay tại Nam Phi, thì nó lại không xứng để bảo vệ tại các nước cộng sản như Việt Nam.

Mọi người đều nhớ đến vô số các cuộc biểu tình chống đối Mỹ can thiệp vào Việt Nam và chống lại các tội ác chiến tranh của chế độ Thiệu. Nhưng một số trong các người đã từng một thời nhiệt thành với các nguyên tắc dân chủ và nhân quyền thì nay lại tỏ ra hết sức lãnh đạm khi cũng chính các nguyên tắc ấy đang bị chà đạp tại nước Việt Nam cộng sản. Chẳng hạn, một nhà hoạt động phản chiến, William Kunstler, vào tháng 5, 1979 đã từ chối ký vào một bức thư ngỏ gởi nhà nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, trong đó có chữ ký của nhiều nhà hoạt động phản chiến khác, kể cả Joan Baez, phản đối sự vi phạm nhân quyền của chế độ Hà Nội. Kunstler nói “Tôi không tin vào sự chỉ trích công khai một chính quyền xã hội chủ nghĩa, dù đó là sự vi phạm nhân quyền”, và “toàn bộ chiến dịch này của Baez có thể là một âm mưu của CIA”. Câu nói này đã làm tôi nhớ lại lập luận mà chế độ Thiệu thường đưa ra làm lý do đàn áp các người đối lập, “Tất cả các hoạt động phản chiến và đối lập đều do cộng sản giựt dây”.

Còn có rất nhiều những huyền thoại về chế độ hiện hành tại Việt Nam mà người dân rất nên được soi sáng. Nhiều người cho rằng Hồ Chí Minh đầu tiên là một người quốc gia và rằng đảng cộng sản Việt Nam trước đây cũng như hiện nay đều độc lập với Liên Sô. Tôi cũng là người tin như vậy trước khi cộng sản chiếm miền Nam.Nhưng rồi chân dung các nhà lãnh đạo Soviet nay được treo đầy các chung cư, trường học và các công sở trên khắp nước “Việt Nam độc lập”. Ngược lại, người ta chưa từng thấy chân dung bất cứ một nhà lãnh đạo Mỹ nào được treo ngay cả trong chế độ được gọi là bù nhìn của Tổng thống Thiệu. Mức độ lệ thuộc của chính quyền hiện hành vào các ông chủ Soviet được thể hiện rõ ràng nhất do thi sĩ nổi tiếng của cộng sản Việt Nam, Tố Hữu, thành viên Bộ Chính Trị và là Trưởng Ban Văn hoá Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng ta có cơ hội được nghe người thi sĩ cao cấp này than khóc nhân cái chết của Stalin:

‘Xít-ta-lin! Xít-ta-lin,
Yêu biết mấy, nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng, con gọi Xít-ta-lin
Ông Xít-ta-lin ôi. Ông Xít-ta-lin ôi,
Hỡi ôi ông mất, đất trời có không?
Thương cha, thương mẹ, thương chồng
Thương mình thương một, thương ông thương mười.’

(Đời đời nhớ ông – Tố Hữu).

Thật là khó mà tưởng tượng những vần thơ như vậy lại được viết tại Việt Nam, một đất nước mang nặng truyền thống gia đình và bổn phận với con cái. Và bài thơ ấy vẫn đang chiếm một vị trí trang trọng trong ấn bản về thơ ca Việt Nam hiện đại được xuất bản tại Hà Nội.

Hơn thế nữa, Lê Duẩn , Tổng Bí thư đảng cộng sản Việt Nam, trong một bài diễn văn chính trị đọc trước Hội nghị khoáng đại của Quốc hội thống nhất năm 1976, “Cuộc cách mạng Việt Nam là để thực thi bổn phận và các cam kết quốc tế”, và vì vậy, trong lời lẽ của bản luận cương của đảng năm 1971 đã viết, “dưới sự lãnh đạo của Liên bang Soviet”. Sự vinh quang của một xã hội Soviet là mục tiêu chính yếu trong sách lược của đảng cộng sản Việt Nam.

Sau khi Sài Gòn thất thủ, nhà nước đã ngay tức khắc đóng cửa toàn bộ các nhà sách và rạp hát. Tất cả các sách vở được xuất bản trong chế độ cũ đều bị tịch thu hay đốt bỏ. Các tác phẩm văn hoá thuần tuý cũng không ngoại lệ, kể cả các bản dịch tác phẩm của Jean Paul Sartre, Albert Camus và Dale Carnegie. Ngay cả tác phẩm Cuốn Theo Chiều Gió của Margaret Mitchell cũng nằm trong danh sách văn chương đồi truỵ. Nhà nước thay thế những tác phẩm ấy bằng những tác phẩm văn chương nhằm nhồi sọ trẻ em và người lớn với ý tưởng chủ đạo, “Liên bang Soviet là thiên đường của xã hội chủ nghĩa”.

Một lập luận khác của các nhà biện luận phương Tây có liên quan đến vấn đề tự do tôn giáo tại Việt Nam. Một điều khoản của bản hiến pháp mới, được đưa ra vào năm nay, có nêu rằng “nhà nước tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và quyền tự do không tín ngưỡng”. Về điều khoản này, Lê Duẩn đã nhiều lần tuyên bố, “Chế độ của chúng ta triệu lần dân chủ hơn bất cứ chế độ nào trên thế giới”.

Ngược lại, trên thực tế, đã trình bày rõ sự thật qua một sự kiện mang tính báng bổ một ngôi chùa Phật giáo, trong vụ đó một người đàn bà khoả thân theo lệnh nhà nước đã tiến vào ngôi chùa trong giờ hành lễ. Khi Hoà thượng Thích Mẫn Giác, một nhà lãnh đạo Phật giáo nổi tiếng, lên tiếng phản đối, nhà nước đã nhân vụ này lên án Phật giáo là kẻ thù của dân chủ, chính xác là vi phạm quyền tự do không tín ngưỡng. Hoà Thượng Thích Mẫn Giác, người đóng vai trò là cầu nối giữa Phật giáo và nhà nước cộng sản, đã phải vượt thoát Việt Nam bằng thuyền vào năm 1977 và nay đang định cư tại Los Angeles. Tất cả những ai từng ủng hộ MTDTGPMN trong cuộc chiến đấu chống chế độ Sài Gòn đều có thể cảm nhận sự bị phản bội và nỗi tuyệt vọng của họ. Khi Harrison Salisbury của tờ New York Times viếng thăm Hà Nội vào tháng 12, 1966, các nhà lãnh đạo Hà Nội đã nói với ông, “Sách lược tranh đấu của miền Nam được chỉ đạo từ miền Nam chứ không phải từ miền Bắc”. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói với Salisbury, “Không có ai ở miền Bắc có ý tưởng ngu ngốc, tội ác” rằng miền Bắc muốn thôn tính miền Nam.

Vậy mà trong diễn văn đọc nhân lễ mừng chiến thắng vào ngày 19/05/1975, Lê Duẩn đã nói, “Đảng của chúng ta là một và là người lãnh đạo duy nhất đã tổ chức, kiểm soát và điều hành toàn bộ cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam ngay từ ngày đầu của cuộc cách mạng”.

Trong bản báo cáo chính trị đọc trước Quốc hội hợp nhất tại Hà Nội vào ngày 26/05/1976, Lê Duẩn nói, “Nhiệm vụ cách mạng chiến lược của đất nước ta trong thời kỳ mới là thống nhất tổ quốc và đưa toàn bộ đất nước tiến nhanh, tiến mạnh và tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, lên chủ nghĩa cộng sản”.

Vào năm 1976, Chính phủ Cách mạng Lâm thời do MTTGPMN thành lập đã bị xoá sổ, và toàn thể 2 miền Nam Bắc Việt Nam đều nằm dưới sự cai trị của những người cộng sản. Ngày nay,trong số 17 thành viên Bộ Chính trị và 134 Uỷ viên Trung ương thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam, không hề có người nào thuộc MTDTGPMN trước kia. Ngay cả Nguyễn Hữu Thọ, cựu Chủ tịch MT, chỉ nắm chức vụ Chủ tịch nhà nước, một chức vụ mang tính nghi lễ với nhiệm vụ đón tiếp khách nước ngoài và tham dự các buổi lễ lạc. Nhưng ngay cả vị trí đó rồi sẽ bị xoá bỏ khi bàn hiến pháp mới ra đời.

Hãy nghe lời của ông Trương Như Tảng, một những người sáng lập MT, cựu Bộ trưởng Tư pháp của Chính phủ Cách mạng Lâm thời, vừa mới đây cũng là một thuyền nhân vượt biển. Ông Tảng trốn thoát khỏi Việt Nam vào tháng 12, 1979 và hiện nay sống tại Paris. Ông đã nói với các phóng viên về kinh nghiệm của ông trong cuộc họp báo gần đây vào tháng 5, 1980. 12 năm trước, ông nói, khi ông bị bỏ tù dưới chế độ Thiệu vì các hoạt động thân cộng của mình, cha của ông đã đến thăm ông. Ông cụ đã hỏi ông, “Tại sao con lại dứt bỏ tất cả ‒ một công việc tốt, một gia đình sung túc ‒ để gia nhập cộng sản? Con không biết rằng cộng sản rồi sẽ phản bội con và sẽ thủ tiêu con, và khi con thật sự hiểu ra thì đã quá muộn?” Tảng, một nhà trí thức, đã trả lời cha “Tốt hơn là cha nên im lặng và chấp nhận sự hy sinh một trong các đứa con của cha cho nền dân chủ và độc lập của đất nước”.

Sau cuộc Tổng Công kích Tết Mậu thân 1968, Tảng được trao đổi với 3 Đại tá tù binh chiến tranh Mỹ, và sau đó ông biến mất vào rừng với MT. Ông đã viếng thăm nhiều nước cộng sản và các nước thế giới thứ 3 để kêu gọi sự ủng hộ dành cho MT trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Ông đã nói trong cuộc họp báo. “Tôi đã biết MT là một tổ chức do cộng sản chi phối và tôi đã quá ngây thơ khi cho rằng Hồ Chí Minh và Đảng của ông ta sẽ dặt quyền lợi quốc gia lên trên ý thức hệ và đặt quyền lợi nhân dân Việt Nam lên trên quyền lợi của đảng. Nhưng nhân dân Việt Nam và tôi đã sai lầm”.

Trương Như Tảng đã kể về kinh nghiệm của ông về phương sách các tầng lớp lãnh đạo cộng sản cai trị, “Người cộng sản là chuyên gia về nghệ thuật chiêu dụ và có thể làm bất cứ cách nào để dụ bạn về phe họ một khi họ chưa nắm được chính quyền. Nhưng một khi đã nắm được quyền lực lập tức họ trở thành sắt máu và tàn nhẫn”. Ông tóm tắt tình hình tại Việt Nam hiện nay, “Gia đình ly tán, xã hội phân ly, ngay cả đảng cũng chia rẽ”.

Bây giờ nhìn lại cuộc chiến Việt Nam, tôi chỉ cảm thấy buồn rầu cho sự ngây thơ của mình khi tin rằng cộng sản là những người cách mạng và xứng đáng được ủng hộ. Trên thực tế, họ đã phản bội nhân dân Việt Nam và làm thất vọng các phong trào tiến bộ trên toàn thế giới.

Tôi nhận lãnh trách nhiệm về những thảm kịch xảy ra cho đồng bào của tôi. Và nay tôi chỉ còn cách đóng vai nhân chứng cho sự thật này hầu các người đã từng ủng hộ Việt Cộng trước kia có thể cùng chia sẻ trách nhiệm với tôi.

Khi tôi còn trong tù, Mai Chí Thọ, một Uỷ viên Trung ương đảng, đã nói chuyện trước một nhóm tù nhân chính trị chọn lọc. Ông ta đã nói với chúng tôi, “Hồ Chí Minh có thể là một quỷ dữ, Nixon có thể là một vĩ nhân. Người Mỹ có thể có chính nghĩa, chúng ta có thể không có chính nghĩa. Nhưng chúng ta đã chiến thắng và người Mỹ đã bị đánh bại bởi vì chúng ta đã thuyết phục được người dân rằng Hồ Chí Minh là một vĩ nhân, Nixon là một tên sát nhân và người Mỹ là những kẻ xâm lược”. Ông ta đã kết luận, “Yếu tổ chủ chốt là làm thế nào kiểm soát người dân và ý tưởng của họ. Chỉ có chủ nghĩa Mác Lê mới có thể làm được như vậy. Không ai trong các anh đã từng biết đến một sự kháng cự nào đối với chế độ cộng sản, bởi vậy không nên nghĩ đến điều đó nữa. Hãy quên chuyện đó đi? Giữa các anh ‒ những nhà trí thức ưu tú ‒ và tôi, tôi đã nói với các anh sự thật”.

Và quả là ông ta đã nói sự thật. Từ năm 1978, khi cộng sản Việt Nam chiếm đóng Lào, xâm lấn Kampuchea và tấn công Thailand, trong khi đó Liên Sô xâm lăng Afghanistan. Trong mỗi một sự kiện đó, người cộng sản vẫn tự phác hoạ chân dung của họ một cách ly kỳ, là những người giải phóng, người cứu rỗi, người bảo vệ chống lại các lực lượng xâm lăng nước ngoài. Và trong mỗi sự kiện, dư luận thế giới vẫn tương đối êm dịu.

Nhưng ở Việt Nam, người dân vẫn thường nhắc nhau, “Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn những gì cộng sản làm”. Một trong những người Nam Việt Nam theo cộng sản, ông Nguyễn Văn Tăng, bị tù 15 năm dưới thời Pháp, 8 năm dưới thời Diệm, 6 năm dưới thời Thiệu, và hiện nay vẫn còn đang nằm tù, đã nói với tôi, “Muốn hiểu người cộng sản, trước nhất phải sống với cộng sản”. Vào một buổi chiểu mưa rơi tại nhà tù Lê Văn Duyệt, Sài Gòn, ông đã nói với tôi, ‘Ước mơ của tôi bây giờ không phải là được thả ra, không phải là được gặp lại gia đình. Tôi chỉ mơ được trở lại nhà tù của Pháp 30 năm trước”. Đó là giấc mơ của một người đàn ông 60 tuổi đã gởi trọn tuổi thanh xuân vào việc ra vào nhà tù để chiến đấu cho tự do và độc lập của đất nước. Giờ này, có lẽ ông đã chết trong tù hay có thể đã bị nhà nước của nhân dân hành quyết.

Ước mơ của nhân dân Việt Nam là một cuộc cách mạng thực sự, họ không muốn chủ nghĩa cộng sản. Mức độ đo lường sự chán ghét cộng sản là việc hàng ngàn người đã từ bỏ sự ràng buộc lịch sử của họ với đất mẹ. Dưới thời thực dân Pháp, trải qua bao năm dài chiến tranh, ngay cả trong thảm cảnh nạn đói năm 1945 có đến 2 triệu người chết đói, người Việt Nam vẫn không đành đoạn rời bỏ quê hương, mảnh đất có mồ mả ông cha. Các cuộc đổ xô ra đi tỵ nạn là bằng chứng trực tiếp của sự kinh hoàng với chế độ hiện nay. Hãy nghe lời một người tỵ nạn khác, Nguyễn Công Hoan, cựu thành viên MT và là thành viên Quốc hội thống nhất được bầu năm 1976, “Chế độ hiện nay là chế độ phi nhân và áp bức nhất mà nước Việt Nam từng được biết đến”. Ông Hoan trốn thoát bằng thuyền vào năm 1977, sau khi từ bỏ chức vụ của ông trong Quốc hội cộng sản. “Quốc hội”, ông tuyên bố, “là một bù nhìn, các thành viên ở đó chỉ biết nói dạ, không bao giờ biết nói không”.

Giữa các thuyền nhân sống sót, bao gồm cả những người bị hải tặc hảm hiếp và những người chịu nhiều cực nhục trong các trại tỵ nạn, không hề có người nào hối tiếc đã tìm cách trốn khỏi chế độ hiện nay. Tôi tuyệt đối tin rằng sự thật về Việt Nam sẽ dần dần hiện rõ. Nó có sẵn cho những ai muốn tìm hiểu về nó. Như Solzhenitsyn đã từng nói, “Sự thật cũng nặng nề như là thế giới vậy”. Và Việt Nam là một bài học về sự thật.
Đoàn Văn Toại  Felix lược dịch




Đã Sáng Mắt Chưa?

1. Họ là những bà mẹ quê chất phác.

Nghe lời ngon ngọt của CS, ấp ủ, che đỡ du kích trong nhà, những tưởng khi VC chiếm miền Nam thì họ được ưu đãi lắm! Ai ngờ! họ chỉ được cấp mấy giấy ban khen là mẹ chiến sĩ, mẹ liệt sĩ, huy chương bằng đồng để treo trong nhà cho nó oai, chứ đem ra chợ bán không ai mua. Hổm rồi, họ bị xử ức: đất đai của tổ tiên họ bị cán bộ công an lấy đem bán cho ngoại quốc làm sân golf, họ mang cờ đỏ sao vàng , biểu ngữ, huy chương, bằng khen đi biểu tình khiếu kiện.              
Kết quả? Họ bị hốt và vất lên xe cây như con heo, chung với cờ quạt, huy chương, biểu ngữ. Giờ họ đã sáng mắt nhưng đã muộn.      
Có bà dân oan tức quá còn tụt quần ra trước văn phòng xã ấp cho công an xem nữa.

2. Họ là giới trí thức sống tại miền Nam Việt-Nam.

Họ nghe lời dụ dỗ của bọn CS, họ đọc toàn sách Karl Marx, Engels, Jean Paul Sartre họ mơ tưởng thấy tương lai sán lạng, bầu trời nở hoa, một thế giới đại đồng, không giầu không nghèo, ai cũng như ai, gọi nhau tất cả bằng “đồng chí”.              
Vi thế là họ xuống đường biểu tình, phá rối trị an của VNCH, làm mồi cho tụi VC xâm nhập thành thị phá hoại. Sau ngày 30-4-75, họ ra ứng cử vào QH bù nhìn. Kết quả rớt đài. Họ thấy tất cả mọi sự đều tệ hại hơn ngày xưa nhiều, họ la ó, phản đối. Kết quả họ bị quản chế, họ bị công an thuê xã hội đen đánh đập, gây ra tai nạn. Thế là họ mở mắt trong nhà thương. Rồi họ sáng mắt không kịp nữa khi đã vào nhà xác.

3. Họ là những đại diện được dân cử miền Nam.

Trước đây họ bị dụ khị vơi củ cà rốt đỏ tươi là sẽ ở lại làm việc cho thành phần thứ ba, với hoang tưởng là CS Miền Bắc giải thể VNCH và trao cho nhóm thành phần thứ ba thành lập chính phủ miền Nam, chia ghế chung với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Họ ra sức sử dụng cái tự do dân chủ miền Nam đánh phá VNCH đủ mọi mặt. Khi VNCH bị bạn đồng minh bỏ rơi thì ai ngờ họ bị cho ra rià, chỉ còn ngồi chia với nhau cái “ghế đá công viên”.
 4. Họ là thành phần du kích miền Nam, tập kết ra Bắc.

Họ đã sống dở chết dở trên dẫy Trường Sơn, trên đường mòn HCM. Họ tin là mai này miền Bắc đánh thắng miền Nam thì họ trở về vinh quang, CS Miền Bắc sẽ để cho họ thống lãnh miền Nam, ít nhất cũng làm quan to. Hỡi ôi! Họ được gì? Tất cả những chức vụ ngon lành đều do cán ngố miến Bắc nắm hết. Họ bị bỏ rơi, uất ức quá họ xin phục viên. Bây giờ họ chỉ còn biết mở mắt và chửi thề từ sáng đến tối mà thôi.
 

5. Họ là thành phần giầu sang phú quý miền Nam.

Nghe lời hứa ngọt như mía lùi, vào bưng thành lập cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Họ được rủ sang Paris ngồi vào bàn tròn bàn vuông, dự hội nghị thanh toán miền Nam do Kissinger và Lê Đức Thọ bầy mưu đạo diễn năm 1973. Sau 30-4-75 họ được gì? Ôi chao, Cái MTGPMN sống chưa bao lâu đã bị CS Miền Bắc bóp cổ chết ngắc ngày 2-7-1976.     Bấy giờ họ mới sáng mắt ra thì đã trễ, chỉ còn biết than thân trách phận là mình quá ngu.
 
Tại Hải Ngoại:

Họ là những Việt Kiều đã liều chết vượt biên.

Từ ngày Mỹ nối lại bang giao với Việt-Nam và bỏ cấm vận Việt-Nam, họ đã nghe lời dụ dỗ đường mật của CSVG, về lại Việt-Nam làm ăn:
 
1. Một ông vua chả giò , đem về hàng triệu đôla đầu tư, rồi bị kết án về tội hối lộ (Khổ quá VK nào muốn làm ăn tại VN cho an toàn mà không phải hối lộ cơ chứ, kể cả người dân trong nước cũng phải hối lộ chứ), chỉ vì cán bộ gộc tranh nhau ăn. Kết quả ông vua chả giò bị 11 tháng tù, may mắn quen lớn, quen đến tận ông “Tưởng Thú Khải” nên mới “tái vượt biên bằng đường hàng không” ra khỏi nước. Ông mướn luật sư đoàn ngoại quốc kiện VNCS lấy lại tiền. Ông hú vía và sáng mắt và sẽ chẳng bao giờ về Việt-Nam nữa.
 
2. Một ông bác sĩ tim , bỏ ra cả bạc triệu mua máy móc rất “hiện đại” về Sàigon mở phòng mạch mổ tim mong làm ăn, nhưng rồi bị VC đội cho cái mũ “gián điệp CIA” không đưa ra toà nhưng chỉ xin ông để lại phòng mạch và tất cả dụng cụ, ra khỏi VN trong vòng 6 tiếng đồng hồ. Thế là mất cả chì lẫn chài. Về lại Hoa Kỳ ông tức lắm lập đảng chống, ông định làm cả cái kiềng 3 chân mời ông VC ngồi một chân để hoà hợp hòa giải.
 
3. Một ông giáo sĩ chuyên về truyền thông , đi về VN hơn 10 lần rồi như đi chợ và có cả mấy căn hộ cho thuê. Một ngày đẹp trời xin Visa về VN nữa để thâu tiền, nhưng đến phi trường Tân Sơn Nhất thì hải quan TSN hổng cho ổng vào vì lý do gì đó, đúng ra chỉ vì chúng muốn xiết mấy căn hộ của ông thôi. VK hồi đó chưa được phép mua nhà ở VN, mà tại sao ông lại có mấy căn hộ cho thuê “thế nà nàm sao?”, chắc chúng “điều cha” là ông nhờ người khác đứng tên. Ông tẽn tò trở về Mỹ, nuốt hận, nhưng vẫn cái trò nửa nạc nửa mỡ, vẫn nâng đỡ cho đám quốc doanh trong nước, đăng cả bài chống cờ vàng 3 sọc đỏ của n mới đây.
 
4. Trần Trường  thu băng lậu , khoái “bác hồ” hết cỡ thợ mộc, nên treo cờ máu và ảnh tên hồ già trong tiệm, bị người Việt hải ngoại giàn chào cả 2 tháng. Ở VN hồi đó ông được CSVG nâng cấp lên thành “anh hùng”. Rồi ông tưởng bở bán nhà bán cửa, thu xếp tiền bạc gia đình vợ con về VN làm ăn. Ông bỏ ra mấy chục ngàn đô (gần 1 tỷ bạc hồ) mua ao thả cá, nuôi tôm kiếm sống. Thu hoạch đang ngon lành, ai ngờ ông bà “anh hùng” bị gọi lên làm việc về tội “quên đóng thuế” cho nhà nước. Bà vợ ông ức quá “anh hùng” mà chả được cư xử như anh hùng tí nào cả, lại còn bắt đóng thuế, nên tự tử may mà không chết.  Mất cả chì lẫn chài, gia đình lại cuốn gói về lại đế quốc Mỹ chả biết ẩn dật tại Tiểu Bang nào.  Bà con ai biết mách giùm nhé.
 
5. Một ông giáo sư dậy điện toán , mua lại một số máy computer rẻ tiền đem về Sàigòn mở trường. Ông đoán đúng mạch dân VN. Thời kỳ tin học, ai mà chẳng muốn học “vi tính – com piu tơ”, cơ sở phất lên như diều gặp gió. Ông làm thêm chi nhánh ở Cần Thơ, ngon trớn ông tiến nhanh tiến mạnh ra Đà Nẵng. Nhưng ông quên một điều là VN có “rừng nào cọp nấy”. Cọp miền Nam khác cọp miền Trung, miền Bắc. Ông quên không xin phép đúng nơi đúng chốn hay vì thủ tục “đầu tiên” (tiền đâu?) hơi yếu, nên ông bị mời lên Công An làm việc vì có thơ tố cáo ông làm gián điệp cho đảng phái hải ngoại chống phá nhà nước. Họ mời ông và gia đình ra khỏi nước trong vòng 24 tiếng, để lại 2, 3 trường học cho nhà nước quản lý. Ông biết bị ăn cướp nhưng chỉ nhỏ lệ mà ra đi, về hải ngoại ông vẫn im thin thít sợ nói ra bị đồng bào chửi.

6. Chàng là một Việt Kiều bình thường , nhưng có tật “nổ” khi về VN. Chàng đã về nước cả chục lần đâu có làm sao, về lại Hoa Kỳ lần nào cũng khen lấy khen để là “Sàigòn bây giờ đổi mới lắm, làng nướng, quán ăn, bia ôm, càfê cũng ôm luôn, hớt tóc muốn ôm cũng được” . Vì vậy người Việt hải ngại đặt tên mới cho hòn ngọc viễn đông ngày trước, bây giờ là “thành phố ôm”.
Chàng chỉ là một chuyên viên làm Nail, mùa đông ế khách nên về VN du hí. Nhưng VK về nước mà lại khoe là làm nail thì hơi bị quê, nên bèn nổ lớn và tự giới thiệu là kỹ sư “hoá học”. Ngày ngày chàng đụng tới hóa chất (acetone .v.v) hơi nhiều, phải đeo khẩu trang như các nhà bác học trong phòng thí nghiệm thật. Lần này về VN thì sáng ngày hôm sau, có một Công an đến vấn an và gãi đầu gãi tai xin ông Kỹ sư giúp đỡ chút xíu vì nhà đang gặp khó khăn. Chàng kỹ sư mở bóp lấy ra tờ 20 đôla trao cho viên công an. Viên công an tỏ ý hơi thất vọng rồi ra về.
Sau chuyến đi chơi Đalạt 3 ngày về thì chàng kỹ sư nhận được một công văn của Công An số 4 Phan đăng Lưu yêu cầu lên làm việc để làm sáng tỏ một vài vấn đề. Ông “kỹ sư” hoang mang nhưng cũng đến trình diện. Viên Đại Uý Công An mời ngồi và nói là ông ta mới nhận được một lá thư từ trong phương xóm nơi chàng tạm cư ngụ, tố cáo ông VK là một nhân viên của một đảng phản động tại hải ngoại lần này có nhiệm vụ về điều nghiên để phá hoại. Anh kỹ sư VK tái mét mặt, hết hồn bèn khai thật là ở bên Mỹ chỉ làm nail chứ đâu có phải kỹ sư gì đâu, về nước để du lịch chứ không có tham gia một đảng phái chính trị nào cả.
Viên Đại Uý cười khẩy và nói là ty công an thành phố phải điều tra ra sự thật vì vậy theo luật thì phải giữ anh kỹ sư ở lại bóp vài ba ngày để tiến hành cuộc thẩm vấn. Sau cùng ông Đại úy nhắc khéo là đã liên lạc với hải quan TSN rồi và được biết là anh kỹ sư có khai đem về 5 ngàn đôla kỳ này. Chàng “kỹ sư” được dẫn vào nhà giam ngủ 1 đêm.
Sáng hôm sau tại địa chỉ mà chàng tạm trú, một người ăn mặc complet bảnh bao, tay sách cạc táp đen, đến gõ cửa và tự nhận là luật sư. Ông luật sư vào đề ngay là ông ta “nghe nói” có một VK bị bắt vào ty Công An PĐL. Nếu muốn nhờ ông ta biện hộ hay giải quyết thì đây là giá cả:
-  Muốn khỏi phải ra toà và được thả ngay thì giá là 3 ngàn đô, vì ông ta phải chi tiền chạy chọt.
-  Còn muốn ra toà thì ông ta nhận biện hộ với giá $1,500 USD, ông luật sư thòng một câu là không biết ngày nào ra toà, có thể từ 3, 4 tháng đến 1 năm tuỳ theo. Bị cáo không được rời khỏi VN. Ông ta nói xong để lại danh thiếp với số điện thoại.
Ngày hôm sau ông bạn chạy đến ty CA thành phố xin thăm gặp ông “kỹ sư” nạn nhân, và trình bầy 2 giải pháp của ông Luật sư. Anh “kỹ sư” hốt hoảng nói anh bạn gọi điện thoại và điều đình với ông luật sư chấp thuận giải pháp 1 là trả 3 ngàn đô “cúng cô hồn” để được trả tự do ngay, chứ theo giải pháp thứ 2 rẻ hơn nhưng làm sao mà ở VN lâu như vậy được, còn phải về Mỹ dũa móng chứ .
Chiều hôm sau, chàng “kỹ sư” được trả về nhà, túi bị nhẹ đi mất 24 triệu bạc hồ, một số tiền khá lớn. Hai ngày sau chàng “kỹ sư”, ra hãng máy bay xin đổi vé về lại Mỹ càng sớm càng tốt và hứa là sẽ không bao giờ về thăm chùm khế ngọt nữa.
 
Thanh Vân 
Đảng viên CS sáng mắt
 
Châu Hiển Lý ,  bộ đội tập kết 1954
Huyền thoại giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp do cộng sản Việt Nam dày công dàn dựng đã tan thành mây khói khi giai cấp vô sản âm thầm lột xác trở thành các nhà Tư bản đỏ đầy quyền lực và đô la .
XHCN sẽ được đánh giá như một thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử VN.  Con, cháu, chút, chít chúng ta nhắc lại nó như một thời kỳ đồ đểu! vết nhơ muôn đời của nhân loại.
Một thời kỳ mà tâm trạng của người dân được thi sĩ cách mạng Bùi Minh Quốc tóm tắt qua 2 vần thơ:
"Quay mặt phía nào cũng phải ghìm cơn mửa!
Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi!"
Nguyễn Hộ  người có 55 tuổi đảng, Chủ Tịch Đoàn Chủ Tịch Mặt Trận Tổ Quốc Trung Ương, thủ lãnh của Nhóm Truyền Thống Kháng Chiến, viết trong tập hồi ký Quan Điểm Và Cuộc Sống: "Ngày 21/3/1990 tôi rời khỏi Saigòn cũng là ngày tôi rời khỏi Đảng CSVN.  Tôi làm cách mạng đã 56 năm, gia đình tôi có 2 liệt sĩ, Nguyễn Văn Đào, anh ruột, Đại Tá QĐNDVN, hy sinh ngày 9/1/1966 tại Củ Chi, và vợ tôi Trần Thị Thiệt bị bắt và chết tại Tổng Nha Cảnh Sát Sài gòn vào tết Mậu Thân 1968 nhưng phải thú nhận rằng tôi đã chọn sai lý tưởng: Cộng Sản Chủ Nghĩa.  Bởi vì suốt hơn 60 năm trên con đường cách mạng ấy nhân dân Việt Nam đã chịu hy sinh quá lớn lao nhưng cuối cùng chẳng được gì, đất nước vẫn nghèo nàn lạc hậu, nhân dân không có ấm no hạnh phúc, không có dân chủ tự do.  Đó là điều sĩ nhục” (nguồn: Wikipedia)
Nguyễn Minh Cần , nguyên Phó Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội, nguyên Đại Sứ Cộng Sản Hà Nội tại Liên Sô, ghi lại tính tàn độc và lưu manh của Đảng Cộng Sản trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất 1953-1956: "Giết oan hàng trăm ngàn người, đầy ải hàng triệu người, làm cho đạo lý suy đồi luân thường đảo ngược.  Tại cuộc mít tinh tối 29/10/1956, ông Võ Nguyên Giáp chỉ cho biết con số 12 nghìn cán bộ và đảng viên đã được trả tự do mà thôi! Con số đó đúng hay không, ai mà biết được! Tóm lại, những con số về người bị thiệt mạng trong CCRĐ vẫn chưa xác định được.  
Dù thế nào chăng nữa, với những con số ước tính đã cho thấy đây là một tội ác tày trời.  Tội ác này chính là tội ác chống nhân loại
"  (Đừng Quên Bài Học Cải Cách Ruộng Đất Nửa Thế Kỷ Trước)
Trung Tướng Trần Độ , Cựu Phó Chủ Tịch Quốc Hội, viết: "Cuộc cách mạng ở Việt Nam đã đập tan và xoá bỏ được một chính quyền thực dân phong kiến, một xã hội nô lệ, mất nước, đói nghèo, nhục nhã.  Nhưnglại xây dựng nên một xã hội nhiều bất công, nhiều tệ nạn, một chính quyền phản dân chủ, chuyên chế, một chế độ độc đảng và toàn trị, nhiều thói xấu giống như và tệ hơn là trong chế độ cũ…”  (Nguồn: Trần Độ- Nhật Ký Rồng Rắn)
Hoàng Minh Chính  gia nhập đảng từ năm 1939, Phó Viện Trưởng Trường Nguyễn Ái Quốc kiêm Viện Trưởng Viện Triết học Mác-Lênin trong một bài phát biểu đã than thở rằng “Người dân dưới chế độ cộng sản đã bị áp bức tệ hại hơn cả thời còn mồ ma thực dân đế quốc.  Ngay cả thời kỳ nô lệ, người dân ai muốn ra báo cũng chỉ cần nộp một giấy xin phép và bản lưu chiểu. Điển hình là cụ Huỳnh Thúc Kháng bị thực dân Pháp xử 13 năm tù về tội chống Pháp và bị đầy ra Côn Đảo từ năm 1908 đến năm 1921 mới được trả tự do.  Khi mãn hạn tù cụ được thả về Huế, tại đây, cụ đắc cử dân biểu năm 1926, rồi được cử làm Viện trưởng Viện Dân Biểu Trung Kỳ và đứng ra xuất bản tờ báo Tiếng Dân.  Một người bị tù vì tội chống thực dân còn được thực dân cho ra báo trong khi đó một người từng nắm giữ chức Phó Chủ Tịch Quốc Hội của chế độ mà xin phép ra một tờ báo cũng không được".  (nguồn: Wikipedia)
Trần Lâm  sinh năm 1925 vào đảng năm 1947, Vụ phó Ủy Ban Kế Hoạch Nhà nước, thẩm phán Tòa Án Nhân Dân Tối Cao, đã viết trong bài “Những dòng suy nghĩ từ Đại hội đến Quốc hội” số tháng 9/2007: "Đảng thì luôn nói Quốc hội là của dân, do dân, vì dân.  Người hiểu biết trong dân thì coi Quốc hội là bù nhìn.  Đảng và Nhà nước tổ chức bầu cử, biết đây là kiểu dàn dựng, nhưng cứ làm".
Trần Quốc Thuận , Phó chủ nhiệm văn phòng Quốc Hội CSVN, trả lời phỏng vấn của báo Thanh Niên: “Cơ chế hiện nay tạo kẽ hở cho tham nhũng vơ vét tiền của của nhà nước...  Nhưng cái mà chúng ta mất lớn nhất lại không phải là tiền, dù số tiền bị mất lên đến hằng trăm tỷ, mà cái lớn nhất bị mất là đạo đức.Chúng ta hiện sống trong một xã hội mà chúng ta phải nói dối với nhau để sống.  Nói dối hằng ngày trở thành thói quen, rồi thói quen đó lặp lại nhiều lần thành đạo đức mà cái đạo đức đó rất mất đạo đức”.
Nguyễn Khải , Đại Tá, Đại Biểu Quốc Hội, Phó Tổng Thư Ký Hội Nhà Văn CS: 
Người cộng sản nói dối lem lém, nói dối lì lợm, nói dối không hề biết xấu hổ và không hề run sợ.  Người dân vì muốn sống còn cũng đành phải dối trá theo.  (tu-tuong va loi-song cua nguoi Viet do tu Chanh Quyen ma ra)...
(1 nguoi co personality & characteristic... Same thing for a government or a country... EACH HAS IT'S VALUE.)
Nguyễn Văn Trấn , Chỉ Huy Trưởng Kiêm Bí Thư Quân Ủy Quân Khu 9 (1947), Chủ Nhiệm Văn Phòng Phó Thủ Tướng, Chủ Nhiệm Ủy Ban Kế Hoạch Thống Nhất Toàn Quốc (1962-1974): 
"Tội ác của chế độ này, từ 40 năm nay, thật nói không hết".  
Nguyễn Văn An , cựu ủy viên Bộ Chính Trị Cộng Sản Việt Nam, trưởng Ban Tổ Chức Trung Ương Ðảng và là chủ tịch Quốc Hội từ 2001 đến 2006, có lúc đã hy vọng lên làm Tổng Bí Thư, trong một bài phỏng vấn mới xuất hiện trên mạng lưới Tuần Việt Nam xuất bản trong nước đã nói: “Đảng đã mắc phải lỗi hệ thống và đã sai lầm ngay từ nền tảng”.  Ông giải thích: “Lỗi hệ thống là lỗi từ gốc đến ngọn, từ lý thuyết đến mô hình”.
Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh trong một lần nói chuyện tại Hội Các Nhà Văn đành phải hô hào cởi trói cho văn nghệ có nghĩa là Đảng coi giới văn nghệ sĩ như loài cầm thú.
Thủ Tướng Võ Văn Kiệt  thì hô hào: “Đổi mới hay là chết”.
Và còn nhiều trăn trở của: Lê Hồng Hà Cục Trưởng Cục An Ninh Bộ Công An, Lê Liêm Cục Nội Chính, Nguyễn Trung Thành Cục Trưởng Cục Bảo Vệ Đảng, Nguyễn Văn Hiếu Ủy Viên Thường Trực Mặt Trận Tổ Quốc, Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh Đại Sứ Hà Nội tại Trung Cộng, Đại Tá Bùi Tín,Đại Tá Phạm Quế Dương Viện Quân Sử Hà Nội, Trung Tá Trần Anh Kimngười anh hùng chống cuộc xâm lăng từ phương Bắc năm 1979, Sứ ThầnDương Danh Dy, đại diện Hà Nội tại Trung Quốc, và các ông Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc, Trần Vàng Sao cùng những tuổi trẻ được sinh ra và trưởng thành trong chế độ như Luật Sư Lê Thị Công NhânLê Công Định, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Tiến Trung, Phạm Thanh Nghiên, Phạm Hồng Sơn, Trần Huỳnh Duy Thức, Trần Khải Thanh Thủy, Cù Huy Hà Vũ, Điếu Cày, Mẹ Nấm, Người Buôn Gió …
 
Nhìn lại nổi đắng cay nghiệt ngã của kẻ đã đi vào quỹ đạo của CS.  Họ là “trí thức” chứ không là bần nông khố rách ít học.  Họ đã được cộng sản Hà nội trả công khuyển mã của họ cái gì?
Linh Mục Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan trong những tạp chí “Đối Diện”, “Thức Tỉnh”.
Nguyễn Văn Trấn (đại gia chợ Đệm) [1], Dương Bạch Mai (đại địa chủ, “parler francais” như gió) Trần Văn Giàu(lý thuyết gia Cộng Sản, công lao qúa xá trời trong Nam).  Những người nầy đã cúng dường tam bảo CS không biết bao nhiêu của cải, tim óc, sức lực của mình cho “cách mạng” trong thời Việt minh còn mặc quần xà lỏong chơi tầm vông vạt nhọn.  Năm 1975, khi về Nam, ông “khai quốc công thần” Nguyễn Văn Trấn “được” bộ chính trị CS cho công an “hầu hạ” canh gác cửa 24/24 vì thấy thả hổ về rừng nguy hiểm quá… Mấy chục năm công lao mà CS chỉ cho người ta chức “Bật Mã Ôn” (giữ ngựa) thì lỡ người ta quậy thì sao?   Trần Văn Giàu thì đã bị thất sủng từ lâu lắm rồi.  
Chủ Tịch Quốc Hội Dương Bạch Mai thì phổi bò và thẳng ruột ngựa Nam Kỳ nên được đảng cho đi chầu Lenin sớm để vừa tiện sổ sách vừa tiết kiệm ngân quỹ nhà nước.  Nên biết Dương Bạch Mai chết trong lúc nghỉ giải lao trong một phiên họp quốc hội CS.  Nhiều nguồn tin cho biết Dương Bạch Mai uống chén nước trà bị bỏ thuốc độc(?!)  Cay hơn nữa là Dương Bạch Mai còn được chính ngay kẻ đã “trừ khử” mình đến dự tang lễ làm tuồng khóc thống thiết “kính chúc đồng chí chết mạnh giỏi!”.  
Những tay “trí thức” của MTGPMN anh hùng làm được trò trống gì sau ngày 30 tháng 4 năm 1975? Nguyễn Hữu Thọ, “người” được “Bác” giao cho nhiệm vụ lãnh đạo mặt trợn và cũng là “người” đã đi đến cuối con đường… đã hoàn thành một cách xuất sắc nhiệm vụ mà dân tộc đã giao cho…” Ai có theo dõi tin tức, báo chí cũng biết thân phận của “người” này như thế nào trước khi đi chầu “bác” rồi.  
Nguyễn Thị Định (người Giồng Trôm, Bến Tre) chưa hề biết sờ (hay bóp) cò súng đến một lần lấy hên mà lại được CS phong là “nữ tướng tóc dài,” “tư lịnh phó lực lương võ trang quân đội Giải phóng,” trong khi kẻ nhắc tuồng cho em Định là đồng chí Nguyễn Chí Thanh – một cánh tay dài của Hà nội.  Sau ngày MTGPMN bị xóa sổ, em Định được làm cái giống gì (?) ở chức vụ “thứ truởng Bộ Thương Binh” và “chủ tịt hội liên hiệp phụ nữ?”.  

Nguyễn Thị Bình (tên thật là Nguyễn Châu Sa sinh tại Sa đéc, đổi tên mới là Nguyễn Thị Bình vào năm 1962) “được” làm “phó chủ tịch nhà nước,” “phó trưởng Ban Đối Ngoại trung Ương Đảng.” Mấy cái "hàm" "phó" và "thứ" đó cũng chỉ lại là những cái chức ngồi chơi xơi nuớc cho đẹp mắt với bà con miền Nam, đâu có ý nghĩa gì trong chế độ lúc nào cũng duy trì các Nhiếp Chính Vương (còn gọi là bộ chính trị - nếu thu hẹp hơn thì có Duẩn, Thọ, sau nầy thì thêm Mười, Anh…), khi các Nhiếp Chính Vương nầy phát cân đai áo mão cho ai thì hãy coi như hồng ân từ Bác và đảng.  Sống dưới thời buổi “độc lập tự do hạnh phúc” mà “than vãn” thì cũng được CS xem như đồng nghĩa với đang chán sống; có mà tiêu tùng sớm.  
Giám đốc công ty đường thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm là Trương Như Tảng.  Me xừ này phải chờ đến lúc CS thu hết miền Nam mới biết “đường” nào là đường trắng, đường nào là đường thẻ, may phước gài kịp “số de,” chứ chậm chân một chút nữa có thể bị tai nạn lưu thông chết hết cả nhà (như trường hợp kịch tác gia Lưu Quang Vũ và gia đình).  Đề nghị “trí thức” phe ta nên đọc cuốn “memoir” (mémoire) của cái gọi là “tảng đường mía chết hụt này” để cho sáng mắt sáng lòng.
Thôi, phải cất công nói chi cho xa xôi, tấm gương sát bên mình là thầy (?)Châu Tâm Luân [2], bà (?) Ngô Bá Thành [3], ông Chu Phạm Ngọc SơnTrần Ngọc Liễng… bằng cấp treo đầy cả tường, nhìn phát chóng mặt… các tên cố đạo Nguyễn Ngọc LanChân Tín không lo phận sự rao giảng phúc âm của Chúa mà cứ lo nói xa nói gần để ru ngủ người mọi người dân miền Nam bỏ súng hướng về xã hội “thiên đường.” Nhưng ngay chính cá nhân của mình lại phải đợi được đối diện thật sự với “thiên đường” (?) mới “thức tỉnh” (!)
Phụ Chú:
[1] Nguyễn Văn Trấn là Bảy Trấn (không phải ông Nguyễn Văn Trấn hậu sinh nào đó mới “về thăm Việt Nam sau 32 năm” đâu!) Đây là Trấn “Camel (dân cậu miệt vườn, chỉ hút thuốc lá hiệu Camel) người chợ Đệm Long An, loại trí thức địa chủ, một đại thụ của Cộng Sản thời thập niên 30… Đại thụ nầy là tác gỉa cuốn sách “Viết Cho Mẹ Và Quốc Hội;”(để chửi xéo đảng CSVN).  Hắn cùng cỡ tuổi với các tên trùm CS như Trần Văn Giàu, Dương Bạch Mai, Ung Văn Khiêm… đã bỏ lúa ruộng không ai thâu, nhà lầu không ai ở để đi theo Cộng Sản.  Nguyễn Văn Trấn đã từng là chính ủy Khu 9 (miền Tây Nam bộ), chủ nhiệm báo “Le Peuple” đấu tranh công khai với thực dân thời Cộng Sản miền Nam.  Tập kết ra bắc (cùng lúc với Tô Ký, Đồng Văn Cống, Huỳnh Văn Nghệ...) Sau này Lê Duẩn không cho Nguyễn Văn Trấn được đến một cục xương còn dính chút thịt để gặm cho đỡ tủi! Về Nam sau năm 75, chả có chức vụ gì dù đã có 62 tuổi đảng (tính đến năm 1997), ôm nỗi uất ức cho tới ngày chết.
[2]  Châu Tâm Luân  người Việt gốc “xì dầu củ cải muối,” được đi du học Hoa Kỳ bằng học bổng quốc gia của VNCH, tốt nghiệp tiến sĩ Kinh Tế (Đại Học Illinois năm 1966), về Việt Nam cuối thập niên 60, dậy môn “Kinh Tế Nông Thôn” và “Quản Trị Nông Trại” tại Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp (TTQGNN) Sài Gòn (và cũng dậy môn Kinh Tế tại Đại Học Vạn Hạnh).  Ông Luân đã có lần giữ chức vụ “giám đốc” TTQGNN (gồm cả 3 trường Cao Đẳng Canh Nông, Cao Đẳng Thủy Lâm và Cao Đẳng Thú Y Sài Gòn) một thời gian ngắn (vào giai đọan mà các chính trị gia mới trổ mã dậy thì Hùynh Tấn Mẫm và Lê Văn Nuôi sách động sinh viên, học sinh Sài gòn “xuống đường” biểu tình chống Mỹ và chống chính phủ VNCH mạnh mẽ nhất).  Trong các lớp Kinh Tế mà ông Luân dậy, ông công khai giảng cho sinh viên là “xã hội chủ nghĩa là con đường duy nhất (sic) để đưa Việt Nam đến vinh quang (Giỏi nhỉ! Tiến sĩ củ cải này chép y chang lại lời của việt gian HCM)” mà không hề bị công an cảnh sát của chính phủ VNCH hỏi thăm (?) – Có lẽ ông ta “too visible!” vì thường xuyên được truyền thông của Mỹ đến trường phóng vấn (đài CBS, NBC, ABC…) Vào những ngày cuối cùng của VNCH,  xì thẩu Châu Tâm Luân đứng cùng danh sách với các nhân vật của “thành phần (lòng thòng ở chính giữa!) gọi là thứ 3,” rất ồn ào hô hào hòa giải hòa hợp dân tộc… Sau 30 tháng 4 năm 1975, con vẹt ngây thơ này không được CS dùng đến 1 ngày để quét lá đa (không phải đi “cải tạo” vì đã tốt nghiệp tiến sĩ tại Hoa kỳ là may lắm rồi).  Sau đó Châu Tâm Luân vượt biên định cư ở ngọai quốc (ở Thụy sĩ?) Chứ Mỹ chắc chắn là họ không chấp nhận con két “thổ tả” này!)
[3] Bà (?) Ngô Bá Thành tên thật là Phạm Thị Thanh Vân (Ngô bá Thành là tên chồng của bà).  Ông Ngô Bá Thành cũng là công chức của VNCH, dậy học trường Cao Đẳng Canh Nông Sài Gòn.  Kể ra chính phủ VNCH dân chủ và dễ dãi thiệt, vẫn trả lương tháng đầy đủ, vẫn cho ông Ngô Bá Thành dậy học như chẳng hề có chuyện gì xẩy ra… Bà Thành tốt nghiệp tiến sĩ Luật tại Pháp và sau đó có học và làm việc trong một thời gian ngắn tại Đại Học Columbia (New York) Hoa Kỳ.  Ở Sài Gòn, bà Ngô bá láp này tự phong cho mình là “chủ tịt” của “Phong trào phụ nữ đòi quyền sướng;” biểu tình, tuyệt thực chống chính phủ VNCH (và sự hiện diện của đồng minh ở Việt Nam) rất kịch liệt.  Sau 30 tháng 4 năm 1975 được CS cho làm đại biểu Quốc Hội CS trong 3 khóa (6,7 và 8).  Đến khóa 9 thì bị gạt ra.  Bà chỉ tuyên bố sự tức giận của mình (bà cho là mình bị gian lận bầu cử? Xin nhờ bà một tí: Chế độ CS làm quái gì có bầu cử một cách dân chủ?) qua sự phỏng vấn của đài BBC chứ chả bao giờ dám biểu tình hay tuyệt thực gì cả? (nên biết, CS chỉ chờ bà này tuyệt thực là tụi nó “cúp” nước luôn thì có mà uống nước tè!)
 Cháu ngoan sáng mắtLê Diễn Đức
Khi mới ở tuổi lên mười, tôi đã đạt danh hiệu “Cháu ngoan bác hồ”.  Năm 1967 tôi được Hồ Chí Minh trao phần thưởng cho kết quả học tập xuất sắc với tất cả 14 môn học đạt điểm cao nhất.  Đó là một cuốn sổ tay kích thước khoảng 20 x 15cm, giấy trắng tinh, bìa cứng láng bóng, màu xanh dương, có in hình Hồ Chí Minh chụp thẳng và dòng chữ phía dưới “Giải thưởng của Hồ Chủ Tịch”.  Với tôi, gia đình, trường học và chính quyền địa phương, giải thưởng này là một vinh dự, vì không phải tỉnh, thành phố nào cũng có thưởng, và nếu có thì chỉ có một hoặc hai người.  Buổi trao giải thưởng được tổ chức hào hứng trên sân kho của hợp tác xã, dưới ánh trăng (vì lúc bấy giờ máy bay Mỹ đánh phá miền Bắc dữ dội, học sinh đi sơ tán ở thôn quê, ban đêm không dám nổi lửa, thắp đèn).  Bà con làng xóm tụ hội rất đông.  Ba tôi cảm động đến phát khóc.  Tôi nâng niu cuốn sổ tay đến mức không dám xài, lâu lâu lấy ra ngắm nghía !  Tuy nhiên cũng chưa tức cười thảm hại bằng thằng bạn.  
Năm 1968, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn thăm trường, tặng cho mỗi đứa được cử đi gặp một cục kẹo Hải Châu (thứ cao cấp, hiếm hoi, xa xỉ với lũ học sinh nghèo trong những ngày chiến tranh).  Thằng bạn thèm rỏ dãi nhưng trân trọng quá, không dám ăn, để dành làm kỷ niệm.  Trời nóng, chỉ vài hôm, cục kẹo chảy nhão nhoẹt dính bê bết với giấy bọc, phải vứt đi.  Hắn đi Đông Đức, về nước giảng dạy ở Bách khoa Hà Nội, cho đến giờ.  Tôi tin chắc hắn không quên chuyện này!
Tôi sang Ba Lan năm 1969.  Cả đoàn du học sinh chúng tôi phải vào nằm viện để bác sĩ khám, tẩy giun sán trước khi được sống chung với người ta tại Trung tâm học tiếng Ba Lan dành cho người nước ngoài.  Trong bệnh viện, được báo tin Hồ Chí Minh từ trần, chúng tôi khóc thảm thiết !  Mấy cô y tá Ba Lan ngơ ngác, lúng túng chẳng biết chuyện gì xảy ra !Chúng tôi đã yêu Đảng, yêu bác Hồ đến thế  !  Đã một thời ngây thơ, ngây ngô như thế  !
Đến năm 1994, Kim Nhật Thành chết, xem TV thấy dân Bắc Triều Tiên đứng đông nghẹt hai bên đường ôm nhau gào khóc.  Lúc này thì tôi đã bật cười ! Cười cả chính mình !  Tôi cũng đã y chang vậy ngày nào, bị ngu hoá, bị lừa gạt mà không biết…
 

Họ đã nói những gì?

 
Buddha
Three things cannot be long hidden:  the sun, the moon, and the truth.
Ba điều không thể che dấu được lâu, đó là: mặt trời, mặt trăng và sự-thật.
USA President  Abraham LincolnYou can fool some of the people all the time, and all of the people some of the time, but
you cannot fool all of the people all the time.Anh có thể lừa dối một số người trong mọi lúc, và lừa dối mọi người trong vài lúc, nhưng
anh không thể mãi lừa dối tất cả mọi người.
German Chancellor  Angela Merkel
The communists make the people deceitful.
Cộng Sản đã làm cho người dân trở thành gian dối.
Secretary General  Milovan Djilas
At 20, if you are not a communist, you are heartless.
At 40, if you don’t abandon communism, you are brainless.
20 tuổi mà không theo Cộng Sản, là không có trái tim.
40 tuổi mà không từ bỏ Cộng Sản, là không có cái đầu.
Russia President  Vladimir Putin
He who believes the communists has no brain.  He who follows the communists has no heart.
Ai tin Cộng Sản, là không có cái đầu.  Ai làm theo lời của Cộng Sản, là không có trái tim.
Russia President  Boris Yeltsin
You can build a throne with bayonets, but you can't sit o­n it for long.
Let's not talk about Communism.  Communism was just an idea, just pie in the sky.
Communists are incurable, they must be eradicated.
 
Anh có thể xây ngai vàng bằng lưỡi lê, nhưng anh không thể ngồi lâu trên đó.
Đừng nói về chủ nghĩa CS.  CNCS chỉ là một ý kiến, chỉ là cái bánh trên không trung
 .
Cộng Sản không thể nào sửa chửa, mà cần phải đào thải chúng nó.
Soviet Secretary General   Mikhail Gorbachev
I have devoted half of my life for communism.
Today, I am sad to say that The Communist Party o­nly spreads propaganda and deceives.
Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng Cộng Sản.
Hôm nay tôi đau buồn mà nói rằng Đảng Cộng Sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá
.
USA General  Sheridan
The o­nly good communist is a dead communist.
Người Cộng Sản tốt duy nhất là người Cộng Sản chết.
USA General  William C. Westmoreland
On behalf of the United States Armed Forces, I would like to apologize to the veterans of the South Vietnamese Armed Forces for abandoning you guys.
Thay mặt cho quân đội Hoa Kỳ, tôi xin lỗi các cựu quân nhân của Quân Lực Miền Nam Việt Nam vì chúng tôi đã bỏ rơi các bạn.
USA President  Ronald Reagan
How do you tell a communist?   - Well, it's someone who reads Marx and Lenin.
And how do you tell an anti-Communist?   - It's someone who understands Marx and Lenin.
Làm sao biết ai là CS?  - Đó là người đọc về Marx và Lenin.
Làm sao biết ai chống cộng?  - Đó là người hiểu về Marx và Lenin
.
Russian writer  Alexandre Soljenitsym 
When a Communist lies to you, stand up and tell him that he is lying.  If you don’t dare to say that he lies, walk away.  If you don’t dare to walk away, do not recite the lie that you heard to anybody.
Khi thằng Cộng Sản nói láo, ta phải đứng lên nói nó nói láo.  Nếu không can đảm nói nó nói láo, ta phải bỏ đi.  Nếu không can đảm bỏ đi, ta sẽ không nói lại những lời nó nói láo với người khác.
Dalai Lama
The Communists are 
 wild weeds that sprawl o­n the devastation of war.
The Communists are 
venomous insects that breed o­n the garbage.
Cộng Sản là loài cỏ dại, mọc trên hoang tàn của chiến tranh
Cộng Sãn là loài trùng đôc, sinh sôi, nẩy nở, trên rác rưởi của cuộc đời.
George Owell
All men are enemies.  All animals are Comrades.
Loài người là thù nghịch.  Tất cả súc vật là đồng chí.
Nguyen Van Thieu 
Don’t listen to the communists, but take a good look at what they have done.
Đừng nghe những gì Cộng Sản nói, nhưng hãy nhìn kỹ những gì Cộng Sản làm.

Hãy trở về với dân tộc đi!

THƯ NGỎ GỬI NHỮNG NGƯỜI CÁN BỘ CỘNG SẢN ĐANG HOẠT ĐỘNG NỔI HAY CHÌM Ở HẢI NGOẠI.

Thành phố Westminster, Tiểu bang California, Hoa Kỳ, Ngày 23 tháng 4 năm 2015

Chào các bạn thân mến,

Bằng tâm tình của một người Việt rất quan tâm đến sự tồn vong của nòi giống Lạc Việt, bằng niềm tin vào lời dạy của Đức Phật rằng nếu đồ tễ buông dao Sám Hối cũng có thể thành Phật và lời dạy của Chúa Jesus rằng Sự Thật giải phóng Con Người, tôi vắt óc viết cho các bạn bức thư này.

Trước hết, xin tự giới thiệu: Tôi là người lính Việt Nam Cộng Hòa, mang cấp Thiếu tá, là một phi công chiến đấu trong Không Quân Việt Nam Cộng Hòa. Sinh năm 1940, chánh quán làng Nho Lâm, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Trú quán làng Phổ Tây, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa thiên Huế. Xuất thân trường Quốc học, nơi mà ông Hồ Chí Minh từng học. Đã trở thành công dân Hoa Kỳ, hiện trú ngụ tại Orange County, California, nơi được gọi là Thủ Đô người Việt Tỵ Nạn Cộng sản.

Tôi phải xưng danh tánh rõ ràng như thế để các bạn biết rằng đây là người viết có tên thật; chứ không phải kẻ nặc danh vô trách nhiệm.

Mục đích viết bức thư này cho các bạn là để kêu gọi các bạn hãy bước ra khỏi hàng ngũ cộng sản, ngưng làm tay sai cho một chế độ bạo tàn, man rợ và đểu cáng nhất nhân loại. Tôi dùng chữ “BẠN” trong xưng hô, bởi vì tôi tin rằng nếu các bạn sau khi đọc bức thư này mà hồi tâm, thức tỉnh trở về với dân tộc thì đang Thù sẽ trở thành Bạn ngay. Chúng ta sẽ cùng đồng bào đoàn kết tiếp tay nhau đạp đổ chế độ cộng sản và xây dựng một nền Cộng Hòa độc lập, dân chủ, văn minh, quyền con người được tôn trọng. Tôi đã có những người bạn xưa kia vượt Trường Sơn vào đánh nhau với chúng tôi ở chiến trường Tây Nguyên, mà nay họ triệt để chống cộng sản thì trở thành người anh em, người bạn tâm huyết. Đó là Trung tá Vũ Cao Quận và Đại tá Phạm Đình Trọng.

Tội ác của Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản quá rõ ràng. Chính những đảng viên cộng sản cấp cao nói ra; chứ chẳng phải do bọn “phản động” hay “thế lực thù địch” cố tình bôi nhọ, phỉ báng như Đảng kết án. Không kể chuyện đời tư lem nhem, nhơ nhớp, Hồ Chí Minh (HCM) là một tên điếm chính trị (xin lỗi hơi khiếm nhã!), nhưng đấy là Sự Thật. Dưới đây là một vài dẫn chứng:

HCM hô hào “Đoàn kết! Đoàn Kết! Đại đoàn kết! Thành công! Thành Công! Đại thành công!” Nhưng ngầm sai Võ Nguyên Giáp (lúc bấy giờ là thủ lĩnh đội võ trang tuyên truyền) bí mật bắt cóc, rồi thủ tiêu những nhà ái quốc như Trương Tử Anh, Lý Đông A, Khái Hưng, Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ …

HCM viết bài “Địa Chủ Ác Ghê” dưới bút hiệu C.B. đăng lên báo Nhân Dân để chuẩn bị dư luận quần chúng nhằm mang bà Nguyễn thị Năm ra đấu tố cho đến chết. Bà Nguyễn thị Năm, hiệu Cát Hanh Long, là ân nhân của cách mạng (!), từng nuôi dưỡng, bao che cho Hồ và đám “quần thần” trốn tránh Thực dân Pháp. Chính ông Trần Đĩnh tố giác trong cuốn Đèn Cù rằng Hồ đeo bao vải che râu và Trường Chinh mang kính râm ngồi dự kiến cuộc đấu tố bà Nguyễn thị Năm. Và bút hiệu CB, tác giả của bài báo “Địa Chủ Ác Ghê”, là Hồ Chí Minh.

Trong tác phẩm “Những Lời Trăng Trối”, triết gia Trần Đức Thảo mô tả: HCM là một con người “cực kỳ vị kỷ, bất chấp những chuẩn mực của lương tri, của đạo lý”. Theo ông Thảo, đây là “một Tào Tháo muôn mặt của muôn đời” và “là một con khủng long ba đầu, chín đuôi”. Sở dĩ HCM thành công đưa nước Việt Nam đến tình cảnh lầm than, nhục nhã như thế này, tôi nghĩ, là do những phần tử trí thức mông muội, cúi đầu phục vụ một chế độ chủ trương tiêu diệt trí thức tận gốc rễ. Lời than trách của cụ thân sinh triết gia Trần Đức Thảo thật là não nùng: “Phải chi trước kia tôi cho anh học nghề thợ mộc, thợ nề để sống thì bản thân anh đỡ khổ, bản thân tôi đỡ khổ và dân tộc này cũng đỡ khổ”. Lời than trách đó là một bằng chứng rõ ràng trí thức đã góp phần vào sự làm khổ dân.

Nếu đem bài “Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Trãi kể tội giặc Minh so sánh với cái tội của HCM đối với dân ta, thì hai tội ác ấy chẳng khác gì nhau cả: “Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,/ Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi”.
Thế mà cho đến nay, Đảng CSVN vẫn trưng bày cái xác đã thối rữa của HCM, tội đồ dân tộc, giữa quảng trường Ba Đình làm tốn hao công quỹ. Hình, tượng Hồ được trưng bày nơi chốn tôn nghiêm. Đảng còn cưỡng bức nhân dân và cán bộ học tập tư tưởng HCM, noi gương đạo đức HCM! Đảng bắt dân thờ một con quỷ. Thật là đểu hết chỗ nói!

Đường lối cai trị đất nước của Hồ Chí Minh là khởi đầu biến nhân dân thành nô lệ. Tại sao các bạn biết không? Chính sách cưỡng bức tư tưởng một chiều, bưng bít thông tin, tuyên truyền dối trá, bịp bợm khiến cho người dân trở nên ngu dốt. Tổ tiên ta đã dạy: “Đói thì đầu gối phải bò” hoặc “bần cùng sinh đạo tặc”. HCM chủ trương bao tử trị, kẻ nào chịu đầu hàng thì được cho ăn, kẻ nào phản kháng thì bỏ đói cho tới chết, tất nhiên đưa đến hèn hạ, mất nhân phẩm. Gieo rắc sự sợ hãi để người dân lúc nào cũng nơm nớp âu lo, cả xã hội biến thành vô cảm, sống chết mặc bây. Những biện pháp tưởng là tuyệt chiêu, không ngờ chúng nó đã dội lại cho người cầm quyền lãnh đủ: Ngu dốt, Hèn hạ, Ăn cắp, Sợ hãi!

Nước ta nhỏ, dân ta ít, nhưng nhờ những bậc anh hùng bất khuất trước cái chết như Trần Bình Trọng đã mắng vào mặt quân thù: “Ta thà làm quỷ nước Nam; còn hơn làm vương đất Bắc”. Một trăm (100) giống dân Việt (Bách Việt), chỉ còn lại một giống Lạc Việt là nhờ tinh thân Trưng, Triệu, Hưng Đạo, Quang Trung. Nhờ khí phách, dũng cảm và mưu lược, dòng giống Lạc Việt tồn tại.
Bọn giặc Tàu không thể thôn tính nước ta bằng cách xua quân sang xâm lăng; không thể đồng hóa dân ta bằng cách bắt dân ta ăn mặc, quấn tóc đuôi sam như Tàu. Nay chúng dùng người Việt với đầy đủ tính cách “Ngu dốt, Hèn hạ, Ăn cắp, Sợ hãi” để đè đầu cưỡi cổ người Việt; giết dần dân ta bằng thực phẩm, nguồn nước uống chứa chất độc; bắt dân ta phải hít thở không khí ô nhiễm. Thực tiễn cuộc sống trên đất nước hiện nay đã cho ta thấy rõ âm mưu đen tối của Tàu, nhưng người cầm quyền cứ nhắm mắt ôm chân bọn Thực dân mới, vì họ được HCM đào tạo để trở thành một bọn người chỉ biết LỢI và QUYỀN.

Trước tình cảnh đó, dân ta đành thúc thủ vì bọn cầm quyền có một lực lượng Công An Côn Đồ độc ác thâm hiểm quá sức. Người dân chỉ còn biết phản ứng tiêu cực. Tôi ghi xuống đây bài thơ của Trần Vàng Sao, một người ở Miền Nam tự do, sung sướng, bị bọn trí thức ngu dốt như bác sĩ Lê Khắc Quyến, Võ Đình Cường, giáo sư Hoàng Phủ Ngọc Tường, Tôn Thất Dương Tiềm, Tôn Thất Dương Kỵ… phản bội (ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản) chiêu dụ vào con đường cộng sản.

TAU CHƯỞI

tau tức quá rồi
tau chịu không nổi
tau nghẹn cuống họng
tau lộn ruột lộn gan

tau đầu tắt mặt tối
đổ mồ hôi sôi nước mắt
vẫn đồng không, trự nõ có
suốt cả đời ăn tro mò trú
suốt cả đời khố chuối Trần Minh
kêu trời không thấu
tau phải câm miệng hến
không được nói, không được la hét
nghĩ có tức không?
tau chưởi
tau phải chưởi
tau chưởi bây
tau chưởi thẳng vào mặt bây
không bóng không gió
không chó không mèo
.….
tau chưởi cho tiền đời dĩ lai bây mất nòi mất giống
hết nối dõi tông đường
tau chưởi cho mồ mả bây sập nắp
tau chưởi cho bây chết chưa liệm ruồi bu kiến đậu
tam giáo đạo sư bây
cố tổ cao tằng cái con cái thằng nào móc miếng cho bây
hà hơi trún nước miếng cho bây
..…
bây là rắn
rắn
toàn là rắn
như cú dòm nhà bệnh
đêm bây mò
ngày bây rình
dưới giường
trên bàn thờ
trong xó bếp
bỏ tên cha, bỏ họ mẹ sinh ra
bây mang bí danh
anh hùng dũng cảm
vĩ đại kiên cường
lúc bây thật, lúc bây giả
khi bây ẩn, khi bây hiện
lúc người, lúc ma
……
hỡi cô hồn các Đảng
hỡi âm binh bộ hạ
hỡi những kẻ khuất mặt đi mây về gió
trong am trong miếu
giữa chợ giữa đường
đầu sông cuối bãi
móc họng bóp cổ móc mắt bọn chúng nó
cho bọn chúng nó chết tiệt hết cho rồi!
bây giết người như thế
bây phải chết như thế
ác lai thì ác báo
tau chưởi ngày chưởi đêm
mới bét con mắt ra tau chưởi
chập choạng chạng vạng tau chưởi
nửa đêm gà gáy tau chưởi
giữa trưa đứng bóng
tau chưởi
bây có là thiền thừ mười tám con mắt tau cũng chưởi
mười hai nhánh họ bây
cao tằng cố tổ bây
tiên sư cha bây
tau chưởi cho bây ăn nửa chừng mẻ chai mẻ chén,
xương cá, xương thịt mắc ngang cuống họng
tau chửi cho nửa đêm oan hồn yêu tinh ma quỷ
mình mẩy đầy máu hiện hình vây quanh bây
đòi trả đầu, trả chân trả ta,y trả hòm, trả vải liệm
tau chưởi  cho cha mẹ bây có chết cũng mồ xiêu
mả lạc đoạ xuống ba tầng địa ngục bị bỏ vào vạc dầu
tau chưởi cho cha mẹ bây có còn sống cũng điên tàn
đui què câm điếc làm cô hồn sống lang thang đầu đường xó chợ
bốc đất mà ăn, xé áo quần mà nhai, cho bây có nhìn ra cũng phải tránh xa
tau chưởi cho con cái bây đứa mới đi, đứa đã lớn sa chân sẩy tay đui què sứt mẻ nửa đòi nửa đoạn
chết không được mà sống cũng không được
tau chưởi cho dứt nọc dòng giống của bây, cho bây chết  sạch hết
không bà không con
không phúng không điếu
không tưởng không niệm
không mồ không mả, tuyệt tự vô dư
tau chưởi cho bây chết hết
chết sạch hết
không còn một con
không còn một thằng
không còn một mống
chết tiệt hết
hết đời bây!

Và dưới đây là bài nhạc Rap của một sinh viên mang tên Nah Son, ra đời sau năm 1975, chẳng nợ xương nợ máu với cộng sản, đang du học tại Hoa kỳ, cũng phải văng tục chửi cộng sản.

“ĐỊT MẸ CỘNG SẢN”

Các bạn đừng bắt chước luận điệu của bọn đang cầm quyền mà kết tội họ phản động. Họ là những người yêu nước, yêu dân, từng là cộng sản hoặc được sinh ra dưới chế độ cộng sản cả đấy!

Các bạn thân mến,

Các bạn đang hoạt động tại nước ngoài, chứ không phải sống trong hũ nút tối tăm, các bạn có thấy đất nước nào có một tập đoàn thống trị tồi bại như nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam không? Các bạn có thấy nước VN sắp trở thành một Châu Quận của Tàu, dân VN sẽ trở thành dân Hán không? Tại sao các bạn có thể thản nhiên phụng sự một chính quyền làm tay sai cho ngoại bang?

Tôi là người Việt bị mất nước (Nước Việt Nam Cộng Hòa), tuy tự hào đã trở thành công dân của một cường quốc có sức mạnh về nền dân chủ, văn hóa và quân sự, nhưng trong lòng luôn luôn lo sợ nòi giống mình bị diệt chủng. Tôi cảm thấy nhục vì dân mình đàn ông đi làm lao nô ở nước ngoài, bị bóc lột mà các Tòa Đại sứ không bênh vực; đàn bà con gái thì làm nô lệ tình dục; các tấm bảng nơi công cộng cảnh báo “Không được ăn cắp” viết bằng tiếng Việt ở Nhật, ở Hồng Kông, ở Thái Lan. Tôi cảm thấy nhục cho nòi giống Việt của mình quá. Cho nên tôi đã viết nhiều bài hối thúc trí thức trong nước, những “cách mạng lão thành” đã một thời hãnh diện với câu khẩu hiệu “Quyết tử để dân tộc quyết sinh” hãy dũng cảm đứng ra công khai kêu gọi toàn dân vùng lên lật đổ bạo quyền.

Thấy cô gái gầy gò Phạm Thanh Nghiên chỉ “tọa kháng”, tức là biểu tình ngồi tại gia, với câu khẩu hiệu “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam” mà bị bắt bớ, bỏ tù, tôi đề nghị những trí thức yêu nước, đấu tranh dân chủ viết lời hiệu triệu quốc dân làm cuộc Tổng Đình Công tại gia như cô Phạm Thanh Nghiên, không cần xuống đường để Côn Đồ không thể mượn cớ trở ngại lưu thông mà đánh đập.

Nghe tin Đoàn văn Vươn, Đặng ngọc Viết liều mình chống lại quân cướp đất, cướp nhà, tôi viết bài đề nghị mỗi người dân VN bị trị trong nước hãy là Đoàn văn Vươn, Đặng ngọc Viết.

Thấy hai mươi hai xứ Đạo Công giáo biểu tình đòi đất ở Nghệ An, nghe các linh mục rao giảng Tin Mừng ở Dòng Chúa Cứu Thế công khai lên án Đảng Cộng sản, được tin những tín đồ Hòa Hảo bị Côn Đồ đánh đập vì làm lễ giỗ Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ, tôi viết bài kêu gọi Thánh Chiến, vì nghĩ rằng với Đức Tin tôn giáo, tín đồ mới đủ sức mạnh chống lại Quỷ Cộng sản để giữ Đạo.

Không một đề nghị nào của tôi được hưởng ứng. Có phải tại vì những nhà trí thức, những “cách mạng lão thành” chỉ dám viết kiến nghị bằng lời lẽ cung kính, mà không dám viết một bài hịch kêu gọi toàn dân vùng lên? Vẫn không nản chí, tôi cố nghĩ phương cách lật đổ cộng sản.

Tới khi nghe ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố mạnh miệng, rất dễ lọt tai, tôi viết cho ông ta hai bức thư để khuyên ông làm cuộc cách mạng cứu nước, bởi vì xem ra ông ta có vẻ có quyền và có thế. Nếu ông Dũng nghe lời tôi, ông sẽ được dân yêu quý, ngưỡng mộ phong Thánh cho ông, dù thất bại hay thành công. Nhưng tiếc thay! Ông Dũng cũng không nghe lời khuyên của tôi.

Lâu nay người ta thường nói rằng chỉ người trong nước mới có thể lật đổ chế độ cộng sản; người hải ngoại chỉ có thể tiếp sức mà thôi. Tôi nghĩ khác: Người Việt Chân Chính ở hải ngoại cũng có thể lật đổ chế độ độc tài toàn trị hiện nay. Tại sao tôi dùng bốn chữ “Người Việt Chân Chính”, các bạn có biết không? Người Việt Chân Chính là người Việt thực sự tha thiết yêu giống nòi, yêu dân tộc, biết xấu hổ, biết nhục nhã và biết sám hối các bạn ạ! Người Việt ở hải ngoại đây chính là những cán bộ cộng sản đang phục vụ cho Đảng bỗng trở thành “Người Việt Chân Chính”.

Người ta bảo rằng Liên Bang Xô Viết tan rã là vì chạy đua vũ khí với Hoa Kỳ, nên hụt hơi. Tôi nghĩ xa hơn: Khối cộng sản sụp đổ là do sự đóng góp của hàng triệu thuyền nhân Việt Nam chết trên biển cả gây ra. Đó là Sự Thật, chứ tôi không phóng đại. Tôi xin chứng minh.

Sau ngày Giải Phóng Miền Nam (chữ của cộng sản), không những người, ngay cả cái cột đèn mà biết đi, cũng muốn trốn thoát “thiên đường cộng sản”. Bất kể phong ba bão táp, bất kể hải tặc hãm hiếp, bất kể thú dữ, từ già đến trẻ đều tuôn ra biển, vượt rừng sâu. Cuộc vượt thoát tìm tự do bi tráng đó đã thức tỉnh lương tâm nhân loại, rúng động địa cầu.

Triết gia khuynh tả lừng danh người Pháp, Jean Paul Sartre, trước kia từng mắng: “Kẻ nào chống chủ nghĩa cộng sản là con chó”. Sau cái gọi là “Giải phóng Miền Nam”, Sartre trở thành người ghê tởm sự man rợ cộng sản nhất, vì chứng kiến cảnh tượng thuyền nhân quá đỗi thương tâm. Hành động phản tỉnh của Sartre ta có thể diễn dịch như sau: “Kẻ nào còn bám vào chủ nghĩa cộng sản là con chó”.

Nữ ca nhạc sĩ phản chiến hàng đầu Hoa Kỳ – Joan Baez – cũng phản tỉnh và quay lại vận động những trí thức thân Cộng trước kia cùng ký vào một bản cáo trạng lên án chủ nghĩa cộng sản vô nhân đạo.

Mikhail Gorbachew, Tổng Bí thư Cộng sản Liên Xô, nhận ra chiêu bài “Giải phóng các dân tộc bị trị” không còn ăn khách nữa, lại mang gánh nặng nuôi báo cô các chư hầu. Nên ông đề ra chủ trương “Glasnost” (cởi mở) và “Perestroika” (tái cấu trúc). Nhưng bộ máy cai trị của cộng sản không thể chữa được, chỉ có cách là phế bỏ hoàn toàn. Boris Yelsin thành công lật đổ cộng sản Liên Xô, lên làm Tổng thống, ông đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật.

Do đó, tôi kêu gọi các bạn hãy thức tỉnh để đồng loạt chia tay tập đoàn thống trị Việt Nam đang làm tay sai cho giặc Tầu, giống như những thuyền nhân Việt Nam trốn chạy cộng sản từ sau Ngày 30 Tháng 4 Năm 1975 đã đóng góp vào sự tan rả Liên Xô và Đông Âu. Bộ máy tuyên truyền của cộng sản thổi phồng Võ Nguyên Giáp với tài thao lược đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ là láo toét. Sự thực qua hồi ký của Vi Quốc Thanh, Tướng Tàu Cộng, cho biết rằng chính ông ta mới là người điều khiển trận đánh. Hần hết “lãnh tụ” CSVN đều dốt, tham lam; chứ chẳng có tài đức gì cả.

Xương máu nhân dân đã đổ ra để cuối cùng đất nước trở thành một bãi rác khổng lồ: Đạo đức suy đồi, môi trường sống bị ô nhiễm, độc hại. Tập đoàn cai trị từ thượng tầng đến hạ tầng trong các ngành nghề đều là một lũ ăn cắp, mất hết khả năng biết xấu hổ. Chẳng lẽ các bạn không nhìn thấy hay sao?

Xin các bạn hãy dẫn chứng cho toàn dân được biết suốt 85 năm qua, kể từ năm 1930, Đảng CSVN đã làm được một điều gì (chỉ cần một thôi) vì nước vì dân. Tất cả việc làm của Đảng đều phải tuân theo mệnh lệnh của Quan Thầy Liên Xô, Trung Cộng thì sao dám kể công lao? Sự thật càng ngày càng lòi ra: “Đánh Pháp, đuổi Mỹ là đánh đuổi cho Liên Xô, cho Trung Cộng” (Lê Duẩn tự thú); Hồ Tuấn Hùng tố giác Hồ Chí Minh là Hồ Tập Chương, người Hẹ mà Đảng cứ im thin thít, không dám dùng thử nghiệm DNA để chứng minh HCM là người Việt Nam. Vậy thử hỏi, lấy tư cách gì Đảng CSVN cứ đè đầu cưỡi cổ cổ dân tộc Việt Nam, cứ bắt nhân dân phải vái lạy, sùng bái một tên không rõ lý lịch?

Xin các bạn hãy biện minh bằng lý do nào mà các bạn lại cam tâm phục vụ cho một tập đoàn thống trị đủ các tính cách “ngu dốt, hèn hạ, vô liêm sỉ”. Tại sao ông Lãnh sự Nguyễn Xương Hùng tại Genève lại dám hiên ngang từ chức, bước ra khỏi Đảng mà các bạn lại không dám? Chẳng lẽ các bạn vì miếng cơm manh áo để trở thành cái giá áo, cái túi cơm? Con Người là sinh vật thượng đẳng, biết suy nghĩ, biết lựa chọn cơ mà!

Từ thời Đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa, Miền Nam đã cảnh báo Hồ Chí Minh giống như Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống rước voi về dày mồ. Sau Hội nghị Thành Đô năm 1990, Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch (bố đương kim Ngoại trưởng Phạm Đình Minh) khẳng định: “Kể từ nay, Việt Nam bắt đầu bị Bắc thuộc một lần nữa”. Chẳng lẽ ông Phạm Đình Minh không tin lời bố à? Mất nước vào tay giặc Tàu không còn là nguy cơ, mà là hiện thực. Các bạn hãy dẫn chứng cho toàn dân thấy nước Việt Nam còn chút chủ quyền nào không.

Tôi tha thiết kêu gọi quý ông Đại sứ, Tổng Lãnh sự, Lãnh sự, Trưởng lưới Điệp báo và toàn thể nhân viên ngoại giao hoạt động cho CSVN ở khắp thế giới hãy đồng loạt dũng cảm tuyên bố từ bỏ Đảng cộng sản, chấm dứt phục vụ Đảng. Tôi tin chắc rằng việc làm của các bạn sẽ chấn động toàn cầu, sẽ làm sụp đổ bộ máy cầm quyền tay sai trong nước, vì trong lịch sử thế giới chưa hề xảy ra một biến cố trọng đại như vậy. Các bạn sẽ được nhân dân Việt Nam đón mừng và ghi ơn. Các bạn cũng sẽ được nhân dân của các quốc gia dân chủ trên thế giới ngưỡng mộ, bái phục. Và trên hết, chính các bạn sẽ kiêu hãnh, tự hào về bản thân, vì đã dám làm một hành động có ý nghĩa nhất trong đời. Làm một cuộc cách mạng không cần tốn một giọt máu, mà lại được tất cả. Tại sao không thực hiện, hỡ các bạn?

Tôi xin vẽ ra một tương lai sáng lạng cho các bạn thấy sau khi chế độ cộng sản ở Việt Nam sụp đổ:

Người Việt ở trong nước không còn vô cảm nữa, không còn bọn Côn Đồ ăn cướp đất đai tài sản nữa, không còn cái bọn đầu nậu tự xưng lãnh đạo nói dối như ranh, hèn với giặc ác với dân nữa.

Người Việt ở hải ngoại không còn ai chụp mũ ai là cộng sản nữa, không còn bọn giả danh kháng chiến chống Cộng để hốt bạc nữa. Lúc bấy giờ sẽ có nguồn tài nguyên bất tận, hơn cả rừng vàng biển bạc, đó là chất xám của giới trẻ được hấp thụ từ nền văn minh nhân loại, cống hiến cho Việt Nam.

Tôi khẳng định: Điều kiện ắt có và đủ để “Thoát Trung Cộng”, muốn giành lại độc lập, tự do cho dân tộc thì phải “Thoát Việt Cộng” trước đã, lật đổ chúng trước đã. Không cần bàn cãi gì lôi thôi hết!

Tôi ý thức rằng kêu gọi tất cả các bạn đồng loạt tuyên bố bỏ Đảng để giật sập chế độ tàn ác bất nhân này, là tôi đang đặt bút ký vào bản án tử hình. Tôi ở Hoa Kỳ, Côn An không thể tới nhà còng tay tôi bắt vào nhà giam để đánh đập cho tới chết. Nhưng Cộng sản có một triệu phương cách giết người tinh vi mà không để lại dấu vết, nếu họ muốn giết tôi. Nhưng tôi không sợ, vì tôi là một Phật tử tuân theo lời Đức Thích Ca dạy: “Đừng bao giờ làm cho kẻ khác sợ mình và cũng đừng bao giờ sợ kẻ khác”. Đúng thế! Nếu mình nói lên chính nghĩa thì kẻ khác sẽ nghe mình, đâu cần dùng bạo lực khiến cho kẻ khác theo mình? Và nếu mình ngay thẳng, trong sáng, không tham sân si thì việc gì phải sợ kẻ khác?

Hơn nữa, nếu tôi nhớ không lầm, lời dạy của Chúa Jesus: “Ai yêu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời” (Ga 12,25).

Nhà tranh đấu nhân quyền, Mục sư Martin Luther King, đã nói: “Kẻ nào chấp nhận cái ác mà không phản đối, chắc chắn là tiếp tay cho cái ác lộng hành” (He who accepts evil without protesting against it, is really cooperating with it) và “Đời của chúng ta bắt đầu chấm dứt khi chúng ta lặng thinh trước những vấn đề sống còn” (Our lives begin to end the day we become silent about things that matter).

Dẫu có bị giết vì kêu gọi các bạn lật đổ bạo quyền, tôi sẽ được về với tổ tiên mà không hổ thẹn với tiền nhân. Tôi đã tận tâm, tận lực làm tròn bổn phận, trách nhiệm của một đứa con dòng họ Đặng. Tôi sẽ rất tự hào; chứ không luyến tiếc.

Cộng sản chủ trương gieo rắc sự sợ hãi để dễ dàng thống trị kẻ khác. Nhưng ngày nay cộng sản là người lo sợ hơn ai hết. Sợ mất quyền, mất địa vị để tự do ăn cắp. Không lẽ các bạn lại coi bọn đầu nậu chết nhát đó xứng đáng lãnh đạo đất nước à? Chúng xứng đáng làm thượng cấp của các bạn à? Con đường duy nhất để “Thoát Việt Cộng” là chính mình phải “Thoát Hèn”.
Bằng chứng lịch sử cho thấy Hồ Chí Minh rất hèn: Viết thư năn nỉ Thực dân cho vào học trường Thuộc Địa để phục vụ quân xâm lược. Báo cáo với Staline đã hoàn thành Cải Cách Ruộng Đất giết hàng trăm sinh mạng để được Staline tin cậy. Sùng kính, vái lạy một tên hèn, bạn sẽ trở thành hèn!

Có người ở hải ngoại cho rằng ở Việt Nam chẳng còn gì để gọi là cộng sản cả. Bọn cầm quyền hiện này còn sống xa hoa hơn cả tư bản. Nhận định như thế, theo tôi, là nông cạn. Căn cứ theo chuẩn mực của Ông tổ Cộng Sản, Karl Marx, đề ra: “Chỉ có loài cầm thú mới quay lưng lại trước nỗi khốn cùng của đồng loại để lo chăm chút cho bộ lông của chúng”, thì từ Hồ Chí Minh trở xuống, chẳng có cấp nào thực sự là cộng sản. Hồ Chí Minh và băng Đảng chẳng những quay lưng lại, mà còn gieo rắc kinh hoàng cho toàn dân Việt Nam. Trong buổi hội thảo nhằm góp ý với Đảng trước ngày Đại hội, giáo sư Trần Phương gay gắt hỏi có ai trong các người tham dự hiểu mô hình xã hội chủ nghĩa (cộng sản) là gì, thì chẳng có ai trả lời được. Vậy thì cộng sản không phải là cái chủ nghĩa mang lại một xã hội không còn “người bóc lột người”, “làm theo khả năng, hưởng theo nhu cầu” như bộ máy tuyên truyền rêu rao. Nó là một bộ máy cai trị chuyên chính (tệ hại hơn cả độc tài) được Lénine, Staline, Mao Trạch Đông sáng chế và Hồ Chí Minh mang về để hãm hại dân ta. Ông Nguyễn văn An sau khi thôi chức Chủ tịch Quốc hội nói: “Lỗi này (tức là sự trì trệ, bất công) là lỗi hệ thống”. Nguyễn văn An không dám nói thẳng là bộ máy cai trị, mà phải dùng chữ hệ thống. Nói thẳng, Nguyễn văn An sợ mất sổ lương?

Nhạc sĩ Tô Hải sau nhiều thập niên phục vụ hết lòng cho Đảng, khi nhận ra mình lạc đường, ông viết cuốn hồi ký “Thằng Hèn” để tố giác tội ác của Hồ Chí Minh. Nếu như tất cả đảng viên cộng sản từ Võ Nguyên Giáp (già nhất) trở xuống có dũng khí như cụ Tô Hải thì Đảng cộng sản đã tiêu vong.

Lãnh sự Đặng Xương Hùng ở Genève đã từ bỏ Đảng để trở về với dân tộc. Tôi tin rằng tất cả các bạn đồng loạt từ bỏ Đảng như Đặng Xương Hùng thì tập đoàn bán nước buôn dân sẽ sụp đổ ngay.

Xin nhắn gửi tới các bạn một yêu cầu cuối cùng: “Hãy từ bỏ Đảng Cộng sản để được làm NGƯỜI”. Chớ đợi cho tới lúc lâm chung giống như điệp viên Phạm Xuân Ẩn thì mới trối trăng cùng vợ con “Đừng chôn tôi bên cạnh mộ của những thằng cộng sản”. Mong các bạn suy nghĩ và sớm trở về với Dân Tộc. Đồng bào Việt Nam Tự Do sẽ hân hoan mở rộng vòng tay chào đón quý bạn.

Thân chào các bạn,

Bằng Phong Đặng văn Âu

© Đàn Chim Việt

—————————————————

Tái bút: Tuy tôi là một phi công chỉ được đào tạo để lái máy bay, chưa học qua một trường chính trị hay trường lý luận nào, nhưng tôi thách thức tất cả những lý thuyết gia hàng đầu trong Đảng Cộng sản Việt Nam có thể công khai tranh luận với tôi về sự chính thống (legitimacy) để có quyền cai trị đất nước. Một Đảng dựa trên sự dối trá, bạo lực ắt có ngày tiêu vong. Đó là quy luật phổ quát!

Tôi bất toàn, nhưng dám sống chết với lý tưởng đấu tranh cho dân tộc tồn tại

HIỆN TƯỢNG CS SÁM HỐI

Trong chương trình VHNT hôm nay Mặc Lâm tiếp chuyện nhà văn, nhà phê bình văn học Trần Mạnh Hảo về hiện tượng nhiều lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam lên tiếng phủ nhận những gì mà họ theo đuổi trong suốt hơn nửa thế kỷ, trong đó không thể không kể đến hai khuôn mặt của văn học nước nhà là nhà văn Nguyễn Khải và nhà thơ Chế Lan Viên.

TranManhHao150.jpg
Nhà văn Trần Mạnh Hảo. RFA file photo.

Trước tiên xin tóm lược một ít chi tiết về quá trình làm việc của nhà phê bình văn học Trần Mạnh Hảo. Theo như ông kể thì ông sinh năm 1947 tại Nam Định. Lúc nhỏ Trần Mạnh Hảo theo cha xứ đi giúp lễ và học kinh sách giáo lý chủng viện công giáo. Lớn lên đi học, vì lý lịch xấu không được vào đại học.

Năm 1975 ông từ rừng Lộc Ninh về Sài Gòn, ra khỏi lính làm báo dân sự. Năm 1982 vì viết bài thơ “Cho một người nằm xuống” để khóc Nguyên Hồng ông bị treo bút ba năm. Năm 1989, in tiểu thuyết Ly Thân, ông bị cho ra khỏi đảng, đuổi khỏi biên chế nhà nước.

Trần Mạnh Hảo đã xuất bản trên dưới 30 đầu sách. Tuy nhiên từ 10 năm nay các bài viết của ông bị cấm in trên báo lề phải, không được xuất bản sách trong nước. Trần Mạnh Hảo thú nhận hiện nay ông chỉ còn viết trên Internet cho vui… Trần Mạnh Hảo cũng khẳng định rằng ông không làm chính trị mà chỉ làm văn học, làm sứ mệnh thiêng liêng của người cầm bút là nói lên, viết lên sự thật.

Thức tỉnh

Mặc Lâm: Xin cám ơn ông Trần Mạnh Hảo, câu hỏi đầu tiên có lẽ xin ông cho biết tại sao lúc gần đây lại có hiện tượng rất nhiều cán bộ cao cấp và văn nghệ sĩ nổi tiếng đã phát ngôn hay sáng tác nói lên những điều mà nhiều năm trước đây không ai dám nghĩ là sẽ xuất hiện trong chế độ toàn trị của đảng cộng sản Việt Nam?

Trần Mạnh Hảo: Theo tôi thì chuyện người ta già, người ta về hưu, khi nhìn thấy cõi chết thì người ta thường quay lại kiểm điểm cuộc đời và con người dù tàn ác đến đâu thì tạo hóa cũng cho một chút xíu lương tâm có thể nó đã ngủ quên cả cuộc đời nhưng khi về già, khi gần chết thì nó thức tỉnh. Chút xíu đom đóm lương tâm đó lập lòe trong tâm hồn con người mà cả đời họ làm ác, có thể nó thức tỉnh, nó làm cho người ta ân hận sám hối cho nên người ta nói lên sự thật, nói lên những điều thật nhất mà suốt đời không có cơ hội để nói.

Về hưu mới dám nói thật

vo-van-kiet-250.jpg
Tổng bí thư Nông Đức Mạnh (giữa), cựu Chủ tịch nước Võ Chí Công (trái), và Cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt (phải) tại hội nghị BCH đảng CSVN lần thứ 9. AFP PHOTO.

Mặc Lâm: Cũng có người tiếc rẻ khi những phát ngôn của nhiều cán bộ cao cấp tung ra quá chậm, khi họ đã về hưu do đó không còn tác động gì lớn lao đối với hệ thống như khi họ còn tại chức, đương quyền…

Trần Mạnh Hảo: Cái chuyện đó tôi cho là cũng rất bình thường vì trong một xã hội toàn trị như Việt Nam thì những người là cán bộ cao cấp họ không có dịp nói thật khi họ cầm quyền, vì nói thật ở Việt Nam là nguy hiểm vô cùng. Bởi vì cái hệ thống chính trị của họ là một hệ thống chính trị thật sự xa rời mục tiêu của sự thật.

Ví dụ như ông Võ Văn Kiệt đã lên tới Thủ tướng chính phủ, khi ông ấy làm Thủ tướng ông ấy không dám nói thật nhưng khi về hưu rồi mới dám nói thật. Ông nói thật một điều rất tâm huyết rằng ngày 30 tháng Tư là cái ngày có một nửa nước vui, một nửa nước buồn. Một triệu người vui thì có một triệu người Việt Nam buồn. Ông ấy nói câu ấy là quá đúng. Những người miền Nam Việt Nam hồi đó họ thua trận họ vẫn có lý tưởng rất là tốt đẹp phục vụ đất nước, dân tộc. Nhưng thua trận nên họ buồn và còn bị bắt đi tù đày hàng loạt… họ buồn là đúng chứ sao bắt họ vui cho được?

Ông Kiệt đã nói lên một sự thật mà sự thật này khi đang làm thủ tướng ông ấy không thể nói được cho đến khi về hưu mới nói được sự thật này. Chính việc nói lên sự thật này dần dần ông sẽ nói ra các sự thật khác cho nên rất nguy hiểm cho tính mạng của ông ấy.

Cái chuyện đó tôi cho là cũng rất bình thường vì trong một xã
hội toàn trị như Việt Nam thì những người là cán bộ cao cấp họ không có
dịp nói thật khi họ cầm quyền, vì nói thật ở Việt Nam là nguy hiểm vô
cùng.

Nhà văn Trần Mạnh Hảo

Mặc Lâm: Còn chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An thì sao thưa ông?

Trần Mạnh Hảo: Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An là một người suốt cuộc đời theo cách mạng, theo cộng sản nhưng khi nghĩ hưu rồi thì cũng phải nói lên sự thật. Thà ông như vậy có thể tôi trọng ông ấy hơn là những người cứ câm miệng suốt cả cuộc đời vì lương tri trong người họ không trổi dậy. Nói cho cùng khi lương tri không thức tỉnh trong tâm hồn họ thì họ sống cả cuộc đời không lương tri, không lương thiện.

Ông Nguyễn Văn An nói như thế này, Ông bảo hiện giờ không cải tạo được đất nước vì cái sai lầm là của hệ thống mà muốn thay đổi cho đất nước tiến lên thì phải thay cái hệ thống cộng sản này.

Mặc Lâm: Còn riêng về Phó thủ tướng Trần Phương thì sao?

Trần Mạnh Hảo: Ông Phó Thủ tướng Trần Phương là một người cũng tận tụy đi theo cách mạng. Làm đến Phó Thủ tướng nhưng khi các ông ấy ngồi lại để góp ý cho đảng thì ông ấy nói rằng cuộc đời trong mỗi cá nhân chúng ta để vượt qua những sự kiện quan trọng trong đời mà cứ phải nói dối người thân, nói dối gia đình, nói dối mọi người đến mấy lần thì khi về già đã thấy ngượng, thấy xấu hổ lắm. Nhưng đảng cộng sản của chúng ta từ khi sinh ra đến giờ toàn nói dối mà không biết tại sao đảng không biết ngượng, không biết xấu hổ, không biết sám hối. Đấy là một cán bộ cao cấp khi về hưu đã nói như thế.

Bi kịch Đi tìm cái tôi đã mất

che-lan-vien-250.jpg
Nhà thơ Chế Lan Viên và tác phẩm “Điêu tàn”, NXB Văn học.

Mặc Lâm: Riêng về văn nghệ sĩ thì sao thưa ông?

Trần Mạnh Hảo: Giới văn nghệ sĩ rất nhiều anh em đã nói nhưng nổi bật nhất vẫn là ông Nguyễn Khải và Chế Lan Viên. Ông Nguyễn Khải là một nhà văn đi theo cách mạng từ năm 1945 là con một tri huyện mà là con một bà vợ hai nên khi theo cách mạng ông khai là không có cha để tránh việc bố ông ấy là quan huyện. Quê cha ông ở Nam Định nhưng ông khai quê mẹ ở Hải Dương và không có cha. Cha ông ấy sau này đến năm 54 thì di cư vào Sài Gòn.

Ông Nguyễn Khải là một nhà văn rất trí thức mặc dù ông chỉ học chưa hết trung học của thời Pháp nhưng ông ấy chịu đọc và suy nghĩ viết lách rất giỏi và rất thông minh. Cả cuộc đời ông ấy viết theo mệnh lệnh của đảng. Tất nhiên những cuốn sách ông ấy viết đã lách ra khỏi hệ thống một tí mà bây giờ người ta gọi là lề trái.

Trong sách ông ấy viết về lề phải nhưng khi mở ra người ta thấy đầy lề trái trong đó. Tức là cái lề phải là lề của đảng cộng sản còn lề trái là lề của những người bất đồng.

Trước khi chết ông Nguyễn Khải có viết mấy bài, sau khi ông ấy chết mới tung ra rất là sâu sắc. Nói chung là ông ấy viết một cách trí thức chứ không phải chửi bới vớ vẩn. Bây giờ ai vào trong Google đánh chữ Nguyễn Khải đều hiện lên những bài của ông ấy nói về những đau đớn của ông ấy như bài “Đi tìm cái tôi đã mất” hay là “Nghĩ muộn”. “Đi tìm cái tôi đã mất” ông lấy trường hợp của bản thân ông, một con người sinh ra đời, đi tìm chân lý, đi tìm sự thật đã thấy sự thật, chân lý mà không dám vô! Bởi vì đi vào thì sẽ bị tù, sẽ bị bắt sẽ bị giết. Một sự đau đớn vô cùng của một trí thức.

“Đi tìm cái tôi đã mất” ông lấy trường hợp của bản thân ông, một con
người sinh ra đời, đi tìm chân lý, đi tìm sự thật đã thấy sự thật, chân
lý mà không dám vô! Bởi vì đi vào thì sẽ bị tù, sẽ bị bắt sẽ bị giết.

Nhà văn Trần Mạnh Hảo

Cả bài “Đi tìm cái tôi đã mất” của ông Nguyễn Khải cuối cùng ông ấy kết luận là: Đảng cộng sản nên trả chính quyền cho nhân dân, đã cướp chính quyền của nhân dân rất lâu rồi hãy trả lại cho nhân dân cái quyền đã đánh mất. Các quyền tự do, dân chủ tất cả phải trả lại cho dân. Ông ấy còn nói về thân phận đau đớn của người cầm bút trong chế độ cộng sản mà không dám nói lên sự thật.

Sự thật nó đến nhà nó ở trong tâm hồn mình. Chân lý nó nằm trong tâm hồn mình mà mình sợ, mình run rẩy không dám nhận nó. Mình run rẩy bảo nó cút đi vì nói ra bị tù bị tội rồi vợ con sống làm sao? Đi ăn mày à?

Cả cuộc đời ông Nguyễn Khải ông ấy viết trong sự sợ hãi. Ông ấy bảo làm người mà như con gián thì làm sao thành người được? Nếu quý vị đọc bài này của Nguyễn Khải thì quý vị thấy cái đau đớn vô cùng của người cầm bút trong chế độ cộng sản. “Đi tìm cái tôi đã mất” là một bài viết tôi cho là rất trí thức, rất uyên bác, rất hay. Nói về thân phận của người cầm bút trong một chế độ toàn trị. Trong một chế độ mà không ai dám nghĩ đến sự thật, chân lý. Vì nghĩ đến sự thật, nói đến chân lý thì sẽ bị giết. Đấy là bi kịch lớn của chúng ta trong giai đoạn vừa qua.

nguyen-khai-180.jpg
Nhà văn Nguyễn Khải. Photo courtesy of Quê Choa.

Mặc Lâm: Theo chúng tôi biết thì trước đây ông Nguyễn Khải rất thân tình với ông, có kỷ niệm gì giữa hai ông mà ông cảm thấy cần chia sẻ với thính giả hôm nay hay không?

Trần Mạnh Hảo: Tôi là người đã từng là đàn em thân thiết của Nguyễn Khải. Có những năm ông Nguyễn Khải vào Sài Gòn ở ba tháng trời trong nhà tôi và khi tâm sự với tôi thì ông ấy không nói dối điều gì cả. Ông nhận ra tất cả mọi cái nhưng không dám viết ra. Ông ấy tâm sự với tôi và ổng khóc. Lúc ấy Sài Gòn mới giải phóng vài ba năm ông ấy vào nhà tôi tại một chung cư văn nghệ sĩ ở Sài Gòn. Ông ấy ở với tôi, có ông Lê Lựu nữa.

Có những đêm anh em tâm sự với nhau mà ổng khóc. Bởi vì con người ông Nguyễn Khải có học ổng đọc sách, tiểu thuyết tiếng Anh tiếng Pháp thoải mái và ổng rất uyên bác. Một con người như thế thì họ đau đớn là phải, vật vã là phải thôi. Phải viết những điều mình không muốn bởi viết những điều mình muốn mình tâm huyết thì không được in mà có in ra thì cũng tai bay vạ gió.

Cho nên ông Nguyễn Khải đau cái đau thân phận làm con người trong một chế độ toàn trị, không cho người ta tự do viết, trong khi mình là người cầm bút là nhà văn.

Ông bảo nhục nhã lắm, đau đớn lắm. Những bài viết như “Nghĩ muộn”, “Đi tìm cái tôi đã mất” Nguyễn Khải viết để trối lại cho đời sau, đọc thấy cay đắng và đau đớn vô cùng.

Mặc Lâm: Xin chia sẻ một điều tôi rất lấy làm lạ là tại sao Trần Mạnh Hảo lại nói được, chẳng hạn như bây giờ, mà Nguyễn Khải lại không nói được? Có phải giai đoạn này nới lỏng tự do ngôn luận hơn hay chăng?

Đau đớn như vậy, chết rồi mới dám nói ra sự thật, chết rồi mới dám sám hối. Đấy là một bi kịch đau đớn của người cầm bút.

Nhà văn Trần Mạnh Hảo

Trần Mạnh Hảo: Nguyễn Khải không ở trong tư thế nói như tôi được vì tính cách của ông ấy khác. Ông ấy theo cộng sản từ năm 45 đến giờ và đã đi hết cuộc đời rồi cho nên ông ấy muốn nói với hậu thế cái điều thật nhất của ông ấy. Ổng viết ra rồi ông bảo gia đình ổng sau khi ổng chết thì mới công bố.

Trong đám tang của Nguyễn Khải thì người ta mới biết bài viết của ảnh, được gửi cho những người trong đám tang và họ đưa lên mạng. Đau đớn như vậy, chết rồi mới dám nói ra sự thật, chết rồi mới dám sám hối. Đấy là một bi kịch đau đớn của người cầm bút.

Nếu anh không có lương tri anh cứ cầm bút như một bồi bút thì suốt cuộc đời anh không biết hổ thẹn, anh không biết ân hận thì những người đó tôi không bàn đến.

Mặc Lâm: Thưa ông Trần Mạnh Hảo rất tiếc là thời gian của chúng ta hôm nay không còn nữa, chúng tôi biết một nhân vật nữa mà thính giả chúng ta đang chờ nghe vì sự có mặt của ông ta dưới mái nhà trường của cả hai miền Nam và Bắc Việt Nam. Ông là một hiện tượng trong phong trào thơ Mới và sáng tác khi tuổi còn rất trẻ. Chỉ 16 tuổi ông ta đã nổi lên như một ngôi sao sáng qua tập thơ “Điêu Tàn” với bút hiệu cũng lạ lùng và ấn tượng là Chế Lan Viên.

Xin đề nghị chúng ta sẽ dành một chương trình đặc biệt để nói về nhà thơ Chế Lan Viên, về những sáng tác sau cùng của ông với những nhận thức mà theo nhiều người cho rằng một sự sám hối với chính mình. Xin cám ơn nhà văn Trần Mạnh Hảo về chương trình hôm nay, xin cám ơn quý vị thính giả đã quan tâm theo dõi

Sám hối

Đại Nghĩa - Báo Mai

image

Trong lần nói chuyện với Mặc Lâm đài RFA nhà văn Trần Mạnh Hảo người đã bị cho ra khỏi đảng CS và đuổi khỏi biên chế nhà nước nói về “Hiện tượng sám hối”của những người cộng sản phản tỉnh đã giác ngộ trước những việc làm sai lầm trong quá khứ, có người đã can đảm sửa sai, có người mới chỉ dám nói lên sự thật, nhưng dù sao họ cũng đã nói lên được cái sai của họ để cho mọi người suy ngẫm. Và nhà văn Trần Mạnh Hảo phân tích:

image

Trần Mạnh Hảo

“Theo tôi thì chuyện người ta già, người ta về hưu, khi nhìn thấy cõi chết thì người ta thường quay lại kiểm điểm cuộc đời và con người dù tàn ác đến đâu thì tạo hóa cũng cho một chút xíu lương tâm có thể nó đã ngủ quên cả cuộc đời nhưng khi về già, khi gần chết thì nó thức tỉnh. Chút xíu đom đóm lương tâm đó lập lòe trong tâm hồn con người mà cả đời họ làm ác, có thể nó thức tỉnh, nó làm cho người ta ân hận sám hối cho nên người ta nói lên sự thật, nói lên những điều thật nhất mà suốt đời không có cơ hội để nói…

image

Nguyễn Văn An

“Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An là một người suốt cuộc đời theo cách mạng, theo cộng sản nhưng khi nghĩ hưu rồi thì cũng phải nói lên sự thật. Thà ông như vậy tôi có thể trọng ông ấy hơn là những người cứ câm miệng suốt cả cuộc đời vì lương tri trong người họ không trổi dậy. Nói cho cùng khi lương tri không thức tỉnh trong tâm hồn họ thì họ sống cả cuộc đời không lương tri, không lương thiện”. (RFA o­nline ngày 7-1-2012)

Thi sĩ Chế Lan Viên, trong cuộc đời đi theo cách mạng đã là một người tích cực tạo ra cái nghiệp là có biết bao người vì nghe lời ông khuyến dụ nên đã bỏ thây nơi chiến địa mà công trạng của họ sau này không được ai đoái hoài. Nhà thơ đã bị mặc cảm tội lỗi ray rứt.

image

“Có một điều đáng kinh ngạc là Chế Lan Viên có thể là người duy nhất thừa nhận rằng do những dòng thơ tuyên truyền ca tụng của ông mà hàng ngàn con người đã chết trong Mậu Thân. Đây có thể nói chính xác là lời sám hối của một người có lương tri dám nhìn sự thật về tác hại của những lời giả dối của mình trong thơ ca…

“Ai? Tôi!

Mậu Thân 2.000 người xuống đồng bằng

Chỉ một đêm, còn sống có 30

Ai chịu trách nhiệm về cái chết 2.000 người đó?

Tôi!

Người viết những vần thơ cổ võ”.

(Thơ của CLV)

(RFA o­nline ngày 12-1-2012)

Cũng trong trận tổng tấn công Tết Mậu Thân ở Huế năm 1968, Lê Minh, người tư lệnh chiến trường đã có can đảm nhìn nhận trách nhiệm, nhưng rồi không biết ông Lê Minh có nhận hình phạt nào tương xứng với tội lỗi của mình bằng hành động cụ thể hay chỉ có sự cắn rứt của lương tâm với vài dòng trong hồi ký!?

image

“Tôi thấy cần phải nói đến một điều đáng buồn. (Về) Sự tang tóc trong biến cố Mậu Thân (…) Còn lại một mặt của vấn đề, việc trừng trị những người có tội ác với nhân dân (sic) đã nổi dậy. (…) Rốt cuộc là đã có những người bị xử oan trong chiến tranh. Dù lý do thế nào trách nhiệm vẫn thuộc về lãnh đạo, trong đó có trách nhiệm của tôi”. (Đàn Chim Việt o­nline ngày 26-3-2008)

Có những người khi còn trẻ đã hăng hái theo đảng CSVN như ông Nguyễn Hộ, từng là một đảng viên kỳ cựu thấy rằng cái đảng mà mình tích cực phục vụ đã không như hoài bão của mình lúc tham gia nên sau khi về hưu ông cùng một số đồng chí thành lập “Câu Lạc Bộ Những người Kháng chiến cũ” ở Sài Gòn lên tiếng chỉ trích chính quyền cộng sản nên đã bị bắt, khi được thả ra ông tuyên bố từ bỏ đảng. Trong lời mở đầu cuốn “Quan điểm và cuộc sống” ông viết:

“Tôi làm cách mạng trên 56 năm, gia đình tôi có hai liệt sĩ…, nhưng phải thú nhận rằng chúng tôi đã chọn sai lý tưởng: cộng sản chủ nghĩa. Bởi vì suốt 60 trên con đường cách mạng cộng sản ấy nhân dân Việt Nam đã chịu hy sinh quá lớn lao, nhưng cuối cùng chẳng được gì, đất nước vẫn nghèo nàn lạc hậu, nhân dân không có ấm no và hạnh phúc, không có dân chủ tự do. Đó là điều sỉ nhục”. (RFA o­nline ngày 4-7-2009)

image

Cụ nhạc sĩ Tô Hải, một nhạc sĩ tài hoa với “Nụ cười sơn cước” sau bao nhiêu năm là một đảng viên tích cực “dối mình, dối người” cảm thấy mình hèn nên cụ đã giải bày tâm sự trong “Hồi ký của một thằng hèn” và sửa lỗi bằng việc cụ đã tích cực viết bài “xét lại chống đảng” vì cụ cho rằng:

“Còn tôi, ở cái tuổi ngoài 70, chẳng còn gì để mất, lại được sự cổ vũ của một số lớn bạn bè , tôi cứ “nổ” khi có điều kiện….55 năm miệng bị lắp khóa kéo, nay đã già, đã về hưu, có chia xẻ với bạn đọc những hồi ức của đời mình thì cũng chẳng cần phải e ngại các lời o­ng tiếng ve rằng mình vì tư lợi, muốn kiếm chác cái gì đây”. (HKCMTH trang 53)

image

“Quan trọng hơn, tôi đã nhận ra cái nhục của một thằng suốt đời ăn theo, nói leo, nói dối, đã nhìn thấy bộ mặt thật của cái chủ nghĩa bất lương mà tôi đi theo một cách vô tình và bất đắc dĩ, không dám rời bỏ nó”. (HKCMTH trang 301)

Bằng ý thức và hành động phản tỉnh tích cực nhất là luật gia Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó chủ tịch MTTQ Tp Sai Gon, ngày trước ông đã tham gia “cách mạng” chống lại chính quyền Sài Gòn, nhưng rồi sau 45 năm theo đảng CS ông đã “sám hối” qua bài viết “Ai biến chất chính trị…” với lời thống thiết như sau:

“Viết đến đây, tôi cảm khái ngước mặt lên trời và than rằng: “lịch sử ơi, sao chơi trò trớ trêu và cay đắng quá vậy. Ta đi chống chế độ cũ đàn áp nhân dân, nay ta lại gặp cảnh cũ như là trong cơn ác mộng!…

“Nhân dân Việt Nam trải qua biết bao hy sinh của các thế hệ để mong ước có một chế độ xã hội tốt đẹp hơn nhưng nay lại có nhiều điều còn tệ hơn chế độ cũ”. (Bauxite Việt Nam o­nline ngày 2-5-2012)

image

Sau khi ông Lê Hiếu Đằng viết bài “ Suy nghĩ trong những ngày nằm bệnh” thì liên tiếp bị các cây viết “lề đảng” hè nhau đánh hội đồng túi bụi mà điển hình là Thơ ký tòa soạn báo Đại Đoàn Kết Hà Trọng Nghĩa qua bài “Khi người bệnh sám hối”:

“Không ai muốn bệnh, nhưng nếu “sám hối” trên giường bệnh một cách tiêu cực sẽ là rất không nên”. (Báo Mới o­nline ngày 23-8-2013)

Và Linh Nghĩa, của báo Công An o­nline thì cho rằng:

“…ông Lê Hiếu Đằng gọi hành động sám hối của mình là “Tính sổ” với đảng CSVN…

“Nội dung đoạn này chủ yếu Lê Hiếu Đằng kể về “lòng yêu nước của mình” nhưng thực chất là sám hối…

“Tự mãn về thành tích trong quá khứ, phủ nhận, bỏ qua thành quả cách mạng, sự hy sinh của đồng bào, đồng chí, ca ngợi chế độ cũ, sám hối về chính trị, chia rẽ nội bộ lãnh đạo đảng…” (CANDonline ngày 24-8-2013)

image

Cùng một tâm trạng với những người đã từng tham gia vào đảng CSVN, ông Nguyễn Trung, nguyên Đại sứ của CSVN tại Thái Lan và Úc trả lời phỏng vấn của hai phóng viên Lê Ngọc Sơn và Phương Loan đăng trên tờ Sinh Viên Việt Nam ngày 26-12-2008 bày tỏ nỗi lòng như sau:

“Nếu được phép nói thẳng thắn suy nghĩ của tôi về chính thế hệ mình, xin thưa: Trong sự chuẩn bị cho thế hệ trẻ hôm nay trước thách thức mới của đất nước, thế hệ đi trước – trong đó có tôi – đã phạm nhiều lỗi lầm, làm cho thế hệ trẻ ngày nay của đất nước ta bị chậm trễ. Cá nhân tôi thực sự ăn năn về điều này.

“Tôi cho rằng thế hệ chúng tôi đã phạm không ít lỗi, do nhiệt tình cách mạng, do sự bất cập”. (Người Việt ngày 31-12-2008)

Hai anh em ông Huỳnh Nhật Hải, Phó chủ tịch UBND Tp Đà Lạt và Huỳnh Nhật Tấn, Phó giám đốc trường đảng CS Lâm Đồng, là gia đình có truyền thống cách mạng, nhưng sau bao nhiêu năm tham gia hai ông đã thấy được sự sai lầm của mình nên đã từ bỏ đảng CS và đã tâm sự với Bác sĩ Phạm Hồng Sơn như sau:

image

Huỳnh Nhật Hải: “Bây giờ nhìn lại con đường chúng tôi đã đi trước 1975 là một con đường sai lầm. Sự nhiệt huyết lúc đó của chúng tôi đã đem lại bất hạnh hơn là hạnh phúc cho dân tộc”.

Huỳnh Nhật Tấn:“Tôi có lỗi với dân tộc. Chính cái hăng hái, nhiệt huyết của tôi đã góp phần dựng nên chế độ độc tài hiện nay, đã vô tình đem lại sự đau khổ hiện nay…tôi cũng đã vô tình góp công sức đưa những người mang danh “cách mạng” nhưng thực chất là vì quyền lực tới phá bỏ một chế độ đã được xây dựng trên những căn bản về tự do, dân chủ và nhân bản tại miền Nam Việt Nam”. (Dân Làm Báo o­nline ngày 29-4-2012)

Hiện tượng sám hối trong đảng CS được TBT Nguyễn Phú Trọng đặc biệt quan tâm nhất là trong bài phát biểu về xây dựng, chỉnh đốn đảng mà ông đọc ở Hà Nội ngày 27-2-2012 như sau:

“Có người công khai bày tỏ ý kiến trái với Cương lĩnh, Điều lệ đảng, làm trái nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng, thậm chí có người “sám hối”, “trở cờ”, tình trạng tham nhũng, quan liêu, xa dân, tổ chức không chặt chẽ, nhiều nguyên tắc của đảng bị vi phạm”.(Bauxite Việt Nam o­nline ngày 29-2-2012)

Theo nhà văn Trần Mạnh Hảo thì có những quan chức cao cấp khi còn đương chức đương quyền thì ngậm miệng chẳng dám nói ra, khi về hưu nhưng lương tâm còn cắn rứt nên mới dám thốt lên lời sám hối muộn màng. Những người cộng sản tử tế thì đã sám hối, còn đảng cộng sản thì chưa, Phó thủ tướng Trần Phương nêu thắc mắc:

image

Trần Phương

“Nhưng đảng cộng sản của chúng ta từ khi sinh ra đến giờ toàn nói dối mà không biết tại sao đảng không biết ngượng, không biết xấu hổ, không biết sám hối?”. (RFA o­nline ngày 7-1-2012)

Đại Nghĩa

Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Giang đề nghị

"Ðảng Cộng Sản Việt Nam phải sám hối

để tạ tội với nhân dân"

Nguyễn Thanh Giang: "Ðảng CSVN phải sám hối, tạ tội với nhân dân"

Hà Nội (2/11/2000) "Ðảng Phải Tạ Tội, Xóa Cảnh Khốn Cùng Của Ðất Nước -- Ðảng CSVN phải sám hối, tạ tội với nhân dân, để mau chóng xóa đi cảnh khốn cùng của đất nước." Ðó là lời kêu gọi của một trí thức Hà Nộị Bản văn do nhóm Nối Kết gửi ra hải ngoại hôm Thứ? Năm, 2/11/2000, như sau:

Ðảng CSVN cần phải thực tế, phải nhìn nhận và sáng suốt dứt bỏ những sai lầm quá khứ, "mau chóng xoá đi cảnh cùng khốn, nỗi tủi nhục của dân tộc tạ.. để tạ tội với nhân dân". Ðó là mong muốn của nhà trí thức Nguyễn Thanh Giang phản ánh qua bài "bàn luận góp ý Dự thảo các văn kiện trình Ðại hội IX của Ðảng", được viết bằng sự trăn trở của ông dù không chắc rằng lãnh đạo Ðảng CSVN sẽ tham khảo tiếp thu nghiêm túc. Nối kết trân trọng gửi đến các bạn.

Góp y頭 Dự thảo các văn kiện trình Ðại hội IX của Ðảng Ðôi điều bàn luận về "Chiến lược phát triển kinh tế, xã hội 2001 - 2010". Ðánh giá tổng quát thành tựu phát triển kinh tế - xã hội 10 năm qua, những dòng sau đây có lẽ dễ nhận được sự tán thưởng rộng rãi: - "Nền kinh tế có bước phát triển mới về lực lượng sản xuất... và hội nhập kinh tế quốc tế, tăng được thế và lực hơn hẳn 10 năm trước, khắc phục một bước tình trạng nghèo và kém phát triển" (trang 55). Trong đó, những biểu hiện cụ thể là: "Tổng sản phẩm trong nước sau 10 năm tăng gấp đôị Tích luỹ nội bộ của nền kinh tế từ mức không đáng kể đến năm 2000 đã đạt 25% GDP. Từ tình trạng khan hiếm, sản xuất không đáp ứng được nhu cầu thiết yếu, nay đã đảm bảo đủ lương thực, thực phẩm, nhiều loại hàng tiêu dùng, có dự trữ xuất khẩu ngày càng tăng... Cơ cấu nền kinh tế có bước dịch chuyển tích cực... Các thành phần kinh tế khác phát triển khá nhanh... Từ chỗ bị bao vây, cấm vận, nước ta đã... từng bước hội nhập có hiệu quả với kinh tế thế giới, bình thường hoá... với các tổ chức tài chính quốc tế... Nhịp độ tăng kim ngạch xuất khẩu gần gấp ba nhịp độ tăng GDP... Tỷ lệ hộ nghèo (theo tiêu chuẩn của nước ta) giảm từ trên 30% xuống 11%... Tỷ lệ tăng dân số giảm từ 2,31% xuống 1,53%" (trang 54). Tuy nhiên "Bên cạnh những thành tựu, vẫn còn những ặt yếu kém, bất cập, chưa đáp ứng tốt yêu cầu phát triển, chưa tương xứng với tiềm năng của nhân dân và đất nước" (trang 55).

Thật vậy, dù thành tích 10 năm qua có lớn đến bao nhiêu thì tính đến nay ta vẫn là một trong vài mươi nước nghèo nhất thế giớị Không biết dự thảo văn kiện tính theo tiêu chuẩn nào chứ nếu tính rằng thu nhập dưới 80.000đ/người/tháng cho vùng nông thôn, hải đảo, miền núi; thu nhập dưới 100.000đ/người/tháng cho vùng đồng bằng thì con số người nghèo đến mức làm cả tháng không đủ mua nửa chai rượu ngoại trong bữa tiệc của các "quan tham" đang chiếm khoảng ? dân số. Nếu tính theo tiêu chuẩn của Liên Hiệp Quốc (dưới 14.000 đồng/ngày) thì phải đến quá nửa dân số nước ta còn thuộc diện khổ nghèọ Nói là - "đã bảo đảm đủ lương thực, thực phẩm", nhưng thực tế, đến đầu 1999, ở miền núi và các tỉnh Miền Trung vẫn có 2,3 triệu người thiếu đói; và đến nay vẫn còn tới 1.700 xã đặc biệt khó khăn, trong đó nhiều vùng thiếu ăn tới 4-5 tháng.

Cho nên, phải bàn bạc nghiêm túc lắm về một chiến lược phát triển thì mới mong thoát khỏi cảnh cùng khốn, tủi nhục nàỵ Mau chóng xoá đi cảnh cùng khốn, nỗi tủi nhục này là để ta tạ tội được với nhân dân, với một đất nước đầy tiềm năng thiên nhiên và nguồn lực trí tuệ mà suốt mấy thập kỷ qua chịu đoạ đầy trong nghịch cảnh phi lý hết sức đau lòng, chứ không phải chỉ vì lo lắng như dự thảo:

"...Sự tụt hậu xa hơn về trình độ phát triển kinh tế so với các nước xung quanh sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới niềm tin của nhân dân, sự ổn định chính trị..." (trang 58). Suy ngẫm nghiêm túc mà xem. Tại sao lại chỉ đặt vấn đề lo toan và tìm phương kế để làm cho dân tin hay không tin? Tại sao lại chỉ quan tâm ổn định chính trị? Kiểu tư duy bao giờ cũng chỉ xuất phát từ chính quyền, từ lãnh đạo, từ những chiếc ghế như vậy quả là ngược với đạo lý do dân, vì dân.

Chiến lược phát triển kinh tế -xã hội cho 10 năm đầu của thế kỷ XXI được dự thảo vạch ra bằng dòng chữ đậm là:

"Chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp" (trang 53).

Nghe thì trang trọng và hùng hồn đấy, nhưng liệu rồi có đạt được không?, và, nếu đạt được như vậy thì có đáng hài lòng không?

Thứ nhất, nếu còn tiếp tục đeo đẳng cái đuôi "định hướng xã hội chủ nghĩa" thì chắc là không đạt được.

Thứ hai, chỉ đạt được như vậy thì khoảng cách tụt hậu của ta so với thế giới lại càng xa hơn. Phải chăng tiêu chí được vạch ra như trên là cốt phải phù hợp với "Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội". Bởi vì, Cương lĩnh đã hoạch định: "Khi kết thúc thời kỳ quá độ, hình thành về cơ bản nền kinh tế công nghiệp..." (Cương lĩnh trang 12). Phán quyết nghe rất tiên trị Nhưng, biết đến lúc nào và, như thế nào thì là "kết thúc thời kỳ quá độ"? Trung Quốc bảo 100 năm. Việt Nam bảọ.. có thể lâu hơn nữa!

Công nghệ tin học phát triển rầm rộ đang thúc đẩy thế giới mau chóng bỏ lại sau lưng Thời đại Công nghiệp để tiến bước vào Thời đại Thông tin. Sự xuất hiện những mầm mống của nền kinh tế tri thức đang được so sánh với sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghiệp vào thế kỷ 18 - 19. Ở Bắc Mỹ và một số nước Tây Âu, nền kinh tế tri thức đã bắt đầu hình thành. Trong các nước OECD kinh tế tri thức đã chiếm hơn 50% GDP. Cho nên, nhiều người dự đoán vào khoảng năm 2030 nền kinh tế ở các nước phát triển đều sẽ trở thành kinh tế tri thức. Không chỉ Mỹ khẩn trương chuyển nhanh sang kinh tế tri thức, Nhật Bản nỗ lực nâng cấp các cơ sở nghiên cứu khoa học công nghệ, đầu tư sâu vào chương trình nghiên cứu nano, Singapore tập trung ưu tiên phát triển công nghệ điện tử, tin học và tự động mà nhiều nước đang phát triển cũng bàn bạc về khả năng và quyết tâm tiến thẳng từ kinh tế nông nghiệp tới kinh tế tri thức. Họ noi theo tấm gương của Phần Lan. Cách đây 50 năm, Phần lan còn là một nước nông lâm nghiệp. 70% dân số trong nước làm nông nghiệp. Ðại bộ phận diện tích lãnh thổ là rừng và đầm lầy nên lâm nghiệp đóng vai trò chủ yếu trong kinh tế quốc dân. Vậy mà nay lao động nông nghiệp chỉ còn 6%, kinh tế rừng chỉ chiếm 3% GDP. Từ nền kinh tế nông nghiệp, Phần Lan đã tiến thẳng vào kinh tế tri thức và đang đứng đầu thế giới về tỷ lệ số người sử dụng internet và điện thoại di động. Không chỉ Phần Lan, thực tế cho thấy nhiều nước đang phát triển biết vạch ra đường lối đúng, chỉ sau vài ba chục năm đã bứt lên thành nước công nghiệp mới.

Do bị ràng buộc chặt chẽ với ý chí cố cựu đã được thể hiện rất đanh thép: "Chúng ta một lần nữa khẳng định: Ðảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa" (trang 15), cho nên dự thảo vẫn phải chủ trương: "Ðẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ... xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng quan trọng" (trang 18), "... phát triển thêm một số doanh nghiệp mà nhà nước cần đầu tư 100% vốn... Xây dựng và củng cố một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước" (trang 24), "hình thành các cụm công nghiệp lớn" (trang 66), Thế nào là một nền kinh tế độc lập tự chủ?

Ðối với người Việt Nam, hai chữ độc lập thật là thiêng liêng. Thiêng liêng đến mê mẩn. Cho nên, khi đứng lên làm cuộc Cách mạng Tháng Tám ta nghĩ rằng độc lập là tiền đề tiên quyết và tất yếu của tự do, của hạnh phúc. Và ta viết: độc lập, tự do, hạnh phúc. Lâu dần ý niệm thiêng liêng đó bị lạm dụng đến nỗi làm cho người ta mê mẩn độc lập mà sẵn sàng quên đi cả tự do, hạnh phúc. Trong lịch sử cận hiện đại không có dân tộc nào trên thế giới giành giật độc lập bằng cái giá núi xương sông máu kinh khủng và cay đắng như Việt Nam. Tiếc rằng, khi ta giành được trong tay rồi thì ý nghĩa và những giá trị của hai chữ độc lập lại không còn tồn tại như xưa nữa! Nội hàm của độc lập ngày nay không còn kết đọng trong cái trọng số tự lực, tự cường mà đã hợp vào không gian hội nhập, hoà đồng thoáng đãng. Không còn tĩnh mà đã trở nên rất động. Không chỉ là hạt mà còn là sóng.

Nền kinh tế thế giới hiện đại đang được cấu trúc thành một mạng toàn cầụ Về bản chất, mạng được cấu trúc ngang, khác căn bản với các nền kinh tế trước đây vận động trong cấu trúc hình tháp. Do các chất liệu phát triển cơ bản đã khác trước, đặc trưng của mạng cấu trúc này là thời gian ngắn lại, không gian thu hẹp và các đường biên giới nhoà dần. Dưới tác động của toàn cầu hoá, tư duy truyền thống về độc lập chủ quyền, về an ninh quốc gia đã thay đổi.

Các cường quốc đang gạt dần tham vọng về quân sự , về chính trị và về lãnh thổ để nhằm tới xâm chiếm các hợp phần trong tổng sản phẩm quốc tế. Lợi ích kinh tế trở thành động lực chủ yếu của các tập hợp lực lượng trong các khu vực và trên phạm vi toàn cầụ Quan hệ tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nước về kinh tế ngày càng phát triển, các thể chế kinh tế toàn cầu ngày càng hoàn thiện.

Do hàng rào thuế quan và phi thuế quan bị bãi bỏ dần, biên giới kinh tế của các quốc gia dường như bị xoá trước sự xuất hiện một nền kinh tế toàn cầu không biên giớị Trong điều kiện đó, một nền kinh tế hướng nội, chủ trương tự cung tự cấp mọi nhu cầu thiết yếu, ra sức chống lại sự lệ thuộc quốc tế một cách mù quáng sẽ không thể đứng vững. Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Bắc Triều Tiên vốn kiên trì con đường này và đến 1997 vẫn còn kiêu hãnh không bị tác động bởi cơn khủng hoảng tài chính khu vực dữ dội. Song, đến nay cảnh bần hàn xơ xác đã dẫn đến hồi nguy kịch đang buộc họ phải thức tỉnh.

Mở rộng cửa hội nhập, quyết chí cạnh tranh là con đường duy nhất để sống còn và vươn tới vinh quang. Hùng cường như nền kinh tế Mỹ mà vẫn bị các quốc gia khác ép phải mở cửa thị trường, ép mua dầu mỏ giá cao. Ðấy là lẽ thường, là tác nhân bình đẳng đáng trân trọng của toàn cầu hoá. Nhỏ bé như Singapore, thiếu vắng hầu như hoàn toàn ngành công nghiệp nặng, nhập khẩu hầu hết các loại nguyên, nhiên liệu, kể cả nước ngọt (nhập khẩu 100% từ Malaysia). Vậy mà nền kinh tế Singapore vẫn phát triển mạnh và không thể nói là không độc lập tự chủ.

Có nên khăng khăng quyết tâm - "phát triển thêm một số doanh nghiệp mà nhà nước cần đầu tư 100% vốn" - không, khi mà khối doanh nghiệp nhà nước đã sản sinh ra khoản nợ khổng lồ 200.000 tỷ đồng, gần bằng một nửa GDP? ; khi mà, trong số 13.000 lao động thuộc Công ty Gang Thép Thái Nguyên, chỉ 4.000 người gọi là có việc làm, với đồng lương chết đói trung bình 100.000 đồng/người/tháng?

Có nên "Xây dựng và củng cố một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước " không, khi mà ngay cả ở Mỹ hiện tượng siêu sát nhập các công ty xuyên quốc gia chỉ thản hoặc trong khi việc chia tách các công ty lớn thành nhiều công ty nhỏ để thích nghi với môi trường của nền kinh tế tri thức đang trở thành xu hướng chung nổi lên mạnh mẽ.

Công ty điện báo, điện thoại Mỹ bị chia thành 8 công ty con và 22 công ty cháụ Công ty IBM bị chia thành 13 công ty nhỏ. Trên 90% số công ty ở Mỹ là công ty nhỏ. Nhờ vào hệ thống mạng internet các công ty nhỏ này hoạt động linh hoạt hơn, hiệu quả hơn vì dễ dàng chuyển hoá, thích ứng kịp thời với sự xuất hiện thường xuyên những công nghệ mới, sáng chế mới.

Có nên vội vã "hình thành các cụm công nghiệp lớn", "các mạng lưới đô thị với một số ít thành phố lớn, nhiều thành phố vừa và hệ thống đô thị nhỏ" không, khi mà bản chất cấu trúc mạng của kinh tế thế giới mới gắn với quá trình phi tập trung hoá cấu trúc. Các đô thị khổng lồ ngoài sự ngột ngạt, bức bối vì tốc độ ô nhiễm môi trường thiên nhiên và xã hội cao, không còn là cấu trúc không gian cần thiết cho phát triển bởi vì công việc chủ yếu của xã hội sẽ là sản xuất tri thức, được tiến hành trong môi trường tự động hoá cao trên cơ sở mạng thông tin, với các công cụ chính là máy vi tính nối mạng. Vội vã hình thành các cụm công nghiêp lớn, các mạng lưới đô thị đồ sộ phải chăng chẳng qua là biểu hiện rơi rớt của quy mô đại công nghiệp, của ý chí luận bốc giời.

Dẫu sao, so với các văn kiện đại hội trước, kỳ này đã xuất hiện những chủ trương mới rất hay: "Phát triể n mạnh công nghệ phần mềm phục vụ tốt yêu cầu trong nước và trở thành lĩnh vực xuất khẩu quan trọng" (trang 59) "Phát triển mạnh các ngành công nghiệp công nghệ cao, nhất là công nghệ thông tin, viễn thông, điện tử. Chú trọng phát triên công nghiệp sản xuất phần mềm thành một ngành kinh tế mũi nhọn, có tốc độ phát triển vượt trội" (trang 66) "Hoàn thành xây dựng những khu công nghệ cao và hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia" (trang 22) "Có chính sách phát huy thế mạnh về trí tuệ của người Việt Nam, tiếp thu một cách sáng tạo những công nghệ nhập, từng bước tạo ra công nghệ mới, đẩy mạnh việc hợp tác về công nghệ với các nước" (trang 22). "Mở mang các làng nghề, điểm công nghiệp và khu công nghiệp nhỏ..., chú trọng phát triển các đô thị và các trung tâm văn hoá cụm xã" (trang 118) "Chuyển một phần các doanh nghiệp gia công như may mặc, da giàỵ.. và chế biến nông sản ở thành phố về nông thôn" (trang 65).

Những chủ trương trên thể hiện được một phần đường lối đúng đắn trên con đường vươn tới kinh tế tri thức, hiện đại hoá nông thôn. Tuy nhiên, nếu đã hoạch định chi tiết đến mức như: "Giá trị sản lượng nông nghiệp (kể cả thuỷ sản, lâm nghiệp) tăng bình quân hàng năm khoảng 4,5%. Duy trì khoảng 4 triệu ha đất trồng lúạ.." (trang 65) thì sao lại không hoạch định cụ thể kế hoạch xây dựng hạ tầng công nghệ thông tin. Cần phấn đấu xây dựng được mạng xa lộ thông tin, kết nối với tất cả các trường học, các cơ quan, các xí nghiệp và phần lớn các hộ gia đình vào trước năm 2010.

Phù hợp với những chủ trương kinh tế đúng đắn đó là những chủ trương mới khá hay về giáo dục: "Xây dựng hệ thống giáo dục thường xuyên, đào tạo liên tục cho mọi lứa tuổi, mọi ngành nghề, tạo môi trường học tập cho toàn xã hội với các hình thức đa dạng" (trang 22). "Tạo điều kiện cho mọi người, ở mọi lứa tuổi học tập liên tục, suốt đời trong môi trường giáo dục lành mạnh" (trang 79), "Ðổi mới phương pháp dạy và học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người học, coi trọng thực hành" (trang 79), "Coi trọng việc đào tạo đội ngũ công nhân tay nghề cao, kỹ sư thực hành và nhà kinh doanh giỏi" (trang 79).

Ðúng vậy, cần quan tâm thực sự và đề cao hơn nữa vấn đề giáo dục và đào tạọ Cách đây 40 năm, các nhà lãnh đạo Mỹ đã tuyên bố: "Trong cuộc cạnh tranh giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, sự thành công hay thất bại được quyết định ở các trường đại học Mỹ. Ðây là một trong những mặt trận chính, đảm bảo sức mạnh và khả năng đứng vững của một quốc gia". Quả nhiên, ngày nay khoảng cách giầu nghèo giữa các quốc gia phụ thuộc chủ yếu vào tri thức. Càng rút ngắn khoảng cách tri thức bao nhiêu, càng thu hẹp được sự chênh lệch giầu nghèo.

Cần "Tạo điều kiện cho mọi người, ở mọi lứa tuổi học tập liên tục, suốt đời", cần "Coi trọng việc đào tạo đội ngũ công nhân tay nghề cao", cần "coi trọng thực hành"; nhưng dứt khoát không nên "Ðẩy mạnh công tác giáo dục hướng nghiệp ở các trường phổ thông" (trang 146), Ðẩy mạnh giáo dục hướng nghiệp thiết thực trong trường phổ thông " (trang 79). Ðây quả là một chủ trương quái đản. Ðến nỗi nó từng thúc ép các trường phổ thông đua nhau mở hết xưởng mộc, xưởng cơ khí lại đi nung vôi, đóng gạch...! Chẳng nhẽ chỉ có mấy cái nghề cơ bắp đó là cao quý và cần thiết cho xã hội? Nếu không thì mỗi trường phổ thông cần "hướng" cho học sinh của mình bao nhiêu cái "nghiệp"?

Trong vòng 15 năm nay, Mỹ đã loại bỏ hơn 8.000 thứ nghề nghiệp cũ, trong khi hơn 6.000 ngành nghề mới đã nẩy sinh. Với sự bùng nổ thông tin và tiến trình luôn luôn đổi mới kiến thức, trong nền kinh tế tri thức, công nghệ mới, sáng chế mới thường xuyên xuất hiện. Bởi vậy, mô hình giáo dục truyền thống: đào tạo xong rồi cứ thế ra làm việc đến hết đời là không thể phù hợp. Ở trường chỉ đào tạo cơ bản, ra làm việc lại đào tạo, vừa đào tạo, vừa làm việc.

Ðề cập đến mục tiêu chung của sự nghiệp đào tạo giáo dục, dự thảo văn kiện đại hội VIII đã từng viết "Giáo dục công dân, giáo dục thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu nước, nuôi dưỡng hoài bão, ý chí vươn lên lập thân lập nghiệp, vì tương lai của bản thân và tiền đồ của đất nước. Giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục nhân văn và bản sắc văn hoá dân tộc". Lược đi những yếu tố mơ hồ, phù phiếm, dự thảo lần này viết thiết thực hơn "Tăng cường giáo dục thế hệ trẻ tinh thần yêu nước và tự tôn dân tộc, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, lòng nhân ái, ý thức tôn trọng pháp luật, hun đúc tinh thần hiếu học, chí tiến thủ lập nghiệp, không cam chịu nghèo hèn" (trang 79). Nếu bỏ bớt mấy chữ "lý tưởng xã hội chủ nghĩa" thì đây là một mệnh đề thật hay.

Mấy thiển ý này được viết bằng sự trăn trở rất công phu nhưng vẫn e rằng khó được tham khảo nghiêm túc và tiếp thu dù chỉ một vàị Dẫu thế nào đi nữa, một Hiệp định Thương mại khá toàn diện đã được ký kết giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, Tổng thống của một siêu cường đứng đầu thế giới tiên tiến lần đầu tiên sắp đến với Việt Nam.

Luồng gió lành đang thổi tớị Hãy sáng suốt dứt bỏ những sai lầm quá khứ để vượt vũ môn hoá rồng bay lên, tựa vào sức nâng toàn cầu mà phát huy nội lực.

Nguyễn Thanh Giang
Nhà A13 P9 TTPK Hoà Mục
Phường Trung Hoà - Quận Cầu Giấy

HÃY SÁM HỐI ĐI, HỠI NGƯỜI CỘNG SẢN!
Chu Tất Tiến
Repent, The Communists!
(Translated and elaborated by Thoai Lien)

Trong không khí của ngày Xuân vừa chớm
Nhớ lại những kinh hoàng của Tết Mậu Thân
Nhớ những sợi kẽm gai ghì xiết tay chân
Những nhát cuốc đập vào đầu ghê rợn
Tiếng đạn réo bên tai nhờn nhợn
Máu đổ loang ngay trước hiên nhà
Tiếng khóc mẹ già oà vỡ, vang xa
Không bảo vệ được con trai khỏi đạn
Thiếu nữ gò má hồng tươi sáng
Mới vừa đây còn tươi nở như Xuân
Đã lặng im, phơi da bụng trắng ngần
Loang loáng máu, máu đỏ au trinh nữ
Những nhóm sinh viên từng say mê con chữ
Chợt biến thành "nợ máu với nhân dân"
Để xếp hàng trước dẫy hố trước sân
Nhận viên đạn của lũ người-hồn-thú
Từ vườn hoa đến đồng hoang, gió hú
Từ bờ sông, bãi sậy, đến thành đô
Thây người ngổn ngang, cây gẫy, cọc xô
Máu cha, máu mẹ, máu chị, em loang mãi
Tiếng rú, tiếng gào át tiếng AKa kinh hãi
Ôi! Mùa Xuân hay Mùa Gặt Thây Ma?
Mùa của Vũ Trụ hay Mùa của Quỷ Ma?
Lũ quỷ đỏ sao vàng kia như ác thú
Chúng nhân danh Chủ Nghĩa kia hung dữ
Giết người như bắn chó, giết heo
Những "nhà thơ" của chế độ cũng gào theo:
"Giết! Giết mãi, bàn tay không phút nghỉ
Cho ruộng đồng tươi tốt, lúa lên bông!" (1)
Giờ đây, chúng dùng bàn tay sắt bọc nhung
Để cai trị đám nhân dân cùng quẫn
Trong thinh lặng của nỗi đau uất hận
Chục triệu dân cùng muốn thét lên câu:
Hãy sám hối đi! Hãy quỳ gối, gục đầu!
-Xin lỗi Mẹ vì con vô lương, bất hiếu
Không cần biết đến sử xanh đàm tiếu
Chỉ mưu đồ cướp đất, giành dân
Giành đặc quyền cho chính bản thân
Rồi cai trị trên ngai vàng, hoang phí
-Xin lỗi non sông, những kỳ hoa, thảo dị
Đã tan hoang, cầy sới thảm thê
Gỗ quý, cây ngàn chặt vứt ủ ê
Rừng vàng, biển bạc đã bốc hơi, thành cát
Sông ngòi xanh tươi đã trở thành bãi rác
Chất độc thấm quanh, cả thế kỷ không rời
-Xin lỗi Tổ Tiên, ôi, nước mắt nghẹn lời
Từng tấc đất máu xương Tổ Tiên gìn giữ
Đã bị bán cho ngoại bang, kẻ thù hung dữ
Để con yên thân huởng gái đẹp, ruợu ngon
Nhà đất mênh mông, hồ tắm, sân gôn
Tiền viện trợ, con đốt hoài không hết
-Xin lỗi các Mẹ già, ngồi run run chờ Thần Chết
Đến rước đi một kiếp ngựa trâu
Ngồi bán củ khoai, nải chuối, buồng cau
Mong có đủ bữa cơm-khoai cho cháu
Người vợ trẻ, mắt mở to, đầy gân máu
Ngủ không yên bên lũ trẻ thiếu ăn
Bán sức người quần quật quanh năm
Thân cò lả, oặt ngang, như tấm giẻ
Vú sữa khô trên trái tim đầy lệ
Khắc khoải mong con một bữa no đầy
-Xin lỗi các em, tuổi thơ, gió lay
Sống èo oặt như cỏ cây, như rác
Vạn, triệu nhà mồ côi buồn, nghèo quay quắt
Chờ một nụ cười thiếu vắng trên môi
Tuổi thơ, ôi, tuổi thơ không có tình người
Không tiếng mẹ dỗ, cha đùa, chạy nhẩy
Chỉ có bô rác với que khều, chất thải
Sống vật vờ tôm tép quanh ao
Bụng phình giun, chân lá sậy, xanh xao
Mở to mắt nhìn những chiếc xe lộng lẫy
Những xa hoa của Thiên đường nào đấy
Những lầu cao hoa lệ, vũ trường
Nơi học sinh biến thành gái ăn sương
Bán trinh tiết để trải trang học phí..
-Ôi! Xin lỗi, xin lỗi những công nhân bình dị
Lấy sức người mong sỏi đá thành cơm
Không hề mơ được ngửi nhánh hoa thơm
Bởi tối tối làm "vợ thuê" thiên hạ.
-Xin lỗi những cô gái quê tàn tạ
Muốn xa quê, làm nô lệ ngoại nhân
Đứng trần truồng cho một lũ vô luân
So lưỡi, nắn tay, cậy răng, nắn ngực
Cố nghiến răng dù lửa xông hừng hực,
Miễn sao đi xa, tìm kiếm chút tương lai
Dù biết rằng thân gái dậm dài
Có thể sẽ sa vào động dữ
-Xin lỗi các thanh niên, sống đời vô lự
Tìm ruợu chè, bài bạc làm vui
Bởi tương lai, nếu không Đảng, không tươi
Sẽ chết rấp với cuộc đời khốn khổ
-Xin lỗi những vườn rau, núi cao, đất đỏ
Đã bị khai quang cho Tư Bản ăn chơi
Ruộng lúa, bờ ao thành biệt thự khơi khơi
Khách sạn, sân gôn, tầng tầng lớp lớp
Mặc cho Dân Oan đứng hàng hàng lớp lớp
Mỏi cổ kêu Trời, áo rách, mưa sa.
-Và, trên hết, xin lỗi Lịch Sử Bốn Ngàn năm đã qua
Chưa giai đoạn nào nhục nhằn như hiện tại
Tham nhũng tràn lan, dân ta thảm hại
Lãnh tụ cậy quyền, ỷ thế hiếp dân
Nhà Nước một ổ tham ô, giầu nghèo cách phân
Cả thế giới nhìn nước ta như ổ điếm
Cầm thẻ ngoại giao đi xa, nước ngoài cười mỉm
Vì sợ lũ trộm ngày, ăn cắp như ranh
Ôi, xin lỗi, xin lỗi làm sao đoạt lại thanh danh?
Làm sao sửa lại khúc quanh lịch sử?
Làm sao cho Dân ta lại ngời ngời, rạng rỡ?
"Viên ngọc Viễn Đông" oai vũ biển Đông?
Làm sao trong Mùa Xuân, hoa nở đỏ hồng
Như nụ cười trẻ thơ, như hồn xuân trinh nữ?
Hãy sám hối đi! Hãy bỏ hình quỷ dữ
Trở về với Tổ Tiên, tạ tội với Vua Hùng
Tám mươi triệu người đang vò võ ngóng trông
Một đất nước Tự Do, tươi sáng.
Lịch sử đang chờ,
Hỡi các người Cộng Sản!

Chu Tất Tiến

Những người cộng sản sám hối trước tượng đài Lenin vì ziczac của lịch sử

Коммунисты Казани, несмотря на запреты, прошли колонной к памятнику Ленина и передали в мэрию Казани тексты Конституции РФ и РТ. Фоторепортаж

Коммунисты покаялись перед памятником Ленина за зигзаг истории


Kichbu theo: polit.ru

Chi nhánh ĐCS LB Nga tại Kazan đã kỷ niệm lần thứ 96 Cách mạng Tháng Mười Nga Vĩ đại bằng cuộc miting tại trung tâm thành phố và cuộc tuần hành không được phép đến tượng đài Vladimir Lenin. "Interfax" đưa tin về điều này.

Новость на Newsland: Коммунисты отпразднуют годовщину Октябрьской революции

Khoảng 150 người, đa số trong số đó là những người về hưu, đã tụ tập bên đài tưởng niệm của nhà hoạt động cách mạng Mullanur Vakhitov. Họ hô vang các khẩu hiệu chống lại các cải cách nhà ở và Viện khoa học và yêu cầu quốc hữu hóa hoàn toàn các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Kết thúc miting, những người tham gia đã tuần hành bất hợp pháp đến tượng đài Lenin trên quảng trường "Tự do" để đặt hoa và, như cách thể hiện của bí thư thứ nhất chi nhánh ĐCS LB Nga, đại biểu Hội đồng nhà nước Tatastan Hafiz Mirgalimov, để " xin lỗi lãnh tụ Cách mạng Tháng Mười vì sự nghiệp của ông hiện đang đi vào ngỏ cụt vì ziczac của lịch sử".

Mặc dù phần kết thúc của cuộc biểu tình không được phép của chính quyền thành phố, cuộc biểu tình diễn ra không có các sự cố

NGƯỜI CỘNG SẢN VIỆT NAM SÁM HỐI RA SAO?


Nguyễn Việt Nữ

Một người cao niên nhất trong hệ thống đảng Cộng Sản Việt Nam bây giờ có thể lên tiếng Sám Hối để tạo hòa bình cho lòng con cháu Mẹ Việt Nam, gây sức mạnh chống TRung Cộng bảo vệ đất nước, nhưng nửa thế kỷ qua không dám nói, nay không còn đủ sức để nói là:

Đại Tướng Võ Nguyên Giáp, sinh ngày 25/8/1911 tại tỉnh Quảng Bình. Sinh nhật năm 2012 là ông đã vượt quá tuổi thọ mà các cụ xưa thường chúc Tết: được “Bách niên giai lão”!
Mấy năm gần đây tướng Giáp không còn đủ sức khỏe nên đã vào nằm bệnh viện dưỡng lão “công thần”,  mà ngay khi còn đủ uy danh ông cũng đã không dám nói một lời sự thật về Hồ Chí Minh, mặc dù ông biết mà còn bao che.

Mãi đến khi đang nằm viện 108, Tướng Giáp đã có 3 lần lên tiếng kêu gọi đảng và nhà nước Cộng Sản của ông ngưng vụ khai thác quặng Bauxít Tây Nguyên. Đây là thế lực cuối cùng của triều đại Hồ Chí Minh còn lại mà người ta còn được nghe tiếng; mà hẳn cũng là lần cuối cùng của con người sẽ ra đi ôm theo nhiều tội giết người tập thể nhưng chưa một lời Sám Hối!

Nhân đây xin hỏi thẳng tướng Giáp về những tội ác đôi khi còn dã man hơn Josef Stalin trước khi ông đi gặp đồng chí Hồ Chí Minh.

Trên đây ta đã thấy tội ác dã man của “Cách mạng tháng Mười năm 1917”, Lenin đã hạ lệnh tàn sát chẳng những vua Nicolas II và hoàng hậu cùng 4 người con mà còn giết cả những người hầu cận..Tổng Thống Nga Boris Yeltsin dự lễ cải táng dù không thấy xác, vì Lenin giết xong còn lấy lưỡi lê đâm vào xác chết rồi còn phóng hỏa để phi tang!

Vậy mà hiện tại vườn hoa Mai Xuân Thưởng ở Hà Nội vẫn sừng sửng tượng Vladimir Lenin (1870-1924) khiến dân Hà thành đi ngang thấy vậy hỏi, và cũng xin tướng Giáp đang nằm viện 108 cũng tại Hà Nội trả lời:
Lê Nin quê ở Nước Nga,
Cớ sao lại đứng vườn hoa nước này?
Ông vênh mặt, ông chỉ tay:
“Tự do hạnh phúc lũ mày còn xa”
Kìa xem gương mặt nước Nga
Bảy mươi năm lẻ có ra đếch gì
Đảng mình, cái đảng vứt đi,
Cứ đi theo đảng còn gì là thân?

Khi Lênin chết, Stalin lên ngôi. Tổng Thống Boris Yeltsin nhìn nhận “Cộng Sản không có bộ mặt lòai người”, còn “Đại Thi hào” Tố Hữu của triều đình Hồ-Chinh-Đồng-Giáp ca ngợi Cách mạng tháng Mười thì cho rằng trước tháng Mười năm 1917 nhân lọai chưa thành người, còn như là loài vật sống trong ngàn năm với đêm dài man rợ!

BÀI CA THÁNG MƯỜI

(I)                                                                (II)
Thuở anh chưa ra đời.                               Đây Việt Nam Tháng Tám
Nhân lọai chửa thành người                              Em Liên Xô Tháng Mười!
Trời đất còn nức nở                                      Hoan hô Sta-lin
Đêm ngàn năm man rợ. (….)                   Đời đời cây đại thọ
Từ khi anh đứng dậy                               Rợp bóng mát hòa bình (…)
Trái đất bắt đầu cười                                 Hoan hô Hồ Chí Minh
Và lòai người từ đấy                                  Cây hải đăng mặt biển
     Ca bài ca tháng mười (..)                                   Bão táp chẳng rung rinh                                                                                        Lửa trường kỳ kháng chiến!
                                                           “Muôn năm Đảng Cộng Sản
Chào Xô viết Liên bang!” (…)
(Trích tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu, 1950)

 Đến năm 1953 Josef Stalin chết (1879 - 1953).  Tố Hữu khổ đau xé ruột gan và dạy trẻ thơ Việt Nam yêu kính nhớ ơn ông đời đời hơn tổ tiên cha mẹ mình.

 Nguyên bài thơ đậm đà tô vẽ Stalin cũng có nét hiền dịu chuộng hòa bình chung quanh đàn bé thơ dại quàng khăn đỏ như bác Hồ, Tố Hữu đặt lên hai vai dân Việt nghĩa nặng tình sâu “Một vai ơn Bác một vai ơn Người” trên 40 câu cũng được ghi trong tập Việt Bắc, trích như sau:

                                   
ĐỜI ĐỜI NHỚ ÔNG
                                                              

                        (I)                                                                               (II)

Bữa trước mẹ cho con xem ảnh                 Ngày mai dân có ruộng cày
Ông Sta-lin bên cạnh nhi đồng                   Ngày mai độc lập ơn nầy nhớ ai
Áo ông trắng giữa mây hồng                      Ơn nầy nhớ để hai vai
Mắt ông hiền hậu miệng ông mĩm cười       Một vai ơn Bác một vai ơn Người
Ông đứng với em nhỏ                                Con còn bé dại con ơi
Cổ em quàng  khăn đỏ                               Mai sau con nhé trọn đời nhớ ông ..
Sta-lin! Sta-lin!                                           Thương Ông mẹ nguyện trong lòng
Yêu biết mấy, nghe con tập nói                   Yêu làng yêu nước yêu chồng yêu con
Tiếng đầu lòng con gọi Sta-lin!                   Ông dù đã khuất không còn
(…)                                                   Chân Ông còn mãi dấu son trên đường
Ông Sta-lin ơi! Ông Sta-lin ơi!                   Trên đường quê sáng tinh sương
Hỡi ơi ông mất! Đất trời có không?       Hôm nay nghi ngút khói hương xóm làng
Thương cha thương mẹ thương chồng        Ngàn tay trắng những băng tang
Thương mình thương một 
thương Ông thương mười                          Nối liền khúc ruột nhớ thương đời đời
 
                                        Yêu con yêu nước yêu nòi                                                   
                            Yêu bao nhiêu lại yêu Người bấy nhiêu (…)

(Tố Hữu, 5—1953)
Đọc “Biệt kích cầm bút” Tố Hữu ca ngợi Stalin còn láo khóet khi thả bom “Ngày mai dân có ruộng cày” thì Tướng Võ Nguyên Giáp lợi dụng bài khoe trận chiến thắng Điện Biên Phủ cũng gieo trong lòng dân Mỹ rằng năm 1952—1953 Đảng chúng tôi vận dụng quần chúng phát động chiến dịch Giảm tô (Reduction of Land Rent) đưa đến Cải Cách Ruộng Đất (Land Reform) để “dân làm chủ  ruộng cày” (Land to the tiller).

Giáp trồng cây nói láo “Land to the tiller nầy còn sống trong quyển Vietnam and America, by Marvin E. Gentleman, Jane Franklin 2nd edition 1995, page 54)  mà hậu quả là ngay từ đó chính Giáp phải làm Lê Lai cứu Chúa Đảng Hồ Chí Minh mà thú nhân Đảng là “quân khủng bố” từ đó.
http://www.boxitvn.net/wp-content/uploads/2010/09/lenin.jpg

Tố Hữu cho tập thơ Việt Bắc ra đời năm 1950, bài khóc Stalin năm 1953, vậy ai sanh ra cùng năm thì những trẻ sơ sinh ấy đã thành “ông bà cụ” qua ngưỡng cửa lục tuần của năm Nhâm Thìn 2012 nầy, nên đa số sẽ không biết tới, trừ những lão tướng còn lại của chế độ Hồ Chí Minh như Võ Nguyên Giáp hiện trên 100 tuổi thọ.
Nhưng những “babies” thời Tố Hữu thì nay thành “các cụ” còn có thể thấy lại cảnh “Ngàn tay trắng những băng tang” đập đầu la khóc “Ông Sta-lin ơi! Ông Sta-lin ơi!” y như vậy, nhưng thay “Ngàn tay” thành “Ngàn hoa trắng, giải băng tang” tại Hán Thành từ ngày 17 đến 28 tháng 12 năm 2011 là ngày tin Chủ tịch Bắc Hàn Kim Dong Ỉn chết đến ngày tang lễ chính thức mà “Phong Trào Phụ Nữ Việt Nam Hành Động Cứu Nước” gọi là cuộc “lên đồng tập thể.”! 

Tang lễ Hồ Chí Minh năm 1969 cũng có “Đại Lễ Lên Đồng” tương tự. Lúc ấy chắc chắn có giọt lệ của Võ Nguyên Giáp và Tố Hữu đập đầu khóc thét nữa!

Là danh tướng nhưng Giáp còn giết dân Việt tàn bạo hơn Stalin giết người Ba Lan tại khu rừng thảm sát Katyn nữa. Tang chứng nằm ngay trong hệ thống truyền hình PBS của Mỹ, Vì đài mướn họ làm tài tử điện ảnh, đã trình diễn trong bộ phim“Vietnam, A Television History” từ năm 1983. (trong hồ sơ phiên tòa của chiến sĩ Nguyễn Thị Ngọc Hạnh tại  San Francisco năm 2002 có nhắc đến)

 Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng và Đại Tướng Võ Nguyên Giáp oai hùng thủ diễn cuộc chiến chống Pháp giành độc lập. Phim nầy từ năm 1983 được phổ biến khắp thế giới, hiện nằm trong các thư viện toàn cầu, nhất là tại Hoa Kỳ và chắc còn dùng làm tài liệu.. “giáo dục” lâu dài nữa? Cho nên chúng ta có bổn phận chỉ điểm vài sự che giấu bất lương, vì những phần nầy nhắc lại ai cũng thấy y như chuyện đang xảy ra hiện nay tại Việt Nam vậy!

Đây là bộ phim lớn phổng theo quyển "VIETNAM: A HISTORY" của ký giả sử gia Hoa Kỳ Stanley Karnow, sanh 1925 tại New York City. Sách được coi như quyển “gối đầu giường” của các chính trị gia khắp thế giới, dày trên 730 trang của người Mỹ chính cống tốt nghiệp Harvard Mỹ năm 1947, rồi còn sang Pháp học về khoa Chính Trị Học tại Sorbonne Paris nữa!

Nhưng vì là phim Cộng Sản tuyên truyền nên đạo diễn lờ đi không dám dùng nhiều chỗ trong quyển sách này để quay thành sự thật mới đáng gọi là “History”, nếu không sẽ là bóp méo lịch sử. Chỉ dùng bốn trang thôi đã nêu sự thật việc LÀM của hai tài tử lịch sử nầy.

CÔNG CỦA HỒ-GIÁP GIẾT DÂN KHI HÒA BÌNH:


Như trang 224, Stanley Karnow viết về hậu quả của Việt Nam khi chống Pháp:

http://2.bp.blogspot.com/-XOCdJqOir3k/TlX4RjgZ-nI/AAAAAAAACeA/WRNnXle_CL4/s400/70086211-102133sm.jpg

 "Cuộc chiến tranh chống Pháp đã làm cho miền Bắc nước Việt Nam bị tàn phá hoàn toàn.”  Sang trang sau, tác giả kể tội ác Hồ và Giáp làm khi hòa bình vãng hồi bằng hiệp định Genève năm 1954. (Nhấn mạnh thêm của Việt Nữ: Cũng do Hồ--Giáp dùng biển máu dân Việt để thắng trận Điện Biên Phủ hầu có “thế mạnh” bước vào bàn hội nghị chia đôi đất nước!)

Hồ-Giáp-Chinh-Đồng dùng chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất để tiến tới “vô sản” theo Mác-Lê, nên đã  khiến dân tộc miền Bắc Việt Nam còn nát bét hơn thời chiến: hòa bình về Hồ và Giáp giết dân Việt, những người đã cùng mình đánh giặc Pháp. Stanley Karnow viết tiếp:

 “Đáng lẽ khuyến khích sản xuất làm cho dân giàu nước mạnh, Hồ Chí Minh lại bị kích thích bởi hệ tư tưởng (Mac-Lênin), phát động chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất, chia nông dân ra thành 5 thành phần, từ "địa chủ” đến "bần cố nông”... một tư tưởng thật điên rồ..vì khác với miền Nam, nông dân ở miền Bắc ít người có quá ba hay bốn mẫu đất. Vậy mà Hồ kết luận rằng những phần tử "địa chủ" và thành phần "phong kiến" khác chiếm 5% dân số nông thôn, nên Hồ và những người lãnh đạo Cộng Sản gửi toán cán bộ (Cải Cách Ruộng Đất) đi thanh toán họ hết. Bắt đầu từ năm 1955, Tòa Án Cải Cách Ruộng Đất (Toà Án Nhân Dân) được thành lập và họ hoàn thành chỉ tiêu (quota) đó bằng tất cả nhiệt tâm…”

Trên đây, ta thấy Stalin ra lệnh giết tù binh Ba Lan chôn trong rừng tử thần Katyn, khi đưa vào “phòng Lênin” cũng bắn theo “quota”, và Tổng Thống Nga Boris Yeltsin đã thú tội và mừng là “Lý trí đã thắng điên rồ”? Thế Hồ và Giáp có còn lý trí không?

 “Không”! Đọc Stanley Karnow ta tìm được câu trả lời như vậy khi ông diễn tả tội ác giết người vô tội mà phần đông người đọc sách Việt ai cũng biết, nhưng đây lại được sử gia Mỹ viết bằng ngọai ngữ:

Thí dụ, trong một làng có hai ngàn dân, họ phải đưa ra tòa xét xử cho được hai mươi người bị khẳng định là "địa chủ”. Chiến dịch nầy đã bắt ngòi cho sự tàn bạo diển ra khắp nước. Muốn tránh bị buộc tội (là thành phần địa chủ), nông dân xoay qua vu cáo hàng xóm mình (có nhiều đất đai), trong khi đó những người nầy tố cáo lại đối thủ họ đã vu khống tội tưởng tượng cho họ. Bất cứ người nào bị nghi ngờ là có làm việc cho Pháp , hay ngay cả những người chỉ vì tỏ ra thiếu nhiệt tình với phong trào Việt Minh đều bị xử tử như một kẻ "phản quốc”. Vì bị áp lực như vậy, nên cán bộ(Cải Cách Ruộng Đất) chọn tội phạm "Địa chủ”  không cần viện bất cứ chứng cớ nào (để xử tử cho đúng cấp số). …

 Trong vụ rừng tử thần Katyn, có nói Nikita Khrushchev hạ bệ Josef Stalin năm 1956. Karnow cũng ghi vào năm đó khi giết hết đảng viên yêu nước rồi Hồ Chí Minh mới thình lình “khóc”, “ăn năn” và kêu gọi “sửa sai”. Chẳng những dã man như Stalin, Hồ còn rập khuôn theo Tàu Cộng nữa:  “Hồ theo rập khuôn Mao Trạch Đông. Tới năm 1956, khi giết hết hàng chục ngàn đảng viên điạ chủ rồi Hồ thình lình khóc nhìn nhận sai lầm và hứa những người bị xếp sai thành phần sẽ được xếp lại. Chiến dịch sửa sai rầm rộ nhìn nhận đã giết hàng chục ngàn đảng viên Việt Minh Cộng Sản và thả hàng ngàn người còn sống sót chờ xử tử về làng, kêu gọi mọi người tha thứ và quên đi quá khứ”.

 Stanley Karnow kết luận rằng :"Nông thôn Bắc Việt lúc ấy diễn ra sự trả thù giữa những người Đảng viên bị ở tù oan với đảng viên đương quyền đã vu oan cho họ. Nhiều nơi nông dân không tuân lệnh chính phủ nữa.”

Nơi đầu trang 226, Stanley Karnow còn diễn tả miền Bắc dưới chế độ Hồ Chí Minh từ đó chìm đắm trong tử khí nghi ngờ, sợ hãi chết chóc mà tác giả tham chiếu chính báo Nhân Dân còn phải viết: “Anh em không còn dám thăm viếng nhau, và ra ngòai đường phố người ta  không ai dám chào hỏi ai”.

Karnow còn viết Hồ-Giáp chống Pháp, nhưng khi dân nổi lên tại Nghệ An, hai “vĩ nhân” tử thần nầy cho bộ đội cụ Hồ tàn sát dân y như thực dân Pháp:

"Lời kêu gọi của Hồ đến quá trể để ngăn ngừa một cuộc nổi dậy tự phát của những nông dân nơi chính quê hương Nghệ An của ông, những người mà 26 năm trước đó đã tự động nổi dậy mãnh liệt chống Pháp.”

Cái “quota” ông  Tướng Giáp cho giết dân Việt còn cao khủng khiếp hơn Stalin nữa, vì một đêm Xô Viết—NKVD bắn chỉ có 300 người, còn bộ đội của Giáp giết tới 6,000 một đêm:

“Hồ hành động y như thời Pháp đối với lực lượng nổi dậy: ông ta đưa bộ đội tới giải tán  bằng súng lưởi lê, chỉ trong một đêm, cả tỉnh bị càn quét, số nông dân giết lên đến 6,000 người.”
Tướng Võ Nguyên Giáp xác nhận đã dùng chính sách khủng bố với dân:
Karnow viết: “Cũng như Hồ, Võ Nguyên Giáp cũng "đấm ngực xưng tội" (mea culpa) rằng: "Chúng ta đã tấn công lan tràn và nhìn đâu cũng thấy kẻ thù, chúng ta đã dùng chính sách khủng bố khắp nơi. Thay vì chú trọng phương châm lấy giáo dục làm chính, lại đơn thuần dùng biện pháp tổ chức như: trừng phạt kỷ luật, xử tử, loại ra khỏi đảng..Tệ hơn nữa, là biện pháp tra tấn được ta coi như thủ tục thông thường..”

Nên nhớ những lời thú tội từ trang 224, 225 và 226 trên nằm trong sách của Stanley Karnow (Nhưng không được quay trong phim, nên ta cần cùng nhau phổ biến) mà tác giả là một ký giả thượng thặng từng viết về Đông Nam Á từ 1959 tới 1974 cho tạp chí Time và Life tại Saigon trong chiến tranh “Chống Mỹ cứu nước”, cho cả các báo Washington Post, NBC News... v.v

Tóm lại, tình báo Cộng Sản Phạm Xuân Ẩn cũng nằm trong báo Time chiều dài lịch sử bằng hay hơn Karnow nữa!

Stanley Karnow thú nhận trong sách “ Vietnam: A History”, trang 713, rằng trong thập niên 1950s, ông ở Paris để viết tin về chiến tranh Đông Dương tức chiến tranh Pháp-Việt. Karnow mướn nhà của chủ là Jean Longuet, là cháu cố của Karl Mark. Ông nội của chủ nhà Longuet là con trai của Karl Mark, cũng là một đảng viên nỗi bậc của Xã Hội Chủ Nghĩa trong thập niên 1920s—cùng thời với Nguyễn Ái Quốc-- Nên những tin tức về Hồ chí Minh trong chiến tranh trong sách, Karnow không phải chỉ tham chiếu từ tài liệu  Cộng Sản mà còn thêm những gì chính ông thu thập được từ thời ở Paris, tức nhiên dù không nói, nhưng thế nào Karnow cũng bị ảnh hưởng tuyên truyền của chủ nhà trọ Jean Longuet, dòng dỏi của Karl Mark!!

Vậy những lời Karnow buộc tội Hồ-Giáp Khủng Bố Giết người Việt phải trung thực, chứ không phải của phe chống đối viết xuyên tạc đâu nhé.

Giáp nhận tội đó từ năm 1956, vậy đến nay, năm 2012, trên nửa thế kỷ qua, và sẽ còn dài nữa, cái "biện pháp tra tấn được coi như thủ tục thông thường" ấy, vẫn được "đảng ta" áp dụng còn phổ biến thường trực hơn, như chính Dương Thu Hương thời “Mở trói” của Gorbachev và Nguyễn Văn Linh cũng bị. Vậy nay ông Võ Nguyên Giáp hãy Vỗ ngực xưng tội!                                                                                       
Dương Thu Hương (Sinh năm 1947 tại Thái Bình) và Tần Thủy Hoàng
http://chimbaobao.files.wordpress.com/2011/09/duong02.jpg?w=640&h=200
Xin  đề cập đến những người Cộng Sản biết nói Sám Hối nhưng vì không hiểu biết hay vì lẽ gì mà vẫn không thật lòng. Trong đó có nhà văn Dương Thu Hương, người vô tình chỉ điểm một trong những tội ác của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Hồ Chí Minh, nhưng lại cho Hồ Chí Minh vô tội, vẫn là “Đỉnh Cao Chói lọi” trong sách xuất bản năm 2009!

Là thanh nữ lớn lên ở miền Bắc, nghe tuyên truyền Mỹ xâm lăng làm dân chúng miền Nam nghèo đói, năm 18 tuổi  đã lên đường "chống Mỹ cứu nước".

Năm 1975, Dương Thu Hương đứng trước đài chiến thắng, thấy miền Nam giàu có, tự do bội lần hơn miền Nam, bà vở mộng.

Bà thấy thiên đường CS hứa hẹn chỉ là một  "Thiên Đường Mù" và đứng trong đảng CS là chỉ đứng "Bên Bờ Ảo Vọng" như tựa 2 quyển sách nổi tiếng của bà. Vì bọc trực, Dương Thu Hương bị Đảng bắt làm tờ tự kiểmChế độ CS là chế độ dân chủ, nhưng là dân chủ tập trung, Hồ tự hào là một chế độ dân chủ nhất hoàn cầu. Bài tự kiểm ngày 30 tháng 5 năm 1990, Dương Thu Hương cũng viết rất hay: "Nguyên tắc tập trung dân chủ là tạo dựng một chế độ độc tài. Nhân loại đã trải qua nhiều thảm họa nhưng không có thảm họa nào khủng khiếp bằng thảm họa do các nhà độc tài đỏ gây nên. Lịch sử Á Châu mấy nghìn năm nay vang lên tiếng nguyền rũa ông vua bạo ngược Tần Thủy Hoàng... Tuy nhiên, ngoài số người bị gọt đầu bôi đen, bắt đi làm phu xây Vạn Lý Trường Thành, Tần Thủy Hòang chỉ xử tử 460 người...”

Đúng vậy, dân ta hể nói tới nhà cầm quyền tàn bạo là đem Tần Thủy Hoàng ra so sánh, còn Hồ Chí Minh cố tình giết (ít nhất) hơn hai chục ngàn đảng viên chỉ trong vài tháng phát động chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất. Võ Nguyên Giáp biết hết nhưng bao che, nhận tội thay cho Hồ.

(Vậy mà Hồ Chí Minh vẫn là “Đỉnh Cao Chói lọi”, (tựa sách xuất bản năm 2009 của Dương Thu Hương và cả một số “trí ngủ” còn lại của thế giới)!

Chiến thuật biển người trong trận Điện Biên Phủ năm 1954, Giáp nổi danh khắp thế giới, nhưng đã giết bao nhiêu chục ngàn thanh niên Việt Nam? Và để làm gì? Có phải là chỉ để làm quà chia đôi đất nước, lấy miền Bắc triều cống Quốc Tế Cộng Sản Nga Hoa để  Đảng và Bác “độc lập”, độc quyền được làm một bầy quan thái thú không?

Tết Mậu Thân năm 1968, Hồ cùng Giáp nuốt lời ngưng chiến ba ngày cho binh sĩ ăn Tết, đem quân tấn công miền Nam, làm chết khỏang 50.000 binh sĩ hai bên lẫn thường dân vô tội! Vậy nhân lúc nầy ông Tướng còn trên dương trần, xin vị nào thân cận chuyển lời chúng tôi và tất cả nạn nhân của Hồ-Giáp hỏi rằng:

Tết Nhâm Thìn nầy Đại Tướng Võ Nguyên Giáp bước qua ngưởng cửa 100 tuổi thọ, còn đủ sức nói hay viết lên vài lời Sám Hối để dân tộc Việt Nam hậu Cộng Sản không còn đánh giặc nhau về thần tượng Hồ Chí Minh và Điện Biên Phủ oai hùng nữa? Vì theo nữ chiến sĩ cầm bút “Chống Mỹ cứu nước” Dương Thu Hương viết về Tần Thủy Hoàng, thì tội núp bóng Quốc Gia để gây cuộc chiến Quốc-Cộng còn dã man hơn bạo chúa Tần Thủy Hoàng? Chẳng những dã man hơn ngàn lần mà còn là tội ác chiến tranh để bán nước của Hồ-Giáp-Chinh-Đồng mà Mạnh-Triết-Dũng cứ theo gương, tiếp tục thực hiện bán hết đất, rừng, biển cho thiên triều Trung Cộng? Nên giờ hơi tàn sức kiệt, dù  Đại tướng Võ Nguyên Giáp đeo thêm một hàng huy chương chiến thắng để khuyên can thì đảng Cộng Sản và quốc hội bù nhìn của ông dù thuộc nhân vật lãnh đạo khóa I  hay XIII  của năm 2011 cũng chẳng ai thèm nghe?”

 Nghe nói lúc còn sống, ông Phạm Văn Đồng, người ngồi ghế thủ tướng tới 40 năm, lâu nhất thế giới, đã qui y Tam Bảo. Hồ Chí Minh thời còn mang danh Nguyễn Ái Quốc là “sáng tác sĩ” bút danh Trần Dân Tiên, đã viết rằng khi đi truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin bên Xiêm (Thái Lan) đã đội lốt người bình thường để ăn cơm chùa đở khỏi tốn tiền vì ông ta biết lợi dụng lòng mộ đạo Phật, ham bố thí của dân Xiêm mà được ăn no để lo tuyên truyền và tổ chức ổ Cộng Sản khủng bố.

Cựu Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết năm 2009 cũng tuyên bố “Là người Vô thần nhưng hay đi Chùa”. Đại Tướng Võ Nguyên Giáp thừa biết hết những chuyện nầy, và hẳn cũng biết lời Đức Phật dạy rằng con người vẫn được kính trọng dù làm lỗi, với điều kiện là người đó phải “quyết tâm ăn năn chừa lỗi và vĩnh viễn không bao giờ tái phạm”?

Thời bình, tiêu diệt tất cả các tôn giáo không phải của nhà nước

Nếu tra tấn không phải chỉ là đánh đập thể xác không thôi, mà còn là một sự trói buộc về tinh thần, gây hoang mang, lo âu, sợ hãi... thì VC rõ ràng đã liên tục và trắng trợn tra tấn 80 triệu công dân bằng luật pháp của họ.

Điển hình là khi Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ dám áp dụng theo luật tư bản Tây phương mà Hồ Chí Minh bắt chước từ năm 1945, là dân dám kiện Thủ tướng chính phủ tội bán tài sản quốc gia.

Nhưng công lao công thần của Hồ Chí Minh là Cù Huy Cận cho con ăn học tại xứ “thực dân Pháp” đã phản ngược lại y như thời Cải Cách Ruộng Đất: con ông, Cù Huy Hà Vũ, bị vu oan y như Hồ-Giáp dựng màn đấu tố vu oan địa chủ tội dâm đảng, để bắt tại khách sạn ở Sàigòn trước đã; sau mới giải về Hà Nội bị tòa án nhân dân tuyên án 7 năm tù, rồi tài sản của cha ruột hay cha nuôi là nhà thơ Xuân Diệu gì đó, hiện đã bị tịch thu!

Cho nên Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ nói rằng “cuộc đời như cái đèn cù, khi quay hết vòng sẽ quay trở lại” là chính xác!

Nhưng trói buộc về tinh thần quan trọng nhất là đàn áp tôn giáo.

Đạo Phật vì tổ chức lõng lẽo, dễ cho cán bộ kiểu Nguyễn Ái Quốc-- Trần Dân Tiên mặc áo nhà tu chen vào chùa bên Xiêm để ăn xôi Chùa mà truyền bá Mác-Lê nên nhà Chùa bị mang tiếng và dễ dẹp. Từ năm 1977 vì không chịu làm “Quốc Sư” Phật giáo Quốc Doanh nên Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ hiện vẫn bị giam lõng tại Thanh Minh Thiền Viện Sàigòn.

Còn đạo Chúa nổi tiếng lãnh đạo chặc chẽ nên Cộng Sản “nằm vùng” cách khác, là dùng con  đường “ngoại giao để hai bên cùng hưởng lợi”. Nên ta thấy hết Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng tới La Mã năm 2008 rồi tới Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết tháng 12/2009 cũng tới Vatican xin bang giao.

Sau khi được Đức Giáo Hòang Benedict XVI tiếp đón, và im lặng làm như không biết gì đến sự tù đày vì tranh đấu cho tự do tôn giáo của Linh mục Tù nhân Lương tâm Tadéo Nguyễn Văn Lý để Đức Giáo Hòang tiện làm “ngoại giao nhân dân” với Cộng Sản. Hai nhà lãnh đạo Cộng Sản nầy về Việt Nam tin rằng họ như được Vatican bậc đèn xanh, càng yên tâm khủng bố các giáo xứ và giáo dân để lấy đất một cách dữ dội hơn như thời mà Giáo Hoàng Phao Lồ II gọi là “Giáo Hội đã tỏ ra thiếu khoan dung và đôi lúc đã dùng cả bạo lực để phụng sự chân lý.”

Bạo lực phụng sự “chân lý” Cộng Sản
Từ tháng 12 năm 2010 đến nay càng có nhiều chuyện lớn về tôn giáo và nhân quyền cần chú ý vì Vatican IM LẶNG trước tội ác Cộng Sản trong khi Đức Giáo Hoàng Phao Lồ II đã buộc tội Im Lặng nầy, kêu gọi con cái Chúa cũng phải dọn mình Sám Hối.
Và từ năm 2011, toàn dân Việt Nam đồng loạt ca vang bài của Nhạc sĩ Công giáo Anh Bằng: “Đừng im tiếng mà phải lên tiếng!”

Đầu tiên, vụ giáo dân Cồn Dầu phản đối quyết định di dời nghĩa trang nhưng bị chính quyền Đà Nẳng phản đối rồi đàn áp còn chưa giải quyết xong thì ngày 21 tháng 12 năm 2010, Dòng Chúa Cứu Thế ở Đà Lạt bị đe dọa xóa sổ. Vì nhà Dòng nầy ở Saigòn đã đứng lên bênh vực khi giáo xứ Loan Lý bị tấn công, nên trong tuần trước đó, nhà Dòng đã nhận được tin báo Ủy ban Nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã dựng bảng quy hoạch Tu viện Đà Lạt, viện nầy hiện đang bị chiếm dụng làm Viện Sinh học Tây nguyên tại phường 7, thành phố Đà Lạt. Họ họp dân để thông báo việc quy hoạch này mà không mời Dòng Chúa Cứu Thế là sở hữu chủ! Dẫn đến hiện nay là vụ giáo xứ Thái Hà cũng rất ồn ào!

Kế đến, đạo kính Chúa khác là Tin Lành cũng bị đàn áp khủng khiếp, lộ liểu: Để chuẩn bị làm lễ Giáng Sinh 2010, lãnh đạo Tin Lành đã mướn trụ sở Hội Nghị Quốc Gia tại Hà Nội, có mời khách ngọai quốc về dự. Tiền mướn đã đóng xong.

Tiền bỏ túi xong nhưng lễ thì không xong! Tin từ Hà Nội cho hay ngày 20 tháng 12, 2010 khi tín hữu Tin Lành đến trước sân trụ sở Hội Nghị Quốc Gia thì bị Công an Hà Nội chận lại không cho tới gần mà không giải thích lý do, ai cố chen vòng rào chạy tới gần trụ sở thì bị đàn áp thẳng tay bằng cách đánh đập. Vì không được biết trước, nên tín hữu càng lâu càng đến đông để… “dự lễ” , bản tin cho con số khoảng hơn 2 ngàn tín hữu Tin Lành vì không được vào trụ sở, họ cũng tập trung trước Trung Tâm hội nghị Quốc Gia Hà Nội để cầu nguyện. 

Hình ảnh và âm thanh cho thấy các tín hữu bị những chiếc dùi cui công an đập vào đầu  khi các tín đồ chỉ hô to câu Hallelujah và hát thánh ca trong tiếng còi của công an ra lệnh họ phải giải tán. Tin cho biết có một số mục sư và tín hữu Tin Lành bị bắt lên đồn công an, dường như ở xã Mỹ Đình, huyện Từ Liêm.

Cựu Tổng Thống Clinton và Ngọai trưởng Hillary Clinton cần Sám Hối

Thời sinh viên, bà cùng với Martin Luther King Jr. tham gia phản chiến, ủng hộ Đảng Cộng Sản Mỹ Maoist Black Panthers, chống Nixon, buộc phải rút quân khỏi Đông Dương. Trong quyển “Hồi Ký Sống” (Living History) của bà, Hillary Rodham Clinton viết như vậy.

Còn sinh viên Bill Clinton thì lúc ấy thời chiến mà trốn đi Liên Xô –để làm gì?--và phò TNS George McGovern..Cũng chính trong hồi ký “Đời Tôi” (My life) tác giả bill Clinton xác nhận như vậy. George McGovern tham dự hòa đàm Paris và được đảng Dân Chủ đề cử tranh ghế Tổng Thống với Richard Nixon năm 1972. George McGovern muốn làm đẹp lòng Hà Nội vô điều kiện, là người đi Hà Nội bằng đầu gối! (Lời của TNS Jim Webb). Vì chiến tranh Việt Nam khiến Hoa Kỳ bị chia đôi nên Nixon khi dội bom Hà Nội tháng 12 năm 1972 tuy thắng, nhưng phải ngưng để rút quân về hầu hàn gắn sự rạn nức của đất nước, kể cả phải từ chức năm 1974, vì không muốn làm nước Mỹ te tua thêm!

Cho nên bây giờ là tới phần ông bà Clinton cần Sám Hối đế cầu xin Hoa Kỳ vững mạnh trở lại hầu chống đối thủ khổng lồ Trung Cộng, vì những việc làm quá khứ của hai ông bà chính khách nổi tiếng nầy đã để lại những di lụy không lường được, thí dụ như xứ Miên là một điển hình:

Khi bà Ngọai Hillary Clinton đến Việt Nam năm 2010 hăm he sẽ trở lại làm chủ Đông Nam Á và kỷ niệm 15 năm Bang giao giải tỏa cấm vận và nhắc chủ nhà XHCN VN phải tôn trọng nhân quyền, rồi bà bay qua Miên đầu tháng 11/10 để thăm “Đền Sọ Người” của Pol Pot, chúng tôi đã hỏi bà có chút hối hận gì không? Vì khi Mỹ bỏ Đông Dương năm 1975, ngoài gần hai triệu sọ người trong Đền, còn những tai ương khác cho thế giới, là, một ngày sau bà Clinton, ta cũng thấy Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Ban-Ki-Moon cũng có mặt ở Miên.

Dịp nầy ta nghe Hun Sen, Thủ Tướng Miên yêu cầu ông Moon đem văn phòng nhân quyền Liên Hiệp Quốc ra khỏi Miên! Lúc ấy chúng tôi biết Việt Cộng không thèm cải, cứ để bà Ngọai Hillary cất tiếng “oai hùng” khiến ai cũng muốn dựa vào quyền hành cường quốc;  rồi phu quân Bill Clinton cũng đến Hà Nội ngày 14/11/2010, sau vợ 2 tuần, để bàn kế cho tiền làm giàu cho ác quỉ như 15 năm trước. Đáng lẽ cả hai vị Bill và Hillary Clinton nầy phải tụng kinh cầu siêu trước Đền Sọ Người và cầu Sám Hối!

Khi nhận quyền và nhận tiền từ Mỹ rồi thì Việt Cộng bảo em đệ tử Miên Cộng Hun Sen bên cạnh giải quyết kiểu “ngọai giao” với Ban-Ki-Moon như vậy là xong ngay chứ gì? Hơn nữa, tháng 10/10 trước đây, Thủ Tướng Hun Sen xứ Chùa Tháp cũng đi chầu thiên triều Trung Cộng để nhận “Bửu bối” rồi.

Đến ngày 22 tháng 12 năm 2010, quả thật Hun Sen đã làm vừa lòng “thầy” Việt Cộng rất ngọan mục: Vì người Việt Nam trưởng thành đều biết Miên là kho chứa vũ khí và nơi cư trú cho VC trong thời chiến, Miên cũng là ổ của tổ chức buôn người từ Việt Nam trong thời bình. Những người  thuộc các tôn giáo, chính trị “tị nạn” đều thóat ra thế giới tự do qua ngã Miên.

Cho nên ta không ngạc nhiên khi nghe một tháng sau khi Clinton và Ban-Ki-Moon tới Miên, tức là tháng 12/10, Thủ tướng Hun Sen còn thẳng thừng đòi đóng cửa trại tị nạn người Thượng Việt Nam ở Nam Vang. Trại tị nạn này có khoảng 62 người Thượng chạy từ Việt Nam sang tạm trú.

Các tổ chức thế giới cho rằng hành động này cho thấy chính phủ Cam Bốt ít quan tâm đến vấn đề nhân quyền. Trách như vậy, chỉ vì người quốc tế văn minh quên rằng Hun Sen là cựu Miên Cộng Pol Pot Khmer-Rouge!

Thế khi Hun Sen tuyên bố rằng nếu Liên hiệp Quốc từ chối yêu cầu đóng cửa trại tị nạn, thì Cam Bốt sẽ cho đóng cửa các cơ quan nhân quyền trong nước, thì sao?

Chưa hết,  Hun Sen còn cho biết có thể sẽ hủy bỏ kế hoạch cứu trợ 2 ngàn tấn gạo cho tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc, đồng thời Hun Sen hăm dọa sẽ trục xuất một số  viên chức địa phương của Chương trình phát triển Liên hiệp quốc!

Được biết từ năm 2006, Cao Ủy tị nạn Liên hiệp quốc đã bảo trợ khoảng 1800 người Việt Nam thuộc sắc tộc thiểu số, trong đó có khoảng 750 người đã bị trả về Việt Nam. Trong số này, nhiều người theo đạo Tin Lành Dega, hay Giáo Hội Phật giáo Viện Nam Thống Nhất, hai đạo không được chấp nhận tại Việt Nam.

Theo yêu cầu của phía Cam Bốt, hạn chót là đầu năm 2011 trại tị nạn này phải đóng cửa.
Vậy hai ông Thủ Tướng Hun Sen của Miên cũng như Nguyễn Tán Dũng của Việt Nam, quan tâm “nhiều hay ít” đến vấn đề nhân quyền? Nể sợ túi tiền của Hillary—Bill Clinton tới đâu?? 

Đó là những tai họa mà những trái tim muốn “hòa bình” bằng mọi giá cần Sám Hối!

Tất cả các tôn giáo cũng cần Sám Hối

Nhắc lại, thông điệp Hòa Bình gồm 16,000 chữ của Đức cố Giáo Hoàng Phao Lồ đệ Nhị gửi từ Vatican có dạy con cái Chúa cần dọn mình thống hối vì đã IM LẶNG không lên tiếng tố cáo tội ác.

Vậy trong nước, ta có Hồng Y Phạm Minh Mẫn thừa biết Cộng sản Việt Nam đã từng trục xuất vị Khâm sứ Tòa Thánh trước khi Việt Nam bị chia hai Nam, Bắc năm 1954. Vatican biết, các hãng thông tấn thế giới đều biết, dù hai bên đều cố gắng xích lại gần, nhưng  một trong những vấn đề còn khúc mắc là tranh chấp đất đai và các cơ sở Công giáo mà nhà nước tịch thu sau năm 1955 tại miền Bắc và sau 1975 tại miền Nam.

Trong bài trả lời phỏng vấn với hãng thông tấn Fides trước khi Nguyễn Minh Triết diện kiến Đức Giáo Hòang Benedict XVI năm 2009, Tổng Giám mục TP HCM tức Hồng y Phạm Minh Mẫn hiện giờ, nói sau 1975 chỉ riêng Giáo phận Sài Gòn 'bị mất 400 cơ sở'.

Vậy chưa mất tài sản nhiều sao? Vậy mà Hồng Y vẫn không dám hé một lời, còn lên tiếng sợ cờ Vàng, bênh vực màu cờ Máu!!

Thành thử xin chịu tội lỗi mà trình với Ngọc Hòang Thượng Đế rằng dân tộc Việt Nam chịu đau thương ngày nay không phải chỉ riêng một Thích Nhất Hạnh và Phật giáo quốc doanh mà còn Vatican và Hồng Y Phạm Minh Mẫn nữa chi?? Chỉ vì khi các người mặc bộ nâu sòng hay áo cà sa đi ra nước ngòai làm tiền về cho Cộng Sản là mọi người đều biểu tình phản đối rất ồ ạt; còn Hồng Y Phạm Minh Mẫn và các Linh Mục mặc áo chùng đen đi ra đi về làm tiền cho Việt Cộng cũng “đậm đà” không kém thì ít người dám chạm đến, hay cũng có biểu tình phản đối nhưng không cùng cường độ! Tất cả đều cần Sám Hối, cả ông Liên Thành tác, giả “Biến Động Miền Trung”!

Cùng thờ Chúa Cứu Thế, nhưng có vẽ nhóm “Mục Sư Chuồng Bò” và Mennonites dám lên tiếng chống tội ác Cộng Sản quyết liệt nhất.

Hệ thống Vatican thì chỉ có Dòng Chúa Cứu Thế và Linh Mục Tadéo Nguyễn Văn Lý với khối 8406 với đảng Thăng Tiến và năm 2010 Ngài còn dám ký hai đơn kiện Hồ Chí Minh và đảng CSVN ra quốc tế và ngay cả quốc nội! Trong khi Đức Giáo Hoàng Benedict XVI Im lặng hoàn toàn chẳng những với một Linh Mục có 17 năm tù đày như Cha Lý mà với tất cả những đàn áp liên tục các giáo xứ khi hết Nguyễn Tấn Dũng đến Nguyễn Minh Triết tới Vatican bệ kiến cuối năm 2009 để lo bang giao với Cộng Sản!
Nhưng đó là Vatican Hoàn Vũ, không phải của Việt Nam.

Gần ta nhất, là thi sĩ Nguyễn Chí Thiện, ngay từ khi còn sống ở miền Bắc, ông cũng đã diễn tả thân phận người dân Việt Nam sống trong địa ngục Đỏ của Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp để đòi Sám Hối:  
                                      Trên mảnh đất Đảng gieo mầm tội lỗi
                                                  Trong lành cũng phải tanh hôi
                                                  Trẻ con chưa nứt mắt đã tù rồi
                                                   Bạo lực đi về rất vộí!
                                                   Chết trận, chết tù, hỡi ơi xã hộí!
                                                   Biết bao là vợ góa con côi
                                                   Bán trôn rồi lại bán cả mồ hôi
                                                   Mà đói rét vẫn quần cho sớm tối
                                                   Mảnh đất chờ trông và sám hối...

                                                                 (Trên Mảnh Đất, 1964)    

Trong những tháng cuối năm 2011, có nhiều công thần của Hồ Chí Minh lần lượt lên tiếng phủ nhận những gì mà họ theo đuổi trong suốt hơn nửa thế kỷ qua.

Trên làn sóng đài RFA, trong bài “Hiện tượng sám hối”biên tập viên Mặc Lâm đã phỏng vấn nhà văn Trần Mạnh Hảo. Theo nhà văn nầy thì: “Ông Trần Phương là một người cũng đã tận tụy đi theo cách mạng. Làm đến Phó Thủ Tướng nhưng khi các ông ngồi lại để góp ý cho đảng thì ông ấy nói rằng cuộc đời trong mỗi cá nhân để vượt qua những sự kiện quan trọng trong đời mà cứ phải nói dối người thân, nói dối gia đình, nói dối mọi người đến mấy lần thì đến khi về già đã thấy ngượng, thấy xấu hổ lắm. Nhưng Đảng Cộng Sản của chúng ta từ khi sinh ra đến giờ toàn nói dối mà không biết tại sao đảng không biết ngượng, không biết xấu hổ, không biết sám hối”..

http://3.bp.blogspot.com/-6kYADu594rQ/TmbdthHYwlI/AAAAAAAAA0U/7D2mHFJMIDw/s1600/images448497_1.jpg
Vậy ít nhất Đại Tướng Võ Nguyên Giáp, bằng mọi cách, hãy cố tỏ ra biết xấu hổ, biết lên tiếng Sám Hối tội lỗi cho Đảng Cộng Sản Việt Nam, tạo một thông điệp Hòa Bình thật sựtrong tâm hồn dân tộc Rồng Tiên trước khi ông đi gặp Hồ Chí Minh!

     
Nguyễn Việt Nữ
 (Xuân Nhâm Thìn 2012)

Đại tướng Lê Đức Anh ‘sám hối’?

Hoàng Trần (Danlambao) - Nhân dịp sinh nhật lần thứ 94 của cựu chủ tịch nước Lê Đức Anh, báo VietNamNet đã có bài phỏng vấn tiêu đề “Đại tướng Lê Đức Anh trăn trở Lời Thề ở Trường Sa

Động thái trên như để bào chữa trước các thông tin khẳng định đại tướng Lê Đức Anh khi còn đương chức chính là thủ phạm đã tiếp tay cho Trung Cộng đánh chiếm đảo Gạc Ma (Trường Sa) vào ngày 14/3/1988.

Trong vai trò là bộ trưởng bộ quốc phòng, Lê Đức Anh đã ra lệnh cho hải quân Việt Nam ‘không được nổ súng’, dẫn đến hậu quả hải quân Trung Cộng dễ dàng đánh chiếm đảo Gạc Ma và ra tay thảm sát 64 người lính hải quân Việt Nam chỉ sau một trận chiến ngắn.

Hành động bán nước của Lê Đức Anh đã được thiếu tướng Lê Mã Lương tiết lộ hôm 14/6/2014 tại hội thảo Minh Triết Biển Đông.

Đại tướng ‘đau lòng’?

Hiện nay, dù đã về hưu nhưng đại tướng Lê Đức Anh vẫn là một thế lực đáng sợ trong giới chóp bu Ba Đình. Nhân vật này là người đỡ đầu quyền lực cho thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, còn con trai ông Anh là Lê Mạnh Hà đang giữ chức phó chủ tịch ủy ban nhân dân TP.HCM.

Trong bài phỏng vấn được đăng trên báo VietNamNet hôm 30/11/2014, Lê Đức Anh nói rằng sau khi xảy ra ‘cuộc đụng độ’ tại Gạc Ma, ông ta đã ra Trường Sa và cảm thấy ‘đau lòng’ khi nói ‘lời thề giữ gìn chủ quyền biển đảo’.

"Tôi ra Trường Sa đúng dịp kỷ niệm ngày truyền thống bộ đội Hải quân và ngay sau khi vừa diễn ra cuộc đụng độ giữa bộ đội Hải quân của ta với tàu chiến của Hải quân Trung Quốc ở các đảo Gạc Ma, Chữ Thập. Lúc bấy giờ, tôi thấy cần thiết phải ra Trường Sa. Khi nói lời thề giữ gìn chủ quyền biển đảo ở Trường Sa, tôi đau lòng nhìn thấy một đất nước trải qua bao nhiêu năm chiến tranh mà vẫn không trọn vẹn, Hoàng Sa bị lấy mất rồi....", báo VietNamNet trích lời đại tướng Lê Đức Anh nói.

Trước vong linh của 64 chiến sỹ hải quân Việt Nam đã hy sinh vì lệnh không được nổ súng, ông Lê Đức Anh có thực sự đau lòng hay không? Chỉ biết rằng sau trận Hải chiến Trường Sa năm 1988, Lê Đức Anh đã trực tiếp ‘đi đêm’ với Trung Cộng, dẫn tới kết quả là Hội Nghị Thành Đô diễn ra vào năm 1990.

Sám hối hay ngụy biện?

Hậu quả Mật nghị Thành Đô với vai trò của Lê Đức Anh, Đỗ Mười, Nguyễn Văn Linh… đã khiến Việt Nam bị mất hàng chục ngàn km vuông lãnh hải, lãnh thổ vào tay Trung Cộng.

Gần đây, Trung Quốc đang ráo riết xây sân bay quân sự trên đảo Gạc Ma, biến nơi này thành một tiền đồn uy hiếp toàn bộ khu vực miền Nam của Việt Nam.

Những phát biểu trên của đại tướng Lê Đức Anh là một lời sám hối lúc tuổi già, hay chỉ là một lời biện minh về hành vi tiếp tay bán nước cho Trung Cộng? 

Nếu thực sự sám hối, ông Lê Đức Anh hãy công khai cho toàn dân biết về những thỏa ước mà bộ chính trị đảng CSVN đã bí mật ký kết với Trung Cộng tại Hội nghị Thành Đô năm 1990.

Ngược lại, mọi lời biện minh đều trở thành giả dối. Lê Đức Anh và bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm trước dân tộc bởi tội danh phản quốc về hành vi bán nước cho Trung Cộng.

Hoàng Trần

ÁM HỐI LÀ PHƯƠNG CÁCH DUY NHẤT XÓA NGÀY TANG THƯƠNG 30 THÁNG 4 - 

Thượng tọa THÍCH VIÊN ĐỊNH



Trong một thế giới đầy xung động luôn có những sự tranh chấp. Có nhiều phương cách để giải quyết các cuộc tranh chấp. Thời kỳ hoang dã, hai bên thường giải quyết bằng bạo động, thế giới văn minh các bên có khuynh hướng giải quyết bằng thương thảo ôn hoà. Cùng bị chia đôi đất nước vì khác nhau ý thức hệ, nhưng 3 đảng Cộng sản của 3 nước đã có 3 cách hành động khác nhau. Cộng sản Đông Đức thì bắt tay, thương thảo với Tây Đức để thống nhất đất nước trong hoà bình. Cộng sản Bắc Việt lại gây chiến tranh, huynh đệ tương tàn đến khi có kẻ thắng, người thua mới chịu thôi. Cộng sản Triều Tiên lại khác nữa, cứ để phần ai bên đó giữ, đợi xem rốt cuộc ai đúng, ai sai, hạ hồi phân giải. Việt Nam thì khen Việt Nam anh hùng, vì thắng Mỹ, thắng Pháp, Thái Lan lại khen Thái Lan anh hùng vì tránh được cuộc chiến tranh đối đầu với phương Tây. Không biết ai đúng, ai sai, ai mới thật sự anh hùng? Ai gây tội ác với dân tộc?

Ông Võ Văn Kiệt, cố Thủ Tướng cộng sản Việt Nam, người có một phần trách nhiệm trong cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn giữa hai miền Nam Bắc Việt Nam, khi về già, ông đã có những nhận định rất khác lạ, nhưng nghe có vẻ chân thành, Ông nói rằng: “Trong chiến thắng 30.4.1975, nếu có một triệu người vui thì cũng có một triệu người buồn…”. Có lẽ, như cổ nhân thường nói: “Nhân tương tử kỳ ngôn dã thiện, điểu tương tử kỳ minh dã ai”, con người sắp chết, lời nói thật thà, con chim sắp chết, tiếng kêu thê lương. Có lẽ cuối đời, ông muốn quay trở về với ông bà, tổ tiên, không muốn đi theo Mác-Lênin nữa, vì ông đã thấy ra rằng, chủ thuyết Mác-Lênin đã sai lầm, nên thẳng thắn, mạnh dạn, dám nói lên sự thật, giống như ông Gorbachev đã can đảm thú nhận rằng: “Chủ nghĩa Cộng Sản mà tôi (Gorbachev) phục vụ gần cả đời người, toàn là tuyên truyền lừa bịp. Người Cộng Sản chúng tôi tin dùng những điều gian dối để che giấu sự thật . Theo lời ông Võ Văn Kiệt thì tuy cuộc chiến kết thúc nhưng chỉ có người dân nửa nước là vui mừng, còn một nửa lại đau khổ. Ông Võ văn Kiệt, một đảng viên Cộng sản cao cấp, có công lớn trong cuộc chiến, làm đến chức Thủ tướng, là kẻ chiến thắng, nhưng ông đã nói như vậy, thì không một ai trong hàng ngũ lãnh đạo đảng Cộng sản hiện nay, có thể nói gì khác được. Thật vậy, chẳng có cuộc chiến tranh nào mà không gây điều tàn cho đất nước đó, chẳng có cuộc chiến tranh nào mà không mang đến đau thương cho những người dân vô tội. Cuộc chiến Bắc Nam lại kéo dài gần 21 năm trời, tiêu tốn không biết bao nhiêu xương máu của binh lính hai bên, của đồng bào vô tội. Tổng kết gần 10 triệu người chết, nhà cửa tan hoang, ruộng vườn đổ nát, đất nước điêu tàn, dân tình ly tán… Cái hậu quả đau thương mất mát của dân tộc, đã kéo dài từ đó đến nay chưa dứt, không biết đến bao giờ mới hàn gắn được, chứng tỏ cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, do Cộng sản Bắc Việt gây ra, rõ ràng là sai lầm và thất đức. Nếu chỉ vì người dân một nửa nước vui mà lại gây cho nửa nước buồn, thi chi bằng bắt chước Cộng sản Triều Tiên, phần ai nấy giữ, có hay hơn không? Hay tốt nhất là bắt chước Cộng sản Đông Đức, bắt tay với Tây Đức, thống nhất đất nước trong hoà bình thì vui đẹp biết chừng nào!

Ai đã gây ra tội ác này? Ai là người phải chịu trách nhiệm? Ai là kẻ có tội với tổ quốc, với dân tộc Việt Nam?

Sau chiến thắng, 30.4.75, về kinh tế thì Nhà cầm quyền Cộng sản đã áp dụng chủ thuyết vô sản Mác-Lênin để “Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Xã Hội Chủ Nghĩa”. Ở miền quê thì quốc hữu hoá ruộng đất của nông dân đem gom vô hợp tác xã. Ở thành thị lại chủ trương đánh công thương nghiệp. Nhà máy, công ty, cửa hàng buôn bán của tư nhân đều bị trưng thu. Tiền bạc bị đổi theo chỉ tiêu mỗi gia đình chỉ được 200 đồng. Trong phút chốc, toàn dân trên cả nước, đều trở thành vô sản. Chủ trương chuyên chính vô sản thiếu cạnh tranh nên không kích thích được nhu cầu phát triển khiến nền kinh tế cả nước dần đi đến kiệt quệ. Dân chúng, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, đau bệnh không thuốc thang, lại thêm chế độ hộ khẩu, công an trị…cuộc sống mất tự do, đau khổ, cơ hàn như địa ngục. Đến nỗi, năm 1986, Cộng sản đã phải khẩn cấp thay đổi chính sách: “Đổi mới hay là chết”.

Về chính trị thì với tư tưởng hận thù, Nhà cầm quyền đã bắt giam hàng triệu sĩ quan, công chức của Việt Nam Cộng Hoà vào trại tù cải tạo. Qui chế trong trại tù lại tuân theo chỉ thị khắc khe tàn ác của Thủ Tướng Bắc Việt, Phạm Văn Đồng: “Chúng gây tội ác với dân tộc, cho chúng ăn ít, bắt chúng làm nhiều, đó là nhân đạo lắm rồi”. Vì bị đối xử tàn bạo, dã man nên không biết bao nhiêu quan chức chế độ cũ phải bị bệnh tật, chết chóc, trong các trại tù ở nơi rừng sâu, nước độc. Nhiều người phải liều mạng vượt biên, bằng ghe, bằng thuyền, băng rừng vượt biển cố thoát ra nước ngoài. Lớp chết trên rừng, lớp chết dưới sông, lớp bỏ mình ngoài biển cả, làm mồi cho chim cá…Thật là một giai đoạn đau khổ cùng cực cho dân tộc. Trong lịch sử Việt Nam chưa có thời nào như vậy. Cho đến nay, Xã hội vẫn tiếp tục xuống cấp, các tệ nạn trộm cắp, bài bạc, xì ke ma tuý, tham nhũng hối lộ nhiều vô kể. Văn hoá suy đồi, đạo đức băng hoại… 

Ai đã gây ra cảnh tượng đau thương này cho dân tộc? Ai mới thật sự là kẻ có tội với tổ quốc, có tội với nhân dân?

Năm 1861-1865, Hoa Kỳ cũng có một cuộc nội chiến giữa hai miền Nam, Bắc về vấn đề giải phóng Nô lệ. Miền Bắc cũng thắng, Miền nam cũng thua và phải đầu hàng. Sau khi thảo luận giải quyết vấn đề giải giáp cho binh sĩ, hai bên cùng đồng ý rằng, sĩ quan miền Nam vẫn tiếp tục giữ nguyên cấp bực, còn binh lính miền Nam, ai muốn về nhà với gia đình thì về, ai muốn tiếp tục binh nghiệp, thì gia nhập vào binh đoàn miền Bắc. Không có trại cải tạo, không có trại tù. Nghĩa Trang chôn chung binh sĩ hai miền, binh lính tôn trọng lẫn nhau. Đó mới là hoà bình, đó mới là thống nhất, thật đẹp đẽ biết bao.

Hơn cả thế kỷ trước mà Hoa Kỳ đã văn minh như thế. Vậy mà ngày nay, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn còn sống trong tư tưởng hận thù như thời kỳ man dã. Tại sao Cộng sản Việt Nam biết sao chép Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ, như lời ông Bill Clinton, cựu Tổng Thống Hoa Kỳ đã nói, nhưng lại không biết bắt chước cách đối xử hoà bình, thương yêu và bao dung cho nhau, như tướng Grand và tướng Lee của hai miền Nam, Bắc Hoa Kỳ đã làm sau khi cuộc nội chiến chấm dứt?

Ông Võ Văn Kiệt còn nói, “Yêu nước cũng có nhiều cách yêu nước”. Không phải như lời tuyên truyền nhồi sọ của Nhà cầm quyền Cộng sản rằng, “yêu nước là yêu Xã hội chủ nghĩa.” Ngày nay chỉ còn vài nước theo Xã hội chủ nghĩa, vậy người dân của hàng trăm nước theo chế độ tự do, dân chủ trên thế giới thì không biết yêu nước hay sao?  Các Nhà cầm quyền độc tài đã lợi dụng vấn đề yêu nước như một phương tiện để khủng bố, đàn áp người dân, quyết giữ độc quyền lãnh đạo, vì quyền lợi của bè đảng phe nhóm riêng tư.

Có nhiều cách để giải quyết vấn đề khác biệt về lập trường và tư tưởng. Nhất là đối với người dân trong một nước. Cùng là đồng bào, cùng là bà con, thân thuộc với nhau, tại sao lại phải tương tàn, tương sát nhau chỉ để giải quyết vấn đề tư bản và cộng sản mà phải gây ra bao khổ đau, tan nát. Thật là một sự vọng động và sai lầm quá lớn!

Ngày 30.4.1975, ngày chấm dứt chiến tranh hai miền Nam Bắc, lẽ ra là một ngày vui, lại trở thành một ngày buồn, ngày đất nước rơi vào thời kỳ tăm tối, gia đình ly tán, quê hương tan nát, dân tộc chia lìa. Ngày chấm dứt chiến tranh lại là ngày đất nước rơi vào thể chế độc tài độc đảng theo chủ thuyết ngoại lai sai lầm làm cho nhân dân mất hết tự do, dân chủ, nhân quyền như thời kỳ phong kiến, thực dân, hoang dã. Bạo lực chỉ thâu tóm được đất nước nhưng không thống nhất được lòng người.

Nhu cầu tự do, dân chủ và hoà bình là  nhu cầu chung cho mọi người trên thế giới. Đã bước qua thế kỷ 21, một thế kỷ mà các nước trên thế giới đang hướng đến tự do và phát triển về mọi măt, vậy mà người dân Việt Nam vẫn sống bên lề xã hội văn minh. Việt Nam không có các quyền tự do tôn giáo, báo chí, đi lại, cư trú, lập hội… như qui định trong bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc.

Về vấn đề này, Đại Lão Hoà Thượng Thích Huyền Quang, từ năm 2000, lúc còn bị lưu đày ở Quảng Ngãi, Ngài đã viết thư yêu cầu Nhà cầm quyền cộng sản: “Hãy lấy ngày 30.4.1975 làm ngày Sám Hối và Chúc sinh toàn quốc” Ngài đòi hỏi: “ Hãy trả Nhân quyền lại cho người sống và Linh quyền cho người chết”. Nếu được như vậy thì mới thật sự thống nhất đất nước, thống nhất lòng người, nhân dân được đầy đủ quyền tự do, dân chủ, tiếp đến sẽ đoàn kết dân tộc, cùng nhau chống ngoại xâm để cứu nước thoát khỏi nạn bành trướng Đại Hán nguy cấp hiện nay.

Thích Viên Định

Hoài niệm và phản tỉnh về ngày 30 tháng 4 năm 1975 để giải ảo ngụy sử, hoà giải dân tộc và xây dựng đất nước

Đỗ Kim Thêm

Tóm lược: Ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày toàn thắng của ĐCSVN và là ngày đại bại của toàn dân tộc Việt Nam. Chúng ta có các lý do chính đáng để không tham gia mừng lễ kỷ niệm chiến thắng, nhưng cần giúp đỡ nhau để có ý thức phản tỉnh về ý nghĩa tưởng niệm, hoà giải và trách nhiệm đối với những hậu quả của ngày này.

Hiện tình Việt Nam là đang bị nguy cơ hơn bao giờ hết; vì về mặt nội trị có quá nhiều bất ổn mà vẹn toàn lãnh thổ, tham nhũng và nợ công là chính; về mặt đối ngoại có quá nhiều tổn thương, vì lãnh đạo đặt quyền lợi Trung Quốc và quyền lợi riêng lên trên quyền lợi của dân tộc là chính. Hoa Kỳ sẽ không là một lá chắn an toàn cho Việt Nam vì Hoa Kỳ không có phép lạ để biến đổi nội tình và ngoại cảnh cho Việt Nam. Hoa Kỳ cũng đủ thông minh để không bao giờ chống Trung Quốc thay cho Việt Nam.

Mọi vấn đề hiện nay của Việt Nam có thể sẽ được giải quyết được một phần nào khi có sức mạnh dân tộc mà sự hiểu biết của toàn dân, đồng thuận chính trị, và quyết tâm chuyển hướng là chính và đường lối thực tiễn là thay đổi hiến pháp dân chủ, nâng cao đạo đức và giáo dục, tăng trưởng kinh tế, tôn trọng trí thức và pháp luật, thực thi nhân quyền và dân quyền và bảo vệ thiên nhiên.

Ngày 30 tháng 4 năm 2015 đánh dấu một ngày khởi đầu cho trang sử Việt, mà một thế hệ hậu chiến trưởng thành và sẽ đảm nhận trách nhiệm chính trị cho đất nước. Thế hệ hậu chiến không cần có một lý tưng cầu toàn để canh tân đất nước hay các biện pháp xé rào để cứu Đảng, mà cần nhất là có một ý thức bừng tỉnh về sự tồn vong của dân tộc.

***

Ký ức thay ngụy sử?

Ngày 30 tháng 4 năm 2015 đánh dấu một ngày quan trọng trong lịch sử của Việt Nam, vì là ngày kỷ niệm 40 năm chiến tranh kết thúc. Hiện nay, các thế hệ tham chiến hầu như đã lần lượt ra đi hay đang quên đi những hậu quả của chiến cuộc. Thời gian dài này cũng đủ để làm một thế hệ hậu chiến trưởng thành mà không vướng bận với ký ức thuộc về lịch sử.

Tuy thế, có một sự khác biệt giữa ký ức và lịch sử. Ký ức là một điều kiện thiết yếu tự tại và có một giá trị đặc biệt cho lịch sử. Ký ức riêng tư tạo nên bản sắc cá nhân và ký ức tập thể tạo nên bản sắc xã hội. Cả hai đặc thù văn hoá này nếu kết hợp nhau được sẽ làm thành một lịch sử chung cho dân tộc. Để phác thảo lịch sử, sử gia cần có ký ức văn hoá, một sự thật của lịch sử và đây là một trong những điều kiện khách quan làm khởi điểm cho chính sử.

Nhưng trong hiện tại vấn đề soi sáng lịch sử ít được quan tâm, bởi vì chúng ta đang có những nhu cầu bức thiết, đó là hiểm hoạ Bắc thuộc và bất lực của chính quyền trước những khát vọng của toàn dân về toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng dân chủ, phát triển kinh tế, nâng cao công bình và tôn trọng nhân quyền.

Nhìn lại sau 40 năm dài thì thực tế cho thấy dù là ký ức của các chứng nhân lịch sử đang nhạt nhoà và bản sắc của đất nước đang tàn phai, nhưng người Việt vẫn còn bị ám ảnh bởi những chiến tuyến trong quá khứ, đề cao thành quả chiến thắng mãi làm cho việc hoà giải giữa người Việt còn khó khăn và những giá trị phổ quát trong xu thế thời đại như tự do, dân chủ, nhân quyền và trọng pháp lại chưa áp dụng. Lý do chính là người Việt đã không có và sẽ không thể chia sẻ một quá khứ chung của lịch sử cận đại.

Nếu chúng ta muốn xây dựng một chính sử Việt Nam cho hôm nay và mai sau, thì giải ảo ngụy sử là một nhu cầu tất yếu. Vậy vấn đề là liệu có nên khơi động lại ký ức cá nhân hay tập thể hoàn toàn độc lập với mọi dị biệt và đối kháng với ngụy sử để làm cơ sở được không?

Thế hệ tham chiến và quá khứ

Thế hệ tham chiến nghĩ gì về quá khứ và để làm gì trong hiện tình? Chiến tranh Việt Nam nằm trong bối cảnh quốc tế của Chiến tranh Lạnh và lại là một thí dụ điển hình trong khu vực về Chiến tranh Ủy nhiệm. Không riêng Việt Nam mà hầu như nhiều quốc gia đều hình thành bằng bạo lực. Trong cả một thời kỳ dài, tranh đấu bằng bạo lực là một phương tiện hiển nhiên, nó tạo nên một loại văn hoá chung và trở thành một sự thực khách quan của lịch sử. Chiến thắng ngày 30 tháng 4 năm 1975 là một bạo lực cách mạng để thống nhất đất nước và là một sản phẩm của lịch sử.

Công việc chọn lọc quá khứ để giải ảo lịch sử cũng có nghĩa là làm sống lại quá khứ, một phần hay toàn bộ ký ức của cá nhân hay tập thể. Phủ nhận hay quên đi quá khứ, cả hai nỗ lực này là bất khả. Không ai muốn quên lãng quá khứ oai hùng, vì mục đích kéo dài hạnh phúc đã hết là để làm quên đi thực tế bất hạnh. Quên lãng quá khứ thương đau thì không thể dễ dàng vì là một ám ảnh còn vang động trong hồn như một loại bịnh tâm thần kinh niên không trị được. Khép lại quá khứ và cảm nhận nó trong mối quan hệ với hiện tại và tương lai, cả hai việc đòi hỏi chúng ta có một ý thức phản tỉnh mà không bị dồn ép cực đoan bằng một ý thức hệ đã lỗi thời hay xí xoá dễ dãi bằng những thành tựu kinh tế nay đang sa sút.

Để trả lời các vấn đề này, thế hệ tham chiến lập luận là ký ức của các chứng nhân lịch sử sẽ mai một và ký ức của tập thể chỉ có tính địa phương. Đoàn kết dân tộc là một vấn đề trọng đại của lịch sử đất nước, chúng ta hãy để cho sử gia làm việc, vì họ có khả năng gạn đục khơi trong các tồn đọng cuả quá khứ để trình bày khách quan hơn và có tác động hữu hiệu hơn. Bất hạnh cho chúng ta là sử Việt bị ngụy tạo quá nhiều, nên không thể lý giải và thuyết phục các sự thật lịch sử cận đại.

Ngụy tạo chính sử

Có một sự khác biệt giữa quan điểm về lịch sử của người phương Tây và Việt Nam. Khi người Mỹ nói đó là chuyện lịch sử, mọi người cùng yên tâm nghĩ là toàn bộ vấn đề xảy ra được ghi chép cẩn thận và nghiên cứu nghiêm túc (That is history; it is totally a record). Khi người Việt nói đó là chuyện lịch sử, chúng ta phải dè dặt hơn, vì đó là một biến cố quan trọng đã xảy ra (It is a most importat thing); sự kiện còn ngờ vực, đúng sai hay hay dở còn cần xét lạ, vì tùy theo thời điểm và quan điểm chính trị. Đây không phải là một khám phá mới lạ, vì đã có vô số các bằng chứng về các sai lầm trong sử Việt, mà những ví dụ chính cho thấy các tầm mức tác hại nghiêm trọng của vấn đề ngụy tạo.

Thứ nhất, theo sử thì Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) giải tán ngày 11 tháng 11 năm 1945, nhưng thc tế thì Đảng tiếp tục hoạt động trong bí mật, sau đó lại công khai cho đến ngày hôm nay. Không có sử gia nào bỏ công cải chính sự kiện này của ĐCSVN và Đảng Lao Động, dù là hình thức.

Thứ hai, vai trò của ĐCSVN trong việc giành độc lập. Thực ra, Việt Nam chưa độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 khi Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn, vì Đảng không cướp được chính quyền từ tay Nhật và Pháp, mà của chính phủ Trần Trọng Kim vào ngày 19 tháng 8 năm 1945 và về sau gọi đó là Cách mạng tháng Tám.

Việt Nam thâu hồi chủ quyền độc lập ngày 8 tháng 3 năm 1949 theo Hiệp Định Elysée. Điểm đặc biệt của Hiệp định là Việt Nam thống nhất và độc lập nằm trong Liên Hiệp Pháp. Sau đó, ngày 23 tháng 4 năm 1949 Quốc Hội Nam Kỳ đã giải tán chế độ Nam Kỳ tự trị và sát nhập Nam Phần vào lãnh thổ Việt Nam. Do đó, Việt Nam đã được thống nhất năm 1949 về ngoại giao và chính trị.

Không ai bỏ công phân biệt ý nghĩa cao cả của công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc do ngoại xâm và phương cách bất chánh để cướp chính quyền trong nội chính. Xác minh thời điểm chính xác cho sự độc lập cũng bị quên lãng.

Thứ ba, cuộc đời của Hồ Chí Minh là một chuyện dài không đoạn kết. Bao nhiêu sách vở khác nhau viết về xuất xứ, hành tung, khả năng, quá trình hoạt động và tư cách đạo đức của ông. Mỗi lúc lại có một khám phá mới làm cho sự thật về cuộc đời của ông càng huyền bí hơn.

Nhu cầu tuyên truyền chính trị nhất thời là lời giải thích quen thuộc. Các nhà nghiên cứu đã (phải) suy tôn ông lên làm thần thánh, rồi một thời gian sau, vì lý do chính trị khác, lại hạ bệ. Nhiều tác phẩm viết về ông, nhưng ông không có một chỗ đứng vững chắc trong lịch sử. Vì ông là một nạn nhân của lịch sử quái ác nên các vấn đề tiểu sử, công nghiệp, đời tư của ông còn cần phải tiếp tục soi sáng.

Thứ tư, đấu tranh quân sự có phải là một giải pháp tối ưu duy nhất hay kết hợp với các giải pháp nghị trường và ngoại giao cũng là điều kiện khả thi?

Trước trào lưu đấu tranh giành độc lập tại các nước Á Phi đang dâng cao nên Pháp đã ý thức vấn đề này. Từ năm 1947 Pháp đã quyết định không tái lập chế độ thuộc địa và tôn trọng nguyện vọng độc lập của nhân dân Việt Nam bằng cách đăng ký Việt Nam là một quốc gia độc lập nằm trong Liên Hiệp Pháp tại Liên Hiệp Quốc. Đó là một thắng lợi ngoại giao và pháp lý mà Đảng Cộng Sản đã phủ nhận và về sau giải thích là Pháp đem quân trở lại Việt Nam để tái lập chế độ thuộc địa.

Do đó, khi nhân danh giành lại độc lập dân tộc, họ chiến đấu vũ trang chống Pháp, nhưng bằng cách độc quyền yêu nước và độc quyền lãnh đạo quốc gia. Trái lại, các nước châu Á khác đã chủ trương đấu tranh ôn hòa, không bạo động và không liên kết với Cộng sản Quốc tế, mà thành công của Ấn Độ (1947) là một thí dụ, dù bối cảnh phức tạp hơn Việt Nam nhiều.

Thứ năm, ĐCSVN sử dụng chiêu bài đấu tranh chống Pháp và chống Mỹ như một chiến thuật để đạt mục tiêu chiến lược là cướp chính quyền. Họ đã chống đối bất cứ giải pháp chính trị và ngoại giao nào không cho họ độc quyền đấu tranh và lãnh đạo quốc gia, mà Hiệp định Genève và Paris là hai cơ hội lịch sử.

Dù Hiệp định Genève chỉ là để định ranh giới ngưng bắn và không áp đặt những giải pháp chính trị, nhưng thống nhất Nam Bắc thuộc quyền dân tộc tự quyết, một cơ hội mới về tổng tuyển cử mở ra và sẽ do hai miền ấn định. Lãnh đạo cả hai miền đã không đủ nỗ lực để thực thi biện pháp tổng tuyển cử, một cơ hội không tốn xương máu. Đó là một quan điểm sai lầm của cả hai và trở thành một bất hạnh cho dân tộc hiếu hoà.

Hiệp định Paris là một hiệp ước ngoại giao và có tác dụng chính trị, nhưng là một cơ hội khác mở ra nếu các bên đồng ý “thực hiện từng bước bằng phương pháp hoà bình trên căn bản thương nghị và thỏa thuận giữa Miền Bắc và Miền Nam, không bên nào cưỡng ép bên nào, không bên nào thôn tính bên nào.” (Điều 15).

Phát động chiến dịch Hồ Chí Minh để thôn tính miền Nam không phải là phương pháp hòa bình như đã ký kết. Vi phạm Hiệp định Paris lại là một thành tích tự hào về sự phản bội của chính mình và chấp nhận hy sinh xương máu của thế hệ thanh niên cuối cùng của miền Bắc.

Thứ sáu, Đại Thắng Mùa Xuân là đỉnh cao chói lọi trong trang sử đấu tranh của ĐCSVN, nhưng Ted Gunderson (1928 – 2011), nhân viên của FBI tại Los Angeles và Wahsington DC tiết lộ là sau chiến dịch Operation Linebacker của Hoa Kỳ, Bắc Việt tuyên bố đầu hàng đầu hàng vô điều kiện. Ngũ giác Đài nhận điện tín này nhưng CIA buộc ép nhẹm nguồn tin và thuyên chuyển tất cả các nhân viên có trách nhiệm ra khỏi nhiệm sở. Dĩ nhiên, Việt Nam không hề kiểm chứng nguồn tin này.

Tóm lại, các vấn đề quan trọng trong chính sử cận đại như ý nghiã đích thực của chiến tranh, kết hợp các phương tiện khả thi để giải quyết xung đột, những hy sinh và thành tích cần được giải ảo trong một phương cách mới hơn, khi mà có vô số các nguồn tài liệu được liên tục giải mật. Quan trọng nhất là chúng ta phải có can đảm nhìn vào sư thật của lịch sử trong một nhãn quan mới.

Cho dù ngày nay ngụy sử đã không thể phản ảnh được toàn bộ quá khứ và chính sử cũng không hẳn là mất đi hết trong những gì còn sót lại nơi lòng người, nhưng điều may mắn hơn cho chúng ta là lịch sử vẫn còn được truyền tụng, mà ký ức cá nhân và tập thể cần hồi tưởng là thí dụ điển hình.

Những người Việt đang ở vào lớp tuổi bốn mươi hay trẻ hơn không có ký ức về chiến cuộc, vì họ chưa sinh ra. Dĩ nhiên, họ có quyền đặt câu hỏi vì sao Việt Nam chưa thể canh tân đất nước và hưởng độc lập dân tộc và họ phải gánh chịu một di sản tồi tệ như ngày hôm nay. Khi ngụy sử không thuyết phục được họ, thì ký ức của các bậc cha ông còn sống sót sẽ đóng vai trò gì?

Ký ức chiến cuộc nhạt nhoà

Tình yêu về dĩ vãng vốn bẩm sinh trong tâm hồn người Việt; họ thích ôm ấp kỷ niệm trong mơ hồ và không muốn dùng ngôn ngữ để diễn đạt những cảm xúc trân qúy. Ký ức là nhớ lại; một người không có trí nhớ là một người không còn bản sắc riêng. Nhưng ngược lại với ký ức là quên lãng; ai phải dồn ép quá khứ, thường là người không bình thường và hoặc sẽ mang bịnh ức chế. Một người trưởng thành không có ký ức sẽ mãi là một trẻ con.

Ký ức tập thể theo Maurice Halbwach quan trọng hơn. Nó vượt qua khuôn khổ kinh nghiệm sống của một cá nhân, hằn sâu, tiêm nhiễm vào một tầng lớp xã hội, một thế hệ trong một giai đoạn của dân tộc và tạo thành bản sắc chung. Một dân tộc không có ký ức lịch sử cũng là một dân tộc chưa trưởng thành.

Khi xưa, Tản Đà có than thở “Dân hai lăm triệu, ai người lớn?, Nước bốn nghìn măm vẫn trẻ con.” Lời thơ ai oán được truyền tụng như một lời cảnh tỉnh về tình trạng dân trí trong thời Pháp thuộc. Trong chiến tranh, Trịnh Công Sơn cũng đã nhắc nhiều đến thân phận đất nước, nhưng thê thiết nhất là “Ôi, đất nước u mê ngàn năm“. Điều ngạc nhiên là cả hai danh tài này sống trong hai thế hệ cách biệt nhau, nhưng lại cùng một tâm trạng, dù không hề quan tâm đến chính sử và ký ức.

Nhưng làm sống lại ký ức không dễ, vì có một cái gì đó thiếu bình thường mà có quá nhiều thí dụ làm cho chúng ta ngạc nhiên.

Thứ nhất, nhân ngày 30 tháng 4 mà nhân dân thủ đô Hà Nội kéo băng và biểu ngữ với nội dung “Hân Hoan Chào Mừng Ngày Giải Phóng Thủ Đô”. Vô ý hay là trớ trêu trong một ký ức nhạt nhoà? Không ai biết.

Thứ hai, ngược lại, nhân ngày này mà một số người Việt hải ngoại cũng có tổ chức “Ngày Diễn Hành Cho Tự Do”. Vì là buổi diễn hành nên ít có thuyết trình về ý nghĩa trọng đại về một ngày lịch sử của đất nước để người tham dự cảm thấy có trách nhiệm hơn đối với những hậu quả của ngày này. Vì tự do hoài niệm mà đôi khi cũng có nhiều nơi còn có kết hợp với lễ Lao Động với dạ tiệc và khiêu vũ thâu đêm là chính. Đó là sáng kiến giải trí cuối tuần kéo dài trong hoàn cảnh mới, nên không đem lại một âm vang tưởng niệm nào trong đau buồn, nhớ những nguời nằm xuống và người trốn chạy.

Thứ ba là chuyện không có quyền công khai tưởng niệm những người nằm xuống trong chiến tranh biên giới Trung – Việt. Khơi động ký ức lại cần có ý kiến chỉ đạo? Hồi sinh ký ức càng thêm chua chát khi lãnh đạo hân hoan đón tiếp lãnh đạo bạn để cùng “Thành Kính Tưởng Niệm Các Liệt sĩ Trung Quốc Hy Sinh Vì Chính Nghĩa” trong Tiết Thanh Minh, một việc làm đúng theo chính sách đề ra.

Còn nhớ về Ngày Hoàng Sa và Trường Sa lại càng khó hơn, cụ thể nhất là vụ thảm sát Gạc Ma. Trước đây binh sĩ không được phép chống trả với Trung Quốc nên đem lại một cái chết tập thể; chính quyền luôn che dấu sự thật và nay lại không cho phép tưởng niệm và ghi công và không nêu tên kẻ thù, đó là một hành vi xoá bỏ ký ức có định hướng.

Những người chiến đấu còn sống không được tri ân, đãi ngộ và chỉ còn âm thầm xót thương cho đời nhau. Họ cũng bất hạnh giống như các cựu chiến binh Mỹ, làm điều vô ích cho kẻ vô ơn và cuối cùng lại chứng kiến trớ trêu của lịch sử mà đó lại là định mệnh của mình.    

Thứ tư là chuyện những người di tản buồn lại càng buồn hơn, khi phải nhớ tới những thuyền nhân qua cơn phong ba bảo táp, chưa hưởng được tự do và cuối cùng phải yên nghỉ nơi đảo vắng xứ người. Trùng tu mộ phần đã khó, sơn tặng cho họ một lá cờ trên mộ phần và lập đài tưởng niệm trên các đảo cũng bị nhà nước CSVN tìm cách áp lực ngoại giao nên không được phép. Thân nhân cũng đành khép lại quá khứ theo chính sách.

Thứ năm là vấn đề gọi tên ký ức. Thảm sát hay chiến thắng Mậu Thân? Định danh ký ức cũng cần thảo luận như gọi tên cho cuộc chiến. “Chống Mỹ xâm lược“ mà hơn 5000 ngàn thường dân Việt và vài ân nhân người Đức phải chết oan uổng, thì không thể nào gọi là thắng lợi huy hoàng và có thể giải thích thuần lý.

Những hung thủ còn sống sót cũng không đủ can đảm đính chánh về cáo giác của các nhân chứng trong “Giải Khăn Sô Cho Huế“. Dù tai họ còn nghe và mắt họ còn thấy phản ứng của nạn nhân khác còn sống, nhưng khác với Hitler đã tự xử, hung thủ yên tâm hơn để nghiên cứu về Huế học, mà họ quên đi đối tượng nghiên cứu khẩn thiết nhất của Huế học là làm sáng tỏ việc tàn sát. Tên tuổi và hành vi của họ vẫn bị ràng buộc với lương tâm và lịch sử.

Chúng ta là có vô số ký ức cá nhân có giá trị lịch sử: Giải Khăn Sô Cho Huế, Muà Hè Đỏ Lửa, Dấu Binh Lửa, Đường Đi Không Đến, Xương Trắng Trường Sơn, Thiên Đường Mù, Nổi Buồn Chiến Tranh và Đèn Cù là những thi dụ chính. Vì là tự truyện cá nhân nên có sự đãi lọc nhất định theo ý nghĩ cảm nhận và tùy theo cái gọi là lieux de mémoire của tác giả (các địa điểm liên hệ tới biến cố xãy ra để trở thành ký ức, một khái niệm của Pierre Nora). Thực ra, nhân chứng lưu giữ ký ức, họ chỉ là một người sống trong những biến cố kinh hoàng trong lịch sử, mà họ không hiểu tại sao, không lường đoán được hậu quả và giải thích các tầm mức phức tạp của diễn biến.

Do đó, chúng ta cần có sử gia, vì ký ức cần khách quan hoá theo phương pháp sử học, một tiến trình đến sau và có chọn lọc. Sử gia đối thoại với nhân chứng, vì nhân chứng biết rõ hơn các biến cố. Họ diễn dịch, sưu tầm và biên tập theo một hệ thống nhất định thành một loại đề tài chung.  

Dù ký ức về chiến cuộc nhạt nhoà, nhân chứng lần lượt ra đi, quá ít sử gia chân chính, nhưng lịch sử không thể nguy tạo ký ức. Chính ký ức làm nên lịch sử. Ký ức không phải là vấn đề riêng của sử gia. Lịch sử không thuộc về sử gia, mà cho tất cả những người có liên quan và có tinh thần trách nhiệm. Những người đứng ra tổ chức các lễ tưởng niệm với các phương tiện truyền thông hiện đại cũng là một thí dụ.

Các buổi lễ truy điệu, báo chí, sách vở sẽ làm sống lại các ký ức tập thể. Những hình thức nghi lễ “hoành tráng“ của phe thắng cuộc không mang nhiều ý nghĩa đích thực để tìm ra bản chất của tưởng niệm. Những đề tài thảo luận nghiêm chỉnh về ý nghĩa của tưởng niệm là quan trọng hơn.

Nhờ thế, chúng ta viết lại lịch sử bằng cách khám phá những sự dị biệt trong ký ức với tinh thần trách nhiệm. Ký ức dị biệt của cá nhân là một phương tiện thông đạt dùng trong sinh hoạt hằng ngày khi thảo luận về những biến cố lịch sử. Ngược lại, ký ức tập thể là một sản phẩm xã hội, đẩy mạnh cho việc hình thành một bản sắc văn hoá dân tộc. Nhưng biết tìm đâu bản sắc văn hoá truyền thống của dân tộc Việt?

Bản sắc dân tộc tàn phai

Dù là gọi là đất nước hay dân tộc cũng chỉ là một. Dân tộc là một ngôi nhà chung chứa đựng một linh hồn chung. Hồn thiêng này có hai phần: phần một nằm trong quá khứ, là một di sản thuộc toàn dân và ký ức lịch sử là một thành phần. Phần hai nằm trong hiện tại. Đó là tinh thần đồng thuận, cùng ước mơ chung sống để phát triển và lưu truyền giá trị của một di sản không thể phân chia. Khái niệm dân tộc này của ErnesRenan không phải là chủ nghiã dân tộc đã bị lạm dụng quá nhiều trong quá khứ.

Bản sắc văn hóa dân tộc gồm các đặc tính được duy trì trong quá trình của lịch sử và được kết tinh thành những biểu tượng để phân biệt với các dân tộc khác. Nó tạo thành những chuẩn mực giá trị cho xã hội và thể hiện tâm lý dân tộc mà các ký ức văn hoá là thí dụ.

Ký ức văn hoá theo Jan Assman gồm có việc sử dụng chính sử, tự truyện, hình ảnh và nghi lễ đặc biệt cho một xã hội trong một thời kỳ; mọi sự vun bồi này sẽ tạo nên một hình ảnh chung cho bản sắc dân tộc. Nhờ thế mà chúng ta có thể hiểu được giá trị truyền thống.

Chúng ta có thói quen ca ngợi bản sắc dân tộc và đơn giản hoá vấn đề, nhưng kỳ thực, bản sắc cá nhân phức tạp, vì dựa vào hoàn cảnh và điều kiện xã hội địa phương, thuộc về một thế hệ nhất định, một tôn giáo, một đoàn thể nghề nghiệp và trình độ giáo dục nào đó. Bản sắc thay đổi liên tục trong suốt cuộc đời qua những biến cố của riêng mình.

Mô tả về bản sắc đất nước càng khó hơn vì theo dòng lịch sử, có quá nhiều biến chuyển sẽ thay thế cho các ký ức cũ phai mờ, tạo thành những bản sắc mới. Tùy theo thời điểm hay địa điểm mà bản sắc đất nước có thể tiến hay thoái hoá. Các thay đổi về giá trị qua từng thế hệ kết hợp nhau trong liên tục và tái tạo.  

Trong một thời kỳ dài đấu tranh, Đảng đã bao nhiêu lần nói là “thống nhất đất nước ta sẽ xây dựng lại ngàn lần tươi đẹp hơn”. Nhưng chiến thắng năm 1975 cho phép Đảng có lý do tự phong một bản sắc mới là “trung tâm phẩm giá của loài người và lương tâm của thời đại”. Bản sắc cường điệu này không thuộc truyền thống chân thành của dân tộc. Đảng đã không thể trau dồi bản sắc, và chiến thắng không đem lại tự do và cơm áo cho toàn thể dân chúng trong thời bình.        

Dù thành tựu đổi mới kinh tế có đem lại cho sung túc cho một thiểu số, nhưng Đảng không thể nâng cao bản sắc văn hoá vì giáo dục xuống cấp, đạo đức suy đồi, thờ ơ của dân chúng và gương xấu của chính quyền là trở lực. Tìm lại bản sắc dân tộc đã đánh mất là điều không thể thực hiện được trước mắt, vì thành tựu của các biện pháp cải cách giáo dục và nâng cao đạo đức không thể là kết quả dễ được tìm thấy trong một sớm một chiều.

Đã đến lúc đất nước cần có bản sắc mới như là một vai trò kết nối, một khái niệm và một thành tố để xây dựng lịch sử. Nhưng làm sao nối kết những ký ức văn hoá dị biệt trong bối cảnh hiện nay. Thực ra, không ai có đủ viễn kiến để tiên đoán chuyện lý thuyết.

Nhưng sử gia không còn đi tìm những giá trị biểu tượng xa xưa, vì các biến động mới có những giá trị làm cho lịch sử độc đáo hơn. Họ dùng ngày 30 tháng 4 năm 1975 làm một phương tiện nhằm tạo ra huyền thoại chính trị duy nhất cho khởi điểm mới về ký ức lịch sử cận đại. Với 40 năm trôi qua, thời gian lắng đọng để họ cùng tìm hiểu về ý nghĩa của ngày 30 tháng 4. Do đó, giải ảo về nội dung ngày này cần được đặt ra.

Phản tỉnh về ý nghĩa của ngày 30 tháng 4 năm 1975        

Ngày 30 tháng 4 năm 2015 là một ngày để chúng ta nhớ về ngày 30 tháng 4 năm 1975 và tìm hiểu những gì mà dân tộc đã sống trong 40 năm qua. Bằng kinh nghiệm sống với chế độ, với các sử liệu mới, lý trí khách quan và tự do phê phán giúp cho chúng ta nhận ra sự thật. Sự thật sẽ giải phóng cho chúng ta.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 là biểu tượng khởi đầu cho một tiến trình tương phản phức tạp. Giá trị biểu tượng của ngày này là một nghịch lý bi đát. Chiến tranh kết thúc giải phóng cho tất cả mọi người trong mọi hoàn cảnh, nhưng không phải chỉ là vinh quang mà còn là tủi nhục; ngày miền Nam thoát khỏi chiến tranh cũng là ngày mà miền Bắc hiểu rõ hơn thế nào là giải phóng và hy sinh cho chính nghĩa. Cả nước vừa được giải phóng lại vừa bị hủy diệt trong một hoàn cảnh mới, không phải chỉ là thiệt hại vật chất mà còn là tinh thần, một vấn đề bản sắc.

Dĩ nhiên, chúng ta phải chấp nhận những gì đã xảy ra vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, vì không thể thay đổi được, dù còn bị ảnh hưởng hậu quả cho đến hiện nay. Chúng ta không thể tách rời ngày 30 tháng 4 năm 1975 với ngày 3 tháng 2 năm 1930, ngày thành lập ĐCSVN, đó là một nguyên nhân khởi đầu mọi thay đổi trong các trang sử Việt.

Với ý thức phản tỉnh chúng ta có thể nói cho nhau hôm nay về ý nghĩa đích thực của ngày 30 tháng 4 là đây là một ngày toàn thắng trong tiến trình cướp chính quyền của ĐCSVN và là một ngày đại bại của toàn dân tộc Việt. Vì sao?

Vì nhìn lại quá khứ của công cuộc tiến nhanh tiến mạnh lên XHCN chúng ta chỉ thấy một bóng tối kinh hoàng. Đó là các biện pháp truất hữu ruộng đất, ngăn sông cấm chợ, đánh tư sản mại bản, bài trừ văn hoá đồi trụy, thanh niên xung phong, kinh tế mới và học tập cải tạo. Theo sau là thảm kịch thuyền nhân, chiến tranh Tây Nam và phiá Bắc. Cuối cùng là kinh tế kiệt quệ để rồi ĐCSVN phải chịu có biện pháp xé rào và đối mới để nuôi dưỡng chế độ.

Với một cơ hội mới và tiềm năng cao để tái thiết hậu chiến và hàn gắn vết thương chiến tranh, nhưng đến năm 2015 mà Việt Nam còn tụt hậu thua Lào về canh tân công nghiệp, trình độ phát triển dân chủ kém hơn Campuchia, cạnh tranh kinh tế suy yếu hơn Hàn quốc, phát minh khoa học thua xa Thái Lan, năng lực lao động thấp nhất trong khu vực, nhưng tình trạng vi phạm nhân quyền và bất công xã hội lại là trầm trọng nhất.

Vì nhìn về tương lai chúng ta càng lo sợ hơn vì không biết đất nước và con người sẽ đi về đâu. Chủ nghĩa tư bản thân tộc tạo ra một xã hội thị trường hỗn loạn trong một nhà nước sơ khai là nguyên nhân, mà tham nhũng lên ngôi thượng đỉnh, đạo đức suy sụp tận đáy, giáo dục băng hoại và môi sinh cạn kiệt là hậu qủa. Trong khi hiểm hoạ Bắc thuộc là hiện thực, thì bất ổn cá nhân, bất trắc kinh tế và bất công xã hội vẫn còn kéo dài.

Tóm lại, chúng ta có các lý do chính đáng để không hân hoan tham gia mừng lễ kỷ niệm chiến thắng, nhưng cần giúp đỡ nhau để có ý thức phản tỉnh về ý nghĩa tưởng niệm, hoà giải và tỉnh thức trong ngày 30 tháng 4. Nhờ thế, chúng ta sẽ thấy có trách nhiệm hơn đối với những hậu quả của ngày này trong tương lai.

Ngày tưởng niệm

Hồi tưởng thuộc về một phần trong đời sống tâm linh của chúng ta. Ai đã sống trong ngày 30 tháng 4 với đầy đủ ý thức và nhận xét, thì cũng tự hỏi là ngày này mình làm gì và ở đâu và sự ràng buộc của mình trong biến cố này.

Ngày 30 tháng 4 là một ngày để chúng ta tưởng niệm về tất cả những người quá cố của hai miền, những người đã tin là mình chiến đấu cho chính nghĩa của đất nước. Chúng ta không thể quên họ và cầu mong họ siêu thoát. Đau đớn nhất là các chiến sĩ giải phóng quân; bây giờ họ không còn cơ hội để nhận ra rằng họ đã bị phản bội; tất cả công lao của họ là vô ích và vô nghĩa; cái chết của họ chỉ là phục vụ cho các mục tiêu cướp chính quyền của giới lãnh đạo vô nhân đạo.

Chúng ta sống trong gọng kềm của lịch sử dân tộc và là nạn nhân phải hy sinh cho quyền lợi của giới lãnh đạo. Cả một dân tộc không ai có tội cá nhân; không ai có tội với lịch sử. Có tội ít hay nhiều chỉ có thể quy kết cho tập thể lãnh đạo, vì họ thiếu trí tuệ và thiếu bản lãnh; họ chỉ phục vụ cho ngoại bang, chủ nghĩa phi dân tộc và không tìm cách tiết kiệm máu xương.

Chúng ta cũng hoài niệm về những nổi đau khổ của thân nhân còn sống; đặc biệt là nữ giới, đau khổ vì sự mất mát về tất cả những gì không thể giữ được từ vật chất cho đến tinh thần. Đó là đau khổ qua bị thương tổn và tật nguyền, đau khổ vì buộc phải chịu mất tài sàn, mất người thân yêu, mất nhân phẩm, cảm xúc bị tổn thương, cưỡng bức lao động, bất công nghiêm trọng và tra tấn dã man, đói khổ, giam cầm và trốn chạy.

Ngày hoà giải

Ngày 30 tháng 4 là ngày mà chúng ta không những tưởng niệm cho những người nằm xuống mà còn muốn hòa giải giữa người Việt còn sống với nhau. Chúng ta tìm kiếm hòa giải, nhưng không thể hòa giải với những người đã nằm xuống và những người không còn ký ức. Số phận chung của dân tộc liên kết chúng ta với nhau thành một định mệnh chung trong ước muốn chung sống trong hòa bình và thịnh vượng.

Trong đời sống hằng ngày, người Việt chỉ muốn sống an vui trong hiện tại và không muốn nhớ những chuyện vô nhân đạo trong quá khứ. Chúng ta chấp nhận và chịu đựng sự khắc nghiệt do số phận an bài, đó là chuyện tinh thần được đặt ra bên cạnh các nhiệm vụ khác.

Nhưng ngày 30 tháng 4 là một vết rạch hằn sâu trong lịch sử cho toàn thể, nên có một nghịch lý xảy ra, người Việt có tinh thần hồi tưởng và sẽ luôn hồi tưởng khi có cơ hội. Bốn mươi năm sau khi kết thúc chiến tranh, dân Việt vẫn còn bị phân chia. Chúng ta cảm thấy chưa thuộc về nhau bởi vì chúng ta đã sống và nghĩ không cùng trong một nhận thức về quan điểm đấu tranh. Đó là một gánh nặng trong lịch sử mà chúng ta vẫn còn bị mang ít nhiều tổn thương.

Làm sao chúng ta có thể xoá bỏ vết hằn khôn nguôi nếu không có hoà giải? Thực ra, kinh nghiệm quốc tế cho thấy hoà giải không chỉ là tha thứ của nạn nhân về sai trái của thủ phạm, mà còn là một đồng thuận giá trị về chính trị. Đầu hàng là một thay đổi thái độ của phe thua cuộc trước phe thắng cuộc, một quyết định hợp lý của lý trí của phe thua cuộc và cần được thể chế chính trị của phe thắng cuộc bảo vệ. Vai trò luật pháp là điều kiện thể chế tiên quyết để bảo vệ họ. Khuôn khổ cho hoà giải là bình đẳng trước pháp luật, thực thi dân chủ, tôn trọng nhân quyền và dân quyền của phe thắng cuộc. Sự đồng tình của cả hai phe sẽ đem lại ý nghiã chung sống. Đó là một khuôn khổ xây dựng lại mối quan hệ và niềm tin cho xã hội và tạo lập một cộng đồng cho tương lai.

Dầu bối cảnh tranh chấp khác nhau, các nước Nam Phi, Nam Tư củ, Bắc Ái Nhĩ Lan, Sierra Leone, El Salvador, Guatemala và Rwanda đã tìm ra một căn bản đồng thuận cho tiến trình hoà giải, mà đạo đức là mục tiêu và luật pháp là phương tiện. Vì say men chiến thắng mà kinh nghiệm hoà giải chính trị hậu xung đột không là vấn đề quan trọng để Việt Nam quan tâm học tập, cải tạo tập trung là trường hợp minh chứng ngược lại.

Sau ngày Đổi Mới, Việt Nam khởi đầu tiến trình hoà giải chính trị bằng Nghị Quyết để nhằm thu hút tài năng trí tuệ và đóng góp tài chánh. Nghị Quyết không đề ra sư tương thuận của phe thua cuộc; khuôn khổ pháp luật làm nền tảng và tinh thần đạo đức dân tộc làm nội dung cho hoà giải cũng không có. Việt Nam chỉ đo thành tựu Nghị Quyết bằng lượng kiều hối, du lịch và giao lưu văn nghệ trong ngoài. Hoà giải loại này không đem lại một niềm tin chung hướng về tương lai.

Trong nỗ lực hoà giải có một thử thách chung cho hai phía. Sẵn lòng hòa giải phải phát sinh từ trong nội tâm và do ngoại cảnh, không phải là vấn đề mà phe thắng cuộc đòi hỏi nơi phe thua cuộc theo tinh thần Nghị Quyết, nhưng là tự nội tâm của mỗi phe đòi hỏi nơi chính mình, đó là khởi điểm quan trọng nhất.

Cụ thể là liệu phe thắng cuộc có thể thực sự tự đặt mình trong hoàn cảnh của phe thua cuộc đựợc không hay phe thua cuộc có tin tưởng vào thành tâm hoà giải của phe thắng cuộc được không? Liệu Nghị Quyết một chiều có phải là một cơ sở ràng buộc nhau không? Cả hai phải nhận ra những gánh nặng của nhau, xem có chịu đựng nhau không và có quên quá khứ được không?

Cả hai phe làm gì trong tiến trình này? Chủ yếu là phe thắng cuộc cần có ý thức hơn để tìm lại nguyện vọng trung thực của phe thua cuộc; thay vì diễn binh mừng chiến thắng chỉ khơi động lại lòng thù nghịch, phe thắng cuộc nên can đảm hơn là đem tàu ngầm hiện đại ra biển Đông để bày tỏ quyết tâm trước Trung Quốc, phô trương này sẽ gây tác động hoà giải dân tộc cao hơn. Thay vì ngăn cản tưởng niệm, nên thành tâm bày tỏ thương tiếc những người của hai phiá đã hy sinh bằng cách xây một tượng đài chung, một hình thức tỉnh ngộ về sự lầm lạc chung của cả dân tộc trong cả một giai đoạn lịch sử. Họ nên đãi ngộ người đóng góp còn sống, một hình thức xoa dịu thương đau xã hội; nỗ lực hoà giải với người đối kháng và trực tiếp đối thoại trong tinh thần dân chủ là thực tế hơn, vì không phải ai có quan điểm đối lập chính trị với chính quyền cũng đều là những phần tử suy thoái đạo đức và phản động.        

Phe thua cuộc cũng cần có nhận định nghiêm chỉnh hơn về ý nghĩa cao cả của tha thứ. Tha thứ là tìm hiểu và mến yêu người sai phạm. Hiểu nhau là vì đã tìm thấy lại nhau trong một quá khứ chung lầm lạc. Yêu mến nhau là vì cùng có một số phận và ý chí chung sống để xây dựng tương lai đất nước.Thực tế ngược lại. Một số không nhỏ của phe thua cuộc tự nguyện tìm đến phe thắng cuộc vì những bả lợi danh cuối đời, những lạc thú do những chênh lệch giá cả tại quê nhà, ngay cả những hạnh phúc thoáng qua như tiếng còi hụ đưa đón. Đó là một sự sĩ nhục mà một số trong phe thua cuộc tự tạo ra, vì trong khi cho đến ngày hôm nay, vẫn còn có rất nhiều người khả kính, can trường và liêm chính trong chiến bại.

Tương lai của hoà giải không ai biết được, nhưng khởi động một trào lưu nhận thức mới về tinh thần hoả giải là khẩn thiết, vì các thế hệ tham chiến sẽ lần lượt ra đi và các thế hệ nối tiếp sẽ không đủ quan tâm để giải quyết.

Ngày tỉnh thức

Ngày 30 tháng 4 năm 2015 bắt đầu một chương mới trong lịch sử Việt Nam và một thế hệ mới đang trưởng thành. Giới trẻ không có các ký ức dị biệt và không chịu trách nhiệm về những gì đã xảy ra trong quá khứ, nhưng họ đang và sẽ có trách nhiệm đối với những gì sẽ trở thành lịch sử. Họ sẽ đóng một vai trò chính về số phận của con người, đất nước và dân tộc trong khoảng thời gian bốn mươi năm tới. Nhưng ngày 30 tháng 4 năm 1975 lại có ý nghĩa tỉnh thức vì ký ức cá nhân kéo dài chỉ trong bốn mươi năm. Nếu ký ức phai nhạt thì những gì quan trọng khác còn lại cũng không còn ý nghĩa. Thế hệ tham chiến cần giúp cho giới trẻ hậu chiến tìm hiểu về sự thật của lịch sử, không thiên vị theo ý thức hệ, trốn chạy trách nhiệm và nhân danh đạo đức. Đâu là giá trị tỉnh thức trong ngày 30 tháng 4?

Chúng ta cần can đảm để nói cho thế hệ hôm nay biết là hiện tình Việt Nam là đang bị nguy cơ hơn bao giờ hết; vì về mặt nội trị có quá nhiều bất ổn mà vẹn toàn lãnh thổ, tham nhũng và nợ công là chính; về mặt đối ngoại có quá nhiều tổn thương, vì lãnh đạo đặt quyền lợi Trung Quốc và quyền lợi riêng lên trên quyền lợi của dân tộc là chính; nay lại hy vọng là Hoa Kỳ đoái thương dân Việt. Nhưng thực tế, Hoa Kỳ sẽ không có phép lạ nào để biến đổi nội tình Việt Nam hôm nay và sẽ không là một lá chắn an toàn cho Việt Nam mai sau. Mỹ đủ thông minh để không bao giờ chống Trung Quốc cho đến xương máu của người Mỹ cuối cùng thay cho Việt Nam, như miền Bắc Việt Nam đã hãnh diện chống Mỹ thay cho Trung Quốc trong quá khứ.

Do đó, giới trẻ nên tỉnh thức để tránh lầm lạc của bậc cha ông. Đó là do khuấy động các ý thức hệ đối nghịch, hận thù lầm lạc và gian dối lẫn nhau mà Việt Nam đã có chiến tranh. Do bất tài, bất xứng và bội tình mà thế hệ cha ông đã không để lại được một non sông gấm vóc cho con cháu thừa hưởng; “Gia tài của mẹ, một nuớc Việt buồn“, nếu nói theo nhạc của Trịnh Công Sơn.

Từ tỉnh thức này mà giới trẻ sẽ lưu truyền các ký ức lịch sử và không để bị lôi cuốn vào những hận thù và chống đối nhau, mà cố gắng liên tục học hỏi để tìm cách chung sống với nhau trong tình hiếu hoà và nhất là sẽ có ý thức trách nhiệm nhiều hơn cho tương lai đất nước.  

Thế hệ hậu chiến và tương lai

 

Ngày 30 tháng 4 năm 2015 đánh dấu một ngày khởi đầu cho thế hệ hậu chiến trưởng thành. Họ có trách nhiệm chính trị cho đất nước trong thời kỳ mới. Nhưng họ phải nghĩ gì và làm gì để canh tân đất nước và tìm lại độc lập cho dân tộc?

Nghĩ gì? Thách thức vô cùng to lớn khi thế hệ hậu chiến cần có nhiều ý thức và kinh nghiệm hơn để đảm nhiệm trọng trách này. Đó là vấn đề còn mở rộng để tranh luận, nhưng họ có bốn khó khăn chính.

Một là, họ không kế thừa một phương sách khả thi nào. Đảng đã không thể lý giải được cơ chế Kinh tế Thị trường và Nhà nước Pháp quyền theo định hướng XHCH là gì. Đảng cũng tự nhận là đã theo một đường lối không có cho đất nước. Vì nhận hư thành thực cho nên Đảng cũng không thể hoàn thiện đường lối này cho đến cuối thế kỷ XXI. Nhưng Đảng sẽ vượt qua các chống đối bằng cách dùng bạo lực đàn áp để duy trì chế độ, một bất hạnh cho toàn dân.

Hai là, họ không thể phát huy các kinh nghiệm cuả bậc cha ông. Các kinh nghiệm của Cách Mạng Tháng Tám và Đại Thắng Mùa Xuân không còn phù hợp với trào lưu đấu tranh bất bạo động cho Việt Nam, mà đó là một giải pháp tương ứng khả thi. Thành quả cuả Cách Mạng Đông Âu, Đông Đức, Miến Điện và Muà Xuân Á Rập là những bài học mới thích hợp hơn, nhưng họ chưa thể huy động được dân chúng vì thái độ vô cảm chính trị của đa số.

Ba là, họ không thể hy vọng là được Đảng chuyển giao quyền lực cho dù họ có khả năng và tâm huyết, vì thân tộc của lãnh đạo còn vây quanh. Trong một xã hội thị trường đang thay đổi hỗn loạn, họ không thể tiên đoán được là đổi mới chính trị sẽ hình thành như thế nào. Tất cả đều tuỳ thuộc vào một số quan niệm về tương lai, những cách đánh giá khác nhau về ý nghĩa của xu hướng hiện nay và về các chuẩn mực để giải quyết các khác biệt, thí dụ như vi phạm nhân quyền và tự do báo chí.

Bốn là điều kiện ý thức về truyền thống lịch sử và chuyển hoá chính trị. Từ thắng lợi của việc cướp chính quyền mà Đảng tự hào về thành tích làm nên “Ý nghĩa Lịch sử” cho dân tộc. Nhưng ý nghĩa lịch sử này không phải là những gì đã được Đảng tuyên bố, mà giới trẻ cần khám phá lại. Nhu cầu giải ảo ngụy sử và niềm tin về tương lai dân chủ cần đến các điều kiện trí thức. Đó là kiến thức và ý thức về chính sử và dân chủ, để từ đó làm cơ sở cho tinh thần xây dựng. Kiến thức là khởi điểm cho ý thức và có kiến thức thì mới có ý thức để xây dựng một ý chí chung sống.

Tuy nhiên, thực tế bi quan hơn, vì sử học và kinh tế chính trị học không còn thu hút giới trẻ, một môn mà người học không muốn học và người dạy không muốn dạy. Sự tụt hậu là do một hệ thống giáo dục gian dối và ngụy sử làm mất niềm tin về giá trị cuả toàn xã hội qua nhiều thế hệ.

Ý thức về lịch sử và dân chủ do đào tạo mà ra, có tính thuần lý vì do lý trí hướng dẫn và được đãi lọc qua thời gian. Học chính sử giúp giới trẻ lý luận và phán đoán về sự thật của lịch sử. Ý thức về lịch sử sẽ tạo nên một thái độ chung đối với lịch sử, một khả năng để giải ảo, một loại trách nhiệm cá nhân đối với xã hội và có tình cảm dân tộc.

Do đó, hy vọng còn lại là giới trẻ sẽ phát huy tinh thần tìm hiểu và mến yêu lịch sử và giá trị của dân chủ. Sự thật lịch sử sẽ là bước khởi đầu và giới trẻ phải tìm kiếm sự thật giữa dòng lịch sử. Giới trẻ có thể so sánh lịch sử tương lai như một dòng sông, nhưng các dòng nước sẽ luôn biến đổi mà họ đang khởi đầu bơi lội và cũng không biết đi về đâu, như một câu nói quen thuộc là “Người ta không thể tắm hai lần trong cùng một dòng sông“. Nhưng có ý thức lịch sử và dám dấn thân làm lại lịch sử cho dân tộc là một hy vọng khởi đầu.

Làm gì? Giới trẻ cần thảo luận để nhận ra điều kiện đem lại hoà bình và thịnh vượng cho đất nước. Mọi vấn đề hiện nay có thể sẽ được giải quyết được một phần nào khi có sức mạnh dân tộc mà sự hiểu biết của toàn dân, đồng thuận chính trị, và quyết tâm chuyển hướng là chính và đường lối thực tiễn là thay đổi hiến pháp dân chủ, nâng cao đạo đức và giáo dục, tăng trưởng kinh tế, tôn trọng trí thức và pháp luật, thực thi nhân quyền và dân quyền và bảo vệ thiên nhiên. Nhưng sự hợp tác về một chính sách ngoại giao Trung-Việt ổn định và tương kính là khả thi, khi Việt Nam đủ khả năng chứng tỏ là một người bạn đối tác đích thực bình đẳng và không phải chỉ bằng ngôn ngữ bóng bẩy như hiện nay. Với nỗ lực của nhiều thế hệ, chúng ta hy vọng là Việt Nam sẽ đạt được một phần nào những mục tiêu này.

Việt Nam sẽ đi về đâu? Không ai biết rõ, nhưng chắc một điều là đất nước dù năng động đến đâu đi nữa, thì Đảng cũng sẽ không còn phép lạ khi Đảng không tự chuyển hoá. Thế hệ hậu chiến không cần có một lý tưng cầu toàn đ canh tân đất nước, một ảo tưởng trí thức để thăng hoa bản sắc văn hoá hay các biện pháp xé rào để cứu Đảng, mà cần nhất là có một ý thức bừng tỉnh về sự tồn vong của dân tộc.

____



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
Tin tức thế giời mới nhât song ngữ Việt Anh để học sinh ngữ [Đã đọc: 364 lần]
Kiều bào phát triển quê hương [Đã đọc: 357 lần]
Làm Giàu Bằng Đầu Tư Chứng Khoán [Đã đọc: 349 lần]
Siêu đô thị Đà Nẵng mở rộng, siêu đầu tư địa ốc làm giàu [Đã đọc: 342 lần]
Một châu Âu đứng trước ngã ba lịch sử [Đã đọc: 329 lần]
Cách mạng chiếc đòn gánh của phụ nữ VN [Đã đọc: 291 lần]
“NHỮNG NGƯỜI CUỐI CÙNG CÒN GIỮ LẠI CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN”** [Đã đọc: 289 lần]
Nghệ Thuật Làm Giàu Của Người Việt Hải Ngoại - “The Art of Wealth for Overseas Vietnamese”. [Đã đọc: 280 lần]
Làm thế nào đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa từ Trung Cộng [Đã đọc: 279 lần]
Cuba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cuba nghỉ [Đã đọc: 271 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.