Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Sáu 2026
T2T3T4T5T6T7CN
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30          
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 16
 Lượt truy cập: 29340805

 
Góc thư giãn 15.06.2026 16:03
Lời sám hối muộn màng
12.03.2015 06:22

Lời xin lỗi
Trước hết tôi thành thật xin lỗi cố Tổng thống Ngô Đình Diệm vì hành động theo đuôi phong trào Phật giáo xuống đường chống đối chính phủ trong lúc không hiểu rõ nguồn cơn và sự thật của vấn đề. Năm 1963 tôi còn là một thanh niên trẻ tuổi bồng bột; là một học sinh trường trung học Võ Trường Toản, sát cạnh dinh Tổng thống nên tôi dễ dàng bị lôi cuốn theo những đoàn biểu tình một cách thiếu ý thức. Qua đến Canada tôi tìm, hiểu được thêm nhiều chi tiết lịch sử, được nghe các nhân chứng kể lại về phong trào Phật giáo, và tôi truy ra được nguồn gốc của sự kiện. Tôi sẽ trình bày rõ thêm về vấn đề sau nầy.

      Thứ hai, tôi thành thật xin lỗi gần hai triệu người tị nạn miền Nam Việt Nam đã vượt biển, vượt biên đi tìm tự do (1), vì những hành vi khi tôi sinh hoạt và đóng góp tích cực cho Hội Việt Kiều Yêu Nước tại Canada (HVKYNTC), từ năm 1973 đến năm 1990. Tôi đã vô tình tiếp tay cho một tổ chức ủng hộ và phục vụ cho Đảng Cộng sản và Nhà Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và sau này là CHXHCN Việt Nam, làm những việc góp phần xây dựng cho một chế độ phi nhân bản, phản khoa học tại quê nhà. Tôi sẽ tiếp tục trình bày cặn kẽ những sự kiện xảy ra ở trong tổ chức nấy để tất cả bạn đọc có thể thấy rõ bộ mặt thật của một nhóm người gọi là trí thức thân Cộng trong thời gian Hội còn hoạt động (1969-1990) và cho đến ngày nay.
      Thứ ba, tôi thành thật xin lỗi các bác, các anh chị, công chức chính phủ và toàn thể các chiến sĩ, sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh để bảo vệ tự do – trong gần 21 năm, 1954-1975 – và đời sống của người dân miền Nam Việt Nam. Tôi rời Sài Gòn, du học từ cuối năm 1967, nên không có công lao gì trong công cuộc chiến đấu đầy xương máu chống cộng sản xâm lược từ phía Bắc. Có quá nhiều tấm gương hy sinh quả cảm của sĩ quan và binh sĩ quân lực Việt Nam Cộng hòa mà tôi không biết đến, đó là lỗi lầm và thiếu sót của tôi. Đến nay nhờ thông tin quảng bá trên mạng lưới Internet và qua thông tin cặn kẽ từ nhiều trang báo mạng hải ngoại mà tôi mới thực sự hiểu nỗi thống khổ và hy sinh của các anh chị, các bác trong hàng ngũ quân cán chính Việt Nam Cộng hòa.
      Nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi suy nghĩ
      Thật tình mà nói, tôi đã hoạt động tích cực ở đủ mọi lĩnh vực trong một tổ chức thân cộng hơn 17 năm ròng nhưng không hề bị tư tưởng Mác Lê ảnh hưởng vì những yếu tố sau:
      - Là người suy nghĩ độc lập, bướng bỉnh, không a dua và không quỵ luỵ từ nhỏ;
      - Thích đọc sách, truyện, bị lôi cuốn theo lối sống miền Nam ngày trước, chịu nhiều ảnh hưởng của nền văn hoá miền Nam dân chủ tự do.
      - Gần 40 năm hoạt động trong ngành công nghiệp khai khoáng và hoá dầu của Canada tôi đã học được nhiều điều hay về cách tổ chức, tư duy, cách làm việc trung thực của hệ thống tư bản Bắc Mỹ. Điều này đã giúp tôi đã gạn bỏ đi nhiều tàn dư rơi rớt trong lối học từ chương của Việt Nam thời xưa cũng như tinh thần bảo thủ phương Đông; kinh nghiệm làm việc đã giúp tôi hiểu rõ xã hội tư bản hơn và tránh được cạm bẫy dụ dỗ của ý thức hệ cộng sản Mác Lê, và đã giúp cho tôi có cái nhìn chính xác về những con người trí thức thiên tả tháp ngà trong Hội VKYNTC.
      - Tôi cũng có được những tấm gương yêu nước dưới thời thực dân Pháp từ những bậc tiền bối của gia đình. Ông ngoại tôi, cụ cử Nguyễn Hữu Cầu, ông bác tôi, cụ Từ Long Lê Đại, là hai trong số những sáng lập viên Trường Đông Kinh Nghĩa Thục, đã từng bị thực dân Pháp bắt giam đầy ra đảo hơn 17 năm trời. Bác tôi, cư sĩ Phật học nổi tiếng Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha, người soạn ra bộ Hán Việt Tự Điển lừng danh, cũng từng bị Việt Minh đem ra đấu tố trong Cải Cách Ruộng Đất 1954 khiến ông đã phải trầm mình tự tử để minh oan. Tôi sẽ có dịp nói nhiều đến những kỷ niệm khó quên về mặt tâm linh với bác Hai Kha Thiều Chửu cùng con cháu hậu duệ đã giúp tôi lần dò tìm lại truyền thống yêu nước của giòng giõi nhà Nguyễn Đông Tác ở Hà Nội.
      - Là một trong những thành viên tích cực hoạt động giúp HVKYNTC vì tôi nghĩ rằng mình đang góp phần giúp ích cho quê hương; với kinh nghiệm của một kỹ sư cơ khí thích thiết kế và sáng tạo, tôi là người phụ trách chính về công cuộc cải tạo xây dựng lại Hội quán, số 1450 đường Beaudry, Montreal, giúp cho Hội đoàn này có cơ sở vật chất vững mạnh để phát triển thịnh vượng từ năm 1984 đến 1990. Và tôi cũng có một số hiểu biết nhất định về nhiều vấn đề liên quan đến những công ty kinh doanh do một số nhân vật trong ban lãnh đạo Hội đứng đầu. Tôi sẽ trở lại vấn đề này ở những bài sau.
      - Mẹ tôi là một hình ảnh tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam, tận tuỵ tần tảo hy sinh xây dựng gia đình, nuôi nấng con cái. Nhà in Hưng Long, ở Chợ Cũ Saigon, do mẹ tôi thành lập từ 1960, đã từng in ấn rất nhiều kinh sách nhà Phật. Tôi là thầy cò, có trách nhiệm kiểm tra văn tự, lỗi chính tả trước khi lên khuôn. Do đó tôi có cơ duyên tiếp xúc với triết lý nhà Phật sớm; sau này, qua nhiều tác phẩm của bác Thiều Chửu tôi lại có dịp tìm hiểu nghiên cứu thâm sâu về đạo Phật. Mạng lưới Internet cùng với nhiều diễn đàn đã giúp tôi hiểu rõ phong trào Phật giáo thời 1963, cùng với kinh nghiệm sống trong xã hội tự do dân chủ tư bản ở Bắc Mỹ đã khiến tôi đã phải tự thay đổi tư duy để có quan điểm đúng đắn về lĩnh vực tôn giáo tâm linh;
      - Tôi là người thích âm nhạc từ nhỏ, tự học thổi sáo, chơi khẩu cầm, đánh đàn mandoline, và tôi đã đi vào thế giới tân nhạc Việt Nam với cả trái tim nồng nhiệt. Tôi đã từng mời nhiều em khiếm thị ở trường Mù Saigon đến nhà giúp tôi học thêm về lý thuyết và thực hành âm nhạc. Tôi biết đến nhạc tiền chiến rất sớm, thưởng thức nhiều bản nhạc xa xưa ngay tại miền Nam trong những năm 1960, những tác phẩm mà chính quyền cộng sản miền Bắc đã nghiêm cấm. Tôi sưu tầm những bản hùng sử ca Việt Nam từ thời kháng chiến chống thực dân Pháp để hiểu rõ thêm bối cảnh lịch sử và tâm tư của nhiều nhạc sĩ dân gian nổi tiếng. Tôi sẽ trình bày cặn kẽ thêm sau này.
      Đối tượng của lời sám hối
      Tôi biết trước những hậu quả khó tránh khỏi khi viết bài đăng tải rộng rãi trên các trang báo Mạng. Trước tiên là tình bạn hữu có thể sẽ bị sứt mẻ trầm trọng với những người tôi từng sát cách sinh hoạt trong HVKYNTC; sau nữa là những thay đổi có thể có trong quan hệ gia đình từ Canada cho đến Việt Nam. Tôi chấp nhận tất cả và xem như đó là cái giá có thể phải trả; tôi sẽ chấp nhận, chịu đựng mọi hệ quả để lương tâm được thanh thản không còn bị giầy vò.
      Tuy nhiên, tôi xin phép có đôi lời nhắn gởi đến với tất cả các anh chị bạn bè quý mến trong Hội.
      Thân gửi các anh chị em quý mến trong Hội,
      Tôi đã kiên nhẫn chờ đợi phản ứng của các anh chị em hơn hai năm qua, từ khi tôi viết và đăng trên Mạng bài “Sự thật nằm sau bức công hàm Phạm Văn Đồng 1958”(2). Tôi đã gửi riêng cho các anh chị bài viết đó qua e-mail để giúp các anh chị tìm hiểu rõ hơn nội dung bức công hàm và bối cảnh lịch sử xung quanh sự kiện rất quan trọng này. Thế nhưng tôi đã hoài công và vô cùng thất vọng, vì không được một câu trả lời dù đồng ý hay phản đối lập luận của tôi. Tôi xin phép được nhắc lại bài viết đó để anh chị đọc lại và cho cộng đồng người Việt hải ngoại cùng xem và phê phán.
      Hai năm trôi qua, những gì xảy ra ở Biển Đông, xung quanh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã đủ để chứng minh cho những lập luận, phân tích và nhận định của tôi. Trung Quốc càng ngày càng hung hăng, xâm lấn ngang ngược. Trong khi đó thì tập đoàn lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà Nước CHXHCN Việt Nam lại càng co vòi, lép vế, ngậm miệng nín khe. Họ cùng ngồi yên, nhìn ngư dân Việt Nam bị cướp phá uy hiếp. Tất cả đều chứng tỏ lãnh đạo Việt Nam chỉ là một bè lũ bù nhìn, bán nước. Họ đã lấy giang san lãnh thổ đem bán – bằng văn tự – cho lũ láng giềng hung tợn phương Bắc, để nhận được viện trợ vũ khí đạn dược, nhiên liệu thực phẩm, hầu thực hiện mưu đồ chiếm nốt miền Nam trù phú phì nhiêu. Trong khi đó, ngay sau khi Trung Quốc đưa Tuyên bố về Lãnh hải ngày 4 tháng 9, 1958 chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, bằng hành động, đã khẳng định chủ quyền lãnh thổ ở đảo Quang Hòa(3) và ở quần đảo Hoàng Sa bằng trận hải chiến năm 1974, cũng như những công văn gởi đến Liên Hiệp Quốc phản đối CHNDTH vi phạm trắng trợn chủ quyền Việt Nam(4).
      Các anh chị theo dõi sát tình hình Biển Đông từ lúc dàn khoan HD-981 lừng lững đi vào lãnh hải Việt Nam và ngang nhiên cắm sào thăm dò dầu khí của Việt Nam. Các anh chị cũng đã xuống đường phản đối theo đúng chỉ thị… rồi sau đó mọi việc, một cách êm thắm, lại đâu vào đó. Trung Quốc vẫn tiếp tục ngang nhiên xâm phạm biển đảo Việt Nam, và anh chị vẫn im hơi lặng tiếng. Đó có phải là hành động và tư cách của những con người trí thức hải ngoại, những người đã từng hấp thụ một nền giáo dục nhân bản, khai phóng của miền Nam Việt Nam, những người từng vỗ ngực tự xưng là Việt Kiều Yêu Nước Tại Canada?
      Tôi rất mong các anh chị suy nghĩ lại, đặt quyền lợi đất nước và con người Việt Nam lên trên tất cả mọi quan hệ lợi nhuận riêng tư với chế độ cộng sản đương quyền, để cùng nhau lên tiếng sám hối vì an nguy của cơ đồ tổ quốc. Cơ hội để cứu nguy cho đất nước không còn nữa đâu! Hơn 60 năm qua, chủ nghĩa cộng sản ngấm quá sâu vào não trạng người dân miền Bắc, toàn thể Bộ Chính trị đảng cộng sản và tập đoàn lãnh đạo Nhà Nước Cộng sản Việt Nam đã và đang bị thế lực từ phương Bắc uy hiếp, mua chuộc, ly gián. Bài học lịch sử về tình báo, nội gián Trọng Thủy-Mỵ Châu vẫn là tấm gương lớn cho hậu thế luận cổ suy kim. Giặc bên ngoài và bè lũ tay sai nội gián bên trong đã và đang gặm nhấm, bào mòn truyền thống yêu nước chống xâm lược của dân tộc, các anh chị chưa thấy sao? Nếu quả thật văn kiện bí mật từ Hội Nghị Thành Đô năm 1990(5) có thật, vì Đảng và Nhà Nước Việt Nam vẫn còn ngậm miệng nín khe trước sức ép dư luận trong nước [xem thêm Kiến Nghị của 61 vị nhân sĩ tướng tá QĐND Việt Nam năm 2014], thì chúng ta chỉ còn không tới 5 năm để lên tiếng phản kháng và để nuôi hy vọng dân tộc Việt Nam sẽ thoát khỏi ách thống trị Đại Hán. Các anh chị không cảm thấy quan tâm, áy náy và trăn trở trước vấn đề nghiêm trọng này hay sao?
      Nguyện vọng tương lai
      Nghĩ lại thời gian đã qua, tôi thầm tiếc nuối cho một đời thanh niên đã bị lừa dối, bị đánh cắp, và cảm thấy rất ăn năn vì đã không trực tiếp góp phần với cuộc đấu tranh đòi lại công lý cho toàn thể nhân dân miền Nam. Tôi cảm thấy xấu hổ khi có lúc đã sử dụng ngôn ngữ tuyên truyền của chủ nghĩa cộng sản một cách vô ý thức. Nay là lúc cần phải phân tích và tìm hiểu cặn kẽ, nhận định rạch ròi xem ai mới chính là những kẻ “phản động, phản quốc, bù nhìn, tay sai ngoại bang”. Như thế là một phần nhỏ góp vào việc viết đúng sự thực lịch sử Việt Nam cận đại, đặt quân cán chính và người dân miền Nam Việt Nam cũng như hàng triệu người tị nạn cộng sản khắp nơi vào đúng vị trí trong lịch sử nước nhà. Lời sám hối của chúng ta có thể là những nhúm lửa nhỏ đốt cháy những ngôn từ tuyên truyền của tập đoàn cộng sản đang tiếp tục lừa bịp nhân dân Việt Nam và cả những thế hệ tiếp nối của chúng ta.
      Tôi rất mong được đứng nghiêm, chào lá cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng hòa và cất cao tiếng, hát bài Tiếng Gọi Thanh Niên (Quốc Ca Việt Nam Công hòa) ngày trước. Tôi rất mong được trở về quê hương như một kỹ sư đã nghỉ hưu, đem 40 năm kinh nghiệm ở xứ người góp phần phục vụ đất nước trước khi chết. 

      Lê Quốc Trinh
      Các bạn Võ Trường Toản thân, 
      Tình cờ anh bạn tận trời Âu chuyến đến tôi bài sám hối của một cựu học sinh Võ Trường Toản. Tôi chợt nghĩ đến nhiều bạn ta đã nằm xuống cho VNCH trong những đóng góp cho sự thanh bình thịnh vượng của vùng đất một thời chúng ta sống và lớn lên... nơi đó chúng ta đã được trau dồi kiến thức để vươn lên… nhưng chẳng ai ngờ… lại có chuyện nầy. 
      Anh bạn Võ Trường Toản nầy giờ mới tỉnh ngộ, có lẽ anh ta đã bị vắt chanh bỏ võ như bạn Dương Văn Đầy thời tôi, anh đấu tranh để rước CSBV vào Nam, được phong chức bổng lộc đến chức Chủ tịch Tổng cục du lịch VN nhưng rồi bị chết mờ ám sau khi đi liên hoan... Hiện tại còn một bạn nữa là Lê Tang Hồ cũng còn đang tại Canada không biết đã quay đầu khấn tội như bạn Lê Quốc Trinh nầy không???? 
      Xin chuyển các bạn Võ Trường Toản để tùy nghi.

      Ngô Xuân Đức
      (cựu học sinh Võ Trường Toản, Saigon)

      Trinh ơi,
      Sau gần 50 năm, từ ngày tụi mình (lớp đệ thất D Pháp văn) rời khỏi mái trường Võ Trường Toản cho đến nay là lần đầu tiên tao mới có tin tức về mầy. Tốt nghiệp chương trình trung học xong, tụi bây, mầy LÊ QUỐC TRINH (ngồi cùng bàn thằng ĐÔNG, thằng Tới), thằng Trang Kim Cương, Hồ Tấn Đông, Võ Văn Tới… đi du học. Bạn bè còn lại, vài đứa vào được đại học Phú Thọ, Y, Dược khoa. Phần lớn lêu bêu trong các giảng đường Văn, Luật khoa chờ ngày thi hành lệnh tổng động viên. Số bạn còn lại lần lượt vào Võ bị Đà lạt, trường SQ Hải quân, Không quân. Đáng thương và đáng khâm phục nhất có lẽ là số đông anh em đã không may bị rớt Tú Tài, phải đi Trung sĩ, đã hiên ngang đầu quân vào các Quân binh chủng thiện chiến của QLVNCH như Nhảy Dù, Thuỷ Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân… .
      Trong khi phần lớn bạn bè đã nhập cuộc cùng dân tộc, để chiến đấu chống CS xâm lược, sau đó có thẳng đã vị quốc vong thân (thằng Tính chết mất xác ở Đầm Dơi, thằng Toàn chết ở kinh Xà Tón, thằng Anh chết ở Khe Sanh,.....). Có thằng đã để lại chiến trường một phần thân thể (thằng Của một mắt, thằng Hải cụt hai chân,.....). Máu, mồ hôi và nước mắt của bạn bè đã đổ, đã chung góp tô bồi cho núi sông, cho đất nước, cho dân tộc được trường tồn, cho tụi bây được yên tâm ăn học, với những ước mong sau nầy tụi bây sẽ trở về quê hương tiếp tay diệt Cộng và dựng xây đất nước (!). Nhưng tụi bây, thằng đi sau đạp cứt thằng đi trước… đi, đi mãi, đi biệt tăm, đi không về, đi làm thằng khoa bảng vô ơn. Ngọn rau tấc đất nào nuôi tụi bây khôn lớn ? Tụi bây báo đáp được gì chưa ?
      Tao và bạn bè Võ Trường Toản rất vui khi đọc được những lời sám hối của mầy. Hy vọng mầy đã phản tỉnh thật sự, tuy rằng những thằng từng một thời ăn cơm quốc gia thờ ma CS rất tin lời thằng CS như tụi mầy. Có lẽ mầy cũng hiểu hơn ai hết là vì sao ??? 
      Hy vọng sau mầy sẽ còn nhiều thằng "bạn" như mầy sẽ thức tỉnh quay về nẻo chánh, như thằng Võ Văn Tới (đang làm việc cho CS tại Hà nội), thẳng Lê Tang Hồ v.v…
      Trễ còn hơn không !
      Chúc mầy luôn khoẻ và mau hồi phục tâm thức yêu nước thương nòi và yêu nước thật sự ! Hành động chứng minh cho lời nói (sám hối) !
      Tao, bạn cũ Võ Trường Toản của mầy

      Đ. D. N.


Tâm tình với bạn bè cũ và mới về hiện tình đất nước

Thân gửi các bạn hữu xa gần,

Hôm nay tôi đành phải gác lại bài viết bàn về sự thật ẩn sau phong trào Pháp Nạn 1963 để lên tiếng chia sẻ tâm sự với nhiều bạn hữu xa gần trên chủ đề vận mệnh dân tộc VN từ 60 năm qua và trong tương lai 5 năm tới. Bài viết tâm tình này tôi xin nhờ các Trang Mạng gửi đến các bạn bè cũ và mới mà tôi tạm chia thành bốn nhóm:

- Nhóm bạn cũ trường TH Võ Trường Toản (60-67)

- Nhóm bạn cũ Đại Học Montreal, U de M (68-73)

- Nhóm bạn cũ trong Hội VKYNTC (73-90)

- Nhóm bạn mới quen sau bài viết Lời Sám Hối (05-03-2015-...)

1- Tâm tình với các bạn cũ trường TH Võ Trường Toản, SaiGon (60-67)

Nguyên nhân khiến tôi suy tư viết bài này vì tôi mới nhận được hai lá thư của các bạn học cũ trường trung học Võ Trường Toản, SaiGon, qua trung gian của tờ Báo Tổ Quốc.com và DCVOnline.com, xin phép tác giả cho tôi trích dẫn hai lá thư đó và cho tôi quyền tạm thời dấu tên tác giả và vài người được nhắc đến trong lá thư, vì vấn đề an ninh cá nhân của họ trong chế độ CS công an trị:

a)- Lá thư của bạn NXĐ:

Các bạn Võ Trường Toản thân mến,


Tình cờ anh bạn tận trời Âu chuyến đến tôi bài sám hối của một cựu học sinh Võ Trường Toản. Tôi chợt nghĩ đến nhiều bạn ta đã nằm xuống cho VNCH trong những đóng góp cho sự thanh bình thịnh vượng của vùng đất một thời chúng ta sống và lớn lên... nơi đó chúng ta đã được trau dồi kiến thức để vươn lên… nhưng chẳng ai ngờ… lại có chuyện nầy.


Anh bạn Võ Trường Toản nầy giờ mới tỉnh ngộ, có lẽ anh ta đã bị vắt chanh bỏ vỏ như bạn Dương Văn Đầy thời tôi, anh đấu tranh để rước CSBV vào Nam, được phong chức bổng lộc đến chức Chủ tịch Tổng cục du lịch VN nhưng rồi bị chết mờ ám sau khi đi liên hoan... Hiện tại còn một bạn nữa là L T H cũng còn đang tại Canada không biết đã quay đầu khấn tội như bạn Lê Quốc Trinh nầy không????


Xin chuyển các bạn Võ Trường Toản để tùy nghi.

N X Đ
(cựu học sinh Võ Trường Toản, Saigon


-----o0o-----

b)- Lá thư của bạn ĐDN:


Trinh ơi,


Sau gần 50 năm, từ ngày tụi mình (lớp đệ thất D Pháp văn) rời khỏi mái trường Võ Trường Toản cho đến nay là lần đầu tiên tao mới có tin tức về mầy. Tốt nghiệp chương trình trung học xong, tụi bây, mầy LÊ QUỐC TRINH (ngồi cùng bàn thằng Đ, thằng T), thằng TKC, HTĐ, VVT… đi du học. Bạn bè còn lại, vài đứa vào được đại học Phú Thọ, Y, Dược khoa. Phần lớn lêu bêu trong các giảng đường Văn, Luật khoa chờ ngày thi hành lệnh tổng động viên. Số bạn còn lại lần lượt vào Võ bị Đà lạt, trường SQ Hải quân, Không quân. Đáng thương và đáng khâm phục nhất có lẽ là số đông anh em đã không may bị rớt Tú Tài, phải đi Trung sĩ, đã hiên ngang đầu quân vào các Quân binh chủng thiện chiến của QLVNCH như Nhảy Dù, Thuỷ Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân… .


Trong khi phần lớn bạn bè đã nhập cuộc cùng dân tộc, để chiến đấu chống CS xâm lược, sau đó có thẳng đã vị quốc vong thân (thằng Tính chết mất xác ở Đầm Dơi, thằng Toàn chết ở kinh Xà Tón, thằng Anh chết ở Khe Sanh,.....). Có thằng đã để lại chiến trường một phần thân thể (thằng Của một mắt, thằng Hải cụt hai chân,.....). Máu, mồ hôi và nước mắt của bạn bè đã đổ, đã chung góp tô bồi cho núi sông, cho đất nước, cho dân tộc được trường tồn, cho tụi bây được yên tâm ăn học, với những ước mong sau nầy tụi bây sẽ trở về quê hương tiếp tay diệt Cộng và dựng xây đất nước (!). Nhưng tụi bây, thằng đi sau đạp cứt thằng đi trước… đi, đi mãi, đi biệt tăm, đi không về, đi làm thằng khoa bảng vô ơn. Ngọn rau tấc đất nào nuôi tụi bây khôn lớn ? Tụi bây báo đáp được gì chưa ?


Tao và bạn bè Võ Trường Toản rất vui khi đọc được những lời sám hối của mầy. Hy vọng mầy đã phản tỉnh thật sự, tuy rằng những thằng từng một thời ăn cơm quốc gia thờ ma CS rất tin lời thằng CS như tụi mầy. Có lẽ mầy cũng hiểu hơn ai hết là vì sao ???


Hy vọng sau mầy sẽ còn nhiều thằng "bạn" như mầy sẽ thức tỉnh quay về nẻo chánh, như thằng VVT (đang làm việc cho CS tại Hà nội), thằng LTH v.v…Trễ còn hơn không !


Chúc mầy luôn khoẻ và mau hồi phục tâm thức yêu nước thương nòi và yêu nước thật sự ! Hành động chứng minh cho lời nói (sám hối) !


Tao, bạn cũ Võ Trường Toản của mầy

Đ. D. N.
(cựu học sinh Võ Trường Toản, Saigon)

Sau đây là hồi âm của tôi:

Các bạn Võ Trường Toản thân mến,

Tôi đã rớt nước mắt sau khi đọc hai lá thư lôi cuốn tôi trở lại thực tại của quê huơng đất nước. Các bạn trách móc tôi đúng vì quá nhiều hy sinh mất mát trong thế hệ trẻ của chúng ta trong thời gian tôi yên ổn học hành ở xứ người (1967-1973), tôi xin phép nhắc lại một đoạn mở đầu trong bài hát Tôi Sẽ Đi Thăm của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn:

..."Khi đất nước tôi thanh bình, tôi sẽ đi thăm,

tôi sẽ đi thăm, một phố đầy hầm,

đi thăm hầm chông và mã tấu.

Khi đất nước tôi không còn chiến tranh

bạn bè mấy đứa vừa xanh nấm mồ"....

Và cũng xin gửi gấm thêm bài Tình Ca Người Mất Trí của do nữ ca sĩ Lê Uyên trình bày để nhớ mãi thảm cảnh chiến tranh mà dân tộc Việt Nam phải gánh chịu.

Tôi nhớ mãi hình ảnh ngôi trường VTT của chúng ta, nhớ các thầy cô thân yêu bỏ công sức giảng dạy để nâng cao kiến thức cho thế hệ trẻ. Nhớ những buổi học về lịch sử dân tộc VN oai hùng chống ngoại xâm phương Bắc, nhớ những bài học về văn hoá dân tộc từ bà Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương cho đến các văn sĩ thi sĩ Nguyễn Công Trứ, Tản Đà, Nguyễn Du hay nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Nhớ mãi những giờ Công Dân Giáo Dục chán ngắt vì không thể nào hiểu nổi Tam Quyền Phân Lập là gì. Sau này sống lâu dài ở xã hội Bắc Mỹ, hàng năm phải cặm cụi đi bầu phiếu thường xuyên, theo dõi những cuộc tranh luận chính trị của người ta tôi mới vỡ lẽ ra dân chủ tự do là gì, rằng chính trị và kinh tế là những lĩnh vực quan trọng cho đời sống như nước và không khí. Đến lúc đó tôi mới thấy nền giáo dục thời VNCH là cao thượng, đầy tính nhân bản, khai phóng con người, là những hạt mầm tốt gieo trồng cho một vườn hoa tươi đẹp, nhưng chỉ mới phôi thai chưa đủ tuổi trưởng thành (1955-1975). Nếu không có chiến tranh tàn phá, không có chế độ CS phi nhân, phản khoa học này thì dân tộc VN (miền Nam VNCH) đã vươn lên thành một cường quốc giàu mạnh trong vùng Đông Nam Á từ lâu rồi.

Xin chân thành cám ơn các bạn Võ Trường Toản thân yêu.

2- Tâm tình với các bạn cũ Đại Học Montreal, U de M (68-73)

Thân gửi các bạn,

Chúng ta quen nhau không lâu dài, vỏn vẹn có 5 năm thôi, nhưng hãy còn lưu lại trong ký ức tôi nhiều kỷ niệm êm đẹp với các bạn, từ trường Polytechnique (Bách Khoa Kỹ Thuật) cho đến nhiều phân khoa khác của Đại Học Montreal. Năm ngoái qua vài buổi ăn cơm và uống cà phê ở Montreal, chúng ta vô tình gặp gỡ vui vẻ sau hơn 40 năm dài, có kẻ ra đi vĩnh viễn, có nguời giàu sụ nhờ làm ăn phát đạt ...nhưng tựu chung vài nét trẻ tuổi ngày xưa hãy còn phảng phất, nhất là tiếng Đan Mạch (Đ.M.) vẫn còn nổ như bắp rang. Tôi vui lắm vì ít nhất tôi còn tìm lại được bản tính thẳng thắn bộc trực của con người VN, một nhân tố mà tôi khó tìm thấy qua 17 năm sinh hoạt với những nguời tự xưng yêu nước trong HVKYNTC (73-90).

Để trả lời 2 anh bạn VTT cũng như nhiều người thắc mắc " lý do gì tôi gia nhập hội đoàn Yêu Nước thân Cộng", tôi xin thổ lộ:

...Đó là một buổi chiều tôi đến ca hát sinh hoạt ở nhà anh bạn LVA D, ở chung cư đối diện Đại Học. Thời điểm 72-73, trong trào lưu xuống đường biểu tình của sinh viên học sinh tại Sai Gon, anh D. vô tình giới thiệu cho tôi hát chung hai bản nhạc đấu tranh: bài Tự Nguyện (sáng tác: Trương Quốc Khánh) và bài Dậy Mà Đi (sáng tác: Tôn Thất Lập). Không ngờ những lời ca đó đã làm tôi xúc động mãnh liệt vì nó gợi cho tôi nhớ lại quãng thời gian xuống đường từ thời Pháp Nạn 1963 lây lất kéo dài đến 1967. Cùng lúc trên TV Canada xuất hiện nhiều cảnh chiến tranh khốc liệt ở VN: cảnh B-52 rải thảm bom, cảnh trực thăng vận của HK đổ bộ quân sĩ VNCH trên chiến trường miền Nam vv...Song song với những câu hỏi của vài bạn người bản xứ Canadien thắc mắc về lịch sử cận đại VN khiến cho tôi phải suy tư đi tìm sự thật. Đó là những động lực thúc đẩy tôi lấy xe bus, đi bộ đến thư viện lớn nhất thành phố Montreal tìm tòi lục lọi tài liệu tiếng Pháp, tiếng Anh lẫn tiếng Việt nói về chiến tranh VN, về sự can thiệp của Mỹ, về CS Bắc Việt, về ông HC Minh và ông NĐ Diệm. Tôi đã bỏ ra hơn ba tháng trời khuân ba chồng tài liệu của các ký giả ngoại quốc nổi tiếng đương thời, như Bernard Fall, Wilfred Burchett, báo Le Monde vv... về nhà đọc ngấu nghiến. Tôi tin rằng họ trung thực vì họ không xuất phát từ các nước CS, và họ xông pha chiến trường hàng ngày. Sau hơn ba tháng tìm kiếm sự thật tôi có cảm tưởng thế giới lên án Hoa Kỳ và chính phủ bù nhìn NĐ Diệm đến NV Thiệu trong khi lại ra sức tán dương HCM đến mức độ coi ông như vị cứu tinh cho dân tộc VN. Tôi đã bị nhiễm tuyên truyền CS một cách tinh vi mà không hay, cùng lúc đó ông anh tôi là thành viên của HVKYNTC, cứ tiếp tục mang sách vở tài liệu CS miền Bắc về cho tôi đọc thêm. Dần dần tôi ngả theo hướng "Yêu nước là yêu CNXH" của ông Hồ.

Tuy nhiên, có một chi tiết vô cùng quan trọng là tôi không hề tìm thấy thông tin nào nói về "Bức Công Hàm Bán Nước Phạm Văn Đồng ký ngày 14-09-1958". Bây giờ ngồi nghĩ lại tôi bực dọc và mang tâm trạng một nguời bị lừa gạt, cố công đi tìm sự thật lịch sử mà vẫn bị bịt mắt không hay. Phải chi ngày đó (1973) Internet xuất hiện thông tin quảng bá mọi sự thật về bức công hàm PVĐ 1958, thì chắc chắn tôi không bao giờ gia nhập Hội đoàn thân Cộng.

Ngay đến tập tài liệu Pentagon Papers xuất hiện sau này, không bao giờ đề cập đến bức công hàm PVĐ 1958. Tại sao vậy? Ngày 04-9-1958, TQ ra tuyên bố đòi hỏi chủ quyền biển đảo và 10 ngày sau (14-09-1958) chính phủ VNDCCH (CS miền Bắc) ra công hàm công nhận, theo tôi đó chính là cái mốc lịch sử bắt nguồn cho mọi mưu đồ xâm lược miền Nam VN của CS VN và TQ, khơi mào chiến tranh, khiến quân đội Mỹ phải can thiệp, 58000 quân sĩ HK tử trận, tiêu pha hơn 150 tỷ đôla US, hơn 3 triệu người dân VN bị chết, mất trắng nhà cửa ruộng đồng, phiêu bạt khắp thế giới sống kiếp lưu vong. Sự kiện quan trọng này đâu phải là chuyện đùa. Tại sao thông tin bị bưng bít cho đến bây giờ mới hiển lộ? Ai có khả năng phân tích xin cho tôi một lời giải thích?

Có ai đủ khả năng lên tiếng giải thích tại sao tổng thống Mỹ J.F. Kennedy lại bị ám sát chết một cách bí ẩn chỉ sau ngày đảo chính ông NĐ Diệm hơn một tuần (11-1963)? Tại sao chỉ nghe nói đến Pentagon Papers mà không bao giờ thấy xuất hiện White House Papers? Tôi xin chân thành ngồi yên lắng tai nghe. Tại sao chỉ một năm sau là quân đội Mỹ bắt đầu rục rịch đổ bộ lên Đà Nẵng sau màn chiến hạm Maddox bị tấn công trong vịnh Bắc Việt (1964)? Có ai để tâm theo dõi tình hình thế giới luc đó (1964) để biết rằng nội bộ TQ đang bị tê liệt, chém giết thủ tiêu nhau đưa đến một cuộc Cách Mạng Văn Hóa vĩ đại, gần 40 triệu nguời TQ chết và TQ tự cô lập cắt đứt mọi liên lạc với thế giới bên ngoài (1964)? Thời điểm đó tối ư quan trọng cho sự sống còn của chính quyền Hà Nội, vì mọi tiếp viện quân sự, vũ khí từ Liên Xô đến miền Bắc VN phải chuyên chở bằng đuờng bộ xuyên qua lãnh thổ TQ.

Có ai dám tự đặt câu hỏi rằng: "Giả dụ nếu TQ và Liên Xô cùng khối CS quốc tế thắng trận, tiêu diệt Hoa Kỳ và những nước tư bản Âu Châu ...thì tương lai nhân loại toàn thế giới sẽ đi về đâu ?". Giờ này chúng ta có được Computer, Internet, DVD, TV HD, WiFi, Cell Phone, IPhone, IPad để liên lạc với nhau nhanh cấp kỳ hay chúng ta đang ngồi trong hàng trăm Trại Học Tập Cải Tạo và có còn hiện hữu để lên máy gõ lóc cóc trao đổi với nhau không?". Xin mời các bạn trả lời.

Nói thế để các bạn thông cảm rằng: "Cố công đi tìm thông tin sự thật là một chuyện, nhưng có tiếp cận được sự thật hay không là chuyện khác".

Sau hết, xin chân thành cám ơn các bạn còn giữ được mối giao hảo thân tình với tôi cho đến ngày hôm nay.

3- Tâm tình với các bạn mới quen qua bài viết Sám Hối (2015-…)

Thân mến chào các bạn,

Trước hết tôi xin có lời cám ơn chân thành gửi đến chị Ngô Minh Hằng. Chị và tôi chưa hề quen biết, chưa bao giờ trao đổi với nhau trên Mạng, nhưng bài thơ "Không Muộn Đâu Anh" do chị sáng tác nhanh và lời lẽ chân thành đã khiến tôi xúc động chảy nước mắt. Khi nói "sám hối muộn màng" tôi thầm nghĩ mình chẳng còn năng lực là bao để dấn thân hoà sức cùng giới trẻ trong công cuộc gầy dựng lại cơ đồ VNCH. Cám ơn chị Hằng nhiều, hẹn gặp lại trong tương lai.

Thứ hai, tôi cũng xin gửi lời cám ơn đến anh tổng biên tập Trang DCVOnline.com cùng anh Lê Dinh chủ biên Trang LeDinh.com, nhạc sĩ miền Nam, nhờ các anh chăm chút hình thức bài viết, tổ chức bố cục, thêm thắt hình ảnh minh hoạ và tìm thêm nhiều tài liệu trích dẫn làm bằng chứng mà bài viết của tôi tăng thêm chất lượng, có bề dày và trọng lượng hơn. Cám ơn các anh nhiều.

Sau cùng tôi cũng xin cám ơn nhiều bạn bè xa gần gọi phone đến chia sẻ, khích lệ và gửi phản hồi tích cực trên các Trang Mạng, vận động tinh thần tôi.

Để bồi đáp tấm thịnh tình của các bạn, tôi xin trích lại đây bài phản hồi đăng trên Trang DanChimViet (27-03-2013) để so sánh ý nghĩa và bản chất hai lá cờ: Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ(VNCH, 1955-1975) và Cờ Đỏ Sao Vàng(VNDCCH miền Bắc VN)

………………………..

Hâm nóng giấc mơ lá cờ vàng ba sọc đỏ

(27-03-2013)

Từ mấy tuần qua, một ông Jonathan London nào đó ở bên xứ lạ (Anh Quốc) đột nhiên hứng khởi viết bài tham gia tranh luận với người Việt hải ngoại về hình ảnh lá cờ vàng ba sọc đỏ.

Mới đầu nghĩ rằng đây là chuyện nội bộ của người Việt Nam với nhau nên tôi không quan tâm nhưng sau nhiều loạt bài ông viết, và do người dịch cố ý đưa vào các Trang Mạng VN, nên tôi đành xin phép có ý kiến với ông Jonathan, như sau:

- rằng lá cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng của một chính thể tốt đẹp ở miền Nam VN (VNCH) từ 1955 đến 1975, có xuất xứ xa xưa từ thời phong kiến nhà Nguyễn và màu vàng là màu tượng trưng cho ý chí quật cường của dân tộc Lạc Việt. Đây không phải là một giấc mơ mà là một thực thể có quá trình lịch sử lâu dài gắn bó với giòng giống Lạc Việt;

- rằng hai chính thể VNCH I và II tuy không sống thọ lâu dài, chỉ mới 20 năm tuổi, nhưng nó đã tạo một nền móng dân chủ tự do thật sự do nhân dân miền Nam chung sức kiến tạo, cao thượng tốt đẹp hơn chế độ XHCN của miền Bắc áp đặt từ 30/04/1975. Sự thật này do chính miệng những nhà “cách mạng lão thành MTGPMN” thú nhận, sau 38 năm cưỡng chiếm miền Nam;

- rằng trở về với lá cờ vàng ba sọc đỏ là trở về với công lý, đem ánh sáng công lý rửa sạch mọi tội lỗi vô căn cứ mà nhà cầm quyền Hà Nội cố tình kết án nguời dân miền Nam ngay từ ngày thành lập MTGPMN (12/1960). Những bản án mà CS Bắc Việt đổ lên đầu người dân miền Nam như: phản động, phản quốc, tay sai ngoại bang, bù nhìn, nguỵ quân, nguỵ quyền …giờ này sau 38 năm thống trị đã hiển lộ chính là bộ mặt thật của tập đoàn lãnh đạo ĐCS và Nhà nước VN XHCN. Do đó lá cờ đỏ sao vàng của họ áp đặt không có chính nghĩa, không còn một chút lý do để tồn tại trên mảnh đất VN;

- rằng cờ vàng ba sọc đỏ chưa hề dính máu dân lành VN, chưa hề chịu nhục nhã đê hèn quỳ gối truớc quân xâm lược TQ. Ngược lại lá cờ đỏ sao vàng đã từng nhuốm máu dân lành trong chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất, trong vụ án Nhân Văn Giai Phẩm, trong các trại Học Tập Cải Tạo, trong hai cuộc chiến tranh biên giới, nhục nhã nhất là hình ảnh hy sinh của 64 lính hải quân bị hạm đội TQ sát hại trong trận chiến Gạc Ma bảo vệ Hoàng Sa năm 1988. Còn cờ đỏ sao vàng là còn chấp nhận quân xâm lược TQ uy hiếp dân lành VN, chấp nhận thân phận một chế độ nô dịch cho ngoại bang phương Bắc;

- rằng lá cờ vàng ba sọc đỏ không còn là một giấc mơ, mà chính là một lý tưởng cao đẹp mà toàn dân VN từ trong đến ngoài nước sẽ chung vai sát cánh kiến tạo lại một chính thể tươi đẹp dựa trên nền móng căn bản của VNCH thời xưa.

Kết luận:

Lá cờ vàng ba sọc đỏ chính là biểu tượng của tinh thần bất khuất, của một chính thể dân chủ tự do, đa nguyên, đa đảng, Tam Quyền phân lập thực sự.

Lê Quốc Trinh, Canada

TB: Mới đây nhân vụ người dân Hà Nội xuống đường kỷ niệm ngày TQ đánh chiếm đảo Gạc Ma (14-03-2015) tôi được biết thêm rằng lá cờ đỏ sao vàng đã được nhiều DLV sử dụng để che chắn tấm ảnh "ngai vàng và cung điện của Nông Đức Mạnh". Hoá ra lá cờ CS này có thêm chức năng mới là che đậy những tội lỗi xấu xa của các vị lãnh đạo ĐCS và Nhà Nước VN.

…………………..

Tôi sẽ có thêm một bài khác so sánh hai bản Quốc Ca: bài Tiến Quân Ca, CS miền Bắc (st: Văn Cao) và bài Tiếng Gọi Thanh Niên, VNCH miền Nam (st: Lưu Hữu Phước) để các bạn thấy sự khác biệt về ý nghĩa và giá trị lịch sử, nhất là trong tình thế dầu sôi lửa bỏng này.

Thân tặng các bạn bài hát Hải Ngoại Thương Ca của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, sáng tác năm 1964, để cùng nhau nghĩ về quê hương thân yêu.

...Tôi đi giữa trời bồi hồi

Cờ bay phất phới quên chuyện ngày xưa

Mong sao nước Việt đời đời

Anh dũng oai hùng chen chân thế giới ...

4- Vài hàng với các bạn cũ trong Hội VKYNTC

Thân mến chào các anh chị,

Tôi không biết phải xưng hô với các anh chị như thế nào cho xứng với hiện tình đất nước bây giờ. Tôi biết chắc chắn các anh chị không lạ gì những hình ảnh cung điện và ngai vàng sáng chói của Nông Đức Mạnh tung trên khắp báo chí, sau đó là ngày kỷ niệm đảo Gạc Ma (TS) mất vào tay TQ (14-03-1988) tổ chức âm thầm và ô nhục vì hình ảnh 64 anh bộ đội hải quân đưa thân hình làm bia sống cho bọn xâm lược phương Bắc mặc sức nhả đạn, khoái trá. Đến giờ ai ai cũng biết tin Lê Đức Anh, bộ trưởng Bộ Quốc Phòng VN thời đó đã ra lệnh quân sĩ không được cầm súng bắn trả. Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh về hưu gọi thẳng LĐ Anh là phản quốc, phản động ...Thế nhưng chẳng một ai dám động đến một sợi chân lông của LĐ Anh, không ai dám đặt nghi vấn về gia tài đồ sộ của NĐ Mạnh. Thế giới nhân loại sẽ nghĩ sao về thân phận của dân tộc VN hiện nay? Các anh chị nghĩ sao? Các anh chị có cảm thấy xấu hổ, có bực dọc hay giận dữ không khi thấy những hình ảnh mâu thuẫn và nhục nhã duy trì trên mảnh đất mà cha ông tổ tiên chúng ta đã bỏ ra biết bao công sức dựng nước giữ nước để các anh chị về chơi "cưỡi ngựa xem hoa" mỗi năm?

Ngày xưa khi các anh chị rời miền Nam ra đi du học, trái tim nồng nhiệt của hàng chục sinh viên trẻ đó dám cả gan thành lập Hội đoàn Việt Kiều Yêu Nước tai Canada với mục tiêu phản chiến chống Mỹ cứu nuớc. Các anh chị tự hào hãnh diện cho hành động yêu nước dũng cảm của mình, dám tổ chức những khoá học về chủ nghĩa xã hội mà tôi thường tham dự khi mới tập tễnh bước chân vào Hội (1973). Tôi đã tham dự ba ngày cuối tuần khóa học CN CS do anh cựu tbt báo Đất Việt tự đứng ra tổ chức ở một căn phòng muợn từ Đại Học McGill. Tôi còn nhớ mãi những bài học về "thuyết mâu thuẫn" hay "thuyết thực tiễn" của ông Mao Trạch Đông (TQ) mà anh P. hăng say giảng giải. Và tôi cũng không quên trong thời kỳ đó một số các anh chị khác lại cũng tổ chức khoá học song song về XHCN VN, học tập theo gương "bác Hồ". Tôi thực sự cảm thấy khó chịu và dị ứng vô cùng khi cầm cuốn sách Đường Kách Mệnh (NAQ) lên đọc bởi vì đó là lần đầu tiên tôi tiếp xúc với một tác phẩm lai căng chú kiết, chữ nghĩa pha chế xà bần từ tiếng Pháp gán ghép vào tiếng Việt (chữ f và chữ z). Từ đó tôi bắt đầu hiểu các anh chị là ai, và từ đó tôi bắt đầu giữ khoảng cách với các anh chị. Chưa nói đến những lục đục phân hoá nội bộ của anh chị chia thành hai phe: theo Tàu hay theo Liên Xô, không khác gì tập thể lãnh đạo ĐCS của các anh chị ở VN. Đến nỗi Hội Đoàn Kết VK tại Pháp đã phải cử hai ông HTĐ và NNG sang Canada để tìm cách giải hoà các anh chị. Có đúng thế không? Cho nên gọi các anh chị là "thân Cộng" có gì sai không?

Đến đây, tôi xin phép tạm ngừng để kể một chuyện khôi hài như sau:

Tôi nghe loáng thoáng phe này gọi phe kia là "bọn Mao ít". Hồi tôi học VTT chưa hề được giáo huấn chủ nghĩa CS là gì, cho nên ngơ ngác cứ tưởng các ông nói bóng gió "Mao ít, Mao nhiều" hẳn là "lông ít, lông nhiều" và cứ thắc mắc mãi. Sau này mới vỡ lẽ Mao Ít là Maoist, một loại chủ nghĩa theo đuôi Mao Trạch Đông (TQ). Tôi tự nhủ phải chăng từ năm 1955 chính phủ VNCH cứ cho học trò hiểu biết rõ về chủ nghĩa CS thì biết đâu tinh thần chống Cộng sẽ bùng nổ và tránh được phong trào sinh viên phản chiến biểu tình để cho MTGPMN giật dây sau lưng (Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Hiếu Đằng, Lê Văn Nuôi ..vv).

Bây giờ tôi xin đề cập đến những hồi âm của vài anh trong Hội sau khi nhận được bài Sám Hối Muộn Màng của tôi. Lá thư tôi nhận sớm nhất từ nhà văn ND chuyên viết truyện giả sử. Anh nhắn nhủ tôi "mau hồi phục và chúc bình an". Cuối cùng anh yêu cầu tôi "rút tên anh ra khỏi danh sách gửi E-Mail". Một số anh khác cũng lên tiếng đòi hỏi tôi delete tên họ trong list E-Mail. Tôi xin trả lời thẳng như sau:

a)- Đúng thế, cám ơn nhà văn ND, tôi rất muốn hồi phục sức khoẻ sớm sau khi nhận nhiều cú dao đâm sau lưng của các "đồng chí trong 17 năm sinh hoạt tích cực". Câu nói "vắt chanh bỏ vỏ" của người bạn thân VTT ngày nào vẫn chưa nặng bằng hình ảnh "đồng chí đâm dao sau lưng", và chuyện đó đã xảy ra trong một hội đoàn hải ngoại, từ những con người trí thức học vấn cao.

b)- Anh ND chúc tôi "bình an", tôi xin cám ơn và không dám nhận. Vì lẽ tôi không thể bình an, hưởng lạc thú yên vui trong tháp ngà, trong khi quê hương đất nước tôi ngày càng đắm chìm trong vũng bùn đen tối XHCN, tương lai dân tộc mờ mịt. Nếu anh ND muốn được "bình an" thì tôi xin phép trả lại lời chúc đó cho anh. Cám ơn anh.

c)- Nhiều anh bạn Hội viên nòng cốt xưa rất muốn tôi ngừng liên lạc gửi E-Mail nói về thảm cảnh đất nước hiện thời. Tôi sẵn lòng chiều ý các anh, và tôi xin nói thẳng với các anh rằng: "Tôi cố ý gửi E-Mail thông tin bàn luận chuyện quê hương đất nước hàng ngày, trích dẫn từ báo chí "lề phải" trong nước, từ đài BBC, VOA, RFI, RFA từ La Presse (Canada), chính là để thức tỉnh các anh trước hiện tình tổ quốc. Sau nữa tôi muốn các anh hiểu nỗi bực dọc khó chịu của kiều bào Canada khi bị tờ báo Đất Việt của Hội các anh tuyên truyền rỉ rả gần 17 năm". Ngày xưa các anh cứ tha hồ vào báo Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, SaiGon Giải Phóng, Tuổi Trẻ để trích dẫn bài, xong rồi hỳ hục đánh máy, đánh dấu và tự xuất tiền đem in và gửi khắp nơi. Các anh có bao giờ tự hỏi công việc đó đem lại lợi ích gì, có bao giờ biết người nhận báo sẽ khó chịu ra sao không?

Sau cùng, trong khuôn khổ giới hạn của bài viết này, tôi không muốn đi tản mạn quá dài làm mệt trí người đọc, chỉ xin tóm tắt vài hàng chót để nhắn nhủ các anh chị còn vương vấn với chế độ CS phi nhân phản khoa học, như sau:

- Rằng chính quyền miền Bắc CS VN không có chính nghĩa gì cả khi phát động chiến tranh xâm lược miền Nam mà chỉ vì chủ nghĩa và chủ nhân. Đầu óc lãnh đạo ĐCS VN (miền Bắc VN) đã bị cái vòng kim cô CNCS siết chặt, hai tay hai chân bị hai ông chủ TQ và Liên Xô kềm kẹp. Đó là sự thật đắng cay muôn đời mong các anh chị hiểu và mau sám hối để trở về với dân tộc;

- Rằng chính thể VNCH (Miền Nam VN) không bao giờ áp đặt chủ nghĩa nào hết, họ hoàn toàn có chính danh và chính nghĩa. Chính danh: vì chính phủ đại diện hoàn toàn do nhân dân miền Nam bầu lên trong mọi cuộc bầu phiếu tự do dân chủ. Chính nghĩa: bởi vì nhân dân miền Nam chiến đấu để bảo vệ tự do dân chủ và mảnh đất thân yêu của họ;

Thân gửi các anh chị bài hát Tâm Sự Gửi Về Đâu của cố nhạc sĩ Phạm Duy, phổ thơ Lê Minh Ngọc (1962) nói về tâm trạng đau buồn cay đắng của một cặp tình nhân trẻ ngoài Bắc CS. Chàng vì lý tưởng điên cuồng giải phóng miền Nam mà đầu quân làm bộ đội chiến đấu trong Nam còn nàng là một cô gái quê cam chịu kiếp sống tủi hờn ngục tù trong xã hội CS thời chiến tranh. Hai người ở hai phương trời cách biệt ngồi tưởng nhớ đến nhau:

Lìa nhau vì lý tưởng, hỡi em người quê hương

Đâu phải vì biên giới, đâu phải vì nghìn phương

Muôn ngàn năm còn mãi...Lệ trên đá rơi hoài

Chuyện mình ai người biết, và ai sẽ sót thương ?.

Mời các anh chị lắng tai nghe lời ca để thấu hiểu thực trạng đất nước dân tộc.

5- Phần kết

Sau cùng, tôi xin phép tạm dừng ở đây để không làm mệt trí người đọc, tuy rằng tôi hãy còn nhiều điều muốn nhắn nhủ các anh chị còn vương vấn trong Hội VKYNCT, xin hẹn gặp lại lần tới.

Thân mến chào các bạn hữu xa gần, chúc sức khoẻ và thân tâm an khang.

Lê Quốc Trinh, Canada

19-03-2015

TB: Tôi xin nhờ các Trang Mạng nhắn với ông thiếu tá Liên Thành và những ai biết nhiều về phong trào Pháp Nạn 1963 liên lạc với tôi để cùng nhau bóc trần sự thật lịch sử. Tôi có cảm tưởng rằng thượng toạ Thích Trí Quang chưa phải là nhân vật chủ chốt của sự kiện. Đó chỉ là "một con tép" làm vật tế thần để thế mạng cho nhiều kẻ chủ mưu đứng sau tấm màn đen tối nhằm triệt hạ chính thể VNCH. Bài viết sắp tới sẽ nói về sự kiện lịch sử này.

Trích dẫn:

1)- Bài Tình Ca Người Mất Trí, sáng tác: Trịnh Công Sơn, ca sĩ: Lê Uyên;

2)- Bài Hải Ngoại Thương Ca, sáng tác: Nguyễn Văn Đông, ca sĩ: Hà Thanh;

3)- Bài Tâm Sự Gửi Về Đâu, sáng tác: Phạm Duy, thơ: Lê Minh Ngọc (1962), ca sĩ: Tuấn Ngọc;

4)- Bài thơ Không Muộn Đâu Anh cua thi sĩ Ngô Minh Hằng

KHÔNG MUỘN ĐÂU ANH

Gởi anh Lê Quốc Trinh, tác giả "LỜI SÁM HỐI MUỘN MÀNG"

Không muộn đâu anh cho lời sám hối

Dù thời điểm nào miễn thật thành tâm

Can đảm quá, những lời anh nhận lỗi

Lỗi với đồng bào, lỗi với bản thân...

Trên cõi đời mấy ai không lầm lạc

Nhất là thời bồng bột, tuổi thanh niên

Ít kinh nghiệm, biết đâu lòng gian ác

Của những con người tâm địa đảo điên

Của những con người tim Mao óc Mác

Vắng bóng lương tâm, khánh kiệt tình người

Không biết quê hương chỉ cần biết đảng

Và biết gian hùng lừa mị mà thôi

Tình yêu nước cùng lỡ lầm kinh nghiệm

Anh công khai, thông điệp gởi muôn người

Tuổi trẻ Việt Nam trên đường nối tiếp

Sẽ cảm ơn anh dựng tấm gương ngời

Tôi cảm ơn anh nói lên sự thực
Về miền Nam, về chính thể Cộng Hoà

" Lời Sám Hối" giúp dân thêm ý thức

Việt Nam mình dân chủ sẽ khai hoa...

Ngô Minh Hằng

Mời đọc thêm link dưới:  Người trí thức khuynh tả? Là ai?

http://www.tinparis.net/thamluan/08_06TriThucThienTa_NguyenvanLuc.html

  1. Chuyện chém bay đầu trong nhóm sinh viên thân cộng tại Montreal

    bloody_axeThủ phạm là một người bị tâm thần phân liệt, có phức cảm bị hành hạ (Paranoid Schizophrenia) theo thẩm định của ba bác sĩ chuyên khoa bệnh tâm thần.

    phungngocnhan2

    Tin trên The Montreal Gazette ngày 26 tháng 5, 1973

    Ai? Phùng Ngọc Nhạn, 25 tuổi (thủ phạm), Nguyễn Vạng Toàn, 20 tuổi (nạn nhân #1), Nguyễn Đạt Dũng, 24 tuổi (nạn nhân #2), Peter Essenman (nhân chứng). Cả ba là sinh viên thân cộng trong Hội Đoàn kết Việt kiều tại Canada.
    Tại đâu? Một phòng trọ trên đường Aylmer, trong khu phố chính trung tâm của thành phố Montreal
    Khi nào? Chuyện xảy ra ngày 21 tháng 11, 1972.
    Tại sao? Thủ phạm là một người bị tâm thần phân liệt, có phức cảm bị hành hạ (Paranoid Schizophrenia) theo thẩm định của ba bác sĩ chuyên khoa bệnh tâm thần.

    Phùng Ngọc Nhạn ghi tên theo học tại trường Ecole Polytechnique thuộc đại học Montreal từ 1966 đến 1970 thì bỏ học vì đã phải vào 2 bệnh viện để an thần. Có lẽ gia đình anh có thân nhân nạn nhân VC hoặc anh căm thù VC vì chúng giết hại nhiều đồng bào vô tội trong nước trong khi đó những sinh viên được VNCH ưu đãi cho du học thì lài theo VC phá hoại quốc gia nên anh vô cùng căm tức. Anh mua cái rìu ra ta chém từng tên. Nguyễn Vạng Toàn, sinh viên 20 tuổi, bị Nhạn dùng búa chém bay đầu. Nguyễn Đạt Dũng, 24 tuổi, thầy giáo trường trung học Dorval, chạy thoát ra đường sau khi bị chém trọng thương ở tay và Nhạn, tay vẫn cầm cây rìu đẫm máu, đuổi theo sau. Kỹ sư Peter Essenman tình cờ lái xe qua đường Aylmer, thấy cảnh bạo động đã dùng xe chận Nhạn lại. Nhạn không đuổi theo Dũng nữa. Sau đó ông Essenman đã đưa Dũng vào bệnh viện.

    Nhạn thú nhận với cảnh sát là y đã giết người. Thẩm phán James K. Hugessen Phiên trong tòa ngày 25 tháng 5, 1973 tuyên bố Nhạn không phạm tội giết Nguyễn Vạng Toàn vì điên và phải ở trung tâm điều trị bệnh tâm thần Pinel dành cho phạm nhân bị tâm thần đến khi bình phục. Thẩm phán Claude Bison trong phiên tòa ngày 4 tháng 6, 1973 cũng tha bổng cho Nhạn tội mưu sát Nguyễn Đạt Dũng vì điên loạn.

    Tin trên báo Montreal Gazzete

    Tin trên báo Montreal Gazzete

  2. Image result for chém bằng búa

  3. Trí thức phải là người biết ngượng 

    Nguyễn Văn Lục | DCVOnline

    www.dcvonline.net/category/columns/nguyen-van-luc

    Những Người Bị Thiến                                              

    S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

    "Cách mạng không phải để xây dựng lên một chế độ độc tài."
    Huỳnh Nhật Hải & Huỳnh Nhật Tấn
    Mới đây, Thanh Nien o­n Line có bài tường thuật của nhà báo Nguyễn Công Khế về cuộc hội thảo phong trào đấu tranh đô thị từ 1954 đến 1975 (trong hai ngày 19 và 20.5.2012) tại Đà Nẵng:

     Tôi nhìn xuống hội trường của Trường ĐH Duy Tân mà lòng bùi ngùi, xúc cảm. Xúc cảm bởi tất cả các mái đầu đều bạc hoặc chấm bạc. Những Nguyễn Hữu Thái, Phạm Chánh Trực, Lê Quang Vịnh, Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Văn Nuôi, Lê Công Giàu, Tôn Thất Lập, Miên Đức Thắng, Vũ Hạnh... của Sài Gòn. Những Chu Sơn, Nguyễn Duy Hiền, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Lê Phước Á, Nguyễn Hoàng Thọ, Nguyễn Văn Bổn, Nguyễn Đồng Nhật, Hoàng Thị Thọ, Trần Hoài, Võ Quê, Phan Hữu Lượng… của Huế. Những Phan Duy Nhân, Huỳnh Văn Hóa, Đỗ Pháp, Lương Thanh Liêm, Lê Đức Hùng của Đà Nẵng. Còn những Bửu Chỉ, Vĩnh Linh, Nguyễn Ngọc Lan, Phan Quí, Trịnh Công Sơn, Ngô Kha, Phạm Thế Mỹ... và nhiều người thì đã ra đi vĩnh viễn, không có mặt trong cuộc hội ngộ này…”

    Tôi cảm ơn anh Lê Công Cơ người đã hoạt động và lãnh đạo phong trào từ những năm đầu của thập niên 60 thế kỷ trước, nay là Hiệu trưởng Trường ĐH Duy Tân - Đà Nẵng đã có sáng kiến và đứng ra tổ chức cuộc gặp rất có ý nghĩa và đầy cảm xúc này.”
    Nội dung của cuộc hội thảo này ra sao (tuyệt nhiên) không thấy ông Nguyễn Công Khế đề cập đến. Bởi vậy, “ý nghĩa” của nó (nếu có) e cũng không sâu sắc gì cho lắm!
    Gần hai năm trước, vào ngày 12/01/ 2010, cũng có bài viết liên quan đến “phong trào đấu tranh đô thị” (Bức Ảnh Quý Về Khí Phách Sinh Viên Huế 1975) trên trang Dân Luận:
    Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ trong một lần soạn lại sách vở tư liệu gia đình, đã phát hiện ra trong thùng đựng ảnh cũ của gia đình bức ảnh thầy giáo siêu hình học Trường Quốc Học Huế Hoàng Phủ Ngọc Tường đang diễn thuyết trong một cuộc đấu tranh, với câu khẩu hiệu rất “ác chiến” sau lưng 'CHÚNG TÔI THÁCH ĐỐ MỌI SỰ ĐÀN ÁP CỦA THIỆU - KỲ'.
    Thấy bức ảnh giá trị, Mỹ Dạ bèn ra phố scan lại rồi phóng to treo đầu giường anh Tường nằm. Trong ảnh có rất nhiều sinh viên vàcán bộ phong trào đứng cạnh anh Tường. Trong ảnh còn có một người mặc xê-vin trắng, thắt cà vạt đứng phía tay trái anh Tường, mắt nhìn xuống. Tôi hỏi anh Tường: Người này là ai ?
    Tường bảo: ‘Đó là một vị đại diện bên Ty cảnh sát cử sang để ‘theo dõi’ cuộc mít –tinh’. Mới hay, chính quyền Thừa Thiên Huế những ngày đó cũng rất ngại lực lượng sinh viên xuống đường, nên họ đã không ra tay đàn áp cuộc ‘xuống đường’, mà chỉ ‘theo dõi’ !
    Theo nhà thơ Trần Hữu Lục, thời kỳ đó có nhiều ‘tổ chức’ sinh viên Huế độc lập với nhau xuống đường đấu tranh lắm. Ngô Kha cùng Trần Quang Long lập ra nhóm đấu tranh, gọi là ‘Nhóm thanh niên chống xa hoa phóng đãng’ và ‘Quán bạn’, tham gia xuất bản tờ tin ‘lực lượng’ kêu gọi tuổi trẻ đấu tranh, đòi hòa bình dân chủ.
    Họ luôn bám trụ ở Trụ sở Tổng hội Sinh viên (22 Trương Định, Huế) để phát động đấu tranh. Họ xuất bản tập san ‘Tự quyết’, thành lập Mặt trận văn hóa dân tộc miền Trung do Ngô Kha làm chủ tịch, tổ chức triễn lãm tội ác của Mỹ tại Huế.
    Có một nhóm sinh viên yêu nước khác gọi là NHÓM VIỆT, hoạt động công khai Những năm 1967, 1968, đang là sinh viên đại học, Trần Hữu Lục, Trần Duy Phiên, Lê Văn Ngăn, Trịnh Công Sơn… đã ra tờ báo Thân Hữu ( ĐHSP Huế, 1967), Sinh viên Huế (1968) do Trần Hữu Lục làm chủ biên.
    Nhóm Việt sau Mậu Thân 1968 vẫn hoạt động công khai bằng cách phối hợp làm trang văn nghệ cho tạp chí Đối Diện, luôn chủ trương tìm về nguồn cội dân tộc, chống lại khuynh hướng lai căng, vong bản. Đến năm 1975, Nhóm Việt mới giải tán.
    Hoàng Phủ Ngọc Tường hăng hái làm chủ bút, phóng viên, biên tập viên của nhiều tờ báo như Dân (Tiếng nói đấu tranh của Trí thức Huế), Tiếng nói sinh viên, Việt Nam, Cứu lấy quê hương (Liên minh Huế).

     

    Tôi sinh sau đẻ muộn, và chưa bao giờ có dịp được đặt chân đến Huế nên không được biết rõ lắm cái “khí phách” của nhiều trí thức sinh viên” (thưở đó) ra sao? Riêng những “cây bút xuất sắc của cách mạng” với tên tuổi (vừa nêu) thì gần như  mọi người đều đã nghe danh. Tưởng cũng nên nghe chính những nhân vật này nói (hay viết ) qua về thành quả “cách mạng” mà họ đã dõng dạc “kêu gọi đấu tranh” khi còn trẻ ... dại:
    - Hoàng Phủ Ngọc Tường: “Điều quan trọng còn lại tôi xin ngỏ bầy ở đây, với tư cách là một đứa con của Huế, đã ra đi và trở về, ấy là nỗi thống thiết tận đáy lòng mỗi khi tôi nghĩ về những tang tóc thê thảm mà nhiều gia đình người Huế đã phải gánh chịu, do hành động giết oan của quân nổi dậy trên mặt trận Huế năm Mậu Thân. Đó là một sai lầm không thể nào biện bác được, nhìn từ lương tâm dân tộc, và nhìn trên quan điểm chiến tranh cách mạng” (“Nói Chuyện Với
    Hoàng Phủ Ngọc Tường Về Biến Cố Mậu Thân Huế” – Thụy Khuê, RFI, 12 tháng 7, 1997).
    - Trần Vàng Sao: “Cuộc cách mạng này kinh khủng thật. Không phải nó chỉ thay đổi tâm tính, thái độ, tư tưởng của từng con người mà thay đổi vị trí của từng đồ vật trong từng nhà, cái ghế, cái bàn, cái tủ, cái giường, tôn lợp trên mái nhà, lư hương trên bàn thờ… đều thay đổi chỗ, xếp đặt lại tất cả. Hôm qua cái bàn còn để đó, hôm nay không còn nữa, cái bàn đã đi qua nhà khác, đã ở ngoài chợ. Cuộc cách mạng này đã phá hết, phá tan hết những gì mà từng gia đình đã bòn mót bao nhiêu năm nay từ ông cha đến con cháu để nuôi sống mình, để tồn tại với đời. Và những người làm cách mạng đã thay thế những gì mà họ đã phá sạch bằng công an, bằng quyền lực trấn áp, bằng mệnh lệnh, khẩu hiệu, băng cờ” (Tôi Bị Bắt – talawas, 10.11.2005).
     - Nguyễn Đắc Xuân: “Giấu máy ảnh trong áo mưa, tôi đi men theo con đường sát với khu nhà bếp đối diện với xóm Rừng Phương Bối. Nhìn qua hàng rào tôi thấy bên trong hàng trăm người đàn ông, đàn bà, con trai con gái, áo nâu, áo lam nhếch nhác, nhiều người ăn mặc như cán bộ, một số cầm máy ảnh, máy quay phim, đùi, gậy, dao rựa đi đi lại lại, ăn nói, cười cợt lao xao. Tôi liên tưởng đến những côn đồ, xã hội đen, giả Phật tử đã từng tung hoành ở Bát Nhã được lưu trong các trang web phapnanbatnha, phusa, langmai lâu nay. Tôi sợ phải đối đầu với những đồng chí của mình nên muốn nhanh chân ra khỏi nơi này Tôi cảm thấy kinh hoàng giống như sáng ngày 21-8-1963 khi Cảnh sát Dã chiến thực hiện kế hoạch Nước lũ của ông Ngô Đình Nhu tấn công vào chùa Diệu Đế mà tôi đã từng viết trên báo Giác Ngộ. Và hơn thế nữa, hồi 1963, thấy Cảnh sát Dã chiến tôi có thể nhận ra họ để tìm cách đối phó, còn ở Bát Nhã hôm đó Cảnh sát đồng chí của tôi mặc thường phục, không phân biệt với dân thường, đám xã hội đen lau hau, tôi không biết họ là ai, nếu nhỡ bị họ hành hung đập máy ảnh, thu giấy tờ trong ví của tôi thì tôi không biết ai để mà thưa với chính quyền của tôi” (“Những Bạo Hành Ở Tu Viện Báy Nhã Xin Giải Thích Giùm Tôi” –  sachhiem.net, 5.10.2009).
     
    Qúi ông Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Vàng Sao, Nguyễn Đắc Xuân đều đã “lên xanh,” đều “trở thành những cây bút xuất sắc của cách mạng” và (rõ ràng) đều không được lạc quan hay hãnh diện gì cho lắm về thành quả mà họ đã “sục sôi, tranh đấu, dấn thân” vào những ngày tháng cũ.
    Vậy còn “... Những Nguyễn Hữu Thái, Phạm Chánh Trực, Lê Quang Vịnh, Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Văn Nuôi, Lê Công Giàu, Tôn Thất Lập, Miên Đức Thắng, Vũ Hạnh... của Sài Gòn. Những Chu Sơn, Nguyễn Duy Hiền, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Lê Phước Á, Nguyễn Hoàng Thọ, Nguyễn Văn Bổn, Nguyễn Đồng Nhật,Trần Hoài, Võ Quê, Phan Hữu Lượng… của Huế. Những Phan Duy Nhân, Huỳnh Văn Hóa, Đỗ Pháp, Lương Thanh Liêm, Lê Đức Hùng của Đà Nẵng...” thì sao?
     
    Những trí thức và sinh viên học sinh của phong trào đô thị trong cuộc hội ngộ tại Trường ĐH Duy Tân - Đà Nẵng - Ảnh:Lê Văn Thọ

     Các anh các chị, có thể không phải là thủ phạm nhưng không thể phủ nhận là những người đã góp phần gây ra những điêu tàn đổ nát hôm nay. Xin đừng im lặng nữa. Nếu không đủ sức để hành động, hãy viết, hãy nói, hãy kể lại cho các thế hệ trẻ những bài học dù thất bại, những ước mơ dù bị phản bội, những kinh nghiệm dù được đổi bằng xương máu của mình. Là những người có lương tâm, hôm nay, không có tòa án nào kết án các anh chị nặng bằng tòa án lương tâm của chính các anh chị. Là những người vốn nặng tình cảm, hôm nay, không có tình cảm nào cấu xé các anh chị bằng tình cảm các anh chị đã từng dành cho đất nước. Xã hội Việt Nam băng hoại, trụy lạc, tha hóa ngày nay là chiếc gương, các anh chị hãy soi vào đó để thấy lại chính mình...

    Đoạn văn thượng dẫn được trích trong bài viết “Thời Sinh Viên Ở Sài Gòn” của tác giả Trần Trung Đạo, trên trang Đàn Chim Việt – vào hôm 14 tháng 6 năm 2012 – và đã nhận được phản hồi của ông Lâm Vũ như sau:

    Thật ra ai cũng hiểu, rằng họ đã là cá nằm trong rọ. Nhưng đó chỉ là vấn đề thể xác. Không ai có thể nhốt được tinh thần! Sự bệ rạc của giới thanh niên thiên tả miền Nam sau 20 năm chỉ chứng tỏ một điều: vốn dĩ họ chỉ có tiếng mà không có miếng, chỉ có cái vỏ mà thiếu thực chất.

    Nếu so với những người đồng trang lứa, nhưng đã cưỡng lại sự quyến rũ của chủ nghĩa CS hư vô, phải nói lớp thanh niên thiên tả miền Nam của thập niên 60s đã thua xa về cả bản lĩnh lẫn ý chí. Đó cũng là sự khác biệt giữ lý tưởng thật và lý tưởng giả.

    Ngay lúc này là cơ hội cuối cùng cho lớp thành niên thiên tả của miền Nam, hiện tại đang ở lứa tuổi 60, đứng lên làm cuộc cách mạng bản thân và để cứu dân tộc, chuộc lại những sai lầm của thời xưa. Nhưng cho đến nay, tôi chưa thấy một dấu hiệu nào khả dĩ hy vọng họ có ý định làm chuyện đó… Có lẽ, giấc mơ của họ là có thể biến mất khỏi trần gian một cách yên ổn, tốt hơn là không ai để ý đến họ nữa… bây giờ cũng như mãi mãi về sau…
    Nói gọn lại, và nói cách khác (bỗ bã hơn chút xíu) là họ đã bị thiến hết trơn rồi. Chấm hết.
    Tưởng Năng Tiến.


  4. Hồ sơ đen về những kẻ bội phản chính trị  ̵  Trahison politique  ̵  trong nhóm trí thức thành phần thứ ba

    Trích : http://dcvonline.net/2015/06/22/ho-so-den-ve-nhung-ke-boi-phan-chinh-tri-i/

    yuyen_2

    Thầy giáo/nhà văn Y-Uyên | Circa 1968
    Có thể có hai Hồ sơ đen: hồ sơ đen trong nước sau 1975 và một hồ đen ngoài nước.
    Hồ sơ đen thứ nhất nói về tội ác của cộng sản trong việc xô đẩy người miền Nam tìm con đường thoát đi ra biển. Hồ sơ này đã được Michel Tauriac và nhà báo Hồ Văn Đồng gọi là Hồ sơ đen về chủ nghĩa cộng sản(1), Le dossier noir du communisme. Hồ sơ này nhằm tố cáo về những chính sách tội ác của người cộng sản đối với người dân miền Nam. Từ đánh tư sản mại bản đến đổi tiền và cuối cùng họ bị đẩy ra biển để tịch thu nhà cửa.
    Những nạn nhân cộng sản chết trên biển trở thành lời tố cáo tính cách dã man và tàn bạo đối với lương tâm nhân loại. Và thế giới đã gọi họ là những thuyền nhân, Boat People.
    Đây là một hồ sơ đen như một tội ác diệt chủng (génocide) của chế độ cộng sản chống lại con người. Bộ nội vụ cộng sản đã đề ra Kế Hoạch II nhằm quét sạch những thành phần ‘rác rưởi’ thuộc ngụy quân, ngụy quyền, ném họ ra biển.
    Trong Hồi Ký của đại tá Châu Thái Hùng, ông cho biết việc mua bãi tại tỉnh Đồng Nai, các xã ấp cứ lấy một cây vàng cho hai đầu người. 100 thuyền nhân thì phải trả 50 cây vàng.
    Cũng theo viên đại tá này:
    “Thời gian sau tình hình còn diễn biến theo chiều hướng phức rạp hơn. Đó là việc Bộ Nội Vụ ra chỉ thị cho phép các cơ quan công an các tỉnh được quyền tổ chức vượt biên (Lúc bấy giờ gọi là đi bán chính thức)”(2).
    Chính sách của Bộ Nội Vụ chẳng khác gì một cuộc xuất khẩu người để tich thu nhà cửa, vàng bạc.
    Ông Bùi Xuân Quang ở Paris đã để công viết một tập hồ sơ đồ sộ gồm phối hợp vấn đề địa chính tri, géopolitique, vấn đề lịch sử, xã hội trong một cuốn sách dầy 821 trang.
    Ông có đề cập đến vấn đề thuyền nhân mà theo ông Bùi Xuân Quang trong La troisième guerre D’Indochine, 1975-1999(3) đem lại cho ngân khố chính quyền cộng sản là 25 tấn vàng. Số vàng ấy trị giá tính ra tiền là 2 tỉ rưỡi Mỹ Kim.
    Trong khi đó, số người bỏ mình trên biển hiện nay là bao nhiêu? Không một tài liệu nào cho biết chính xác cả. Có người cho rằng cứ ba người sống sót thì có một nạn nhân xấu số.
    Dù không có con số chính xác thì hồ sơ đen tội phạm này của chế độ cộng sản Hà Nội cũng cần đưa ra trước một tòa án Quốc tế. Trước khi bị xô đẩy ra biển, họ đã mất nhà mất cửa, phải nộp vàng bạc cho mỗi đầu người.
    Họ đã bị trấn lột khi ra đi chỉ còn hai bàn tay trắng. Khi đến được xứ người. Bọn tay chân của Hà Nội, đặc biệt qua Hội Việt Kiều Đoàn kết tại Canada một lần nữa, trấn lột họ một cách tự nguyện: Họ com cóp từng đồng một để gửi về cho thân nhân còn kẹt lại bên nhà. Nghĩa là họ bị trấn lột đến hai lần: Lúc ra đi và ngay cả lúc đến định cư ở xứ người. Michel Tauriac gọi họ là những con bò sữa bị vắt sữa đến hai lần. Vắt lúc ra đi và lúc tới nơi.
    Câu chuyện Hồ sơ đen thứ hai - cũng là mục tiêu chính của bài này- được viết lại ngày hôm nay về nhóm sinh viên thiên tả nằm trong một tổ chức có tên là Hội Việt Kiều Yêu Nước Tại Ca-na-đa(4), là một câu chuyện của quá khứ cách đây có thể trên 40 năm. Tưởng đã chìm vào dĩ vãng mà nhiều người trong cuộc tin chắc rằng họ có thể hạ cánh an toàn, gác lại chuyện dĩ vảng và an hưởng tuổi già vì nay họ đều sấp sỉ tuổi 70 trở lên.
    Câu chuyện xem ra không đơn giản như họ nghĩ! Và dứt khoát những người tỵ nạn là thuyền nhân trên biển còn sống sót sẽ không bao giờ quên được chuyện đó.
    Hồ sơ đen thứ nhất có thể đã được nhiều tác giả, nhiều sách vở đề cập tới.
    Nhưng hồ sơ đen thứ hai thì hầu như đã bị chìm trong quên lãng nay được khơi lại như một hồ sơ nóng. Những người trong cuộc cần hiểu rằng, họ gián tiếp tay với chính sách của cộng sản Hà Nội. Họ là cánh tay nối dài của cộng sản Hà Nội bằng cách trấn lột tiền bạc, biến những người miền Nam còn kẹt lại trong nước thành một thứ con tin.
    Hiện nay, DCVOnline.net đang đưa một loạt hồ sơ đen về những ai thuộc nhóm sinh viên ‘phản chiến’ và được gọi là thành phần thứ ba ra ánh sáng công luận về những điều họ nói và nhất là về những điều họ làm.
    Đây là một công việc làm nghiêm chỉnh, mất nhiều công sức tìm tòi tài liệu nguồn! Đưa ra tập hồ sơ đen (Dossier noir) của Hội Việt Kiều Yêu Nước Tại Canada này không nhằm riêng rẽ một cá nhân nào. Và các tài liệu được trích dẫn đều dựa trên những nguồn khả tín nhất hoặc trên băng thu âm, trên tài liệu viết thành sách, trên các báo chí của thời đó.
    Nó có giá trị của loại tài liệu mang đúng tiêu chuẩn khoa học, đạt trình độ tri thức luận và nhận thức luận cao.
    Nói một cách nôm na, tập Hồ sơ đen này dựa trên giấy trắng mực đen, có ngày tháng, có hình ảnh đi kèm, không thêm bớt và vì thế khả năng phản biện và phủ nhận hầu như là điều không thể.
    Nó có giá trị thuyết phục ngay đối với những người có tên trong Hồ sơ. Họ chỉ còn biết im lặng tâm phục, khẩu phục!
    Mục đích tối hậu của Hồ sơ đen này là lột trần chân tướng của kẻ đứng đằng sau là đảng Cộng sản ở Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam, qua hai hồ sơ đen này, bộc lộ bản chất tàn độc nhất, dã man một cách tinh vi nhất, thất nhân tâm nhất và cũng xảo trá nhất.
    Người viết xin thú nhận rằng khi lần đầu tiên tiếp nhận tập tài liệu The Vietcong Front in Quebec – Mặt trận Việt Cộng ở Québec của Gilbert Gendron vào khoảng đầu tháng tư. Người viết đã hoan hỉ đọc. Nhưng đọc xong lần đầu thì như thể đụng phải một bức tường. Đọc lần hai và đọc đến lần thứ ba.
    Nhiều chi tiết quá không sao nhớ hết được. Đọc trước quên sau. Đọc lại tưởng như chưa đọc.
    May mắn là sau đó có bài của Trà Mi, Đứng ngoài cuộc chiến. Bài này nó cho thấy một cái trahison politique của đám sinh viên trẻ, trốn lính, nhưng lại mang mặt nạ yêu nước lý tưởng, chống chiến tranh mà tiêu biểu là bốn người trong một cuộc phỏng vấn của John G. Rogers, viết từ 45 năm trước, 14-6-1970, cho tạp chí Parade và cũng đăng trên tờ Washington Post, một tờ báo thường có truyền thống chẳng mấy tốt đẹp gì với miền NamViệt Nam cả. Bốn người này có thể nay chẳng nhớ họ đã phát biểu gì trong cuộc phỏng vấn đó. Bốn người trong bức hình là Lương Châu Phước, Đỗ Đức Viên, Trần Tuấn Dũng và Nguyễn Văn Nhã.
    Sinh viên “yêu nước” trốn quân dịch không về nước: (từ trái qua phải): Lương Châu Phước, Đỗ Đức Viên, Trần Tuấn Dũng, và Nguyễn Văn Nhã. 1970. Nguồn: Tạp chí PARADE/Washington Post June 14, 1970
    Người nào trông mặt mũi cũng thông minh, bảnh bao mà tâm địa sao hèn kém thế. Bọn trốn lính!
    Với lời chú thích mỉa mai của người đi phỏng vấn ngay từ năm 1970 mà các chàng ‘ngây thơ’ chẳng hiểu rõ thâm ý của nhà báo.
    “Sitting out the war: South Vietnamese students evade service by refusing to go home. Most arrived o­n Canadian government scholarship.”
    Người viết xin tạm dịch với vốn tiếng Anh ăn đong như sau:
    Ngồi ngoài cuộc chiến ở Montréal: các sinh viên của miền Nam đã trốn lính bằng cách từ chối quay trở về miền Nam. Hầu hết họ đã đến đây qua học bổng của chính quyền Canada.
    Trong đó, trừ Đỗ Đức Viên, ba người kia sau này đều có chức vụ, giữ vai vế quan trọng trong Hội Việt Kiều Yêu Nước Tại Ca-na-đa. Định mệnh sắp xếp chăng?
    Trong hình, người viết, do một người bạn đã giúp, nhận diện ra Nguyễn Văn Nhã giống hệt nhà văn Y Uyên, một chuẩn úy Địa phương quân đã hy sinh tại Phan Thiết. Đúng là cha mẹ sinh con, trời sinh tính. Người anh làm anh hùng, thằng em bất nghĩa theo giặc!
    Thầy giáo/nhà văn Y-Uyên (Circa 1968) (t). SV phản chiến Nguyễn Van Nhã 1970. DCVOnline tổng hợp
    (T) Thầy giáo/nhà văn Y-Uyên | Circa 1968. (P) SV phản chiến Nguyễn Văn Nhã, 1970. DCVOnline tổng hợp
    Tiếp đến bài của Lê Quốc Trinh, Lời sám hối muộn màng. Có thể Lê Quốc Trinh đã cho nổ một quả bom nổ chậm trong nội bộ đám Việt kiều yêu nước. Lời văn, giọng điệu chân thật, chữ dùng hầu như chưa gọt dũa, còn nguyên vẹn bản chất con người của một người có thói quen ‘cầm búa sửa nhà’, tay chắc dính dầu, bùn đất vì vốn là kỹ sư làm trong ngành mỏ như tác giả tự mô tả.
    Chính ở chỗ đó làm nên cái đẹp của tác giả.
    Tác giả mở đầu, Hôm nay ngày 3 tháng 3 năm 2015, tôi quyết định viết bài sám hối…
    Và lời cuối trong bài Sám Hối:
    “Nghĩ lại thời gian đã qua, tôi thầm tiếc nuối cho một đời thanh niên đã bị lừa dối, bị đánh cắp và cảm thấy rất ăn năn vì đã không trực tiếp góp phần với cuộc đấu tranh đòi lại công lý cho toàn thể nhân dân miền Nam.”
    Tôi đã đọc nhiều những sách viết về thái độ phản tỉnh của các nhà văn trí thức như Thanh Lãng, Chân Tín, Lê Hiếu Đằng, Tiêu Dao Bảo Cự, Đào Hiếu, Ngô Công Đức, Trần Đức Thảo, Tô Hải, Hoàng Hữu Quýnh, Nguyễn Văn Trấn, Trần Độ, Hà Sĩ Phu, Hoàng Minh Chính, v.v.
    Nhưng đây là lời sám hối khác hẳn các trường hợp trên.
    Không phải người trong đảng, hoạt động nhiều năm trong lòng chế độ. Nhưng ông là một cựu sinh viên ở hải ngoại, có trình độ, có dịp sống trong môi trường xã hội chính trị có truyền thống dân chủ. Vậy mà từ năm 1973, ông đã tự nguyện hoạt động cho cộng sản qua hội Việt kiều yêu nước.
    Lời thố lộ của ông mộc mạc mà cũng trung thực nhất! Thẳng thừng không úp mở.
    Và theo đúng tinh thần ngưởi chủ chiên trong Phúc Âm kể lại là mỗi khi có một con chiên trở về thì người chủ chiên sai mở tiện ăn mừng sự trở về ấy. Tôi cũng có niềm hân hoan ấy khi đọc Lời sám hối của Lê Quốc Trinh. Ông Lê Quốc Trinh đã có thời là bè bạn, là đồng chí của những thành viên trong Hội Việt Kiều Yêu Nước Tại Ca-na-đa. Mặc dầu gia nhập hội trễ năm 1973, nhưng ông là người có công đóng từng cái bàn, cái ghế, ngăn phòng, sửa chữa hội quán ở số 1450 Beaudry, năm 1980. Những tiết lộ của ông giúp phần đông bạn đọc, những ‘boat People’ hiểu được cái tổ chức trên cũng như công việc của họ.
    Tuy nhiên tôi cũng không đến nỗi quá ngây thơ đển tin rằng một ngày nào đó những Nguyễn Văn Nhã, Trần Tuấn Dũng, Quách Tinh Văn, Lương Châu Phước lại có thể có lời sám hối tương tự.
    Bởi vì trong một bài viết nhan đề Nhân đi thăm Tích Lan, trong nhóm sinh viên Colombo 1964, ông Lương Châu Phước trong phần kết luận có viết:
    “Thôi thì cũng phãi tự tha thứ và tự an ủi rằng ít ra là mình biết nhớ ơn, dù có muộn màng và sau khi đã nhận lãnh sự giúp đỡ, đã không làm điều gì sai quấy, không đem phiền muộn cho ai…”
    Điều này cho thấy, ông Lương Châu Phước không nhận thức rõ được việc làm của ông trong Hội Việt kiều yêu nước của ông. Tôi đã có dịp đọc tờ Đất Việt do ông làm “Tổng biên tập”. Một số nội dung báo Đất Việt cho thấy tính cách tuyên truyền từ cách chọn bài, chọn tác giả, chọn thông tin, tên tuổi các ông cộng sản như Nguyễn Cơ Thạch, Võ Văn Kiệt, Trần Bạch Đằng. Chắc rằng ông đã viết sai sự thật hay che dấu sự thật không ít.
    Cộng tác viên trong nước thì có Trần Bạch Đằng, Sơn Nam, Vũ Hạnh. Hoàng Phủ Ngọc Phan, Ngọc Linh. Đặc biệt đăng truyện dài Ông cố vấn của Hữu Mai. Hữu Mai là Trần Bạch Đằng.
    Cảm tưởng của tôi là nó giống như một tờ báo đảng ở Sài Gòn. Báo in và xuất bản ở Montréal của Hội Việt kiều mà tuyệt nhiên không có bài vở, sinh hoạt ở đây!
    Chỉ xin gửi đến ông một số đề thi tú tài hai bên Pháp năm nay cho 685.000 thí sinh. Riêng thí sinh ban Khoa học thực nghiệm (S) thì đề thi triết năm nay như sau:
    “La politique échappe-t-elle à l’exigence de la vérité?” Làm chính trị có cần tôn trọng sự thật không?
    Chắc là ông không làm được bài thi này. Tôi là thầy giáo dạy môn Triết, đành đánh rớt ông thôi!
    Với tư cách một người đọc, một người đứng xa, đứng ngoài không có quan hệ quen biết gì với đám người trong tổ chức trên, trừ một hai người vốn quen biết sẵn, tôi xin đóng góp như cái nhìn thứ hai (second regard) vào tổ chức này.
    Cái nhìn của người viết mang tính cách đánh giá và phê phán cá nhân cũng như tổ chức này và đặt ra một số câu hỏi.
    Hài danh tính một số thành viên phản bội chính trị trong tập Hồ sơ đen ở hải ngoại
    Cho đến nay, đa số trong số gần 40.000 người Việt sinh sống và định cư ở Montréal đã không hề biết gì về những thành viên trong tổ chức hội Việt kiều yêu nước cũng như công việc họ làm.
    Đó là một thiếu sót mà người viết thấy cần thiết phải làm.
    Nhiều người từng là thành viên của nhóm Hồ sơ đen Việt kiều yêu nước nay đã chọn sự im lặng và tránh mọi tiếp xúc hay tránh không muốn cho phỏng vấn.
    Tại sao họ phải làm như vậy?
    Chỉ vì nay họ biết cái trách nhiệm, cái sai phạm mà họ đã làm trong quá khứ cách đây 40 năm! Họ không muốn ai nhắc tới nữa.
    Tiêu đề Trahison Politique là muốn nhấn mạnh là tất cả thành viên của Hội này đều gốc gác ở miền Nam hoặc di cư từ Bắc vào Nam trong cuộc di cư năm 1954-55. Họ đã được ăn học, giáo dục đến nơi đến chốn cho đến lúc đỗ xong hai bằng tú tài.
    Không có miền Nam, không có nền giáo dục tốt đẹp của miền Nam, không có sự chọn lựa công bằng trong sự tuyển chọn thì dù họ học giỏi – Tôi nhận thức một cách không khâm phục – khi trong thâm tâm, họ cho rằng, họ giỏi nên chẳng cần ai, họ đương nhiên được đi du học.
    Nói thật, không có những điều kiện ắt cỏ và đủ ở miền Nam. Thân phận họ không được như vậy!
    Vậy mà họ chưa một lần biết cám ơn miền Nam. Họ cũng chưa hề đóng góp công sức ngay cả phục vụ trong quân ngũ như những thanh niên khác đồng lứa tuổi với họ.
    Họ thiếu cái tình con người mới không hiểu rằng biết bao nhiệu thanh niên cùng trang lứa với họ đã phải nhập ngũ, ra chiến trường và chết thay cho họ. Tôi đọc Đỗ Lệnh Dũng của Lê Thiệp và cảm thức được cái oan nghiệt của cuộc chiến tranh(5). Mười tám tuổi, hào hùng, lúc nào điếu thuốc lá cũng trên môi như một thách thức, từ giã tuổi trẻ Sài Gòn, từ giã cha mẹ, nhập ngũ, rồi mất tích giữa Chiến Khu D sau một trận đánh dữ dội.
    Thử hỏi xem họ có cái gì hơn Đỗ Lệnh Dũng?
    Trường hợp Nguyễn Văn Nhã, Nguyễn Văn Hương và nhà văn Y Uyên
    Tôi biết nhà văn Y Uyên đã lâu. Nhưng lại không bao giờ có ý tưởng liên kết nhà văn chết trước 1975 với hai người em của ông ở Canada, cho đến khi tôi viết bài này.
    Thật là một cái duyên kỳ lạ.
    Gia đình Y Uyên vốn người Bắc di cư. Ông cụ bị cộng sản lên án tử hình khiếm diện. Năm 1954, ông cùng với đại gia đình di cư vào Nam và định cư tại Gò Vấp, nơi có đông đồng bào công giáo di cư lập nghiệp. Gia đình ông theo đao Phật. Căn nhà của gia đình Y Uyên ở số 109-2C đường Thống Nhất, quận 11, Gò Vấp.
    Ngày 8 tháng 1, năm 1969, nhà văn Y Uyên đã vĩnh viễn ra đi. Trước khi ra đi, anh cũng đã gửi cho Ng., người yêu của anh, kể chuyện về đêm Noel lạnh lẽo ở núi đồi với một lời chúc, Mừng em ăn tết, năm mới thật nhiều bánh kẹo.
    Năm nào gia đình anh cũng làm lễ giỗ, tổ chức long trọng và mời bạn bè anh đến dự. Nguyễn Văn Hương, em ông, là người mong muốn tái bản 6 tác phẩm của anh mình.
    Như nhiều thanh niên khác đã không được cái may mắn như họ và nhiều người đã hy sinh vì lý tưởng quốc gia như trường hợp chuẩn úy Nguyễn Văn Uy – bút hiệu Y Uyên. Ông đã hy sinh tại đồi Nora, gần chân núi Tà Lon (còn gọi là Tà Zon, Tà Dôn), Bình Thuận năm 1969, lúc vừa 29 tuổi.
    Chuẩn úy Nguyễn Văn Uy – nhà văn Y Uyên – trước hầm trú ẩn ở đồn Nora, vùng núi Tà Dôn, Bình Thuận. 1969. Nguồn Thư quán Bản thảo số tháng 2/2005
    Bạn bè thân hữu, nhà văn rất đông trong tạp chí Văn đã ra số tưởng niệm ông. Tên tuổi nhiều người như Thư Trung, Võ Hồng, Mường Mán, Huỳnh Phan Anh, Thanh Tâm Tuyền, Trần Phong Giao, Cao Thoại Châu, Trùng Dương, Nguyễn Mạnh Côn, Trần Huiền Ân, Lê Bá Lăng và người bạn chí thiết của ông Mang Viên Long, v.v.
    Nhắc tới ông, vì ông là anh ruột của những kẻ đã phản bội miền Nam là Nguyễn Văn Nhã, và Nguyễn Văn Hương.
    Thật uổng phí cho sự hy sinh cao cả của cố thiếu úy Nguyễn Văn Uy. Và cũng thật đáng hổ thẹn vì ông có hai người em ruột bất xứng.
    Ông Nguyễn Văn Nhã nay là đại gia. Người ta nói với tôi như thế. Vợ ông cũng là thứ đại gia giầu ngất ngưởng. Ông không thể ngờ rằng có ngày hôm nay, có một nhóm người cầm bút trước 1975 trong Thư quán Bản thảo. Họ đã có lòng và bỏ công sức thời giờ cũng như tiền bạc, đã sưu tập tất cả truyện ngắn của nhà văn Y Uyên. Và in lại trong Tuyển Tập truyện thời chiến của nhà văn có tên tuổi mà tuổi đời mới 29, người miền Nam, một chiến sĩ Việt Nam Công Hòa đã nằm xuống năm 1969.
    Tôi xin trích lại một bài thơ cuả Trần Huiền Ân đăng trên Bách Khoa tháng 01-69 để tưởng nhớ Y Uyên với những câu:
    “Mình tôi ngồi đây thương tiếc anh
    Càng thêm căm uất cuộc tương tranh
    Đầy sông máu đục tình huynh đệ
    Xương trắng từng phơi biết mấy thành”
     
    Tôi cũng xin trích dẫn lời giới thiệu tập sách của nhà văn Y Uyên được Thư Quán Bản Thảo in lại ở hải ngoại:
    “Việc sưu tầm 9 truyện ngắn này quả thật là cả một sự khó khăn đối với chúng tôi… Chúng tôi phải nhờ những bạn bè cầm bút cũ trong nước ra công tìm kiếm những sáng tác của ông đăng rải rác trên những tạp chí văn học miền Nam trước 1975 […] Những trang tạp chí ấy hôm nay đã ố vàng với thời gian, nhưng truyện ngắn của Y Uyên vẫn không-và-không-bao- giờ ‘ố vàng’ trong lòng độc giả miền Nam, trong lòng bạn bè của ông hôm nay.”(6)
    Là trai thời binh lửa thì chuyện gục ngã ở sa trường là chuyện thường ngày trong suốt cuộc nội chiến Việt Nam. Nhưng cái chết của chuẩn úy Nguyễn Văn Uy không phải là một cái chết bình thường. Xin trích một đoạn trong bài Núi Tà Dôn và dấu chân Uy của Lê Văn Chính (Sương Biên Thùy) đã đăng trong Tạp Chí Văn, số 129, phát hành ngày 1 tháng 5 năm 1969 – Số đặc biệt thương nhớ Y-Uyên.
    11.1.69
    Tôi nghĩ Uy sẽ không bị chết nếu bị bắt, nếu Uy biết cách nói cho những người ở phía bên kia biết Uy là một nhà văn. Tôi cũng nghĩ đến trường hợp, sau khi bị bắt, Uy sẽ được ra Hà Nội, và guồng máy tuyên truyền phía bên kia sẽ khai thác nhà văn của chúng ta. Nhưng tất cả những điều tôi tưởng tượng đều trái ngược với thực tế, một thực tế phũ phàng, tàn nhẫn: Y Uyên, sau khi chết rồi, còn bị bắn bồi mấy phát súng ở mắt, tai và đâm bồi thêm mấy nhát dao ở hai cánh tay và hai bên hông.
    Tôi không có mặt khi bạn hữu tẩm liệm chàng, nhưng Học nói lại những nhận định như thế khi quan sát xác chết với những dấu đạn, dấu dao trên mình chàng. Có những dấu đạn người ta biết được là từ đâu, như thế nào, và người ta cũng biết được những dấu đạn nào là vô ích, là của hận thù. Trên thân xác của Uy, khi chở về Quân y viện, có những dấu đạn thừa, những dấu dao vô lối. Những dấu đạn, vết dao không thể cắt nghĩa được. Nếu không phải là chúng có từ những thù hận ghê gớm, những chất ngất căm hờn, thì không thể làm sao tìm ra lý do giải thích sự hiện diện của chúng trên thân hình một người đã chết.
    Từ những dấu đạn vết dao đó, tôi có một nhận định về những người ở bên kia chiến tuyến. Tôi không hiểu bằng cách nào, trong cuộc chiến tương tàn, ròng rã hơn hai mươi năm này, những người lãnh đạo cộng sản đã dạy cho binh lính của họ như thể nào để lòng thù hận chất ngất mênh mông đến thế? Tôi chấp nhận những viên đạn thứ nhất là hợp lý – Ừ, thì cứ cho là hợp lý. Nhưng những viên đạn bắn bồi, những nhát dao đâm thêm trên một xác thân đã chết là những viên đạn, những nhát dao không thể cắt nghĩa, không thể chấp nhận được. Những người Cộng sản Việt Nam đã làm những điều dã man như thế, khởi đi từ lòng thù hận, từ sự cuồng tín. Từ đó, chúng ta có một nhận thức mới, họ mù quáng trong khi chiến đấu, họ không mảy may hiểu về những căn nguyên cuộc chiến tương tàn này.”(7)
    Tôi tự hỏi, cách ứng xử nào được coi là tốt đẹp nhất, nếu tôi là em của của cố thiếu úy Nguyễn Văn Uy!
    Tôi cũng hỏi Nguyễn Văn Nhã, Nguyễn Văn Hương như thế. Tôi thật sự không hiểu được con người các ông Nhã và Hương. Họ đã có một người anh, một nhà văn, một người anh đã hy sinh ngoài chiến trường(8).
    Khi Nguyễn Thái Bình, một sinh viên du học ở Hoa Kỳ, ngày 1 tháng 7, 1972 trên đường về nước, âm mưu cướp máy bay và bị giết, xác ném xuống phi đạo thì một số người trong HVKYNTC mà hai ông Hương và Nhã là thành phần lãnh đạo đã định chiếm lãnh sự quán của Mỹ ở Montreal để trả thù cho đồng chí/không tặc(9). Tôi lại tự hỏi, thế những người thân cộng đó và cả hai anh Hương và Nhã đã nghĩ gì và đã định làm gì khi biết chuẩn úy Nguyễn Văn Uy chết như thế nào bên một dòng suối ở chân núi Tà Dôn vào ngày 8 tháng 1, 1969.
    Biết cái chết của anh mình do cộng sản cuồng tín sát hại một cách dã man, làm thế nào họ vẫn có thể nhẫn tâm cúi đầu làm tay sai cho cộng sản?
    Tôi chỉ hỏi họ điều đó thôi. Điều mà tôi cũng đã hỏi tiến sĩ triết học Thái Kim Lan, cha bị Việt Minh sát hại lúc 5 tuổi chỉ vì làm công chức bưu điện cho Pháp. Nghĩ tới cảnh mồ côi cha, biết bao thiệt thòi, vậy mà cũng cúi đầu đi theo cộng sản?
    Thật sự tôi không hiểu được họ, Tôi không thể nào hiểu được họ. Họ có đầu không, có trái tim không? Có một chút lòng thương tiếc anh mình không?
    Và nhất là họ có còn bản tính người không? Nếu không, họ còn thua cả loài súc vật.
    Hoàn cảnh miền Nam mà mỗi người mỗi phía là hoàn cảnh không tránh được. Phần tôi, tôi có một người anh ruột, bị tù cộng sản trên suốt 20 năm. Và tôi nghĩ rằng, tôi không cần biết họ là ai, là cộng sản hay không cộng sản. Kẻ nào ám hại anh tôi thì tôi căm thù họ suốt đời.
    Tâm trạng ấy, tại sao lại không có được nơi Nguyễn Văn Nhã, Nguyễn Văn Hương?
    Sau đây, tôi xin ghi chép đầy đủ tên một số những thành viên của Hội Việt Kiều Đoàn Kết Tại Ca-na-đa.
    • Vĩnh Anh.
    • Võ Văn Bang, đại gia ở Việt Nam.
    • Tạ Công Bằng, về Việt Nam và chết đuối một cách bí ẩn ở sông Trà Khúc.
    • Thục Bình.
    • Phan Minh Dũng và vợ.
    • Trần Tuấn Dũng, Phân hội trưởng Phân hội Sinh viên HĐKVKTC, Phó Giám Đốc Vinamedic Inc., công ty xuất cảng dược phẩm và vải may mặc, thành lập năm 1981, thuộc nhóm Đổi Mới, có mặt ở Hà Nội năm 1988.
    • Phan Kim Điển, thành viên Hội đồng quản trị Q.T.K Express Inc và CIIC Internatioal Investment & Trade Corporation mà giám đốc là Nguyễn Văn Hương.
      Phí Thịnh Đức, giáo sư khoa kỹ sư Điện tại đại học Moncton.
    • Hoàng Hải Học, giáo sư trường Ecole Polytechnique, Montreal, không có mặt ở trong phiên họp tháng 10, 1988, nhưng được cộng sản giao trách nhiệm trong buổi họp giải quyết tranh chấp hai phe.
    • Nguyễn Mạnh Hùng, dạy khoa kinh tế đại học Laval, sinh hoạt văn học với bút hiệu Nam Dao.
    • Nguyễn Văn Hương, cựu chủ tịch HĐKVK đến năm 1986, giám đốc Q.T.K. Express Inc., và CIIC Internatioal Investment & Trade Corporation, em của nhà văn Y-Uyên. Nay thì Nguyễn Văn Hương thường ở Việt Nam.
    • Lưu Liên, nhân viên quản lý của Laser Express Inc. Bị thất sủng và khai trừ ra khỏi mọi chức vụ.
    • Phí Thịnh Long, Toronto.
    • Nguyễn Xuân Lộc.
    • Tôn Nữ Thị Nga, Chủ tịch Vietimex.Inc, vốn là 98.000 đô la, Lưu Liên Phó chủ tịch, Huỳnh Hữu Tuệ, Phó chủ tịch và Lê Tiền Phong, Tổng thư ký.
    • Nguyễn Văn Nhã, Phân Hội trưởng, Phân hội Trí thức HĐKVKTC, Giám đốc Vietimex Inc. và Giám Đốc Vinamedic Inc. Nhã còn thành viên Mặt Trận tổ quốc. Nhã thuộc nhóm đa số thuộc Thành Viên Ban Thường Vụ. Nhã cũng có mặt theo sự triệu tập của Hà Nội năm 1988 để giải quyết tranh chấp giữa hai phe: Phe Thường vụ và phe Đổi Mới. Công ty Vinamedic của Nhã có những thùng thuốc gửi bằng Telex về Việt Nam. Có các thùng 55 đô la Mỹ, thùng 100 đô la Mỹ và thùng 200 đô la Mỹ. Có những thùng đặc biệt lên đến 220 đô la và 320 đô la.
    • Oanh, trong nhóm Thường Vụ.
    • Lê Tiền Phong, Thái Thị Khánh Hạnh, vợ Lê Tiền Phong; chồng về Việt Nam năm 1988, theo lệnh triệu tập của Hà Nội, ở trụ sở Ban Việt Kiều Trung Ương. Ông đứng về phe Thường vụ-Kinh doanh như trong hồ sơ Vixileaks của Trần Giao Thủy tiết lộ. Ông đã qua đời vì ung thư phổi khi quay trở lại Canada.
    • Đinh Văn Phước và vợ.
    • Lương Châu Phước, nguyên Tổng Biên Tập (Chức vụ giống hệt như ở Việt Nam sau 1975) tờ Đất Việt, được trả lương, được cung cấp xe hơi. Đã mất job chủ báo từ năm 1987 nhưng cũng về Việt Nam năm 1988, thuộc Nhóm Đổi Mới. Hội Việt Kiều đoàn kết vỡ làm hai năm 1990, và hoàn toàn ngưng hoạt động sau 1991. Nay Lương Châu Phước lấy cửa chùa làm nơi nương tựa. Bỏ dao thành Phật.
    • Lê Phúc và vợ
    • Lê Hữu Phùng, bác sĩ tốt nghiệp ở Pháp. Chủ tịch ủy ban cố vấn HĐKVKTC, thành viên Hội Đồng quản trị Laser Express.
    • Dương Quý
    • Nguyễn Minh Sang, đại úy nha sĩ, đào ngũ. Chụp hình cùng vợ con, trên mặt bàn còn để chiếc mũ kêpi sĩ quan, nhưng đằng sau treo cờ giải phóng. Ở Toronto, đã cộng tác với tờ Đất Việt. Con trai y, cũng là nha sĩ, cũng đi theo vết chân lấm bùn của bố. Cha nào con nấy!
    • Đỗ Lâm Sinh.
    • Nguyễn Kỳ Toàn, dạy đại học Quebec tại Trois-Rivières.
    • Nguyễn Thị Thanh, vợ Lương Châu Phước.
    • Lê Quốc Trinh, kỹ sư khai khoáng. Tác giả Lời sám hối muộn màng, Đôi lời tâm sự và bài Yêu nước hay yêu tiền đã đăng trên DCVOnline.net
    • Võ Văn Trương, giáo sư đại học Moncton.
    • Võ Quang Tu, nhân viên của tòa đại sứ Việt cộng năm 1979. Trong Hội Đồng Quản trị của công ty Laser Express Inc. thành lập tháng 7, năm 1980 cùng với Lê Hữu Phùng, Mai Tất Đắc, Nguyễn Cao Đàm, Nguyễn Như Thường. Trị giá cơ sở địa ốc của công ty là 239.900 đô la vào năm 1986.
    • Nguyễn Đức Tuấn.
    • Phạm Ngọc Tuấn, trong Hội Đồng Quản trị Vietimex Inc. Công ty này giải thể năm 1997.
    • Huỳnh Hữu Tuệ, giáo sư khoa kỹ sư Điện, chủ tịch HNVTC từ năm 1986, thuộc nhóm Thường Vụ, có mặt năm 1988 trong vụ tranh chấp giữa hai nhóm: Thường Vụ và Đổi Mới, hiện tình nguyện về dạy học tại trường Đại Học Quốc Tế trong Đại Học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh. Việt Nam.
    • Lý Thanh Tùng.
    • Nguyễn Quát Ti.
    • Quách Tinh Văn, có anh ruột là Quách Tinh Cần, đỗ thủ khoa sĩ quan Đà Lạt, khóa 20, ngày 20-11-1965. Quách Tinh Cần sau đó làm sĩ quan tùy viên cho đại tướng Cao Văn Viên. Đây là một hoàn cảnh bi kịch của miền Nam khi gia đình chia hai, mỗi người đứng về một phía. Quách Tinh Văn, Phó Giám đốc Vietimex Inc., Phó Giám đốc Laser Express Inc., Phó Giám đốc Vinamedic Inc. chuyển hàng về Việt Nam.
    (T) Cựu Thủ khoa Trường Võ Bi Quốc gia Việt Nam - Khóa 20,  cựu đại úy VNCH Quách Tinh Cần (2010). (T) SV thân cộng, doanh nhân Quách Tinh Văn (2014). Nguồn: DCVOnline tổng hợp
    (T) Cựu Thủ khoa Trường Võ Bi Quốc gia Việt Nam – Khóa 20, cựu đại úy VNCH Quách Tinh Cần (2010). (P) SV thân cộng, doanh nhân Quách Tinh Văn (2014). Nguồn: DCVOnline tổng hợp
    • Đỗ Đức Viên.
    • Phùng Kim Vy, vợ Nguyễn Văn Nhã, sang Canada năm 1975, là giám đốc Saigon Tours, Montréal, Giám đốc Khu du lịch Thiên Phú – Seahorse Resort Phan Thiết, Phó chủ nhiệm Câu lạc bộ Doanh nhân Việt kiều, hiện là Chủ tịch HĐQT The Cliff Resort & Residences (Khu nghỉ dưỡng Dốc Đá) ở Phan Thiết (Bình Thuận), v.v.
    Trong số những người trên, có nhiều cấp độ tham gia: tham gia ít hay nhiều, tích cực hay không tích cực, tham gia như một cảm tình viên hay vì tò mò.
    Có nhiều người tham gia nhưng vẫn giữ được tinh thần tự trọng, có nhân cách.
    Có người tham gia chỉ vì tiền, vì quyền lợi. Có những người bị lợi dụng. Có những người là nạn nhân. Có những người bị thất sủng, bị khai trừ. Có những người nay chỉ có tên mà thực sự họ đã tránh xa, không dính dáng với chuyện làm ăn của hội. Có những người chỉ có tiếng mà không có miếng.
    Nói chung có một sự phức tạp ràng buộc trong cách thức tham gia vào Hội. Điều thứ hai, khi hội có liên hệ chặt chẽ với tòa đại sứ cộng sản ở Ottawa thì chỉ những thành viên nào tỏ ra ‘biết điều’ mới được tin dùng.
    Như trường hợp bác sĩ Lê Hữu Phùng mà chức vụ chính thức là Chủ Tịch Ủy Ban Cố vấn! The President of UGVC’s Committee of counsellors. Ai cũng thừa hiểu rằng chức vụ đó chỉ có danh tước mà không có quyền hành gì trong nội bộ tổ chức. Và cũng chẳng chấm mút ăn được cái giải gì cả.
    Một trường hợp khác, Trần Tuấn Dũng. Đỗ Đức Viên, Nguyễn Xuân Lộc. Cả ba đều làm cho một hiệu sách nhỏ có tên Librairie Hồ Chí Minh, ở số 72, đường Prince Arthur, phía Đông, Montreal. Họ đã bị bắt lầm trong sự kiện Khủng hoảng tháng Mười tại Canada (October Crisis, 1971) vì đã có mặt ở một chỗ đáng lẽ họ không có mặt, nhà của một nhân vật trong danh sách cảnh sát cần bắt giữ. Họ không phải là mối quan tâm của chính phủ Canada và đã được phóng thích vài ngày sau đó.
    Có trường hơp đặc biệt như trường hợp vợ chồng Nguyễn Tấn Phục và Hoàng Thị Vĩnh Thủy; cả hai đã tình nguyện về Việt Nam năm 1977. Đến năm 1979, biết rõ bộ mặt thật của chế độ và quyết định trốn được sang Mã Lai và nhờ có hai con có quốc tịch Canada nên được bốc đi ngay sang Canada.
    Từ đó, họ chọn thái độ quy ẩn. Thái độ này, tôi cho là đáng trách. Đáng lẽ họ nên cho đồng bào ở đây biết rõ nguyên do nào họ phải liều chết trốn ra khỏi Việt Nam.
    Họ còn sợ cái gì? Không lẽ bóng ma cộng sản vẫn chập chờn trong giấc ngủ của hai vợ chồng sau 40 năm? Cộng đồng người Việt ở đây rộng tay đón họ như thể đón đứa con trở về như một niềm vui, như xóa sạch nợ nần, ân oán!
    Nợ nần ai làm người đó trả. Họ có làm gì đâu?
    Nhưng thực chất những người vừa nêu tên tuổi trên kia họ là ai mới được?
    Thưa đó là những thành phần có ăn học, được các chính phủ thời Đệ Nhất và Đệ Nhị cộng hòa cho học bổng đi học tại Pháp, tại Mỹ, tại Tân Tây Lan và tại Đức, Thụy Sĩ và nhất là tại Canada. Trong đó có 40 người đi với học bổng của chương trình Colombo vào năm 1964.
    (Còn phần Kết)
    © 2015 DCVOnline
    Nếu đăng lại, xin đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net”

    Bài và chú thích của tác giả. DCVOnline minh hoạ.
    (1) Michel Tauriac là nhà văn am hiểu đời sống và sinh hoạt của người Việt Nam. Ông là nhà văn có hơn 30 tác phẩm trong đó có cuốn La nuit du Tet ( Đêm Giao thừa). Nhân vật chính là Mạnh, sau này trở thành một bác sĩ, sinh sống và làm việc ở bên Pháp. Ông có đầy đủ tất cả, trừ người anh của ông bị cộng sản bắt cóc đi mất. Nỗi băn khoăn của Mạnh là giữ gìn bản sắc người Việt, duy trì cội nguồn. Nhưng bị xâu xé, dằng co giữa hai nền văn hóa và lo sợ sẽ đánh mất cội nguồn và không còn có uy quyền trên con cái nữa!!
    (2) Đại tá Châu Thái Hùng, Một cuộc đời đây thử thách, trang 194.
    (3) Bùi Xuân Quang, La troisième guerre d’Indochine, 1975-1999, Sécurité et géopolitique en Asie du Sud-est, Paris, Pharmattan, 2000, 821 trang.
    (4) Tổ chức có ít lắm 4, 5 danh xưng tùy theo mỗi thời kỳ như Hội Đoàn kết Việt kiều tại Canada, Hội Người Việt Nam Tại Canada, Liên Hiệp người Việt Nam tại Canada, v.v.
    (5) Lê Thiệp, Đỗ Lệnh Dũng, nxb Tiếng Quê Hương.
    (6) Y Uyên, Tuyển truyện Thời chiến, trang 5.
    (7) Lê Văn Chính (Sương Biên Thùy, bút hiệu sau này là Lê Mai Lĩnh) Núi Tà Dôn và dấu chân Uy, Thư quán Bản thảo, Tưởng nhớ Y-Uyên, 1943-1969, năm thứ 3, tập 18, tháng 2, 2005, trang 77-78
    (8) Văn miền Nam, truyện ngắn, tập III, trang 1581. Truyện ngắn Bão Khô. Y Uyên, tên thật Nguyễn Văn Uy, sinh năm 1940 nhưng trên giấy tờ ghi 6-8-1943, tại làng Dục Nội, quận Đông Anh, tỉnh Phúc Yên, Bắc Việt. Trước 1975, ông có cho xuất bản nhiều tuyển tập truyện ngắn như: Tượng đá sườn non, 1966, Bão Khô, 1966. Quê Nhà, 1967 Ngựa tía (truyện dài), 1967 Chiếc xương lá mục, 1968. Đuốc sậy, 1969. Có loài chim lạ. Trần Phong Giao đã cho xuất bản tập Có loài chim lạ, Tân Văn, năm 1971 nhân ngày giỗ của anh. Nhà văn Y Uyên dạy học tại Tuy Hòa (1964-68). Nhập ngũ khóa 27 Thủ Đức. Tử trận ngày 8-1-1969 trong trận phục kích, bên dòng suối, dưới chân núi Tà Zon, gần đồn Nora, Phan Thiết.
    (9) Trần Giao Thủy, Khủng bố hay anh hùng? 

  5. GIẢI PHÓNG

    Chẳng biết người dân Việt Nam từ nay còn dùng cụm từ “trước ngày giải phóng” hay “sau ngày giải phóng” để định mốc thời gian nữa không… Riêng tôi, tôi cảm thấy quá căm thù nhân loại bởi đã bịa ra từ ngữ “giải phóng” và “giải phóng mặt bằng” mà chi để dân Việt chúng tôi vì nó mà phải khổ lụy đến dường này…
    Ngày nay hầu như nhân loại trên khắp hoàn cầu đều lấy năm Chúa Ki Tô giáng sinh làm mốc định thời gian, chúng ta đang ở vào năm 2010, tức là 2010 năm kể từ ngày Chúa giáng thế. Nhiều sự kiện khoa học hay lịch sử cũng được xác định dựa trên mốc thời gian này cho dù những dữ kiện đó hoàn toàn không liên quan gì đến niềm tin tôn giáo hay tín ngưỡng. Chẳng hạn nhà toán học Pythagore sinh năm 580 và mất năm 500 trước Công Nguyên, Tề Hoàn Công trị vì từ năm 685 đến năm 643 trước Công Nguyên…, Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng xảy ra năm 42 sau Công Nguyên… Các văn bản bằng  Tiếng Anh thì dùng BC (before Christ) hoặc AD (Anno domini) để chỉ những sự kiện xãy ra trước hoặc sau Thiên Chúa giáng thế. Riêng người Việt nam chúng ta từ trong Nam ngoài chí Bắc từ sau 30 tháng tư năm 1975 lại có một mốc định thời gian mới: “hồi trước giải phóng” hay “hồi sau giải phóng”, tất nhiên người Việt mình nghe mãi rồi quen tai và không thấy gì phản cảm khi dùng hoặc nghe cụm từ này… Nhưng khi tôi vô tình dùng nó lúc nói chuyện với một đồng nghiệp người nước ngoài rằng “…after the liberation of the south…” thì ông ta sửng sốt hỏi ngay rằng  “… liberation from what?…” – Giải phóng khỏi cái gì? Thì tôi mới hốt hoảng với cách dùng cụm từ này để định mốc thời gian của người Việt … bởi đối với hầu hết người Việt, nhất là người miền Nam hoặc đối với cả đồng bào miền bắc di cư vào Nam năm 1954 nữa, thì “giải phóng” là một nỗi ám ảnh trong cả đời người…
    Còn nhớ ngày 30 Tư năm 1975, lúc đó chúng tôi còn là sinh viên của đại học sư phạm Vinh đã hồ hởi, phấn khởi hò reo meeting nhiều đêm ngày để mừng miền Nam được hoàn toàn giải phóng, bởi chúng tôi tin rằng từ đây đồng bào Miền nam ruột thịt của chúng tôi sẽ không còn đói rách lầm than và không còn sống trong cảnh “ngụy kiềm, Mỹ hãm” nữa… Họ đã được đảng và Bác cùng nhân dân miền Bắc chúng tôi giải phóng.
    Và những tháng tiếp theo đó chúng tôi được tận mắt nhìn thấy hàng đàn hàng lũ bọn ngụy quyền ác ôn bị sự trừng phạt của chính quyền cách mạng, của nhân dân miền Bắc và của chính chúng tôi… Số là mỗi tuần một lần. chúng tôi được chính quyền và Ban Giám Hiệu nhà trường thông báo vào những ngày giờ có những ô tô của cục quân pháp chuyển tù cải tạo là những sỹ quan, ngụy quyền ác ôn của chính quyền Mỹ Thiệu đi ngang qua địa phương để đến các trại cải tạo ở mạn ngược. Cùng với đồng bào địa phương, mỗi sinh viên chúng tôi phải chuẩn bị đầy đủ cơ số đã trứng nhặt từ đường ray xe lửa để khi đoàn xe tù đi ngang qua là hô hào toàn dân trút những trận mưa đá lên đầu những tên ngụy quyền ác ôn này, bởi chúng có quá nhiều nợ máu với nhân dân, với đất nước… Và sau mỗi lần trừng trị bọn ngụy quyền ác ôn đó, chúng tôi đều có hội họp, báo công và được tuyên dương khen thửơng, được kết nạp vào đoàn, được vinh dự đứng vào hang ngũ của đảng vì đã đả thương được bao nhiêu sỹ quan ngụy quyền đó. Tất nhiên là cũng có nhiều buổi họp báo công, chúng tôi cũng bị phê bình kiểm điểm vì đã không có trường hợp thương vong nào được ghi nhận trong những vụ “tập kích” đó…
    Kết thúc 4 năm đại học với vô số những cuộc tập kích để ném đá vào những xe chuyển tù, rồi chúng tôi cũng tốt nghiệp đại học, rồi được đảng và nhà nước chi viện vào miền Nam để mang ánh sáng văn hóa vào cho đồng bào miền Nam ruột thịt bao năm qua sống trong u tối lầm than vì cứ liên miên bị ngụy kềm, Mỹ hãm chứ đâu có được học hành gì…
    Hai triệu đồng bào miền Bắc phải di cư vào Nam sau khi miền Bắc được “giải phóng”
    Chúng tôi thực sự choáng ngợp khi xe qua khỏi vùng chiến sự Quảng Trị, đến Huế, đến Đà Nẵng.. rồi Nha Trang, Sài gòn rồi về Miền Tây, đến thị trấn Cao Lãnh, đâu đâu cũng lầu đài phố xá chứ có tường đất mái tranh như ở thành phố Vinh chúng tôi đâu!
    Nhận xong nhiệm sở từ Ty giáo dục Đồng Tháp, chúng tôi được đưa về công tác tại trường Trung Học Sư Phạm Đồng Tháp ngay tại trung tâm của thị trấn Cao Lãnh, và tại đây, trong suốt nhiều năm liền chúng tôi được bố trí ở tại khách sạn Thiên Lợi mà chính quyền cách mạng đã tịch biên từ tên tư sản Thiên Lợi… Chúng tôi đi từ choáng ngợp này đến choáng  ngợp khác, bởi đây là lần đầu tiên chúng tôi biết được thế nào là “Khách Sạn”, biết được thế nào là Lavabo là hố xí tự hoại, bởi cả thành phố Vinh, cả tỉnh Nghệ An chúng tôi hay thậm chí cả miền Bắc XHCN lúc bấy giờ chỉ sử dụng hố xí lộ thiên, để còn dùng nguồn “phân Bắc” này để canh tác, để tăng gia sản xuất theo sáng kiến kinh nghiệm cấp nhà nước của đại tướng Nguyễn Chí Thanh mà được Bác Hồ khen thưởng và có thơ ca ngợi rằng:
    “Hoan hô anh Nguyễn Chí Thanh
    Anh về phân Bắc, phân xanh đầy nhà”…

    Thậm chí ở xã Hưng Lĩnh, Hưng Nguyên quê tôi lúc bấy giờ còn có cả những vụ án các tập đoàn viên, các hợp tác xã viên can tội trộm cắp phân bắc từ các hố xí của láng giềng để nộp cho hợp tác xã… Tôi thấm thía hơn với những câu thơ ca ngợi miền Bắc đi lên XHCN của Tố Hữu mà ngoài sinh viên học sinh chúng tôi ra thì hầu như cả nhân dân miền Bắc lúc bấy giờ ai cũng thuộc nằm lòng:
    “Dọn tí phân rơi nhặt từng ngọn lá
    Mỗi hòn than mẫu thóc cân ngô
    Hai tay ta gom góp dựng cơ đồ…”
    Hai triệu đồng bào miền Bắc phải di cư vào Nam sau khi miền Bắc được “giải phóng”.
    Tôi bắt đầu nghi ngờ với cụm từ “giải phóng miền nam” … Rồi những trận đổi tiền để đánh tư sản, rồi nhiều nhà cửa của đồng bào bị tịch biên, rồi hàng triệu đồng bào bắt đầu bỏ nước ra đi, nhiều giáo sinh của trường chúng tôi cũng vắng dần theo làn sóng đi tìm tự do đó… tôi bắt đầu hiểu đích thực ý nghĩa của cụm từ “giải phóng niền nam” và bắt đầu cảm thấy xấu hổ cho bao nhiêu năm sống trong niềm ảo vọng mù quáng của bản thân… mà dù ở chừng mực nào cũng được xem là thành phần trí thức trong xã hội…
    Dần dần tôi hiểu sâu hơn cái sự mĩa mai chua chát của hai từ “GIẢI PHÓNG” đang được dùng trong kho tàng Tiếng Việt của nước nhà… “Giải phóng miền nam” thực sự có mang lại niềm vui, niềm hạnh phúc vô biên và cả sự thịnh vượng nữa với gia sản có thể đột ngột tăng lên cả 16 tấn vàng ròng… những tất nhiên chỉ cho một thiểu số trong xã hội, chỉ chừng 16 người trong tổng số non 50 triệu dân lúc bấy giờ thôi… Còn lại thì “giải phóng” đồng nghĩa với cảnh côi cút vì  “sinh bắc tử nam” mất con, mất chồng, mất cha, mất anh mất em  bởi họ đã vào chiến trường và không  bao giờ trở về nữa… Giải phóng cũng có nghĩa là tù đày, là cải tạo nơi rừng thiêng nước độc, là mất vợ.. mất con, mất nhà cửa ruộng vườn, mất bao nhiêu người thân trên biển cả và mất hết tự do dân chủ nhân quyền và mất luôn cả tổ quốc! Rồi “giải phóng mặt bằng” cũng chỉ mang nguồn lợi lớn lao cho một nhóm quan phương, nhưng lại là nỗi ám ảnh nỗi hãi hùng của muôn dân, bởi sau ” giải phóng mặt bằng ” là hàng trăm đồng bào lại phải vô tù ra khám bởi tội “chống người thi hành công vụ”, bởi sau giải phóng mặt bằng là cái chết của thiếu niên Lê Xuân Dũng, là thương tật của nông dân Lê Thị Thanh và Lê Hữu Nam…
    Chẳng biết người dân Việt Nam từ nay còn dùng cụm từ “trước ngày giải phóng” hay “ sau ngày giải phóng” để định mốc thời gian nữa không… Riêng tôi, tôi cảm thấy quá căm thù nhân loại bởi đã bịa ra từ ngữ “giải phóng” và “giải phóng mặt bằng” mà chi để dân Việt chúng tôi vì nó mà phải khổ lụy đến dường này.
    (Tiến Sĩ Lê Hiển Dương (Nguyên hiệu trưởng : Đại Học Đồng Tháp) 


  6. Đồng Tháp ngày 29 tháng 5 năm 2010




ĐỂ KHÔNG BỊ ĐỒNG BÀO,NHÂN DÂN KHINH MIỆT– NẾU CHƯA, MỖI NGƯỜI CSVN NÊN ĐỌC MỘT LẨN, TRƯỚC KHI MỞ MIỆNG NÓI TỪ “GIẢI PHÓNG” .
“GIẢI PHÓNG”
NỔI KINH HOÀNG CỦA NGƯỜI DÂN VIỆT .
(Tiến Sĩ Lê Hiển Dương (Nguyên hiệu trưởng : Đại Học Đồng Tháp) .
                                    


Kính gửi: Thầy Lê Hiển Dương .
…Ngẫu nhiên, “Hiển Dương” : Như mặt trời hiển hiện bất biến – mà “sự thật như vầng thái dương” không một áng mây nào mãi che khuất được, “rất thật” chân phương đầy Nhân Cách trong chính bài viết của Thầy, như ánh sáng “mặt trời”soi rọi vào góc khuất, bóng tối, mà “người ta”quên đi Liêm Sĩ, cố tình che đậy lừa dối cả dân tộc …  

 “GIẢI PHÓNG” NỔI KINH HOÀNG CỦA NGƯỜI DÂN VIỆT .

Ngày nay hầu như nhân loại trên khắp hoàn cầu đều lấy năm Chúa Kitô giáng sinh làm mốc định thời gian, chúng ta đang ở vào năm 2010, tức là 2010 năm kể từ ngày Chúa giáng thế. Nhiều sự kiện khoa học hay lịch sử cũng được xác định dựa trên mốc thời gian này cho dù những dữ kiện đó hoàn toàn không liên quan gì đến niềm tin tôn giáo hay tín ngưỡng.

Chẵng hạn nhà toán học Pythagore sinh năm 580 và mất năm 500 trước Công Nguyên, Tề Hoàn Công trị vì từ năm 685 đến năm 643 trước Công Nguyên… Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng xảy ra năm 42 sau Công Nguyên… Các văn bản bằng tiếng Anh thì dùng BC (before Christ) hoặc AD (Anno domini) để chỉ những sự kiện xảy ra trước hoặc sau Thiên Chúa giáng thế.
Riêng người Việt nam chúng ta từ trong Nam ngoài chí Bắc từ sau 30 tháng 4 năm 1975 lại có một mốc định thời gian mới: “hồi trước giải phóng” hay “hồi sau giải phóng”, tất nhiên người Việt mình nghe mãi rồi quen tai và không thấy gì “phản cảm” khi dùng hoặc nghe cụm từ này…

Nhưng khi tôi vô tình dùng nó lúc nói chuyện với một đồng nghiệp người nước ngoài rằng “…after the liberation of the south…” thì ông ta sững sốt hỏi ngay rằng “… liberation from what?…” – (Giải phóng khỏi cái gì ? ) Thì tôi mới hốt hoảng với cách dùng cụm từ này để định mốc thời gian của người Việt… bởi đối với hầu hết người Việt, nhất là người miền Nam hoặc đối với cả đồng bào miền Bắc di cư vào Nam năm 1954 nữa, thì “giải phóng” là một nỗi ám ảnh trong cả đời người…

Còn nhớ ngày 30 táng 4 năm 1975, lúc đó chúng tôi còn là sinh viên của đại học sư phạm Vinh đã hồ hởi, phấn khởi hò reo meeting nhiều đêm ngày để mừng Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, bởi chúng tôi tin rằng từ đây đồng bào Miền Nam ruột thịt của chúng tôi sẽ không còn đói rách lầm than và không còn sống trong cảnh “Ngụy kềm, Mỹ kẹp” nữa… Họ đã được đảng và Bác cùng nhân dân Miền Bắc chúng tôi “giải phóng”. Và những tháng tiếp theo đó chúng tôi được tận mắt nhìn thấy hàng đàn hàng lủ bọn “ngụy quyền ác ôn” !?  bị sự trừng phạt bởi chính quyền cách mạng, của nhân dân miền Bắc và của chính chúng tôi… Số là mỗi tuần một lần. chúng tôi được chính quyền và ban giám hiệu nhà trường thông báo vào những ngày giờ có những ô tô của cục quân pháp chuyển tù cải tạo là những sỹ quan, “ngụy quyền ác ôn” của chính quyền Mỹ Thiệu đi ngang qua địa phương để đến các trại cải tạo ở mạn ngược. Cùng với đồng bào địa phương, mỗi sinh viên chúng tôi phải chuẩn bị đầy đủ cơ số đá trứng nhặt từ đường ray xe lửa để khi đoàn xe tù đi ngang qua là hô hào toàn dân trút những trận mưa đá lên đầu những tên “ngụy quyền” ác ôn này, bởi chúng có quá nhiều nợ máu với nhân dân, với đất nước… Và sau mỗi lần trừng trị bọn ngụy quyền ác ôn đó, chúng tôi đều có hội họp, báo công và được tuyên dương khen thửơng, được kết nạp vào đoàn, được vinh dự đứng vào hang ngũ của đảng vì đã “đả thương” được bao nhiêu sỹ quan ngụy quyền đó.!?  Tất nhiên là cũng có nhiều buổi họp báo công, chúng tôi cũng bị phê bình kiểm điểm vì đã không có trường hợp thương vong nào được ghi nhận trong những vụ “tập kích” đó…??
Kết thúc 4 năm đại học với vô số những cuộc tập kích để ném đá vào những xe chuyển tù, rồi chúng tôi cũng tốt nghiệp đại học, rồi được đảng và nhà nước chi viện vào miền Nam để mang “ánh sáng văn hóa” vào cho đồng bào miền Nam ruột thịt bao năm qua sống trong u tối lầm than vì cứ liên miên bị Ngụy kềm Mỹ kẹp chứ đâu có học hành gì !? .

Chúng tôi thực sự choáng ngợp khi xe qua khỏi vùng chiến sự Quảng Trị, đến Huế, đến Đà Nẵng.. rồi Nha Trang, Sài Gòn rồi về Miền Tây, đến thị trấn Cao Lãnh, đâu đâu cũng lầu đài phố xá chứ có tường đất mái tranh như ở thành phố Vinh chúng tôi đâu .
Nhận xong nhiệm sở từ ty giáo dục Đồng Tháp, chúng tôi được đưa về công tác tại trường trung học sư phạm Đồng Tháp ngay tại trung tâm của thị trấn Cao Lãnh, và tại đây, trong suốt nhiều năm liền chúng tôi được bố trí ở tại khách sạn Thiên Lợi mà chính quyền cách mạng đã tịch biên từ tên “tư sản” Thiên Lợi… Chúng tôi đi từ choáng ngợp này đến choáng ngợp khác, bởi đây là lần đầu tiên chúng tôi biết được thế nào là “Khách Sạn”, biết được thế nào là lavabo là toilet tự xả nước , bởi cả thành phố Vinh, cả tỉnh Nghệ An chúng tôi hay thậm chí cả miền Bắc XHCN lúc bấy giờ là không có, chỉ sử dụng hố xí lộ thiên, để còn dùng nguồn “phân Bắc” này để canh tác, để tăng gia sản xuất theo sáng kiến kinh nghiệm “cấp nhà nước” của đại tướng Nguyễn Chí Thanh mà được bác Hồ khen thưởng và có thơ ca ngợi rằng:
                                “Hoan hô anh Nguyễn Chí Thanh
                              Anh về phân Bắc, phân xanh đầy nhà”…
Thậm chí ở xã Hưng Lĩnh, Hưng Nguyên quê tôi lúc bấy giờ còn có cả những vụ án các tập đoàn viên, các hợp tác xã viên “can tội trộm cắp” phân bắc từ các hố xí của láng giềng để nộp cho hợp tác xã…!? . Tôi thấm thía hơn với những câu thơ ca ngợi miền Bắc đi lên XHCN của Tố Hữu mà ngoài sinh viên học sinh chúng tôi ra thì hầu như cả nhân dân miền Bắc lúc bấy giờ ai cũng thuộc nằm lòng :
                                  Dọn tí phân rơi nhặt từng ngọn lá
                                  Mỗi hòn than mẩu thóc cân ngô
                                  Hai tay ta gom góp dựng cơ đồ…”
Tôi bắt đầu nghi ngờ với cụm từ “giải phóng miền nam” … Rồi những trận đổi tiền để đánh tư sản, rồi nhiều nhà cửa của đồng bào bị tịch biên, rồi hàng triệu đồng bào bắt đầu bỏ nước ra đi, nhiều giáo sinh của trường chúng tôi cũng vắng dần theo làn sóng đi tìm tự do đó… tôi bắt đầu hiểu đích thực ý nghĩa của cụm từ “giải phóng niền nam” và bắt đầu cảm thấy xấu hổ cho bao nhiêu năm sống trong niềm ảo vọng mù quáng của bản thân… mà dù ở chừng mực nào cũng được xem là thành phần trí thức trong xã hội…
Dần dần tôi hiểu sâu hơn cái sự mỉa mai chua chát của hai từ “GIẢI PHÓNG” đang được dùng trong kho tàng Tiếng Việt của nước nhà… “Giải phóng miền nam” thực sự có mang lại niềm vui, niềm hạnh phúc vô biên và cả sự thịnh vượng nữa với gia sản có thể đột ngột tăng lên cả 16 tấn vàng ròng…( từ ngân hàng chế độ Saìgòn Miền Nam để lại)  Nhưng tất nhiên chỉ cho một thiểu số trong xã hội XHCN miề Bắc, chỉ chừng 16 người trong tổng số non 50 triệu dân lúc bấy giờ thôi… Còn lại thì “giải phóng” đồng nghĩa với nhân dân miền Bắc là cảnh nhà nhà côi cút vì “sinh Bắc tử Nam” mất con, mất chồng, mất cha, mất anh mất em bởi họ đã vào chiến trường miền Nam để đi “giải phóng” và không bao giờ trở về nữa… “Giải phóng” với dân miền Nam cũng có nghĩa là tù đày, là cải tạo nơi rừng thiêng nước độc, là mất vợ.. mất con, mất nhà cửa ruộng vườn, mất bao nhiêu người thân trên biển cả và mất hết tự do dân chủ nhân quyền và mất luôn cả tổ quốc nơi mình sinh ra !
Rồi đến “giải phóng mặt bằng” cũng chỉ mang nguồn lợi lớn lao cho “muôn quan” địa phương, nhưng lại là nỗi ám ảnh nỗi hãi hùng của “muôn dân”, bởi sau “giải phóng mặt bằng” là hàng trăm đồng bào lại phải vô tù ra khám bởi tội “chống người thi hành công vụ”, bởi sau giải phóng mặt bằng là cái chết của thiếu niên Lê Xuân Dũng và Lê Hữu Nam, là thương tật của nông dân Lê thị Thanh .
Chẳng biết người dân Việt nam từ nay còn dùng cụm từ “trước ngày giải phóng” hay “ sau ngày giải phóng” để định mốc thời gian nữa không… Riêng tôi, tôi cảm thấy quá căm thù nhân loại bởi đã bịa ra từ ngữ “giải phóng” và “giải phóng mặt bằng” mà chi để dân Việt chúng tôi vì nó mà phải khổ lụy đến dường này .

Đồng Tháp ngày 29 tháng 5 năm 2010
Tiến Sỹ Lê Hiển Dương
Nguyên - Hiệu Trưởng-Đại Học Đồng Tháp.

Tôi từng là một đồng nghiệp của Tiến Sỹ Lê Hiển Dương, tôi rất hiểu Tiến Sỹ Dương là người rất nhân cách, được sinhh ra và lớn lên từ chiếc nôi của truyền thống cách mạng XÔ VIẾT NGHỆ TĨNH, nên Tiến Sỹ Dương rất có đầu óc cách mạng, những lúc tra dư tửu hậu, anh Dương vẫn thường xuyên chia sẻ với chúng tôi rằng thế gian này không có cái gì là vĩnh hằng cả, phải thay cũ đổi mới thường xuyên mới hướng đến cái chân thiện mỹ được… Chỉ đáng buồn là người cộng sản ta chỉ vì quyền lợi của một số cá nhân mà làm hại cho cả dân tộc, làm thoái hóa cả giống nòi…. Nếu đảng ta cứ tiếp tục lãnh đạo đất nước thế này thì chẵng bao lâu nữa cả 86 triệu dân Việt mình trở thành vượn khỉ đười ươi hết…. Tôi hết sức tâm đắc với câu nói này của Tiến sỹ Dương và rất trân trọng những trăn trở những suy tư của tầng lớp trí thức cộng sản hiện nay. (Vừa qua trên trang web của trường Đại Học Đồng Tháp có ra thông báo rằng những bài viết ký tên Tiến Sỹ Lê Hiển Dương là có nội dung xấu, là phản động, là mạo danh, thực ra đây cũng là cái trò chữa cháy, bao biện một cách cố hữu, đê tiên và hèn hạ của đảng và nhà nước ta đó thôi!) Sinh ra tiến sỹ Lê Hiển Dương là bố mẹ của ông ấy, còn hiểu tiến sỹ Lê Hiển Dương là chúng tôi, những đồng nghiệp của ông ấy thôi !
Hoàng Hà (Bọ Hà) .

Cựu Giảng Viên Tâm Lý Giáo Dục Học – Đại Học Đồng Tháp

PHẢN HỒI
BÀI VIẾT CỦA TS LÊ HIỂN DƯƠNG VỀ “GIẢI PHÓNG MIỀN NAM”

Kính chào ông Lê Hiển Dương –
tiến sĩ, cựu hiệu trưởng Đại Học Đồng Tháp,

Thưa Ông, bài báo ngày đầu năm 2012 vô tình tôi được đọc là bài “GIẢI PHÓNG” Nỗi kinh hoàng của người dân Nam Việt, bài viết này là của Ông. Bài được đăng trên Hải ngoại phiếm đàm o­nline ngày 05/01/2012, cuối bài viết có ghi trọn vẹn tên tác giả cùng học vị và chức vụ. Học vị cùng chức vụ và nhất là qua bài viết của ông, cho tôi biết ông đã một thời là cán bộ giáo dục của nhà nước cộng sản hiện thời Việt Xã Nghĩa, còn tôi cũng xin vài dòng được nói về mình. Tôi một người tù mà các người cộng sản chiến thắng, gọi xách mé là sĩ quan Ngụy của 36 năm trước, trên bước đường tù biệt xứ đã hai lần, tôi đươc hân hạnh đi ngang qua thành phố Vinh của ông. Khi chúng tôi đọc xong bài của ông viết, tôi biết ông là người như thế nào, những gì ông suy nghĩ khiến chúng tôi mến ông, và thấy cần phải viết vài dòng xin được thưa chuyện cùng ông, những dòng chữ đậm là tôi xin phép ông được ghi lại những gì ông đã viết.

114_HaiPhong1954Không giấu gì ông, ban đầu sau khi đọc xong bài ông viết, tôi định cho nó qua, nhưng câu kết của ông như níu tôi lại, khiến tôi thấy nên nói chuyên với ông thì quí hơn, vì mấy khi ta gặp được người như ông. Ông Dương ạ câu kết ông viết Chẳng biết người dân Việt nam từ nay còn dùng cụm từ “trước ngày giải phóng” hay “ sau ngày giải phóng” để định mốc thời gian nữa không… Riêng tôi, tôi cảm thấy quá căm thù nhân loại bởi đã bịa ra từ ngữ “giải phóng” mà chi để dân Việt chúng tôi vì nó mà phải khổ lụy đến dường này. Câu này làm tôi thấy chúng ta tuy là kẻ Nam người Bắc, nhưng vô tình lại chung phận là nạn nhân, nạn nhân của kẻ bợm, chúng sống bằng sự lừa lọc dối trá, sự trí trá đó khiến biết bao người “sinh bắc tử nam” mất con, mất chồng, mất cha, mất anh mất em bởi họ đã vào chiến trường và không bao giờ trở về nữa”.

TGCT2Đó là phần không may cho dân miền Bắc, còn miền Nam như ông thấy đó và ông đã viết “là tù đày, là cải tạo nơi rừng thiêng nước độc, là mất vợ mất con, mất nhà cửa ruộng vườn, mất bao nhiêu người thân trên biển cả và mất hết tự do dân chủ nhân quyền và mất luôn cả tổ quốc!”.Để rồi những kẻ bợm CS đó chúng đoạt lấy tất cả, những gi của người dân hai miền Nam-Bắc nước ta, từ cơ bản quyền làm người đến của cải vật chất, chúng dìm đời sống người dân cả nước xuống tận bùn đen, còn sự tồn vong của đất nước thì đang trong tình trạng treo chỉ mành. Trong những cái chúng cướp đoạt của đất nước, có cả 16 tấn vàng là số vàng thuộc tài sản quốc gia, mà chính phủ VNCH để lại, chúng đã chia chác nhau số vàng này, và cái tận cùng bỉ ổi là chúng lại tuyên truyền là chính quyền miền nam đã lấy số vàng đó. Nhưng nay tất cả người dân VN đều biết như ông viết, kẻ lấy số vàng 16 tấn không ai khác hơn là 16 tên chóp bu bộ chính trị CSVN“Giải phóng miền nam” thực sự có mang lại niềm vui, niềm hạnh phúc vô biên và cả sự thịnh vượng nữa với gia sản có thể đột ngột tăng lên cả 16 tấn vàng ròng… nhưng tất nhiên chỉ cho một thiểu số trong xã hội, chỉ chừng 16 người trong tổng số non 50 triệu dân lúc bấy giờ thôi…”, Cám ơn ông thật nhiều Ông Lê Hiểu Dương ạ, sự thực cuối cùng vẫn là sự thực.

Sau ngày 30 tháng 04 năm 75, trước khi chúng tôi bị đưa ra miền bắc để lưu đày, các “ông cộng sản” đã nói với chúng tôi về thiên đường cộng sản xã hội chủ nghĩa miền bắc như sau: Miền Bắc XHCN không có người nghèo kẻ giàu, không có nhà cao tầng, và cũng không có nhà lá, tất cả đều nhà gạch giống như nhau, ý nói kiểu nhà cư xá hay chung cư,- Không có kẻ rách rưới, mà kẻ khác thì dư thừa tơ lụa, tất cả đều bận kaki Nam định thoải mái. Miền bắc XHCN vật chất thì nhiều vô kể, không thiếu một thứ gì, còn trong Nam toàn thể dân chúng, và ngay cả trong trại, tất cả mọi người phải sống trong khó khăn thiếu thốn, đó là do tàn dư của chế độ tư bản Mỹ Ngụy để lại, rồi đây miền Bắc sẽ chi viện cho miền Nam(?). Nghe nói vậy cũng có nhiều anh em tù tin, xã hội cộng sản mà, tất cả đều bình đẳng, cái ăn, cái mặc, cái ở đều như nhau, chủ thuyết của Mác Lê, chả mong muốn xây dựng một nhà nước, một xã hội theo mô hình như thế là gì (!).

uniform_leftNhưng cũng như ông nói, ông nhận ra sự thật khi vào nam,“Chúng tôi đi từ choáng ngợp này đến choáng ngợp khác, bởi đây là lần đầu tiên chúng tôi biết được thế nào là lavabo là hố xí tự hoại, bởi cả thành phố Vinh, cả tỉnh Nghệ An chúng tôi hay thậm chí cả miền Bắc XHCN lúc bấy giờ chỉ sử dụng hố xí lộ thiên, để còn dùng nguồn “phân Bắc” này để canh tác, để tăng gia sản xuất theo sáng kiến kinh nghiệm cấp nhà nước của đại tướng Nguyễn Chí Thanh”. Thì sự thật phũ phàng cũng đến với chúng tôi, khi chúng tôi vượt qua cầu Hiền Lương, trên bước đường lưu đày lên mạn ngược, lần đó qua cầu Hiền Lương là vào khoảng 10 giờ sáng, đây đất Đồng Hới nào thấy đâu nhà gạch, Quảng Bình quê ta nào thấy đâu giàu đẹp. Cả một vùng xác xơ đều khắp với những mái tranh vách đất tiêu điều, dọc đường thỉnh thoảng một vài ngôi nhà xây, đấy là những nhà gạch duy nhất mà chúng tôi thấy, nhìn kiểu dáng kiến trúc cho thấy chúng đã có từ thời Pháp. Cái nhiều mà chúng tôi thấy được trên chuyến đi là khẩu hiệu, suốt chuyến đi hai bên đường không biết cơ man nào là khẩu hiệu, đều là khẩu hiệu màu đỏ máu, chữ vàng, to có nhỏ có, dài có ngắn có, ca ngợi hết lời tình hữu nghị Việt Hoa, như răng với môi, như anh với em, tình đồng chí đời đời bền vững. Ngoài ra cũng không ít những cái suy tôn họ Hồ, họ Mao, Các Mác, Lê Nin, tất cả các chữ dao to búa lớn như vĩ đại, vô địch, quang vinh.v.v…đều được đem ra dùng tối đa.

Starved_Vietnamese_man,_1966Cũng ngay trong lần đầu diện kiến dung nhan thiên đường cộng sản đó. Xe vừa vào tới Đồng Hới, thì đậu tập trung chờ lịnh bên đường, tình cờ giờ tan trường, những trẻ học trò tò mò đứng nhìn đoàn xe bít bùng. Học sinh là mầm non đất nước, tương lai của cả một dân tộc, mà dường như những đứa trẻ này, thiếu ăn như lủ tù chúng tôi hay sao?, mà nhìn chúng gầy và xanh quá, quần áo chúng luộm thuộm rách rưới. Vậy mà chúng lại đang sống trong cái thiên đường XHCN, do đảng cộng sản quang vinh tể trị… cái khăn quàng màu máu trên cổ chúng, nói thêm một điều nữa, Chúng là cháu ngoan họ Hồ. Chúng đang học tập và theo gương Bác vĩ đại của chúng, nhưng không hiểu lý do gì mà nhìn chúng thảm quá, như phường ốm đói. Đấy ông Dương thấy không, tôi có khác mấy chi ông khi ông đặt chân vào miền Nam như ông nói, “Chúng tôi thực sự choáng ngợp khi xe qua khỏi vùng chiến sự Quảng Trị, đến Huế, đến Đà Nẵng.. rồi Nha Trang, Sài Gòn rồi về Miền Tây, đến thị trấn Cao Lãnh, đâu đâu cũng lầu đài phố xá chứ có tường đất mái tranh như ở thành phố Vinh chúng tôi đâu!”.

Ông Lê Hiển Dương mến, quê ông là Vinh, quê ngoại tôi cũng là Vinh, nhưng tôi không sống ở đó, tôi chỉ được cái hân hạnh đi ngang qua thành phố Vinh hai lần, năm 1975 trong lúc chuyển tù từ nam ra bắc. Và năm 1981 sau khi TQ đánh vùng phía bắc sáu tỉnh biên giới, chúng tôi đựơc di dần vào trong, chuyến xuôi nam bất đắc dĩ, mà nhà nước cộng sản không muốn tí nào, tôi biết chắc như thế. Họ muốn chúng tôi phải vùi thân nơi núi rừng tây bắc họ mới vui, lý do gì thì ông thừa biết phải không ông Dương, những gì ông nói ra cho thấy ông rất thành thật, vì những gì ông làm cho chúng tôi tại Vinh. Thì tại các nơi khác người dân nơi ấy cũng làm theo một cách như ông, vì đó là chính sách chung của Đảng, ông ném đá thì họ cũng ném đá, thậm chí có người xấn xổ nhổ nước bọt vào chúng tôi. Thoạt đầu thì chúng tôi khó chịu vì sự lỗ mãng của họ, nhưng khi thấy những nụ cười đểu của bọn cán binh áp tải, thì chúng tôi nhận ra ngay đấy là những gì người dân bị “make up”, hoàn cảnh chúng tôi lúc đó, không khác gì cảnh trong những thước phim tài liệu “đấu tố” cải cách ruộng đất năm nào.

TGCTÔng nói “những tháng tiếp theo đó, chúng tôi được tận mắt nhìn thấy hàng đàn hàng lũ bọn ngụy quyền ác ôn, bị sự trừng phạt của chính quyền cách mạng, của nhân dân miền Bắc và của chính chúng tôi… Số là mỗi tuần một lần, chúng tôi được chính quyền và ban giám hiệu nhà trường thông báo, vào những ngày giờ có những ô tô của cục quân pháp, chuyển tù cải tạo là những sỹ quan, ngụy quyền ác ôn của chính quyền Mỹ Thiệu đi ngang qua địa phương, để đến các trại cải tạo ở mạn ngược. Cùng với đồng bào địa phương, mỗi sinh viên chúng tôi phải chuẩn bị đầy đủ cơ số đá trứng nhặt từ đường ray xe lửa, để khi đoàn xe tù đi ngang qua, là hô hào toàn dân trút những trận mưa đá lên đầu những tên ngụy quyền ác ôn này, bởi chúng có quá nhiều nợ máu với nhân dân, với đất nước…Và sau mỗi lần trừng trị bọn ngụy quyền ác ôn đó, chúng tôi đều có hội họp, báo công và được tuyên dương khen thửơng, được kết nạp vào đoàn, được vinh dự đứng vào hang ngũ của đảng, vì đã đả thương được bao nhiêu sỹ quan ngụy quyền đó. Tất nhiên là cũng có nhiều buổi họp báo công, chúng tôi cũng bị phê bình kiểm điểm vì đã không có trường hợp thương vong nào được ghi nhận trong những vụ “tập kích” đó…”

TGCT1Nay đã hơn ba mươi sáu năm, sau ngày oan nghiệt của vận nước, muốn hay không muốn chúng ta cũng phải thấy, Nam hay Bắc đều là nạn nhân của bọn cộng sản vong nô, chúng tôi không trách ông đâu Ông Dương ạ. Thứ nhất vì cái thành thật của ông làm chúng tôi mến, thứ đến là đã có người xin lỗi chúng tôi thay cho ông rồi, những người làm việc tạ lỗi với chúng tôi là những người nghèo bán hàng rong tại nhà ga thành phố Vinh của ông. Chúng tôi cảm được cái ray rứt trong lòng ông qua câu ông viết “Kết thúc 4 năm đại học với vô số những cuộc tập kích để ném đá vào những xe chuyển tù, rồi chúng tôi cũng tốt nghiệp đại học…”.Nên chúng tôi xin mạn phép gởi đến ông một đoạn ký sau đây để ông đọc, mà thấy được rằng cái thật luôn tỏa sáng và làm rung động lòng người, cũng tựa như cái thật của ông đã làm cho chúng tôi mến.

XUÔI NAM….

…Ðoàn tàu vẫn tiếp tục lăn bánh, hướng về nam với rộn rã của tiếng bánh xe gõ nhịp trên đường ray, tấm bảng cắm bên đường cho thấy ga kế tiếp là nhà ga Vinh. Thành phố Vinh là quê ngoại của Mẹ tôi, thuở còn nhỏ Mẹ theo Ngoại nhiều lần về Vinh. Nhận xét về quê của mẹ sau bao nhiêu năm nhìn lại, trong lần ra bắc thăm nuôi tôi, Mẹ bùi ngùi nói không có gì thay đổi, tất cả vẫn như xưa, có chăng là mọi vật cũ đi theo thời gian mà thôi. Còn tôi tuy biết Vinh là quê ngoại, nhưng trong tôi, sau năm 75 trong chuyến lưu đày ra xứ bắc, tôi cũng đã qua đây vào một đêm, nhưng tình cảm lần đầu tiên đó, không phải thứ tình cảm bồi hồi nao nao, khi đi qua chốn mà mình biết đó là quê mẹ.

Ðêm đó qua đây lúc trời đã tối, nhà ga tỉnh lẻ, tôi nhìn qua vách xe, trong ánh sáng vàng đèn trứng vịt mù mờ, vài người bán hàng rong hỏi vọng vào trong xe, mời chúng tôi mua bánh. Vài anh tù vô tình trả lời họ, và thế là sau khi họ biết chúng tôi là tù miền nam, thì những viên đá nhặt từ đường ray ném tới tấp vào thùng xe, kèm theo lời chửi thô tục, nghe đâu có vài anh tù ở xe phía trước vì tò mò, thò đầu ra khỏi tấm bạt để nhìn cho rỏ, đã nhận ngay viên đá củ đậu vào đầu, máu ra ướt áo. Cán bộ sau đó qua sự việc này để mà lên lớp chúng tôi, anh ta nói do thấu triệt chính sách khoan hồng nhân đạo, mà đảng đã giáo dục, nên nhân dân chỉ ném đá mà thôi, nếu không có đảng dạy, thì nhân dân đã cắt cổ chúng tôi rồi(?).

Cổng TrờiÐoàn xe từ từ vào ga, kinh nghiệm của lần ra, nay lần về phải cẩn trọng, chúng tôi không muốn ăn đá củ đậu. Chúng tôi giữ im lặng, không trả lời bất cứ tiếng mời mua hàng, hay tiếng gõ vào thành tàu của người mua đồ cũ… Bánh mật… mía… chuối… ai mua không?… Quần áo cũ… đồ cũ… ai bán không?… khung cảnh nhà ga ồn hẳn lên, với lời rao của kẻ mua người bán, và đặc biệt là trong toa càng lặng tiếng, thì người mua kẻ bán đứng dưới đường ray càng gào to.

Bổng quản chế áp tải tù, chúng được lịnh cho phép nghỉ giải lao, chúng í ới gọi nhau vào nhà ga để chè lá, thấy thế các người mua bán rong, vội ùa đến gần con tầu hơn, áp sát miệng vào khe hở thành toa mà rao to. Một anh mua đồ cũ, vô tình rao đúng chỗ của anh Khanh “mù” ngồi, anh Khanh xuất thân võ bị Ðàlạt và cận nặng, nên anh em thêm chữ mù sau tên anh mà gọi cho vui. Máu tếu nổi lên anh Khanh hỏi: -Có bộ đồ tù rách mua không?… Một bất ngờ và ngỡ ngàng đến với chúng tôi, thay vì là câu chửi thề, hay chuyện gì đó như ném đá, để đáp lại câu nói của anh Khanh như chúng tôi nghĩ, thì lại là tiếng reo vui thật to: -Tầu chở tù về Nam bà con ơi… sau đó qua các khe hở của vách tầu… chuối, mía được nhét vào cho chúng tôi, thật tôi không tin những gì tôi thấy. Bấy giờ buổi sáng trời vừa nắng lên khoảng chín giờ sáng, đâu phải đêm đen đâu mà không thấy những gì đang diễn ra trước mắt mình. Từ khe hở ngay chỗ tôi, tôi cũng được một cái bánh mật, bánh còn ấm nóng, đây là bánh của người dân quê xứ Nghệ, làm từ bột trộn với đường mật, gói lá chuối xong đem hấp hay luộc, đường mật mà trong nam ta gọi là đường chảy hay đường thùng.

Ăn bánh mật hơi giống như ăn bánh ếch trong nam, không ngon bằng bánh ếch, vì nó không có nhân. Nhưng quí vị ạ, miếng bánh mà tôi đưa vào miệng , tôi ngậm nó mà nghe ngọt tận tâm can, tôi không muốn nuốt vì sợ mất, mất những gì đang đến với tôi trong suy nghĩ, trong cảm xúc. Tới đây chắc quí vị nghĩ là tôi càn rở ăn nói lung tung chăng, không đâu, cảm xúc đang trào dâng trong tôi, thật ngọt ngào và ấm áp lắm. Ngày nào cộng sản tuyên truyền, gọi chúng tôi là lính đánh thuê, chúng tôi là dã thú, ăn gan uống máu người. Ðưa chúng tôi ra Bắc, chúng thật an tâm, chúng tôi mà trốn trại ư?, tai mắt nhân dân, sẽ giúp chúng bắt chúng tôi lại dễ dàng, nhưng sau đó chúng biết chúng lầm, dưới ánh mặt trời làm sao chúng che đậy mãi cái gian manh của chúng.

Và hôm nay theo thời gian, đã xóa sạch những gì cộng sản bôi bẩn chúng tôi. Từ ngay trong lòng người dân, người dân của phần đất Xô Viết Nghệ Tỉnh, mà cộng sản cai trị giáo dục họ từ những năm đầu họ Hồ du nhập chủ thuyết cộng sản vào Việt nam. Nay chúng tôi đã có chỗ, chổ chúng tôi là trong lòng những người dân nghèo bán rong, người mua đồ cũ, họ chia sẻ cho chúng tôi những gì họ có, trong nhà ga này, nhà ga Vinh, quê ngoại tôi, mà hơn năm năm về trước, họ ném vào chúng tôi bằng những viên đá xanh, to bằng nắm tay, mà họ nhặt từ đường ray. Những gì cộng sản tuyên truyền, nhồi sọ người dân quê Ngoại tôi, hay nói chung là cả miền Bắc, nay đã bị cái thật đánh gục.

Chuyến xuôi nam này, quả đúng với câu niềm vui nối tiếp niềm vui, hôm nay người dân ga Vinh họ chuyền qua khe hở vách toa tàu, những lóng mía, những quả chuối lẻ, cùng bánh mật, những thứ này là vốn liếng của kẻ nghèo, mua bán hàng rong trong sân ga. Bằng chính rổ cơm của gia đình, họ đãi chúng tôi, những người tù miền nam, mà chính quyền cộng sản gọi là Ngụy. Nguyên do đâu sự việc này xảy đến?. Lý do gì mà tình cảm, của những người nghèo cùng khổ này, dành cho chúng tôi?. Chúng tôi chưa từng gặp họ, họ ở lại Bắc, chúng tôi xuôi Nam, bao giờ biết găp lại?, rổ hàng của họ ít ỏi lắm, mỗi người chỉ dăm quả chuối, dăm lọn mía, ít bánh mật. Cái gì đã thôi thúc, khiến họ cho đi?, phải là một cái gì đó mãnh liệt lắm. Gần sáu năm trong nhà tù cộng sản tại miền bắc, trong khoảng thời gian này tôi đã nhìn thấy quá nhiều biến đổi từ mọi phía, mọi lãnh vực, từ người dân đến cán binh, cán bộ cộng sản. Những sắt máu giáo điều không còn giá trị đối với mọi người, những son những phấn tô lục chuốc hồng, cho chế độ XHCN đã lả chả rơi, lộ nguyên trạng những gì bọn chúng cố dấu. Một câu nói trong Kinh Thánh: “Những gì của César hãy trả lại cho César” thật đúng cho cả hai bên, cho chúng tôi và cho cả cộng sản.

Bọn cán bộ áp tải đã trở lại, con tàu kéo còi từ từ chuyển bánh, qua khe hở tôi dõi nhìn, những người mua bán hàng rong trong sân ga, cho đến mãi khi không còn nhìn thấy cả họ lẫn nhà ga. Trời vào trưa nắng thật đẹp, mây có che thì chỉ một lúc nào thôi, sau đó trời vẫn lại rực rỡ như xưa….

VIỆT NHÂN

(nguồn: http://nguoilinhvanconday.blogspot.ca/)

Trí thức thổ tả

Lời mở đầu:

Qua nhiều lần trao đổi ý kiến giữa tôi và hai đồng môn cùng học, trước năm 1975, tại trường “Cao Đẳng Canh Nông - Sài Gòn:” một người là thuyền nhân hiện định cư tại Hoa kỳ, một người là sinh viên Việt Nam du học cao học ở Nhật (trước năm 1975) và bây giờ định cư tại Úc; tôi mạn phép được thu hợp các ý kiến này lại rồi viết lại thành ra bài nhận định này. Nội dung bàn về một giới rất “ồn ào” mà chúng ta vẫn thường gọi là “Trí thức thiên tả.” Nhận định của đồng môn cư trú tại Hoa Kỳ:

Những người Việt Nam ở ngoại quốc có học vị cao rất nhiều, họ giỏi về chuyên môn, nhưng một số lớn còn rất kém cỏi về trình độ chính trị. Vì thế nên họ dễ bị cộng sản tuyên truyền rồi trở thành mù quáng, quá tin tưởng vào cái thiên đàng bánh vẽ của CHXH và cái lý thuyết trời ơi đất hỡi của đảng cộng sản. 

Ngày xưa (trước năm 1975) thì không nói làm gì, vì lúc đó lịch sử chưa sang trang, chưa rõ ràng; lại đi du học ngoại quốc với nổi dằn vặt quê hương đang có chiến tranh thì hình ảnh người lính bộ đội bắc Việt hay du kích của MTGPMN dễ làm cho người Việt trí thức ở ngoại quốc suy nghĩ thiên vị, không rõ đâu là chính nghĩa. Có lẽ đó là một phần nguyên nhân đã khiến họ trở thành thiên tả. Ngay tại Sài gòn vào thờì chiến tranh, sinh viên mà cứ mải, ham đọc những tạp chí như Đối diện, Thức tỉnh của Linh mục Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan… là muốn cuốn gói vô Hố Bò, Tam Giác Sắt, Chiến khu D… rồi; Đâu cần dùng tới bộ máy tuyên truyền bất kể hao tốn của Việt cộng. 


Nhưng mà… đảng cộng sản đã cai trị đất nước trên 32 năm rồi, hồ sơ sử liệu đã được bạch hóa, cùng với sự lên tiếng của những nhân chứng còn sống từng là nạn nhân của chế độ cộng sản bạo tàn đầy rẩy đây mà. 

Mình đâu có sống dai để đủ kiếp học hết bài học đắng cay này đến bài học cay đắng khác từ cộng sản. Hãy nhìn lại nổi đắng cay nghiệt ngã của kẻ đã đi vào quỹ đạo của CS. Họ là “trí thức” chứ không phải là bần nông khố rách ít học. Họ đã được cộng sản Hà nội trả công khuyển mã của họ cái gì? 


Thời xa xưa kia, Nguyễn Văn Trấn (đại gia chợ Đệm) [1], Dương Bạch Mai (đại địa chủ, “parler francais” như gió) Trần Văn Giàu (lý thuyết gia cộng sản, công lao qúa xá trời trong Nam). Những người nầy đã cúng dường tam bảo CS không biết bao nhiêu của cải, tim óc, sức lực của mình cho “cách mạng” trong thời Việt minh còn mặc quần xà lỏong chơi tầm vông vạt nhọn. Năm 1975, khi về Nam, ông “khai quốc công thần” Nguyễn Văn Trấn “được” bộ chính trị CS cho công an “hầu hạ” canh gác cửa 24/24 vì thấy thả hổ về rừng nguy hiểm qúa… 

Mấy chục năm công lao mà CS chỉ cho người ta chức “Bật mã ôn” (giữ ngựa) thì lỡ người ta quậy thì sao? Trần Văn Giàu thì đã bị thất sủng từ lâu lắm rồi. Chủ tịch quốc hội Dương Bạch Mai thì phổi bò và thẳng ruột ngựa Nam kỳ nên được đảng cho đi chầu Lenin sớm để vừa tiện sổ sách (đóng một cái mõm hay sủa bậy!) vừa tiết kiệm ngân quỹ nhà nước. Nên biết Dương Bach Mai chết trong lúc nghỉ giải lao trong một phiên họp quốc hội CS. Nhiều nguồn tin cho biết Dương Bạch Mai uống chén nước trà bị bỏ thuốc độc (?!) Cay hơn nữa là Dương Bạch Mai còn được chính ngay kẻ đã “trừ khử” mình đến dự tang lễ khóc thống thiết làm tuồng “kính chúc đồng chí chết mạnh giỏi!” Thế mới biết chính trị cao là gì! 


Gần hơn chút nữa, những tay “vô trí thức” của MTGPMN anh hùng làm được trò trống gì sau 30 tháng 4 năm 1975? Nguyễn Hữu Thọ, “người” được bác giao cho nhiệm vụ lãnh đạo mặt trợn và cũng là “người” đã đi đến cuối con đường…đã hoàn thành một cách xuất sắc nhiệm vụ mà dân tộc đã giao cho…” 


Ai có theo dõi tin tức, báo chí cũng biết thân phận của “người” này như thế nào trước khi đi chầu “Bác” rồi. Nguyễn Thị Định (người Giồng Trôm, Bến Tre) chưa hề biết sờ (hay bóp cò) súng đến một lần lấy hên mà lại được CS phong là “nữ tướng tóc dài,” “tư lịnh phó lực lương võ trang quân đội Giải phóng,” trong khi kẻ nhắc tuồng cho em Định là đồng chí Nguyễn Chí Thanh – một cánh tay dài của Hà nội. Sau ngày MTGPMN bị xóa sổ, em Định được làm cái giống gì (?) ở chức vụ “thứ truởng bộ thương binh” và chủ tịt hội liên hiệp phụ nữ?” Nguyễn Thị Bình (tên thật là Nguyễn Châu Sa sinh tại Sa đéc, năm 1962 mới đổi tên là Nguyễn thị Bình) “được” làm “phó chủ tịch nhà nước,” “phó trưởng ban đối ngọai trung ương đảng.” 


Mấy cái hàm “phó” đó cũng chỉ lại là những cái chức ngồi chơi xơi nuớc cho đẹp mắt với bà con miền Nam, đâu có ý nghĩa gì trong chế độ lúc nào cũng duy trì các Nhiếp Chính Vương (còn gọi là bộ chính trị - nếu thu hẹp hơn thì có Duẩn, Thọ, sau nầy thì thêm Mười, Anh…), khi các Nhiếp Chính Vương nầy phát cân đai áo mão cho ai thì hãy coi như hồng ân từ Bác và đảng. Sống dưới thời buổi “độc lập tự do hạnh phúc” mà “than vãn” thì cũng được CS xem như đồng nghĩa với đang chán sống; có mà tiêu tùng sớm. Còn ông giám đốc công ty đường thời Tổng thống Ngô Đình Diệm là ông Trương Như Tảng đường mía nữa chứ! 


Me xừ này phải chờ đến lúc CS thu hết miền Nam mới biết “đường” nào là đường trắng, đường nào là đường thẻ, may phước gài kịp “số de,” chứ chậm chân một chút nữa có thể bị tai nạn lưu thông chềt hết cả nhà (như trường hợp kịch tác gia Lưu Quang Vũ và gia đình). Đề nghị “trí thức” phe ta nên đọc cuốn “memoir” của cái gọi là “Tảng đường mía chết hụt này” (sao hắn không chết đi cho rảnh!) để cho sáng mắt sáng lòng. 


Thôi, phải cất công nói chi cho xa xôi, tấm gương sát bên mình là thầy (?) Châu Tâm Luân [2] nè, bà Ngô Bá Thành [3], ông Chu Phạm Ngọc Sơn, Trần Ngọc Liễng… bằng cấp treo đầy cả tường, nhìn phát chóng mặt… hay là các ông cố đạo Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín không lo phận sự rao giảng phúc âm của Chúa mà cứ lo nói xa nói gần để ru ngủ người mọi người dân miền Nam bỏ súng hướng về xã hội “thiên đường.” Nhưng ngay chính cá nhân của mình lại phải đợi được đối diện thật sự với thiên đường (?) mới thức tỉnh (!) 


Đừng mong đợi người cộng sản đang ngồi ghế lãnh đạo hồi tâm (còn được gọi cho hoa mỹ mị dân là “đổi mới”). Họ tra thêm son trét thêm phấn vào mặt, thay đổi ngoại hình chút chút để dễ diển màn (bỉ ổi) khác thôi. 


Trí thức tay mơ thấy gái bia ôm lên giọng “em đang đổi mới” mà lại dại dột “yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ” là bỏ mẹ cả đám. Cứ rước em về nâng khai sửa tráp (văn chương bình dân giáo dục gọi là”nâng bi sửa dế”) đi, ba bảy 21 ngày là biết liền hà... Cộng sản là cái gì? Bộ chính trị là cái quái gì trong trào lưu dân chủ trên thế giới ngày nay? 


Các trào lưu dân chủ và nhân quyền đang làm cho họ xanh mặt, tóat mồ hôi… trán. Ở ngòai mặt hộ vẫn đang khoác cái áo cộng sản chứ thật ra họ là đại tư bản từ lâu rồi. Phải giữ cái áo cộng sản thì họ mới có thể chơi ngang, đàn áp, cầm tù, bịt mồm và cướp giật của người dân đồng thời bảo vệ tài sản đã vơ vét mà không sợ pháp luật! “Organized Crime” ở Mỹ như Mafia chỉ đáng sách dép cho mấy tên CSVN. 

Trí thức mà quá kém cỏi về sự gian xảo trong chính trị thì thua là phải rồi… nhưng mà cũng thấy tội nghiêp cho cái đám trí thức lọai này, đến giờ này vẫn còn muốn thua thêm chút nữa cho nó trọn vẹn, cho nó đầy đủ, hòan tất cho nó xong phim! Bởi vậy nên anh Ba Bếp (tên gọi của “Bác” Hồ khi lên làm việc đầu bếp trên tầu buôn của Pháp từ hãng nhà Rồng Sài gòn 1910?) đâu cần học hành gì nhiều cho tốn thời giờ! 

Từ ngày anh Ba (bếp) bị quan Tây bác đơn (1911) xin học trường hậu bổ (của Tây thuộc địa) để làm quan cho Tây, anh Ba hơi căm, chuyển qua học nghề làm chính trị gian ác nên sai khiến hết đám trí thức nhẹ dạ dễ dàng như lấy đồ trong túi ra. Thấy mà tội nghiệp!!! 

[1] Nguyễn Văn Trấn đây là Bảy Trấn (chứ không phải là ông Nguyễn Văn Trấn hậu sinh nào đó mới “về thăm Việt Nam sau 32 năm” đâu!) Đây là Trấn “Camel” (dân cậu miệt vườn, chỉ hút thuốc lá hiệu Camel) người chợ Đệm Long An, loại trí thức địa chủ, một đại thụ của cộng sản thời thập niên 30… Đại thụ nầy là tác gỉa cuốn sách “Viết cho mẹ và quốc hội;” hắn cùng cỡ tuổi với các tên trùm CS như Trần Văn Giàu, Dương Bạch Mai, Ung Văn Khiêm… đã bỏ lúa ruộng không ai thâu, nhà lầu không ai ở để đi theo cộng sản. 

Nguyễn Văn Trấn đã từng là chính ủy khu 9 (miền Tây nam bộ), chủ nhiệm báo “Le Peuple” đấu tranh công khai với thực dân thời cộng sản miền nam như vịt mới ra ràng. Tập kết ra bắc (cùng lúc với Tô Ký, Đồng Văn Cống, Huỳnh Văn Nghệ...) Sau này Lê Duẩn không cho Nguyễn Văn Trấn được đến một cục xương còn dính chút thịt để gặm cho đỡ tủi! 

Về Nam sau năm 75, chả có chức vụ gì dù đã có 62 tuổi đảng (tính đến năm 1997), ôm nỗi uất ức cho tới ngày chết. 

[2] Ông Châu Tâm Luân người Việt gốc “xì dầu củ cải muối,” được đi du học Hoa kỳ bằng học bổng quôc gia của VNCH, tốt nghiệp Tiến sĩ Kinh tế (đại học Illinois năm 1966?), về Việt Nam cuối thập niên 60, dậy môn “Kinh tế nông thôn” và “Quản trị nông trại” tại Trung tâm quốc gia Nông nghiệp (TTQGNN) Sài gòn (và cũng dậy môn Kinh tế tại đại học Vạn Hạnh). Ông Châu Tâm Luân đã có lần giữ chức vụ “Gíam đốc” TTQGNN (gồm cả 3 trường Cao đẳng Canh nông, Cao đẳng Thủy lâm và Cao đẳng Thú y Sài gòn) trong một thời gian ngắn (vào giai đọan mà các chính trị gia mới trổ mã dậy thì Hùynh Tấn Mẫm và Lê Văn Nuôi sách động sinh viên, học sinh Sài gòn “xuống đường” biểu tình chống Mỹ và chống chính phủ VNCH mạnh mẽ nhất). 

Trong các lớp học kinh tế mà ông Luân dậy, ông công khai giảng cho sinh viên là “Xả hội chủ nghĩa là con đường duy nhất (sic) để đưa Việt Nam đến vinh quang (Giỏi nhỉ! Tiến sĩ này chép y chang lại lời của việt gian HCM)” mà không hề thấy ông ta bị Công an cảnh sát của chính phủ VNCH đến hỏi thăm(?) – 

Có lẽ ông ta “too visible!”lúc bấy giờ vì thường xuyên được truyền thông của Mỹ đến trường phóng vấn dài dài (đài CBS, NBC, ABC…) Vào những năm, những ngày cuối cùng của VNCH, ông xì dầu Luân đứng cùng danh sách với các nhân vật của “thành phần (lòng tòong ở chính giữa!) gọi là thứ 3,” rất ồn ào hô hào hòa giải hòa hợp dân tộc…

Sau 30 tháng 4 năm 1975, con vẹt ngây thơ này không được CS dùng đến 1 ngày để quát lá đa (không phải đi “cải tạo” vì đã tốt nghiệp tiến sĩ tại Hoa kỳ là may lắm rồi). Sau đó ông Châu Tâm Luân trốn vượt biên đi định cư ở ngọai quốc (hình như là Thụy sĩ? Chứ Mỹ chắc chắn là họ không chấp nhận con két “thổ tả” này! ) 

[3] Bà (?) Ngô Bá Thành tên thật là Phạm Thị Thanh Vân (Ngô bá Thành là tên chồng của bà). Ông Ngô Bá Thành cũng là công chức của VNCH, dậy học trường Cao đẳng Canh nông Sài Gòn. Kể ra chinh phủ VNCH dân chủ và dễ dãi thiệt, vẫn trả lương tháng đầy đủ, vẫn cho ông Ngô bá Thành dậy học như chẳng hề có chuyện gì xẩy ra…

Bà Thành tốt nghiệp tiến sĩ Luật tại Pháp và sau đó có học và làm việc trong một thời gian ngắn tại đại học Columbia (New York) Hoa Kỳ. Ở Sàigòn, bà Ngô bá láp này tự phong cho mình là “chủ tịt” của “Phong trào phụ nữ đòi quyền sướng;” biểu tình, tuyệt thực chống chính phủ VNCH (và sự hiện diện của đồng minh ở Việt Nam) rất kịch liệt. 

Sau 30 tháng 4 năm 1975 được CS cho làm đại biểu quốc hội CS trong 3 khóa (6,7 và 8). Đến khóa 9 thì bị gạt ra. Bà chỉ tuyên bố sự tức giận của mình (bà cho là mình bị gian lận bầu cử? Xin nhờ bà một tí: Chế độ CS làm quái gì có bầu cử một cách dân chủ?) qua sự phỏng vấn của đài BBC chứ chả bao giờ dám biểu tình hay tuyệt thực gì cả? (nên biết, CS chỉ chờ bà này tuyệt thực là tụi nó “cúp” nước luôn thì có mà uống nước tè!) 

2- Nhận định của đồng môn cư trú tại Úc:


Về Thành phần thứ ba (còn được bà con miền Nam gọi là “bộ phận nằm ở giữa!”) hay còn gọi là cho oai, cho kêu là "Trí thức thiên tả!" 

Đa số họ là những người đi du học thời VNCH (con nhà nghèo đi học bổng quốc gia cũng có; con nhà giàu - đại đa số - đi du học tự túc cũng có…) mà lại theo, hay ít ra cũng thích làm dáng CS!? (cái vụ nầy nghe hơi nghịch lý khó tin nhưng là chuyện có thiệt – còn gọi nôm na là “ăn cơm quốc gia thờ ma CS”). 

Tôi có những người bạn thân hồi học đại học ở Sài gòn vô bưng theo CS (giờ thì có ít danh phận, con cái đi du học tự túc ở Mỹ hay Canada) và những người bạn “thiên tả”của lúc tôi qua Nhật du học (bây giờ họ vẫn còn thiên tả một cách thầm lặng - tức là không ồn ào binh vực chính quyền CS như xưa - nhưng hầu như vẫn còn mong mỏi CS đổi mới, hồi tâm y như người vợ đã bị chồng bỏ theo vợ bé nhưng vẫn mong chồng có ngày quay trở về mái gia đình xưa!!!). Ở ngọai quốc, CS Bắc Việt thi hành triệt để chính sách tuyên truyền. Qua hình ảnh (tuyên truyền), họ là “những người đại diện cho một quốc gia nghèo khó nhưng quyết tâm chống lại cuộc chiến tranh ‘xâm lược’ của Mỹ!!!” Thế giới và sinh viên Nhật lúc đó còn mông nuội và tin lời dối trá (như vẹm) của họ. Những vụ như Mỹ Lai được thiên hạ biết rất nhiều và hình ảnh người lính VNCH bị xem như là “lính đánh thuê”... lãnh thổ VNCH bị xem như một cái thùng rác để các chính trị gia Mỹ (ngạo mạn) và các ông lãnh đạo Việt Nam (bất xứng) tự tiện phóng uế bừa bãi... 

Tôi cũng có những người bạn thân “thiên tả” đã “can đảm” về Việt Nam sau 1975 làm việc (khỏang đầu năm 1980). Đa số bây giờ nếu không nghèo thì cũng không giàu nhưng tạm đủ để gởi con đi du học xứ ngoài. Con cái họ muốn đi học bổng nhà nước thì chắc không được rồi vì lý lịch không nặng cân bằng mấy tay vô bưng hay cán bộ CS ngoài Bắc. Nhưng họ cũng không dám nói gì ngoài chuyện khuyên tôi có về thì “đợi khi già có tiền hưu rồi hãy về sống với tiền hưu của mầy." Tôi đã có lần hỏi thử họ là “muốn làm cái gì để đóng góp cho quê hương thì phải làm gì?" thì được họ trả lời là “về Việt Nam chơi, đem tiền về xài cũng là đã đóng góp cho quê hương rồi!!!” Tôi nghĩ đây là câu trả lời này nghe thấy nửa chua chát nửa khôi hài nhưng là câu trả lời chân thật nhất của họ. 

Tôi cũng đã có nhiều cơ hội tiếp xúc với những đàn anh, đàn em “thiên tả” hồi học ở Nhật cũng như bây giờ sống và làm việc bên Úc. Tôi dự định trong tương lai sẽ viết về họ một cách khách quan, trình bày những “political psychology,” “paranoia,” “ autism...” của họ. 

Có điều là “thiên tả trầm lặng ở ngoài” (mà muốn về Việt Nam) hay “thiên tả im lặng ở trong nước” (muốn trốn ra ngọai quốc) đều có chung một tâm lý: cả hai hình như lúc nào nơm nớp sợ Công an CS bắt (nên nhớ là CS chủ trương “bắt và giết lầm hơn tha lầm!”). CS đã có rất nhiều tuyệt chiêu và sáng kiến về sự bắt bớ này: khi bắt chẳng những họ bắt đương sự mà còn bắt luôn cả gia đình đương sự để khủng bố. Thí dụ như hồi bắt lính đi “Kampuchia” năm 1980, thằng em vợ tôi trốn lính (CS gọi là trốn “nghĩa vụ quân sự!”) công an phường bắt bà mẹ vợ tôi mỗi ngày phải lên phường “làm việc” liên tục trong 3 tháng trời, hăm he sẽ bỏ tù bà cụ nếu em tôi không ra trình diện). Lọai “Thiên tả” này không bao giờ sợ Cảnh sát tư bản vì khi bị bắt ít ra còn có luật sư bào chữa, báo chí truyền thông hô hóan là vi phạm “human right” dùm! 

Riêng “thiên tả ở ngoài nước” dầu “trầm lặng” hay vẫn còn “ồn ào” ủng hộ CS bằng cách thỉnh thỏang rình rập cơ hội xả rác, phê bình đá giò lái, chọc gậy bánh xe tư bản Mỹ, Anh, Pháp, Úc etc... thì đều có chung một đặc điểm: “Vẫn đi cày lảnh lương ở xứ người cho đến ngày tàn hơi, mà không bao giờ dám về làm việc luôn dưới chính quyền CS để xây dựng CHXHVN độc lập - tự do – hạnh phúc!!!" Bởi vì họ biết thừa là về Việt Nam sẽ bị “thổ tả” đầy quần ngay!!! 

Tôi không biết luật Nhân Quả của nhà Phật sẽ áp dụng như thế nào vào các hòan cảnh (“thiên tả”) này? Muốn bàn thêm nhưng lại sợ bị đụng chạm!! Thành ra… tốt nhất là im cho được việc thôi! Có điều tôi tin rằng “muốn biết những gì họ có trong tương lai thì hãy nhìn những gì họ làm trong quá khứ và hiện tại." Đôi khi biết phân tích mà không dám (hay không có cách) giải quyết được cũng là cái khổ của đời sống. 

Nghĩ lại đôi khi tôi cũng thấy “thông cảm” cho mấy ông “thiên tả” bạn hay đàn anh của tôi: cái khổ của người bên phe thua cuộc như tôi thì nó quá rõ ràng nên không có gì ấm ức, ít ra còn có đối tượng để “chửi bới” cho đã miệng khi giận; còn cái khổ của “kẻ đứng trong hàng ngũ chiến thắng” sau khi thấy “xã hội chủ nghĩa” lý tưởng của mình không hơn câu nói thực tế của tài phiệt báo chí lá cải (tabloid papers) Rupert Murdock (người Úc quốc tịch Mỹ): 

“Khi còn trẻ mà không có lý tưởng xã hội thì mình là người không có con tim; còn vào tuổi trung niên mà vẫn còn ôm ấp "xã hội chủ nghĩa" thì mình là người không có đầu óc (mindless)." 

Mấy ông nội trong bộ chính trị CSVN xem ra biết áp dụng câu nói nầy; còn mấy ông “trí thức thiên tả” thì vẫn còn ôm ấp nó; dù đã vào lứa tuổi lục (hay thất) tuần rồi nên đó là nỗi khổ thiên thu của “loài chó hoang” không biết phải trở về với chủng loại nào cho hợp: Lòai chó hay lòai chồn…??!!

Đã Sáng Mắt Ra Chưa?

Thanh Vân 

Nhiều người bị mù loà, bị cataract, được chữa lành và đã sáng mắt, ấy thế mà vẫn có người có mắt cũng như không, vẫn u tối như thường. 

Ở Việt-Nam

1.- Họ là những bà mẹ quê chất phác. Trước đây họ nghe lời ngon ngọt của CS, ấp ủ, che đỡ du kích trong nhà họ, những tưởng khi VC chiếm miền Nam thì họ được ưu đãi lắm! Ai ngờ! họ chỉ được mấy cấp giấy ban khen là mẹ chiến sĩ, mẹ liệt sĩ, mấy huy chương bằng đồng để treo trong nhà cho nó oai, chứ đem ra chợ bán không ai mua. Hổm rồi, họ bị xử ức: đất đai của tổ tiên họ bị cán bộ công an lấy đem bán cho ngoại quốc làm sân golf, họ mang cờ đỏ sao vàng , biểu ngữ, huy chương, bằng khen đi biểu tình khiếu kiện. Kết quả? Họ bị hốt và vất lên xe cây như con heo, chung với cờ quạt, huy chương, biểu ngữ. Bây giờ họ đã sáng mắt nhưng đã muộn. Có bà dân oan tức quá còn tụt quần ra trước văn phòng xã ấp cho công an xem nữa. 

2.- Họ là giới trí thức sống tại miền Nam Việt-Nam. Trước đây họ nghe lời dụ dỗ của bọn CS, họ đọc toàn sách Karl Marx, Engels, Jean Paul Sartre họ mơ tưởng thấy tương lai sán lạn, bầu trời nở hoa, một thế giới đại đồng, không giầu không nghèo, ai cũng như ai, gọi nhau tất cả bằng "đồng chí". Thế là họ xuống đường biểu tình, phá rối trị an của VNCH, làm mồi cho tụi VC xâm nhập thành thị phá hoại. Sau ngày 30-4-75, họ ra ứng cử vào QH bù nhìn. Kết quả rớt đài. Họ thấy tất cả mọi sự đều tệ hại hơn ngày xưa nhiều, họ la ó, phản đối. Kết quả họ bị quản chế, họ bị công an thuê xã hội đen đánh đập, gây ra tai nạn. Thế là họ mở mắt trong nhà thương. Rồi họ sáng mắt không kịp nữa khi đã vào nhà xác. 


3.- Họ là những đại diện được dân cử miền Nam. Trước đây họ bị dụ khị vơi củ cà rốt đỏ tươi là sẽ ở lại làm việc cho thành phần thứ ba, với hoang tưởng là CS Miền Bắc giải thể VNCH và trao cho nhóm thành phần thứ ba thành lập chính phủ miền Nam, chia ghế chung với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Họ ra sức sử dụng cái tự do dân chủ miền Nam đánh phá VNCH đủ mọi mặt. Đến khi VNCH bị bạn đồng minh bỏ rơi thì ai ngờ họ bị cho ra rià, chỉ còn ngồi chia với nhau cái "ghế đá công viên". 


4.- Họ là thành phần du kích miền Nam, tập kết ra Bắc. Họ đã sống dở chết dở trên dẫy Trường Sơn, trên đường mòn HCM. Họ tin là mai này miền Bắc đánh thắng miền Nam thì họ trơ về vinh quang, CS Miền Bắc sẽ để cho họ thống lãnh miền Nam, ít nhất cũng làm quan to. Hỡi ôi! Họ được gì? Tất cả những chức vụ ngon lành đều do cán ngố miến Bắc nắm hết. Họ từ từ bị bỏ rơi, uất ức quá họ xin phục viên. Bây giờ họ chỉ còn biết mở mắt và chửi thề từ sáng đến tối mà thôi. 

5.- Họ là thành phần giầu sang phú quý miền Nam. Nghe lời hứa ngọt như mía lùi của quen , vào bưng thành lập cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Họ được rủ sang Paris ngồi vào bàn tròn bàn vuông, dự hội nghị thanh toán miền Nam do Kissinger và Lê Đức Thọ bầy mưu đạo diễn năm 1973. Sau 30-4-75 họ được gì? Ôi chao, Cái MTGPMN sống chưa được bao lâu đã bị CS Miền Bắc bóp cổ chết ngắc ngày 2-7-1976. Bấy giờ họ mới sáng mắt ra thì đã trễ, chỉ còn biết than thân trách phận là mình quá ngu. 

Tại Hải Ngoại:



Họ là những Việt Kiều đã liều chết vượt biên. Từ ngày Mỹ nối lại bang giao với Việt-Nam và bỏ cấm vận Việt-Nam, họ đã nghe lời dụ dỗ đường mật của CSVG, về lại Việt-Nam làm ăn: 


a.- Một ông vua chả giò , đem về hàng triệu đôla đầu tư, rồi bị kết án về tội hối lộ (Khổ quá VK nào muốn làm ăn tại VN cho an toàn mà không phải hối lộ cơ chứ, kể cả người dân trong nước cũng vậy), chỉ vì cán bộ gộc tranh nhau ăn. Kết quả ông vua chả giò bị 11 tháng tù, may mắn quen lớn, quen đến tận ông "Tưởng Thú Khải" nên mới "tái vượt biên bằng đường hàng không" ra khỏi nước. Ông mướn luật sư đoàn ngoại quốc kiện VNCS lấy lại tiền. Ông hú vía và sáng mắt và sẽ chẳng bao giờ về Việt-Nam nữa. 


b.- Một ông bác sĩ tim , bỏ ra cả bạc triệu mua máy móc rất "hiện đại" về Sàigon mở phòng mạch mổ tim mong làm ăn, nhưng rồi bị VC đội cho cái mũ "gián điệp CIA" không đưa ra toà nhưng chỉ xin ông để lại phòng mạch và tất cả dụng cụ, ra khỏi VN trong vòng 6 tiếng đồng hồ. Thế là mất cả chì lẫn chài. Về lại Hoa Kỳ ông tức lắm lập đảng chống , ông định làm cả cái kiềng 3 chân mời ông VC ngồi một chân để hoà hợp hòa giải. 

c.- Một ông giáo sĩ chuyên về truyền thông, đi về VN hơn 10 lần rồi như đi chợ và có cả mấy căn hộ cho thuê. Rồi một ngày đẹp trời xin Visa về VN nữa để thâu tiền, nhưng đến phi trường Tân Sơn Nhất thì hải quan TSN hổng cho ổng vào vì lý do gì đó, đúng ra chỉ vì chúng muốn xiết mấy căn hộ của ông thôi. VK hồi đó chưa được phép mua nhà ở VN, mà tại sao ông lại có mấy căn hộ cho thuê "thế nà nàm sao?" , chắc chúng "điều cha" là ông nhờ người khác đứng tên. Ông tẽn tò trở về Mỹ, nuốt hận, nhưng vẫn cái trò nửa nạc nửa mỡ, vẫn nâng đỡ cho đám quốc doanh trong nước, đăng cả bài chống cờ vàng 3 sọc đỏ của HY đỏ Phạm Minh Mẫn mới đây. 

d.- Một ông chuyên viên thu băng video và CD, DVD lậu , khoái "bác hồ" hết cỡ thợ mộc, nên treo cờ máu và ảnh tên hồ già trong tiệm, bị người Việt hải ngoại giàn chào cả 2 tháng. Ở VN hồi đó ông được CSVG nâng cấp lên thành "anh hùng". Rồi ông tưởng bở bán nhà bán cửa, thu xếp tiền bạc gia đình vợ con về VN làm ăn. Ông bỏ ra mấy chục ngàn đô (gần 1 tỷ bạc hồ) mua ao thả cá, nuôi tôm kiếm sống. Thu hoạch đang ngon lành, ai ngờ ông bà "anh hùng" bị gọi lên làm việc về tội "quên đóng thuế" cho nhà nước. Bà vợ ông ức quá "anh hùng" mà chả được cư xử như anh hùng tí nào cả, lại còn bắt đóng thuế, nên tự tử may mà không chết. Mất cả chì lẫn chài, gia đình lại cuốn gói về lại đế quốc Mỹ chả biết ẩn dật tại Tiểu Bang nào. Bà con ai biết mách giùm nhé. 


e.- Một ông giáo sư dậy điện toán , mua lại một số máy computer rẻ tiền đem về Sàigòn mở trường. Ông đoán đúng mạch dân VN. Thời kỳ tin học, ai mà chẳng muốn học "vi tính - piu tơ" , thế là cơ sở ông phất lên như diều gặp gió. Ông làm thêm chi nhánh ở Cần Thơ, ngon trớn ông tiến nhanh tiến mạnh ra Đà Nẵng. Nhưng ông quên một điều là VN cũng có "rừng nào cọp nấy". Cọp miền Nam khác cọp miền Trung, miền Bắc. Ông quên không xin phép đúng nơi đúng chốn hay vì thủ tục "đầu tiên" của ông hơi yếu cho nên ông cũng bị mời lên Công An làm việc vì có thơ tố cáo ông làm gián điệp cho đảng phái hải ngoại chống phá nhà nước. Họ mời ông và gia đình ra khỏi nước trong vòng 24 tiếng, để lại 2, 3 trường học cho nhà nước quản lý. Ông biết bị ăn cướp nhưng chỉ nhỏ lệ mà ra đi và về hải ngoại ông vẫn im thin thít sợ nói ra bị đồng bào chửi. 

f.- Chàng là một VK rất bình thường , nhưng có tật hay "nổ" khi về VN. Chàng đã về nước cả chục lần đâu có làm sao, về lại Hoa Kỳ lần nào cũng khen lấy khen để là "Sàigòn bây giờ đổi mới lắm, làng nướng, quán ăn, bia ôm, càfê cũng ôm luôn, hớt tóc muốn ôm cũng được" . Vì vậy người Việt hải ngại đặt tên mới cho hòn ngọc viễn đông ngày trước, bây giờ là "thành phố ôm". 


Chàng chỉ là một chuyên viên làm Nail, mùa đông ế khách nên về VN du hí. Nhưng VK về nước mà lại khoe là làm nail thì hơi bị quê, nên bèn nổ lớn và tự giới thiệu là kỹ sư "hoá học". Nói cho đúng thì ngày ngày chàng đụng tới hóa chất (acetone .v.v) hơi nhiều, phải đeo khẩu trang như các nhà bác học trong phòng thí nghiệm thật. Lần này về VN thì sáng ngày hôm sau, có một Công an đến vấn an và gãi đầu gãi tai xin ông Kỹ sư giúp đỡ chút xíu vì nhà đang gặp khó khăn. Chàng kỹ sư mở bóp lấy ra tờ 20 đôla trao cho viên công an. Viên công an tỏ ý hơi thất vọng rồi ra về. 

Sau chuyến đi chơi Đalạt 3 ngày về thì chàng kỹ sư nhận được một công văn của Công An số 4 Phan đăng Lưu yêu cầu lên làm việc để làm sáng tỏ một vài vấn đề. Ông "kỹ sư" hoang mang nhưng cũng đến trình diện. Viên Đại Uý Công An mời ngồi và nói là ông ta mới nhận được một lá thư từ trong phương xóm nơi chàng tạm cư ngụ, tố cáo ông VK là một nhân viên của một đảng phản động tại hải ngoại lần này có nhiệm vụ về điều nghiên để phá hoại. Anh kỹ sư VK tái mét mặt, hết hồn bèn khai thật là ở bên Mỹ chỉ làm nail bên Mỹ thôi chứ đâu có phải kỹ sư gì đâu, về nước để du lịch chứ không có tham gia một đảng phái chính trị nào cả. 

Viên Đại Uý cười khẩy và nói là ty công an thành phố phải điều tra ra sự thật vì vậy theo luật thì phải giữ anh kỹ sư ở lại bóp vài ba ngày để tiến hành cuộc thẩm vấn. Sau cùng ông Đại úy nhắc khéo là đã liên lạc với hải quan TSN rồi và được biết là anh kỹ sư có khai đem về 5 ngàn đôla kỳ này. Chàng "kỹ sư" được dẫn vào nhà giam ngủ 1 đêm. 


Sáng hôm sau tại địa chỉ mà chàng tạm trú, một người ăn mặc complet bảnh bao, tay sách cạc táp đen, đến gõ cửa và tự nhận là luật sư. Ông luật sư vào đề ngay là ông ta "nghe nói" có một VK bị bắt vào ty Công An PĐL. Nếu muốn nhờ ông ta biện hộ hay giải quyết thì đây là giá cả:

- (1) Muốn khỏi phải ra toà và được thả ngay thì giá là 3 ngàn đôla, vì ông ta phải chi tiền chạy chọt. 


- (2) Còn muốn ra toà thì ông ta nhận biện hộ với giá $1,500 USD, nhưng ông luật sư thòng một câu là không biết ngày nào ra toà, có thể từ 3, 4 tháng đến 1 năm tuỳ theo. Bị cáo không được rời khỏi VN. Ông ta nói xong để lại danh thiếp với số điện thoại.

Ngày hôm sau ông bạn chạy đến ty CA thành phố xin thăm gặp ông "kỹ sư" nạn nhân, và trình bầy 2 giải pháp của ông Luật sư. Anh "kỹ sư" hốt hoảng nói anh bạn gọi điện thoại và điều đình với ông luật sư chấp thuận giải pháp 1 là trả 3 ngàn đô "cúng cô hồn" để được trả tự do ngay, chứ theo giải pháp thứ 2 rẻ hơn nhưng làm sao mà ở VN lâu như vậy được, còn phải về Mỹ dũa móng chứ . 


Chiều hôm sau, chàng "kỹ sư" được trả về nhà, túi bị nhẹ đi mất 24 triệu bạc hồ, một số tiền khá lớn. Hai ngày sau chàng "kỹ sư", ra hãng máy bay xin đổi vé về lại Mỹ càng sớm càng tốt và hứa là sẽ không bao giờ về thăm chùm khế ngọt nữa. 

Chết Vì Dại!
Alain Bảo (RFA) - Anh họ tôi (Lê Ngọc Minh) du học qua Tây Đức, theo diện quốc gia nghĩa tử vào những năm cuối cùng trước khi Miền Nam thất thủ, khi dượng tôi bị ám sát ngay trước vòng đai Bộ Tổng Tham Mưu.

Sau 75, đại gia đình bên ngoại tôi phần lớn bị kẹt lại và sống một cuộc đời lê lết, ngục tù của những kẻ được mang danh là con cháu Mỹ ngụy bơ thừa sữa cặn.

Ngày anh họ tôi về thăm đại gia đình từ Tây Đức vào những năm rất sớm sau “giải phóng”, anh có một dáng vẻ thật khoa học, thật thà, với nước da trắng hồng và cặp mắt thật sáng của một người sống lâu năm tại xứ lạnh, khác hẳn với tôi, một thằng nhóc con đen đủi ốm nhom lòi xương, được hân hạnh sống dưới thiên đường xã hội chủ nghĩa và học tập dưới đỉnh cao trí tuệ trong thời gian tiểu học.

Có lẽ vì ra nước ngoài du học quá lâu hay là vì quá yêu khoa học mà anh họ tôi thường rất ít biết về 2 từ “Cộng Sản”, một chủ nghĩa được sáng tạo ngay trên trên đất nước Đức, nơi đã đào tạo anh thành một tiến sĩ khoa học gia. 

Chỉ vài năm sau, vì quá kinh hoàng trước cách đối xử và sinh sống của chế độ ưu việt xã hội chủ nghĩa, cả đại gia đình từng người một vượt biên, vượt biển và nhờ trời phật phù hộ, may mắn tất cả đều đến định cư rải rác các xứ sở tự do từ Châu Âu, Châu Úc, Mỹ và Canada.

Cuôc đời lắm chuyện tréo cẳng ngỗng, khó ai mà lường được, vào những năm cuối thập niên 90, anh họ tôi lại quyết định về giảng dạy tại trường Đại Học Bách Khoa Sài Gòn, theo lời mời của nhà cầm quyền Hà Nội.

Ngày đó cũng là ngày dì tôi khóc sướt mướt, và quyết định sẽ không liên lạc với “thằng con trời đánh” nhưng lại là người con hiếu thảo đã tảo tần gửi viện trợ về giúp đỡ gia đình dì tôi vào những năm còn sống tại Việt Nam, đã đi ngược lại ý muốn của dì. 

…Rồi thời gian cũng qua đi, vì bận lo mưu sinh, kiếm cơm manh áo tại xứ người, đại gia đình tôi dần dần quên lãng có một người anh em bạn dì hiện là giáo sư từ Tây Đức về giảng dạy tại Việt Nam.

Những năm Las Vegas có Conference về computer và khoa học kỹ thuật, tôi lại gặp được anh họ tôi ngay tại thành phố nóng cháy và không bao giờ ngủ.

Vì học chung ngành nên thường tôi có dịp được anh họ giảng dạy và trao đổi những dự án và phát minh về tin học cũng như toán học, mà anh đại diện cho Việt Nam trình bày tại những Conference này.

Anh họ tôi thuê 1 căn nhà nhỏ tại Sài Gòn, và hàng ngày cắm cúi đạp xe lên trường giảng dạy, chiều tối về lại cơm rau cháo muối đạm bạc một mình đơn côi, như một người xa lạ sống ngay trên quê hương.

Có lần trong dịp qua trường đại học ASU (Arizona State University) giảng dạy theo lời mời của Hoa Kỳ, tôi có vài lời khuyên anh hãy cẩn thận với thức ăn bên Việt Nam, vì dạo này tụi Tàu hay làm đồ giả, thức ăn độc hại pha chế và nhập cảng vào Việt Nam.

Anh họ tôi cho biết, nhu cầu ăn uống của anh rất đơn giản, ngoài ra anh có đóng bảo hiểm sức khoẻ cho Trường Đại Học Bách Khoa – nếu có bệnh tình hay chuyện gì xảy ra thì cũng đỡ lo, vì anh hiện sống ở Việt Nam dù là công dân Đức.

Cuối năm 2013-đầu năm 2014, được tin anh bị đau gan nặng, và tất cả tiền bảo hiểm sức khoẻ của anh đóng tại trường Đại Học Bách Khoa đều bị ban giám hiệu của trường này giựt và đem ăn xài nhậu nhẹt. 

Vì không về Đức thường xuyên để làm việc, cộng với số tiền khiêm nhường ít ỏi của nhà nước Cộng Sản, và anh đã trút hết tin tưởng vào số tiền bảo hiểm sức khoẻ khá lớn, mà anh họ tôi đã đóng cho trường và bị mái trường xã hội chủ nghĩa cướp một cách trắng trợn. Anh họ tôi hoàn toàn không có khả năng chi phí những khoản tiền khổng lồ 1200 dollars, cho mỗi lần chữa trị bằng phóng xạ. Gia đình dì tôi bên Mỹ phải gom góp và gửi về tất cả chi phí cho bệnh viện.

Nhưng rồi cái gì đến cũng phải đến, vào cuối tháng 6 năm 2014, anh họ tôi trút hơi thở cuối cùng tại Việt Nam, không một người thân, không một họ hàng. 

Bệnh Viện đã quăng xác anh họ tôi vào nhà xác chờ gia đình dì tôi từ Mỹ về nhận, trường Bách Khoa (trên khu trường đua Phú Thọ cũ) thì im hơi giấu tiếng về hàng chục ngàn dollars chia chác từ tiền bảo hiểm sức khoẻ do anh tôi đóng hơn mười mấy năm.

Mãi tới ngày mai 30 tháng 6 chủ nhật thì anh họ tôi mới được người thân cấp tốc bay về từ Mỹ nhận xác, xác anh họ tôi nằm trong bệnh viện cộng sản từ 21 tháng 6 đến chủ nhật 30 tháng 6, liệu có còn nguyên vẹn như lời hứa ướp xác của bệnh viện hay không ?

Tôi viết bài này trong 1 trạng thái hỗn độn, vừa buồn, vừa giận, vừa trầm tư về cái chết quá trẻ của người anh họ khoa học gia hiền lành, thông minh đã đem tài năng giảng dạy cho sinh viên trường Bách Khoa, một ngôi trường đã nhẫn tâm ăn cướp tất cả tiền bảo hiểm sức khoẻ, và sau khi vắt chanh bỏ vỏ một tài năng lỗi lạc. 

Không biết rằng anh họ tôi bên kia thế giới có biết chăng, anh chính là người tha hương ngay trên một xứ sở tham nhũng, hối lộ, văn hoá thối nát dưới sự thống trị của một chế độ ươn hèn ngu dốt, tay sai cho ngoại bang ? hay anh chỉ là một nhà khoa học thuần túy, suốt đời chỉ biết đến những con số, dữ liệu máy tính, thuyết trình ?

Dù sao đi nữa, xin cầu chúc linh hồn anh được an lạc nơi cõi bên kia!

Kính tưởng niệm hương hồn người anh họ anh em bạn dì Lê Ngọc Minh – Giáo Sư Tiến Sỹ Khoa Học Gia trường Đại Học Stuttgart West Germany – Trường Đại Học Bách Khoa Sài Gòn !

Nam Mô Bồn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật !


Phỏng vấn đại tá Bùi Tín

https://www.youtube.com/watch?v=I1Mn2rpCteA

Chương Trình Chiêu Hồi Của Việt Nam Cộng Hòa

BS. HỒ VĂN CHÂM 

Chương trình Chiêu Hồi của Việt Nam Cộng Hòa được xây dựng và tiến hành trên nền tảng chính sách Đại Đoàn Kết Dân Tộc. Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa chủ trương lấy tình thương xóa bỏ hận thù, chân thành mở rộng vòng tay đón tiếp những anh chị em ruột thịt chiến đấu trong hàng ngũ cộng sản, lầm lạc phục vụ chủ nghĩa cộng sản mà tưởng là phục vụ quyền lợi quốc gia dân tộc. Tất cả các cán binh cộng sản ra hồi chánh, bất kể quá trình hoạt động bản thân trong hàng ngũ cộng sản như thế nào, nếu ý thức sự lầm lạc trong quá khứ, và nhiệt tình phục vụ lý tưởng tự do dân chủ, đều được phục hồi đầy đủ quyền công dân và hội nhập trọn vẹn vào cộng đồng dân tộc.

Cơ quan phụ trách chương trình Chiêu Hồi.

Chương trình Chiêu Hồi bắt đầu hoạt động vào cuối năm 1962, dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Cơ quan phụ trách chương trình Chiêu Hồi là một phân ban của Bộ Công Dân Vụ, gọi là Phân Ban Chiêu Hồi, có đẳng cấp tương đương với một Nha thuộc Bộ.

Sau chính biến 1-11-1963, Phân Ban Chiêu Hồi được chuyển sang thống thuộc Phủ Thủ Tướng. Đến năm 1965, với Ủy Ban Hành pháp Trung ương, chương trình Chiêu Hồi được giao cho Bộ Thông Tin phụ trách, có đẳng cấp tương đương với một Tổng Nha, do Thứ Ủy Chiêu Hồi cầm đầu.
Năm 1967, cơ quan phụ trách chương trình Chiêu Hồi được nâng lên cấp bộ, gọi là Bộ Chiêu Hồi, do Tổng Trưởng Chiêu Hồi cầm đầu, có Phụ Tá Tổng Trưởng Chiêu Hồi giúp việc.

Tháng 2 năm 1974, Bộ Chiêu Hồi được bãi bỏ, chương trình Chiêu Hồi do Tổng Cục Chiêu Hồi thuộc Bộ Dân Vận Chiêu Hồi phụ trách.
Điều đáng lưu ý là chương trình Chiêu Hồi không phải chỉ một mình Bộ Chiêu Hồi chịu trách nhiệm thi hành. Bộ Chiêu Hồi chủ yếu phụ trách mặt nổi của chương trình, như tuyên vận, tiếp nhận, huấn chính, phục hoạt. Trong thực tế, nhiệm vụ chính của Bộ Chiêu Hồi là phối hợp hoạt động của nhiều cơ quan chính phủ như Quân Đội, Cảnh Sát, Tình Báo, Thông Tin, Ngoại Giao, Tư Pháp, và quân đội đồng minh, để tiến hành chương trình Chiêu Hồi trong khuôn khổ chương trình Bình Định và Phát Triển, đặc biệt là về mặt tuyên vận chính nghĩa chống chuyên chính vô sản, và về mặt khai dụng người hồi chánh để nắm vững địch tình.

Tổ chức Điều hành.

Ở cấp trung ương, Tổng Trưởng Chiêu Hồi được sự giúp đỡ của Phụ Tá Tổng Trưởng Chiêu Hồi về mặt công tác, của Tổng Thư Ký về mặt hành chánh, của Thanh Tra Trưởng điều khiển Khối Thanh Tra và Lượng Giá, và của Phụ Tá Kế Hoạch đảm trách Khối Kế Hoạch Chương Trình. Ngoài Văn Phòng Tổng Trưởng và các Nha Quản Trị, Công Tác, Phục Hoạt, Pháp Chế, Tiếp Nhận, và An Ninh Tình Báo, ở cấp trung ương còn có Trung Tâm Chiêu Hồi Trung Ương ở Thị Nghè và Trung Tâm Huấn Nghệ Trung Ương ở Biên Hòa. Các nha được chia thành sở, sở chia thành phòng, phòng chia thành ban.
Ở cấp quân khu có Văn Phòng Đại Diện Chiêu Hồi và Trung Tâm Chiêu Hồi cấp quân khu.
Ở cấp tỉnh có Ty Chiêu Hồi do Trưởng Ty điều khiển, và Trung Tâm Chiêu Hồi cấp tỉnh. Riêng Đô Thành Sài Gòn có Sở Chiêu Hồi do một Chánh sự vụ điều khiển.
Ở cấp quận có Chi Chiêu Hồi do Trưởng Chi cầm đầu. Cấp quận không có trung tâm tiếp nhận thường trực.
Ngành Chiêu Hồi không có cán bộ cấp xã. Phần vụ chiêu hồi ở xã do cán bộ Thông Tin phụ trách.
Nhân viên Bộ Chiêu Hồi ước chừng 11.000 người, gồm công chức chính ngạch, công nhật, hợp đồng, quân nhân biệt phái, cán bộ chiêu hồi, và 90 đại đội võ trang tuyên truyền tuyển chọn trong số cán binh cộng sản ra hồi chánh.

Quản trị Tài chánh

Khi còn là Phân Ban Chiêu Hồi, các chi phí về chương trình Chiêu Hồi liên quan đến người Hồi Chánh do Quỹ Tạm Ứng Chiêu Hồi đài thọ. Quỹ này là một quỹ ngoại ngân sách do viện trợ Mỹ yểm trợ (1). Các chi phí điều hành (lương nhân viên, trụ sở, vật liệu, văn phòng phẩm) thì do Bộ sở quan (Bộ Công dân vụ, Phủ Thủ Tướng, Bộ Thông Tin) đảm trách.
Khi trở thành một bộ, Bộ Chiêu Hồi có ngân sách riêng, có quy chế và thể lệ dự trù, duyệt xét, chi tiêu, thanh lý, hậu kiểm, y hệt ngân sách các bộ khác của chính phủ. Ngân sách này có 2 phần:
· Phần ngân sách quốc gia phụ trách việc chi trả các khoản điều hành.
· Phần ngân sách viện trợ Mỹ chi trả các khoản liên quan đến người Hồi Chánh: tuyên vận, tiếp nhận, tưởng thưởng, nuôi ăn, may mặc, huấn chính, huấn nghệ, hoàn hương (trở về làng cũ), định cư (thiết lập làng mới), và lương và công tác phí cho các đội viên võ trang tuyên truyền.
Việc quản trị và thanh lý các ngân khoản thuộc phần ngân sách quốc gia được thực hiện theo thể lệ tài chánh quốc gia. Đối với phần ngân sách ngoại viện, Bộ Chiêu Hồi không trực tiếp chi dụng và quyết toán, mà ủy ngân cho các tỉnh để các Trưởng Ty chi dụng và thanh lý với Ty Tài Chánh tỉnh, theo thể thức chi tiêu đặc biệt ‘xây dựng nông thôn’. Ngoài ra, Ty Chiêu Hồi còn được Kho Xây Dựng Nông Thôn địa phương yểm trợ trực tiếp ‘thực phẩm phụng sự hòa bình’ và ‘vật liệu xây dựng nông thôn’, theo quyết định của Tỉnh Trưởng, ngoài sự kiểm soát của Bộ Chiêu Hồi (2).
Ngân sách hàng năm của Bộ Chiêu Hồi (thời gian 1967-1974) trung bình chừng khoảng 500-600 triệu đồng Việt Nam phần ngân sách quốc gia, và chừng khoảng 600-700 triệu đồng Việt Nam phần ngân sách ngoại viện.

Thành quả chiêu hồi về mặt tiếp nhận

Từ ngày bắt đầu thi hành chương trình vào cuối năm 1962 đến ngày 30-04-1975 đã có khoảng 230.000 cán binh cộng sản ra hồi chánh.
Những năm đầu (1963-1965) và năm cuối (1974) số người ra hồi chánh hàng năm chỉ có chừng vài nghìn. Số người ra hồi chánh lên cao đến 15.000-43.000 mỗi năm trong khoảng thời gian chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tiến hành chương trình Bình Định và Phát Triển từ 1968 đến 1972. Số người ra hồi chánh cao nhất là vào năm 1969 (43.000 người) và năm 1970 (38.000 người).

Cán binh cộng sản ra hồi chánh phần lớn là cán bộ và bộ đội gốc gác trong nam. Một số ít là cán binh tập kết nay quay trở lại miền nam. Cán binh Bắc Việt xâm nhập thì có rất ít, tổng cộng chỉ chừng 4.000-5.000 người. Ngoài ra còn có 3.500 phạm nhân và 11.500 tù binh thuộc thành phần tân sinh hoạt được Ủy Ban Liên Bộ Chiêu Hồi, Nội Vụ, Quốc Phòng, và Tư Pháp, tuyển chọn cho cải danh sang qui chế hồi chánh.

Cấp bậc cao nhất của sĩ quan ra hồi chánh là thượng tá (Thượng tá Tám Hà). Nhân viên dân sự cao cấp nhất ra hồi chánh là Trưởng Ty Y Tế tỉnh Pleiku (Bác sĩ Đặng Tân). Trong số người hồi chánh, có nhà văn có chân trong Hội Nhà văn Việt Nam (Xuân Vũ Bùi Quang Triết), có nhạc sĩ tác giả khúc nhạc mở đầu của đài phát thanh giải phóng (Phan Thế), có tài tử điện ảnh của đoàn làm phim Hà Nội (Cao Huynh), có nhân viên văn phòng Bí Thư Thành ủy Sài Gòn-Gia Định (Tô Minh Trung).

Thành quả chiêu hồi về mặt phục hoạt.

Tất cả cán binh cộng sản ra hồi chánh, không những thuộc thành phần tự nguyện mà kể cả thành phần cải danh, đều được chính quyền phục hồi sinh hoạt bình thường, cho thủ đắc đầy đủ quyền công dân, và giúp đỡ hội nhập trọn vẹn vào cộng đồng dân tộc.

Cán binh cộng sản ra hồi chánh được đưa về trung tâm chiêu hồi. Tùy theo chức vụ và cấp bậc trong hàng ngũ cộng sản, họ được tiếp nhận ở trung tâm cấp tỉnh, cấp quân khu, hay cấp trung ương. Riêng cán binh Bắc Việt xâm nhập, tất cả đều được đưa về trung tâm chiêu hồi trung ương ở Thị Nghè.

Trong những ngày đầu tại trung tâm tiếp nhận, người hồi chánh được tiếp xúc với nhân viên an ninh Bộ Chiêu Hồi và nhân viên tình báo các cơ quan bạn để khai báo về bản thân, về tổ chức và hoạt động của cơ quan cộng sản, về đường giây nằm vùng, về nơi chôn dấu vũ khí v.v. Sau đó, người hồi chánh được nhân viên cảnh sát làm thủ tục cấp thẻ căn cước, và tham gia một khóa học chính trị cơ bản. Người hồi chánh còn được đưa đi tham quan phố phường, chợ búa, bệnh viện, trường học, xưởng dệt kim, nhà máy cán thép, trại cây ăn trái, để biết rõ thực trạng xã hội miền nam. Trước khi rời trung tâm chiêu hồi, người hồi chánh được hỏi về nguyện vọng sau khi hoàn hương, để được tùy nghi giúp đở. Thời gian ở trong trung tâm tiếp nhận là 2 tháng. Người hồi chánh được nuôi ăn ngày 3 bữa và được cấp phát 2 bộ quần áo. Khi rời trung tâm để về với gia đình, người hồi chánh được cấp vé xe, vé tàu, và tiền hoàn hương.

Những người có nguyện vọng học thêm nghề để kiếm sống sẽ được đưa đến các trung tâm huấn nghệ cấp quân khu hoặc cấp trung ương. Họ được tự do lựa chọn ngành nghề: nghề may, nghề mộc, lái xe và sửa máy xe, sửa điện nhà, radio, tủ lạnh v.v. Tại các trung tâm huấn nghệ, người hồi chánh cũng được nuôi ăn. Sau khi thành nghề, họ được giới thiệu kiếm việc làm.

Những hồi chánh viên quê quán miền bắc không muốn ở các vùng thị tứ, những hồi chánh viên không còn thân nhân, hoặc không muốn trở về làng cũ, thì đuợc đưa đến định cư ở các làng Chiêu Hồi. Tại miền nam thuở bấy giờ có khoảng 20 làng Chiêu Hồi. Mỗi gia đình được cấp 3 mẫu đất canh tác, nông cụ và hạt giống, và lương ăn trong 6 tháng. Hầu hết các làng Chiêu Hồi được cấp máy phát điện.

Thành quả chiêu hồi về mặt hội nhập.

Một số hồi chánh viên được tuyển dụng làm cán bộ võ trang tuyên truyền. Các cán bộ này được tổ chức thành đại đội, trang bị phương tiện truyền thanh và vũ khí nhẹ để thâm nhập vào các vùng xôi đậu làm công tác tuyên vận. Trong mùa hè đỏ lửa 1972, một đại đội võ trang tuyên truyền bị Việt cộng phục kích ở cầu Bồ Bản, Quảng Trị. Thay vì thúc thủ đầu hàng hoặc trốn chạy qua cầu và sẽ bị bắn chết hết, họ đã gan dạ trụ lại chống trả. Việt cộng bị bất ngờ và đã bỏ lại hiện trường 68 xác chết đồng đội. Đại đội võ trang tuyên truyền này đã được Bộ Tư lệnh Quân đoàn I tuyên dương và Bộ Chiêu Hồi tưởng thưởng.

Ngoài những chức vụ đặc biệt dành riêng để tuyển dụng các hồi chánh viên cao cấp như Tham Nghị đặc biệt (cấp Tổng Giám đốc) và Tham Nghị (cấp Giám đốc), một số hồi chánh viên có năng lực và tinh thần hợp tác được tuyển dụng vào các chức vụ chỉ huy thường chỉ dành cho các sĩ quan biệt phái hay công chức chính ngạch cấp đốc sự hoặc tham sự như giám đốc nha, chánh sự vụ sở, quản đốc trung tâm, chủ sự phòng. Những nguời này đã thực sự quên đi dĩ vãng và dốc lòng phục vụ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa với niềm tin tưởng mãnh liệt vào chính sách Đại Đoàn Kết Dân Tộc (3).

Một số hồi chánh viên được tuyển dụng làm cán bộ võ trang tuyên truyền đã được sung vào các Thuyết Trình đoàn của Bộ Chiêu Hồi để thường xuyên đến các trường học, các xưởng máy, các tổ chức cộng đồng tôn giáo và xã hội, để nói chuyện cho đồng bào nghe về thực trạng miền bắc xã hội chủ nghĩa. Năm 1972, một đoàn thuyết trình gồm những người sinh trưởng trên đất Thái đã được đưa qua Thái Lan để nói chuyện cho kiều bào sinh sống tại vùng đông bắc Thái nghe về thực trạng xã hội miền nam. Hồi chánh viên Mai Văn Sổ được đưa qua Paris sinh hoạt với Việt kiều và hai tháng sau Mai Văn Bộ mất chức Tổng Đại Diện Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tại Pháp. Hồi chánh viên Hồ Văn Bửu được đưa qua New Delhi nói chuyện về thực chất Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình nhân dịp Bộ trưởng Việt Cộng Nguyễn Thị Bình thăm viếng Ấn Độ. Hồi chánh viên Bùi Công Tương được đưa qua Úc làm chứng trước tòa rằng nhà báo Alfred Burchett viết lách gian dối, không khách quan, khi tường thuật thực trạng tại các vùng giải phóng ở miền nam Việt Nam, trong một vụ kiện đòi bồi thường danh dự giữa nhà báo ấy và một vị nghị sĩ Úc.

Trắc nghiệm thành quả.

Chiều ngày 27-1-1973, Bộ Chiêu Hồi được lệnh của Phủ Tổng Thống tiếp nhận ngay trong đêm 11.500 tù binh cải danh hồi chánh do quân đội chuyển giao từ các trại tù binh Biên Hòa, Cần Thơ và Phú Quốc. Công việc phải hoàn tất trước 8 giờ sáng ngày 28-1-1973 là thời điểm hiệp định Paris có hiệu lực. Khả năng tiếp nhận của các trung tâm chiêu hồi trong toàn quốc là 5.400 người, nay phải tiếp nhận một lúc hơn gấp đôi số lượng, Bộ Chiêu Hồi phải đương đầu với nhiều khó khăn về chỗ ngồi chỗ nằm, về nuôi ăn, về vệ sinh, về trật tự. Tuy rằng mọi việc cũng đã được giải quyết ổn thỏa, nhưng trong bối cảnh vừa mới đình chiến, vừa cận kề ngày Tết, những tù binh cải danh này nếu không chuyển qua quy chế hồi chánh thì giờ này đâu còn bị giữ lại trong các trung tâm chiêu hồi mà đã được trao trả cho Việt cộng và trở về với gia đình. Đương nhiên là tinh thần họ rất giao động, và viễn tượng an ninh tại các trung tâm tiếp nhận thật là đen tối. Bộ Chiêu Hồi đã linh động chỉ lập danh sách theo địa chỉ cư trú rồi cấp giấy hoàn hương và lộ phí cho tất cả 11.500 người này về nhà ăn Tết 15 ngày, sau đó sẽ đến trình diện cơ quan chiêu hồi địa phương để nhập trung tâm, làm thủ tục cấp thẻ căn cước, theo các lớp huấn chính, huấn nghệ. Việc làm này của Bộ Chiêu Hồi vừa để giải quyết khó khăn trước mắt, vừa để trắc nghiệm mức độ thành thật cải hối của các tù binh cải danh. Bộ Chiêu Hồi ước lượng chừng 20% sẽ bỏ đi theo Việt cộng, nhưng trong thực tế chỉ có 4,7% trong số họ đã bỏ đi không ra trình diện mà thôi.

Sau ngày 30-4-1975, tất cả tập thể hồi chánh viên mà Việt cộng thường gọi là thành phần chiêu hồi chiêu hàng, nếu không chạy được ra nước ngoài, đều bị đưa ra toà xét xử về tội phản bội cách mạng. Một số bị kết án tử hình. Ngoài ra thì bị đưa vào giam giữ ở các trại tập trung, y hệt các nhân viên quân sự và dân sự của chính thể Việt Nam Cộng Hòa. Giữa những người tù chính trị trong các trại giam của Việt cộng không hề có sự phân biệt thành phần chiêu hồi và ngụy. Nếu trong hàng ngũ những người tù thuộc thành phần chiêu hồi có những phần tử xun xoe, bợ đỡ, lập công với cách mạng, thì tỷ lệ những phần tử này còn thấp hơn tỷ lệ trong hàng ngũ những người tù thuộc thành phần không phải chiêu hồi mà Việt cộng gọi là thành phần ngụy. Đây lại thêm một biểu hiện về thành quả hội nhập của các người hồi chánh vào cộng đồng dân tộc sinh sống dưới chính thể Việt Nam Cộng Hòa.

Kết Luận.

Chương trình Chiêu Hồi của Việt Nam Cộng Hòa là một chương trình thành công. Chương trình Chiêu Hồi ngày đó đã bắc nhịp cầu thông cảm giữa những người ở trong chính quyền chống cộng tha thiết với tiền đồ quốc gia dân tộc, với những người ở trong hàng ngũ cộng sản nhưng ý thức sự lầm lạc của mình, đã ngu muội chiến đấu cho chủ nghĩa cộng sản mà cứ tưởng là phục vụ quyền lợi của quê hương, của dân tộc. Chương trình Chiêu Hồi ngày đó mãi đến nay vẫn còn lưu chút dư hương ngọt ngào trong lòng những người không may phải sống trở lại trong vòng kềm kẹp của chính thể chuyên chính vô sản.

Minh Vũ Hồ Văn Châm


Chú Thích:
1. Các ngân khoản ứng trước do Quỹ Tạm Ứng Chiêu Hồi lập ra để ủy ngân cho các địa phương trước năm 1967 phần lớn chưa được thanh lý. Đầu năm 1972, Bộ Chiêu Hồi cho lập Ủy ban Liên Bộ Chiêu Hồi, Tài Chánh, Giám Sát Viện, Ngân Sách Ngoại Viện để thanh lý hồ sơ chi tiêu các quỹ ứng trước đó. Các địa phương không có hồ sơ thanh lý hợp lệ phải hoàn trả ngân khoản được ứng trước. Bộ Chiêu Hồi đã thu lại 57 triệu đồng Việt Nam cho Quỹ Tạm Ứng Chiêu Hồi, và chuyển hoàn tồn khoản của Quỹ Tạm Ứng Chiêu Hồi cho Quỹ Đối Giá Viện Trợ Mỹ.

2. Thể thức chi tiêu Xây Dựng Nông Thôn được đặt ra để giúp các địa phương không bị ràng buộc với các thủ tục chi tiêu rườm rà của trung ương, nhờ vậy, các địa phương có thể linh động giải quyết nhanh chóng các nhu cầu cấp kỳ. Tuy nhiên, nếu trung ương có thái độ phủi tay (ủy ngân xong là xem như hết trách nhiệm) hay chủ trương tiếp tay (ủy ngân bừa bãi quá mức nhu cầu để chia chác) thì thể thức chi tiêu này cũng như việc sử dụng thực phẩm phụng sự hòa bình và vật liệu xây dựng nông thôn cho người hồi chánh không có sự theo dõi của trung ương, sẽ làm phát sinh nhiều tệ đoan nhũng lạm. Cuối năm 1969, Bộ Chiêu Hồi cho áp dụng một mẩu báo cáo hàng tháng đơn giản mà chính xác, các ty chỉ việc điền các số liệu báo cáo vào các ô thích hợp, nhờ đó, Bộ Chiêu Hồi đã chặn đứng nạn báo cáo ma, và phát hiện nhiều việc phi lý, tỷ như có ty đã nhận từ kho Xây Dựng Nông Thôn một số dầu ăn để cung ứng cho người hồi chánh đang ở tại trung tâm chiêu hồi, mà tính ra thì mỗi hồi chánh viên đã tiêu thụ hàng tháng 1.500 lít dầu ăn.

3. Tiếc rằng đầu năm 1974, Bộ Chiêu Hồi được giải thể để nhập vào Bộ Dân Vận, do Hoàng Đức Nhã cháu T.Th. Thiệu lãnh đạo và trước thái độ ngờ vực và rẻ rúng của các cấp lãnh đạo mới, họ đã vô cùng thất vọng. Bị bãi chức, họ lang thang xó chợ đầu đường. Quản Đốc Trung tâm Chiêu Hồi Trung Ương Thị Nghè, vốn là Đại úy đặc công Việt cộng, vì quá bi phẫn, đã nhảy lầu tự sát, may mà không chết, chỉ bị gãy xương. Cuối năm 1974, có sự thay đổi lãnh đạo Bộ Dân Vận Chiêu Hồi, họ được gọi trở về nhiệm sở cũ.

BAO GIỜ THÌ LÃNH ĐẠO CSVN SẼ TẠ LỖI

                       VỚI ĐỒNG BÀO, TỔ QUỐC VÀ LỊCH SỬ?


Trong bài “Hiện tượng sám hối”, Mặc Lâm, biên tập viên đài RFA đã phỏng vấn nhà văn, nhà phê bình Trần Mạnh Hảo về hiện tượng những lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng Sản Việt Nam lên tiếng phủ nhận những gì mà họ theo đuổi trong suốt hơn nửa thế kỷ qua.

Theo nhà văn Trần Mạnh Hảo thì: “Ông Phó Thủ Tướng Trần Phương là một người cũng đã tận tụy đi theo cách mạng. Làm đến Phó Thủ Tướng nhưng khi các ông ngồi lại để góp ý cho đảng thì ông ấy nói rằng cuộc đời trong mỗi cá nhân để vượt qua những sự kiện quan trọng trong đời mà cứ phải nói dối người thân, nói dối gia đình, nói dối mọi người đến mấy lần thì đến khi về già đã thấy ngượng, thấy xấu hổ lắm. Nhưng Đảng Cộng Sản của chúng ta từ khi sinh ra đến giờ toàn nói dối mà không biết tại sao đảng không biết ngượng, không biết xấu hổ,không biết sám hối”.

Thực ra, không phải tới bây giờ mới có những nhận xét “động trời” này! Những chuyện lãnh đạo Đảng CSVN nói dối không biết ngượng miệng đã xảy ra từ thời “con trăn miền Bắc” chưa nuốt trọn “con nai miền Nam” rồi bị bội thực “xã hội chủ nghĩa theo định hướng kinh tế thị trường” cho tới nay.

Trước ông Phó Thủ Tướng Trần Phương rất lâu, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, người cộng sản gạo cội, con cưng một thời của Đảng CSVN đã phải nhận xét rằng người Cộng Sản bị phân đôi:

“Ngồi với nhau thì trao đổi chân thật, thì nói một đàng; mà khi họp lại bàn bạc, viết lên báo chí thì lại nói một nẻo. Trong mỗi người Cộng Sản có hai con người: con người thật và con người giả. Làm sao có thể xây dựng một xã hội mới với những con người giả. Làm sao có thể xây dựng một cái gì tốt đẹp và bền vững trên một nền tảng giả?”

Nhận xét của “ông bác sĩ cộng sản” Nguyễn Khắc Viện đem áp dụng vào “ông nhà thơ cộng sản” Tố Hữu thì không sai một chút nào: Chính ông ta đã là người đã làm cho bao nhiêu cuộc đời của những văn nghệ sĩ dính líu vào vụ Nhân văn – Giai phẩm bị “rạn vỡ. bị ruồng bỏ và bị lưu đày”; nhưng về cuối đời thì ông ta lại nói những lời “nhân nghĩa bà Tú Đễ” khiến ai nghe cũng muốn ứa gan và khinh bỉ về chuyện nói láo trắng trợn không biết ngượng của một kẻ đã từng “hét ra lửa, mửa ra khói” đối với những trí thức và văn nghệ sĩ hàng đầu miền Bắc.

Không ai tố cáo chồng chính xác bằng vợ. Người cộng sản tố cáo người cộng sản thì chắc chắn phải là sự thật. Ông Bùi Quang Triết, tức cố nhà văn Xuân Vũ là người miền Nam tập kết ra Bắc, sau khi thấy rõ mặt thật của thiên đường xã hội chủ nghĩa do “Bác” Hồ xây dựng, nhà văn bèn “tung cánh chim tìm về tổ ấm”. Ông nhà văn “chiêu hồi” Xuân Vũ khi định cư tại Hoa Kỳ đã viết về những nạn nhân của nhà thơ Tố Hữu, người đã từng làm Phó Thủ Tướng của nước Cộng Hoà Xã Nghĩa Việt Nam như sau:

“… Ai cũng biết ở miền Bắc có hai nhà trí thức lớn nhất dân tộc Việt Nam: Đó là cụ Nguyễn Mạnh Tường và cụ Trần Đức Thảo. Cụ Nguyễn được phép sang Paris chơi vài tháng đâu hồi 92 thì phải. Về Hà Nội cụ viết cuốn “Kẻ bị khai trừ”. Người ta hỏi, cụ không sợ bị tù à? Cụ bảo tôi 82 tuổi rồi còn sợ gì?

Cụ Trần cũng được Hà Nội cho sang Paris công tác (gì đó không hiểu – vận động trí thức Pháp và trí thức nước ta chăng?). Ở đây cụ đã nói chuyện trước nhiều loại thính giả. Trong một cuộc nói chuyện cụ bảo: “Chính Mác sai!” Người ta hỏi tại sao? Cụ bảo: “Mác lấy các điểm trong duy tâm luận của Hégel (không phải Angels) ra làm duy vật biện chứng. Duy tâm áp dụng trên trời dù có sai cũng chẳng hại ai, còn duy vật đem ra dùng trên mặt đất sẽ làm chết người. (Mà chết người thật! Chết hàng trăm triệu người chớ không ít). Chỉ vài hôm sau, cụ qua đời.

Ai cũng biết Nhóm Nhân văn – Giai phẩm gồm toàn văn nghệ sĩ ưu tú của dân tộcđi kháng chiến 9 năm trở về Hà Nội, hãy còn chân ướt chân ráo đã quay ra chống Đảng quyết liệt: Hoàng Cầm, Văn Cao, Phùng Quán, Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Lê Đạt.

Phần lớn là đảng viên. Thế có lạ không?

Tại sao họ không yêu Đảng của họ nữa? Hỏi tức là trả lời vậy.

Nhạc sĩ Văn Cao vừa mới qua đời. Trước khi nhắm mắt, ông nói: “Bây giờ tôi không còn sợ gì nữa. Tôi cứ nói…. Tố Hữu đã ‘phạt’ tôi 30 năm không sáng tác được gì”.

Đau đớn cho ông là năm 1994, trong một buổi lễ phát phần thưởng về âm nhạc, ông được xếp hạng 13 (gần hạng bét) đáng lẽ phải là hạng nhất, không có hạng 2 đến hạng 10.

Trên đây tôi vừa liệt kê một vài trường hợp trí thức văn nghệ sĩ xã hội chủ nghĩa chống Đảng, thà chịu khổ nhục nhận “hình phạt đày ải” của đảng Cộng sản, chớ không thay đồi thái độ với nó kể từ khi họ bắt đầu “ghét” Đảng. Nhìn kỹ lại không thấy ai nói “ghét” thành “yêu” đối với CS bao giờ. Những người trước kia yêu, nay cũng ghét Đảng.

Khi đọc những bài tường thuật về các buổi nói chuyện của cụ Trần Đức Thảo ở Paris, tôi mới thấy não lòng. Một triết gia độc nhất của Việt Nam được người ngoại quốc kính nể trên thế giới lại không được dùng đúng chỗ ở chính quê hương mình. Phải biết rằng chính cụ cũng mê Mác-xít khi còn ở Paris nên cụ đã xin về Việt Nam để phục vụ đất nước trong công cuộc kháng chiến chống Pháp, xây dựng thiên đàng. Về đến nơi thì than ôi! Thiên đàng đâu không thấy chỉ thấy tang thương địa ngục. Nhiều người đứng ở ngoài xã hội chủ nghĩa cứ tưởng nó là thiên đường. Nhưng khi nhảy vào sống với nó rồi mới biết mặt mũi nó mồm ngang, miệng dọc ra sao. Chừng đó có muốn thối lui cũng không được. Phải dũng cảm ghê gớm mới dứt nổi “đường tơ”. Nếu Mác bảo tôn giáo là thuốc phiện mê hoặc con người thì Mác-xít chính là thuốc độc giết chết con người. Và tác hại vô cùng cho dân tộc nào cưu mang nó. Picasso về già mới trả thẻ đảng. Howard Fast cũng xin ra đảng lúc gần đất xa trời. Phải khó khăn lắm mới nhận ra được mặt thật của nó. Chẳng thế mà dân Liên Xô bị bịp trên 70 năm?

Tôi cũng đã sống 10 năm trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Tôi không có lý luận như cụ Trần, nhưng bằng cảm tính nảy ra trong sinh hoạt hàng ngày, trước tiên tôi thấy chủ nghĩa Mác nó kỳ cục. Nếu biết trước nó như thế này thì không ai đi đánh Tây làm gì. Bởi vì như Nguyễn Chí Thiện nói (đại ý):

So với Đảng thì móng vuốt Thực dân êm dịu gấp 10 lần!”

Nhưng đã lỡ nhúng chàm rồi, có nhiều người đành cam chịu, không nói ra, để cho những người hậu tiến mắc lầm như mình. Dại rồi nên ngừa cho người khác đừng dại như mình.

… Người Cộng Sản hễ nói là nói láo. Nhưng trước đây vẫn có nhiều người tin. Tin rằng chính sách hợp tác xã, tổ chức quốc doanh đều tuyệt vời, tin rằng Liên Xô là số dách. Nay thì dân chúng đã thấy rõ giữa miền Bắc và miền Nam ai hơn ai, giữa Liên Xô và Hoa Kỳ ai đi trước ai (những 50 năm).

Tất cả nhân loại đều đã bừng mắt trước một sự thực vô cùng rõ rệt: chủ nghĩa Cộng sản chỉ là một sự ngu xuẫn và chính những kẻ theo đuổi nó gần 1 thế kỷ nay cũng không hiểu nó là cái gì…”

Nhà thơ cộng sản Tố Hữu đã chết!

* Nhà văn Xuân Vũ “tay trót nhúng chàm” theo cộng sản – như lời tự thú của ông, sau đó đã từ bỏ thiên đường cộng sản, đã chết!

* Những người trong nhóm Nhân Văn – Giai phẩm mà cuộc đời của họ đã bị ông Tố Hữu làm cho “rạn vỡ, bị ruồng bỏ và bị lưu đày” cũng đã chết!

* Bi thảm nhất là cái chết của ông Nguyễn Hữu Đang, kẻ đã dựng lễ đài để ông Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn. Cả cuộc đời của ông đã bị trù dập đến tận cùng bằng số: “nhà” của ông là một lõm sâu bằng thân mình ông cạnh một khóm tre làng, cứ như là một huyệt mộ của ông ngay khi còn sống. Sinh kế của ông là mỗi ngày đi nhặt các báo thuốc lá để đổi cóc, nhái từ bọn trẻ con trong làng để nấu ăn. Và ông đã sống như thế cho đến khi nhắm mắt lìa đời.

Viết đến đây tôi cảm thấy tim mình đau nhói.

“Tôi không biết khóc bao giờ

Mà sao giọt lệ ấm bờ mi thâm?

- nói theo cách nói của một nhà thơ nào mà tôi đã quên tên.

Những người trí thức, những văn nghệ sĩ của chế độ, đã góp phần xây dựng chế độ ngay từ đầu mà còn bị ruồng bỏ, bị trừng phạt thê thảm, khủng khiếp đến như thế thì còn nói gì đến những người đã từng đối đầu với chế độ!

Hình như nói dối là cái “gen” di truyền từ ông Hồ Chí Minh đến các lãnh tụ thừa kế của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Người thừa kế xuất sắc cái “gen” nói dối di truyền của “Bác” Hồ là nhà thơ Tố Hữu – nói dối không biết ngượng miệng, nói dối không chớp mắt, nói dối cứ như thiệt!

Cái “gen” nói dối của “Bác” Hồ, của Tố Hữu đang di truyền qua Nguyễn Tấn DũngTrương Tấn Sang và Nguyễn Phú Trọng.

Ông nói chống tham nhũng thì lại là Vua Tham Nhũng!

Ông thì tuyên bố “trừ sâu trong nồi canh”; nhưng chắc chắn là sẽ có hàng trăm bầy sâu do ông ta… đẻ ra vì ông ta là Vua Sâu Bọ!

Và ông Tổng bí thư “Mạc” Phú Trọng thì lúc nào cũng lăm le tự trói tay, trói chân quỳ lết đem giang san gấm vóc của tổ tiên đem dâng cho giặc phương Bắc để giữ vững ngai vàng!

* Trong tác phẩm “Darkness At Noon” (tạm dịch Bóng Tối Giữa Trưa) của Arthur Koestler có nhân vật Rubakov – lãnh tụ đảng CS – lúc sắp bị hành quyết về tội phản đảng đã quỳ xuống sám hối và tạ lỗi. Không tạ lỗi với Đảng, với Nhà Nước, với chủ nghĩa Mác-Lê. Mà tạ lỗi với đồng bào, với tổ quốc, với lịch sử!

Bao giờ thì lãnh đạo đảng CSVN sẽ quỳ xuống sám hối và tạ (tội) lỗi với đồng bào, với tổ quốc, với lịch sử?!

NGUYỄN THIẾU NHẪN


MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM

Download  Bí mật chưa được tiết lộ về MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM

Đồng bào miền Nam VN, ai cũng biết rằng CS chiếm được miền Nam nhờ “mặt trận giải phóng miền Nam” . Từ “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam” qua “Liên Minh Dân Chủ”, rồi đến “Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam VN”

Thành viên của mặt trận, ở miền Nam do kỹ sư Hồ Văn Bửu, từng là ủy viên của chính phủ lâm thời (ngang hàng Bộ trưởng), hồi chánh năm 1970 kể lại. Tập hồi ký này không xuất bản, chỉ dành cho các bạn thân của ông. Bản chính tập hồi ký đó, và được phép khai thác để cống hiến độc giả. Hiện ông kỹ sư Bửu vẫn còn trong trại tỵ nạn Thái Lan.

Ông Hồ Văn Bửu sinh năm 1932 tại Biên Hòa Thân phụ là ông Hồ Văn Tam, nhà giáo, sau khi hồi hưu làm chủ tịch hội đồng chủ tịch tỉnh Biên Hòa 1962-1963. Năm 1948, ông Bửu qua Pháp du học cùng chuyến tàu với Đỗ Cao Trí, lúc dó qua Pháp học về nhảy dù. Ông vừa là bà con vừa là bạn học với cố Đại tướng Đỗ Cao Trí. Qua Pháp, ông Bửu theo học trường Bernard Palassy ở Monpellier, sau dó lên Paris tiếp tục học và đổ kỹ sư Canh nông năm 1958. Năm sau ông về miền Nam được chính phủ VNCH bổ nhiệm làm phụ tá cho tiến sĩ Thái Công Tụng đang làm trưởng bang Thổ nhưỡng Trường kỹ thuật nông nghiệp.

Kể từ năm 1964, ông thôi làm công chức ở Bộ canh nông, qua làm chuyên viên khảo cứu cao su cho các đồn điền cao su Pháp ở miền Đông Nam phần. Trong những năm còn là sinh viên ở Pháp, ông Bửu đã có cảm tình với VC vì bị tổ chức Liên hiệp Việt kiều của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện tuyên truyền. Lúc đó ở Pháp, nhiều trí thức mới tốt nghiệp như ông, còn ngây thơ hính trị, chưa hiểu Cộng Sản là gì, đến khi có người tuyên truyền về chủ nghĩa Cộng Sản, họ thấy tốt đẹp, nên theo, rồi bị mắc lừa. Cụ thể có bác sĩ Trương Công Trung tức Hai Ngọ, kỹ sư Phạm Tám, kỹ sư Trần Văn Thiện, nghe lời đường mật của Cộng Sản hồi hương về Bắc. Nguyễn Khắc Viện vẽ ra trước mắt họ một chương trình “về phục vụ đất nước sau chiến thắng Điện Biên Phủ” với cả một tương lai rực rỡ. Về đến Hà Nội, các trí thức ấy được bổ nhiệm dưới quyền những tay CS bần cố nông, không biết chuyên môn. Hàng ngày, họ bị cán bộ nhồi sọ về chính tri, kiểm thảo thường xuyên. Vì thuộc thành phần tiểu tư sản, giới trí thức hồi hương này không bao giờ được đảng CS tin cậy, cũng không bao giờ cho giữ chức vụ chỉ huy nào cả.

Trường hợp ông Bửu có hơi khác. Khi làm chuyên viên cho Viện khảo cứu cao su cho các đồn điền Pháp, ông có dịp tới lui nhiều lần các đồn điền cao su nằm trong chỗ khuất vắng của các tỉnh miền Đông Nam phần, là nơi có du kích, cán bộ Cộng Sản núp lén hoạt động kể từ sau năm 1963. Thỉnh thoảng ông gặp họ, nói chuyện, bị họ tuyên truyền rồi ngả theo cái gọi la “mặt trận giải phóng miền Nam”, công cụ của CS Bắc Việt mà ông tưởng là tổ chức của người quốc gia yêu nước, có khuynh hướng độc lập, chống lại sự can thiệp vào nội bộ nước nhà của Mỹ. Khi đã lọt vào tay Cộng Sản rồi, thấy mình bị mắc lừa, ông Bửu chỉ tìm cơ hội vượt thoát khỏi cái tổ chức bịp bợm đó. Từ căn cứ của “chính phủ lâm thời” nằm sâu trên đất Miên, ông Bửu nhờ một người dẫn đường, tìm cách trốn qua Miên, bị cầm tù một thời gian, rồi bị trục xuất qua Lào. Ở đây ông bị điều tra mấy tháng rồi giải giao cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa.

Cuộc vượt thoát khỏi nanh vuốt của cộng sản phải mất sáu tháng. Sau năm 1975, ông bị bắt cầm tù cho đến cuối năm 1980 mới được thả. Về Saigon, ông sống không có trong tờ khai gia đình suốt mười năm, tìm cách vượt biên nhiều lần nhưng thất bại. Lần sau cùng, ông đến được trại tỵ nạn Thái Lan năm 1990, ông bị lọt sổ thanh lọc, chúng tôi thấy cách làm việc của Ban thanh lọc người tỵ nạn ở Thái Lan rất khó hiểu. Ông Bửu là một nhân viên cao cấp của CS, chống đối chế độ, trở về hồi chánh, rồi trốn thoát, bị tù đày, sau cùng vượt biên nhiều lần mới tới được bến tự do, nhưng không được nhìn nhận tư cách tỵ nạn chính trị. Ông có đủ giấy tờ chứng minh, hình ảnh báo chí ngoại quốc chụp khi ông công du Ấn Độ tố cáo chế độ cộng sản, thế mà vẫn bị đánh rớt. Không biết Ban thanh lọc đòi tiêu chuẩn của người tỵ nạn như thế nào mới gọi là hội đủ điều kiện của người tỵ nạn chính trị?

Phong Trào Hòa Bình, mở màn cho cuộc đấu tranh chính trị của CS ở miền Nam:

Hiệp định Geneva 1954 có điều khoản qui định rằng 2 năm sau, sẽ tổ chức một cuộc tổng tuyển cử để thống nhất đất nước. Tại miền Nam, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa biết rằng nếu tổ chức bầu cử, miền Bắc sẽ gian lận, và chiến thắng. Hơn nữa, viện lẻ chính quyền quốc gia không ký tên vào Hiệp định Geneva, nên chính phủ miền Nam tự coi mình không bị ràng buộc bởi những điều kiện trong đó. Năm 1956, Tổng thống Ngô Đình Diệm thông báo cho Chủ tịch Ủy hội Quốc tế Kiểm soát đình chiến ở VN, lúc đó là Đại sứ Ấn độ Christian Menon. Ông này vốn thiên Cộng, đã tìm cách thuyết phục chính phủ VNCH nhiều lần nhưng thất bại được tin đó, Hồ Chí Minh thất vọng ra mặt, nhưng HCM đã có chuẩn bị trước, cài nhiều cán bộ ở lại (từ 3000-5000 người) ngay khi ký Hiệp định Geneva. CS Bắc Việt phát động một hình thức đấu tranh chính trị mới: Đó là nguyên nhân chào đời của cái gọi là “phong trào đòi hòa bình và dân tộc tự quyết” ở miền Nam.

Để phát động phong trào này, trước hết cán bộ cộng sản nằm vùng bắt đầu hoạt động bí mật. Họ móc nối các trí thức ngây thơ, những người kháng chiến cũ đã bỏ họ về thành sau 1954. Cụ thể là Tạ Bá Tòng, cán bộ trí vận cộng sản tự là Năm Thới, hoạt động bí mật để tạo sự bất ổn trong dân chúng. Để mở đầu, Tạ Bá Tòng móc nối gia đình bác sĩ thú y Phạm Văn Huyến, nguyên là Tổng ủy trưởng Di cư năm 1954, có nhiệm vụ chuyên chở người tỵ nạn từ Bắc vô Nam! Gia đình ông Huyến có một người con gái tên là Phạm Thị Thanh Vân, lại có cảm tình với cộng sản. Bà ta kết hôn với ông Ngô Bá Thành nên lấy tên chồng để hoạt động trong hàng ngũ trí thức. Qua sự trung gian của gia đình bác sĩ Huyến, Tạ Bá Tòng tiếp xúc với nhiều trí thức bất mãn khác ở miền Nam, nhưng cũng không ưa cộng sản. Tạ Bá Tòng không bao giờ ra mặt. Từ trong tối, hắn chỉ thị cho bác sĩ Huyến, bà Ngô Bá Thành đi móc nối các vị lãnh đạo tôn giáo, các nhà báo, nhà giáo có uy tín để lập “liên hiệp hành động” chống sự can thiệp của Mỹ.

Giai đoạn này, mục tiêu của cộng sản là phát động một phong trào của dân chúng đòi “Hòa bình và Tự quyết”, có lúc báo chí miền Nam gọi là “Phong trào Hòa bình”. Mục đích sâu kín bên trong là yêu cầu chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thi hành Hiệp định Geneva, tổ chức Tổng tuyển cử để thống nhất đất nước, để “mọi người dân tự quyết lấy số phận đất nước và thể chế tương lai của Việt Nam”. Phong trào này còn hô hào tẩy chay người Mỹ can thiệp vào nội tình miền Nam Việt Nam. Cán bộ cộng sản chỉ đạo phong trào không bao giờ ra mặt. Chúng núp lén để ra chỉ thị. Chúng tìm một số gương mặt trí thức được quần chúng biết đến để lôi kéo những người lãnh chỉ thị của cộng sản mời các bạn bè, thân hữu, vốn chỉ có cảm tình với nhau thôi, đến nhà hàng Thanh Thế để ăn cơm. Tới nơi, mới biết chúng tổ chức họp báo và ra tuyên ngôn đòi hỏi, yêu sách như đã nói trên. Phiên họp vừa mới bắt đầu thì cảnh sát áp vào bắt đủ mặt (lời ông Bửu). Ông Bửu cũng có dự phiên họp này nhưng đã lanh chân chạy thoát.

Hôm đó, “Buổi họp báo ngụy trang dưới hình thức buổi tiệc” có những người sau đây:

– Luật sư Nguyễn Long

– Bà Ngô Bá Thành

– Bác sĩ Phạm Văn Huyến

– Kinh lý Đào Văn Nhơn

– Hoạ sĩ Đặng Văn Ký

– Kỹ sư Hồ Gia Lý

– Ký giả Cao Minh Chiếm

– Giáo sư Đại học Văn khoa: Tôn Thất Dương Kỵ…

Sau đó họ bị chính quyền VNCH đưa ra tòa xét xử. Những người trong Ban Chấp hành  bị 5 năm tù, những người bị mời ăn tiệc, chỉ mới ký tên bị 6 tháng tù ở. Luật sư Nguyễn Long trong Ban chấp hành bị 5 năm tù.  Ít lâu sau, chính phủ Ngô Đình Diệm nhất định đưa 3 ông: Bác sĩ Phạm Văn Huyến, Giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ và nhà báo Cao Minh Chiếm được gọi là “3 ông hòa bình” trục xuất ra Bắc qua ngã cầu Hiền Lương. Giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ, gia nhập đảng Cộng Sản Việt Nam năm 1947.

Khi hay tin “ba ông hòa bình” bị áp giải qua cầu Hiền Lương, Việt Cộng đã tổ chức một cuộc mít-tinh để đón tiếp và tuyên truyền. Đây cũng là một cuộc đấu tranh chính trị giữa hai miền Nam Bắc. Khi “Các ông hòa bình” được cảnh sát miền Nam dẫn độ ra đến sông Bến Hải, có khuyên các ông một lần chót nên xin ở lại để được khoan hồng, nhưng các ông đã lở leo lên lưng cọp rồi, khó xuống được. Cây cầu Hiền Lương lúc đó sơn hai màu khác nhau: phân nửa phía bên cộng sản sơn màu đỏ, phân nửa bên Việt Nam Cộng Hòa sơn màu xanh. Khi ba ông hòa bình vừa bước qua ranh giới phân chia Nam Bắc, công an Việt Cộng chạy tới tiếp dón, giành các túi xách của ba ông để ba ông rảnh tay đến dự cuộc mít-tinh do cộng sản tập trung dân chúng ở huyện Vĩnh Linh đến để tuyên truyền. Cuộc mít-tinh này gọi là dân chúng tự động họp mít-tinh chào mừng ba nhà trí thức yêu nước của miền Nam. Về sau, thân nhân của một trong ba vị ấy (xin giấu tên) nói rằng khi trở lại lấy túi đồ, thì túi đồ đã bị lục soát, bị mất đi mấy bộ đồ mới.

Ba ông hòa bình được phái đoàn miền Bắc đón tiếp ở cầu Hiền Lương, sông Bến Hải. Bác sĩ Phạm Văn Huyến mang số 1, Giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ mang số 2, ký giả Cao Minh Chiếm mang số 3. Sau đó, ba ông hòa bình được dẫn đi thăm viếng các xí nghiệp, nông trường và hợp tác xã ở miền Bắc để tuyên truyền cho chính sách đoàn kết chiến đấu của Việt Cộng. Số phận của ba nhà trí thức miền Nam này ra sao?

Hết gia đoạn tuyên truyền rồi, cả ba ông được đưa sang Cam-bốt để tiếp tục làm công tác đánh lừa dư luận dân chúng hải ngoại với đường lối mới, đòi “trung lập hóa miền Nam theo chủ trương của Tổng Thống De Gaulle là trung lập hóa toàn thể Đông Dương”. Trái lại, lúc này quốc trưởng Sihanouk không đồng ý sự có mặt của ba ông hòa bình trên xứ Chùa Tháp, nên ra lịnh cho cảnh sát mời ba ông đến yêu cầu rời khỏi lãnh thổ Cam-bốt lúc nào thuận tiện nhất. Họ khuyên ba ông làm đơn lên quốc trưởng Sihanouk, để xin đi bất cứ nơi nào cũng được. Riêng một mình giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ làm đơn xin ra Bắc, được bố trí làm Tổng thư ký Mặt Trận Liên Minh Dân Chủ của luật sư Trịnh Đình Thảo sau này. Đó là chức vụ hữu danh vô thực, khiến ông chán nản, và bất mãn từ đó. Còn hai ông Phạm Văn Huyến và Cao Minh Chiếm thì xin qua Pháp, không bị Việt Cộng lợi dụng nữa.

“Phong trào hòa bình và Tự quyết” của CS bị thất bại. Nó tạm lắng dịu một thời gian chờ cơ hội khác tái sinh dưới một tổ chức khác để rù quến những con mồi ngây thơ khác, đó là Liên Minh Dân Chủ của luật sư Trịnh Đình Thảo.

Chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ là một nguy cơ cho đất nước. Thời kỳ sau cuộc đảo chánh 1/11/1963, miền Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng lãnh đạo trầm trọng, khủng hoảng về đường lối chiến tranh (quốc sách Ấp Chiến Lược đang có hiệu quả, nhưng vì mặc cảm với chế độ củ, nên bãi bỏ để lập Ấp Đời Mới, Ấp Tân Sinh, đó chỉ là các hình thức vá víu tạm bợ). Chế độ mới chỉ lo thỏa mãn tham vọng của mình và lo trả thù những quân nhân, công chức có liên hệ với chế độ cũ, làm thiệt hại đến tiềm năng chiến đấu chống cộng sản.

Tất cả những điều đó tạo ra sự bất ổn chính trị, chia rẽ và CS liền khai thác triệt để, đưa cán bộ xâm nhập vào dân chúng miền Nam để tuyên truyền, móc nối với các thành phần trí thức, tôn giáo. Nhiều trí thức trong “Phong Trào Hoà Bình” lúc trước đã mãn hạn tù. Họ bất mãn chính phủ VNCH. Khi CS chủ trương mở ra mặt trận tranh đấu mới thì họ sẵn sàng tham gia, đó là “Liên Minh Dân Chủ” của luật sư Trịnh Đình Thảo. Lúc này Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đã chào đời, nhưng chỉ đóng trong rừng. Cục R và mặt trận này cứ dời đổi địa điểm tới lui 2 bên con sông nhỏ, làm ranh giới giữa Tây Ninh và Kampuchea. MTGPMN ra đời mấy năm nhưng tỏ ra không hữu hiệu, nên họ mới dựng ra cái gọi là “Liên Minh Dân Chủ”, để lôi cuốn trí thức tranh đấu ngay trong vùng chính phủ VNCH kiểm soát. Trịnh Đình Thảo là người miền bắc, sinh trong một gia đình có tiếng tăm, cả thảy bốn anh em, đều đổ đạt, hay giữ chức vụ quan trọng trong chính quyền Pháp thuộc. Người anh cả là Trịnh Đình Huyến, tốt nghiệp Trường Canh nông Hà Nội, là đốc công ở Bạc Liêu, người anh kế tốt nghiệp Trường Công chánh, và người em gái út gã cho một luật sư ở Hà Nội. Ông Thảo tốt nghiệp tiến sĩ Luật khoa bên Pháp, về mở văn phòng luật sư ở Saigon.

Buổi họp đầu tiên của Liên Minh Dân Chủ vào tháng 1/1964 tổ chức tại nhà ông Kinh lý Đào Văn Nhơn, đường Hàn Thuyên, thẳng góc với Dinh Độc Lập. Lời ông Bửu:

“Trước ngày họp, tôi được tiếp xúc với một cán bộ VC tên Tư Đen mời tôi tới làm thư ký cho Liên Minh đó. Phản ứng đầu tiên của tôi là từ chối, vì lẽ tôi đang ở trong tuổi động viên, đi lính VNCH. Tư Đen lý luận rằng, “Trong số thư ký đó, cũng có Lý Chánh Trung và Nguyễn Văn Trung (giáo sư Đại học Văn khoa) cũng ở lớp tuổi của anh có sao đâu!” Tôi suy nghĩ một lúc rồi cũng nghe theo lời của anh ta, để rồi hôm sau tôi đến chỗ họp.

Tại nhà ông kinh lý Đào Văn Nhơn, vào lúc 16 giờ, có mặt gần như đông đủ hết các trí thức được mời. Kế tiếp, thẩm phán Trần Thúc Linh, thuyết trình mục đích và yêu cầu việc thành lập Liên Minh Dân Chủ. Sau khi Trần Thúc Linh kêu gọi anh em đóng góp ý kiến, thì giáo sư Lý Chánh Trung mới đặt vấn đề:

– Người ta mời tôi vào một tổ chức quốc gia mà trong chương trình hành động không có đề cập đến vân đề chống CS, thì vô tình chúng ta sẽ bị chánh quyền chụp mũ rằng chúng ta hoạt động có lợi cho CS thì sao?

Chỉ một mình Trần Thúc Linh trả lời rằng:

– Chúng ta là những người dân không bị CS cai trị. Chúng ta không có cơ sở nào nêu lên vấn đề chống Cộng.

Cuộc họp gây cấn sắp đổ vỡ. Đến giai đoạn bầu ban chấp hành, thì ông Kha Văn Dưỡng, dân biểu khóa I của VNCH được bầu làm chủ tịch.

Các chức vụ khác như sau :

– Phó chủ tịch : Luật sư Trịnh Đình Thảo.

– Tổng thư ký : Trần Thúc Linh.

– Phó Tổng thư ký

– Ủy viên: Bà Ngô Bá Thành, Nhà văn Thanh Nghị, Thiếu Sơn…

Sau cuộc họp, chủ nhà mới ăn tiệc thì tôi được rỉ tai rằng : “Chỉ làm biên bản đưa về Cục R, chứ không đứng tên, tức là VC có âm mưu sử dụng tôi (Hồ Văn Bửu) vào việc khác”.

Chừng một tuần sau, tôi đọc báo được biết rằng con trai của ông Kha Văn Dưỡng là Thiếu tá quân lực VNCH (1964) viết báo đính chánh: Cha của anh được mời đi ăn tiệc, rồi tên ông ta (Kha Văn Dưỡng) được đưa lên làm chủ tịch “Liên Minh Dân Chủ” mà chính ông không biết. Một vài ông khác cũng viết báo đính chính, cho nên liên minh này của VC chết ngay sau khi công bố danh sách, và chính phủ VNCH cũng không bắt bớ ai cả.

Tuy nhiên qua hành động quá lộ liễu của ông Trần Thúc Linh, hoạt động chống phá VNCH mà chính quyền không đủ chứng lý để bắt ông ta. Vào một ngày nào đó của năm 1967, con trai ông đang học năm thứ hai trường Đại học Y khoa Saigon, bị hai thanh niên lực lưỡng từ bên ngoài, đột nhập vào trường Y khoa, bắt ném qua balcon từ lầu hai xuống đất. Chú sinh viên y khoa năm thứ hai này chết ngay tại chỗ. Đó là hành động trả đủa của ông Thiệu hay ông Kỳ gì đó (lời ông Bửu), cho nên công an VNCH khỏi mất công đi tìm thủ phạm.

Sau lễ an táng con trai, ông Trần Thúc Linh có đăng báo cáo phó, cám ơn các bộ trưởng và thân hào nhân sĩ đã chia buồn với gia đình ông. Vả lại, khi thấy sinh mạng bị đe dọa, Trần Thúc Linh không còn dám hoạt động cho CS nữa. Trái lại, hành động ném lựu đạn giết chết luật sư Dương Trung Tín (anh ruột bà Dương Quỳnh Hoa, theo CS) tại nhà ở Đà Lạt đã thúc đẩy bác sĩ Dương Quỳnh Hoa chạy theo VC sau cuộc Tổng công kích Mậu Thân của CS năm 1968. Luật sư Tín là người đã từng mang thư riêng của Lê Duẩn gởi cho luật sư Nguyễn Hữu Thọ để móc nối ông này tham gia MTGPMN vào năm 1960.

CS sắp đặt cuộc tiếp xúc của trí thức miền Nam và Đặc sứ lưu động Mỹ: Cuộc tiếp xúc này cũng là một đòn chính trị của VC, nói thẳng cho Mỹ biết thái độ của trí thức thân Cộng miền Nam muốn đuổi Mỹ, muốn Mỹ ngưng viện trợ, rút cố vấn, và không can thiệp vào nội bộ miền Nam. Người Mỹ cũng tò mò, họ muốn biết quan điểm ra sao của một số trí thức không ủng hộ chính phủ VNCH hiện hữu, mà cũng chưa ra mặt hoạt động cho CS. Liên Minh Dân Chủ thất bại, CS xoay qua một hình thức tranh đấu khác, lợi dụng các nhà trí thức ngây thơ về CS. Đây không phải là một phong trào, mà chỉ là một cuộc trực diện đấu khẩu với Mỹ, do CS chủ mưu từ trong bóng tối. Họ đâu có người trí thức. Họ chỉ lợi dụng trí thức làm công cụ để họ đạt được mục đích mà thôi, phần này chúng tôi ghi lại lời thuật của ông Bửu.

Vào năm 1965, qua sự sắp xếp của CS, chúng tôi một số trí thức có cảm tình với CS được đưa đến một nhà hàng để gặp gỡ với Đặc sứ lưu động của TT Johnson. Buổi tiệc này được tổ chức bí mật tại một phòng trên lầu 3 nhà hàng Á đông trong Chợ Lớn. Đúng giờ hẹn, chúng tôi đến thì ông Yamato đã có mặt một mình trong phòng khách, đang xem báo. Qua lời giới thiệu của bà Ngô Bá Thành, chúng tôi chào hỏi xã giao bằng tiếng Pháp. Ông Yamato mời chúng tôi vào phòng ăn. Bửa cơm Tàu thịnh soạn được lần lượt dọn lên, không có ai uống rượu cả, và đàm thoại tự do, không có máy ghi âm. Mục đích của ông đại sứ này là đi nhiều nước, tiếp xúc với giới trí thức và chính quyền sở tại để thăm dò ý kiến về việc Mỹ trực tiếp tham chiến ở VN. Ông trò chuyện với người ngồi kế bên. Rồi ông tự động xin đổi chỗ ngồi để tiếp chuyện với từng người một. Ông hỏi tôi :

– Ông nghĩ gì về cuộc chiến tranh hiện naỵ

Tôi đáp:

– Thưa ngài đại sứ, cuộc chiến tranh này không thấy chiến thắng quân sự. Người Mỹ có phương tiện hiện đại và vũ khí tối tân, nhưng không tiêu diệt được người du kích CS. Chúng tôi đề nghị người Mỹ đình chiến để thương thuyết và rút quân Mỹ đi thì sẽ có hòa bình. Bởi chiến tranh lâu dài chỉ gây chết chóc cho “người dân vô tội”.

Ông ta (Yamato) nói thêm:

– Các anh có tiếp xúc với bên kia (CS) không?

Tôi (Bửu) trả lời không.

Ông Yamato nói:

– Hãy chờ đợi vài năm nữa sẽ chấm dứt chiến tranh.

Kế đó, ông chuyển ghế để ngồi gần người khác và tôi không nghe ông hỏi gì thêm.

Chúng tôi gồm có luật sư Trịnh Đình Thảo, bà Ngô Bá Thành, thẩm phán Đỗ Quang Huệ, thẩm phán Trần Thúc Linh, kỹ sư Trương Như Tảng, kỹ sư Hồ Gia Lý, kỹ sư Tô Văn Cang (KN: một cán bộ cao cấp của VC; người sau này chứng nhận sự đầu hàng của Dương Văn Minh trong Dinh Độc Lập), bác sĩ Trần Văn Du, Kinh lý Đào Văn Nhơn, hoạ sĩ Đặng Văn Ký và kỹ sư Hồ Văn Bửu.

Cuối cùng, ông đại sứ Yamato mới lên tiếng cho cả bàn tiệc nghe rằng trước đây ông đã từng đi Âu Châu, sang Đông Nam Á, tiếp xúc với các chính quyên địa phương, rồi trạm chót là VN, để gặp gỡ các trí thức VN, trước khi ông về Mỹ báo cáo cho TT Mỹ… Tiếp đó, ông đưa ra một quyển sổ yêu cầu mỗi người ghi tên họ, tuổi tác và nghề nghiệp của mình. Cuối cùng ông vui vẻ đứng dậy chia tay từng người, và chúc sức khoẻ. Ông yêu cầu mọi người kiên trì chờ đợi ngày hoà bình sẽ đến VN không xa lắm đâu.

Cũng theo lời ông Bửu, lúc đó Mỹ chưa trực tiếp tham chiến tại VN. Vài tháng sau, Mỹ đổ quân ào ạt vào Saigon và Đà Nẵng.  Sau cuộc gặp gỡ đại sứ Yamato thì vài tháng sau, có một số người Mỹ tìm gặp một số trí thức VN đối lập với chính quyền VNCH. Một dịp tình cờ, tôi đến nhà ông Trịnh Đình Thảo ở Hạnh Thông Tây, Gò vấp, lời ông Bửu, đây là một vườn xoài rộng 6 mẫu, ông Thảo cho xây một nhà đúc kiên cố, theo kiểu nhà khách ở bịnh viện Cộng Hòa.

Chúng tôi ngồi uống trà dưới bóng mát của 3 cây xoài, trên những ghế đá mài. Tôi được ông Thảo giới thiệu với một người Mỹ nói tiếng Pháp, còn tôi được gọi là kỹ sư không xưng tên. Sau lời chào hỏi lịch sự theo xã giao Tây phương, chúng tôi nói chuyện thoải mái với ông Mỹ này. Tôi nói:

– Nguyện vọng của chúng tôi là yêu cầu Mỹ rút quân để vấn đề chiến tranh này cho người VN giải quyết với nhau.

Người Mỹ đáp:

– Nếu quân đội Mỹ rút đi, thì CS sẽ chiếm miền Nam.

Tôi nói tiếp:

– Nếu CS có thắng thì chúng tôi hợp tác với họ trong hòa bình, không còn bắn giết nhau nữa, người dân Việt Nam mới sống yên ổn, sinh hoạt bình thường, không còn lo sợ chiến tranh.

Người Mỹ này đứng dậy, lấy khăn lau mồ hôi trán, rồi chậm rãi đáp:

– Nếu CS vào Saigon, thì sẽ bắn giết lực lượng VNCH. Saigon sẽ thành biển máu lửa. VC sẽ bỏ tù hết các ông.

Tôi đáp ngay:

– Chúng tôi là dân sự, không chống đối họ thì họ sẽ trọng dụng chúng tôi, nhất là chúng tôi là những chuyên viên về kinh tế, kỹ thuật, có thể phục vụ cho đất nước bất cứ lúc nào cũng được.

Ông Mỹ nói:

– Ông còn ảo tưởng lắm! Người CS có đường lối độc tài của họ, không sử dụng người trí thức đâu. Họ sẽ tiêu diệt giai cấp bằng cách quốc hữu hóa tài sản của người dân, biến con người thành công cụ sản xuất, nhằm bảo vệ giai cấp lãnh đạo của họ, được gọi là giai cấp công nhân thất học đó.

Tôi có cảm tưởng khinh thường ông Mỹ này, vì tôi cho rằng ông đi tuyên truyền chống cộng như con vẹt. Tôi đáp:

– Xin lỗi ông, tôi không tin!

Trong khi đó, trước sự chú ý của nhà văn Thanh Nghị, Hoàng Trọng Quỳ, ký giả Hoàng Trọng Miên, bà Ngô Bá Thành, kỹ sư Trần Văn Quyến, ký giả Thiếu Sơn, kỹ sư Hồ Gia Lý…thì ông Thảo cắt ngang lời nói của tôi. Ông nói:

– Cháu còn trẻ nên còn hăng đấy.

Ông Mỹ cười và quay sang bà Ngô Bá Thành ngồi kế bên nói chuyện một lúc. Rồi ông nói rõ lập trường của Mỹ như sau:

– Người Mỹ sang VN chiến đấu vì lý tưởng tự do và bảo vệ tự do cho dân tộc VN. Với tư cách một người trí thức Mỹ, tôi tin rằng số đông trí thức VN đều có du học ở phương Tây, sẽ hiểu biết được thực tâm của chính phủ Mỹ, để không chống đối Mỹ tiến hành chiến tranh ở VN, nhằm ngăn chặn làn sóng sẽ do Trung Cộng đang muốn bành trướng sang VN và Đông Nam Á. Trong dịp này, CS núp dưới chiêu bài “giải phóng miền Nam”, để rồi sau khi chiếm được VNCH, họ sẽ thôn tính luôn cả Lào và Kampuchia.

Qua cuộc tiếp xúc này, tôi được biết ý định của Mỹ, nhưng tôi vẫn xem Mỹ là kẻ xâm lược VNCH, vì lẽ “người dân có kêu Mỹ tham chiến đâu”! Tự nhiên người Mỹ vào thay thế người Pháp sau Hiệp định Geneva 1954 và cai trị chế dộ VNCH xuyên qua các chính quyền do Mỹ dựng lên. Sự có mặt của người Mỹ như chủ nhân ông, không có chính nghĩa. Đối với lương tri con người, mặc dù chính quyền Mỹ đã tốn rất nhiều tiền, và thanh niên Mỹ phải bỏ mạng ở chiến trường VN. Bởi vì nếu CS xâm lược thì nhân dân miền Nam có quyền tự vệ và đánh đuổi CS ra Bắc Việt Cũng bởi vì quốc sách Ấp Chiến Lược của VNCH đang tỏ ra hữu hiệu thì Mỹ lại thay đổi chính sách chống Cộng!

Hoạt động của “Chính phủ Lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam”:

Sau khi MTGPMN không còn hữu hiệu nữa, CS giải tán để lập thành “Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Miền Nam VN”. Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa từ Ban Y tế qua làm Bộ trưởng Y tế. Các ông trong Ban tuyên huấn mặt trận thì trở thành Bộ trưởng Thông tin hay Giáo dục. Các ông già như ông Trịnh Đình Thảo, Lê Văn Giáp, Lâm Văn Tết ra Bắc lánh nạn. Vợ chồng Thiên Giang, Trần Kim Bảng ra Bắc để qua Đông Đức chữa bệnh. Lâm Văn Tết là kỹ sư, có chân trong Thượng hội đồng quốc gia, thành lập sau khi lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm. Tết được Trần Bạch Đằng móc nối theo CS.

Sau khi chính phủ ma này được dựng lên thì nó được lệnh của CS Bắc Việt tổ chức đi thăm hữu nghị chính phủ Hoàng gia Kampuchia. Trong buổi họp, đại diện chi bộ đảng là Huỳnh Tấn Phát tiết lộ cấp trên chỉ định “chị Bảy Hồng”, tức bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, tham gia phái đoàn của chính phủ do Huỳnh Tấn Phát cầm đầu. Trên thực tế, phái đoàn này gồm toàn thể cán bộ cao cấp của Đảng CSVN, chỉ có 2 người của “chính phủ cách mạng lâm thời” như kể trên. Phái đoàn được dự trù tự động đến thị xã Swayriêng thì xe chính quyền Kampuchia đón rước đưa về Phủ Thủ tướng cho Lon Nol tiếp đón. Sau nghi lễ tiếp đón ở dinh thủ tướng, Lon Nol, thủ tướng chính phủ hướng dẫn phái đoàn “chính phủ cách mạng lâm thời” đến hoàng cung ra mắt thái tử Sihanouk và hoàng hậu Monique. Tối lại, phái đoàn được mời dự tiệc và nghỉ đêm tại nhà khách của hoàng cung. Qua hôm sau, Huỳnh Tấn Phát, Dương Quỳnh Hoa, Hoàng Bích Sơn và Nguyễn Văn Hiếu được Sihanouk hướng dẫn đi thăm các cơ sở văn hóa của kampuchia như Chùa Vàng, Chùa Bạc và vài cơ sở kinh tế trong thành phố Nam Vang. Trong khi đó, phái đoàn chuyên viên kinh tế giữa 2 chính phủ làm việc với nhau.

Cụ thể như VC cần mua 90,000 tấn gạo, nhưng VC ký hiệp định mua của Kampuchia  60,000 tấn thôi, vì lẽ VC cảnh giác rằng chính phủ Kampuchia có thể lật lọng thì CS sẽ ở vào thế bí. Còn 30,000 tấn gạo kia thì sẽ giữ bí mật để mua gạo chợ đen của dân chúng Miên tự động chở xuống biên giới Việt-Miên bán cho cơ quan hậu cần của VC. Qua 3 ngày viếng thăm chính thức Kampuchia, “chính phủ cách mạng lâm thời” muốn mua lòng Sihanouk, nên biếu cho Kampuchia năm hòn đảo của VN đối diện với thành phố Kép của Kampuchia . Năm hòn đảo này nguyên là chủ quyền của VNCH, có dân cư VN đang sinh sống và VC biếu không cho Kampuchia để lấy lòng Sihanouk, nhờ y cho phép chỡ vũ khí từ Kompongsom lên biên giới Việt-Miên theo giá biểu 4000-5000 riel một tấn.

Thái Tử Norodom Sihanouk bắt tay ông Trương Như Tảng, bộ trưởng Bộ Tư Pháp của Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời miền Nam. Sau 1965. Sihanouk từ bỏ đường lối trung lập giữa hai khối tư bản và cộng sản mà ngả về phía Cộng sản bằng cách ký kết với Trung Cộng và miền Bắc cho phép miền Bắc đưa vũ khí vào Cam Bốt qua hải cảng Sihanoukville rồi chuyển qua biên giới Việt Miên vào miền Nam.

Nói về sự lãnh đạo của đảng CS, thì trong phái đoàn này có Hoàng Bích Sơn của Bắc Việt là người trực tiếp đưa ra đường lối và chủ trương của đảng, vì lẽ Sơn là người với danh nghĩa thư ký của MTGPMN, nhưng lại lãnh đạo trực tiếp Nguyễn Hữu Thọ trong thời kỳ chiến tranh VN. Còn tại “Phủ chủ tịch” của “Chính phủ Cách mạng Lâm thời” thì tên Tư Dũng là Bí thư đảng đoàn của Phủ chủ tịch, tức là lãnh dạo luôn cả Huỳnh Tấn Phát trong mọi sinh hoạt. Còn ở Tòa Đại sứ VC ở nam Vang, thì tên Ba Dũng là Đệ nhất bí thư Toà Đại sứ, lãnh đạo Đại sứ Nguyễn Văn Hiếu, mặc dù Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát và Nguyễn Văn Hiếu đều là đảng viên, nhưng không thuộc thành phần công nhân và bần cố nông vô sản, nên không được quyền lãnh đạo theo chủ trương của Đảng CSVN. Tôi nói rõ như vậy để chứng minh rằng CSVN không bao giờ sử dụng khả năng của người trí thức. Nếu người trí thức đó do chế độ tư bản đào tạo mà đứng được trong hàng ngũ CS thì có 2 lẽ: một là đảng viên kỳ cựu cở Nguyễn Khắc Viện và Huỳnh Tấn Phát, đã lỡ phóng lao thì phải theo lao. Nhưng sau này, Nguyễn Khắc Viện cũng bị thất sủng rồi; thứ hai là các trí thức cơ hội, chế độ nào cũng hùa theo để kiếm ăn cở Nguyễn Xuân Oánh, Nguyễn Ngọc Hà, Ngô Bá Thành, Lý Chánh Trung,…

Sau khi kết thúc việc viếng thăm chính thức Kampuchea, Lon Nol đích thân đưa phái đoàn “chính phủ cách mạng lâm thời” của VC từ Nam Vang về biên giới Việt-Miên. Tại biên giới này, nhờ con sông Saigon chia đôi 2 nước, VC chuẩn bị sẵn xuồng để băng qua sông. (chỗ hẹp nhất phía trên đó như 1 dòng suối) ở đoạn hẹp nhất để trở lại căn cứ VC trên đất Kampuchia. Trong dịp này, Hoàng thân Sihanouk có biếu cho “chính phủ cách mạng lâm thời” 16 tấn khô cá, gọi là món quà hữu nghị Khmer-VN.

Tướng Lon Nol. Năm 1970, Lon Nol lật đổ Sihanouk vì không muốn Sihanouk để cho người Việt đóng quân trên đất Cam Bốt. Năm 1975, Khmer Đỏ thắng tại Cam Bốt, Lon Nol chạy sang Hawai.

Từ đất Miên băng qua sông, tưởng là qua lãnh thổ VN cũng rất thực tế. Có lần, ký giả Burchette, 2 giáo sư y khoa người Pháp tên là Can và Crévin và Đại sứ Raoul Castro của Cuba từ Nam Vang đến vùng VC có nhiệm vụ gì đó, cũng bị VC đánh lừa bằng cách cho xuống xuồng băng ngang qua sông, đi một đổi thật xa, lên tới nguồn sông Saigon, rồi băng trở lại chỗ hẹp nhất như băng qua suối để đi về căn cứ VC trên đất Miên mà họ tưởng rằng căn cứ đó ở miền Nam VN. Nhờ những thủ đoạn vặt như vậy mà CS mới tuyên truyền bịp dư luận ở ngoại quốc, và căn cứ trên đất Miên không bị tiêu diệt bởi lực lượng VNCH. Điều đó chứng tỏ VC không thành thật ngay với cán bộ của mình, lẫn đồng minh.

Trong một dịp trò chuyện với bác sĩ Nguyễn Văn Thủ và bác sĩ Trần Hữu Nghiệp năm 1969 tại “phủ chủ tịch Chính phủ cách mạng lâm thời”, hai anh này nói với tôi rằng hai anh có nhiệm vụ đi rước khách nước ngoài kể trên tại bờ sông biên giới hai anh hướng dẫn khách nước ngoài lên bờ bên này, đi rất xa nhưng khi lên ngọn suối băng trở lại thì giáo sư Crévin nói rằng, “Tôi có cảm tưởng là tôi trở lại đất Kampuchia”. Anh bác sĩ Thủ liền đáp:

– Xa đất Kampuchia lắm rồi.

Tất cả đều cười hả hê vì đi quá xa, qua trảng thì sợ máy bay xạ kích tự do nên cũng thắm mệt, không nhớ phương hướng gì cả. Trên thực tế, căn cứ của Ban Dân Y chỉ nằm cách chỗ xuồng đậu 500m trên đất Kampuchea, tức là khỏi cần qua sông cũng đi tới rất mau lẹ thôi!

Tôi và anh Trương Như Tảng có đến căn cứ này dự lễ mãn khóa đào tạo 200 bác sĩ y khoa do bác sĩ Trần Hữu Nghiệp mời. Trong số sinh viên y khoa, tôi để ý một nhóm nữ sinh người Hoa, không thạo tiếng Việt mà cũng đi học. Đó cũng là đường lối chính trị lừa bịp của CS, khích lệ người Hoa tham gia mặt trận chống Mỹ. Đó là lời tiết lộ của cô Phùng Ngọc Anh, 21 tuổi, bị nhốt tại Tổng nha Cảnh sát VNCH sau khi bắn lính Mỹ bằng cả hai tay cầm hai cây súng nhỏ, giữa thành phố Saigon. Cô là người Hoa Chợ Lớn, bị quân cảnh bắt tại hiện trường, nhưng đưa qua Cảnh sát Quốc gia điều tra không ra manh mốị. Đêm đầu tiên của trận Mậu Thân 1968, cô bị đem thủ tiêu mà không chết. Cô được xe cứu thương đem về Nhà thương Chợ Rẫy thì công an phát hiện, đem biệt giam bỏ luôn không chữa và không cho ăn uống. Nhưng có một sinh viên người Việt ở lứa tuổi của cô, vận động anh em tù gởi thuốc trụ sinh vào cho cô uống và đem cơm cho cô ăn. 2 tháng sau, cô lành bệnh vì bị một lằn đạn xuyên qua mông đít.

Trương Như Tảng, Bộ Trưởng Bộ Tư Pháp trong Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời miền Nam. Sau này tôi xem báo biết cô ta bị kêu án 20 năm tù và bị đày ra Côn Đảo. Đến năm 1973 khi được trao đổi tù binh, cô được đưa về Hà Nội. Lần cô bị đem thủ tiêu năm 1968 có 2 người khác nữa là Lê Thị Riêng và Trần Văn Kiểu. Cả 3 người bị bắn ở đường Hồng Bàng, trước Trường Cây Mai. Riêng cô Phùng Ngọc Anh đã may mắn bị đạn nhưng không chết. Trong hội nghị Paris chấm dứt chiến tranh VN, VC tố cáo hành động này của VNCH, rồi qua lời trình bày của Đỗ Thị Duy Liên (vợ Trần Bạch Đằng), là người đồng cảnh với Phùng Ngọc Anh, hội nghị Paris bị VC tẩy chay một tuần lễ để phản đối VNCH. Đó là năm 1969.

Hứa Hoành

Bình Luận:

vn (2)Bài này được giáo sư Hứa Hoành viết theo trí nhớ nên có thể có một số chi tiết không đúng. Chẳng hạn vụ ba ông hòa bình được đưa ra Bắc xảy ra sau khi chế độ Ngô Đình Diệm đã chấm dứt chứ không phải do chế độ Ngô Đình Diệm đưa ra Bắc. Về tổng quát, bài này nói về một số trí thức miền Nam thời đó được đảng Cộng Sản Việt Nam lôi kéo để lập ra các tổ chức độc lập với chính quyền miền Nam, không chủ trương chống Cộng như chính quyền miền Nam với mục đích là để phân hóa nội bộ miền Nam, không để cho miền Nam trở thành một khối đoàn kết nhất trí chống Cộng Sản. Vì chỉ dùng những trí thức đó với mục đích tạm thời là phân hóa nội bộ miền Nam nên các trí thức đó có cảm tình với đảng Cộng Sản Việt Nam đến mức nào thì không quan trọng, miễn sao họ làm đúng theo quĩ đạo của đảng CSVN vạch ra, là lên tiếng đòi hòa bình, không dùng vũ lực chống Cộng. Trong khi đó thì đảng CSVN ra sức dùng lực lượng vũ trang để tấn công miền Nam với mục đích đánh chiếm miền Nam.

Vì chỉ dùng tạm thời nên các trí thức đó chỉ được sử dụng khi chế độ miền Nam chưa bị CS chiếm. Sau 1975, nhiều trí thức trong các phong trào này sống trong im lặng vì chế độ không cần đến họ nữa và họ cũng chẳng có quyền lực gì trong thời gian hoạt động.

Người miền Nam cho rằng các trí thức này bị đảng CSVN đánh lừa, lợi dụng. Nhưng trong số tên tuổi xuất hiện trong các phong trào đó ai là người bị đánh lừa và ai là người đi lừa thì đến ngày nay cũng không thật sự rõ ràng vì nhiều người vào thời đó là đảng viên, nhận chỉ thị của đảng CSVN để lôi kéo trí thức nhưng họ dấu tung tích của họ. Nên có khi kẻ tưởng là bị lừa thật sự lại là kẻ đi lừa. Một số người mà dân miền Nam thời đó tưởng chỉ là thân cộng, nghĩa là có cảm tình với CS, thì thật sự là đảng viên đảng CSVN. Chẳng hạn, trong số ba ông hòa bình bị chính quyền miền Nam đưa ra Bắc vào thời sau 1963 có giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ đã là đảng viên từ năm 1947 nhưng ông ta đâu có dại gì nói ra mình là đảng viên vào thời đó mà chỉ nói mình là trí thức chống chiến tranh, muốn hòa bình. Cũng như bà Nguyễn Thị Bình trả lời với nhà báo ngoại quốc năm 1965 là mình không phải là đảng viên như thật ra là bà đã gia nhập đảng Cộng Sản từ năm 1948. Ông Tôn Thất Dương Kỵ kêu gọi dân miền Nam hãy theo đường lối hòa bình đừng cầm súng chống lại miền Bắc trong khi đồng chí của ông thì đem toàn lực tấn công miền Nam để đánh chiếm miền Nam. Trong số người thấy mình bị lừa có ông Trương Như Tảng. Sau 1975, ông thấy những gì đảng CS làm không giống như những gì đã hứa là để miền Nam theo chế độ không cộng sản, có nhiều thành phần chính trị tham dự, nên ông đã vượt biên, rồi sang Pháp sống quãng đời còn lại.

Về mặt lãnh thổ, khi đảng CSVN cần Trung  Cộng viện trợ vũ khí thì đảng dâng Hoàng Sa, Trường Sa cho Trung Cộng. Trong bài trên, đảng CSVN dâng cho Cam Bốt năm hòn đảo ở gần Cam Bốt. Xem ra đảng CSVN xem nhẹ lãnh thổ quốc gia, khi cần ngoại bang giúp mình việc gì thì không ngần ngại cắt đất dâng cho ngoại bang. Nói chung chính sách của đảng CSVN là có thể làm bất cứ chuyện gì miễn là đạt được cái lợi trước mắt. Khi cần tiêu diệt các phe phái đối lập thì bịa đặt, vu khống để giết họ, hứa hẹn những cái mình sẽ không làm để lôi kéo người hoạt động cho mình, xuyên tạc, bịa đặt lịch sử miễn sao có lợi cho mình, còn dân tộc bị nhiễm các hiểu biết lầm lạc thì mặc kệ.

http://bit.ly/1CbzVCn

Sưu tầm




 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
Tin tức thế giời mới nhât song ngữ Việt Anh để học sinh ngữ [Đã đọc: 362 lần]
Kiều bào phát triển quê hương [Đã đọc: 356 lần]
Làm Giàu Bằng Đầu Tư Chứng Khoán [Đã đọc: 347 lần]
Siêu đô thị Đà Nẵng mở rộng, siêu đầu tư địa ốc làm giàu [Đã đọc: 341 lần]
Một châu Âu đứng trước ngã ba lịch sử [Đã đọc: 328 lần]
Cách mạng chiếc đòn gánh của phụ nữ VN [Đã đọc: 290 lần]
“NHỮNG NGƯỜI CUỐI CÙNG CÒN GIỮ LẠI CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN”** [Đã đọc: 286 lần]
Làm thế nào đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa từ Trung Cộng [Đã đọc: 277 lần]
Nghệ Thuật Làm Giàu Của Người Việt Hải Ngoại - “The Art of Wealth for Overseas Vietnamese”. [Đã đọc: 276 lần]
Cuba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cuba nghỉ [Đã đọc: 270 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.