Phải nói là hiện nay, tương tự như tại nhiều nước trong khu vực, thậm chí trên thế giới, nhân tố Trung Quốc ngày càng đóng một vai trò đáng kể trong tăng trưởng của ngành du lịch một nước. Vấn đề đặt ra là lợi dụng thế mạnh đó, chính quyền Bắc Kinh đã không ngần ngại sử dụng du lịch thành vũ khí để chèn ép các nước láng giềng có tranh chấp với Trung Quốc. Chính vì thế mà sau sự cố giàn khoan HD-981, đã có một phong trào ủng hộ du lịch nội địa tại Việt Nam như một phương cách để giảm lệ thuộc vào Trung Quốc.
Chính quyền Việt Nam như cũng đã hỗ trợ cho xu hướng này bằng một phong trào được mệnh danh là « Người Việt Nam đi du lịch Việt Nam » để khuyến khích du lịch nội địa. Trên lý thuyết, việc khích lệ du lịch ngay tại Việt Nam là một hướng tốt. Tuy nhiên, theo nhiều nhà quan sát, vấn đề là giới hoạt động du lịch phải có những nỗ lực cải thiện chất lượng cơ sở hạ tầng và dịch vụ. Ngoài ra, bản thân chính quyền Việt Nam phải có một chính sách khuyến khích thích hợp, điều chưa được thể hiện rõ trong đường lối đang áp dụng.
Khách Trung Quốc : 25% khách quốc tế đến Việt Nam
Về tầm mức quan trọng của nhân tố Trung Quốc trong ngành du lịch Việt Nam, hãng tin Pháp AFP ngày 20/07/2014 ghi nhận rằng du khách Trung Quốc đã trở thành khối khách nước ngoài đông đảo nhất đến thăm Việt Nam, với cả triệu người, góp một phần không nhỏ cho doanh thu của ngành du lịch Việt Nam, vốn chiếm gần 6% GDP trong năm 2013.
Nhật báo Mỹ The New York Times trong bài phóng sự ghi ngày 21/07/2014 cũng ghi nhận rằng khách Trung Quốc chiếm khoảng một phần tư trong tổng số gần 4,3 triệu du khách quốc tế đến Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2014. Tuy nhiên, trong tháng Sáu, sau vụ giàn khoan HD-981, số khách Trung Quốc đã giảm hẳn, với tỷ lệ đáng kể là khoảng 30% so với tháng Năm trước đó.
Hãng tin Pháp AFP đã cho số liệu cụ thể hơn về đà sụt giảm của du khách Trung Quốc đến Việt Nam ngay sau sự cố HD-981 vào đầu tháng Năm. Trích dẫn thống kê chính thức, AFP cho biết là từ mức 216.659 người vào tháng Tư, du khách Trung Quốc đến Việt Nam chỉ còn là 194.018 trong tháng Năm, và 136.726 trong tháng Sáu.
Đà giảm này vẫn tiếp diễn trong tháng Bảy. Báo chí trong nước mới đây đã trích dẫn số liệu chính thức, theo đó vào tháng 07/2014, lượng khách Trung Quốc đến Việt Nam tiếp tục giảm 28,8%, đó là chưa kể các thị trường có khách nói tiếng Hoa khác như Hồng Kông, Malaysia, Indonesia…
Bắc Kinh chuyên dùng du khách làm vũ khí thúc ép đối phương
Đối với hãng tin Pháp AFP, sự sụt giảm của lượng khách Trung Quốc đến Việt Nam sau khi Hà Nội kiên quyết chống lại vụ Bắc Kinh ngang nhiên đưa giàn khoan HD-981 vào cắm trong thềm lục địa của Việt Nam là điều dễ hiểu vì Trung Quốc có truyền thống sử dụng du lịch quốc tế như là một biện pháp « trừng phạt » nhằm gây sức ép.
Hãng tin Pháp đã trích dẫn một bài nghiên cứu vào năm 2013 của giáo sư Tony Tse tại trường Quản lý Du lịch và Khách sạn ở Đại học Bách khoa Hồng Kông, theo đó « Du lịch hướng ngoại có thể được chính phủ Trung Quốc sử dụng như một hình thức tấn công ». Vị giáo sư này đã nêu bật ví dụ của Philippines và Nhật Bản – hai nước đã bị Trung Quốc tấn công bằng ngón đòn du lịch.
Đối với Việt Nam, bài báo của AFP nhắc lại việc Trung Quốc đã tung mức cảnh báo « vàng » đối với du lịch qua Việt Nam, khuyến cáo người dân không nên ghé Việt Nam sau những vụ bạo động bài Trung Quốc hồi tháng Năm.
Phóng sự của báo Mỹ New York Times cũng trích dẫn các chuyên gia trong ngành du lịch cho biết là khuyến cáo của chính quyền Bắc Kinh đã thúc đẩy hàng nghìn người Trung Quốc hủy bỏ các chuyến du lịch qua Việt Nam.
Khách Trung Quốc chi 300-700 đô la, khách Âu Mỹ chi 3000 đô la
Dĩ nhiên, số lượng du khách Trung Quốc sụt giảm đã gây thiệt hại cho doanh thu của ngành du lịch Việt Nam. Tuy nhiên, theo một số nhà quan sát, không nên nghiêm trọng hóa điều này vì ngành du lịch Việt Nam có rất nhiều tiềm năng, nếu khai thác tốt sẽ giúp Việt Nam thoát khỏi sự lệ thuộc Trung Quốc trong lãnh vực du lịch, qua đó hóa giải được vũ khí du lịch mà Bắc Kinh quen sử dụng để bắt nạt nước khác.
Một trong những hướng là phát huy sức hút của Việt Nam nhắm vào các thị trường Âu Mỹ, thay vì chạy theo thị trường Trung Quốc. Hãng tin Pháp AFP từng đưa ra một so sánh rất thú vị : Nếu du khách Trung Quốc bình quân chỉ ở Việt Nam 5 ngày, và chi tiêu khoảng 300 đô la khi đến bằng đường bộ, và 700 đô la khi dùng máy bay, thì một du khách châu Âu hay là Mỹ ở lại Việt Nam trung bình là 10 ngày, và chi đến 3000 đô la.
Một hướng khác đang được thúc đẩy để bù đắp vào lỗ hổng do du lịch Trung Quốc gây nên là phát huy du lịch nội địa đối với chính người Việt Nam. Số liệu chính thức của Việt Nam vào hạ tuần tháng Tám này xác nhận rằng du lịch nội địa tăng đều trong thời gian qua đã bù đắp cho đà sụt giảm của thị trường khách quốc tế (chủ yếu là khách nói tiếng Hoa). Doanh thu du lịch trong 7 tháng đầu năm 2014 do vậy đã tăng 21,2% so với cùng kỳ năm 2013.
Để hiểu rõ thêm về những gì mà du lịch Việt Nam cần làm để khỏi bị Trung Quốc khống chế trong lãnh vực này, RFI đã có cuộc trao đổi ý kiến với ông Nguyễn Văn Mỹ, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Dã ngoại Lửa Việt tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Trả lời câu hỏi của Thụy My, ông Nguyễn Văn Mỹ trước hết xác định xu hướng hiện nay liên quan đến nhân tố Trung Quốc trong ngành du lịch Việt Nam : Khách Trung Quốc đến Việt Nam giảm trong lúc người Việt Nam cũng tẩy chay, bớt đi du lịch Trung Quốc
Về chủ trương của Trung Quốc đã bị vạch trần là dùng du lịch hướng ngoại (outbound) làm vũ khí thúc ép các nước khác, ông Nguyễn Văn Mỹ nêu bật một ví dụ về mưu toan của giới chức du lịch Trung Quốc, mượn du lịch để quảng bá đường lưỡi bò ngay trên lãnh thổ Việt Nam.
« Nhờ giàn khoan HD-981, du lịch nội địa Việt Nam phát triển »
Nhìn chung, việc người Việt Nam tẩy chay du lịch Trung Quốc, và nhất là việc Trung Quốc dùng du lịch thúc ép Việt Nam đã không khiến cho ngành du lịch Việt Nam bị khó khăn nhiều, và như các nhà quan sát khác, ông Nguyễn Văn Mỹ cũng ghi nhận tình hình du lịch nội địa tăng mạnh, giúp du lịch Việt Nam vượt khó. Ông nhận xét dí dỏm là nhờ giàn khoan HD-981 của Trung Quốc, du lịch nội địa Việt Nam bắt đầu khởi sắc.
Vấn đề đối với ông Nguyễn Văn Mỹ, du lịch Việt Nam hiện lại đang đi ngược dòng, thay vì khuyến khích cái gọi là du lịch hướng nội – thuật ngữ chuyên môn tiếng Anh gọi là inbound, thì chính sách hiện hành của Việt Nam lại mặc nhiên ưu tiên cho du lịch hướng ngoại (outbound). Điều này thể hiện qua một loại thuế suất 10 % đánh vào lĩnh vực inbound.
Theo ông Nguyễn Văn Mỹ, kế sách lâu dài để phát triển du lịch Việt Nam là phải phát huy du lịch nội địa, và muốn khuyến khích lãnh vực này thì phải hạ mức thuế đánh vào du khách trong nước xuống còn 5% chẳng hạn.
Vì sao Mỹ bật đèn xanh cho Nhật xuất khẩu vũ khí?
By on July 25, 2014
Nhật Bản tham gia thị trường vũ khí được cho là một đối thủ tiềm tàng với ngành công nghiệp quốc phòng của Mỹ, nhưng vì sao Mỹ vẫn gật đầu?

Một văn phòng của tập đoàn Lockheed Martin
Tài phiệt Mỹ nói gì?
Trước khi Nhật Bản thông qua việc cho phép xuất khẩu vũ khí vào tháng 4/2014, một số quốc gia trên thế giới đã có những sự lên tiếng gay gắt dù mới chỉ là nghe phong thanh.
Trung Quốc cho rằng Nhật đang tìm kiếm một sự trỗi dậy. Nga chuẩn bị chiến lược cạnh tranh với các nhà xuất khẩu từ Nhật Bản. Còn Mỹ, bản thân trong nội bộ của họ cũng có những ý kiến không tán đồng.
Trong cuộc gặp gỡ của các lãnh đạo các tập đoàn vũ khí Mỹ, trong đó có cả Lockheed Martin, Textron, Raytheon… với Tổng thống Obama hồi tháng 1/2014, ngay sau khi kết thúc kỳ nghỉ lễ tại Nhà Trắng, các nhà tài phiệt này đã bày tỏ sự lo ngại.
Họ đã cảnh báo Tổng thống về việc Mỹ sẽ mất thị phần khi Nhật Bản là một quốc gia công nghệ cao và sản phẩm của họ làm ra sẽ có những thứ không thua kém gì sản phẩm của Mỹ.
Các nhà tài phiệt này đã thực sự lo lắng khi túi tiền của họ bị chính người đồng minh châu Á, vốn có quan hệ hợp tác công nghệ quốc phòng nhiều thập kỷ qua cạnh tranh trực tiếp.
Tuy nhiên, kết quả cuối cùng thì ai cũng biết, sau khi Nhật Bản thông qua chính sách xuất khẩu vũ khí và tháng 6 vừa qua là quyền phòng vệ tập thể, cũng như diễn giải lại Hiến pháp của quốc gia này cho phép Nhật Bản được sử dụng sức mạnh quân sự và nâng cao sức mạnh này, Mỹ tỏ ra hoan nghênh nhiệt liệt.
Qua kênh ngoại giao, Washington còn bày tỏ đây là một bước đi thông minh và cần thiết của chính quyền Shinzo Abe nhằm bảo vệ an ninh Nhật Bản cũng như góp phần bảo vệ an ninh chung khu vực. Vậy vì đâu Mỹ có thể gạt bỏ những lợi ích kinh tế của mình và bật đèn xanh cho Nhật Bản tham gia vào thị trường màu mỡ này?
Bài toán lợi ích của người Mỹ
Thực tế, Nhật tham gia thị trường vũ khí và tìm lại sự chủ động của quân đội không phải là điều mới được nhắc đến dưới thời kỳ của ông Shinzo Abe, những Thủ tướng tiền nhiệm đã nhiều lần ấp ủ mục tiêu này. Nhưng chỉ đến khi Shinzo Abe nắm quyền nó mới được thông qua, bởi đảm bảo được hai yếu tố.
Trước hết, về nội bộ, chính quyền của ông Shinzo Abe nắm giữ đa số ghế trong Quốc hội lưỡng viện, và không khó để những đề nghị của ông này được chấp thuận. Phải nói rằng, đến khi Thủ tướng Abe nắm quyền, Nhật Bản mới thoát được sự đấu đá chính trị kéo dài nhiều thập kỷ của các đảng phái.
Nguyên nhân còn lại, về khách quan, Nhật Bản cảm thấy bị Trung Quốc đe dọa an ninh quốc gia nghiêm trọng và họ cần chủ động trước điều này. Và trên hết, họ được người Mỹ, đồng minh thân cận, cũng là kẻ chiến thắng và áp đặt Hiến pháp cho họ từ năm 1945 đến nay đã tặng cho họ một cái gật đầu.
 |
| Thủ tướng Shinzo Abe trong khoang lái của chiếc tiêm kích huấn luyện T-4 |
Vì sao Mỹ chấp thuận cho Nhật Bản thay đổi diện mạo quân sự? Để có được cái gật đầu ấy, có lẽ Washington đã phải cân đong đo đếm thiệt hơn rất nhiều và quyền lợi của Mỹ có được từ việc này có lẽ đã giúp họ hạ quyết tâm.
Trong việc này, Mỹ có được một vài món lợi như sau. Thứ nhất, Mỹ cần phải giữ chân đồng minh. Cần phải hiểu rằng tìm lại sự chủ động của quân sự, cũng như tìm đến việc xuất khẩu vũ khí để kiếm lời là điều mà những cái đầu tư bản của Nhật luôn khao khát. Và họ sẽ thực hiện nó không bằng cách này thì cách khác, ví như trường hợp bán tàu tuần tra chiến đấu cho Philippines thông qua hình thức vốn vay ODA. Chấp thuận khát vọng này của Nhật cũng là một điều khiến đẹp lòng đồng minh mà Mỹ buộc phải làm.
Ngoài ra, Mỹ cần Nhật Bản như một tướng tiên phong trong “cuộc chiến” với Trung Quốc. Tiếp đến, Mỹ cần Nhật như một mắt xích để triển khai lá chắn phòng thủ tên lửa từ xa, nhắm vào Trung Quốc và Nga. Việc Nhật hiện đại hóa quân sự và dùng xuất khẩu vũ khí để mang lại ngân sách cho kinh phí quốc phòng là việc buộc phải làm.
Thứ hai, trong chiến lược chuyển trục mà Tổng thống Obama đề ra nhằm kìm chế Trung Quốc, Washington đang vấp phải hai mâu thuẫn. Họ muốn cô lập, khắc chế người khổng lồ này, nhưng hai nền kinh tế này lại có những mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau. Để đảm bảo chuyển trục mà không mất quyền lợi, Mỹ cần có Nhật Bản san sẻ gánh nặng.
 |
| Cuộc tập trận chung giữa quân đội Mỹ và quân đội Nhật Bản |
Nhật sẽ thay Mỹ làm nhiệm vụ của một người chủ trò trong khu vực, không chỉ Hoa Đông mà cả Biển Đông. Quốc gia này sẽ là cầu nối để liên kết các quốc gia khác ở Đông Nam Á. Đồng Yên Nhật sẽ thay Đô-la Mỹ trong việc lôi kéo sự ủng hộ.
Trong bối cảnh Mỹ đang thắt chặt chi tiêu, Nhật Bản sẽ giúp họ có thể san sẻ gánh nặng. Và một khi muốn đồng minh chung lưng với mình, Mỹ cần phải tạo cơ hội cho họ có quyền lợi. Sự bình đẳng, đôi bên cùng có lợi là cách mà các quốc gia tư bản duy trì tình bạn.
Thứ ba, khi Nhật xuất khẩu vũ khí, Mỹ không phải không có quyền lợi ở đó. Hợp đồng giữa tập đoàn công nghiệp nặng Mitsubishi với tập đoàn Raytheon là minh chứng cho quyền lợi này. Nhật sẽ được phép cung cấp thiết bị cảm ứng cho hãng Raytheon để sử dụng cho tên lửa Patriot Advanced Capability-2 (PAC-2) để xuất sang Qatar. Trong khi Raytheon tập trung nguồn lực để sản xuất PAC-3, một phiên bản hiện đại hơn.
Với những quyền lợi sát sườn như thế, Mỹ phải nói rằng rất hân hoan bật đèn xanh cho Nhật Bản trong việc tham gia thị trường xuất khẩu vũ khí.
Con át chủ bài của Mỹ với Nhật Bản
Dù cho Nhật Bản có tham gia thị trường xuất khẩu vũ khí đi nữa, nhưng để trở thành một thế lực có thể cạnh tranh trực tiếp với quyền lợi của Mỹ vẫn còn là một chặng đường rất dài.
Theo dự báo của một số chuyên gia, xuất khẩu quốc phòng của Nhật sẽ ở dưới mức 1 tỷ USD/năm trong nhiều năm nữa. Một con số quá khiêm nhường với khả năng xuất khẩu và chi tiêu quốc phòng của Mỹ.
Đây là câu chuyện tương tự như việc dù Trung Quốc có đánh cắp công nghệ của Nga nhưng vẫn không thể cạnh tranh với Nga trong lĩnh vực xuất khẩu vũ khí.
 |
| Biếm họa về mối quan hệ giữa ba nước Nhật Bản, Mỹ, Trung Quốc trong khu vực biển Hoa Đông |
Tuy nhiên, sự thực dụng nổi tiếng của người Mỹ sẽ là hư danh nếu như họ không nắm đằng chuôi trong vấn đề Nhật Bản. Tương tự như Mỹ cần Nhật Bản để khắc chế Trung Quốc, ngược lại, Nhật vẫn cần Mỹ như một đồng minh chiến lược trong cuộc đối đầu ấy.
Điều này được thể hiện trong “Các phương hướng cơ bản mới trong chính sách quốc phòng” được Nhật Bản thông qua hồi tháng 12/2013. Đây có thể coi là học thuyết quân sự mới của Nhật, trong đó nêu rõ Mỹ vẫn là nhân tố không thể thiếu trong đường lối quân sự, chính trị, ngoại giao của quốc gia này.
Với Nhật Bản, người Mỹ vẫn còn duy trì ở đó một cái ô hạt nhân mà Tokyo dù có muốn cũng không thể bỏ đi được. Bởi Nhật Bản có thể vươn lên vị trí cường quốc quân sự, nhưng để đứng vào hàng ngũ cường quốc hạt nhân sẽ là điều mà không bao giờ Liên Hợp Quốc chấp thuận.
Ô hạt nhân, tương trợ quân sự, và gần nhất là sự ủng hộ của Mỹ trên trường quốc tế là điều mà Nhật Bản không thể khước từ. Khi nào Nhật còn duy trì những sự lệ thuộc này, Mỹ vẫn còn nắm đằng chuôi trong việc kiểm soát sự trỗi dậy của Nhật Bản.
Ôi James Foley có một tâm hổn dễ thương quá !
08:30 No comments
Trong bức thư James Foley viết cho gia đình mình, nhà báo kể lại cuộc sống trong tù và cho biết những kỷ niệm bên người thân đã tiếp thêm sức mạnh và hy vọng cho anh khi bị giam cầm.

|
James Foley (trái) bên ba người em trai. Ảnh: Huffingtonpost |
Theo ABC News, gia đình của nhà báo bị hành quyết hôm nay đăng tải lên mạng xã hội Facebook nội dung bức thư Foley muốn gửi về trong quãng thời gian bị giam cầm.
Theo gia đình, cai ngục đã tịch thu tất cả lá thư Foley viết. Vì vậy, Foley hồi tháng 6 nghĩ ra một cách qua mặt những kẻ bắt cóc. Anh nhờ một con tin sắp được thả tên là Daniel Rye Ottosen học thuộc lòng bức thư của mình. Ottosen đã gọi điện cho mẹ Foley và đọc cho bà nghe lá thư ngay sau khi được trả tự do. Nội dung của bức thư như sau:
Gửi gia đình và bạn bè,
Tôi vẫn nhớ những lần đến trung tâm mua sắm với bố, những chặng đường đạp xe rất dài với mẹ. Những kỷ niệm hạnh phúc bên gia đình giúp tôi giải thoát tâm trí khỏi nhà tù này. Những giấc mơ về gia đình và bạn bè giúp tôi cảm thấy tự do và hạnh phúc tràn đầy trái tim tôi.
Tôi biết mọi người đang nhớ đến và cầu nguyện cho tôi, tôi rất biết ơn vì điều đó. Tôi có thể cảm nhận tình cảm của mọi người, đặc biệt là khi cầu nguyện. Tôi mong gia đình luôn giữ vững niềm tin và tinh thần mạnh mẽ. Tôi thực sự cảm thấy tôi có thể chạm đến mọi người khi cầu nguyện, ngay cả trong bóng tối.
Mười tám người chúng tôi bị giam giữ trong một nhà giam, những người bạn tù đã giúp đỡ tôi rất nhiều. Các con tin cùng nhau chia sẻ những câu chuyện dài bất tận về các bộ phim, câu đố, thể thao. Chúng tôi tự tạo ra trò chơi bằng những mảnh phế liệu trong nhà tù, ứng biến vật dụng ở đây để chơi cờ. Chúng tôi tự lập giải đấu, và còn dành vài ngày để tính toán chiến lược cho trò chơi tiếp theo hoặc chuẩn bị câu chuyện sẽ kể. Các trò chơi và câu chuyện là sự hỗ trợ tinh thần lớn, giúp các tù nhân quên đi khái niệm thời gian. Chúng tôi kể đi kể lại những câu chuyện và cùng cười to để phá vỡ sự căng thẳng.
Tôi đã có những ngày yếu ớt và những ngày mạnh mẽ. Chúng tôi rất vui khi bất kỳ ai trong nhóm được thả, nhưng tất nhiên, ai cũng khao khát có được tự do. Các tù nhân cố gắng động viên nhau và cùng nhau sẻ chia sức mạnh. Đồ ăn được mang đến hàng ngày và giờ chất lượng đã tốt hơn, có trà và thi thoảng có cà phê. Tôi đã tăng cân, bù lại số cân bị giảm trong năm ngoái.
Tôi đã nghĩ đến các em trai và em gái rất nhiều. Tôi nhớ lại những lần chơi trò Người sói trong bóng tối với Michael và rất nhiều cuộc phiêu lưu khác. Tôi nhớ lại những phút giây trêu đùa, đuổi Mattie và T quanh quầy bếp. Những kỷ niệm mang đến niềm vui cho tôi. Nếu tài khoản ngân hàng của tôi còn tiền, tôi muốn để lại cho Michael và Matthew. Anh rất tự hào về em, Michael, cảm ơn em về những kỷ niệm đẹp thời thơ ấu, và một lần nữa cảm ơn em và Kristie về quãng thời gian hạnh phúc khi chúng ta trưởng thành.
Và John "lớn", anh rất thích lần đến thăm em và Cress ở Đức. Cảm ơn em vì đã chào đón anh. Anh rất nhớ RoRo và luôn cố gắng tưởng tượng Jack sẽ là một cậu bé như thế nào. Anh hy vọng cậu bé sẽ có tính nết giống RoRo.
Và Mark, anh rất tự hào về em. Anh tưởng tượng giờ em đang ở bờ biển phía Tây, chắc là đang trượt tuyết và cắm trại. Anh rất nhớ lần chúng ta cùng nhau đến Comedy Club ở Boston và cái ôm thân thiết sau đó. Những khoảnh khắc đặc biệt này giúp anh giữ vững niềm hi vọng.
Katie, anh cũng rất tự hào về em. Em là người mạnh mẽ và giỏi giang nhất trong mấy anh em chúng ta. Khi nghĩ đến em, anh nghĩ đến một người y tá đang làm việc chăm chỉ để giúp đỡ mọi người. Anh rất vui vì đã nhắn tin được cho em ngay trước khi bị bắt. Anh mong rằng anh có thể đến dự đám cưới của em. Anh nói nghe giống bà quá!
Bà ơi, bà nhớ uống thuốc, đi dạo và tiếp tục khiêu vũ. Cháu sẽ đưa bà đến nhà hàng Margarita’s khi cháu về nhà. Bà nhớ giữ gìn sức khỏe bởi vì cháu sẽ cần sự giúp đỡ của bà để trở lại cuộc sống bình thường.

James Foley khi tác nghiệp ở Syria. Ảnh: Mirror
Vũ Thảo
Nguồn: Vnexpress.net