Mặc Lâm, biên tập viên RFA - Mỗi năm vào ngày 14 tháng Ba, hình ảnh cuộc tàn sát 64 bộ đội công binh Quân đội Nhân dân Việt Nam lại ám ảnh gia đình họ và người có quan tâm. Những cái chết này là một sự kiện lịch sử cần phải làm rõ ai là thủ phạm trực tiếp, trói tay bộ đội bằng chính sách kềm chế trước đội quân hung hãn Trung Quốc.
Tàu chiến Trung Quốc trực xạ bắn vào tàu vận tải công binh của Việt Nam khiến 64 chiến sĩ Hải quân VN đã hy sinh cùng với lệnh không được nổ súng...
Lệnh không được nổ súng
Từ đầu năm 1988 Trung Quốc đã có những hành động lấn chiếm các đảo đá thuộc quần đảo Trường Sa bằng cách đưa hai chiến hạm thị uy chung quanh khu vực. Trước hành động khiêu khích công khai ấy Việt Nam đã khởi động chiến dịch có tên Chủ quyền 88 viết tắt là CQ-88 bằng cách gửi bộ đội công binh mang vật liệu xây dựng tới nhóm đảo Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma để xây dựng các cơ sở tại đây nhằm khẳng định sự có mặt của Việt Nam trên nhóm đảo quan trọng này.
Tuy biết trước sự hiếu chiến và quyết tâm chiếm đảo của Trung Quốc nhưng bộ đội công binh Việt Nam lại không được trang bị vũ khí và quan trọng hơn nữa họ được lệnh không được bắn trả lính Trung Quốc. Chỉ một vài bộ đội trên tàu mang vũ khí cá nhân và nhóm bộ đội tiến vào cắm cờ trên đảo Gạc Ma đã tay không đối diện với giặc. Anh Nguyễn Văn Thống một người sống sót trong khi tiến vào Gạc Ma xác nhận với Đài Á Châu Tự Do lệnh không được nổ súng này
-Bên mình lúc ra đi là quán triệt không được nổ súng bất kỳ giá nào cũng không được nổ súng.
Thượng tá Hoàng Hoan, Chỉ huy phó Chính trị trung đoàn công binh 83 kể lại với báo chí cái chết của trung úy Trần Văn Phương người đầu tiên ôm cờ chịu bị lính Trung Quốc bắn chết trước mặt đồng đội. Thượng tá Hoan xác nhận đây là hành động kềm chế trước sự hung hãn của lính Trung Quốc:
Sau một thời gian giằng co nhau quyết liệt và xảy ra việc Phương bị thương và sau chết tại đảo và Lanh thì bị thương nằm gục xuống rồi thì anh em cùng với nhau đối với bọn Trung Quốc đó cuối cùng thì bọn nó nhanh chóng rút lui ra. Nhưng mà nó có cái chuyện, tức là nó nổ súng trước còn ta thì có thái độ kềm chế chủ yếu là mềm dẻo để giải quyết đúng đắn khẳng định rõ chủ quyền Việt Nam, tôi đã ở đây rồi! Thế nhưng phía Trung Quốc vẫn cứ nổ súng vào cán bộ chiến sĩ của xây dựng và đi giữ đảo.
Câu chuyện của 27 năm về trước vẫn nằm im trong những trang sử của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Lời kể của những bộ đội công binh không đủ sức thuyết phục dư luận cho đến khi chính một vị tướng chính thức lên tiếng về việc này. Ông là thiếu tướng Lê Mã Lương, Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, từng giữ chức Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam nói trước cuộc tọa đàm kỷ niệm cuộc chiến Gạc Ma do Trung tâm Minh triết tổ chức vào năm ngoái, Tướng Lê Mã Lương cho biết:
-Nó có một câu chuyện như thế này: Có đồng chí lãnh đạo cấp cao ra lệnh bộ đội ta không được nổ súng nếu như đánh chiếm cái đảo Gạc Ma hay bất kỳ đảo nào ở Trường Sa. Không được nổ súng! Và sau này nó có một câu chuyện và nó đã được ghi vào tài liệu mà ta đã rõ rồi là khi trong một cuộc họp của Bộ Chính Trị, đồng chí Nguyễn Cơ Thạch đập bàn và nói là ai ra lệnh cho bộ đội không được nổ súng?
Những người lính hy sinh đầu tiên ấy cộng thêm con số bộ đội bị quân Trung Quốc sát hại nâng lên 64 người là một vết thương lớn cho người lính bất cứ quân đội nào khi họ không được cầm súng chống lại quân thù, tướng Lê Mã Lương chia sẻ:
-Trong lịch sử của Hải quân Nhân dân Việt Nam chưa có trận nào mà hải quân ta chỉ có mấy phút thôi chúng ta chết đến hơn nửa đại đội. Không có chuyện lịch sử Hải quân, lịch sử của các đơn vị chiến đấu bộ binh chỉ trong mấy phút mà tiêu như thế, trừ bom, nó bỏ trúng đội hình đang hành quân hoặc là nó thả trúng đội hình đang đóng quân còn trong đánh nhau ta cũng trong thế chủ động thì không có chuyện đó. Cho nên đó là cái nỗi đau mà nỗi đau này nó âm ỉ và nó sẽ đi với người lính cho tới khi kết thúc sứ mệnh trên cái đất này.
TS Nguyễn Văn Khải người tham dự buổi hội thảo cho biết nhận xét của ông về việc tướng Lương công khai điều mà Bộ quốc phòng Quân đội Nhân dân Việt Nam giấu kín sau sự cố Gạc Ma:
-Câu đó của Lê Mã Lương là hoàn toàn đúng bởi vì những năm 80 tôi là TS Thiếu tá và có anh họ là Lê Ngọc Hiền là Thứ trưởng Quốc phòng, Lê Trọng Tấn là Tổng Tham mưu trưởng quân đội cho nên những chuyện này chúng tôi biết cả.
Bộ trưởng Quốc phòng, Lê Đức Anh
Ông Nguyễn Khắc Mai giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Văn hoá Minh Triết cho biết vai trò của ông Lê Đức Anh lúc ấy là Bộ trưởng Quốc phòng, người được xem là đã ra lệnh cho bộ đội không được nổ súng:
-Ngài Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hồi bấy giờ là ngài Lê Đức Anh đã ra cái lệnh như vậy mà anh Lê Mã Lương đã tường thuật trong hội thảo tưởng niệm Gạc Ma của chính Trung tâm Minh Triết tổ chức ở Khách sạn Công đoàn năm ngoái, thì bây giờ ta phải công khai cái này.
Một Bộ trưởng Quốc Phòng thấy giặc nó xâm lấn bờ cõi của mình mà ra lệnh không được chống lại, đứng im như thế cuốn cờ lên người mình để cho nó nã súng nó bắn!
Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, một nhà ngoại giao kỳ cựu, am hiểu sâu sắc vấn đề Trung Quốc đánh giá quyết định không nổ súng của Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh:
-Tôi cho rằng lúc bấy giờ ông Lê Đức Anh được đưa lên làm Bộ trưởng Quốc phòng mà làm cái việc như thế là một việc phản quốc. Ra lệnh không được bắn lại để cho Trung Quốc nó giết chiến sĩ của mình như là bia sống thì tôi cho đó là một hành động phản động, phản quốc.
Ông Lê Đức Anh là cai đồn điền cao su của một người tình báo của Pháp chứ ông ta không phải tham gia cách mạng lâu dài gì đâu. Chẳng qua ông ấy khai man lý lịch rồi thì được lòng ông Lê Đức Thọ, ông Lê Đức Thọ cứ đưa ông ấy lên vù vù trở thành Bộ trưởng Quốc phòng, sau này thành chủ tịch nước. Cái điều đó những người biết chuyện như tôi lấy làm đau lòng lắm và cho là một nỗi nhục của đất nước.
Sau khi bị tàn sát, thi thể những người lính tay không súng ống ấy không phải đều được về nhà mà một số rất lớn đã trôi dạt khắp vùng biển quê hương bởi Bộ Quốc phòng Việt Nam không có một một cố gắng nào mang họ về đất liền như tất cả mọi quân đội khác trên thế giới phải làm. Ông Nguyễn Khắc Mai nhận xét:
-Cho đến hôm nay 64 người anh hùng liệt sĩ ở Gạc Ma đấy nhiều người xác vẫn còn nằm dưới biển và cái ông Nông Đức Mạnh nguyên Tổng bí thư lại trả lời rằng thôi cứ để yên như thế! Đáng lẽ anh phải can thiệp với Chữ thập đỏ quốc tế để tìm cách vớt và đưa thân xác của các liệt sĩ ấy về quê mẹ thì anh lại để im, bởi vì anh sợ Tàu mà. Động chạm đến Tàu thì anh run lên vì anh bị cầm tù rồi.
Tại sao cứ im lặng? chỉ cho mấy cái anh cấp người phát ngôn Bộ Ngoại giao nói tới nói lui một điệp khúc nhàm chán vô cùng và bọn Trung Quốc nó không thèm đếm xỉa gì tới, nó coi đấy là cái chuyện tào lao thì đấy là cái đau, đấy là cái nhục về Gạc Ma.
Ngày 14 tháng Ba mỗi năm không những là ngày giỗ chung của 64 gia đình liệt sĩ nhưng còn là ngày mà lịch sử Việt Nam sẽ phải làm rõ ai là thủ phạm chính trong cuộc tàn sát này. Mặc dù nó được phóng lớn lên thành cuộc chiến Gạc Ma nhưng người trong cuộc biết rõ đó là một cuộc chiến mà bên bị hại không được nổ súng.
GS Tàu HQ 931 đưa các thương binh và chiến sĩ trong trận Gạc Ma về đất liền. Ảnh tư liệu
12h trưa 14/3, máy bay của Việt Nam bay trên bầu trời Gạc Ma. Chiếc xuồng của anh Thảo vừa nhích từng mét nước, vừa cứu thêm những đồng đội đang đuối sức trên biển. Đầu giờ chiều, xuồng của HQ 505 đến nơi ứng cứu đưa các chiến sĩ về tàu, sau đó về đảo Sinh Tồn. Binh nhất Lanh được chuyển bằng trực thăng vào đất liền cấp cứu và may mắn giữ được tính mạng.
Trong trận chiến rạng sáng 14/3, 64 chiến sĩ trên tàu HQ 604 đã hy sinh, 9 người bị Trung Quốc bắt giữ đưa về Quảng Đông. Từ năm 1988 đến nay, Trung Quốc đã xâm chiếm Gạc Ma. Việt Nam bảo vệ được Cô Lin và Len Đao.
Nhớ về ngày 14/3/1988, ông Lê Văn Xuân (bố liệt sĩ Lê Văn Xanh, Đà Nẵng) kể, đứng dưới loa phóng thanh, nghe tin con hy sinh, ông chết lặng. “Về nhà, tôi lấy hết can đảm nói với vợ con: 'Xanh đã hiến trọn tuổi thanh xuân của mình quyết giữ chủ quyền, đó là niềm tự hào của gia đình mình", mắt người cha già ngấn lệ.
Hằng năm, những chuyến tàu vẫn đều đặn chở đoàn công tác từ đất liền ra Trường Sa. Mỗi lần đi qua Gạc Ma, những người con đất Việt không quên thả vòng hoa tưởng niệm. "Các anh đã dâng hiến tuổi 20 cho TQ, cả nước TQ sẽ đời đời ghi nhớ các anh đã không nổ súng dâng hiến tất cả sinh mạng và biển đảo cho TQ thà chết chớ không nổ tiếng súng nào cả theo lêẹnh của đồng chí Lê Đức Anh và các lãnh đạo đại ngu của đảng CSVN! ", đại diện HQ Trung quốc nói.
Phạm Đỉnh 12-3-2014
Ngày 14/3/1988, đảng CSVN dâng đảo Gạc Ma cho Trung Quốc và đã cho phép Trung Quốc ám sát 64 chiến sĩ Việt Nam
Một lần nữa chúng ta lại kỷ niệm ngày 14/3/1988. Vào ngày này hải quân Trung Quốc đã nổ súng tàn sát 64 chiến sĩ hải quân Việt Nam đồn trú tại các đảo đá Gạc Ma, Len Đao và Cô Lin. Khác với biến cố Hoàng Sa năm 1974 đây không phải là một trận hải chiến mà là một cuộc tàn sát bởi vì lực lượng hai bên quá chênh lệch. Trong dịp này một câu hỏi nghiêm trọng cần phải được đặt ra: Trường Sa có thực sự đã bị Trung Quốc đánh chiếm không, hay đã bị chính quyền cộng sản Việt Nam, đứng đầu là cặp bài trùng Nguyễn Văn Linh – Lê Đức Anh đem dâng cho Trung Quốc để được thần phục Trung Quốc và yên thân? Nói cách khác phải chăng các liệt sĩ Trường Sa đã bị mưu sát? Năm trước, vào dịp kỷ niệm 25 năm biến cố Trường Sa, ông Nguyễn Gia Kiểng đã viết bài "Một nghi vấn về Trường Sa" (xin xem phụ đính dưới đây) trong đó tác giả đặt nghi vấn là có thể chính quyền cộng sản Việt Nam đã thỏa thuận dâng Trường Sa cho Trung Quốc để cầu hòa. Như thế "trận hải chiến Trường Sa" ngày 14/03/1988 chỉ là một dàn dựng và 64 chiến sĩ hải quân đã bị hy sinh để che giấu hành động dâng đảo. Tuy ông Kiểng chỉ nói là một "nghi vấn" nhưng những sự kiện và lập luận được đưa ra trong bài này không còn cho phép một ngờ vực nào là Trường Sa đã bị đem dâng cho Trung Quốc. Đây là một hành động cực kỳ nghiêm trọng cần được tố giác. Cho tới nay đa số người Việt nam, kể cả các trí thức được coi là cởi mở vẫn tin rằng Trường Sa đã bị Trung Quốc đánh và trách nhiệm của ĐCSVN là đã không chuẩn bị để đối phó. Điển hình là câu sau đây của ông Nguyễn Khắc Mai (cựu ủy viên trung ương đảng và trưởng ban tôn giáo ĐCSVN) trong bài "Tôn Vinh Chiến sĩ Hải Quân Việt Nam Trận Gạc Ma 14/3/1988": "Rõ ràng Việt Nam đã không rút ra được bài học từ Hòang Sa năm 1974, nên đã không sẵn sàng đối phó được với mưu đồ của Trung Quốc chiếm Gạc Ma và trước đó đối với cả chục bãi đá trong quần đảo Trường sa của Việt Nam". Nhưng sự thực nghiêm trong hơn nhiều, có lẽ quá nghiêm trong để chúng ta có thể ngờ được. Đó là chính quyền cộng sản đã chuẩn bị kế hoạch rất chu đáo để dâng Trường Sa cho Trung Quốc. Phạm Đỉnh
****************
Phụ đính: Một nghi vấn về Trường Sa
Nguyễn Gia Kiểng Tháng 3 này là tròn 25 năm ngày hải quân Trung Quốc đánh chiếm nhiều đảo đá ở Trường Sa làm 64 chiến sĩ hải quân Việt Nam thiệt mạng. Đây là dịp để đặt ra một câu hỏi lớn và nghiêm trọng: Trung Quốc đã thực sự lấn chiếm Trường Sa hay đã có thỏa hiệp? Thỏa hiệp có thể chỉ là một thỏa hiệp ngầm không thành văn tự, mà có thể cũng không cần được nói ra một cách minh bạch để ai đó có thể ghi lại nguyên văn trong một báo cáo hay một hồi ký. Nó có thể là sự hiểu ngầm giữa hai bên sau nhiều trao đổi. Đàng nào thì câu hỏi cũng rất nghiêm trọng. Nếu câu trả lời là Trung Quốc đã thực sự đánh chiếm Trường Sa thì có lý do gì để Việt Nam chủ trương"giữ nguyên trạng" trên Biển Đông như lời ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, và hơn thế nữa còn trân trọng tình hữu nghị "4 tốt, 16 chữ vàng"? Còn nếu ban lãnh đạo CSVN đã thỏa thuận, dù là thỏa thuận ngầm, nhượng cho Trung Quốc một phần Trường Sa thì họ đã mang một tội vô cùng lớn. Không phải chỉ là tội phản trắc đối với các chiến sĩ hải quân đã hy sinh tính mạng. Cũng không phải chỉ là tội làm mất một số đảo đá mà còn là, và nhất là, tội đã làm mất quyền lợi vô cùng lớn của Việt Nam trên Biển Đông. Trước năm 1988 Trung Quốc không có mặt tại Trường Sa, chỉ sau khi đã lấy được một số đá của Việt Nam họ mới có lý cớ để vẽ ra cái lưỡi bò liếm gần hết Biển Đông. Tình trạng này đặt Việt Nam trong thế phải mãi mãi tranh chấp với Trung Quốc trên một vùng biển đáng lẽ ra đương nhiên là của mình. Trước mọi thảo luận chúng ta có thể khẳng định hai điểm. Một là, đối với các chiến sĩ hải quân đã chiến đấu tại Trường Sa ngày 14 tháng 3 năm 1988, nhất là đối với 64 người đã hy sinh, Trung Quốc đã lấn chiếm thực sự và họ đã chiến đấu để bảo vệ tổ quốc. Sự hy sinh của họ phải được ghi nhận trọn vẹn. Nhưng họ có thể không biết những tính toán của ban lãnh đạo cộng sản. Hai là chắc chắn ít ra đã có sự chấp nhận, dù là miễn cưỡng, để Trung Quốc chiếm một số đá trong vùng của Việt Nam để có mặt tại Trường Sa. Bằng cớ là Trung Quốc đã đưa hải quân đến Trường Sa ngay từ đầu năm 1988 và trong hai tháng 1 và 2 đã chiếm nhiều đá trong khu vực thuộc Việt Nam nhưng chính quyền CSVN đã hoàn toàn không có phản ứng nào. Nếu họ dừng lại ở đó thì đã không có vấn đề gì. Hải chiến chỉ đã xảy ra ngày 14/03/1988 khi Trung Quốc tấn công ba đảo đá mà hải quân Việt Nam đang trấn giữ: Gạc Ma, Len Đao và Cô Lin. Các diễn biến tại Trường Sa đã xảy ra như thế nào? Theo những tài liệu của chính quyền Việt Nam thì từ đầu năm 1988 hải quân Trung Quốc đã đến vùng Trường Sa của Việt Nam. Ngày 31/01 họ chiếm đá Chữ Thập phía Bắc đảo Trường Sa Đông, ngày 18-02 chiếm đá Châu Viên, ngày 26/02 chiếm đá Ga Ven sâu trong khu vực Việt Nam ngay kế bên đảo Nam Yết, ngày 28 chiếm đá Tư Nghĩa (Hughes) kế cận và ở giữa hai đảo Sinh Tồn và Sinh Tồn Đông. Chính quyền Việt Nam hoàn toàn không có phản ứng nàodù những đá này đều là những đá mà Việt Nam đã tuyên bố chủ quyền và thuộc hải phận Việt Nam tính từ các đảo mà Việt Nam đã có chủ quyền từ lâu. Sự im lặng này không thể có giải thích nào khác hơn là một sự chấp nhận, nếu không phải là một thỏa hiệp từ trước. Đầu tháng 3, Trung Quốc lại tăng cường thêm lực lượng hải quân lên đến 12 tàu chiến. Ngày 14/03 hải quân Trung Quốc tiến đánh các đá Gạc Ma, Len Đao và Cô Lin, bắn chìm ba tàu HQ-604, HQ-505 và HQ-605 đang trấn giữ. Lực lượng quá chênh lệch đã khiến hải quân Việt Nam không gây được một thiệt hại nào cho phía Trung Quốc. Điều lạ là dù đã đánh bại hoàn toàn lực lượng phòng vệ Việt Nam Trung Quốc chỉ chiếm đá Gạc Ma, được coi là có vị trí quan trọng nhất, mà không chiếm hai đá Len Đao và Cô-Lin. Ngày 23/03 họ chiếm thêm đá Xu Bi. Mãi đến ngày 31/3, vào lúc trận chiến đã chấm dứt hẳn từ hai tuần rồi, một lực lượng nhỏ của hải quân Việt Nam mới được điều động đến nơi nhưng cũng tránh đụng độ với tàu Trung Quốc. Những sự kiện quá không bình thường trong biến cố này buộc người ta phải đặt câu hỏi phải chăng giữa lãnh đạo hai bên đã có thỏa hiệp. Tại sao chính quyền cộng sản Việt Nam đã hoàn toàn không có phản ứng nào, kể cả lên tiếng phản đối, trong suốt hai tháng đầu năm 1988 khi Trung Quốc tuần tự chiếm đóng đá này rồi đá khác trong khu vực của mình? Cũng nên biết là chính quyền cũng như các cấp lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã hoàn toàn im lặng trước cũng như sau biến cố này, chỉ có bộ ngoại giao ra một tuyên bố phản đối có lệ ngày 14/03. Rồi thôi. Tại sao Trung Quốc mặc dù đã đánh bại hoàn toàn hải quân Việt Nam lại chỉ chiếm đá Gạc Ma chứ không chiếm hai đá Len Đao và Cô Lin? Sau này bộ ngoại giao Trung Quốc tuyên bố rằng họ lấy làm tiếc rằng đã có sự "hiểu lầm" để xảy ra đụng độ chứ họ không có ý định đánh chiếm những đảo và đá mà Việt Nam có đóng quân (dầu vậy họ vẫn giữ Gạc Ma). Như vậy nếu "hiểu đúng" thì họ có thể chiếm các đá khác mà không xảy ra đụng độ? Người ta càng có thêm lý do để tin rằng đã có thỏa hiệp.
Câu hỏi lớn nhất là tại sao không quân Việt Nam đã không tham chiến dù chỉ cách Trường Sa một giờ bay và có thừa khả năng tiêu diệt nhanh chóng toàn bộ lực lượng hải quân Trung Quốc có mặt tại trận lúc đó mà không chịu một thiệt hại nào. Trường Sa nằm ngoài tầm hoạt động của không quân Trung Quốc, các tàu chiến Trung Quốc tại đó cũng quá sơ sài để có thể đương đầu với máy bay chiến đấu. Lý do chỉ có thể là vì không quân Việt Nam đã nhận được lệnh cấm tham chiến và lệnh này chỉ có thể đến từ ông Lê Đức Anh, lúc đó vừa là bộ trưởng quốc phòng vừa là cánh tay mặt của tổng bí thư Nguyễn Văn Linh nên lấn át cả ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch về mặt đối ngoại. Mặt khác Trung Quốc cũng phải tin là không quân Việt Nam sẽ không can thiệp mới dám hành động như thế. Tất cả những sự kiện trên đây đã quá đủ để tin là giữa hai chính quyền đã có thỏa hiệp để Trung Quốc chiếm một phần Trường Sa, nhưng bối cảnh quan hệ Việt Trung vào lúc đó còn hỗ trợ hơn nữa giả thuyết này. Cần nhớ lại là chiến thắng 30/4/1975 đã khiến Đảng Cộng Sản Việt Nam hân hoan đến mức gần như mất trí. Họ tin mình là thiên tài, chủ nghĩa Mác – Lênin bách chiến bách thắng, phong trào cộng sản do Liên Xô lãnh đạo sắp thành công đến nơi, chủ nghĩa tư bản đang dãy chết. Họ đặt điều kiện để cho phép Mỹ được bình thường hóa quan hệ ngoại giao. Lúc đó họ đã đứng hẳn về phía Liên Xô trong cuộc xung đột giữa hai đàn anh, quan hệ của họ đối với chế độ cộng sản Trung Quốc đã chuyển sang thế kình địch. Trong đại hội IV cuối năm 1976 của ĐCSVN Trung Quốc không gửi phái đoàn sang tham dự. Dầu vậy ĐCSVN bất chấp Trung Quốc. Đại hội IV đã là đại hội liên kết toàn diện và tuyệt đối với Liên Xô, thách thức cả Hoa Kỳ lẫn Trung Quốc. Tháng 11-1978 Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam gia nhập khối COMECON và ký hiệp ước liên minh quân sự với Liên Xô; tháng sau quân Việt Nam tràn qua Campuchia và đánh gục chế độ thân Trung Cộng Khmer Đỏ. Tháng 2/1979 Trung Quốc tấn công biên giới phía Bắc. Mặc dầu bị thiệt hại nặng chế độ cộng sản Việt Nam huênh hoang là đã chiến thắng; họ hoàn toàn tin tưởng vào hiệp ước liên minh quân sự với Liên Xô. Năm 1980 một hiến pháp mới của CHXHCNVN được ban hành với lời nói đầu coi "bọn bá quyền Trung Quốc" là kẻ thù. Năm 1982 tại đại hội đảng lần thứ 5, các phần tử bị coi là thân Trung Quốc bị thanh trừng, trong đó có cả Nguyễn Văn Linh. Bản điều lệ đảng cũng được sửa đổi để tuyên chiến với Trung Quốc. Sự thức dậy đã rất kinh hoàng. Liên Xô sụp đổ thay vì toàn thắng. Tháng 4/1984 Trung Quốc tung đợt tấn công thứ 3 kéo dài hơn ba tháng vào Việt Nam, với cao điểm là trận Lão Sơn được Trung Quốc coi là một chiến thắng lịch sử của họ trong đó báo chí Trung Quốc cho biết là ba quân đoàn của họ đã đánh gục ba sư đoàn Việt Nam. Hà Nội cầu cứu Liên Xô để chỉ được trả lời rằng Liên Xô đã kiệt quệ và Việt Nam nên cố gắng để thương thuyết với Trung Quốc. Lúc đó Liên Xô đang sa lầy thê thảm tại Afghanistan, Brezhnev đã chết và Andropov đang cố gắng hòa giải với Trung Quốc. Trong cơn hoảng loạn tuyệt vọng đó ban lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam đã âm thầm lấy quyết định đầu hàng, và đối sách với Trung Quốc đã thay đổi hẳn từ tháng 7/1984. Xấc xược nhường chỗ cho khúm núm, thách thức nhường chỗ cho van xin. Hà Nội khẩn khoản xin hòa và Trung Quốc đắc thắng làm cao. Năm 1985, Nguyễn Văn Linh, người đã thất sủng vì thân Trung Quốc, được đưa trở lại bộ chính trị và làm thường trực ban bí thư, năm sau lên làm tổng bí thư. Trung Quốc chỉ chấp nhận nói chuyện với những cấp lãnh đạo Việt Nam do họ chọn. Trong cuốn Hồi Ức và Suy Nghĩ của ông, Trần Quang Cơ, thứ trưởng ngoại giao đặc trách quan hệ Việt Trung, tiết lộ: "Từ năm 1980 đến năm 1988 ta đã ngót hai mươi lần đề nghị đàm phán, Trung Quốc chỉ làm ngơ". Đúng ra là từ 1984, vì trước đó Việt Nam không sợ Trung Quốc. Còn 1988? Đó là năm Trung Quốc xâm chiếm Trường Sa. Có mọi xác xuất Trường Sa đã là cái giá mà chế độ cộng sản Việt Nam phải trả để được bình thường hóa quan hệ đối với Trung Quốc. (Theo Trần Quang Cơ thì phải nói là để được lệ thuộc Trung Quốc mới đúng). Người ta có quyền và phải tin như thế vì chỉ hai tháng sau, ngày 25/05/1988, bộ chính trị họp và ra Nghị Quyết 13 khẳng định phải "phấn đấu bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, mọi vấn đề khác đều có thể giải quyết sau". Các nghị quyết chiến lược của bộ chính trị đều được chuẩn bị rất lâu trước khi công bố. Tháng 9, hiến pháp Việt Nam được tu chỉnh để bỏ đoạn coi Trung Quốc là kẻ thù. Thật là kỳ diệu, Trung Quốc không còn là kẻ thù sau khi đã đánh chiếm Trường Sa! Cũng kể từ đó đàm phán giữa hai bên đã tăng vận tốc để nhanh chóng tiến đến tình hữu nghị "4 tốt, 16 chữ vàng". Cho dù có những dữ kiện hội tụ đến đâu đi nữa thì cho đến khi các hồ sơ được mở ra và các nhân chứng có đủ mạnh dạn để nói hết những điều họ biết, đây cũng chỉ mới là một giả thuyết, dù là một giả thuyết gần như chắc chắn đúng, nhất các tiết lộ lẻ tẻ của những người trong cuộc ngày càng xác nhận chính ông Lê Đức Anh đã ra lệnh cho không quân không được can thiệp. Điều hoàn toàn chắc chắn là đụng độ đã chỉ xảy ra và bộ ngoại giao Việt Nam đã chỉ lên tiếng phản đối vì Trung Quốc đánh vào ba đá Gạc Ma, Len Đao và Cô Lin ngày 14/03/1988. Nếu Trung Quốc chỉ chiếm những đá khác, như họ đã làm trong hai tháng trước đó, thì tất cả đã êm suôi. Như thế thì phải kết luận rằng đàng nào ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam cũng đã chấp nhận để Trung Quốc lấy một số đá của Việt Nam để hiện diện tại Trường Sa. Sự kiện này đặc biệt nghiêm trọng vì nếu không có sự hiện diện này thì Trung Quốc hoàn toàn vắng mặt tại nửa phía Nam của Biển Đông và không có lý cớ gì để tuyên bố Biển Đông là vùng "quyền lợi cốt lõi" của họ. Trận hải chiến chung quanh Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao không cần thiết cho Trung Quốc và có thể chỉ là một dàn dựng, do phía Việt Nam yêu cầu, có mục đích cho phép ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam biện luận trước nhân dân Việt Nam rằng Trung Quốc đã đánh chiếm Trường Sa chứ không phải họ đã dâng đảo. Một lần nữa không nên để cây che khuất rừng, điều nghiêm trọng nhất và vô cùng tai hại cho Việt Nam là Trung Quốc đã có mặt tại Trường Sa để có lý cớ đòi quyền lợi trên phần lớn Biển Đông, và điều này ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã chấp nhận. Họ phải chịu trách nhiệm. Nước ta là một dải bờ biển. Biển là tài sản lớn nhất của chúng ta. Tài sản đó đang bị đe dọa vì chủ trương đầu hàng Trung Quốc của ban lãnh đạo đảng cộng sản. Không phải là không có chọn lựa nào khác. Một chọn lựa khác, hiển nhiên cho quyền lợi dân tộc, là thẳng thắn bắt tay với Hoa Kỳ, Châu Âu và các nước dân chủ để được các thị trường lớn, các nguồn đầu tư, các cơ hội chuyển giao kỹ thuật và đồng thời được bảo vệ bởi công pháp quốc tế để có thể có quan hệ hợp tác lành mạnh với Trung Quốc. Ban lãnh đạo cộng sản đã từ khước chọn lựa hiển nhiên đó bởi vì nó đòi hỏi phải từng bước dân chủ hóa, nghĩa là sau cùng từ bỏ độc quyền chính trị. Đối với họ giữ độc quyền chính trị là mục tiêu duy nhất, quyền lợi dân tộc nếu có cũng chỉ đi rất sau quyền lợi của Đảng. Trường Sa chỉ là một thí dụ. Hai người có trách nhiệm lớn nhất trong chọn lựa phục tùng Trung Quốc, mà sự nhượng bộ tại Trường Sa là hệ quả, là Nguyễn Văn Linh và Lê Đức Anh. Họ là hai người quyền lực nhất lúc đó và cũng là hai người quả quyết nhất trong chủ trương này. So với những thiệt hại mà họ gây ra cho đất nước việc Mạc Đăng Dung dâng đất cầu hòa hồi thế kỷ 16 chẳng thấm vào đâu. Nhưng họ cũng đã chỉ hành động như mọi lãnh tụ cộng sản Việt Nam khác. Trước họ Hồ Chí Minh, qua Phạm Văn Đồng, đã ký công hàm nhìn nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Quốc để được viện trợ trong cuốc nội chiến. Sau họ Lê Khả Phiêu đã ký hiệp định nhường cho Trung Quốc hàng ngàn kilômet vuông trên đất liền và hàng chục ngàn kilômet vuông trên biển để được yên thân. Các lãnh tụ cộng sản đều được đào tạo và sàng lọc như nhau qua các thế hệ theo cùng một khuôn mẫu Stalin, một khuôn mẫu khủng bố trong đó quyền lực là tất cả và tổ quốc vắng mặt. Từ Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ đến Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng qua Nguyễn Văn Linh, Lê Đức Anh, Đỗ Mười, họ có thể xung đột với nhau, thậm chí căm thù nhau nhưng họ đều giống nhau trên ít nhất hai điểm: họ đều đặt quyền lực của đảng lên trên hết và trước hết và đều chống dân chủ. Lợi ích dân tộc nếu có cũng chỉ là thứ yếu. Họ có thể làm những điều khó tưởng tượng để giữ lấy quyền lực. Họ đều tin rằng nhân dân Việt Nam thù ghét họ và sẽ bỏ phiếu sa thải họ nếu được chọn lựa tự do. Nguyễn Minh Triết đã chỉ phát biểu lập trường chung của ban lãnh đạo cộng sản khi ông ta nói "bỏ điều 4 là ta tự sát". Họ không thể liên kết với các nước dân chủ bởi vì như thế cái giá phải trả cuối đoạn đường là dân chủ. Não trạng đó buộc họ phải phục tùng Trung Quốc, không phải để có chỗ dựa mà chủ yếu là để được nhẹ tay trong thế cô lập tuyệt vọng. Dù trong thâm tâm không ai thực sự yêu Trung Quốc. Phải hiểu não trạng này để ý thức rằng không thể hy vọng có dân chủ chỉ bằng những yêu cầu và kiến nghị. Người ta có thể ủng hộ Đảng Cộng Sản vì quyền lợi cá nhân nếu muốn nhưng không nên ngộ nhận bản chất của nó. Đảng Cộng Sản không phải là một đảng yêu nước. Nguyễn Gia Kiểng
(tháng 03/2013)
Trí Nhân Media
Thayer sửng sốt
vì phát ngôn 'thô bạo' của TQ về Biển Đông
Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị trong cuộc họp báo quốc tế tại Bắc Kinh sáng 8/3. Ảnh: Chinanews.
Trong cuộc họp báo quốc tế hôm 8/3 tại Bắc Kinh, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị đã có những phát ngôn ngang ngược, tuyên bố Biển Đông là "ao nhà".
Hãng tin Chinanews (Trung Quốc) đưa tin, 10h sáng Chủ nhật (8/3, giờ địa phương), Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị đã tổ chức họp báo tại khu Media Center, Bắc Kinh, trả lời phỏng vấn về chính sách ngoại giao và những vấn đề đối ngoại của nước này.
Đáp lại câu hỏi của Chinanews rằng phải chăng là hoạt động bồi đắp các bãi đá và rạn san hô của Trung Quốc ở Biển Đông báo hiệu sự thay đổi trong chính sách của Trung Quốc ở khu vực này, ông Vương đã tái khẳng định là chính sách của Bắc Kinh không thay đổi.
"Trung Quốc triển khai xây dựng các hạng mục thiết yếu trên đảo/đá của mình, không nhằm vào và cũng không ảnh hưởng tới bất kỳ ai.
Chúng tôi không giống như 'một số quốc gia' chạy vào nhà người khác 'xây dựng trái phép' và cũng không chấp nhận bị người khác 'chỉ tay năm ngón' khi xây dựng trong chính sân nhà của mình.
Chỉ cần là những việc hợp pháp, hợp lý thì Trung Quốc hoàn toàn có quyền lợi thực hiện" - ông Vương Nghị nói trong cuộc họp báo.
Tuyên bố không úp mở này của ông Vương ngay lập tức hứng nhiều chỉ trích từ các chuyên gia và cộng đồng quốc tế.
NGUYÊN GIÁO SƯ HV QUỐC PHÒNG ÚCCARLYLE ALAN THAYER
Carlyle Alan Thayer là nhà nghiên cứu khoa học xã hội nổi tiếng, có hai quốc tịch Mỹ và Úc. Ông được biết đến trên phạm vi quốc tế qua các nghiên cứu và ấn phẩm viết về chính trị Việt Nam và các vấn đề an ninh Đông Nam Á.
Trả lời phỏng vấn của Đài phát thanh quốc tế Pháp (RFI), giáo sư Carlyle Alan Thayer - chuyên gia về Việt Nam và Đông Nam Á - đã không khỏi sửng sốt trước thái độ "thô bạo và ngạo mạn" của ông Vương.
"Nhận xét của ông Vương Nghị vừa thô bạo, vừa ngạo mạn".
Ông Thayer cho biết thêm: "Tôi vô cùng kinh ngạc khi đọc thấy ý kiến của Ngoại trưởng Trung Quốc, được đưa ra vài hôm trước ngày kỷ niệm 27 năm cuộc tấn công của Hải quân Trung Quốc vào tàu hậu cần Việt Nam ở khu vực quanh Đá Gạc Ma ngày 14/3/1988...
Trong thực tế, Trung Quốc đã chiếm 'nhà của người khác'.
...Tuyên bố của ông Vương Nghị là một ví dụ về việc Trung Quốc sử dụng chiến tranh thông tin nhằm bóp méo sự thật lịch sử và luật pháp quốc tế".
Ông Thayer cũng chỉ ra, đây là lần đầu tiên Trung Quốc công khai sử dụng cách gọi "nhà" và "sân" để nói về Biển Đông và cách dùng từ ngữ này cho thấy Bắc Kinh đang leo thang trong việc biện minh cho các hành động sai trái của mình.
"(Trung Quốc) chuyển từ việc khẳng định 'chủ quyền lịch sử' đối với các đảo và 'vùng biển tiếp giáp', sang việc tuyên bố quyền sở hữu không hơn không kém đối với với các thực thể như đảo đá, rạn san hô hay các bãi ngầm khác".
Cũng theo giáo sư Carl Thayer, Trung Quốc âm mưu tiếp tục lôi kéo ASEAN vào "chuỗi các cuộc đàm phán vô tận" về Bộ quy tắc ứng xử và "bám" lấy yêu sách rằng Bản Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) phải được thực hiện theo ý Bắc Kinh trước.
"Lời lẽ thô bạo của Ngoại trưởng Vương Nghị nhằm cô lập và hù dọa các thành viên ASEAN để buộc họ phải phục tùng.
Bắc Kinh đang hy vọng các thành viên ASEAN sẽ tiếp tục kiềm chế và khiến cho việc 'tham khảo' diễn ra bất tận" - ông Thayer nhận định.
Dân Việt tưởng niệm 25 năm trận chiến Gạc Ma chống Trung Quốc
Các nhà hoạt động hô to những khẩu hiệu “Hoàng Sa-Trường Sa của Việt Nam” và “Đả đảo Trung Quốc xâm lược” Các nhóm hoạt động chống Trung Quốc tại Việt Nam ngày 14/3 cử hành các nghi thức tưởng niệm 25 năm trận chiến Gạc Ma chống Trung Quốc xâm lược Trường Sa. Ngày 14/3/1988, Trung Quốc mở cuộc tấn công vào đảo Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa và 64 binh sĩ Việt Nam đã ngã xuống trong trận giao chiến. Một nhóm khoảng 20 trí thức và những người từng tham gia các cuộc biểu tình chống Trung Quốc sáng 14/3 tập trung trước tượng đài Lý Thái Tổ tại Hà Nội để đặt các vòng hoa tưởng nhớ các binh sĩ hải quân Việt Nam bị hải quân Trung Quốc giết chết trong lúc bảo vệ đảo Gạc Ma.Khi đoàn chúng tôi tiến vào, họ chỉa máy quay phim rất đông, khoảng 2-3 máy dành cho một người. Minh Hằng và các bạn rất bình tĩnh vì đây là việc làm tâm linh, uống nước nhớ nguồn....Sau khi mọi người đi khỏi đó, quay trở lại thì họ đã tháo bỏ băng rôn trên vòng hoa có dòng chữ ‘Tưởng nhớ các chiến sĩ hy sinh trong cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược tại đảo Gạc Ma’...Chị Bùi Thị Minh Hằng.Trước sự hiện diện của hàng chục nhân viên an ninh mặc thường phục và ống kính của một số ký giả nước ngoài, các nhà hoạt động đã hô to những khẩu hiệu “Hoàng Sa-Trừơng Sa của Việt Nam” và “Đả đảo Trung Quốc xâm lược”. Chị Bùi Minh Hằng, một người trong đoàn tưởng niệm, cho VOA Việt ngữ biết: “Từ tối hôm qua, các anh chị em ở Hà Nội cho biết công an đã cử người đến từng nhà, vận động không nên đi. Những người thể hiện quyết tâm đi thì họ năn nỉ rằng: “Nhẹ nhàng thôi, đừng băng rôn khẩu hiệu gì hết, mà chỉ đặt vòng hoa không thôi thì được. Trong quá trình chúng tôi ra đặt vòng hoa và tưởng niệm, họ không có động thái giống như hôm 17/2 là vào cướp vòng hoa hay ngăn trở. Tuy nhiên, họ bố trí rất nhiều công an cùng cảnh sát giao thông và các lực lượng đều được huy động chạy vòng quanh đó có tính chất uy hiếp. Thế nhưng họ không ra tay. Khi đoàn chúng tôi tiến vào, họ chỉa máy quay phim rất đông, khoảng 2-3 máy dành cho một người. Minh Hằng và các bạn rất bình tĩnh vì đây là việc làm tâm linh, uống nước nhớ nguồn. Minh Hằng đã rất xúc động khi đọc diễn văn về sự hy sinh của 64 chiến sĩ. Sau khi mọi người đi khỏi đó, quay trở lại Minh Hằng thấy họ đã tháo bỏ băng rôn trên vòng hoa có dòng chữ ‘Tưởng nhớ các chiến sĩ hy sinh trong cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược tại đảo Gạc Ma’”. Bấm vào nghe tường trình Dân Việt tưởng niệm 25 năm trận chiến Gạc Ma chống Trung Quốc Chị Hằng cho biết ngoài nhóm của chị còn có một nhóm khác cũng có các hoạt động tưởng niệm tương tự: “Hôm qua cũng có một nhóm xuống tận Hải Phòng. Họ đi ra biển để thả hoa đăng và kết hợp đi tặng quà các gia đình có liệt sĩ hy sinh trong cuộc chiến giữ đảo. Nhóm đó có đi Hải Phòng và Thái Bình. Còn nhóm của Minh Hằng thì ra tượng đài Lý Thái Tổ. Thông điệp của chúng tôi thứ nhất là tri ân và thứ hai là khẳng định quyền tự do bày tỏ của con người trong xã hội. Mình cần phải bày tỏ những vấn đề đó.” Video được phổ biến trên các trang mạng công dân cho thấy các bạn trẻ cầm khẩu hiệu và mặc áo in logo chống Trung Quốc xâm lược đọc Tuyên cáo trong đó có lời khẳng định: “Hôm nay đây, chúng tôi những người trẻ đứng trên đất này, hướng về Gạc Ma – Trường Sa bằng cả trái tim mình.” Truyền thông nhà nước có đưa tin về sự kiện Gạc Ma nhân ngày 14/3 năm nay, nhưng không loan tin về các hoạt động tưởng niệm này.
Tự hào thái quá của người Việt Nam và nỗi nhục Gạc Ma Các nhà viết sử thường né tránh những sự kiện nhục nhã . Người viết sử thường chỉ nhắc đi nhắc lại những chiến thắng nào đó của chính quyền. Những sự kiện nhục nhã ít khi nào được nhắc tới ở một thể chế chính trị độc đoán. Việt Nam là nước điển hình như vậy.Người Việt Nam thời kỳ CNXH chỉ quen với tự hào và biết đến tự hào, thời đại của người Việt huy hoàng và rực rỡ trong những chiến thắng, thành công, kết quả tốt đẹp…hàng hà đa số những lời chỉ đến sự tự hào được liên tục nhắc đi nhắc lại trên báo chí, truyền hình….đã là người dân Việt phải tự hào về cái gì đó, nhất là người dân Việt thời CNXH càng phải biết tìm cái gì đó để tự hào. Cho dù cái đó xa tít tắp chả ăn nhập gì đến đất nước, xã hội, đời sống cũng cân phải tự hào. Một thằng Tây balo ngáo ngơ sang Việt Nam khen lấy lệ Việt Nam đẹp cũng đủ là cái cớ để báo chí dựa vào đó tung hô đất nước ta đang ngời ngời ánh dương. Nhân dân ta đang sung sướng tột đỉnh.Thế nên ai mà trót dại nhắc đến chữ ‘’ nhục’’ nhất là nhục nước nhà thì đúng là vuốt râu hùm. Hàng loạt ý kiến nhâu nhâu phản đối, bức xúc, phẫn nộ đáp trả. Thời kỳ CNXH Việt Nam đâu có cái gì phải nhục, cái gì cũng tốt đẹp. Một cán bộ hưu trí, một bà bán rau cũng tót được lên báo để đưa ra những chứng cứ rằng đất nước, con người, cuộc sống ở Việt Nam đang rất đáng tự hào, bao nhiêu thành tựu này nọ đạt được một cách vanh vách bài bản. Nào là Việt Nam có bác Hồ vĩ đại danh nhân thế giới, có Đảng CS sáng suốt, tài tình có em bé đánh giày tẩm xăng lao vào kho đạn địch, có Phạm Tuân đi dép lốp bay vào vũ trụ , có đội bóng đá đoạt giải nhì khu vực vvNgười ta xúm lại bĩu môi chê trách kẻ nào dám nói ở Việt Nam có điều gì đáng nhục nhã, họ viện đủ lý do phản bác như là xấu thì ở đâu cũng thế thôi, nào là khách quan là vậy, đây chỉ là một hiện tượng nhỏ không phản ánh hết sự thật, nào là phải biết nhìn những cái tươi sáng thành tựu để mà lạc quan.Nói xấu quá có khi còn bị bỏ tù. Chả thế mà toà án Việt Nam nhiều lần tuyên án bị cáo thế này.- Bị cáo lợi dụng vào những sai sót nhỏ của một số cán bộ mà quy chụp là bản chất của chế độ, động cơ xuất phát từ bất mãn cá nhân, bị cáo cố tình không nhận thấy những thành tựu mà đất nước ta đạt được, bị cáo cố ý bôi xấu …làm xói mòn lòng tin của xã hội...Sự tự hào ăn sâu dần vào trong máu người Việt Nam một cách tinh vi, bài bản. Qua những ngợi ca dồn dập của giới truyền thông nước nhà. Ở Việt Nam tự hào cũng là cách bảo vệ mình an toàn. Vì tự hào có nghĩa là anh bằng lòng, mà bằng lòng thì anh không bức xúc, bất mãn không có thái độ phản kháng. Tự hào là yêu nước, là yêu chế độ, là yêu cả đường lối chính sách đã mang lại những kết quả tự hào….Nhà viết sử Việt Nam có trách nhiệm phản ánh tâm trạng xã hội đúng với yêu cầu chính trị hơn là đúng với bản chất sự việc vì người ta đòi hỏi họ như vậy.Khi thấy Việt Nam có nhu cầu sống còn phải lập quan hệ ngoại giao với mình . Nhà cầm quyền Trung Quốc đã đi những bước mang đầy tính phong kiến truyền thống của nước lớn đối với chư hầu. Đó là đòi lễ vật và hiến tế. Tháng 4 năm 1988 tại quần đảo Gạc Ma, như các nghi lễ truyền thống mà nước lớn đòi hỏi nước bé thể hiện sự thần phục toàn tâm có từ thời xa xưa của Trung Hoa. Người Trung Quốc đã dùng 74 chiến sĩ Việt Nam và đảo Gạc Ma của Việt Nam làm máu tế và đồ hiến dâng. Sau đó quan hệ hai nước liên tiếp được ca ngợi là hoà bình, hữu nghị, láng giếng tốt. Người Việt Nam vốn dĩ không biết nhục mà chỉ biết tự hào, do đó họ tự hào ca ngợi là quan hệ tốt đẹp cho hai bên. Cuộc tế lễ này được thực hiên chu đáo đến mức người Trung Quốc còn mang cả máy quay phim. Chứng tỏ họ rất tin tưởng sự sắp đặt chu đáo sẽ khiến buổi hiến tế có kết quả thành công như vậy.Người ta bắn giết người mình, cướp đất mình và điềm nhiên quay phim nhưng chả thấy người Việt Nam nào cảm thấy nhục cả. Thậm chí có kẻ còn bàng quan, thản nhiên phát biểu khi xem đoạn phim đó- Ở chắc gì là thật, bọn nào đó dựng lên để kích động , phá hoại quan hệ giữa ta và Trung Quốc thôi.Đến khi tàu lạ bắn ngư dân Việt Nam chết ngoài khơi, những kẻ này vẫn nói- Ờ chắc ngư dân mình kém hiểu biết đi sang nước khác mới vậy thôi, mà ngoài khơi thiếu gì tàu đánh cá các nước đi qua lại. Tai nạn như giao thông là chuyện thường. Bọn thù địch lợi dụng thông tin chưa rõ ràng để kích động.Trước sự kiện đẫm máu như thế, mà người ta lạnh nhạt, dửng dưng, còn làm ra vẻ hoài nghi. Chẳng qua thực chất là bản chất vốn tự hào quen rồi,, giờ thấy nhục không dám nhìn nhận mà thôi. Câu Tiễn bị thua, bề ngoài khiếp sợ. Nhưng còn biết luyện quân, tìm người giỏi, hàng đêm năm gai , nếm mật tự mắng mình. Việt Nam đâu có ai gào lên- Mày quên cái nhục ở Gạc Ma rồi saoVì như đã dẫn trên, người Việt thời kỳ XHCN làm gì có biết đến nhục đâu, họ chỉ biết đến tự hào mà thôi. Người Việt vì thế mau chóng quên sự kiện Gạc Ma.Người Việt không phản ứng, không nhắc đến, lờ đi biển Đông đến nỗi người Trung Quốc cũng tin biển Đông là của họ. Trong tâm tưởng của người Trung Quốc họ đinh ninh người Việt sẽ không bao giờ phản ứng trước những hành động bạo lực mà Trung Quốc gây ra. Người Trung Quốc cứ ung dung tàn bạo như lẽ tự nhiên.Báo chí Việt Nam mải mê với những tự hào đâu đó, dường như cả dân tộc Việt say đắm trong ánh hào quang tự tô vẽ. Những sự hy sinh cao cả của những người lính hải quân Việt Nam năm 1988 không ai muốn nhắc đến, cả đảo Gạc Ma bao đời cha ông tốn công khai phá giờ trong tay giặc cũng không ai nghĩ tới.Sự tự hào không đúng với thực tế, cũng như sự trốn tránh nhìn nhận cái hèn kém, nhục nhã là kẻ nội thù lớn nhất tiếp tay cho ngoại bang thôn tính đất nước. Hết đất liền rồi đến đảo, hết rừng đến đồng bằng bị mất vào tay ngoại bang. Thế nhưng người Việt vẫn không thức tỉnh, họ lại biện minh đủ lý lẽ nào đất liền thì là do mong muốn biên giới rõ ràng pháp lý . Rừng, núi, tài nguyên thì do phát triển kinh tế. Biển, đảo thì đàm phán hoà bình. Mọi cái đều êm ấm đâu vào đó cả, đất nước không có gì đáng lo ngoài những sự kiện đang tới phải tập trung chào đón với lòng tự hào, hãnh diện. Đại tướng Lê Đức Anh ‘sám hối’? Nhân dịp sinh nhật lần thứ 94 của cựu chủ tịch nước Lê Đức Anh, báo VietNamNet đã có bài phỏng vấn tiêu đề “Đại tướng Lê Đức Anh trăn trở Lời Thề ở Trường Sa” Động thái trên như để bào chữa trước các thông tin khẳng định đại tướng Lê Đức Anh khi còn đương chức chính là thủ phạm đã tiếp tay cho Trung Cộng đánh chiếm đảo Gạc Ma (Trường Sa) vào ngày 14/3/1988. Trong vai trò là bộ trưởng bộ quốc phòng, Lê Đức Anh đã ra lệnh cho hải quân Việt Nam ‘không được nổ súng’, dẫn đến hậu quả hải quân Trung Cộng dễ dàng đánh chiếm đảo Gạc Ma và ra tay thảm sát 64 người lính hải quân Việt Nam chỉ sau một trận chiến ngắn. Hành động bán nước của Lê Đức Anh đã được thiếu tướng Lê Mã Lương tiết lộ hôm 14/6/2014 tại hội thảo Minh Triết Biển Đông. Đại tướng ‘đau lòng’? Hiện nay, dù đã về hưu nhưng đại tướng Lê Đức Anh vẫn là một thế lực đáng sợ trong giới chóp bu Ba Đình. Nhân vật này là người đỡ đầu quyền lực cho thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, còn con trai ông Anh là Lê Mạnh Hà đang giữ chức phó chủ tịch ủy ban nhân dân TP.HCM. Trong bài phỏng vấn được đăng trên báo VietNamNet hôm 30/11/2014, Lê Đức Anh nói rằng sau khi xảy ra ‘cuộc đụng độ’ tại Gạc Ma, ông ta đã ra Trường Sa và cảm thấy ‘đau lòng’ khi nói ‘lời thề giữ gìn chủ quyền biển đảo’. "Tôi ra Trường Sa đúng dịp kỷ niệm ngày truyền thống bộ đội Hải quân và ngay sau khi vừa diễn ra cuộc đụng độ giữa bộ đội Hải quân của ta với tàu chiến của Hải quân Trung Quốc ở các đảo Gạc Ma, Chữ Thập. Lúc bấy giờ, tôi thấy cần thiết phải ra Trường Sa. Khi nói lời thề giữ gìn chủ quyền biển đảo ở Trường Sa, tôi đau lòng nhìn thấy một đất nước trải qua bao nhiêu năm chiến tranh mà vẫn không trọn vẹn, Hoàng Sa bị lấy mất rồi....", báo VietNamNet trích lời đại tướng Lê Đức Anh nói. Trước vong linh của 64 chiến sỹ hải quân Việt Nam đã hy sinh vì lệnh không được nổ súng, ông Lê Đức Anh có thực sự đau lòng hay không? Chỉ biết rằng sau trận Hải chiến Trường Sa năm 1988, Lê Đức Anh đã trực tiếp ‘đi đêm’ với Trung Cộng, dẫn tới kết quả là Hội Nghị Thành Đô diễn ra vào năm 1990. Sám hối hay ngụy biện? Hậu quả Mật nghị Thành Đô với vai trò của Lê Đức Anh, Đỗ Mười, Nguyễn Văn Linh… đã khiến Việt Nam bị mất hàng chục ngàn km vuông lãnh hải, lãnh thổ vào tay Trung Cộng. Gần đây, Trung Quốc đang ráo riết xây sân bay quân sự trên đảo Gạc Ma, biến nơi này thành một tiền đồn uy hiếp toàn bộ khu vực miền Nam của Việt Nam. Những phát biểu trên của đại tướng Lê Đức Anh là một lời sám hối lúc tuổi già, hay chỉ là một lời biện minh về hành vi tiếp tay bán nước cho Trung Cộng? Nếu thực sự sám hối, ông Lê Đức Anh hãy công khai cho toàn dân biết về những thỏa ước mà bộ chính trị đảng CSVN đã bí mật ký kết với Trung Cộng tại Hội nghị Thành Đô năm 1990. Ngược lại, mọi lời biện minh đều trở thành giả dối. Lê Đức Anh và bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm trước dân tộc bởi tội danh phản quốc về hành vi bán nước cho Trung Cộng. Nguồn: Hoàng Trần/ Danlambao (vietinfo.eu)
Cám ơn bạn đã truyền bá nội dung bài vở của chúng tôi. Ngoại trừ mục đích cá nhân, khi sử dụng lại thông tin, xin các bạn không quên ghi rõ tên tác giả, tên nguồn và vietinfo.eu.
NHỮNG KẺ BÁN NƯỚC: LỊCH SỬ KHẮC TÊN – NGÀN NĂM Ô NHỤC
(Lý Trần Công – 26.06.2014)
Lịch sử Việt Nam rồi đây sẽ phải hao tốn nhiều giấy mực để viết về giai đoạn lịch sử hiện nay có yếu tố cộng sản. Nhưng khi lịch sử cần kết luận cả quá trình hoạt động mà đảng CSVN tự cho là vinh quang, anh hùng, thì chỉ cần gói gọn trong hai chữ “BÁN NƯỚC” cũng đã là quá đủ.
Trong suốt chiều dài lịch sử cộng sản đảng, qua từng thời kỳ nhiều lãnh tụ xuất hiện rất đúng lúc, đúng thời điểm, để làm một công việc mà không phải người dân Việt Nam nào cũng có bản lãnh thực hiện đó là: BÁN NƯỚC.
Người dân Việt Nam tự hỏi không biết đảng CSVN đã bị bùa mê thuốc lú của bọn ngoại bang nào, mà cả gan làm tay sai và bán nước cho giặc như vậy? Phải chăng năm 1891 chính là lúc trên mảnh đất hình chữ S này, bắt đầu phát tác bùa ếm của thầy địa lý người Tàu, để mảnh đất truyền thống chống giặc Tàu là tỉnh Nghệ An, xuất hiện mầm mống bán nước như Nguyễn Sinh Cung? Nguồn cơn đại họa mất nước hiện nay của đất nước, đã xuất phát từ chính con người có cái tên Hồ Chí Minh? Câu trả lời thật cay đắng cho dân tộc Việt Nam nói chung và người dân Nghệ An nói riêng: Hồ Chí Minh chính là một kẻ BÁN NƯỚC có văn tự, mà có lẽ tên quan khờ khạo nhất trong hàng lãnh đạo là Phạm Văn Đồng đã đứng ra viết thay văn tự bán nước cho Hồ Chí Minh.
Phạm Văn Đồng sinh năm 1906, tại xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Ông ta chính là nỗi nhục cho người dân miền Trung xứ Quảng . Chẳng vậy mà từ khi mộ Phạm Văn Đồng được chôn tại Mộ Đức, đêm đêm người dân xứ này đem đồ dơ bẩn, chất thải con người ném đầy lên mộ ông ta. Nó tựa như hành động của người dân thôn Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định đã làm với ngôi mộ của đứa con vô đạo, bất hiếu, đấu tố cha mẹ trong vụ Cải cách ruộng đất là Trường Chinh – Đặng Xuân Khu. Lê Duẩn một kẻ thực thi nhiệm vụ do đệ tam quốc tế cộng sản giao phó nhiệt thành nhất, khi ném hàng triệu thanh niên miền Bắc vào lò lửa chiến tranh xâm lược miền Nam, và giết hàng ngàn thường dân vô tội trong Tết Mậu Thân ở Huế năm 1968, cũng như trên khắp miền Nam.
Lê Duẩn sinh năm 1907, tại làng Bích La, xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Người dân Quảng Trị cũng không thể ngờ một kẻ gác ghi xe lửa ở Sở Hỏa xa Đà Nẵng, sau này là đồ tể khát máu chỉ xếp sau Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp. Không những thế năm 1974 khi Trung cộng chiếm Quần Đảo Hoàng Sa từ tay Việt Nam Cộng Hòa, thì Lê Duẩn khi đó giữ chức Bí thư Thứ nhất đảng Lao Động, một tên khác của đảng CSVN lúc bấy giờ, đã chỉ thị cho Bộ Giáo Dục cộng sản Bắc Việt in sách giáo khoa Địa Lý lớp 9 xuất bản năm 1974, công nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung cộng. Giờ đây tài liệu này hiện nay đang được Trung cộng sử dụng làm bằng chứng chủ quyền tại Liên Hiệp Quốc. Từ năm 1989 đến năm 1991, được ví von như “mặt trời mọc ở phương Tây và lặn ở phương Đông”, khi sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản tại Liên sô và Đông Âu đem lại ánh sáng tự do cho các xứ sở này, thì các quốc gia cộng sản Châu Á vẫn tiếp tục chìm đắm trong bóng tối của chủ thuyết Mác-Lê-Mao.
Lịch sử Việt Nam lúc đó vốn đã bị cộng sản làm cho đen tối, thì giờ đây càng trở nên bi đát và thảm hại hơn, khi xuất hiện không chỉ một Lê Chiêu Thống bán nước, mà là hàng chục tên dắt díu nhau qua Thành Đô – Bắc Kinh để bán nước cầu vinh. Những kẻ lưu danh ô nhục trong lịch sử về tội bán nước, mà chủ mưu phải kể đến chính là: Nguyễn Văn Linh tên thật là Nguyễn Văn Cúc , sinh năm 1915, tại thôn Yên Phú, xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ, Tỉnh Hưng Yên, là Tổng Bí thư đảng CSVN từ 1986 đến 1991, Nguyễn Văn Linh đã quỳ gối dâng nước Việt Nam cho Tàu cộng để nhận sự bảo hộ từ thiên triều cho chiếc ghế quyền lực của đảng. Ông ta còn trơ trẽn biện minh hành vi bán nước của mình và đồng bọn bằng câu nói: “Thà chịu mất nước, chứ không thể mất đảng”. Người phản động thứ hai là Lê Đức Anh, sinh năm 1920, tại xã Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Xuất thân là một cai đồn điền cao su ở Lộc Ninh. Lê Đức Anh có lý lịch mờ ám nhưng giỏi luồn lách, đã leo lên đến chức đại tướng trong quân đội cộng sản. Sau khi lập công bán nước cho Tàu năm 1992, Lê Đức Anh được giao chức vụ Chủ tịch nước hòng ém nhẹm những thông tin tại Thành Đô và từng bước thực hiện các bước cam kết biến Việt Nam thành một tỉnh của Tàu vào năm 2020. Tiếp đến là Đỗ Mười, tên thật là Nguyễn Duy Cống, sinh ngày năm 1917 tại xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, được biết đến là một kẻ vô học, hành nghề thiến heo. Với lý lịch bần cố nông đỏ từ đầu đến chân nên được đảng trọng dụng. Ngày 7-11-1991, Đỗ Mười cùng Võ Văn Kiệt sang Bắc Kinh ký “hợp đồng bán nước”, trở về nước Đỗ Mười trở thành tổng bí thư đảng sau cái chết đột ngột của Nguyễn Văn Linh. Riêng Phạm Văn Đồng có mặt ở Thành Đô để dự phần bán nước lần hai.
Từ năm 1997 đến năm 2000, từ lăng Ba Đình, một nhóm lãnh tụ gồm: Lê Khả-Phiêu Tổng Bí-thư đảng, Trần Ðức Lương Chủ-tịch nước, Nông Ðức-Mạnh Chủ-tịch Quốc-hội, Phan Văn Khải Thủ-tướng, Nguyễn Mạnh Cầm Bộ trưởng Ngoại-giaọ. Sau khi Nông Đức Mạnh yêu cầu toàn bộ đại biểu quốc hội bù nhìn thông qua hiệp định nhượng đất, dâng biển cho Tàu cộng, thì sau đó Nguyễn Mạnh Cầm bay sang Bắc Kinh nhận 2 tỷ Mỹ kim về chia chác cho nhau. Riêng Nguyễn Văn Linh do chết trước khi tiền về, nên con cháu ông ta nhận tiền thừa kế bán nước. Còn rất nhiều cá nhân dự phần bán nước cho Tàu cộng, nhưng hãy để việc đó cho những nhà viết sử tương lai thu thập tên tuổi, bằng chứng… Người dân Việt Nam ngày hôm nay cần khắc ghi tên tuổi của những kẻ bán nước hại dân của đảng cộng sản, và truyền lại cho thế hệ con cháu mai sau rằng, CSVN chính là tập đoàn vong bản nhất trong lịch sử Việt Nam.
CÀ MAU (NV) - Tại doanh trại quân đội CSVN ở xã Tân Lộc, huyện Thới Bình, đã xảy ra vụ đánh nhau giữa các sĩ quan khiến một chết, một bị trọng thương.
Người dân hiếu kỳ tụ tập tại bệnh xá quân dân y Cà Mau vào tối 11 tháng 3. (Hình: Tuổi Trẻ)
Tuổi Trẻ đưa tin ngày 12 tháng 3, ông Phạm Hoàng Sâm, chỉ huy trưởng Bộ Chỉ Huy Quân Sự tỉnh Cà Mau xác nhận, Trung Úy Nguyễn Hữu Phước (35 tuổi), quê Cái Nước, Cà Mau, công tác tại Phòng Kỹ Thuật, Kho Vũ Khí cầu số 4, thuộc Bộ Chỉ Huy Quân Sự tỉnh Cà Mau đã bị đâm chết trong vụ đánh nhau với đồng ngũ là Ðại Úy Phạm Thái Huế, quê Quảng Bình vào chiều ngày 11 tháng 3.
Hiện cơ quan điều tra của Quân Khu 9 đã tạm giữ ông Huế để điều tra.
Theo tin cho biết, vào khoảng 17 giờ ngày 11 tháng 3, tại doanh trại quân đội cầu số 4 (còn gọi là kho đạn, kho vũ khí) nằm tại xã Tân Lộc, huyện Thới Bình, xảy ra vụ đánh nhau khiến ông Phước chết với nhiều vết đâm trên người. Ðồng thời, Thiếu Úy Ngô Tấn Ðược, người được cho là đã can ngăn vụ xô xát cũng bị trọng thương, được đưa vào bệnh viện quân y 121, thành phố Cần Thơ để điều trị.
Mặc dù sự việc khá nghiêm trọng và gây chấn động dư luận, song ông Phạm Hoàng Sâm cho hay đây là chuyện nội bộ, sẽ cung cấp thông tin chính thống sau khi đã điều tra rõ vụ việc.
Chiều ngày 12 tháng 3, báo Tuổi Trẻ cho hay là “đã cố gắng liên lạc với Bộ Chỉ Huy Quân Sự Cà Mau để tìm hiểu thêm thông tin, nhưng cơ quan này cũng không cung cấp thông tin chi tiết.” (Tr.N)
'Sói đói' đặt chân vào nhà 'dê con'
Phạm Viết Đào từ Hà Nội
Người kỷ niệm sự kiện Gạc Ma ở Hà Nội năm 2013
Sự kiện Trung Quốc đánh chiếm Gạc Ma ngày 14/3/1988, xảy ra cách đây 27 năm. 74 chiến sĩ đa phần là công binh thuộc Trung đoàn công binh 83 và Lữ đoàn 146 của Hải quân Việt Nam, được giao nhiệm vụ triển khai chiến dịch mang tên CQ-88, xây dựng lại 3 hòn đảo Garma, Colin và Len Đao nằm trong quần đảo Trường Sa thuộc thềm lục địa, chủ quyền lãnh hải của Việt Nam.
Khi xuất quân làm nhiệm vụ, 74 chiến sĩ công binh này đã được cấp trên quán triệt “không được nổ súng bằng bất cứ giá nào”.
Do đó, họ chủ yếu mang theo lương thực, xi măng, cốt thép và các cột bê tông đúc sẵn mà không mang theo bất cứ một loại vũ khí hạng nặng nào, chỉ trừ vài ba khẩu súng AK. 74 chiến sĩ công binh của Trung đoàn công binh 83 đã đến đảo Gạc Ma chiều ngày 13/3/1988. Sáng ngày 14/3/ họ đã bị 3 tàu Trung Quốc tấn công, 64 chiến sĩ đã hy sinh và chỉ còn 9 chiến sĩ may mắn sống sót trở về.
Đảo Gạc Ma, Colin và Len Đao là chùm đảo quan trọng: nằm trên tuyến đường tiếp tế cho đảo Sinh Tồn, đảo lớn nhất của quần đảo Trường Sa của Việt Nam và các hòn đảo khác trong chum đảo Trường Sa. Gạc Ma nằm ở vị trí trung tâm chi phối toàn bộ khu vực Biển Đông.
Trong suốt chiều dài lịch sử kể từ khi thành lập nước Trung Hoa 1/10/1949, chúng ta thấy đó là nhà quyết sách được lập trình, tính toán kỹ lưỡng, nhất quán, không bao giờ có các quyết sách, hành vi ngẫu hứng. Thế hệ lãnh đạo Trung Quốc tiền nhiệm đã chủ trương quyết định thế nào thì thế hệ sau tiếp tục theo đuổi, kiên trì quyết sách đó. Khác với Việt Nam, các thế hệ sau thường phải đứng ra nhận lãnh, giải quyết hậu quả của thế hệ trước.
Các thế hệ lãnh đạo kế tiếp Trung Quốc có thể trái quan điểm nhau trong các quyết sách đối nội. Riêng đối ngoại thì họ luôn thống nhất bởi những quyết sách đó luôn bám vào cái trục xoay, cái cốt lõi của chủ thuyết đối ngoại nhất quán của Trung Quốc: Chủ nghĩa bành trướng, bá quyền nước lớn.
Sự kiện Trung Quốc cho tàu đánh chiếm Gạc Ma, tàn sát các chiến sĩ công binh của Việt Nam vào sáng ngày 14/3/1988 là hành động được tính toán, để nhằm làm cơ sở, tiền đề cho những tuyên bố ngày 8/3/2015 của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Vương Nghị của Trung Quốc. Khi đó, ông giải thích với báo chí việc Trung Quốc cho cơi nới, mở rộng đảo Gạc Ma thành căn cứ hải quân lớn trên Biển Đông, vùng nằm trong chủ quyền lãnh hải của Việt Nam. Ông trắng trợn tuyên bố Biển Đông là “sân nhà của Trung Quốc” và vì thế, “mọi công việc xây dựng, cải tạo đảo do Bắc Kinh tiến hành đều hợp pháp”.
Có thể xâu chuỗi lại hàng loạt sự kiện xảy ra trong quan hệ Việt-Trung giai đoạn thập kỷ 80 của thế kỷ trước để thấy rằng: Đánh chiếm Gạc Ma là một hành động quân sự nhằm triển khai ý chí, tham vọng, mưu đồ chiến lược, độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc. Chủ trương này được Mao Trạch Đông đề ra và năm 1974 Trung Quôc triển khai bước 1: đánh chiếm Hoàng Sa; năm 1988 triển khai bước tiếp theo: chiếm Gạc Ma.
Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị trong cuộc họp ba phương với Ấn Độ, Nga, tháng 2/2015
Trong các vị trí chiến lược về quân sự, kinh tế, chính trị, Trung Quốc đã lựa chọn đánh chiếm Biển Đông là một quyết sách đầy tham vọng và thâm hiểm. Sau cuộc chiến tranh đánh 6 tỉnh biên giới phía bắc Việt Nam thất bại, Trung Quốc nhận ra nếu chỉ gây sự với Việt Nam trên khu vực biên giới thì không đạt được những tham vọng chiến lược bành trướng và rất tốn kém cả về nhân tài, vật lực.
Tôi đã hàng chục lần lên Vị Xuyên Hà Giang. Tôi đã đặt chân tới chân ngọn núi 1509 mà Trung Quốc gọi là Lão Sơn nghiên cứu, điều tra nguyên nhân vì sao từ 1981-1989 Trung Quốc đã tập trung tại địa bàn này, một lực lượng 27 sư đoàn của 5 đại quân khu, đánh dữ dội, công kiên với quân đội Việt Nam trong gần 10 năm và cũng đã phải chịu tổn thất nặng nề.
Nếu tính cả lực lượng tiếp tế, dân binh thì Trung Quốc đã tập trung tại đây, chủ yếu khu vực cửa khẩu Thanh Thuỷ, một vùng đất với diện tích chưa tới 100 km2, lực lượng khoảng 50-60 vạn quân trong 10 năm, bằng lực lượng quân viễn chinh Mỹ đưa vào miền năm giai đoạn 1965-1975.
Trong lịch sử, Trung Quốc chỉ một lần duy nhất đưa quân vào Việt Nam từ hướng Côn Minh, đó là đội quân của Mộng Thạnh thời nhà Minh được đưa vào cùng với Liễu Thăng để cứu Vương Thông bị vây hãm ở Đông Đô. Các triều đại phong kiến Trung Hoa triển khai, tấn công xâm lược Việt Nam từ hướng Lạng Sơn và vùng biển Vân Đồn Quảng Ninh.
Tôi cho rằng Trung Quốc dồn binh lực tập trung mở mặt trận Vị Xuyên 1981-1989 là nhằm thu hút sự chú ý của Việt Nam vào chiến trường này để rồi bất thần đánh úp Gạc Ma vào ngày 14/3/1988. Như vậy, Trung Quốc đã đạt được mục đích chiến lược bằng sự nghi binh và sự che dấu ý đồ chiến lược thâm hiểm giống với cách Việt Nam đánh úp Buôn Ma Thuột mùa xuân 1975.
Sau khi đã chiếm được Gạc Ma, một trong những yết hầu quan trọng của Biển Đông, Trung Quốc chuyển sang chiến lược hoà hoãn, ru ngủ Việt Nam. Trung Quốc chìa bàn tay “nhung” ra cho Việt Nam bắt bằng thoả thuận Thành Đô năm 1990. Còn nhớ bước vào giai đoạn những năm 90, Giang Trạch Dân, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đưa ra phương châm “16 chữ vàng”, “quan hệ 4 tốt”.
Có thể coi việc Trung Quốc chiếm Gạc Ma trong trận ngày 14/3/1988 giống hành vi của “chó sói” đã đặt được một chân trong ngôi nhà của các chú “dê con” trong khi mẹ vắng nhà. Sau khi sói ta đã đặt được 2 chân rồi thì bước tiếp theo chắc chắn sẽ là những cú nhảy bổ vào căn nhà của những chú dê con cuồng tín và ngu tín tội nghiệp.
Liệu Trung Quốc có đạt được tham vọng độc chiểm Biển Đông hay không, điều này không hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí, tham vọng của những cái đầu nóng Trung Hoa đang nung nấu tham vọng bá quyền, nước lớn.