 |
 |
Các chuyên mục |
|
Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm
Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal
Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat
Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục
Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói
Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí
Web links
Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo
Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng
Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP
|
|
|
|
Xem bài theo ngày |
|
| Tháng Sáu 2026 | | T2 | T3 | T4 | T5 | T6 | T7 | CN |
| 1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
| 8 |
9 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
| 15 |
16 |
17 |
18 |
19 |
20 |
21 |
| 22 |
23 |
24 |
25 |
26 |
27 |
28 |
| 29 |
30 |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Thống kê website |
|
 |
Trực tuyến: |
3 |
 |
Lượt truy cập: |
29338095 |
|
|
|
|
| |
|
 |
 |
|
|
|
Giặc đã ùa vào nhà Việt Nam
05.08.2014 02:28
“…toàn dân Việt Nam không hề biết đến cuộc chiến bỉ ổi này, một cuộc chiến khốc liệt nhất trong lịch sử Việt Nam, đến đỗi núi xương trắng của tuổi xanh phơi cao ngất trời, sông suối máu đỏ chảy xiết hơn mùa nước lũ, thấu sương mù, khí lạnh cả bầu trời cao nguyên Lão Sơn…”

Xương trắng phơi cao ngất trời Chiều ngày 21/9/1987, quân báo Trung Cộng đưa tin chiến thuật giao quân tại núi 255, khởi hành vào lúc 17 giờ chiều nay, đến 4 giờ sáng hôm sau vào địa chỉ cao điểm 1509. Đoàn quân phải băng qua nhiều đồi rừng núi, đôi khi gặp chướng ngại vật như bãi mìn hay phục kích của bộ đội Việt Nam, thời gian lộ trình 10 giờ, và dài hơn 30 km. Tôi vui mừng được Hải Âu (海鸥DF-1, Lữ đoàn 38, trinh sát biệt lập) giới thiệu tháp tùng, cùng đi trong đoàn giao quân này. Tại điểm tập trung, những người lính Trung Cộng không có cử chỉ oai hùng mang khí thế quân nhân, trên mặt của họ lộ rõ sự sợ hải. Họ than phiền rằng: ‒ Hôm nay có đến 1509, ngày mai không về. Trái lại, tôi cầu mong được đến nơi nguy hiểm nhất để tìm hiểu diễn biến chiến tranh. Tuy nhiên, tôi có đôi điều suy nghĩ cảnh giác: ‒ Hy vọng họ không phát hiện thân phận, hay vì một nguyên nhân nào đó, cố ý đưa tôi vào chỗ chết không tên tuổi (mồ tập thể của binh sĩ tử vong). Nhưng rồi tôi lại tự nhũ: ‒ Thây kệ, sống chết phú cho tự nhiên, cứ đi rồi hãy biết mọi sự kiện của chiến tranh, có thế cuộc đời mới thâm trầm. Trong lúc tâm sự với vài quân nhân và sĩ quan, họ cho biết: ‒ Chiến trường cao điểm 1509 Lão Sơn quá khốc liệt, bất cứ người lính nào đã đến đó đều chuẩn bị "rửa chân lên bàn thờ". Ngày đêm tiếng súng, bom đạn kêu gọi tên từng người, trong đầu lúc nào cũng mênh mang tuyệt vọng, xem mạng sống đang đứng trước "mành treo trước gió". Tâm lý binh sĩ không còn sức chiến đấu, quân Trung Quốc vì sợ chết cho nên đào ngũ cả Trung đoàn trước khi "cối xay thịt người" hoạt động. Quân Việt Nam cũng không kém. Sự kiện này cho thấy cả hai quân đội Việt Nam-Trung Quốc chiến đấu không vì lý tưởng cao cả nào hết! Tôi không ngại ngùng đối với chiến trường cao điểm 1509 Lão Sơn, dù trước đó đã có chuẩn bị tinh thần chấp nhận sống chết không hẹn ngày mai. Một điều khác mà tôi tâm niệm hệ trọng hơn là dân Việt cần phải giáp mặt miền đất linh thiên của Tổ quốc để nhận diện Trung Cộng khát máu xâm lăng đất Việt. Đảng CSVN đã rước voi về "giày xéo quê hương mả Tổ".
Trên đường giao quân, trong đêm tối tăm, chân bước xào xạc lá rừng, không ngừng theo dòng người phía trước. Từ xa vọng lại tiếng súng lúc dồn dập lúc ngắt khoãng. Nếu không may gặp phục kích trên đường di chuyển thì ít nhất cũng được làm thây ma chứng kiến cuộc giao tranh của binh sĩ Việt Nam vì tổ quốc của họ. Trên đường đi có nỗi sợ hãi, rồi cũng mất biến để lấy lại bình tỉnh, từ đó ý tưởng nguy hiểm thoáng qua bộ nhớ, tự lòng lấy quyết định niềm tin vẫn sống mãnh liệt hơn, dù gian nan, trong chuyến đi này do chính mình tự nguyện.
Đoàn giao quân di chuyển trong đêm, khí hậu lạnh, sương khuya xuống ướt đầm cả áo mưa nilông, những bước chân âm thầm, cứ thế theo mệnh lệnh đi tới, đôi lúc di chuyển dồn dập, trèo đồi, lội suối. Tôi đi trong đêm không quen nên bị vấp té mấy lần, trầy đầu gối và tay, cũng may có Hải Âu (海鸥 DF-1. Lữ đoàn 38, trinh sát) mang hộ cái ba-lô máy ảnh. Đến 2 giờ đêm mới biết, đoàn quân di chuyển vào biên giới Vân Nam, sau đó chuyển xuống hướng Tây Nam vào lại Hà Giang, còn 4 giờ nữa đến cao điểm 1509, thảo này lộ trình dài dằng dặc 39 km.
Chiến tranh Việt-Trung ngày 2/4/1984, tại biên giới Thanh Thủy-Vị Xuyên-Hà Giang, Việt Nam bị mất những cao điểm chiến lược quan trọng nhất: 1509, 772, 226, 468, 685, 233, 1200. Chiến trường Lão Sơn đẫm máu, đốt cháy biết bao tuổi thanh xuân, nhưng không giữ được phần đất của Tổ quốc Việt Nam. Nguồn: THX.
Tôi hỏi Hải Âu (海鸥 DF-1, Lữ đoàn 38, trinh sát): – Có phải muốn an toàn cho đoàn quân nên đánh một vòng xa, hay sợ quân đội Việt Nam phục kích chứ gì ? – Câu hỏi của anh chính đáng, xem ra đã trả lời được một nửa, phần còn lại của vấn đề kỹ thuật. Khi giao quân cần phải đủ quân số, chiến thuật giao quân theo phong cách bí mật của nó, trong đêm anh không thấy và không biết. Chiều hôm qua đoàn quân chỉ có 2 Trung đoàn, hiện giờ quân số 6 trung đoàn (Sư đoàn), binh sĩ di chuyển chậm chạp, lý do chờ cánh quân đến từ Côn Minh (昆明), cũng để dưỡng quân khi lâm trận còn sức chiến đấu.
Sáu Trung đoàn quân Trung Cộng đã đến địa danh biên giới Lão Sơn, Thanh Thủy, Vị Xuyên, Hà Giang thuộc lãnh thổ Việt Nam. Trung Quốc gọi chiến trường này là phản công Laoshan. Cuộc giao quân an toàn, ém quân vào chiến lũy dưới lưng núi 1509, chờ sĩ quan quân báo và trinh sát các trạm chốt phiá hướng Tây Bắc và Nam, mở ba cửa bằng mìn Claymore, rồi mới di chuyển quân lên cao điểm 1509. Không ngờ, buổi trưa ngày 22/9/1987, tại cao điểm 772. Bộ đội Việt Nam mở cuộc giao tranh trước. Lúc đầu ai cũng tưởng rằng kẹo đồng nhỏ lai rai cho vui, một lúc sau đạn pháo trút xuống tới tấp, chiến sự trở nên khốc liệt. Giao quân chưa nhập căn cứ 1509 đã bị quân Việt Nam chận trước yết hầu đánh tan tác 6 Trung đoàn của quân Trung Quốc. TướngThích Kiến Quốc (戚建国)nhận được lệnh gom quân, đánh vào dãy đồi thuộc huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang, gần cột mốc biên giới số 13, và phản công đánh lên ngọi núi bình độ 1200.
Thiếu tướngThích Kiến Quốc (戚建国) chỉ huy đánh trận cao điển 1200 Đông sông Lô. Nguồn: Quân Ủy trung ương đảng CS Trung Quốc (CPC).
Địa hình cao nguyên Lão Sơn, thiên nhiên cấu trúc hiểm trở, kết nối 72 ngọn núi, chạy từ Tây sang Đông, ngọn núi cao có bình độ 1800 mét tọa lạc hướng Tây, giáp ranh với núi bình độ 1200 mét về hướng Đông. Ngọn núi ác liệt 1200 phía Đông sông Lô, quân Trung Quốc gọi tên Giả Âm Sơn (Zheyin Shan - 者阴山). Tất cả các cuộc giao tranh khác tại Vị Xuyên đều diễn ra ở phía Tây sông Lô lãnh thổ Việt Nam. Sau đợt pháo kích ác liệt, Thiếu tướngThích Kiến Quốc (戚建国) đưaquân vượt sông Lô, giao quân trên chiến trường cho quân đoàn 16 thuộc Quân khu Nam Kinh, phản công đánh chiếm lại núi 1200.
Lực lượng phòng ngự của Việt Nam bao gồm bộ binh của Sư đoàn 313, và pháo binh Lữ đoàn 168 trấn thủ yếu ớt, một lần nữa chấp nhận bại trận, rút lui khỏi ngọn núi 1200, và các đồi núi lân cận, như đồi 233, 685, 468. Ngoài ra quân Trung Quốc còn được tiếp binh tại ấp "Na La", tại gần đồi 468 hướng về phía Việt Nam. Nguồi suối Thanh Thủy ở phía Nam rất quan trọng cho phép sự thành bại trên chiến trường, cửa ngõ của cao điểm 1509, bao quanh bởi rừng núi vách đá dựng đứng hiểm trở, muốn chiếm những vị trí chiến lược trên phải làm chủ ấp "Na La".
Trong cuộc chiến Lão Sơn, có những lúc tưởng chừng phòng thủ kiên cố, súng bắn không tới, có thể chiến thắng nhờ sức mạnh vũ khí và chiến thuật biển người. Nhưng chiến trường Lão Sơn thường biến động bất ngờ làm đảo lộn mọi chiến thuật bởi "cỗ máy xay thịt người" mỗi ngày ăn trên 42 binh sĩ của hai bên, đạn bom không kể. Những cao điểm liên tục đổi chủ, Việt Nam-Trung Quốc không bên nào cầm chắc chiến thắng thuộc về mình, ví dụ những cao điểm 1509, 772, 233, 1200 (Zheyin Shan), 1030 (Đông Sơn) C211 v.v... Buổi sáng chiến thắng, buổi trưa chiến bại. Hôm nay đình chiến, ngày mai khởi chiến, từng giờ phòng thủ, từng phút thất thủ, cả hai đọ pháo triền miên đã 3 năm (1984-1987). Vẫn chưa ai tự hào chiến thắng Lão Sớn.
Tạm thời Trung Quốc chiếm được 72 ngọn núi trong lãnh thổ của Việt Nam, người ta thường biết đến nhiều nhất những ngọn núi đã từng hao binh, tổn tướng, gồm núi Si Cà Lá hay Núi Bạc (Giả Âm Sơn-Zheyin Shan) thuộc hướng phía Đông sông Lô, núi 772 ở phía Tây sông Lô, cao điểm 1509, 1250, 1030, 1200, C211,267, 277, 255, 251, 505,chạy dọc tuyến biên giới Việt Nam-Trung Quốc dài khoảng 11km. Ngoài ra còn có hai (2) ngọn núi 685 và 468, nằm sâu trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 2km, bị quân Trung Quốc chiếm cứ. [1]
Có đi đến đây, mới biết một số bí mật về danh tánh tướng lãnh của Trung Quốc chưa hề được tiết lộ trong chiến tranh biên giới Việt Nam-Trung Quốc. Trên cơ sở chiến trường Lão Sơn quân đội Trung Quốc phối trí Tổng tư lệnh chỉ huy chiến trường bởi Đại tướng Dương Đắc Chí (杨得志- Yang Dezhi). Bỗng nhiên vào ngày 12/5/1948, Dương Đắc Chí bị bệnh trầm kha, Bộ quốc phòng Trung Quốc (PLO) ủy nhiệm quyền Tư lệnh cho Thượng Tướng Trương Chí Tú (張銍秀) [2] tiếp tục kế hoạch xăm lăng biên giới Lão Sơn. Đến nay đảng CSVN vẫn chưa biết gì nhiều về Trương Chí Tú. Đương sự mới chính thủ phạm thay mặt đảng CS Trung Quốc xâm lược Việt Nam.
Thượng Tướng Trương Chí Tú (張銍秀-Zhang Zhi Xiu)- Tư lệnh chiến trường Lão Sơn. Nguồn:Tân Hoa Xã phóng viên Lưu Vệ Binh新华社记者刘卫兵
Vài suy nghĩ những cuộc chiến Trong cuộc chiến tại biên giới Việt Nam năm 1979, Trung Quốc đánh giá sai sức mạnh và quyết tâm của lực lượng dân quân vũ trang của Việt Nam. Trong cuốc chiến quần đảo Falkland, Argentina đánh giá sai sức mạnh và quyết tâm của Vương quốc Anh. Trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh, Saddam đánh giá sai sức mạnh và quyết tâm của Hoa Kỳ. Trong cuộc chiến Lão Sơn, đảng CSVN bí mật thu hồi vũ khí của lực lượng dân quân vũ trang tỉnh Lào Cai và Hà Giang. Đại tướng Văn Tiến Dũng bí mật nối tay cho tên giặc Thượng Tướng Trương Chí Tú (張銍秀), Trung Quốc đánh giá sai binh sĩ Việt Nam, cuộc chiến kéo co 16 năm (1984-1990) . [3]
Trong tầm nhìn của Quốc tế, chiến tranh biên giới Lão Sơn không phải là quy mô, nhưng đổ máu quá nhiều, cả Việt Nam-Trung Quốc cùng chấp nhận mấy chục ngàn binh sĩ thương vong. Chiến lược Trung Quốc đánh giá cuộc chiến tranh năm 1979 không hoàn thành. Tiếp theo, một lần nữa Trung Quốc mở cuộc chiến tranh biên giới Việt Nam vào năm 1984-1990. Nhìn về mặt quân sự, Trung Quốc đổi chiến thắng bằng sự lãng phí khí lực quốc gia, khí tài và sinh mạng binh sĩ quá nhiều. Trung Quốc không còn cách nào để ứng xử với nhân dân trước tình thế mà đảng đã tuyên bố "tự vệ", chỉ còn phương sách cuối cùng chủ động tấn công hầu che lấp sự tội phạm chiến tranh của Đặng Tiểu Bình.
Trái lại, đảng CSVN lại không nghĩ vậy. Họ đã để mất biên giới nhưng vẫn to miệng tuyên bố: ‒ Bảo vệ quê hương, đánh bại láng giềng phương Bắc mạnh mẽ, cuộc chiến tranh này chống lại xâm lược.
Thực chất không thể biện minh được, đảng CSVN đã bại trận từ khi có Hồ Chí Minh, chú ý cướp chính quyền, tráo trở lòng tin, tuyên truyền đề cao sức mạnh của đảng đứng trên Tổ quốc Việt Nam, che khuất nỗi thất bại ê chề lớn nhất của đảng, nhà nước CS không bảo vệ được biên giới phía Bắc Việt Nam vào năm 1979.
Cuộc chiến biên giới Lão Sơn kéo dài 16 năm (1984-1990), hầu như đảng CSVN á khẩu không bao giờ công bố và đề cập đến, toàn dân Việt Nam không hề biết đến cuộc chiến bỉ ổi này, một cuộc chiến khốc liệt nhất trong lịch sử Việt Nam, đến đỗi núi xương trắng của tuổi xanh phơi cao ngất trời, sông suối máu đỏ chảy xiết hơn mùa nước lũ, thấu sương mù, khí lạnh cả bầu trời cao nguyên Lão Sơn!
Sự thật chiến tranh biên giới Việt Nam-Trung Quốc do những nhà lãnh đạo của hai đảng đã thông qua kế hoạch và trả giá trước, họ xem thường sự sống còn của hai dân tộc Việt˗Trung. Họ tạo ra những công tác chính trị, người ngoài cuộc không thể đơn giản nhận thấy đước. Tuy nhiên cũng lộ ra những kẽ hở không hợp lý, riêng đảng CSVN đưa ra quá nhiều lý thuyết mỵ dân, chen vào đó những âm mưu thỏa thuận với Trung Cộng, trước khi thôn tính Việt Nam phải đi qua ngã ngoại giao và sau đó tạo ra chiến tranh biến nó thành một sự cố hợp lý. Mặt khác, đảng CSVN ém nhẹm chiến tranh biên giới đối với nhân dân Việt Nam và trắng trợn bán nước, chấp nhận bản địa hình tổng quát biên giới, từ Tây Bắc đến Đông Nam và vịnh Bắc Bộ chiều dài 1.600 km, điểm hẹp nhất là 50 km.
Theo địa hình bí mật về bản đồ Việt Nam, có ghi rõ chứng từ đảng CS bán nước: ‒ Trung Quốc tự do khai thác đồng bằng sông Hồng miền Bắc, miền Nam có đồng bằng sông Cửu Long và miền núi Bắc-Nam, kể cả núi ven biển của ba miền Việt Nam.
Trung Quốc đánh giá địa hình miền Nam Việt Nam dễ bị tấn công và cực kỳ khó phòng thủ, cho phép Trung Quốc chiếm hoàn toàn vùng cao nguyên phía Tây, thứ đến khi cần lấy trung tâm vùng cán xoong, có thể dễ dàng cắt đứt Bắc-Nam và chia thành hai phần, đặc biệt đảo Hải Nam như một cái lưỡi búa thứ hai, đập tan miền Trung Việt Nam. Về chính trị có đôi phần bất lợi, nếu Trung Quốc mạnh tay quá, tất nhiên người Việt Nam sẽ kịp thời phản đối. Cho nên đảng CSVN thay Trung Cộng thực hiện kỹ thuật "mềm mỏng" để làm vải thưa che mắt nhân dân Việt Nam. Một sĩ quan trinh sát Lữ đoàn 38, cho biết: ‒ Về cơ bản, nhân dân Trung Hoa không bao giờ muốn có chiến tranh với Việt Nam, chỉ có lãnh đạo đảng CS Bắc Kinh hành động điên rồ bành trướng. Người CS chỉ biết củng cố thế lực, quyền, tiền, sinh lý ngoài ra không có nhân bản, đạo đức và Tổ quốc chung của đồng sinh.
Chiến tranh toàn tuyến 11km năm 1984 đến năm 1990, chính thức Trung Quốc xâm chiếm toàn vùng biên giới Lão Sơn 38 km, từ Tây sông Lô có điểm núi ký hiệu C211 thuộc tỉnh Lào Cai đến Đông sông Lô có núi 1509 thuộc thị trấn Vị Xuyên tỉnh Hà Giang, hai địa danh trên được gọi "cối xay thịt người", những điểm đỏ còn lại Bộ Tổng tham mưu chỉ huy quân sự của Quân đoàn trong lãnh thổ Việt Nam. Nguồn: Cục bản đồ quân sự Quân Ủy trung ương đảng CS Trung Quốc (CPC). Cung cấp tư liệu: Ký giả Cát Thuần.
Những tư lệnh, tham mưu trưởng của tập đoàn quân sự Trung Cộng phối trí bổ túc chỉ huy, tham chiến tại biên giới cao nguyên Lão Sơn tỉnh Lào Cai và Hà Giang.
Bộ quốc phòng Trung Cộng phối trí lại những tướng lãnh tham chiến tại biên giới Lão Sơn Việt Nam. Nguồn: Quân Ủy trung ương đảng CS Trung Quốc.
Thượng Tướng Trương Chí Tú (張銍秀) cho biết: ‒ Trung Quốc, muốn bóp chết "Đông Dương Liên đoàn", hoàn toàn không muốn có kẻ thù nào khác, đảng CS Việt Nam không nên tiếp tục chọn trạng thái chiến tranh, như năm 1979 Trung Quốc đã "dạy cho Việt Nam một bài học" và ngày nay 1984 chúng tôi có quyền phản công "tự vệ".
Trước và sau chiến tranh 1979-1984, Trung Cộng tuyên truyền rộng khắp cả nước, tác động vào lòng tự ái dân tộc Hán, mục đích hướng dẫn người dân đi thẳng đến chiến trường biên giới chỉ để "phản công tự vệ không xâm lược Việt Nam". Một lần nữa người dân Trung Hoa bị đảng CSTH lừa đảo " tự vệ không xâm lược Việt Nam". Thực chất Trung Cộng xua quân đi xâm lược xứ người, tuyên truyền "tự vệ" hết ngày này qua ngày khác, từ đó ngấm vào máu người dân Hán lúc nào không ai biết, cứ thế làm thân ma, dâng hiến cho Bắc Kinh, Trung Cộng tuyên truyền theo chiến thuật "nước chảy đá mòn" nói mãi rồi ai cũng nghĩ là thật, kể cả sách giáo khoa cũng nhồi sọ học sinh, báo chí hướng dẫn dư luận đi theo con đường Bắc Kinh muốn bành trướng!
Huỳnh Tâm
Cháu bé bị mua bán ở chùa Bồ Đề đã chếtKhởi tố vụ án “mua bán trẻ em” xảy ra tại chùa Bồ Đề: Cháu bé bị mua bán ở chùa Bồ Đề đã chết TT - Ngày 4-8, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Hà Nội đã khởi tố vụ án “mua bán trẻ em” liên quan đến vụ việc một cháu bé bị bỏ rơi, được chùa Bồ Đề (quận Long Biên, Hà Nội) nhận nuôi dưỡng đã bị bán.

Nghi can Nguyễn Thị Thanh Trang tại cơ quan điều tra - Ảnh: M.T. Cơ quan điều tra làm rõ Nguyễn Thị Thanh Trang, quản lý nhà mở nuôi dưỡng trẻ em ở chùa Bồ Đề, đã nhờ người giả làm chị dâu để xin con nuôi, sau đó bán với giá 35 triệu đồng. Theo cơ quan điều tra, vụ việc đã được điều tra từ nhiều tháng nay và đến ngày 1-8-2014, anh Nguyễn Thành Long (trú tại quận Long Biên) có đơn tố cáo, cung cấp thêm một số manh mối nên cơ quan điều tra đã xác định được quá trình mua bán trẻ em. Cơ quan điều tra bắt khẩn cấp Nguyễn Thị Thanh Trang (36 tuổi, trú tại quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) và Phạm Thị Nguyệt (35 tuổi, trú tại quận Hoàng Mai, Hà Nội). Hành trình mua bán trẻ em Chưa xác định có sự liên quan đến chùa Bồ Đề Theo trung tá Nguyễn Cao Khải - đội phó đội 12 Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an Hà Nội, để xảy ra những vụ việc như trên là một cảnh báo về việc nuôi dưỡng trẻ em không tuân theo những quy định cụ thể. Do đó, trong thời gian tới các cơ quan chức năng sẽ phải làm việc với nhà chùa để ngăn chặn việc mua bán trẻ em có thể xảy ra tương tự vụ việc trên. Trung tá Nguyễn Cao Khải cũng cho biết cho đến nay chưa xác định có sự liên quan của ni sư Thích Đàm Lan và nhà chùa đến vụ việc này. Tuy nhiên, cơ quan điều tra vẫn đang tiếp tục làm rõ. Theo cơ quan điều tra, khoảng tháng 10-2013, có một phụ nữ và một nam thanh niên đến chùa Bồ Đề tìm gặp ni sư Thích Đàm Lan để gửi một cháu bé khoảng bốn ngày tuổi, còn chưa rụng rốn nhưng không nhận là con mình. Ni sư Thích Đàm Lan đã giao cho Nguyễn Thị Thanh Trang làm thủ tục cho đôi nam nữ này gửi lại cháu bé. Thực tế, cháu nhỏ này chính là con của đôi nam nữ này. Đó là Nguyễn Xuân T. (28 tuổi, quê quán tại Tuyên Quang, tạm trú tại quận Nam Từ Liêm, Hà Nội) và Trần Thị Thu H. (25 tuổi, quê quán tại huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ). Hai người có quan hệ yêu đương từ lâu và sau đó chị H. đã mang thai, dự sinh vào tháng 10-2013. Đến ngày 26-10-2013, T. và H. đến thuê nhà nghỉ Nhuệ Giang trên đường Cầu Diễn để bàn bạc việc đưa H. đến bệnh viện sinh em bé và thống nhất sẽ mang vào chùa gửi con. Đêm 26-10-2013, khi chưa kịp đến bệnh viện thì H. trở dạ sinh con ngay tại nhà nghỉ. Do không biết tắm cho em bé nên H. đã quấn khăn tắm bọc đứa bé lại, đưa cho T. bế ra ngoài và hôm sau đến chùa Bồ Đề gửi trẻ với mong muốn con mình sẽ được chăm nom, nuôi dưỡng tốt hơn. Cả hai đã viết giấy gửi trẻ kèm theo bản photo chứng minh nhân dân. Sau đó, thỉnh thoảng H. có đến chùa Bồ Đề thăm con nhưng không đủ điều kiện nhận con về nuôi nên chỉ mua quà cáp, đường sữa rồi đứng nhìn con mà về. Cùng thời gian này, một tập đoàn lớn đã đến chùa Bồ Đề làm từ thiện, trong đoàn có anh Nguyễn Thành Long rất quý cháu bé này và xin nhận làm cha đỡ đầu, đồng thời đặt tên cho cháu là Cù Nguyên Công. Sau đó hơn một tháng, bé Cù Nguyên Công bị ốm nên được nhà chùa cùng anh Long đưa đến chăm sóc tại Bệnh viện Xanh Pôn, Hà Nội. Tuy nhiên đến ngày 31-12-2013, anh Long được Trang yêu cầu đưa về chùa vì có đoàn kiểm tra đến. Bốn ngày sau, ngày 4-1-2014, anh Long và vợ tìm đến chùa để hỏi thăm sức khỏe của bé Công thì cháu đã không còn được nuôi dưỡng ở chùa. Hỏi Trang thì chỉ nhận được câu trả lời là mẹ đẻ của cháu đã đón về và không cung cấp thông tin gì khác. Thực tế, việc cháu Công bị mua bán cũng diễn ra đúng vào thời điểm ngày 1-1-2014. Nhờ người giả chị dâu để mua bán trẻ em Trang có quen biết với Phạm Thị Nguyệt (35 tuổi, trú tại phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội) và được Nguyệt cho biết muốn tìm một đứa trẻ khỏe mạnh để Nguyệt nhận làm con nuôi. Do đó, Trang đã có ý định cho Nguyệt nhận cháu Cù Nguyên Công về nuôi. Vì thế cuối tháng 12-2013, Trang đã nhờ một người bán hàng ở gần chùa Bồ Đề giả làm chị dâu của Trang đang đi tìm con nuôi. Theo đó, Trang hướng dẫn người này cách nói chuyện với mẹ cháu bé và bố trí gặp tại một quán cà phê ở quận Long Biên. Tại đây, người giả làm chị dâu của Trang đã nói với chị H. rằng mình không có con nên muốn nhận con của chị H. đang được nuôi dưỡng ở chùa Bồ Đề về làm con nuôi và được H. đồng ý. Ngày 1-1-2014, cháu Cù Nguyên Công đã được đưa ra khỏi chùa Bồ Đề với danh nghĩa cho con nuôi và được đưa đến nhà Phạm Thị Nguyệt nuôi dưỡng. Trong phi vụ cho cháu bé Cù Nguyên Công làm con nuôi, Nguyễn Thị Thanh Trang đã được Phạm Thị Nguyệt chi cho 35 triệu đồng, trong đó theo thỏa thuận thì sẽ trả cho mẹ cháu bé 30 triệu đồng bù đắp công sinh nở. Tuy nhiên, Trang đã chiếm hưởng 25 triệu đồng, chỉ chuyển khoản cho chị H. 10 triệu đồng. Quá trình Nguyệt nhận nuôi dưỡng, anh Nguyễn Thành Long có nhiều lần đến chùa tìm, Trang đã trốn tránh, không nói sự thật và cho biết mẹ đẻ cháu bé đã nhận về nuôi. Do anh Long không tin nên đã tìm hiểu và liên lạc với H.. Vì vậy, H. điện thoại cho Trang và được Trang chỉ đạo nói dối là đã trả con cho bố đẻ cháu. Sau đó, Trang đã cho H. gặp Nguyệt để Nguyệt đứng ra giải quyết vấn đề cháu Cù Nguyên Công. Khi gặp H., Nguyệt đã yêu cầu H. viết giấy tường trình với nội dung đã quan hệ bất chính với chồng của Nguyệt và có thai, nay gia đình biết nên đã bàn giao con lại cho gia đình Nguyệt nuôi dưỡng, chăm sóc. Nguyệt cũng yêu cầu H. đưa chứng minh nhân dân để đi công chứng và còn hướng dẫn khi anh Long điện thoại hỏi thì cho số của Nguyệt để giải thích. Quá trình Nguyệt nuôi dưỡng cháu Cù Nguyên Công đã đặt tên cho cháu là Phạm Gia Bảo. Tuy nhiên đến khoảng tháng 5, tháng 6-2014, cháu bé bị bệnh sởi, được đưa vào cấp cứu tại Bệnh viện Nhi trung ương nhưng không qua khỏi. Ngày 27-6-2014, cháu Phạm Gia Bảo (tức Cù Nguyên Công) đã qua đời tại khoa hồi sức cấp cứu của Bệnh viện Nhi trung ương, sau đó được Phạm Thị Nguyệt cùng gia đình đưa về chôn cất. Quá trình điều tra, xác minh vụ việc, cơ quan điều tra còn phát hiện Phạm Thị Nguyệt nhận nuôi hai trẻ khác tại nhà đang thuê là cháu Nguyễn Gia Huy (2 tuổi), con một phụ nữ ở Khương Trung, Hà Nội và Trần Vũ Gia Hân (1 tuổi), con một phụ nữ quê tại Thái Bình. Hiện hai cháu bé này đã được đưa đến Trung tâm Bảo trợ xã hội nuôi dưỡng. MINH QUANG Kẻ chém chết 4 người thân tự tử trong nhà tạm giam C ông an Hải Dương phát hiện Phạm Duy Quý, hung thủ dùng dao chém chết 4 người thân trong gia đình đã chết trong phòng tạm giữ chiều 4/8. Đại úy Vũ Hữu Quyền (Đội phó Đội 3, PC45, công an tỉnh Hải Dương) xác nhận với VnExpress, khoảng 15h ngày 4/8, cán bộ trại giam Kim Chi phát hiện Quý đã treo cổ bằng màn ngủ tại phòng tạm giữ. Các nhân chứng giam gần buồng của Quý nói rằng, sáng nay họ vẫn nói chuyện với Quý bình thường. Đến chiều mọi người gọi đi ăn cơm nhưng không thấy thanh niên này trả lời. Trước đó, cơ quan công an cho biết, Quý có tâm trạng bất ổn, sợ hãi và hoảng loạn về hành vi gây án của mình. Hung thủ nói không thiết sống nữa dù các cán bộ công an chưa cho biết việc bốn người thân bị Quý sát hại đã tử vong. Đội phó Đội 3 khẳng định, cán bộ trại giam đã có sự cảnh giác, phòng ngừa hành động cực đoan của Quý nhưng vụ việc xảy ra quá bất ngờ khiến họ trở tay không kịp. Thi thể của Quý đã được đưa đi khám nghiệm và sẽ bàn giao lại cho gia đình. 
| Phạm Duy Quý tại cơ quan công an ngày 2/8. |
Ngày 2/8, Phạm Duy Quý (sinh năm 1993) ở thôn Ngoại Đàm, xã Phượng Hoàng, huyện Thanh Hà đã cầm dao giết chết bố, mẹ, bà nội và chị họ có mặt ở 3 ngôi nhà liền kề nhau. Quý khai, vì nghĩ mẹ không thương mình nên thường la mắng và năm 3-4 tuổi từng bị bố mẹ đem bán cho người khác nên ủ mưu giết hại từ lâu. Bà nội và người chị họ cũng bị anh ta hận vì thường về phe với bố mẹ để la mắng. Trước đó, một tuần, thanh niên này đã chuẩn bị hung khí gây án. Quý bị tình nghi mắc bệnh tâm thần phân liệt. Bảo Hà
Ai là tác giả đích thực của đề nghị bán nước của CSVN ở Thành Đô 1990?
Phan Châu Thành (Danlambao)
Cái kim lòi ra, cục phân bốc mùi, khối u độc di căn
Mấy hôm nay lề dân sôi sục lên với những bài tin về nội dung thỏa thuận được cho là bán nước Việt cho Tàu ở Hội nghị Thành Đô của đảng CSVN với CSTQ năm 1990, mà Tân Hoa xã, Hoàn Cầu Thời báo, Wikileaks... vừa đưa ra, vì có câu: “Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây...”
Nếu thế thì đúng là bán nước 100% rồi còn gì, lịch sử Dân tộc VN mấy nghìn năm chưa bao giờ có chính quyền nào hèn hạ và dám làm việc ô nhục sau lưng dân như thế!
Tất nhiên là đảng im lặng hoàn toàn. Chính cái thỏa thuận Thành Đô đảng CSVN ký với CSTQ đã 24 năm nay mà họ vẫn đang còn cố giấu diếm như mèo giấu cứt, dù nó đang bốc mùi lộ chất độc thối rồi, nên chưa biết họ sẽ “liếm láp” tiếp ra sao?
Chẳng ngạc nhiên và cũng thật đáng mừng khi còn có những người dân Việt như thiếu tướng Lê Duy Mật với tư cách đảng viên đã yêu cầu đảng của mình công bố chính thức nội dung Thỏa thuận Thành Đô đó... Nếu tướng Mật đã đưa yêu cầu của mình theo đúng thủ tục “góp ý nội bộ” thì sẽ có hai khả năng: đảng sẽ lờ tịt đi hay sẽ... khai trừ ông ra khỏi đảng. Nay yêu cầu của ông đã được công khai trên lề dân –tức “không theo đúng qui trình”, thì khả năng sau cao hơn, cũng như đảng mới khai trừ ông Ls. Trừng vậy. Nhưng câu chuyện sẽ không thể kết ở đó. Tất cả mới bắt đầu…
Với bài này, tôi muốn nói đến phần trước nữa, phần bắt nguồn, của Hội nghị Thành Đô 1990 của CSVN, và cố gắng thử trả lời câu hỏi như đầu bài đưa ra (tất nhiên, đó là nhóm chóp bu đảng CSVN rồi, nhưng bắt đầu từ ai?), hòng góp phần dự đoán “câu chuyện bán nước ở Thành Đô” của đảng CSVN sẽ tiếp diễn như thế nào?... Chứ chả lẽ dân Việt ta chỉ biết ngồi chờ “đảng ta dẫn dắt và lãnh đạo”, đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác mãi?!
Bối cảnh, hay điều gì dẫn đến Hội nghị Thành Đô?
Tại “thằng” Gorbachốp! Đó là tuyên bố hùng hồn và lời giải thích chính thức đến tận hôm nay 2014 của đảng CSVN, lý giải nguyên nhân phải có Hội nghị Thành Đô của họ năm 1990 trong các hội nghị đảng, chính quyền, đoàn thể từ trung ương đến cơ sở và đến các chi bộ phường xóm, vỉa hè…
Câu nói đó thể hiện văn hóa cao đặc thù của đảng CSVN - hôm qua đảng coi ông là vị Cứu tinh, là Giấc mơ, là Thiên đường mơ ước cho đảng theo, hôm nay ông là tội đồ bắt đảng phải theo mẹ đĩ già TQ!
Câu nói đó thể hiện tâm thế hèn kém muôn đời của đảng CSVN, không bao giờ dám đối diện vấn đề và sự thật, chỉ luôn chỉ tay đổ lỗi cho người khác cho những hành động cơ hội luồn cúi bán dân hại nước của mình!
Thực chất chuyện gì đã xảy ra? Đã có ba chuyện chính lớn xảy ra.
Đến năm 1989 thì bức tường Berlin sụp đổ cùng hàng loạt các nước cộng sản tự gọi là XHCN ở Đông Âu và liên bang Xô viết tan rã - chiến tranh lạnh kết thúc với bên thua không có người để giương cờ trắng là bên cộng sản. Trong khi đó, Cộng sản VN đang dựa vào cộng sản Liên xô, nên chới với…
Sự kiện thứ hai là ở Thiên An Môn tháng 6/1988 ở Bắc Kinh, cũng trước một phong trào đấu tranh dân chủ của sinh viên như đã bắt đầu ở Đông Âu trước đó mà kết thúc là bức tường Berlin bị đập tan theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng, chính quyền cộng sản Bắc Kinh với lệnh từ Đặng Tiểu Bình, đã dùng súng và xe tăng bắn và nghiền nát hàng ngàn sinh viên đấu tranh tay không trên quảng trường đỏ ấy làm nó thực sự đỏ vì máu và thịt của những người Trung Hoa trẻ dũng cảm vô song đó…
Sự kiện thứ ba là tình trạng khốn cùng của dân ở Việt Nam. 15 năm sau “chiến thắng vẻ vang”, đã nắm trong tay toàn đất nước, chính quyền cộng sản Việt Nam đã hoàn toàn thấy bại trong công cuộc xây dựng đất nước trong hòa bình, đưa kinh tế đất nước đến đáy bùn nghèo khốn tận cùng, đảng hèn kém tham nhũng và vô đạo đức đã mất hết uy tín trước dân và cả các đảng viên chân chính. Đảng CSVN lúc đó lại chống Tàu (vì Tàu đánh chiếm biên giới VN năm 1979) và dựa vào đảng CSLX đã tan rã, thì có nguy cơ cũng sẽ tan rã như thế…
Thế là, đảng CSVN chọn đổi chủ, chọn đi theo chủ mới đang chính là kẻ thù số 1 của dân tộc mình, là đảng CSTQ. Thế là họ xin đến TQ, xin có Hội nghị Thành Đô để qui hàng để có thể tiếp tục giữ thể chế cộng sản của mình ở VN, bằng bạo lực Tàu như họ đã thể hiện trên Thiên An Môn. Nhưng mức độ thần phục TQ đến thế nào, tức nội dung cụ thể của thỏa thuận ở Thành Đô năm 1990 đó là gì, đảng CSVN đến nay vẫn chưa dám công bố cho đảng viên của mình biết.
Nhưng lý do và mục đích của Hội nghị đó thì ai cũng rõ: vì đảng sợ nhân dân Việt Nam khai tử, như nhân dân các nước khác đã khai tử các đảng CS ở Đông Âu và cả Liên xô, vì lợi ích - vì sự thịnh vượng của các dân tộc đó.
Với Hội nghị Thành Đô, đảng CSVN đã đặt lợi ích của đảng trên lợi ích dân tộc Việt Nam. Nhưng đến bán cả quốc gia cho TQ, như nội dung thỏa thuận đã hé lộ ra như trên, thì quả là CSVN đã đi quá xa, và dân tộc Việt Nam sẽ không bao giờ chấp nhận, không bao giờ tha thứ!
Ai trong đảng CSVN đã đi bán nước ở Thành Đô 1990
Chúng ta biết, đoàn cán bộ chóp bu của CSVN bí mật đi TQ khi đó bao gồm: Cố vấn Phạm Văn Đồng, TBT Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch HĐBT (Thủ tướng) Đỗ Mười và một số ít phụ tá. Ngay cái cách họ lén lút ra đi đúng ngày Quốc khách VN 2/9/1990 đã thể hiện mục tiêu đen tối, mưu đồ không trong sáng và tâm địa hèn hạ của họ rồi.
Nhưng vai trò cá nhân của ba nhân vật chóp bu trên của CSVN lúc đó trong thỏa thuận Thành Đô như thế nào, đó là câu hỏi của chúng ta ở đây.
Đồng, kẻ đã bán nước bằng công hàm 1958 lại có mặt trong đoàn đi bán nước lần này, thật không bất ngờ nhưng càng đáng nghi là một tác giả chính của nó, và không thể tha thứ! Đồng khi đó đã 84 tuổi, đã nghỉ hưu từ 1987, chỉ còn chức cố vấn hờ cho TBT Linh từ 1986, tại sao lại phải có mặt ở Thành Đô là câu hỏi then chốt?
Linh, kẻ mới bất ngờ lên TBT tháng 12 năm 1986 tại Đại hội VI, đã để lại ấn tượng khá tốt trong những cải tổ bắt buộc ban đầu, gọi là đổi mới, của CSVN, tại sao đã quay ngoắt thái độ từ cấp tiến đổi mới sang bảo thủ theo Tàu, là câu hỏi rất quan trọng cần trả lời?
Và Mười, tên hoạn lợn vốn đã bị thần kinh, chỉ biết ăn tục nói phét mà được Hồ cho làm phó TTg của Đồng, nay lên được TTg cũng là ngạc nhiên lớn (câu hỏi sẽ được trả lời ở phần sau), có vai trò gì trong gánh xiếc bán nước này, cũng là câu hỏi hóc búa không thể bỏ qua để hiểu vở diễn này của CSVN? Chúng ta để ý là ngay trước Thành đô tên hoạn lơn này được bất ngờ lên Thủ tướng để đại diện chính phủ ký thỏa thuận bán nước, rồi sau khi từ Thành Đô về, kẻ điên thiến lợn này còn được lên chức TBT thay Linh để triển khai thực hiện cam kết Thành Đô đó với Tàu cộng từ 1991 - Đại hội VII của CSVN và tái nhiệm cả ở Đại hội VIII?
Vậy trong ba người đó, ai hay cả ba, hay ai khác nữa là tác giả đích thực của thỏa thuận bán nước Thành Đô?
Ai là tác giả đích thực của đề nghị bán nước ở Thành Đô?
Chúng ta hãy bắt đầu nhìn lại từ sự nghiệp đỉnh cao của TBT Linh. Tại sao Linh bất ngờ được lên TBT vào 12/1986 ở ĐH-VI? Đó là do 6/1986 Lê Duẩn chết, Trường Chinh được lên TBT lần 2 tạm thay Duẩn từ tháng 6 đến ĐH6 tháng 12/1986, rồi Chinh chọn Linh lên thay mình. Vậy tại sao Chinh lại chọn Linh từ trong Nam ra trong khi có nhiều ứng cử viên nặng ký hơn nhiều và gần gũi Chinh hơn? Có phải vì Linh đã cam kết sẽ làm cuộc đổi mới theo con đường Chinh vẽ ra? Mà chúng ta dã biết, Chinh là một trong bộ tứ Hồ-Đồng-Chinh-Giáp khét tiếng chỉ theo Tàu từ đầu đến cuối, và đổi mới của Chinh là CSVN quay lại theo TQ hoàn toàn?
Từ 1975 đến 1986 CSVN do Duẩn thống trị đã hoàn toàn chống Tàu cộng, ghi cả trong hiến pháp tầu là kẻ thù só 1, nên khi Duẩn chết là lúc phe thân Tầu của Đồng-Chinh-Giáp vốn bị Duẩn “đì” nhưng đều còn sống (dù đã rất già và đã về hưu), nhưng đằng sau là Tàu cộng và Hoa Nam, có cơ hội phục thù và lên nắm lại quyền bính như thời Hồ, để lái VN theo Trung cộng lại hoàn toàn như Hồ mong muốn? Vậy cho nên, khi Chinh tạm giữ chức TBT, việc quan trọng nhất của Chinh là phải tìm ra nhân vật mới làm TBT sẽ theo phe thân Tàu của Chinh-Đồng-Giáp, đồng ý đưa VN quay về Tàu? Và đó chính là Linh (mà Hoa Nam tìm ra) - kẻ thật thà dễ bảo, không gian trá, không thủ đoạn, rất ngây thơ và ảo tưởng?
Đó là lý do Linh bất ngờ vượt qua nhiều ứng viên nặng ký hơn nhiều, lên chức TBT đảng CSVN tháng 12/1986 ở ĐH-VI? Và vì thế trong hơn nửa đầu nhiệm kỳ 1986-1991 của mình Linh đã khởi xướng đổi mới (thực ra là học theo Đặng chút ít) và cởi trói cho văn nghệ sĩ chút đỉnh, để gây thanh thế, tạo uy tín, để lừa lấy lòng quần chúng nhân dân, song sang cuối nhiệm kỳ Linh lại “trói lại” và cương quyết “bảo vệ thành trì XHCN còn sót lại là TQ và VN” (ảo tưởng). Đó là lý do Linh đã chấp thuận bán nước ở Thành Đô cùng Đồng và Mười - để cứu phe XHCN cho nhân loại?
Như vậy, thỏa thuận Thành Đô là theo đạo diễn của Trường Chinh, rồi giám sát của Đồng, mà Linh chỉ là kẻ đổ bô ảo tưởng rằng mình thực cứu cả phe XHCN? Và vì thế Linh đã hối hận (quá muộn) khi năm 1991 xin rút khỏi vũ đài chính trị VN (dù Linh dễ dàng có thể tái nhiệm chức TBT khóa VII 1991 sau “đại công tích” bán nước ở Thành Đô 1990?)
Tiếp theo là Đồng, năm 1990 Đồng đã về hưu 3 năm rồi, sao còn phải tháp tùng Linh đi Tàu, dù với chức danh cố vấn? Đó phải chăng là vì Đồng được bộ ba Động-Chinh-Giáp giao giám sát thực hiện ký kết thỏa thuận bán nước Thành Đô (mà Bắc Kinh giao bộ ba đệ tử Hồ đã lọm khộm đó phải làm cho xong trước khi chết?), hoàn tất sự nghiệp cướp/bán nước của Hồ và bộ ba đó? Hơn nữa, sau khi lừa được Linh làm TBT bán nước năm 1986, Chinh đã chết năm 1988, nên chỉ còn Đồng và Giáp trong bộ ba đã bán linh hồn cho Hồ/Tàu ngay từ 1940, thì Giáp lúc đó uy tín và chức vụ đã rơi quá thấp (mới vừa phụ trách sinh đẻ kế hoạch 1983), nên Đồng dù đã thân già vô sự vẫn cứ phải nhiễu sự theo Linh về chầu. Vì đó là việc quá quan trọng – hoàn tất sự nghiệp cướp nước Việt của Tàu/Hồ - mà nhất định Bắc Kinh/Hoa Nam không thể để Linh tự diễn không có thúc ép và giám sát của Đồng (cũng là để Bắc Kinh còn qua Đồng mà chỉ đạo nội dung thỏa thuận)… Chả thế mà cả đảng CSVN khi đó, trước và sau Thành Đô, đều “châu ống đu đủ” để thổi Linh lên thành “lãnh tụ cứu tinh” cho VN và cả phe XHCN…
Và cuối cùng là tên hoạn heo chưa bao giờ đi học tử tế nhưng đã “Đỗ” Mười. Mười là kẻ rất ngu dốt nhưng vô cùng háo danh, hãnh tiến, và thủ đoạn độc ác luôn có thừa, được Hồ cho lên phó TTg từ 1968 mà đến 1988 vẫn chỉ chỉ là phó TTg (vì Đồng không cách chức ai trong 32 năm). Chúng ta nhớ, năm 1986 phe Đồng-Chinh-Giáp thân Tàu của Hồ nắm hai chức vụ chính là TBT (Chinh) và TTg (Đồng) nhưng ở ĐH VI t12/1986 đã chỉ giữ được chức TBT cho người của mình là Linh, còn chức TTg phải giao cho phái cấp tiến (của những người miền Nam) là Phạm Hùng. Nhưng t3 năm 1988 Phạm Hùng chết rất bất ngờ khi công tác tại Sài gòn (nghi vấn là do bị Hoa Nam sát hại), nhưng lẽ ra người lên thay phải là phó TTg Võ Văn Kiệt cùng phe Phạm Hùng, thì Mười bất ngờ được chọn (bởi Hoa Nam, kẻ đã giết TTg Phạm Hùng là cho mục đích đó?). Tại sao Hoa Nam chọn Mười? Chỉ vì Mười rất ngu nhưng quá háo danh/háo chức nên dễ điều khiển, có thể mua chuộc nếu cho danh/chức? Thế là kẻ hoạn lợn điên (lợn không bị điên) được Bắc Kinh đặt lên chức Thủ tướng (Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng – vẫn theo cách tổ chức chính phủ của Liên xô/Duẩn cũ) từ 1988 là để chuẩn bị thay mặt chính phủ Việt Nam đi bán nước ở Thành Đô? Một lựa chọn hầu như tối ưu của Hoa Nam, tôi nghĩ thế. Kẻ như vậy cho làm TTg VN để hắn bán TQ cho Mỹ hay ngược lại, hắn cũng cam kết sẽ làm…
Tóm lại, tác giả đích thực của thỏa thuận bán nước ở Thành Đô, từ cách chọn và chuẩn bị nhân sự đứng đầu của CSVN mấy năm trước đó đến cách đi Thành Đô và ký kết, chính là… Hoa Nam hay đảng CSTQ, qua Chinh và Đồng (có thể Chinh/Đồng/Giáp cũng được tham gia góp ý cách thực hiện, nhưng không phải tác giả hay đồng tác giả), đến Linh và Mười chỉ là hai kẻ ký kết đổ bô mà thôi (dù họ có đổ bô vì cái gì). Chúng ta thấy rõ ràng bóng đen của Hồ trong “cái bô” Thành Đô đó… Chính vì thế mà đến nay hết đời TBT Mười, đến Phiêu, đến Mạnh, rồi đến Trọng… tất cả đều cung cúc tuân thủ và thực hiện thỏa thuận bán nước ở Thành Đô như chúng đang đội trên đầu cái chúng gọi là “Tư tưởng đạo đức Hồ” và “4 tốt 16 vàng” Tàu vậy…
Thế là sự nghiệp cướp nước Việt cho Tàu của Hồ được đàn em hoàn tất về thủ tục…
Hội nghị Thành Đô 1990 bản chất nó là thế. Tôi không cần phải nói cụ thể cái gọi là Hội nghị Thành Đô đó đã diễn ra như thế nào nữa, các bạn đã biết hay có thể biết chi tiết dễ dàng. Rồi Lịch sử dân tộc ta sẽ còn phải phán xét nó dài dài chứ không chỉ hôm nay chúng ta đang muốn biết rõ nó, phản đối nó, phẫn nộ vì nó…thôi đâu.
Nó là sự kiện nhục nhã nhất Lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc Việt Nam ta, vô tiền khoán hậu! Vì chưa bao giờ vua quan Việt Nam kéo nhau trốn dân đi bán nước bằng cả đoàn đại diện đứng đầu đảng cầm quyền mấy triệu người và đứng đầu chính phủ đương nhiệm như thế cả! Cả mấy nghìn năm chỉ lác đác có vài kẻ bán nước như Trần Ích tắc, Lê Chiêu Thống... - đếm chưa hết ngón tay trên một bàn tay, và họ muốn bán nước nhân danh cá nhân họ thôi, nhưng không thành…
Điều đáng buồn và đau xót hơn nữa, là sau khi ký thỏa thuận bán nước đó, bọn bán nước vẫn ngấm ngầm thực hiện cam kết bán nước đó suốt 24 năm qua mà dân không biết, vì đảng CSVN không cần/thèm/phải công bố ra cho dân – những kẻ đã bị chúng bán đứng – biết! Có lẽ chúng tính để những kẻ “mua được” dân và nước Việt sẽ thông báo cho dân Việt luôn về “thương vụ” cho tiện! Chúng còn đang lo chước thứ 36: Tẩu! Vì đằng nào thì dân Việt cũng sẽ do bọn người khác ở Bắc Kinh “lãnh đạo” rồi! Và sự thể đã diễn ra đúng như thế, dân Việt được biết nước mình đã được bán cho Tàu cộng từ Tân Hoa xã và Thời báo Hoàn Cầu ở Bắc Kinh, và từ thế giới ảo - Wikileaks…
Và những kẻ thực hiện cam kết bán nước Thành Đô
Ký xong Hiệp định bán nước cho Tàu cộng ngày 4/9/1990 ở Thành Đô về, Linh không ra ứng cử TBT tiếp vì hối hận (là do tôi suy diễn thế thôi), và Linh đã hối hận suốt 8 năm sau trước khi chết hay không và thế nào thì chỉ có mà…Linh biết. Nhưng việc Linh không muốn làm TBT nữa đã tạo cơ hội cho kẻ thiến heo t6 năm 1991 leo lên “tột đỉnh danh vọng đảng” mà trước đó nếu có phải tự thiến chính mình chắc chắn lão cũng đồng ý làm để được thế. Câu hỏi là tại sao kẻ thiến heo đó may mắn được Hoa Nam chọn?
Câu trả lời khá đơn giản. Là vì Bắc Kinh phải cần những kẻ thực “ngu trung” nhất để thực hiện cam kết bán nước ở Thành Đô đó. Bắc Kinh/Hoa Nam vẫn biết “trung” với CSVN là không thể có, vì CSVN đã bán nước VN cho chúng/Tàu cộng tức CSVN không trung với cả đất nước và dân tộc Việt, thì ai ngu gì mà tin chúng nó/CSVN có thể trung với mình hay với bất kỳ ai. Khái niệm trung thành có lẽ không tồn tại với CSVN. Nhưng ngu thì chúng nhiều kẻ có thừa và Mười là kẻ có thừa nhiều nhất, nên để Mười làm TBT là tốt nhất cho Tàu. Vì còn ai sẽ tích cực thực hiện cam kết bán nước đó hơn kẻ hoạn lợn “rất tự hào đã được ký nó” nữa chứ?
Nhưng nước Việt có mấy ai ngu được cỡ như Mười, nên từ sau Mười, ngoài tiêu chuẩn “ngu không cần trung”, tiêu chuẩn và điều kiện để được Bắc Kinh bổ nhiệm làm TBT đảng CSVN và TTg VN là phải sang Bắc Kinh học thuộc cam kết Thành Đô 1990 và cam kết thực hiện nó trước mặt những kẻ cướp nước ở Bắc Kinh đó, rồi mới được về lên chức và phải thực hiện cam kết.
Đến nay thì danh sách các chức vụ của CSVN phải sang Bắc Kinh khấu đầu cam kết bán nước trước đã mở rộng ra cho cả Bộ CT rồi (đến tên Nhân và mụ Ngân ngay sau khi được bổ sung vào BCT cũng phải sang Bắc triều cam kết thực hiện hiệp ước bán nước đó ngay rồi mới về nhận chức vụ mới). Còn gần hai trăm ủy viên TƯ đảng CSVN thì đều phải qua “đào tạo đặc biệt” bên Tàu và cam kết bán nước cho Tàu có ký kết…
Rồi chúng triển hai cam kết bán nước đó trá hình trong dạng thực hiện phương châm 4 tốt, 16 chữ vàng đã suốt một phần tư thế kỷ nay, qua ĐH-VII 1991 đến ĐH-XI 2011, và sáp tới là ĐH-XII 2016…
Thời hạn chót cho CSVN thực hiện xong cam kết bán nước, biến VN thành tỉnh tự trị của Tàu trong vòng 30 năm đã tới gần, đến 2020, chỉ còn một đợt “bàn và giao nhiệm vụ” bán nước của đảng ở ĐH-XII 2016 nữa thôi…
Vài điều dự kết, hay: dân Việt ta tính sao đây?
Thế là nó là thế rồi! Thế là chúng bán nước rồi ! Dân Việt ta biết tính sao đây !?
Ai có thể sửa chữa, thay đổi, khắc phục hậu quả của thỏa thuận bán nước Thành Đô? Đó là nhân dân Việt Nam, và chỉ có thể là nhân dân Việt Nam.
Tất nhiên, cụ thể về tổ chức, đó không thể là đảng CSVN hay tổ chức nào tương tự nó, con cháu nó, cánh tay nối dài hay hình bóng “ve sầu” của nó. Về cá nhân, đó không thể là những người đã từng tham gia tạo nên nó hay chấp nhận nó, giấu diếm nó, thực thi nó, đồng lõa với nó… vì bất cứ lý do gì – tức là tất cả bè lũ chóp bu của đảng CSVN từ 1990 đến nay, rồi tất cả bè lũ đảng viến cấp cao, cấp trung, cấp thấp đã và đang giấu diếm và thực thi thỏa thuận bán nước đó ở mọi lĩnh vực của xã hội Việt Nam hôm nay.
Vì thế, đã nhiều lần tôi nói, chúng ta không thể hy vọng gì vào các lãnh đạo hay đảng viên CSVN “phản tỉnh” nếu họ còn bảo vệ đảng, bảo vê “Bác” – tức là còn bảo vệ Thỏa thuận Thành Đô hay công hàm PVĐ 1958. Nếu có, thì chúng ta có thể, chỉ có thể thôi, tin tưởng và hy vọng vào những cán bộ đảng viên cấp trung đến cấp thấp, như thiếu tương Lê Duy Mật, vì họ không dính vào không tham gia thực hiện những chủ trương bán nước của đảng như Thành Đô hay công hàm PVĐ, và vì họ nay không bảo vệ đảng và Bác “nữa” mà chỉ vì dân tộc trên hết – cái đặc tính thứ hai này mới là quyết định.
Sửa chữa hay vượt qua thỏa thuận bán nước ở Thành Đô của CSVN như thế nào? Câu hỏi này thực là quá sức trả lời của tôi, dù là một cá nhân phản đối nó và sẽ không bao giờ thực hiện nó.
Nó là câu hỏi lớn và vô cùng khó của cả dân tộc Việt Nam hôm nay, đầu thế kỷ 21 này, lớn và khó hơn cả việc vượt qua công hàm bán nước PVĐ.
Trả lời nó là chúng ta phải quyết định đi liền hành động, với tư cách cả một dân tộc, chọn đi theo con đường nô lệ Bắc Kinh hay đi lên con đường Tự do dân chủ như đại đa số (trên 80%) các nước trên Thế giói này đang đi lên, mà dẫn đầu là các cường quốc như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nhật, Canada, Úc… và hàng trăm quốc gia khác đều thịnh vượng hơn Việt Nam nhiều nữa.
Câu trả lời là của cả các bạn, cả của tôi, là của cả dân tộc Việt Nam. Nhưng nhất định dân tộc Việt Nam sẽ vượt qua nó để giữ gìn độc lập tự do của đất nước, như cha ông, Tổ tiên chúng ta đã làm bất lực các thỏa thuận bán nước của Trần Ích Tắc hay Lê Chiêu Thống ngày xưa!
Chúng ta không còn nhiều thời gian nữa, hay cùng nhau đứng lên nói “Không! Không bao giờ!” với thỏa thuận bán nước ở Thành Đô 1990 của CSVN, Việt Nam ơi!
Tự hành hão hay thiếu tự trọng trong bản chất sinh ra những trò làm nhục cả cái ngôn ngữ của mình

Sổm cặc kiệt sụ ra nôn, có thể dịch là xuất tinh sớm NGUYỄN ĐĂNG TRỪNG LÀ AI?
http://motgoctroi.com/StLichsu/LSCan...rung_LHDan.htm
NHÂN ĐỌC BÀI GẶP LẠI BẠN CŨ
Mới đây, tôi được thiên hạ gửi cho đọc bài Gặp Lại Bạn Cũ của một tác giả hải ngoại. Ngay đầu bài, tác giả nói ông có nhiều bạn. Trong số đó, có hai người bạn đặc biệt là Nguyễn Đăng Trừng và Lê Hiếu Đằng vì cùng là người có chung trời Quảng Nam, tâm tình Quảng Nam, chung mái trường Phan Chu Trinh, Đà Nẵng, chung Đại Học Luật Khoa, Sài Gòn. Nhưng đáng buồn cho tác giả vì ông và hai ông bạn Trừng, Đằng đã phải li biệt nhau tới 3 lần rồi. Lần thứ nhất là hồi 1967, 1968, sau khi đậu cử nhân Luật, tác giả làm việc trong hệ thống tòa án VNCH còn Trừng và Đằng ra khu theo Cộng sản. Lần thứ hai là khi biến cố 30.4.1975 xẩy ra, Trừng và Đằng từ khu về để ‘bước lên sân khấu chính trị Việt Nam’, còn tác giả lại bị bắt bỏ tù vì tội ‘âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng’. Lần thứ ba là vào năm 1985, tác giả vượt biên và tới Mĩ vào năm 1986.
Mặc dù đã 3 lần li biệt, nhưng tác giả xác định: ‘Biệt ly ba lần hay biệt ly nhiều lần hơn nữa, tôi vẫn không bao giờ quên các bạn Quảng Nam của tôi’ và tác giả ‘bao giờ cũng ấp ủ trong lòng một mơ ước. Ước mơ mai mốt nọ, Quảng-Nam-Trừng và Quảng-Nam-Đằng sẽ làm điều gì đó khiến cho khí phách Quảng Nam bừng bừng sống dậy’.
Theo tác giả: ‘Giờ đây mơ ước kia đã thành hiện thực’.
Hai ông Trừng và Đằng đã làm gì mà khiến cho tác giả cảm thấy sung sướng và công khai lên tiếng nhận bạn bè như vậy?
1. Về Ông Nguyễn Đăng Trừng: Đại biểu Quốc Hội, Chủ tịch Đoàn Luật sư Sài gòn (Chủ nhiệm Đoàn Luật sư Thành phố HCM).
Theo tác giả, trong phiên họp Quốc hội CSVN ngày 02.10.2010, Nguyễn Đăng Trừng, đã ‘bừng bừng khí phách Quảng Nam’ khi ông ta ‘dõng dạc’ lên án cách quản trị doanh nghiệp tại các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước đã chi tiêu bừa bãi, không hiệu quả. Ông Trừng nêu ra việc làm ăn thua lỗ cực kì lớn của Vinashin làm điển hình và gán ‘trách nhiệm đó thuộc về chính phủ, thuộc về thủ tướng’. 2. Về Ông Lê Hiếu Đằng: Phó Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn về dân chủ và pháp luật thuộc Ủy Ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Tác giả trưng ra 2 thành tích của ông Đằng: Ngày 11.11.2010, Ô. Đằng đã gửi cho boxitvn.net bài viết nhan đề ‘Kiến nghị dừng khai thác bauxit do các nhà trí thức khởi xướng phải được công bố cho toàn dân và Quốc hội’. Ngày 15.11.2010, Lê Hiếu Đằng lại gửi cho boxitvn.net bài viết nhan đề: ‘Dân chủ là giải pháp cho các vấn đề của đất nước’. Việc tác giả nhận bạn bè, đề cao bạn bè và hãnh diện về Quảng Nam địa linh nhận kiệt là quyền của tác giả. Thực ra, tôi có đọc đâu đó một vài bài viết khác của tác giả hải ngoại này và xin minh xác: Tôi công nhận tác giả là người quốc gia. Người quốc gia yêu tự do, dân chủ và sẵn sàng tôn trọng ý kiến của người quốc gia khác.
Vả lại, nếu đọc hết bài Gặp Lại Bạn Cũ, độc giả sẽ hiểu thêm thiện chí và lòng ái quốc của tác giả, đồng thời hiểu cái ý nghĩa hết sức nghịch thường của tình bạn ở đây. Tác giả viết: ‘Và ba chúng tôi đã gặp lại nhau. Gặp lại ở đây không có nghĩa là Trừng và Đằng theo tôi hay ngược lại. Gặp lại ở đây chỉ có nghĩa là: Trong hiện tình đất nước, người Việt Nam không có chọn lựa nào khác hơn là hãy cùng nhau đi chung một con đường. Con đường khí phách làm người Việt Nam. Con đường của tự do dân chủ’.
Nghĩa là tác giả làm một chọn lựa thực tế, tuy xác nhận ông và hai người bạn học cũ vẫn còn khác chính kiến, nhưng vì quyền lợi của đất nước, tác giả sẵn sàng đi ‘chung đường’; có lẽ vì tác giả tin là hai người bạn cũ, tuy là Cộng sản, nhưng đang tranh đấu chống tham ô, tắc trách hoặc là đấu tranh cho tự do dân chủ và sự toàn vẹn lãnh thổ?
Đã ghi nhận, có một số đảng viên khi đã về hưu hoặc vừa ra khỏi chính quyền, đã lên tiếng đòi hỏi dân chủ. Thế nhưng với nhiều kinh nghiệm đau thương, những tiếng nói đòi dân chủ hoặc chống bá quyền Trung Quốc hiếm hoi của các đảng viên CS đương quyền, vẫn được người quốc gia ghi nhận một cách hết sức dè dặt. Nguyễn Đăng Trừng và Lê Hiếu Đằng nằm trong trường hợp này.
Nguyễn Đăng Trừng và Lê Hiếu Đằng là sinh viên Việt Cộng hoạt động tích cực trong mặt trận Đại học thời chiến tranh Quốc-Cộng và là hai cán bộ Cộng sản có chức tước địa vị tại thành phố Sàigòn (HCM) sau ngày Cộng Sản Bắc Việt chiếm được miền Nam.
LÊ HIẾU ĐẰNG Nhận thấy Ông Lê Hiếu Đằng trước đây chỉ nắm chức Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Thành phố HCM và nay nắm chức phó một hội đồng tùy phụ của Mặt trận tổ quốc VN. Thời gian gần đây, ông chống giặc Tầu công khai. Ở hải ngoại, ông được một bạn học đề cao qua bài Gặp Lại Bạn Cũ (đã nêu trên); ở trong nước, ông cũng được Gs. Hà Sĩ Phu (tác giả của những bài luận thuyết nổi tiếng Dắt Tay Nhau, Đi Dưới Tấm Biển Chỉ Đường Của Trí Tuệ ,1988 và Chia Tay Ý Thức Hệ, 1995…) ca ngợi với bài viết Cảm Ơn Ông Lê Hiếu Đằng (viết ngày 11.11.2010. thongluan.com).
Mới đây nhất, ngày 27.7.2011, người ta thấy hai ông Lê Hiếu Đằng và Huỳnh Tấn Mẫm cùng một số nhân sĩ trí thức tới Câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình, số 43 Nguyễn Thông (trước 1975, là Cư xá Phục Hưng của các linh mục Dòng Đa Minh, Chi Lyon) để tham dự ‘Lễ tưởng niệm đồng bào, chiến sĩ hi sinh trong chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, Tây Nam, Hoàng Sa và Trường Sa’. Khi trả lời phỏng vấn của báo chí, Ông Đằng có nhắc tới 74 chiến sĩ Hài Quân/QLVNCH đã hi sinh bảo vệ Hoàng Sa trong trận đánh với Hải quân Trung Cộng ngày 19.01.1974 (con số 74 chiến sĩ hi sinh là con số trong bài Tưởng Niệm Chiến Sĩ Hoàng Sa 19,01.1974 đăng trên danchimviet.info).
Trong Hội trường Câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình người ta thấy những người tham dự cầm nhiều tấm biển ghi nội dung rất ‘chiến đấu’, như: ‘Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam’, ‘Yêu cầu nhà cầm quyền không đàn áp biểu tình yêu nước của nhân dân’, ‘Ủng hộ Kiến nghị 10.7.2011 của nhân sĩ, trí thức gởi Quốc Hội & Bộ Chính trị’... Có thật ông Lê Hiếu Đằng đang đi theo tiếng gọi của tổ quốc không hay ông lại đang được lệnh đóng một vở kịch của đảng CSVN để mị dân, để đánh lừa dư luận, để cứu đảng? Tại sao ông ‘được’ chống Tầu Cộng xâm lược thoải mái, đang khi các nhà tranh đấu cho dân chủ cũng muốn chống thì bị canh gác nghiệm ngặt, không cho ra khỏi nhà; còn thanh niên, sinh viên, học sinh đi biểu tình thì bị đàn áp thẳng tay, thậm chí bị đạp thẳng vào mặt? Hay là tại vì đảng sợ diễn biến ‘cách mạng hoa lài’? Thực hư ra sao, có lẽ còn phải quan sát thêm nữa. Do đó, về Ông Lê Hiếu Đằng, xin ‘hạ hồi phân giải’.
NGUYỄN ĐĂNG TRỪNG LÀ AI? Riêng Ông Nguyễn Đăng Trừng, từ khi theo đảng, ông luôn nắm được những vị trí then chốt, đầy quyền lực; chứng tỏ ông là một đảng viên trung kiên, được ‘trên’ đánh giá cao. Nay nhân có người bạn học cũ đề cao ông, thiển nghĩ, nên nói đầy đủ hơn về ông, để độc giả ‘rộng đường dư luận’.
Hiện nay, Nguyễn Đăng Trừng hành nghề luật sư tại Sài Gòn, đồng thời nắm giữ nhiều chức vụ quan trọng tong đảng và nhà nước CSVN: Đại biểu Quốc Hội CS khóa 13 ( Bầu ngày 22.5.2011. Đã là đại biểu QHCS khóa 12), Chủ nhiệm Đoàn Luật sư thành phố HCM (Sài Gòn), nhưng quan trọng nhất là chức vụ Bí thư Đảng ủy Đảng Đoàn Đoàn Luật sư thành phố. Thời học sinh sinh viên: Trừng là người Quảng Nam, sinh 1942. Học trường Trung học công lập Phan Châu Trinh Đà Nẵng, rồi vào học Luật Đại học Sài Gòn. Năm 1965, Trừng bị lao phổi, phải vào Bệnh viện bài lao Hồng Bàng (nay là Bv. Phạm Ngọc Thạch), khu dành riêng cho sinh viên. Nghĩa là thời sinh viên học sinh, Trừng được VNCH đào tạo và chữa trị miễn phí. Công lao đào tạo và chữa bệnh cho Trừng của VNCH coi như là nuôi ong tay áo. Khi đủ nanh vuốt, Trừng sẽ cắn cổ VNCH.
Thật vậy, ngay từ những năm 1967, 1968, Trừng đã tham gia tích cực vào phong trào sinh viên thân Cộng chống chính quyền VNCH. Vì có thành tích cho nên Trừng được kết nạp vào Đoàn Thanh niên Cách mạng Việt Nam và được Thành Đoàn Cộng Sản chỉ định ra tranh cử chức Chủ tịch Ban đại diện sinh viên Luật khoa 1967-1968 (Thành đoàn tức là Đoàn Thanh niên Lao động (sau đổi là Cộng Sản) Hồ Chí Minh hoạt động chuyên trách về thanh niên, sinh viên, học sinh ở nội thành Sài Gòn – Gia Định và vùng ngoại ô. Theo Trần Bạch Đằng thì năm 1966, Nguyễn Văn Linh, lúc là Phó Bí thư Trung ương Cục kiêm Bí thư Khu ủy Sài Gòn – Gia Định là ‘bố đẻ’ của Thành đoàn (Nhịp Khúc Lên Đàng, trang 498) ), rồi Chủ tịch Ban chấp hành Tổng hội sinh viên Sài Gòn niên khóa 1967-1968, kiêm Chủ nhiệm tờ báo Sinh Viên (của nhóm sinh viên thân Cộng). Năm1968, sau khi quân dân VNCH đánh bại cuộc Tổng công kích Tống tấn công do CS Hà Nội phát động vào dịp Tết Mậu Thân ít lâu, Trừng thoát li ra khu.
Khoảng thời gian từ 1968 tới 1969: Trừng được cử làm Ủy viên Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hòa bình Việt Nam Khu Sài Gòn – Gia Định, rồi Ủy viên Chủ tịch đoàn Đại hội đại biểu Quốc dân Cộng hòa Miền Nam Việt Nam để bầu ra cái gọi là Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam. Cả hai đều là những tổ chức của CSVN trá hình để đánh lừa dư luận trong và ngoài nước.
Khoảng thời gian từ 1969 tới 1972: Trừng được điều về Ban Thanh vận Trung ương Cục Miền Nam và được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Việt Nam ngày 12.4.1971.
Khoảng thời gian từ 1972 tới 1975: Trừng là cán bộ Ban An ninh T 4 trực thuộc Đặc khu Sài Gòn – Gia Định.
Sau 30.4.1975: Khi Cộng Sản Hà Nội chiếm trọn Miền Nam, từ mật khu trở về, Nguyễn Đăng Trừng được giao cho làm Phó Trưởng phòng bảo vệ chính trị 3 thuộc Công An Thành phố (tiền thân của nó là Ban an ninh T 4 khi còn ở ngoài mật khu). Khoảng thời gian từ 1982 tới 1989: Nguyễn Đăng Trừng là Bí thư Chi bộ Sở Tư pháp thành phố HCM. Khoảng thời gian từ 1989 tới 1995: Trừng là Phó Chủ nhiệm thường trực Đoàn Luật sư thành phố HCM. (Ngành luật sư tại nước ta có từ năm 1867. Khi Cộng sản chiếm được Miền Nam, ngành luật sư bị bãi bỏ và chỉ cho tái lập ngành này vào năm 1989, sau khi CS đã nắm chắc được tình hình Miền Nam). Khoảng thời gian từ 1995 cho tới nay: Nguyễn Đăng Trừng là Chủ nhiệm kiêm Bí thư Đảng Đoàn Đoàn Luật sư thành phố HCM. (Hiện nay đoàn có 4.230 thành viên, 2.881 luật sư và 1.349 luật sư tập sự). Về huân chương, Nguyễn Đăng Trừng đã được tặng thưởng Huân chương Quyết thắng hạng 1 và Huân chương Kháng chiến hạng 3. Trừng đã từng được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc VN thành phố HCM gìới thiệu ra ứng cử Đại biểu Quốc hội; lần mới nhất được giới thiệu ra ứng cử Đại biểu QH. Khóa 13, đơn vị bầu cử số 1, gồm 3 quận 1, 3 và 4, bầu ngày 22.5.2011.
MỘT SỐ GHI NHẬN KHÁC
Ghi nhận một: Hồi còn trong tù cải tạo, lúc bên ngoài sắp tổ chức bầu cử Quốc hội CS, tôi tình cờ thấy trên báo đảng CS một bài viết kí tên Nguyễn Đăng Trừng. Thời gian quá lâu, tôi không còn nhớ hết nội dung bài viết, nhưng tôi không bao giờ quên cái đinh của bài viết, đó là Trừng khẳng định chỉ có chế độ xã hội chủ nghĩa mới có sự bầu cử tự do thực sự, tự cổ chí kim chưa có chế độ nào được như thế. Lí do thứ hai khiến tôi không bao giờ quên được bài viết ấy vì điều Trừng khẳng định quá trơ trẽn, trơ trẽn đến khôi hài. Mặc dù ngày xưa Trừng lo tranh đấu hơn là lo học, nhưng chắc chắn anh ta không thể nào quên được lí thuyết phân quyền danh tiếng của Montesquieu được dùng làm nền tảng hiến pháp của các nước văn minh tiến bộ trên thế giới. Tại các nước Cộng sản, tuy độc tài, toàn trị, nhưng vẫn phải đóng kịch trình diễn một bộ mặt chính quyền dựa trên tam quyền phân lập. Kì thực, tất cả quyền hành đều tập trung trong tay Đảng CS, thực tế là trong tay một số các ủy viên trong Bộ chính trị. Cho nên, đối với một đảng viên trung kiên như Trừng, tính hồng vẫn hơn chuyên, nghĩa là luật là thứ yếu, đảng trên hết. Khi đảng trên luật pháp, thì cái gọi là luật chỉ là luật rừng. Làm sao có tự do bầu cử, khi dân chỉ được bầu cho nhửng người do đảng cử?
Ghi nhận hai: Vào khoảng 1989, sau khi mới ra khỏi tù CS ít lâu, trong bữa tiệc mừng tân gia của người bà con, tôi gặp lại một anh bạn cùng trường, cùng nghề nghiệp, cùng đi cải tạo dài hạn. Anh bạn kể, anh mới tới văn phòng của bạn học cũ là Nguyễn Đăng Trừng. Trừng bảo anh: ‘Về lo làm ăn chân chính. Đừng chống. Chống không nổi đâu’! Nghe xong, tự nhiên tôi nghĩ đến câu chuyện Sào Phủ - Hứa Do trong sách giáo khoa thuở xưa. Hứa Do được tiếng là người hiền, vua Nghiêu vời vào để truyền ngôi. Hứa Do từ chối, cười mà về rồi ra suối rửa tai. Khi đó, Sào Phủ dắt trâu ra suối uống nước, thấy Hứa Do rửa tai, bèn hỏi tại sao. Hứa Do trả lời: ‘Ông Nghiêu gọi tôi vào, bảo tôi làm vua’. Nghe xong, Sào Phủ dắt trâu lên dòng nước phía trên cho uống nước. Hứa Do hỏi tại sao, Sào Phủ bảo: ‘Anh rửa tai anh xuống đó, tôi sợ trâu tôi uống phải nước dơ’. Sào Phủ nói tiếp: ‘Anh đi đâu cho người ta biết mà muốn truyền ngôi cho anh, ấy là tại bụng anh vẫn còn danh lợi’. Nhà văn hóa Huỳnh Tịnh Của phê: ‘Nghe mà rửa, chi bằng giữ vẹn đừng nghe’. Cả câu chuyện của hai bậc hiền nhân không ăn nhập gì với câu chuyện của anh bạn tôi, ngoại trừ câu phê bình của nhà văn hóa Huỳnh Tịnh Của. Có lẽ anh bạn tôi tưởng bạn bè là bạn bè, chính trị là chính trị. Tiếc là người Cộng Sản lại đặt đảng lên trên tất cả.
Ghi nhận ba: Ls. Nguyễn Đăng Trừng và việc thành lập Hội đồng Lâm thời Luật sư Toàn quốc. Hồi 2008, nhằm khống chế các đoàn luật sư trong cả nước, Đảng CSVN đã ra lệnh cho Bộ Tư pháp CSVN chuẩn bị thành lập Liên đoàn Luật sư toàn quốc, khởi đầu bằng lập ra Hội đồng Lâm thời Luật sư toàn quốc. Bộ Tư pháp CSVN đã cử ra một người không xuất thân luật sư là cựu thẩm phán Lê Thúc Anh làm chủ tịch. Thấy vậy, ngày 11.6.2008, lấy cớ đây là một hội nghề nghiệp của giới luật sư, không phải là cơ quan nhà nước, Ls. Nguyễn Đăng Trừng , Chủ nhiệm Đoàn Luật sư Thành phố HCM, đã gửi thư lên Bộ trưởng Tư pháp xin rút tên ra khỏi Hội đồng Lâm thời, nguyên văn mở đầu như sau: ‘ Kính gởi: Đồng chí Hà Hùng Cường, Bộ trưởng Tư pháp, Trưởng Ban Chỉ đạo Đại hội Đại biểu Luật sư toàn quốc lần thứ nhất. Trích yếu: V/V thông báo rút tên ra khỏi Hội đồng Lâm thời Luật sư toàn quốc’ (hcmbar.org).
Xin độc giả lưu ý: Bộ trưởng Tư pháp là đồng chí, chánh án là đồng chí và chủ nhiệm đoàn luật sư cũng là đồng chí, mà lại còn là Bí thư đảng ủy đảng Đoàn Luật sư. Vậy còn nói chi tới nguyên tắc ‘pháp bất vị thân’ hay là tính dân chủ và quyền tự quản của nghề luật sư. Mặc dù đây là câu chuyện giữa các ‘đồng chí’ với nhau, nhưng bên ngoài có dư luận cho đây là hành động ‘mang tính li khai chưa từng xẩy ra ở Việt Nam’; ngược lại có người lại bảo chẳng qua vì ông Trừng không được chia ghế trong Hội đồng Lâm thời của tổ chức luật sư toàn quốc và trong Liên đoàn luật sư toàn quốc trong tương lai, cho nên mới ra nông nỗi. Nếu như Bộ Tư pháp mời ông Trừng một chân coi được được một chút thì chắc ông ta đã không xin rút tên như vậy.
Mặc dù Ls. Trừng đã chính thức xin rút tên, nhưng ‘Ban Chỉ đạo’ lại không chấp thuận, lấy lí do việc rút tên của ông Trừng ‘không chính đáng’. Có kẻ lo xa cho tương lai của ông Trừng: ‘Phải giử Ls. Trừng lại mới ‘kiểm soát’ được chứ. Một thời gian sau, ta sẽ vạch lá tìm sâu, rồi đuổi Ls. Trừng ra khỏi tổ chức. Lúc đó Ls. Trừng mới biết chống lại đảng là có hậu quả như thế nào’.
Ngày 10.5.2009 khai mạc Đại hội Đại biểu Luật sư toàn quốc, Ông Trừng còn lên diễn đàn đòi chức chủ tịch Liên đoàn Luật sư VN phải do tất cả các đại biểu bầu trực tiếp để bảo đảm nguyên tắc tự quản, độc lập và dân chủ. Nhưng vô vọng, vì mọi chức vụ đã có ‘trên’ lo xong cả rồi. Tất cả là một kịch bản soạn sẵn. Chẳng lẽ Ô.Trừng là đảng viên mà không biết cách làm việc ‘đơn giản, gọn nhẹ’ cố hữu của đảng sao.
Nhà văn Nguyên Ngọc, một cựu đảng viên kì cưu đã từng nhận xét: ‘…Các hội chúng ta đang có, tất cả, đều thực chất là một kiểu cơ quan nhà nước không hơn không kém, việc chúng đều được nhà nước trả lương là một bằng chứng không thể chối cãi. Và như vậy thì tất yếu không có xã hội dân sự. Chỉ còn có độc quyền, ‘độc điều hành’, ‘độc chỉ huy’ của nhà nước…’ (Nguyên Ngọc. Hộp vuông và khối tròn. x-cafevn.org).
Ghi nhận bốn: Nguyễn Đăng Trừng và vụ án Ls. Lê Công Định Bắt đầu từ tháng 6 năm 2009, vụ án Ls. Lê Công Định nổ ra, làm xôn xao dư luận trong và ngoài nước. Vụ án này không là chủ đề của bài viết, cho nên, sau đây, chỉ nêu lên những chi tiết liên quan tới nhân vật Nguyễn Đăng Trừng. Ls. Lê Công Định là phó chủ nhiệm Đoàn luật sư Thành phố HCM. nhiệm kì 2005-2008 mà chủ nhiệm là Ls. Nguyễn Đăng Trừng. Hai người đã từng sát cánh trong một số hoạt động đáng chú ý; chẳng hạn như ngày 05.01.2008, Ls. Lê Công Định và Ls. Nguyễn Đăng Trừng đã cùng hơn 2.000 thành viên trong đoàn luật sư thành phố đứng lên giơ tay biểu đồng tình một Bản tuyên bố lên án Quyết định thành lập thành phố Tam Sa của Trung Cộng. Bản Quyết định do chính Ls. Lê Công Định thảo ra. Ngày 13.6. 2009, Ls. Lê Công Định bị Công an CS Việt Nam bắt khẩn cấp với lí do ‘có các hành vi cấu kết với bọn cầm đầu phản động nước ngoài chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam’. Công An nói họ đã thu được rất nhiều tài liệu, chứng cứ âm mưu lật đổ Nhà nước Việt Nam của Ls.Định.
Ls. Lê Công Định bị bắt được 5 ngày (bắt 13.6.2009), mới chỉ có lời công bố tội trạng của Công an (18.6.2009), còn lâu tòa mới xét xử (xử 20.01.1010) thì ngay chiều ngày 22.6.2009, Nguyễn Đăng Trừng, Chủ nhiệm Đoàn Luật sư Thành phố HCM., thay mặt Ban Chủ nhiệm kí quyết định xóa tên Ls. Lê Công Định ra khỏi đoàn luật sư Thành phố HCM. Lí do đưa ra là Ls. Lê Công Định ‘đã có hành vi vi phạm pháp luật, bị cơ quan an ninh điều tra khởi tố và bắt tạm giam, vi phạm điểm g, khoản 1, điều 9 Luật Luật sư; điều 1 và điếu 2 Quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư’.
Ngao ngán thay cho tình đồng nghiệp (có thể có cả tình bạn) của Nguyễn Đăng Trừng. Xin nhắc lại, Ls. Lê Công Định là Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư thành phố nhiệm kì 2005-2008, mà Ls. Trừng là Chủ nhiệm. Đường đường là một chủ nhiệm luật sư đoàn mà lúc nào cũng sẵng sàng tuân theo lệnh đảng, thì đề nghị Ls. Nguyễn Đăng Trừng hãy từ bỏ nghề luật sư và trở về với Ban An ninh T4, với Phòng bảo vệ chính tri của Công an cũ của ông. Như thế có lẽ hợp với khả năng của ông hơn.
Đồng nghiệp vừa mới bị Công an bắt giam, thay vì tìm cách biện hộ, lại vội vàng đi trước pháp luật, xóa tên người đồng nghiệp ra khỏi luật sư đoàn, thì coi như Nguyễn Đăng Trừng đã biến Công an thành Công tố, biến Công tố thành Xử án và như thế có phải là tự hủy đi vai trò biện hộ của tất cả các luật sư trong cả nước?
Thẩm phán Phan Quang Tuệ, Chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam Nam California phê bình về quyết định xóa tên Ls. Lê Công Định ra khỏi đoàn luật sư Thành phố HCM như sau: ‘Với quyết định này, mà theo tôi, không cần phải có, Ban Chủ Nhiệm đã khai tử ngành biện hộ vừa chớm nở, tự tạo thêm những khó khăn cho chính giới luật sư. Khi rút giấy phép hành nghề của đồng nghiệp Lê Công Định, vô tình quý vị đã tự thu hẹp lãnh vực hành nghề của tất cả các luật sư Việt Nam vốn đã vất vả trong đời sống nghề nghiệp hàng ngày dưới chế độ luật pháp hiện nay trong nước’ . (Thư ngỏ kính gửi Luật sư Nguyễn Đăng Trừng Chủ nhiệm Đoàn Luật sư TP HCM. Thẩm Phán Phan Quang Tuệ. July 17, 2009. viettribune.com).
Ghi nhận năm: Bauxit và biển đảo. Đây là chuyện sống chết của cả dân tộc. Mặc dù biết đảng CSVN đã phạm tội tày trời buôn dân bán nước, nhưng một số đảng viên còn chút liêm sỉ, chí ít cũng đã lên tiếng, chỉ lên tiếng thôi, để tránh né được phần nào những mũi tên bắn căm phẫn của đồng bào cả nước, để còn dám mở miệng nói hai chữ Tổ Quốc thiêng liêng. Cứ cho là Nguyễn Đăng Trừng là loại đảng viên đó, vì đã ghi nhận một số lần Đoàn Luật sư thành phố HCM và cá nhân ông Trừng lên tiếng trên báo chí và trên diễn đàn Quốc Hội nhà nước CSVN về chủ quyền biển đảo nước ta. Chẳng hạn như Tuyên bố ngày 28.01.2008 của Đoàn Luật sư thành phố HCM Việt Nam có chủ quyền bất khả xâm phạm đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Ô. Trừng cũng lên tiếng tại Quốc Hội CSVN ngày 29.4.2009 yêu cầu Quốc Hội CSVN ‘không thể trì hoãn ban hành luật biển’.... Thế nước nguy biến, chúng ta phải ghi nhận bất cứ hành động nào nhằm bảo vệ chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của bất cứ ai, không phân biệt người đó thuộc thành phần nào.
Song cũng không quên nhắc cho ông Nguyễn Đăng Trừng 3 tội tày trời mà đảng CSVN đã phạm phải về vấn đề biển đảo của nước ta như sau:
Một: Ngày 14.9.1958, Thủ tướng CS Bắc Việt Phạm Văn Đồng gửi công hàm cho Thủ tướng Trung Cộng Chu Ân Lai xác nhận ‘tán thành’ và ‘tôn trọng’ Quyết định của Trung Cộng về hải phận của họ (theo tham vọng bành trướng của họ).
Hai: Hai ngày 03,04 tháng 9 năm 1990, Tổng Bí thư CSVN Nguyễn Văn Linh, Thủ tướng Đỗ Mười, Cố vấn Phạm Văn Đồng đã bí mật sang Trung Cộng gặp gỡ Tổng Bí thư Đảng CSTQ Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lí Bằng tại Thành Đô, Thủ phủ Tỉnh Tứ Xuyên, theo sáng kiến của Đặng Tiểu Bình. Gặp để làm gì mà phải gạt cả Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch ra, không cho tham dự, đến nỗi Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch phải than: ‘Thế là một cuộc Bắc thuộc mới rất nguy hiểm đã bắt đầu’! Sau đó Ông Thạch bị mất chức và bị đá văng ra khỏi mọi chức vụ. Từ đó, đất nước Việt Nam thân yêu chịu biết bao nhiêu điều cay đắng tủi nhục vì tham vọng cướp đất cướp biển của bọn bá quyền Bắc Kinh. (xin đọc Bùi Tín. Thời kỳ ‘Bắc thuộc mới’. diendannguoidanvietnam.com).
Ba: Ngày 25.6.2011, Thứ trưởng ngoại giao CSVN Hồ Xuân Sơn đi Bắc Kinh gặp Thứ trưởng Ngoại giao Trung Cộng là Trương Chí Quân. Sau cuộc họp này, vào ngày 28,6.2011, Tân Hoa Xã của Trung Cộng công khai kêu gọi Việt Nam thi hành thỏa thuận song phương về vấn đề «biển Nam Trung Hoa» mà 2 bên vừa đạt được. Cùng ngày 28-6, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Cộng là Hồng Lỗi họp báo, cột chặt phía Việt Nam vào cái gọi là ‘hiểu biết chung về thỏa thuận đã đạt được’, mà 2 nội dung quan trọng nhất là «giải quyết tranh chấp bằng tham khảo hữu nghị song phương», tránh các động thái có thể làm cho tình hình trầm trọng hay phức tạp thêm, và ‘hai bên phản đối những thế lực bên ngoài can dự vào cuộc tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam’. Điều này có nghĩa là muốn loại hẳn Hoa Kì ra khỏi vùng biển chiến lược, để cho Trung Cộng vùng vẫy một mình một cõi!
Trước sự yên lặng có vẻ vụng trộm của chính quyền CSVN, 15 trí thức trong nước, vào ngày 04.7.2011, đã gửi kiến nghị yêu cầu Bộ ngoại giao CSVN phải cung cấp tin tức về cuộc gặp gỡ này. Các vị trí thức ấy muốn biết xem có đúng như phía Trung Cộng tuyên bố không. Bộ Ngoại giao CSVN vẫn chưa dám xác nhận điều gì.
Dư luận còn thắc mắc tại sao Trương Chí Quân đưa Hồ Xuân Sơn tới gặp Đới Bình Quốc là một trong 5 ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc, người có cương vị về ngoại giao còn cao hơn cả Bộ trưởng Ngoại giao Trung Cộng là Dương Khiết Trì. Chắc là không phải để đi chào xã giao, cũng không phải để bàn bạc tay đôi, mà là để nhận chỉ thị.
Hậu quả của những cuộc đi đêm tại Bắc Kinh có tính cách ‘triều yết’ đó có thể thấy được phần nào qua những dấu chỉ như sau: Cuộc xuống đường chống bá quyền Trung Cộng vào ngày Chủ nhật 10.7 đã bị đàn áp mạnh tay hơn trước. Các phương tiện truyền thông trong nước đồng loạt dịu giọng: hãy để cho chính phủ thương lượng song phương giải quyết mọi sự, giữ tình hữu nghị truyền thống, tránh gây thêm phức tạp… Cuộc họp lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN khóa XI diễn ra suốt 7 ngày, không có một ai đề cập tới tình hình biển Đông, và về quan hệ Việt – Trung, quan hệ Việt – Mỹ. (Xin đọc Bùi Tín. Hoài Nghi về cuộc gặp giữa ông Hồ Xuân Sơn và ông Đới Bình Quốc tại Bắc Kinh. wordpress.com).
Ghi nhận sáu: Quốc nạn tham nhũng. Xin trở lại với đoạn văn trong bài Gặp Lại Bạn Cũ: Trong phiên họp Quốc hội CSVN ngày 02.10.2010, Nguyễn Đăng Trừng, đã ‘bừng bừng khí phách Quảng Nam’ khi ông ta ‘dõng dạc’ lên án cách quản trị doanh nghiệp tại các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước đã chi tiêu bừa bãi, không hiệu quả. Ông Trừng nêu ra việc làm ăn thua lỗ cực kì lớn của Vinashin làm điển hình và gán ‘trách nhiệm đó thuộc về chính phủ, thuộc về thủ tướng’.
Chỉ bấy nhiêu thôi, có đủ để ông Nguyễn Đăng Trừng được tung hê là ‘bừng bừng khí phách Quảng Nam’ không?
Thực sự thì Ông Trừng chỉ mới chống tham nhũng đây thôi. Theo châm ngôn ‘ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau’, ông lên tiếng chống tham nhũng sau nhiều nhân vật lãnh đạo đảng và nhà nước, sau nhiều Đại hội Trung ương đảng. (Ở đây không cần kể tới các nhà tranh đấu dân chủ ngoài đảng khác). Ông xếp lớn cũ của Trừng là Trần Bạch Đằng (khi Trừng mới là Đoàn viên thì Trần Bạch Đằng đã là Bí thư Đặc khu ủy Sàigòn – Gia Định) đã lên tiếng chống tham nhũng từ lâu, chống nhiều lần, ngay từ những năm 1990. Khoảng 20 trong số 439 bài viết của Trần Bạch Đằng trong cuốn Tuyển tập Trần Bạch Đằng (gần ngàn trang, do Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2007) là để chống nạn tham nhũng, tệ nạn quan liêu, thu tiền mãi lộ, hối mại quyền thế…Nhưng ông Trần Bạch Đằng chỉ nói mồm, mục đích để chỉnh đảng, cứu đảng. Muốn đổi mới mà sợ xáo trôn, sợ ‘thế lực thù địch’ lợi dụng. Cho nên cũng như nước đổ lá khoai, như tiếng kêu trong sa mạc. Để được tiếng ‘đời nay chỉ mình ông thức’!
Chính Ông Trừng, với tư cách Đại biểu Quốc Hội, trong bản Góp ý dự thảo văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, đã ví von như sau: ‘Chống tham nhũng ở nước ta giống như dòng văn học cuối thế kỷ 19 - hiện thực phê phán - thấy hiện trạng nhưng không có giải pháp tháo gỡ’. Thưa có chứ, có giải pháp chứ, nhưng đảng CSVN không dám và không muốn làm. Bởi vì tham nhũng làm mất uy tín của đảng, nhưng diệt tham nhũng coi như là giết đảng. Tất cả những chế độ độc tài đều phải nắm lấy các nguồn lợi kinh tế tài chánh, và dùng các nguồn lợi này để chia chác cho những lực lượng có khả năng bảo vệ cái chế độ độc tài đó. Cho nên nếu trong sạch, trong sáng, công bình, thượng tôn pháp luật thì ‘bỏ mẹ’ đảng!
Lịch sử đang lặp lại. Hồi giữa thế kỉ 19, vua Tự Đức và triều đình nhà Nguyễn có nghe biết, nhưng không chịu quyết tâm đổi mới kịp thời, cho nên không đủ sức bảo vệ đất nước thoát khỏi tay bọn thực dân Pháp. Ngày nay, đảng CSVN còn biết rõ hơn nữa rằng đất nước đang cần tự do, dân chủ để có lãnh đạo tài đức, hầu cứu nguy dân tộc trước kẻ thù hung hãn truyền kiếp phương Bắc; nhưng vì sợ mất đảng, vì sợ mất quyền lợi bất chính của giới cầm quyền, cho nên họ dứt khoát chọn con đường mãi quốc cầu vinh, mặc kệ dân, mặc kệ nước.
Nếu mà đảng thật lòng muốn diệt trừ quốc nạn tham nhũng thì đảng đã nghiêm túc nghiên cứu những đề xuất của các trí thức yêu nước chân chính. Một trong những đề xuất ấy là đề xuất của Ls. Lê Công Định: Tháng 3 năm 2009, trong bài "4 giải pháp chống tham nhũng" đăng trên báo Tia Sáng, Ls. Lê Công Định cho rằng các biện pháp nhà nước đã ban hành nhằm chống tham nhũng chỉ mang tính hình thức nhiều hơn thực chất, không đảm bảo hiệu quả…
Ông đề ra 4 giải pháp như sau: từ bỏ cơ chế xin cho, cấp phép vì đó là gốc rễ của tham nhũng; tư pháp độc lập và chuyên nghiệp vì đó là công cụ trừng trị tham nhũng công minh và hiệu quả; người dân có quyền khởi kiện (tạm thời thông qua tòa hành chính và lý tưởng là trước Tòa Bảo hiến) các văn bản pháp quy để cơ quan công quyền thận trọng khi ban hành văn bản vi phạm quyền lợi hợp pháp của dân; cuối cùng là quyền được tự do thông tin của người dân thông qua báo chí và truyền thông. (Wikipedia.org/Lê Công Định).
Theo các phân tích quốc tế khách quan, Việt Nam không phải là nước duy nhất có nạn tham nhũng tồi tê. Nhưng ở các nước khác, dân nước họ điêu đứng vì nạn nội thù tham nhũng, nhưng may mắn, họ không sợ mất nước. Riêng Việt Nam ta hiện nay, tứ bề thọ địch, phải chống một lúc cả nội thù là quốc nạn tham nhũng gắn liền với đảng CSVN độc tài toàn trị, lẫn kẻ ngoại thù ngàn đời phương Bắc. Đánh thằng giặc nào trước? Không thể đánh được giặc ngoại xâm hung hiểm, nếu không có sự đoàn kết dân tộc. Mà làm sao có thể đoàn kết với bọn buôn dân bán nước là đảng CSVN?.
THAY LỜI KẾT Bởi vì bài này có mục đích cung cấp thêm dữ kiện để độc giả ‘rộng đường dư luận’, và để chính độc giả sẽ rút ra kết luận cho mình về hai nhân vật Nguyễn Đăng Trừng và Lê Hiếu Đằng. Vậy để thay cho lời kết, tôi xin trích dẫn lời Gs. Nguyễn Văn Trung đã chỉ ra quan niệm về bạn - thù của người quốc gia và người Cộng sản khác nhau như thế nào: ‘Sách lược Lêninít, Stalinít chủ trương phân biệt bạn thù dứt khoát, quyết tâm tiêu diệt kẻ thù, biến cả học sinh, sinh viên thành những người cuồng tín, đặc biệt trong nhũng đội quyết tử ám sát kí giả (Từ Chung, Chu Tử), thày học của mình (giáo sư Trần Anh, giáo sư Nguyễn Văn Bông) và ngay cả bạn học (Lê Khắc Sinh Nhật, Bùi Hồng Sĩ). Tôi vẫn còn giữ một danh sách của đội quyết tử cảnh cáo một số sinh viên thuộc các phân khoa như Ngô Thế Vinh (Y khoa). Trước một quyết tâm như vậy, phe Quốc gia không phân biệt bạn thù dứt khoát, mơ hồ, vô tình hay cố ý tham gia những hành động tự diệt’… ‘Ngoài ra biết bao người, kể cả Tướng, Tá trong quân đội, viên chức, biết rõ (không phải tình nghi, chụp mũ) người nọ người kia là Việt cộng nằm vùng mà không tố cáo vì đặt tình người, tình bạn trên những lựa chọn chính trị. Tôi xin kể một trường hợp: Trong một buổi họp mặt ăn uống ở nhà Hồ thành Đức – Bé Ký, một sinh viên tranh đấu đang giữ vai trò lãnh đạo hội Trí thức Yêu nước hỏi tôi: Thầy có nhớ mấy anh bạn học cũ hiện ở đâu không? Trước 1975 em hoạt động nội thành thỉnh thoảng gặp bạn học đang canh gác khu vực em công tác, tụi này nói chuyện, rồi họ nói: ‘Thôi mày đi nơi khác, ra khỏi khu vực của tao phụ trách’, mà không tố cáo bắt em. Tôi hỏi lại: ‘Nếu bây giờ mấy anh ấy hoạt động chống Cộng trong khu vực của anh phụ trách, anh có bắt không? Bắt chứ’! (Nguyễn Văn Trung. Đôi điều trao đổi với nhà văn Mai Kim Ngọc. Tạp chí Văn Học, Hoa Kì, Số 124. Tháng 8 năm 1996. Trang 68, 69).
Cựu Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên xô M. Gorbachev thú nhận: ‘Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lí tưởng Cộng sản. Ngày hôm nay tôi phải đau buồn mà nói rằng: Đảng Cộng sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá’. Cố Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu cũng nói một câu để ngàn đời: ‘Đừng nghe những gì CS nói, mà hãy nhìn kỹ những gì CS làm’.
*Bạch Diện Thư Sinh
|
|
Những nội dung khác:
|
|
|
 |
|