Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Sáu 2026
T2T3T4T5T6T7CN
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30          
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 10
 Lượt truy cập: 29327757

 
Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca 13.06.2026 06:58
Hán gian Hồ Chí Minh: Giặc Hán đốt phá nhà Nam(5)
05.07.2014 22:08

Tháng 2 năm 1963, Trung Quốc táo bạo vừa giả danh, vừa bí mật "bàn giao" cho Hồ Chí Minh một góc đảo Bạch Long Vĩ (白龙) thuộc vùng đảo Bạch Long Vĩ trong Vịnh Bắc Bộ để làm điểm trung chuyển, cung cấp hàng hóa và viện trợ quân sự cho Việt Nam. Thực chất Trung Quốc không chỉ đã cướp lãnh hải của Việt Nam, mà còn dùng Bạch Long Vĩ làm bàn đạp trong tương lai hứa hẹn động thủ chiếm miền Bắc của Việt Nam!

Âm mưu thâm độc của Trung Quốc đã có Hồ Chí Minh hổ trợ sau lưng : năm 1945 là giai đoạn đầu cướp chính quyền, bước kế tiếp, chiếm vùng đảo Vịnh Bắc Bộ, và làng xã biên giới. Lúc đó Trung Quốc đã lấy quyết định cướp cả vùng Vịnh Bắc Bộ của Việt Nam, nếu người Việt Nam phản ứng sẽ có Hồ uy hiếp bằng nhiều thủ thuật. Trung Quốc không bận tâm về mặt này.

Nhờ có Hồ Chí Minh hỗ trợ, Trung Quốc ngang nhiên thành lập căn cứ quân sự, kiểm soát lãnh thổ Việt Nam bằng những hệ thống radar, xây dựng pháo dài kiên cố, và có hơn 2 Sư đoàn tác chiến phòng ngự tại đảo Bạch Long Vĩ. Bộ quốc phòng Trung Quốc vốn xem vùng đảo Bạch Long Vĩ là đặc khu chiến lược "bí mật hàng đầu "(秘密移交) tại biển Đông về hướng phía Bắc của Việt Nam. Hiện nay (2014)  thành phố đảo Bạch Long Vĩ thuộc lãnh hải của Trung Quốc.

Trung Quốc chọn đảo Họa Mi (夜莺) và đảo Phiêu Phù Đích (漂浮的) để thực hiện những chuyển giao hàng viện trợ cho Việt Nam, tăng cường quân sự tại đảo Mã Bạch Sơn (马白山) thành lập bộ chỉ huy viện trợ cho Việt Nam dưới sự quản lý của Quân khu Nam Hải (军分区). Theo hồ sở lưu:

‒ Năm 1955, Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) đóng quân tại đảo Họa Mi trên một Sư đoàn, xây dựng trên 136 công sự kiên cố. Trên đảo có dân cư Việt Nam sinh sống bị quân Trung Quốc xua đuổi, buộc phải rời hỏi đảo.

Tháng 3 năm 1957, Đảo Mã Bạch Sơn thành lậpcơ sở 4, chuyển giao viện trợ vũ khí nặng cho Việt Nam. Bộ chỉ huy chiến trường Việt Nam chính thức thành lập tại đảo Mã Bạch Sơn. Hồ Chí Minh thường bí mật đến đây tham khảo chiến lược, cũng là nơi phân bổ các tướng lãnh Trung Quốc nhảy vào Việt Nam, và đại diện cấp chính phủ thi hành chuyển giao ký nhận theo thủ tục viện trợ đến "ăn mòn" vùng đảo (đổi đảo lấy viện trợ).

Một số người Việt trong phái đoàn đến đảo, cảm thấy bất bình không hài lòng với lối ngoại giao cướp đảo của Trung Quốc. Một sĩ quan Trung Quốc ngang nhiên phát biểu:

‒ Chúng tôi là người Trung Quốc, chỉ chuyển giao những gì theo thủ tục viện trợ, ngoài ra không có lý do nào để quý đồng chí lưu lại trên đảo Họa Mi, nghĩa là đảo của Trung Quốc. Nếu sau này có bàn giao cho Việt Nam, chủ yếu là quan hệ song phương tốt đẹp với Trung Quốc. Dù sao Hồ Chí Minh đã có "tình đồng chí và tình anh em", một chút gần nhau….tuy nhiên vẫn phải có thủ tục thông qua nghi lễ.

Mao Trạch Đông hạ lệnh cho phép bộchỉ huy phân khu Nam Hải Quân (军分区) Trung Quốctiến quân chiếmtrước đảo Họa Mi (夜莺 ) thuộc trong vùng đảo Bạch Long Vĩ (白龙尾).Một vùng Vịnh rộng lớn của Việt Nam ở phía Bắc, nay Trung Quốc tuyên bố chủ quyền trên thềm lục địa, quân Trung Quốc tràn lên đảo hảm hiếp phụ nữ, cướp bóc dụng cụ ngư nghiệp, đàn áp ngư dân, phá hủy cuộc sống hàng chục ngàn của ngư dân không còn đất sống.

Trong bản báo cáo, Thiếu tướng Cát Kiếm Hùng (葛剑雄) tiết lộ:

‒ Về tranh chấp vùng Vịnh Bắc Vịnh, thái độ của Trung Quốc có vẻ găy gắt, đôi khi hành động không khoan nhượng, phía Việt Nam thì nhu nhược. Sự mềm mỏng khó hiểu chỉ có thể giải thích họ Hồ đã bán nước. Hồ Chí Minh không hề lên tiếng, nhân dân trên đảo hỏi nhau: Hồ là người Việt hay là người Hán?

Quả nhiên Hồ nhượng đảo không nghi thức và dường như không có phản ứng... Từ đó Trung Quốc có lý do xem vùng đảo Bạch Long Vĩ là một phần của đảo Hải Nam, Việt Nam tự đánh rơi và xa Bạch Long Vĩ, một cách gián tiếp trao tặng Trung Quốc toàn vùng Vịnh Bắc Bộ.

Trung Quốc đã được quà tặng lớn, đúng như nhận định của Mao :

‒ Việt Nam hoàn toàn sụp đổ, đảng cộng sản của ta đại thắng, Trung Quốc không bị thiệt hại nào đáng kể, lợi ích quốc gia sẽ đến từ ngày hôm này.

Trung Quốc đã chiếm đảo, còn tuyên truyền theo luận điệu đạo đức giả:

‒ Trung Quốc không tha thiết với vùng Vịnh Bắc Bộ của Việt Nam, chỉ là tạm mượng thôi.

Đã là kẻ cướp có khi nào rộng lượng bao giờ, lòng nhân từ của anh cả cộng sản Bắc Kinh được thể hiền bằng lời đơn giản:

"….Yêu cầu chính phủ Việt Nam ngồi vào bàn hội nghị phân định ranh giới, giữa đất liền Việt Nam và đảo Bạch Long Vĩ".

Từ đó đến nay (2014 ) Trung Quốc chưa bao giờ thực hiện đàm phán với Việt Nam về vùng Vịnh Bắc Bộ, họ chỉ nói không bao giờ hành. Thời đại nào Trung Quốc cũng rêu rao : "….Vịnh Bắc Bộ trong dòng chảy giữa Bạch Long Vĩ và đảo Hải Nam, tại phía Nam của Vịnh có lịch sử và truyền thống thủy sản của Trung Quốc từ đó đã có hàng trăm ngàn năm qua. Nếu có đàm phán với Việt Nam hai bên sẽ phân định lại, do sự "hiểu biết ngầm" (nhân nhượng), tuy nhiên làm thế nào để phân chia khu vực đánh cá truyền thống, vì trước đây đã được giải quyết bằng một câu ngắn "qui phục". Bây giờ chúng tôi phải tuân theo qui định mới, căn cứ trên khu vực biển đánh cá của cộng đồng người Hoa để kiểm soát ngư dân Việt Nam".

Anh cả Bắc Kinh của Hồ Chí Minh giảo hoạt, mạnh miệng cho rằng:

‒ Năm 1955, sau khi Trung Quốc giải phóng đất nước, đảo Bạch Long Vĩ thuộc tỉnh Quảng Đông, trước đây gọi là đảo Hoạ Mi (夜莺-Nightingale), đã là một phần của lịch sử Trung Quốc.

Luận giảo của Trung Quốc không có cơ sở pháp lý. Trong vùng đảo Bạch Long Vĩ, ở phía cuối Nam trong vịnh có một làng chài tên Bạch Long Vĩ, có 71 gia cư người Việt, trong khi đó chỉ có 14 gia cư người Hoa. "Pháp Thanh Tân Ước năm 1885" đã phân định ranh giới,chữ ký còn đó chưa phai của nhữngquốc gia liên hệ Vịnh Bắc Bộ của Việt Nam.

GiacHandotphanhaNam-HuynhTam 094
Bản đồ vùng đảo Bạch Long Vĩ, có làng chài Bạch Long Vĩ màu dấu đỏ,
theo: "Pháp Thanh Tân Ước năm 1885" còn ghi rõ.
Nguồn: Pháp Thanh Tân Ước.

GiacHandotphanhaNam-HuynhTam 095
Vùng đảo Bạch Long Vĩ lấy hình ảnh từ vệ tinh 2014. Thế nhưng
Trung Quốc vẫn cho rằng Việt Nam xâm lược.
Nguồn: Cục Bản Đồ Trung Quốc.

"...Bạch Long Vĩ " diện tích khoảng 50.000 km vuông, nằm ​​ở trung tâm của phía Bắc Vịnh Bắc Bộ vĩ độ 20 ° 1 ', kinh độ 107 ° 42'. Trong lịch sử biển đạo của Việt Nam, nghi quá rõ vùng vịnh Bắc Bộ có rất nhiều tên khác nhau do ngư dân Việt Nam cảm xúc tự đặt. Nhà Minh và nhà Thanh cũng đã xác nhận sự thật này. Ngày nay Trung Quốc trắng trợn muốn cướp lấy vùng đảo Bạch Long Vĩ và cả vùng Vịnh Bắc Bộ của Việt Nam. Tuy toàn đảng cộng sản của Hồ Chí Minh không lên tiếng, nhưng không có nghĩa dân tộc Việt Nam đồng tình, chấp nhận để đảng cộng sản bán đứng Vịnh Bắc Bộ và vùng đảo Bạch Long Vĩ để đổi lấy vũ khí. Nhân dân Việt Nam có quyền lên tiếng bảo vệ vùng đảo muôn đời cho đất nước.

Năm 1957, Hồ Chí Minh bí mật "chuyển giao" đảo Bạch Long Vĩ cho Bắc Kinh, xem đó là việc riêng của đảng cộng sản. Nội dung cụ thể của thỏa thuận không có một người dân Việt Nam nào được biết. Mặc dù chữ ký của Hồ Chí Minh vô giá trị, nhưng đảo Bạch Long Vĩ đã bị Trung Quốc chiếm gọn. Quay ngược lại trước thời gian năm 1940, thử hỏi Trung Quốc có dám cầm nhầm vùng đảo Bạch Long Vĩ không? Hồ Chí Minh đã làm khổ đất nước Việt Nam quá nhiều cho đến ngày nay, Trung Quốc thừa biết điều này!

Việt Nam đã trải qua nhiều thời đại và nhân dân luôn tham gia vào việc quyết định đại sự sống còn của quốc gia, đến thời Cộng sản Hồ Chí Minh đạp trên đầu trên cổ dân tộc Việt Nam để đi tắt về ngang bán nước. Đảng Cộng sản Hồ đã chà đạp lịch sử Việt Nam. Họ Hồ lạm dụng quyền thế, nhờ Bắc Kinh hổ trợ cướp chính quyền, tự ý thông đồng với Bắc Kinh dùng một tờ giấy làm công hàm bán nước ngày 14 tháng 9 năm 1958. Hồ mượn Phạm Văn Đồng làm con sai dịch. Bắc Kinh thừa cơ hội bất minh, lấy đà quấy rối, cướp biển Đông của Việt Nam.

Trước đó vào năm 1957, Phạm Văn Đồng cùng Chu Ân Lai đã ký thỏa thuận với nhau, nhượng biển trong Vinh Bắc Bộ gồm vùng đảo Bạch Long Vĩ, vì họ Hồ muốn có phương tiện chiến tranh của Trung Quốc. Thử hỏi Hồ Chí Minh là ai? Có phải là người Việt không mà vui vẻ dâng đất biển cho họ Mao [1]

Tham khảo, lời tuyên bố của Chu Ân Lai: "Trung Quốc-Việt Nam ký văn kiện thỏa thuận nhượngđảo". Chứ không phải cướp đảo. Đặc biệt chữ ký của Mao là "mượn đảo". Dù nhượng hay mượn đảo, đối với Bắc Kinh, việc này đồng nghĩa với đảo thuộc lãnh hải của Trung Quốc. Trong văn kiện thoả thuận nhượng đảo nghi rõ: "Sau khi hoàn tất thỏa thuận. "Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung ương Việt Nam của Hồ Chí Minh đến Trung Quốc yết kiến Mao Trạch Đông và Thủ tướng Chu Ân Lai để yêu cầu thông qua bản thoả thuận mượn đảo Họa Mi nằm trong vùng biển Vịnh Bắc Bộ của Việt Nam, "Mượn" (借-tá) thành "sử dụng" (用-dụng) để xây dựng pháo đài và hệ thốngradar tiên tiến nhất nhầm theo dõi phát hiện máy bay của đế quốc Mỹ ở mọi nơi. Hồ Chí Minh thúc bách, yêu cầu Mao thông qua sơm văn kiện thỏa thuận nhượng đảo" [2]

Trung Quốc viện trợ hào phóng vì quyền lợi, không vì sợ bất kỳ mọi rủi ro nào hay rắc rối về sau bởi trong chiến lược đã có Hồ Chí Minh "tình đồng chí, tình quê hương". [3]

Cả hai Mao - Hồ cùng tuyên bố chung "Thoả thuận mượn Đảo" (借岛说) và " Thoả thuận chuyển giao" (移交说). Theo lý giải của Bộ nghiên cứu Đại học Quốc phòng Quân đội Giải phóng Nhân dân xuất bản năm 1992: "Chúng tôi tranh chấp hải giới với Việt Nam, vấn đề dữ liệu vốn chủ quyền sở hữu đã quy định theo thỏa thuận". Thực tế những văn kiện trên Trung Quốc có được do Hồ Chí Minh thỏa thuận trao đổi vũ khí và Trung Quốc đề cập: "Vịnh Bắc Bộ phân định liên quan đến một yếu tố quan trọng, cụ thể là một hòn đảo ở giữa biển, ban đầu là một phần của đất nước Trung Quốc, như đảo Họa Mi được gọi là lục địa nổi, trong năm 1957, Trung Quốcchuyển giao cho Việt Nam, đểđổi lấy cái đuôi phía Nam của đảo Bạch Long Vĩ, có 14 gia cư người Hoa. " [4]

Ngày nay Trung Quốc cho rằng tất cả trong tất cả, cho dù trước đó "mượn đảo" hay "chuyển giao đảo", đều một ý nghĩa: Trung Quốc trao vũ khí đổi lấy đảo của Việt Nam. Nói chung Hồ Chí Minh bán đảo bằng cách đổi vũ khi qui thành tiền. Thậm chí Hồ Chí Minh tham gia bằng một "cánh tay vào bí mật" (秘密移交方式- Bí mật dị giáo phương thức) bán Vịnh Bắc Bộ.

Theo nhà biên khảo Cao Kiện (高健) tác giả của cuốn sách "Trung Quốc và Luật Quốc Tế về Biển", và một cuốn sách khác có tựa đề "Lịch sử Bạch Long Vĩ lãnh hải Trung Quốc". Cả hai cuốn sách đều cùng nội dung, nhấn mạnh: "Vùng đảo của Trung Quốc tại Vịnh Bắc Bộ có giá trị từ tháng 3 năm 1957, đã thông qua việc chuyển giao bí mật giữa Hồ-Mao. "Vì vậy, một số điều kiện cụ thể của thỏa thuận, đồng co giá trị. Tuy nhiên cuối cuốn sách có cậu : "…những gì của vùng đảo Bạch Long Vĩ cho đến nay vẫn còn trong bí ẩn….". [5]

Lý do nào đảo Họa Mi (夜莺-Nightingale) củaViệt Nam nhưng Trung Quốc "mượn", rồi sau đó đổi lấy cái đuôi của đảo"Bạch Long Vĩ". Tại sao lại có một "Phương thức chuyển đổi bí mật" (秘密移交方式). Rất nhiều nguồn giải thích khác nhau, cho rằng những tài liệu đã tham khảo không tiết lộ bí mật, tuy nhiên tài liệu của Hoa Nam hé lộ một cách tinh tưởng: …."Trung Quốc đứng đầu phong trào Cộng sản châu Á, kêu gọi các nhà lãnh đạo Cộng sản hỗ trợ cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam, Hồ Chí Minh và Cộng sản Việt Nam được Mao hậu thuẫn. Tuy nhiên Trung Quốc tránh mặt không muốn ai biết nhiều về cung cách "hiếu chiến" (参战国) của Mao, người đã trực tiếp tham chiến tại Việt Nam vào thời điểm đó. Mao đã trở thành người đối đầu trực tiếp với quân đội Mỹ tại Việt Nam. Vì vậy, Maolấy những đảo trong vùng Vịnh Bắc Bộ, nơi quan trọng nhất, làm trạm trung gian chuyển vũ khí viện trợ cho Cộng sản Việt Nam.

Dữ liệu hiện có cho thấy rằng: Trung Quốc thực sự có mượn đảo Họa Mi làm nơi chuyển vũ khí giúp Việt Nam, trên đảo xây dựng một pháo đài trung tâm radar, và một số trại lưu trữ lượng lớn vũ khí với những vật liệu cung cấp chiến tranh cho Việt Nam, từ đó vận chuyển đến những nơi bí mật của Cộng sản Việt nam. Hồ sơ thỏa thuận về vùng Vịnh Bắc Bộ đề cập: "….về phía Bắc Việt Nam đãbí mật đầu hàng, dâng đảo "Họa Mi" cho Trung Quốc". Hồ Chí Minh người chịu trách nhiệm "chuyển giao" hải đảo. Mặt khác Hồ Chí Minh đã khôn ngoan muốn tránh lịch sử phê phán, tuyên bố: Công việc cũ, tôi nhớ lại "Có vẻ như tôi đã làm sai". (工作的老将军回忆 :“看来我是做错了一件事”). Chính Hồ chạy quanh quất, tìm đủ phương cách bán nước Việt Nam cho Trung Quốc [6]

GiacHandotphanhaNam-HuynhTam 096
Thành phố đảo, Vịnh Bạch Long Vĩ thuộc lãnh hải của Trung Quốc.
Nguồn: Hành chính tỉnh Quảng Đông.

Trong văn kiện thỏa thuận đã được ký kết theo ngôn ngữ Trung Hoa, còn có hai chữ ẩn ý đầy ấp mưu đồ cướp. Danh từ "Tống khứ" (送岛) cho thấy thông tin này là thật. Chính Hồ Chi Minh đã bán toàn vùng Vịnh Bắc Bộ và nói lên ý nghĩa của nó "Tống khứ". Trong qui trình "chuyển giao" đảo, Mao và Hồ đã cónhững quyết định mù mờ khi ký nhượng đảo.

Sự kiện này không ngờ Thiếu tướng Cát Kiếm Hùng (葛剑雄) tổng chỉ huy quân sự Tiểu khu Hải đảo Hải Nam,đại diện cho Trung Quốc, lo thủ tục "chuyển giao" đảo, đã phanh phui ra. Ông có mộtuẩn khúc, vô tình phản đối, trong thỏa thuận bán nước của Hồ Chí Minh, có ghi: "Sáp nhập đảo Mã Bạch Sơn (码白山) của Hải Nam vào Vịnh Bắc Bộ". Thực chất sáp nhập vào vùng đảo Vịnh Bắc Bộ, chỉ là một lý cớ để sau đó chuyển quyền kiểm soát quân sự cho Tiểu khu Hải Đảo Hải Nam".

Trong thỏa thuận có một đoạn văn ghi là cướp hải đảo của Việt Nam:

"Năm 1950, Hải Nam và các đảo nổi trong vùng Vịnh được Trung Quốc giải phóng, đến đầu năm 1955, Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đóng quân tại những hòn đảo này, xây dựng các công sự đảo. Buộc nhân dân Việt Nam đang sống trên đảo nhập tịch Trung Quốc, thay đổi điều hành làng-xã, quản lý người dân theo sinh hoạt người Hán, quân đội có nhiệm vụ kiểm soát đảo, hạn định tháng 4 năm 1955, mọi sinh hoạt trên các đảo phải ổn định”.

GiacHandotphanhaNam-HuynhTam 097
Đảo Họa Mi (Vịnh Bắc Bộ) trong vùng Vịnh Bạch Long Vĩ,
nay đã thuộc quyền lãnh hải của Trung Quốc. 

Nguồn: Hành chính tỉnh Quảng Đông.

Thiếu tướng Cát Kiếm Hùng (葛剑雄) để lại nhật ký trong ngăn kéo Hoa Nam:

"…Thiếu tướng Cát Kiếm Hùng (葛剑雄), phó chỉ huy của quân đội tiểu khu Hải Nam, tháng 3 năm 1957, tôi được phân công làm đại diện cấp cao, có nhiệm vụ bàn giao đảo nổi giữa Việt Nam-Trung Quốc. Phía đại diện Việt Nam cũng có một phó chỉ huy thuộc tiểu khu quân sự Duyên Hải. Chúng tôi trao đổi tập tin tại đảo Mã Bạch Sơn, trước nhất bổ nhiệm tôi làm mệnh toàn quyền vùng đảo nổi trong Vịnh Bắc Bộ. Sau đó nhân dân và hành chánh Đảng ủy quận Hải Nam cho di dân đến đảo Bạch Long Vĩ. Người Trung Hoa phản đối như tôi ở buổi ban đầu, họ cho rằng nhà nước Trung Quốc đầu hàng, rút quân, mọi người không di chuyển. Một số người không hài lòng, nói rằng: Chúng tôi là người Trung Quốc, tại sao thay đổi đảo và các cơ sở khác trao cho Việt Nam”.

Đúng hơn, Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh xem trọng việc cướp đảo của Việt Nam, và không hề quan tâm đến quyền sống của con người. Cộng sản đã chủ trương, nếu hôm nay chết một người dân rồi ngày mai sẽ sinh trăm, riêng lục địa, hải đảo, biển Đông chỉ mất chứ không sinh!

Đặc biệt trong buổi lễ bàn giao, được tổ chức trên đảo, tất cả các công tác chuẩn bị đã có sắp xếp và lệnh từ trên xuống, tài liệu đã sẵn sàng, thủ tục ký kết thực hiện chuyển giao theo nghi thức ngoại giao rấtchu đáo: Buổi lễ tổ chức trên sân thượng (桌上) pháo đài, khai trà hội, đặt thức ăn nhẹ, từ Hà Nội đem đến đảo, sau đó tổ chức một bữa ăn tối vào nử đêm. Phía đại diện quân sự Việt Nam cử một đoàn biểu diễn ca múa. Những thành viên trong đoàn kịch có nhiều người dân Trung Quốc, tuyển từ trong hội Hoa-Việt đã sinh sống lâu năm tại Việt Nam... trong lúc bàn giao đảo cho Trung Quốc, chủ yếu là quan hệ song phương tốt đẹp. Chúng tôi đã từng xem Hồ Chí Minh trong "tình đồng chí và tình anh em". Vâng, nay họ dâng hiến một chút đảo của Việt Nam thể hiện tình bạn, dành cho ông anh tốt, có xá gì! Nghi lễ bàn giao diễn ra khá long trọng". [7]

Hồ Chí Minh dâng đảo Bạch Long Vĩ cho Mao

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hố Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình. Cũng trong ngày này tại Bắc Kinh, Mao Trạch Đông tuyên bố:

‒ Việt Nam hoàn tòan sụp đổ, đảng cộng sản của ta đại thắng, Trung Quốc không bị thiệt hại nào đáng kể, lợi ích quốc gia sẽ đến từ ngày hôm này.

GiacHandotphanhaNam-HuynhTam 092
Ngày 25 tháng 7 năm 1955, Hồ Chí Minh đến Bắc Kinh đàm phán vùng Vịnh Bắc Bộ. Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, đưa Hồ Chí Minh vào lạc thú xem các màn trình diễn kịch nói (hát tuồng), chủ đề "Tháng 9" (nhấn mạnh ngày 2/9/1945), tại vườn hoa Trung Nam Hải. Bắc Kinh theo nghi thức ngoại giao, phân ngôi thứ tự "chủ-tớ" một khi ở nơi sinh hoạt công cộng, Hồ phải ngồi cách một khoảng xa vị trí của Mao. Nguồn: Tình báo Hoa Nam.

Sự kiện đen tối nhất của Việt Nam khởi đầu vào năm 1978. Mối quan hệ "Tình đồng chí, tình anh em" của Việt Nam và Trung Quốc đã đến lúc không khoan dung, không khoan nhượng. Trung Quốc nhanh tay tính sổ cả vốn lẫn lời. Trước sau gì đảng cộng sản Việt Nam cũng phải thanh toán cho ông chủ lớn. Trung Quốc có ý đồ lấy món nợ chiến tranh để trừng trị Hà Nội. Trong sổ nợ, trên trang đầu tiên, Trung Quốc ghi tính từ năm 1950-1978. Theo thuật cai trị của cộng sản, Bắc Kinh muốn Hà Nội khấu đầu (chịu làm "Chư hầu", bằng không Hà Nội bị "Chinh phạt"). Trung Quốc đã chi cho chiến tranh Việt Nam hơn 20 tỷ USD, tương đương khoảng 5.000 nghìn tỷ đồng nhân dân tệ, với thời giá năm 1978.

Năm 1950, Hồ Chí Minh đầu tư chiến tranh vào Việt Nam, ký hợp đồng vớ Trung Quốc để nhận viện trợ chống lại kẻ thù của cộng sản là miền Nam Việt Nam.

Năm 1978, Trung Quốc kết thúc viện trợ cho Cộng sản Việt Nam nhưng diễn biến lại không lấy gì tốt đẹp giữa hai quốc gia.

Thực chất Trung Quốc cản trở không cho phép Việt Nam thân Liên Xô. Họ viện cớthu hồi tất cả vốn, lời lãi đã viện trợ cho Việt Nam. Hành động này của Trung Quốc mang nặng tính chất oán thù giữa người cộng sản lẫn nhau, họ không còn đề cao "Tình đồng chí, tình anh em". Số nợ này được phân chia thành bốn giai đoạn:

1- 1950-1954, Trung Quốc thành lập đảng Cộng sản Đông Dương, viện trợ cho Việt Nam chống Pháp.

2- 1954-1964, sau khi miền Bắc Việt Nam tuyên bố độc lập, Trung Quốc viện trợ kinh tế, tài chánh, quốc phòng củng cố chế độ Cộng sản chủ nghĩa.

3- 1965-1973, Trung Quốc cung cấp viện trợ toàn diện cho Việt Nam để cướp chính quyền miền Nam Việt Nam .

4- 1973-1978, sau chiến tranh Trung Quốc viện trợ tái thiết cho Việt Nam và củng cố quyền lực của đảng cộng sản Việt Nam.

Trong 30 năm qua, Bắc Kinh buộc Việt Nam sống hòa mình theo ân nghĩa cổ của Trung Hoa, chủ yếu khía cạnh viện trợ và ngoại giao như sau:

Ngày 18 tháng 1 năm 1950. Trung Quốc công nhận ngoại giao và viện trợ:

A ‒ Trên trường quốc tế lần đầu tiên chính phủ Trung Quốc công nhận nước Cộng hòa Dân chủ Việt Nam. Trung Quốc sẵn sàng đối đầu với người Pháp tại Việt Nam.

Lưu Thiếu Kỳ mời đại sứ Việt Nam Hoàng Văn Hoan thông báo:

‒ Trung Quốc công nhận Cộng hòa Dân chủ Việt Nam, tôi tin rằng Pháp Quốc sẽ trì hoãn việc công nhận Trung Quốc, nhưng chúng ta không sợ.

Năm 1964, Hoa Kỳ bước vào cuộc chiến tranh Việt Nam, Trung Quốc lấy thái độ kiên quyết viện trợ cho Việt Nam nhiều hơn. Chẳng hạn, ngày 24 tháng 6 năm 1964, Mao Trạch Đông đã gặp Tham mưu Trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Tuóngg Văn Tiến Dũng và tuyên bố rằng:

"‒ …Đừng sợ sự can thiệp của Mỹ, một lần nữa không có gì hơn chiến tranh Triều Tiên, quân đội Trung Quốc đã một lần nữa được chuẩn bị, nếu cuộc phiêu lưu Mỹ đánh Bắc Việt, quân quân đội Trung Quốc đã từng có một quá khứ chiến đấu chống lại các lực lượng Mỹ …nhân dân Trung Quốc sẵn sàng, nếu Mỹ có khả năng gửi quân đội đến Việt Nam, Trung Quốc sẽ không xa lánh chiến tranh với Hoa Kỳ. Chúng tôi đi về hướng của các bạn, sẽ bước vào tham chiến vô điều kiện chống lại kẻ thù chung. Tất cả chúng ta cùng dòng suy nghĩ chiến đấu. Người dân Trung Quốc sẽ cung cấp tất cả vật liệu chiến đấu cho nhân dân Việt Nam, và mọi viện trợ vật chất cần thiết, bao gồm vũ khí. Nguyên tắc của viện trợ là không cần bạn yêu cầu, chúng tôi đã đưa ra sáng kiến viện trợ này nằm trong bàn tay của bạn….".

B ‒ Từ 1950-1978, ngoài thời kỳ chiến tranh Việt Nam chống Pháp, còn có một loạt tổng viện trợ giúp đào tạo cán bộ đảng, xây dựng cơ sở đảng. Trung Quốc đã cung cấp 203.6845 triệu nhân dân tệ (RMB). Trong đó: Viện trợ các tài liệu chung lên đến 100.6742 triệu nhân dân tệ, chiếm tổng viện trợ 50% , bao gồm thực phẩm 5.000.000 tấn, 2.000.000 tấn dầu, ô tô 35.000,600 tàu tuần tra, các khoản viện trợ quân sự trên 49.667.900.000 nhân dân tệ, chiếm viện trợ trong tổng số 24% , bao gồm súng 2.138.000 (khá), 70.000 pháo phòng không, 1.240.000.000 đạn dược, 18.070.000 bộ quân dụng, 176 tàu chiến, 552 xe tăngđổ bộ, 320 xe bọc thép, hơn 170 máy bay, 18.240 tấn thuốc nổ, 65.000 động cơ điện, 35.000 vô tuyến điện, 11.170.000 quân trang cho những đơn vị binh chủng... có khả năng trang bị cho 200 triệu người, tương đương khoảng 4,26 tỷ nhân dân tệ. Viện trợ theo kế toán sơ khởi 36.261.900.000 nhân dân tệ, chiếm tổng viện trợ 18% , còn có những viện trợ đặc biệt, đã thành lập từ 339 đơn vị đến 450 đơn vị Sư đoàn.

Kể cả viện trợ xây dựng các nhà máy công nghiệp nặng, bệnh viện, viện nghiên cứu của bộ thiết bị; trợ cấp tiền mặt 635 triệu nhân dân tệ, chiếm trong tổng số8%. Đặc biệt, tình trạng thiếu ngoại hối của Trung Quốc trong các trường hợp, hàng trăm triệu đô-la ngoại tệ viện trợ cho Việt Nam sử dụng cho đoàn quân cơ giới.

C ‒ Ngày 16 tháng 5 năm 1965, Hồ Chí Minh và Mao hẹn gặp nhau tại Trường Sa, trong buổi đàm phán Mao Trạch Đông đã nhắc nhở Hồ:

‒ Đảng của bạn và chính phủ Việt Nam phải có quyết định triển khai thêm quân đội từ phía sau ra phía trước, đẩy quân chính qui hoạt động nhiều hơn, nếu khôngviệc hỗ trợ hậu cần phía sau sẽ bị ảnh hưởng.

Hồ chí Minh biết ý của Mao muốn đề cập đến chiến thuật biển người, (Mào thà lấy đất bỏ người), và yêu cầu Mao:

‒ Về các khía cạnh hậu cần, Trung Quốc có thể làm một số lĩnh vực đắc lực hơn nữa, quân chính qui Việt Nam-Trung Quốc nhất định tin tưởng vào hậu cần, do đó Việt Nam có thể huy động quân đội tiến lên phía trước như Chủ tịch đã dạy.

Mao Trạch Đông lập tức đồng ý. Ngày 09 tháng 6 năm 1965, Trung Quốc viện trợ phù hợp với các yêu cầu của Hồ Chí Minh. Trung Quốc liên tục gửi những Sư đoàn phòng không, kỹ thuật, đường sắt, hậu cần và những binh chủng quân đội khác tiến vào Việt Nam để thực hiện đường lối quân sự của Mao, cuộc viện trợ này kết thúc từ tháng 3 năm 1968. Tuy nhiên quân số viễn chinh thực sự của Trung Quốc đang đóng quân trong lãnh thổ Việt Nam không được tiết lộ; chỉ biết, từ 17 triệu quân binh có thể nâng cao đến 32 triệu quân, cụ thể nhất trong lãnh thổ Việt Nam đã có13 quân đoàn.

Con số viện trợ của Trung Quốc hỗ trợ quân đội cho Việt Nam đã vượt ngoài kỷ lục, chưa từng có trong quân sử chiến tranh, bao gồm số lượng lớn pháo binh, có hơn 4.150 cao xạ phòng không. Dự kiến bắn hạ 1707 máy bay Mỹ, 1608 tù binh. Quân đội Trung Quốc lấy quyết định hỗ trợ kỹ thuật xây dựng hơn 1250 pháo đài, 1370 chiến hào, và những công sự khác nhau, xây dựng lại đường chiến lược 7, dài 1.206 km; đường sắt mới117 km.

D ‒ Năm 1968, Trung Quốc hỗ trợ vận chuyển miễn phí lần thứ 2, gồm 178 chuyến tàu hỏa, giúp Liên Xô và các nước Đông Âu tham chiến tại Việt Nam, chuyên chở trên 576.523 tấn hàng cung cấp cho nhà nước Cộng sản Việt Nam. Vận tải lần thứ 3, hơn 185 chuyến tàu hỏa, tổng cộng 630.000 tấn hàng. Trung Quốc hoàn toàn miễn phí vận chuyển 138 triệu nhân dân tệ.

Theo thống kê, kế toán của Trung Quốc, vật tư chi tiêu quân sự đã trực tiếp chuyển vào Việt Nam, tổng cộng hơn 20 tỷ USD, theo kế toán hiện có khoảng 5 nghìn tỷ nhân dân tệ RMB, (Chú ý: chuyển đổi USD so với vàng trước những năm 1980 giá là $ 35/lạng vàng (ounce), và bây giờ giá là $ 1,600/lạng vàng (oz). Tỷ giá nhân dân tệ đô la hiện tại là $ 1=6,2 nhân dân tệ). Trong sự trợ giúp tổng thể, ngoài vay không lãi khoảng 1,4 tỷ nhân dân tệ của Trung Quốc. Ngay cả sự hỗ trợ thanh toán và cho vay, phía Trung Quốc cũng có thể giảm nhẹ lãi để giảm bớt gánh nặng cho Việt Nam.

Ví dụ, giữa tháng 7 năm 1965, khi Hồ Chí Minh đã ký kết "Hiệp định về viện trợ kinh tế và kỹ thuật của Trung Quốc đối với Việt Nam" (中国给予越南经济技术援助的协定).

Những năm 1963, Trung Quốc đã cho Hồ Chí Minh vay 100.000 tấn ngũ cốc, từ năm 1963-1965. Hồ Chí Minh vay thêm 196.500 tấn ngũ cốc, và phân bón 88.600 tấn. Ngoài ra Trung Quốc viện trợ cho Hồ Chí Minh, 3.400 tấn ngũ cốc, 18.600 tấn phân bón, tổng cộng trước sau lên tới 106 triệu nhân dân tệ.

GiacHandotphanhaNam-HuynhTam 093
Hồ Chí Minh bí mật liên hệ với các tướng lãnh Trung Quốc đến đảo Mã Bạch Sơn viếng thăm bộ chỉ huy viện trợ quân sự tại căn cứ Quân khu Nam Hải. (Từ trái sang) Đại tướng Vi Quốc Thanh, Hồ Chí Minh, Thiếu tướng Trương Nhật Thanh (张日清) Bí thư tỉnh ủy Nam Ninh, Thiếu tướng Hà Đình Nhất (何廷一) Chủ tịch tỉnh Quảng Châu. Nguồn: Tình báo Hoa Nam.

Tháng 2 năm 1963, Trung Quốc táo bạo vừa giả danh, vừa bí mật "bàn giao" cho Hồ Chí Minh một góc đảo Bạch Long Vĩ (白龙) thuộc vùng đảo Bạch Long Vĩ trong Vịnh Bắc Bộ để làm điểm trung chuyển, cung cấp hàng hóa và viện trợ quân sự cho Việt Nam. Thực chất Trung Quốc không chỉ đã cướp lãnh hải của Việt Nam, mà còn dùng Bạch Long Vĩ làm bàn đạp trong tương lai hứa hẹn động thủ chiếm miền Bắc của Việt Nam!

Âm mưu thâm độc của Trung Quốc đã có Hồ Chí Minh hổ trợ sau lưng : năm 1945 là giai đoạn đầu cướp chính quyền, bước kế tiếp, chiếm vùng đảo Vịnh Bắc Bộ, và làng xã biên giới. Lúc đó Trung Quốc đã lấy quyết định cướp cả vùng Vịnh Bắc Bộ của Việt Nam, nếu người Việt Nam phản ứng sẽ có Hồ uy hiếp bằng nhiều thủ thuật. Trung Quốc không bận tâm về mặt này.

Nhờ có Hồ Chí Minh hỗ trợ, Trung Quốc ngang nhiên thành lập căn cứ quân sự, kiểm soát lãnh thổ Việt Nam bằng những hệ thống radar, xây dựng pháo dài kiên cố, và có hơn 2 Sư đoàn tác chiến phòng ngự tại đảo Bạch Long Vĩ. Bộ quốc phòng Trung Quốc vốn xem vùng đảo Bạch Long Vĩ là đặc khu chiến lược "bí mật hàng đầu "(秘密移交) tại biển Đông về hướng phía Bắc của Việt Nam. Hiện nay (2014)  thành phố đảo Bạch Long Vĩ thuộc lãnh hải của Trung Quốc.

Trung Quốc chọn đảo Họa Mi (夜莺) và đảo Phiêu Phù Đích (漂浮的) để thực hiện những chuyển giao hàng viện trợ cho Việt Nam, tăng cường quân sự tại đảo Mã Bạch Sơn (马白山) thành lập bộ chỉ huy viện trợ cho Việt Nam dưới sự quản lý của Quân khu Nam Hải (军分区). Theo hồ sở lưu:

‒ Năm 1955, Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) đóng quân tại đảo Họa Mi trên một Sư đoàn, xây dựng trên 136 công sự kiên cố. Trên đảo có dân cư Việt Nam sinh sống bị quân Trung Quốc xua đuổi, buộc phải rời hỏi đảo.

Tháng 3 năm 1957, Đảo Mã Bạch Sơn thành lậpcơ sở 4, chuyển giao viện trợ vũ khí nặng cho Việt Nam. Bộ chỉ huy chiến trường Việt Nam chính thức thành lập tại đảo Mã Bạch Sơn. Hồ Chí Minh thường bí mật đến đây tham khảo chiến lược, cũng là nơi phân bổ các tướng lãnh Trung Quốc nhảy vào Việt Nam, và đại diện cấp chính phủ thi hành chuyển giao ký nhận theo thủ tục viện trợ đến "ăn mòn" vùng đảo (đổi đảo lấy viện trợ).

Một số người Việt trong phái đoàn đến đảo, cảm thấy bất bình không hài lòng với lối ngoại giao cướp đảo của Trung Quốc. Một sĩ quan Trung Quốc ngang nhiên phát biểu:

‒ Chúng tôi là người Trung Quốc, chỉ chuyển giao những gì theo thủ tục viện trợ, ngoài ra không có lý do nào để quý đồng chí lưu lại trên đảo Họa Mi, nghĩa là đảo của Trung Quốc. Nếu sau này có bàn giao cho Việt Nam, chủ yếu là quan hệ song phương tốt đẹp với Trung Quốc. Dù sao Hồ Chí Minh đã có "tình đồng chí và tình anh em", một chút gần nhau….tuy nhiên vẫn phải có thủ tục thông qua nghi lễ.

Mao Trạch Đông hạ lệnh cho phép bộchỉ huy phân khu Nam Hải Quân (军分区) Trung Quốctiến quân chiếmtrước đảo Họa Mi (夜莺 ) thuộc trong vùng đảo Bạch Long Vĩ (白龙尾).Một vùng Vịnh rộng lớn của Việt Nam ở phía Bắc, nay Trung Quốc tuyên bố chủ quyền trên thềm lục địa, quân Trung Quốc tràn lên đảo hảm hiếp phụ nữ, cướp bóc dụng cụ ngư nghiệp, đàn áp ngư dân, phá hủy cuộc sống hàng chục ngàn của ngư dân không còn đất sống.

Trong bản báo cáo, Thiếu tướng Cát Kiếm Hùng (葛剑雄) tiết lộ:

‒ Về tranh chấp vùng Vịnh Bắc Vịnh, thái độ của Trung Quốc có vẻ găy gắt, đôi khi hành động không khoan nhượng, phía Việt Nam thì nhu nhược. Sự mềm mỏng khó hiểu chỉ có thể giải thích họ Hồ đã bán nước. Hồ Chí Minh không hề lên tiếng, nhân dân trên đảo hỏi nhau: Hồ là người Việt hay là người Hán?

Quả nhiên Hồ nhượng đảo không nghi thức và dường như không có phản ứng... Từ đó Trung Quốc có lý do xem vùng đảo Bạch Long Vĩ là một phần của đảo Hải Nam, Việt Nam tự đánh rơi và xa Bạch Long Vĩ, một cách gián tiếp trao tặng Trung Quốc toàn vùng Vịnh Bắc Bộ.

Trung Quốc đã được quà tặng lớn, đúng như nhận định của Mao :

‒ Việt Nam hoàn toàn sụp đổ, đảng cộng sản của ta đại thắng, Trung Quốc không bị thiệt hại nào đáng kể, lợi ích quốc gia sẽ đến từ ngày hôm này.

Trung Quốc đã chiếm đảo, còn tuyên truyền theo luận điệu đạo đức giả:

‒ Trung Quốc không tha thiết với vùng Vịnh Bắc Bộ của Việt Nam, chỉ là tạm mượng thôi.

Đã là kẻ cướp có khi nào rộng lượng bao giờ, lòng nhân từ của anh cả cộng sản Bắc Kinh được thể hiền bằng lời đơn giản:

"….Yêu cầu chính phủ Việt Nam ngồi vào bàn hội nghị phân định ranh giới, giữa đất liền Việt Nam và đảo Bạch Long Vĩ".

Từ đó đến nay (2014 ) Trung Quốc chưa bao giờ thực hiện đàm phán với Việt Nam về vùng Vịnh Bắc Bộ, họ chỉ nói không bao giờ hành. Thời đại nào Trung Quốc cũng rêu rao : "….Vịnh Bắc Bộ trong dòng chảy giữa Bạch Long Vĩ và đảo Hải Nam, tại phía Nam của Vịnh có lịch sử và truyền thống thủy sản của Trung Quốc từ đó đã có hàng trăm ngàn năm qua. Nếu có đàm phán với Việt Nam hai bên sẽ phân định lại, do sự "hiểu biết ngầm" (nhân nhượng), tuy nhiên làm thế nào để phân chia khu vực đánh cá truyền thống, vì trước đây đã được giải quyết bằng một câu ngắn "qui phục". Bây giờ chúng tôi phải tuân theo qui định mới, căn cứ trên khu vực biển đánh cá của cộng đồng người Hoa để kiểm soát ngư dân Việt Nam".

Anh cả Bắc Kinh của Hồ Chí Minh giảo hoạt, mạnh miệng cho rằng:

‒ Năm 1955, sau khi Trung Quốc giải phóng đất nước, đảo Bạch Long Vĩ thuộc tỉnh Quảng Đông, trước đây gọi là đảo Hoạ Mi (夜莺-Nightingale), đã là một phần của lịch sử Trung Quốc.

Luận giảo của Trung Quốc không có cơ sở pháp lý. Trong vùng đảo Bạch Long Vĩ, ở phía cuối Nam trong vịnh có một làng chài tên Bạch Long Vĩ, có 71 gia cư người Việt, trong khi đó chỉ có 14 gia cư người Hoa. "Pháp Thanh Tân Ước năm 1885" đã phân định ranh giới,chữ ký còn đó chưa phai của nhữngquốc gia liên hệ Vịnh Bắc Bộ của Việt Nam.

GiacHandotphanhaNam-HuynhTam 094
Bản đồ vùng đảo Bạch Long Vĩ, có làng chài Bạch Long Vĩ màu dấu đỏ,
theo: "Pháp Thanh Tân Ước năm 1885" còn ghi rõ.
Nguồn: Pháp Thanh Tân Ước.

GiacHandotphanhaNam-HuynhTam 095
Vùng đảo Bạch Long Vĩ lấy hình ảnh từ vệ tinh 2014. Thế nhưng
Trung Quốc vẫn cho rằng Việt Nam xâm lược.
Nguồn: Cục Bản Đồ Trung Quốc.

"...Bạch Long Vĩ " diện tích khoảng 50.000 km vuông, nằm ​​ở trung tâm của phía Bắc Vịnh Bắc Bộ vĩ độ 20 ° 1 ', kinh độ 107 ° 42'. Trong lịch sử biển đạo của Việt Nam, nghi quá rõ vùng vịnh Bắc Bộ có rất nhiều tên khác nhau do ngư dân Việt Nam cảm xúc tự đặt. Nhà Minh và nhà Thanh cũng đã xác nhận sự thật này. Ngày nay Trung Quốc trắng trợn muốn cướp lấy vùng đảo Bạch Long Vĩ và cả vùng Vịnh Bắc Bộ của Việt Nam. Tuy toàn đảng cộng sản của Hồ Chí Minh không lên tiếng, nhưng không có nghĩa dân tộc Việt Nam đồng tình, chấp nhận để đảng cộng sản bán đứng Vịnh Bắc Bộ và vùng đảo Bạch Long Vĩ để đổi lấy vũ khí. Nhân dân Việt Nam có quyền lên tiếng bảo vệ vùng đảo muôn đời cho đất nước.

Năm 1957, Hồ Chí Minh bí mật "chuyển giao" đảo Bạch Long Vĩ cho Bắc Kinh, xem đó là việc riêng của đảng cộng sản. Nội dung cụ thể của thỏa thuận không có một người dân Việt Nam nào được biết. Mặc dù chữ ký của Hồ Chí Minh vô giá trị, nhưng đảo Bạch Long Vĩ đã bị Trung Quốc chiếm gọn. Quay ngược lại trước thời gian năm 1940, thử hỏi Trung Quốc có dám cầm nhầm vùng đảo Bạch Long Vĩ không? Hồ Chí Minh đã làm khổ đất nước Việt Nam quá nhiều cho đến ngày nay, Trung Quốc thừa biết điều này!

Việt Nam đã trải qua nhiều thời đại và nhân dân luôn tham gia vào việc quyết định đại sự sống còn của quốc gia, đến thời Cộng sản Hồ Chí Minh đạp trên đầu trên cổ dân tộc Việt Nam để đi tắt về ngang bán nước. Đảng Cộng sản Hồ đã chà đạp lịch sử Việt Nam. Họ Hồ lạm dụng quyền thế, nhờ Bắc Kinh hổ trợ cướp chính quyền, tự ý thông đồng với Bắc Kinh dùng một tờ giấy làm công hàm bán nước ngày 14 tháng 9 năm 1958. Hồ mượn Phạm Văn Đồng làm con sai dịch. Bắc Kinh thừa cơ hội bất minh, lấy đà quấy rối, cướp biển Đông của Việt Nam.

Trước đó vào năm 1957, Phạm Văn Đồng cùng Chu Ân Lai đã ký thỏa thuận với nhau, nhượng biển trong Vinh Bắc Bộ gồm vùng đảo Bạch Long Vĩ, vì họ Hồ muốn có phương tiện chiến tranh của Trung Quốc. Thử hỏi Hồ Chí Minh là ai? Có phải là người Việt không mà vui vẻ dâng đất biển cho họ Mao [1]

Tham khảo, lời tuyên bố của Chu Ân Lai: "Trung Quốc-Việt Nam ký văn kiện thỏa thuận nhượngđảo". Chứ không phải cướp đảo. Đặc biệt chữ ký của Mao là "mượn đảo". Dù nhượng hay mượn đảo, đối với Bắc Kinh, việc này đồng nghĩa với đảo thuộc lãnh hải của Trung Quốc. Trong văn kiện thoả thuận nhượng đảo nghi rõ: "Sau khi hoàn tất thỏa thuận. "Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung ương Việt Nam của Hồ Chí Minh đến Trung Quốc yết kiến Mao Trạch Đông và Thủ tướng Chu Ân Lai để yêu cầu thông qua bản thoả thuận mượn đảo Họa Mi nằm trong vùng biển Vịnh Bắc Bộ của Việt Nam, "Mượn" (借-tá) thành "sử dụng" (用-dụng) để xây dựng pháo đài và hệ thốngradar tiên tiến nhất nhầm theo dõi phát hiện máy bay của đế quốc Mỹ ở mọi nơi. Hồ Chí Minh thúc bách, yêu cầu Mao thông qua sơm văn kiện thỏa thuận nhượng đảo" [2]

Trung Quốc viện trợ hào phóng vì quyền lợi, không vì sợ bất kỳ mọi rủi ro nào hay rắc rối về sau bởi trong chiến lược đã có Hồ Chí Minh "tình đồng chí, tình quê hương". [3]

Cả hai Mao - Hồ cùng tuyên bố chung "Thoả thuận mượn Đảo" (借岛说) và " Thoả thuận chuyển giao" (移交说). Theo lý giải của Bộ nghiên cứu Đại học Quốc phòng Quân đội Giải phóng Nhân dân xuất bản năm 1992: "Chúng tôi tranh chấp hải giới với Việt Nam, vấn đề dữ liệu vốn chủ quyền sở hữu đã quy định theo thỏa thuận". Thực tế những văn kiện trên Trung Quốc có được do Hồ Chí Minh thỏa thuận trao đổi vũ khí và Trung Quốc đề cập: "Vịnh Bắc Bộ phân định liên quan đến một yếu tố quan trọng, cụ thể là một hòn đảo ở giữa biển, ban đầu là một phần của đất nước Trung Quốc, như đảo Họa Mi được gọi là lục địa nổi, trong năm 1957, Trung Quốcchuyển giao cho Việt Nam, đểđổi lấy cái đuôi phía Nam của đảo Bạch Long Vĩ, có 14 gia cư người Hoa. " [4]

Ngày nay Trung Quốc cho rằng tất cả trong tất cả, cho dù trước đó "mượn đảo" hay "chuyển giao đảo", đều một ý nghĩa: Trung Quốc trao vũ khí đổi lấy đảo của Việt Nam. Nói chung Hồ Chí Minh bán đảo bằng cách đổi vũ khi qui thành tiền. Thậm chí Hồ Chí Minh tham gia bằng một "cánh tay vào bí mật" (秘密移交方式- Bí mật dị giáo phương thức) bán Vịnh Bắc Bộ.

Theo nhà biên khảo Cao Kiện (高健) tác giả của cuốn sách "Trung Quốc và Luật Quốc Tế về Biển", và một cuốn sách khác có tựa đề "Lịch sử Bạch Long Vĩ lãnh hải Trung Quốc". Cả hai cuốn sách đều cùng nội dung, nhấn mạnh: "Vùng đảo của Trung Quốc tại Vịnh Bắc Bộ có giá trị từ tháng 3 năm 1957, đã thông qua việc chuyển giao bí mật giữa Hồ-Mao. "Vì vậy, một số điều kiện cụ thể của thỏa thuận, đồng co giá trị. Tuy nhiên cuối cuốn sách có cậu : "…những gì của vùng đảo Bạch Long Vĩ cho đến nay vẫn còn trong bí ẩn….". [5]

Lý do nào đảo Họa Mi (夜莺-Nightingale) củaViệt Nam nhưng Trung Quốc "mượn", rồi sau đó đổi lấy cái đuôi của đảo"Bạch Long Vĩ". Tại sao lại có một "Phương thức chuyển đổi bí mật" (秘密移交方式). Rất nhiều nguồn giải thích khác nhau, cho rằng những tài liệu đã tham khảo không tiết lộ bí mật, tuy nhiên tài liệu của Hoa Nam hé lộ một cách tinh tưởng: …."Trung Quốc đứng đầu phong trào Cộng sản châu Á, kêu gọi các nhà lãnh đạo Cộng sản hỗ trợ cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam, Hồ Chí Minh và Cộng sản Việt Nam được Mao hậu thuẫn. Tuy nhiên Trung Quốc tránh mặt không muốn ai biết nhiều về cung cách "hiếu chiến" (参战国) của Mao, người đã trực tiếp tham chiến tại Việt Nam vào thời điểm đó. Mao đã trở thành người đối đầu trực tiếp với quân đội Mỹ tại Việt Nam. Vì vậy, Maolấy những đảo trong vùng Vịnh Bắc Bộ, nơi quan trọng nhất, làm trạm trung gian chuyển vũ khí viện trợ cho Cộng sản Việt Nam.

Dữ liệu hiện có cho thấy rằng: Trung Quốc thực sự có mượn đảo Họa Mi làm nơi chuyển vũ khí giúp Việt Nam, trên đảo xây dựng một pháo đài trung tâm radar, và một số trại lưu trữ lượng lớn vũ khí với những vật liệu cung cấp chiến tranh cho Việt Nam, từ đó vận chuyển đến những nơi bí mật của Cộng sản Việt nam. Hồ sơ thỏa thuận về vùng Vịnh Bắc Bộ đề cập: "….về phía Bắc Việt Nam đãbí mật đầu hàng, dâng đảo "Họa Mi" cho Trung Quốc". Hồ Chí Minh người chịu trách nhiệm "chuyển giao" hải đảo. Mặt khác Hồ Chí Minh đã khôn ngoan muốn tránh lịch sử phê phán, tuyên bố: Công việc cũ, tôi nhớ lại "Có vẻ như tôi đã làm sai". (工作的老将军回忆 :“看来我是做错了一件事”). Chính Hồ chạy quanh quất, tìm đủ phương cách bán nước Việt Nam cho Trung Quốc [6]

GiacHandotphanhaNam-HuynhTam 096
Thành phố đảo, Vịnh Bạch Long Vĩ thuộc lãnh hải của Trung Quốc.
Nguồn: Hành chính tỉnh Quảng Đông.

Trong văn kiện thỏa thuận đã được ký kết theo ngôn ngữ Trung Hoa, còn có hai chữ ẩn ý đầy ấp mưu đồ cướp. Danh từ "Tống khứ" (送岛) cho thấy thông tin này là thật. Chính Hồ Chi Minh đã bán toàn vùng Vịnh Bắc Bộ và nói lên ý nghĩa của nó "Tống khứ". Trong qui trình "chuyển giao" đảo, Mao và Hồ đã cónhững quyết định mù mờ khi ký nhượng đảo.

Sự kiện này không ngờ Thiếu tướng Cát Kiếm Hùng (葛剑雄) tổng chỉ huy quân sự Tiểu khu Hải đảo Hải Nam,đại diện cho Trung Quốc, lo thủ tục "chuyển giao" đảo, đã phanh phui ra. Ông có mộtuẩn khúc, vô tình phản đối, trong thỏa thuận bán nước của Hồ Chí Minh, có ghi: "Sáp nhập đảo Mã Bạch Sơn (码白山) của Hải Nam vào Vịnh Bắc Bộ". Thực chất sáp nhập vào vùng đảo Vịnh Bắc Bộ, chỉ là một lý cớ để sau đó chuyển quyền kiểm soát quân sự cho Tiểu khu Hải Đảo Hải Nam".

Trong thỏa thuận có một đoạn văn ghi là cướp hải đảo của Việt Nam:

"Năm 1950, Hải Nam và các đảo nổi trong vùng Vịnh được Trung Quốc giải phóng, đến đầu năm 1955, Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đóng quân tại những hòn đảo này, xây dựng các công sự đảo. Buộc nhân dân Việt Nam đang sống trên đảo nhập tịch Trung Quốc, thay đổi điều hành làng-xã, quản lý người dân theo sinh hoạt người Hán, quân đội có nhiệm vụ kiểm soát đảo, hạn định tháng 4 năm 1955, mọi sinh hoạt trên các đảo phải ổn định”.

GiacHandotphanhaNam-HuynhTam 097
Đảo Họa Mi (Vịnh Bắc Bộ) trong vùng Vịnh Bạch Long Vĩ,
nay đã thuộc quyền lãnh hải của Trung Quốc. 

Nguồn: Hành chính tỉnh Quảng Đông.

Thiếu tướng Cát Kiếm Hùng (葛剑雄) để lại nhật ký trong ngăn kéo Hoa Nam:

"…Thiếu tướng Cát Kiếm Hùng (葛剑雄), phó chỉ huy của quân đội tiểu khu Hải Nam, tháng 3 năm 1957, tôi được phân công làm đại diện cấp cao, có nhiệm vụ bàn giao đảo nổi giữa Việt Nam-Trung Quốc. Phía đại diện Việt Nam cũng có một phó chỉ huy thuộc tiểu khu quân sự Duyên Hải. Chúng tôi trao đổi tập tin tại đảo Mã Bạch Sơn, trước nhất bổ nhiệm tôi làm mệnh toàn quyền vùng đảo nổi trong Vịnh Bắc Bộ. Sau đó nhân dân và hành chánh Đảng ủy quận Hải Nam cho di dân đến đảo Bạch Long Vĩ. Người Trung Hoa phản đối như tôi ở buổi ban đầu, họ cho rằng nhà nước Trung Quốc đầu hàng, rút quân, mọi người không di chuyển. Một số người không hài lòng, nói rằng: Chúng tôi là người Trung Quốc, tại sao thay đổi đảo và các cơ sở khác trao cho Việt Nam”.

Đúng hơn, Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh xem trọng việc cướp đảo của Việt Nam, và không hề quan tâm đến quyền sống của con người. Cộng sản đã chủ trương, nếu hôm nay chết một người dân rồi ngày mai sẽ sinh trăm, riêng lục địa, hải đảo, biển Đông chỉ mất chứ không sinh!

Đặc biệt trong buổi lễ bàn giao, được tổ chức trên đảo, tất cả các công tác chuẩn bị đã có sắp xếp và lệnh từ trên xuống, tài liệu đã sẵn sàng, thủ tục ký kết thực hiện chuyển giao theo nghi thức ngoại giao rấtchu đáo: Buổi lễ tổ chức trên sân thượng (桌上) pháo đài, khai trà hội, đặt thức ăn nhẹ, từ Hà Nội đem đến đảo, sau đó tổ chức một bữa ăn tối vào nử đêm. Phía đại diện quân sự Việt Nam cử một đoàn biểu diễn ca múa. Những thành viên trong đoàn kịch có nhiều người dân Trung Quốc, tuyển từ trong hội Hoa-Việt đã sinh sống lâu năm tại Việt Nam... trong lúc bàn giao đảo cho Trung Quốc, chủ yếu là quan hệ song phương tốt đẹp. Chúng tôi đã từng xem Hồ Chí Minh trong "tình đồng chí và tình anh em". Vâng, nay họ dâng hiến một chút đảo của Việt Nam thể hiện tình bạn, dành cho ông anh tốt, có xá gì! Nghi lễ bàn giao diễn ra khá long trọng". [7]

Hồ Chí Minh bán biển cho Trung Quốc

Hồ sơ lưu trữ GHTR11257/H54 của Quân ủy Trung ương Trung Quốc (CPC) cho biết:

‒ Hồ Chí Minh đã từng là một sĩ quan xuất sắc của tình báo Hoa Nam phục vụ trong Quân đội Nhân dân Giải phóng Trung Quốc tại Quảng Châu, Vũ Hán, tiếp giáp với Việt Nam trong khu vực Quảng Tây. Khởi đầu Hồ Chí Minh tham gia vào câu lạc bộ kích động nhân dân đứng lên đấu tranh. Tại tỉnh Cương Sơn (冈山) tổ chức này hoạt động tích cực nhất, kỷ luật đấu tranh năng động, với những chủ đích chống chủ nghĩa cá nhân, lang rộng đến những giới chủ, kinh tế, thương nghiệp công nghiệp, cuối cùng đối đầu Quốc Dân Đảng. Hồ Chí Minh xuất thân tình báo Hoa Nam được đào tạo chính quy, nhận công tác với tư cách chủ tịch chi bộ B214. Người tình báo khởi nghiệp cần nhất thể hiện được nhiều sáng tạo giảo hoạt tinh vi, chứng tỏ khả năng trước khi đạt danh vọng, mỗi hành động đều lấy quyết định cho tương lai, và Hồ Chí Minh cũng không ngoại lệ. Tại tỉnh Cương Sơn, Hồ Chí Minh đã tạo được thành tích xuất sắc, nhờ vận dụng phương thức đấu tranh "địch dân" (人敌), thúc đẩy lòng dân câm hờn đế quốc (Nhật Bổn), đưa đến những chiến thắng ngoạn mục cho cách mạng màu Hồng. Những nhân viên tình báo khác, dù cùng sở trường hay cao trí hơn cũng không thể nào bạo gan thực hiện những dã tâm hoàn toàn mị dân như Hồ Chí Minh. Đương sự nắm bắt tinh thần của nhân dân đang xuống thấp, quăng ra đúng lúc cái phao cách mạng vô sản. Tướng Nguyễn Sơn (tình báo Hoa Nam còn có tên là Hồng Thủy), chính ủy viên B214, người bạn cùng khóa tình báo tại Học viện Quân sự Côn Minh cũng phải mở lời khen.

Thời kỳ này Mao Trạch Đông đang có mặt tại tỉnh Cương Sơn. Đảng Cộng sản Trung Quốc rất quan tâm những thành tố đã đưa đến chiến thắng chớp nhoáng, nhờ trí óc mưu mẹo quyền biến sáng chế cách đấu tranh bằng máu, không theo cảm tính, không nguyên tắc. Chính điểm này đã bất ngờ đưa Hồ Chi Minh đến gần trái tim quyền lực Cộng sản Trung Quốc.

Hồ Chí Minh quyết liệt hơn, muốn có trên tay những phương tiện vũ khí do chủ nghĩa cộng sản đem lại. Đương sự dễ dàng chấp nhận phương thức đấu tranh bạo động và vũ lực vì tương lai muốn độc trị xã hội. Họ Hồ cho đó là một định luật chung của cách mạng cờ Hồng.

Thực chất, họ Hồ đấu tranh đấu vì tham vọng cá nhân với tim đen và hơi thở hời hợt không theo qui luật công dân hay qua giáo dục đạo đức. Vào thời điểm này sách báo cộng sản cũng hiếm hoi, chỉ có vài luận thuyến của Karl Heinrich Marx và Friedrich Engels. Sau đó nhờ có Vladimir Lénine hành động đem đến kết quả nhất định trong một góc xã hội, từ đó chủ nghĩa cộng sản Quốc tế (tưởng chừng thay đổi trái đất nay mai) chủ trương đấu tranh vũ trang là điều không thể tránh, gieo rắc chiến tranh khắp nơi. Chiến trường, đồng nội, nhà máy là những nơi thể hiện tội ác Cộng sản. Liên Xô từ đó trở thành trung tâm hoạt động Cộng sản Phương Tây. Gần đây thế giới không ngần ngại lên án chủ nghĩa Cộng sản là chống lại nhân loại.

Đặc điểm người cộng sản Á Châu là lấy mọi lý thuyết Đông-Tây rồi vo tròn, trộn lẫn vào nhau để sáng tạo ra viên "thuốc tể" thực dụng của người Hán. Nhóm Cộng sản Mao Trạch Đông chủ trương "hòa dung" (华融) nấu chảy lý thuyến Khổng Tử, Lý Tôn Ngô, Karl Heinrich Marx, Friedrich Engels, kết quả Mao Trạch Đông làm chủ một vùng Cộng sản, thực hiện bành trướng, được gọi, trung tâm Quốc tế Cộng sản Phương Đông và Mao còn tham vọng hơn cả Vladimir Lénine muốn dành lấy chức Bí thư Quốc tế Cộng sản Đông Tây.




Tất cả những người Cộng sản đều có cùng một thamvọng, họ muốn bước lên đỉnh cao của quyền lực, họ phải có những cá tính hung đồ, có máu tội ác và bảng năng tráo trở, để đạt điểm cao nhất của loại người, biến thành "thần thánh" của nhân loại. Hồ Chí Minh thuộc loại người trên, và chính Hoa Nam là môi trường đào tạo Hồ Chí Mình trở thành nhân vật xuất sắc Cộng sản đem đến di căn hậu hoạn cho Việt Nam có thể đến 100 năm. Chúng tôi sẽ có dịp khai thác thêm hồ sơ HCM dưới mã số: GHTR11257/H54.

GiacHandotphanhaNam-HuynhTam 098


Nhân ngày kỷ niệm 45 năm kháng chiến tại tỉnh Cương Sơn (18 tháng 7 năm 1925-1970),  báo Cương Sơn (冈山) loan tải hình Hồ Chí Minh tham gia đấu tranh chống xâm lược. (ghi chú: Hồ Chí Minh có chữ x màu trắng và dấu chấm đỏ). Nguồn: Quân ủy Cương Sơn (CPC).

Ngày 24 tháng 3 năm 1927, Hồ Chí Minh đang công tác tại Quảng Châu, nhận chỉ thị đi thụ huấn khoá chính trị cao đẳng dành riêng cho cán bộ Quân ủy. Cuối khóa Hồ Chí Minh được chỉ định tổ chức vũ trang khởi nghĩa chống Pháp tại Việt Nam nhằm chận đường tiến của quân Pháp. Họ Hồ nhận được dấu hiệu tiến thân qua một bước ngoạc mới, với khả năng thủ đoạn có thừa, nhiệm vụ đấu tranh cho sự sụp đổ một chính quyền Việt Nam không khó. HCM chấp nhận một đời người đứng trước thử thách, đến Việt Nam chống ảnh hưởng phương Tây, thực hiện cướp nước, đồng thời thi hành ý đồ cố hữu là Hán hóa Việt Nam.

GiacHandotphanhaNam-HuynhTam 099

Năm 1927, Thiếu tá Hồ Chi Minh phục vụ trong Quân đội Nhân dân Giải phóng Trung Quốc, tại quân khu Quảng Châu, Vũ Hán. Nguồn:Lưu trữ Quân ủy Trung ương Trung Quốc (CPC).

Năm 1930, sự nghiệp của Hồ Chí Minh liên quan chặt chẽ với cách mạng Trung Quốc. Cuối năm 1939, chính phủ Trung Quốc bí mật hỗ trợ Hồ Chí Minh, gửi những tập đoàn cố vấn dân sự và quân sự đi tiền trạm, lập 2 chiến khu trong biên giới Cao Bằng và Lạng Sơn Việt Nam đối diện khu tự trị người Choong, Quảng Tây Trung Quốc.

GiacHandotphanhaNam-HuynhTam 100

Ngày 13 tháng 2 năm 1940, Quân ủy Trung ương Trung Quốc (CPC), (hàng thứ nhất từ trái) người y phục đại cán màu trắng Chu Ân Lai, người phụ nữ có tên Tống Khánh Linh vợ của Tôn Dật Tiên, Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Hồ Chi Minh (y phục màu đen) và Chu Đức. Chụp ảnh lưu niệm trước khi Hồ Chí Minh trở thành nhà chính khách của một quốc gia. Những thành phần tướng lãnh Trung Quốc nhất trí hổ trợ quân sự cho Hồ Chí Minh. Nguồn: Lưu trữ Quân ủy Trung ương Trung Quốc (CPC).

Năm 1949, chính phủ Trung Quốc chính thức công bố gửi sang Việt Nam tập đoàn cố vấn dân sự gồmcó Trần Canh, Lã Quý Ba, và Vi Quốc Thanh cố vấn quân sự xây dượng thực lực của bộ chỉ huy chiến tranh. Mao cố vấn chính trị hỗ trợ Hồ Chí Minh chống Pháp. Vi Quốc Thanh trình Ủy nhiệm thư và kèm theo một câu thần chú dạy bảo Hồ Chí Minh từ đây sẽ là: "Việt Nam-Trung Quốc hữu nghị mãi mãi (越中友谊万古长青).

Đầu tháng 4 năm 1957, chính phủ Trung Quốc gửi cho Hồ Chí Minh một văn thư kế hoạch nhượng đảo, Hồ đồng ý, ký vào với điều kiện bí mật. Lần đầu tiên, thỏa thuận nhượng (bán) đảo Họa Mi, đảo Bạch Long Vĩ được hoàn tất. Bắc Kinh vui mừng, Mao Trạch Đông hớn hở tuyên bố:

‒ Tôi nhận định tình hình Việt Nam đã khởi đầu sụp đổ, chúng ta đa tạ Chủ tịch đảng Cộng sản Việt Nam của Hồ. Tôi đã tiếp nhận được tin mới từ bạn Hồ sẽ cho một phái đoàn chính phủ và phái bộ quân sự Việt Nam đến Bắc Kinh, trao Công hàm dâng hiến những vùng đảo trong Vịnh Bắc Bộ và biển Đông để đổi lấy vũ khí, trong nội dung này có nhấn mạnh chủ quyền biển của Việt Nam, ( chỉ có) 12 hải lý. Chỉ dấu, tương lai phần biển Đông còn lại của ta. [1]

Năm 1958, những dữ kiện vùng hải đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam âm thầm biến mất, chỉ còn lại những danh từ hải đảo nằm dài trên giấy. Vào một buổi sáng không bình thường, cả vùng hải đảongàn đới sinh cư tạo nghiệp của cha ông ta, bỗng náo động, dân cư trên đảo trở thành người Hán với danh nghĩa "gốc Việt, giấy Hán lao động nước ngoài". Chính quyền hành chính Nam Hải Trung Quốc đã thực sự quản lý vùng Vịnh Bắc Bộ của Việt Nam.

GiacHandotphanhaNam-HuynhTam 101

 

Hình 1 ‒ Trung Quốc chào đón Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng của Cộng hòa Dân chủ Việt Nam, tại sân bay Hồ Nam (南湖). Trong buổi lễ trình Công Hàm. Thủ tướng Phạm Văn Đồng (phải), Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị (黎清毅) (thứ hai từ phải sang), Phó Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lã Quý Ba (罗贵波) (trái), đi kèm có thống đốc của tỉnh Hồ Bắc Trương Thế Học (张体学) (thứ hai từ trái sang), đồng duyệt qua hàng chào quân đội danh dự.

Hình 2 ‒ Tại bữa tiệc, Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng, tiếp nhận lá cờ Hồng "Việt Nam-Trung Quốc hữu nghị sẽ kéo dài mãi mãi - 越中友谊万古长青". Mười một (11) chữ vàng do Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị (黎清毅), thay mặt Mao Trạch Đông trao tặng cho Hồ Chí Minh và cả nước Việt Nam học tập lời Mao. Nguồn: Loan tải trên báo Hồ Bắc Hằng Ngày do phóng viên Trương Kỳ Quân (张其军) thực hiện.

GiacHandotphanhaNam-HuynhTam 102

Công hàm Phạm Văn Đồng dâng hiến biển cho Trung Quốc, ký ngày 14 tháng 9 năm 1958, đính kèm bản đồ xác định 12 hải lý biển của Việt Nam, chính Hồ Chí Minh cung cấp bản đồ biển Đông ngày 14 tháng 9 năm 1958, thay cho lời tuyên bố biển Đông của Việt Nam chỉ có thế thôi. Nguồn: Sưu Hồ Báo loan tải ngày 22 tháng 6 năm 1965. [2]

Hồ Chí Minh đã chịu những tác động và áp lực nào khiến cho ông ta tiêu cực từ chối Tổ Quốc của mình, do đó, có thái độ dâng hiến bờ cõi Việt Nam cho Hán một cách vô trách nhiệm. Đến nỗi một sĩ quan Hải quân Trung Quốc tên Lý Siêu (李超) phải thốt thành lời:

"…..Việt Nam, Đắc lũng vọng thục (得陇望蜀)[3]. Hồ Chí Minh vô đạo, lừa bịp thiên hạ, dâng hiến cả biển Đông gồm quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hồ Chí Minh chỉ giữ lại 12 hải lý cho Việt Nam, trong khi ở phía Vịnh Bắc Bộ đã mất trắng cả vùng đảo Bạch Long Vĩ, một khu vực rộng lớn trên vùng biển Vịnh Bắc Bộ và thềm lục địa không còn chủ quyền, tệ hải hơn ngư dân Việt Nam trở thành nô lệ biển của Trung Quốc, Hồ Chí Minh bí mật phá hủy đời sống của hàng chục ngàn ngư dân tại vùng Vịnh Bắc Bộ". [4]

GiacHandotphanhaNam-HuynhTam 103


Ngày 21 tháng 4 năm 1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh người sáng lập triều đại Cộng sản Việt Nam, bí mật, về thăm quê hương đất tổ và để nhớ những chiến trận hiển hách cách mạng cờ Hồng. Trước khi yết kiến Chủ tịch Mao Trạch Đông tại Trung Nam Hải, Hồ và những tên trùm tình báo Hoa Nam đã từng hoạt động tại Việt Nam, chụp hình chung lưu niệm tình bạn thấm thíaNguồn: Tình báo Hoa Nam.

Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai viện trợ vũ khí khẩn cấp cho Hồ Chí Minh bởi đã có cơ sở quyền lợi tại vùng Vịnh Bắc Bộ mà không hề sợ rắc rối pháp lý về sau. Bắc Kinh cho lập hành chính quản lý những đoàn dân ngư nghiệp, di cư lập nghiệp từ đảo Hải Nam đến vùng đảo Bạch Long Vĩ.

Hôm sau, Trung Quốc ồ ạt viện trợ cho Hồ Chí Minh gồm các loại vũ khí nặng, chuyên dụng v.v... Thời gian này có thể mô tả Trung Quốc chi viện rộng rãi, tránh mọi trắc trở trên đường chuyên chở đến tận nơi, bảo đảm quân sự có đầy đủ vũ khí cho cuộc chiến tranh Việt Nam.

Sắc thái chính trị của Trung Quốc đối với Việt Nam, xưa nay trên khuôn mặt cướp để lộ diện mạo thôn tính lân bang, muốn đạt được mục đích cho nên không hối hận viện trợ bất hoàn trả. Tuy nhiên sau năm 1978, Trung Quốc đã tự phản lại chính mình, trước đó đề ra "Tình đồng chí, tình anh em", để rồi người cộng sản lương thiện rất hổ thẹn, đau đớn trong lòng. Sau năm 1969, Hồ Chí Minh đã phiêu diêu với Karl Heinrich Marx, Friedrich Engels và Vladimir Lénine về tận bên kia xứ thiên đàng Quốc tế Cộng sản, để lại hậu quả bi thảm, hãi hùng, điêu linh cho đất nước Việt Nam.

GiacHandotphanhaNam-HuynhTam 104

 

Ngày 18 tháng 6 năm 1966, Đặng Dĩnh Siêu (邓颖超) Ủy viên chiến lược Quốc tế Quân ủy Trung ương Trung Quốc (CPC), Chính ủy Cục Tình báo Hoa Nam viếng thăm Việt Nam với mục đích kiểm tra vũ khí, quân dụng, và phòng thủ của Hải quân Việt Nam. Nhân dịp này Hồ Chí Minh cho biết: "Chỉ có tôi gọi Đặng Dĩnh Siêu bằng Cô….". Vì lời tuyên bố trên, có những nghi vấn "Hồ Chí Minh là người của Hoa Nam". Nguồn: Tình báo Hoa Nam.

Trung Quốc có một cuốn sổ rất đen đúa, đã đến lúc họ đem ra tính toàn bộ không bỏ sót một cây đinh hay viên đạng nhỏ buộc Việt Nam phải trả một lần, đầu tư nào cũng có mặt trái của nó, nhất là chiến tranh. Tài liệu tối mật tiết lộ sự thật trong giới quân sự Trung Quốc. Viện trợ bổ túc cho Việt Nam lần cuối quá khủng khiếp:

‒ Quân đội Việt Nam đã tiếp nhận các loại vũ khí tiên tiến nhất của Trung Quốc, còn đưa kỹ sư vũ khi sang Việt Nam hướng dẫn triển khai thiết bị kỹ thuật chiến tranh, ưu tiên để bảo đảm viện trợ quân sự cho Việt Nam. Có thể nói Trung Quốc đầu tư kinh doanh chiến tranh, họ cố gắng hết sức mình để cung cấp tất cả các nhu cầu cho Việt Nam, thậm chí mọi chi phí của các thiết bị quân sự tối tân nhất cũng xuất kho lưu trữ, chủ yếu trong các trường hợp sau đây:

1 – Nhiều nguồn cung cấp vũ khí nặng cho Việt Nam, riêng Trung Quốc chỉ cung cấp bổ sung tổng cộng 2250 pháo loại 122 mm, 3100 súng chống máy bay 57 mm, 50.200 súng cối các loại, từ giữa năm 1961 đến năm 1972 (11 năm). Những thiết bị quân sự (PLA) trên được tăng lên khoảng 100%, đôi khi hơn, riêng về súng cối đã cung cấp trên 270.000 khẩu. Rất tiếc chúng tôi không có số liệu về viện trợ vũ khí của Liên Xô và các nước Đông Âu.

2 – Sau khi, Trung Quốc phát triển thành công nhiều thiết bị quân sự mới, chuyển sang quân đội Việt Nam trang bị vũ khi ưu tiên cho chiến tranh.

3 – Trước năm 1972, Việt Nam chủ yếu thuê tàu thủy để chở nhiên liệu. Trung Quốc tiếp tục cung cấp dầu cho Việt Nam qua đường sắt,và vận chuyển xăng bằng xe tải. Do đó, vào những năm 1970-1971, máy bay Mỹ ném bom vào mùa khô có hơn 4.500 xe chở dầu bị thiêu hủy gây thiệt hại lớn cho Trung Quốc, sau đó Việt Nam sử dụng các đường ống dẫn dầu của Trung Quốc, nhờ vậy vận chuyển cùng thời gian giảm hơn 10 lần so với năm trước.Nhu cầu viện trợ cho Việt Nam lớn hơn năng lực sản xuất của Trung Quốc, những thiết bị hiện đại tối tân gửi sang Việt Nam đáp ứng được nhu cầu cấp bách. Ví dụ, trong năm 1968, phía Việt Nam đề xuất cần 107 mm tên lửa khẩn cấp.

Cuối năm 1972, Trung Quốc sản xuất hơn 29.500 xe pháo binh, chống máy bay, chiến lược mới của quân đội đưa vào chiến trường Việt Nam, Việt Nam nhận hơn 16.000 xe, 1260 máy móc kỹ thuật, cũng trong năm Trung Quốc hỗ trợ cho pháo binh Việt Namhơn 19.500 xe, phối trí lại vũ khí cho 8558 đơn vị, máy móc xây dựng 380, chuyển đến Việt Nam 150 máy bay gồm cả thiết bị, 5 Tiểu đoàn SAM cờ đỏ, thiết bị mặt đất 280 tên lửa giám sát radar, 3150 xe tăng lội nước.Và cung cấp 250.000 áo giáp chống đạn.

Ngày 11 tháng 6 1967, Bắc Kinh nỗ lực lập nhà máy sản xuất quân dụng tại quân khu Côn Minh, từ đó chuyển vào Việt Nam. Theo biên bản đàm phán giữa hai Bộ Tham mưu quân đội ký kết, đề xuất chỉ tiêu năm 1967, Trung Quốc cung cấp đầy đủ thiết bị và vật liệu cho 2.200 đơn vị quân đội Việt Nam,mỗi đơn vị có 687 binh sĩ, bảo đảm rằng mỗi người lính có trên 3 bộ quần áo, mỗi năm 3 đôi giày, một ngày nhận được 800 gram gạo, 30 gam muối, 80 gram thịt, 30 gram cá, 30 gram đậu, 30 gram đậu phộng mè, 30 gram mỡ lợn, 10 gram nước tương, 30 gram đường.Cung cấp nhu yếu phẩm hàng ngày cho mỗi đơn vị: 8.000 bàn chải đánh răng, 11.100 chai kem đánh răng bạc hà, 24700 thanh xà phòng, 10600 xà phòng thường, 74.000 gói thuốc lá hiệuKim Sa Giang (金沙江牌香烟), 35.000 gói thuốc lá hiệu Mùa Xuân (春城牌香烟). Cung cấp dụng cụ thể thao bóng bàn, bóng chuyền. Văn nghệ khẩu cầm, bài, đại đầu châm, bút. Giải khát, trái cây nước, kim, hạt, táo và cam.Thậm chí có tài liệu còn ghi đã cung cấp cho nữ quân nhân những trang sức, gồm dây chuyền hạt, vòng bạc đeo tay, dép của trẻ em, hoa biên ren kết trên áo, những phương tiện vệ sinh và nhiều thứ khác v.v… Nói chung quân đội của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (越南民主共和国) quá đầy đủ và nhiều hơn so với mức sống của người dân Trung Quốc.

Theo tư liệu này, tiêu chuẩn của một binh sĩ Việt Nam-Trung Quốc với sự chăm sóc của viện trợ rất sung túc, những chiến binh Trung Quốctại chiến trường Việt Nam vẫn sống tốt hơn tại xứ sở. Tiêu chuẩn này, có thể tương đương với quân lực Hoa Kỳ, tuy nhiên không hiểu vì lý do nào binh sĩ Việt Nam lại đói khát, không đủ ăn mặc, trong khi đó đạn dược dư thừa.

Trung Quốc cung cấp vũ khí chiến tranh thừa thải, thậm chí có những trường hợp, thiết bị chất đống bên cạnh đường sắt ở miền Bắc Việt Nam, có nhựng kho vũ khí để ngoài trời lâu ngày, bất chấp gió mưa, bị rỉ sét xuống cấp, …có những đề nghị cung cấp nhu yếu phẩm nhiều hơn vũ khí. "...quân đội chỉ đơn giản là ăn, sau đó được bán vào thị trường".

Trung Quốc ưu tiên, bảođảm nguồn cung cấp mọi thứcho chiến trường Việt Nam, cho nên kế hoạch 3, dừng lại mọi chi phí sản xuất trong nước, để bảo đảm định lượng nguồn cung cấp kịp thời cho chiến trường. Trung Quốc đưa ra chương trình ánh sáng của màu xanh lá cây cho mỗi đơn vị sản xuất, bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ.

Năm 1965, lãnh đạo ĐCSTQ duyệt xét lại tầm quan trọng chiến lược viện trợ cho Việt Nam, và cho phép Việt Nam xây dựng kinh tế ngoài chiến tranh để mở đường cho các dịch vụ phát triển xã hội. Ví dụ, du kích miền Nam Việt Nam sản xuất lương thực, chăn nuôi, nông nghiệp, nữ du kích được mặc vải họ ưa thích. Một số nhà máy miền Nam Trung Quốc ngừng sản xuất hàng dệt phong cách địa phương, chuyển qua dệt vải theo phong cách phụ nữ miền Nam Việt Nam. Thượng Hải trồng cây lương thực chế biến thực phẩm nén khô, cung cấp cho Việt Nam mỗi năm từ 10 triệu đến 20 triệu ký lô.

Những năm cách mạng văn hóa, Trung Quốc gần như bế tắc sản xuất, do tăng viện trợ lương thực đáng kể cho chiến tranh Việt Nam, và nguyên liệu cực kỳ khan hiếm. Đôi khi Trung Quốc muốn hụt hơi bởi con số bảo đảm cung cấp. Bắc Kinh yêu cầu những trung tâm doanh nghiệp tái sản xuất, "những nỗ lực chủ yếu giảm tiêu thụ, thực hiện kiểm kê kho dự trữ, điều chỉnh mỗi lần xuất kho và giải quyết nhập kho". Lúc này Trung Quốc gặp trở ngại vìthiếu năng lực sản xuất, muốn đổi mới công nghệ, phải tăng tần suất và nâng cao hiệu quả sản xuất. Những đề xuất và biện pháp chế tài không giải quyết được xã hội, trong khi gom góp sản phẩm phải ưu tiên viện trợ cho Việt Nam. Nhân dân Bắc Kinh khôi hài: "Sứ mệnh sản xuất cho chiến tranh Việt Nam, điện cần thiết cho khu vực quy hoạch, theo nguyên tắc bảo toàn điện để bảođảm". Không chỉ vậy, nếu sản xuất trong nước không đủ, Trung Quốc vẫn phải nhập khẩu từ nước ngoài để cung cấp cho Việt Nam, chẳng hạn 1 triệu tấn lương thực viện trợ mỗi năm chuyển đến Việt Nam. Năm 1975, Trung Quốc phải mua lương thực lúa, mì, ngô từ Canada, Úc, Argentina, phân bón mua từ Nhật Bản, máy móc mua từ Tây Đức.

4 – Ngày 16 tháng 12 năm 1950, để đánh dấu lịch sử Thương mại Trung-Việt, Lưu Thiếu Kỳ đến Tỉnh ủy Vân Nam mở cuộc vận động báo cáo của Cục Tây Nam, thông điệp của Bắc Kính hướng dẫn thương mại giữa Trung Quốc và Việt Nam. Mục tiêu chính cần giải quyết những khó khăn kinh tế của Việt Nam. Muốnđạt được mục tiêu này, Trung Quốc phải thực tiễn về thương mại, chọn ý thức nhất định, ít tiền thực hiện thương mại lớn. Trong năm 1966,tỉnh Vân Nam báo cáo tình trạng thùng tiền của thương mại thủng đáy.

Trung Quốc viện trợ rất hào phóng cho Việt Nam từ những vật liệu nhỏ nhất cái đinh, con vít, bù lon cho đến quân nhu, vũ khí, đại pháo, máy bay và 1,3 triệu quân thiện chiến nhảy vào hỗ trợ cho Cộng sản Việt Nam, nhờ đó Cộng sản miền Nam Việt Nam đứng vững trên chiến trường. Đến năm 1978, mối quan hệ Việt-Trung suốt 30 năm (1940-1970) êm ấm bảo vệ "răng hở môi lạnh" đột nhiên thay đổi, và cuối cùng không thể tránh đối đầu xung đột. Hai đảng Cộng sản Việt Nam-Trung Quốc hiểu nhau sâu sắc nhìn thấy thăm thẳm âm mưu cướp giựt của nhau, rốt cuộc đưa đến chiến tranh ngày 17 tháng 2 năm 1979-2000. Việt Nam đang rơi vào hệ lụy chết dần mòn trong vòng xoáy của Trung Quốc, đúng theo thành ngữ "Tao sống mày chết" (我住你死) của người Hán.

Quân ủy Trung ương Việt Nam-Trung Quốc. Mao Trạch Đông trao những gói hàng viện trợ cho Lê Duẩn. Nguồn: Hoa Nam.

Trung Quốc cho rằng Việt Nam đã phản bội, "vong ơn bội nghĩa" đáng trách. Phía Việt Nam đối đáp rằng "sòng phẳng viện trợ", thừa nhận làm lính đánh thuê cho Trung Quốc, với trách nhiệm giữ cửa mặt Nam, bảo vệ an ninh cho Trung Quốc. Trung Quốc đang thực hiện từng bước một nhiều kế hoạch bí mật khác, theo con đường bành trướng xuống hướng Nam, lan rộng chủ nghĩa Mao. Sau khi Việt Nam chấm dứt nhiệm vụ người lính canh phòng cho Trung Quốc, Trung Quốc thay đổi chiến lược đưa Việt Nam vào vị thế cuộc đơn độc trước trường Quốc tế, sau đó tấn công bằng quân sự. Họ đã lấy quyết định và lên kế hoạch chỉ còn thời khắc cho nổ tín hiệu chiến tranh.
Tuy nhiên, trước khi hành động, Trung Quốc dọn đường dư luận trong nhân dân, hầu tránh tiếng một thời tuyên truyền rầm rộ "tình đồng chí, tình anh em". Nay sát phạt bằng vũ khí người anh em, Trung Quốc sợ nhất Quốc tế trừng phạt ngoại giao, và xấu hơn đưa đến đối đầu quân sự.
Sự kiện Trung Cộng tuyên truyền một chiều, tạo ra lẽ phải cho riêng mình, kích động, nhân dân toàn ý phẩn nộ, căm phẫn, tác động người dân đồng thanh ghét bỏ Việt Nam. Và bước xa hơn nữa, Trung Quốc tuyên truyền, thúc dục tinh thần của nhân dân chuẩn bị chấp nhận chiến tranh với Việt Nam.
Trong thời gian vận động, Trung Quốc tuyên truyền "Việt Nam phản bội vô ơn", lên án đạo đức đảng Cộng sản Việt Nam một cách thậm tê. Trung Quốc và Việt Nam bôi bẩn lẩn nhau không tiếc thương. Thực chất, cả hai đã phản bội lẫn nhau từ khi Hồ Chí Minh cướp nước. Trong tính toán viện trợ của Trung Quốc, họ đã có mầm mống âm mưu phản bội. Trước đó cán cân phản bội nghiêng về phía Trung Quốc với lời giao hảo theo ngôn ngữ của thầy Mao, lúc nào cũng dè chừng đối phó với bạn để răn đe kẻ khác. Mao Trạch Đông nhân danh lợi ích của Trung Quốc hứa hẹn mượn Việt Nam làm trò chơi chính trị "thượng tôn cá nhân", buộc đảng Cộng sản Việt Nam phải trung thành với Trung Quốc, nếu bằng không sẽ bị trừng phạt, tùy theo những qui ước đã định trước:
1 . Trung Quốc muốn sử dụng viện trợ từ năm 1940-1978 để áp đặt chính sách của Trung Quốc tại Việt Nam, vì vậy nếu cần trừng phạt Việt Nam không khó.
Trung Quốc còn đưa ra những lý do răn đe khác:
‒ Trung Quốc là quốc gia duy nhất viện trợ lâu dài, tạo sinh đảng Cộng sản và nhà nước Việt Nam. Trong đó có sự đồng tình trên ý thức hệ với những yếu tố cách mạng, thúc đẩy một thế giới Cộng sản. Và những lý do sâu xa hơn, Trung Quốc coi lợi ích quốc gia trên hết. Điều này, chủ yếu thể hiện ở qua hai khía cạnh:
A ‒ Đảng Cộng sản Việt Nam bất ổn định chính trị, trực tiếp đe dọa an ninh Trung Quốc.
Đầu tháng 11 năm 1949, Chu Ân Lai nhắc nhở Hồ Chí Minh:
"….Người Pháp sống tại Việt Nam, một khi, có một người bị bắt vì bất cứ lý do gì, sẽ đe dọa sự an ninh của Trung Quốc". Chu Ân Lai nói tiếp vể Vô sản:
‒  Tôi nhớ, có một lần đồng chí Hồ phát biểu, so sánh Trung Quốc với Việt Nam rất thú vị: "…. Chúng ta cùng sống dưới một cổ áo…". Bây giờ nguy hiểm đã đến, rất cấp thiết, xin người đứng đầu (Lê Duẩn) vì Cách mạng Xã hội Vô sản không thể hoàn toàn tranh luận ai đúng hay ai sai vào lúc này".
Năm 1950. Lưu Thiếu Kỳ ủng hộ Lê Duẩn, phát biểu:
"….Nếu chúng ta không giúp đỡ người Việt Nam, kẻ thù ở lại đó (Quân đội Pháp), chúng ta sẽ gặp những khó khăn lớn hơn, và những rắc rối khác. Hãy lấy quyết định như khi chiến tranh Triều Tiên", (viện trợ tối đa cho Việt Nam). [1]
B ‒ Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam từ 38 năm qua (1940-1978), đó là sự phát triển của cánh tả chính sách nội địa Trung Quốc và chính sách đối ngoại lên đến cùng cực, do thông qua viện trợ kinh tế và dùng đòn bẩy ngoại giao làm công cụ, Trung Quốc đã cố gắng ảnh hưởng đến chính sách trong nước và Việt Nam. Đặc biệt sau khi Trung-Xô chia rẽ. Mao Trạch Đông muốn viện trợ trở lại cho Việt Nam để cân bằng viện trợ của Liên Xô. Vì vậy, cùng một lý do, Trung Quốc sẽ nhận được cảm tình và không còn cản lực nguy cơ nào xúc phạm đến những thỏa thuận với Hoa Kỳ.


Lê Duẩn viếng thăm Trung Quốc, Mao Trạch Đông đón tiếp một người anh em khó tính. Nguồn: Tân Hoa Xã.

Hai yếu tố trên đã khiến dẫn đường lòng hai phản trắc của Trung Quốc, đặt lại vấn đề viện trợ tối đa cho Việt Nam, đồng thời Trung Quốc tiếp tục gieo hạt giống tốt (đào tạo tình báo) cho Việt Nam. Thế nhưng Trung Quốc vẫn cho rằng: "Việt Nam có quá nhiều xúc phạm đến Trung Quốc".
2 . Trung Quốc lấy quyết định trừng phạt, nếu phía Việt Nam tái phạm qui ước của hai đảng:
A ‒ Trung Quốc sẽ bỏ hay thêm viện trợ cho Việt Nam, còn tùy thuộc vào những bộ phận kiểm tra cân bằng hoạt động trong đảng, đòi hỏi có sự phán xét trung thực của Trung Quốc, tất cả vì lợi ích của quốc gia và tình hình quốc tế đương thời, Việt Nam hãy tuân theo sự sắp xếp của Trung Quốc, do cho quá trình viện trợ cho Việt Nam có những bất cập không đồng tình. Ví dụ, Trung Quốc hy vọng phía Việt Nam chấp nhận "chống đế quốc và chống chủ nghĩa xét lại của Liên Xô".
Trong buổi chiêu đãi Đại sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh. Trung Quốc yêu cầu một số vấn đề: "…Chống chủ nghĩa xét lại, chúng ta không dùng bánh mì nướng". Đại sứ quán Việt Nam không đáp ứng đề nghị, khiến cho không khí vô cùng căng thẳng. Trái lại Việt Nam yêu cầu cả hai đảng anh em Trung Quốc và Liên Xô viện trợ công nghệ tiên tiến và thiết bị sản xuất. Trung Quốc cho rằng: "Việt Nam quá tháo vát trong thái độ mập mờ về viện trợ".
Năm 1968. Liên Xô chấp nhận bắt đầu tích cực viện trợ cho Việt Nam, quan hệ thân mật Việt-Xô. Sau đó Trung Quốc bất mãn, Việt Nam lo lắng, gửi một phái đoàn ngoại giao 10 người đến Trung Quốc. Chu Ân Lai từ chối: "‒ Đảng và chính phủ Trung Quốc đang bận rộn, không thể tiếp phái đoàn đại biểu chính phủ Việt Nam và Mặt trận miền Nam Việt Nam".
Năm 1969, Trung Quốc nhấn mạnh: "Đã đến lúc Trung Quốc không còn phụ thuộc về viện trợ và quân sự quá mức cho Việt Nam". Trung Quốc phê phán: "Việt Nam phải tự chủ không nên xin ăn của người khác, thậm chí Việt Nam có vẻ xin ăn được phát tài mọi mặt kể cả nguồn nhân lực, vũ khí, nhờ đó quân đội Việt Nam không gặp khó khăn. Cùng thời Trung Quốc gặp phải một số vấn đề do Cách mạng Văn hóa tàn phá, Trung Quốc hy vọng rằng Việt Nam sẽ xem xét lại viện trợ, vận dụng hợp lý nguồn nhân lực của mình tốt hơn".
Tình báo KGB (Liên Xô) cho biết: "Đảng Cộng sản Việt Nam đang nỗ lực tranh thủ ngoại giao, xin Trung Quốc cấp viện trợ nhiều hơn năm trước 30%, nhưng vào giữa tháng 6 năm 1969, Hiệp định viện trợ cho Việt Nam có những bất đồng nội bộ của hai đảng. Trung Quốc quyết định từ chối viện trợ, trong khi đó Trung Quốc chỉ hoàn thành viện trợ được 31,4%. Một tin xấu khác, Trung Quốc khẩn cấp đề nghị tàu thuyền Việt Nam rời cảng…".
B ‒ Trước khi Trung Quốc và Hoa Kỳ tái lập quan hệ, Việt Nam có cảm giác "phản bội". Việt Nam không muốn Trung Quốc đối thoại với Hoa Kỳ về nội vụ chiến tranh tại Việt Nam. Nhưng Trung Quốc lại cho rằng: Việt Nam không có tiếng nói nào giá trị đối với Hoa Kỳ, chính Trung Quốc có thẩm quyền trực tiếp sự kiện chiến tranh Việt Nam đem ra thảo luận đối với Hoa Kỳ.
Ví dụ, vào năm 1971, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thị Bình của cái gọi là "Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, khi gặp Chu Ân Lai, cho biết: "Khi tôi chuẩn bị hội đàm với Henry Kissinger, lập tức tôi nhận được tin phải về Hà Nội gấp". "Ngoại trưởng" Nguyễn Thị Bình còn cho biết thêm: Kissinger sẽ viếng thăm Trung Quốc.
Chu Ân Lai đáp:
‒ Cho đến nay, Hoa Kỳ vẫn từ chối công nhận Trung Quốc, dù nhà nước Trung Quốc đã thành lập cách đây 22 năm. Sáng kiến của Thổng Thống Richard Nixon, gửi Bộ trưởng ngoại giao Henry Kissinger viếng thăm Trung Quốc mục đích đàm phán hòa bình, có nghĩa là họ thừa nhận lỗi lầm về chiến tranh Việt Nam. Còn ông Khrushchev đến Mỹ, chỉ để thương lượng chiến trang lạnh, nhưng tôi không đi đến Washington, nay mai có thể Việt Nam đi Paris đàm phán với Hoa Kỳ, tại sao chúng tôi không thể đàm phán với Hoa Kỳ ở Bắc Kinh, lý do chúng tôi chỉ yêu cầu Mỹ rút quân càng sớm càng tốt, chúng tôi không phản bội bạn Hồ Chí Minh".
Trái lại, các nhà lãnh đạo Việt Nam không tin và không chịu hiểu lời giải thích của Chu Ân Lai, kịch liệt phản đối cải thiện ban giao quan hệ với Hoa Kỳ, Trung Quốc lấy chiến tranh Việt Nam thúc đẩy Hoa Kỳ công nhận Trung Quốc, tất cả trên bàn hội nghị vì lợi ích trên hết của quốc gia Trung Quốc, Việt Nam phải hiểu, sở dĩ Trung Quốc viện trợ toàn diện và tham chiến tại Việt Nam cũng không ngoài mục đích trên.

Trung Quốc chuyển viện trợ cho đảng Cộng sản Bắc Việt, thông qua cửa Ải Nam Quan, ngày đêm rót người, xe, súng, đạn, quân nhu, vật tư vào chiến trường Việt Nam. Nguồn: Tình báo Hoa Nam.

Lê Duẩn nói về mối quan hệ giữa Việt Nam-Trung Quốc:
"…Chu Ân Lai dối trá không phải lần đầu, từ thời chống Pháp đến chống Mỹ, chúng tôi đã ăn quá nhiều thứ cặn bả của Chu Ân Lai, nay Việt Nam có suy nghĩ riêng về chuyến viếng thăm của Nixon tại Trung Quốc, nội dung chủ yếu thảo luận chiến tranh Việt Nam và các vấn đề có lợi cho Trung Quốc".
Lê Duẩn (黎笋) tuôn lời thẳng thắn thách đố:
"…Quý đồng chí Trung Quốc, đương nhiên đã sẵn sàng thảo luận những gì có lợi nhất cho Trung Quốc, nhưng tôi vẫn không làm theo, quý đồng chí không phải là bạn của người Việt, Việt Nam của tôi, Việt Nam là đất nước của tôi, Việt Nam không bao giờ có người bạn (Hán) như Hồ Chí Minh (胡志明), Trung Quốc không có quyền lấy quyết định để nói về các vấn đề của chúng tôi tại Việt Nam". [2]
Những năm 1971-1973, qua câu chuyện Richard Nixon, Henry Kissinger, Trung Quốc đã làm Việt Nam bất bình. Trung Quốc vội vã vô điều kiện, cung cấp thêm viện trợ cho Việt Nam để lấy lại thế thượng phong trong đàm phán với Hoa Kỳ. Trung Quốc cung cấp viện trợ trên 9.000.000.000 nhân dân tệ, theo "hiệp định viện trợ bổ sung quân sự", viện trợ này nhiều hơn tổng số 20 năm qua. Nhưng ở thời điểm này Việt Nam không còn tin Trung Quốc, trong khi đảng Cộng sản Việt Nam quay chiều xác định thân Liên Xô...  không còn nhắc nhở đến "tình đồng chí, tình anh em" với Trung Quốc như trước đây cũng đã từng thề "tình đảng vô biên".[3]
Trong lúc Việt Nam-Trung Quốc căng thẳng, có những đột biến chưa từng có, đặc biệt Trung Quốc viện trợ xoa dịu cơn thịnh nộ của Lê Duẩn. Sau khi suy nghĩ và so sánh viện trợ, Trung Quốc lấy quyết định cần giữ lại con mồi lợi ích quốc gia không cho tuột khỏi bàn tay mưu sự với Hoa Kỳ, chỉ cần tham khảo nước cạn với Việt Nam về một khía cạnh ngoại giao riêng tư với Hoa Kỳ sẽ đem lại kết quả cho Trung Quốc, khôn khéo hơn trao cho Lê Duẩn viện trợ vô điều kiện sẽ có kết quả. Lúc này Trung Quốc không thể viện trợ vượt quá khả năng kinh tế bởi trong nước gặp nhiều khó khăn. Để đối phó với quan niệm của Lê Duẩn,Trung Quốc chỉ cần viện trợ vũ khí để ông ta làm chủ chiến trường. Trung Quốc khẩn cấp gửi viện trợ đến Việt Nam đôi khi còn quá lượng qui định. Vấn đề tiếp tục viện trợ ở đây với mục đích chính nhằm xoa dịu Việt Nam nhắm mắt ngủ qua một đêm trăng mờ, và cũng báo tin cho đối tác hãy an tâm, bớt một chút thất vọng.
Nội địa Trung Quốc tự biết, tất cả còn tùy thuộc vào sức mạnh kinh tế, tuy nhiên đang gặp khó khăn về sản xuất và công nghệ lạc hậu, nếu đeo đuổi viện trợ với tốc độ nhanh sẽ làm yếu Trung Quốc, có nhiều vật dụng không cần viện trợ theo chỉ tiêu, đã vượt quá mức độ trên khả năng viện trợ, một lần nữa Trung Quốc cạn kiệt kinh tế, thiếu kỹ thuật sản xuất, chỉ vì củng cố quan hệ Trung Quốc-Việt Nam, nhưng mối bất hòa giữa hai anh em Cộng sản lân bang vẫn tiếp tục mặc cả.
Những nhà chiến lược Trung Quốc đưa ra nhận định:
‒ Trước tiên, viện trợ của Trung Quốc cho Việt Nam phải có số lượng nhất định, vật liệu, thiết bị, quân nhu, quân lương, quân số phải theo từng trường hợp. Như trước đây, vào năm 1961, Việt Nam nhận viện trợ bởi đối tác tỉnh Quảng Tây, theo những đề xuất của Hồ Chí Minh, xây dựng thủy điện tại Lạng Sơn, cuối cùng 2 nhà máy thủy điện hoạt động quá kém chất lượng, công suất tuabin trung bình, quá trình sản xuất điện lực nghèo, những nhà máy phát điện lạc hậu, tuổi thọ sử dụng khoảng 2 năm, theo nhu cầu phải xây dựng lại nhà máy điện theo tiêu chuẩn đường "xích đạo" cho năng xuất cao, những nhà máy bán cơ giới vẫn sử dụng, cần thiết tuyển dụng nhiều lao động. Thất bại trong việc sử dụng khí đốt, thay vì tiêu thụ gỗ (một tấn rưỡi gỗ cho 1 tấn đường mía), chi phí 250 nhân dân tệ (1963). Khiếm khuyết của Trung Quốc sản xuất máy kéo, chất lượng kém xuất năng. Việt Nam sử dụng khó đạt chỉ tiêu, và những sản phẩm máy bơm áp suất cao nhưng chất lượng không vượt qua nhu cầu. Viện trợ cho Việt Nam thiếu những linh kiện thay thế bộ phận, và thậm chí chất lượng một số bộ phận máy kéo, máy bơm không thể sử dụng được bởi tháo rời thành mãnh.
Trung Quốc viện trợ những nhà máy :
‒ Nhà máy Gang thép Thái Nguyên, cài đặt vào năm 1962 có tổng cộng 1806 bộ phận thiết bị, nhập cảng 226 phụ tùng từ Đài Loan, "thời gian xây dựng trì hoãn, tăng chi phí bảo trì quá cao cho chuyên viên Đài Loan, dẫn đến tác động tiêu cực". Trong khi đó, trợ giúp thiết bị của Trung Quốc vẫn còn tồn tại một số vấn đề về thiết kế lấp ráp, chẳng hạn quản lý khí đốt thất thoát, lò Gang thép Thái Nguyên do thiết kế sai sót, sửa chữa lại nhiều lần mới hoàn thành, thay vì tiết kiệm đã trở thành phung phí, kết quả giá thành cao hơn nhà máy gang thép tối tân nhất của Đức Quốc.
‒ Nhà máy dệt nhuộm Hà Nội thiết kế lỗi thời, nhiều lần thay đổi thiết kế, tác động xây dựng gây ra quá nhiều chất thải, gây ô nhiễm trong vùng lân cận.

Lê Duẩn đọc lời hiệu triệu trước toàn dân, toàn đảng, quyết tâm chống bành trướng Bắc Kinh. Nguồn: Tân Hoa Xã.

Vào thời điểm này, tại lục địa Trung Quốc có phong trào ù lì, tiếp tục dẫn đến sản xuất chậm trễ hoặc không còn khả năng cung cấp nguồn viện trợ chiến tranh Việt Nam. Cơ sở hạ tầng Trung Quốc do Phong trào “Đại nhảy vọt” đứng trên sản xuất vì muốn xây dựng nhanh xã hội chủ nghĩa, tình trạng này ảnh hưởng trực tiếp viện trợ và đời sống của nhân dân Trung Quốc, chủ yếu không có đầu máy sản xuất và phân phối bị trì trệ. Càng nghèo thêm không có nguyên liệu, kỹ thuật thiết kế lỗi thời, sáng tạo tìm kiếm khoa học sản xuất không có, việc cung cấp các mặt hàng đã nhất định thời gian không đủ nhu cầu của nhân dân; có những thiết bị không có một đơn đặt hàng vẫn sản xuất, thiết bị cá nhân không được giải quyết, bởi tập trung vào viện trợ cho Việt Nam. Hơn nữa, phía Trung Quốc đã cam kết viện trợ không lường đến hậu quả, phóng tay quá mức mà Trung Quốc không thể có. Ngoài ra, Trung Quốc không hoàn thành các dự án tái thiết quốc gia.
Năm 1968, chiến lược gia Lý Cường (李强) tham dự cuộc hội đàm về những vấn đề thiết bị chiến tranh Việt Nam, cho biết:
"…Kể từ năm 1950 xem xét thực hiện được 273 dự án, nói chung không thực hiện đúng thời hạn chuyển giao khoảng 100 điểm nhập cảnh, đa số chỉ thực hiện nửa vời. Nói cách khác, chiến tranh Việt Nam, có hơn một nửa dự án của Trung Quốc vẫn chưa hoàn thành, tiến độ của dự án khó khăn để đáp ứng các nhu cầu của phía Việt Nam. Ngoài ra, thiết bị công nghệ cao, người Trung Quốc không thể cung cấp, gây cho Việt Nam nhiều thất vọng. Ví dụ, trong năm 1973, các cuộc đàm phán của Lê Duẩn (黎笋) và Chu Ân Lai (周恩来) được đặt ra: Việt Nam cần 3 triệu tấn ngũ cốc tinh chế, nhà máy và thiết bị để Việt Nam sản xuất xăng dầu, chất xơ, chất dẻo và những vật liệu cơ bản khác, hy vọng Trung Quốc cung cấp. Thế nhưng Chu Ân Lai (周恩来) đã bác bỏ những yêu cầu của Lê Duẩn, bởi vì Trung Quốc không thể cung cấp toàn bộ thiết bị kỹ thuật, do đó, Lê Duẩn quá thất vọng một Trung Quốc tình đồng chí tình anh em…"
Cuối cùng, Trung Quốc để lộ khiếm khuyết khả năng, không đủ viện trợ, do nội tại Trung Quộc yếu kém mọi mặt. Ví dụ, trong năm 1975, Chu Ân Lai cho rằng những nhà lãnh đạo Việt Nam có cùng một căn bệnh nghiêm trọng: "Mở miệng ra chỉ biết xin viện trợ chiến tranh, thời điểm này Trung Quốc có nhiều khó khăn nhất. Nay chúng tôi có được nhiều điều hiểu biết rút ra từ phía Việt Nam về tham nhũng viện trợ, chúng tôi đã nỗ lực thực hiện viện trợ quá lớn. Tổng số tiền viện trợ cho Việt Nam vẫn tăng lên dần không giảm, đến nay có thể tính được 200 tỷ đô la [4]. Chúng tôi xin Việt Nam hãy cho hít một hơi thở thật sâu, nếu tình trạng này kéo dài sẽ có vấn đề khó chịu của chúng tôi".
Tháng 11 năm 1976, Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng (范文同) gửi một bức thư cho Trung Quốc, đệ trình một danh sách viện trợ bổ sung lớn hơn quá 50%. Trung Quốc không có khả năng đáp ứng yêu cầu của bên nhà nước Việt Nam.
Tháng 2 năm 1977, Thứ trưởng Lý Tiên Niệm (李先念) gửi văn thư hồi đáp, và giải thích cho Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam, ông Nguyễn Tranh (阮筝):
‒ Trong quá khứ, chúng tôi đã hứa sẽ viện trợ cho Việt Nam, và cho đến nay đã đạt hơn 200 tỷ đô la, số tiền này phía Việt Nam sử dụng không được hợp lý, có hơn 170 dự án đã được cấp tín dụng xây dựng nhưng đến nay Việt Nam chưa thực hiện. Chúng tôi đã nỗ lực quá lớn chỉ vì nhiệm vụ, vì vậy không thể cung cấp viện trợ mới cho Việt Nam. Quý đồng chí nên biết, chính vì chúng tôi chịu gánh gồng viện trợ chiến tranh Việt Nam, đưa đến nền kỹ nghệ của Trung Quốc yếu kém, do thiếu sót trong đàm phán viện trợ, nay quý đồng chí đã tìm được một nguồn viện trợ mạnh mẽ với khả năng công nghệ tiên tiến của Liên Xô, mà Việt Nam đang thụ hưởng.
Trung Quốc lân bang đang quan tâm xuất khẩu vào Việt Nam, mặc dù chương trình viện trợ vẫn còn hiệu lực. Trung Quốc vẫn phải cảnh giác, cẩn thận để tránh can thiệp vào viện trợ không nhầm lẫn với xuất khẩu. Đặc biệt trong nội bộ đảng và nhà nước Việt Nam, có hai cánh máu đen và máu đỏ (tình báo Hoa Nam-KGB) tích cực hoạt động. Trung Quốc tránh né, sợ rơi vào tình trạng đối đầu với Liên Xô. Cộng sản Việt Nam áp dụng thủ đoạn nắm lấy những phương tiện tình báo Hoa Nam và cả KGB, tạo ra ấn tượng ngoại giao hai chiều, khiến chi phối Trung Quốc phải chạy đua ảnh hưởng Việt Nam. Mao Trạch Đông thấy được lối chơi trịch thượng của Lê Duẩn nên đã ra lệnh:
"…Yêu cầu, bộ phận quân sự chiến tranh Việt Nam trở về vị trí nhà cố vấn chiến lược, không còn bị ràng buộc bởi chỉ huy trên giấy của Việt Nam, họ đã đánh mất sự đúng đắn trong hiệp ước. Ý tưởng của Việt Nam đang suy nghĩ Trung Cộng là nước lớn, coi thường người khác, từ đây họ sẽ không tự chiến thắng, họ sẽ không còn kiêu ngạo. Chúng ta trừng trị chúng bằng phương tiện lịch sử, địa lý và những yếu tố khác. Chúng ta hãy cử động theo nhạy cảm này, đưa phía Việt Nam vào từng khớp để trị. Ví dụ, quân đội Trung Quốc đã có mặt tại Việt Nam từ năm 1965 cho đến nay hơn 1,3 triệu quân, nếu cần hành động đè bẹp Việt Nam tại chỗ. Thời điểm này Việt Nam rất nhạy cảm với những gì trước khi chúng ta hành động, tuy nhiên ý tưởng của Việt Nam và quý đồng chí cố gắng hạn chế tiếp xúc với Lê Duẩn. Bộ phận tinh nhuệ của Thông Minh (Hoa Nam) làm một thao tác giả trang, đưa đội ngũ y tế Trung Quốc giúp nhân dân Việt Nam điều trị những chứng bệnh nan y, quý đồng chí "thông minh" có nhiệm vụ giải độc và chướng ngại vật của phía Việt Nam, đồng thời phân phối tin tức đến mọi người dân, tạo điều kiện cho họ nhận định quân đội Trung Quốc có công ơn nghĩa nặng của nhân dân Việt Nam, tiếp theo công khai công bố những thành tựu kinh tế của Trung Quốc, tạo điều kiện để nhân dân Việt Nam mặc nhiên chấp nhận tư tưởng Chủ tịch Mao, phù hợp với đất nước Việt Nam. Trong khi đó, những đồng chí có trách nhiệm "nghiên cứu lịch sử" và các ấn phẩm khác đã xuất bản liên tục về đề tài lịch sử Trung Quốc xâm lược Việt Nam. Tìm hiểu phản ứng của nhân dân Việt Nam đối với những bài viết của Trung Quốc, đương nhiên chúng ta không hài lòng "vô ơn bội nghĩa" của Việt Nam”.
Năm 1966, Lê Duẩn thông báo cho Đặng Tiểu Bình:
"…Bởi vì chúng tôi rất nhiệt tình, nghi ngờ Trung Quốc muốn kiểm soát Việt Nam qua Hồ Chí Minh (胡志明), nay chúng tôi muốn nói thẳng thắn với quý đồng chí Trung Quốc, và nguyên nhân nào Trung Quốc ngăn trở nhân dân Việt Nam muốn hiểu thấu về lịch sử nguồn gốc của dân tộc mình". [5]

Báo chí Trung Quốc loan tải, luận bàn "vô ơn bất nghĩa" của Cộng sản Bắc Việt. Nguồn: Tân Hoa Xã.

Trung Quốc không phát triển được kỹ nghệ do cuộc Cách mạng văn hóa tàn phá, Mao Trạch Đông kêu gọi nhân dân Trung Quốc "nhiệt tình cách mạng" và "đấu tranh kinh nghiệm" đã lan sang các nước khác, và xoay mạnh vào cuộc chiến tranh Việt Nam chống lại Hoa Kỳ. Mọi cố gắng viện trợ của Trung Quốc cho Việt Nam không khác nào một "hình nộm đòi ăn cơm lạnh" (mâm cơm cúng cô hồn). Do đó, Trung Quốc cảnh giác Việt Nam ở mức độ cao. Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam, ông Lý Gia Trung (李家忠) kể lại:
"…..Lê Duẩn cần Trung Quốc viện trợ, bất kể công khai chống lại Cách mạng Văn hóa, nhưng rất lo lắng Cách mạng Văn hóa truyền vào Việt Nam, nó chỉ có thể bảo vệ chống lại và chống lại quy định, như vậy Lê Duẩn thay mặt cho toàn đảng Cộng sản Việt Nam. Ra lệnh không được phép tiếp nhận tư tưởng Cách mạng Văn hóa Trung Quốc, bởi Việt Nam nhạy cảm đúng thời điểm thân Liên Xô. Việt Nam từ chối, mọi cử chỉ tạm thời không lưu ý Cách mạng Văn hóa, và sau đó lặng lẽ bỏ lửng. Tuy nhiên Hồ Chí Minh tìm mọi cách đưa Cách mang Văn hóa vào Đảng nhưng có nhiều trở ngại. Đôi khi, Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội, hổ trợ Hồ Chí Minh phát hành hàng ngàn số "Báo ảnh nhân dân" (人民画报), có nội dung Cách mạng Văn hóa, vả lại người dân Việt Nam không có điều kiện mua báo, cuối cùng tặng báo qua họp thư, chúng tôi đã từng tổ chức tại Hà Nội, thành phố Hải Phòng nhiều tuần lễ phim Trung Quốc, và chương trình đặc biệt do nhạc sĩ Hồng Đăng Kí (红灯记) đệm đàn Piano, kết quả chỉ có 5 khán giả tham dự... sau đó Trung Quốc dùng phương tiện truyền thông dấy động tuyên truyền "tình hình đổi khác" đem đến thành công tuyệt vời, ở khắp mọi nơi niềm vui đón nhận Cách mạng Văn hóa vào mùa xuân". Nhưng không bao lâu tình hình Việt Nam-Trung Quốc ngày càng tồi tệ hơn, vì các nhà lãnh đạo Việt Nam đã trong suốt thời gian này không bao giờ nói đến viện trợ hoặc Cách mạng Văn hóa….."
Lê Duẩn còn đẩy Cách mạng Văn hóa xa nhân dân, làm Trung Quốc bị thương rất nặng tại Việt Nam, vì vậy giữa Trung Quốc và Liên Xô, thì Lê Duẩn chọn sức mạnh mẽ hơn, một lần nữa Trung Quốc ngã ngựa, thua cuộc, bởi Trung Quốc mất hấp dẫn đối với Việt Nam. Mặc khác trước đây Trung Quốc thường hung hăng xâm lấn chiếm cứ vùng biển đảo Vịnh Bắc Bộ và vùng đảo Hoàng Sa. Việt Nam-Trung Quốc đã từng "tình đồng chí tình anh em", nay chỉ để lại tình thù và xung đột chưa đến.


Việt Nam gia nhập Comecon (Hội đồng Tương trợ Kinh tế)

Năm 1978, Việt Nam gia nhập Comecon (Hội đồng Tương trợ Kinh tế) theo quĩ đạo Liên Xô, gồm 11 quốc gia thành viên Bulgaria, Tiệp Khắc, Hungary, Ba Lan, Rumania, Liên Xô, Albania,  Cộng hòa Dân chủ Đức, Mông Cổ, Cuba, Việt Nam. Tổ chức này tự giải thể vào ngày 28 tháng 6 năm 1991, sau khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ.
Cùng năm, vào tháng 10, Liên Xô và Việt Nam ký kết "Liên Xô hữu nghị và Hiệp ước Hợp tác Việt Nam", hai bên thành lập một liên minh quân sự. Trung Quốc ngay lập tức chấm dứt viện trợ cho Việt Nam, và hai nước Việt Nam-Trung Quốc chính thức đối đầu, sau đó xảy ra xung đột quân sự  ngày 17 tháng 2 năm 1979 đến 2000 (21 năm).
Trung Quốc tham chiến tại Việt Nam, thua quá đậm, kết quả đổ máu hơn 320.000 binh sĩ và tính cho đến nay đã đổ viện trợ vào Việt Nam hơn 200 tỷ đô la (Chu Ân Lao cho biết) [5]. Việt Nam đã dành được nhiều tài liệu chiến tranh... dù đã nhận được nhiều viện trợ từ Trung Quốc nhưng không đồng nghĩa "nhớ ơn đời đời". Thực sự viện trợ của Trung Quốc đã bị phản tác dụng bởi vì Hồ Chí Minh lộ nguyên hình làm thân lính đánh thuê cho Trung Quốc. Họ Hồ để lại muôn ngàn hậu quả đau thương cho đất nước Việt Nam.

Huỳnh Tâm

Ghi chú:
‒ Người viết bài này tặng đảng Cộng Sản và kính biếu nhân dân Việt Nam những tấm ảnh lịch sử của Bác Lê Duẩn.
[1] Nguyên văn: 1949 11 月初周恩来就说 : "….一旦越南全部陷于法国之手,会威胁新中国的安全。有人把越南比喻为中国的下领,现在下领有危险,头部就不完全".
- 1950 年刘少奇也说 : "如果我们不去帮助越南,让敌人呆在那里,我们的困难就会更大,麻烦也就更大…".
[2] Nguyên văn: "….黎笋的回答听来声色俱厉: "同志,你愿意说什么都可以,但是我仍然不会跟从,同志,你是中国人;我是越南人;越南是我自己的国家;决不是你的"胡志明" (Hồ Chí Minh) 你没有权力谈论我们越南的事务….".
[3] Nguyên văn: "…而正是为了平息越南方面的怨气 ,1971-1973 年中国向越南提供了更多的援助,援助协定金额达90 亿人民币,单就军事援助来说,近两年的援助物资即超过以往20年的总和但越南此时已不再相信中国,这就促使越南决心亲苏制华…. "
[4] Nguyên văn: "…周文重说,越南的领导人大病: “打开你的嘴,请帮助只知道战争,这个时候中国有最大的困难现在我们有很多事情要了解.知道,从越南的援助腐败画,我们已实施的援助力度过大.援越总金额不增加逐渐下降,这可以计算为200美元十亿…". Hy vọng, Chu Ân Lai phóng đại viện trợ cho đảng Cộng sản Việt Nam lên con số quá khủng khiếp (200 tỷ đô la).

[5] Nguyên văn: "…因为我们都很热情,怀疑中国想在他的越南(胡志明的控制,现在我们想与您的中国同志坦率地交谈,并导致中国以防止越南人男人想把握自己民族的历史渊源



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
Kiều bào phát triển quê hương [Đã đọc: 339 lần]
Tin tức thế giời mới nhât song ngữ Việt Anh để học sinh ngữ [Đã đọc: 334 lần]
Làm Giàu Bằng Đầu Tư Chứng Khoán [Đã đọc: 323 lần]
Siêu đô thị Đà Nẵng mở rộng, siêu đầu tư địa ốc làm giàu [Đã đọc: 321 lần]
Một châu Âu đứng trước ngã ba lịch sử [Đã đọc: 314 lần]
Cách mạng chiếc đòn gánh của phụ nữ VN [Đã đọc: 275 lần]
“NHỮNG NGƯỜI CUỐI CÙNG CÒN GIỮ LẠI CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN”** [Đã đọc: 268 lần]
Nghệ Thuật Làm Giàu Của Người Việt Hải Ngoại - “The Art of Wealth for Overseas Vietnamese”. [Đã đọc: 262 lần]
Làm thế nào đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa từ Trung Cộng [Đã đọc: 259 lần]
Cuba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cuba nghỉ [Đã đọc: 252 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.