 |
 |
Các chuyên mục |
|
Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm
Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal
Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat
Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục
Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói
Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí
Web links
Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo
Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng
Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP
|
|
|
|
Xem bài theo ngày |
|
| Tháng Sáu 2026 | | T2 | T3 | T4 | T5 | T6 | T7 | CN |
| 1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
| 8 |
9 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
| 15 |
16 |
17 |
18 |
19 |
20 |
21 |
| 22 |
23 |
24 |
25 |
26 |
27 |
28 |
| 29 |
30 |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Thống kê website |
|
 |
Trực tuyến: |
8 |
 |
Lượt truy cập: |
29327731 |
|
|
|
|
| |
|
 |
 |
|
|
|
Sức mạnh của chủ nghĩa ngu dân
05.07.2014 02:29
Vốn thích nhạc không lời nhưng đôi khi tôi vẫn nhớ về một câu hát cũ, “Anh ở đầu sông, em cuối sông. Chung nhau dòng nước Vàm Cỏ Đông…” Lãng mạn sao, những cặp tình nhân cùng uống chung một dòng nước.

Và hạnh phúc thay những kẻ có thể sống cả đời bên một con sông êm đềm, qua những mùa lúa chín không tiếng súng, những trưa hè có thể nép mình dưới bóng các rặng cây. Nhưng đó là chuyện cổ tích.
Lịch sử cận đại của người Việt Nam đã diễn ra trong khói bom và tiếng nổ của đạn pháo. Cuộc chiến tranh Việt-Mỹ chia cắt đến tận lòng sâu của mỗi gia đình. Sự nhầm lẫn, cự bất khả tri không chỉ xẩy ra giữa hai nền văn hoá Đông-Tây mà còn xẩy ra ngay giữa lòng dân tộc Việt, giữa các thành viên trong một gia đình, một dòng họ, giữa miền Bắc và miền Nam, giữa bên thắng cuộc và bên thua cuộc, giữa người trong nước và những người sống ngoài biên giới… Tóm lại, những người Việt cũng bị chia cách bởi những con sông. Những con sông thiếu vắng những cây cầu Khoảng cách giữa người với người có thể còn dài rộng hơn sông, sâu hơn vực thẳm, thế nên, dù trên địa hạt văn chương, tôi coi Albert Camus cao hơn hẳn Jean Paul Sartre, tôi vẫn phải công nhận câu nói nổi tiếng của Sartre là một nghiệm sinh có tính nhân loại, “Tha nhân là địa ngục của ta.” Đây là kinh nghiệm của chính tôi. Năm 1994, tôi sang Pháp lần đầu, được một nhóm “Việt kiều yêu nước” đón tiếp. Có lẽ tên ấy được đặt ra khi nhóm này tham gia vào phong trào chống chiến tranh và người cầm đầu nhóm ấy đã từng là phiên dịch cho ông Lê Đức Thọ trong các hội nghị đàm phán hưu chiến ở Paris. Khoảng năm 1990, cũng nhóm này đứng lên lấy chữ ký của Việt kiều trí thức ở Mỹ, Đức, Úc và Pháp trong bản kiến nghị yêu cầu nhà nước và đảng cộng sản Việt Nam mở rộng dân chủ. Sau bản kiến nghị ấy, họ bị cấm về nước một thời gian khá dài, thậm chí còn bị gọi là “các phần tử phản động”. Như thế, phải hiểu là giữa nhóm Việt kiều này với tôi có chung mục đích tranh đấu cho quyền sống của người dân Việt Nam. Có lẽ cũng vì lý do ấy, họ đón tôi, ít nhất đấy là điều tôi nghĩ. Cuộc đón tiếp diễn ra nồng nhiệt, dường như mang mầu sắc bạn hữu. Tuy nhiên, chỉ một thời gian sau, tôi nhận thấy giữa họ với tôi có rất nhiều điểm bất đồng, đặc biệt là sự nhìn nhận về cuộc chiến tranh Việt-Mỹ. Tôi tự nhủ, “Người ta sống trên đời, thường tụ thành bè, còn bạn là thứ quý hiếm, nó còn quý hiếm hơn tình yêu vì không có bệ đỡ tình dục. Tình bạn đòi hỏi một sự cảm thông sâu sắc, những phẩm chất tương đồng, và cơ duyên để có thể cùng nhìn về một hướng, cùng đi theo một ngả. Vì lẽ đó, tình bạn không thể có được một cách dễ dãi. Không có thứ tình cảm nào không cần thử thách, cho dù là tình yêu, tình bạn hay tình đồng đội, tất thảy đều cần phải nung qua lửa mới biết vàng thau”. Nghĩ thế, tôi chọn thái độ im lặng, lảng tránh các cuộc tranh cãi, vì nếu không là bạn, hà tất phí nước bọt để đôi co? Tôi biết rõ rằng, đối với nhóm Việt kiều này cuộc chiến tranh chống Mỹ là cần thiết, là niềm kiêu hãnh, là đài vinh quang của dân tộc Việt Nam. Đối với tôi, đó là sự nhầm lẫn lớn nhất trong lịch sử, là cuộc chiến tranh ngu xuẩn nhất, tàn khốc nhất đã xảy ra trong một tình thế đen trắng lẫn lộn, các khái niệm bị đánh tráo, kẻ tham gia cuộc chiến ở phía Bắc nhầm lẫn do trói buộc bởi ngôn từ, kẻ tham chiến ở phương Nam bị cuốn vào dòng chảy của cuộc Chiến tranh Lạnh, và cả hai bên đều bị đặt vào thế đã rồi. Cuộc chiến tranh Việt-Mỹ là bài học đau đớn nhất, nhục nhã nhất cho dân tộc Việt Nam, mà kẻ chịu trách nhiệm không chỉ là người Mỹ mà còn là chính những người lãnh đạo cộng sản phía Bắc. Trong cuộc chiến tranh ấy, dân tộc Việt tự biến mình thành vật đệm giữa hai toa tầu, là đám lính đánh thuê cho hai hệ thống tư tưởng trái chiều đang tiến hành cuộc chiến tranh Lạnh. Trong suốt một thập kỷ, nước Việt Nam đã thực sự biến thành cái cối xay thịt khổng lồ nhất trong lịch sử của toàn thể loài người. Vì lẽ ấy, theo tôi, cả người thắng lẫn người thua phải biết sám hối, và nếu muốn lật trang cho lịch sử đất nước, trước hết kẻ thắng phải biết câm mồm lại đừng huyênh hoang nữa; còn kẻ thua cũng phải biết câm mồm lại, thôi chửi rủa, cả hai phía không nên tiếp tục đào bới cái thây ma lên mà ngửi. Nếu không đủ can đảm nhìn nhận vấn đề như nó vốn thế, họ chỉ còn là đám thú rừng bị lọt xuống một cái bẫy của lịch sử và không bao giờ có thể nhẩy lên khỏi hố sâu. Năm 2005, tôi trở lại Pháp. Nhóm “Việt kiều yêu nước” chủ động mời tôi đến ăn cơm tối với họ để trao đổi tình hình. Tôi nhận lời. Bữa cơm ấy diễn ra ở một quán ăn thuộc quận 13. Trước khi đến Paris, tôi đã ở Turin (Ý) một tuần. Trong tuần lễ đó, khá nhiều báo Ý đã phỏng vấn tôi và đã đăng bài tức khắc. Một trong số các bài báo ấy, có đề tựa “Mười triệu người chết trong cuộc chiến Việt Nam”. Trong các cuộc phỏng vấn tại Turin, tôi đã kể lại hai điều: - Thứ nhất, khi làm người viết thuê cho các ông tướng, tôi được nghe họ nói với nhau: Chúng ta chỉ công bố con số thật sự khi người Mỹ bồi thường chiến tranh. Như thế, con số phía Mỹ đưa ra (khoảng 5 triệu tử vong) lẫn con số chính quyền Việt Nam đưa ra (hai triệu rưỡi) đều là số sai sự thật. - Thứ hai, chỉ khi đến Turin tôi mới biết lính các nước chết ra sao và nhờ có sự so sánh ấy, tôi mới biết thân phận người lính và người dân Việt Nam đau khổ đến mức nào. Năm 2005, cuộc chiến tranh đang xảy ra ở Iraq. Báo mỗi ngày đều đăng tin bao nhiêu lính Mỹ, bao nhiêu lính Iraq tử vong. Nếu con số đó chạm tới năm chục đã khiến các nhà báo làm rộn lên, chất vấn tổng thống. Khi số tử vong chạm đến số 100 thì sự căng thẳng trong chính trường đã khiến Nhà Trắng điên đầu. Trong chiến tranh Việt-Mỹ, mỗi lần B52 bay qua, chỉ hai ba phút, dân thường, thanh niên xung phong chết hai trăm, ba bốn trăm, thậm chí nơi đông hơn sáu trăm người nhưng không có một dòng trên báo, không một câu trên đài phát thanh. Không ai hay biết, kể cả người Việt lẫn người nước ngoài. Tôi nói với các nhà báo Ý: “Tới tận năm nay, gần sáu mươi tuổi tôi mới thấm thía sự khác biệt giữa kiếp người. Nhờ đọc báo phương Tây, tôi mới biết là người Mỹ và người Iraq chết như người, chết theo kiểu người. Chúng tôi, những người Việt Nam, chúng tôi chết như kiến, chúng tôi chết như ruồi, chúng tôi chết như lá khô rụng, cái chết của chúng tôi hoà lẫn bùn đen, và tan trong câm lặng.” Vì ở Turin có những Việt kiều liên hệ chặt chẽ với nhóm “Việt kiều yêu nước” ở Paris và gửi báo cho họ nên trong bữa cơm tối hôm ấy, tôi bắt buộc phải bàn cãi với họ về chủ đề chiến tranh Việt-Mỹ. Tôi đã thuật lại cho họ nghe sự tổn thất to lớn của dân tộc khi những người lãnh đạo mắc chứng vĩ cuồng. Rất nhiều trận xảy ra khi lực lượng trinh sát thăm dò địa hình địa vật không kỹ, bộ phận hậu cần chuẩn bị khí tài chưa đủ nhưng cấp chỉ huy ham lập thành tích nên cứ đẩy lính ra chiến trường, kết quả là đại bại. Trong khi ở chiến trường xác lính chết ngập suối, nước không chảy được, chim cắt chim kền kền ăn thịt no đến mức không bay lên nổi, lệnh ở Hà Nội vẫn tiếp tục giục tấn công. May mắn là còn có những vị tướng biết thương dân, thương lính, khóc đỏ mắt, quyết định rút quân và làm báo cáo giả để gỡ tội. Hồi ấy, tổng tư lệnh của cuộc chiến là Lê Duẩn, đã đưa ra khẩu hiệu: “Dân tộc chúng ta là dân tộc anh hùng, chỉ có thắng không có thua. Quân đội chúng ta là quân đội anh hùng, chỉ có tiến không có lùi.” Điều đó có nghĩa: Chỉ tiến công, không phòng thủ! Xưa nay, trong lịch sử ngàn năm chống ngoại xâm của dân tộc, bao giờ chúng ta cũng lùi về rừng núi để chờ thời gian mài mòn lòng kiêu ngạo lẫn ý chí quân địch, cũng là để khí hậu nhiệt đới khắc nghiệt quật ngã chúng, cũng là để củng cố quân đội rồi chờ thời cơ thuận lợi mới huy động binh lính và dân chúng tổng tấn công. Khẩu hiệu của ông Lê Duẩn đưa ra là một sự sáng tạo thuần tuý, một ý thơ bay bổng, xuất phát từ tham vọng và lòng kiêu mạn cộng sản. Nhưng thơ phú là thứ chỉ để ngâm ngợi khi gió mát trăng thanh, thơ mà trà trộn với chiến tranh nó biến thành núi xương sông máu. Đám tướng lĩnh không dám tuyên bố thẳng thừng, nhưng đều hiểu ngầm rằng lãnh tụ của họ là một kẻ vĩ cuồng. Nhóm “Việt kiều yêu nước” ở Paris nghe tôi nói xong thì hai nhân vật chủ chốt phản ứng dữ dội. Ông X bảo: - Mục tiêu biện minh cho phương pháp. Muốn thắng cuộc trong chiến tranh thì phải chấp nhận tất cả. Ông Y phản ứng với con số Mười triệu: - Con số đó không thật. Ở nước Pháp chúng tôi có các biện pháp khoa học về dân số để chứng mình là con số ấy sai. Làm sao chị có thể nghe theo mấy thằng tướng ngu ấy được? Tôi im lặng không đáp. Nhưng hôm sau, tôi có nhờ ông Phan Huy Đường, lúc đó còn dịch sách của tôi, nói lại với ông Y: - Nhờ Đường nói với ông bạn của Đường là về Việt Nam chớ mở mồm mà bảo mấy ông tướng là ngu. Bởi vì, rất nhiều hạ sĩ quan thời đó (trung uý, đại uý, thiếu tá…) biết rõ rằng sinh mạng họ được bảo tồn là nhờ những ông tướng thực sự thương lính và không ham thành tích như tướng Vũ Lăng. Bây giờ, nếu không giải ngũ họ cũng đã leo lên đại tá hoặc thiếu tướng. Nếu ông Y mở mồm bảo tướng của họ là thằng ngu hẳn họ sẽ cho một báng súng vào đầu, hiền hoà nhất họ cũng khạc vào mặt. Đấy là phản ứng duy nhất của tôi. Trong thâm tâm, tôi quyết định chia tay. Tôi nghĩ, đám người này cần cuộc chiến tranh chống Mỹ như người đàn bà cần son phấn. Giữa họ với ta chẳng còn điều gì đáng nói. Một cuộc chia tay vĩnh viễn là điều hợp lý hơn cả. Không cần kiệt xuất thông minh, chỉ cần chịu khó quan sát sẽ thấy ngay rằng cộng đồng người Việt ở nước Pháp là một cộng đồng không bản sắc, sống co cụm, một bầy thỏ ngoan ngoãn đối với chính quyền. Họ không gây ra các vụ lộn xộn như người da đen và người Arab theo đạo Hồi, nhưng họ cũng chẳng có tiếng nói, chẳng có một gương mặt nào trên các diễn đàn quyền lực. Vì bản chất nhẫn nhịn, chịu thương chịu khó nên họ thành công ở mức trung bình, trở thành kỹ sư, bác sĩ, nha sĩ, giáo viên đã là giấc mơ tột đỉnh. Hội nhập vào xã hội Pháp chưa lâu, sự tự tin vào bản thân chưa đủ, họ lại bị ám ảnh bởi thân phận lớp người Việt Nam nhập cư trước họ, những người lính thợ bị thực dân cưỡng bức rời quê hương sang Pháp phục vụ tại một số nhà máy làm thuốc súng để thay thế cho các công nhân Pháp ra chiến trường. Năm 1937, để dự phòng chiến tranh, bộ trưởng Bộ Thuộc Địa và Quân Đội (ministre de la Colonie et de la Défense) Georges Mandel dự tính tuyển 80.000 người Đông Dương. Tháng 6 năm 1940 đám thanh niên Việt Nam được dẫn đến hải cảng Pháp gồm: 10.750 người trung kỳ, 7.000 người miền Bắc, 2.000 người miền nam. Đám lính thợ này đã bị đối xử như những con vật, bị dồn vào sống trong những khu nhà tồi tàn, không điện và thiếu nước, không nơi vệ sinh, không lò sưởi và thức ăn không đủ nửa khẩu phần. Mùa đông, những kẻ khốn khổ ngủ trên sàn, đại tiểu tiện ngay bên ngoài cửa, người nọ dẫm vào phân người kia. Đói khát, họ phải đào rễ củ và hái rau dại về ăn. Cái sự thật tàn nhẫn này bị vùi trong câm lặng. Cho đến đầu thế kỷ XXI, mới có vài nhà báo Pháp lên tiếng. Sau đó, Bernard Kouchner, vốn là một ngôi sao cánh tả nhưng sau thất bại của Ségolen Royal trong cuộc tranh cử 2007, đã nhận lời làm bộ trưởng bộ ngoại giao cho chính phủ Sarkozy mới chính thức lên tiếng xin lỗi vì: “Nước Pháp đã đối xử với những người lính thợ Việt Nam như đối với súc vật.” Trong thực tiễn, nước Pháp đã đối xử với đám lính thợ Việt Nam còn tệ hơn súc vật bởi khi cưỡng chế thanh niên Việt Nam sang Pháp, họ dồn đám người này xuống hầm tầu còn tầng trên, thoáng mát hơn thì để dành cho… những con bò. Cái kinh nghiệm tồi tệ ấy được cấy trong tim như một quá khứ sầu thảm, cộng đồng người Việt không thể tránh khỏi mặc cảm của những kẻ vừa là dân nhập cư, vừa mang nhãn hiệu “Được lôi ra từ vùng đất thuộc địa”. Thế nên, cuộc sống tinh thần của họ dường như đột ngột khởi sắc, bừng bừng ánh sáng khi cuộc chiến tranh Việt-Mỹ xẩy ra. Tại sao? Dễ hiểu thôi, tinh thần „Bài Mỹ“ là chất xi-măng gắn kết một số đông quốc gia trên thế giới, không chỉ các nước thuộc phe Xã hội chủ nghĩa nhưng ngay cả các nước phương Tây. Hành vi của nước Mỹ không chỉ gợi lên lòng căm thù nhưng kèm theo đó cả sự sợ hãi. Nếu có tiền lệ một nước nhược tiểu bị Mỹ chà nát thì sẽ đến lượt các nước khác theo thành ngữ, “Không bao giờ có lần thứ nhất, lần thứ hai mà lại không có lần thứ ba”. Vả chăng, về mặt lý, cuộc chiến này không thể biện minh, “Không một người Việt Nam nào mang bom sang giết người Mỹ.” Dù cộng sản hay không cộng sản thì sự thực là không có một người Việt Nam nào cầm dao hoặc cầm súng sang tận nước Mỹ để giết một người Mỹ, hoặc ngay đến một con bò trong trang trại Mỹ cũng không. Vì thế, lương tâm nước Mỹ phải thức tỉnh. Các vụ biểu tình phản đối chiến tranh trước toà Nhà Trắng của Mỹ điệp với các cuộc biểu tình trước sứ quán Mỹ tại các nước khác. Tiếng hát và ngọn lửa tự thiêu của trí thức Mỹ đốt nóng cả châu Mỹ La-tinh và châu Âu. Vào thời điểm ấy, người Việt Nam nhập cư chống chiến tranh được hưởng một sự ưu đãi vô tiền khoáng hậu. Đi đến đâu họ cũng được thăm hỏi, giúp đỡ, được coi là người của “một dân tộc anh hùng”. Và, trên các diễn đàn chống chiến tranh, đại diện của “tổ chức Việt kiều yêu nước” được xuất hiện bên cạnh những nhân vật quan trọng bản xứ mà nếu không nhờ ân sủng của cuộc chiến này, không bao giờ họ có cơ hội và có tư thế tiếp xúc. Để ví von, có thể nói rằng: Những con chim vốn nép mình trong bóng tối nhờ ánh đạn lửa mà được nhô đầu ra và há mỏ cất tiếng kêu. Thế nên, họ cần cuộc chiến tranh Việt-Mỹ. Lòng ích kỷ, cái kiêu ngã của con người quả là vô giới hạn. Những kẻ sống ở một phương trời, cần máu đồng bào phải đổ ở một phương trời khác để tô điểm cho cuộc sống tinh thần của chính mình. Chiến tranh thật đẹp khi nó được tạo bằng máu xương kẻ khác! Từ đây, tôi nghi ngờ hai từ “yêu nước”. Phía sau danh từ này có vô vàn tâm trạng, có vô số động cơ, hoặc xác thực, hoặc ngầm ẩn, hoặc có ý thức, hoặc vô thức. Danh từ nào cũng lập lờ và cũng có khả năng phản lại nghĩa chính thống. Như thế, giữa người Việt với người Việt cũng bị chia cách bởi những con sông vô hình. Chắc chắn cũng còn khá lâu mới bắc được cầu qua những con sông ấy. Chiến tranh Việt-Mỹ đã qua, nhưng sau đó không lâu cái tên Việt Nam lại dội lên trên các kênh thông tin quốc tế. Lần này, là một thứ ồn ào dơ dáy. Chẳng còn là người anh hùng bé nhỏ dám đương đầu với đế quốc Mỹ mà là tác giả của Khổ nạn Thuyền nhân. Ở châu Âu, phái đoàn Việt Nam không còn được chào đón bằng cờ và hoa mà bằng cà chua và trứng thối. Tôi nhớ rằng lần đi châu Âu, ông Võ Văn Kiệt đã hứng trọn một quả trứng thối vào giữa mặt còn đến lượt ông Phan Văn Khải thì thoát nạn nhờ sự bố trí, dàn cảnh công phu của cảnh sát Pháp. Sự đời vốn đổi thay như các lớp tuồng. Điều khốn khổ cho người Việt Nam là dường như họ chỉ được biết đến trong các tình huống đau khổ. Kể từ khi làn sóng “Thuyền nhân” dịu đi, Việt Nam gần như chẳng còn gì để nhớ. Cứ nghe đài phương Tây thì biết, người ta chỉ nhắc tới hai từ Việt Nam khi nhắc tới cuộc chiến tranh Việt-Mỹ, bởi rất nhiều trí thức phương Tây, đặc biệt là các văn nghệ sĩ đã tham gia vào phong trào chống chiến tranh và tuổi trẻ của họ gắn bó với những kỷ niệm của một thời sôi động. Tuy nhiên, ngay cả những người kiên nhẫn nhất và hiểu biết Việt Nam nhiều nhất cũng chưa dám quả quyết rằng họ nắm được sự thực về cuộc chiến tranh này. Điều đó, quá khó khăn. Một lần, một nhà văn Pháp hỏi tôi: - Cái gì tạo nên sức mạnh của chúng mày trong cuộc chiến tranh Việt-Mỹ? Tôi đáp: - Một nửa là thói quen của hàng ngàn năm chống xâm lược. Nửa kia là sức mạnh của chủ nghĩa ngu dân. Anh bạn chưng hửng: - Mày không đùa đấy chứ? Ai có thể tin nổi một thứ lý thuyết quái gở như thế. Tôi cười: - Rất nhiều thứ quái gở ở phương Tây lại là sự thực đơn giản ở phương Đông. Và ngược lại. Bây giờ, tôi xin giải thích “thứ lý thuyết quái gở” này. Cuộc chiến tranh Việt-Mỹ được đảng cộng sản phát động với lời tuyên bố: Đánh đuổi quân xâm lược Mỹ. Năm 1964, tôi mười bẩy tuổi. Vào tuổi ấy, tất thảy thanh niên ở miền Bắc không có quyền nghe đài nước ngoài, không có ti-vi, không có máy quay đĩa, không có bất cứ nguồn thông tin nào ngoài báo chí cộng sản và đài phát thanh trung ương. Lần đầu tiên, tôi được nghe những bài hát nước ngoài là năm tôi mười sáu tuổi. Mùa hè năm 1963, anh họ tôi là phiên dịch tiếng Nga dẫn tôi cùng đứa em trai đến nhà ông chuyên gia mỏ thiếc Tĩnh Túc ở Hà Nội. Ông bà ấy đón tiếp rất tử tế, ngoài việc chiêu đãi bánh ngọt và nước trà chanh, còn mở máy quay đĩa cho chúng tôi nghe. Cảm giác của tôi lúc đó là choáng váng, như muốn chết. Đó là cảm giác thật sự khi con người lạc vào một thế giới mà họ vừa cảm thấy ngây ngất vừa cảm thấy như ngạt thở. Đĩa nhạc đó là của Roberto… (không nhớ họ), một giọng ca Ý tuyệt diệu nhưng chết trẻ. Những bài hát tôi nghe là các bài nổi tiếng cổ truyền: Ave Maria, Santa Lucia, Paloma, Sérénade, Histoire d’amour, Besame Mucho… Ra khỏi cửa nhà ông chuyên gia Nga nọ, tôi bước đi loạng choạng. Lần đầu tiên, tôi hiểu rằng cuộc sống của chúng tôi là cuộc sống của những kẻ bị nhốt dưới hầm. Những bài hát kia là một thứ ánh sáng mà lần đầu tiên tôi được thấy. Ánh sáng đó rọi từ một thế giới khác, hoàn toàn ở bên ngoài chúng tôi. Kể lại chuyện này, để hậu thế nhớ rằng, thời đại của chúng tôi là thời đại của một thứ chủ nghĩa ngu dân triệt để. Một thứ chủ nghĩa ngu dân tàn bạo, nó buộc con người sống như bầy súc vật trong một hàng rào được xây nên bằng đói khát, hà hiếp và tối tăm. Khi con người bị điều khiển cùng một lần bằng tiếng gào réo của dạ dầy và cái bỏng rát của roi vọt thì họ không thể là người theo nghĩa thực sự. Chủ nghĩa ngu dân là thứ lá chắn mắt ngựa, để con vật chỉ được quyền chạy theo chiều mà ông chủ ra lệnh. Khi tất cả những con ngựa đều chạy theo một hướng, ắt chúng tạo ra sức mạnh của “bầy chiến mã”, nhất là khi, trong máu chúng đã cấy sẵn chất kích thích cổ truyền “chống xâm lăng”. Với lũ trẻ là chúng tôi thời ấy, danh từ Xâm lăng dùng để chỉ: quân Nguyên, quân Minh, quân Thanh, và bây giờ là quân Mỹ. Danh từ ấy đồng nghĩa với Tô Định, Mã Viện, Thoát Hoan… Tóm lại, Mỹ là lũ giặc phương Bắc nhưng mũi lõ, mắt xanh, tóc vàng. Ngôn ngữ vốn là một nhà tù, mà chúng tôi không có điều kiện để tiếp cận với các nguồn thông tin khác, các ngôn ngữ khác, nên hiển nhiên chúng tôi là đám tù binh ngoan ngoãn sống trong nhà tù ấy, đinh ninh rằng mình ra đi là để bảo vệ non sông. Bởi vì, tổ tiên chúng tôi đã quen chết hàng ngàn năm để chống lại những kẻ thù mạnh hơn họ bội phần, chúng tôi cũng sẵn sàng ra chiến trường chống quân xâm lược Mỹ theo đúng cách thức ấy. Đó là lý do tôi nói, “sức mạnh của chủ nghĩa ngu dân”. © Dương Thu Hương Đàn áp dã man nông dân Văn Giang, Hưng Yên để CƯỚP ĐẤT bởi Cộng sản
09h00: Sáng nay 1/7/2014 hàng ngàn dân oan Văn Giang, Dương Nội và dân oan khắp tỉnh thành trong cả nước kéo đến 35 Ngô Quyền, Lý Thái Tổ để biểu tình. Sao ông Nguyễn Phú Trọng không ra đây mà tiếp xúc với dân nhỉ?!!! Hình ảnh trực tiếp từ hiện trường:
Tin và ảnh: FB Lo De VN
Trại dân oanl
Có những trại giam do chính quyền độc tài nghĩ ra để giam giữ tù nhân chính trị. Có những trại giam dùng để thủ tiêu người Do Thái trong chế độ Đức quốc xã, nhưng cũng có những nơi mà người cùng khổ vì bị bóc lột, áp bức đã tự tập trung kéo tới tá túc trong thời gian tranh đấu cho sự sống còn của họ trong một loại trại chưa từng có trong lịch sử loài người “Trại dân oan”. Vườn hoa Mai Xuân Thưởng Hà Nội từ nhiều năm nay đã trở thành quen thuộc với hàng ngàn dân oan từ khắp nơi trên đất nước đổ về tạm trú thân trong lúc mang đơn gõ cửa các cơ quan tiếp dân của chính phủ với niềm tin là sẽ được giải quyết những vấn đề mà địa phương áp bức. Các tỉnh phía bắc như Quảng Ninh, Thái Bình, Thanh Hóa, Hòa Bình, Sơn La, Bắc Giang, Điện Biên, Quảng Bình, Ninh Bình, Tuyên Quang… các tỉnh miền Trung và cao nguyên như Ninh Thuận, Gia Lai, Đắc Lắc, Dak Nông, Đồng Nai, Bình Phước rồi miền Nam như Tiền Giang, An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau…hầu như không còn chỗ nào mà người dân oan không biết tới Mai Xuân Thưởng, cái tên trở thành nhà, thành một loại trại dân oan không song sắt cho những mảnh đời oan khuất này. Quốc hội họp: niềm hy vọng mỗi nămChính quyền biết rõ từng con người tại vườn hoa Mai Xuân Thưởng vì người tới và đi trong gần 15 năm qua cũng bấy nhiêu khuôn mặt. Có khi họ tập trung vài chục, lúc cao điểm tới gần trăm, nhất là vào những ngày khai mạc Quốc Hội số người về đây đông hơn hẳn. Niềm tin vào đại biểu Quốc hội sẽ chú ý tới họ khiến một số rất lớn bỏ hết công ăn việc làm để khăn gói về Hà Nội kêu oan nhưng kết quả nhiều năm qua cho thấy chưa một đại biểu quốc hội nào lên tiếng chính thức tại diễn đàn về sự có mặt không đúng lúc của những con người dân không ra dân, phạm nhân không ra phạm nhân, ăn mày hay công nhân vệ sinh cũng không phải nốt. Cuộc sống ở đây quá vất vả, người ta thì khác nhưng mấy người dân oan này thì khổ dữ lắm không có gì để mà sống, ăn rau không. -Chị Hương Họ không phải là dân vì nhiều người đã mất hộ khẩu, mất nhà cửa và mất cả đất đai. Họ không phạm bất cứ một tội gì để chính quyền xem họ là phạm nhân nhưng công an muốn săn đuổi, quát nạt hay cưỡng chế, đánh đập lúc nào cũng được. Họ không phải là công nhân vệ sinh nhưng người ta thấy không ít người thường xuyên nhặt nhạnh rác thải chung quanh vườn hoa để tạm sống trong khi ở quê nhà họ chưa bao giờ làm công việc này. Họ đến Hà Nội, tự chấp nhận vào Trại dân oan vì không còn nơi nào khác họ có thể sống để theo đuổi việc khiếu kiện. Đất đai là nguyên nhân chính, trong đó có người đã theo đuổi gần hai mươi năm và cho biết họ sẽ theo tới chết. Chị Hương người An Giang cho biết: “Cuộc sống ở đây quá vất vả, người ta thì khác nhưng mấy người dân oan này thì khổ dữ lắm không có gì để mà sống, ăn rau không chưa từng thấy. Dân oan này khổ quá rồi, sáng rau muống chiều rau muống! Bởi vậy. Bây giờ cũng liều rồi. Bây giờ ai cũng khổ hết nằm vất vơ vất vưởng ngoài công viên. Nằm đó lang thang đó. Ăn uống thì rau muống chấm nước tương. Hùn nhau mua gạo về nấu. Tiền xe thì phải lo tiền đi tiền về. Đất đai, tín ngưỡngCăn cước của công dân Trại dân oan là những tờ giấy được dán lại thành khổ lớn trên ấy viết đủ thứ yêu cầu giải quyết đất đai bị trưng thu. Khi mệt họ bày những tấm giấy ấy bên vệ đường như đang bán hàng rong mà sản phẩm họ bày ra toàn những thứ đau lòng, rát ruột. Hàng trăm người dân Hưng Yên tập trung biểu tình trước trụ sở Quốc Hội ở Hà Nội hôm 27-4-2011, phản đối chính quyền trưng thu đất đai xây dựng khu đô thị Ecopark. Ngoài đất đai, việc bị bạc đãi, sách nhiễu vì niềm tin tôn giáo cũng làm cho hàng trăm người dân tộc thiểu số của các tỉnh miền Bắc và Tây nguyên kéo về Trại dân oan để góp thêm vào đó những tiếng kêu cứu giữa lòng thủ đô Hà Nội. Trong vài ngày qua hơn 100 người H’Mông tập trung về đây. Anh Sự, Một dân oan từ Bắc Kạn cho biết: “Tại vì chính quyền đến đàn áp bà con, đánh đập bà con tàn nhẫn quá. Không cho bà con đổi mới là theo phong tục mới không cho bà con chúng tôi có chỗ để ở nên bà con mới xuống đây kêu oan. Hiện tại thì có 108 người của bốn tỉnh về đây.” Bà Lê Hiền Đức, người gần gũi với dân oan Tây nguyên kể: “Dân oan ở tỉnh Dak nông hiện nay họ không còn tiền để đi ra nữa. Đất mất, tiền mất, nhà bị đốt. Người ta gọi là ba sạch: phá sạch, đốt sạch và những người nào ra ngăn cản thì bắt sạch! Bây giờ dân khổ quá rồi mà là dân tộc thiểu số M’ Nông.” Chính quyền đối phó với Trại dân oan bằng nhiều cách. Bao vây bắt bớ nhưng do không thể kết tội nên khi được thả họ lại quay về trại. Rào chắn dày dặc chung quanh Mai Xuân Thưởng cũng không ngăn cản được những con người đã vào bước đường cùng: họ kéo nhau sang một trại dân oan khác có tên: vườn hoa Lý Tự Trọng. Họ thường xuyên bị xua đuổi, nhất là những dịp lễ lạc. Nhiều nhất là bị bốc lên xe chở về quê nếu gần Hà Nội, nếu xa thì bị chở sang trại Đồng Dầu, Dục Tú, Đông Anh. Trong khi tìm giải pháp mới để giải tán cư dân của Trại dân oan này, chính quyền đành phải chọn hạ sách: cắt nước. Giải pháp cắt nước không cho họ uống là cách chính quyền thực hiện hồi gần đây nhất, chị Ma Thị Hường, từ Cao Bằng cùng với 108 người bốn tỉnh phía Bắc khác cho biết: “Em đòi hỏi quyền tự do tín ngưỡng thờ Đức Chúa Trời nhưng bọn em không có đạo bởi vì người ta cho là thay đổi như thế là không có nguồn gốc, làm như thế là phản động nên người ta không cho. Về vườn hoa này được 7 ngày rồi ở đây ăn uống rất là khổ sở. Người ta thấy dân oan đi đông như vậy nên người ta còn cắt cả nước, không cho uống nước rất là khát nước. Thậm chí ngày hôm kia bà con nhịn nước cả ngày.” Sống lang thang, chết âm thầmChúng tôi nói cho ngay nằm bờ nằm bụi, chị em hùn nhau chỉ có 10 ngàn cũng xong. Nấu cơm luộc rau chấm nước mắm hay nước tương. Cuộc sống tụi tôi rất là khổ.Tuy nhiên cũng được bà con ở Hà Nội người ta âm thầm giúp đỡ. -Trần Thị Ngọc Anh Có sống thì có chết, trại tập trung nào trên khắp thế giới cũng thế. Cụ Hà Thị Nhung, sinh năm 1937, cư ngụ tại thôn 6 xã Xuân Thành, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa khiếu kiện đất đai đã nhiều năm khi giành giật một tấm biểu ngữ với công an đã ngã ra chết. Bà là nhân khẩu bị gạch sổ đầu tiên của Trại dân oan Lý Tự Trọng. Những ngày lễ tết thì sao? Khó thể tưởng tượng được rằng những con người khốn khổ này lại chấp nhận “ăn” Tết trong cảnh màn trời chiếu đất như vậy. Họ ngồi co ro trong giá rét của những ngày cuối đông trên chiếc ghế công viên nhìn dân Hà Nội ăn Tết. Hình ảnh của họ đã ám ảnh rất nhiều cư dân thủ đô và không ít người đã nhường cơm xẻ áo cho những người tù không có số này. Dân oan, họ tội gì? Họ chẳng khác mấy với tù nhân tuy nhiên người tù nào cũng được thăm nuôi trong khi đó công dân của Trại dân oan lại không có cái quyền này. Người tốt bụng Hà Nội phải đợi đến nửa đêm khi công an không còn quanh quẩn mới dám thăm nuôi những người mà họ không quen biết. Chị Trần Thị Ngọc Anh, người dân oan có căn cước khiếu kiện gần hai mươi năm kể lại: “Chúng tôi nói cho ngay nằm bờ nằm bụi, chị em hùn nhau chỉ có 10 ngàn cũng xong. Nấu cơm luộc rau chấm nước mắm hay nước tương. Cuộc sống tụi tôi rất là khổ.Tuy nhiên cũng được bà con ở Hà Nội người ta âm thầm giúp đỡ cho một gói mì tôm hay là âm thầm nửa đêm vì người ta không dám cho, tối 12 giờ người ta cho mỗi người một gói xôi, một cái bánh để sáng ăn lót dạ, từ chỗ đó tụi tôi lay lắt sống qua ngày.” Không bị còng tay, không phòng giam và không người quản giáo, tuy nhiên họ không khác gì một tù nhân thứ thiệt vì ngồi trong công viên không biết đi đâu, nhìn ra bên ngoài chỉ để mơ ước nguyện vọng của mình được nhìn tới. Bao nhiêu năm kêu đòi công lý, ban đầu ước mơ được Thủ tướng xem xét: thất vọng, lại ước mơ đến Quốc hội, lại tiếp tục thất vọng. Mơ ước quay về quê với một lắng nghe tối thiểu không còn nữa trong tâm trạng chán chường, tuyệt vọng của những con người khốn khổ này. Rất nhiều người lặng lẽ ngồi bên lề đường nhìn những con người như mình sinh hoạt bình thường với gia đình mà không khỏi cay đắng khi tự hỏi: họ có tội gì với nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam?
Phải làm sao để nông dân hiểu về dân chủ?
Phần lớn nông dân và thành phần lao động chưa hiểu hay hiểu thấu đáo Dân chủ là gì và tác dụng của Dân chủ đối với cuộc sống của bản thân họ ra sao. Các nhà chính trị đối lập đã, đang và sẽ có các giải pháp gì để giúp người nông dân tiếp cận với các thông tin còn thiếu? Nông dân không hiểu về dân chủTrong thời đại toàn cầu hóa, thông tin được xem là loại tài nguyên quý báu hơn cả các loại khoáng sản và tài nguyên sẵn có khác. Một khi người dân được tiếp cận với thông tin và hiểu đúng về quyền của họ được pháp luật quy định, điều đó sẽ giúp cho họ có thể làm chủ vận mệnh của mình để xây dựng và lựa chọn cho mình một cuộc sống tốt đẹp hơn. Ở Việt nam, các lực lượng nông dân, công nhân, dân nghèo thành thị... là thành phần cử tri chiếm đa số. Trong môi trường chính trị dân chủ thì lực lượng này hết sức có ý nghĩa trong các cuộc bầu cử và trưng cầu dân ý. Song hiện nay rất nhiều nông dân, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa không hiểu khái niệm Dân chủ là gì và tác dụng của Dân chủ đối với họ có ý nghĩa thế nào trong cuộc sống của bản thân họ? Khi được hỏi dân chủ là gì và có điều kiện tiếp xúc với các thông tin về phong trào đấu tranh cho dân chủ ở Việt nam hiện nay như thế nào? Chị Huỳnh thị Thanh, một nông dân ở tỉnh Bình phước cho biết do chỉ lo làm ăn nên chị không biết dân chủ là gì và chị không có điều kiện tiếp xúc với các thông tin đó. Trao đổi với chúng tôi chị Huỳnh thị Thanh nói: Hiện nay người dân chưa hiểu rõ dân chủ là gì, nhất là trong khái niệm này người dân chưa được nếm mùi dân chủ nên họ chưa có khái niệm trọn vẹn về dân chủ. - Mục sư Nguyễn Trung Tôn
“Dạ chưa, em chưa được nghe bao giờ. Em thấy trật lấc, nói thì nói vậy thôi nhưng nó đâu có đúng. Người ta nói quyền dân chủ tự do nhưng tụi em bây giờ thấy mất quyền dữ lắm anh ạ. ” Chính sách độc quyền và bóp méo thông tin của chính quyền Việt nam, là một trong những nguyên nhân khách quan đã hạn chế và khiến người nông dân có nhận thức sai lệch về vần đề dân chủ. Về chủ quan, do khó khăn trong cuộc sống đã buộc họ mải mê chăm chú làm ăn nên vấn đề dân chủ không phải là thiết yếu đối với họ. Giải thích về lý do khiến cho người dân thờ ơ, không quan tâm đến vấn đề dân chủ. Trao đổi với chúng tôi, từ Thanh hóa Mục sư Nguyễn Trung Tôn cho biết: “Hiện nay người dân chưa hiểu rõ dân chủ là gì, nhất là trong khái niệm này người dân chưa được nếm mùi dân chủ nên họ chưa có khái niệm trọn vẹn về dân chủ. Người dân chỉ được nghe các tuyên truyền một chiều từ các phương tiện truyền thông của nhà nước. Hơn nữa nhà nước còn thiết lập các tổ chức đoàn thể từ trung ương đến địa phương để giáo dục tư tưởng theo định hướng của họ.” Đánh giá chung hoạt động truyền bá thông tin của các tổ chức và cá nhân hoạt động chính trị trong thời gian qua, Linh mục Phan Văn Lợi từ Huế nói rằng các kết quả ban đầu cho thấy ngoài các trang website, các đài phát thanh bằng tiếng Việt hiện nay trong nước vẫn có các bản báo in như tờ Tự do Ngôn luận của Khối 8406, báo in của Uỷ ban Bảo vệ người lao động và tờ Tổ quốc của một nhóm các nhà đấu tranh được bí mật lưu truyền. Ngoài ra còn có các nhà đấu tranh dân chủ đi sát với bà con nông dân, công nhân để vận động tuyên truyền cho người dân. Trao đổi với chúng tôi Linh mục Phan Văn Lợi nói: “Cách thứ ba là một số tổ chức đã tặng những chiếc máy thu thanh cỡ nhỏ cho người dân để nghe các đài RFA, RFI, VOA. Và cách thức thứ tư là có một vài giáo xứ hay dòng tu ở Việt nam có những bảng thông tin rất lớn để cho các giáo dân đi lễ hàng ngày hay Chủ nhật có thể đọc được các thông tin một cách dễ dàng” Chị Đỗ thị Ngọc ở La khê, Hà đông, Hà nội là một nông dân cho chúng tôi biết, chị hiểu quyền của người dân, song do chính quyền không tôn trọng luật pháp coi thường dân nên chị và bà con nông dân phải vất vả khiếu kiện để đòi quyền lợi của mình cho dù là vô vọng. Theo chị Ngọc chị có biết đến phong trào đấu tranh cho dân chủ do được tiếp cận với các thông tin trên mạng internet. Chị Đỗ thị Ngọc nói: “Tôi vẫn nghe thấy nhiều, theo tôi dân chủ là người dân làm chủ một cách thực sự. Từ trước đến nay tôi thỉnh thoảng vẫn lên internet, đài thì không có. Nhưng trên internet thì cũng khó lắm vì những trang mạng có thể tiếp cận với thế giới bên ngoài rất là khó tiếp cập vì thường bị họ chặn.” Giải phápTrước thực trạng người nông dân chưa có được một văn hóa đọc để thường xuyên tìm kiếm các thông tin về lĩnh vực này, và về phía chính quyền Việt nam ra sức ngăn chặn các thông tin kể cả việc sử dụng tin tặc để tấn công các trang thông tin. Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Công Huân Trưởng ban điều hành của phong trào CĐVN nói về các biện pháp mà các tổ chức và cá nhân cần tiến hành trong thời gian tới. Từ Đan mạch ông Nguyễn Công Huân cho biết: “Các tổ chức và cá nhân hoạt động chính trị cần nhận thức được tầm quan trọng của việc đưa thông tin và kiến thức đến cho người dân. Trước hết họ cần phải liên kết để tạo nên sức mạnh. Tôi thấy các tổ chức chính trị và các cá nhân có tấm lòng nhưng các hoạt động của họ nhỏ lẻ dễ bị bẻ gẫy mà không tạo nên những tiếng vang cần thiết. Chúng ta không nên trông chờ vào việc nhà nước nới lỏng tự do tìm kiếm hay truyền bá thông tin, mà các tổ chức XHDS cần phải chủ động thực hiện việc đấu tranh này.” Các tổ chức và cá nhân hoạt động chính trị cần nhận thức được tầm quan trọng của việc đưa thông tin và kiến thức đến cho người dân. Trước hết họ cần phải liên kết để tạo nên sức mạnh. - Nguyễn Công Huân Thừa nhận rằng nhiều nông dân hiện nay, không chỉ ở vùng sâu, vùng xa mà là đa số nông dân không hiểu khái niệm Dân chủ là gì và tác dụng của Dân chủ đối với cuộc sống của mình. Đề cập tới các giải pháp để tăng cường việc đưa thông tin đến cho người nông dân thông qua việc tận dụng phương tiện internet mà hiện nay có tới hơn 30 triệu người sử dụng. Luật sư Nguyễn Văn Đài nói về những giải pháp: “Theo tôi có hai phương pháp, thứ nhất là chúng ta vẫn sử dụng các trang mạng xã hội để chuyển tải đến những đối tượng trẻ đang sử dụng mạng xã hội và internet. Và thông qua họ để chuyển tải các thông tin tới người thân của họ ở thành thị cũng như nông thôn. Thứ hai là các tổ chức chính trị, tổ chức XHDS phải tiếp cận trực tiếp đến với người dân để giải thích cho họ hiểu và vận động họ tham gia vào sự chuyển đổi của đất nước ” Mọi cuộc cách mạng hay sự chuyển biến, biến đổi của xã hội đều phải dựa vào sức mạnh của tầng lớp nhân dân lao động. Đây là lực lượng chủ lực, chiếm đa số các thành phần trong xã hội và họ luôn là trung tâm điểm mà các thế lực chính trị phải hướng tới để xây dựng một nền tảng của sự ủng hộ cho mình. Điều quan trọng này không cho phép các tổ chức và cá nhân hoạt động chính trị bỏ quên.
"Hữu nghị viển vông" hay cúc cung phục vụ tỉnh Quảng Đông?
B. T. (Diễn Đàn) - Chúng tôi vừa nhận được, từ ba bạn đọc ở Hà Nội và Sài Gòn, bản chụp công văn số 1832/BNG/ đề ngày 03 tháng 6 năm 2014 của Bộ ngoại giao, do thứ trưởng Hồ Xuân Sơn ký tên, đóng dấu, liên quan đến "danh mục các công việc cần làm sau chuyến thăm Việt Nam của Bí thư tỉnh Quảng Đông Hồ Xuân Hoa".
 Công văn Bộ ngoại giao VN gửi các Bộ và UBND tỉnh, thành phố
Công văn nay được gửi cho: một là, "Các Bộ Công Thương; Kế hoạch và Đầu tư; Giao thông Vận tải; Giáo dục và Đào tạo; Tài chính; Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; Khoa học và Công nghệ; Văn hóa, Thể thao và Du lịch"; hai là, "Ủy ban nhân dân các tỉnh / thành phố: Hà Nội; Thành phố Hồ Chí Minh; Quảng Ninh; Hải Phòng; Quảng Nam; Đà Nẵng".
Đính kèm công văn (1 trang) này là "Danh mục công việc phải làm sau chuyến thăm Việt Nam của Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đông Hồ Xuân Hoa (13 - 17/4/2014)".
Dưới đây là toàn văn bản công văn :
"Ngày 20/5/2014, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc gửi Bộ Ngoại giao bản Danh mục các công việc cần làm sau chuyến thăm Việt Nam của Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư tỉnh ủy Quảng Đông Hồ Xuân Hoa (13 -17/4/2014).
"Để triển khai tốt các chương trình hợp tác giữa các Bộ/ngành, địa phương ta với tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, Bộ Ngoại giao xin chuyển đến Quý Cơ quan Danh mục này để tham khảo, đưa vào chương trình hợp tác của Quý Cơ quan với tỉnh Quảng Đông."
"Bộ Ngoại giao xin trân trọng cảm ơn sự phối hợp của Quý Cơ quan./."
Kèm theo là danh mục (hai trang) 16 "công việc phải làm" (xem hình kèm theo)
Để có một ý niệm cụ thể về công văn ký tên Hồ Xuân Sơn nhằm thực hiện ý muốn của Hồ Xuân Hoa, bí thư (hay tổng đốc ?) Quảng Đông, chỉ cần chép lại nguyên văn hai "công việc phải làm" số 1 và số 2:
"1. Thúc đẩy Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị và Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh Lê Thanh Hải thăm Quảng Đông.
"2. Trong khuôn khổ bồi dưỡng đào tạo cán bộ giữa hai Đảng Trung Việt, triển khai công tác đào tạo cho cán bộ Đảng Cộng sản Việt Nam. Kế hoạch trong 05 năm đào tạo 300 cán bộ Đảng Cộng sản Việt Nam ; trong đó Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh mỗi địa phương 100 cán bộ, 100 cán bộ của các tỉnh thành có quan hệ hợp tác với Quảng Đông nhiều như TP. Hải Phòng, Đà Nẵng, tỉnh Quảng Ninh, Quảng Nam".
Thiết tưởng mọi bình luận là quá thừa.Câu hỏi duy nhất đáng đặt ra: đây là công văn của "Bộ ngoại giao Việt Nam" hay là của Sở nội vụ tỉnh Quảng Đông?
B. T.
Hình ảnh Tây Tạng dưới ách thống trị của Tàu Cộng – trông người mà ngẫm đến ta:Bauxite Việt Nam tuyển chọn ảnh.Lửa và khói trên một con đường trong cuộc nổi dậy ở Lhasa, Tây Tạng, chụp lại từ màn hình phát chương trình Truyền hình CCTV của Nhà nước Tàu Cộng ngày 14/3/2008. Nguồn: REUTERS.
Quân đội Tàu Cộng tuần tra trên đường phố Lhasa ngày 15/3/2008, một ngày sau khi cuộc phản kháng ở Thủ đô Tây Tạng chuyển sang bạo lực. Nguồn: Financial Times.
Ngày 14/3/ 2008: Cảnh sát Tàu Cộng trên xe chống bạo loạn ở một con đường thủ đô Tây Tạng sau khi nổ ra những cuộc phản kháng bạo lực. Nguồn: The Guardian.
Cảnh sát bán quân sự đi tuần trên một con đường gần đền Jokhang ở Lhasa, Thủ đô Tây Tạng, China Photo: AP. Nguồn: The Telegraph, ngày 13/3/2009.
Lực lượng an ninh Tàu Cộng ở Lhasa, Tây Tạng, ẩn nấp trong ngày phản kháng thứ năm. Biểu ngữ phía trên ghi: “Tăng cường quản lý an ninh công cộng, bảo vệ ổn định chính trị”. Bắc Kinh đang đối mặt với những cuộc biểu tình nghiêm trọng nhất ở Tây Tạng kể từ những năm 1980.Nguồn: The New York Times, ngày 15/3/2008 March.
Hơn 20 người Tây Tạng đã tự thiêu trong năm qua để phản đối những nỗ lực của Tàu Cộng mà họ cho là nhắm đàn áp tôn giáo, và văn hóa của người Tây Tạng. Nguồn: VOA, ngày 5/11/2012.
Ảnh một người Tây Tạng tự thiêu. Thông báo treo giải thưởng của Tàu Cộng chỉ trích tự thiêu rằng: ‘Một hành vi cực đoan chống lại loài người, chống lại xã hội’. Nguồn: VOA, ngày 25/10/2012.
Nhiều người Tây Tạng chọn hình thức tự thiêu để phản đối chính sách đàn áp của Bắc Kinh – REUTERS /Jacky Chen. Nguồn: RFI, ngày 14/04/2014.
Cảnh sát ở Katmandu ngày 20/3/2008 bắt giữ các nhà sư Tây Tạng khi họ cố đi tới văn phòng Liên Hiệp Quốc để đệ đạt Thỉnh nguyện thư chống lại việc Tàu Cộng đàn áp ở Tây Tạng. Nguồn:Financial Times.
Nhật muốn Đông Nam Á thoát tay Trung Quốc? Việt-Long/RFA - 2014-07-03 Chính sách "tự vệ tập thể"Thủ tướng Nhật Shinzo Abe vừa công bố chính sách mới về quốc phòng, xóa bỏ những hạn chế do hiến pháp sau thế chiến thứ hai áp đặt cho hoạt động quốc phòng của nước Nhật. Từ nay quân đội Nhật Bản được phép hành động quân sự để bảo vệ đồng mình và các nước bạn nào bị tấn công, dù chiến trường diễn ra ở nước ngoài, không nhất thiết phải là chiến tranh trên lãnh thổ lãnh hải nước Nhật. Chính sách quốc phòng mới của Nhật có ý nghĩa gì? Trước khi nói về ý nghĩa, người ta có thể thấy chính Trung Quốc đã tiếp tay cho thủ tướng Nhật thành công trong việc vận động diễn giải hiến pháp Nhật theo cách mới, cho phép quân đội Nhật ngoài quyền bảo vệ đất nước còn được phép yểm trợ nước đồng minh chống lại kẻ gây phương hại cho nước đồng minh đó. Cụ thể là Tokyo từ nay có quyền đưa lực lượng quân sự tham chiến ở nước ngoài trong trường hợp đồng minh của Nhật bị tấn công. Có thể nói chính việc Trung Quốc gây hấn và có những hành động khiêu khích với Nhật đã khiến hầu hết dân chúng Nhật, tuy vẫn còn bị ám ảnh với hai quả bom nguyên tử vào năm 1945, đều ý thức được rằng nếu Nhật không có biện pháp ngay từ bây giờ thì khi chiến tranh xảy ra Trung Quốc sẽ nắm phần chủ động trên mọi mặt. Trung Quốc ầm ĩ chống đối, cho là Nhật muốn trở lại thời quân phiệt, nhưng Mỹ lại tán thành, tuy rằng chính Hoa Kỳ, với tư cách "Tư lệnh tối cao đồng minh" quản lý nước Nhật thất trận sau năm 1945, đã là tác giả bản hiến pháp Nhật hậu chiến, tước bỏ mọi quyền hoạt động quân sự của Nhật. Ý nghĩa của việc này còn ở chỗ từ trước tới nay TQ vẫn luôn tin rằng Nhật không thể sửa đổi hiến pháp và Bắc Kinh muốn làm gì thì làm tại Biển Hoa Đông và Biển Đông. Nhưng Trung Quốc không ngờ Nhật thay đổi được sự diễn giải hiến pháp, nên nếu Tokyo muốn hợp tác với Philippines như một đồng minh giống như Mỹ, việc đó sẽ không bị trở ngại như trước. Còn một ý nghĩa quan trọng đối với VN: nếu Việt Nam muốn tránh tiếng theo chân Mỹ, ai có thể cấm VN tự bảo vệ mình bằng cách bắt tay một đối tác chiến lược toàn diện như nước Nhật? Nói đến tính cách đối tác chiến lược toàn diện giữa Nhật với Việt Nam hay Philippines, người ta nhớ tại Hội nghị đối thoại quốc phòng Shangri-La hôm 1 tháng 6 thứ trưởng quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh của Việt Nam ngỏ ý với báo chí, hy vọng sẽ được Nhật cung cấp nhiều tàu tuần duyên vào đầu năm 2015. Con số các tàu này có thể lên đến 10 chiếc loại Bizan, dài 40 mét, là tàu tuần cỡ nhỏ, trang bị 1 khẩu pháo 20 ly 6 nòng JM-61, bắn 6 ngàn viên đạn trong một phút, tốc độ khá nhanh khoảng 65 km/giờ. Tại đối thoại Shangri-La Thủ tướng Abe còn xác định là sẽ ủng hộ tối đa nỗ lực bảo vệ vùng biển và vùng trời của những nước ASEAN đang có tranh chấp chủ quyền trên biển với Trung Quốc. Ông cũng nói Nhật Bản sẽ nắm lấy vai trò lớn hơn về an ninh quốc tế, và nhấn mạnh với tất cả các nước dự hội nghị, trong đó có Trung Quốc, về sự cần thiết phải tôn trọng luật pháp quốc tế. Thủ tướng Nhật nói như vậy ngụ ý chỉ trích chính sách độc đoán của Trung Quốc. Nay khi Tokyo được áp dụng chính sách quốc phòng mở rộng gọi là "quyền tự vệ tập thể" như vậy, liệu Nhật có lập liên minh quân sự với Philippines hay Việt Nam và có thể can thiệp quân sự đối đầu với Trung Quốc một khi Bắc Kinh xâm lấn một trong hai nước này hay không? Trước hết, từ lúc còn vận động để thay đổi cách diễn giải hiến pháp, Thủ tướng Nhật đã xác định chính sách quốc phòng mới không có nghĩa là Nhật Bản sẽ lập tức đưa quân ra chiến trường. Nhưng chính sách mới nói về quyền tự vệ tập thể, tức quyền phòng thủ chung với các nước ngoài, cho phép Nhật Bản hành động quân sự để giúp một nước có hiệp ước đồng minh quân sự với Nhật, và đó chính là hành động mở rộng phạm vi quốc phòng với quyền tự vệ tập thể. Mục tiêu: Hoa Đông- Đông Nam Á?Một số quan chức cao cấp của Nhật, ngoài Thủ tướng Abe, có đề cập đến triển vọng Nhật có thể sẽ thực hiện quyền tự vệ tập thể với các nước khác ngoài Mỹ, bao gồm Philippines, Việt Nam, Malaysia và Indonesia, Tuy nhiên quân đội Nhật chỉ được phép thực hiện quyền tự vệ tập thể với một quốc gia đồng minh mà Nhật có hiệp ước liên minh quân sự. Philippines thì chắc chắn sẵn sàng ký kết với Nhật, nhưng với Việt Nam người ta cần cân nhắc một câu hỏi như điều kiện tiên quyết, là liệu Việt Nam có sẵn lòng ký kết hiệp ước liên minh quân sự với Nhật hay không. Xét chính sách của Việt Nam đối với Trung Quốc, khi nóng khi lạnh, có lúc nguội lúc ấm, người ta thấy Việt Nam còn nhiều phân vân lưỡng lự e dè trong việc tiến đến một chính sách dứt khoát và rõ ràng với Trung Quốc, dù theo chiều hướng nào, thì có thể tin là Việt Nam sẽ không ký kết liên minh quân sự với một ai, như chính Việt Nam đã nhiều lần tuyên bố. Người ta cũng không dự kiến Trung Quốc sẽ có hành động quân sự đối với Philippines hay Việt Nam ở biển Đông. Mục đích của Trung Quốc rõ ràng là xâm lấn chiếm lãnh hải, nhưng chiến thuật là một chiến thuật mềm hơn là gây chiến. Họ cứ giả bộ thăm dò, nghiên cứu để đem các giàn khoan đi cắm trong lãnh hải đặc quyền kinh tế của nước khác, kéo lê đi hết chỗ này đến chỗ kia, từ xa đến gần, rồi lại vừa đi vừa dặm quanh lãnh hải của người ta, như đang làm với bốn giàn khoan khác bên cạnh Hải Dương 981. Nhưng khi Trung Quốc không gây chiến bằng quân sự, Nhật hay Việt Nam cũng không có lý do gì để phản ứng bằng biện pháp quân sự. Ở biển Hoa Đông thì Trung Quốc đe dọa bằng quân sự nặng nề hơn, Đây chính là điều quan tâm của Nhật khi mở rộng sự hiện diện quân sự và hoạt động quân sự ra các nước ngoài. Trong khi đó thì Tokyo lại hòa hoãn với Bắc Hàn, là xứ hiếu chiến lúc nào cũng đe dọa diệt Nhật. Vậy chính sách quốc phòng "tự vệ tập thể" nhắm mục tiêu ở đâu, vào ai? Thủ tướng Nhật từ trước đến trong và sau hội nghị Đối thoại Shangri-La đã nhấn mạnh nhiều lần vào tình hình tranh chấp ở biển Đông với sự hiếu chiến và chính sách gây hấn của Trung Quốc. Nhật còn lập tức thỏa mãn yêu cầu của Việt Nam, Philippines bằng cách cung cấp những tàu tuần duyên đủ sức đương đầu với lực lượng hải cảnh, hải giám của Bắc Kinh. Vì thế dù Việt Nam chưa sẵn sàng ký kết hiệp ước liên minh quân sự vì cái bóng đen Trung Quốc, Nhật Bản vẫn mở ngỏ cả cổng lẫn cửa để cho Việt Nam tự quyền chọn bên, chẳng khác nào "mời bác mua hàng của tôi, hàng Nhật đấy, hàng Nhật chính gốc Tokyo do Thủ tướng Nhật bán chứ không phải hàng dỏm Trung quốc, lại bán giá rẻ mà cho trả góp nè! Bác mua hàng rồi cùng với tôi giữ lấy cho tôi con đường vận chuyển dầu khi an toàn thôi, chả mất gì đâu!" Việt Nam quả rất dễ chọn lựa, tùy theo cách Việt Nam cân đo lợi hại trong chính sách ngoại giao. Ai cũng hiểu Trung Quốc có ảnh hưởng rất lớn đối với Việt Nam. Vì thế chỉ có người Việt Nam đang như cá trên thớt mới có quyền quyết định cho tương lai của mình. Người ở bên ngoài chỉ hy vọng giới lãnh đạo cầm quyền trong nước đồng tâm quyết định chín chắn và sáng suốt cho dân cho nước. |
|
Những nội dung khác:
|
|
|
 |
|