Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Sáu 2026
T2T3T4T5T6T7CN
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30          
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 5
 Lượt truy cập: 29338604

 
Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca 15.06.2026 07:34
Việt Nam nên dời thủ đô về Đà Nẵng?
07.09.2014 14:12

LẬP LUẬN

Chiếu Dời Đô xưa và tiêu chí mới cho Thủ đô hôm nay

Theo đánh giá của các nhà sử học nhiều đời sau và đã được ghi chép lại thì có thể nói: Quyết định chọn Đại La để dựng nghiệp của vua Lý Thái Tổ cũng như triều đình nhà Hậu Lý là vô cùng anh minh, thượng sách.

Vậy tiêu chí cho Thủ đô hôm nay là gì? Và có cần sự xuất hiện của một đấng anh minh như vua Lý Thái Tổ hay không?


- Xin thưa ngay là không! Vì tất cả đã có sẵn. Đó chính là ý chí, là kinh nghiệm tinh hoa của ngàn đời đã được đúc kết. Là lời răn, lời dạy của bậc Vua anh minh truyền lại cho hậu thế trong việc định đô, dựng nghiệp. Và đã được thể hiện rất rõ ngay trong Chiếu dời đô xưa. Con cháu ngày nay chỉ cần mang ra, phân tích một chút là có ngay lời giải cho thủ đô hôm nay.

CHIẾU DỜI ĐÔ (Lý Thái Tổ).

"Xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời đô, há phải các vua thời Tam Đại, ấy theo ý riêng tự tiện dời đô. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời.

Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế Rồng chầu Hổ phục, chính giữa Nam Bắc Đông Tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.
Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?" 


(Bản dịch của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam).

Qua nội dung của Chiếu dời đô, ta thấy nổi lên hai ý chính, nằm trong hai đoạn văn "chỉ", làm tiêu chí quan trọng cho việc lựa chọn của Người xưa.

Trích lược:

Ở đoạn văn chỉ thứ nhất là: "Chọn ở chỗ giữa".

Tiêu chí này còn được trình bày lại rõ hơn một lần nữa ở đầu đoạn văn chỉ thứ hai là: "Chính giữa Nam Bắc Đông Tây".

Theo học thuyết của phương Đông, cũng như của người Việt thì vị trí "trung tâm" luôn được đề cao vì đây là nơi giao hòa của đất trời, vạn vật. Là nơi tích tụ tinh hoa, quan yếu bốn phương hội tụ. Vậy nên, đây là một kinh nghiệm không thể bỏ, cần phải được tiếp tục áp dụng cho đời nay.

Địa thế của đất nước ngày nay không còn như Đại Cồ Việt khi xưa, chỉ dài từ biên giới phía Bắc xuống đến Hà Tĩnh(Hoan Châu), nên Đại La mới ở vị trí ("chỗ giữa - chính giữa Nam Bắc Đông Tây").
 
Đại la - Thăng Long ở vị trí "chỗ giữa" Đại Cồ Việt thời kỳ đầu nhà hậu Lý

Đất nước ngày nay đã kéo dài tới tận cực Nam của bán đảo Đông Dương, đó là nhờ công mở mang bờ cõi của nhiều thế hệ Cha Ông. Thế nên, nếu mang kinh nghiệm: "Chọn ở chỗ giữa" đế xác định vị trí thì thế này: lấy Hà Nội làm điểm tâm, quay một vòng tròn có bán kính tới điểm cực Bắc của đất nước, ta sẽ thấy một kết quả là: Hà nội ngày nay không còn nằm ở vị trí "chỗ giữa" của đất nước, do lệch Bắc quá nhiều.
Hà Nội ngày nay không còn "ở chỗ giữa - chính giữa Nam Bắc Đông Tây" của đất nước

Tiếp tục với: "Chính giữa Nam Bắc Đông Tây". Như đã nêu, đất nước Việt Nam có cấu trúc điển hình gồm ba thành phần chính là: Đồng bằng - Núi rừng - Biển. Để cho công tác quản lý không bị mất cân bằng và cũng là để dẹp bớt đi cái tư tưởng "đồng bằng" trong tư duy lãnh đạo thì Thủ đô ngày nay phải hội tụ cho đủ ba yếu tố trên là: Có núi rừng; Có đồng bằng; Có biển.
Biển của Đại Cồ Việt khi xưa - phần nhỏ trong vịnh Bắc Bộ

Phải nói như vậy vì biển của ta bây giờ rất dài và rất rộng, vòng xuống tới tận cửa Vịnh Thái Lan, biển không còn nhỏ hẹp như thời vua Lý, chỉ là phần nhỏ trong Vịnh Bắc Bộ, nên trách nhiệm giờ cũng phải rộng lớn, sát thực hơn thì mới phù hợp. Vẫn biết ngoài đó luôn có "cá Kình, sóng dữ", nhưng không vì thế mà cứ mãi ngồi đây "tựa núi" rồi mơ màng về biển.

"Đông"! Ở phía Đông đất nước mặc định đã là biển. "Tây"! Ở phía Tây hầu hết là núi rừng. Vì thế, tiêu chí để lựa chọn nếu cần phải viết ra sẽ là thế này:

Rừng - Biển - Bắc - Nam, ở giữa đất trời, bốn phương tụ hội.

Như vậy, càng tiếp tục phân tích ở ý chính thứ nhất, càng thấy Thủ đô hiện giờ không hội tụ được những yếu tố để phù hợp với tiêu chí xưa và nay.

Tìm hiểu và phân tích sang ý chính thứ hai, trong đoạn văn chỉ thứ hai là: "Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng". Cụ thể, vị trí được chọn ở đây là một vùng đồng bằng sông Hồng rộng lớn.
Hà Nội nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng và nay đã mở rộng thêm

Khác với Đại Cồ Việt ngày trước, đất nước ngày nay đang phải đối mặt với những nguy cơ như: Dân số tăng cao, ruộng đất nông nghiệp đang dần bị thu hẹp, một số bị bạc màu, thiếu đói vẫn thường xảy ra. Cả nước chỉ trông cậy vào hai nguồn cung cấp lương thực chính là: Đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Trong khi ở phía Nam, ĐBS Cửu Long đang phải đối mặt với nguy cơ mất ổn định do dòng chảy sông MêKông bị con người can thiệp thì ở phía Bắc, ĐBS Hồng cũng đang bất lực nhìn...bê tông, dây thép gai và cỏ dại xâm lấn.

Cứ bình tâm mà nghĩ xem, trong khi Nhà nước đang ra sức dùng mọi biện pháp để kéo giảm mức tăng dân số, nhằm ứng phó với tình hình thiếu đất nông nghiệp thì nhiều tỉnh thành lại liên tục lấy đất nông nghiệp để phát triển quỹ đất cho xây dựng. Đây có phải là một nguy cơ hay không !?

Chính vì vậy, kinh nghiệm của Người xưa chọn: "Vùng...đất rộng mà bằng phẳng" (nơi đang là vựa lúa của miền Bắc) để định đô, nhất quyết không được lấy làm tiêu chí cho hôm nay.

Vùng đất phù hợp để được chọn làm Thủ đô hôm nay và cả mai sau phải là vùng đất không lớn, có diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ thấp. Như thế, mới mong làm gương cho cả nước trong việc gìn giữ đất nông nghiệp, để phục vụ cho an sinh muôn đời. Vì thế, tiêu chí thứ hai nay phải khác là:

- Tuy hẹp mà "rộng", cho muôn đời sau.

(cái rộng ở đây là cái rộng về trách nhiệm đối với nền nông nghiệp của nước nhà).

Và với tiêu chí mới này, Hà Nội ngày nay càng không thể phù hợp được nữa. Thủ đô Hà Nội ngày nay không còn mang những yếu tố để làm nên một nơi "thắng địa" của đất nước.

Và đây chính là cơ sở để hôm nay đặt ra một câu hỏi:

- Có nên tính đến việc chuyển Thủ đô hay không và nơi chuyển đến là nơi nào???

Lời răn dạy của vua Lý Thái Tổ

Quả thực, chẳng ai nghĩ rằng, vấn đề của Thủ đô hôm nay lại được đặt ra như những gì mà Ông Cha ta đã phải làm một nghìn năm trước. Cũng không ai nghĩ rằng, những lời răn của Người xưa trong việc định đô lại trở nên nóng hổi như mới đây thôi và đang âm vang truyền lại cho hậu thế:

"Xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhàChu đến đời Thành Vương ba lần dời đô, há phải các vua thời Tam Đại, ấy theo ý riêng tự tiện dời đô. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời. (lời răn)

Và trên conđường dựng xây đất nước, mỗi người Việt Nam hôm nay đều phải nằm lòng những lời răn dạy này. Bởi nó sẽ soi đường, chỉ lối cho chúng ta bước tới.


ĐỀ XUẤT

- Nhìn vào thực trạng của Thủ đô hôm nay.
- Dựa vào những lời răn dạy của vua Lý Thái Tổ cùng các tiêu chí mới đã được phân tích.
- Căn cứ vào thực tế địa lý của đất nước (minh họa và bản đồ dưới đây).
- Xét đến hiệu quả, sự thuận tiện cho các hoạt động chính trị trong nước, khu vực và quốc tế.

Xin được đưa ra một đề xuất là:

Chuyển Bộ máy hành chính Quốc gia ra khỏi Hà Nội và nơi chuyển đến là Đà Nẵng.
Đà Nẵng - "ở chỗ giữa - chính giữa Nam Bắc Đông Tây" của đất nước

 
Đà Nẵng - Vị trí trung tâm trên bản đồ nước CHXHCN Việt Nam

Đôi nét về Đà Nẵng (nói chung).
Đà Nẵng (chụp từ vệ tinh)

Nằm dọc theo vùng duyên hải Nam Trung Bộ, là một vùng đất có giá trị thấp về mặt nông nghiệp. Hầu hết đất ở đây là đất cát, đất mặn, đất nhiễm phèn, đất xám, đất mùn đỏ...Riêng đất nông nghiệp ở đây chỉ chiếm 117km2 trên tổng diện tích tự nhiên 1.255km2. Đất ở là 30km2, còn lại là đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng và đất chưa sử dụng.

Ở vị trí trung tâm ("chính giữa Nam Bắc Đông Tây") của đất nước, nhìn thẳng ra biển Đông và là đầu mối giao thông lớn nhất của vùng cả về đường sắt, đường bộ, đường không và đường biển. Đặc biệt còn có đường hành lang Đông - Tây đi qua nhiều nước trong khu vực. Có tọa độ địa lý 15°15' đến 16°40' Bắc và từ 107°17' đến 108°20' Đông. Cách Thủ đô Hà Nội 759km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 964km về phía Nam. Địa hình vừa có đồng bằng, vừa có núi rừng và biển đảo. Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, xen giữa khí hậu miền Bắc và miền Nam và cũng mang hai mùa rõ rệt. Nhiệt độ trung bình cả năm khoảng 25,9°C ở đồng bằng và 20°C ở vùng núi cao.

Dân số hiện nay xấp xỉ 900 nghìn người, trong đó người Kinh chiếm hơn 99%, còn lại là người CơTu, Tày, Mường, Nùng, Thái, Hoa... Tài nguyên chính là tài nguyên rừng, tài nguyên biển. Trong đó có nhiều hệ động thực vật mang lại giá trị kinh tế cao. Ngoài ra, rừng và biển ở đây còn mang nhiều ý nghĩa to lớn về môi trường sinh thái, nghiên cứu khoa học, du lịch...

Vài nét (Nói riêng).

- Giao thông: Nằm ở vị trí "chỗ giữa" của đất nước, có đủ các loại hình giao thông như: Đường sắt Bắc Nam, đường quốc lộ 1A chạy qua thành phố. Đường không là sân bay quốc tế Đà Nẵng 
(đã được đầu tư nâng cấp) và đường biển gồm nhiều cảng biển lớn, độ sâu đủ sức tiếp nhận các tàu có trọng tải hàng chục nghìn tấn. Thế nên, việc đến và đi với Đà Nẵng từ các vùng miền trong cả nước trở nên rất thuận tiện, hiệu quả.

Đà Nẵng có vị trí thuận tiện về giao thông đối với trong nước và khu vực

Với khu vực và quốc tế thì lại càng hiệu quả, bởi với hai loại hình giao thông quan trọng đường biển và đường không, lại có vị trí gần với trung tâm của khu vực Đông Nam Á. Từ đây có thể kết nối "trực tiếp" với các cảng biển và cảng hàng không của nhiều nước. Có thể kể ra ở đây là: Philipinnes, Malaysia, Singapore, Thái Lan, Brunei, Myanmar, Indonesia, Campuchia. Đông á là: Macao, Quảng Châu (TQ), Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản. Một tuyến giao thông nữa cũng phải kể là tuyến hành lang Đông - Tây (đường màu vàng trên bản đồ) kết nối hai bờ biển Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương. Trong tương lai, đây sẽ là tuyến giao thông quan trọng.

- Du lịch: Tọa lạc ở chính giữa quần thể du lịch miền Trung, với phía Bắc là Cố đô Huế và phía Nam là phố cổ Hội An cùng Cửa Đại (Quảng Nam). Lại được sự ưu đãi của thiên nhiên ban cho nhiều danh lam thắng cảnh đẹp và hùng vĩ như: Ngũ Hành Sơn, Bà Nà - Núi Chúa, bán đảo Sơn Trà, đèo Hải Vân, vịnh Đà Nẵng, bãi biển Mỹ Khê, bãi biển Nam Ô, bãi biển Xuân Thiều, bãi biển Thanh Bình, bãi biển Bắc Mỹ An, bãi biển Non Nước, bãi Bụt...Đó là những bãi biển cát vàng còn hoang sơ, nước trong xanh và ấm áp quanh năm.
 
Đà Nẵng - Thành phố: "xanh núi, xanh sông, xanh đồng, xanh biển"

Nếu phải dùng lời lẽ để ca ngợi những vẻ đẹp thiên nhiên này thì không đến lỗi quá khó. Nhưng sẽ là hay hơn nếu nhường lời lại cho tất cả! Và cũng mong rằng, những ai chưa một lần đến với Đà Nẵng và đi tham quan các danh lam thắng cảnh nơi đây, hãy đến ít nhất một lần, để được tự mình cảm nhận và đánh giá.

- Tiện nghi: Giống như Hà Nội có Cửa Bắc Thành, nhưng thành ở đây hoàn toàn do thiên nhiên tạo ra. Đó là một nhánh núi thuộc dãy Trường Sơn nhô ra biển ở phía Bắc thành phố. Trên đỉnh hùng vĩ là Hải Vân Quan, còn được gọi là: "Thiên Hạ Đệ Nhất Hùng Quan" được xây dựng thời vua Minh Mạng. Từ cổng thành (hầm Hải Vân) đi vào thành phố, địa thế có hình thái rộng dần về phía Nam (hậu). Ở phía biển nổi lên một bán đảo nhô cao hướng ra biển xa, với độ cao xấp xỉ 700m so với mực nước biển, đảo Sơn Trà như một vọng gác tiền tiêu cho thành phố ở hướng biển. Về sông núi, không thua kém bất cứ nơi nào. Ở đây có rất nhiều núi. Núi xếp nối nhau trùng điệp ở phía Tây. Phía Đông (giáp biển) còn có năm ngọn núi nhỏ như những bức "bình phong", tên mỗi ngọn núi tượng trưng cho các yếu tố cấu thành vũ trụ là: Kim Sơn, Mộc Sơn, Thủy Sơn, Hỏa Sơn và Thổ Sơn. Ở đây cũng có nhiều con sông, nổi bật là sông Hàn chảy qua thành phố rồi đổ ra vịnh Đà Nẵng. Dòng sông đã tạo nên một hình thức giao thông đường thủy thuận tiện và đầy chất thơ trong nội đô. Cộng với những cây cầu có kiến trúc đẹp, hiện đại cùng mặt nước xanh êm ả, sông Hàn đã tô điểm cho Đà Nẵng một vẻ đẹp hữu tình hiếm có.

- Dương trạch: Nói về "Dương trạch" là nói về một khái niệm có thực. Một khái niệm được hiểu là kinh nghiệm nhìn nhận, đánh giá tốt - xấu về một "cuộc đất" để làm nơi cư trú, đình chùa... Mục đích là để giảm thiểu hoặc tránh đi được vận xấu hay giúp tăng thêm sự thành công và may mắn cho con người sống tại nơi đó. Tuy nhiên, dương trạch hay phong thủy cũng chỉ có tác dụng hỗ trợ, cải biến, chứ không làm thay đổi được hoàn toàn.

Nhưng để hiểu được cặn kẽ về dương trạch cũng như phong thủy không phải là dễ vì nó rất phức tạp. Do có quá nhiều trường phái, nhiều phương pháp luận, nên dẫn đến không thống nhất, thậm chí đối lập nhau, nhiều điểm không rõ ràng. Vì vậy, ta chỉ cần hiểu một cách đơn giản là: Một cuộc đất tốt phải là cuộc đất hài hòa với cảnh quan thiên nhiên, có môi trường sống tốt đẹp, trong lành, làm cho con người thấy khỏe mạnh, phấn chấn.

Thiên nhiên và môi trường Đà Nẵng, nói một cách văn hoa thì nó xứng đáng được ngợi ca như lời của bài hát: "Tổ Quốc Tôi Chưa Đẹp Thế Bao Giờ". Thế nên, đây là một cuộc đất tốt vì một cuộc đất xấu không thể có những phẩm chất như vậy!

- Tâm linh: Như đã nói, đã là hình tượng tâm linh thì khó có thể chung một nhận định. Nếu như chỉ đơn giản cho rằng, những núi đồi, gò đống là hổ phục, hay dòng sông uốn lượn là rồng cuộn chầu thì trên khắp nước Việt này, rất nhiều nơi có địa vật như vậy. Vì thế, đây chỉ là một: "Yếu tố cần". Để có thể trở thành: "thắng địa - rồng chầu hổ phục" thì phải có thêm: "Yếu tố đủ" nữa là vị trí đó phải nằm ở trung tâm ("chính giữa Nam Bắc Đông Tây") của đất nước. Và Đà Nẵng là một nơi như vậy.

Tuy khó có thể cùng chung nhận định, nhưng riêng thì lại rất dễ. Ở đây xin được mạnh dạn đưa ra một hình tượng dựa trên cái nhìn chủ quan, coi như là một nét để cùng tham khảo.
Minh họa: Phượng hoàng vờn biển Đông

Nhìn toàn cảnh địa hình Đà Nẵng từ trên cao, thật ngẫu nhiên, Đà Nẵng mang dáng dấp một con chim phượng hoàng đang vờn biển Đông, đầu hướng về phía mặt trời. Với cái đầu là vị trí tiền tiêu bán đảo Sơn Trà. Cánh trên giương cao bao chùm toàn bộ phần phía Bắc thành phố. Cánh dưới phủ bóng xuống hết phần phía Nam tới gần cửa Đại. Một đuôi che chở cho vùng núi Bà Nà. Hai đuôi còn lại ve vẩy trên dãy Bạch Mã.

Vài nét về chim phượng hoàng (nguồn wikipedia)

Nguyên thủy là con chim thần thoại của người dân khu vực Đông Á, ngự trị trên tất cả các loài chim khác. Là một trong tứ linh theo tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Miêu tả phổ biến là chim phượng hoàng đang tấn công con rắn bằng móng vuốt của nó với đôi cánh dang rộng, lông có năm màu (ngũ sắc) đại diện cho sắc màu của ngũ hành và cao sáu thước.

Từ xa xưa, phượng hoàng được sử dụng như là biểu tượng của hướng Nam, mang ý nghĩa tích cực, biểu tượng cho đức hạnh, duyên dáng và thanh nhã. Phượng hoàng cũng biểu thị cho sự hòa hợp Âm - Dương. Theo truyền thuyết, nó xuất hiện trong thời kỳ hòa bình và thịnh vượng, nhưng không phải là thời kỳ tăm tối sắp đến (m lược).
Rất có thể hình tượng: "Long Phụng triều Dương" sẽ linh ứng với Đà Nẵng
P/s: Trước khi bước sang phần cuối cùng (ý nghĩa) xin được nêu bổ sung một vấn đề, tuy rằng nó không hề được đề cập đến trong Chiếu dời đô của vua Lý Thái Tổ, nhưng chắc chắn nó sẽ xuất hiện khi "chuyển Thủ đô" được đưa ra bàn luận. Đó là vấn đề: "Địa linh".

"Địa linh"! Nói vậy thôi, chứ cả Trái Đất - nơi chúng ta đang được sống, đã là "Trái địa linh" rồi! Nhưng đã là "xã hội" thì nó muôn màu. Cũng nhờ thế mà xã hội mới tươi đẹp phải không? Chính vì vậy, đây là vấn đề không thể bỏ qua.

Như tất cả cùng biết và không ai có thể phủ nhận được rằng, trong suốt quá trình 1000 năm hình thành và phát triển, kinh đô Thăng Long luôn là một mảnh đất "Địa linh".

Bỏ qua giai đoạn trước Bắc thuộc, chỉ tính kể từ khi đất nước giành được độc lập, chấm dứt 1000 năm đô hộ của phương Bắc đến nay, đã có nhiều kinh đô được tạo dựng bởi các triều đại khác nhau, trên nhiều vùng đất khác nhau như:

- Hoa Lư - Ninh Bình (nhà Đinh)
- Thăng Long - Đại La (nhà Hậu Lý)
- Thành Tây Đô - Thanh Hóa (nhà Hồ)
- Thành Hoàng Đế - Quy Nhơn (nhà Tây Sơn)
- Kinh đô Huế - Phú Xuân (nhà Nguyễn).

Sự tồn tại về mặt thời gian của các kinh đô này như sau:

- Hoa Lư 42 năm (968 - 1010)
- Thăng Long 1000 năm (1010 - 2010, tính chẵn)
- Thành Tây Đô 7 năm (1400 - 1407)
- Thành Hoàng Đế 17 năm (1776 - 1793)
- Kinh đô Huế 143 năm (1802 - 1945, chỉ tính từ khi Nguyễn Ánh lên ngôi mở đầu quốc gia Việt Nam thống nhất). 

Như vậy, chỉ có duy nhất kinh đô Thăng Long là tồn tại được lâu với một thời gian là 1000 năm tuy không liền mạch. Và trong suốt hành trình lịch sử, hào kiệt bốn phương đã hội tụ về đây tạo lên một trang sử hào hùng cho đất nước, cho dân tộc.

Thăng Long địa linh là bởi như vậy. Vậy tại sao chỉ có Thăng Long là dài còn những kinh đô khác thì lại ngắn ngủi? Đây là câu hỏi cần phải được tìm hiểu để giải đáp cho vấn đề của hôm nay.

Trở lại với mảnh đất Đại La xưa, trước khi được vua Lý chọn làm kinh đô, mảnh đất này đã bị quân xâm lược phương Bắc giày xéo trong suốt 1000 năm đô hộ. Nếu đem so sánh với những mảnh đất khác của nước Việt khi đó như: Phong Châu, Cổ Loa, Mê Linh, Long Biên, nơi gắn liền với những tên tuổi và chứng tích oai hùng của dân tộc thì rõ ràng không thể sánh. Cũng chính vì thế mà Đại La đã không được chọn khi Ngô Quyền lên ngôi. Như vậy, Đại La không phải là mảnh đất địa linh khi vua Lý lựa trọn, mà chỉ là một nơi: "Địa lợi" và điều này cũng đã được thể hiện rất rõ trong Chiếu rời đô.

Và từ mảnh đất bị giày xéo, cộng với hào kiệt tụ về, cộng với thời gian đã làm nên một Thăng Long địa linh như ngày nay. Vậy có gì khác nhau giữa những vùng đất của các kinh đô nước Việt? Phải chăng có tồn tại một sự huyền bí nào đó? Để đi tìm câu trả lời, không có cách nào khác là phải dựa vào những dấu tích và ghi chép của lịch sử.

Theo quan niệm của người Việt, để làm một việc gì lớn đạt tới sự thành công đều phải dựa vào ba yếu tố chính làm nền tảng xuất phát là:

1/ Thiên thời (điều kiện thuận lợi).
2/ Địa lợi (vùng đất được chọn, nói một cách cụ thể).
3/ Nhân hòa (chung một niềm tin).

Với ba yếu tố này, cộng với hào kiệt (thời nào cũng có), cộng với thời gian (nhiều vô kể) ta sẽ có chung một công thức để tìm câu trả lời như sau đây:
(Minh họa)

Dựa vào sử sách sẽ cho ta thấy: Kinh đô Hoa Lư - Thành Tây Đô - Thành Hoàng Đế - Kinh đô Huế, ở yếu tố "nhân hòa" đều là "ý chí tuyệt đối" (tự quyết) và có những kết quả là:

- Cố đô với Hoa Lư.
- Di tích với Thành Tây Đô.
- Di tích với Thành Hoàng Đế.
- Cố đô với Kinh đô Huế.

Chỉ duy nhất Thăng Long có yếu tố nhân hòa (chung một niềm tin), đã được thể hiện rất rõ trong Chiếu dời đô, ở lời chỉ cuối cùng: "Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?" và mang đến kết quả 1000 năm địa linh.

Như vậy, địa linh ở đây là kết quả của năm yếu tố tạo thành: Thiên thời + Địa lợi + Nhân hòa + Nhân kiệt + Thời gian, với nhân hòa (niềm tin) là tâm điểm, chứ hoàn toàn không phải là một sự huyền bí nào cả!

Niềm tin sẽ quyết định! Và như thế, sẽ thật rộng đường để lập ra một công thức cho "Đại La mới" của đất nước hôm nay - Đà Nẵng.
 

Ý NGHĨA
.Tiếp nối truyền thống Ông Cha.

Chuyển Thủ đô về nơi mới - Đà Nẵng tức là tiếp nối và phát huy truyền thống, kinh nghiệm quý báu của Ông Cha trong việc định đô giữ nước ("nếu có chỗ tiện thì rời đổi").
. Cân bằng hơn trong trách nhiệm với đất nước.

Do Đà Nẵng có địa lý mang đậm nét điển hình của cấu trúc đất nước là: Có đồng bằng; Có núi rừng; Có biển đảo. Vì thế người lãnh đạo ở đây sẽ được sát thực hơn, luôn cảm nhận được hơi thở của biển, tiếng động của núi rừng. Để rồi trong tư duy quản lý, sự cân bằng sẽ trở lại. Nhằm:

- Trách nhiệm hơn với biển.

- Hiểu và lo lắng hơn tới núi rừng.
.Giải tỏa bất cập cho Hà Nội - Giành lại đất nông nghiệp cho đồng bằng sông Hồng.

Việc rút Bộ máy hành chính Quốc gia ra khởi Hà Nội, ngay lập tức sẽ mang lại cho Hà Nội sự thanh bình. Những bất cập do quá tải sẽ được giải tỏa. Bộ máy quản lý sẽ sớm tìm lại được phương hướng. Căn bệnh "phì đại" không còn cơ hội phát triển. Hà Nội sẽ trở về với giá trị thực của nó.

Và như thế cũng đồng nghĩa với việc, giành lại đất nông nghiệp cho đồng bằng sông Hồng (nói riêng) và cả nước (nói chung) một lượng lớn đất màu mỡ sẽ bị mất trong tương lai do việc mở rộng Hà Nội.
. Hiệu quả, thuận tiện cho các hoạt động chính trị trong nước và quốc tế.

Nằm ở "chỗ giữa' của đất nước, ra Bắc không quá gần vào Nam không quá xa. Gần hơn với trung tâm Đông Nam Á xôi động của Thế giới. Có đường bộ, đường sắt, đường không, đường biển, đường hành lang Đông - Tây, cùng với cảnh quan tươi đẹp và môi trường trong lành, chắc chắn sẽ mang lại nhiều tiện lợi, hiệu quả cho các hoạt động chính trị trong nước cũng như quốc tế.
. Xây dựng cho đất nước một Thủ đô tiêu biểu bên bờ biển.

Là người Việt Nam, chắc ai cũng mong muốn cho đất nước có một Thủ đô xứng tầm hàng đầu khu vực như:

- Đẹp về cảnh quan thiên nhiên.
- Trong lành về môi trường.
- Đồng bộ hiện đại về quy hoạch.
- Phong cách về kiến trúc.
- Lộng lẫy về sắc màu v.v.

Ngoài ra, Thủ đô còn phải được thiết lập một chức năng thật rõ ràng, để nó phù hợp với điều kiện của tự nhiên. Và đây là cơ hội để thực hiện. Nếu có được sự giúp đỡ của quốc tế nữa thì việc thực hiện sẽ càng trở nên dễ dàng hơn.

Một Thủ đô đầy ấn tượng, có chức năng "chuẩn chỉ" là: Trung tâm chính trị, du lịch và dịch vụ sẽ ra đời. Đồng hành với Hà Nội là: Trung tâm y tế, khoa học, giáo dục và thành phố Hồ Chí Minh là: Trung tâm công nghiệp và thương mại.
. Thông điệp gửi tới mai sau.

Chuyển Thủ đô xuống phía Nam (giãn Bắc) còn là một thông điệp gửi tới mai sau về ý chí Độc lập - Tự cường của dân tộc hôm nay. Bởi như một lẽ cần phải có, nếu chúng ta thực tâm mong cho đất nước dứt ra được nỗi: "Bốn nghìn năm đất nước gian nan" thì xin hãy bắt tay vào quy hoạch cho đất nước một con đường.

Mang tên: Độc Lập - Tự Cường - Hòa Hợp.

Và một lần nữa:

- Với tất cả tấm lòng tôn kính đối với vua anh minh Lý Thái Tổ.

- Với tất cả thực trạng của Thủ đô hôm nay.

- Với tất cả niềm tin và ước vọng vào một kỷ nguyên mới phồn thịnh cho Nước nhà.

Xin trân trọng khởi xướng: Chuyển Thủ Đô vào Đà Nẵng.

Lập luận và khởi xướng: Đỗ Thanh Tùng

Nơi ĐKHK: 332 Hoàng Hoa Thám - Hà Nội

Vẻ đẹp Đà Nẵng, thủ đô của Liên Bang Việt Cam Lào tương lai
18.04.2009

Đà Nẵng – Thành phố Xanh – Sạch – Đẹp
Nhiều người đến Đà Nẵng đều có thiện cảm về một Đà Nẵng xanh - sạch - đẹp. Phần lớn, đó là những nhận xét khách quan không mang tính xã giao. Nói đến Đà Nẵng là du khách có thể hình dung ngay rằng đó là một thành phố tuyệt đẹp bên sông Hàn, bên bờ biển Đông với những nét quyến rũ chưa từng có ở các đô thị biển khác.  Đà Nẵng xứng đáng làm thủ đô liên bang Vietcamlao tương lai.

Đà Nẵng xanh

Nhìn dưới góc độ thiên thời, Đà Nẵng được thiên nhiên ban tặng “núi trong lòng thành phố, phố trong lòng biển khơi”; có dòng Sông Hàn như dải lụa xanh uốn lượn giữa lòng thành phố. Đà Nẵng còn có hai “mặt tiền” giáp biển, một trông ra biển Đông và một ôm lấy vịnh Đà Nẵng. Nói đến màu xanh Đà Nẵng là nói đến “Xanh núi - xanh sông - xanh rừng - xanh biển”. Một thành phố không những được tiếng khen về hạ tầng đô thị khang trang, văn minh hiện đại, mà còn là một thành phố xanh, sạch, đẹp, trong đó, bao trùm lên nó là màu xanh của cây cỏ hoa lá, được chăm sóc, giữ gìn. Đó còn là cái xanh dịu dàng của biển, được lồng trong những cánh rừng, ngọn núi bao quanh như bán đảo Sơn Trà, Hải Vân, Ngũ Hành Sơn, cùng với những con đường ven biển mới hình thành như Nguyễn Tất Thành, Sơn Trà – Điện Ngọc, lại càng tôn thêm mùa xanh đa dạng, quyến rũ của Đà Nẵng, tạo cho người ta một cảm giác trong lành, dễ chịu, xua đi hết buồn phiền, bức bối mỗi khi nhìn ngắm. 

Đà Nẵng sạch không thể phủ nhận, người viết cũng như rất nhiều người, sau khi đi nhiều nơi ở nước ta, nhất là các đô thị lớn đều có thể khẳng định rằng: “Đà Nẵng mình thật sạch”! Cho dù đây đó còn những điểm nóng, điểm đen về môi trường…Nhưng cái chung vẫn là sạch. Nhiều người Việt Nam ở nước ngoài đến Đà Nẵng và du khách trong nước, khi nói đến môi trường Đà Nẵng, cũng đều công nhận, Đà Nẵng sạch hơn nhiều so với nhiều đô thị khác ở nước ta. Mọi người không phải ai cũng “bạ đâu vứt đó”, hiện tượng phóng uế bừa bãi cũng ít xảy ra, đường phố phong quan, gọn ghẽ… Có được điều đó là do việc xử lý, quản lý rác của thành phố được tổ chức quy củ, ý thức của đông đảo cộng đồng dân cư ngày càng được nâng cao. Đặc biệt, trong lĩnh vực vệ sinh môi trường, Đà Nẵng đang chứng tỏ ra là một đô thị đi đầu trong cả nước. Thành phố đã và đang xây dựng hàng loạt công trình vệ sinh môi trường với quy mô lớn được xây dựng. Một bãi rác thải mới theo tiêu chuẩn quốc tế rộng khoảng 50-60 ha đang được hình thành để thay thế bãi rác Khánh Sơn. Bên cạnh công trình bãi rác mới theo tiêu chuẩn quốc tế, các công trình xử lý nước thải áp dụng công nghệ hiện đại, rẻ tiền, hiệu quả đang được hình thành. Một trong những phương cách tiếp cận hướng tới phát triển bền vững là quá trình xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường. Thật vậy, Dự án “Quản lý môi trường đô thị có sự tham gia của cộng đồng ở thành phố Đà Nẵng” được thực hiện từ năm 2006 đến nay đã thu hút được sự quan tâm và tập hợp rất nhiều lực lượng tham gia, số lượng rác thải trên địa bàn ngày càng được phân loại và thu gom đảm bảo vệ sinh môi trường.“Tính tự giác của người dân trong việc thu gom rác thải cũng đạt đúng quy trình của các chuyên gia Nhật Bản đề ra. Dự án cũng đã tạo ra dược sự gắn kết chặt chẽ và phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương, cộng đồng dân cư cũng như giữa các tổ dân phố''. Đó là nhận xét của một thành viên thuộc Dự án “Quản lý môi trường đô thị có sự tham gia của cộng đồng ở thành phố Đà Nẵng”, tại buổi tổng kết dự án, do Sở Tài Nguyên và Môi trường thành phố Đà Nẵng phối hợp với Đại học Kyoto (Nhật Bản) tổ chức ngày 08/09/2008.

Đà Nẵng đẹp 

Nói đến Đà Nẵng không thể không nhắc đến dòng sông Hàn thơ mộng và cầu Sông Hàn - cây cầu quay đầu tiên ở Việt Nam - niềm tự hào của người dân thành phố. Cầu Sông Hàn là biểu tượng cho sức sống mới, là khát vọng đi lên của thành phố. Dường như mọi vẻ đẹp nên thơ của dòng sông Hàn chỉ được bộc lộ một cách hoàn mỹ nhất trong không gian cầu Sông Hàn lộng gió và mát rượi. Cái đẹp đó là cảnh ban đêm vừa thả bộ dọc sông Hàn vừa ngắm câu quay. Nếu ai đã từng thử một lần dạo trên con đường Bạch Đằng đêm, cảm nhận cơn gió mát lạnh thổi từ sông vào mới thật là thú vị. Đó còn là cảnh đẹp nữa mà nhiều người cho là khá ngoạn mục, đó là khi hoàng hôn buông xuống, đi dọc theo đường Nguyễn Tất Thành để ngắm mặt trời lặn trên vịnh Đà Nẵng. Bờ vịnh yên bình, sóng bàng bạc và những con thuyền tròng trành bé nhỏ. Xa xa là Hải Vân - Bạch Mã - Sơn Trà mờ mờ trong mây tím. Đà Nẵng đẹp thơ mộng, thanh bình và lãng mạn; Đà Nẵng đẹp khi ngắm nhìn từ trên cao từ Sơn Trà, từ Bà Nà, từ những tòa cao ốc để thấy phố xã, dòng sông, biển xanh….; Đà Nẵng đẹp khi đứng trên Cầu Sông Hàn phóng tầm mắt về khung cảnh đôi bờ. Ở mỗi góc nhìn đều toát lên cái đẹp riêng rất dễ để các nghệ sỹ cảm tác thành nhạc thành thơ…Đó là nguồn cảm hứng vô tận mà Đà Nẵng có được! 

Sự hòa quyện của cái xanh, cái sạch và đẹp của Đà Nẵng là sự gắn bó mật thiết hữu cơ, trong cái đẹp có cái xanh, trong cái xanh có cái sạch, trong cái sạch có cả xanh và đẹp. Tất cả, tạo nên bản sắc, nét đặc trưng rất Đà Nẵng. Thiên nhiên đã ưu đãi cho Đà Nẵng có cái xanh, cái đẹp, con người “tô vẽ” thêm cho Đà Nẵng cái sạch. Đây là một vốn quý, là sự kết hợp của tạo hóa và ý thức, bàn tay chăm chút của con người. Cái “ba trong một” này cần được nâng niu, gìn giữ và phát huy. Nó sẽ làm cho Đà Nẵng văn minh, hiện đại hơn lên khi đan xen trong một Đà Nẵng của thanh bình, trẻ trung, năng động.

Những gì thành phố có được hôm nay không làm chúng ta chủ quan, tự mãn. Để Đà Nẵng đẹp hơn nữa trong mắt mọi người, phía trước còn rất nhiều việc phải làm. Xây dựng Đà Nẵng trở thành -Thành phố môi trường là một mục tiêu mang tính nhân văn mà Đà Nẵng đang hướng đến. Như có người đã nói: Tất cả đang ở điểm khởi đầu, nó giống như một trang giấy trắng, trên đó sẽ là một bức tranh đầy màu sắc hay chỉ là những nét vẽ vụng về, thô kệch, điều đó phụ thuộc rất nhiều vào bàn tay của các nhà quy hoạch và cái tâm của những người lãnh đạo thành phố, và trên hết là sự đồng thuận của nhân dân, điều mà đã nhiều năm nay Đà Nẵng đã làm được. 

Giữa thế kỷ XVI, khi Hội An đã là trung tâm buôn bán sầm uất ở phía Nam thì Đà Nẵng mới là vị trí tiền cảng, trung chuyển hàng hóa, tu sửa tàu thuyền. 

Đầu thế kỷ XVIII, vị trí tiền cảng của Đà Nẵng dần dần trở thành thương cảng thay thế cho Hội An, nhất là khi kỹ thuật đóng tàu ở châu Âu phát triển với những loại tàu thuyền lớn, đáy sâu, ra vào vịnh Đà Nẵng dễ dàng. 

Năm 1835, khi vua Minh Mạng có dụ: 'Tàu Tây chỉ được đậu tại cửa Hàn, còn các cửa biển khác không được tới buôn bán' thì Đà Nẵng trở thành một thương cảng lớn bậc nhất miền Trung. Tiểu thủ công nghiệp địa phương phát triển với những ngành sửa chữa tàu thuyền, sơ chế nông lâm hải sản; dịch vụ thương mại cũng phát đạt. 

Sau khi xâm chiếm toàn bộ đất nước ta vào năm 1889, thực dân Pháp tách Đà Nẵng khỏi Quảng Nam và đổi tên thành Tourane, chịu sự cai quản trực tiếp của Toàn quyền Đông Dương. 

Đầu thế kỷ XX, Tourane được Pháp xây dựng trở thành một đô thị theo kiểu Tây phương. Cơ sở hạ tầng xã hội, kỹ thuật sản xuất được đầu tư. Các ngành nghề sản xuất và kinh doanh được hình thành và phát triển: Sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, chế biến hàng xuất khẩu (chè, lương thực, thực phẩm, nước ngọt, nước đá, rượu, nước mắm, cá khô), sửa chữa tàu thuyền, kinh doanh dịch vụ. Cùng với Hải Phòng và Sài Gòn, Tourane trở thành trung tâm thương mại quan trọng của cả nước. 

Năm 1950, Pháp trao trả Đà Nẵng cho chính quyền Bảo Đại. 

Tháng 3/1965 các đơn vị thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng và thiết lập ở đây một căn cứ quân sự hỗn hợp lớn. Năm 1967, Đà Nẵng được VNCH ấn định là thành phố trực thuộc Trung ương và xác định mục tiêu xây dựng Đà Nẵng thành trung tâm chính trị, quân sự, văn hóa cho vùng I và II chiến thuật. Mỹ cho xây dựng ở Đà Nẵng các căn cứ quân sự và kết cấu hạ tầng: sân bay, cảng, kho bãi, đường sá, công trình công cộng, cơ sở thông tin liên lạc, lập tín dụng ngân hàng. Khu kỹ nghệ Hòa Khánh sản xuất oxygen, acetylene, bột giặt, xay xát, dệt... ở thời kỳ này công nghiệp được phát triển ở mức độ cao hơn: các khu kỹ nghệ thay thế cho công trường thủ công. Tuy nhiên, chiến tranh đã để lại hậu quả nặng nề, hàng trăm nghìn dân quê phải chạy vào các trại tỵ nạn, các khu ổ chuột đô thị; tệ nạn xã hội tăng nhanh, sản xuất không phát triển. 

Năm 1975, hòa bình lập lại, Đà Nẵng (là thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng) bắt tay vào khôi phục những hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh. Mặc dù còn lắm khó khăn nhưng công cuộc phục hồi và phát triển thành phố đã đạt nhiều thành quả, nhất là thời kỳ đổi mới, sau 1986. 

Ngày 6/11/1996 tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX đã thông qua Nghị quyết cho phép tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng tách thành tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng trực thuộc Trung ương. Về địa giới hành chính, thành phố Đà Nẵng mới bao gồm thành phố Đà Nẵng trước đây, huyện Hòa Vang và huyện đảo Hoàng Sa.


Đà Nẵng thì nên đi Ngũ Hành Sơn chơi bạn vừ ngắm thắng cảnh và có thể mua đá mỹ nghệ làm quà tặng cũng rất đẹp,nếu là người yếu tim thì ko nên đi Bà Nà vì muốn đến đó phải đi đèo vòng vong rất là kinh,đi với bạn thì tối ra bờ biển Phạm Văn Đồng có mấy nhà hàng rất tuyệt.

Đà Nẵng có nhiều đặc sản như mì Quảng, bún chả cá, bún mắm, bánh kẹp, bánh xèo, v.v.... Tham quan thì có Ngũ Hành Sơn, Bãi Bụt, Bãi Tiên Sa, bán đảo Sơn Trà, Cù lao Chàm, Suối Mơ ở Đại Lộc, Suối Hoa, v.v...

Lịch trình của bạn vậy là quá ổn rồi. Nên ở đêm trên Bà Nà. Rất hấp dẫn với không khí lành lạnh, sương bao phủ và có lửa trại (hình như đông người thì mới có).
Mùa này không nên đi Cù Lao Chàm vì sóng to, gió cả. Không quen sẽ say sóng mất vui. Vả lại trên cù lao Chàm cũng không có nhiều cái đặc sắc lắm.

1. Open Bus ĐN - HA: đi xe của Trekking (Diệp Trân Co.) khá ổn, xe chạy đúng giờ, phục vụ dễ chịu. Giá: 40k/người. Bạn có thể đặt mua vé trước tại vp Hà Nội: 35 Nguyễn Trường Tộ. ĐT:0437163751, hoặc mua tại vp Đà Nẵng: 4 Trần Quốc Toản. ĐT: 05113843122. Xe chạy chuyến 11h30 sáng và 16h30 mỗi ngày. Thả khách tại vp Hội An: 621 Hai Bà Trưng, rất gần trung tâm phố cổ. Khi tới bạn nên mua vé quay về ĐN luôn phòng trường hợp hết vé.

2. Khách sạn tại Hội An giá như bạn nói không ít, từ khá đẹp tới đẹp. Ngay gần vp Trekking, sau khi xuống xe bạn có thể đi bộ tới:
- Khách Sạn  Thanh Vân, 78 Trần Hưng Đạo. Phòng Double giá hiện là 250k. Nên book trước: 05103916916
- KS Thanh Bình I, II, III: Thanh Bình I gần với phố cổ nhất, 2 cái còn lại hơi xa. Thanh Bình I: số 1 Lê Lợi: 05103861740
- Hai KS trên đều nằm phía lối vào phố cổ. Nếu bạn muốn ở giữa lòng phố cổ, có thể tới KS An Hội. KS nhìn xuống sông Thu Bồn, giá 250k-300k. Tuy nhiên sẽ không đẹp bằng 2 cái trên.

Bạn có thể xem hình ảnh các ks này tại:
www.thanhvanhotel.com
www.anhoihotel.com

Đi lại trong phố cổ ban ngày có thể thuê xe đạp tại ks, buổi tối thì phải đi bộ vì cấm xe. Bạn cũng nên đạp xe ra biển Cửa Đại vào buổi chiều, quang cảnh 2 bên đường 1 số đoạn khá lãng mạn.

3- 4. Bà Nà ở khá xa, không gần sân bay hay HA hay biển gì cả. Phải thuê xe đi lên tận đỉnh. Đi xe taxi nó lấy chắc hơn 500K. Coi chừng không kịp về sân bay. Cũng không có gì nhiều, đi cho biết thôi. Nếu không có thừa thời gian thì đừng ở đêm. Nếu gấp quá thì khỏi đi Bà Nà cũng được.

Có một Đà Lạt của Đà Nẵng

UBND thành phố Đà Nẵng đã cho khởi công xây dựng đường công vụ lên Bà Nà. Có đường lớn, ta sẽ có một khu nghỉ mát lý tưởng, phục hồi lại bóng dáng xưa, có nhà, có chợ, có những thứ cần thiết như nó đã từng một thời vang bóng...

Trong một công vụ lên Bà Nà, tôi đã theo con đường thời Pháp để lại, lở lói, hư nát, dốc dựng đứng 45-50 độ, rất phù hợp và khá thú vị đối với những người chuộng môn leo núi. Tôi đã đã du lịch thể thao thăm Bà Nà theo cách ấy. Tôi sẽ không kể bạn nghe nhiều về chuyển đi lên, vì tôi là tóp người hậu sinh, quá xa so với trung uý lục quân Debay vào những năm 1900, được giao nhiệm vụ khảo sát, khai phá nhằm tìm kiếm khu nghỉ mát trên cao. Những gì tôi nhìn thấy, những nơi tôi đi qua, người xưa đã từng trải thì có gì để mà nói. Có chăng, tôi chỉ xác nhận rằng đây là khu rừng mùa nhiệt đới rất xanh. Càng lên càng cao, ven những khu rừng đặc trưng tập trung quanh chân núi. Chạy dài từ đồng bằng ven biển lên mãi đến độ cao 1.478m, cảm giác của tôi là đắm chìm giữa màu xanh ngút ngàn, bất tận. Một tiếng đồng hồ trước, trời nắng đẹp khoảng một tiếng sau trời lại sụp tối chuyển mưa, chứng tỏ rằng nơi đây lượng mưa trung bình hàng năm lớn. Nhưng chính vì thế mà những người leo núi chúng tôi ít mệt. Người ta nói rằng Bà Nà được thiên nhiên ưu đãi về sự phong phú, đa dạng của các hệ sinh thái và các loài về tài nguyên động, thực vật. Những kết quả điều tra, những con số bao nhiêu chi, họ, tôi xin dành cho các nhà khoa học. Tôi chỉ thấy đặc biệt thú vị khi được người hướng dẫn chỉ ra đâu là cây trầm hương, đâu là sến mật, gụ lau, thông chàng - những loài danh mộc. Hoặc trên đường tôi đi sung sướng nhặt được một chiếc lông trĩ, người hướng dẫn cho biết, đây là trĩ sao, một động vật rất quý hiếm.

Sau tám tiếng đồng hồ luồn rừng mệt nhoài, tôi đã chinh phục được đỉnh cao lên đến một vùng đất bằng phẳng khoảng 10ha. Chính nơi đây là một thị trấn nghỉ mát xưa, giờ đây chỉ còn là phế tích. Tôi miên man nghĩ về Bà Nà - mùa xuân của nước Pháp - như những người từng phát hiện ra nó ngợi ca. Hoặc Bà Nà là Đà Lạt của Đà Nẵng, như cách ví von của tôi, do chân ngắn quá không đi được nhiều nơi để có cái mà so sánh: tôi chỉ thấy như Đà Lạt là sướng lắm rồi. Lúc ở độ cao khoảng 1000m, mới có 16h, nhiều người đã phải lấy áo ấm ra mặc.

Lên Bà Nà hiện nay bạn nhìn thấy gì? Chẳng còn gì ngoài một chút hoài niệm. Này đây, bến xe một thời nhộn nhịp, những chuyến xe nối lên mạn ngược, miền xuôi, tạo đường dây thông tin, làm cho khu nghỉ biệt lập nhưng gần gũi đời thường. Này đây, nhà hàng Morin, đêm đêm đèn màu lấp lánh, những điệu nhạc du dương, những đôi trai gái của một khu cư dân không sầm uất lại có điều kiện gặp nhau, thổ lộ tình yêu. Còn kia là nhà thờ, những buổi tinh mơ vang lên hồi chuông sớm mời gọi người cầu kinh chào ngày mới. Vâng, có nhiều nơi để viếng thăm lắm. Trập trùng, cao thấp trên 240 ngôi nhà, nằm rải rác trên những ngọn đồi, nay chỉ còn lại những nền đổ nát, gợi nhớ bóng dáng xưa.

Màn đêm buông xuống, ấy là lúc cái lạnh đồng hành, không phải là cái lạnh cắt da mà chỉ gây gây, đặc trưng của khí hậu ôn đới. Hãy nổi lửa lên ! Trước hết là sưởi ấm, sau đó trở về với thiên nhiên hoang dã. Dăm cốc rượu sẽ tăng vị đậm đà cho không khí giao lưu, để cùng nhau thức đến 21 giờ, đợi cho sương tan, nhìn về Đà Nẵng mới đẹp làm sao. Ít nhất là trong lúc này, bạn có cảm giác mình là chàng khổng lồ Gu-li-vơ, khi nhìn thấy một vùng non nước bao la bên dưới. Li ti như kiến là những toà nhà sáng ánh diện, những vệt sáng mảnh dẻ là những con đường. Lồng lộng nơi xa là biển cả, những dòng sông, những núi đồi bùng lên dưới ánh trăng vằng vặc như một bức hoạ màu nước cực lớn.

Chúng tôi giã từ Bà Nà lúc trời mưa tầm tã, vượt qua dốc cuối cùng, tức dốc đầu tiên lúc lên, được bà con địa phương đặt tên là dốc Dằn Mặt - vì mới đề pa đã gặp phải dốc rất dài, dựng đứng, làm người leo núi khiếp đảm ngay từ đầu. Phải chúi người để tụt dốc nên những đầu ngón chân tê dại. Cảm giác ê chề, rã rời vào những phút cuối ập đến, khiến ai cũng khao khát giây phút được thả ba lô, nằm xoải tay của một người hoàn thành nhiệm vụ làm sao! Nhưng kìa, những mái nhà, những ruộng lúa đã hiện ra. Đến đồng bằng rồi. Những mệt mỏi bỗng biến đâu mất. Tôi cởi áo mưa, tắm mình trong cơn mưa nặng hạt như tắm trong niềm thắng lợi chinh phục đỉnh cao. Tôi ngước đầu, độ ngược hết cỡ, đánh rơi cả mũ để nhìn lại hành trình mình đã đi qua. Thật là ngoài sức tưởng tượng. Cao cao quá! Đỉnh Bà Nà băng ngang giữa lưng trời, bềnh bồng, ẩn hiện trong mưa.

Bà Nà đang được quan tâm. Bà Nà đang được vén dần những lớp mây để phô ra vẻ diễm kiều với đời. Mai mốt đây, chắc là trong tương lai gần thôi, bạn sẽ lên Bà Nà không còn vất vả như tôi nữa. Nhưng cũng vì thế mà sẽ không có cảm giác thử sức mình, cảm giác chinh phục đỉnh cao của một tay du lịch Traking. Nên chăng có một lối cắt rừng với những dốc ngược nhất, dựng đứng nhất dành cho những chàng trai muốn chinh phục đỉnh cao 1.500m của khu du lịch Bà Nà?



.
Bình minh rạng rỡ. Cả bầu trời và mặt biển khoác lên mình một màu cam sống động. Ảnh: Ngô Văn Khải.
ảnh
Đến trưa biển ngả sang màu ngọc bích. Ảnh: Ngô Văn Khải.
ảnh
Hoàng hôn xuống. Một sắc xanh tím êm ả bao trùm cả không gian. Ảnh: Ngô Văn Khải
ảnh
Sông Hàn về đêm. Ảnh: Nguyễn Đức Trọng

Đà Nẵng, 150 năm nhìn lại












Liên bang Việt Cam Lào (Federal Republic of Vietcamlao)

Liên bang Việt Cam Lào (Federal Republic of Vietcamlao)
Liên bang (Latin: foedus) là hình thức quốc gia bao gồm một số các thành viên cá thể có chính phủ riêng hợp thành dưới một chính phủ ("liên bang") thống nhất. Trong một liên bang, chủ quyền của các thành viên liên bang được pháp luật bảo hộ và không thể bị điều chỉnh bởi một quyết định đơn phương nào của chính phủ trung ương.

Hình thức chính phủ hay kết cấu lập hiến của một liên bang được gọi là chế độ liên bang. Hình thức này có thể coi là đối lập với hình thức quốc gia đơn nhất. Nước Đức với mười sáu Länder là một ví dụ liên bang trong khi nước Áo láng giềng và các Bundesländer lại là một quốc gia đơn nhất có các đơn vị hành chính kiểu liên bang và nước Pháp luôn luôn là quốc gia đơn nhất.

Chế độ liên bang thường được thiết lập tại một quốc gia đa sắc tộc hoặc có lãnh thổ rộng lớn hoặc trong trường hợp cần thiết. Các liên bang thường được thành lập trên cơ sở một một hiệp ước giữa các thành viên có chủ quyền.

Tổ chức quốc tế của các quốc gia liên bang, gọi là Diễn đàn Liên bang [1], đặt tại Ottawa,OntarioCanada. Tổ chức này hiện gồm chín quốc gia thành viên.

Các tiểu bang thành viên trong một liên bang được coi là có chủ quyền về một khía cạnh nào đó nhưng quyền lực cụ thể được bảo hộ của tiểu bang có thể không được chính phủ trung ương áp dụng. Tuy nhiên một liên bang lại vững chắc hơn một liên minh lỏng lẻo giữa các quốc gia độc lập. Các tiểu bang thành viên của một liên bang thường không có quyền trong quan hệ chính sách đối ngoại và vì vậy chúng muốn tình trạng không độc lập theo luật pháp quốc tế.

Một liên bang thường có một hệ thống hai cấp chính phủ tại hầu hết lãnh thổ và cho hầu hết dân cư. Tuy nhiên, sẽ không bất thường nếu nếu một liên bang có một vài vùng lãnh thổ trực tiếp do chính phủ liên bang quản lý. Ví dụ, các Vùng (Territory) của Canada và Úc có các mức độ chính phủ khác nhau và có thể bị chính phủ liên bang đơn phương thay đổi hoặc rút bỏ; ngoài các tiểu bang thành viên Ấn Độ lại có một số Lãnh thổ liên hiệp; còn Mỹ và Mexico đặt các thủ đô là Đặc khu Columbia và Đặc khu liên bang, trường hợp này chính phủ liên bang có đặc quyền hợp hiến để để bổ nhiệm hoặc miễn nhiệm chính phủ địa phương. Thông thường một lãnh thổ sẽ được điều hành trực tiếp bởi chính phủ liên bang do các nguyên nhân lịch sử mà nó đã và đang hoặc bởi vì nó quá xa và quá thưa dân để thành lập một tiểu bang hay tỉnh, hoặc bởi vì nó là một vùng lãnh thổ có vai trò đặc biệt là thủ đô của liên bang.
Một số liên bang được gọi là bất đối xứng bởi vì một vài tiểu bang lại có quyền tự trị cao hơn các tiểu bang khác. Ví dụ cho trường hợp này là Malaysia, tiểu bang Sarawak và Sabah với các điều kiện khác so với các bang khác nằm trên bán đảo Mã Lai.

Một liên bang thường được hợp nhất từ một hiệp ước ban đầu giữa các thành viên riêng lẻ. Mục đích hợp nhất để giải quyết các vấn đề chung hoặc để có năng lực phòng thủ chung như Mỹ và Thụy Sĩ hoặc tạo ra một nhà nước dân tộc cho các nhóm rải rác ở các quốc gia khác nhau như Đức. Tuy nhiên do lịch sử và dân tộc của các quốc gia rất khác nhau cho nên chế độ liên bang của một quốc gia có thể khá khác so các hình mẫu trên. Chẳng hạn trường hợp nước Úc là duy nhất vì nó trở thành một quốc gia thông qua bầu cử dân chủ của công dân tại mỗi tiểu bang khi họ đã trả lời "đồng ý" trong cuộc trưng cầu thông qua Hiến pháp Úc. Còn Brazil trong suốt lịch sử của mình đã từng vừa là quốc gia liên bang vừa là quốc gia đơn nhất; ngày nay một số tiểu bang của Liên bang vẫn duy trì ranh giới từ thời thuộc địa Bồ Đào Nha (có nghĩa là trước khi nhà nước Brazil ra đời) và vẫn bị ảnh hưởng nhiều bởi chính phủ trung ương đặt tại tiểu bang cuối cùng được thành lập theo Hiến pháp 1988, chủ yếu vì mục đích hành chính.


Tám trong số mười nước diện tích lớn nhất thể giới được tổ chức thành các liên bang
Quốc gia đơn nhất

Một quốc gia đơn nhất là nhà nước có một cấp chính phủ duy nhất, tập trung và một dân tộc. Tuy nhiên quốc gia đơn nhất cũng có thể có một hoặc nhiều lãnh thổ có chính phủ riêng. Sự khác nhau giữa một liên bang và một quốc gia đơn nhất kiểu này là ở chỗ trong một quốc gia đơn nhất mức độ tự trị của các lãnh thổ có chính phủ riêng tồn tại không theo mong muốn của chính phủ trung ương và có thể bị đơn phương hủy bỏ. Trong khi một liên bang thông thường được thiết lập bởi một hiệp ước giữa một số tiểu bang độc lập, thì tại một quốc gia đơn nhất các lãnh thổ có chính phủ riêng thường được thiết lập thông qua sự chuyển giao quyền lực tức là chính phủ trung ương chính thức đồng ý giao quyền tự trị cho cho một lãnh thổ phụ thuộc hoàn toàn trước đây. Vì vậy các liên bang thường được thành lập một cách tự nguyện từ 'cấp dưới' trong khi việc chuyển giao quyền tự trị lại được đưa ra từ 'cấp trên'.
Trong triết lý của một quốc gia đơn nhất, sự toàn vẹn lãnh thổ được coi là chủ quyền quốc gia và bởi lẽ đó chính phủ trung ương thực thi chủ quyền trên toàn lãnh thổ. Trong khi đó ở một liên bang chủ quyền thường được nhìn nhận một cách tương đối tại các tiểu bang thành viên hoặc được chia sẻ giữa các tiểu bang và chính phủ trung ương.

Liên bang de facto
Sự khác biệt giữa một liên bang và một quốc gia đơn nhất thường không rõ ràng. Một quốc gia đơn nhất có thể rất giống với liên bang về cấu trúc và chính phủ trung ương vừa có thể có quyền về mặt lý thuyết để hủy bỏ quyền tự trị của một lãnh thổ có chính phủ riêng nhưng về mặt chính trị lại rất khó để thực thi điều đó. Các lãnh thổ tự trị của một số quốc gia đơn nhất thường muốn nhiều quyền tự trị hơn ở một số liên bang. Vì lẽ đó, đôi khi có tranh cãi trong việc coi một số quốc gia đơn nhất là liên bang de facto.

Vương quốc Tây Ban Nha
Tây Ban Nha là một liên bang de facto bởi vì nó trao nhiều quyền cho chính phủ các khu tự trị hơn só với hầu hết các liên bang khác. Đối với nghị viện Tây Ban Nha, việc bãi bỏ quyền tự trị của các vùng như Galicia, Catalonia hoặc xứ Basque, hay đối với Chính phủ Vương quốc Anh việc đơn phương hủy bỏ cơ quan lập pháp của xứ Wales, Bắc Ireland hoặc Scotland hầu như là một sự bất khả thi chính trị mặc dù không có một rào cản nào về pháp lý. Hơn nữa, một số vùng như Navarra hoặc xứ Basque có đầy đủ khả năng kiểm soát thuế và chi tiêu, chuyển một phần nhỏ cho chính phủ trung ương để phục vụ các mục đích công (quân đội, quan hệ quốc tế, chính sách vĩ mô).

Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trên thực tế đã là một kiểu liên bang de facto mặc dù không có quy định chính thức xuất phát từ quyền lực được trao rộng rãi cho các tỉnh một cách không chính thức để thực thi các quan hệ kinh tế và chính sách quốc gia. Kết quả là có một khái niệm "chế độ liên bang de facto với đặc trưng Trung Hoa" (dựa theo chính sách của Đặng Tiểu Bình chế độ xã hội chủ nghĩa với đặc trưng Trung Hoa). Theo hiến pháp, quyền lực của các đặc khu hành chính của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được trao bởi Chính phủ nhân dân Trung ương thông qua nghị quyết của Toàn quốc Nhân dân Đại biểu Đại hội. Việc hủy bỏ quyền tự trị của các đặc khu hành chính Hong Kong và Macau là một thách thức lớn nếu muốn nói là không thể.

  • Đề án Liên bang Việt Cam Lào nhằm mục đích thành lập liên minh kinh tế và tiền tệ vào với một đồng tiền chung và một Ngân hàng trung ương độc lập, thành lập một liên minh chính trị bao gồm việc thực hiện một chính sách đối ngoại và an ninh chung để tiến tới có chính sách phòng thủ chung, tăng cường hợp tác về cảnh sát và luật pháp.

    - Tất cả các công dân của các nước thành viên được quyền tự do đi lại và cư trú trong lãnh thổ của các nước thành viên.

    - Được quyền bầu cử và ứng cử chính quyền địa phương và quốc hội liên bang tại bất kỳ nước thành viên nào mà họ đang cư trú.

    - Thực hiện một chính sách đối ngoại và an ninh chung trên cơ sở hợp tác liên chính phủ với nguyên tắc nhất trí để vẫn bảo đảm chủ quyền quốc gia trên lĩnh vực này.

    - Tăng cường quyền hạn của 
    Quốc Hội Liên Bang.

    - Mở rộng quyền của Cộng đồng trong một số lĩnh vực như môi trường, xã hội, nghiên cứu....

    - Phối hợp các hoạt động tư pháp, thực hiện chính sách chung về nhập cư, quyền cư trú và thị thực.

    Hướng đên tương lai dài hạn, xây dựng một liên bang thịnh vượng, hùng mạnh, hạnh phúc và thanh bình, thống nhất, đoàn kết không có biên giới, mọi người dân trong ba nước đều được hưởng công bình và công lý, phù hợp với nguyện vọng của 100 triệu nhân dân thuộc ba dân tộc Việt Cam Lào
    1. Những quyền cơ bản, không phân biệt đối xử; 2. Tư pháp và đối nội; 3. Chính sách xã hội và việc làm; 4. Chính sách đối ngoại và an ninh chung.

    Cơ cấu tổ chức :

    Cộng Hoà Liên Bang Việt Cam Lào có bốn cơ quan chính là : Hội đồng Bộ trưởng, Quốc Hội Liên Bang, Toà án Liên Bang.

    a. Hội đồng Bộ trưởng :

    Chịu trách nhiệm quyết định các chính sách lớn của liên bang Việt Cam Lào, bao gồm các Bộ trưởng đại diện cho các thành viên. Các tiểu bang luân phiên làm Chủ tịch với nhiệm kỳ 6 tháng. Giúp việc cho Hội đồng có Uỷ ban đại diện thường trực và Ban Tổng Thư ký.

    b. Quốc hội liên bang :

    Gồm 150 dân biểu, nhiệm kỳ 4 năm, được bầu theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu. Trong quốc hội các dân biểu ngồi theo nhóm chính trị khác nhau, không theo Quốc tịch.

    Chức năng: thông qua ngân sách, quyết định trong một số lĩnh vực, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách của liên bang.

    c. Toà án liên bang

    Đặt trụ sở tại Đà Nẵng, gồm 15 thẩm phán và 9 trạng sư, do các chính phủ thoả thuận bổ nhiệm, nhiệm kỳ 6 năm. Toà án có vai trò độc lập, có quyền bác bỏ những quy định của các tổ chức của các chính phủ tiểu bang nếu bị coi là không phù hợp với luật của liên bang.

  • Thủ đô: Thành phố Đà Nẵng vì vị trí chiến lược và khoảng cách đến các thủ đô liên bang khoảng 600km đường hàng không, thuận tiện vô cùng

    HN - DN 605KM
    SAIGON - DN 611KM
    VIENTIANEDANANG -- 607.09 KM
    PHNOM PENH - DN --601 KM 

    Tại sao nên thành lập chính phủ liên bang? 

    Với một lãnh thổ chiều dài 1650km, thủ đô quốc gia Việt Nam được đặt ở phiá Bắc không phải trung tâm quốc gia và cách biên giới phía Bắc 300km và tỉnh Cà Mâu cực Nam đến 1400km, sự quản trị quốc gia từ Hà Nội không cân xứng.
    Nếu như VN chia làm 3 tiểu bang, Bắc Vìệt có thủ đô là Hà Nội, Trung Việt thủ đô Huế và Nam Việt thủ đô Sài Gòn, và liên kết hai xứ Campuchia có thủ đô Nam Vang và Lào có thủ đô Vạn Tượng để thành lập liên bang gồm có 5 tiểu bang, đặt thủ đô ngay tại Đà Nẵng nơi trung tâm cách các thủ đô tiểu bang là Hà Nội, Sài Gòn, Nam Vang và Vạn Tượng 600k. Khi VN được chia ra 3 tiểu bang viẹc quản lý các khu vực sẽ được chu đáo hơn bởi các chính quyền tiểu bang và địa phương. Điều này đã được đặc biệt đúng trong quá khứ, khi các trung tâm lớn của chính phủ phải đối mặt với các vấn đề giao tiếp và giao thông vận tải lớn trong quản lý quốc gia. Sự hiện diện của chính phủ các tiểu bang trong khu vực quản lý của địa phương thực hiệndễ dàng hơn nhiều. 
    Một trong những lợi ích của chính phủ liên bang là nó hành xử như là một bổ sung về kiểm tra quyền lực của các chính phủ. Trong trạng thái không phân chia, sức mạnh của chính phủ thường tập trung cao độ trong vòng một đẳng cấp của chính phủ trung ương. Ngược lại, trong tiểu bang của liên bang, quyền lực có thể được phân tán trong nhiều cấp của chính phủ. 

    Chính quyền cấp tiều bang: Mỗi tiểu bang có chính quyền và nghị viện, đứng đầu bởi vị thủ hiến do dân bầu theo lối phổ thông đầu phiếu giống như liên bang, và có các bổ trưởng cấp tiểu bang phụ trách các bộ.

    Về dân số, liên bang Việt Cam Lào có trên 105 triệu dân theo thống kê 2008trên một lãnh thổ 740.000km2, tổng sản lượng liên bang là 100 tỉ mỹ kim là một sức mạnh đáng kể trong vùng.

    Hạm đội Đông Hải của hái quân Vietcamlao tương lai

    Vì vị trí tiếp giáp với biển dài trên 4000km, liên bang Việt Cam Lào sẽ có hạm đội gốm 1 thiết giáp hạm, 1 hàng không mẫu hạm với các chiến đấu cơ, tuần dương hạm , khu trục hạm, tiềm thủy đỉnh và diệt lôi hạm
    Đường hầm xuyên Trường Sơn
    Liên bang sẽ làm một con đường hầm cho xe chạy và một đuờng hầm cho tàu lửa xuyên Trường Sơn đê nối liền Đ nẵng và Vạn tượng


    Trong thời Pháp đô hộ VN cũng đã gia nhập liên bang Đông Dương thành lập từ 7-10-1887 gồm 6 tiểu bang là Bắc Ky, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Cam Bốt, Lào và Quảng Châu Loan(vùng đất thuộc tỉnh Quảng Đông do TQ nhượng cho Pháp. Liên bang Đông Dương giải tán khi Pháp rút về sau hiệp định Genève 1954.


    Cờ liên bang Việt Cam Lào, màu xanh tượng trưng cho biển, màu đỏ cho lòng can đảm và hy sinh để bảo vệ nhân dân tổ quôc, màu xanh lá cây cho rừng núi, đồng bằng, 5 ngôi sao biểu hiệu cho 5 tiểu bang Bắc, Trung, Nam Việt, Cam và Lào



    Bản đồ Liên bang Việt Cam Lào



    Dưởng hầm xe lửa Lao Viet xuyên Trường Sơn



    Hạm đội biển Đông bảo vệ lãnh hải và hải đảo



    Hàng không mẫu hạm của Hài quân liên bang Việt Cam Lào (VCL)


Federal Republic of Vietcamlao
30.03.2009 22:32
The Articles of Confederation
To all to whom these Presents shall come, we the undersigned Delegates of the 5 States affixed to our Names send greeting.
Articles of Confederation and perpetual UNI0N between the states of North VietCentral VietSouth VietLaos and Cambodia
I. The Stile of this Confederacy shall be "Federal Republic of Vietcamlao".
II. Each state retains its sovereignty, freedom, and independence, and every power, jurisdiction, and right, which is not by this Confederation expressly delegated to the Federal Republic of Vietcamlao in Congress assembled.
III. The said States hereby severally enter into a firm league of friendship with each other, for their common defense, the security of their liberties, and their mutual and general welfare, binding themselves to assist each other, against all force offered to, or attacks made upon them, or any of them, o­n account of religion, sovereignty, trade, or any other pretense whatever.
IV. The better to secure and perpetuate mutual friendship and intercourse among the people of the different States in this UNI0N, the free inhabitants of each of these States, paupers, vagabonds, and fugitives from justice excepted, shall be entitled to all privileges and immunities of free citizens in the several States; and the people of each State shall free ingress and regress to and from any other State, and shall enjoy therein all the privileges of trade and commerce, subject to the same duties, impositions, and restrictions as the inhabitants thereof respectively, provided that such restrictions shall not extend so far as to prevent the removal of property imported into any State, to any other State, of which the owner is an inhabitant; provided also that no imposition, duties or restriction shall be laid by any State, o­n the property of the Federal Republic of Vietcamlao, or either of them.
If any person guilty of, or charged with, treason, felony, or other high misdemeanor in any State, shall flee from justice, and be found in any of the Federal Republic of Vietcamlao States, he shall, upon demand of the Governor or executive power of the State from which he fled, be delivered up and removed to the State having jurisdiction of his offense.
Full faith and credit shall be given in each of these States to the records, acts, and judicial proceedings of the courts and magistrates of every other State.
V. For the most convenient management of the general interests of the Federal Republic of Vietcamlao, delegates shall be annually appointed in such manner as the legislatures of each State shall direct, to meet in Congress o­n the first Monday in September, in every year, with a powerreserved to each State to recall its delegates, or any of them, at any time within the year, and to send others in their stead for the remainder of the year.
No State shall be represented in Congress by less than two, nor more than seven members; and no person shall be capable of being a delegate for more than three years in any term of six years; nor shall any person, being a delegate, be capable of holding any office under the Federal Republic of Vietcamlao, for which he, or another for his benefit, receives any salary, fees or emolument of any kind.

Each State shall maintain its own delegates in a meeting of the States, and while they act as members of the committee of the States.

In determining questions in the Federal Republic of Vietcamlao in Congress assembled, each State shall have o­ne vote.

Freedom of speech and debate in Congress shall not be impeached or questioned in any court or place out of Congress, and the members of Congress shall be protected in their persons from arrests or imprisonments, during the time of their going to and from, and attendence o­n Congress, except for treason, felony, or breach of the peace.

VI. No State, without the consent of the Federal Republic of Vietcamlao in Congress assembled, shall send any embassy to, or receive any embassy from, or enter into any conference, agreement, alliance or treaty with any King, Prince or State; nor shall any person holding any office of profit or trust under the Federal Republic of Vietcamlao, or any of them, accept any present, emolument, office or title of any kind whatever from any King, Prince or foreign State; nor shall the Federal Republic of Vietcamlao in Congress assembled, or any of them, grant any title of nobility.

No two or more States shall enter into any treaty, confederation or alliance whatever between them, without the consent of the Federal Republic of Vietcamlao in Congress assembled, specifying accurately the purposes for which the same is to be entered into, and how long it shall continue.

No State shall lay any imposts or duties, which may interfere with any stipulations in treaties, entered into by the Federal Republic of Vietcamlao in Congress assembled, with any King, Prince or State, in pursuance of any treaties already proposed by Congress, to the courts of France and Spain.

No vessel of war shall be kept up in time of peace by any State, except such number o­nly, as shall be deemed necessary by the Federal Republic of Vietcamlao in Congress assembled, for the defense of such State, or its trade; nor shall any body of forces be kept up by any State in time of peace, except such number o­nly, as in the judgement of the Federal Republic of Vietcamlao in Congress assembled, shall be deemed requisite to garrison the forts necessary for the defense of such State; but every State shall always keep up a well-regulated and disciplined militia, sufficiently armed and accoutered, and shall provide and constantly have ready for use, in public stores, a due number of field pieces and tents, and a proper quantity of arms, ammunition and camp equipage.

No State shall engage in any war without the consent of the Federal Republic of Vietcamlao in Congress assembled, unless such State be actually invaded by enemies, or shall have received certain advice of a resolution being formed by some nation of Indians to invade such State, and the danger is so imminent as not to admit of a delay till the Federal Republic of Vietcamlao in Congress assembled can be consulted; nor shall any State grant commissions to any ships or vessels of war, nor letters of marque or reprisal, except it be after a declaration of war by the Federal Republic of Vietcamlao in Congress assembled, and then o­nly against the Kingdom or State and the subjects thereof, against which war has been so declared, and under such regulations as shall be established by the Federal Republic of Vietcamlao in Congress assembled, unless such State be infested by pirates, in which case vessels of war may be fitted out for that occasion, and kept so long as the danger shall continue, or until the Federal Republic of Vietcamlao in Congress assembled shall determine otherwise.
VII. When land forces are raised by any State for the common defense, all officers of or under the rank of colonel, shall be appointed by the legislature of each State respectively, by whom such forces shall be raised, or in such manner as such State shall direct, and all vacancies shall be filled up by the State which first made the appointment.
VIII. All charges of war, and all other expenses that shall be incurred for the common defense or general welfare, and allowed by the Federal Republic of Vietcamlao in Congress assembled, shall be defrayed out of a common treasury, which shall be supplied by the several States in proportion to the value of all land within each State, granted or surveyed for any person, as such land and the buildings and improvements thereon shall be estimated according to such mode as the Federal Republic of Vietcamlao in Congress assembled, shall from time to time direct and appoint.

The taxes for paying that proportion shall be laid and levied by the authority and direction of the legislatures of the several States within the time agreed upon by the Federal Republic of Vietcamlao in Congress assembled.
IX. The Federal Republic of Vietcamlao in Congress assembled, shall have the sole and exclusive right and power of determining o­n peace and war, except in the cases mentioned in the sixth article — of sending and receiving ambassadors — entering into treaties and alliances, provided that no treaty of commerce shall be made whereby the legislative power of the respective States shall be restrained from imposing such imposts and duties o­n foreigners, as their own people are subjected to, or from prohibiting the exportation or importation of any species of goods or commodities whatsoever — of establishing rules for deciding in all cases, what captures o­n land or water shall be legal, and in what manner prizes taken by land or naval forces in the service of the Federal Republic of Vietcamlao shall be divided or appropriated — of granting letters of marque and reprisal in times of peace — appointing courts for the trial of piracies and felonies commited o­n the high seas and establishing courts for receiving and determining finally appeals in all cases of captures, provided that no member of Congress shall be appointed a judge of any of the said courts.
The Federal Republic of Vietcamlao in Congress assembled shall also be the last resort o­n appeal in all disputes and differences now subsisting or that hereafter may arise between two or more States concerning boundary, jurisdiction or any other causes whatever; which authority shall always be exercised in the manner following. Whenever the legislative or executive authority or lawful agent of any State in controversy with another shall present a petition to Congress stating the matter in question and praying for a hearing, notice thereof shall be given by order of Congress to the legislative or executive authority of the other State in controversy, and a day assigned for the appearance of the parties by their lawful agents, who shall then be directed to appoint by joint consent, commissioners or judges to constitute a court for hearing and determining the matter in question: but if they cannot agree, Congress shall name three persons out of each of the Federal Republic of Vietcamlao, and from the list of such persons each party shall alternately strike out o­ne, the petitioners beginning, until the number shall be reduced to thirteen; and from that number not less than seven, nor more than nine names as Congress shall direct, shall in the presence of Congress be drawn out by lot, and the persons whose names shall be so drawn or any five of them, shall be commissioners or judges, to hear and finally determine the controversy, so always as a major part of the judges who shall hear the cause shall agree in the determination: and if either party shall neglect to attend at the day appointed, without showing reasons, which Congress shall judge sufficient, or being present shall refuse to strike, the Congress shall proceed to nominate three persons out of each State, and the secretary of Congress shall strike in behalf of such party absent or refusing; and the judgement and sentence of the court to be appointed, in the manner before prescribed, shall be final and conclusive; and if any of the parties shall refuse to submit to the authority of such court, or to appear or defend their claim or cause, the court shall nevertheless proceed to pronounce sentence, or judgement, which shall in like manner be final and decisive, the judgement or sentence and other proceedings being in either case transmitted to Congress, and lodged among the acts of Congress for the security of the parties concerned: provided that every commissioner, before he sits in judgement, shall take an oath to be administered by o­ne of the judges of the supreme or superior court of the State, where the cause shall be tried, 'well and truly to hear and determine the matter in question, according to the best of his judgement, without favor, affection or hope of reward': provided also, that no State shall be deprived of territory for the benefit of the Federal Republic of Vietcamlao.

All controversies concerning the private right of soil claimed under different grants of two or more States, whose jurisdictions as they may respect such lands, and the States which passed such grants are adjusted, the said grants or either of them being at the same time claimed to have originated antecedent to such settlement of jurisdiction, shall o­n the petition of either party to the Congress of the Federal Republic of Vietcamlao, be finally determined as near as may be in the same manner as is before presecribed for deciding disputes respecting territorial jurisdiction between different States.

The Federal Republic of Vietcamlao in Congress assembled shall also have the sole and exclusive right and power of regulating the alloy and value of coin struck by their own authority, or by that of the respective States — fixing the standards of weights and measures throughout the Federal Republic of Vietcamlao — regulating the trade and managing all affairs with the Indians, not members of any of the States, provided that the legislative right of any State within its own limits be not infringed or violated — establishing or regulating post offices from o­ne State to another, throughout all the Federal Republic of Vietcamlao, and exacting such postage o­n the papers passing through the same as may be requisite to defray the expenses of the said office — appointing all officers of the land forces, in the service of the Federal Republic of Vietcamlao, excepting regimental officers — appointing all the officers of the naval forces, and commissioning all officers whatever in the service of the Federal Republic of Vietcamlao — making rules for the government and regulation of the said land and naval forces, and directing their operations.

The Federal Republic of Vietcamlao in Congress assembled shall have authority to appoint a committee, to sit in the recess of Congress, to be denominated 'A Committee of the States', and to consist of o­ne delegate from each State; and to appoint such other committees and civil officers as may be necessary for managing the general affairs of the Federal Republic of Vietcamlao under their direction — to appoint o­ne of their members to preside, provided that no person be allowed to serve in the office of president more than o­ne year in any term of three years; to ascertain the necessary sums of money to be raised for the service of the Federal Republic of Vietcamlao, and to appropriate and apply the same for defraying the public expenses — to borrow money, or emit bills o­n the credit of the Federal Republic of Vietcamlao, transmitting every half-year to the respective States an account of the sums of money so borrowed or emitted — to build and equip a navy — to agree upon the number of land forces, and to make requisitions from each State for its quota, in proportion to the number of white inhabitants in such State; which requisition shall be binding, and thereupon the legislature of each State shall appoint the regimental officers, raise the men and cloath, arm and equip them in a solid-like manner, at the expense of the Federal Republic of Vietcamlao; and the officers and men so cloathed, armed and equipped shall march to the place appointed, and within the time agreed o­n by the Federal Republic of Vietcamlao in Congress assembled. But if the Federal Republic of Vietcamlao in Congress assembled shall, o­n consideration of circumstances judge proper that any State should not raise men, or should raise a smaller number of men than the quota thereof, such extra number shall be raised, officered, cloathed, armed and equipped in the same manner as the quota of each State, unless the legislature of such State shall judge that such extra number cannot be safely spread out in the same, in which case they shall raise, officer, cloath, arm and equip as many of such extra number as they judeg can be safely spared. And the officers and men so cloathed, armed, and equipped, shall march to the place appointed, and within the time agreed o­n by the Federal Republic of Vietcamlao in Congress assembled.

The Federal Republic of Vietcamlao in Congress assembled shall never engage in a war, nor grant letters of marque or reprisal in time of peace, nor enter into any treaties or alliances, nor coin money, nor regulate the value thereof, nor ascertain the sums and expenses necessary for the defense and welfare of the Federal Republic of Vietcamlao, or any of them, nor emit bills, nor borrow money o­n the credit of the Federal Republic of Vietcamlao, nor appropriate money, nor agree upon the number of vessels of war, to be built or purchased, or the number of land or sea forces to be raised, nor appoint a commander in chief of the army or navy, unless nine States assent to the same: nor shall a question o­n any other point, except for adjourning from day to day be determined, unless by the votes of the majority of the Federal Republic of Vietcamlao in Congress assembled.

The Congress of the Federal Republic of Vietcamlao shall have power to adjourn to any time within the year, and to any place within the Federal Republic of Vietcamlao, so that no period of adjournment be for a longer duration than the space of six months, and shall publish the journal of their proceedings monthly, except such parts thereof relating to treaties, alliances or military operations, as in their judgement require secrecy; and the yeas and nays of the delegates of each State o­n any question shall be entered o­n the journal, when it is desired by any delegates of a State, or any of them, at his or their request shall be furnished with a transcript of the said journal, except such parts as are above excepted, to lay before the legislatures of the several States.
X. The Committee of the States, or any nine of them, shall be authorized to execute, in the recess of Congress, such of the powers of Congress as the Federal Republic of Vietcamlao in Congress assembled, by the consent of the nine States, shall from time to time think expedient to vest them with; provided that no power be delegated to the said Committee, for the exercise of which, by the Articles of Confederation, the voice of nine States in the Congress of the Federal Republic of Vietcamlao assembled be requisite.
XI. Canada acceding to this confederation, and adjoining in the measures of the Federal Republic of Vietcamlao, shall be admitted into, and entitled to all the advantages of this UNI0N; but no other colony shall be admitted into the same, unless such admission be agreed to by nine States.
XII. All bills of credit emitted, monies borrowed, and debts contracted by, or under the authority of Congress, before the assembling of the Federal Republic of Vietcamlao, in pursuance of the present confederation, shall be deemed and considered as a charge against the Federal Republic of Vietcamlao, for payment and satisfaction whereof the said Federal Republic of Vietcamlao, and the public faith are hereby solemnly pleged.
In Witness whereof we have hereunto set our hands in Congress. Done at Da Nang in the State of Central Viet the 1st day of September in the Year of Two Thousand and Ten
Premier of North Viet, Premier of Central Viet, Premier of South Viet, Premier of Cambodia, Premier of Laos.

"Đảng phải giải trình về hội nghị Thành Đô'

Chính quyền Việt Nam phải giải trình cho người dân rõ về những gì mà họ đã ký kết với Trung Quốc tại Hội nghị Thành Đô cách nay hơn 20 năm, một số vị tướng tá về hưu trong quân đội và công an Việt Nam vừa lên tiếng.

Hiện có những đồn đoán về nội dung Hội nghị Thành Đô liên quan tới chủ quyền và được đăng tải trên truyền thông Trung Quốc.

Trao đổi với BBC, Đại tá Bùi Văn Bồng, người từng là cán bộ cao cấp trong báo Quân đội nhân dân, nói rằng chính vì phía Trung Quốc có thông tin như thế nên chính quyền có trách nhiệm phải giải thích với người dân.

“Chủ quyền đất nước là của toàn dân chứ không phải của các nhà lãnh đạo Đảng,” ông nói, “Cho nên với cương vị lãnh đạo Đảng mà quyết định vận mệnh, lãnh thổ quốc gia là sai hoàn toàn.”

Tuy nhiên ông nói ông cần phải có căn cứ rõ ràng mới tin được thông tin do truyền thông Trung Quốc đưa ra là thật hay giả.

“Hội nghị Thành Đô vẫn đang là một tấm màn bí mật,” ông nhận định.

“Từ khi hội nghị Thành Đô xong, hầu như đường lối đổi mới của Đảng xoay chuyển hẳn. Trong 24 năm vai trò của Đảng ngày càng yếu, uy tín kém đi.”

Về kiến nghị xác định rõ ràng bạn thù, ông Bồng nói ông không rõ quân đội Việt Nam hiện nay xác định bạn thù như thế nào nhưng bản thân ông cho rằng ‘Trung Quốc là kẻ thù truyền kiếp của Việt Nam vì họ luôn lăm le xâm lược Việt Nam’.

“Pháp với Mỹ là kẻ thù của thời loạn, của hoàn cảnh thế giới nằm trong kế hoạch của các nước tư bản đế quốc một thời,” ông nói thêm.


'Đèn Cù là tiếng kêu đau' của tôi

Những ngày gần đây, dư luận đang chú ý một cuốn sách, được in tại Mỹ, của tác giả Trần Đĩnh, viết về chính trị nội bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cuốn sách BấmĐèn Cù, được công bố dịp này ở hải ngoại là một 'lời kêu đau' của người viết, theo nhà văn Trần Đĩnh, tác giả cuốn tự truyện vốn đề cập nhiều chi tiết được cho là 'thâm cung bí sử' về Đảng Cộng sản Việt Nam và các 'góc khuất' trong đời tư của cố Chủ tịch Việt Nam, ông Hồ Chí Minh.

Trao đổi với BBC hôm 01/9/2014 từ Việt Nam, ông Trần Đĩnh giải thích lý do và dự định viết và công bố cuốn sách, mà theo ông đã được khởi thảo từ năm 1991 để hưởng ứng lời kêu gọi của cố Tổng Bí thư ông Nguyễn Văn Linh về 'phá tan sự im lặng đáng sợ'.

Tác giả cũng nói ông quyết định hoàn tất cuốn sách để gửi ra hải ngoại công bố, vào thời điểm Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 ở Biển Đông vào đầu tháng 5 năm nay để gửi một thông điệp cho Đảng.

Sự thực

Ông Trần Đĩnh cũng nói do nội dung của cuốn sách có nhiều thông tin được cho là nhạy cảm, mà sách của ông không thể công bố trong nước, và ông buộc phải gửi ra hải ngoại, sau lần chỉnh sửa, bổ sung cuối cùng vào đầu tháng 5/2014.

Ông Trần Đĩnh, sinh năm 1930, ở Hải Hưng, nguyên nhà báo của các cơ quan báo chí của Đảng như Sự Thật, báo Nhân Dân.

Ông là cây bút chuyên được đặt hàng hoặc mời viết tiểu sử, tự truyện, hồi ký cho các nhân vật cao cấp trong Đảng, trong đó có ông Hồ Chí Minh, ông Trường Chinh, cố Tổng bí thư Đảng.

Nói với BBC, ông khẳng định những gì ông viết là sự thật từ chính những gì ông chứng kiến, hoặc được các nhân chứng lịch sử chia sẻ.




 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
Tin tức thế giời mới nhât song ngữ Việt Anh để học sinh ngữ [Đã đọc: 354 lần]
Kiều bào phát triển quê hương [Đã đọc: 350 lần]
Làm Giàu Bằng Đầu Tư Chứng Khoán [Đã đọc: 341 lần]
Siêu đô thị Đà Nẵng mở rộng, siêu đầu tư địa ốc làm giàu [Đã đọc: 338 lần]
Một châu Âu đứng trước ngã ba lịch sử [Đã đọc: 323 lần]
Cách mạng chiếc đòn gánh của phụ nữ VN [Đã đọc: 284 lần]
“NHỮNG NGƯỜI CUỐI CÙNG CÒN GIỮ LẠI CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN”** [Đã đọc: 281 lần]
Nghệ Thuật Làm Giàu Của Người Việt Hải Ngoại - “The Art of Wealth for Overseas Vietnamese”. [Đã đọc: 274 lần]
Làm thế nào đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa từ Trung Cộng [Đã đọc: 273 lần]
Cuba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cuba nghỉ [Đã đọc: 265 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.