 |
 |
Các chuyên mục |
|
Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm
Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal
Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat
Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục
Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói
Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí
Web links
Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo
Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng
Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP
|
|
|
|
Xem bài theo ngày |
|
| Tháng Sáu 2026 | | T2 | T3 | T4 | T5 | T6 | T7 | CN |
| 1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
| 8 |
9 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
| 15 |
16 |
17 |
18 |
19 |
20 |
21 |
| 22 |
23 |
24 |
25 |
26 |
27 |
28 |
| 29 |
30 |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Thống kê website |
|
 |
Trực tuyến: |
8 |
 |
Lượt truy cập: |
29327759 |
|
|
|
|
| |
|
 |
 |
|
|
|
Toàn dân đứng lên chống lại TQ và đảng CSVN tay sai bán nước
21.07.2014 00:29
NHÀ CẦM QUYỀN CSVN NGĂN CẤM NGƯỜI DÂN TƯỞNG NIỆM CÁC LIỆT SỸ HY SINH TRONG CUỘC CHIẾN CHỒNG TRUNG CỘNG XÂM LƯỢC - TIẾT LỘ CỦA THIẾU TƯỚNG LÊ DUY MẬT VỀ HÀNH ĐỘNG BÁN NƯỚC CỦA ĐẢNG VÀ NƯỚC CỘNG SẢN VIỆT NAM
http://dzungm86.blogspot.ca/2012/06/tuong-le-duy-mat-chi-huy-truong-mat.html
TQ SÁT HẠI TƯỚNG LÃNH CSVN: Về vụ tử nạn máy bay của Trung tướng Tổng tham mưu trưởng Đào Trọng LịchNgày 25/5/1998 một tai nạn máy bay thảm khốc đã xảy ra ở Lào đã làm cho Đoàn tướng lĩnh cấp cao của quân đội nhân dân Việt Nam có 20 sĩ quan trung, cao cấp hy sinh, trong đó có 5 vị tướng và 5 vị đại tá, một người là con trai duy nhất của Đại tướng Chu Huy Mân (nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị): 1-Trung tướng Đào Trọng Lịch-Tổng tham mưu trưởng 2- Trung tướng Trần Tất Thanh-Tư lệnh Quân khu 2 3- Thiếu tướng Trần Minh Thiết 4- Thiếu tướng Vũ Xuân Thuỷ 5- Thiếu tướng Phạm Minh Thanh 6- Đại tá Hoàng Bình Quân 7- Đại tá Lai Thế Cường 8- Đại tá Cao Tiến Lãm 9- Đại tá Ngô Quang Vinh 10- Đại tá Lê Văn Hân … Điều xót xa là: những người bị tử nạn trong đó nhiều sĩ quan từng là sĩ quan chỉ huy chống bành trướng Trung Quốc ngoan cường tại mặt trận Vị Xuyên, Hà Giang: Tham mưu trưởng Đào Trọng Lịch, ông đang chuẩn bị vào vị trí Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Tướng Đào Trọng Lịch nguyên là Sư đoàn trưởng Sư 316; Tướng Trần Tất Thanh, Nguyên Sư đoàn trưởng Sư 31? Có một người là con trai duy nhất của Đại tướng Chu Huy Mân, anh là Trung tá Chu Thế Sơn, cán bộ Cục Tác chiến, Bộ Tổng tham mưu. Một cán bộ khác tên là Đoàn đã quyết định không đi cùng chuyến bay vào giờ chót nên đã sống sót. Tuy nhiên, như một định mệnh, cán bộ này đã tử nạn trong vụ tai nạn máy bay trực thăng 5 năm sau tại Hòn Mê (Thanh Hóa) ngày 26/1/2003 trong vụ đó Tư lệnh quân khu 4, Tham mưu trưởng QK4 đã tử nạn. Về vụ tai nạn máy bay này, đã có một vài thông tin đề nghị tìm hiểu xem có liên quan gì tới Hoa Nam tình báo của Trung Quốc không? Để có thêm thông tin, chủ blog đã tìm gặp Tướng Lê Duy Mật, ông nguyên là Tư lệnh Mặt trận Hà Giang trong giai đoạn 1984-1988, là cấp trên của Tướng Đào Trọng Lịch và Trần Tất Thanh; Thời điểm chiến tranh hai vị này mang quân hàm Đại tá…Sau đây lời kể của Tướng Lê Duy Mật về vụ tai nạn máy bay này Theo Blog Phạm Viết Đào XEM VIDEO: http://caunhattan.wordpress.com/2012/07/28/lo-mat-luu-manh-cua-lanh-dao-ha-noi/ Phạm Viết Đào
Tướng Lê Duy Mật là một trong những vị tướng trung dũng của Quân đội nhân dân Việt Nam; Ông sinh năm 1929 tại Thủy Nguyên, Hải Phòng... Ông trùng tên với Lê Duy Mật (-1770) là thủ lĩnh một cuộc khởi nghĩa lớn chống lại chúa Trịnh vào giữa thế kỷ 18. Cuộc khởi nghĩa được hình thành và phát triển cùng với các cuộc khởi nghĩa khác trong phong trào khởi nghĩa nông dân Đàng Ngoài và được gộp chung vào phong trào này.Ông là hoàng thân nhà Hậu Lê, con thứ vua Lê Dụ Tông (1705-1729)...Không rõ Tướng Lê Duy Mật có cùng dòng họ với vị Thủ lĩnh Lê Duy Mật này không ? Tướng Lê Duy Mật có mặt trong đội quân của Tướng Nguyễn Bình, giải phóng và xây đặc khu Đông Triều; đặc khu giải phóng này được xây dựng trước khi cách mạng tháng Tám thành công; Lê Duy Mật là đồng đội cùng với các tướng lĩnh lừng danh sau này như Thượng tướng Hoàng Minh Thảo chiến đấu tại đặc khu Đông Triều... Năm 1953 sau khi cộng tác với ông Đỗ Mười, Chính ủy Quân khu Tả ngạn vào tiếp quản “Khu 300 ngày “, ông được bổ nhiệm từ Trung đoàn phó lên Trung đoàn trưởng Trung đoàn Trung Dũng ( E 238 )... Năm 1963, ông là một trong những sĩ quan cao cấp được cử vào Nam chiến đấu từ trên những chiếc tàu không số xuất phát từ Hải Phòng...Vào Nam ông được giao trọng trách Tư lệnh phó-Tham mưu trưởng Quân khu 8 và Quân khu 9; ông chiến đấu tại miền Tây Nam bộ 10 năm; Năm 1975 ông được điều về làm Cục phó Cục Tác chiến... Sau khi giải phóng miền Nam, Tướng Lê Duy Mật được điều sang Cămpuchia dưới quyền chỉ huy của Tướng Lê Đức Anh... Năm 1981 ông được cử sang Liên Xô học tại Học viện quân sự đào tạo Tham mưu trưởng Vorosilov... Năm 1984 ông được điều động về Quân khu 2 với chức vụ Phó Tư lệnh quân khu 2, Tham mưu trưởng và kiêm Tư lệnh Mặt trận Hà Giang...cho đến năm 1988... Mặc dù Lê Duy Mật là vị tướng có trong tay “ bộ tứ tử “: Nam chinh Bắc chiến; Chinh đông, chinh Tây...(ông đã chiến đấu ở Cămpuchia trong bộ chỉ huy do Tướng Lê Đức Anh làm Tư lệnh và chiến đấu ở chiến trường Lào dưới quyền chỉ huy của Tướng Hoàng Sâm và vào Nam trên những con tàu không số lênh đênh trên Biển Đông) ...nhưng đời binh nghiệp của ông lại kết thúc với một kết cục không ít những nỗi buồn... Trong cuộc trò chuyện về cuộc đời binh nghiệp của ông với chủ blog, đã có lúc thấy Tướng Lê Duy Mật chùng xuống nghẹn lại; Tướng Lê Duy Ông cho biết: ông không thiếu dũng khi lâm trận nhưng đôi khi sự Dũng trong ông cũng bị chùng xuống bởi những nhát dao đâm từ sau lưng của những kẻ vẫn ngỡ là đồng chí, đồng đội của mình... Xin giới thiệu về một trong những “nhát dao đâm vào lưng” Tướng Lê Duy Mật khi ông chỉ huy chiến dịch đánh chiếm lại Cao điểm 1509 vào khoảng thời gian tháng 4,5/1984...
Mở ngoặc thêm: Dưới quyền chỉ huy của Tướng Lê Duy Mật đã có những con người nổi tiếng như Đại tướng Phạm Văn Trà, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, là sĩ quan dưới quyền ông; lúc đó Lê Duy Mật làm Phó Tư lệnh Quân khu 9 thì Phạm Văn Trà là Trung úy; Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ Tổng tham mưu trưởng, khi chiến đấu ở Hà Giang, Đỗ Bá Tỵ là Sư phó Sư 313; Thượng tướng Nguyễn Văn Được, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Sư trưởng 356 chiến đấu tại Hà Giang 1984-1985...Dưới quyền của ông còn có Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Tấn Minh, bố của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng; ông Nguyễn Tấn Minh quê ở Hà Đông, hy sinh năm 1974... Tướng Lê Duy Mật về hưu với quân hàm Thiếu tướng ?!
Tôi được bổ nhiệm làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn Trung Dũng ( Trung đoàn 328 ) vào cuối năm 1953, sau đó về làm Trưởng phòng tác chiến quân khu tiếp quản “Khu 300 ngày”, xây dựng kế hoạch tiếp quản cùng với ông Đỗ Mười...Ông Đỗ Mười lúc đó là Chính ủy quân khu nói rằng: Tôi là người ở Trung đoàn Trung Dũng lâu nhất cho nên nên trở về chỉ huy trung đoàn này...Do đó tôi quay về làm Trung đoàn trưởng...
-Lâu nay bác có gặp ông Đỗ Mười không ?
-Chỉ gặp khi ông Đỗ Mười làm Chính ủy đơn vị tiếp quản “Khu 300 ngày “ ( Là khu theo Hiệp định Giơnevơ ta đồng cho Pháp được đồn trú tại Hải Phòng 300 ngày ), sau đó có gặp ông Đỗ Mười khi vợ ông chết... Sau này do ông Đỗ Mười nghe ông Lê Đức Anh, một con người không nhìn hiện tại, quá khứ và tương lai cho nên, khi Lê Đức Anh không dùng tôi nữa vì thế lực đỡ đầu của Lê Đức Anh là thế lực của Cụ Duẩn, Cụ Thọ, còn thế lực của tôi là thế lực của ông Giáp, ông Lê Trọng Tấn, ông Hoàng Văn Thái...Khi ông Lê Đức Anh lên làm BT Bộ Quốc phòng ông thay đổi toàn bộ bộ sậu cán bộ cũ...Ông Lê Đức Anh lấy cớ khi tôi chỉ huy mặt trận Hà Giang không chịu nghe cấp trên nên ( sau khi Tư lệnh Quân Khu 2 là Tướng Vũ Lập mất đột ngột, Bộ Quốc phòng đã không đề bạt, cất nhắc ông Lê Duy Mật đương là Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 2 lên thay thế mà điều ông tướng Đặng Quân Thụy lên làm Tư lệnh quân khu 2-Chú thích-P.V.Đ) việc ông Lê Đức Anh không đưa tôi lên mà điều tôi làm Tư lệnh quân khu, bản chất ông Lê Đức Anh muốn cơ cấu lại tay chân ( cùng ekip ) của ông ta... -Hồi chỉ huy mặt trận Hà Giang bác đã có những việc làm gì không tuân lệnh cấp trên ? -Nhiều cái tôi không nghe lệnh cấp trên. Ví dụ: Bộ tổng tham mưu gợi ý cho tôi đưa quân sâu vào trong Trung Quốc 18 km, đánh vào huyện lỵ Malefo, một huyện lỵ toàn đá tai mèo, tôi đã không chấp hành...Tôi bảo tôi không thể đánh được! Bộ Quốc phòng muốn đánh thì ra lệnh bằng dấu đỏ xuống đây, nếu tôi đánh thắng hay bại là do các anh chứ tôi không chịu trách nhiệm. Có phương án sử dụng trực thăng để ngăn chặn địch, tiêu diệt địch trong đất ta, cái đó tôi không nghe vì tôi cho là không đủ khả năng và không có hiệu quả, đánh kiểu đó sẽ thất bại...Ông Nguyễn An cũng là tướng chiến với tôi gợi ý tôi đánh theo kiểu Liên Xô: tức là đánh cả phía trước, cả phía sau, làm theo kiều điều lệnh Liên Xô tôi cũng không nghe...Tôi cho rằng với kẻ thù là Trung Quốc, với địa hình như Hà Giang không thể đánh theo kiểu Liên Xô được...( Hồi đó cố vấn quân sự Liên Xô có mặt tại Hà Giang )... Theo cách đánh của Liên Xô thì chỉ nên học từng việc, không thể bê nguyên xi bài bản cách đánh của Liên Xô để áp dụng cho đánh Trung Quốc... - Thưa bác, trận 12/7/1984 thì ai là tác giả, vạch kế hoạch tác chiến: huy động 1 lúc 4 trung đoàn để đánh trận đánh một số cứ điểm ở đây ? Có ý kiến cho rằng: Trận này ta thất bại là do áp dụng máy móc chiến thuật “ biển người “ nên gặp phải hỏa lực pháo binh của Trung Quốc quá mạnh, nên phải chịu thất bại ? - Trận này tôi vạch kế hoạch và có sự chứng kiến của Phó Tổng tham mưu trưởng Lê Ngọc Hiền. Trận này có mật danh M 76. Trận này chịu thất bại là một cán bộ lớn của ta làm tay sai cho Tình báo Hoa Nam, khi ta chuẩn bị đánh đâu thì nó báo cho Trung Quốc nên trước khi mình nổ súng thì phía Trung Quốc đã tề binh mã... -Theo Trung tá pháo binh Hoàng Văn Xiển của Sư 313 kể: khi pháo binh mình nổ súng thì phía Trung Quốc cho rút quân ra toàn bộ...để cho mình bắn thoải mái...Khi quân mình lên, các hầm hố bị phá hết, lúc đó pháo Trung Quốc bắn lại quân mình không chịu nổi nên phải rút ? -Đó là trận khác...Phía ta đã tiến hành 3, 4 đợt đánh lớn để lấy lại 1509...Trận đánh lớn nhằm lấy lại 1509 đầu tiên ( có lẽ là khoảng tháng 5-6/1984, Tướng Lê Duy Mật không còn nhớ rõ ) đó là trận mang mật danh M.76, quân ta đã tiến lên tới bình độ 800, là một thảo nguyên ở trên 1509; Lúc đó gần sáng, mình nổ súng thì phía Trung Quốc tập trung 27 trung đoàn pháo và pháo phối thuộc của 4-5 sư đoàn nó bắn mình, mình không thể nào tiến lên được. Quân mình cứ ở đấy liền dãn ra và tiến lên tới bình độ 900 thì gần sáng không thể tiến lên được nữa; Quân mình vẫn ở trên cho tới 4-5 giờ chiều hôm sau, thấy không thể lấy lại 1509, tôi đề nghị Lê Ngọc Hiền-Phó Tổng tham mưu trưởng: Ta không thể tiến được nữa, tôi đề nghị anh cho lui quân. Ông Lê Ngọc Hiền báo cáo lên trên, trên nói thôi đành phải như thế...Tôi cho lui quân vào 4 giờ rưỡi chiều hôm sau... -Thưa bác như vậy trận 12/7/1984 là trận quân ta đánh định chiếm lại một số vị trí xung quanh 1509 nhưng do mình không lường trước được lực lượng pháo binh của nó quá mạnh, gây tổn thất lớn cho quân ta nên phải chịu thất bại ? -Mình biết hỏa lực mạnh của Trung Quốc chứ, mình đánh theo kiểu của chúng ta, dùng yếu tố tập kích bất ngờ để khi Trung Quốc biết nhưng trở tay không kịp, cho dù có hỏa lực mạnh; Vì có người của Cục Quân báo hay của Tổng Cục 2 đầu hàng nó, báo cho nó biết nên đã mất yếu tố bất ngờ...Ta tổ chức đánh ngày nào, giờ nào, bao nhiêu quân nó báo cho Trung Quốc biết hết...Cho nên khi quân mình đụng chạm một cái là nó nổ súng mấy tiếng đồng hồ do quân mình không tiến lên được, phải dãn quân ra...nó ở trên cao nó nhìn thấy hết, do đó cứ thế nó bắn, nó chặn đứng mình lại... -Cao điểm 1509 là cao điểm cao trên 1500 m quân ta phải trèo cả ngày mới lên được chứ ? -Quân ta tập kết từ 4 giờ chiều từ bình độ số 200 để leo dần lên bình độ 800... -Trung đoàn 876 Sư 356 đơn vị của chú em cháu được giao nhiệm vụ đánh 772 ngày 12/7/1984 ? -Trận 12/7/1984 là trận ta đánh chiếm lại các cao điểm 772, Đồi Cô Y., đánh 774, Đồi không tên, những cụm cao điểm bên bờ sông Lô, không phải trận mà tôi vừa kể... -Thế trận đánh để chiếm lại 1509 như bác vừa kể chắc phải xảy tháng 4 hoặc 5/1984 ? -Có 3 chiến dịch lớn: Đánh chiếm lại 1509, đánh cụm cao điểm xung quang 772, thứ 3 là đánh bên Minh Tân, thứ 4 là đánh đuổi địch ở 685...Như vậy là ta đã mở 4 đợt lớn, nhưng đợt thứ 4 không đánh do tôi và ông Nguyễn Hữu An cãi nhau nên không thực hiện được...Trong 2 năm 1984-1985 ta đã mở 3 đợt đánh lớn... Phần 3: -Hồi ấy sau những trận đánh lớn không thành công, chắc Bộ chỉ huy mặt trận có họp rút kinh nghiệm, vậy Bộ chủ huy có rút ra kinh nghiệm gì, ưu khuyết điểm gì ? -Tôi đã viết một bản báo cáo dày 20 trang gửi cho Quân khu 2 về cách đánh và kinh nghiệm đánh Trung Quốc cho hôm nay và cho mai sau... -Bác có nhớ những ý chính trong bản báo cáo đó không ? Theo bác nguyên nhân thất bại không lấy lại được 1509 là gì không ? -Không lấy lại được vì nó phòng ngự chắc quá, hậu cần của nó nhiều quân quá, địa hình của 1509 thì quá cao và hiểm trở; Trung Quốc chiếm được trước nên có lợi hơn ta... -Có ý kiến cho rằng: Tại sao mình không dùng hỏa lực mạnh để khi Trung Quốc chiếm điểm cao nào thì ta dùng hỏa lực diệt gọn ? -Mình có vũ khí đâu mà tiêu diệt quân Trung Quốc. Pháo binh của ta chỉ có một lữ đoàn, với 3 dàn hỏa tiễn H 12 ( Cachiusa ) với một ít ĐKZ... -Một lữ đoàn pháo có bao nhiêu khẩu ? - Có hơn bốn chục khẩu pháo 105 mm... -Nghe nói hồi đó mình có mang bom bay lên Hà Giang có không ? -Chỉ có hỏa tiễn H 12 thôi...không có bom bay! - Thế bác rời khỏi Hà Giang lúc nào ? -Vào đầu năm 1988 sau khi tôi không được cơ cấu Tư lệnh quân khu 2 thay tướng Vũ Lập bị chết do bị bệnh, trên cử Tướng Đặng Quân Thụy lên thay và tôi trở về chờ ở Trạm 66 ( Hà Nội ) và không làm gì nữa...
Ký ức về cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc 17/2/1979(PetroTimes) - 35 năm đã trôi kể từ khi xảy ra cuộc chiến tranh bảo vệ biên cương phía Bắc Tổ quốc (1979-1989) nhưng trong ký ức tôi, những đồi hoa sim tím suốt dọc dài biên cương phía Bắc vẫn còn in đậm với những tên đất, tên người và những trận chiến đấu ác liệt ở đó.Những chuyến hành quân lên mặt trận Ngày 17/2/1979, chiến tranh biên giới Việt - Trung trải dài ở 6 tỉnh Lai Châu, Hoàng Liên Sơn, Hà Tuyên, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh. Từ các tỉnh phía sau, nguồn nhân lực, vật lực được khẩn trương huy động đáp ứng cho mặt trận. Tôi đã chứng kiến trong tiết trời giá lạnh, hình ảnh người Hà Nội vẫy chào, tiễn những đoàn xe quân sự vượt cầu Long Biên tiến về phía Bắn. Thanh niên, sinh viên khi ấy đều háo hức muốn được lên biên giới, góp sức mình cùng bộ đội bảo vệ biên cương. Và khi có lệnh tổng động viên đầu tháng 3/1979, hàng vạn thanh niên cả nước đã hăng hái lên đường. Những cuộc hành quân qua nhiều địa danh trên biên giới, tôi gặp những vùng đất nhuộm tím hoa sim. Một loài hoa dại bạt ngàn từng đi vào thơ ca, vào ký ức học trò. Vậy mà bom đạn chiến tranh đã khiến những đồi hoa sim bị băm nát, xáo trộn cùng đất đỏ. Những cánh hoa tím mong manh bị sạm đen khói súng, tả tơi. Thời bình, người ta có thể thong thả ngắm nhìn vẻ đẹp lãng mạn của đồi sim. Song khi ấy, chiến sự căng thẳng khiến mọi người không còn tâm trí đâu mà thưởng thức. Các chiến sĩ trinh sát dẫn chúng tôi đi, không ồn ào, không đùa giỡn bởi dưới mặt đất có khá nhiều mìn và những quả đạn chưa nổ. Họ yêu cầu chúng tôi phải đi đúng vào vết chân họ đi trước dẫn đường và sẵn sàng ẩn nấp khi có pháo hoặc đạn cối bắn sang. Thời ấy, tôi đang là phóng viên của Chương trình phát thanh QĐND, Đài tiếng nói Việt Nam, làm nhiệm vụ tường thuật chiến đấu tại mặt trận. Ngoài quân tư trang, tôi phải đeo thêm chiếc máy ghi âm R6 cổ lỗ chạy băng cối và 6 pin đại, nặng tới 6 kg. Sau dịp tết năm 1980, tôi cùng lên biên giới Lạng Sơn với các nhà văn và nhà báo Thân Như Thơ, Cao Nham, Mai Thế Chính, Nguyễn Văn Nhung, Phạm Thành, Đinh Xuân Dũng. Từ Quân đoàn 14, chúng tôi phân công nhau đi về nhiều hướng của mặt trận. Những trận đánh quy mô nhỏ thỉnh thoảng xảy ra ở những điểm cao dọc đường biên. Các nẻo đường biên giới vắng ngắt, chỉ có các đơn vị quân đội, rất hiếm bóng dân thường. 
Quân ta tiến ra mặt trận Trời mưa phùn rả rích, đường trơn lầy lội. Chúng tôi leo lên một điểm tựa ở dãy núi đá thuộc huyện Văn Lãng. Phân đội súng cối 81 ly có hơn chục chiến sĩ. Hôm ấy đúng vào ngày rằm tháng giêng. Chiếc nồi quân dụng đầy cơm nhưng thức ăn chỉ có thịt muối và mắm kem, không rau. Anh em bảo rằng, miếng thịt muối đã ngâm nước từ tối qua (cho mềm và bớt mặn) nhưng hôm nay thái ra vẫn còn rắn lắm. Tôi bỗng thấy thương anh em quá. Người ta thường ví “Giỗ tết quanh năm không bằng rằm tháng giêng”. Cả nước đang quay quần bên mâm cỗ ngày rằm với đầy đủ món ngon truyền thống thì ở đây, bộ đội phải ăn bữa cơm quá đạm bạc! Hôm sau, tôi và anh Mai Thế Chính hành quân từ Văn Lãng về Đồng Đăng (Lạng Sơn). Bữa cơm trưa hôm ấy ở sở chỉ huy Trung đoàn 42 do Trung tá Nguyễn Như Hoạt, Anh hùng LLVT thời đánh Mỹ làm trung đoàn trưởng. Bữa ăn chỉ có cá khô, thịt muối. Anh Hoạt lấy phích nước sôi, rót ra cái bát to và rắc vào đó ít mì chính và vài hạt muối để thay canh. Mấy ngày trước tết, Trung đoàn 42 vừa được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh lên thăm. Tuy đóng ở địa bàn thuận lợi hơn nhiều đơn vị khác nhưng trung đoàn cũng còn rất thiếu thốn. Đầu năm 1982, chúng tôi nhận lệnh lên biên giới Cao Bằng. Từ bến xe Bến Nứa (Long Biên), đi xe khách mất nửa ngày mới đến Thái Nguyên; sau đó chúng tôi cuốc bộ 7 km về Bộ tư lệnh Quân khu 1. Chờ 4 ngày nữa mới có xe của Quân đoàn 26 về lấy hàng, chúng tôi theo chiếc xe tải đó lên Hòa An, nơi đóng quân của sở chỉ huy, cách thị xã Cao Bằng gần chục cây số. Từ km số 8, chúng tôi lại cuốc bộ xuyên rừng núi 5 km để vào Bộ tư lệnh. Rồi lại chờ 3 ngày nữa mới có xe của Sư đoàn 311 về họp và đón đi Thạch An, Đông Khê. Thế là mất đứt một tuần lễ chúng tôi mới đến được với bộ đội. Trước đấy vài tháng, vào dịp tết, đồng chí Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ chính trị mới lên thăm bộ đội Quân đoàn 26 (Binh đoàn Pắc Bó), đã làm bài thơ “Điểm tựa” tại Quảng Hòa tặng cán bộ, chiến sĩ. Bài thơ ấy thể hiện được sự cảm thông sâu sắc của lãnh đạo cấp cao đối với bộ đội nơi điểm tựa tiền tiêu, có tác dụng rất lớn, động viên tinh thần chiến đấu của các chiến sĩ. Cao Bằng vốn là tỉnh có nhiều núi đá nên bộ đội sống trên điểm tựa đều thiếu nước. Nước sinh hoạt hàng ngày phải gùi từ suối lên, có chỗ leo qua thang dây và hàng trăm bậc đá. Ngay ở Bộ tư lệnh quân đoàn, bể nước chỉ để dành cho nhu cầu ăn uống, do nhà bếp quản lý, thường khóa chặt. Việc tắm giặt phải dùng nước suối hoặc nhờ nhà dân. Trời mùa xuân ẩm ướt, lại ở hang đá và nhà tranh tạm bợ, ít ai tránh khỏi bệnh ghẻ và hắc lào. Chúng tôi từ thành phố lên điểm tựa được 1 tuần là bị ngay, ngứa gãi suốt ngày đêm. Vì thế, có hôm trên đường hành quân, gặp suối là tất cả trút bỏ tư trang, quần áo, nhảy xuống tắm tiên hàng giờ đồng hồ. Những ngày ở đại đội đóng bên dòng sông Bắc Vọng (thuộc huyện Quảng Hòa), cứ cuối buổi chiều là các chiến sĩ lại rủ chúng tôi ra sông tắm. Dòng sông này chỉ rộng chừng 30m, đường phân thủy giữa sông là biên giới Việt - Trung. Bờ bên kia là điểm cao 302, quân Trung Quốc bố trí mấy khẩu cối 82 ly và 60 ly chĩa sang phía ta. Bộ đội ra tắm tiên, không mang theo vũ khí nên quân Trung Quốc cũng không có hành động khiêu khích gì. Một hôm tắm xong, lên bờ mặc quần áo, tôi giật mình thấy 2 con vắt bám vào người… Thời gian này không còn những trận đánh lớn xảy ra mà chỉ có những cuộc đụng độ nhỏ trên đường biên. Các đồn biên phòng đã được củng cố và xây dựng lại bằng những căn nhà cấp 4. Nhân dân đã trở lại bản làng cũ, khôi phục sản xuất nông nghiệp. Một vài đơn vị quân đội cũng vỡ đất, trồng mía, làm đường, chăn nuôi tự túc một phần thực phẩm. Các trường học đã hoạt động trở lại. Nhưng hệ thống giao thông thì hầu như bị hư hỏng nặng, nhất là đường lên huyện Bảo Lạc. Cán bộ đi từ xã lên huyện đều cuốc bộ, xuyên rừng, lội suối. Quốc lộ 4 lâu ngày không được tu sửa lại qua cuộc chiến tranh, bị tàn phá nặng nề, chỉ còn là con đường đá lởm chởm. Hôm chúng tôi đi từ sư đoàn xuống trung đoàn bằng chiếc xe mô tô ba bánh mà thấy khiếp mãi bởi đèo dốc vòng vèo và những cú xóc nảy người, nhiều lúc cảm thấy xe sắp bay xuống vực. Trâu ngựa hai bên đường thấy xe là tung vó, nhảy lên chạy tán loạn. Hè năm 1983, chiến sự lại rộ lên ở vùng Hoàng Liên Sơn (Lào Cai) và Hà Tuyên (Hà Giang). Tôi đến vùng giáp ranh Lào Cai và Lai Châu. Có hôm cùng các chiến sĩ đi tuần tra đường biên, vượt những quả đồi đầy cỏ lau và đá lởm chởm; thỉnh thoảng trượt chân, cả người và ba lô cứ trôi tuồn tuột trên thảm cỏ, gặp tảng đá thì sững lại, đứng đậy đi tiếp. Lối lên các điểm tựa chỉ là vệt mòn nhỏ. Các chiến sĩ luôn nhắc tôi phải đi đúng vết chân các anh, nếu không sẽ đạp phải mìn. Tôi thắc mắc, sao lắm mìn thế thì anh em bảo rằng, để chống thám báo mò lên tập kích. Chiến sự ác liệt và dai dẳng nhất diễn ra ở huyện Vị Xuyên (Hà Giang). Những địa danh nổi tiếng lúc đó như Làng Lò, Làng Pinh, Hang Dơi, Thung lũng gọi hồn, đồi Cô Ích, đồi Đài, Cốc Nghè, 4 hầm, ngã ba Thanh Thủy, các điểm cao 772, 685, 211… đã in đậm trong tâm khảm mỗi cán bộ chiến sĩ từng tham gia chiến đấu ở Vị Xuyên. Nhiều chiến sĩ ta đã hy sinh ở chiến trường này. Trận đánh ngày 12/7/1984, mật độ pháo địch dày đặc, bắn như vãi đạn nhiều giờ liền sang trận địa ta, gây tổn thất lớn trên điểm cao 772 khiến hàng trăm cán bộ, chiến sĩ thương vong. Tôi chứng kiến Tiểu đoàn 10 pháo binh (Quân khu 2) sau một trận chiến đấu, hầu như bị tê liệt hoàn toàn. Con số thương vong quá nhiều, những khẩu pháo bị phá hủy, nằm chỏng chơ ngay bên đường đi. Vỏ đạn pháo 85 ly bằng đồng sáng lóa, vàng rực như những đống rơm. Những bụi sim mua xơ xác, cháy trụi, phủ một lớp bụi dày. Cả một dãy núi đá bị pháo địch cày xới nhiều lần, trơ ra một màu trắng toát lạnh người. Từ đó, bộ đội ta quen gọi nó là “Lò vôi thế kỷ”. Sau thiệt hại nặng ở Vị Xuyên, những nghĩa trang liệt sĩ cứ mở rộng dần ra, tinh thần bộ đội ta có phần nao núng. Các sư đoàn chủ lực chuyển sang hình thức luân phiên chiến đấu. Những đơn vị ở phía sau lên thay thế để các đơn vị đã tham chiến rút về phía sau củng cố lượng lượng. Lúc này công tác động viên tư tưởng cho bộ đội rất khó khăn bởi mặt trận ác liệt Vị Xuyên chỉ cách thị xã Hà Giang vài chục cây số. Cuộc sống sinh hoạt ở thị xã đã mang không khí thanh bình; hàng quán mọc lên, cảnh làm ăn tấp nập; tối đến tiếng nhạc xập xình, đèn màu nhấp nháy. Sự đối lập giữa hy sinh và hưởng thụ chi phối từng ngày đến tâm tư chiến sĩ. Cuộc sống của người lính chiến Tôi ở với bộ đội đặc công của Quân khu 2 trong một hang đá. Lúc đầu, các chiến sĩ còn hái được ít rau dớn (giống như cây dương xỉ) luộc ăn thay rau. Khi không còn loại rau rừng nào nữa, anh em bắn hạ mấy buồng quả cọ xuống luộc chấm muối ăn cho đỡ xót ruột. Vì mật độ đóng quân dày đặc, chiến đấu liên tục lại ở hầm và núi đá ẩm ướt, ít được tắm giặt nên bộ đội bị ghẻ lở khá nhiều. Quần áo thời đó may bằng loại vải chất lượng kém nên cũng chóng rách hai đầu gối. Có chiến sĩ quay quần mặc phía rách ra đằng sau và nói vui là “ưu tiên phía trước”. Cứ một vài tuần anh em mới được luân phiên ra suối Thanh Thủy tắm một lần. Được những hôm đi tắm như thế, anh em ngâm nước suối khá lâu và lấy lá rừng xát vào người chữa ghẻ. Các chị em dân bản đi làm nương về qua suối, gặp bộ đội tắm rất đông và đều trần truồng cả nên ngượng, cứ phải làm thêm, chờ nhá nhem tối mới về nhà được. Vì vậy trong chuyến lên thăm bộ đội ở Vị Xuyên, chị Nguyễn Thị Hằng, lúc đó là Bí thư Trung ương Đoàn đã nói vui với các chiến sĩ rằng: “Tôi chúc các đồng chí khỏe, không ghẻ và tắm phải có quần đùi”. Một hôm ở Sở chỉ huy tiền phương Quân khu 2, tôi được Thiếu tướng Phạm Hồng Cư và Thiếu tướng Lê Duy Mật cho biết, sáng sớm mai sẽ có trận pháo kích rất lớn của ta từ Thanh Thủy nã sang điểm cao 1509, cụm phòng thủ lớn của quân Trung Quốc. Trận địa pháo được bố trí ở sân bay Phong Quang (do Pháp làm trước đây đã bỏ hoang). Tôi có nhiệm vụ nấp trong chiếc hầm đơn sơ ở giữa sân bay, cũng là giữa hai làn pháo đấu nhau để tường thuật trận pháo kích ấy. Đêm trăng sáng. Sân bay Phong Quang là một thung lũng có cây rừng lúp xúp, dài khoảng hơn 1km. Những khẩu pháo giả nghi binh bằng ống tre, đường kính 8 cm đã được bố trí. Khi pháo thật ở phía sau bắn thì pháo giả cho nổ bộc phá tạo khói lừa địch. Dự kiến trận đánh khai hỏa vào 5 giờ sáng hôm sau. Nhưng rất tiếc, nửa đêm về sáng, mây mù kéo về dày đặc, đài quan sát không nhìn rõ mục tiêu nên đành hoãn trận đánh ấy.. Khi tiếng súng ở khu vực Vị Xuyên tạm ngưng, địch tập trung đánh đường giao thông của ta ở núi Bạc, Quản Bạ nhằm cắt đứt tuyến chi viện từ thị xã Hà Giang đi các huyện Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc. Bất kể loại xe nào chạy qua sườn núi Bạc đều bị pháo Trung Quốc bắn cháy. Vì đoạn đường này nằm sát biên giới lại trơ trọi giữa sườn núi đá cao nên từ bên kia biên giới, lính Trung Quốc nhìn rất rõ. Hàng chục chiếc xe các loại, có cả xe chở khách đã bị bắn cháy, lộn nhào xuống vực. Nếu qua được đoạn đường này thì lại gặp tọa độ thứ hai ở dốc Cổng Trời (từ Quản Bạ sang Yên Minh). 15 giờ chiều hôm ấy, xe chúng tôi đến núi Bạc, trời còn đang nắng gắt. Chiếc barie chắn đường có một nam dân quân chừng 45 tuổi đeo khẩu K44 đứng gác. Anh yêu cầu xe dừng lại và chờ trời tối mới được đi tiếp. Mặc dù chúng tôi trình bày lý do cần đến mặt trận gấp nhưng thái độ anh rất lạnh lùng, nguyên tắc, giữ đúng kỷ luật chiến trường. Chúng tôi đành phải chấp hành và ngồi trò chuyện với anh để “giết” cái khoảng thời gian dài 3 giờ đồng hồ chờ trời tối. Tên anh dân quân là Tẩn Dìn Phùng, quê ở ngay dưới chân núi Bạc. Xã cử một tổ 4 người thay nhau canh gác ở hai đầu đoạn đường qua núi Bạc, bảo vệ an toàn cho xe cơ giới qua lại đây. Khi trời đã nhá nhem tối, anh mở barie cho xe chúng tôi đi. Chiếc xe com măng ca “đít vuông” cũ nát lại chở thêm một phi xăng 200 lít lắc lư, nhảy chồm chồm trên sườn núi đá. Hơi nóng từ núi đá, hơi xăng phả ra khiến bầu không khí ngột ngạt. Chúng tôi cuộn hết bạt hai bên xe lên cho thoáng và cũng để dễ quan sát; nếu có địch phục kích hoặc pháo bắn sang là có thể nhảy thật nhanh sang hai bên đường. Xe xấu, đường xóc nên đêm ấy, khi tới Quản Bạ thì chiếc xe của chúng tôi bị gãy đến nửa số thanh nhíp giảm xóc, không thể đi tiếp được nữa. Từ đấy, chúng tôi chỉ còn cuốc bộ. Trưa hôm sau từ tiểu đoàn bộ đội địa phương huyện Quản Bạ, tôi và nhà văn Đặng Văn Nhưng hành quân về xã Bạch Đích vì ở đó chiến sự đang diễn ra. Trời nắng nóng, chúng tôi phải cắt rừng núi đi theo đường chim bay. Một chiến sĩ người dân tộc Nùng khoác ba lô cùng súng đạn dẫn hai anh em đi. Cậu chiến sĩ quen luồn rừng lội suối từ nhỏ nên không tỏ ra mệt mỏi gì nhưng với hai anh em tôi thì đó là cuộc hành quân rất vất vả. Trèo qua hết dãy núi đá này sang dãy núi đất khác, cứ sau một giờ hỏi lại thì cậu chiến sĩ trẻ đều bảo sắp đến rồi. Cơn khát nước lại là một thử thách. Nắng nóng, mang nặng lại trèo núi, băng rừng như vậy mà khát nước là cảm giác tôi chưa gặp bao giờ. Đến một vách đá có cây to và dây leo chằng chịt, tôi sáng mắt lên khi nhìn thấy một dòng nước từ kẽ đá chảy ra. Tôi gỡ ngay ba lô nhờ cậu chiến sĩ cầm giúp và ngắt một tàu lá to để hứng nước. Anh Nhưng nhắc tôi: “Chú mà uống nước rừng này là độc lắm đấy, ngã nước như chơi”. Nhưng vì cơn khát không còn chịu được, tôi vẫn uống. Tôi định ngồi nghỉ một lát nhưng cậu chiến sĩ nói ngay: “Nếu các thủ trưởng mà nghỉ nữa thì tối cũng chưa đến nơi được đâu. Mà ban đêm đi trong rừng càng khó, nhất là phải vượt qua núi”. Nói rồi cậu ta nhận mang giúp tôi chiếc máy ghi âm. Ai nấy mồ hôi nhễ nhại. Nhưng cậu chiến sĩ trẻ cứ coi như không có gì, vừa đi vừa kể chuyện rôm rả bằng giọng lơ lớ. Chừng 17 giờ thì chúng tôi vào tới xã Bạch Đích. Nhưng một không khí vắng lặng bao trùm. Đồn biên phòng đã bị tàn phá tan hoang. Phía đầu bản là kho thóc còn đang cháy dở. Có một bác nông dân người Dao đang đi tìm trâu lạc cho chúng tôi biết: bộ đội biên phòng và dân bản rút hết lên dãy núi phía trên kia rồi. Quân Trung Quốc cũng đã rút về bên kia biên giới. Thế là chúng tôi lại quay ra, tìm đường lên dãy núi, nơi có con dốc dài, nối Yên Minh sang Đồng Văn. Cán bộ và chiến sĩ biên phòng đang ở tạm trong những hốc đá. Đêm ấy chúng tôi nghỉ cùng với anh em trên dãy núi ấy. Đêm hôm sau chúng tôi đi tiếp sang dãy núi khác, nơi dừng chân tạm của tiểu đoàn bộ đội địa phương huyện Yên Minh. Đồng chí chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự huyện bị thương vào bắp chân hôm trước, do mảnh đạn cối xuyên thủng. Vết thương đang sưng to, lên cơn sốt, chưa kịp chuyển về tuyến sau, nằm rên hừ hừ trên đám lá thông. Lát sau, một đồng chí ở bộ phận quân y đến tiêm cho mũi thuốc giảm đau. Anh có vẻ bức xúc lắm nên khi nói chuyện với chúng tôi, anh bảo: “Tôi là lính chống Mỹ, bao nhiêu năm không sao, bây giờ lại bị thương ở đây. Chờ 2 ngày rồi chưa thấy quân tiếp viện. Chẳng lẽ ngày mai tôi cho anh em rút về tuyến sau”. Rồi anh bảo chúng tôi, mỗi người tự bẻ lấy mấy cành thông, rải ra mà nằm. Đêm ấy chúng tôi ngủ ở trên đỉnh núi, có mấy cây thông ở độ cao gần 2000 mét, đúng là cảnh “màn trời, chiếu đất”. Hôm quay trở lại Quản Bạ, chúng tôi cũng đi vào ban đêm, nhờ chiếc xe tải của một đơn vị từ Mèo Vạc về. Xe đi đêm trên núi đá cheo leo hiểm trở nhưng không được bật đèn. Chúng tôi đứng trên thùng xe để tiện quan sát và nhảy xuống đường nếu bị pháo kích hoặc thám báo tấn công. Ba lô để dưới sàn xe, đứng dạng chân chèo, hai tay bám chặt vào thành xe và buồng lái mới chống đỡ được những cú xóc và lắc. Đang căng mắt về phía trước thì bất ngờ chúng tôi thấy hai bóng đen nhảy từ ven đường ra vẫy xe. Anh chiến sĩ lái xe giật mình, ngỡ là thám báo, bật đèn pha sáng rực. Hai người đàn ông đeo ba lô, máy ảnh, đi giày da bám đầy bụi đất xin đi nhờ. Tôi nhận ra đó là anh Vũ Đạt, phóng viên báo QĐND và anh Trần Định, phóng viên báo ảnh TTXVN. Gặp chúng tôi, các anh mừng quá, đi cùng về Ban chỉ huy quân sự huyện Quản Bạ đêm hôm đó. Hồi ấy điều kiện thông tin rất khó khăn. Các tin bài viết xong phải đến trung tâm huyện mới gửi được qua đường thư bưu điện về Hà Nội và chậm mất 1 tuần. Tin chiến sự khẩn cấp thì dùng điện thoại từ cấp sư đoàn hoặc bưu điện huyện gọi về cho anh em ở tòa soạn chép lại. Vì thế, tòa soạn muốn chỉ đạo gì cũng không thể liên lạc được ngay. Cuối năm 1983, chúng tôi lên Mường Khương (Lào Cai). Cũng con đường độc đạo dẫn lên đến cửa khẩu Pha Long nhưng nếu gặp mưa lũ là tuyến này bị chia cắt hẳn. Dọc con đường đi qua các xã Dìn Chin, Tả Gia Khâu, Tả Ngải Chồ, Tung Trung Phố, quân Trung Quốc đặt mìn hoặc dùng B41 đánh trộm những xe cơ giới qua đây. Dân ở những địa phương này đều là người thiểu số, không biết tiếng phổ thông. Do ít được tiếp xúc với người Kinh nên thấy bộ đội qua đây, họ nhìn với ánh mắt lạ lẫm, ngơ ngác. Giống chó ở vùng này cũng rất đặc biệt, lông xù, to như con sư tử. Cứ có xe ô tô chạy qua bản là chó lao ra sủa inh ỏi, râm ran thành dây chuyền suốt dọc đường. Đêm ở đồn biên phòng Pha Long với tôi là lần đầu tiên được biết đến cái rét thấu xương như thế nào. Mấy anh em ngồi quanh bếp lửa mà phía lưng vẫn lạnh đến run người. Tôi nhớ hôm đoàn công tác chúng tôi từ Pha Long trở ra, đang vượt qua một cái ngầm thì xe bị thổi đệm nắp máy, đứng khựng lại. 6 anh em cùng nhảy xuống cố đẩy xe về Ban chỉ huy quân sự huyện Mường Khương. Nhưng tối hôm ấy, mấy anh cán bộ ở đó băn khoăn, yêu cầu chúng tôi phải giấu kín xe chứ nếu biết có xe con ở đây, thế nào phía Trung Quốc cũng bắn pháo tầm xa sang, rất nguy hiểm. Đường miền núi, xe lại xuống cấp, quá “đát” cả nên mỗi lần lên biên giới, chúng tôi phải mượn phụ tùng, linh kiện của các đơn vị chiến đấu để về Hà Nội là chuyện thường xuyên; nhất là mượn bánh xe, đèn pha và xin xăng dầu. Tình nghĩa quân dân nơi biên giới Những năm tháng sống giữa vùng chiến sự, chúng tôi có nhiều dịp giao lưu với đồng bào các dân tộc thiểu số ở biên cương phía bắc. Bởi đã lâu lắm, sau cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp, bà con mới được đón nhiều bộ đội về như thế. Núi rừng bao năm trầm lắng, nay có bộ đội về, không khí sôi động hẳn lên. Những cánh rừng hoang vắng, tưởng như chưa có dấu chân người, giờ đây đã rộn rã, ồn ào bởi những đoàn xe cơ giới các loại kéo lên. Nhiều con đường mòn đã được phá đá mở rộng thành những tuyến giao thông liên hoàn nối các làng bản, xã huyện. Bộ đội giúp dân tăng gia, sản xuất, hướng dẫn thực hiện nếp sống văn minh. Nhiều tập tục lạc hậu được xóa bỏ. Người dân được bộ đội dạy chữ, chữa bệnh, rời nhà từ núi cao xuống thung lũng, hạn chế du canh, du cư. Suốt những năm tháng diễn ra cuộc chiến tranh ở biên giới phía bắc, ngoài tấn công quân sự, Trung Quốc còn triệt để lợi dụng chiến tranh tâm lý, vu cáo Việt Nam và xóa nhòa ranh giới giữa kẻ đi xâm lược với người chống xâm lược. Từ các dãy núi cao, Trung Quốc đặt những cụm loa nén công suất lớn, có điểm chúng đặt tới vài chục chiếc loa, hướng sang phía Việt Nam. Hàng ngày, các cụm loa tâm lý chiến này phát 2-4 lần. Mở đầu là bài hát Tình hữu nghị Việt Nam - Trung Hoa của Đỗ Nhuận; tiếp đó là bài nói nói xấu chế độ và các nhà lãnh đạo Việt Nam. Ngoài ra là những bài đánh vào tâm tư, tình cảm của bộ đội ta, sống xa nhà, thiếu thốn, gian khổ… Mùa gió bấc, tiếng loa có thể phóng sâu vào phía Việt Nam đến chục cây số. Trước tình huống đó, cán bộ chính trị, tuyên huấn của các đơn vị phải tăng cường bám sát nhân dân, tuyên truyền, giải thích cho bà con không nghe và tin vào những lời lẽ xuyên tạc của địch, đoàn kết cùng bộ đội chống lại kẻ thù, bảo vệ từng tấc đất biên giới. Cục địch vận (Tổng cục chính trị) cũng bố trí những xe lưu động gắn loa, phát đi những băng ghi sẵn nội dung tuyên truyền chống quân Trung Quốc xâm lược. Tuy nhiên, do địa hình rừng núi và công suất loa của ta yếu nên không lấn át được đài địch ra rả suốt ngày. Sau cuộc tấn công của quân Trung Quốc, cuộc sống đồng bào các dân tộc thiểu số ở biên giới bị đảo lộn thời gian dài nên gặp nhiều khó khăn. Nhiều gia đình mất hết nhà cửa, tài sản, phải sơ tán về phía sau. Có gia đình bị lính Trung Quốc giết chết gần hết. Tuy nhiên, bà con rất sẵn lòng ủng hộ, tạo điều kiện cho bộ đội chiến đấu. Nhiều gia đình đón bộ đội về ở tạm khi chưa làm kịp lán trại; nhường cả ruộng nương, vườn tược cho bộ đội làm trận địa. Các Hội mẹ chiến sĩ, các đoàn thể thường xuyên đến thăm hỏi, động viên bộ đội sau mỗi trận chiến đấu. Hội phụ nữ tỉnh Hà Giang tiêu biểu nhất trong phong trào này. Tình đoàn kết quân dân ấy đã giúp cho các đơn vị củng cố vững chắc thế trận để chống trả quân xâm lược. Nhớ về biên cương phía bắc, tôi lại nhớ những đồi hoa sim tím, những chiến sĩ dũng cảm, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc và nhớ tấm lòng của bà con các dân tộc ở biên giới với tình đoàn kết quân dân. Bùi Đức Toàn (Nguyên PV báo QĐND) Không thể “Thoát Trung” mà không “Thoát Cộng”!Posted by adminbasam on 09/06/2014 Nhà báo Trần Quang Thành phỏng vấn tiến sĩ Hà Sĩ Phu Từ hơn một tháng nay, giàn khoan Trung Quốc thăm dò dầu khí chỉ cách bờ biển Việt Nam 120 hải lý, nằm sâu trong khu vực mà Việt Nam khẳng định là vùng đặc quyền kinh tế, tạo sự phẫn nộ và lo lắng cho người Việt khắp nơi. Vào chiều ngày 5/06/2014, tại trụ sở Liên hiệp các hội Khoa học kĩ thuật Việt Nam, Hà Nội, đã diễn ra một cuộc hội thảo mang tên « Làm sao để thoát Trung ? ». Hội thảo do Quỹ Văn Hóa Phan Chu Trinh tổ chức. Về sự kiện này Tiến sĩ Hà Sĩ Phu trong cuộc phỏng vấn của nhà báo Trần Quang Thành đã bình luận như sau:c tại 53 Nguyễn Du Hà nội về vấn đề làm sao để thoát Trung, riêng tiến sĩ nghĩ thế nào về vấn đề này? Hà Sĩ Phu: Bây giờ thì thoát Trung trở thành ý nghĩ chung của nhiều người rồi, Thấy mình bị phụ thuộc vào Tàu nhiều quá, bọn nó đè nén mình, thậm chí sẽ là một cuộc Bắc thuộc kiểu mới. Nó đến nơi rồi, gần quá rồi, cho nên kể cả những người từ những phía khác nhau cũng gặp nhau ở chỗ “thoát Trung”! Thế nhưng đi vào cụ thể cũng còn khác nhau rất nhiều đấy. Thứ nhất về nội dung thoát Trung là thoát những gì thì cũng dễ hiểu thôi, thoát Trung là phải thoát cả từ ngày xưa cơ, trước khi có Cộng sản mình cũng đã bị ảnh hưởng Trung Quốc rất nhiều, Phong kiến ngày xưa cũng chịu ảnh hưởng Trung Quôc rất nặng chứ không phải chỉ từ chủ nghĩa cộng sản ta mới bị Trung Quốc đè nén như thế đâu, Điều đó là rất đúng. Thoát Trung là cả một vấn đề rất lớn, nó kéo dài rất nhiều thế kỷ rồi. Nhưng thoát Trung liên quan đến thoát Cộng như thế nào thì tôi thấy trong cuộc hội thảo đó chưa được đặt ra một cách cụ thể rõ ràng, tuy cũng có người nhắc đến. Nhưng quan trọng là thế này, bây giờ muốn thoát Trung thì gặp trở ngại gì? Chính cái chủ nghĩa Cộng sản, đảng Cộng sản là yếu tố cản trở cái việc thoát Trung hiện nay, vì thế trước mắt không thể thoát Trung mà lại không tấn công vào cái yếu tố Cộng sản được, vẫn còn thể chế Cộng sản này mà muốn thoát Trung thì khó, cực kỳ khó. Ví dụ đơn giản thế này, muốn biểu tình chống Trung Quốc thôi, một việc quá nhỏ trong chuyện thoát Trung, mà cũng bị cấm. Nhân ngày kỷ niệm cuộc đàn áp Thiên An Môn, báo chí cũng muốn đưa một cái tin về sự kiện cách đây 25 năm rồi, ôn lại lịch sử Trung Quốc thôi, cũng phải rút bài xuống. Những việc nhỏ như thế cũng không làm được huống chi là một việc quá to lớn như việc thoát Trung? Tôi đồng ý thế này, thoát Trung là một vấn đề lớn kéo dài và liên quan rất nhiều, còn thoát Cộng chỉ liên quan đến một giai đoạn ngắn hơn, nhưng cái ngắn hơn này lại đang là trở ngại như cái núi Thái sơn nó chặn cái đường thoát Trung, cho nên không thể thoát Trung mà lại không cần thoát Cộng! Tôi mới đọc bài của ông Ngô Nhân Dụng, tôi rất thích là sau khi đã giải thích nhiều ở phần trên rồi ông ấy mới kết luận rằng: vậy thời phải thanh toán chủ nghĩa cộng sản mới thoát Trung được. Tôi rất đồng ý với kết luận rất rõ ràng đó. TQT: Thưa tiến sĩ Hà Sĩ Phu, ông đã khẳng định là “muốn thoát Trung trước hết phải thoát Cộng, vậy làm thế nào để thoát được Cộng? HSP: Hiện nay đây mới là bài toán khó nhất đấy, nói thoát Trung thì rất dễ nhưng nói đến chuyện thoát Cộng thì lại rất rắc rối, ý kiến lại phân tán rất ghê. Trong cuộc hội thảo vừa rồi không phải là không có người nghĩ đến cái điều là muốn thoát Trung thì phải thoát Cộng bởi vì Cộng chính là một cái núi Thái sơn nó chặn đứng quá trình thoát Trung, không thể tiến hành cái gì hết. Nhưng mà nói hết sự thật ấy ra bây giờ là rất khó. Chuyện đấu tranh dân chủ trong nước chính là chuyện thoát Cộng đấy. Đấu tranh để giành lấy độc lập dân tộc, giành chính quyền thì đó là chống ngoại xâm, còn thoát Cộng chính là chống nội xâm. Đây là quan hệ giữa chống nội xâm và chống ngoại xâm. Trước đây, khi Trung Quốc nó chưa thò cái nanh vuốt quá lộ liễu ra thì vấn đề dân chủ trong nước là rất khó, khộng biết làm thế nào, không biết phất cái lá cờ gì để tiến hành việc dân chủ trong nước được. Vì vừa thò ra cái tư tưởng phê phán Đảng, đòi thanh toán cái độc tài Đảng trị, thì bị đàn áp dễ như không. Thế nhưng bây giờ rất hay, Trung Cộng nó chơi những trò vỗ mặt mình, thế nên nhà nước này cũng không thể im tiếng như trước được nữa cho nên cũng phải đồng thuận với nhân dân lên án Trung Cộng. Thêm một lá cờ chống ngoại xâm thì cái chống nội xâm mới phát triển lên được. Cho nên cái anh Tàu nó lại giúp mình, mặc dù nó chơi đểu thế. Nó làm cho mình cũng dễ đấu tranh cho cái dân chủ. Tóm lại là thế này: quan hệ giữa thoát Cộng và thoát Trung chính là quan hệ giữa chống nội xâm và chống ngoại xâm đấy. Thế thì làm cái gì trước và sẽ làm như thế nào? Tôi nghĩ hai cái đó nó nhịp nhàng, tức là không thể nói làm cái này xong rồi mới làm cái kia được. Tôi biết nhiều anh em ở hải ngoại cho rằng phải thanh toán xong cộng sản trong nước thì mới tính đến chuyện chống Tàu được, nhưng như vậy thì làm không nổi đâu. Vì thứ nhất không biết bao giờ mới thanh toán được cái nội xâm, nội gián, trong khi chưa chống được cái nội xâm ấy thì ngoại xâm đã tấn công ta rồi , trong nước chưa có dân chủ thì lãnh thổ Tổ quốc đã mất rồi! Thế thì không thể nói cái nào trước cái nào sau được đâu mà hai cái phải đồng thời, nhịp nhàng và tùy theo tình hình. Nếu Trung Quốc gây hấn thêm nữa, thì ngay cả Trường sa cũng đang bị đe dọa, lúc nào cũng có thể bên miệng hố chiến tranh. Theo ý kiến của anh Ngô Nhân Dụng cũng không cần phải lo âu quá mà cũng đừng có ảo tưởng quá. Nhưng tôi nghĩ cũng phải nhịp nhàng mà tùy theo tình hình, không thể nói dứt khoát phải thoát Cộng trước hay thoát Trung trước, hai việc đó phải làm đồng thời nhịp nhàng và tùy theo tình hình. TQT: Trong cuộc chống Trung Quốc xâm lược hiện nay nổi lên một nhân vật là ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, ông có nhiều tuyên bố mạnh mẽ về vấn đề chống Trung Quốc xâm lược. Ông nói tình hữu nghị không thể viển vông, ông còn nhắm vấn đề phải kiện Trung Quốc ra quốc tế. Nhưng cũng có một vị cách mạng lão thành là cụ Nguyễn Trọng Vĩnh nói không hiểu được lời ấy nói thật hay giả, tiến sĩ Hà Sĩ Phu nghĩ thế nào? HSP: Cái này cũng không mới gì: Bác Tấn Dũng thì cũng nói nhiều điều hay rồi nhưng mà đúng là nói xong lại chưa làm được cái đó, dù rất có cảm tình với thủ tướng thì cũng không thể bênh vực vì ông ấy nói mà không làm gì cả. Tôi nghĩ thế này, trong tình hình hiện nay cả giới lãnh đạo họ quá kém về mọi mặt, kém về dân chủ đã đành rồi mà còn kém cả vấn đề chống ngoại xâm. Họ rất là nhu nhược, rất là hèn. Thế thì ai nói ra điều gì tốt một tý ta vẫn phải túm lấy những câu đó để ta động viên đã. Tất nhiên phải phân biệt lời nói với con người. Lời nói đó hay thì ta cũng ghi nhận, động viên, rồi ta yêu cầu là nói rồi thì phải làm. Thái độ hơi cực đoan là xổ toẹt, tức là bất cứ câu nói nào hay dở cũng xổ toẹt hết. Đã đành xổ toẹt cũng có cơ sở bởi ông này nói hay nhiều quá nhưng chẳng làm gì. Có khi ông cũng nhằm giành ghế trong Đại hội Đảng sắp tới thôi. Thế nhưng cũng cứ động viên để gợi mở một khả năng khác, có khi vì đang bị cả một cái hệ thống o ép nên ông ấy cũng bó tay chưa làm được? Dù sao nói ra một lời tốt cũng hơn là hèn mạt hoặc im lặng không nói gì hết. Thế nhưng mình cũng không thể nhẹ dạ để bị lừa hết cái nọ đến cái kia. Cho nên phải nói như cụ Vĩnh (Nguyễn Trọng Vĩnh), nói thẳng cũng rất cần thiết. Cụ phê bình ông Nguyễn Tấn Dũng nói dối, phê bình luôn cả ông Phùng Quang Thanh với tư cách một ông tướng cha dạy một ông tướng con, tôi thấy những thái độ như thế là đều có ích cả. TQT: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì bảo là kiên quyết chống, Trung Quốc xâm lược Việt Nam. Thế nhưng đại tướng Phùng Quang Thanh thì bảo cái việc giàn khoan chỉ là việc nhỏ thôi chứ tình hữu nghị Trung Quốc – Việt Nam vẫn rất là đẹp đẽ. Vẫn là 16 chữ vàng, Vậy có phải là trống đánh xuôi kèn thổi ngược không? HSP: Thì đúng quá,ở cái hội nghị Shangrila rất lạ là thủ tướng thì coi như là quan văn nhưng vẫn nói mạnh, thế còn quan võ thì rất kém phải nói là cái câu của ông Phùng Quang Thanh kém, kém nhất! Thứ nhất là muốn xem có kiện hay không lại phải chờ xem thái độ của họ thế nào đã, thứ hai là vẫn còn ôm cái 16 chữ vàng là cái mà cả thiên hạ họ chửi hết cỡ rồi , nên thái độ ông Phùng Quang Thanh này là không chấp nhận được. Tôi xin mở ngoặc nói thêm thế này, anh có đọc bài của ông Phạm Đình Trọng, là người đồng đội với ông Phùng Quang Thanh trước đây? Trong một trận đánh ông Phạm Đình Trọng mô tả Phùng Quang Thanh cũng là một chiến sỹ dũng cảm cho nên mới được lên chức, tức là người cũng yêu nước và dũng cảm, vốn không phải là người hèn, tôi thấy chuyện ấy rất hay. Cái hèn, cái tồi tệ của một người vốn hèn vốn tồi tệ thì thực ra không có gì đáng quan tâm. Nhưng cái hèn, cái tồi tệ của người trước đây vốn không hèn không tồi tệ mới nói lên rằng cái hèn cái tồi tệ này không phải là của cá nhân nữa mà của cả một hệ thống , đã nằm ở trong cơ chế đó thì cũng phải tồi tệ thôi. Cái tồi tệ của cơ chế đã đến mức độ làm cho những người vốn tử tế cũng không tử tế được nữa, trước đây không hèn giờ cũng không thể không hèn, chứng tỏ cái hèn mạt tồi tệ không còn là của cá nhân nữa mà nó là của cái hệ thống. Tướng Phùng Quang Thanh nếu không phải nằm trong cái hệ thống này, cái Bộ Chính trị này, chắc ông ấy cũng không đến nỗi hèn như thế. TQT: Tiến sĩ Hà Sĩ Phu vừa nói vấn đề cải cách cơ chế thì thông điệp đầu năm 2014 của ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói rất mạnh vấn đề cải cách cơ chế nhưng mà gần 6 tháng của năm 2014 đã trôi qua tiến sĩ thấy vấn đề cải cách cơ chế như thế nào? HSP: Nghe cái vấn đề cải cách cơ chế của ổng thì cũng nhiều người bàn đấy. Có phải là cải cách cái “thể chế chính trị” không hay là cải cách thể chế một cách chung chung? Mà cải cách thể chế chính trị thật tức là phải cải cách hệ thống, là hệ thống Cộng Sản, hệ thống Mác Lê nin! Cải cách hệ thống thật sự thì phải bỏ cái chủ nghĩa Mác Lê nin, bỏ được CS thì thành một nước dân chủ văn minh như các nước bình thường! Nhưng tôi nghĩ nói như thế thì ông Nguyễn Tấn Dũng cũng chưa thể làm được, không thể làm được, vì muốn làm được thì dũng khí cá nhân rồi phải có tổ chức, mà bao quanh thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hiện nay chả có một lực lượng nào có thể tin cậy được, hoặc cùng là một cánh tham nhũng, cũng phi dân chủ đàn áp biểu tình. Còn có một cánh không nhỏ Đảng viên có tiến bộ, người ta gọi là cánh “cải lương”, cũng hy vọng vào ông ấy, nay cũng mất lòng tín với ông Dũng rồi nên không có lực lượng nào đáng tin cậy đứng đằng sau thủ tướng cả, vậy thì cá nhân thủ tướng dẫu có những thiện ý cũng không có cái bối cảnh để mà triển khai. Nhưng quan trọng nhất là bên cạnh vẫn có một thằng Tàu rất to, ta công nhận là Tàu hiện nay cũng không phải là mạnh đâu, nó cũng đang có rất nhiều khó khăn nội bộ, nhưng sức mạnh của nó vẫn đủ để kiềm chế VN, bởi VN hiện nay đang nằm trong tay nó rồi mọi thứ nằm trong ống tay áo của nó rồi! Dù đồng ý rằng TRUNG QUỐC không hề mạnh như chúng ta tưởng nhưng trong tình trạng yếu nó vẫn đủ sức kiềm chế VN! Ví dụ ông Dũng đòi cải cách thể chế mà bỏ cái CNCS này đi để khỏi có tình trạng hai đảng làm việc với nhau để quyết định số phận đất nước thì Tàu nó sẽ hủy ngay cái “chỗ” (nhân vật) đó. Nếu ông Dũng muốn thành Pu tin, bỏ cái Trung Cộng đi mà đi với nhân dân thì mới có một Pu tin thật, mới thoát Trung hoàn toàn, nhưng ở VN trong những điều kiện cụ thể hiện nay thì làm sao làm được như vậy? Thế nên những câu “cải cách thể chế” của ông Dũng cũng không ra ngoài cái quy luật chung (của ông) là chỉ nói thế chứ không làm được. TQT: Như vậy thủ tướng có thể thoát Trung được không để nhân dân đứng sau thủ tướng thưa tiến sĩ? HSP: thì tôi vừa nói rồi, nếu quả thật thủ tướng mà muốn thoát Trung thật, không có ôm ấp một cái hữu nghị viển vông, nhân dân sẽ đứng sau ông ngay. Nhưng mà ông cũng chỉ nói thế chứ làm thì không làm, ví dụ ông nói là chống Tàu thì tại sao những người biểu tình yêu nước thôi ông lại bắt, ông lại không cho biểu tình diễu hành? Hiện ông là thủ tướng ông điều khiển chứ ai nữa, dù tổng bí thư thì đang nắm bí thư tổng quân ủy, thì thôi ông Dũng chưa tác động được vào mạng quân đội, nhưng ông vẫn đang điều hành chính phủ…, nhưng vừa nói xong thì ông làm ngược lại, thế thì có ai tin nữa? Mặc dù chúng ta rất là rộng lòng, sẵn sàng chờ đón những thay đổi nên ai nói lời nói tốt thì ta cũng muốn động viên ngay, thế nhưng một lần bất tín vạn sự bất tin, bất quá tam thì đâu có tin được? Đến cụ Vĩnh cũng là người rất rộng lòng nhưng cũng không thể tin nổi. TQT: Xin chân thành cảm ơn tiến sỹ Hà Sĩ Phu đã có những ý kiến rất thẳng thắn và quan tâm đến tình hình đất nước. 'SEN ĐẦM' MỸ VÀ ẨN SỐ VIỆT NAM
(Blog Huỳnh Ngọc Chênh)
"Sen đầm quốc tế" Mỹ lại một lần nữa đứng ra gánh vác trách nhiệm với nhân loại.
Mỹ đã cứu rỗi thế giới khi đứng lên tiêu diệt chủ nghĩa phát xít hung tàn của trục Đức- Ý- Nhật qua đại chiến thứ 2. Mỹ đã đập tan chủ nghĩa cộng sản đứng đầu là Liên Xô qua cuộc chiến tranh lạnh kéo dài hàng chục năm để cứu một phần nhân loại ra khỏi đời sống tối tăm mông muội. Mỹ đã đương đầu thành công với chủ nghĩa khủng bố quốc tế gây ra bất an cho người dân vô tội trên khắp thế giới. Và bây giờ họ lại nhận trách nhiệm mới, ngăn chận sự trỗi dậy của một thế lực đen tối đang ngoi lên với những ý đồ tồi tệ chưa thể nào lường hết đối với nhân loại văn minh: Tàu cộng.
Bỏ qua những ve vãn của Bắc Kinh về việc chia đôi một cách ích kỉ lợi ích trên Thái Bình Dương giữa hai nước lớn, Ngoại trưởng Mỹ tuyên bố ngay tại hang ổ phát xít mới,“Mỹ không thể chấp nhận việc Trung Quốc thay đổi nguyên trạng tại Biển Đông”và quốc hội Mỹ lên tiếng mạnh mẽ yêu cầu Bắc Kinh rút dàn khoan ra khỏi vùng lãnh hải của Việt Nam.
Trước đó các cường quốc khu vực như Nhật, Úc cũng đã triển khai những bước đi kiên quyết chống lại những toan tính bành trướng của Bắc Kinh ở biển Đông cũng như biển Hoa Đông.
Những tuyên bố mạnh mẽ ấy được phát ra và những bước đi vững chắc được triển khai bất chấp Việt Nam có thực tâm chống lại Bắc Kinh để bảo vệ chủ quyền của mình hay không, bất chấp Việt Nam có tham gia vào liên minh chính nghĩa gắn liền với lợi ích thiết thực của Việt Nam nhất hay không.
Có sự tham gia của Việt nam hay không thì vòng chuỗi ngọc trai bao vây ngăn chặn chủ nghĩa độc tài phát xít mới cũng đã hình thành và càng ngày càng thể hiện ra mạnh mẽ. Vòng chuỗi ấy bắt đầu từ Nhật ở Đông Bắc Á, qua các nước Đông Nam Á, xuống đến Úc và vòng đến Ấn Độ ở Nam Á.
Việt nam vẫn tiếp tục là môt ẩn số như trong bài viết tôi đã phân tích cách đây 3 năm. Tuy nhiên trước tình hình mới hiện nay thì ẩn số Việt Nam chẳng là cái gì cả và chẳng có gì khó hiểu. Bài giải cho Việt Nam đã có sẵn với hai nghiệm để chọn lựa: Tiếp tục cam tâm lệ thuộc vào Tàu cộng đen tối để chống lại thế giới văn minh hay gia nhập vào với thế giới văn minh để bảo vệ chủ quyền đất nước và góp phần ngăn chặn môt thế lực đen tối mới đang thừa cơ trỗi dậy.
ẨN SỐ VIỆT NAM
Cục diện của thế giới đang hướng trọng tâm về phía Đông Á, trong đó Việt nam trở thành một ẩn số phức tạp trong bài toán tranh chấp giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ. Việt nam giúp Trung Quốc phá vây lần 1 Sau khi lãnh đạo thế giới đánh tan Chủ Nghĩa Phát xít, Mỹ lại đối đầu với thách thức mới: Chủ Nghĩa Cộng Sản. Các nước Cộng sản lúc đó đã hình thành một khối liền mạch từ Đông Âu kéo dài qua đến Đông Á. Để ngăn chận sự lan rộng của khối này, Mỹ hình thành thế trận bao vây. Phía Tây thì lập ra khối NATO, phía Đông thì có liên minh Đông Bắc Á và Liên Phòng Đông Nam Á. Các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và hầu hết các nước Đông Nam Á đã tạo nên một chuỗi ngọc trai kéo dài từ bắc xuống nam khoanh Cộng sản lại. Trung Quốc là thế lực đứng đầu của Cộng Sản Châu Á nên TQ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi sự bao vây của chuỗi ngọc trai nầy.
Phía Tây Nam TQ, lúc ấy Ấn Độ không thân thiện với Mỹ nhưng lại xung đột với TQ về vấn đề biên giới và Tây Tạng nên cũng tự nhiên hình thành một mắt xích trong chiến lược vây hãm TQ. Tiếp theo đó lại nổ ra sự xung đột giữa Liên Xô và TQ, bạn biến thành thù. Thế là TQ hoàn toàn bị thập diện mai phục, cô lập với thế giới bên ngoài.
Thế nhưng Trung Quốc đã thoát ra khỏi vòng vây một cách thần kỳ. Đó là nhờ vào công đầu của Việt Nam.
Chưa bị đánh đến người VN cuối cùng nhưng Mỹ đã quá mỏi mệt, tìm cách rút lui khỏi chiến tranh VN trong danh dự. Mỹ phải tìm đến TQ. TQ cũng chỉ cần có vậy, năm 1972 thỏa thuận ngay với Mỹ. Mỹ thoát ra khỏi đống lầy VN, TQ thoát vây lại còn có thêm một món quà khuyến mãi mang tên Hoàng Sa.
Tiếp sau đó, TQ lại gặp may. Bắc Việt đã bất ngờ chiến thắng quá nhanh sau khi Mỹ rút. Vòng vây phía Đông Nam Á bị vỡ vụn. Rồi liên minh quân sự giữa VN và Liên Xô hình thành gây quan ngại cho Mỹ ở Đông Nam Á nên tạo cơ hội cho TQ nhích lại gần Mỹ hơn nữa (Mỹ lôi kéo TQ về phía mình để bao vây Liên Xô). Rồi Liên Xô tan vỡ, rồi Mỹ sa lầy vào cuộc chiến chống khủng bố, TQ hầu như phá tan mọi vòng kiềm tỏa, vươn ra xa, vươn lên cao và bây giờ thành siêu cường thứ 2 có thể cạnh tranh với Mỹ.
Chuỗi ngọc trai dân chủ Ở thế đi lên, TQ đang càng ngày càng trở nên hung hăng làm cho Mỹ không khỏi không giật mình xem lại. Một câu hỏi được đặt ra, phải chăng sau lực lượng Hồi Giáo cực đoan, TQ là thế lực nguy hiểm tiếp theo mà Mỹ phải đối đầu nếu như không tìm cách ngăn chận từ bây giờ.
Những động thái gần đây cho thấy Mỹ đã biểu lộ sự e ngại đó. Mỹ, như nhiều lần ngoại trưởng Hilary nói, lại hướng trọng tâm vào Châu Á. Những hoạt động ngoại giao tích cực của Mỹ trong thời gian gần đây đã hé lộ ra rằng một chuỗi ngọc trai mới đang dần hình thành kéo dài từ Nam Á lên đến Đông Bắc Á để vây quanh TQ lần thứ hai.
Chuổi ngọc trai lần hai nầy tương đối liền mạch và vững chắc hơn thời xưa khi có sự tham gia tích cực của Ấn Độ. Chính sách hướng Đông của quốc gia dân chủ lớn nhất thế giới này đã phù hợp với ý định trở lại Châu Á của Mỹ cũng như đón nhận sự ủng hộ tích cực của các nước Úc, Nhật và ASEAN.
Như vậy chuỗi ngọc trai bao vây Trung Quốc lần hai bao gồm các nước: Nhật, Hàn, Đài Loan, ASEAN, Úc, Ấn.
Lần nầy Mỹ không chỉ bao vây TQ bằng quân sự mà còn bằng một chế độ chính trị đối lập với chế độ độc tài của TQ. Do vậy các nước trong chuỗi ngọc trai mới hầu hết là các nước dân chủ tiên tiến, trừ Việt Nam và Myanma là hai ở ẩn số đang chờ lời giải. Myanma đang có những động thái tích cực tiến về phía dân chủ: Chuyển giao qua chính quyền dân sự, đối thoại với lực lượng đối lập, thả tù chính trị, cho phép lập công đoàn và biểu tình, bắt đầu nói không với TQ và nhích lại gần với Ấn Độ qua chuyến đi Ấn Độ vừa rồi của Tổng thống Myanma.
Ẩn số phức tạp và khó giải nhất vẫn là Việt Nam.
Việt Nam cùng chế độ chính trị với TQ nhưng lại thù địch với TQ trong quá khứ và đang tiếp tục căng thẳng với TQ qua tranh chấp trực tiếp trên Biển đông. Việt Nam vừa muốn đi theo TQ để bào vệ chế độ chính trị lỗi thời nhưng lại vừa muốn là một viên ngọc khác màu trong chuỗi ngọc trai dân chủ để dựa vào đó bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ trước đe dọa khó lường của thế lực đang lên TQ. Việt Nam là ẩn số phức tạp trong bài toán toàn cục, nhưng đồng thời cũng là một bài toán phức tạp của chính mình đang cần tìm một lời giải.
Lẽ nào Việt Nam một lần nữa lại hy sinh thân mình để làm phương tiện giúp Trung Quốc phá vây?
Lời giải nào cho Việt nam? Trong lịch sử, VN đã vướng nhiều sai lầm trong việc tìm đáp án cho bài toán khó của chính mình nên đã gây ra những hậu quả tai ương kéo dài đến tận ngày nay. Ở thế kỷ 19, VN đã chọn giải pháp dựa vào Mãn Thanh, bế quan tỏa cảng khi đối đầu với phương Tây nên đưa đến việc mất nước. Đến thế kỷ 20 VN lại chọn giải pháp dựa vào Liên Xô và Trung Cộng để dành độc lập nên phải đối đầu với siêu cường số một thế giới. Hệ quả là phải qua 20 năm chiến tranh tan tác, hy sinh biết bao xương máu ... Trong khi đó hầu hết các nước thuộc địa trên thế giới đã dành lại độc lập nhanh chóng bằng một phương thức ít tốn hao hơn rất nhiều.
Giờ đây, ở thế kỷ 21, ta lại đối mặt với sự chọn lựa mà tùy thuộc vào nó đất nước sẽ tan hoang hay tiến lên phát triển cùng thế giới. Cần phải trung thực, khách quan và tỉnh táo nhìn nhận lại lịch sử thì mới rút ra bài học đúng đắn cho việc chọn lựa hôm nay. Nhà cầm quyền độc đảng Việt Nam đang nắm trong tay vận mệnh của đất nước. Các vị đang chịu trách nhiệm trước lịch sử khi đẩy đất nước đi theo chọn lựa của mình. HNC
Bác Hồ là "vị anh hùng lưỡng quốc" Đặng Huy Văn (Danlambao) - Hôm nay là ngày kỷ niệm lần thứ 60 ngày ký Hiệp Định Geneve, 20/7/1954, ngày lập lại hòa bình trên toàn cõi Đông Dương và cũng là ngày tạm thời chia cắt nước Việt Nam ra làm 2 Miền. Nhưng cũng vào ngày này, các nước lớn trên thế giới trong đó có cả Trung Quốc đã công khai ký vào Hiệp Định Geneve thừa nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam. Vậy mà không hiểu vì sao, ngày 14/9/1958, thủ tướng Phạm Văn Đồng lại được chính chủ tịch Hồ Chí Minh giao phó để viết Công Hàm gửi chính phủ Trung Quốc “ghi nhận và tán thành” bản Tuyên Bố ngày 4/9/1958 của chính phủ Trung Quốc đơn phương coi hai quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) là một phần của lãnh thổ Trung Quốc? Vậy, việc chủ tịch Hồ Chí Minh giao thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi bức Công Hàm nói trên để “tán thành” hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam là một phần của lãnh thổ Trung Quốc xuất phát từ tình cảm “quốc tế vô sản”, hay vì một tình cảm khác?
Như chúng ta đều biết, chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời luôn được Mao Trạch Đông và đảng cộng sản Trung Quốc yêu mến và kính trọng. Không biết có phải do chủ tịch Hồ Chí Minh đã có thời gian tham gia cuộc Vạn Lý Trường Chinh với Mao nên Mao ghi ơn? Hay vì sau này đã hết lòng đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng để Mao yên tâm làm cuộc Đại cách mạng Văn Hóa Vô Sản mà Mao tin tưởng? Hay nhờ cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam mà năm 1972, Trung Quốc đã có cơ hội làm thân với Mỹ nên Mao yêu mến? Hay nhờ bức công hàm 1958 để Mao có cớ xâm lăng quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam từ tay VNCH ngày 19/1/1974 mà Mao kính trọng?
Còn điều ngược lại thì cả dân tộc Việt Nam cho đến nay vẫn chưa thể nào hiểu nổi! Đó là tại sao chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời lại yêu mến nước Trung Hoa và kính trọng Mao Trạch Đông đến vậy? Hồ Chí Minh đã tận tụy làm bất cứ điều gì mà Mao Trạch Đông muốn, từ CCRĐ để giết hại hàng vạn người có công với cuộc kháng chiến chống Pháp đến mở đường Trường Sơn để đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng… Thậm chí, cho đến lúc nằm hấp hối trên giường bệnh, bác còn nói với các nữ y tá Trung Quốc lúc đó đang chăm sóc bác rằng “Bác muốn nghe một bài hát tiếng Hoa lắm, ở đây có cháu nào hát được không?”
Và oái oăn thay, ngày nay các nhà lãnh đạo Trung Quốc đang triệt để lợi dụng hình tượng Hồ Chí Minh và bức công hàm 1958 để xâm lăng các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông của Việt Nam! Đặc biệt nhất là từ ngày 2/5/2014, giặc Tàu đã hạ đặt giàn khoan khổng lồ HD 981 để thăm dò dầu khí trên thềm lục địa của Việt Nam trước sự phản đối quyết liệt của nhân dân Việt Nam và công luận quốc tế. Nhưng giặc Tàu lại lu loa lên rằng “Bức công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng đã thừa nhận Tây Sa và Nam Sa là của Trung Quốc nên vùng lãnh hải 200 hải lý quanh Tây Sa và Nam Sa là vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc!”.
Vậy nay, tôi viết bài này chỉ để mong các nhà sử học và quý vị độc giả gần xa sẽ trả lời cho dân tộc Việt Nam một câu hỏi: “Hồ Chí Minh là ai?”
Bác Hồ là "vị anh hùng lưỡng quốc" (Cảm tác trước lăng chủ tịch Hồ Chí Minh)
Đứng trước lăng cháu bồi hồi báo bác Khách Phương Bắc sắp sửa ghé thăm lăng Họ đi tới Việt Nam bằng đường biển Có máy bay tàu hộ tống đàng hoàng!
Phải chăng bác năm xưa cùng hoạt động? Nên người ta mến bác, bác Hồ ơi Nghe nói đều ở Hoa Nam tình báo Giúp Việt Nam chống giặc Pháp một thời
Họ ca ngợi Hồ Chí Minh vĩ đại Luôn tận tâm, tận lực với nước nhà Đã suôt đời hy sinh cho tổ quốc Để nối liền “tình hữu nghị Việt-Hoa”!
Bác đã dạy dân Việt quên lịch sử Một nghìn năm đô hộ của giặc Tàu Bởi vô sản “tứ hải giai huynh đệ” Thì láng giềng biên giới có cần đâu!
Phải chăng bác giúp Trung Quốc có thể Lấy Hoàng Sa từ quân lực Cộng Hòa? Nhằm góp phần thắm tô tình hữu nghị Tình giai cấp, tình quốc tế bao la!
Trước cháu tưởng chỉ đảng ta ơn bác Nhưng hiểu ra bác vĩ đại hơn nhiều Bác Hồ là “vị anh hùng lưỡng quốc” Được đảng viên cả hai đảng tin yêu
Không hiểu bác với Trạch Đông là bạn Hay còn thêm cả tình nghĩa đồng hương? Mà bác nguyện thề hi sinh dân Việt Đánh Hoa Kỳ theo nguyện vọng Bắc Phương
Giờ con cháu Trạch Đông sang xâm lược Đặt giàn khoan tìm dầu tại Biển Đông Dân Việt đuổi nhưng giặc Tàu chẳng cút Bởi còn đây bút tích của ông Đồng!(*)
Nay “vì bão”, giàn khoan Tàu tạm rút Để sang năm đặt thêm chục giàn khoan Nằm trong lăng bác Hồ ơi có biết? Triệu ngư dân đang gào thét căm hờn!
Bác ra đi để lại cho dân Việt Tình láng giềng “núi liền núi…liền sông” Mục Nam Quan đã mất cùng Bản Giốc Mất Trường-Hoàng, mất dần cả Biển Đông!
Bác Hồ là vị anh hùng lưỡng quốc Được Tàu yêu “vinh dự lắm” bác ơi! Nay lãnh đạo một lòng trung với bác Nguyện cam tâm theo Tàu cộng suốt đời!
Hà Nội, 20/7/2014
|
|
|
Những nội dung khác:
|
|
|
 |
|