 |
 |
Các chuyên mục |
|
Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm
Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal
Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat
Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục
Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói
Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí
Web links
Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo
Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng
Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP
|
|
|
|
Xem bài theo ngày |
|
| Tháng Sáu 2026 | | T2 | T3 | T4 | T5 | T6 | T7 | CN |
| 1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
| 8 |
9 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
| 15 |
16 |
17 |
18 |
19 |
20 |
21 |
| 22 |
23 |
24 |
25 |
26 |
27 |
28 |
| 29 |
30 |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Thống kê website |
|
 |
Trực tuyến: |
6 |
 |
Lượt truy cập: |
29338008 |
|
|
|
|
| |
|
 |
 |
|
|
|
Song Chi - Việt Nam-Trung Quốc: Ai vay nợ và ai phải trả
03.07.2014 00:56
Trong buổi tiếp xúc với cử tri tại Sài Gòn ngày 26 tháng 6, 2014, ông Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang đã có những câu phát biểu được báo chí trích dẫn, về vấn đề mà người dân quan tâm nhất hiện nay là tình hình biển Ðông và mối quan hệ với Trung Quốc.
Chỉ cần đọc/nghe qua những phát biểu này của một trong bốn nhân vật đứng đầu bộ máy đảng và nhà nước cộng sản, người ta cũng có thể nhận ra quá nhiều điều không ổn trong quan điểm, tư duy, não trạng của các lãnh đạo Việt Nam. Từ đó dẫn đến cách hành xử lúng túng, bị động, bạc nhược của họ trước Bắc Kinh bao lâu nay.
Chủ Tịch Nước CSVN Trương Tấn Sang “trao đổi” với cử tri khi tiếp xúc ở Sài Gòn sáng 26 tháng 6, 2014. (Hình: Tuổi Trẻ)
Chẳng hạn, khi nói về công hàm Phạm Văn Ðồng năm 1958, “Chủ Tịch Trương Tấn Sang nhấn mạnh: ‘Ông Phạm Văn Ðồng (cố thủ tướng) có bao giờ nói Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc đâu, đã đăng công khai trên mạng hết rồi.’” (“Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Phải giữ bằng được chủ quyền,” báo Tuổi Trẻ).
Ðây là lập luận chống chế quen thuộc của nhà cầm quyền Việt Nam sau khi vụ công hàm của Phạm Văn Ðồng bị công khai trước nhân dân Việt Nam và quốc tế. Về việc này, Giáo Sư Nguyễn Văn Tuấn viết trên facebook:
“Ông Phạm Văn Ðồng không nói Hoàng Sa-Trường Sa là của Tàu?
...Ðúng là công hàm PVÐ không đề cập cụ thể đến Hoàng Sa và Trường Sa là của Tàu. Nhưng ông tán thành tuyên bố của Tàu rằng Hoang Sa-Trường Sa là của Tàu. Trong công hàm đó câu đầu tiên viết rằng:
“Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9, 1958 của chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.”
Vậy thì tuyên bố 4 tháng 9, 1958 của Tàu là gì? Trên mạng vẫn còn lưu hành bản tiếng Hoa và một bản dịch tuyên bố 4 tháng 9, 1958. Tuyên bố có đoạn viết:
“Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.”
Như vậy trong tuyên bố trên Tàu cộng họ nói rõ rằng Hoàng Sa-Trường Sa là của họ (hay theo cách gọi Tây Sa-Nam Sa của Tàu). Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tôn trọng và tán thành Tuyên bố đó thì cũng có nghĩa là tán thành và công nhận Hoàng Sa-Trường Sa là của Tàu rồi. Khó nói cách khác được.”
Không chỉ các ông lãnh đạo mà nhiều người dân, nhất là đám dư luận viên trên mạng cũng lập luận tương tự để “chạy tội” cho cái công hàm tai hại, nhưng phải thấy rằng trước quốc tế mà cứ cố cãi như thế này thì không thể thắng được Trung Cộng về lý.
Nói về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc: “Trước việc Trung Quốc lấy cớ từng giúp Việt Nam trong quá khứ để gây hấn ở biển Ðông, Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang khẳng định, Việt Nam mang ơn thì có cách trả ơn, chứ Trung Quốc không được áp đặt.” (“Việt Nam mang ơn thì sẽ trả, nhưng Trung Quốc không được áp đặt,” Dân Trí).
Bao lâu nay, phía Trung Cộng tất nhiên là thường xuyên nhắc đi nhắc lại việc đã từng giúp đỡ Bắc Việt “đánh Pháp đuổi Mỹ,” lấy đó làm cớ để mắng mỏ Việt Nam vô ơn mỗi khi quan hệ giữa hai đảng cộng sản trở nên xấu đi.
Nhưng không chỉ Trung Cộng, từ các thế hệ lãnh đạo cho tới nhiều tướng tá, quan chức khác nhau của đảng cộng sản Việt Nam cũng liên tục nhắc nhở... chính họ và người dân Việt Nam, phải biết ơn Trung Quốc.
Người dân Việt Nam hoàn toàn có quyền hỏi lại đảng và nhà nước cộng sản rằng hãy nói rõ ràng và sòng phẳng một lần, ai nợ ai.
Chỉ có đảng Cộng Sản Việt Nam nợ đảng Cộng Sản Trung Quốc để có đủ sức tiến hành hai cuộc chiến, trong đó cuộc chiến tranh “chống Mỹ cứu nước” thực chất là cuộc chiến tranh ý thức hệ, là cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn giữa hai miền Nam Bắc. Ðối với đa số người Việt Nam, đó là một cuộc chiến không mong muốn, vậy tại sao người dân Việt Nam phải mang nợ Trung Quốc.
Những thông tin, tư liệu được bạch hóa phần nào trong những năm qua đã nói lên tính chất phi lý, vô nghĩa, cái giá quá đắt phải trả cũng như những hệ lụy nặng nề cho đất nước, dân tộc Việt Nam từ việc đảng cộng sản chấp nhận sự viện trợ từ Trung Cộng để đổi lấy việc tiến chiếm miền Nam, thống nhất đất nước nhưng lại bị lệ thuộc lâu dài vào Bắc Kinh về mọi mặt.
Và họ đã phải trả món nợ này không chỉ bằng hàng núi xương máu của nhân dân mà cả tài nguyên, những sự ưu tiên trong lĩnh vực kinh tế cho tới một phần lãnh thổ lãnh hải.
Những thông tin, tư liệu đó cũng cho thấy cuộc chiến chống Mỹ của Bắc Việt thật ra có lợi cho chính Trung Cộng như thế nào, đảng Cộng Sản Trung Quốc lẽ ra phải cảm ơn sự mù quáng của đảng Cộng Sản Việt Nam thì đúng hơn.
Nhưng đó là quan hệ mắc mứu giữa hai đảng, nhân dân Việt Nam chả dự phần gì vào để mà cứ phải mang ơn, biết ơn. Về phía những người cộng sản, chính cái tâm lý mắc nợ, mang ơn này đã khiến họ luôn luôn ở vào thế yếu khi phải đương đầu với Trung Cộng để bảo vệ độc lập chủ quyền và sự vẹn toàn lãnh thổ.
Tự trói buộc mình vào sự tương đồng về mặt ý thức hệ, mặc dù ai cũng rõ cho đến thời điểm này thì cả Trung Quốc lẫn Việt Nam đều không còn là hai đảng cộng sản đúng nghĩa và cũng chả bên nào còn thực lòng tin vào chủ nghĩa cộng sản, lý thuyết Marxism-Leninism nữa.
Tiếp đến tự trói buộc mình vào mối ân oán nợ nần, quan hệ 4 tốt 16 chữ vàng giữa hai đảng cộng sản, trong khi trên thực tế, Bắc Kinh từ lâu đã không coi mối quan hệ hai bên ra cái gì. Và bây giờ, là lần thứ hàng trăm hàng ngàn, Trung Cộng đang công khai xâm lược Việt Nam, thách thức, lăng nhục nhà cầm quyền Việt Nam.
Chừng nào các lãnh đạo, quan chức cộng sản ở Việt Nam tự mình rũ bỏ được cái tâm lý mắc nợ ấy trong mối quan hệ với Bắc Kinh thì họ mới có đủ sáng suốt và sức mạnh để đi cùng một con đường với nhân dân và với thời đại: Thoát Cộng, thoát Trung, đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, cương quyết giữ vững độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Nhưng trông chờ ở nhà cầm quyền Việt Nam điều đó thì khác nào hái sao trên trời!
Cuối cùng, trong các phát biểu của ông chủ tịch nước, có một ý sau nói về việc bảo vệ chủ quyền:
“Năm nay không xong thì năm tới, mười năm này không xong thì mười năm sau, đời ta không xong thì đến đời con cháu, phải dứt khoát như vậy. Trước sau như một, vấn đề chủ quyền là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, phải giữ gìn.” (“Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang: Phải giữ bằng được chủ quyền,” báo Tuổi Trẻ).
Trước đó, tại cuộc đối thoại với các nhà khoa học Việt Nam sáng 17 tháng 5, ông Phó Thủ Tướng Vũ Ðức Ðam đã nói: “Hoàng Sa là của Việt Nam. Trung Quốc đã dùng vũ lực để chiếm Hoàng Sa và nhất định chúng ta phải đòi lại. Ðời tôi, đời các bạn chưa đòi được thì con cháu chúng ta sẽ tiếp tục đòi lại.” (“Nhất định phải đòi lại Hoàng Sa,” báo Thanh Niên).
Và nếu chú ý tìm kiếm thêm thì chúng ta sẽ thấy không chỉ có hai nhân vật trên phát biểu những ý tương tự.
Nghe thì có vẻ quyết tâm, đầy xúc động (!) nhưng thật ra nói như vậy có nghĩa là các ông giương cờ trắng, chào thua giặc trước rồi và ủy thác việc đòi lại Hoàng Sa cũng như bảo vệ chủ quyền cho... con cháu.
Các ông không sợ người dân rồi con cháu sau này và cả lịch sử nguyền rủa muôn đời vì đã vay mượn các nước để tiêu xài cho đã đời này, mặt khác, tài nguyên đất nước, đất đai, biển, đảo& có bao nhiêu khai thác sạch, cho thuê hay bán sạch để ăn ngay đời này, còn nợ công cho tới việc đòi lại lãnh thổ lãnh hải thì để cho con cháu gánh, hay sao?
Chỉ qua một buổi nói chuyện của một trong tứ trụ triều đình của Việt Nam mà đã bộc lộ bao nhiêu vấn đề trong quan điểm, tư duy của các lãnh đạo Việt Nam, chả trách gì tình hình cứ ngày càng bi đát, tuyệt vọng.
Việt Nam có thể mất nước đến nơi mà nhà cầm quyền vẫn chưa tìm ra, và cũng không thực tâm muốn tìm, con đường để thoát khỏi Trung Cộng, bảo vệ được độc lập chủ quyền, giang sơn gấm vóc của non sông.
Thứ Ba, ngày 25 tháng 9 năm 2012
Lê Diễn Đức
Blogger Điếu cày trong phiên toà ngày 24/9/2012 "Không thể nô lệ hóa một con người tự do, bởi vì tư tưởng của con người tự do vẫn tự do ngay cả trong nhà tù" - (Platon, triết gia Hy Lạp).
Ngay sau khi phiên toà ngày 24/9 kết án hết sức nặng nề ba nhà báo tự do Nguyễn Văn Hải: 12 năm tù, 3 năm quản chế; Tạ Phong Tần - 10 năm tù, 5 năm quản chế; Phan Thanh Hải - 4 năm tù, 3 năm quản chế, trong sự thất vọng đến bàng hoàng và phẫn nộ của dư luận, nhà văn, đạo diễn Thuỳ Linh (hiện sống ở Hà Nội), trong bài "Sự trả tù mất trí", viết: "Bản án tự kết án cho chế độ được tạo ra từ những nghịch lý: Ảo tưởng, Bất tin, Bất tín, Căm hận, Chán ngán… Và người xưa đã đúc kết: “bạo phát, bạo tàn”. Nếu chính phủ tiếp tục phát hành những “trái phiếu độc đoán, chuyên chế” thì họ sẽ gặt về dự án Sụp đổ như đã từng trước đây với những Vinashin, Vinalines… Bởi nhân dân không còn gì để thế chấp, không còn gì để họ có thể cướp bóc, đàn áp ngoài sự oán thán, căm hận – những cái mà chính quyền không hề muốn nhận về".
Richard Kapuściński, nhà báo Ba Lan nổi tiếng, đoạt nhiều giải thưởng báo chí của các nước, được xem là "hoàng đế phóng sự", từ trải nghiệm thời cộng sản của Ba Lan đã đưa ra nhận định: "Không có sự tồi tệ nào hơn bằng kết hợp sử dụng súng đạn với sự ngu dốt và sợ hãi. Nó sẽ xảy ra tất cả những gì tệ hại nhất mà bạn có thể nhìn thấy".
Còn Oscar Wilde, hiệp sĩ, nhà văn nổi tiếng của Ireland (1854-1900) nói rằng "không ai gây tội ác mà không cùng lúc thực hiện sự ngu dốt".
Những đúc kết trên đây rất chính xác cho phiên toà ngày 24/9 của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam (CSVN). Họ có đầy đủ cả ba thứ: Súng đạn, ngu dốt và sợ hãi.
Trong bài viết "Những dự đoán về phiên toà xét xử các Bloggers Điếu Cày, Anh Ba Sài Gòn và chị Tạ Phong Tần", nhắc lại lời của giáo sư Ngô Bảo Châu khi nói về "phiên toà ô nhục" xét xử tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ trong năm 2011 rằng, "không thể lấy sự cẩu thả và sợ hãi làm phương pháp bảo vệ chế độ", tôi đã ý thức trước rằng nó sẽ tái diễn. Nhưng tôi không ngờ, nó được thực thi không những bằng sự cẩu thả, sợ hãi, mà cả sự ngu dốt ngoài sức tưởng tượng trong bối cảnh dư luận xã hội và quốc tế quan tâm rộng lớn chưa từng thấy với những phiên toà chính trị tương tự trước đó.
Thiết nghĩ, một bộ máy khổng lồ đào tạo công chức chuyên ngành pháp lý, cung cấp kiến thức lý luận và trao dồi tư tưởng từ các trường đại học luật, chính trị, được hỗ trợ thêm bởi ban tuyên giáo, ban văn hoá tư tưởng... và thời gian giam hãm dài, trì hoãn mấy lần để toan tính, nhà cầm quyền CSVN lẽ ra có thể đẻ ra được một ban bệ/hội đồng xét xử đủ khả năng thực hiện một tiến trình tố tụng nghiêm túc, trong một "phiên toà xét xử công khai".
Thậm chí nếu thiếu tự tin, tự thấy mình kém cỏi, không đủ khả năng đối diện, tranh tụng, thì vẫn có thể để phiên toà diễn ra bình thường với những tiêu chuẩn văn minh tối thiểu. Quyền lực tuyệt đối nằm trong tay, nhà cầm quyền CSVN vẫn hoàn toàn có thể đạo diễn và đưa ra những bản án nặng nhất theo ý muốn, mà chẳng ai có thể làm gì được. Đúng không?
Không! Họ không dám! Bởi vì đơn giản là họ quá dốt nát và hèn nhát. Những "súc thịt thắt cà vạt" (chữ của nhà văn Dương Thu Hương) với bộ não và ruột già có cùng chức năng giống nhau. Ngoài ra, lương tâm của họ bao trùm sự sợ hãi. Họ sợ sự thật! Sợ bị phanh phui những điều xấu xa, bất lương và những mưu toan hèn hạ bán rẻ lợi ich và chủ quyền của Tổ quốc cho bành trướng Bắc Kinh, trước con mắt của dư luận.
Vì thế,
Ở vòng ngoài, từ rất xa khu vực của toà án, trước và trong khi phiên toà diễn ra, công an chìm nổi dày đặc đã thẳng tay trấn áp, đánh đập tàn nhẫn và bắt giữ những người có nguyện vọng đến toà theo dõi phiên xử "công khai". Thậm chí thân nhân của anh Điếu Cày, chị Dương Thị Tân và con trai, những người có đủ quyền lợi và nghĩa vụ tham gia phiên toà, đã bị bắt, bị hành hung và Vũ Văn Hiển, trung tá công an phuờng 6, quận 3, TP HCM, đã thằng thừng đe doạ bạo lực bằng thái độ vô học, hạ cấp, ngay tại trụ sở, trước mặt nhiều người.
Ở vòng trong, phiên toà diễn ra nhanh đến kinh ngạc, ngỡ ngàng. Xét xử ba người bị quy kết phạm tội nghiêm trọng mà chỉ trong mấy tiếng đồng hồ! Trong khi các nhân chứng không được triệu tập đầy đủ (chỉ 3/9 người). Luật sư và những người bị quy kết tội phạm không có cơ hội và thời gian để trình bày, phản biện, đối chất với các nhân chứng. Tóm lại tệ hơn cả các phiên toà trong thời thực dân Pháp hay của phát xít Đức. Vụng về. Lấy thịt đè người hèn hạ, bỉ ổi.
Nói như luật sư Gerard Staberock, Tổng thư ký của Đài Quan sát Bảo vệ các Nhà đấu tranh Bảo vệ Nhân quyền, "phiên xử này là trò hề công lý", là quá nhẹ. Bởi vì trò hề ít ra còn có thể mua vui cho thiên hạ, còn phiên toà này không những không gây cười cho ai, mà tạo ra sự khinh bỉ, tởm lợm và lòng căm phẫn trước một nhà nước vô luân, đểu cáng, những súc thịt với bàn tay của ác quỷ, coi thường và thách thức trâng tráo tiếng nói lương tâm của hàng triệu người Việt, của các tổ chức bảo vệ tự do báo chí và nhân quyền quốc tế, các đoàn ngoại giao và cả lời kêu gọi của Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama.
Toàn bộ lực lựợng tập trung phục vụ cho phiên toà, từ trên xuống dưới, đã chứng tỏ gồm những kẻ bị mất trí trong cơn hoảng loạn của quyền lực bị tha hoá, suy đồi, mất hết niềm tin của xã hội, đã điên rồ như con thú dữ bị thương, nổi khùng trước lúc chết.
Trên Facebook, Bùi Thanh Hiếu, tức blogger Người Buôn Gió viết: “Chuyển nghề đi cho nó lành… Viết blog mà án tù hơn công an giết người. Thế này tao đi giết những thằng tao ghét hơn là viết chửi nó, đằng nào chả thế”.
Hàng triệu người đã chết trong cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn vì tiếng gọi của Hồ Chí Minh "Không có gì quý hơn độc lập và tự do". Cái tự do mà ông Hồ và đảng của ông ta quảng cáo, lừa mị, để ban cho nhân dân Việt Nam hôm nay tròn méo ra sao? Không gì chuẩn xác hơn bằng cách lột tả của Vũ Văn Hiển, trong sắc phục đại diện cho pháp luật và biểu tượng của "công an còn đảng còn mình", bằng câu nói ngay giữa chốn công quyền: "Tự do cái con c..." .
Vâng, "Tự do cái con c..." - là ngôn từ riêng "bất hủ" trong toàn bộ di sản của tập đoàn cai trị CSVN được định nghĩa trong phiên toà xử tội yêu nước ngày 24/9/2012.
Chế độ độc tài CSVN có thể giam giữ tự do của những người yêu nước, nhưng tư tưởng tự do của họ không một ai có thể tước đoạt được. Tư tưởng tự do, khí tiết tranh đấu và tinh thần yêu nước của họ sẽ lan toả, vượt ra khỏi bốn bức tường của nhà tù, truyền cảm hứng cho hàng triệu người yêu nước khác.
"Không thể nô lệ hóa một con người tự do, bởi vì tư tưởng của con người tự do vẫn tự do ngay cả trong nhà tù" - (Platon, triết gia Hy lạp).
Ngày 24/12/2012
© Lê Diễn Đức - RFA Blog
Thứ Sáu, ngày 05 tháng 10 năm 2012Tú Anh (RFI)
Tiến trình dân chủ không thể đảo ngược và đất nước sẽ hài hòa . Đây là lời khẳng định của Tổng thống Miến Điện với toàn thể thế giới vào ngày 27/09/2012 tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc trong một thông điệp vinh danh công lao của nhà lãnh đạo đối lập Aung San Suu Kyi. Ba hôm sau, Tổng thống Thein Sein tuyên bố không loại trừ khả năng giải Nobel hòa bình 1991 lên làm Tổng thống. Theo giới phân tích, thành phần quân nhân yêu nước xem dân chủ hóa là giải pháp cứu nước.
Tổng thống Miến Điện,Thein Sein tại Đại Hội Đồng LHQ 2012 - REUTERS/Lucas Jackson Lãnh đạo đối lập Miến Điện Aung San Suu Kyi đã thực hiện một chuyến viếng thăm đầy thành công rực rỡ tại Hoa Kỳ hồi cuối tháng 9. Bà nhận giải thưởng Huy chương vàng của Quốc hội, phần thưởng cao quý nhất của Mỹ mà một người dân sự có thể nhận được. Bà cũng được Tổng thống Obama tiếp kiến tại Nhà Trắng. Cùng lúc đó, Tổng thống Miến Điện, Thein Sein, người đã ban hành liên tục những biện pháp cải cách từ khi làm nguyên thủ quốc gia vào tháng ba năm nay, đọc một bài diễn văn lịch sử tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc. Tổng thống Miến Điện Thein Sein đã dành những lời tốt đẹp nhất để vinh danh bà Aung San Suu Kyi người mà cách nay hai năm còn bị xem là kẻ thù của chế độ. Trong bài diễn văn 15 phút được truyền hình trực tiếp trên đài truyền hình nhà nước, ông tuyên bố « với tư cách là một công dân Miến Điện, tôi thành thật chia vui với bà Aung San Suu Kyi đã nhận được những vinh dự và lòng biết ơn về những nỗ lực then chốt đóng góp vào tiến trình dân chủ ».
Tổng thống Miến Điện cam kết là sẽ xây dựng một « xã hội hài hòa » theo chuẩn mực « quốc tế ». Cũng từ diễn đàn Liên Hiệp Quốc, ông khẳng định « tiến trình dân chủ không thể đảo ngược » và liệt kê những biện pháp cụ thể như thả tù chính trị, hủy bỏ kiểm duyệt báo chí, tổ chức bầu cử quốc hội bổ khuyết tháng 4/2012 một cách dân chủ, chấp nhận đa nguyên đa đảng để dân chúng tham gia việc nước…
Ba ngày sau, trả lời phỏng vấn đài truyền hình Anh BBC, Tổng thống Miến Điện tuyên bố sẽ chấp nhận bà Aung San Suu Kyi làm tổng thống nếu bà được dân bầu.
Tuy nhiên ông nhấn mạnh là mọi tu chính Hiến pháp 2008 để lãnh đạo đối lập, có chồng và con là người nước ngoài, ra tranh cử tổng thống, phải do Quốc hội quyết định. Vấn đề là hiện nay, 25% ghế nghị viện nằm trong tay sĩ quan quân đội và Hiến pháp hiện hành do của chính quyền tiền nhiệm soạn thảo quy định « quân đội có vai trò chính trị ». Cựu bộ trưởng quốc phòng Hla Ming từng tuyên bố là sẽ « giảm trọng lượng » quân nhân trong quốc hội khi cần thiết.
Con đường dân chủ hóa Miến Điện còn rất nhiều bất trắc. Cho đến nay, Hoa Kỳ không bao giờ đưa ra những lời tuyên bố lạc quan mà ngược lại luôn giữ thái độ thận trọng, đề phòng tình hình đảo ngược. Vì theo nhận định của giới tình báo phương Tây thì với vị trí địa lý và tài nguyên dồi dào, Miến Điện là một thế cờ địa chiến lược cực kỳ quan trọng đối với Trung Quốc. Bắc Kinh không thể để cho quốc gia Đông Nam Á này ngả theo Ấn Độ hay Tây phương. Trung Quốc lệ thuộc vào Miến Điện từ khí đốt cho đến thủy điện, từ kinh tế cho đến quốc phòng và đặc biệt là đầu cầu triển khai hải quân trong Ấn độ dương.
Trong 20 năm qua, song song với công trình xây ống dẫn khí đốt xuyên qua Miến Điện, từ vịnh Bangale đến tận Vân Nam, Bắc Kinh đã tiến hành kế hoạch cài « đạo quân thứ năm » tại Miến Điện. Chỉ riêng tại thành phố Mandalay, chiếc nôi của nền văn hóa Miến Điện, người Trung Quốc chiếm gần phân nửa dân cư địa phương. Tiếng Miến Điện tuy còn là ngôn ngữ chính thức nhưng tiếng quan thoại được sử dụng trong giao dịch thương mại.
Từ thập niên 1990, Trung Quốc cũng là nguồn cung cấp vũ khí cho quân đội Miến Điện. Ảnh hưởng nhân sự, kinh tế và quân sự đã làm cho dân chúng Miến Điện rất bực bội và xem Trung Quốc là « thực dân xâm lược ». Hàng loạt vụ tấn công phá hoại ống dẫn khí đốt đã xảy ra trong tháng 5 năm 2010. Cũng trong bối cảnh này, dự án đập thủy điện Myitsone do thầu Trung Quốc xây dựng trở thành mục tiêu bài Hoa của người dân địa phương. Chính vì thế mà ngày 30/09/2011, tân tổng thống Thein Sein tuyên bố đình chỉ dự án để « tôn trọng ý dân ».
Trong tầm nhìn nầy, Jean-Bernard Pinatel, một chuyên gia tình báo Pháp nhận định : sự kiện bà Aung San Suu Kyi vinh quang trở lại chính trường thể hiện quyết tâm của một bộ phận quân nhân Miến Điện muốn lật qua trang sử độc tài để thoát khỏi hiểm họa « thực dân » Trung Quốc.
Theo phân tích của phóng viên Arnaud Dubus từ Bangkok, phe cải cách trong chính quyền Thein Sein và đối lập đang hợp tác với nhau để dân chủ hóa đất nước. Tiến trình này có nhiều tương đồng với những bước chuyển hóa tại Indonesia.
RFI : Thân chào Arnaud Dubus, từ khi Aung San Suu Kyi trở lại chính trường, nhà lãnh đạo đối lập này có nhân uy tín quốc tế của mình tranh giành ảnh hưởng với tổng thống Miến Điện hay là hai bên hợp tác với nhau để phục vụ tiến trình dân chủ hóa ?
A. Dubus : Tổng thống Thein Sein và lãnh đạo đối lập Aung San Suu Kyi hành xử một cách rõ ràng bổ sung cho nhau. Chuyến viếng thăm Hoa Kỳ là một chứng minh cụ thể. Khi bà Aung San Suu Kyi, trong bài diễn văn đầu tiên tại đất Mỹ, kêu gọi Washington ngưng cấm vận triền miên Miến Điện chính là bà đã dọn đường cho Tổng thống Thein Sein. Kế tiếp, mọi việc diễn ra như một bài hợp tấu. Ngoại trưởng Hillary Clinton thông báo bỏ lệnh cấm nhập cảng hàng hóa Miến Điện vào thị trường Hoa Kỳ, đây là biện pháp trừng phạt kinh tế cuối cùng. Tiếp theo đó, Tổng thống Thein Sein đã có thể đọc bài diễn văn tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc với nội dung tập trung vào thành quả dân chủ hóa và ông được cử tọa nhiệt liệt hoan nghênh. Nếu so sánh chuyến viếng thăm Hoa Kỳ với những sự kiện nhân chuyến xuất ngoại đầu tiên tại Thái Lan của bà Aung San Suu Kyi vào tháng 6 năm nay thì sự phối hợp giữa bà và Tổng thống Thein Sein rất rõ rệt. Tại Bangkok, chương trình của hai người « va chạm » nhau và tổng thống Miến Điện đã hủy bỏ chuyền đi của ông để không bị cuộc tiếp đón huy hoàng mà Diễn đàn Kinh tế Thế giới dành cho nhà nữ đối lập làm lu mờ. Sau vụ này, hai bên đã rút tỉa kinh nghiệm.
RFI : Từ tháng ba đến nay đã có hàng loạt biện pháp cải cách từ việc thả tù chính trị, nới lỏng kiểm duyệt báo chí, đối lập vào quốc hội… Chúng ta có thể biết một cách chính xác Miến Điện đang ở trong giai đoạn nào trong tiến trình dân chủ?
A. Dubus : Tôi nghĩ rằng chúng ta có thể so sánh tình hình Miến Điện với Indonesia sau năm 1998. Sau 30 năm cai trị với bàn tay sắt, nhà độc tài Suharto bị lật đổ. Trong ba năm đầu tiên sau biến cố lịch sử này, tính chất ù lì của chế độ cũ vẫn đè nặng trong sinh hoạt chính trị. Ví dụ, quân đội vẫn chiếm một số ghế cố định trong Quốc hội như tình trạng hiện nay ở Miến Điện. Đảng Golkar, do Suharto thành lập vẫn tiếp tục áp đảo chính trường nhờ vào bộ máy kinh tài khổng lồ. Giới tướng lãnh tiếp tục chi phối chính trị.
Mãi đến khi bà Megawati Sukarnoputri lên làm tổng thống từ năm 2001 đến 2004 thì Indonesia mới bắt đầu tiến trình dân chủ hóa thật sự và lúc đó quân đội mới rời chính trường quay về doanh trại. Nhưng để tiến được tới giai đoạn này, thì trước đó, tức là từ 1999 đến 2001, Tổng thống Abdurahma Wahid, bằng tinh thần can đảm vượt bực, đã ép được quân đội chấp nhận thối lui.
Cũng tương tự như vậy , chính quyền Thein Sein phải bắt đầu bằng những biện pháp ít khó khăn nhất : như là thả tù chính trị, bỏ kiểm duyệt thông tin …. Nhưng giai đoạn khó nhất vẫn chưa được tiến hành. Giai đoạn này sẽ tiến hành khi quyền lợi kinh tế và chính trị của giới quân sự bị đe dọa trực tiếp. Điều đáng chú ý là trong diễn văn tại Liên Hiệp Quốc, ông Thein Sein nhấn mạnh rằng quân đội vẫn còn vai trò chính trị.
Hiện nay, chưa có cơ hội để tạo đối đầu trực tiếp giữa chính phủ và đối lập vì vấn đề nhạy cảm nhất, kiểm soát quyền lực chính trị và kinh tế, chưa được đề cập đến và sẽ không được đề cập trước bầu cử quốc hội 2015. Giai đoạn sau 2015 sẽ là thời kỳ đổi mới thật sự.
RFI : Quân đội có từ bỏ bớt quyền lợi kinh tế và quyền lực chính trị hay chưa?
A. Dubus : Về mặt chính trị, như chúng ta đã biết, quân đội Miến Điện chiếm 1/4 ghế đại biểu trong 2 viện quốc hội và ở các nghị viện cấp vùng. Cũng ở cấp vùng ảnh hưởng của các tư lệnh địa phương rất lớn; không một chuyện gì mà không có sự đồng ý của họ. Tuy nhiên cũng cần phải tương đối hóa vấn đề này, chẳng hạn như các sĩ quan trong nghị viện đã đóng một vai trò khá tích cực trong chiều hướng dân chủ hóa và đã nhiều lần bỏ phiếu cùng với đối lập.
Mới đây họ đã biểu quyết cách chức một số thẩm phán của Viện Bảo Hiến. Dường như các quân nhân trong nghị viện bầu theo một hướng. Các đại biểu mặc áo nhà binh rất hăng hái tham gia các cuộc tranh luận. Quân nhân Miến Điện kiểm soát hầu hết các lãnh vực kinh tế qua hai đại tập đoàn xí nghiệp quân đội và các công ty "chân rết" của quân đội. Giới quân nhân thường sử dụng biện pháp thô bạo để giành hợp đồng. Mới đây, tập đoàn Myanmar Holding Economics của quân đội hợp tác đầu tư với một công ty Trung Quốc khai thác mỏ đồng ở phía bắc Miến Điện. Quân đội đã dùng sức mạnh đuổi nông dân ra khỏi làng mạc, đe dọa dân và đốt chùa chiền. Tuy nhiên, dân làng cùng các tổ chức xã hội dân sự đã chống cự lại cùng với sự tiếp tay trợ lực của báo chí khiến cho phe quân đội không thể muốn làm gì thì làm như trước đây.
RFI : Anh vừa nói đến vai trò của các xí nghiệp Trung Quốc. Là phóng viên nhiều năm trong khu vực, anh có chia sẻ ý kiến cho rằng dân chủ hóa cũng là một giải pháp ngăn chận ảnh hưởng Trung Quốc, ít ra là theo quan điểm của một bộ phận quân nhân yêu nước ?
A Dubus : Vấn đề này khá phức tạp. Nhưng chúng ta có thể nói là phe « cứng rắn » trong guồng máy nhà nước, nhất là trong tập đoàn quân sự cho đến khi rút lui vào đầu năm 2011, đều có quan hệ mật thiết với Bắc kinh từ quyền lực chính trị đến quyền lợi kinh tế. Chính thành phần này đã thiên vị các công ty Trung Quốc nhất là trong bối cảnh cấm vận làm các công ty Mỹ đứng ngoài. Ở miền bắc Miến Điện, giáp giới với Trung Quốc, người dân rất lo âu trước tình hình càng ngày càng có đông người Trung Quốc sang lập nghiệp. Nhiều khu phố ở Mandalay hoàn toàn thuộc di dân Trung Quốc mới từ Hoa lục kéo qua. Khi chính phủ dân sự được thành lập, công việc đầu tiên của Tổng thống Thein Sein là đình hoãn công trình xây đập tủy điện Myitsone ở bang Kachin do Trung Quốc thầu và tài trợ và dường như không báo trước cho Trung Quốc. Chuyện này đã làm nức lòng dân chúng địa phương và góp phần làm đẹp hình ảnh của tân tổng thống. Từ nay, Miến Điện không còn là cánh cửa mở toang cho Trung Quốc như trong những năm 1998-2010. Tuy nhiên cũng phải lưu ý là nhiều dự án của Thái Lan cũng bị đình hoãn. Do vậy, không thể kết luận một cách vội vã là có một phong trào chống Trung Quốc trong nội bộ tập đoàn quân sự. Đúng hơn là quân đội có một quyết tâm muốn Miến Điện quân bình quan hệ đối ngoại chẳng hạn như dành thị phần rộng rãi hơn cho Tây phương.
RFI : Miến Điện là quốc gia có nội chiến sắc tộc triền miên và dài nhất trên thế giới. Nhiều sắc dân tranh đấu võ trang hàng nửa thế kỷ để đòi được đối xử bình đẳng. Liệu tiến trình dân chủ hóa sẽ có tác động tích cực đem lại hòa bình giữa 60% người Miến và 40% sắc dân thiểu số ?
A. Dubus : Điều đáng chú ý là về lãnh vực sắc tộc thiểu số tổng thống Thein Sein có vẻ bỏ xa bà Aung San Suu Kyi một đoạn đường dài. Phần nói về số phận các sắc dân thiểu số trong diễn văn tổng thống tại New York rất hay. Ông nói rằng những thỏa thuận ngưng chiến đã ký với hàng chục tổ chức nổi dậy không đủ. cần phải có hiệp định hoà bình, thỏa mãn những "nguyện vọng chính trị" của dân thiểu số. Một cách gián tiếp, ông cho là phải tiến tới một chế độ tự trị.
Từ xưa đến nay, chưa bao giờ một lãnh đạo Miến Điện đưa ra một lập trường tiến bộ như vậy đối với dân tộc thiểu số. Về hồ sơ người Rohingya theo đạo Hồi, bà Aung San Suu Kyi nhiều lần bị chỉ trích vì quan điểm mơ hồ của bà. Lãnh đạo đối lập chỉ tuyên bố chung chung là phải giải quyết trong khuôn khổ nhà nước pháp trị. Trong khi đó thì tổng thống Thein Sein tận tình tìm giải pháp mặc dù ông đã một lần bị chỉ trích mạnh vì đề nghị cho sắc dân theo đạo Hồi này di cư sang một quốc gia khác .
Ít ra là ông không 'nửa nạc nửa mỡ' vấn đề này thật tình thì rất phức tạp vì người Hồi giáo ở bang Rakhine không phải là thuần nhất. Tuy là có một phần đông định cư tại đây từ nhiều thế hệ nhưng phần khác là di dân mới từ nơi khác nhập cư. Người Miến Điện thì lại lẫn lộn vàng thau.
Đây là vấn đề quan trọng vì thật tình mà nói, đây là vấn đề cơ bản buộc người dân Miến Điện phải chọn một "mô hình xã hội". Hoặc họ chọn một xã hội tập quyền, trong đó sắc dân chiếm đa số áp đặt ý chí của mình và đồng hóa các dân tộc ít người. Đây là mô hình xã hội gần giống Thái Lan.
Hay là họ theo một mô hình xã hội tương đối tản quyền trong đó mỗi địa phương có ít nhiều quyền tự trị về hành chánh và mỗi sắc dân có thể bảo vệ văn hóa truyền thống của mình. Mô hình này gần giống với tổ chức xã hội của Indonesia. Đây là lúc mà Miến Điện phải lựa chọn.
Nhưng hiện tại họ có vẻ nghiêng về mô hình người Miến trước đã. Có lẽ cũng cần nhắc lại là chính vấn đề "địa phương tự trị" đã gây ra hai cuộc nội chiến, lần đầu xảy ra ngay sau khi độc lập vào cuối thập niên 1940 và lần thứ nhì vào đầu thập niên 1960. Cũng vì viện lý do "toàn vẹn lãnh thổ" mà quân đội đã đảo chính năm 1962. Biến cố này mở đường cho 50 năm độc tài quân phiệt.
From: CĐ Liên Bang HK <cdnvqg.lbhk@gmail.com> Date: 2014-07-01 12:45 GMT-04:00 Subject: Hội Thảo Biển Đông và Việt Nam tại New York ngày 22/6/2014: Nhà báo Phạm Trần về tình hình Biển Đông và Việt Nam To:
Kính thưa quý vị, Xin chuyển đến quý vị Video cuộc hội thảo Tình Hình Đất Nước và Biển Đông do Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia New York và Liên Bang Hoa Kỳ tổ chức sáng ngày 22/6/2014 tại khách sạn Holiday Inn New York nhân dịp Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế lần thứ 29. Video này trình bày đề tài của nhà báo Phạm Trần: “Tình hình Biển Đông và Việt Nam trước sự xâm lấncủa TC và thái độ của các quốc gia Á Châu và Thái Bình Dương trước hiểm họa bá quyền Bắc Kinh” Xin bấm vào link dưới đây để nghe và xem: http://youtu.be/G1t608bRkYc
Những phần kế tiếp sẽ được phổ biến sau: - BS Võ Đình Hữu chào mừng và nói lý do buổi Hội Thảo- Chính sách Hoa Kỳ tại Việt Nam và Biển Đông: GS Phạm Văn Thanh.- UNCLOS là gì? Tại sao cần có UNCLOS trong giải pháp Biển Đông : Bà Nguyễn Ngọc Giao- Giải pháp cho vấn đề Việt Nam và Biển Đông: BS Đỗ Văn Hội và những ý kiến của các hội thảo viên. Xin đón xem các video You Tube khác.
-- Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ ------------ Các CĐ Thành Viên hiện tại: CĐ Arkansas, AR - CĐ Arizona, AZ- CĐVN Nam California - CĐNVQG Nam Cali- CĐ Pomona, CA - Hiệp Hội NV San Diego, -CĐ Bắc Cali -CĐ Sacramento, CA - CĐ Stockton, CA -CD Colorado -CĐ Connecticut - CĐVN Florida, FL - CĐ. TTâm Florida, FL - CĐ Tampa Bay, FL - CĐ Jacksonville, FL - CĐ Nam Florida, FL - CĐ Pensacola, FL - CĐVN Georgia - CD Greenville. S. Carolina - CĐ New Hampshire, NH - CĐ Louisiana, LA - CĐ Massachusetts, MA - CĐ Minnesota, MN - CĐ St Louis, MO - CĐ South New Jersey, NJ - CĐ New Mexico, NM - CĐ Rochester, NY - CĐ New York, NY - CĐ Oklahoma City, OK - CĐ Allentown, PA - CĐ Lancaster, PA - CĐ Northeast Pennsylvania, PA - CĐ Philadelphia, PA - CĐ PA - CĐ Pittsburgh, PA - CĐ York; CĐ Lebanon; CĐ Easton/Betthlehem, PA - CĐ Middle Tennessee, TN - CĐ Nashville, TN - CĐ Memphis, TN - CĐ Houston, TX - CĐ Dallas, TX. - CĐ Utah.
(Kính mời quý CĐ cùng hợp tác. Đa tạ) Posted by: Hoi Van Do <hoivando@gmail.com>
sống dưới chế độ cộng sản quá lâu
Coi Tây Tạng trong tay Tầu để chuẩn bị cho VN rồi mai cũng trong tay TầuBà con hãy tìm đường chạy ra nước ngoài cho sớm như hồi 1975 kẻo bọn Tàu cộng đến cai trị thì chạy không kịp nữa!
Một vị ni sư bị đối xử tàn nhẫn:
Lê Khả Phiêu Bán Nước vì "vui vẻ" với Gái TàuNhững hình ảnh của người được gọi là“đầy tớ của nhân dân”
Một lần nữa, cảnh sống xa hoa ăn trên ngồi tróc của các quan chức VN, kể cả quan chức đã về hưu, lại đậm nét giũa cảnh đời chật vật, khó khăn, thiệt thòi của người dân. hình do thính giả gửi đến Ban Việt Ngữ RFANhững căn nhà sang trọng nhiều từng lầu chung quanh nhà tên Phiêu đều là của các lãnh tụ cao cấp tướng tá Trong mấy ngày nay, hình ảnh trên Internet về tư gia hoành tráng kiêu sang của tên cựu Tổng bí thư Lê Khả Phiêu khiến gây phẫn nộ trong dân chúng. Dựa theo những hình ảnh đó cùng một số ý kiến trong nước, Thanh Quang gởi tới qúy vị bài viết sau đây.Phải biết đối xử tử tế với nhauĐoàn mấy chiếc xe du lịch mới tinh bóng loáng đỗ trước ngôi nhà mới kín cổng cao tường của tên TBT Lê Khả Phiêu Những bức hình đầu tiên cho thấy mấy chiếc xe du lịch mới tinh bóng loáng đỗ xịch trước một ngôi nhà mới kính cổng cao tường ở số 7/36 C1 Lý Nam Đế, Hà Nội. Rồi từ trong xe bước ra bảy, tám người mặc veston thẳng nếp– và cả quân phục, khệ nệ khiêng những thùng quà hiếm quý biếu Tết để tặng cựu lãnh tụ đảng CSVN từng cho rằng mình là lãnh đạo liêm khiết, đi đầu trong việc chống tham nhũng. Sau khi cánh cổng gỗ – hẳn là lọai gỗ quý – mở ra, đoàn biếu Tết, được biết là Ban Liên Lạc Đồng Hương Thanh Hoá ở Hà Nội gồm các quan chức và lãnh đạo của những công ty quan trọng, lần lượt đi qua cái cổng màu nâu to lớn uy nghi này, báo hiệu một biệt thự sang trọng bên trong được điểm tô nổi bật bằng những lọai cây cảnh đắt tiền ở tiền sảnh. Hình ảnh tiếp theo cho thấy tên Lê Khả Phiêu, trong bộ veston mầu sậm, đã tươi cười chờ sẵn ở phòng khánh hoành tráng với những bộ bàn ghế gỗ quý đánh mầu nâu bóng loáng, lót nệm hoa đỏ kê liên tiếp nhau, cùng những chậu lục bình trưng bày hoa màu vàng, xanh, hồng, đỏ… Sau màn bắt tay, cười nói, hỏi thăm nhau vồn vã, hình ảnh cho thấy dường như là màn trao hay khui lễ vật gì đó – có kèm theo những phong bì không rõ nội dung – trong sự cung kính khúm núm của những khách đồng hương. Rồi những vị khách của người từng cầm đầu đảng chứng kiến báu vật Trống Đồng Đông Sơn – mà luật pháp hiện hành cấm cá nhân sở hữu – được gia chủ trưng bày nổi bật trên 2 Khệ nệ khiêng những thùng quà hiếm quý biếu Tết để tặng cựu lãnh tụ đảng CSVN ghế trường kỷ tựa vách phòng khách, bên trên có treo ảnh của nhân vật mà Phiêu “nguyện suốt đời noi theo” – tức Bác Hồ của những người CS, tiếp theo là những bức tranh nghệ thuật màu sắc hài hoà thanh nhã – hẳn là thứ không thể rẽ tiền.Sau tuần trà nước, gia chủ hướng dẫn khách tham quan nội thất, mới thấy rõ hơn cảnh xa hoa lộng lẫy bên trong tương phản với nếp sống chật vật khổ sở của đại đa số người dân ở bên ngoài. Cuộc sống đơn sơ đến xúc độngPhòng thư viện với tủ sách đồ sộ chứa đựng những tư tưởng các nhân vật được gọi là “bác Mác, Bác Lê, báo Mao, bác Hồ”, kèm theo nhiều hình ảnh thếp vàng tương ứng trên tường. Và trong thư viện tư nhân này khó có thể thiếu một tác phẩm của “Bác Phiêu”, tức gia chủ, tựa đề “Mênh mông tình dân”. Rồi tượng đồng cùng tranh ảnh của chính “Bác Phiêu” hiện diện gần như khắp nhà, đặc biệt là ảnh “Bác Phiêu” nổi nền đỏ, đặt ở vị trí trung tâm trong một cái tủ gỗ quý to lớn có nhiều hộc, nhiều ngăn, được án ngữ ngay phía trước là một tác phẩm điêu khắc bằng gỗ quý có cẩn cặp ngà voi to tướng với giá thị trường – theo lời bình trong ảnh – tới 50 ngàn đô-la, khiến người ta dễ liên tưởng tới sự sùng bái cá nhân của chủ nghĩa CS. Mặc dù là nhân vật từng được xem như tuyệt đối trung thành với lý tưởng CS, nhưng nội thất của tư gia ông Lê Khả Phiêu không quên dành một gian thờ Đức Phật, với tượng Phật Bắt tay, cười nói, hỏi thăm nhau vồn vã, hình ảnh cho thấy là màn trao lễ vật khá lớn uy nghi màu trắng đang ngự trên toà sen, dưới chân Phật là tượng “Bác Hồ” nhỏ bé hơn, mà “Bác Phiêu” có lẽ muốn gởi gấm cho Đức Phật.Lên sân thượng, khách chứng kiến vườn rau sạch xanh tươi được chăm sóc bằng một hệ thống tự động với phí tổn nghe nói không dưới 20 ngàn đô, nhằm bảo đảm nhà bác khỏi phải ăn những thứ rau thường xuyên nhiễm đủ lọai hoá chất độc hại ở thị trường. Cảnh sống vương giả của cựu quan lớn Lê Khả Phiêu đã gây bất bình đáng kể trong dân chúng, mặc dù họ chẳng xa lạ gì với hiện tượng như vậy. Từ Saigòn, nhà thơ Nguyễn Tấn Cứ nhận xét: Nhà thơ Nguyễn Tấn Cứ: “So với lý tưởng cao đẹp mà họ đề ra, thì mình thấy đó là sự bất thường. Mà bất thường này thì dân VN cũng chẳng quan tâm lắm, vì họ hình như sống chung với điều đó lâu lắm rồi. Nhất là dân VN thấy các qua chức sống xa hoa, hay là phí phạm, nhà cửa to đùn, từ ông chủ tịch tỉnh, chủ tịch thành phố hay chủ tịch huyện – họ đều nhà cửa to đùn hết cả, không ông nào mà không có, nói chung là họ sống bằng đất đai, nhà cửa, cho nên dân bây giờ họ nhìn thấy cảnh này họ không hề ngạc nhiên. Coi như dân sống chong với lũ rồi”. KS Phương Nam Đỗ Nam Hải, một nhà dân chủ nổi tiếng trong nước, cho biết: Chân dung tên Phiêu được đặt sau một tác phẩm điêu khắc bằng gỗ quý có cẩn cặp ngà voi to tướng KS Đỗ Nam Hải: “Tôi nghĩ rằng những tấm hình này là thêm những bằng chứng nữa thôi để chứng tỏ rằng đây là chế độ rất là bất công ở VN hôm nay: Đời sống xa hoa của giai cấp thống trị như vậy và đời sống nghèo khó cơ cực của tuyệt đại đa số nhân dân VN, những người hiện nay đang là tầng lớp bị trị. Và nó cũng phản ảnh chế độ này là chế độ điển hình của đạo đức giả đang lên ngôi. Ông Lê Khả Phiêu nguyên là Tống bí thư, là một người được tiếng là liêm khiết, mạnh tay chống tham nhũng. Nhưng cuộc sống của ông ta thể hiện qua những bức hình đó cho thấy xa hoa như thế nào, thì chúng ta đã thấy. Được tiếng là chống tham nhũng mà còn xa hoa đến như vậy, thì những quan chức khác không được tiếng là chống tham nhũng, không được tiếng là trong sạch thì còn ở mức độ nào”.Chỉ một vài hình ảnh về tư gia của cựu Tổng bí thư Lê Khả Phiêu trên Internet đã có thể cho thấy sự tương phản giữa cuộc sống của các quan chức VN với kiếp đời cơ cực của đại đa số quần chúng, cũng đồng thời tương phản với tác phẩm đắc ý của Lê Khả Phiêu mang tựa đề “Mênh mông tình dân”. Copyright © 1998-2011 Radio Free Asia. All rights reserved. NGUYỄN THỊ BẮC Tin từ Hà Nội Tên Bán Nước Lê Phả Phiêu: “Sướng con koo, mù con mắt” Hiện tượng thật sự và rất lạ lùng bao trùm Việt Nam từ nam chí bắc, từ đông sang tây: Một người đàn ông chơi gái, mà khiến cho đến mấy triệu người sướng. Điều kỳ lạ hơn nữa là có cả đàn bà, nữ cán bộ cũng sướng vì sự chơi gái nầy ! Người ta thường kể cho nhau nghe chuyện mê gái như vua Trụ mê Đắc Kỹ, vua Ngô Phù Sai mê Tây Thi v.v. mà mất nước hay những mẩu chuyện về đàn ông dân dã mê gái, mê mấy con gái điếm mà đem tiền bạc, tài sản đôi khi cả nhà cửa cung phụng cho gái, vì bị mê hoặc do gái làng chơi làm cho sướng khoái chí tử mà trở nên mù quáng đến tán gia bại sản, cho nên Người xưa có câu rằng: “Sướng con cu, thì mù con mắt” Vụ việc hiện nay là Lê Phả Phiêu qua Bắc Kinh chơi gái, cô gái nầy [tên là Cheng Mei Wang hay Trương Mỹ Vân ] do mưu sĩ uyên thâm nhất của Trung Cộng gài bẫy để bắt chẹt Lê Khả Phiêu. Xong rồi TC dùng sự chơi gái nầy của Phiêu mà làm săng ta (chantage = blackmail) bảo chính phủ VN phải nhường biển và ải Nam Quan, thác Bản Giốc cho Tàu. Sự chơi gái nầy của Lê Khả Phiêu sướng như thế nào không ai biết, mà người dân chỉ thấy cách ứng xử của các đồng chí lớn rất bức xúc: Các đồng chí trong chính phủ VC vồn vả ríu ríu nghe theo, cho nên TC đòi VC nhượng nhiều vùng biển, vùng đất cho TC. Quốc hội, chính trị bộ lúc nào cũng đồng tình hồ hỡi dâng đất cho Tàu, Mặt Trận Tổ Quốc, công an, bộ đội cũng hồ hỡi thông đồng cắt hết phần đất nầy đến phần biển khác dâng cho Tàu. Tòan bộ các đảng viên Cộng sản đều mù mắt mà hoan hỉ cắt đi phần đất mà tổ tiên VN đã tốn bao xương máu mới bảo tòan trong bao ngàn năm qua. Câu hỏi đặt ra là tại sao chỉ một mình con cu của Lê Khả Phiêu sướng mà cả mấy triệu đảng viên Cờ Máu đều mù mắt, kể cả bọn vẹm cái cũng mù luôn, sự cố nầy rất quái lạ. Hơn thế nữa, bọn “công an và bộ đội mù mắt” cùng nhau ngăn cản, lùng bắt và đàn áp (dưới sự chỉ đạo của Nguyễn Tấn Dũng) những người đi biểu tình chống Trung Quốc “xâm chiếm” đất của VN. Người dân biểu tình chống Trung Cộng xâm chiếm Hòang Trường Sa thì đúng, còn Nam Quan Bản Giốc thì sao ? Hải quân VN có đánh với hải quân của TC, nhưng theo diễn biến các vụ việc từ đó đến nay, thì tôi phát giác ra rằng: sự hy sinh một số binh lính tại biên giới hay tại Hòang Trường Sa là do mánh lới của các mưu sĩ TC và VC dàn dựng ra để lừa người dân Việt Nam và lừa bọn Mỹ ngu. Bọn Cờ Máu chúng đem hy sinh mạng sống của một số lính ra để làm cảnh, để tỏ ra rằng Việt gian cờ Máu “chống Tàu cứu nước”. Nhưng bên trong cha con chúng (cha TC và con VC) đã thỏa thuận chi tiết từng trận đánh, từng số quân lính phải hy sinh trong mỗi trận địa với mục đích tuyên truyền gian trá. Binh lính “quân đội nhân dân” tưởng rằng họ hy sinh để bảo vệ tổ quốc, nhưng họ không biết rằng bọn cầm quyền Cờ Máu chỉ xem sinh mạng của họ chẳng khác gì giòi bọ, chết bao nhiêu cũng thây kệ, miễn mục đích tuyên truyền đạt chỉ tiêu. Hiện tượng “hoan hỉ dâng đất cho Tàu” của tòan bộ đảng viên Cờ Máu bao gồm luôn công chức và bộ đội đều mù mắt: do đó mà 5 chữ “Lê Khả Phiêu chơi gái” là một bản án tròng lên đầu quân cán chính Việt Gian Cờ Máu, nhẫn nhục tuân lệnh bọn chủ nhân ông Tàu Phù gian ác dơ dáy và điếm đàng. HIỆN TƯỢNG LẠ LÙNG: dấu chàm hiện lên Nhân dân ta mỗi ngày càng thấy rõ bản mặt của từng thằng quân cán chính cờ Máu, càng ngày càng dễ phân biệt bọn chúng vì trên trán của chúng đều có dấu chàm trổ “Lê Khả Phiêu chơi gái” tự nhiên hiện lên. Dấu chàm trổ trên trán của bọn cường quyền “Lê Khả Phiêu chơi gái” càng ngày càng hiện rõ, không phải màu nâu mà là màu đỏ chói: rõ nhất là khi từ tên thủ tướng cho đến bọn lập ra kế họach chiếm nhà chiếm đất của dân, đây là dấu ấn thượng đội hạ đạp của bọn Việt gian nô lệ ngu dốt và ô nhục. Đồng bào ta càng ngày càng thấy rõ dấu chàm trổ “Lê Khả Phiêu chơi gái” trên trán của Việt Gian Cờ Máu, chúng bị mù mắt mà trở thành công cụ của vụ dâng đất cho Tàu. Bộ đội công an phái đến đàn áp nhân dân phản kháng chiếm nhà đất, chúng dùng bạo lực thẳng tay đàn áp và giết hại dân oan, thì dấu chàm “Lê Khả Phiêu chơi gái” lại càng hiện rõ ra trên trán của chúng. Cho nên mỗi lần thấy chúng bao vây đàn áp nhân dân thì đồng bào ta hô to: “Lê Khả Phiêu chơi gái”, thì tức khắc 5 chữ nầy nổi đỏ lên trên trán của mỗi tên công an bộ đội bạo hành. Đây là hiện tượng hết sức lạ lùng cổ kim hãn hữu. Khẩu hiệu “Lê Khả Phiêu chơi gái” được đồng bào xử dụng như phù chú, họ hô to khi công an bộ đội đến đàn áp dân oan, thì chúng bị mù mắt ngay, vì vậy mà dùi cui của chúng mất hiệu lực, cứ nhắm khỏang không múa may búa xua. Khẩu hiệu “Lê Khả Phiêu chơi gái” được xử dụng rộng rãi hơn nữa khi đồng bào thấy lấp lóan bọn công an bộ đội quân cán chính xuất hiện ở bất cứ đâu. Dấu chàm trên trán “Lê Khả Phiêu chơi gái” càng đậm nét theo những hành vi gian ác và bạo ngược của từng thằng quân cán chính Cờ Máu, từ an ninh khu vực cho đến các nơi đóng quân sư đòan. Dấu chàm trên trán “Lê Khả Phiêu chơi gái” cũng được bọn quân cán chính xử dụng để nhận ra cấp bậc của nhau, địa vị và quyền thế càng cao càng lớn thì càng đậm nét. 2. TẠI HẢI NGOẠI Khi đồng bào cần đến sứ quán hay lãnh sự quán VC thì gặp ngay bọn trên trán có dấu chàm “Lê Khả Phiêu chơi gái”, địa vị chức vụ càng cao thì dấu chàm nầy càng hiện rõ. Bọn văn công cho xuất ngoại ra các nước để tuyên truyền duyên dáng Việt Cộng cũng có dấu chàm “Lê Khả Phiêu chơi gái” Riêng bọn gián điệp nằm vùng thì dấu chàm “Lê Khả Phiêu chơi gái” được bọn chúng bôi lên một lớp son phấn, bao che bằng một lớp da người, hay bằng bong bóng heo dán lên trên. Khi một tên điệp viên nằm vùng của chúng bị phát giác, thì lập tức 5 chữ “Lê Khả Phiêu chơi gái” liền hiện rõ dưới lớp sơn phấn. 3. KẾT LUẬN Dân oan khiếu kiện hô to “Lê Khả Phiêu chơi gái” khi bọn công an bộ đội đến bao vây đàn áp. “Lê Khả Phiêu chơi gái” là khẩu hiệu mới tại Việt Nam. Tòan dân ta khi gặp bọn quân cán chính của Cờ Máu thì hô to “Lê Khả Phiêu chơi gái” cho đến khi bạo quyền sụp đổ. Trong tương lai gần đây Nhất định nhân dân ta sẽ lấy lại chính quyền.
Cựu Tổng Bí Thư Cộng Đảng Việt Nam Lê Khả Phiêu nói chuyện về vấn đề tham nhũng. Sau đây là một đoạn phỏng vấn của báo Tuổi Trẻ ở Thành Hồ: ” Thưa nguyên tổng bí thư, ông có kinh nghiệm gì không trong phòng chống tham nhũng? - (Cười) Qua thực tế bản thân tôi thấy muốn làm được việc này thì mình phải giữ nghiêm đức tính liêm khiết. Tôi không muốn cái gì cũng đổ lỗi cho kinh tế thị trường. Trong quan hệ xã hội cả bên trong bên ngoài có nhiều mối quan hệ: với lãnh đạo cấp cao, với cấp dưới, với dân… Có người đến với mình với động cơ cầu thị, trong sáng như xin ý kiến để thực hiện công việc được tốt hơn. Song cũng có người đến với động cơ không trong sáng, muốn tìm chỗ nương tựa hay tiếp tay gì đó. Mình phải hết sức cảnh giác. Phải luôn răn mình là đầy tớ của dân. Tôi nói thật có chuyện họ đến biếu tiền, năm nghìn, mười nghìn chứ không ít đâu. * Năm, mười nghìn đô (USD)? - Đô chứ. Lúc tôi còn thường trực (Thường trực Bộ Chính trị -PV) đã có rồi, lúc làm tổng bí thư càng có. Đối với tôi, họ đến đút tiền không dám đưa thẳng đâu. Thường là có bó hoa xong để cái gói trên bàn rồi về. Mở ra thấy có năm nghìn, mười nghìn tôi gọi anh Hoan (ông Trần Đình Hoan, khi ấy là chánh Văn phòng Trung ương Đảng – PV) và cậu Dần (ông Nguyễn Giáp Dần – thư ký nguyên tổng bí thư Lê Khả Phiêu – PV) lên, nói: “Cái này của ông A, ông B… Giao các cậu mời các ông đó lên xem thái độ thế nào. Tại sao lại có phong bì thế này? Đồng chí tổng bí thư nhắc như thế là không được, từ nay trở đi không được làm thế”. Vậy mà có ông trả lời rằng “đồng chí Phiêu không nhận thì tôi xin biếu các anh”. Cả cậu Dần, anh Hoan về báo cáo lại tôi. Thế thì không được rồi. Tôi phải gọi lên cảnh cáo. * Sao lại chỉ cảnh cáo thôi, thưa ông? - Tôi không muốn làm to chuyện mà giáo dục bên trong. Nhưng tôi biết cũng có người khác đã nhận rồi, tôi phải mời lên yêu cầu trả lại. Nói thế để thấy trong nội bộ ta chuyện đó không ít. Họ cứ cho chuyện đưa là tự nhiên, chuyện nhận là bình thường. Nói thật, tôi thấy buồn. Bây giờ chuyện đó chắc vẫn thế thôi. Vì vậy cái chính là anh phải thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ “cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư”, giữ mình trong sáng mới chỉ đạo được. Ngay hồi phát động thực hiện nghị quyết 6 (lần 2) tại hội nghị toàn quốc, tôi đã nói hết các vụ việc (dù không nêu tên) với yêu cầu các anh cán bộ đứng đầu phải hết sức cảnh giác. Anh em ở dưới nghe rất ủng hộ. Mà không chỉ bản thân đâu, nhất là với gia đình cũng phải dặn dò cẩn thận, bởi kẻ xấu có nhiều thủ đoạn lắm. Vợ con anh phải giữ, nếu không nó tấn công rất ghê. Tấn công con có, tấn công vợ có. Đánh vào bếp, đánh từ phía sau. Phải đề cao cảnh giác! ….” (Trang Webb của đài BBC trích đoạn của báo Tuổi Trẻ về cuộc phỏng vấn ông Lê Khả Phiêu, cựu tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam tháng 5 năm 2005) Đọc xong đoạn trên chúng tôi có ý nghĩ như sau: Hồi còn đang làm tổng bí thư đảng cộng sản, quyền uy nhất nước sao ông không nói để đến bây giờ khi bị đá văng khỏi chức rồi mới dám nói. Phải chăng vì còn tí chút lương tâm cho nên ông cựu du kích tỉnh Thanh Hoá Lê Khả Phiêu cố cứu cái đảng sắp tan rã của mình bằng cách chứng minh rằng đảng cộng sản Việt Nam của ông thật sự muốn đổi mới, muốn làm một cái gì cho dân cho nước chứ không phải là thứ ăn hại, và bắn tiếng xin bà con trong nước cũng như hải ngoại đừng hiểu lầm, và ủng hộ chúng tôi đi. Ngay cả cái ông Mai Chí Thọ lúc còn làm chủ tịch Uỷ Ban Nhân Dân thành phố Hồ Chí Minh thì miệng cứ câm như hến, đếch nói cái gì. Đến khi hết làm rồi thì mới dám nói lên sự thật dù chỉ là một chút cỏn con trong lòng để tỏ ra rằng mình còn có chút “lương tâm hão”. Khi chỉ trích chính sách bỏ tù cải tạo các sĩ quan, quân nhân và các cấp chỉ huy hành chánh ở miền Nam sau năm 1975, ông ta nói, “cái hận thù của người ta là nặng nề, tụi nó thù mình lắm chứ không phải không!” Và: “Đáng lẽ theo tôi phải thả họ sớm hơn, động viên họ tham gia xây dựng lại đất nước …” Thì ra người cộng sản hèn thế. Văng cha nó khỏi chức rồi mới dám vén cái miệng hến lên mà nói nghe xôm lắm. 1. TẠI VIÊT NAM Bởi thế cho nên: Lúc còn chức trọng quyền cao Say sưa ông để mắt nào đến dân! Về vườn ông nghĩ tấm thân Chẳng bằng cục “phẩn” nên gân cổ gào Thưa ông, dù có thế nào Có ngày cả bọn sẽ trào đờm thôi! *** Chó không chê cứt Người không chê tiền Biếu ông, ông bỏ túi liền Tiền đô bạc lớn mua tiên với đời Cứ nhìn lũ cộng con thôi Nó sang xứ Mỹ học đòi làm sang Mua xe cả mấy chục ngàn Đô tươi xỉa trả phăng ngang một lèo Nhà thời dù giá có leo Mấy trăm ngàn, mặc! “cậu” theo tới cùng Tiền đâu nhiều thế để “chung” Cán cha “cạp” cả cái lưng quần nghèo Gian manh một lũ quỷ yêu Đù cha cái bọn cộng tiều lưu manh Tên Phiêu chỉ một lần ăn chơi thôi là đã tốn đến mấy hòn đảo và mấy ngàn cây số vuông dọc theo biên giới cộng thêm mấy trăm mạng sĩ tốt hy sinh lót đường để hợp thức hóa việc này. Năm mười ngàn đô biếu xén thì thấm vào đâu với cách ăn chơi “Hoành Tráng” của các “Bác”. Hiềm một điều Lê Khả Phiêu là tên đảng viên có tiếng là thanh liêm bậc nhất mà còn như vậy thì với phường tham quan ô lại thì chúng làm hại nước hại dân đến thế nào. Hiểm họa nuớc mất, dân Việt bị diệt vong không phải do Tàu Cộng mà chính là do Việt Cộng. Thi thu nghi quang doc Thiên ha su da tri TN. Bố tiên sư tên Lê Khả Phiêu: “Sướng con koo, mù con mắt” Tên Bán Nước Lê Phả Phiêu: “Sướng con koo, mù con mắt” Tài Liệu Tình Báo Về Vụ CSVN Bán Nước Cho TC (Theo Diễn Đàn Nước Việt, Cập Nhựt 20/11/2008) Gần đây chúng tôi nhận nhận được tài liệu liên quan đến một số dữ kiện đảng CSVN đi TC để dâng đầt biên giới và vùng Vịnh Bắc Việt cho Tàu Cộng …  Ải Nam Quan trước khi ký hiệp định biên giới Đây là Ải Nam Quan mới gọi là cột mốc “0″Sau vụ CSVN bán nước cho TC, theo lời ông Hoàng Minh Chính cho biết thì không ai biết được ai trong bộ chính trị đã ký tên trong vụ bán nước nầy. Bộ chính trị CSVN đã dấu nhẹm chuyện nầy và BÍ MẬT ĐÃ được BẬT MÍ và sau đây là những diễn biến về việc BÁN NƯỚC: 1) Lê Khả Phiêu bị TC gài mỹ nhân kế lấy cô Trương Mỹ Vân (Cheng Mei Wang) lúc Lê Khả Phiêu sang thăm TC năm 1988 và sanh được một bé gái. LKP không đem con về vì sợ tai tiếng đưa đến nhiều lần TC gửi văn thư đòi lấn vùng biển vào tháng 01/1999 … Đồng thời đòi đưa ra ánh sáng vụ nầy nếu LKP không hợp tác. Và buộc Lê Khả Phiêu phải hạ bút ký bản hiến biển ngày 30/12/1999. 2) Ngày 31/12/1999 phái đoàn TC cầm đầu do ông Tang Jiaxuan và tình báo TQ sang Việt Nam, họ gặp kín Lê Khả Phiêu bàn thêm về vấn đề hiến đất … 3) Ngày 25/02/2000, Lê Khả Phiêu phái Nguyễn Duy Niên sang TC, ông Nguyễn Duy Niên cho biết Lê Khả Phiêu đã đồng ý việc hiến thêm đất. TC nghe tin rất hoan hỉ mở tiệc chiêu đãi Nguyễn Duy Niên một cách nồng nhiệt với nhiều cung tầng mỹ nữ ở nhà khách Diao-yu-tai ăn nhậu cùng ông Ngoại Trưởng Tang Jiaxuan … 4) Bộ Trưởng TC Tang Jiaxuan gửi thư kín nhắn tin muốn gặp Bộ Trưởng CSVN tại Thái Lan khi ông viến thăm nước nầy. Ngày 26/07/2000. Ông Nguyễn Duy Niên đáp chiếc Air Bus bay từ phi trường Nội Bài vào lúc 06 giờ 47 sáng sang Thái Lan gặp Bộ Trưởng Ngoại giao TC tại khách sạn Shangri-La Hotel Bangkok phía sau phòng Ballroom 2. Cuộc gặp rất ngắn ngủi. Tang giao cho Niên một chồng hồ sơ đòi CSVN hiến thêm đất, biển trong hồ sơ ghi rõ TQ đòi luôn 50/50 lãnh hải vùng Vịnh Bắc Việt, đòi Viet Nam cắt 24 ngàn Km2 vùng biển cho TQ. Ngày 28/07 bộ chính trị nhóm chóp bu họp kín. 5) Sau hai tháng họp kín và bàn bạc, Bộ chính trị CSVN cử Phan Văn Khải qua gặp mặt Lý Bằng. Phan Văn Khải bay chuyến máy bay sớm nhất rời Việt Nam ngày 26/09/2000 qua Bắc Kinh và được xe Limo chở từ phi trường Bắc Kinh về Quảng Trường Nhân Dân vào trưa hôm đó. Nhìn thấy mặt Khải tỏ vẻ không hài lòng và hoan mang về vụ hiến đất (Điều nầy chứng tỏ Khải không rõ chuyện nầy). Lý Bằng cho Khải biết là hai tay Lê Khả Phiêu và Giang Trạch Dân đã gặp nhau 2 lần cho vụ hiến đất rồi. Lý Bằng ôm chặc PVK và khen đảng CSVN làm việc rất tốt và ông cho biết là đã có Nông Đức Mạnh (lúc đó là chủ tịch Quốc Hội đảng CSVN) đã đi đêm sang TC vào tháng 04/2000 và Lý Bằng đã gặp lại Nông Đức Mạnh, vào tháng 08/2000 ở New York Hoa Kỳ. Lý Bằng cho biết Nồng Đức Mạnh phải được cử làm Bí Thư đảng CSVN sau khi Lê Khả Phiêu xuống, nếu không thì sẽ bị TC “đòi nợ cũ”. Khải trước khi về vẫn khước từ vụ hiến vùng biển VN và nói với LB là sẽ xem lại sự việc. Lý Bằng nhăn mặt bắt Khải ngồi chờ, vào gọi điện thoại, nói gì trong đó và trở lại nói là Chủ Tịch Giang Trạch Dân muốn gặp Khải tại Zhong-nai-hai và sau đó Khải được đưa đi gặp GTD và cho ông Zhu Rongji hù dọa Khải nói: TC đã nắm trong tay Lê Khả Phiêu, Nồng Đức Mạnh … nếu không nghe lời TC, Khải sẽ bị tẩy chay và coi chừng bị “chích thuốc”. Khải cúi đầu và run sợ, sau đó đòi về. Trước khi Khải về, một lần nửa Giang Trạch Dân nhắn Khải gửi lời thăm Lê Khả Phiêu và Nồng Đức Mạnh chứ không nhắc tới tên người khác trong Quốc Hội CSVN. Khải không được khoản đãi như một vị quốc khách vì tính tình bướn bỉnh vì không nghe lời đàn anh … 6) Vào ngày 24/12/2000 , Thứ Trưởng Bộ Ngoại Giao VN Lê Công Phụng được Trần Đức Lương phái âm thầm đến TC gặp ông tình báo của TC là ông Hoàng Di, ông nầy là cánh tay phải của Bộ Trưởng Ngoại Giao TC. Ông ta nói tiếng Việt rất rành. Hai bên đã gặp nhau ở một địa điểm X gần biên giới Việt (Tỉnh Móng Cái Việt Nam). Theo bản báo cáo cho bộ chính trị CSVN, ông Lê Công Phụng Cho biết lúc đầu ông Hoàng Di vẫn khăn khăn đòi chia 50/50 với Việt Nam về vùng biển Vịnh Bắc Việt “Beibu Bay” đòi lấy luôn đảo Bạch Long Vĩ sau đó ông Phụng, được bộ chính trị dặn trước là xin lại 6 % của Vùng biển gần khu vực Bạch Long Vĩ vì đã được lâu đời là của Việt Nam. Kết Qủa cuộc đi đêm Việt Nam còn lại 56 % Vịnh Bắc Việt và mất đi 16 ngàn Km2 vùng vịnh cho TC. 7) Ngày 25/12/2000, ông Trần Đức Lương rời Hà Nội qua Bắc Kinh gặp Giang Trạch Dân và được đưa về Thành Bắc của Quảng Trường Nhân Dân, theo tài liệu lấy được của tình báo TC. Trần Đức Lương và Lê Khả Phiêu chính thức quyết định thông qua bản hiệp ước hiến đất bất chấp lời phản đối của Khải và nhiều người trong quốc hội. Phe thân Nga và Phe Miền Nam đã không đủ sức đấu với Lê Khả Phiêu và Trần Đức Lương. Bản hiến chương hiến đất cho TC được chính Giang Trạch Dân và đảng CSTQ trả cho số tiền là 2 tỉ USD được chuyển cho Việt Nam qua hình thức Đầu Tư. Đảng CSTQ chỉ thị cho đảng CSVN sẽ phải làm gì trong kỳ đại hội đảng thứ 9 vào tháng 03/2001 sắp tới. Trần Đức Lương được khoảng đải ở Thành Bắc Quảng Trường Nhân Dân. Ngày 26/12/2000 vào lúc 2 giờ trưa, Lý Bằng được cận vệ đưa tới gặp Trần Đức Lương ở Quảng Trường Nhân Dân. Lý Bằng cho Lương biết là số tiền 2 tỉ dollar để mua 16 ngàn km2 vùng vịnh Beibu của Việt Nam là hợp lý. Trần Đức Lương cám ơn đảng CSTQ về số tiền nầy. Số tiền 2 tỉ đồng nầy được Lương đem về để làm bớt sự phẩn nộ của Khải, Kiệt và những nhân vật khác trong quốc hội CSVN. Ông Lý Bằng nhắc lại chuyện TC đã bán vũ khí và hổ trợ cho đảng CSVN trong thời gian chiến tranh và số nợ trên TC dùng để trao đổi mua lại vùng đất Bắc Sapa của Việt Nam, Ải Nam Quan, Bản Dốc, Cao Bằng … Thêm lần nữa Lý Bằng chỉ gửi lời thăm Lê Khả Phiêu và Nồng Đức Mạnh ! Sau đó Lương được mời lên xe Limo và đưa về Zhong-nan-hai để gặp Zhu Rongji . Zhu Rongji không nói gì khác hơn là nhắc lại số tiền 2 tỉ đồng sẽ được giao cho Việt Nam sau khi Lương trở về nước. 9) Ngày 26/02/2001 Nguyễn Mạnh Cầm bay sang TC để gặp ông Qian Qichen tại đảo Hải Nam. Nguyễn Mạnh Cầm cám ơn TC đã mua vùng Vịnh Bắc Việt của Việt Nam (Beibu Bay) với giá 2 tỉ USD.
|
 Tên Bán Nước Lê Phả Phiêu: “Sướng con koo, mù con mắt Chùm ảnh tư dinh Lê khả PhiêuBan liên lạc Đồng hương Thanh Hoá tại Hà Nội đã có buổi đến thăm và giao lưu với bác Phiêu tại nhà riêng tại ngõ 34A Trần Phú (ngôi nhà bác mới chuyển về từ đường Hoàng Diệu). Đại diện của Ban liên lạc gồm có: ông Lê Xuân Thảo – Trưởng Ban Đồng hương Doanh nghiệp TH, ông Lê Thế Chữ – Truởng Ban liên lạc Đồng hương Tỉnh, ông Hoàng Văn Đoàn – Phó Trưởng ban Doanh nghiệp, ông Lữ Thành Long – TGĐ Công ty Misa, ông Nguyễn Hồng Chung – Chủ tịch Công ty Luật Đại Việt, ông Bùi Việt Hà – Giám đốc Công ty HINCO, ông Nguyễn Hữu Hùng – Công ty Truyền thông Dầu khí Việt Nam, Lê Xuân Tiến Trung – Công ty Việt FT và một số thành viên khác. Sau đây là một số hình ảnh buổi gặp mặt bác Lê Khả Phiêu: Sau đây là một số hình ảnh buổi gặp mặt bác Lê Khả Phiêu: Trên đường đến nhà tên Lê Khả Phiêu Nơi ở trước của tên Lê Khả Phiêu trên đường Hoàng Diệu Quà cáp cho hắn nho nhỏ thôi, đổi lại tình cảm của hắn với nhân dân đất nước mới quan trọng !!! Nhà mới của tên Lê Khả Phiêu Trong nhà của tên LKP toàn những hiện vật quý giá Nhưng tên bán nước LKP dặn lần sau đến thăm là được rồi, đời sống dân mình đang khó khăn, đừng bày vẽ quà cáp gì mà lãng phí. Gặp mặt tên Lê Khả Phiêu tại phòng khách Tham quan nhà tên Lê Khả Phiêu. Mọi người đều ngưỡng mộ con người "học cao hiểu rộng" của hắn, cả 1 tủ sách đồ sộ với tư tưởng Mác Lênin Mao Trạch Đông Hồ Chí Minh. Tham quan Phòng Thư viện: Hình Mác Lê đặt trang trọng trên cùng chính giữa, Hồ tặc chỉ dưới 1 chút thôi. Còn 2 bên là trống đồng và chữ tâm bằng vàng. Trống đồng tuy là nét biểu trưng của văn hóa dân tộc nhưng giờ đã là thời đại Hồ Chí Minh rồi không nên ôm quá khứ mà phải học cái hay cái đẹp của "tư tưởng Hồ Chí Minh" Tượng bằng đồng đúc của tên Phiêu Ảnh chân tướng tên Lê Khả Phiêu, dưới là cặp ngà voi nho nhỏ xinh xinh Tư liệu về các cuộc gặp mặt với các nguyên thủ quốc gia các nước Ngôi nhà mới hoàn thiện, nên đang còn một số bề bộn. Nhà hắn thật "văn hoá", đi đâu cũng thấy sách, tranh, tượng, trống đồng cổ quý… Hắn cũng là một người rất đam mê "nghê thuật" và biết thưởng thức cái đẹp. Hình như phải bỏ cái móc áo quần vào giữa bức tranh mới đẹp, nghệ thuật mà. Quang cảnh nhìn từ tầng 4 Tuy biết Cộng sản là vô thần vô thánh nhưng tối nào trước khi đi ngủ hắn cũng lạy "bác của hắn" phù hộ độ trì cho bọn hắn sống lâu để bán trọn đất nước cho tàu khựa Vì thực phẩm trên thị trường rất độc hại nên nhà hắn phải trồng rau sạch để ăn. Nhìn sang bên phải là Bộ Quốc Phòng, nơi có sân bay Trực thăng, để lỡ đất nước có chuyện gì là hắn sẽ là người bay đi công tác trước tiên. Nhà bên cạnh là nhà riêng của Đại tướng Chu Huy Mân, bọn hắn phải sống gần nhau để tối lữa tắt đèn có nhau, tình cảm đồng chí đáng quý biết bao. Phòng làm việc của trợ lý bác Phiêu với những vần thơ làm xúc động lòng người: Hồ Tây đẹp nhất hoa sen Việt Nam ác nhất có tên cáo hồ Thằng Phiêu chơi gái bán cả non sông
Mình đã đi nhiều nhà lãnh đạo, và thật thương bác Phiêu vì nhà bác sao mà đơn sơ quá, còn thua xa cả những lãnh đạo cấp nhỏ ở tỉnh mình nữa. Đoàn đại biểu rời nhà tên Lê Khả Phiêu ai nầy trong lòng đều muốn trào máu họng Like this:Like Loading... 33 Responses “Lê Khả Phiêu: Bán Nước vì Chơi Gái Tàu” →
Thỉnh thoảng TC lại tung ra một chút bật mí nhằm răn đe kêu goị đưá con hoang trở về ngôi nhà lát 16 vàng 4 tốt ??? "Chơi dao có ngày đứt tay" Người Nông Dân (Danlambao) - Ông bà tổ tiên xưa đúc kết kinh nghiệm với câu tục ngữ: “chơi dao có ngày đứt tay” quả nhiên rất đúng với những gì đã và đang xảy ra trên khắp đất nước suốt từ Hội nghị Thành Đô cho đến nay. Việc Trung Quốc ngang ngược xua cả một đội tàu hùng hậu hơn trăm chiếc, trong đó có những tàu quân sự võ trang hiện đại hộ tống hạ đặt giàn khoan HD 981 vào sâu trong vùng lãnh hải nước ta càng minh chứng cho câu tục ngữ nói trên. Hãy tự đặt câu hỏi vì sao Trung Quốc không dám hạ đặt giàn khoan trong vùng biển họ tuyên bố có tranh chấp chủ quyền với các quốc gia khác như: Philippin, Hàn Quốc, Nhật Bản hoặc Bắc Hàn một quốc gia mà Bắc Kinh đang chống lưng, sai khiến? Rõ ràng chơi với Trung Quốc chẳng khác nào như chơi với dao sắc nhọn không những đứt tay mà còn có ngày phải vong mạng… Tôi vẫn còn nhớ, vào thời điểm năm 1979 khi Trung quốc xua quân tràn sang đánh phá các tỉnh biên giới phía bắc, bà ngoại tôi năm ấy tuổi ngoài tám mươi vẫn biết căm giận nói rằng: “tụi Tây, tui Mỹ qua đây nó còn khai hoang trồng trọt, xây đắp cầu đường, mở trường khai hóa dân trí, còn tụi ba tàu (ý nói Trung quốc) lũ nó qua đây chỉ biết vơ vét, nó mà cai trị mình lần nữa chắc sẽ không còn cái quần để mặc”. Tôi thiết nghĩ nhiều người đang ở đỉnh cao trí tuệ nhưng thực lòng mà nói vẫn còn thua xa lý trí của những người già.
Ngày xưa đâu đã có Liên Hiệp Quốc, chung quanh nước Nam ta toàn những nước nhỏ yếu làm gì có một liên minh nào dám chống lại Đại Quốc? Vì vậy việc Ông cha ta thời xa xưa phải chịu thần phục ngoại bang là một chuyện bất đắc dĩ, nhưng nếu lũ giặc bức bách, xâm phạm bờ cõi thì trang lịch sử vàng ngàn đời vẫn âm vang muôn thuở:“Sông Như Nguyệt vùi thây giặc Tống, Sóng Bạch Đằng nhấn chìm quân Hán - Mông, Ải Chi Lăng, Đống Đa mồ chôn xác giặc…”. Các Vua chúa nước Nam không để mất một tấc đất lại còn mở mang bờ cõi, mở rộng biển đảo. Lịch sử thời đại ngày nay không một ai dám nghĩ rằng ông Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh một nhân vật được ca ngợi như một nhà cải cách, một công trình sư mở đầu công cuộc đổi mới đáng ghi nhận nhưng lại là người tham sống sợ chết khi chủ xướng cam tâm cúi đầu thần phục kẻ thù truyền kiếp mở đầu cho một giai đoạn Bắc thuộc và đó là một sự thật. Ông Đỗ Mười tiếp tục sự nghiệp thần phục do Nguyễn Văn Linh để lại; đến thời Lê Khả Phiêu càng đáng phỉ nhổ khi mắc cái bẩy mỹ nhân kế phải chấp nhận việc dâng đất, nhượng biển; thời Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng càng đáng hỗ thẹn khi nhu nhược, ươn hèn đưa đất nước, dân tộc rơi vào vòng kiềm tỏa, lệ thuộc TQ.
Mỗi người dân Việt Nam hiện nay đều thừa hiểu bọn Trung Quốc đang giăng bẩy và nhúng tay vào khắp mọi lĩnh vực: chính trị - kinh tế - văn hóa – xã hội – cả phương diện ngoại giao, lẫn tổ chức nhân sự bộ máy nhà nước. Những gì bọn chúng đang thực hiện ngày càng tàn độc và hiểm ác hơn cái thời xa xưa mà tên hôn quân bạo chúa Tần thủy hoàng đã dùng đao kiếm, lửa binh để gồm thâu lục quốc:
Về chính trị: thay vì sửa đổi, chỉnh đốn cái thể chế đã lỗi thời, lạc hậu cho phù hợp với xu thế của thời đại thì Tập đoàn thống trị lại chủ trương lòn cuối, ôm chân những kẻ xâm lược. Vì vậy cả bộ máy chính quyền từ Trung ương xuống đến địa phương đều bị bọn chúng khống chế, vô hiệu hóa khiến cho cả guồng máy này mờ mắt trước quyền lực, trước của cải, bạc vàng mà xem nhẹ lợi ích đất nước, lợi ích dân tộc và đui mù trước nỗi thống khổ của những người dân thị thành mất nhà, tầng tầng lớp lớp người nông dân bị mất đất .
Về kinh tế: chúng rắp tâm tận diệt nguồn sống bằng những việc tưởng chừng nhỏ nhặt, vô hại như thu mua cả lá cây, rễ non, con giống; chúng gây nguy hại cho môi trường sinh thái và triệt hạ công cụ canh tác, sản xuất của nông dân bằng việc tận thu mèo, rắn, ong bầu, móng trâu, sừng trâu giá cao; chúng thao túng một số nhận vật đầu não chính quyền khuyến khích việc khai thác Boxit Tây nguyên, khai phá rừng đầu nguồn, đắp đập ngăn sông xây nhiều thủy điện một mặt làm cho ô nhiễm không khí, môi trường biến đổi, mặt khác làm cho cạn kiệt tài nguyên, an ninh - quốc phòng suy yếu … Chúng lũng đoạn cả nền kinh tế bằng cách thâu tóm nhiều dự án lớn, dự án trọng điểm và bằng mọi cách chúng luồng tuôn đủ loại hàng gian, hàng giả, hàng giá rẻ kém phẩm chất làm cho thị trường tiêu thụ rối loạn. Bằng nhiều thủ đoạn tàn ác, hiểm độc chúng cho xâm nhập thị trường đủ loại hàng tiêu dùng có tẩm hóa chất độc hại, gây mầm bệnh nhằm triệt hạ giống nòi.
Về văn hóa – xã hội: Sự bất ổn và phân hóa trong lòng xã hội bắt nguồn từ số đông người bị mất nhà, mất đất do vô số dự án trong đó có nhiều dự án của người Trung Quốc nhưng quyền lợi của dân chúng thường bị các cấp chính quyền xem nhẹ, cố tình lãng quên. Hố sâu ngăn cách giữa những người giàu bất chính và số đông người nghèo khổ lam lủ ngày càng khoét sâu, lan rộng là mầm móng làm phân rã tính truyền thống cộng đồng và tinh thần đoàn kết dân tộc. Khi ngầm ra lệnh đàn áp, cấm đoán biểu tình và trấn áp những tiếng nói bất đồng chính kiến, chính là âm mưu hữu hiệu nhất để dập tắt tinh thần yêu nước.
Về phương diện ngoại giao - bộ máy nhân sự nhà nước: khi Việt Nam mở rộng cửa tiếp đón các quốc gia phương Tây, Nhật Bản chúng ép Đảng, Nhà nước, Chính phủ không được ra thông cáo và tuyên bố những gì bất lợi cho chúng. Chúng còn can thiệp sâu vào chuyện nội bộ của chính quyền qua việc sắp xếp và bố trí nhân sự trong bộ máy nhà nước, những nhân vật nào có ý đả kích chống đối lại đường lối, chủ trương của TQ sẽ bị loại bỏ hoặc không còn được kiêm giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy chính quyền.
Vì sao tình hình đất nước lại rơi vào hoàn cảnh tiến thoái lưỡng nan như hiện nay? Có phải sự thật được ẩn giấu từ trong ánh hào quang của những chiến thắng: Điện Biên Phủ, Giải phóng miền Nam? Bởi những sự kiện lịch sử ấy đã gắn liền với các điều khoản được ký kết trong những bản hợp đồng vay mượn? Suy xét cặn kẻ mọi khía cạnh trong cuộc đời ta nhận thấy rằng, chẳng một ai hào phóng cho không bao giờ kể cả những nhà từ thiện, vì những nhà từ thiện có dư dã họ mới làm từ thiện hoặc dùng điều kiện để quảng bá tên tuổi, thương hiệu? Cho nên khi nói đến cái tinh thần quốc tế vô sản cũng chỉ là những kiểu nói lừa bịp thiên hạ? Vì sau khi đánh chiếm xong miền Nam cũng là đến lúc Trung quốc tính sổ nợ nần, mười sáu tấn vàng trong ngân khoản dự trữ của Việt Nam Cộng Hòa cùng với chiến lợi phẩm của cả miền Nam không bao giờ đủ để trả nợ cho Trung quốc, kể cả Liên xô cũ? Vì vậy khi đàm phán, Tổng Bí thư Lê Duẫn ra điều kiện giãn nợ thì Bắc Kinh yêu sách đòi cắt đất, nhượng biển khiến cho ông Lê Duẫn nỗi nóng kéo úp chiếu bạc tuyên bố xù nợ bằng động thái tuyệt giao với Bắc Kinh, đứng hẳn về phía Liên xô! Bắc kinh một phen bầm gan tím ruột ngày nào cũng ra rả trên sóng, đài phát thanh: “bọn Lê Duẫn, Trường Chinh những kẻ lừa thầy, phản bạn… sẽ quyết dạy cho Việt Nam một bài học”.
Với chiến lược: “đâm bị thóc, chọt bị gạo”, khoản tháng 9 năm 1976 Trung Quốc đã xúi giục đám Khơ-me đỏ khát máu (sau khi gây ra cuộc thảm sát đau thương tang tóc trên khắp đất nước họ với hơn một triệu người dân bản xứ bị giết hại và gần hai triệu người trốn chạy), đang say máu tràn sang biên giới đốt phá, hãm hiếp, giết hại kích hoạt nên cuộc chiến biên giới Tây Nam. Đồng thời dọc theo biên giới sáu tỉnh phía Bắc, ngày 17 tháng 02 năm 1979 Bắc Kinh xua 60 vạn quân ào ạt tràn sang đốt phá, san bằng làng mạc cướp bóc, giết hại dân thường. Tội ác này đáng bị nguyền rủa, lên án và ghi vào sử sách để luôn nhắc nhỡ các thế hệ con cháu nối tiếp không bao giờ quên? Thế nhưng ngược ngạo thay lại có một nghĩa trang tươm tất tôn thờ, tưởng nhớ những kẻ xâm lược nằm ngay trên lãnh thổ Việt Nam. Ngược lại vong linh của những dân quân, chiến sĩ ngã xuống giữ gìn cương thổ tổ quốc lại phảng phất không nơi nương tựa! Một dân tộc có hơn bốn ngàn năm văn hiến, một dân tộc luôn tự hào là anh hùng, trong quá khứ từng đánh bại nhiều đế quốc sừng sỏ nhưng nay lại khiếp nhược, cúi đầu trước kẻ xâm lược. Thật tủi hờn, nhục khí trước vong linh của Tiền nhân bao đời khó nhọc gầy dựng nên quê hương, xứ sở Việt Nam. Thảm thương thay cho một đất nước Văn Hiến có một bộ phận thiểu số ương hèn mà số phận của cả dân tộc khó thoát khỏi cảnh nô lệ. Vì hiểm họa xâm lăng, mất nước đang mỗi ngày một đến gần?
Vào tháng 7 năm 1988 không bỏ qua cơ hội khi khối Đông Âu và nội bộ Liên Bang Xô Viết rối ren, lực lượng hải quân Trung Quốc tiến sâu xuống vùng biển đông tiến chiếm thêm mấy đảo và một số bãi cạn trong quần đảo Trường sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Thời kỳ ấy, tuy dán cái mác Cộng sản nhưng trên thực tế Trung quốc vẫn được xem như đồng minh của Hoa kỳ nhờ vào những cuộc hội ngộ đi trong bóng đêm giữa hai Nhà nước lớn, dẫn đến việc bức tử Nhà nước nhỏ Việt Nam Cộng Hòa, một Quốc gia đã từng được chính những nước lớn ký kết công nhận ở hiệp định Giơ-ne-vơ ngày 20 tháng 7 năm 1954. Khi đặt bút ký kết hòa đàm Pari ngày 27 tháng 01 năm 1973 chính thức bỏ rơi đồng minh VNCH người Mỹ đã mật ước với phía Trung quốc: “Nếu xảy ra một cuộc đối đầu toàn diện, Trung Quốc sẽ không đứng về phía Liên xô …”. Vì vậy trong hai ngày 18 và 19 tháng 01 năm 1974, mặc dù đang có mặt ở vùng biển Thái Bình Dương không xa nơi xảy ra chiến sự nhưng Đệ thất hạm đội của Hoa Kỳ vẫn án binh bất động, cho dù có sự yêu cầu giúp đỡ của đồng minh VNCH nhưng Hoa Kỳ cũng làm ngơ để cho Trung quốc mặc nhiên chiếm trọn quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Như vậy có thể nói: khối cộng sản Đông Âu và Liên xô sụp đổ kéo theo sự tan rả của khối cộng sản quốc tế nhờ có công góp sức của Trung Quốc.
Sau sự kiện ngày 30 tháng 4 năm 1975, Việt Nam lại bị cuốn vào cuộc chiến biên giới cả Nam lẫn Bắc, vừa bị quốc tế cô lập vì các cáo buộc chiếm đóng trái phép đất nước Chùa Tháp, vừa bị Trung Quốc lấn át biển đảo. Tình hình kinh tế kiệt quệ vì hậu quả của các cuộc chiến tranh, mà phần lớn do nền kinh tế quan liêu, lạc hậu thời bao cấp để lại. Sự phát triển kinh tế thời kỳ này chỉ là những con số nhảy múa, biến hóa theo hệ thống tư duy lý luận chính trị; không tuân thủ theo nhu cầu thực tiễn của thị trường. Những hoạch định chính sách phát triển cũng không thể vượt ra ngoài tầm khuôn mẫu đã định sẳn và thường tuân theo những khẩu hiệu tuyên truyền hơn là một nền tảng kinh tế - chính trị bền vững. Tất cả những con số báo cáo: “đạt, vượt chỉ tiêu, kế hoạch” chỉ là những con số dối trá và giả tạo nằm trên mớ giấy lộn không một giá trị xác thực. Bởi vậy khi cơn địa chấn chính trị diễn ra nhanh chóng vào những năm 1989-1991, làm cho cả khối Đông Âu và Liên bang Xô viết chính thức sụp đổ, tan rả thì Việt Nam không chỉ mất hẳn chỗ dựa chính trị, thị trường kinh tế mà còn mất hẳn các khoản viện trợ lương thực, thực phẩm từ quốc tế cộng sản đã khiến cho cả tập đoàn hệ thống chính trị phải hốt hoảng khi đứng trước ngã ba đường: con đường đi thẳng tiến lên CNXH đang là ngỏ cụt, rẽ phải theo con đường Tư bản chủ nghĩa lo sợ không giữ vững nỗi chế độ trước làn sóng Dân chủ đang lan rộng và kết cuộc chấp nhận rẽ trái sà vào lòng gã hàng xóm mình mẩy trần trụi đầy lông lá nham hiểm và gian tham.
Cũng từ thập niên 1990 con Quỷ Trung Quốc hơn trăm năm ẩn mình bắt đầu hiện hình trỗi dậy vươn móng vuốt với thế giới và nhe nanh với Hoa kỳ rằng: “Đài Loan là một phần lãnh thổ không tách rời của nó”. Sự thiệt thòi của những quốc gia nhỏ yếu thường bị xếp đặt trên bàn cờ mặc cả chính trị bởi những nước lớn là không thể tránh khỏi? Quốc gia Đài Loan cũng là một nạn nhân nhưng vẫn còn may mắn hơn người anh em VNCH thời chiến tranh lạnh vì vẫn giữ vững được chủ quyền quốc gia? Khi nói đến người Đài Loan, ngạn ngữ Việt Nam có câu: “Hổ nào cũng là hổ”, ngụ ý nói người Đài Loan ngày nay cũng là người Trung Hoa di tản sau làn sóng nhuộm đỏ Đại lục của CNCS vào năm 1949. Thực ra không phải như vậy! Người Đài Loan ngày nay đã sáng suốt và dễ dàng nhận ra chân tướng của chủ nghĩa bành trướng được sản sinh từ chủ nghĩa cộng sản kết hợp với chủ nghĩa đại Hán và đang đẻ ra muôn vạn cái vòng kim cô nhằm khống chế tư tưởng mọi tầng lớp yêu chuộng dân chủ - tự do. Cho dù Trung quốc ngày nay có trỗi dậy mạnh mẽ, người dân Đại lục có mức sống cao hơn trước kia nhưng giá trị về nhân sinh, nhân quyền vẫn sẽ mãi mãi không có gì thay đổi? Vì vậy khó có thể xảy ra chuyện Đài Loan muốn sáp nhập hay trở thành một vùng lãnh thổ của Trung Quốc. Hơn nữa trên bàn cờ chiến lược, Hoa kỳ sẽ không dễ dàng đánh mất Quốc đảo Đài Loan và nước Nhật cũng sẽ bằng mọi phương cách ngoại giao thuyết phục chính quyền Đài Bắc không lệ thuộc để lãnh thổ rơi vào tay Trung quốc.
Thập kỷ 1980 của thế kỷ trước, Đài Loan là một quốc gia đầu tiên dám vượt qua mọi rào cản cấm vận để thiết lập nên mối bang giao hữu nghị toàn diện với Việt Nam và đã giúp Việt Nam giải hạn bằng một bài học vỡ lòng: “kinh tế thị trường” nhằm mục đích hợp sức chống lại kẻ thù chung trước mối lo ngại “Chính sách một Trung Quốc”. Mối quan hệ thương mại Đài - Việt thực sự được đẩy mạnh từ những năm 1990, nhiều Công ty, nhà máy nhỏ và vừa bỏ vốn đầu tư làm ăn tại Việt Nam. Kinh tế - thương mại hai chiều bước đầu giúp Việt nam vượt qua vấn nạn thất nghiệp, từng bước vực dậy nền kinh tế bao cấp lạc hậu. Đầu năm 1992 một Tập đoàn kinh tế lớn của Đài Loan cùng quan chức Chính phủ VN chính thức làm lễ động thổ khai trương Khu chế xuất Tân Thuận, quận 7, Tp.Hồ Chí Minh. Có thể nói Kcx Tân Thuận được hình thành đầu tiên trên cả nước đã mở đầu cho một “nền kinh tế thị trường định hướng xhcn?” trên đất nước Việt Nam. Sự phát triển tích cực nối tiếp là hàng loạt Khu công nghiệp, Khu kinh tế, Khu kỹ nghệ cao ra đời và mở rộng trên khắp các tỉnh thành dựa theo mô hình Khu chế xuất nói trên (đồng thời cũng nổi lên những nhóm cơ hội lợi dụng chính sách thu hồi, chiếm hữu đất đai của nông dân làm của riêng; trục lợi trên mồ hôi, nước mắt bao đời của những người nông dân đã dẫn đến việc bội thực KCN, KKT? Vốn đầu tư nằm chết dí trong những khu đất để hoang phế trong lúc người nông dân bị thu hồi đất không có đất canh tác, sản xuất). Suốt hai mươi năm kể từ năm 1990 cho đến năm 2010, Đài Loan là quốc gia dẫn đầu về vốn đầu tư lẫn kim ngạch xuất nhập khẩu.
Dưới sức ép của Trung quốc kể từ sau “Hội nghị thành đô”, tháng 9 năm 1990, quốc gia Đài Loan không được xem như một nhà nước độc lập mà chỉ là một vùng lãnh thổ thuộc Trung Quốc vì vậy việc thiết lập bang giao đã gặp nhiều trở ngại? Văn phòng Kinh Tế Văn Hóa Đài Bắc bị buộc phải chuyển đến địa chỉ số 336 Nguyễn Tri Phương, quận 10, Tp.Hồ Chí Minh! Trụ sở 175 Hai bà Trưng, quận 3 có kiểu dáng kiến trúc đặc trưng Á Đông vốn dĩ là Đại sứ quán Đài Loan dưới thời Việt Nam Cộng Hòa nay đã bị trưng dụng chuyển giao cho lãnh sự quán Trung Quốc chính thức tiếp quản và sử dụng từ năm 2013. Về nguyên tắc, trụ sở Tổng lãnh Sự quán, Sứ quán hay Tòa Đại sứ là tài sản riêng của mỗi quốc gia khi thiết lập bang giao và ở đó được xem như một lãnh thổ “bất khả xâm phạm”. Trong mối quan hệ ngoại giao dù có xảy ra bất đồng không thể thương lượng, trụ sở đó vẫn được giữ nguyên trạng không tự ý chiếm giữ hay phá bỏ. Vì vậy việc làm của Chính quyền Việt Nam càng chứng tỏ rõ động thái yếu hèn, khiếp nhược có một không hai trong lịch sử bang giao Quốc tế? Những việc làm trên đã khiến cho Chính phủ Đài Bắc bất nhẫn và phản ứng lại bằng việc mở rộng sân bay và cầu cảng trên đảo Ba Bình một đảo lớn nhất nằm trong quần đảo Trường sa thuộc chủ quyền của Việt Nam mà Đài Loan đã “giữ hộ” từ những năm 1956. Theo nhận định của cá nhân tôi việc thu hồi đảo Ba Bình từ lãnh thổ Đài Loan sẽ không khó khăn nếu biết dựa vào phương diện bang giao quốc tế khôn khéo, bình đẳng và dựa trên nền tảng chính trị của một nhà nước ổn định, bền vững. Nếu cứ cố tình dựa dẫm vào Trung Quốc thì nền tảng độc lập - tự chủ sẽ không vững vàng, chủ quyền lãnh thổ quốc gia bị đe dọa, tinh thần đoàn kết dân tộc ngày càng bị đè nén, mai một Việt Nam sẽ mất cả chì lẫn chày không thể nghĩ đến việc thu hồi Hoàng Sa, lẫn Trường Sa trong tương lai.
Khi Chính quyền Đài Loan và chính phủ Việt Nam thiết lập mối quan hệ giao thương vào thập niên 1980 mà việc hình thành Khu chế xuất Tân Thuận đầu tiên như nói trên là một điển hình. Trong cùng thời điểm một doanh nhân Hoa Kỳ gốc Hồng Kông cũng xin cấp phép đầu tư vào KCXLT nhưng vốn đầu tư hoàn toàn là của một tập đoàn kinh tế nhà nước Trung Quốc. Tập đoàn này mang danh nghĩa đầu tư trong lĩnh vực kinh tế đối tác kinh tế, thương mại nhưng thực chất đàng sau nó là cả một mạng lưới gián điệp vừa thu thập tin tức tình báo, vừa giám sát các mối quan hệ giao thương kinh tế với đảo quốc Đài Loan và các quốc gia có tuyên bố chủ quyền trên biển đông như: Việt Nam, Philippin. Malaisia… Mạng lưới phản gián VN khi phát hiện ra đây là một tập đoàn kinh tế trá hình, mọi việc đã chậm trễ! Cho dù chính quyền Thành phố lúc ấy cố tìm mọi cách ngăn trở, chuyển đổi đối tác nhưng không thành công: Vì bọn chóp bu trong chính quyền Trung Quốc đã ngang ngược trực tiếp nhúng tay vào, bởi hậu quả về một chế độ thần phục đã bắt đầu có hiệu lực trên toàn cõi đất nước Việt Nam kể từ sau Hội nghị thành đô vào ngày 04 tháng 9 năm 1990. Gần hai mươi lăm năm trôi qua, mối quan hệ chồng lấn trên phương diện kinh tế - chính trị nói trên có lẽ đã được giải tỏa vì nơi này hiện nay đang là một KCX ổn định, nền nếp?
Trở lại việc Trung quốc có những hành động ngang ngược xua cả một đội tàu hiện đại, hùng hậu hơn trăm chiếc trong đó có những tàu quân sự võ trang hộ tống hạ đặt giàn khoan HD 981 nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thểm lục địa của Việt Nam: “ đã khiến cho tất cả những ai là người Việt Nam dù trong hay ngoài nước đều phẩn nộ…”. Làn sóng biểu tình chống Trung quốc không chỉ có trong nước mà còn lan rộng trên khắp thế giới những nơi nào có người Việt Nam sinh sống. Nhưng còn nguyên nhân cuộc biểu tình của giới công nhân dẫn đến việc mất kiểm soát gây ra bạo loạn cách đây hơn một tháng vào hai ngày 13 và 14 tháng 5 năm 2014 ở các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Hà Tĩnh lại là một hệ lụy khác mà chính quyền địa phương lẫn giới truyền thông khẳng định do những phần tử lưu manh, côn đồ kích động lôi kéo. Theo nhận xét của cá nhân tôi, bản chất của vụ việc nói trên không loại trừ khả năng Trung quốc đã tương kế, tựu kế để nhằm phá vỡ mối liên kết giao thương Đài-Việt trong hiện tại và cả tương lai. Chính bọn Trung Quốc đã tổ chức, bỏ tiền mua chuộc, thuê mướn bọn lưu manh, đầu gấu, bọn du thủ du thực gây nên cuộc bạo động nói trên (và không biết chừng cái lũ lưu manh, côn đồ này chính là công cụ của chế độ thường núp dưới danh nghĩa quần chúng tự phát chuyên đàn áp, đánh đập những người biểu bình chống Trung Quốc trước kia, là công cụ bạo lực chuyên chính dùng để trấn áp người dân mỗi khi chúng phá nhà, cướp đất đẩy dân ra đường biến họ thành dân oan không nhà, cửa phải lê la diễu hành khắp đường phố để khiếu kiện đòi nhà, đòi đất).
Nếu thực sự cuộc biểu tình gây bạo loạn có tổ chức do chính bọn Trung quốc dàn dựng, chủ mưu; như vậy có thể nói lực lượng an ninh chìm nổi chỉ có tác dụng để trấn áp dân chúng, ngược lại vô hiệu hóa và mất cảnh giác đối với những âm mưu có tính chiến lược lâu dài như: “gây bất lợi cho nền kinh tế vốn đang phụ thuộc rất lớn vào dòng vốn của nước ngoài, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, mối thiện cảm của thế giới dành cho Việt Nam trong việc tuyên bố chủ quyền hợp pháp trên biển Đông”. Việc gây bạo loạn khiến cho chính quyền một mặt phải lo đối phó hướng sự chú ý trong nước, chi phối đến những chính đối ngoại và hướng dư luận đi theo một chiều hướng ngược lại với những gì đang diễn ra trên biển đông. Nhiều người cho rằng những kẻ đập phá, phóng hỏa do nhầm lẩn chữ viết Trung quốc và Đài Loan giống nhau? Nhưng thực chất việc tấn công này lại có chủ định, nhắm vào các doanh nghiệp Đài Loan để họ lo sợ không còn dám làm ăn với Việt Nam hoặc nếu có cũng ở mức hạn chế và chừng mực. Mưu đồ của Trung quốc không chỉ đơn thuần đánh vào môi trường đầu tư mà còn đánh vào mối bang giao thân thiện giữa Việt Nam - Đài Loan. Vì vậy thật dễ hiểu vì sao có đến 162 doanh nghiệp Đài Loan bị đập phá, bị phóng hỏa và cướp bóc trong cuộc bạo động nói trên. Với chính sách một Trung Quốc, việc Đài Loan có nhiều mối bang giao thân thiện, có nhiều dự án đầu tư với các nước đã đi ngược lại chính sách thâu tóm lãnh thổ Đài Loan của Trung quốc. Đồng thời Bắc kinh cũng đã đánh hơi nhận ra việc Đài loan giúp sức cho những quốc gia khác như Việt Nam phát triển kinh tế để thoát dần khỏi sự khống chế, kiềm tỏa và thôn tính của Trung quốc trong tương lai.
Với động thái kéo đặt giàn khoan HD 981 vào sâu trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền của Việt Nam; Trung quốc không những gây bất ổn trên biển đông mà còn lộ rõ tham vọng kiểm soát tuyến đường hàng hải Quốc tế, đe dọa nghiêm trọng đến an ninh, chủ quyền lãnh thổ của các quốc gia ven biển đông. Cho dù có hay không có Công hàm bán nước và những loại sách báo thiếu kiến thức thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thì Trung Quốc cũng không bao giờ từ bỏ bản chất tham vọng bá quyền hung hăng, ngang ngược bất chấp luật pháp quốc tế. Nhờ vào sức mạnh kinh tế, quân sự hiện có: Trung Quốc không những dễ dàng bắt nạt, thao túng các quốc gia nhỏ yếu mà còn tác động, chi phối lên các quốc gia lớn mạnh như Nga và cả Hoa Kỳ? Vì vậy cũng không khó hiểu khi Trung Quốc ngang ngược đánh bắt hải sản, giết hại Ngư dân ngay trong hải phận của Việt Nam và đỉnh điểm là việc kéo đặt giàn khoan HD 981 nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Thế nhưng lại có nhiều quốc gia kể cả Hoa Kỳ cũng luôn tuyên bố đây là vùng biển tranh chấp theo nguyên tắc phải giữ nguyên hiện trạng? Phải chăng Trung quốc đang có trong tay một loại tài liệu bí mật dựa vào những điều khoản đi đêm được ký kết với Hoa Kỳ trong các năm 1972 – 1973? Hay Hoa kỳ muốn tránh né dư luận quốc tế chất vấn: “Vì sao hạm đội 7 đang làm nhiệm vụ tại vùng biển Thái bình Dương không xa nơi chiến sự xảy ra lại bỏ mặc đồng minh VNCH để cho Trung Quốc ngang nhiên đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa vào hai ngày 18 và 19 tháng 01 năm 1974”?
Nếu Trung quốc đi nước cờ cao, bọn chúng sẽ nhượng bộ ngồi vào bàn đàm phán đồng ý rút lui giàn khoan HD 981 cùng đội tàu hộ vệ hơn trăm chiếc về nước! Lúc ấy nhà tù sẽ được rộng mở để tiếp đón những nhà bất đồng chính kiến, nhà giam sẽ được xây thêm cho những đoàn người biểu tình chống TQ vào tá túc. Cùng lúc tinh thần yêu nước bị dập tắt, bị khủng bố tàn bạo hơn, Luật Biểu tình sẽ không bao giờ có để người dân bày tỏ chính kiến và cơ hội đoàn kết để lên án bọn bá quyền xâm lược. Nếu sự nhận định này xảy ra, dựa trên toàn cục quan hệ chính trị quốc tế: Việt Nam sẽ tự đánh mất vai trò của một Quốc gia độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ. Nếu vẫn mang tư tưởng đeo bám, lệ thuộc vào Trung quốc Việt Nam sẽ tự cô lập và lại rơi vào vòng kiềm tỏa? Thế giới sẽ không còn kiên nhẫn để tin vào một Nhà nước lém lỉnh, ranh ma! Làm cho họ phải mệt mỏi, tốn phí thời gian để dễ dàng bị mắc lừa, lôi kéo vào cuộc để xem những màn hài kịch của cặp đôi hoàn hảo trong vở diễn: “hai nhà nước anh em cùng ý thức hệ…”. Chính quyền hiện nay vẫn mơ tưởng đến việc bọn xâm lược sẽ ban phát ân huệ về lòng tin chiến lược, vẫn đợi chờ vào lòng nhân của bọn hiếu chiến di dời giàn khoan ra khỏi vùng hải phận bị xâm nhập trái phép để giữ thể diện với bàn dân thiên hạ trong nước và nở mặt, nở mày trước thế giới rằng: “Trung Quốc chỉ đùa giởn cho vui…”? Sự thực bọn bá quyền Bắc kinh không dễ dàng bỏ qua cơ hội trong lúc Mỹ và Nga cùng đang vướng chân tại Ukraine và những bất ổn mới tại Syria, Iraq. Trung quốc lại đang mở thêm những mặt trận mới khi ồ ạt đưa thêm 4 giàn khoan dầu vào vùng Biển Đông trong đó có giàn khoan Nam Hải số 9 đang di chuyển tới gần vùng biển đặc quyền kinh tế thuộc quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Trãi qua nhiều triều đại phong kiến từ xa xưa cho đến tận ngày nay, bọn bá quyền phương Bắc không bao giờ từ bỏ giấc mộng thôn tính nước ta. Dân tộc ta chỉ được yên ổn, vui hưởng thái bình mỗi khi tình hình nội bộ của chúng có biến loạn, rối ren. Khi đất nước của chúng yên ổn, thịnh trị thì bọn chúng lại tìm cớ sang xâm lấn. Điển hình là tất cả những gì bọn chúng thực hiện trên khắp đất nước ta từ trước cho đến nay mà đỉnh điểm là giàn khoan HD 981 trên biển Đông! Trong xu thế thời đại hội nhập, toàn cầu hóa những người có chức trọng, quyền cao nếu có tâm huyết sẽ không thể ngồi yên nhìn đất nước trì trệ, lạc hậu. Nhà nước Việt Nam hãy chấm dứt việc tự đeo gông vào cổ và bắt dân mình phải đeo gông theo! Hãy dứt bỏ đi quá khứ lạc hậu, đói nghèo; mạnh dạn cải cách thể chế toàn diện để phát triển như Hàn Quốc, Nhật Bản ngày nay! Hãy giảm bớt chuyện nói tài, nói giỏi, nói nhiều hơn làm. Một nhà nước thịnh trị phải là một nhà nước biết lo cho sự an nguy của xã tắc, phải biết thương dân, lo cho dân và kính trọng dân, biết trọng dụng nhân tài, dám hy sinh từ bỏ quyền lực vì sự nghiệp chung. Một chính quyền vững mạnh là một chính quyền trong sáng, minh bạch không tham quyền cố vị, không vì lợi quyền riêng tư thu vén cá nhân, không xem nhẹ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của dân. Chế độ nào càng cố ôm chân bọn cướp nước chế độ đó chính là những kẻ bán nước, Nhà nước nào chủ trương dựa dẫm, lệ thuộc kẻ xâm lược nhà nước đó chính là những kẻ cõng rắn cắn gà nhà. Càng cố dựa dẫm, lệ thuộc vào chúng chừng nào thì cái ngày bọn xâm lược giày xéo lên đất nước, lên mồ mả ông cha, tổ tiên sẽ không còn xa. Chúng sẽ dẫm đạp lên đầu dân chúng lún sâu xuống tận đáy của sự bần cùng, khốn khổ và đưa đẩy đất nước, dân tộc đi đến chỗ mất nước, diệt vong.
BẬTMÍ TẦU CỘNG CÔNG BỐ HỒ CHÍ MINHCHÍNHLÀ THIẾU TÁ HỒ QUANG THUỘC QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN TRUNG QUỐC!
Báo Cương Sơn (冈山) loan tải hình Hồ Chí Minh tham gia đấu tranh chống xâm lược.(ghi chú: Hồ Chí Minh có chữ x màu trắng và dấu chấm đỏ)....Nguồn: Quân ủy Cương Sơn (CPC).
Thiếu tá Hồ Quang(Hồ Chí Minh)phục vụ trong Quân đội Nhân dân Giải phóng Trung Quốc, tại quân khu Quảng Châu, Vũ Hán.
Nguồn:Lưu trữ Quân ủy Trung ương Trung Quốc (CPC). 
Đề nghị làm sáng tỏ vụ việc: Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam hay Đài LoanTỘI ÁC HỒ CHÍ MINH VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Phạm Quế Dương (Danlambao) - Gần đây, dư luận sôi động về việc Đài Loan xuất bản cuốn sách “Tìm hiểu về cuộc đời Hồ Chí Minh” (Hồ Chí Minh sinh bình khảo), do nhà xuất bản Bạch Tượng Văn Hóa ấn hành ngày 01-11-2008. Tác giả là Hồ Tuấn Hùng, giáo sư đã từng dạy học hơn 30 năm, tốt nghiệp trường Đại Học Quốc Lập Đài Loan, khoa lịch sử. Người dịch ra tiếng Việt Nam là Thái Văn (không biết là người Việt Nam hay Trung Quốc).
Sách chủ yếu nói về Nguyễn Ái Quốc. Sau vụ án Hương Cảng, 1931 cụ sang Liên xô nhưng bị lao phổi và chết ở Liên xô từ năm 1932. Sau đó, Quốc tế Cộng sản phân công Hồ Tập Chương, người Đài Loan cùng hoạt động với cụ Nguyễn Ái Quốc thay cụ Nguyễn Ái Quốc làm cách mạng ở Việt Nam. Ông Hồ Tập Chương lấy tên là Hồ Chí Minh. Tác giả Hồ Tuấn Hùng là người Đài Loan và là cháu ruột của Hồ Tập Chương. Sách gồm 6 chương, dày 342 trang khổ 15x21 cm.
Nguyên văn lời tựa như sau:
“Thay lời tựa Màn đầu bóc gỡ tấm mạng che huyền bí Tấm mạng huyền bí che mặt Hồ Chí Minh”.
Các nhà lãnh đạo nổi tiếng trong lịch sử hiện đại, ít nhiều đều có những bí mật riêng giống như tấm mạng che mặt. Những bí mật này rất ít khi được công khai minh bạch, trong đó, Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của Việt Nam là một trường hợp điển hình. Cho dù hiện giờ đã là thiên niên kỷ thứ hai, kỹ thuật truyền thông hiện đại có mặt khắp nơi, Hồ Chí Minh yên nghỉ trong quan tài thủy tinh tại lăng Ba Đình Hà Nội đã bốn mươi năm, nhưng hoàn cảnh gia đình, lịch trình học tập, khả năng ngôn ngữ, lý tưởng động cơ cách mạng, thực trạng hôn nhân, quá trình hoạt động tại Quốc tế cộng sản, thậm chỉ ngày sinh và ngày mất cũng vẫn còn tồn tại rất nhiều nghi vấn. Mặc cho các tác giả viết truyện ký tìm mọi cách lắp ghép tư liệu, cuối cùng, vẫn không thể nào dựng lại được và trình bày một cách thuyết phục chân dung lịch sử Hồ Chí Minh.
Hai người này là một?
Nhà sử học Việt Nam, giáo sư Nguyễn Thế Anh, tiến sĩ văn học và nhân văn Đại học Sorbonne, Paris, Pháp, từng là giám đốc Đại học Thuận Hóa, chủ nhiệm khoa Văn Sử Đại học Sài Gòn, giáo sư thỉnh giảng Đại học Harvard Hoa Kỳ, chủ nhiệm khoa Lịch sử văn hóa Đông Dương, Đại học Sorbonne, đã dày công nghiên cứu về Hồ Chí Minh và có những kiến giải độc đáo. Trong tác phẩm "Con đường chính trị của Hồ Chí Minh", Nguyễn giáo sư từng nói:
"Cho dù không thiếu những tác phẩm viết về Hồ Chí Minh, cho dù ông đã mất từ lâu, nhưng vẫn còn tồn tại khá nhiều nghi vấn và mâu thuẫn trong cuộc đời nhân vật chính trị này. Do ông có thói quen che giấu quá khứ và những hoạt động của mình, cố ý xóa sạch các dấu vết, vì thế, mọi cố gắng tìm hiểu những chi tiết chân thực trong cuộc đời hoạt động của ông chẳng khác gì đứng trong đám mây mù vần vụ mà thưởng hoa vậy. Vì thế, ta chỉ có thể suy đoán mà thôi. Hồ Chí Minh có đến 3 cái tên giả, tự mình kể chuyện về mình đầy tràn sắc thái thần bí với nhiều sự hàm hồ, vô vàn tình tiết nghi hoặc, chẳng những không thể phân tích rõ ràng, mà còn bỗng nhiên tự tâng bốc mình với mục đích tuyên truyền cho sự nghiệp chính trị hoặc là một thánh nhân. Tuy vậy, các nhà sử học đã trường kỳ nghiên cứu, nỗ lực bóc gỡ dần lớp màn che phủ vốn làm chân dung Hồ Chí Minh bị biến dạng hoặc bị tô vẽ thái quá qua các tác phẩm truyện ký, chỉ có điều là vẫn chưa tìm ra điểm mấu chốt."
Nhà sử học Hoa Kỳ, giáo sư William J. Duiker, là một học giả trác việt chuyên nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Thời kỳ chiến tranh Việt Nam, William J. Duiker làm việc ở Đại sứ quán Hoa Kỳ, trước sau có gần ba mươi năm nghiên cứu về Hồ Chí Minh, đã được một số Quỹ và Hội học thuật Hoa Kỳ tài trợ. William J. Duiker cũng thông thạo các tiếng Anh, Pháp, Nga và Việt, đã vào đọc hầu hết các thư viện lớn nhỏ châu Á, châu Âu và châu Mỹ, trong đó có nhiều lần cùng đi với các quan chức chính quyền Việt Nam sưu tầm tư liệu có liên quan đến Hồ Chí Minh, và đã tìm được những tài liệu quý hiếm.
Vào năm 2000, William J. Duiker hoàn thành tác phẩm "Truyện Hồ Chí Minh", xuất bản bằng tiếng Anh, dày 700 trang, tuy nhiên chính ông cũng phải thừa nhận, không thể nào tìm được những tài liệu ở cơ quan đầu não, bởi luôn có sự ngăn cản việc tìm ra sự thật. William J. Duiker nói:
"Những tài liệu nằm ở Trung tâm Lưu trữ Hà Nội đều không cho người Việt Nam và người nước ngoài thâm nhập tìm hiểu, nghiên cứu. Cũng như vậy, ta không thể tìm những tài liệu có liên quan đến Hồ Chí Minh ở Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa. Nhà cầm quyền Trung Quốc và Liên Xô hầu như ít khi để lộ những thông tin thuộc loại này."
Học giả Anh Quốc Sophie Quinn- Judge cũng là một chuyên gia nghiên cứu về Hồ Chí Minh, từng được Quỹ Mike và Viện nghiên cứu Trung ương Đại học London tài trợ. Bà đã đến Việt Nam, các nước Đông Nam Á và Nga Xô, tìm được những chứng cứ mới nhất trong hồ sơ của Quốc tế cộng sản và tình báo Pháp làm cơ sở cho công trình nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Năm 2002, Sophie Quinn - Judge đã xuất bản tại London cuốn sách "Những năm tháng mất tích của Hồ Chí Minh, 1919-1941". Trong lời đầu, tác giả nói rõ, lấy "truyền kỳ về con người hai mặt" làm tiêu đề, bởi vì, đối với Hồ Chí Minh còn rất nhiều điều nghi vấn, đặc biệt tiêu đề chương sáu, dùng sự kiện "Chết ở Hương Cảng, mai táng ở Mạc Tư Khoa", coi đó là câu đố về chuyện sinh tử của Hồ Chí Minh, đồng thời đặt dấu hỏi nghi ngờ.
Vì ông Hồ Chí Minh cố tình che giấy tung tích của mình đã đưa đến nghi vấn ông có phải Hồ Tập Chương người Đài Loan hay không.Trong phần giới thiệu tóm tắt ở trang 6, Sophie Quinn-Judge viết: "Hồ Chí Minh tìm mọi cách để giấu đi quá khứ của mình. Nhiều năm qua, những thứ mà ông đã cung cấp toàn là loại "dật sự", thường là mâu thuẫn nhau, không mấy liên quan đến cuộc đời thực. Đầu tiên là tập tự truyện xuất bản vào năm 1949 tại Trung Quốc, năm 1950, được xuất bản bằng tiếng Pháp tại Paris, mấy năm sau lại xuất bản tại Việt Nam với nhan đề "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch".
Qua cuốn sách, người đọc biết rất rõ là, tất cả cái gọi là sự thật ấy đều do Hồ Chí Minh bịa đặt. (Tác giả nhận xét, "Truyện Hồ Chí Minh", bút danh Trần Dân Tiên, bản Trung văn, "Ba Nguyên thư ốc" Thượng Hải xuất bản năm 1949. Năm 1958, cuốn sách đổi tên là "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch", xuất bản bằng tiếng Việt tại Hà Nội).
Năm 1962, nhà Việt Nam học Bernard Fall phỏng vấn Hồ Chí Minh, có hỏi đến những chi tiết mập mờ trong cuộc đời của ông, Hồ Chí Minh trả lời: "Các ông già khi vui vẻ thường tự tạo ra cho mình một chút thần bí. Tôi cũng bắt chước người xưa làm ra vẻ thần bí một chút, chắc ngài có thể hiểu được". Việc này chẳng biết Bernard Fall có hiểu được hay không, nhưng William J. Duiker trong cuốn sách nổi tiếng "Truyện Hồ Chí Minh" đã viết: "Không khí thần bí bao bọc xung quanh Hồ Chí Minh luôn luôn được duy trì, chí ít ra là trong các tác phẩm tự truyện như thế này".
Hồ Chí Minh có phải đến từ Đài Loan?
Vì sao cho đến lúc qua đời Hồ Chí Minh vẫn không tự nói ra những bí mật của mình? Chấp nhận nằm trong quan tài thủy tinh để lại cho người đời biết bao câu hỏi nghi ngờ? Vì sao các tư liệu có liên quan đến Hồ Chí Minh trong hồ sơ lưu trữ tại các nước Pháp, Anh Quốc (bao gồm cả Hương Cảng), Mỹ... đến nay từng bước đã được giải mật, vậy mà nhà nước Việt Nam, Trung Quốc và Nga vẫn xếp vào loại tuyệt mật, cất giữ trong hòm kín? Các chuyên gia, học giả nghiên cứu về Hồ Chí Minh nhận thấy rất rõ, trong hồ sơ giản lược về cuộc đời ông, trước sau đều phát sinh mâu thuẫn, nhưng không biết làm cách nào tìm được cách giải thích hợp lý. Hàng loạt những sự kiện nghi vấn trên dường như tạo hứng thú cho người ta bỏ nhiều thời gian, công sức tìm tòi tư liệu để viết về thân thế Hồ Chí Minh. Việc này cũng giải thích vì sao, giới lãnh đạo cao cấp Việt cộng, Trung cộng và Quốc tế cộng sản, phàm là các sử liệu có liên quan đến Hồ Chí Minh, đều nhất loạt được che giấu, tô vẽ hoặc ngụy tạo.
Nhiều năm trước, một người bạn thương gia Đài Loan đã nói với tôi: "Hồ Chí Minh là người họ Hồ ở Miêu Lật, Đồng La, ông có biết không?". Tin đồn về Hồ Chí Minh thuộc Hồ tộc ở Miêu Lật, Đồng La đã hai lần tôi trực tiếp nghe được. Thông tin này làm tôi vừa nghi ngờ vừa phấn khởi. Đây phải chăng là dự báo về thân phận Hồ Chí Minh sắp được giải mật? Có một người họ Hồ, nhân viên Đảng vụ Quốc dân đảng, thuộc dân tộc Khách Gia Quảng Đông, sinh vào năm Dân Quốc thứ năm mươi, trong dịp về tế tổ họ Hồ ở Miêu Lật có hỏi thân phụ tôi: "Hồ Chí Minh với ông là như thế nào mà có tin đồn ông ta cũng là người Miêu Lật?" Một người nữa là thày thuốc họ Hà kể lại, năm 1945, ông đã theo quân đội Quốc dân đảng đến Hà Nội có nghe một người Hoa làm nghề buôn thịt lợn nói rằng, Hồ Chí Minh là người đến từ Miêu Lật, Đồng La, Đài Loan. Người anh họ của tôi cũng bảo: "Năm Dân Quốc thứ sáu mươi, anh cùng ông chú đến Bộ Ngoại giao Đài Bắc hỏi thăm tung tích Hồ Chí Minh (Hồ Tập Chương) cùng những vấn đề liên quan đến thân phận ông, nhưng không có được câu trả lời cụ thể". Thời gian gần đây tôi đã hai lần được nghe từ miệng một thương nhân Đài Loan ở Việt Nam nói rõ, Hồ Chí Minh là người Miêu Lật, Đồng La, nhưng không thể kiểm chứng được nguồn gốc thông tin, bởi không một lãnh đạo chóp bu nào của Việt Nam chịu tiết lộ bí mật.
Từ Việt Nam, tin đồn Hồ Chí Minh là người thuộc họ Hồ sinh quán ở Miêu Lật, Đồng La truyền về Đài Loan, khiến tâm trạng tôi vốn dĩ trầm lặng bỗng nhiên như cháy bùng lên. Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước Việt Nam là người Đài Loan! Như vậy, lời khẩu truyền được lưu trong ký ức gia tộc họ Hồ ở Miêu lật, Đồng La thực ra chẳng phải là bí mật của Ông Trời, vấn đề là, chưa tìm được chứng cứ đủ sức thuyết phục mà thôi. Trước đây ít năm, gia tộc có phát hành nội bộ cuốn sách "Giải nghĩa 'Nhật ký trong tù' của Hồ Chí Minh". Qua sơ bộ nghiên cứu tư liệu thì Hồ Chí Minh đúng là người họ Hồ ở Miêu Lật, Đồng La. Đại thể là, không có lửa làm sao có khói, chỉ tiếc sức lực có hạn, không tìm được chứng cứ để liên kết các sự kiện. Mấy năm nay, các loại sách báo, tranh ảnh lưu hành rất tiện lợi. Mạng Internet phát triển nhanh chưa từng thấy. Các sử liệu liên quan đến Hồ Chí Minh lần lượt xuất hiện. Tin đồn Hồ Chí Minh là người Đài Loan từng bước được lịch sử xác nhận qua các phương pháp giám định khoa học. Vì thế, để tìm hiểu xem Hồ Chí Minh có phải là người Miêu Lật, Đồng La, Đài Loan hay không, cần phải khẳng định hai sự kiện sau:
1 - Hồ Chí Minh thời kỳ (1890 - 1932) là Nguyễn Ái Quốc của Việt Nam. 2 - Hồ Chí Minh thời kỳ (1933 - 1969) là Hồ Tập Chương của Đài Loan.
Nói cách khác, truyền kỳ về Chủ tịch nước Việt Nam Hồ Chí Minh, nửa đời trước là lãnh tụ cộng sản Việt Nam Nguyễn Ái Quốc, nửa đời sau là nhân sĩ Quốc tế cộng sản Hồ Tập Chương đến từ Đài Loan. Hai người cùng có quá trình sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng đạt được những thành tựu trong cuộc đời hoạt động.
Nguyễn Ái Quốc là lãnh tụ sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, cũng là đại biểu Quốc tế cộng sản. Do đảng viên cộng sản Pháp Joseph Ducroix, bí thư Công hội Thái Bình Dương, Quốc tế cộng sản bị bắt tại Singapore, sau khi truy vấn, cảnh sát đã bắt được hai phái viên của Cục Viễn Đông Quốc tế cộng sản là Hilaire Noulens ở Thượng Hải và Nguyễn Ái Quốc ở Hương Cảng. Không may, vào mùa thu năm 1932, Nguyễn Ái Quốc trên đường trốn chạy từ Hương Cảng đến Thượng Hải bị mắc bệnh lao phổi qua đời.
Mùa hè năm 1929, Hồ Tập Chương từ Đài Loan đến Thượng Hải, được Cục Viễn Đông phái đến làm việc tại "Liên minh mậu dịch Thái Bình Dương". Cũng bởi có liên quan đến vụ án Hilaire Noulens, ông phải trốn đến Quảng Châu rồi lại chạy sang Quảng Tây, Xiêm La, cuối cùng về Hạ Môn. Đầu năm 1933, Hồ Tập Chương từ Hạ Môn đến Thượng Hải để đi Mạc Tư Khoa. Lúc này, chủ quản bộ phận Việt Nam Quốc tế cộng sản là Vera Vasilieva đặt kế hoạch cho Hồ Tập Chương 5 năm học tập cải tạo để biến thành Nguyễn Ái Quốc, nhằm phủ định sự thật Nguyễn Ái Quốc đã chết, thay thế ông này, bước lên vũ đài lịch sử, diễn vở kịch truyền kỳ Hồ Chí Minh "thật giả kiếp người".
Ông này là ai? Hồ Chí Minh hay Hồ Tập Chương người Đài Loan?
Hồ Chí Minh nửa đời về sau (1933 - 1969) là Hồ Tập Chương, người Đài Loan. Tuy nhiên, sự kiện động trời này chưa từng được lịch sử biết đến, khiến các cho các chuyên gia nghiên cứu hoặc độc giả có hứng thú với nhân vật Hồ Chí Minh vừa sửng sờ vừa nghi vấn. Các chứng cứ của luận điểm này? Độ tin cậy của thông tin như thế nào? Nguồn gốc của tư liệu ở đâu? Mối quan hệ nhân quả về thời gian, không gian và tính logic của vấn đề?
Về trình tự làm cuốn sách, trước hết là trình bày việc lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam và chết bởi bệnh lao phổi vào mùa thu năm 1932. Phần tiếp theo sẽ chỉ ra, Hồ Chí Minh và Nguyễn Ái Quốc không phải là một người, cuối cùng nói đến nửa phần đời sau của Hồ Chí Minh chính là Hồ Tập Chương đến Từ Đài Loan. Nội dung cuốn sách này hoàn toàn đảm bảo tính khách quan và tính hợp lý với mục đích chỉ để làm rõ một tiên đề giả thiết Hồ Chí Minh và Nguyễn Ái Quốc không phải là một người. Trong quá trình khảo cứu, tôi đã tìm hiểu, so sánh, đối chiếu cẩn trọng các tư liệu liên quan đến cuộc đời Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh, muốn làm một việc công bằng là trả lại sự thực vốn có cho lịch sử, đồng thời để tìm ra lời giải câu đố "Sự bí ẩn trong chuyện sinh tử của Nguyễn Ái Quốc". Từ sự bí ẩn về thân phận Hồ Chí Minh, tôi đề xuất 5 luận chứng đồng thời cũng là nhan đề của 5 thiên trong "Tìm hiểu cuộc đời Hồ Chí Minh" như sau:
1 - "Hài kịch tráo rồng đổi phượng" (Nguyễn Ái Quốc chết mà sống lại).
2 - "Ve sầu thoát xác, thật giả kiếp người" (Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh cùng lên vũ đài lịch sử).
3 - "Cuộc sống lưu vong phiêu bạt" (Hồ Chí Minh ở Liên Xô và Trung Quốc).
4 - "Khúc bi ca về tình yêu và hôn nhân" (Sự thật về tình yêu, hôn nhân của Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh).
5 - "Nhật ký trong tù và Di chúc" (Làm rõ khả năng Hán văn của Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh).
Từ cách nhìn lịch sử ở những góc độ khác nhau, lật lại sự kiện Nguyễn Ái Quốc chết bệnh vào năm 1932, và Hồ Chí Minh của năm 1933 là Hồ Tập Chương đến từ Đài Loan tiếp tục tiếp tục đăng đài thực hiện nhiệm vụ Quốc tế cộng sản giao phó, rất mong được các chuyên gia học giả cùng bạn đọc chỉ giáo.
Thời đại internet hiện đại, nên sách được loan tải trên mạng rất rộng rãi. Nhiều người đến trao đổi với tôi, hầu hết là những người từng trực tiếp tham gia kháng chiến, là bộ đội, là cán bộ tuyên huấn... Một số người phản đối, cho cuốn sách là bịa đặt, “đổi trắng, thay đen”. Một số người thì bảo chuyện này cũng đã được nghe từ lâu. Và tin lời tác giả. Họ dẫn chứng: năm 1957, cụ Hồ Chí Minh về thăm quê ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An mà không ra thắp hương mộ thân mẫu là cụ Hoàng Thị Loan. Năm 1945, khi bắt đầu làm Chủ tịch nước, bà chị là Nguyễn Thị Thanh ở quê ra thăm, cụ Hồ tránh mặt, không dám gặp, chỉ cử 2 cán bộ cao cấp tiếp.
Bản thân tôi rất kính trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh, tự hào đã 45 năm là “Lính Bác Hồ”, “Bộ đội Bác Hồ.” Khi làm Tổng biên tập báo Phòng Không-Không Quân, ba lần được tiếp xúc với Chủ Tịch khi Chủ Tịch thăm Quân chủng và trận địa tên lửa, viết bài về Chủ Tịch. Nhiều lần về thăm quê Chủ Tịch và thắp hương lễ mộ cụ Hoàng Thị Loan, vào Sài Gòn đến Cảng Nhà Rồng thăm nơi “Bác Hồ đi tìm đường cứu nước.” Nhiều lần vào lăng viếng Bác.
Kính mong nhà cầm quyền, Đảng và Nhà nước Việt Nam cử giới khoa học lịch sử làm rõ sự thật vụ việc này. Nếu tác giả bịa đặt thì đưa ra tòa án quốc tế xét xử, làm rõ sự thật.
Ngày 25/8/2013 Đ/C: 37 – Lý Nam Đế - Hà Nội ĐT: 627 00002 Nguồn: Tập san TỔ QUỐC số 164

Lại thêm tài liệu viết Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Trung Quốc
Bây giờ tôi lại vừa đọc tập tài liệu “Giặc Hán đốt phá Nhà Nam”, dày 141 trang khổ lớn của tác giả Huỳnh Tâm, cũng là người Trung Quốc, xác định Chủ Tịch Hồ Chí Minh là Hồ Tập Chương. Tài liệu viết: “Theo hồ sơ của nhà tù Hương Cảng, Nguyễn Tất Thành đang lâm nguy, bởi bị nhiều bệnh do trác tráng, say đắm phong trần làm cơ thể hao mòn, mang bệnh truyền nhiễm cấp độ cao hết thuốc trị liệu, có thể chết bất cứ giờ nào và nghiêm trọng hơn, ông ta mắc phải nghiện ngập với “Nàng tiên nâu”.
Năm 1932, Nguyễn Tất Thành qua đời tại nhà tù Hương Cảng, hưởng dương 40 tuổi (1892-1932). Người thân tên Hzyen Buhb (Hồ Vinh-Nguyễn Vinh) đến nhận xác và tất cả vật dụng cá nhân của tử tù và đem đi hỏa táng. Tro cốt vủa Nguyễn Tất Thành (mã số 00567) lưu trữ tại nghĩa trang Kuntsevo Moscow Rusian … Tài liệu này được lưu trữ tại nhà tù Hương Cảng.
Ghi chú gia phả và sự nghiệp của Hồ Tập Chương trong Hồ sơ HTC 4567 lưu trữ tại Quân ủy Trung ương (CPC) và tình báo Hoa Nam Trung Quốc như sau:
“Đương sự được đảng cộng sản Trung Quốc huấn luyện hơn một thập niên tại Học viện Hoàng Phố, Vân Nam.Việc đào tạo một điệp viên xuất sắc rất công phu và phải kiên nhẫn trước tình hình chính trị. Kết quả Trung Quốc dốc hết nhân lực, tài khí, tài vật lập ra một thế lực mới tại Việt Nam và tình báo Hoa Nam thổi lên một Hồ Chí Minh làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ”.
Kèm theo đó, tài liệu đưa ảnh chân dung mẹ Hồ Tập Chương, gia đình người Hẹ từ Đài Loan vừa di cư đến Hồng Kông và ảnh Hồ Tập Chương cùng em trai thời niên thiếu (nguồn ảnh: Tư liệu Đô Sảnh Hồng Kông và tình báo Hoa Nam).
Cuốn sách này còn có những dòng sau đây:
“Chúng ta cùng nhau khám phá một tài liệu hiếm có về việc “Trăm năm trồng người.” của Mao Trạch Đông chỉ thị cho Hồ Chí Minh thực hiện tại Việt Nam. Hồ Chí Minh hăng hái, đẩy mạnh việc giáo dục thiếu nhi lên hàng đầu, xem đó là một chân lý hoàn hảo một chiến lược dài hơi trong việc Hán hóa Việt Nam, và từ đó âm thầm đưa đất nước Việt Nam mỗi lúc một xa dần đặc tính của dân tộc mình …”
Khẩu hiệu “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người.” xuất hiện theo hướng dẫn của cộng sản họ Mao. Cùng lúc lấy thời gian che khuất dân trí Việt Nam, bằng cách đẩy mạnh chiến tranh. Một lần nữa họ Hồ hối hả mở cửa Aỉ Chi Lăng và lách qua biên giới mời Đảng Cộng Sản Trung Quốc tràn vào lãnh thổ bằng đường bộ, đường biển, v v… hậu động thủ hỗ trợ cho Hồ Chí Minh thực hiện tốt mệnh lệnh “Tiêu diệt kẻ thù không đồng chủng.”.
“Hồ vay nợ chiến tranh cao ngất trời, phải nhượng những phần đất cho Trung Quốc với tổng số trên 14 làng xã từ Tây Bắc qua Đông Bắc. Trung Quốc rất hài lòng với cách trả nợ của người vay nợ, đổ quân ào ạt vào Việt Nam, theo công bố tháng 11 năm 1968 của Nhà nước Trung Quốc.
Hồ Chí Minh xuất thân từ lò huấn luyện Hoàng Phố, thề trung thành với bản quốc, cúc cung phụng sự Quốc tế Cộng Sản, chấp nhận chiến dịch liên quân với Trung Quốc. Nhìn lại lịch sử thành lập ĐCSVN, bắt đầu từ lúc xây dựng lực lượng quân sự, Hồ Chí Minh là ai mà tự dưng có quân đội, vũ khí, tài chính, hệ thống tuyên truyền vv…nếu không phải do người Hán. Không có Trung Quốc thì lấy đâu ra người và vũ khí vì thuở ấy người Việt Nam theo cộng sản chẳng có mấy ai. Quân binh của Hồ Chí Minh hầu như là con số không, do đó, tất cả mạng sống đều được Trung Quốc bảo đảm, cung cấp và nuôi dưỡng”.
“Cho nên Mao Trạch Đông mạnh miệng lấy quyết định thay cho người chủ nhà tuyên bố, vì họ Hồ chỉ có hai bàn tay trắng: Hoa Kỳ đưa quân vào Việt Nam, đối với tôi được coi như cuộc xâm lược và tấn công biên thùy Trung Quốc”.
Điều này cho thấy Việt Nam đã mất chủ quyền từ lời tuyên bố của Mao Trạch Đông vào ngày 01/10/1965.
Tài liệu còn đăng tấm ảnh nhà ga Bích San với chú thích: ”Trước năm 1940 nhà ga Bích San thuộc lãnh thổ của Việt Nam, chính Hồ Chí Minh đã nhượng phần đất này cho Trung Quốc để đổi lấy viện trợ…”
“Nếu họ Hồ không phải là người Hán tất nhiên việc đi cầu viện sẽ về tay không. Đằng này mà mỗi khi ông ta chỉ xin viện trợ có một, tức thì lại được mười. Trung Quốc quá phóng khoáng trong viện trợ cho họ Hồ, dĩ nhiên trong tính cách phóng khoáng ấy phải theo quyết sách quốc gia”.
“Hồ Chí Minh vừa đến “Biệt điện” Bắc Kinh gỡ bộ râu cải trang, mặc áo bông nguyên Hán, ông ta khoe khoang với Chu Ân Lai về bộ râu và nhại : San trừ nhiêu râu rậm dung lực đích đã”. Hàm ý họ Hồ: Gỡ bỏ được râu, tất nhiên, đất nước Việt Nam gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi …”.
“Ngày 19/4/1961, Chu Ân Lai khẩn bách có mặt tại biên giới Việt Trung, triệu họ Hồ đến Cao Bằng báo cáo thành bại chiến trường.
Mùa xuân năm 1965, Hồ Chí Minh lại bí mật đi Trung Quốc, theo kế hoạch của tình báo Hoa Nam để gặp Mao Trạch tại quê nhà của Mao Trạch Đông ở Hồ Nam để xin ý kiến.
Tôi rất quí trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh, luôn tự hào 45 năm được làm “Người lính Bác Hồ”. Tôi đã nhiều lần vào Nghệ An thăm quê Bác và lễ mộ thân mẫu Bác. Đọc quyển sách của Hồ Tuấn Hùng đã rất bất bình. Nay lại đọc tập tài liệu này của Huỳnh Tâm tôi càng bức xúc. Tại sao Trung Quốc cho phổ biến công khai những tài liệu này! Ý đồ của họ là gì? Thời nay là thời đại thông tin, trẻ già trong nước ngoài nước rất nhiều người biêt, chắc hẳn bộ máy của Đảng và Nhà nước cũng phải biết rõ. Nhưng, sao lại lặng im vô trách nhiệm đến thế. Tôi đề nghị các vị lãnh đạo và cơ quan chức năng cần làm sáng tỏ và công bố rộng rãi để sự thực được bảo vệ và tôn trọng.
Hà Nội,ngày 10/6/2014
Phạm Quế Dương
"Hữu nghị viển vông" hay cúc cung phục vụ tỉnh Quảng Đông?
B. T. (Diễn Đàn) - Chúng tôi vừa nhận được, từ ba bạn đọc ở Hà Nội và Sài Gòn, bản chụp công văn số 1832/BNG/ đề ngày 03 tháng 6 năm 2014 của Bộ ngoại giao, do thứ trưởng Hồ Xuân Sơn ký tên, đóng dấu, liên quan đến "danh mục các công việc cần làm sau chuyến thăm Việt Nam của Bí thư tỉnh Quảng Đông Hồ Xuân Hoa".
 Công văn Bộ ngoại giao VN gửi các Bộ và UBND tỉnh, thành phố
Công văn nay được gửi cho: một là, "Các Bộ Công Thương; Kế hoạch và Đầu tư; Giao thông Vận tải; Giáo dục và Đào tạo; Tài chính; Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; Khoa học và Công nghệ; Văn hóa, Thể thao và Du lịch"; hai là, "Ủy ban nhân dân các tỉnh / thành phố: Hà Nội; Thành phố Hồ Chí Minh; Quảng Ninh; Hải Phòng; Quảng Nam; Đà Nẵng".
Đính kèm công văn (1 trang) này là "Danh mục công việc phải làm sau chuyến thăm Việt Nam của Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đông Hồ Xuân Hoa (13 - 17/4/2014)".
Dưới đây là toàn văn bản công văn :
"Ngày 20/5/2014, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc gửi Bộ Ngoại giao bản Danh mục các công việc cần làm sau chuyến thăm Việt Nam của Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư tỉnh ủy Quảng Đông Hồ Xuân Hoa (13 -17/4/2014).
"Để triển khai tốt các chương trình hợp tác giữa các Bộ/ngành, địa phương ta với tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, Bộ Ngoại giao xin chuyển đến Quý Cơ quan Danh mục này để tham khảo, đưa vào chương trình hợp tác của Quý Cơ quan với tỉnh Quảng Đông."
"Bộ Ngoại giao xin trân trọng cảm ơn sự phối hợp của Quý Cơ quan./."
Kèm theo là danh mục (hai trang) 16 "công việc phải làm" (xem hình kèm theo)
Để có một ý niệm cụ thể về công văn ký tên Hồ Xuân Sơn nhằm thực hiện ý muốn của Hồ Xuân Hoa, bí thư (hay tổng đốc ?) Quảng Đông, chỉ cần chép lại nguyên văn hai "công việc phải làm" số 1 và số 2:
"1. Thúc đẩy Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị và Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh Lê Thanh Hải thăm Quảng Đông.
"2. Trong khuôn khổ bồi dưỡng đào tạo cán bộ giữa hai Đảng Trung Việt, triển khai công tác đào tạo cho cán bộ Đảng Cộng sản Việt Nam. Kế hoạch trong 05 năm đào tạo 300 cán bộ Đảng Cộng sản Việt Nam ; trong đó Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh mỗi địa phương 100 cán bộ, 100 cán bộ của các tỉnh thành có quan hệ hợp tác với Quảng Đông nhiều như TP. Hải Phòng, Đà Nẵng, tỉnh Quảng Ninh, Quảng Nam".
Thiết tưởng mọi bình luận là quá thừa.Câu hỏi duy nhất đáng đặt ra: đây là công văn của "Bộ ngoại giao Việt Nam" hay là của Sở nội vụ tỉnh Quảng Đông?
B. T.
Hai phong thái cách biệt . Một đằng thì phong thái uy nghi , tự tin . Một đằng thì khúm núm , sợ sệt .
MỘT SỰ SO SÁNH KHÔNG HỀ NHẸ !
Hai lãnh đạo, 2 phong cách khác nhau.
Hình lượm trên mạng.
MƯỜI TỘI ĐẠI ÁC CỦA HỒ CHÍ MINH VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Lê Duy San Hồ Chí Minh tên thật là Nguyễn Tất Thành bút hiệu Nguyễn Ái Quốc, bí danh Lý Thụy thành lập đảng CSVN vào năm 1930 tại Hương Cảng. Hồ Chí Minh làm Chủ Tịch đảng còn Trần Phú là Tổng Bí Thư đảng. Ngày 17 tháng 8 năm 1945, một cuộc mít tinh của sinh viên công chức chính quyền Trần Trọng Kim được tụ tập tại trước Nhà hát Lớn thành phố Hà Nội để ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim vừa thu hồi chủ quyền vào ngày 11/3/1945 từ tay người Nhật. Hàng vạn người đứng đầy đường Paulbert (nay là phố Tràng Tiền). Người đi xem rất đông, trên bao lơn nhà hát lớn, cờ quẻ ly được kéo lên, mọi người hát vang bài Tiếng Gọi Thanh Niên và hoan hô chính phủ Trần Trọng Kim đã thu hồi được chủ quyền, độc lập cho Việt Nam. Họ hô to "Việt Nam độc lập muôn năm". Nhưng sau đó bọn CSVN lúc đó gọi là Việt Minh, đã biến buổi mít tinh này thành cuộc tuần hành thị uy của quần chúng cách mạng do Việt Minh điều khiển. Sau cuộc biểu tình, Việt Minh phân phát cờ đỏ sao vàng cho dân chúng để đón quân giải phóng (tức quân đội Cộng Sản VN) ở chiến khu về. Hàng ngàn người vào Bắc bộ phủ hô to đả đảo phát xít Nhật, hoan hô giải phóng quân và hô hào dân chúng đi chiếm các công sở. ![]() Ngày 19/8/1945, Hồ Chí Minh cùng đồng bọn đã đã tổ chức một cuộc biểu tình tại Nhà Hát Lớn Hà Nội. Sau đó một cánh tiến thẳng tới Phủ Khâm Sai, cơ quan đầu não của chính phủ Trần Trọng Kim, bắt giữ Khâm Sai Bắc Kỳ Nguyễn Xuân Chữ và cướp chính quyền của chính phủ hợp pháp Trần Trọng Kim. Ngày 2/9/1945, Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập tại quảng trưởng Ba Đình tại Hà Nội, tuyên bố nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Đảng Cộng sản Việt Nam đang từ họat động bí mật và bất hợp pháp trở thành một đảng cầm quyền trong đó có các tên: Hồ Chí Minh, Phan Anh, Vũ Đình Hòe, Đặng Thái Mai, Lê Văn Hiến, Trần Đăng Khoa, Hùynh Thiện Lộc, Hòang Minh Giám, Tạ Quang Bửu, Đặng Phúc Thông, Đỗ Đức Dục, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Chu Văn Tấn, Trần Huy Liệu, Hoàng Hữu Nam, Cù Huy Cận, Trần Công Tường, Nguyễn Khánh Toàn , Đặng Phúc Thông v.v… Kể từ đó, Hồ Chí Minh và đồng bọn đã gây ra không biết là bao nhiêu là tội ác cho dân tộc Việt Nam. I/ Tội ác thứ 1: Sát hại ngàn đảng viên của các đảng phái quốc gia. Sau khi cướp được chính quyền, ngày 6/3/1946, Hồ Chí Minh ký kết Hiệp Ước Sơ Bộ với Pháp, cho phép quân Pháp đổ bộ vào miền Bắc VN thay thế cho quân đội Trung Hoa (lúc đó đang hậu thuẫn cho VNQDĐ) để tước khí giới quân đội Nhật; nhưng thực ra là để cho Việt Minh rảnh tay tiêu diệt các đảng phái quốc gia nhất là VNQDĐ, một đối thủ không đội trới chung của chúng. Hồ Chí Minh và đồng bọn đã bịa đặt là : “Việt Nam Quốc dân Đảng và Đại Việt Quốc dân đảng nhờ có vũ khí do Trung Hoa Dân Quốcchuyển giao còn tổ chức các đội vũ trang mang tên "Thần lôi đoàn", "Thiết huyết đoàn", "Hùm xám" v.v... Các đội vũ trang này đã tổ chức nhiều vụ cướp có vũ trang, bắt cóc, tống tiền, tổ chức ám sát những người theo Việt Minh và cả những người trung lập như ông Ba Viên rồi tuyên truyền đổ lỗi cho Việt Minh… Không những thế, đầu tháng 6 năm 1946, Việt Nam Quốc dân Đảng còn tổ chức cho Nghiêm Xuân Chi (đảng viên Việt Quốc) ám sát một số lãnh đạo của Việt Minh như Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh và ông Bồ Xuân Luật, một người cũ của Việt Cách nay đứng về phe Việt Minh.” Với lý do trên, Hố Chi Minh đã chỉ thị cho Võ Nguyên Giáp tìm cách loại bỏ dần các đảng phái đối lập như Việt Quốc, Việt Cách, Đại Việt, những người Trotskist như Nguyễn An Ninh, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Hồ Hữu Tường, Ngô Văn v.v…, lực lượng chính trị Công giáo v.v... Một trong những sự kiện nổi tiếng nhất trong chiến dịch tiêu diệt các đảng phái đối lập này là Vụ án Phố Ôn Như Hầu(1). Võ Nguyên Giáp đã mượn bàn tay Pháp tàn sát những đảng viên của các đảng phái quốc gia. Võ Nguyên Giáp âm mưu tạo ra vụ án, vu oan cho tổ chức Quốc Dân Đảng là giết người chôn quanh căn nhà số 9 phố Ôn Như Hầu đã là một cái cớ để quân Pháp và Việt Minh tấn công vào các chiến khu của Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt Quốc Dân Đảng ở miền Bắc và miền Trung. Việt Minh cũng tấn công vào giáo phận Phát Diệm và bắt đi hàng ngàn giáo dân và giáo sĩ.(Ban Nghiên Cứu Lịch Sử Việt Nam, Santa Clara, CA, trang 386). Ngày 12/7/1946, theo lệnh của Trường Chinh, Việt Minh âm thầm cho công an đột nhập trụ sở Việt Nam Quốc dân Đảng ở số 9 phố Ôn Như Hầu. Hằng trăm người bị giết bằng cách trói lại và bị quăng xuống những con sông để họ chết chìm rồi loan tin là những người này bị VNQDĐ thủ tiêu. Vụ này đã làm cho VNQDĐ tan rã, nhiều người phải chạy trốn sang Tầu trong đó có cụ Nguyễn Hải Thần (2), Hùynh Thúc Khánh, Vũ Hồng Khanh, Hòang Đạo (3), Nhất Linh Nguyễn Tường Tam và nhiều lãnh tụ của Việt Quốc và Việt Cách khác. Hàng ngàn người khác bị chúng bắt đem di giam giữ tại Hỏa Lò Hà Nội và nhiều nơi khác trong đó có nhà văn Khái Hưng Trần Khánh Giư (4). Ngày 19/12/1946, chiến tranh Việt Pháp bùng nổ. Vì không thể mang theo những người chúng giam giữ ở Hỏa Lò (sợ bị cản trở) nên chúng đã đem tất cả tù nhân ra ngòai đường tàn sát hết trước khi rút lui giống như vụ chúng đã tàn sát trên 5,000 thường dân vô tội trong biến cố Tết Mậu Thân 1968 tại Huế. Sau khi vãn hồi được trật tự, quân đội Pháp đã gom tất cả các xác chết này cùng với những người dân thường bị lạc đạn chết đem chôn chung trong một nôi mộ lớn trên một con đường nhỏ cạnh tòa án nằm trên đường Lý Thường Kiệt làm bít luôn con đường này. II/ Tội ác thứ 2: Sát hại cả trăm ngàn nông dân, địa chủ phú hào. Với chủ trương TRÍ, PHÚ, ĐỊA, HÀO – ĐÀO TẬN GỐC, TRỐC TẬN RỄ, Hồ Chí Minh và bọn lãnh đạo đảng CSVN sau khi cử người đi Liên Sô và Trung Cộng học tập đã phát động phong trào Cải Cách Ruộng Đất với mục đích không những để tiêu diệt giới địa chủ mà còn để bần cùng hóa người dân. Nhiều nông dân có dăm sào ruộng cũng bị liệt vào hàng địa chủ để phải chịu đấu tố đến vong mạng. Phong trào CCRĐ được phát động từ năm 1951 với Sắc Luật 42/SL ngày 1/7/1951được tạm ngưng vào giữa năm 1954 khi hiệp định Genève được ký kết vì ngụy quyền Hà Nội phải lo đón tiếp hơn 50,000 bộ đội miền Nam tập kết ra Bắc, phải đối phó với phong trào di cư và cuộc biểu tình đòi di cư của người dân vùng Ba Làng (Thanh Hóa) và cũng để trấn an phần nào lòng dân đang căm phẫn. Phong trào CCRĐ này được tiếp tục vào cuối năm 1955 (khi Hải Phòng hòan tòan thuộc quyền kiểm sóat của CSVN) và mãi tới cuốn năm 1956 mới được chấm đứt. Hình ảnh tòa án Nhân Dân để đấu tố địa chủ Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường, trả lời báo Quê Mẹ khi ông du lịch sang Pháp sau năm 1975, đã nói: “Trong lịch sử Việt Nam từ hồi lập quốc đến nay chưa có một cuộc thanh trừng giết dân nào khủng khiếp tàn bạo như cuộc CCRĐ. Hầu như mọi cuộc đấu tố đều có sự nhúng tay của cố vấn Trung cộng. Điều đó cho thấy chính quyền HCM lệ thuộc ngoại bang như thế nào” (Người Việt ngày 7-9-2004). Nhà thơ Tố hữu nổi tiếng với bài thơ “Khóc Stalin” đã cổ võ cho phong trào CCRĐ như sau: “Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong Cho đảng bền lâu,cùng rập bước chung lòng, Thờ Mao chủ tịch, thờ Sít-ta-lin bất diệt”. Tố Hữu Nhà thơ Xuân Diệu cũng cổ võ với mấy câu thơ tương tự: ” …Địa hào, đối lập ra tro Lưng chừng, phản động đến giờ tan xương Thắp đuốc cho sáng khắp đường, Thắp đuốc cho sáng đình làng đêm nay Lôi cổ bọn nó ra đây Bắt quì gục xuống, đọa đày chết thôi” Xuân Diệu Theo báo cáo chính thức của viện Thống Kê Hà Nội thì số người vứa bị giết vừa bị đầy ải cho đến chết là 172,000 người. Theo nhà báo Bùi Tín, cựu Phó Tổng biên tập nhật báo Nhân Dân của đảng CSVN, cho biết con số nạn nhân ít nhất phải lên đến nửa triệu bao gồm nạn nhân bị hành huyết độc đoán tại hiện trường qua quyết định của Tòa án nhân dân và những người thân của nạn nhân. Những người này bị đuổi ra khỏi nhà, tài sản bị tịch thâu, không có quyền làm việc, bị mọi người xa lánh vì sợ bị liên lụy với giai cấp địa chủ, lần lượt chết vì bịnh tật và vì đói rét do chế độ quản lý hộ khẩu. Vì thế có người còn nói đây là tội ác giệt chủng của Hồ Chí Minh và đảng CSVN giống như bọn Khờ Me đỏ đã gây cho dân tộc Khờ Me vào những năm 1975, 1976, 1977. Rất nhiều cán bộ cao cấp và phú hào có công với kháng chiến cũng bị kết tội cường hào ác bá, hoặc tội tham gia trong các tổ chức phản động như VN Quốc Dân Ðảng chẳng hạn trong số này có bà Cát Hanh Long, (5) một người có công lớn với cuộc kháng chiến chống Pháp cũng bị đấu tố và bị giết chết. III/ Tội ác thứ 3: Tàn sát cả ngàn người trong vụ “ Quỳnh Lưu Khởi Nghĩa” Sau cái gọi là Nghị quyết sửa sai của đảng CSVN về những đợt cải cách ruộng đất đẫm máu, các nạn nhân đã tìm những cán bộ thanh toán món nợ máu. Các đảng viên CS được thả về từ nhà tù, được khôi phục quyền hành, khôi phục đảng tịch, cũng liền tìm đến ngay các đồng chí đã vu cáo họ để trả thù Dân chúng đã dùng ngay chính sách sửa sai của CSVN để đòi lại chồng con đã bị giết oan uổng, tài sản đã bị cưỡng đoạt bất hợp pháp và đòi quyền được di chuyển tự do vào Nam như đã ghi trong Hiệp định Geneve 1954. Hồ Chí Minh đã phải chính thức ra lịnh đình chỉ mọi vụ hành quyết các địa chủ vào tháng 10 năm 1956. Và để xoa dịu lòng dân, đảng CSVN cũng đã thả khỏang 12,000 người còn sống trong tù vì bị kết tội địa chủ, cường hào ác bá (trong số này nhiều người bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành). Nhiều vụ nổi dậy, bạo động lớn nhỏ đã xảy ra sau đó. Vụ dân chúng nổi dậy lớn nhất là vụ “Quỳnh Lưu Khởi Nghĩa” ở Nghệ An vào đầu tháng 11 năm 1956. Theo Cẩm Ninh, tác giả bài “ Quỳnh Lưu Khởi Nghĩa” thì đây là “Một cuộc đấu tranh đẫm máu chống lại chính sách cai trị dã man của lãnh đạo CSVN, mà qua đó, chính sách Cải Cách Ruộng Ðất đã là nguyên nhân chính làm bùng nổ cơn phẫn nộ của người dân.” Các bần cố nông trót nghe lời đảng vu cáo bậy nay sợ bị trả thù cũng vội vàng chạy ra thành phố để lánh nạn khiến số dân ở Hà Nội, Nam Ðịnh đột nhiên tăng lên gấp bội. Bầu không khí căm thù ở nông thôn cũng lan ra thành phố, ảnh hưởng đến giới công nhân, tiểu tư sản, sinh viên và trí thức. Một số đã lên tiếng chống đảng qua phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, làm đảng CSVN rất lo sợ. Toàn thể nhân dân tỉnh Nghệ An, gồm đủ mọi thành phần giai cấp ở các xã Quang Trung, Tân Nho, Diễn Tân, Vạn Kim, Diễn Ðức, Diễn Ðông, Diễn Nguyên, Minh Châu, Ðức Vinh, Hồng Thăng, Ðại Gia, Yên Trung đã mở 1 đại hội để tố cáo những chính sách cai trị tàn ác của chế độ CSVN. Ngày 10/11/1956, khoảng 10,000 nông dân đã mở đại hội lần thứ hai tại xã Cẩm Trường để bàn thảo về những ngày tới. Nhưng ngay lúc đó, CSVN đã điều động 2 đại đội chủ lực và 1 đại đội công an võ trang huyện Diên Châu về xã Cẩm Trường để giải tán đại hội nông dân. Bạo động đã xảy ra. Tiếng súng và lựu đạn nổ vang trờị, mặc dù tay không nhưng khí thế quần chúng rất mạnh, những người phía sau đã tràn lên thay cho những người gục ngã phía trước giống như cuộc cách mạng 1789 ở Pháp. Cuối cùng, dân chúng đã bao vây đồn bộ đội, công an. Vào giữa đêm, CS đã phải đưa thêm 2 trung đoàn về bao vây 10,000 nông dân tại xã Cẩm Trường. Dưới cơn mưa phùn cuối đông, một trận địa đã diễn ra giữa 10,000 nông dân và 2 vòng trong ngoài đầy những công an và bộ đội. Tờ mờ sáng này 11/11/56, các bà mẹ đã đánh trống, mõ kêu gọi dân chúng quanh vùng đến tiếp cứu. Xã Diễn Châu như bị động đất. Rồi 30,000 nông dân kéo đến vây phía ngoài 2 trung đoàn chính quy của CS, trở thành 1 vòng bao vây thứ tự. Cuộc nổi dậy bộc phát quá lớn, quá mau, đã đi ra ngoài sự tiên liệu của cả 2 bên. Rạng ngày 13/11/1956, 1 cuộc biểu tình vĩ đại với sự tham gia của gần 100,000 đồng bào tỉnh Nghệ An. Bài hát Quỳnh Lưu KhởiNghĩa đã được truyền đi khắp nơi, hoà với những đợt trống, mõ vang lên liên tục: Anh đi giết giặc lập công Con thơ em gửi mẹ bồng Ðể theo anh ra tiền tuyến Tiêu diệt đảng cờ Hồng Ngày mai giải phóng Tha hồ ta bế ta bồng con ta. Trước tình hình này, Hồ Chí Minh ra lịnh cho Văn Tiến Dũng điều động Sư đoàn 304 từ Thanh Hóa vào baovây. Và Ngày 14/11/1956, Văn Tiến Dũng huy động thêm Sư đoàn 312 vào trận địa quyết tiêu diệt nhân dân Quỳnh Lưu. Khi vòng đai thứ 7 thành hình, Hồ Chí Minh ra lịnh tiêu diệt cuộc nổi dậy có 1 không 2 trong lịch sử đấu tranh chống VC. Con số thương vong bị Việt Cộng dấu kín, nhưng theo những người dân Qùynh Lưu còn sống sót cho biết thì số người bị giết ít nhất cũng cả ngàn người và số người bị bắt cho đi tù ít nhất cũng trên 6,000 người. IV/ Tội ác thứ 4: Khủng bố giết hại hàng chục ngàn dân lành. Suốt thời gian cuộc chiến từ 1945 đến 1975, Việt Cộng và bè lũ đã sát hại không biết bao nhiêu là dân lành vô tội và những người mà chúng nghi có liên hệ với chính phủ quốc gia bằng cách bằng cách đêm đêm tìm đến để sát hại. Chúng cho đào đường đặt mìn, đắp mô và pháo kích bừa bãi vào Saigòn và các thị xã của các thành phố miền Nam. Chúng cho nổ mìn tại các nhà hàng, vũ trường, quán ăn. Điển hình là vụ VC khủng bố bằng cách cho nổ mìn tại nhà hàng nổi Mỷ Cảnh và Vũ trường Tự Do tại Saigon và quán Đỏ ở thị xã Bạc Liêu vào năm 1965 làm chết cả chục người và cả trăm người khác bị thương. Dã man nhất là vụ pháo kích vào trường tiểu học Cai Lậy. Hình ảnh các em học sinh nằm chết la liệt tại sân trường Ngày 9 tháng 3 năm 1974 khỏang 3giờ chiều, đúng lúc các em học sinh đang trong giờ ra chơi, Việt Cộng đã pháo kích đạn cối 82ly vào trường tiểu học Cai Lậy, tỉnh Định Tường, giết chết 32 em học sinh và làm 43em học sinh khác bị thương. Để tưởng niệm các em học sinh này và cũng để kể tội ác Việt cộng đã sát hại những em học sinh vô tội, nhà trường có làm một tấm bia đá dựng ngay trong sân trường. Sau ngày 30/4/1975, VC đã đập phá, thủ tiêu chứng tích tấm bia lịch sử này. Đây không phải là vụ duy nhất Việt Cộng pháo kích vào trường học để sát hại các em học sinh vô tội để khủng bố dân lành vô tội. Vào năm 1972, Việt cộng cũng đã pháo kích vào Trường Tiểu Học Cộng Đồng Song Phú quận Bình Minh tỉnh Vĩnh Long (gần Chi Khu Biệt Lập Ba Càng) giết chết nhiều em học sinh thơ dại. Nhưng vụ pháo kích dã man nhất, vô nhân đạo nhất và khủng khiếp nhất là vụ pháo kích vào đòan người chạy trốn Cộng Sản khi Việt Cộng tổng tấn công đợt 2 vào mùa hè năm 1972 còn gọi là mùa hè Đỏ Lửa. Năm 1972, khi Cổ Thành Quảng Trị bị mất vào tay Việt Cộng, người dân tỉnh Quảng Trị lo sợ trước viễn tượng một cuộc thảm sát dân lành tương tự như cuộc thảm sát trong biến cố Têt Mậu Thân 1968 ở Huế, nên dân chúng cả tỉnh Quảng Trị đã bồng bế nhau trốn chạy vào Huế qua quốc lộ 1. Một đòan người đông như kiến cỏ dài hàng chục cây số trên quốc lộ 1, chỉ cần một cái ống nhòm bình thường nhìn vào, ai cũng biết là dân chúng đang chạy lọan. Vậy mà bọn Việt Cộng cũng vẫn dùng súng cối 61 ly, 75 ly, B40, B41 v.v… (6) pháo suốt ngày đêm vào đòan người chạy lọan. Cả một đọan đường dài hàng chục cây số, xác người chết ngổn ngang, người nọ chồng lên người kia, máu chảy đỏ thẫm cả mặt đường. Báo chí đã gọi đọan đường này là Xa Lộ Kinh Hòang. Hình ảnh thường dân bị pháo kích chết nằm la liệt trên quốc lộ 1 Theo đài RFA, "Vào lúc đó (30/4/72 ?), bộ đội cộng sản đã bắn trực diện vào dòng người chạy loạn trên quốc lộ 1 đoạn từ thị xã Quảng Trị cũ qua Hải Lăng tới Huyện Phong Điền. Hàng chục ngàn thường dân đã chết trên đoạn đường này, và cái tên Đại lộ Kinh Hoàng được nhắc tới từ ngày đó". V/ Tội ác thứ 5: Sát hại trên 5,000 thường dân vô tội trong Tết Mậu Thân 1968. Sáng sớm ngày 31 tháng 1 năm 1968, lợi dụng hưu chiến trong dịp Tết Nguyên Đán, Quân đội Cộng Sản Hà Nội và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, con đẻ củaCộng Sản Hà Nội đã bất thình lình tấn công tại nhiều thành phố của miền Nam Việt Nam, trong đó cóSài Gòn và Huế. Chúng chiếm được Huế và tưởng là đã “giải phóng” vĩnh viễn được thành phố này nên Lực Lượng Cách Mạng Huế cùng với Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình của Lê văn Hảo đã họp hội nghị để thành lập một Chính Quyền Cách Mạng, với mục đích tổ chức việc quản trị thành phố và chuẩn bị chống lại sữ phản công của quân đội VNCH. Ngày 15 tháng 2 năm 1968 Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Thừa Thiên Huế được thành lập và Lê Văn Hảo đảm nhiệm chức vụ chủ tịch.” Sau khi Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Thừa Thiên Huế được thành lập, chúng ra thông cáo yêu cầu tất cả các quân cán chính của chính quyền VNCH phải ra trình diện rồi bắt giữ họ. Chúng cho những tên cộng sản nằm vùng như an hem Hòang Phủ Ngọc Tường, Hòang Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân v.v…đi lùng bắt những người trốn tránh không chịu ra trình diện và những người chúng nghi là thành phần “phản động. Nhiều người bị giết ngay tại nhà, trước ngõ hoặc trên đường phố và được chúng chôn ngay tại chỗ. Việt Cộng tập trung đồng bào Huế để tìm bắt quân nhân và công chức VNCH Trong 28 ngày chiếm giữ Huế, bọn Việt Cộng (bộ đội Bắc Việt và quân đội Gỉai Phóng Miền Nam) ngày nào cũng đi lùng bắt giết các quân nhân VNCH nghỉ phép về nhà ăn Tết và viên chức của VNCH. Những người dân thường không theo chúng, chúng cũng bắt và giam giữ tại nhiều nơi khác nhau. Số người bị bắt giam vào khỏang gần 10,000 người. Khi quân đội VNCH phản công và tái chiếm thành phố Huế, để dễ dàng và an tòan cho cuộc rút lui, chúng đã bắt những người dân mà chúng đang giam giữ, đào những hầm hố lớn, nói là, nói là để làm hầm trú ẩn. Đào xong, chúng xả súng bắn vào họ rồi lấp đất chon họ luôn.Nhiều người chưa chết, chúng cũng chôn luôn. Một hầm chôn tập thểở Huế được khai quật Sau khi quân đội VNCH tái chiếm được Huế, do sự chỉ dẫn của dân chúng, người ta đã khám phá được gần 100 hầm hố chôn người. Có hố chôn 5, 3 người, có hố chôn một vài chục người. Còn hầm thì chôn ít nhất cũng có cả trăm người. Tổng cộng số xác chết vào khỏang hơn 5,000 người, chưa kể hơn 2,000 người mất tích (7). Nhiều nạn nhân bị trói hai tay và bị bắn vào đầu. Có thể nói đây là vụ người dân VN bị Việt Cộng tàn sát tàn bạo và dã man nhất trong cuộc chiến Việt Nam (1955-1975) VI/ Tội ác thứ 6: Cướp tài sản của nhân dân miền Nam sau năm 1975. Sau tháng 4 năm 1975, đảng CSVN đã cướp 16 tấn vàng của Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam tức của nhân dân miền Nam đem về Bắc chia nhau. Ngòai ra với những chính sách đổi tiền, mỗi gia đình chỉ được phép đổi có 100 ngàn đồng tiền VNCH để lấy $200 tiền VC cũng như chính sách đánh tư sản mại bản, cải tạo công thương nghiệp, chính sách kinh tế mới, cho đi vược biên bác chính thức, đảng Cộng Sản VN đã cướp trắng trợn không biết là bao nhiêu vàng bạc, của cải, nhà cửa của đồng bào miền Nam và cũng kể từ đó, đảng Cộng Sản Việt Nam đã được nhân dân miền Nam gọi là đảng Cướp, thật không sai chút nào. Ngày nay chúng (bọn CSVN) còn cướp cả đất đai của các tôn giáo như Công Giáo, Phật Giáo, Cao Đài, Hoà Hảo, Tin Lành v.v…và đất đai của nhân dân cả hai miền Nam, Bắc vì thế mới có những vụ giáo dân xứ Thái Hà biểu tình phản đối ở Hà Nội, giáo dân Tam Tòa mit tinh cầu nguyện ở Vinh, vụ dân oan khiếu kiện ở Saigon v.v…Ngay cả những người đã nghe theo lời dụ dỗ của bọn chúng, đem tiền về làm ăn, chúng cũng không tha như Trần Trường ở Orange County, Nguyễn Gia Thiều, chồng Hoa Hậu Hà Kiều Anh, ở Pháp, Trịnh Vĩnh Bình ở Hà Lan, vụ Bát Nhã Làng Mai ở Lâm Đồng, Nguyễn thị Vân ở Úc, v.v…Nhiều người còn bị chúng bỏ tù trước khi cướp hết sạch tài sản. VII/ Tội ác thứ 7: Giam giữ bất hợp pháp cả 100,000 quân dân miền Nam. Sau khi cưỡng chiếm được miền Nam Viêt Nam, bọn Việt Cộng đã bắt cả trăm ngàn quân cán chính của VNCH đi “học tập cải tạo” thực chất là đi tù không thời hạn. Có nhiều người đi tù tới 17 năm mới được thả về. Cả chục ngàn người đã chết trong trại “Cải tạo” vì bệnh tật, vì đói khát, vì bị hành hạ cả về thể xác lẫn tinh thần. Thực ra mục đích của Việt Cộng khi đưa ra chính sách này là muốn cô lập những người mà chúng coi là nguy hiểm cho chế độ. Hình ảnh của một trại “Học Tập Cải Tạo” Theo sự ước tính của các nhà nghiên cứu đáng tin cậy và đã được phổ biến thì có vào khỏang 150 trại tù "cải tạo” và con số tù “cải tạo” (8) vào khỏang 150,000 người (tính trung bình mỗi trại tù 1,000 tù nhân). Có những nạn nhân đã bị giam giữ tới 17 năm, và theo Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ thì đại đa số nạn nhân bị giam giữ từ 3 tới 10 năm. Anh Trần Mộng Lâm, một người phải đi “học tập cải tạo“ cho biết như sau: “Sau 1975, chúng tôi, các quân nhân, công chức của Việt Nam Công Hoa bị “phe thắng trận” đưa vào trong các trại trừng giới gọi là Trại Học Tập Cải Tạo. Bỏ ra ngoài những sự hành hạ, trả thù, hay sát hại dã man, trên lý thuyết, mục đích của sự tập trung này là một cuộc tẩy não, để chúng tôi “tiến bộ”. Cuộc tẩy não gồm có 10 bài học. Để cho những ai chưa có cơ hội tham dự cuộc tẩy não này, tôi xin trình bầy vắn tắt như sau : Mấy trăm tên tù (trong trại của tôi, khoảng gần 500) được đưa vào một hội trường để nghe các thuyết trình viên trình bầy mỗi kỳ là một đề tài (thường là 1 tuần lễ cho một đề tài). Học xong, về trại, chúng tôi phải họp tổ (mỗi tổ gồm 10 người) rồi thảo luận chung với nhau về đề tài đó, liên hệ với bản thân, nhận tội với nhân dân, và giúp nhau tiến bộ, Mỗi lần họp như vậy, có cán bộ quản giáo dự. Mọi người đều phải “thành khẩn khai báo” các tội trạng của mình, phê bình các bạn mình, tự phê bình bản thân…” Theo ông Đỗ Ngọc Uyển thì: “Học tập cải tạo" là một nguỵ danh để che đậy 5 Tội Ác chống Loài Người (Crimes against Humanity) được dự liệu tại Điều 7 của Đạo Luật Rome (Article 7 of The Rome Statute) của bè lũ Việt gian cộng sản đối với quân, dân, cán, chính VNCH đã bị chúng giam cầm (imprisonment) một cách phi pháp sau ngày 30/04/1975. Đây cũng là một tội ác có tính lịch sử của lũ Việt gian cộng sản. Cái nguỵ danh "tù cải tạo/HO" phải được Chính Danh là : Tù Nhân Chính Trị và Nạn Nhân của Tội Ác chống Loài Người của Hồ Chí Minh và bè lũ cộng sản. Cũng cần phải nói thêm rằng khi dùng cái danh từ « cải tạo » của cộng sản là mắc mưu chúng bởi vì chúng tuyên bố lếu láo rằng vì các anh có "nợ máu" với nhân dân nên các anh phải đi "cải tạo”, và khi tự gọi mình là "tù cải tạo" tức là tự nhận mình có tội. Cũng như khi tự gọi mình là một "HO"- một cái nguỵ danh đã bị lộng giả thành chân để chỉ một người "tù cải tạo" - là tự từ bỏ cái căn cước người tù chính trị của mình. Cho nên, Chính Danh là vấn đề rất quan trọng cả về chính trị và lịch sử. Dùng Nguỵ Danh để che đậy và bóp méo một sự kiện lịch sử là tội đại gian và có tội đối với lịch sử.” VIII/ Tôi ác thứ 8: Tước đọat quyền sinh sống của nhân dân miền Nam khiến cả nửa triệu người phải bỏ nước ra đi và bỏ mạng trên biển cả. Sau năm 1975, không phải chỉ những người phục vụ trong chính quyền miền Nam như quân nhân, công chức bị Việt Cộng trả thù bằng cách cho đi tù mà chúng gọi là cho đi “học tập cải tạo mà ngay cả thường dân cũng không thóat khỏi. Với các chính sách “đánh tư sản mại bản’, “cải tạo công thương nghiệp”, “kinh tế mới”, “hộ khẩu”, “hợp tác xã” v.v…bọn Việt Cộng đã tước đọat hết tài sản của người dân miền Nam kể cả quyền sinh sống của họ khiến cả triệu người đã phải bỏ nước ra đi tìm sự sống. ![]() Người dân miền Nam có thể chịu cực khổ nếu con cái họ có tương lai. Nhưng họ không thể nhìn con cái họ trở thành những con vật trong xã hội Cộng sản Việt Nam, một xã hội đầy bất công và thù hận. Vì thế chỉ còn một con đường duy nhật là vượt biên. Nếu may thoát được thì con cái họ còn có hy vọng có được một tương lai tốt đẹp hay ít nhất cũng có được một cuộc sống đáng sống. Bởi vậy họ đã liều mình vượt biên bằng đường bộ qua Cam-pu-chia, đến Thái Lan hayvượt Biển qua Mã Lai, Nam Dưong, Phi Luật Tân. Tới nơi nào cũng được, bất chấp sự bắt bớ của công an, cướp bóc, hãm hiếp của hải tặc hay bão tố trên biển cả, miễn là ra khỏi được cái điạ ngục khủng khiếp đó là Việt Nam Thuyền chở 162 người vượt biển bị đắm lúc sắp đáp được vào bờ Với những con thuyền mong manh, chất chứa cả trăm người, người dân miền Nam đã liều chết đi tìm tự do. Hàng chục ngàn phụ nữ đã bị hải tặc hãm hiếp, và khỏang năm trăm ngàn thuyền nhân đã bỏ xác trong biển cả. Theo sử gia Trần Gia Phụng: Vượt biên năm 1975 là cuộc xuất ngoại vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam kể từ ngày lập quốc.Ðây là một sự kiện hoàn toàn bất ngờ đối với Nam Việt, Bắc Việt, Hoa Kỳ và cả thế giới.Trước đó, không một ai có thể tiên đoán được phong trào vượt biên sẽ xảy ra đến mức lớn lao như thế.Phong trào vượt biên kéo dài từ 1975 đến 1996 ngang bằng với thời gian chiến tranh từ 1954 đến 1975. Tổng số người rời bỏ đất nước bằng tất cả các cách, cộng với những người tử nạn trên đường vượt biên, lên đến khoảng gần bằng tổng số dân chúng và quân nhân Việt Nam cả Nam lẫn Bắc tử trận trong cuộc chiến từ 1954 đến 1975 (khoảng 3,000,000). Những đợt vượt biên ào ạt, bất chấp mạng sống đã làm rúng động lương tâm nhân loại, và đã phơi trần bản chất độc ác của chế độ Cộng Sản Việt Nam (CSVN) trước công luận thế giới” Sự kiện nầy không nững là tiếng chuông cảnh tỉnh nhân loại về cái gọi “Thiên Đường Cộng Sản”, mà còn nói lên một tội đại ác của Cộng Sản Việt Nam và bè lũ. IX/ Tội ác thứ 9: Đánh thuê cho Nga Tầu khiến cả triệu người dân chết vì chiến tranh. Việt Cộng Hà Nội nghe theo quan thầy Liên Sô, Trung Cộng xâm chiếm miền Nam VN tức VNCH không phải là để bảo vệ lãnh thổ mà là để thi hành nghĩa vụ quốc tế của đảng Cộng Sản Nga Tầu. Chính Lê Duẩn, nguyên Tổng Bí Thư của đảng Cộng Sản Việt Nam đã nói: “Ta đánh miền Nam là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc” và “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cho cả nhân loại. Năm 1976 Lê Duẫn ngang nhiên áp đặt Chủ Nghĩa Cộng Sản lên đầu toàn dân VN, đổi tên đảng Lao Động (lừa bịp dân lúc trước vì dân không thích cộng sản) thành đảng csvn. Lê Duẩn nói “ Ta đã thành công trong việc cắm lá cờ Mác-Lê trên toàn cõi Việt Nam" Đền thờ Lê Duẩn ở huyện Cẩm Xuyên tỉnh Hà Tĩnh Lời nói của Lê Duẩn, Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản Việt Nam đã nói lên bản chất và mục tiêu thực sự của cuộc chiến Việt Nam không phải là “cuộc chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam” như bọn Việt Cộng đã rêu rao mà chỉ là một cuộc chiến ý thức hệ. Bọn Việt Cộng đánh cho Liên Xô để bành trướng đế quốc CS khắp toàn cầu theo chủ trương của Cộng Sản quốc tế. Ðánh cho Trung Cộng để mở rộng bờ cõi Ðại Hán xuống khắp vùng Ðông Nam Á theo ý đồ của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Ðoàn quân dưới sự lãnh đạo của đảng CSVN rốt cuộc chỉ là một bọn lính đánh thuê không hơn, không kém. Vì nghĩa vụ lính đánh thuê này mà bè lù Hồ chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam đã gây nên cuộc chiến kéo dài 20 năm (1955-1975) và quân đội 2 miền Nam Bắc chết cả triệu người và cả triệu người dân vô tội khác phải thiệt mạng. X/ Tội ác thứ 10: Bán nước và làm nô lệ cho Tầu. Năm 1958, Phạm Văn Đồng ký công hàm ngày 14/9/1958 ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4/9/1958 của Trung Quốc quyết định về hải phận của Trung quốc và tôn trong hải phận 12 hải lý của Trung Quốc mà không hề đả động gì tới Hòang Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Năm 1979, sau khi bị Tầu dàn 200,000 quân vượt qua biên giới tiến công, tàn phá bình địa vùng biên giới trong đó có Động Tam Thanh thuộc Lạng Sơn, Việt Nam mất khoảng 789 km vuông vùng biên giới. Tới ngày 30 tháng 12 năm 1999, Bọn lãnh đạo CSVN lại bí mật cắt nhượng thêm dọc biên giới khoảng 1300km chiều dài và từ 2 đến 12 km chiều rộng dâng cho Trung Cộng. Tính ra Việt Nam mất khỏang 15,000 km vuông miền biên giới Cao Bằng Lạng Sơn. Ải Nam Quan cũng bị sát nhập vào Tầu. Động Tam Thanh, thị xã Đồng Đăng, Thác Bản Giốc và hang Pắc Bó, mà trước kia Hồ Chí Minh dùng làm nơi trú ẩn trong lúc thời chiến tranh với Pháp, cách Tầu 50 km nay cũng nằm sát kề biên giới. ![]() Sau khi nhận được tin Bộ Trưởng Trung Cộng là Tang Jiaxuanmuốn gặp Bô Trưởng CSVN tại ThaiLand khi ông ta viếng thăm nước nầy. Ngày 26 tháng 7 năm 2000, Ông Nguyễn Duy Niên đáp chiếc Air Bus bay từ phi trường Nội Bài sang ThaiLand để gặp Bộ Trưởng Ngoại giao Trung Quốc tại khách sạn Shangri-La Hotel Bankok. Cuộc gặp rất ngắn ngủi. Tang Jiaxuan giao cho Niên một chồng hồ sơ đòi CSVN phải hiến thêm đất và biển. Trong hồ sơ ghi rõ Trung Quốc đòi luôn 50/50 lãnh hải vùng Vịnh Bắc Việt và đòi VietNam phải cắt 24,000 Km vuông vùng biển cho TQ. Ngày 28 tháng 7 bộ chính trị đảng CSVN đã nhóm họp kín để thỏa mãn yêu cầu này của Trung Cộng. Ngày 26/9/2000, Phan Văn Khải đã đáp chuyến bay qua Bắc Kinh và được xe Limo chở tới Quảng Trường Nhân Dân để gặp Lý Bằng. Lý Bằng cho Khải biết là Lê Khả Phiêu và Giang Trạch Dân đã gặp nhau 2 lần cho vụ hiến đất rồi. Lý Bằng cho biết là Nông Đức Mạnh (lúc đó là chủ tịch Quốc Hội DCSVN) đã sang Trung Quốc vào tháng 4 năm 2000 và Lý Bằng đã gặp lại Nông Đức Mạnh, vào tháng 8 năm 2000 ở New York Hoa Kỳ. Việc Phan Văn Khải được triệu sang Trung Cộng đẻ gặp Lý Bằng chỉ là để thông báo cho biết việc hiến đất của Lê Khả Phiêu và Nông Đức Mạnh mà thôi. Vào ngày 24 tháng 12 năm 2000 , Thứ Trưởng Bộ Ngoại Giao VN Lê Công Phụng được Trần Đức Lương phái đi Trung Quốc thương thảo một lần nữa để gặp ông tình báo của Trung Quốc là ông Hoàng Di, ông nầy là cánh tay phải của Bộ Trưởng Ngoại Giao Trung Quốc. Theo bản báo cáo cho bộ chính trị CSVN, ông Lê Công Phụng cho biết lúc đầu ông Hoàng Di vẫn khăng khăng đòi chia 50/50 với Việt Nam về vùng biển Vịnh Bắc Việt "Beibu Bay" và đòi lấy luôn đảo Bạch Long Vĩ. Sau đó ông Phụng, được bộ chính trị dặn trước là xin lại 6% của Vùng biển gần khu vực Bạch Long Vĩ vì đã được lâu đời là của Việt Nam. Kết Qủa cuộc đi đêm này, Việt Nam còn lại 56% Vịnh Bắc Việt và mất đi 16,000 sq Km vùng vịnh cho Trung Quốc.
Ngày 26 tháng 2 năm 2001 Nguyễn Mạnh Cầm bay sang Trung Quốc để gặp ông Qian Qichen tại đảo Hải Nam. Nguyễn Mạnh Cầm cám ơn Trung Quốc đã mua vùng Vịnh Bắc Việt của Việt Nam (Beibu Bay) với giá 2 tỉ US Dollar. Tóm lại, kể từ ngày Hồ Chí Minh và đồng bọn cướp được chính quyền từ tay Thủ Tướng Trần Trọng Kim, Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam đã phạm 10 tội đại ác sau: 1/ Sát hại ngàn đảng viên của các đảng phái quốc gia 2/ Sát hại cả trăm ngàn nông dân, địa chủ phú hào 3/ Tàn sát cả ngàn người trong vụ “ Quỳnh Lưu Khởi Nghĩa” 4/ Khủng bố giết hại hàng chục ngàn dân lành. 5/ Sát hại trên 5,000 thường dân vô tội trong Tết Mậu Thân 1968. 6/ Cướp tài sản của nhân dân miền Nam sau năm 1975. 7/ Giam giữ bất hợp pháp cả 100,000 quân dân miền Nam. 8/ Tước đọat quyền sinh sống của nhân dân miền Nam khiến cả nửa triệu người phải bỏ nước ra đi và bỏ mạng trên biển cả. 9/ Đánh thuê cho Nga Tầu khiến cả triệu người dân chết vì chiến tranh. 10/ Bán nước và làm nô lệ cho Tầu. Ngòai 10 tội đại ác này, Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam còn phạm cả trăm ngàn tội ác khác trong suốt cuộc chiến từ 1945 đến 1975 mà đa số đều là giết người vô tội và cho đến bây giờ chúng vẫn còn đang tiếp tục gây tội ác cho dân tộc Việt Nam. Nếu bè lũ Hồ Chí Minh và đảng CSVN không biết ăn năn hối cải, không biết nghĩ tới quyền lợi tối thượng của quốc gia dân tộc thì như cô sinh viên Nguyễn Phương Uyên đã nói: ‘‘Đảng Cộng Sản VN hãy chết đi !’’ để cho những người yêu nước và có khả năng điều hành đất nước, để người dân được sống yên lành. Bè lũ Hồ Chí Minh và đảng CSVN đừng để cho người dân phải phẫn nộ, phải vùng lên để lôi cổ xuống trị tội. Tới lúc đó bè lũ Hồ Chí Minh và đảng CSVN, nhất là bọn công an Việt Cộng đừng mong quỳ xuống đường phố như bọn công an Ukraine để xin dân chúng tha tội. Lê Duy San
Chú thích (1) Căn nhà số 9 Phố Ôn Như Hầu Hà Nội là nơi họat động đầu não của VNQDĐ (2) Cụ Nguyễn Hải Thần, lãnh tụ Việt Cách, lúc đó đang là phó Chủ Tịch trong chính phủ liên hiệp mà Hồ Chí Minh là Chủ Tịch. (3) Hòang Đạo tên thật là Nguyễn Tường Long, ông là thành viên trong chính phủ liên hiệp. Sau vụ Ôn Như Hầu, ông đi cùng với phái đoàn hòa giải của Chính Phủ Liên Hiệp để hòa giải những bất đồng giữa các đảng phái quốc gia với Cộng Sản (Việt Minh). Việc hòa giải thất bại, ông phải lánh sang Trung Quốc. Năm 1948 khi được tin chính phủ quốc gia được thành lập, ông tìm cách trở về hợp tác. Ngày 22 tháng 7 tháng 1948, trên chuyến xe lửa từ Hương Cảng về Quảng Châu, khi vừa tới ga Thạch Long, Hoàng Đạo bị đột quỵ rồi mất, lúc 42 tuổi. Có tin cho rằng ông đã bị Việt Minh đón đường sát hại. (4) Năm 1946 Khái Hưng tên thật là Trần Khánh Giư. Ông bị Cộng Sản (Việt Minh) bắt và giam giữ tại Liên Khu 3 (Lạc Quần,Trực Ninh) rồi đem xử tử hình ở bến đò Cựa Gà, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định vào năm 1947. Theo ông Nguyễn Tường Triệu, con nuôi Khái Hưng, tiết lộ Khái Hưng mất tích sau Tết Ðinh Hợi (22/1/1947) (5) Tên thật của bà là Nguyễn thị Năm. Có người gọi bà là Cát Thành Long. Bà là người đầu tiên bị mang ra xử bắn trong cuộc CCRĐ. Bà là người đã che giấu và nuôi dưỡng các lãnh đạo cộng sản như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Lê Thanh Nghị, Lê Giản v.v... trong thời gian đảng CSVN còn hoạt động bí mật. Bà đã từng ủng hộ Việt Minh trước Cách Mạng Tháng Tám 20,000 đồng tiền Đông Dương và nhiều tài sản khác như thóc gạo, vải vóc, nhà cửa v.v. Bà là một trong những người đóng góp nhiềunhất trong “Tuần Lễ Vàng” ở Hải Phòng với hơn 100 lạng vàng". Hai con trai bà, ông Nguyễn Công và ông Nguyễn Hanh đều theo Việt Minh từ trước 1945. Khi phong trào CCRĐ được phát động, ông Nguyễn Công đang làm chính uỷ trung đoàn và ông Nguyễn Hanh là đại đội phó bộ đội thông tin. Chính Võ Nguyên Giáp cũng đã xác nhận: "Bà Nguyễn Thị Năm tức Cát Hanh Long là một địa chủ có tinh thần yêu nước, trong kháng chiến đã từng giúp đỡ bộ đội. Bản thân tôi và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh có lúc đã ở lại nhà bà”. (6) Tầm xa của bích kích 60, 82 ly là 2 và 3 cây số, của tên lửa B40, B41 là vài trăm thước. Hiện diện của cán và đuôi B40, B41 trên đường có nghĩa là các vũ khí này đã được xạ thủ sử dụng không xa mục tiêu quá 2, 3 cây số mà là ở rất gần. Vậy không thể nói là vô tình hay sơ xuất. (7) Theo cựu Thiếu Tá Liên Thành, Chỉ Huy Trưởng BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế thì con số thường dân bị giết là 5,327 và bị mất tích là 1,200 người. (8) Theo ông ĐỗNgọc Uyển thì con số tù “Cải tạo” vào khỏang 1 triệu người và số người chết trong trại tù “cải tạo” là 165,000 người. Hai con số này có lẽ ông gồm cả những người bị đi học tập có 5, 3 ngày hoặc kể cả những người bị đi tù cải tạo ở miền Bắc sau năm 1954.
|
|
Những nội dung khác:
|
|
|
 |
|