Sự thật về tội ác bán nước cho TQ bởi đảng CSVN: Thà mất nước mà còn đảng!
15.10.2014 00:01
Hồi ký 'Hồi ức và Suy nghĩ' của cựu Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam, ông Trần Quang Cơ đã đề cấp đến những gì xảy ra sau Hội nghị Thành Đô 3-4 tháng 9/1990 giữa lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc năm 1990, chủ đề hiện được dư luận ở Việt Nam quan tâm trở lại:
Các ông Lý Bằng và Giang Trạch Dân đóng vai trò quan trọng tại Hội nghị Thành Đô
Sau đây là hai chương BBC Tiếng Việt xin trích dẫn từ các nguồn mở đã đăng trên mạng Internet ở nước ngoài ở dạng tư liệu, mở đầu là chương 16 dưới tiêu đề 'Món nợ Thành Đô':
“Từ tháng 9/90, Trung Quốc luôn coi ta mắc nợ họ về thoả thuận Thành Đô, đòi ta thực hiện thoả thuận đó, cụ thể là tác động với Phnom Penh nhận SNC có 13 thành viên và do Sihanouk làm Chủ tịch. Với cách làm đó, họ khơi sâu thêm bất đồng trong nội bộ ta… Trung Quốc thấy rằng việc thực hiện thoả thuận Thành Đô gặp trở ngại chính từ Bộ Ngoại giao nên chủ trương chia rẽ nội bộ ta càng trắng trợn hơn. Đại sứ mới của Malaysia ngày 3.10.90 đến chào xã giao, nói với tôi là ở Bắc Kinh người ta đưa tin là có sự khác nhau giữa Bộ Ngoại giao và lãnh đạo Đảng về chủ trương đối ngoại cho nên trong chuyến đi Thành Đô gặp cấp cao Trung Quốc không có ông Nguyễn Cơ Thạch.
Sau Thành Đô, trong khi ta nới rộng hoạt động của sứ quán Trung Quốc ở Việt Nam thì phía Trung Quốc lại tỏ ra lạnh nhạt với Bộ Ngoại giao công kích lãnh đạo Bộ Ngoại giao Việt Nam; hạn chế hoạt động của Đại sứ ta ở Bắc Kinh, không sắp xếp Đại sứ ta tham dự vào cuộc Lý Bằng tiếp anh Võ Nguyên Giáp, anh Vũ Oanh; cử cán bộ cấp thấp tiếp và làm việc với Đại sứ ta.
Trung Quốc một mặt khẳng định là vấn đề Campuchia chưa giải quyết thì quan hệ Trung – Việt “chỉ có bước đi nhỏ”, mặt khác thăm dò và tích cực tác động đến vấn đề nhân sự và phương án chuẩn bị Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ họp vào giữa năm 1991. Từ tháng 3/91, tại kỳ họp Quốc hội Trung Quốc khoá 7, Lý Bằng tuyên bố “quan hệ Trung – Việt đã tan băng” và có một số điều chỉnh mềm dẻo hơn trong vấn đề Campuchia. Về vấn đề SNC của Campuchia. Trung Quốc không cố bám giữ con số 13, tạm gác vấn đề chủ tịch, phó chủ tịch, đưa ra công thức “Sihanouk chủ trì các cuộc họp SNC”. Từ chỗ chỉ có quan hệ với 3 phái, sau cuộc gặp SNC ở Pattaya (Thái Lan), Trung Quốc chuyển sang quan hệ trực tiếp với Nhà nước Campuchia, mời Hun Sen thăm Bắc Kinh trong 3 ngày (22-24/7/91).
Chiều Chủ nhật 18/11/90 họp Bộ Chính trị về vấn đề Campuchia. Từ sau khi P5 thoả thuận về văn kiện khung (28/890) cuộc đấu tranh về vấn đề Campuchia đi vào giai đoạn cuối, gay gắt và quyết liệt. Thay mặt Bộ Ngoại giao, tôi trình bày đề án về nguyên tắc đấu tranh về văn kiện khung của P5 và về vấn đề SNC để Bộ Chính trị cho ý kiến. Khi tôi trình bày xong, anh Thạch đề nghị Bộ Chính trị khẳng định 2 điểm:
1. Vấn đề SNC là vấn đề nội bộ của Campuchia, ta không ép bạn được, phải tôn trọng chủ quyền của bạn;
2. Về văn kiện khung, ta phải bác những điểm vi phạm Hiến chương LHQ. Nếu không sau này có ảnh hưởng đến vấn đề xử lý Trường Sa… Ta thấy rõ Trung Quốc và Mỹ đều nhất trí xoá Nhà nước Campuchia bằng cách khác nhau.
Cuối cuộc họp, Tổng bí thư Linh kết luận: “Về SNC ta không thể góp ý với bạn được… Nếu nói Trung Quốc và Mỹ như nhau thì tôi không đồng ý. Sau hội nghị Trung ương, Bộ Chính trị sẽ đánh giá lại một số vấn đề liên quan đến ngoại giao như nhận định về Trung Quốc thế nào, tuyên bố hoặc nói về Trung Quốc như thế nào?”
Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch là nhân vật lớn của ngành ngoại giao Việt Nam
Nguyễn Cơ Thạch nói luôn: “Đồng ý đánh giá lại cả cuộc hội đàm ở Thành Đô”.
Dự thảo Hiệp định toàn bộ về Campuchia ngày 26/11/90 do P5 thảo ra đã được các thành viên SNC Campuchia chấp nhận về cơ bản tại cuộc họp ở Paris ngày 23/12/90. Chủ trương của ta là giải pháp chính trị về Campuchia, nhất là những vấn đề nội bộ Campuchia, phải do bạn tự quyết định và chịu trách nhiệm với dân tộc Campuchia. Ta hết sức giúp đỡ họ, gợi ý để họ tránh được những thất bại không đáng có, nhưng ta không thể làm thay. Như vậy ta vừa hết lòng giúp bạn vừa không để Việt Nam một lần nữa bị sa lầy vào cuộc đấu tranh nội bộ của Campuchia. Không để vấn đề giải pháp chính trị về Campuchia lại một lần nữa trở thành vấn đề lịch sử trong quan hệ Việt Nam – Campuchia.
Theo yêu cầu của bạn, ngày 14/1/91, tôi cùng các anh Huỳnh Anh Dũng, Lê Công Phụng, Vũ Tiến Phúc, chuyên viên về giải pháp Campuchia, sang Phnom Penh làm việc với bạn với mục đích:
a. Tìm hiểu suy nghĩ và ý định của bạn về giải pháp Campuchia sau khi bạn đã chấp nhận văn kiện khung của P5 tại cuộc họp Jakarta 10/9/90 và chấp nhận về cơ bản dự thảo Hiệp định 26/11 của P5 tại cuộc họp Paris 23/12/90;
b. Thuyết phục bạn kiên quyết tách riêng các vấn đề nội bộ thuộc chủ quyền Campuchia để chỉ thảo luận và giải quyết trong SNC;
c. Thoả thuận kế hoạch chuẩn bị cho việc họp lại Hội nghị quốc tế Paris.
Khi tiếp tôi, anh Hun Sen nói: “Trong nội bộ Campuchia, xu hướng mạnh nhất là muốn có một giải pháp chính trị giữ được thành quả cách mạng, không để cho Pol Pot quay trở lại… Tình hình hiện nay rất tế nhị. Tình hình phức tạp sẽ xảy ra nếu ta chấp nhận một giải pháp vô nguyên tắc. Chỉ cần chấp nhau một giải pháp như vậy thì nội bộ Campuchia đã hỗn loạn rồi chứ chưa nói là ký kết. Ta giữ lập trường cứng như vừa qua là tốt. Đề nghị Việt Nam không để đẩy quá nhanh tiến trình giải pháp.
Như vậy, qua các cuộc gặp Bộ trưởng Hor Nam Hong, Thứ trưởng Dith Munty và Thứ trưởng Sok An, nhất là qua phát biểu của Chủ tịch Hun Sen chiều 16/11, có thể thấy được chủ trương của bạn cố kéo dài trạng thái đánh đàm hiện tại vì nhiều yếu tố chủ quan khách quan khác nhau, song chủ yếu vì trong nội bộ lãnh đạo bạn xu hướng chưa muốn đi vào giải pháp còn rất mạnh. Hun Sen cho biết theo quyết định của Bộ Chinh trị Campuchia, trong cuộc họp Trung ương ngày 17/1/91, ông ta sẽ thông báo cho Trung ương là “năm 1991 sẽ chưa có giải pháp”.
Tuy nhiên, tôi lại có cảm thấy trong suy nghĩ cũng như trong hành động lãnh đạo Campuchia đang có nhiều mâu thuẫn lúng túng, chưa xác định được cho mình một đường lối rõ ràng mạch lạc, mà chỉ lo đối phó từng bước với những vấn đề trong nội bộ cũng như với đối phương.
Các lãnh đạo Việt Nam, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười
Trong lần gặp Heng Somrin ở Hà Nội ngày 24/2/91, anh Nguyễn Văn Linh vẫn cố ép bạn “cần thực hiện tốt chính sách hoà hợp dân tộc, không nên nhấn mạnh vấn đề diệt chủng, nên SNC gồm 13 thành viên và Sihanouk làm Chủ tịch”. Heng Somrin về nói lại với Bộ Chính trị Đảng Campuchia thì tất cả đều băn khoăn và ngại rằng Heng Somrin không thạo tiếng Việt nên nghe có thể sai sót. Thực ra, như Hun Sen nói với anh Ngô Điền, khi nghe Heng Somrin nói lại những ý kiến của anh Linh, Bộ Chính trị Campuchia rất lo vì thấy Việt Nam khác Campuchia nhiều quá. Ngày 13/3/91 Hun Sen nói với anh Thạch: “Có thể có sách lược phân hoá Khmer đỏ, nhưng dứt khoát không thể bỏ vấn đề diệt chủng. Nếu bỏ sẽ có 3 mối nguy hiểm: sẽ mất con bài mặc cả trong đàm phán ngay từ đầu; mất lợi thế trong tổng tuyển cử; kẻ thù sẽ có lợi trong việc vu cáo Việt Nam là mọi chuyện xảy ra 12 năm qua đều do Việt Nam gây ra cả. Số lượng thành viên SNC có thể là 12 hoặc 14, không thể chấp nhận con số 13, sẵn sàng cho Sihanouk làm chủ tịch, Hun Sen làm phó, không đòi chức chủ tịch luân phiên hay đồng chủ tịch nữa”.
Trong cách làm này của ta cho thấy ta chỉ quan tâm đến điều mà ta cho là có lợi ích đối với ta mà thiếu cân nhắc xem điều đó có phù hợp với lợi ích của bạn không. Cách làm đó tất yếu ảnh hưởng xấu đến quan hệ gắn bó lâu nay giữa ta với Phnom Penh.
Đầu năm 1991, Bộ Chính trị đã có cuộc họp tại T78 thành phố Hồ Chí Minh (24-25/1/91) để bàn về vấn đề Campuchia. Tôi trình bày chủ trương tách mặt quốc tế với mặt nội bộ của giải pháp Campuchia, đồng thời báo cáo ý kiến của Hun Sen cho biết là Bộ Chính trị Campuchia quyết định không đi vào giải pháp trong năm 1991. Bộ Chính trị quyết định cần thăm dò khả năng họp Bộ Chính trị 3 nước để hướng Campuchia đi vào giải pháp, họp có tính chất trao đổi, gợi ý chứ không quyết định, ta không thể ép bạn, đồng thời phải tỏ được thiện chí, tránh mọi việc làm ta bị cô lập.
Nhân dịp này, tôi đã ngỏ ý với anh Thạch là tôi muốn rút khỏi Trung ương khoá tới. Anh Thạch tỏ ý không tán thành. Đến tháng 2/91, khi có cuộc bầu đại biểu ở các tỉnh để đi dự Đại hội VII, tôi đã gửi thư cho anh Nguyễn Đức Tâm, Trưởng ban Tổ chức Trung ương, xin rút khỏi danh sách dự Đại hội VII. Lúc này tinh thần tôi đã có phần mệt mỏi vì những sự việc trong thời gian qua. Nhưng yêu cầu của tôi không được đáp ứng. Tôi nhận được giấy đi dự Đại hội tỉnh Đảng bộ Sơn la và được bầu vào Đoàn đại biểu tỉnh Sơn la đi dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII.Tháng 6/91, tôi có giấy đi dự Đại hội Đảng với tư cách đại biểu tỉnh Sơn La rồi tiếp tục tham gia Trung ương khoá VII.
Tình hình bất đồng ý kiến trong Bộ Chính tri càng đến gần Đại hội càng bộc lộ gay gắt. Ngày 13/4/91, trong cuộc họp Bộ Chinh trị bàn về tình hình thế giới và đường lối đối ngoại để chuẩn bị báo cáo chính trị tại Đại hội, sau khi anh Thạch bản báo cáo về “Tình hình thế giới và chiến lược đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta”, Lê Đức Anh giới thiệu đại tá Lân, cán bộ Cục II Bộ Quốc phòng, trình bày về tình hình thế giới và mưu đồ đế quốc”. Nghe xong, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh phát biểu: “Chủ quan tôi nghĩ giữa bản trình bày sáng nay (của Bộ Ngoại giao) và bản trình bày tình hình quân sự chiều nay của Bộ Quốc phòng có nhiều chỗ khác nhau. Muốn thảo luận chủ trương thì phải thảo luận tình hình trước, nhưng cách đánh gia tình hình còn khác nhau.”
Cố vấn Phạm Văn Đồng: “Nói khôi hài lúc này thật không phải lẽ. Chúng ta cần cố gắng làm việc đúng lương tâm, nghiêm chỉnh, đúng trách nhiệm của mình. Bộ Chính trị đã giao cho 3 đồng chí phụ trách 3 ngành làm nhưng lại chưa làm”.
Lê Đức Anh: “Bộ Chính trị nên nghe tình hình nhiều mặt, ngay trong nước chúng ta cũng đánh giá khác nhau. Căn cứ vào đánh giá chung, mỗi ngành có đề án riêng, không làm chung được.”
Nguyễn Cơ Thạch đồng ý 3 ngành thảo luận để đi tới nhất trí về tình hình, còn công tác thì mỗi ngành làm.
Trên tinh thần đó, ngày 2/591, đã có cuộc họp giữa Ngoại giao, An ninh và Quốc phòng để thống nhất nhận định tình hình thế giới. Dự họp về phía Bộ Quốc phòng có: Lê Đức Anh, Trần Văn Quang, Đại tá Lân, Bộ Nội vụ có: Mai Chí Thọ; Bộ Ngoại giao có Nguyễn Cơ Thạch và 4 thứ trưởng. Còn 3 phó ban Đối ngoại: Nguyễn Thị Bình, Trịnh Ngọc Thái, Nguyễn Quang Tạo. Thu hoạch của cuộc họp khá nghèo nàn, không đem lại được sự nhất trí trong nhận định tình hình, chỉ nhất trí được mấy điểm lý luận chung chung.
Quan hệ Việt Nam - Campuchia vốn phức tạp từ mấy chục năm qua
Chỉ còn một tháng đến ngày họp Đại hội VII, Chính trị B họp liền gần 3 ngày (15,16 và 17/5/91) để thảo luận bản dự thảo “Báo cáo về tình hình thế giới và việc thực hiện đường lối đối ngoại của Đại hội VI và phương hướng tới”. Bộ Chính trị có mặt đông đủ. Theo dõi cuộc họp ở ghế dự thính. Số dự thính lúc đầu có 10 người, từ chiều 16/5 khi đi vào kiểm điểm việc thực hiện các Nghị quyết về đối ngoại của Đại hội VI thì dự thính thu hẹp lại chỉ còn có Hồng Hà, Hoàng Bích Sơn, Đinh Nho Liêm và tôi. Từ đầu đến cuối, tôi đã nhận rõ sự đấu tranh giữa hai quan điểm về mặt quốc tế, nhất là khi đi vào phần kiểm điểm thực hiện đường lối đối ngoại, nói đến vấn đề Campuchia và quan hệ với Trung Quốc.
Bản dự thảo báo cáo của Bộ Ngoại giao có nêu “đã có một số việc làm không đúng với các Nghị quyết của Bộ Chính trị”, “thái độ đối với Trung Quốc có sự thay đổi qua 2 giai đoạn (trước và sau năm 1989) trái với Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị (20/5/88)”, “giữa ta và bạn Campuchia đã bộc lộ sự khác nhau khá rõ rệt”, về đối ngoại, ta “lúng túng, thiếu bình tĩnh” trước cuộc khủng hoảng chính trị ở Đông Âu và Liên Xô…; đã bỏ lỡ cơ hội cải thiện với ASEAN (khi Thái Lan mời Thủ tướng Đỗ Mười sang thăm, nhưng anh Mười nói phải đi Liên Xô, đi Ấn Độ rồi mới đi Thái), đã làm nảy sinh tranh cãi khá căng, đặc biệt khi bàn đến đúng sai trong chuyện gặp cấp cao Trung Quốc ở Thành Đô tháng 9.90 và vấn đề chống diệt chủng và “giải pháp Đỏ”.
Anh Võ Chí Công: “Về Trung Quốc rất phức tạp… Bộ Chính trị đã đánh giá Trung Quốc có hai mặt xã hội chủ nghĩa và bá quyền. Về xã hội chủ nghĩa cũng cần thấy là trong “nháy nháy”… Khó khăn là chưa bình thường hoá quan hệ… Họ đưa ra 5 trở ngại, có cái hàng trăm năm không giải quyết nổi. Ví dụ như chuyện “Liên bang Đông Dương”, họ biết ta không có ý đồ đó song cứ nêu lên cốt để chia rẽ và giành lấy Lào và Campuchia, gạtta ra… Chuyện “giải pháp Đỏ” là không được, vì như vậy thì có nghĩa là Trung Quốc sẽ đi với ta chống Mỹ trong lúc chủ trương của họ là tranh thủ khoa học – kỹ thuật của phương Tây để hiện đại hoá, còn gì là Trung Quốc nữa?
Tới cuối cuộc họp, Nguyễn Đức Tâm còn nói:
“Chưa làm dự thảo Nghị quyết ngay được vì qua thảo luận thấy ý kiến Bộ Chính trị còn khác nhau về đánh giá đúng thành tích, đúng bạn thù, đối sách. Đại hội đến nơi, sau Đại hội không còn Bộ Chính trị này nữa, tuy một số đồng chí còn ở lại… Mặc dù vậy Nguyễn Thanh Bình chủ trì cuộc họp vẫn kết luận làm dự thảo Nghị quyết về đối ngoại.”
'Lịch sử chưa sang trang'
Chương 20 là chương kêt thúc hồi ký, dưới tiêu đề “Kết thúc một chặng đường nhưng lịch sử chưa sang trang”, ông Trần Quang Cơ viết:
“Sau 12 năm ròng rã, đối với chúng ta, vấn đề Campuchia coi như đã kết thúc và đã trở thành một hồ sơ của bộ phận lưu trữ trong Bộ Ngoại giao Việt Nam. Nhưng những bài học của 12 năm ấy vẫn còn có nhiều tính chất thời sự, nhất là bài học về chính sách và thái độ cư xử với các nước lớn.
Tiếp sau việc vấn đề Campuchia được giải quyết là việc thực hiện bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc. Theo thoả thuận giữa hai bên, ngày 5/11/91, Tổng bí thư Đỗ Mười và Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã có cuộc đi thăm chính thức nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đánh dấu sự bình thường hoá quan hệ giữa hai nước.“Quan hệ Việt – Trung tuân thủ các nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau… Quan hệ Việt – Trung không phải là quan hệ đồng minh, không trở lại quan hệ như những năm 50-60…”
Ông Trần Quang Cơ đã nhìn thấy trước kế hoạch độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc
Tuy nhiên sau khi bình thường hoá quan hệ, lại dồn dập diễn ra những sự kiện xấu trên nhiều mặt quan hệ giữa hai nước, tập trung gay gắt nhất là các vấn đề liên quan đến lãnh thổ trên bộ vùng biên giới Hà Giang tháng 2, 3, 4/92; vụ nối lại đường xe lửa Liên vận ở Đồng Đăng, Lạng Sơn tháng 12/91 rồi 4.5.92; Lục Lầm, Quảng Ninh tháng 5.92) và tranh chấp biển đảo mà đỉnh cao là vụ Trung Quốc công khai hoá việc ký kết họp đồng thăm dò khai thác dầu khí với Công ty Năng lượng Mỹ Crestone tại một vùng rộng lớn trên thềm lục địa của Việt Nam (bãi Tư Chính).
Vì sao Trung Quốc tăng cường lấn ép ta vào thời điểm này? Vì Trung Quốc cho rằng tình hình đó đang thuận lợi cho họ tranh thủ gấp rút thực hiện yêu cầu tăng thế và lực (xây dựng hải quân nhanh, nổ thử bom 1000 kilôton, thi hành chiến lược “biên giới mềm”) nhằm tạo cho mình một vị thế đỡ bất lợi so với Mỹ và các nước lớn khác, trong đó có ý đồ gấp rút biến biển Nam Trung Hoa – mà ta gọi là Biển Đông – thành vùng biển độc chiếm của Trung Quốc, từ đó khống chế toàn bộ vùng Đông Nam Á.
1. Trật tự thế giới cũ không còn, trật tự thế giới mới chưa hình thành. Các đối thủ chính của Trung Quốc ở châu Á – Thái Bình Dương đều đang gặp khó khăn, Liên Xô vừa tan rã. Liên bang Nga trước mắt chưa phải là thách thức đáng kể, Mỹ đang giảm bớt sự có mặt về quân sự ở châu Á – Thái Bình Dương, tránh can thiệp nếu lợi ích của Mỹ và đồng minh không bị đụng đến.
2. Đông Nam Á mới bắt đầu quá trình nối lại các quan hệ giao lưu giữa hai nhóm nước đối đầu cũ. Triển vọng liên kết hay nhất thể hoá Đông Nam Á, bất lợi đối với ý đồ bá quyền của Trung Quốc, đang còn có những trở ngại (nghi ngờ nhau do khác ý thức hệ, va chạm lợi ích, ý đồ của Thái Lan đối với Lào, Campuchia) đòi hỏi thời gian khắc phục Trung Quốc muốn tranh thủ thời gian này để cản phá xu thế hợp tác khu vực giữa Đông Dương, chủ yếu là Việt Nam và ASEAN tạo ra một tập hợp lực lượng thân Trung Quốc ở Đông Nam Á (quân phiệt Thái, quân phiệt Myanmar, Khmer đỏ ở Campuchia và Lào nếu có thể) để khuất phục Việt Nam.
3. Bản thân Việt Nam còn đang lúng túng về những vấn đề chiến lược (vấn đề đồng minh, vấn đề tập hợp lực lượng, vấn đề bạn thù) trong tình hình mới sau khi Liên Xô tan rã, quan hệ với Mỹ chưa bình thường hoá, Trung Quốc muốn đi vào bình thường hoá quan hệ với Việt Nam trên thế mạnh.
Vì vậy Trung Quốc nhẩn nha trong các bước bình thường hoá quan hệ với Việt Nam, vừa tạo bề mặt thân mật gắn bó Trung – Việt, vừa siết chặt bên trong, giành lợi thế cho mình trên mọi lĩnh vực quan hệ.
Cả hai mặt đều nhằm đạt mục tiêu khẳng định Việt Nam – Đông Dương là thuộc khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc, muốn tách Việt Nam khỏi Đông Nam Á và thế giới bên ngoài.
Nội dung cuốn hồi ký (2005) thể hiện quan điểm riêng của nhà ngoại giao Trần Quang Cơ đã được công bố lần đầu năm 2008 trên nhiều trang mạng ở nước ngoài. BBC Tiếng Việt chưa có điều kiện phỏng vấn chính tác giả về những nội dung này.
Những ngày này dư luận xã hội nóng lên bởi tin Đảng CSVN đề nghị để "Việt Nam gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc" như là một khu vực tự trị giống như Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây...". Rồi một đồn mười, mười đồn trăm, đến lúc này thực hư ra sao chưa biết, nhưng ngoài đường, ngoài chợ người ta bảo nhau chỉ còn 6 năm nữa thôi, năm 2020 là Việt Nam sẽ gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc. Nghĩa là Việt nam sẽ trở thành một khu tự trị hay một tỉnh thuộc chính quyền trung ương Trung quốc.
Tin đồn
Được biết đây là tin từ bản Kiến nghị"Có hay không một thỏa thuận bán nước"của Thiếu tướng Lê Duy Mật, Nguyên Phó Tư lệnh – Tham mưu trưởng Quân khu 2 và Tư lệnh Mặt trận Hà Giang trong các năm 1979-1984 - Đảng viên 57 năm tuổi đảng, gửi Ban CHTW và Bộ Chính trị, yêu cầu công bố các văn bản của Thỏa hiệp Thành Đô năm 1990 giữa hai Đảng CS Việt nam và Trung quốc để cho nhân dân biết. Trong bản Kiến nghị của mình, Thiếu tướng Lê Duy Mật đã công bố nội dung của một đoạn Thỏa hiệp Thành Đô, mà ông cho rằng có nguồn gốc từ tin của Tân hoa xã Trung Quốc và báo Hoàn cầu Thời báo. Với nội dung một phần của “Kỷ Yếu Hội Nghị” như sau:
“Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa Cộng sản, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam sẽ cố gắng hết sức mình để vun đắp tình hữu nghị vốn lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp trong quá khứ. Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây….
Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây….Phía Trung Quốc đồng ý và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên...
Tin của Tân hoa xã Trung Quốc và báo Hoàn cầu Thời báo
Phía Trung Quốc đồng ý và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.”. (Hết trích)
Hoàn cảnh ra đời của Hội nghị Thành Đô
Việt nam và Trung quốc là hai quốc gia cộng sản có quan hệ mật thiết, gắn bó với cùng nền tảng tư tưởng là ý thức hệ cộng sản. Trong giai đoạn 1949-1975, Trung quốc đã giúp Việt nam rất nhiều về người và của, đặc biệt là về mặt quân sự trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước. Sau năm 1975, quan hệ giữa hai nước Việt nam và Trung quốc đã có các bất đồng sâu sắc, mà đỉnh cao là cuộc chiến Biên giới phía Bắc năm 1979. Khi Trung quốc đã đưa 60 vạn quân tiến đánh và xâm nhập sâu vào lãnh thổ Việt nam trên tòan tuyến biên giới Việt - Trung trong thời gian gần một tháng trước khi rút. Vào thời điểm đó Việt nam đã Sửa đổi Hiến pháp năm 1980, xác định và ghi rõ Trung quốc là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm.
Trong bối cảnh, từ cuối năm 1989 cho đến đầu năm 1990, hệ thống XHCN ở các nước cộng sản Đông Âu lần lượt sụp đổ, điều này đã gây mối lo ngại cho lãnh đạo Đảng CSVN, họ đã đứng ngồi không yên vì hết đường, không biết bấu víu vào ai. Ban lãnh đạo Đảng CSVN hết sức lo lắng cho sự đổ vỡ của chế độ và cuối cùng họ đã buộc phải tính nước bắt tay lại với người đồng chí Trung quốc vốn là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm của mình.
Hội nghị Thành Đô ra đời trong hoàn cảnh ấy, vào ngày 3 - 4.9.1990, tại Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên (Trung Quốc) đã diễn ra cuộc họp thượng đỉnh giữa lãnh đạo cao cấp nhất hai Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam - Trung Quốc. Cuộc họp với mục đích bình thường hóa quan hệ giữa hai nước và hai Đảng. Thành phần tham dự, về phía Việt Nam gồm có Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười, và Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng Phạm Văn Đồng. Phía Trung quốc là Giang Trạch Dân, Tổng bí thư đảng cộng sản Trung Quốc cùng với Lý Bằng, Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc. Đáng chú ý, cho đến nay các thông tin về cuộc gặp mặt bí mật này không được công bố trong nước
Trong bối cảnh, từ cuối năm 1989 cho đến đầu năm 1990, hệ thống XHCN ở các nước cộng sản Đông Âu lần lượt sụp đổ...Ban lãnh đạo Đảng CSVN hết sức lo lắng cho sự đổ vỡ của chế độ và cuối cùng họ đã buộc phải tính nước bắt tay lại với người đồng chí TQ vốn là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm
Hội nghị Thành Đô 1990 được cho là mở đầu một giai đoạn bất bình thường mới trong quan hệ Việt – Trung. Ông Nguyễn Trung, nguyên Thư ký của Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã đánh giá là một thất bại nhục nhã của Việt nam, đồng thời nó trở thành mối uy hiếp trực tiếp và nguy hiểm nhất đối với độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và con đường phát triển của Việt nam. Còn ông Nguyễn Cơ Thạch , nguyên Ủy viên Bộ Chính trị - Bộ trưởng Bộ ngoại giao lúc ấy đã nhận định về thỏa thuận Thành Đô 1990 rằng "Một thời kỳ Bắc thuộc mới rất nguy hiểm đã khởi sự."
Thái độ của chính quyền Việt nam sau Hội nghị Thành Đô
Sau Hội nghị Thành Đô, quan hệ ngoại giao giữa Việt nam và Trung quốc đã nhanh chóng được bình thường hóa và phát triển. Do nắm bắt được các điểm yếu được coi là tử huyệt sống còn của Đảng CSVN, chính quyền Trung quốc đã dần gia tăng sức ép và đòi hỏi Việt nam đi từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác. Đắc biệt là trong vấn đề lãnh thổ và lãnh hải. Với “Hiệp định phân định biên giới Việt-Trung” và "Hiệp định phân chia vịnh Bắc bộ" được coi là một sự thất bại của Việt Nam, vì nó gây thiệt hại cho Việt Nam đến 227 km2 trên đất liền và 211.000 km2 trên biển, đặc biệt là Việt nam đã nhượng cho Trung Quốc những vùng biển có giá trị về kinh tế và chiến lược. Điều đáng tiếc, những địa danh lịch sử như Ải Nam Quan, vốn của Việt nam thì nay nằm sâu trong lãnh thổ Trung quốc 500m hay Thác Bản Giốc thì bị buộc phải chia cho Trung quốc một nửa.
Trên biển, trước Hội nghị Thành Đô thì ngư dân Việt nam tiến hành đánh bắt hải sản trên ngư trường truyền thống của mình, kể cả khu vực quần đảo Hoàng sa mà không hề gặp trở ngại nào. Nhưng kể từ sau Hội nghị Thành Đô, thì công việc làm ăn của họ bị lực lượng Kiểm ngư, Hải giám của Trung quốc cản trở, bắt giữ người và phương tiện, thậm chí bị bắn chết như trường hợp các ngư dân ở Thanh hóa. Song phía Việt nam đã không có hoặc có những phản ứng rất yếu ớt, không dám nói đích danh là tàu Trung quốc mà chỉ dám gọi là tàu nước lạ. Trên biển thì như thế, còn trên bộ thì Trung quốc đã lợi dụng danh nghĩa đầu tư để thuê các khu vực rừng đầu nguồn, hay tham gia các dự án đầu tư ở những khu vực quan trọng về quốc phòng trong thời gian 50-70 năm, thậm chí 120 năm. Bauxite Tây nguyên ở nóc nhà Đông Dương, Đặc khu Vũng Áng... với hàng nghìn công nhân Trung quốc là những ví dụ điển hình. Về chính trị thì chính quyền thẳng tay đàn áp, bắt bớ bỏ tù những người bày tỏ thái độ chống Trung quốc như blogger Điếu cày, bloggger Phạm Viết Đào hay nhà dân chủ Phạm Thanh Nghiên v.v... Không những thế họ còn cho trấn áp thô bạo các cuộc biểu tình chống Trung quốc do người dân tổ chức.
Tóm lại sau 24 năm Hội nghị Thành Đô, kết quả phía Trung quốc đạt được cho đến nay là: họ đã thò bàn tay nhớp nhúa vào rất sâu không chỉ là khống chế đối với nền kinh tế của Việt nam, mà kể cả việc thao túng các lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng CSVN dưới chiêu bài xây dựng CNXH. Phải chăng đó là các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc, điều mà phía Trung Quốc đã đồng ý cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết ?
Phản ứng của dư luận
Những bằng chứng kể trên thì buộc người ta phải nghi ngờ về những thỏa thuận từ Hội nghị Thành Đô. Việc các lãnh đạo cao cấp giữa hai nước họ đã bàn và thỏa thuận những gì thì chưa ai biết, nhưng trên thực tế cho thấy có những dấu hiệu Đảng CSVN đã và đang tự biến mình, cũng như cam tâm trở thành một chư hầu của Trung quốc. Điều đó càng thấy rõ hơn qua sự kiện giàn khoan HD-981 khi Việt nam chần chừ, rồi không dám khởi kiện Trung quốc ra Tòa án Quốc tế.
Sau Hội nghị Thành Đô, quan hệ ngoại giao giữa Việt nam và Trung quốc đã nhanh chóng được bình thường hóa và phát triển. Do nắm bắt được các điểm yếu được coi là tử huyệt sống còn của Đảng CSVN, chính quyền TQ đã dần gia tăng sức ép và đòi hỏi Việt nam đi từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác
Hầu như các thông tin về Hội nghị Thành Đô đã được Đảng CSVN và chính quyền giữ kín một cách tuyệt đối, đây là điều được coi là tuyệt mật, là vùng cấm. Thậm chí kể cả các Đại biểu Quốc hội và các đảng viên trong Đảng cũng không hề hay biết một chút gì, cho dù nội dung của nó liên quan đến vận mệnh của đất nước. Do vậy, trong một xã hội thiếu công khai minh bạch thì đây chính là đất sống cho các tin đồn. Kể cả tin đồn "Việt Nam gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc" như là một khu vực tự trị giống như Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây.." cũng không là ngoại lệ. Và sự tuyệt đối im lặng của ban lãnh đạo và truyền thông nhà nước trước tin đồn này càng làm cho những tin đồn bất lợi như thế gần với sự thật hơn, vì không phải họ nói "im lặng là đồng ý hay sao?"
Vào lúc này, không chỉ ở ngoài đời thường mà cả trên mạng xã hội người ta bàn tán về tin này với sự hoài nghi cao độ và với những sự giải thích khác nhau. Đáng chú ý là tin đồn này diễn ra sau khi câu chuyện Công hàm công nhận chủ quyền lãnh hải cho Trung quốc của Thủ tướng Phạm Văn Đồng sau một thời gian dài bị chính quyền Việt nam bưng bít, đã được công khai từ phía Trung quốc, trong sự kiện giàn khoan HD-981 mà phía Việt nam đã phải công khai thừa nhận. Khi phía Trung quốc đưa ra và coi đó là bằng chứng chính quyền Việt nam đã công nhận chủ quyền của Trung quốc đối với hai quần đảo Trường sa- Hoàng sa của Việt nam. Điều đó cho thấy không có gì là bí mật, nhất là khi điều tuyệt mật đó đang do Trung quốc - kẻ thù nắm giữ và bị họ biến thành thứ vũ khí để đe dọa và uy hiếp ban lãnh đạo Đảng CSVN. Những bí mật ấy, không chỉ nhằm để chia rẽ nội bộ Đảng CSVN, mà còn phân hóa người dân và chính quyền để họ không còn tin tưởng vào sự lãnh đạo của chính quyền
Đối với mọi người dân, bây giờ thì thông tin từ Hoàn cầu Thời báo hay Nhân dân Nhật báo nêu trên là hoàn toàn có cơ sở. Vì họ cho rằng điều này khá phù hợp với dư luận gần đây cho rằng sở dĩ chính quyền VN có các hành động phản ứng, phản kháng hết sức yếu ớt trước các hành động lấn át của TQ.
Phản ứng của các nhân sĩ trí thức và 61 Đảng viên kỳ cựu gần đây nhất đã đòi hỏi nhà nước phải bạch hóa sự kiện Thành Đô, mà theo họ cho biết họ không hề có hy vọng nhận được sự công khai minh bạch của nhà nước. Nhưng họ muốn thông qua các Thư ngỏ, Kiến nghị... nhằm để đánh động dư luận xã hội và thức tỉnh người dân trước nguy cơ Việt nam có thể biến thành một thuộc quốc. Điều quan trọng là cần công khai sự thật để đập tan luận điệu của bọn vẫn được gọi là 4 tốt, 16 chữ vàng giữa hai Đảng CS Việt nam và Trung quốc.
Vì vậy đối với mọi người dân, bây giờ thì thông tin từ Hoàn cầu Thời báo hay Nhân dân Nhật báo nêu trên là hoàn toàn có cơ sở. Vì họ cho rằng điều này khá phù hợp với dư luận gần đây cho rằng sở dĩ chính quyền Việt nam có các hành động phản ứng, phản kháng hết sức yếu ớt trước các hành động lấn át của Trung quốc là vì chính quyền Trung quốc đã nắm được tử huyệt của chính quyền Việt nam. Đó là các tin tức được coi là tuyệt mật về các thỏa thuận bí mật, mà phía Trung quốc cho rằng khi họ "bật mí" sẽ có khả năng làm sụp đổ chế độ hiện nay ở Việt nam. Vậy phải chăng tin đồn nói trên là một trong các tin tức tuyệt mật đó? Và còn bao nhiêu những điều tuyệt mật giữa hai Đảng, hai nhà nước Việt nam - Trung quốc sẽ được giải mật trong thời gian tới?
Kết:
Nói về lòng tin của quần chúng đối với Đảng CSVN, đầu năm 2013, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cho rằng "Niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ đang bị suy giảm do tệ tham nhũng, lãng phí, suy thoái đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Nhưng tôi tin, nhân dân bao dung vẫn tin và kỳ vọng nếu Đảng kịp thời chỉnh đốn. Tuy vậy, không được lạm dụng lòng tin của nhân dân." Nghĩa là Đảng sẽ tự đánh mất quyền lực hoặc sụp đổ nếu niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ không còn. Song ngay cả việc bưng bít hay thiếu minh bạch về những vấn đề liên quan đến vận mệnh của đất nước cũng đã và đang dần làm xói mòn lòng tin của nhân dân
Việc một bộ phận không nhỏ các cán bộ, đảng viên tham nhũng, lãng phí, suy thoái đạo đức lối sống... làm cho niềm tin của người dân vào Đảng CSVN đã suy giảm là một thực tế không thể chối cãi. Song đó chỉ là chuyện quá nhỏ nếu so với điều mà tin đồn cho rằng, lãnh đạo Đảng CSVN "... bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây….". Vì đó nếu điều đó có thực thì sẽ là hành động bán nước cho Trung quốc, điều mà không có ai mang trong mình giòng máu Lạc Hồng có thể chấp nhận được.
Còn nhớ lời của Vua Trần Nhân Tông có nói rằng: "Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác. Đó là tội phải chu di tam tộc".
Không biết ban lãnh đạo Đảng CSVN nghĩ gì về điều này? Còn chờ gì nữa, sao họ không lên tiếng để bác bỏ tin đồn có hại này, bằng cách bạch hóa toàn bộ "Kỷ yếu Hội nghị" của Hội nghị Thành Đô với nhân dân để xây dựng lòng tin nếu như tin trên là tin đồn nhảm. Chứ không thể im lặng một cách đáng ngờ như hiện nay, để người dân hoang mang mất lòng tin như vậy.
Mời đọc tài liệu MẬT NGHỊ THÀNH ĐÔ năm 1990 phía dưới của tập đoàn thái thú bắc bộ phủ: MƯỜI, PHIÊU, ANH, LINH ký với quan thầy Tàu: Giang Trạch Dân, Lý Bằng, Lương Quang Liệt, Hứa Thế Hữu.... . Sau biến cố CÁCH MẠNG DÂN TỘC & DÂN CHỦ Đông Âu vùng lên đập tan, quét sạch các chế độ độc tài & bạo quyền cộng sản Nga, Đức và toàn bộ 6 nước cộng sản Đông Âu.
Đứng trước cơn khủng hoảng nầy; khiến bọn CSHN vội vã chạy sang Tàu ký mật nghi bán nước,sát nhập VN vào lãnh thổ Tàu để được bảo hộ sự tồn vong cùng đồ đảng cộng sản còn sót lại tại Á Châu. Từ ấy, tập đoàn bán nước CSHN chúng ngoan ngoãn làm tay sai theo mệnh lệnh quan thầy. Chúng ra sức đàn áp, bắt bớ, bỏ tù & khủng bố dưới mọi hình thức dã man nhằm dập tắt các cao trào yêu nước chống giặc Tàu của mọi tầng lớp dân tộc trong, ngoài đảng. Nhưng hết lớp nầy vào tù, lớp khác đứng lên, khiến hai lũ giặc nội thù và ngoại xâm ngày càng bối rối, thì chúng càng xữ dụng bạo lực chất chồng thêm tội ác. Hành động tàn bạo nầy nhất định TRỜI không dung ĐẤT không tha. Hồn thiêng sông núi Việt và anh linh các đấng anh hùng tiền nhân của Tổ Quốc sẽ tác động lên tinh thần yêu nước, tinh thần bất khuất của các tầng lớp thanh niên, sinh viên và trí thức, các tầng lớp đảng viên quân, cán chính cao cấp rời bỏ đảng về với nhân dân. Họ hợp lại, sẽ biến thành hàng hàng, lớp lớp anh hùng Lê Lợi, Quang Trung thời đại, lãnh đạo toàn dân VN vùng dậy, đứng lên đập tan ĐCS phản quốc, đuổi giặc Tàu ra khỏi biên cương và hải đảo. Đó là nguyên lý tất thắng của cuộc đấu tranh chính nghĩa cứu quốc và kiến quốc. Trong ngoài hợp lực với trên bốn triệu đồng bào Việt tỵ nạn cộng sản hải ngoại, một sức mạnh phi thường đang từng ngày làm công tác QUỐC TẾ VẬN tại LHQ và nhân loại tiến bộ khắp thế giới làm sức đẩy bánh xa luân "DÂN CHỦ HÓA TOÀN CẦU" đang lăn tới.
Sự kiện nầy diễn ra; thì lập tức những "mật nghị, mật ước" giữa các tên tội phạm diệt chũng, chống nhân loại của lũ cộng sản Hà Nội, cộng sản Bắc Kinh, cộng sản Bình Nhưỡng vô hiệu hóa. Chúng trở thành tử tội trước vành móng ngựa lịch sử.
Thiện Ác Đáo Đầu
Cộng sản gây tội ác chất chồng
Máu xương dân tộc chảy thành sông
Buôn dân, bán nước phường vô đạo
Ngày cáo tội chung trước giống dòng.
Trúc Giang
Một Tướng CSVN Đã Xin Tị Nạn Chính Trị Tại Hoa Kỳ
và Tiết Lộ Âm Mưu Bán Nước Cho Trung Cộng.
*Chuyện Thiếu Tướng CSVN Hà Thanh Châu, Chính ủy Tổng Cục Công Nghiệp QuốcPhòng` của cộng sản Hà Nội, nộp đơn tại Seattle/WA xin tị nạn chính trị từ ngày 8-4-2013 và tiết lộ âm mưu bán nước cho Trung Cộng là một sự kiện thời sự quan trọng.
Thỏa Hiệp ngầm 05-07-2020là ngày thực hiện
đợt 1 sáp nhập nước Việt Namvào Trung Cộng
TS KERBY ANDERSON NGUYỄN
10 giờ sáng ngày 08-04-2013, Thiếu tướng Hà Thanh Châu, Chính Ủy Tổng Cục Công Nghiệp Quốc Phòng (Chủ Nhiệm Tổng Cục là Trung Tướng Nguyễn Đức Lâm) được Luật Sư William Lê hướng dẫn đến Sở Di Trú King County, Seattle, tiểu bang Washington State, nạp đơn "xin tỵ nạn chính trị", sau 2 tuần lễ ông và vợ ông đi thăm 3 người con đang là "du học sinh" ở tiểu bang này.
Bốn ngày sau, qua trung gian của 1 "viên chức" cao cấp Hoa Kỳ, ông trao cho chủ bút Tạp Chí Foreign Policy Magazine một tập tài liệu "tối mật", có liên quan đến sự sống còn của nước Việt nam, dự trù sẽ đăng tải cuối năm 2013. Tập tài liệu này, do người anh vợ của ông, Thiếu Tướng H.T.T. làm Chính Ủy Tổng Cục 2, dưới thời Tổng Cục Trưởng Trung Tướng Nguyễn Chí Vịnh, chép lại nguyên văn từ cuốn băng nhựa AKAI mang bí số ML887, ghi âm những cuộc họp bí mật của các nhà lãnh đạo Việt Nam: Nguyễn Văn Linh, Lê Khả Phiêu, Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nông Đức Mạnh và Trung Cộng: Giang Trạch Dân (sinh năm 1926), Lý Bằng, Lương Quang Liệt, Diệp Tuyển Ninh, Dương Đắc Chí, Hứa Thế Hữu... tại Thành Đô, thảo luận các thỏa hiệp sát nhập nước Việt Nam vào lãnh thổ "Trung Quốc".
Chúng tôi (tác giả bài viết này), hiện làm "bỉnh bút" cho tờ Foreign Policy Magazine, nên được phổ biến bằng Việt ngữ, giới hạn, trong vòng thân hữu.
Thật ra, các cam kết "giao nước Việt Nam cho Trung Quốc", đã được "ký" bằng "lời hứa danh dự " của ông Hồ Chí Minh với 2 Đại Tướng Tàu Trần Canh và Vị Quốc Thanh, thay mặt cho Mao Trạch Đông vào năm 1926. Bốn năm sau, năm 1930, thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam, ông Hồ khẳng định một lần nữa với Tổng Lý Chu Ân Lai:
"Việt Nam và Trung Quốc tuy hai mà một. Một dân tộc. Một Nền văn hóa. Một phong tục. Một tổ quốc. Nếu giúp chúng tôi thắng Pháp, thắng Nhật, thắng tất cả bọn tư bản vùng Đông Nam Á, nắm được chính quyền, thì nợ viện trợ sẽ hoàn trả dưới mọi hình thức, kể cả cắt đất, cắt đảo, lùi biên giới nhượng lại cho Trung Quốc, chúng tôi cũng làm, để đền ơn đáp nghĩa...."
Ngày 14-09-1958, ông Hồ chỉ thị Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký "công hàm" giao đứt quần đảo Hoàng Sa cho Mao Trạch Đông. Lê Duẩn (tên thật Lê Văn Nhuận: 1907-1986) chết ngày 10-07-1986, ông Nguyễn Văn Linh (Mười Cúc) lên nắm chức Tổng Bí Thư, tức khắc nối lại bang giao với Trung Quốc bằng 1 câu nói để đời trong lịch sử:
"Tôi cũng biết rằng, dựa vào Trung Quốc sẽ mất nước, nhưng mất nước còn hơn mất Đảng ".
Ngày 10-08-1987, ông Nguyễn Văn Linh (đang mắc bệnh ung thư) bay qua Trùng Khánh gặp Hồ Diệu Bang (1915-1989), Đặng Tiểu Bình (1904-1992= thọ 92 tuổi) bàn luận về các kế hoạch cắt đất, cắt biên giới và phát họa rõ ràng hơn 1 chương trình "sát nhập Việt Nam vào lãnh thổ Trung Quốc" qua chiến thuật "Hoà Bình, hữu nghị, chầm chậm, êm ả, kín đáo, không ai có quyền biết đến" với thời gian 60 năm, phân ra làm 3 giai đoạn, mỗi giai đoạn 20 năm.
GIAI ĐOẠN I: Ngày 15-07-2020 : QUỐC GIA TỰ TRỊ.
GIAI ĐOẠN II: Ngày 05-07-2040 : QUỐC GIA THUỘC TRỊ.
GIAI ĐOẠN III: Ngày 05-07-2060 : Tỉnh lỵ Âu Lạc.
Tỉnh trưởng vẫn là người Việt, đặt dưới quyền lãnh đạo của Tổng Đốc Quảng Châu.
Thời gian này, tiếng Việt là ngôn ngữ phụ, tiếng tàu là ngôn ngữ chính. Một chút lịch sử về "Âu Lạc”:
“Thế kỷ thứ 3 trước Tây Lịch, ông Thục Phán, thủ lãnh của bộ tộc Âu Việt, là một trong những bộ tộc của Bách Việt ở về phía Bắc Văn Lang đã cùng Hùng Vương thứ 18 đánh bại cuộc xâm lăng của nhà Tần. Sau khi thắng quân Tần, vua Hùng Vương nhường ngôi cho Thục Phán, sát nhập lãnh thổ của người Âu Việt và Lạc Việt vào một, lập nước Âu Lạc, đóng đô ở Cổ Loa, thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội ngày nay. Ông tự xưng là An Dương Vương, Nước Âu Lạc của An Dương Vương bị Triệu Đà thôn tính vào năm 206 trước Tây Lịch”.
QUY CHẾ KHU TỰ TRỊ:
Sau đây xin mời quý vị nghe lại cuộn băng nhựa của Tổng Cục 2 Việt nam với lời lẽ bề trên, trịch thượng của người Tàu, ban mệnh lệnh, giáo huấn, dạy dỗ, răn đe cấp lãnh đạo Việt Nam phải làm những gì suốt 60 năm dài "tịch thu" nước Việt Nam từng bước một: "Âm thầm, Lặng lẽ, Từ từ như tằm ăn dâu. Khéo như dệt lụa Hàng Châu. Êm như thảm nhung Thẩm Quyến..." theo thể thức "diễn tiến hoà bình". Làm cách nào để cho người Việt Nam và dư luận quốc tế nhìn nhận rằng, người Tàu không "cướp nước Việt" mà chính người Việt Nam tự mình "dâng nước" và tự ý đồng hóa vào dân tộc Trung Hoa.
Tại Thành Đô, Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh xin xỏ Đặng Tiểu Bình:
Nhờ Trung Quốc mà Đảng Cộng Sản Việt Nam mới nắm được chính quyền, mới thắng đế quốc Pháp, đế quốc Mỹ, diệt được bọn tư bản phản động. Công ơn Trung Quốc to lắm, bốn biển gộp lại cũng không bằng. Do thế, nhà nước Việt Nam đề nghị Trung Quốc xóa bỏ các hiểu lầm, các bất đồng đã qua. Phía Việt nam sẽ làm hết sức mình để vun bồi tình hữu nghị lâu đời vốn sẵn có giữa hai đảng do Mao Chủ Tịch và Hồ Chí Minh dày công xây dựng trong qua khứ. Việt Nam sẽ tuân thủ đề nghị của Trung Quốc là cho Việt Nam được hưởng "quy chế khu tự trị trực thuộc chính quyền trung ương Bắc Kinh" như Trung Quốc đã từng dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Tân Cương, Quảng Tây... Để kịp chuẩn bị tâm lý nhân dân và giải quyết các bước cần thiết cho việc gia nhập vào đại gia đình dân tộc Trung Quốc, xin cho thời hạn chuyển tiếp sát nhập là 60 năm: 1990-2020. 2020-2040. 2040-2060. (Hết Phần 1, xin xem tiếp Phần 2)
"Chúng tôi xin hứa là sẽ làm hết sức mình để vun đắp tình hữu nghị lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ Tịch Mao Trạch Đông và Chủ Tịch Hồ Chí Minh dày công xây đắp trong quá khứ. Chúng tôi sẵn sàng thực hiện các đề nghị của quý đồng chí cho "Việt Nam được hưởng quy chế khu tự trị thuộc chính quyền Trung Ương tại Bắc Kinh như quý quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây".
Đặng Tiểu Bình gật đầu (cái gật đầu hống hách của một kiểu Quang Vũ Đế, thiên triều nhà Hán, năm 41 sai Mã Viện đem quân sang chém giết phân nửa dân số nước Việt Nam vì Hai Bà Trưng không chịu đầu hàng quân Tàu xâm lược).
Sau khi gật đầu hai ba cái, cử chỉ tiêu biểu của một đấng bề trên, Đặng Tiểu Bình ban hành mệnh lệnh:
"Trung Quốc chấp nhận lời thỉnh cầu của Việt Nam. Riêng tôi, tôi cũng đồng ý hãy để cho Việt Nam có thời gian chuẩn gia nhập vào đại gia đình dân tộc Trung Quốc là 60 năm, bắt đầu thực thi kế hoạch sát nhập từ năm 2000 đến 2060".
Chúng ta nên biết rằng, năm 1958 (ngày 14-09), cộng sản Việt Nam tự nguyện dâng quần đảo Hoàng sa, và những năm 1988 đến 2009 cắt đất liền, đưa luôn Vịnh Bắc Bộ cho Trung Công... chỉ mới thanh toán 1/10 số nợ mà cộng sản Việt Nam vay của Trung Cộng từ năm 1927 đến năm 1975 tính luôn cả tiền lời lên đến 880 tỷ đô la! (Xin nhắc lại: 880 tỷ chứ không phải 18 tỷ hay 80 tỷ).
Nhưng món nợ này không được "thanh lý" bằng tiền, hiện kim hay hiện vật mà bằng lãnh hải, lãnh địa và lãnh thổ Việt Nam. Nghĩa là, số tiền vay mượn qua chương trình "viện trợ hữu nghị": vũ khí, súng đạn, quân trang, quân cụ, lương thực để cướp chính quyền và xâm chiếm miền Nam phải được trả bằng "đất", tiến hành đúng theo "thỏa hiệp ngầm" ký bằng "miệng" giữa ông Hồ Chí Minh với hai tướng Vị Quốc Thanh và Trần Canh, đại diện cho Mao Trạch Đông tại Quảng Châu ngày 22-03-1929.
Lấy đất dần dần, tịch thu nước Việt Nam dần dần, đồng hóa dần dần theo công thức "diễn tiến hoà bình" qua một nhà nước "thuộc địa" do người Việt Nam "quản lý" được chứng minh bằng những bước "xâm lược" thầm lặng như: Việt nam xài bản đồ "Lưỡi Bò", hiện có 12 triệu người Tàu định cư vĩnh viễn ở Việt Nam, lập phố phường sống từng khu vực biệt lập. Lá cờ Trung Cộng 5 ngôi sao, nay có thêm ngôi sao thứ 6, treo lủng lẳng ở các khu China Town Bình Dương, Vũng tàu, Pleiku, Ban Mê Thuộc, Thanh Hóa, Lạng Sơn... Cứ mỗi 5 năm, "tập đoàn thái thú" của Tàu tại Việt Nam lén lút lùi cột mốc biên giới vào sâu lãnh thổ Việt Nam từ 6 đến 15 cây số. Xóa mất Hiệp Định Biên Giới Trung Hoa Việt Nam do Pháp ký với triều đình Mãn Thanh năm 1887. Vì thế mất Ải Nam Quan, mất luôn Bản Giốc và mất nhiều phần đất của tổ quốc nữa mà người dân không được quyền biết. Xóa luôn hiệp ước phân định ranh giới Vịnh Bắc Bộ với Pháp-Thanh (do lịch sử để lại). Những hành động "nhượng địa, nhượng tô giới" là những bước tiến âm thầm trong kế hoạch 60 năm sáp nhập nước Việt Nam trở thành một "khu tự trị", hay "thuộc trị" hoặc 1 "tỉnh lỵ" của Trung Cộng là điều bất khả chối cãi. Đừng nghĩ rằng, việc này không thể xảy ra. Nước đã mất rồi! Chỉ chờ thời gian xóa mất giống dân Lạc Việt này thôi! Sau đây xin mời nghe lại cuộn băng ghi âm cuộc họp mật (1992) giữa Tướng Lương Quang Liệt, Tổng Cục Tình Báo Hoa Lục và Tướng Nguyễn Chí vịnh, Tổng Cục 2 Việt Nam.
17 năm sau đó, Tướng lương Quang Liệt, năm 2009, giữ chức vụ Tổng Tham Mưu trưởng Quân Đội Trung Cộng.
"Thưa các đồng chí (nói với phái đoàn Việt Nam). Trong mấy ngày qua, chúng ta đã cùng nhau bàn thảo nhiều vấn để đạt được đồng thuận về căn bản, vì không có sự tranh cãi về các tiểu tiết. Kết luận, ta có thể hài lòng khẳng định, Hội Nghị giữa hai nước chúng ta đã thắng lợi to lớn. Mời các đồng chí cạn chén".
Lương Quang Liệt nói tiếp:
- "Những gì được đưa ra bàn hội nghị, chung quy chỉ là những điều đã được đề cập từ nhiều năm qua trong các cuộc gặp gỡ cấp Tham Mưu và Chính Trị Bộ. Với tư cách Chính Ủy được đề cử chủ trì (chủ tọa) Hội Nghị, tôi xin tóm tắt vài điều cần thiết. Trước hết, Hội Nghị nhất trí về quan điểm "không có" và "không hề có" chuyện Trung Quốc thôn tính Việt Nam. Trung Quốc không có nhu cầu thôn tính bất cứ quốc gia nào. Các nước lân bang đều nghèo đói. Họ cần đến Trung Quốc hơn là Trung Quốc cần đến họ. Những tài nguyên họ có đều ở dạng tiềm ẩn dưới đất hoặc ngoài biển.
Không có Trung Quốc giúp vốn, giúp kỹ thuật tân tiến thì chẳng khai thác được. Trong giai đoạn phải dồn nỗ lực cho phát triển kinh tế, mà cố lãnh tụ Đặng Tiểu Bình đã vạch ra, mọi sự đòi hỏi, đèo bồng, phản bác (phản đối và bác bỏ) đều vô nghĩa. Không có kẻ thù nào ngăn cản được bước tiến nhảy vọt của Trung Quốc hiện nay. Trung Quốc của thế kỷ 21 không còn là Trung Quốc của thế kỷ 20. Trung Quốc của thế kỷ 21 là Trung Quốc đại cường, nằm trong danh sách siêu cường, lãnh đạo toàn cầu. Thế mà ở tại Việt Nam, đất nước do chúng tôi "ủy nhiệm" quý vị "quản lý" lại có luồng dư luận phản động, phản bác, biểu tình om sòm, lên án chúng tôi nào là "bá quyền", "bọn bành trướng Bắc Kinh".
Nếu cứ để bọn dân chủ Việt Nam tiếp tục vô lễ, hỗn hào như vậy, tôi thấy thối lắm, thưa các đồng chí. Bọn dân chủ ở Việt Nam cứ hô hoán ầm ĩ lên rằng công trình vẽ lại đường biên cương (đồng nghĩa với biên ải, biên thùy , biên giới) giữa Trung quốc và Việt Nam là bán nước và cướp nước". (Hết Phần 2, còn tiếp)
Xin xem bản in của báo phía dưới...
Bí ẩn vẫn bao trùm Hội nghị Thành Đô
Hội nghị Thành đô 1990
Files Photos
Hội Nghị Thành Đô là cụm từ nhức nhối đối với người quan tâm tới vận mệnh đất nước có liên quan đến yếu tố Trung Quốc. Hồi gần đây sự đòi hỏi minh bạch hội nghị này ngày một xuất hiện nhiều hơn trong giới sĩ phu cũng như tướng lãnh quân đội Nhân dân Việt Nam.
Trong hai ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990 Hội nghị Thành Đô được tổ chức tại Tứ Xuyên quy tụ lãnh đạo cao cấp của hai nước Việt Nam-Trung Quốc cho đến nay vẫn còn để lại trong lòng người dân nhiều câu hỏi về những gì mà hai bên bàn luận. Những khuôn mặt phía Việt Nam như Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười, và Phạm Văn Đồng, cố vấn ban chấp hành Trung ương Đảng. Phía bên kia là Giang Trạch Dân, Tổng bí thư đảng cộng sản Trung Quốc cùng với Lý Bằng, Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc.
Qua hình ảnh, những cái bắt tay đi kèm những nụ cười cho biết họ vừa bàn thảo những sự kiện quan trọng nhưng không ai được đọc hay nghe những gì mà hai bên thỏa thuận bên trong hội nghị. Từ đó đến nay, sự bí mật, hay nói đúng hơn là bưng bít vẫn bao trùm câu chuyện Thành Đô như một vùng cấm của người cộng sản mặc dù nội dung của nó liên quan đến vận mệnh quốc gia dân tộc.
Lịch sử cho thấy bất cứ sự thỏa hiệp mờ ám nào dù tinh vi tới đâu cũng bị lật tẩy. Không ai có thể buộc kẻ thù không được công bố những gì mà trong quá khứ đã trót bằng lòng với chúng. Câu chuyện công hàm Phạm Văn Đồng là một thí dụ lớn nhất mà nhà nước có thể lấy làm bài học vì thời gian dù có bao lâu vẫn không mài mất được chữ ký của một Thủ tướng.
Qua hình ảnh, những cái bắt tay đi kèm những nụ cười cho biết họ vừa bàn thảo những sự kiện quan trọng nhưng không ai được đọc hay nghe những gì mà hai bên thỏa thuận bên trong hội nghị. Từ đó đến nay, sự bí mật, hay nói đúng hơn là bưng bít vẫn bao trùm câu chuyện Thành Đô
Công hàm Phạm Văn Đồng do Hà Nội quá lâu không lên tiếng giải bày khiến Trung Quốc có lợi thế như một yếu tố phân hóa quần chúng không còn tin tưởng vào sự lãnh đạo của chính quyền khi xảy ra vấn đề tranh chấp biển đảo với Trung Quốc. Tương tự như vậy, Trung Quốc đã dùng sự mập mờ của Hội Nghị Thành Đô để bịt miệng lãnh đạo Việt Nam trong hoàn cảnh lịch sử khiến tay họ trót nhúng chàm vì quá tin vào người bạn xã hội chủ nghĩa.
Năm 2004 tập hồi ký của nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch cho thấy phần nào sự bí ẩn phía sau khi ông bị Trung Quốc gạt ra khỏi Hội Nghị vì quan điểm chống Trung Quốc công khai của ông. Yếu tố này một lần nữa chứng minh sự gượng ép của những người đại diện Việt Nam tham gia hội nghị và mãi một phần tư thế kỷ sau đó bí mật vẫn bao trùm câu chuyện Thành Đô.
Đại tá công an Nguyễn Đăng Quang là người từng nhiều lần tiếp xúc với nguyên Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch cho biết:
Chụp ảnh lưu niệm sau hội đàm Thành Đô
Trung quốc đưa ra một điều kiện tiên quyết đó là Việt Nam thực tâm muốn bình thường, cải thiện quan hệ ngoại giao với Trung Quốc thì việc đầu tiên là Việt Nam phải loại bỏ Bộ trưởng Thạch, đó là điều anh ấy nói riêng với tôi và sau này tôi được biết anh ấy nói công khai trong Bộ Ngoại giao. Còn nhiều việc anh ấy nói với tôi nữa nhưng tôi chưa dám công bố bởi vì có thể những việc đó anh ấy sẽ viết trong cuốn hồi ký của anh ấy.
Anh ấy là người rất hiểu Trung Quốc và hiểu tận tim gan của họ. Ví dụ như Trung Quốc nói rằng đảo Hoàng Sa có xương của người Trung Quốc thì ảnh đập lại anh ấy nói nếu như thế thì ngay thủ đô Hà Nội cũng sẽ là đất của Trung Quốc bởi vì gò Đống Đa có rất nhiều xương của Trung Quốc vì người Hán bị vua Quang Trung tiêu diệt chất thành cả một cái gò như thế. Nếu nói đâu có xương của người Hán người Trung Quốc thì nơi đó là dất của Trung Quốc thì phi khoa học.
Việt Nam một tỉnh tự trị của Trung Quốc?
Tài liệu về hội nghị này hết sức ít ỏi khiến bao nhiêu học giả muốn nghiên cứu về nó phải chịu thua vì sự trung thành của người trong cuộc. Bí mật càng giữ, sự xuyên tạc sự thật về nó càng khiến người ta tin hơn, đặc biệt nếu sự xuyên tạc ấy đến công khai từ phía Trung Quốc khi hai nước chạm trán với nhau trên vấn đề biên cương lãnh thổ.
Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây….Phía Trung Quốc đồng ý và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên
Tờ Thời báo Hoàn Cầu và Tân Hoa Xã
Tờ Thời báo Hoàn Cầu và Tân Hoa Xã vừa cùng nhau công bố những chi tiết mà hai cơ quan này gọi là sự thật về “Kỷ Yếu Hội Nghị” trong những ngày vừa qua với những câu chữ như sau:
Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa Cộng sản, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam sẽ cố gắng hết sức mình để vun đắp tình hữu nghị vốn lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp trong quá khứ. Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh , như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây….
Phía Trung Quốc đồng ý và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên , và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.”
Với những từ ngữ tuyên giáo như thế không ai có thể tin rằng lãnh đạo Việt Nam đã mù quáng đến nỗi đi tới quyết định như vậy mặc dù sự xụp đổ của Liên Xô đã khiến đảng Cộng sản Việt Nam phải tìm cách dựa vào Trung Quốc để sống còn.
Dù sao thì Chủ nghĩa Xã hội cũng không thể biến Việt Nam thành một tỉnh tự trị của Trung Quốc vì ông Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười cộng với Phạm Văn Đồng không đủ chính danh để ký một văn tự vô giá trị như thế.
Tuy nhiên vì Hà Nội tiếp tục im lặng nên câu hỏi đã dần dần biến thành sự thật cho dù chỉ phân nửa sự thật đến từ Hoàn Cầu Thời Báo.
Phản ứng của nhân sĩ trí thức và tướng lãnh Việt Nam rõ ràng là phẫn nộ và họ đòi hỏi nhà nước phải bạch hóa sự kiện Thành Đô. Trước tiên là Thiếu tướng Lê Duy Mật sau đó là Đại tá công an Nguyễn Đăng Quang cùng nhiều người khác đã công khai kiến nghị lãnh đạo phải giải thích minh bạch những điều mà Trung Quốc đưa ra như đã từng đưa sự việc công hàm Phạm Văn Đồng khiến Hà Nội phải ngậm bù hòn làm ngọt không thể tiến tới một vụ kiện phản đối Trung Quốc.
Hoàn Cầu Thời báo thì nó không phải là cơ quan chính thức của dảng và nhà nước Trung Hoa cho nên nó đưa như thế ai muốn hiểu thế nào thì hiểu, bản thân cá nhân tôi thì tôi không tin đó là sự thật. Thế nhưng nếu mình im lặng trong chuyện này thì bất lợi cho mình. Phải có một kênh thông tin nào đó để phản bác lại chuyện đó
Đại tá Nguyễn Đăng Quang
Nói với chúng tôi Thiếu tướng Lê Duy Mật cho biết:
Vấn đề Thành Đô quan hệ như thế nào nó ảnh hưởng ra sao và hậu họa của nó thế nào thì giờ mình cũng chưa thật rõ cho nên tôi nêu ra vấn để để các đồng chí lãnh đạo xem xét và đồng thời có ý kiến với toàn bộ đảng toàn nhân dân thế thôi. Bây giờ thì cứ chờ họ xem quan điểm, thái độ và cách giải quyết như thế nào. Còn bây giờ mình hãy nêu vấn đề, một vài ví dụ thế thôi. Nó là vấn đề bang giao chiến lược và của tập thể chứ không phải của một cá nhân nào.
Đại tá Nguyễn Đăng Quang không tin vào những thông tin này tuy nhiên theo ông nếu nhà nước vẫn chủ trương im lặng thì không khác gì trao vũ khí tuyên truyền cho giặc, ông chia sẻ:
Cái thông tin này thì bản thân tôi nghĩ rằng không phải là thật. Hoàn Cầu Thời báo nó tung ra để gây chia rẽ mâu thuẫn trong nội bộ lãnh đạo Việt Nam với nhau thôi và gây phân hóa trong người dân Việt Nam với nhau.
Hoàn Cầu Thời báo thì nó không phải là cơ quan chính thức của dảng và nhà nước Trung Hoa cho nên nó đưa như thế ai muốn hiểu thế nào thì hiểu. bản thân cá nhân tôi thì tôi không tin đó là sự thật. Thế nhưng nếu mình im lặng trong chuyện này thì bất lợi cho mình. Phải có một kênh thông tin nào đó để phản bác lại chuyện đó.
Còn chuyện có công bố cho dân biết về Hội nghị Thành Đô hay không thì tôi nghĩ rằng không phải là chuyện dễ làm nhưng phần nào ít nhiều gì cũng phải cho người dân biết.
Hội Nghị Thành Đô như một giọt nước tràn ly, đây là cơ hội để nhà nước bạch hóa một sự thật được giữ kín trong suốt 24 năm. Tuy nhiên bí mật khi đã trở thành gai nhọn thì cách hay nhất vẫn phải chịu đau mà lấy gai lể nó.
Tóm lược vê Hội Nghị Thành Đô ô nhục ! VN hoàn toàn bị trung cẩu lừa gạt từ vấn đề Campuchia đến quan hệ kiểu tôi tớ với tàu khựa . Xem tập hồi ký của Trần Quang Cơ ta thấy bọn CSVN đúng là một lũ đầu tôm . VỀ HỘI NGHỊ CẤP CAO VIỆT - TRUNG TẠI THÀNH ĐÔ - TRUNG QUỐC của Trần Quang CơTác giả làm việc ở Bộ ngoại giao từ năm 1954. Năm 1968 ông tham gia Hội nghị Paris (1968-1973), cuộc đàm phán về bình thường hoá quan hệ với Mỹ (1975-1978) và các cuộc thương lượng giải quyết vấn đề Campuchia (thập niên 80-90 thé ký 20). Năm 1991, được đề nghị làm Bộ trưởng Ngoại giao thay thế ông Nguyễn Cơ Thạch, ông viện lý do “sức khoẻ” để từ chối. Cuối năm 1993, ông xin rút khỏi Ban chấp hành Trung ương Đảng. Sự kiện hội nghị bí mật Thành Đô tháng 9-1990 giữa hai đoàn đại biểu cấp cao hai nước Việt – Trung để bình thường hóa quan hệ là một thất bại nhục nhã của Việt Nam chuyển con đường phát triển của nước dẫn đến tình hình một lần nữa Trung Quốc lại trở thành mối uy hiếp trực tiếp và nguy hiểm nhất đối với độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và con đường phát triển của Việt Nam. Cuộc gặp Thành Đô giữa lãnh đạo Trung-Việt (3-9-1990). Hàng trước từ trái sang: Hoàng Bích Sơn, trưởng ban đối ngoại T.Ư.(1), Phạm Văn Đồng, cố vấn BCHTƯ (3), Nguyễn Văn Linh, tổng bí thư (4), Giang Trạch Dân (5), Lý Bằng (6), Đỗ Mười (7), Hồng Hà (9)
Bắc Kinh giấu không cho ta biết gì về những thoả thuận giữa họ và các nư¬ớc lớn trong Hội đồng bảo an, mặt khác cũng giữ kín cuộc hẹn gặp ta ở Thành Đô vì không muốn làm cho phương Tây và ASEAN lo ngại khả năng đoàn kết hợp tác giữa Trung Quốc và Việt Nam. Thành Đô là thành công hay là thất bại của ta ? Ngay say khi ở Thành Đô về, ngày 5.9.90 anh Linh và anh Mười, có thêm anh Thạch và Lê Đức Anh, đã bay sang Phnom Penh thông báo lại với Bộ Chính trị Campuchia nội dung cuộc gặp gỡ cấp cao Việt-Trung.
Để thêm sức thuyết phục Phnom Penh nhận Thoả thuận Thành Đô, anh Linh nói với lãnh đạo Campuchia : “Phải thấy giữa Trung Quốc và đế quốc cũng có mâu thuẫn trong vấn đề Campuchia. Ta phải có sách lược lợi dụng mâu thuẫn này. Đừng đấu tranh với Trung Quốc đến mức xô đẩy họ bắt tay chặt chẽ với đế quốc”.
Lập luận này được Lê Đức Anh mở rộng thêm: “Mỹ và phương Tây muốn cơ hội này để xoá cộng sản. Nó đang xoá ở Đông Âu. Nó tuyên bố là xoá cộng sản trên toàn thế giới. Rõ ràng nó là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm. Ta phải tìm đồng minh. Đồng minh này là Trung Quốc.”
Nguyễn văn Linh bồi thêm : “ Xin các đồng chí chú ý lợi dụng mâu thuẫn, đừng bỏ lỡ thời cơ. Trung Quốc muốn đi với Mỹ, nhưng Mỹ ép Trung Quốc nên Trung Quốc cũng muốn có quan hệ tốt với Lào, Việt Nam và Campuchia. Nếu ta có sách lược tốt thì ta có giải pháp Đỏ." .Nhìn lại, trong cuộc gặp Thành Đô, ta đã mắc lỡm với Trung Quốc ít nhất trên 3 điểm :
* Trung Quốc nói cuộc gặp Thành Đô sẽ đàm phán cả vấn đề Campuchia và vấn đề bình thường hoá quan hệ, nhưng thực tế chỉ bàn vấn đề Campuchia, còn vấn đề bình thường hoá quan hệ hai nước Trung Quốc vẫn nhắc lại lập trường cũ là có giải quyết vấn đề Campuchia mới nói đến chuyện bình thường hoá quan hệ hai nước ;
Tôi không có mặt trong buổi anh Thạch tiếp Từ Đôn Tín, nhưng khi nghe kể lại chuyện đó tôi không hề ngạc nhiên.
Tôi nhớ như in cái giọng ngạo mạn kiểu “sứ giả thiên triều” của Từ trong buổi gặp ngày 13/6/90: “Lần này tôi sang Hà Nội chủ yếu để bàn với các đồng chí Việt Nam về vấn đề Campuchia, đồng thời cũng xem xét nguyện vọng của các đồng chí, chúng tôi đã chuẩn bị ý kiến về quan hệ hai nước Trung Quốc - Việt Nam”.
Sau khi xảy ra va chạm giữa Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch và trưởng đoàn Trung Quốc Từ Đôn Tín, sức ép vào nội bộ ta càng mạnh hơn: suốt nửa cuối 1990 đến 1991, Trung Quốc phớt lờ Bộ Ngoại giao, chỉ làm việc với Ban Đối ngoại; Ngoại trưởng Tiền Kỳ Tham từ chối gặp Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch tại kỳ họp Đại hội Đồng LHQ ở Nữu-ước tháng 9.90.
Trước đó, ý đồ Trung Quốc phân hoá nội bộ ta đã bộc lộ rõ: muốn ta phải thay đổi Bộ trưởng Ngoại giao. Không chỉ thế, Trung Quốc còn lợi dụng sự cả tin của lãnh đạo ta để phá hoại uy tín đối ngoại của ta bằng cách dùng thủ đoạn cố ý lộ tin ra với các nước.
Liều thuốc của thày Tàu bốc cho ta thật là đắng, thế nhưng đâu có dã được tật !
Từ Đôn Tín không quên nhắc đến điều kiện không thể thiếu có thể bình thường hoá quan hệ với Việt Nam: “Tôi rất hoan nghênh đồng chí Lê Đức Anh và đồng chí Hồng Hà là từ nay không nói diệt chủng nữa. Khi về Hà Nội nếu gặp Campuchia đề nghị các đồng chí cũng nói ý này... Nếu các đồng chí lãnh đạo Việt Nam sang Trung Quốc mà cái đuôi Campuchia vẫn còn thì chúng tôi khó nói với nhân dân. Mong vấn đề Campuchia được giải quyết thì khi bình thường hoá quan hệ chúng tôi có thể ăn nói với nhân dân Trung Quốc và nhân dân thế giới”. Sau khi đã cam kết từ nay không nói đến vấn đề diệt chủng nữa, Hồng Hà hỏi Từ: “Tôi muốn hỏi đồng chí ngoài vấn đề diệt chủng, còn hai vấn đề gai góc là vấn đề quân đội các bên Campuchia và vai trò LHQ thì phương hướng giải quyết nên thế nào, để chúng tôi có thể góp phần làm cho cuộc gặp thứ trưởng Việt – Trung ở Bắc Kinh sắp tới đạt kết quả tốt”.
Xin ý kiến đối phương và hướng giải quyết vấn đề để đàm phán trước khi đàm phán, thật là chuyện có một không hai trong lịch sử đối ngoại ! Hơn 20 năm trôi qua từ hội nghị Thành Đô (9/1990) đến hội nghị Bắc Kinh (10/2011), từ cái ngày ông Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam - Nguyễn Văn Linh lén lút đi gặp quan thầy Trung Quốc tại Thành Đô để mua lấy sự sống còn cho đảng đến bây giờ đã hơn 20 năm. Những gì xảy ra cho đất nước Việt Nam từ bàn tay khuynh loát, thống trị của Trung Quốc ra sao trong suốt thời gian đó nhiều người đã quá rõ. Và như nhà nghiên cứu Nguyễn Trung trong bài viết mang tựa đề "Phải chặn đứng nguy cơ tái diễn kịch bản Thành Đô 1990" đã viết :
"Nhìn lại hơn 20 năm qua, điểm lại toàn bộ những việc trong quan hệ hai nước đã làm được, từ đàm phán biên giới trên bộ và dưới biển, phát triển quan hệ kinh tế, việc Trung Quốc trúng thầu hàng trăm công trình kinh tế quốc gia quan trọng của Việt Nam, thuê đất, thuê rừng, bô-ít Tây Nguyên, ti-tan ven biển miền Trung, những hoạt động tăng cường quan hệ thực ra là nhằm tăng cường chi phối nhân sự nước ta, những hoạt động tăng cường giao lưu.., tất cả đều chịu sự chi phối sâu sắc của quyền lực mềm Trung Quốc.
Những sai lầm, yếu kém chủ quan của ta, do chính ta tự gây nên, cần phải được nhìn nhận khách quan và phê phán nghiêm khắc, không thể đổ thừa cho bất kỳ ai bên ngoài.
Chương 16 dưới tiêu đề “Món nợ Thanh Đô”, nhà ngoại giao kỳ cựu Trần Quang Cơ viết :
“Từ tháng 9/90, Trung Quốc luôn coi ta mắc nợ họ về thoả thuận Thành Đô, đòi ta thực hiện thoả thuận đó, cụ thể là tác động với Phnom Penh nhận SNC có 13 thành viên và do Sihanouk làm Chủ tịch. Với cách làm đó, họ khơi sâu thêm bất đồng trong nội bộ ta…
Tiếp sau việc vấn đề Campuchia được giải quyết là việc thực hiện bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc. Theo thoả thuận giữa hai bên, ngày 5/11/91, Tổng bí thư Đỗ Mười và Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã có cuộc đi thăm chính thức nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đánh dấu sự bình thường hoá quan hệ giữa hai nước. “Quan hệ Việt – Trung tuân thủ các nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau... Quan hệ Việt – Trung không phải là quan hệ đồng minh, không trở lại quan hệ như những năm 50-60...”
Tuy nhiên sau khi bình thường hoá quan hệ, lại dồn dập diễn ra những sự kiện xấu trên nhiều mặt quan hệ giữa hai nước, tập trung gay gắt nhất là các vấn đề liên quan đến lãnh thổ trên bộ vùng biên giới Hà Giang tháng 2, 3, 4/92; vụ nối lại đường xe lửa Liên vận ở Đồng Đăng, Lạng Sơn tháng 12/91 rồi 4.5.92; Lục Lầm, Quảng Ninh tháng 5.92) và tranh chấp biển đảo mà đỉnh cao là vụ Trung Quốc công khai hoá việc ký kết họp đồng thăm dò khai thác dầu khí với Công ty Năng lượng Mỹ Crestone tại một vùng rộng lớn trên thềm lục địa của Việt Nam (bãi Tư Chính).
Vì sao Trung Quốc tăng cường lấn ép ta vào thời điểm này ? Vì Trung Quốc cho rằng tình hình đó đang thuận lợi cho họ tranh thủ gấp rút thực hiện yêu cầu tăng thế và lực (xây dựng hải quân nhanh, nổ thử bom 1000 kilôton, thi hành chiến lược “biên giới mềm”) nhằm tạo cho mình một vị thế đỡ bất lợi so với Mỹ và các nước lớn khác, trong đó có ý đồ gấp rút biến biển Nam Trung Hoa - mà ta gọi là biển Đông - thành vùng biển độc chiếm của Trung Quốc, từ đó khống chế toàn bộ vùng Đông Nam Á.
Một số tài liệu về sự bán nước VN ác hại của Đảng CSVN...
* Thỏa Thuận Thành Đô ghê gớm thế nào cho sự tồn tại của đất nước VN?
* Một thiếu tướng VC yêu cầu Đảng CSVN tổng kết cuộc chiến 1979-1984 và công khai thỏa thuận Thành Đô.
Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc
Hà Nội ngày 20 tháng 07 năm 2014
Kính gửi: Đ/C Tổng Bí Thư BCHTƯ Đảng Các đ/c Uỷ viên Bộ Chính Trị Các đ/c Uỷ viên Ban Bí thư TƯ Đảng Các đ/c ủy viên Trung ương Đảng khóa XI.
Tôi là: Lê Duy Mật – Thiếu tướng – Nguyên Phó Tư lệnh – Tham mưu trưởng Quân khu 2 và Tư lệnh Mặt trận 1979-1984 (Hà Giang) thay mặt một số đảng viên, xin được nêu thắc mắc và kiến nghị như sau:
Cuộc chiến tranh biên giới 1979 – 1984 cũng là một trong những cuộc chiến đẫm máu vô cùng đau thương trong lịch sử nước ta. Đây là cuộc chiến tương tự các cuộc chiến Bạch Đằng,Chi Lăng, Đống Đa, nhưng tại sao đã qua 30 năm mà cuộc chiến này vẫn không được tổng kết, đúc rút kinh nghiệm phục vụ cho mục tiêu bảo vệ Tổ quốc cấp thiết trước mắt, Việc tổng kết này vô cùng cần thiết và sẽ rất hữu ích khi mà đối tượng chiến đấu vẫn là một, khi mà quân xâm lựợc đang cận kề chứ không xa xôi như trong các cuộc chiến chống Pháp, chống Mỹ. Bên cạnh đó các chính sách đối với gia đình liệt sĩ và những người chống xâm lược năm 1979 – 1984 ,chúng tôi đã nhiều lần đề nghị nhưng vẫn không được giải quyết ,mà chỉ có những lời hứa hẹn xuông.
Phải chăng có một nguyên nhân mà chúng tôi săp nêu lên sau đây.
Chúng ta đều biết mọi tiêu cực trong xã hội hiện nay từ Trung Quốc gây ra, khiến cho nước ta sản xuất lẹt đẹt, lạc hậu, đã thế, họ lại còn có những lời sỉ nhục đôi với cả dân tộc ta :“Việt Nam là con hoang, loại vô liêm sỉ, phải cho thêm vài bài học”. Vậy mà, lãnh đạo ta không hề có một phản ứng nào!
Rồi khi bọn xấu trà trộn trong đám biểu tình được xúi giục phá phách gần 1000 nhà máy của Hàn Quốc, Đài Loan,Singapore,Trung Quốc, thì công an lúc đó làm ngơ , sau đó mới xuất hiện, chỉ xử lý qua loa và xin lỗi xin đền bù thiệt hại cho họ. Trong khi đó Tung Quốc đâm phá gần 30 tàu ,thuyền của chúng ta thì không quyết liệt đòi bồi thường, mà chỉ “nhẹ nhàng” lên án.
Khi có hiện tượng bất thường nho nhỏ về dân sự thì lập tức nửa đêm đại sứ của Việt Nam ở Bắc Kinh bị gọi đến để nhận thư phản kháng, còn khi Trung Quốc gây hại cho ta thì chỉ có cán bộ Bộ Ngoại giao Việt Nam đến gặp cơ quan Lãnh sự Trung Quốc tại Hà Nội để giao công hàm phản kháng.
Lạ lùng nhất là tỉnh ủy Quảng Đông mà lại ngang nhiên gửi công văn cho Bộ Ngoại giao Việt Nam yêu cầu phải thực hiện 16 việc phải làm. Một thái đọ trịch thượng ,coi thường nước ta rất vô lễ mà ta vẫn chịu đựng.
Trung Quốc tự tiện cho giàn khoan vào xâm nhập lãnh hải Việt Nam bất chấp mọi ý kiến phản đối của nhân dân ta và dư luận các nước lên án. Khi rút đi, họ tuyên bố là do họ đã xong việc. Trung Quốc làm như vậy mà ta vẫn khen Trung Quốc là bạn tốt, 16 chữ vàng và 4 tốt. Đến nỗi dư luận thế giới cũng phải ngạc nhiên về thái độ quá ư nhu nhược của chúng ta.
Ngạc nhiên hơn là Nhà nước đàn áp những người biểu tình chống xâm lược ở trong nước mà chỉ khuyến khích biểu tình ở nước ngoài.
Chẳng lẽ một dân tộc Việt Nam anh hùng đã ba lần chiến thắng Nguyên Mông, đã có Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu, mà nay lại hèn kém như vậy sao! Chúng tôi cho rằng nguyên nhân sâu xa là ở Thỏa hiệp Thành Đô ngày 4/9/1990 của một số vị lãnh đạo. Chúng tôi chưa rõ thực hư thế nào mà chỉ biết sau này những hiện tượng tiêu cực xảy ra đã thể hiện nội dung của bản Thỏa hiệp đó . Xin trích một đoạn Thỏa hiệp Thành Đô: “Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa Cộng sản, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam sẽ cố gắng hết sức mình để vun đắp tình hữu nghị vốn lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp trong quá khứ. Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh , như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông,Tây Tạng,Quảng Tây….
Phía Trung Quốc đồng ý và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.” .(Hết trích) (1) .
Vì vậy, chúng tôi yêu cầu trong hội nghị TW này Bộ chính trị , Ban Bí thư cần công bố các văn bản của Thỏa hiệp Thành Đô ,để chứng minh thực hư thế nào.Nếu Thỏa hiệp Thành Đô là đúng như vậy thì rõ ràng là một bản thỏa hiệp rất nguy hiểm cho đất nước như là phản bội Tổ Quốc. Vì vậy, chúng tôi đề nghị Hội nghị TƯ xem xét và ra tuyên bố phản bác bản thỏa hiệp đó ,chấn chỉnh lại tổ chức, kỷ luật những người đã ký và những người thực hiện sau này. Có như vậy Đảng ta mới thực sự là một Đảng chân chính, dám nhận khuyết điểm, dám công khai khuyết điểm như Bác Hồ đã nói: “Một Đảng mà không dám nhận khuyết điểm, công khai khuyết điểm là một Đảng hỏng”.
Theo điều lệ Đảng (điều 3 khoản 3), Đảng là của nhân dân lao động ,Đảng của toàn thể đảng viên vì vậy chúng tôi có quyền yêu cầu phải công khai các hoạt động của những người lãnh đạo để dân biết ,dân bàn,dân làm,dân kiểm tra như trong các Nghị quyết TƯ đã đề ra .
Trên đây là những kiến nghị tâm huyết và bức xúc của đảng viên.Tôi mong rằng :Bộ chính trị ,Ban bí thư nên tôn trọng ý kiến của các đảng viên cơ sở và thực hiện các việc nói trên .Tóm lại là:
1- Tổng kết cuộc chiến tranh chống quân xâm lược năm 1979 ,thực hiện chính sách qui tập mồ mả ghi công các anh hùng liệt sĩ trong cuộc chiến tranh chống quân xâm lược cũng như bao cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ Quốc trước đây của dân tộc ta, tổ chức kỷ niệm trọng thể hàng năm.
2- Công khai bản Thỏa hiệp Thành Đô tháng 9/1990 để toàn dân ,toàn Đảng biết được thực hư và ra tuyên bố để giải thích các hiện tượng tiêu cực . Thỏa hiệp Thành Đô là thứ ung nhọt đang di căn khắp cơ thể đất nước ta.
Nguy cơ mất nước đang là sự thật, mong các đồng chí có lương tâm ,vì sự nghiệp của tổ quốc mà thực hiện cho được. Nếu ở Hội nghị Trung ương X này không ra được bản tuyên bố thì yêu cầu đưa vào chương trình Đại hội Đảng bất thường hoặc Đại hội 12.
Phát triển quan hệ không thù địch, hơn thế nữa còn phải thân thiện với các nước láng giềng, là một chính sách đúng đắn của mọi nhà nước yêu chuộng hòa bình công lý. Chính sách láng giềng thân thiện lại cần được ưu tiên hơn, khi láng giềng là một cường quốc. Bởi vậy, năm 1990, các nhà lãnh đạo Việt Nam tiến hành chính sách bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc sau hơn một thập kỷ chiến tranh và xung đột biên giới là việc cần làm.
Thế nhưng cái cách mà Việt Nam tiến hành chính sách bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc thì thật không bình thường. Không chỉ như vậy, nội dung bình thường hóa quan hệ mà Việt nam cố gắng để đạt được, cụ thể hóa bằng Thỏa thuận Thành Đô (4/9/1990), là một nội dung bất lợi cho Việt Nam. Không chỉ bất lợi, mà ngày càng thêm thảm họa. Mức độ thảm họa tăng theo cấp số nhân cùng với thời gian mà chính những người tham gia đàm phán Thỏa thuận Thành Đô đã không lường trước được.
Hai mươi tư năm trôi qua kể từ ngày ký Thỏa thuận Thành Đô, hậu quả khôn lường của nó đối với Việt Nam nguy hiểm đến nỗi mà ai trong số họ còn sống, bề ngoài không dám thể hiện, hoặc cố viện dẫn hoàn cảnh để thanh minh bào chữa, nhưng trong sâu xa tâm khảm, đều cảm thấy hối tiếc.
BA SAI LẦM
1. Sự hoảng hốt lịch sử
Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu đã làm cho một số lãnh đạo Việt Nam hoảng hốt. Lo sợ sự sụp đổ thể chế, lãnh đạo Việt Nam lúc bấy giờ đã đột ngột biến kẻ thù truyền kiếp – từng xâm lược Việt Nam năm 1979, liên tục đánh chiếm biên giới Việt Nam suốt trong thập kỷ 1980, và đã bị ghi vào Hiến pháp 1980 là kẻ thù – thành người “anh em” cùng phe xã hội chủ nghĩa. Đó là kết quả của Thỏa thuận Thành Đô ký ngày 4/9/1990 giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đại diện Việt Nam là Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười, có sự chứng kiến của Cố vấn Phạm Văn Đồng. Còn đại diện phía Trung Quốc là Tổng Bí thư Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng.
Việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc là việc cần làm. Nhưng quá hốt hoảng trước sự sụp đổ của phe xã hội chủ nghĩa, các nhà lãnh đạo Việt Nam đã vội vã ký một thỏa thuận bất lợi cho Việt Nam nhằm bảo vệ chế độ, bất lợi đến nỗi mà chính cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhiều lần biểu lộ sự băn khoăn.
2. Ảo tưởng về chế độ
Sai lầm thứ hai là ảo tưởng về chế độ xã hội chủ nghĩa. Đáng lý ra sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và ở các nước Đông Âu phải là vấn đề lý luận nghiêm túc để các nhà lãnh đạo Việt Nam phân tích suy ngẫm. Rõ ràng chủ nghĩa xã hội đồng loạt sụp đổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu không phải do kẻ thù bên ngoài, mà do chính các nguyên nhân phát triển nội tại của mô hình chủ nghĩa xã hội. Qua thực tiễn tồn tại, không khó khăn để nhận ra rằng, mô hình chủ nghĩa xã hội chứa đựng những lỗi hệ thống mang tính nguyên tắc, quyết định sự sống còn của mô hình. Muốn sửa đổi các lỗi hệ thống đó thì phải thay đổi mô hình. Điều đó chứng tỏ các nhà lãnh đạo Việt Nam lúc bấy giờ, tuy dày dạn kinh nghiệm kháng chiến chống ngoại xâm – mà thắng lợi giành được là do lòng yêu nước nồng nàn của nhân dân quyết định – lại chưa để tâm cần thiết đến mặt nghiên cứu lý luận.
3. Nhầm lẫn về Trung Quốc
Nhưng sai lầm đáng buồn hơn cả là nhận thức không nhất quán về Trung Quốc. Trung Quốc công khai tham vọng xâm chiếm Việt Nam. Trung Quốc gây ra cho Việt Nam những tổn thất to lớn trong Hiệp định Genève. Trung Quốc phá hoại cản trở Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ. Bất chấp bao nhiêu năm “cùng phe xã hội chủ nghĩa”, từng “anh em bè bạn”, nhưng năm 1979 Trung Quốc đã ngang ngược mang 60 vạn quân tấn công Việt Nam. Trong suốt 10 năm tiếp theo Trung Quốc liên tục tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược biên giới Việt Nam. Vô vàn cay đắng thâm thù từ Trung Quốc, làm sao mà các nhà lãnh đạo Việt Nam lúc bấy giờ, trong thời khắc sụp đổ phe xã hội chủ nghĩa, lại có thể cả tin rằng ý thức hệ xã hội chủ nghĩa là phép màu hoàn lương được dòng máu bá quyền Tần Thủy Hoàng – Mao Trạch Đông, để Việt Nam và Trung Quốc lại là “anh em”, cùng chống kẻ thù ý thức hệ?
BỐN HẬU QUẢ THẢM HỌA
I. Lệ thuộc về chính trị
Thỏa thuận Thành Đô gây ra những hậu quả thảm họa to lớn mà chính những người ký Thỏa thuận đã không ngờ tới. Từ Thỏa thuận Thành Đô, Việt Nam mỗi ngày càng lệ thuộc chính trị hơn vào Trung Quốc. Trung Quốc tiến hành một chính sách bắt Việt Nam dần phụ thuộc chính trị rất thâm hiểm, tập trung trên mấy phương diện sau.
1. Gây ảnh hưởng về nhân sự lãnh đạo
Gây ảnh hưởng lên nhân sự lãnh đạo là nhân tố nguy hiểm số một trong chiến lược bắt Việt Nam lệ thuộc của Trung Quốc. Trung Quốc sẽ tìm mọi cách loại bỏ, vô hiệu hóa hay giảm ảnh hưởng của tất cả những ai không theo hoặc không ủng hộ Trung Quốc. Sự can thiệp vào công việc nhân sự lãnh đạo Việt Nam của Trung Quốc rất trực diện, thô bạo. Việc yêu cầu loại bỏ Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch ra khỏi Bộ Chính trị trong Hội nghị Thành Đô là một ví dụ kinh điển. Đến thời Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã không dám đưa ông Phạm Bình Minh (con trai của cố Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch) vào chức vụ Ngoại trưởng vì Trung Quốc không chấp nhận. Gần đây Lễ tang của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng bị cuộc viếng thăm của Thủ tướng Lý Khắc Cường phủ bóng tối.
2. Gây ảnh hưởng về chính sách song phương và đối ngoại
Có được ảnh hưởng nhân sự, tổng hợp với các thế mạnh về kinh tế quốc phòng địa lý, và các mánh khóe thâm độc gian xảo, Trung Quốc gây áp lực lên các cuộc đàm phán song phương và chi phối lên quan hệ bang giao quốc tế của Việt Nam.
Việt Nam đã phải nhượng bộ cho Trung Quốc trong Hiệp định biên giới đất liền năm 1999, cũng như trong thỏa thuận phân chia đường biên giới trên biển năm 2000. Việt Nam không dám công khai ủng hộ Philippines kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế mặc dù Việt Nam được lợi từ vụ kiện này. Việt Nam không thân mật đến mức liên minh với các nước lớn bởi e dè Trung Quốc. Việt Nam tuyên bố không liên minh với ai để chống nước thứ ba thực chất là để thanh minh với Trung Quốc.
3. Gây ảnh hưởng về kinh tế
Dùng ảnh hưởng về chính trị, dùng sức mạnh kinh tế, Trung Quốc quyết tâm giành thắng lợi trong đấu thầu các dự án kinh tế chủ chốt của Việt Nam và biến Việt Nam thành một thị trường tiêu thụ hàng hóa của Trung Quốc.
Khi đã có được ảnh hưởng kinh tế, tiến đến lũng đoạn nền kinh tế Việt Nam và gây áp lực lại về chính trị, bắt lệ thuộc về chính trị. Vòng xoay đó luân hồi kiềm tỏa Việt Nam, bắt Việt Nam không thể rời quỹ đạo xoay quanh Trung Quốc.
II. Lệ thuộc về kinh tế
Bị lệ thuộc chính trị, nền kinh tế Việt Nam bị phụ thuộc vào Trung Quốc toàn diện. Sự phụ thuộc toàn diện của nền kinh tế Việt Nam vào Trung Quốc thể hiện qua mấy điểm chủ chốt sau đây.
1. Việt Nam trở thành một thị trường tiêu thụ hàng hóa của Trung Quốc
Từ các thiết bị máy móc cho đến hàng tiêu dùng, khắp nơi đâu đâu cũng tràn ngập hàng Trung Quốc. Cay đắng hơn đến các mặt hàng nông sản đời sống thường ngày nhỏ nhặt như quả trứng, trái cam, củ tỏi… mà Việt Nam tự sản xuất được thì nay cũng bị hàng Trung Quốc lấn át.
Để biến Việt Nam thành một thị trường tiêu thụ hàng hóa mạnh hơn nữa, Trung Quốc thúc đẩy mở cửa biên giới để hàng Trung Quốc tràn vào Việt Nam, đồng thời khuyến khích cho phép buôn lậu qua biên giới những mặt hàng có lợi cho Trung Quốc. Đi xa hơn, Trung Quốc thiết lập mạng lưới đại lý phân phối hàng hóa và đưa cả người Trung Quốc sang sinh sống bán hàng tại Việt Nam.
Việt Nam thực sự đã trở thành một thị trường thuộc địa hàng hóa của Trung Quốc. Trong quan hệ buôn bán hai chiều, Việt Nam còn kém vị thế một tỉnh của Trung Quốc. Bởi lẽ một tỉnh của Trung Quốc còn bán được thiết bị máy móc cho tỉnh khác của Trung Quốc, còn Việt Nam thì chỉ thuàn túy mua, mà không bán lại được cho Trung Quốc máy móc thiết bị công nghệ.
2. Trung Quốc thắng thầu hầu hết các dự án xương sống trụ cột của Việt Nam
Trong đấu thầu xây dựng các công trình kinh tế chủ chốt của Việt Nam, Trung Quốc là nước thắng thầu nhiều nhất. Trung Quốc tiến hành một chiến lược giản đơn với chủ trương chào thầu thấp để thắng thầu. Sau đó bằng mọi cách đội giá thầu lên, khiến cho chi phí xây dựng công trình đắt lên rất nhiều, đắt hơn cả giá chào thầu ban đầu của các đối tác khác.
Điều nguy hại hơn là, tuy giá thành rất đắt, nhưng Việt Nam lại bị phải sử dụng các thiết bị công nghệ lạc hậu, năng thuất thấp, chất lượng kém, độc hại cho con người và môi trường. Sản phẩm làm ra kém chất lượng, nhanh hư hỏng.
Tất cả các công trình mà nhà thầu Trung Quốc tham gia xây dựng, không có công trình nào có chất lượng đảm bảo như của các nước hàng đầu G7, và tai họa hơn là hiệu quả kinh tế rất thấp.
3. Trung Quốc khai thác thu mua nhiều tài nguyên khoáng sản của Việt Nam
Với chính sách “Dùng của người, để dành của nhà” Trung Quốc đã tiến hành chính sách thu mua khai thác nguồn tài nguyên khoáng sản của các nước khi giá còn thấp, để dành tài nguyên khoáng sản của Trung Quốc cho tương lai. Trung Quốc đã tập trung vào các nước chậm phát triển ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ La tinh.
Việt Nam là nước láng giềng của Trung Quốc nên càng bị Trung Quốc tận thu hết công suất. Việt Nam không phải là nước có nhiều khoáng sản, nhưng tất cả những khoáng sản tiềm năng chủ chốt của Việt Nam đều bị Trung Quốc thâu tóm. Trung Quốc là khách hàng lớn của Việt Nam về than. Hai dự án lớn về bôxít ở Tây Nguyên cũng nhường thầu xây dựng trọn gói cho Trung Quốc, và sẽ bán nguyên liệu thô cho Trung Quốc. Dự án thép ở Vũng Áng cũng bị Trung Quốc mua lại. Riêng dầu khí ở Biển Đông, không hợp tác khai thác được,Trung Quốc trắng trợn mang giàn khoan dầu vào vùng biển Việt Nam để tự khai thác. Thâm hiểm ngang ngược đến thế là cùng.
4. Trung Quốc đầu tư kinh doanh hầu khắp các huyện tỉnh thành Việt Nam
Công nghệ lạc hậu, ô nhiễm độc hại, chất lượng tồi, giá thành rẻ, Trung Quốc ồ ạt đầu tư khắp các huyện tỉnh thành của Việt Nam. Đi xa hơn Trung Quốc lập các công ty, cửa hàng đại lý thương mại khắp nơi nơi, tạo nên các làng phố người Hoa khắp cả nước Việt Nam. Bằng cách này Trung Quốc đã hình thành một mạng lưới kinh tế riêng của Trung Quốc trên lãnh thổ của Việt Nam, cả hàng hóa lẫn con người.
III. An ninh quốc gia bị đe dọa nghiêm trọng
Chưa bao giờ an ninh của Việt Nam bị Trung Quốc đe dọa như bậy giờ. Có thể lược nêu một số hiểm họa an ninh quốc gia sau đây.
1. Đội quân người Hoa trên lãnh thổ Việt Nam
Trung Quốc đã rất thành công trong việc đưa người lao động đến khắp sơn cùng thủy tận của Việt Nam, lấy vợ đẻ con, lập nên nhan nhản các làng phố người Hoa. Đây là mối hiểm họa bậc nhất cho an ninh quốc gia.
2.Mạng lưới gián điệp dày đặc
Với làng phố người Hoa khắp mọi nơi, với sự thâu tóm các công trình yết hầu kinh tế, mạng lưới gián điệp là ưu thế đặc biệt của Trung Quốc không chỉ trong chiến tranh mà trong mọi đối phó ứng xử với Việt Nam.
3. Nguy cơ bị đánh sập nền kinh tế
Nền kinh tế Việt Nam bị phụ thuộc vào Trung Quốc. Các công trình do Trung Quốc đầu tư cũng như do Trung Quốc thắng thầu xây dựng đều tiềm ẩn những nguy cơ khôn lường. Nền kinh tế Việt Nam có nguy cơ bị tê liệt toàn bộ khi xung đột với Trung Quốc xẩy ra.
4. Các cơ sở quốc phòng của Trung Quốc trên đất Việt Nam
Dưới danh nghĩa đầu tư, kinh doanh và nhà thầu, Trung Quốc có thể bí mật xây dựng những công trình quân sự, cài đặt những thiết bị phá hủy khắp mọi nơi trên đất Việt Nam. Các vật tư thiết bị Trung Quốc bán cho các công ty Mỹ đã từng bị Mỹ phát hiện về những chip gián điệp, thì tất cả những điều đã nêu là hoàn toàn thực tế.
Chẳng hạn, tử huyệt xung yếu như Đèo Ngang với chiều dài Đông Tây khoảng 50Km đã bị Trung Quốc án ngự bằng dự án cảng Vũng Áng trong 70 năm. Trước đây cố Tổng bí thư Lê Duẩn từng nhận định vùngThanh Nghệ Tĩnh là căn cứ địa khi Trung Quốc huy động 2 triệu quân tấn công Việt Nam từ phía Bắc. Nhưng bây giờ với cảng Vũng Áng và rừng phía Lào đã được Trung Quốc thuê lâu dài, thì việc chia cắt Việt Nam tại Đèo Ngang, nếu không đề phòng trước, đối với Trung Quốc có thể là dễ như “trở bàn tay”. Điều tương tự cũng có thể xẩy ra ở Tây Nguyên khi Trung Quốc tham gia khai thác bôxít và rừng Campuchia giáp biên giới Việt Nam đã được Trung Quốc thuê đến 99 năm.
Phải một lần nữa nhấn mạnh rằng, chưa bao giờ an ninh của Việt Nam lại mong manh đến vậy từ mối đe dọa Trung Quốc.
Bị lệ thuộc về chính trị và kinh tế thì độc lập Dân tộc bị đe dọa là điều đương nhiên. Không chỉ thế, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam đã bị xâm phạm. Thực tế cho thấy Việt Nam đã phải nhân nhượng cho Trung Quốc một phần lãnh thổ trên đất liền trong Hiệp ước biên giới Việt –Trung năm 1999. Trong Hiệp ước phân định ranh giới Vịnh Bắc Bộ năm 2000, Việt Nam cũng phải nhường lại cho Trung Quốc một phần lãnh hải so với Công ước Pháp –Thanh năm 1887.
Việc Trung Quốc đưa dàn khoan HD981 và tàu chiến vào sâu lãnh hải Việt Nam và đang xây sân bay ở đảo Gạc Ma cũng là hệ quả của Thỏa thuận Thành Đô. Dã tâm xâm lược Biển Đông của Trung Quốc là công khai ngang ngược trắng trợn. Phải khởi kiện Trung Quốc ngay ra Tòa án quốc tế, dựa vào sự ủng hộ quốc tế để vạch mặt và làm chùn bước chân xâm lược của Trung Quốc. Nếu không hành động cương quyết, lãnh hải sẽ bị Trung Quốc lấn chiếm thêm nữa.
III. Đặt quyền lợi Dân tộc trên quyền lợi của thể chế
Ngay cả cố Tổng bí thư Lê Duẩn, người hiểu âm mưu xâm lược thâm độc của lãnh đạo Trung Quốc, buộc phải cương quyết chống lãnh đạo Trung Quốc, vẫn đã có lúc nghĩ rằng, khi chủ nghĩa xã hội thành công trên toàn thế giới, thì mối đe dọa từ Trung Quốc sẽ mất đi.
Chủ nghĩa xã hội sẽ không bao giờ thành công trên toàn thế giới. Chủ nghĩa xã hội, mặc dù trên lý thuyết chứa đựng những ý tưởng cao đẹp, nhưng trên thực tiễn tồn tại, là một mô hình què quặt không khoa học. Bởi vậy, vừa mới ra đời chưa lâu, chủ nghĩa xã hội đã bị tiến trình phát triển của xã hội loài người đào thải. Chủ nghĩa xã hội bị đào thải ngay ở nước Nga, nơi đã sinh ra mô hình chủ nghĩa xã hội, sau 74 năm. Chủ nghĩa xã hội bị đào thải ở Đông Âu sau 40 năm.
Đối với một nước, mô hình chủ nghĩa xã hội có tồn tại trong một thời gian nào đó, thì đấy chỉ là vấn đề tồn tại của một thể chế, một mô hình nhà nước. Một thể chế chỉ là một khoảng thời gian ngắn so với lịch sử phát triển của một Dân tộc. Thay đổi thể chế chỉ liên quan đến thay đổi chính sách, đường lối và quyền lợi của một bộ phận thuộc Dân tộc. Không nhóm người này lên cầm quyền thì sẽ có nhóm người khác lên nắm quyền. Nhưng tất cả họ đều thuộc một đất nước. Khi đề cập đến thể chế là nói đến vấn đề nội bộ. Còn khi nói đến độc lập Dân tộc, chủ quyền lãnh thổ là đề cập đến mối quan hệ với các nước khác. Bởi vậy không thể đặt quyền lợi của thể chế trên quyền lợi Dân tộc.
Từ đó suy ra:Bất cứ điều gì có lợi cho thể chế mà không có lợi cho Dân tộc thì dứt khoát không làm. Điều gì có lợi cho Dân tộc nhưng không có lợi cho thể chế thì cũng cứ làm.
Dân tộc trường tồn hơn thể chế. Nhắc đến Dân tộc trên bình diện quốc tế là đề cập đến vấn đề quan hệ Quốc gia. Bởi vậy, bất luận có chủ nghĩa xã hội hay không, mối đe dọa từ Trung Quốc không bao giờ triệt tiêu, chí ít là cho đến khi triệt tiêu phạm trù Dân tộc.
VI. Cách mạng thể chế
Chính Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nói đến phải Đổi mới thể chế trong thông điệp 2014. Đổi mới hoàn toàn thể chế tức là đã Cách mạng thể chế. Một thể chế mới văn minh dân chủ tiến bộ sẽ có nội dung hoàn toàn khác biệt với thể chế Trung Quốc hiện hành, và tự nó là một phép thoát Trung màu nhiệm hiệu quả nhất.
Việt Nam cần Đổi mới thể chế nhanh, vì bản thân nhân dân Trung Quốc cũng muốn Thay đổi thể chế, và dứt khoát nhân dân Trung Quốc sẽ làm được điều đó. Vấn đề chỉ ở thời gian. Việt Nam cần thoát Trung trước khi Trung “thoát Việt”.
V. Hòa nhập thế giới dân chủ văn minh
Xây dựng một nhà nước dân chủ văn minh, hòa nhập với thế giới dân chủ văn minh hiện đại là biện pháp tốt nhất để bảo đảm nền độc lập của Dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc.
Một mình một đường không giống ai, không phải là sáng tạo độc đáo, mà là tự tụt hậu yếu nghèo, tự cô lập chính mình. Mà đã nghèo khó thì sẽ bị ức hiếp phụ thuộc, sẽ mất đi độc lập Dân tộc và không có khả năng bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc.
Gần đây, các thế lực thù địch, cận thù địch và kể cả chưa phải là thù địch (sau đây sẽ gộp lại gọi chung là thế lực chống đối cho nó gọn) nhao nhao lên đòi nào là bạch hóa, nào là giải mật, rồi thì làm rõ … Hiệp nghị Thành đô.
Chu choa trời đất ơi! Từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến giờ, Vo Văn Ve tôi tuyền chỉ nghe, xem, đọc các ấn phẩm của nền báo chí chính thống, chẳng bao giờ nghe thấy rằng thủ phủ Thành Đô của Trùng Khánh – Trung Quốc có liên can gì đến đường lối cách mạng của nước ta. Có chăng Thành Đô chỉ là nơi một thời cặp vợ chồng Thái tử đỏ Bạc Hy Lai – Cốc Khai Lai tung hoành trong sự nghiệp Cướp – Giết – Hiếp để đến bây giờ chồng bị chung thân, vợ bị tuyên án tử hình.
Vì thế nên phản ứng đầu tiên của Vo Văn Ve tôi là nóng ran cả mặt và cả toàn thân vì cái sự lu loa ấy: Cái bọn chống đối lại định bày trò gì nữa đây?
Thế nhưng khi đã bình tĩnh trở lại, Vo Văn Ve tôi chợt nghĩ: Hay là mình Gu-gồ cái thử xem? Thông qua cái anh Gu-gồ chấm Thành Đô, mình được biết Hội nghị Thành Đô là có thật, hơn nữa lại là một Hội nghị vô cùng đặc biệt nữa kia.
Cũng qua Gu-gồ chấm Thành Đô, mình được đọc thêm nhiều bài vở, trang viết liên quan đến cái hội nghị này như Hồi ký Trần Quang Cơ, Bên Thắng Cuộc, Hồi ký Trương Đức Duy (đại sứ TQ tại VN lúc đó), Nhật ký Thành đô của Lý Bằng (Thủ tướng TQ lúc đó)…
Ái chà, nan giải đây!
Vui cười hể hả, người mua kẻ bán đều hài lòng
Nhưng với truyền thống “Chẳng có gì mà không nói được”, Vo Văn Ve tôi đã nhanh chóng phản ứng nhanh, hội ý chớp nhoáng với các đồng bọn thân tín trong băng Dư Luận Viên “Còn Tiền Còn Mình”, quyết định bấm nút và đưa ra ý kiến chính thức của Hiệp hội Dư Luận Viên như sau:
1) Hội nghị Thành Đô là có thật. Văn bản mà các thế lực chống đối gọi là Hiệp nghị Thành Đô là có thật.
Ấy là vào sáng ngày 3-9-1990 (1 ngày sau dịp kỉ niệm 45 năm Quốc khánh nước CHXHCN Việt Nam, chính vì thế Hiệp nghị Thành Đô càng có ý nghĩa về chính trị và về lịch sử), các đồng chí Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, Thủ tướng Đỗ Mười và Cố vấn Phạm Văn Đồng đã kín đáo bay sang Trùng Khánh chuẩn bị cho Hội nghị Thành Đô ngày 3, 4-9-1990. Trên máy bay có người dẫn đường là Đại sứ TQ Trương Đức Duy.
Sở dĩ phải nói kín đáo là vì cái gì bí mật mà chả kín đáo, nếu không có mà lộ bem ra hết à? Còn cái bọn chống đối thì cứ khăng khăng không phải ‘kín đáo’ mà phải gọi là ‘lén lút’. Thử hỏi kín đáo và lén lút thì có khác nhau chỗ nào, chẳng qua là do cái tính chất phong phú của ngôn ngữ Việt mà thôi. Đấy, cứ xem cái vụ Lê Chiêu Thống sang cầu viện nhà Thanh đánh Quang Trung Nguyễn Huệ năm xưa, gọi là kín đáo cũng được mà lén lút cũng là xứng đáng hoàn toàn.
2) Hội nghị Thành Đô đến bây giờ không còn bí mật, nhưng Hiệp nghị Thành Đô thì hãy còn bí mật, đặc biệt ở các điều khoản về bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Trung Quốc.
Mục đích cao nhất của chuyến đi ‘kín đáo’ của các đồng chí lãnh đạo nhà ta là xin được bình thường hóa quan hệ với Trung Hoa vĩ đại. Muốn vậy thì phải nhất trí với Trung Quốc phương án giải quyết vấn đề Cam pu chia. Và đã nhất trí. Trước thành công rực rỡ của Hội nghị, mọi người trong đoàn ta đều rất vui vẻ hân hoan trên máy bay khi trở về (theo Hồi ký Trương Đức Duy).
3) Cho dù những điều khoản liên quan đến vấn đề bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc chưa được công bố, nhưng những lợi ích của việc bình thường hóa này trong hơn 20 năm đối với nước ta và nhân dân ta đã rõ như ban ngày. Vo Văn Ve xin được tóm lược những lọi ích mấu chốt:
Một là: Việt Nam lại được kề vai sát cánh với Trung Hoa vĩ đại trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, được nước bạn bảo bọc che chở bởi kim chỉ nam (mà bọn chống đối xấu mồm độc miệng gọi là vòng kim cô) 4 tốt và 16 chữ vàng của Lãnh tụ Giang Trạch Dân kính yêu.
Hai là: Việt Nam được Trung Hoa vĩ đại hết sức quan tâm về mặt chính trị. Trước mỗi kỳ Đại hội Đảng đều có các đồng chí lãnh đạo Trung Quốc sang để ‘tư vấn giúp đỡ’ về công tác tổ chức nhân sự, đúng y như nguyện vọng của Ban lãnh đạo Trung Quốc. (Đối với các lĩnh vực ngoại giao, quốc phòng và an ninh, xin được bàn vào dịp khác).
Ba là: Về lãnh thổ, chúng ta được nương tựa vào một đất nước to lớn đến mênh mông. Dẫu có bị mất ít đất, ít biển thì có xá gì, miễn là giữ được môi trường hòa bình và ổn định để phát triển, và quan trọng nhất là phải giữ được quan hệ hữu nghị anh em đồng chí Việt-Trung đời đời bền vững.
Vừa qua có xảy ra một số tranh chấp trên Biển Đông. Là anh em trong nhà, xảy ra cãi cọ tranh chấp là chuyện bình thường. Nhưng với tinh thần “Thằng em phải nhịn thằng anh, nhịn đến chết cũng phải nhịn”, chúng ta đã xử lý rất tốt vấn đề này. Chúng ta kiên quyết nhịn cho đến chết!
Bốn là: Chúng ta được Trung Quốc chăm lo đầu tư phát triển kinh tế. Chỉ có những người anh em chí tình chí nghĩa như các đồng chí Trung Quốc mới giúp đỡ nước ta một cách tận tụy và vô tư như thế mà thôi. Cụ thể là: Trung Quốc đã đưa ra những giá rất rẻ, rất hời để trúng thầu và được đảm nhận hàng trăm công trình kinh tế quốc gia trọng điểm của Việt Nam. Nhờ có việc Trung Quốc thuê 400.000 hecta đất và rừng đầu nguồn mà kinh tế nhiều tỉnh nghèo mới có điều kiện tăng thu ngân sách. Nhờ có Trung Quốc đầu tư khai thác bô-xít Tây Nguyên – nóc nhà Đông Dương, nên trong tương lai chắc chắn Việt Nam sẽ là nước xuất khẩu nhôm (dưới dạng quặng) hàng đầu thế giới. Nhờ có quan hệ kinh tế với Trung Quốc mà nhập siêu sang Trung Quốc ngày càng tăng chóng mặt (năm 2013 là 24 tỉ USD, năm 2014 dự báo 26 tỉ USD), góp phần tích cực về tài chính để Trung Quốc củng cố thành trì xã hội chủ nghĩa.
Bên cạnh đó, các bạn Trung Quốc còn tỏ ra vô cùng rộng rãi và hào phóng trong việc cung cấp hàng hóa, lương thực, thực phẩm, thuốc thang sang Việt Nam. Bây giờ ra chợ, đâu đâu cũng thấy tràn ngập hàng Trung Quốc đủ các kiểu loại, đủ màu sắc và mùi vị vô cùng hấp dẫn. Đến lúc nào đó, có lẽ người dân Việt Nam ta chẳng cần phải làm gì mà vẫn có cái ăn, cái mặc, hơn thế, còn ăn ngon mặc đẹp, bởi tất thảy đã có hàng hóa do Trung Hoa vĩ đại cung cấp. Thế là tự nhiên, ta đã có thiên đường cộng sản chủ nghĩa, còn gì đẹp bằng?
Năm là: về mặt xã hội, người Việt Nam ta ngày càng quen thuộc với sự có mặt của người Trung Quốc trong đời sống hàng ngày. Những âm thanh chíu cha chíu chít của ngôn ngữ Hán, Tiều, Quảng … đã không còn xa lạ mà đã dần trở thành thân thuộc yêu thương. Các phố Tàu mọc lên như nấm, các biển hiệu chữ Tàu đua chen cùng biển hiệu Việt làm cho cuộc sống ngày càng có vẻ … Tàu hơn.
Thi thoảng, một bộ phận dân Việt còn trúng đậm nhờ các phi vụ do ‘bạn vàng Trung Quốc’ giúp đỡ mối lái: bán móng trâu, bán râu ngô, thu gom ốc bươu vàng bán lại cho đồng bào anh em mình, bán rắn, bán ong, bán khoai lang, bán hạt nhãn, bán lá điều…, ôi dào kể không hết.
Cũng nhờ công lao của người anh em Trung Quốc mà ý thức vệ sinh an toàn thực phẩm của người dân Việt Nam được tăng lên rõ rệt, dù rằng số trường hợp ngộ độc thức ăn, ngộ độc thuốc, số ca bị ung thư và bệnh hiểm nghèo cũng không ngừng tăng lên. Nhưng cần khẳng định những trường hợp không may nói trên hoàn toàn nằm ngoài tình đồng chí, tình anh em hữu hảo đời đời Việt – Trung một cách biện chứng và khách quan.
…
Tất tần tật, những lợi ích mà chúng ta có được như trên đều là những kết quả vô cùng tốt đẹp, mang đậm dấu ấn của một thời kỳ lịch sử kể từ khi ký kết Hiệp nghị Thành Đô.
Trung Quốc, người anh lớn, người bạn vĩ đại, đã rỏ ra hết sức 'tốt bụng' với chúng ta như thế, và từ hơn hai ngàn năm nay vẫn thế. Cho dù Hiệp nghị Thành Đô có bí mật thế nào chăng nữa, và bí mật ấy có kéo dài đến đâu chăng nữa thì tấm lòng bao dung của nước Đại Hán chỉ muốn đứa con hoang đàng Việt Nam mau trở về nhà cũng không bao giờ thay đổi. Lá cờ đỏ 6 sao sẽ sớm thành hiện thực.
Hơn thế nữa, những bí mật ấy dược gắn với tấm lòng thiết tha được đứng chung dưới một bóng cờ với người anh Trung Quốc vĩ đại của các lãnh đạo nhà ta. Bạch hóa những bí mật của Hội nghị Thành Đô là có tội lớn đối với các vị quá cố như P.V.Đ, N.V.L*, đặc biệt là với người còn sống như Đ.M. Bạch hóa có mà chết cả nút à?
Vì vậy, hiển hiện một tất yếu khách quan là phải “Kiên quyết giữ bí mật của Hội nghị Thành Đô”.
Kiên quyết! Kiên quyết! Chết cũng Kiên quyết!
VO VĂN VE
------------------------
* TSYG: Theo lời cựu Đại sứ Trương Đức Duy, khi về đến Hà nội, ông Nguyễn Văn Linh còn làm mấy câu thơ tiếng Hán (không biết có phải để tiếp tục vuốt ve đàn anh hay không?):
Huynh đệ chi giao sổ đại truyền
Oán hận khuynh khắc hóa vân yên
Tái tương phùng thời tiếu nhan triển
Thiên niên tình nghị hựu trùng kiến.
Dịch giả Quốc Thanh tạm dịch là:
Anh em chơi với nhau đã mấy thế hệ
Oán hận trong khoảnh khắc đã biến thành mây khói
Khi gặp nhau lại cười rạng rỡ
Tình nghĩa ngàn năm xây dựng lại.
Như thế là ông Nguyễn Văn Linh nguyện xây dựng lại “tình nghĩa” từ ngàn năm trước giữa Việt Nam với Trung Quốc, mà "tình nghĩa" từ ngàn năm trước, lúc ấy chẳng qua là thứ “tình nghĩa” giữa người nô lệ và quân đô hộ!
Rõ ràng, điều này báo hiệu “một giai đoạn Bắc thuộc mới vô cùng nguy hiểm đã bắt đầu” – đúng như lời của Cố Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch.
SECRETS OF CITIES CONFERENCE 1990
Wikileaks published a document "confidential" shocking: in 2020 Vietnam will be a Chinese province?
Wikileaks organization published a document "confidential" concerning the Vietnam sun.That the minutes of the closed meeting between President Nguyen Van Linh BT Communist Party, Do Muoi HĐBT presidents representing the Vietnam and President Jiang Zemin and Li Peng BT Prime Minister representing the Chinese in two days 3-4 / 9/1990 in Chengdu.
In the top-secret documents related to his Vietnam this, Wikileaks confirmed the following information in the 3,100 cables hit from Hanoi and Ho Chi Minh City's diplomatic missions in Vietnam, the United States sent United States government, this document clearly reads: "... Because of the existence of successful career building Communism, Communist Party of Vietnam and the Chinese side proposed settlement of disputes between the two countries.In Vietnam would like to do my best to cultivate long-standing friendship between the two parties and which the people of both countries by Chairman Mao Zedong and Ho Chi Minh City builds thick and Vietnam in the past expressed a desire want to agree and are willing to accept the Chinese proposal for Vietnam that enjoy the Autonomous Region under the central government taiBac Business as China has been devoted to Inner Mongolia, Tibet, Guangxi ....
The Chinese side has agreed and accepted the above proposal, for the duration of the Vietnam within 30 years (1990-2020) to the Communist Party solving steps necessary to join the family of the people Ethnic Chinese "...
Come on then!It's done .... ... We have the right to conjecture and mentally prepared for his people and individuals procession uneasy truth, which is related to the existence of the Communist Party leadership in society and the state.For if when we compare it with the information related to the Vietnamese side had to hire tens of thousands of Chinese hectare watershed boundary, the Chinese flag have 6 stars (instead of the Chinese flag only 5 star stars) appear in a Chinese restaurant in Vung Tau, or Highlands bauxite project and most recently China was conducting massive withdrawal border markers with Vietnam has from the French Agreement - Thanh ( 1887) ... In the border negotiations, they forced us as we take a half-Ban Gioc, our people will not be arriving in Nam Quan Pass again, all we lost hundreds of km2 of land.They removed demarcation agreement Tonkin Gulf between the French government - Thanh (due to historical) requires redistribution, we ate more of the waters part hypothesis is based entirely happened. The top-secret documents revealed by Wilikeaks are of incalculable severity. (Sure we all know that the founder of Wikileaks: JulianAssange, is currently wanted for documents reveal could jeopardize the security of the United States) This news was unequivocally popular online long, now Wikileaks confirmed the presence of more than 90% is true. This is one sad news for the country and people of Vietnam for 4 thousand years of culture, this was the Communist Party CCP with wholesale price can not turn over: FREE ... If we review what has happened in recent times: - Giao Hoang Sa Truong Sa for TC - TC Communications Highlands - Cut the extra land border for TC - Giving more North Vietnamese sea gulf to TC - For the TC population in border paperless entry - VN Rules Reference to touch people live in VN - Prohibit people not commemorate the soldiers who died in TC 1979 war. - In primary school textbooks with beef tongue and TC flag instead of the flag VN. - Make the government to use more flags TC 1 small star (symbolizing the origin of new autonomous VN) ..... these are all fit this confidential documents.
Please read and disseminated to all friends.
Dung N. Nguyen Application Service Center
SECRETS OF CITIES CONFERENCE 1990
Concern Dear all,
Read the top-secret documents about the 1990 Conference Chengdu we understand why the Chinese blatantly dared to put oil rigs in the waters of the VN but insisted on saying that it's China's seas.It turns out that the CCP content, Chengdu under the Treaty of 1990, Vietnam has become a part of China, before then VN also will join TC from now until 2020, but now only have 6 years alone!
Tau would henchmen brandishing the Communist Party Nguyen Phu Trong as Nguyen Sinh Hung has "come out publicly" announced the 1990 Treaty of Chengdu long. Fortunately internal Communist Party also has a division silently against the merger on TC.The composition of this opposition includes former Communist Party member composition class scholars and intellectuals against ships.But more important is the former member of the Front for the Liberation of South Vietnam capital Hanoi bitter CS 1975 has "betrayed" them contract enforcement Paris 1973 general election break between the Republic of Vietnam and the NLF, takeover Male and always wiped NLF.The former NLF components supported by the French capital.The Communist Party members, such as Huynh Tan Phat, Nguyen Thi Binh, Tran Van Tra ... have joined the French Communist Party, tend to open and allows FREEDOM OF diverse as France, are not acceptable under the one-party communist Chinese.
For reasons to be "thwarted any momentum", we Vietnamese communist minions time to apply tactics Tau"silkworms eat mulberry" taking over the land to the sea for ships VN, a pretext for ships entering VN population through changes as follows:
Allow 1.- winning Tau as the North-South Highway through the Annamite mountains along the Ho Chi Minh trail winding.Chinese mobilized tens of thousands of public workers-soldiers, sawn mountain as shelter, food warehouses, weapons, and are capable of hiding hundreds of thousands of troops, both controlled VN, just ready to spill Force Southeast Asia when needed.
Assignments 2.- the northern boundaries, has led VN take land and sea, especially Nam Quan Pass and Waterfall Map Gioc half.
The Tau 3.- to exploit cramps Beauxite Highlands, the border land concessions for plantations ships, as well as for ship winning lots of works from North to South, has openly allowed massive immigration into the Tau VN, founded the Autonomous Region ... VN gradual assimilation.
4. And now with the decision to bring the oil rig in waters of VN, we ship the VC pressure to publicly acknowledge "VN is now part of the ship." We ship the fold, VN reunification to ship before the United States completed the "rotation axis" between now and 2020.
But both TC and clique Vietnam Nguyen Phu Trong unexpected time. Opponents ship immediately issued a strong hand, implementation of service down the road, within a few days has created a wave of anti-Tau was excruciating.The protests this has changed the landscape of Southeast Asia.United States, Western and Southeast Asian countries have a different perspective on VN, of course, disagree with people's resolve against Tau VN, CS disarmament affliction. VN People can not undo it anymore!
They Beijing's growing clout and puppets are a myriad VC surprise!Traditional anti-ship invasion had a chance vows ... Police That stoked!
SACRED MOUNTAIN RIVER SPIRIT GLASS PLEASE PLEASE HO