Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Sáu 2026
T2T3T4T5T6T7CN
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30          
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 8
 Lượt truy cập: 29340499

 
Tin tức - Sự kiện 15.06.2026 14:47
Đảng viên CSVN bị cấm nhập tịch, định cư các nước Tây phương Tự do
08.02.2015 16:12

Cánh cửa nhập tịch Mỹ, Canada  và Âu Châu có thể đóng lại với những ai có bất cứ mối quan hệ trực tiếp hay gián tiếp nào với một đảng cộng sản trong vòng 10 năm vì họ được coi là phần tử bất hảo có hại cho xã hội loài người. 

Nhưng vẫn có ngoại lệ.

Câu hỏi số 10 trên mẫu đơn N-400 xin gia nhập quốc tịch (Form N-400 – Petition for naturalization) là câu hỏi nhạy cảm với nhiều người đến từ Việt Nam hay Trung Quốc: “Quý vị có bao giờ từng là thành viên hay có bất kỳ mối liên hệ (trực tiếp hay gián tiếp) với a) đảng cộng sản, b) Bất kỳ đảng độc tài nào khác, và c) Một tổ chức khủng bố?”

Câu hỏi số 10 và toàn bộ mẫu đơn N-400 sẽ được dùng để hỏi trực tiếp người nộp đơn trong buổi phỏng vấn thi nhập quốc tịch, dưới sự tuyên thệ với tòa án và chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu khai man. Sau đó, nếu đơn xin nhập tịch được chấp thuận, trước ngày lễ tuyên thệ, người nộp đơn còn phải trả lời 3 câu hỏi trên một lần nữa trong mẫu đơn N-445, tại câu hỏi số 5, tái khẳng định trong thời gian chờ đợi từ ngày phỏng vấn đến ngày tuyên thệ, họ không tham gia đảng cộng sản, bất kỳ đảng độc tài nào khác, hay một tổ chức khủng bố.

Theo số liệu của Viện Chích sách Nhập cư Hoa Kỳ (MPI), cho đến cuối năm 2012, nước này có đến 1.3 triệu người Việt Nam nhập cư, chiếm hơn 0,4% tổng dân số. Đây cũng là cộng đồng nhập cư lớn thứ 6 ở Mỹ, sau cộng đồng Mexico, Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines và Cộng hòa Dominican. Cộng đồng người Việt Nam nhập tịch gia tăng nhanh chóng từ 231 nghìn người năm 1980. Họ chủ yếu là những thuyền nhân Việt Nam vượt biên sau năm 1975, sau khi định cư tại Mỹ, họ đón người thân sang theo diện đoàn tụ gia đình. Một bộ phận đáng kể và ngày càng lớn hơn là các du học sinh ở lại sau khi học xong, người lao động có tay nghề và nhà đầu tư. Cần lưu ý đây là số liệu người Việt Nam nhập tịch, không tính người Mỹ gốc Việt được sinh ra ở Mỹ.

Mẫu đơn nhập tịch khiến cho cộng đồng người Việt Nam ở Mỹ tin rằng có một luật bất thành văn trong thủ tục nhập quốc tịch Mỹ, đó là đảng viên đảng cộng sản hay những ai có một mối liên hệ với đảng cộng sản sẽ không được cho phép trở thành công dân Mỹ. Gần 40 năm qua, hầu như chưa có ai đặt ra câu hỏi là nước Mỹ thật sự có cấm đảng viên đảng cộng sản trở thành công dân nước họ thông qua thủ tục gia nhập quốc tịch hay không, và nếu có thì dựa vào điều luật nào của Luật Di trú Mỹ? Tin đồn về việc một số đảng viên và con cái của đảng viên đảng cộng sản sang Mỹ sinh sống và định cư càng khiến điều này trở thành mối quan tâm của cả người Việt Nam trong nước lẫn nước ngoài.

Tiêu chí nào để một thường trú nhân có thể gia nhập quốc tịch Mỹ?

Để trả lời câu hỏi trên, chúng ta nên tìm hiểu vấn đề về tiêu chí dành cho một người thường trú nhân ở Mỹ được nhập tịch trở thành công dân.

Đòi hỏi trước tiên và có thể nói là duy nhất chính là người đó phải cho cơ quan di trú và chính phủ Mỹ nhận thấy họ đã từng (trong quá trình sinh sống như một người thường trú nhân ở Mỹ) và sẽ tiếp tục là một người gắn kết với các nguyên tắc giá trị của Hiến pháp Mỹ và đã hoàn toàn hòa nhập vào trật tự xã hội cũng như phúc lợi của Mỹ, theo Chương 316 (a) của Đạo luật Di trú và Quốc tịch (Immigration and Nationality Act (INA) 316(a). See 8 CFR 316.11.).

Theo phán quyết của án lệnh In re Shanin, 278 F.739 (D.C. Mass. 1922), sự “gắn kết” ở đây có nghĩa là người nào muốn trở thành công dân Mỹ, họ bắt buộc phải là một người tích cực ủng hộ Hiến pháp nước này.

Sự gắn kết đó bao gồm cả sự hiểu biết, tâm thức cũng như sự tình nguyện gắn bó với những nguyên tắc giá trị của Hiến pháp. Bất kỳ người nào có thái độ thù địch với cơ cấu tổ chức chính quyền Mỹ hoặc không tin vào những nguyên tắc giá trị của Hiến pháp đều không đủ điều kiện để nhập quốc tịch chiếu theo phán quyết của án lệ Allan v. United States, 115 F.2d 804 (9th Cir. 1940).

Sở dĩ luật di trú đòi hỏi người thi nhập quốc tịch phải chứng minh họ đã và sẽ gắn kết với các nguyên tắc giá trị của Hiến pháp là bởi vì Hiến pháp (bao gồm các Tu chính án) được xem là đại diện cho “sự tối cao của luật pháp Mỹ” (Supreme law of the land). Một người xin nhập quốc tịch Mỹ phải chứng minh được họ hoàn toàn tin tưởng và tuyệt đối trung thành với nước Mỹ qua việc đồng ý ủng hộ và sẵn sàng bảo vệ những nguyên tắc giá trị của Hiến pháp bằng cách cho thấy họ chấp nhận những giá trị dân chủ và tinh thần tuân thủ pháp luật. Điều này sẽ được thể hiện qua hành động đọc lời thề trung thành tuyệt đối với nước Mỹ (Oath of Allegiance) trong ngày lễ tuyên thệ gia nhập quốc tịch.

Do đó, việc một người đã từng là đảng viên của đảng cộng sản hay có một sự liên hệ (gián tiếp hoặc trực tiếp) với nó đều có thể bị xem là không gắn kết được với các nguyên tắc giá trị của Hiến pháp Mỹ nếu họ xin gia nhập quốc tịch. (INA Chương 313 và 316. 8 CFR 316).

Ngoài ra, việc một người là đảng viên đảng cộng sản hay những đảng phái độc tài khác, hay tham gia những tổ chức khủng bố cũng có thể là cơ sở để nghi ngờ tư cách đạo đức, động cơ họ xin lưu trú tại nước Mỹ, và cũng là có thể đủ để chính phủ Mỹ tiến hành thủ tục trục xuất đối với họ.

Theo Bộ An ninh Nội địa và Cơ Quan Di trú và Nhập tịch Mỹ (U.S. Citizenship and Immigration Services – Department of Homeland Security) một người nếu là đảng viên đảng cộng sản hay có liên hệ với đảng cộng sản trong vòng 10 năm trước ngày nộp đơn và cho đến ngày tuyên thệ gia nhập quốc tịch thì sẽ không được nhập quốc tịch Mỹ.

Tuy nhiên điều luật này có thể được miễn trừ nếu người xin nhập quốc tịch chứng minh được, bao gồm những điều sau đây nhưng không phải nhất thiết là tất cả: (1) việc họ tham gia đảng cộng sản hay mối liên hệ với nó là việc không tự nguyện, (2) khi tham gia họ không có sự nhận thức về mục đích của tổ chức của đảng cộng sản và khi có nhận thức về điều đó họ đã chấm dứt quan hệ với tổ chức, (3) họ đã chấm dứt quan hệ với đảng cộng sản trước năm 16 tuổi, (4) họ tham gia đảng cộng sản vì đó là sự bắt buộc phải chấp hành theo quy trình pháp luật, (5) họ tham gia đảng cộng sản vì những nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống như để có được việc làm, được phân phối thực phẩm và những nhu yếu phẩm khác, và (6) họ đã không còn là đảng viên đảng cộng sản trên 10 năm.

Từ đó có thể kết luận là Đạo luật về di trú Mỹ cho phép những người đã từng là đảng viên đảng cộng sản gia nhập quốc tịch Mỹ nếu họ chứng minh được họ thuộc trong 6 diện miễn trừ nêu trên.

Quốc tịch Mỹ có thể bị tước bỏ

Ngoài ra, nếu một người sau khi nhập tịch và trở thành công dân Mỹ, mà lại tham gia đảng cộng sản, các đảng phái độc tài khác, các tổ chức khủng bố hay các tổ chức chống lại Mỹ, Hiến pháp Mỹ, và người dân Mỹ, chính phủ có thể khởi kiện người đó ra hệ thống tòa di trú (Immigration court system) và đề nghị tòa tước bỏ quyền công dân qua hệ thống tòa án di trú.

Những người khai man trong đơn xin gia nhập quốc tịch Mỹ liên quan đến những vấn đề này cũng có thể bị kiện tước bỏ quyền công dân Mỹ.

Cần lưu ý là việc tham gia đảng cộng sản không mặc nhiên khiến cho một công dân nhập cư mất quốc tịch Mỹ, bởi đảng cộng sản được tự do thành lập và hoạt động tại đất nước này.

Đơn kiện tước bỏ quyền công dân và quốc tịch sẽ được tống đạt đến người bị kiện và họ sẽ được quyền phản bác đơn kiện cũng như phía chính phủ Mỹ phải chứng minh được lý do tước quốc tịch tại tòa với những bằng chứng rõ ràng, chắc chắn và thuyết phục (clear, unequivocal and convincing). Đây là một chuẩn mực về bằng chứng rất cao, chỉ đứng sau chuẩn mực “nghi ngờ hợp lý” (beyond a reasonable doubt) của những vụ án hình sự ở Mỹ. Nghĩa vụ phải chứng minh là trách nhiệm của phía chính phủ. Và, chính phủ phải chứng minh được các bằng chứng đưa ra cho thấy bị cáo không có “sự gắn bó” với Hiến pháp Mỹ khi tham gia các tổ chức nêu trên.

Án lệ nổi tiếng Schneiderman v. United States 320 U.S.118 (1943), một phán quyết của Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ, chính là ví dụ đơn cử cho chuẩn mực về những hồ sơ đề nghị tước quyền công dân sau khi nhập tịch vì lý do đảng phái chính trị. Người kháng án Schneiderman là di dân gốc Nga, đã đến Mỹ năm 3 tuổi vào khoảng thời gian 1907-1908. Năm 1922, Schneiderman tham gia Liên đoàn Công nhân Trẻ của thành phố Los Angeles. Năm 1924, Schneiderman nộp đơn gia nhập quốc tịch Mỹ và năm 1925 anh ta tham gia Đảng Công nhân, là tiền thân của đảng Cộng sản Hoa Kỳ. Schneiderman trở thành công dân Mỹ năm 1930. Cũng từ năm1930, Schneiderman bắt đầu giữ những vị trí lãnh đạo của đảng Cộng sản Hoa Kỳ và vào năm 1939, chính phủ Mỹ bắt đầu khởi kiện đòi tước bỏ quyền công dân của Schneiderman. Tại phiên tòa xét xử, tư cách công dân Mỹ của Schneiderman đã bị tước bỏ và thu hồi quốc tịch đối với anh.

Tối cao Pháp Viện Hoa Kỳ, sau đó, đã chấp nhận đơn kháng án của Schneiderman vì phán quyết về quyền công dân và quốc tịch Mỹ của anh sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến cuộc sống của Schneiderman khi anh có thể bị trục xuất khỏi đất nước mà anh đã sinh sống từ năm ba tuổi. Phán quyết của Tối cao Pháp viện đã lật lại bản án của Schneiderman cũng như hủy bỏ quyết định tước quốc tịch của phiên xử trước. Như lời của thẩm phán Murphy, người viết quyết định chính thức của vụ án: phía chính phủ đã không thể chứng minh là những mối liên hệ với đảng Cộng sản Hoa Kỳ của Schneiderman khiến cho anh trở thành người không có sự “gắn kết” với những nguyên tắc giá trị của Hiến pháp Mỹ cũng như Schneiderman đã không có bất kỳ hành động gì chống lại Hiến pháp và người dân Mỹ trong thời gian giữ những chức vụ của đảng Cộng sản Hoa Kỳ.

Do đó, việc một người đang là hay đã từng là đảng viên đảng cộng sản không nhất thiết là lý do từ chối việc gia nhập quốc tịch hay là bằng chứng để tước quốc tịch của công dân Mỹ. Quốc tịch Mỹ là sự cam kết giữa chính phủ Mỹ và những cá nhân tin tưởng vào những nguyên tắc giá trị mà Hiến pháp đại diện, được thể hiện qua lời thề quyết tâm bảo vệ trước nhất và trên hết sự tự do, dân chủ cũng như những quyền con người nằm trong văn bản pháp luật tối cao đó trong ngày tuyên thệ gia nhập quốc tịch.

FBI kêu gọi mọi người trong cộng đồn VN hải ngoại  hãy tích cực tố cáo các di dân gốc Việt còn là đảng viên CSVN để tiến hành thủ tục trục cuất, tước quốc tịch và vĩnh viễn không cho nhập cảnh Hoa Kỳ và các nước tự do Tây Phương

Xin đọc phần tiếng Anh dưới đây


Green Card Inadmissibility Based o­n Membership in a Communist Party

When seeking U.S. permanent residency, the USCIS or Department of State will ask (among other things) whether the applicant has ever been a member of a Communist Party or any other totalitarian party. While many applicants will answer “no,” citizens of certain countries may have to disclose some type of affiliation with a Communist Party – even though membership was involuntary and there was no active participation.

Example: Sergei is a 30-year old U.S. citizen and he wants to sponsor his father, Fedor – a Russian citizen – for U.S permanent residency. In 1982, prior to the dissolution of the U.S.S.R., Fedor was required to register as a member of the Communist Party in order to qualify a government job. Since this was the o­nly job available to him, and since he had three children to support, he had no choice but to register for the sake of employment. After the dissolution in 1991, Fedor ceased any affiliation with the Communist Party and found a new job as a project manager with a private manufacturing company.

In applying for Adjustment of Status, Fedor disclosed that he had been affiliated with a Communist Party from 1982 to 1991. In doing so, Fedor may have admitted to being inadmissible for purposes of obtaining a green card.

However, there are exceptions to this inadmissibility:

Involuntary Membership

Fedor may not be inadmissible if he can demonstrate that his membership or affiliation with the Communist party was “involuntary, or is or was solely when under 16 years of age, by operation of law, or for purposes of obtaining employment, food rations, or other essentials of living and whether necessary for such purposes.”

Past Membership

Fedor may also not be inadmissible if he can demonstrate that the membership or affiliation terminated at least two (2) years before the date of application; five (5) years before the date of application (if his membership or affiliation was with the party controlling the government of a foreign state that is a totalitarian dictatorship as of such date; and he is not a threat to U.S. security. In the instant case,

Close Family Members

Finally, the Attorney General may waive the application in the case of an immigrant who is the parent, spouse, son, daughter, brother, or sister of a U.S. citizen, or a spouse, son, or daughter of green card holder for humanitarian purposes, to assure family unity or in the public interest if the immigrant is not a threat to U.S. security. Since Fedor is the parent of a U.S. citizen, and he has shown that he does not pose a threat to U.S. security, his inadmissibility may be waived by an order of the Attorney General.

Conclusion

The USCIS called Fedor and his son in for an interview, at which time he explained that he o­nly volunteered to be a member of the Communist Party in order to secure employment and that his membership ended in 1991. Since it had been more than twenty (20) years since his membership ended, and since he demonstrated that his membership was involuntary, the USCIS elected to waive his inadmissibility and grant him U.S. permanent residency.



Đảng viên Cộng sản bị cấm nhập tịch Mỹ?

Cánh cửa nhập tịch Mỹ có thể đóng lại với những ai có bất cứ mối quan hệ trực tiếp hay gián tiếp nào với một đảng cộng sản trong vòng 10 năm. Nhưng vẫn có ngoại lệ.
Câu hỏi số 10 trên mẫu đơn N-400 xin gia nhập quốc tịch (Form N-400 – Petition for naturalization) là câu hỏi nhạy cảm với nhiều người đến từ Việt Nam hay Trung Quốc: “Quý vị có bao giờ từng là thành viên hay có bất kỳ mối liên hệ (trực tiếp hay gián tiếp) với a) đảng cộng sản, b) Bất kỳ đảng độc tài nào khác, và c) Một tổ chức khủng bố?”
Câu hỏi số 10 và toàn bộ mẫu đơn N-400 sẽ được dùng để hỏi trực tiếp người nộp đơn trong buổi phỏng vấn thi nhập quốc tịch, dưới sự tuyên thệ với tòa án và chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu khai man. Sau đó, nếu đơn xin nhập tịch được chấp thuận, trước ngày lễ tuyên thệ, người nộp đơn còn phải trả lời 3 câu hỏi trên một lần nữa trong mẫu đơn N-445, tại câu hỏi số 5, tái khẳng định trong thời gian chờ đợi từ ngày phỏng vấn đến ngày tuyên thệ, họ không tham gia đảng cộng sản, bất kỳ đảng độc tài nào khác, hay một tổ chức khủng bố.
Theo số liệu của Viện Chích sách Nhập cư Hoa Kỳ (MPI), cho đến cuối năm 2012, nước này có đến 1.3 triệu người Việt Nam nhập cư, chiếm hơn 0,4% tổng dân số. Đây cũng là cộng đồng nhập cư lớn thứ 6 ở Mỹ, sau cộng đồng Mexico, Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines và Cộng hòa Dominican. Cộng đồng người Việt Nam nhập tịch gia tăng nhanh chóng từ 231 nghìn người năm 1980. Họ chủ yếu là những thuyền nhân Việt Nam vượt biên sau năm 1975, sau khi định cư tại Mỹ, họ đón người thân sang theo diện đoàn tụ gia đình. Một bộ phận đáng kể và ngày càng lớn hơn là các du học sinh ở lại sau khi học xong, người lao động có tay nghề và nhà đầu tư. Cần lưu ý đây là số liệu người Việt Nam nhập tịch, không tính người Mỹ gốc Việt được sinh ra ở Mỹ.
Mẫu đơn nhập tịch khiến cho cộng đồng người Việt Nam ở Mỹ tin rằng có một luật bất thành văn trong thủ tục nhập quốc tịch Mỹ, đó là đảng viên đảng cộng sản hay những ai có một mối liên hệ với đảng cộng sản sẽ không được cho phép trở thành công dân Mỹ. Gần 40 năm qua, hầu như chưa có ai đặt ra câu hỏi là nước Mỹ thật sự có cấm đảng viên đảng cộng sản trở thành công dân nước họ thông qua thủ tục gia nhập quốc tịch hay không, và nếu có thì dựa vào điều luật nào của Luật Di trú Mỹ? Tin đồn về việc một số đảng viên và con cái của đảng viên đảng cộng sản sang Mỹ sinh sống và định cư càng khiến điều này trở thành mối quan tâm của cả người Việt Nam trong nước lẫn nước ngoài.
Tiêu chí nào để một thường trú nhân có thể gia nhập quốc tịch Mỹ?
Để trả lời câu hỏi trên, chúng ta nên tìm hiểu vấn đề về tiêu chí dành cho một người thường trú nhân ở Mỹ được nhập tịch trở thành công dân.
Đòi hỏi trước tiên và có thể nói là duy nhất chính là người đó phải cho cơ quan di trú và chính phủ Mỹ nhận thấy họ đã từng (trong quá trình sinh sống như một người thường trú nhân ở Mỹ) và sẽ tiếp tục là một người gắn kết với các nguyên tắc giá trị của Hiến pháp Mỹ và đã hoàn toàn hòa nhập vào trật tự xã hội cũng như phúc lợi của Mỹ, theo Chương 316 (a) của Đạo luật Di trú và Quốc tịch (International and Nationality Act (INA) 316(a). See 8 CFR 316.11.).
Nhà đầu tư TQ mua khá nhiều bất động sản tại Hoa Kỳ.
Theo phán quyết của án lệnh In re Shanin, 278 F.739 (D.C. Mass. 1922), sự “gắn kết” ở đây có nghĩa là người nào muốn trở thành công dân Mỹ, họ bắt buộc phải là một người tích cực ủng hộ Hiến pháp nước này.
Sự gắn kết đó bao gồm cả sự hiểu biết, tâm thức cũng như sự tình nguyện gắn bó với những nguyên tắc giá trị của Hiến pháp. Bất kỳ người nào có thái độ thù địch với cơ cấu tổ chức chính quyền Mỹ hoặc không tin vào những nguyên tắc giá trị của Hiến pháp đều không đủ điều kiện để nhập quốc tịch chiếu theo phán quyết của án lệ Allan v. United States, 115 F.2d 804 (9th Cir. 1940).
Sở dĩ luật di trú đòi hỏi người thi nhập quốc tịch phải chứng minh họ đã và sẽ gắn kết với các nguyên tắc giá trị của Hiến pháp là bởi vì Hiến pháp (bao gồm các Tu chính án) được xem là đại diện cho “sự tối cao của luật pháp Mỹ” (Supreme law of the land). Một người xin nhập quốc tịch Mỹ phải chứng minh được họ hoàn toàn tin tưởng và tuyệt đối trung thành với nước Mỹ qua việc đồng ý ủng hộ và sẵn sàng bảo vệ những nguyên tắc giá trị của Hiến pháp bằng cách cho thấy họ chấp nhận những giá trị dân chủ và tinh thần tuân thủ pháp luật. Điều này sẽ được thể hiện qua hành động đọc lời thề trung thành tuyệt đối với nước Mỹ (Oath of Allegiance) trong ngày lễ tuyên thệ gia nhập quốc tịch.
Do đó, việc một người đã từng là đảng viên của đảng cộng sản hay có một sự liên hệ (gián tiếp hoặc trực tiếp) với nó đều có thể bị xem là không gắn kết được với các nguyên tắc giá trị của Hiến pháp Mỹ nếu họ xin gia nhập quốc tịch. (INA Chương 313 và 316. 8 CFR 316).
Ngoài ra, việc một người là đảng viên đảng cộng sản hay những đảng phái độc tài khác, hay tham gia những tổ chức khủng bố cũng có thể là cơ sở để nghi ngờ tư cách đạo đức, động cơ họ xin lưu trú tại nước Mỹ, và cũng là có thể đủ để chính phủ Mỹ tiến hành thủ tục trục xuất đối với họ.
Theo Bộ An ninh Nội địa và Cơ Quan Di trú và Nhập tịch Mỹ (U.S. Immigration and Naturalization Service – Department of Homeland Security) một người nếu là đảng viên đảng cộng sản hay có liên hệ với đảng cộng sản trong vòng 10 năm trước ngày nộp đơn và cho đến ngày tuyên thệ gia nhập quốc tịch thì sẽ không được nhập quốc tịch Mỹ.
Tuy nhiên điều luật này có thể được miễn trừ nếu người xin nhập quốc tịch chứng minh được, bao gồm những điều sau đây nhưng không phải nhất thiết là tất cả: (1) việc họ tham gia đảng cộng sản hay mối liên hệ với nó là việc không tự nguyện, (2) khi tham gia họ không có sự nhận thức về mục đích của tổ chức của đảng cộng sản và khi có nhận thức về điều đó họ đã chấm dứt quan hệ với tổ chức, (3) họ đã chấm dứt quan hệ với đảng cộng sản trước năm 16 tuổi, (4) họ tham gia đảng cộng sản vì đó là sự bắt buộc phải chấp hành theo quy trình pháp luật, (5) họ tham gia đảng cộng sản vì những nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống như để có được việc làm, được phân phối thực phẩm và những nhu yếu phẩm khác, và (6) họ đã không còn là đảng viên đảng cộng sản trên 10 năm.
Từ đó có thể kết luận là Đạo luật về di trú Mỹ cho phép những người đã từng là đảng viên đảng cộng sản gia nhập quốc tịch Mỹ nếu họ chứng minh được họ thuộc trong 6 diện miễn trừ nêu trên.
Quốc tịch Mỹ có thể bị tước bỏ
Hoa Kỳ mới có chính sách linh hoạt hơn cho sinh viên Trung Quốc.
Ngoài ra, nếu một người sau khi nhập tịch và trở thành công dân Mỹ, mà lại tham gia đảng cộng sản, các đảng phái độc tài khác, các tổ chức khủng bố hay các tổ chức chống lại Mỹ, Hiến pháp Mỹ, và người dân Mỹ, chính phủ có thể khởi kiện người đó ra hệ thống tòa di trú (Immigration court system) và đề nghị tòa tước bỏ quyền công dân qua hệ thống tòa án di trú.
Những người khai man trong đơn xin gia nhập quốc tịch Mỹ liên quan đến những vấn đề này cũng có thể bị kiện tước bỏ quyền công dân Mỹ.
Cần lưu ý là việc tham gia đảng cộng sản không mặc nhiên khiến cho một công dân nhập cư mất quốc tịch Mỹ, bởi đảng cộng sản được tự do thành lập và hoạt động tại đất nước này.
Đơn kiện tước bỏ quyền công dân và quốc tịch sẽ được tống đạt đến người bị kiện và họ sẽ được quyền phản bác đơn kiện cũng như phía chính phủ Mỹ phải chứng minh được lý do tước quốc tịch tại tòa với những bằng chứng rõ ràng, chắc chắn và thuyết phục (clear, unequivocal and convincing). Đây là một chuẩn mực về bằng chứng rất cao, chỉ đứng sau chuẩn mực “nghi ngờ hợp lý” (beyond a reasonable doubt) của những vụ án hình sự ở Mỹ. Nghĩa vụ phải chứng minh là trách nhiệm của phía chính phủ. Và, chính phủ phải chứng minh được các bằng chứng đưa ra cho thấy bị cáo không có “sự gắn bó” với Hiến pháp Mỹ khi tham gia các tổ chức nêu trên.
Án lệ nổi tiếng Schneiderman v. United States 320 U.S.118 (1943), một phán quyết của Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ, chính là ví dụ đơn cử cho chuẩn mực về những hồ sơ đề nghị tước quyền công dân sau khi nhập tịch vì lý do đảng phái chính trị. Người kháng án Schneiderman là di dân gốc Nga, đã đến Mỹ năm 3 tuổi vào khoảng thời gian 1907-1908. Năm 1922, Schneiderman tham gia Liên đoàn Công nhân Trẻ của thành phố Los Angeles. Năm 1924, Schneiderman nộp đơn gia nhập quốc tịch Mỹ và năm 1925 anh ta tham gia Đảng Công nhân, là tiền thân của đảng Cộng sản Hoa Kỳ. Schneiderman trở thành công dân Mỹ năm 1930. Cũng từ năm1930, Schneiderman bắt đầu giữ những vị trí lãnh đạo của đảng Cộng sản Hoa Kỳ và vào năm 1939, chính phủ Mỹ bắt đầu khởi kiện đòi tước bỏ quyền công dân của Schneiderman. Tại phiên tòa xét xử, tư cách công dân Mỹ của Schneiderman đã bị tước bỏ và thu hồi quốc tịch đối với anh.
Tối cao Pháp Viện Hoa Kỳ, sau đó, đã chấp nhận đơn kháng án của Schneiderman vì phán quyết về quyền công dân và quốc tịch Mỹ của anh sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến cuộc sống của Schneiderman khi anh có thể bị trục xuất khỏi đất nước mà anh đã sinh sống từ năm ba tuổi. Phán quyết của Tối cao Pháp viện đã lật lại bản án của Schneiderman cũng như hủy bỏ quyết định tước quốc tịch của phiên xử trước. Như lời của thẩm phán Murphy, người viết quyết định chính thức của vụ án: phía chính phủ đã không thể chứng minh là những mối liên hệ với đảng Cộng sản Hoa Kỳ của Schneiderman khiến cho anh trở thành người không có sự “gắn kết” với những nguyên tắc giá trị của Hiến pháp Mỹ cũng như Schneiderman đã không có bất kỳ hành động gì chống lại Hiến pháp và người dân Mỹ trong thời gian giữ những chức vụ của đảng Cộng sản Hoa Kỳ.
Do đó, việc một người đang là hay đã từng là đảng viên đảng cộng sản không nhất thiết là lý do từ chối việc gia nhập quốc tịch hay là bằng chứng để tước quốc tịch của công dân Mỹ. Quốc tịch Mỹ là sự cam kết giữa chính phủ Mỹ và những cá nhân tin tưởng vào những nguyên tắc giá trị mà Hiến pháp đại diện, được thể hiện qua lời thề quyết tâm bảo vệ trước nhất và trên hết sự tự do, dân chủ cũng như những quyền con người nằm trong văn bản pháp luật tối cao đó trong ngày tuyên thệ gia nhập quốc tịch.

Danh sách trên 300 cán bộ Cộng Sản có tài sản trên vài trăm triệu Mỹ kim có thân nhân đang tìm cách định cư tại  Mỹ và Âu Châu Tự Domặc dầu rất  yêu qúy trung thành với TQ.

Phan Văn Khải và con trai trên 2 tỷ USD
Nguyễn Thị Xuân Mỹ : Chủ Tịch Ủy Ban Trung Ương Kiểm Soát 417 triệu USD
Thích Trí Tịnh : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch, TW GHP 250 triệu USD
Lê Đức Anh : Cựu Chủ tịch nhà nước CSVN 2 tỷ 215 triệu USD
Trần Đức Lương : Chủ tịch nhà nước 2 tỷ 100 triệu USD
Đỗ Mười : Cựu Tổng Bí Thư CSVN 1 tỷ 90 triệu USD
Nguyễn Tiến Dũng : Đệ nhát Phó Thủ Tướng 1 tỷ 780 triệu USD
Nguyễn Văn An : Chủ tịch Ban Chấp Hành Trương Đảng CSVN 1 tỷ 70 triệu USD
Lê Khả Phiêu: Cựu Tổng Bí Thư Đảng 1 tỷ 430 triệu USD
Nguyễn Mạnh Cầm : Phó Thủ Tướng 1 tỷ 350 triệu USD
Võ Văn Kiệt : Cựu Tổng Bí Thư Đảng 1 tỷ 15 triệu USD
Nông Đức Mạnh : Tổng Bí Thư CSVN 1 tỷ 143 triệu USD
Phạm Thế Duyệt : Uỷ viên Thường vụ Thường trực TW Đảng 1 tỷ 773 triệu USD
Trần Ngọc Liễng : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 900 triệu USD
Hoàng Xuân Sính : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 784 triệu USD
Lý Ngọc Minh : Uỷ viên UBTW MTTQVN 750 triệu USD
Nguyễn Đình Ngộ : Chủ tịch UBMTTQ 656 triệu USD
Võ Thị Thắng : Phó Chủ tịch Trung ương HLHPN 654 triệu USD
Ma Ha Thông : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 590 triệu USD
Nguyễn Đức Triều : Chủ tịch TW Hội Nông dân VN 590 triệu USD
Trần Văn Quang : Chủ tịch Hội Cựu chiến binh VN 587 triệu USD
Nguyễn Đức Bình : Giám Đốc Viện Quốc Gia TPHCM 540 triệu USD
Vương Đình Ái : Phó Chủ tịch Uỷ ban ĐKCĐVN 512 triệu USD
Hoàng Thái : Thường trực Đoàn Chủ tịch 500 triệu USD
Nguyễn Thị Nữ : Chủ tịch UBTW MTTQVN 500 triệu USD
Nguyễn Tiến Võ : Uỷ viên UBTW MTTQVN 469 triệu USD
Nguyễn Văn Huyền : Nhân sĩ thành phố HCM 469 triệu USD
Nguyễn Xuân Oánh : Kinh tế Thành phố HCM 469 triệu USD
Phạm Thị Trân Châu : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 469 triệu USD
Thích Thiện Duyên : Giáo hội Phật giáo QN ĐN 469 triệu USD
YA Đúc : uỷ viên UBTW MTTQVN 469 triệu USD
Hà Học Trạc : Chủ tịch UBTW MTTQVN 400 triệu USD
Hoàng Quang Đạo : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh 390 triệu USD
Lê Hai : Tổng cục chính trị QĐNDVN 390 triệu USD
Lê Truyền : Uỷ viên Ban Thường trực 390 triệu USD
Lý Quý Dương : Dân Tộc Dao tỉnh Hà Giang 390 triệu USD
Phạm văn Kiết : Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc 390 triệu USD
Vương Đình Bích : Uỷ viên UBTW MTTQVN 390 triệu USD
Trần Đông Phong : Thường trực UBTƯMTTQVN 387 triệu USD
Trần Văn Đăng : Uỷ viên TƯ Đảng,Tổng Thư ký 364 triệu USD
Hoàng Đình Cầu : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 300 triệu USD
Lý Chánh Trung : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 300 triệu USD
Ngô Bá Thành : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 300 triệu USD
Trương Thị Mai : Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam 300 triệu USD
Hồ Đức Việt : Bí Thư thứ nhất TW Đoàn TNCS 287 triệu USD
Lâm Công Định : Uỷ viên UBTW MTTQVN 287 triệu USD
Ngô Gia Hy : Uỷ viên UBTW MTTQVN 287 triệu USD
Trần Văn Chương : Chủ tịch Hội người Viẹt Nam 287 triệu USD
Trương Văn Thọ : Bác sỹ, dân tộc Chăm 287 triệu USD
Đỗ Duy Thường : Vụ Trưởng vụ Dân chủ pháp luật 280 triệu USD
Đỗ Tấn Sỹ : Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Pháp 280 triệu USD
Lê Văn Triết : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 280 triệu USD
Lương Tấn Thành : Giáo Sư Bệnh viện Bạch Mai 280 triệu USD
Nguyễn Phúc Tuần : Uỷ viên UBTW MTTQVN 280 triệu USD
Phạm Thị Sơn : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 280 triệu USD
Lê Bạch Lan : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 269 triệu USD
Nguyễn Văn Vi : Uỷ viên UBMTTW 269 triệu USD
Trần Thoại Duy Bảo : Uỷ viên UBTW MTTQVN 269 triệu USD
Vũ Oanh Lão : thành cách mạng 269 triệu USD
Nguyễn Thị Nguyệt : Cao đài Ban Chỉnh tỉnh Bến Tre 264 triệ USD
Bùi Thái Kỷ : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh 257 triệu USD
Hoàng Hồng : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 257 triệu USD
Lưu Văn Đạt : Tổng Thư ký Hội Luật gia Việt Nam 257 triệu USD
Nguyễn Công Danh : T P. Hồ Chí Minh 257 triệu USD
Nguyễn Túc : Uỷ viên Ban Thường trực 257 triệu USD
Nguyễn Văn Bích : Uỷ Ban Kế hoạch Nhà Nước 257 triệu USD
Hoàng Việt Dũng : Giám đốc Công ty TNHH 256 triệu USD
Phan Quang : Hội nhà báo Việt Nam , Uỷ viên UBMT 256 triệu USD
Vưu Khải Thành : Tổng công ty hữu hạn BITIS 256 triệu USD
Cao Xuân Phổ : Viện Đông Nam á 254 triệu USD
Chu Văn Chuẩn : Chủ tịch Uỷ ban MTTQVN 254 triệu USD
Đăng Thị Lợi : Chủ tịch Hội Thân nhân Việt kiều 254 triệu USD
Hoàng Văn Thượng : Đại tá, Anh hùng quân đội 254 triệu USD
Lê Quang Đạo : Trung ương Mặt trận Tổ quốc N 254 triệu USD
Lợi Hồng Sơn : Uỷ viên UBTW MTTQVN 254 triệu USD
Lý Chánh Trung : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 254 triệu USD
Ngô Ngọc Bỉnh : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 254 triệu USD
Nguyễn Kha : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 254 triệu USD
Nguyễn Văn Hạnh : Uỷ viên UBTW MTTQVN 254 triệu USD
Nguyễn Văn Vĩnh : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 254 triệu USD
Đinh Thuyên : Chủ tịch hội người mù Việt Nam 250 triệu USD
Đoàn Thị ánh Tuyết : Thượng tá, Anh hùng quân đội 250 triệu USD
Lê Thành : Phó Chủ tịch Thường trực 250 triệu USD
Mùa A Sấu : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 250 triệu USD
Trần Kim Thạch : Uỷ viên UBTW MTTQVN 250 triệu USD
Lê Ngọc Quán : Mặt trận Tổ quốc tỉnh Vĩnh Phú 249 triệu USD
Nguyễn Quang Tạo : Chủ tịch liên hiệp các hội hoà bình 249 triệu USD
Nguyễn Văn Thạnh : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 249 triệu USD
Thào A Tráng : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 249 triệu USD
Trần Khắc Minh : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 229 triệu USD
Lê Minh Hiền : Thường trực UBTƯMTTQVN 215 triệu USD
Hà Thị Liên : Thường trực UBTƯMTTQVN 214 triệu USD
Ama Bhiăng : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USD
Âuu Quang Cảnh : Uỷ viên UBTW MTTQVN 200 triệu USD
Bế Viết Đẳng : Uỷ viên UBTW MTTQVN 200 triệu USD
Đàm Trung Đồn : Đại học Tổng hợp Hà Nội 200 triệu USD
Đặng Đình Tứ : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USD
Đặng Ngọc Bân : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USD
Đinh Công Đoàn : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USD
Đinh Gia Khánh : Viện Văn học dân gian 200 triệu USD
Hà Phú An : Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USD
Hoàng Đức Hỷ : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USD
Lâm Bá Châu : Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Pháp 200 triệu USD
Lê Văn Tiếu : Việt kiều tại CHLB Đức 200 triệu USD
Lương Văn Hận : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USD
Nguyễn Văn Tư : Chủ tịch Hội Công Thương 200 triệu USD
Phùng Thị Hải : Giám đốc Công ty TNHH Thuỷ Sản 200 triệu USD
Rơ Ô Cheo : Dân tôc Gia Lai tỉnh Gia Lai 200 triệu USD
Sầm Nga Di : Dân tộc Thái, tỉnh Nghệ An 200 triệu USD
Thích Đức Phương : Thừa Thiên Huế 200 triệu USD
Thích nữ Ngoạt Liên : Uỷ viên UBTW MTTQVN 200 triệu USD
Trần Hậu : TWMTTQVN Trưởng Ban Nghiên 200 triệu USD
Triệu Thuỷ Tiên : Dân tộc Nùng 200 triệu USD
Trương Nghiệp Vũ : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USD
Trương Quốc Mạo : Chủ tịch Hội nông dân 200 triệu USD
Ung Ngọc Ky : Uỷ viên uỷ ban TWMTTQ 200 triệu USD
Vũ Đình Bách : Uỷ viên UBTW MTTQVN 200 triệu USD
Mong Văn Nghệ : Dân tộc Khơ mú tỉnh Nghệ An 197 triệu USD
Đinh Xông : Dân tộc Hrê tỉnh Quãng Ngãi 190 triệu USD
Lê Công Tâm : Phó Chủ tịch Thường trực 190 triệu USD
Mấu Thị Bích Phanh : Dân tộc Raklây tỉnh Ninh Thuận 190 triệu USD
Nguyễn Ngọc Minh : Uỷ viên UBMTTQ tỉnh Huế 190 triệu USD
Phan Hữu Phục : Cao đài Tiên thiên 190 triệu USD
Trần Thế Tục : Uỷ viên UBTW MTTQVN 190 triệu USD
Hoàng Mạnh Bảo : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 187 triệu USD
Nguyễn Thị Ngọc Trâm : Uỷ viên UBTW MTTQVN 187 triệu USD
Phạm Hồng Sơn : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 187 triệu USD
Phan Hữu Lập : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 187 triệu USD
Thái Văn Năm : Phật giáo Hoà hảo 187 triệu USD
Trần Văn Tấn : Uỷ viên UBTW MTTQVN 187 triệu USD
Vi Văn ỏm : Dân tộc Xi mun tỉnh Sơn La, 187 triệu USD
Bùi Thị Lập : Uỷ viên UBTW MTTQVN 184 triệu USD
Kpa Đài : Uỷ viên UBTW MTTQVN 184 triệu USD
Lê Văn Hữu : Mặt trận Tổ quốc tỉnh Phú Yên 184 triệu USD
Nông Quốc Chấn : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 184 triệu USD
Phạm Khiêm Ich : Viên Thông tin KHXH 184 triệu USD
Phạm Thanh Ba : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 184 triệu USD
Từ Tân Vũ : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 184 triệu USD
Viễn Phương : Nhà thơ Uỷ viên UBMTTQ 184 triệu USD
Nguyễn Ngọc Thạch : Tổng Biên Tập Báo Đại Đoàn kết 180 triệu USD
Trương Hán Minh : Người Hoa TP. Hồ Chí MInh 180 triệu USD
Bùi Xướng : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 157 triệu USD
Trần Đình Phùng : Chủ tịch Uỷ ban Mặt 157 triệu USD
Hồ Ngọc Nhuận : Uỷ viên UBTW MTTQVN 156 triệu USD
Phan Huy Lê : Uỷ viên UBTW MTTQVN 156 triệu USD
Nguyễn Thống : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 154 triệu USD
Trần Minh Sơn : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 154 triệu USD
Vũ Duy Thái : Giám đốc xí nghiệp trách nhiệm hữu hạn 154 triệu USD
Chu Phạm Ngọc Sơn : Uỷ viên UBTW MTTQVN 150 triệu USD
Đỗ Hoàng Thiệu : Đà Nẵng Ngân Hàng tỉnh QN ĐN 150 triệu USD
Dương Nhơn : Uỷ viên UBTW MTTQVN 150 triệu USD
Huỳnh Cương : Uỷ viên UBTW MTTQVN 150 triệu USD
Mai Thế Nguyên : Kiến trúc sư trưởng tại Na Uy 150 triệu USD
Ngô Minh Thưởng : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 150 triệu USD
Nguyễn Ngọc Sương : Đại học Tổng hợp Thành phố 150 triệu USD
Nguyễn Văn Diệu : Chủ tịch Uỷ ban MTTQVN 150 triệu USD
Phạm Ngọc Hùng : Uỷ viên UBTW MTTQVN 150 triệu USD
Thượng thơ Thanh : HT Cao đài Toà Thánh Tây Ninh 150 triệu USD
Trần Đức Tăng : Phối sư Hội thánh Cđ Minh Chơn đạo 150 triệu USD
Trần Phước Đường : Uỷ viên UBTW MTTQVN 150 triệu USD
Lê Đắc Thuận : Giám đốc điều hành Cty VANOCO 107 triệu USD
Nguyễn Đức Thành : Chủ tịch Ban điều hành CLB 107 triệu USD
Trần Mạnh Sang : Uỷ viên UBTW MTTQVN 107 triệu USD
Amí Luộc : Uỷ viên UBTW MTTQVN 100 triệu USD
Bùi Thị Lạng : Thành phố Hồ Chí Minh. 100 triệu USD
Danh Nhưỡng Dân tộc Khơ me 100 triệu USD
Đào Văn Tý : Uỷ viên UBTW MTTQVN 100 triệu USD
Đồng Văn Chè : Chủ tịch Uỷ ban MTTQVN 100 triệu USD
Hà Den : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 100 triệu USD
Hồ Phi Phục : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 100 triệu USD
Hoàng Kim Phúc : Tổng Hội trưởng Hội Thánh tin lành 100 triệu USD
Kim Cương Tử : UBTW MTTQV 100 triệu USD
Lê Ca Vinh : Uỷ viên UBTW MTTQVN 100 triệu USD
Lý Lý Phà : Uỷ viên UBTW MTTQVN 100 triệu USD
Nguyễn Hữu Hạnh : Nhân sỹ Thành phố 100 triệu USD
Nguyễn Lân : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 100 triệu USD
Nguyễn Lân Dũng : Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội 100 triệu USD
Nguyễn Minh Biện : Chủ tịch Uỷ ban MTTQVN 100 triệu USD
Nguyễn Phước Đại : Luật sư TP. Hồ Chí Minh 100 triệu USD
Nguyễn Tấn Đạt : Phật giáo Hoà hảo tỉnh An Giang 100 triệu USD
Nguyễn Thành Vĩnh : Uỷ viên UBTW MTTQVN 100 triệu USD
Nguyễn Thị Liên : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 100 triệu USD
Nguyễn Thiên Tích : Chủ tịch hội y học cổ truyền VN 100 triệu USD
Nông Thái Nghiệp :Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 100 triệu USD
Phùng Thị Nhạn : Nghệ sỹ nhân dân Thành phố HCM 100 triệu USD
Sùng Đại Dùng : Chủ tịch Uỷ ban MTTQVN 100 triệu USD
Trương Quang Đạt : Dân tộc Sán Dìu tỉnh Vĩnh Phú 100 triệu USD
Tương Lai : Uỷ viên UBTW MTTQVN 100 triệu USD
Vũ Mạnh Kha : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Hà Nội 100 triệu USD
Hà Thái Bình : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 56 triệu USD
Nguyễn Văn Đệ : Thượng tá, kỹ sư thuộc Bộ Quốc Phòng 56 triệu USD
Trần Bá Hoành : Uỷ viên UBTW MTTQVN 56 triệu USD
Võ Đình Cường : Uỷ viên UBTQ MTTQVN 56 triệu USD
Cù Huy Cận : Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật VN 50 triệu USD
Lê Khắc Bình : Chủ tịch, Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 50 triệu USD
Huỳnh Thanh Phương : ủy Quân sự thành phố Cần Thơ 32 triệu USD
Hồ Xuân Long : Dân tộc Vân kiều, Quãng Trị 15 triệu USD
Một tài liệu cũ trong báo Quốc gia, Montreal, Canada từ tháng 2/1996 trích tin Nữu Ước cho biết:
” Một thành viên cao cấp của Hội đồng mậu dịch Việt – Mỹ tiết lộ đảng CSVN được xem là một tỉ phú hàng đầu của thế giới vào năm 1995 với tài sản ước lượng lên đến 20 tỉ đôla…VN hiện nay có khoảng từ 80 đến 100 người có tài sản trên 300 triệu đô la, tất cả các tỉ phú này đều là cán bộ cao cấp của đảng.
“Ông John Shapiro, một cựu chiến binh Hoa kỳ sau 3 tuần lễ thăm VN để tính chuyện làm ăn buôn bán, phát biểu rằng các ông lớn trong đảng gồm các thành viên bộ chính trị, các bộ trưởng và thứ trưởng, ít nhất mỗi người có vợ hay con làm chủ một công ty. Theo ông J Shapiro, do việc chính phủ cho phép các công ty được chuyển ngân ra nước ngoài lên đến 500000 đô la, số ngoại tệ trong nước bắt đầu vơi đi.
“Vẫn theo ông Shapiro, có khoảng 700 đảng viên CSVN có tài sản từ 100 đến 300 triệu đô la. Đây là con số do một nhân vật cao cấp của ngân hàng trung ương cung cấp cho ông. Những đảng viên có tài sản từ 50 đến 100 triệu đô la khoảng 2000 người…Tất cả những con số về tài sản của đảng CSVN là do những chuyên viên thống kê của cơ quan mậu dịch quốc tế. Số tài sản lớn lao trên do thân nhân của đảng viên cao cấp ở nước ngoài làm sở hữu chủ. Ông Shapiro cũng nêu lên nhiều thí dụ điển hình như vợ bé của tổng cục phản gián làm ăn rất lớn ở Âu châu, em ruột của trung tướng VC, tổng cục phó tổng cục phản gián đang kinh doanh rất lớn ở Nam Cali, vợ con của Giám đốc tổng cục kinh tế và thân nhân của Đỗ Mười thủ đắc những tài sản nhiều triệu đô la ở Vancouver, Canada và cả ở New York, Houston. Trong niên khóa 94-95, hàng trăm du học sinh là con cái đảng viên tự túc. Niên khóa 95-96, con số này tăng lên gấp 3…”
Một tài liệu khác trong website mà tôi tạm dịch là mạng điểm ( cf. địa điểm, thời điểm) Hận Nam Quan tháng 5/2002 tựa là ” Giai cấp mới trong các chế độ CS ” cho biết :
“Theo tin của hãng thông tấn Reuter đánh đi từ Hà nội ngày 4 tháng 3 năm 2002 thì ĐCSVN sau khóa họp TƯ Đảng từ 18-2-đến 2-3-2002 đã chính thức ban hành một chính sách mới về kinh tế rất táo bạo: Đảng viên CS được phép làm kinh doanh tư nhân. Phạm Chi Lan, Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và kỹ nghệ tuyên bố với phóng viên của hãng thông tấn Reuter rằng:”… Đại hội đã quyết định là các đảng viên đang quản trị các xí nghiệp tư nhân có quyền ở lại trong Đảng”.
“Thật ra thì từ nhiều năm nay, các đảng viên cao cấp tuy không chính thức sở hữu một xí nghiệp tư nào cả nhưng thân nhân bà con của họ đã là chủ nhân của những xí nghiệp tư lớn nhất trong nước.
“Cứ hỏi vợ con các ông Phan văn Khải, Võ văn Kiệt, Đỗ Mười, Phạm Thế Duyệt, Trần Đức Lương, Nguyễn Tấn Dũng…là sẽ biết ai là chủ nhân của các sân golf, các khách sạn hạng sang, hãng xe taxi, hãng hàng không, nhà máy chế biến hải sản, hãng xuất nhập cảng, siêu thị lớn nhất nước.
“Ai mà không thấy sự giàu có hiển nhiên của giới lãnh đạo CS tại VN. Họ xây nhà lầu, xài tiền như nước, xuất ngoại như đi chợ, chi tiêu một lúc hàng bó đô la tiền mặt… Giới tư bản đỏ nhờ phù phép XHCN đã biến tài sản của quốc gia thành tư sản một cách thần tình, biển thủ công quỹ, buôn lậu hàng quốc cấm thế mà cứ hò hét diệt tham nhũng đến cùng.
“Theo tài liệu FYI ( Poliburos network) ngày 19/12/2000 thì các cán bộ và nhân viên cao cấp của nhà nước CS Hà nội hiện làm chủ những số tiền to lớn gửi tại các ngân hàng ngoại quốc cộng với những bất động sản tọa lạc trong nước.
- Lê Khả Phiêu : cựu tổng bí thư ĐCSVN và gia đình có 5 khách sạn (2 ở Hànội và 3 ở Saigon), tài sản và tiền mặt trị giá 1 tỉ 170 triệu Mỹ kim (US$ 1.170.000.000)
- Trần Đức Lương: Chủ tịch nước CHXHCNVN, tài sản và tiền mặt 1 tỉ 137 triệu MK
- Phan Văn Khải: Thủ tướng chính phủ, gia đình có 6 khách sạn ở Saigon, tài sản 1 tỉ 200 triệu MK.
- Nguyễn Tấn Dũng: Đệ 1 Phó Thủ tướng, tài sản 1 tỉ 480 triệu MK
- Nguyễn Mạnh Cầm: Phó Thủ tướng, tài sản 1 tỉ 150 triệu MK
- Phạm Thế Duyệt: Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc, tài sản 1 tỉ 173 triệu MK
- Tướng Phạm Văn Trà : Bộ trưởng Quốc Phòng, tài sản gồm có 10 tấn vàng và tiền mặt 1 tỉ 360 triệu MK.
- Trương tấn Sang: Chủ tịch Ủy ban Kinh tế TƯ Đảng CSVN, tài sản và tiền mặt 1 tỉ 124 triệu MK
Ngoài ra, còn một số cán bộ và công chức có 1 tỉ và trên 100 triệu MK trong danh sách liệt kê của bảng FYI này là hơn 20 người nữa.
Gần đây nhất, theo điện thư Câu lạc bộ dân chủ số 39 tháng 2/2005 trong mạng điểm Y kiến thì:
“Một nguồn tin tuyệt mật đã được tiết lộ mới đây từ một quan chức cao cấp Bộ Công an cho biết số tiền khổng lồ mà các quan chức cao cấp VN gửi tại ngân hàng Thụy sĩ.. Đáng chú ý là:
Cựu Chủ tịch nước Lê Đức Anh hơn 2 tỉ USD cộng 7 tấn vàng;
Cựu Tổng Bí thư Đỗ Mười 2 tỉ USD;
Đương kim Bộ trưởng Quốc Phòng Phạm văn Trà 2 tỉ USD cộng 3 tấn vàng;
Cựu Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu 500 triệu USD;
Đương kim Chủ tịch nước Trần Đức Lương 2 tỉ USD;
Đương kim Thủ tướng Phan văn Khải hơn 2 tỉ USD;
Đương kim Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn tấn Dũng hơn 1 tỉ USD;
Đương kim Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh 1,3 tỉ USD;
Đương kim chủ tịch Quốc hội Nguyễn văn An hơn 1 tỉ USD;
Cựu phó ủy ban thể dục thể thao Quốc gia Lương quốc Đống 500 triệu USD;
Cựu Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn mạnh Cầm hơn 1 tỉ USD;
Cựu Thứ trưởng thường trực Bộ Thương mại Mai văn Dậu hơn 1 tỉ USD.
Ngoài ra, nguồn tin cũng cho biết một danh sách dài các quan chức

ĐẢNG LƯU MANH, CHÍNH QUYỀN CÔN ĐỒ
Trần Nhu 

ĐCSVN rõ ràng là một tổ chức lưu manh
“chuyên nghiệp”, và nhà nước CHXHCNVN 
là một công cụ đắc lực của bọn lưu manh.

Đây là một sự thực, không thể dùng một danh từ nào thích hợp hơn. Vì rằng những thủ đoạn dối trá lưu manh đã đựơc Đảng Cộng Sản VN thực hiện suốt trong 6 thập niên qua, và hiện tại nó đang diễn ra công khai hàng ngày, hàng giờ ở Việt Nam, giữa công an của chính phủ và nhân dân. Chính phủ tổ chức những nhóm khủng bố, bắt cóc công dân của nước mình. Công an, đột nhập vào nhà dân khám xét lục lội, thu giữ hiện vật của họ mà không cần lệnh của tòa án. Công an muốn bắt ai cứ việc dán nhãn hiệu: “phản động”, “gián điệp”, “khủng bố”, nên những công dân vô tội, cứ bị hành hung, đánh đập. Người dân không có vũ khí trong tay, không đánh trả lại được. Khi bị lăng mạ, họ không nói lại được. Ngay cả đến việc nộp thỉnh nguyện ôn hòa cho quyền được giữ niềm tin tôn giáo của họ, họ cũng không được yên. Đây là trường hợp cụ Nguyễn Thị Thu, tu sĩ Trần Văn Út, Phật Giáo Hòa Hảo, Mục sư Nguyễn Công Chính, BS Phạm Hồng Sơn v.v... 

Chính phủ đã điều động hàng trung đội công an, đựơc trang bị đến tận răng để bao vây và thường xuyên sách nhiễu cụ già trên 80 tuổi như trường hợp Hòa Thựơng Thích Quảng Độ, Hòa Thượng Thích Huyền Quang, ông Hoàng Minh Chính v.v... Trên quả địa cầu này, có nhà nước nào mà lại dùng thư nặc danh, truyền đơn năm lần bẩy lượt để bôi nhọ tư cách một công dân? Công an Thừa Thiên Huế đã huy động một lực lượng công an đông đảo, rình rập theo dõi sát cô Hoàng Thị Đào nhỏ bé. Cô Thanh Thủy đã kể lại trường hợp của cô như sau :

“Bỏ cả tháng trời theo dõi, vây bắt tôi, đêm 2-9, công an đã thành công mỹ mãn. Đó chính là kết quả phối hợp vô cùng nhịp nhàng ăn cánh giữa công an bộ và công an cấp cơ sở - phường Đức Giang. Theo chính lời ông trưởng đồn Nguyễn Bỉnh Khiêm kể lại : Phải huy động hết lực lượng của đồn, từ trẻ đến già, gần cả tháng trời đeo bám 24/24 tiếng, nên niềm ao ước bấy lâu, nay mới thoả nỗi chờ mong....”

Họ tưởng bắt được phần tử nguy hiểm (chuyên tiếp tay cho dân oan nổi loạn) rồi tổ chức khám nhà, thu giữ các phương tiện làm việc, từ sổ ghi chép, máy điện toán, máy ghi âm, sổ USB, tài liệu rút trên mạng, đơn thư của dân oan. Rồi “công an đảng ta được quyền kê cao gối dưới đầu mà ngủ, mơ những giấc mơ tiên tri về sự bất diệt của chủ nghĩa cộng sản, về cái nghề mật vụ, theo đóm ăn tàn, theo voi hít bã mía, theo các ông chủ độc tài, ăn bẩn để hưởng chút cơm thừa, canh cặn, làm không theo luật mà lại được thưởng cao tót vời này... ai ngờ tất cả vẫn nguyên như cũ.” 

Sau mỗi bước đi của cả 4 thành viên trong gia đình tôi, đặc biệt là hai vợ chồng tôi- luôn có những tên tay sai lì lợm đeo bám. Chúng bắt tôi hàng chục ngày lên đồn trình diện từ 7 giờ sáng đến 6 giờ tối, kể cả thứ 7 và chủ nhật, theo kiểu: "Vừa là kẻ thù, vừa là anh em." Thất là bộ mặt đểu giả, vi phạm trắng trợn luật pháp, nhân quyền của nhà nước cộng sản xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đứng đầu là bộ công an!

Như một sự cộng hưởng, sau thông tin tôi bị bắt đăng ở VNN-news (Việt Nam News Network) thì có một số tờ báo như Việt Báo, Nam Úc tuần báo, Dân lên tiếng về việc này. Việc tôi bị xách nhiễu lần 2, khi vào mạng internet tại quán cà phê nét công cộng tại khu vực trường Cao Đẳng Ngân Hàng, và việc tôi dù trong vòng vây trùng trùng điệp điệp của công an cộng sản cả ban đêm lẫn ban ngày, vẫn trả lời phỏng vấn RFA, rồi anh Trần Khải viết bài, gọi tôi bằng cái tên vô cùng ưu ái: "Người của dân oan" v.v đã khiến đám slôchome nội hoá vô cùng tức tối!

Đây là điều sỉ nhục nhất đối với một chính quyền. Nhưng những người lãnh đạo đảng CS vẫn trơ trơ.
Những chuyện bại hoại như trên ai cũng biết cả rồi. Người viết muốn đề cập đến các vụ lừa đảo, dối trá lớn nhất trong lịch sử của ĐCSVN, và những việc làm phi pháp của họ.
Trứoc hết là vấn đề lấy ngân quỹ quốc gia để xây dựng các trụ sở đảng... Nó lù lù trơ trơ trước mặt mọi người dân lâu quá! Khiến cho dân không thấy đó là việc làm sai quấy, và cứ để cho ĐCS tiếp tục làm những việc sai quấy tự nhiên.

Việc lấy công quỹ nhà nước ra để xây dựng hệ thống trường Đảng trung cấp, cao cấp đào tạo đảng viên. Các học viện chuyên giảng dậy về chủ nghĩa Marx-Lénine, về triết học Macxit. Kinh tế học Macxit lịch sử Đảng CS. Và xây dựng các trụ sở đảng, tụ họp, thờ cúng Marx-Lenine mà không cần xin phép ai là một việc làm cổ kim chưa hề có. Hiện nay 64 tỉnh thành đến quận huyện, đều có xây dựng trụ sở đảng rất nguy nga đồ xộ. Bọn chúng lấy tiền của ở đâu ra xây dựng?

Giả sử các đảng phái chính trị khác như Quốc Dân Đảng, Đại Việt, Dân Chủ v.v... muốn xây dựng trụ sở Đảng, hoặc các tín đồ tôn giáo muốn xây dựng nhà thờ, xây chùa, xây trường đào tạo tu sĩ..., họ có thể tự động muốn xây đâu cũng được, mà không cần xin phép chính quyền, có được không? Hoặc giả họ cũng cứ tự tiện rút tiền ở ngân quỹ nhà nước ra xây trụ sở đảng. Xây trường để đào tạo đảng viên... hay xây nhà thờ, xây chùa, xây trường đào tạo tăng ni được không? Hay trước hết họ phải đệ đơn xin phép chính quyền? Các tín đồ tôn giáo phải tự nguyện đóng góp công của để xây dựng. Dù ở quốc gia nào, thời nào thì các tổ chức cũng phải tuân theo luật pháp. Chỉ có Đảng CSVN là tự tung, tự tác... Họ không thể là cái gì đó ngoài lề. Vậy hãy để cho Đảng CSVN tự trang trải, mọi chi phí cho hoạt động của mình.

Vì xét rằng, về bản chất, thì các đảng phái, hoặc các tôn giáo đều là những tổ chức quần chúng “tự nguyện” tự quản và tự lo “tài chánh”. Chứ hà cớ gì mà tất cả đảng CS đổ lên đầu dân?

Vì xét rằng việc xây dựng trường Đảng, xây trụ sở Đảng, xây học viện Marx-Lenin, đến việc xây lăng lãnh tụ, nói cho cùng nó cũng chỉ là một hình thức tôn giáo, mà đảng CSVN là một thứ tà giáo lưu manh. Ai mang thứ tôn giáo quái ác này truyền vào Việt Nam? 

Bây giờ nhiều người mới khám phá ra sự thật. Một tên du thử du thực người gốc Nghệ An, bố y có tiền án xấu, cuộc sống túng quẫn. Y bỏ quê hương đi làm bồi trên một chiếc tầu của người Pháp, đến Paris, đánh giầy bán báo một thời gian... rồi y sang Nga, qua Tầu làm nhân viên cho một công ty khai thác khổ phần thuộc địa kiểu mới (Đệ tam quốc tế). Y được chọn làm nhân viên trong Bộ Truyền Giáo Mác-Lenin ở Châu Á... , thành lập các chi bộ Đảng CS ở Thái Lan và Miến Điện... Khi có cơ hội về nứơc y qui tụ được một số phần tử bất hảo, thành lập ĐCS Đông Dương tự xưng là đệ nhất (Trưởng Lão). 

Vì lợi ích của Quốc Tế CS, y rất hăng say bài trừ các tôn giáo khác... Muốn thay đổi tín ngưỡng của mấy chục triệu dân, bắt họ từ bỏ niềm tin tôn giáo truyền thống đạo đức hàng mấy ngàn năm để chấp nhận một tôn giáo mới, tất nhiên y phải hành xử với dân một cách cực kỳ tàn bạo, như kiểu Hối Giáo chinh phục dân ngoại đạo: Bắt đối thủ của họ phải lựa chọn mấy điều: 
“Dâng tài sản cho đảng, thừa nhận Marx-Lenin hay là chết”. Câu hỏi cho dân và tự trả lời dứt khoát một cách tàn nhẫn. 

Hồ chí Minh được coi như quan Khâm Sai của thánh Stalin, nhận lệnh của Thánh truyền bá nhất thần Mác cho người đời. Tín điều này đối với các đảng viên CSVN phải tuyệt đối phục tùng. Tín điều cũng dạy không được thỏa hiệp hoặc xem thường bất cứ lời dậy nào của Mao Chủ Tịch. Đạo vô thần cũng đòi hỏi tín đồ tuyệt đối không được hoài nghi tranh biện về XHCN.

Tôn giáo này, rất khắt khe, với giáo điều không chấp nhận tôn giáo nào khác, ngoài đức tin Thánh Mác-Lenin chủ trương trước sau tiêu diệt ngoại đạo. Vì thế HCM ngầm ra lệnh phá chùa chiền miếu mạo, bắt các tăng ni, linh mục, đóng cửa các tiểu chủng viện đại chủng viện.

Thay vì dậy tín đồ hành “thiện”, họ lại ép tín đồ hành “ác”. Đảng viên phải thay đổi bản thân mình. Từ con người Việt Nam trở thành con người XHCN, nghĩa là làm điều ác một cách tự nhiên. Sống đúng theo lời dậy trong thánh kinh “đấu tranh giai cấp” hết bổn phận hàng ngày, hàng tháng hàng năm trọn đời chăm làm việc “ác” và ngoan đạo. Theo di chúc của HCM, lúc chết đi xuống... được gặp cụ Mác-Lenin. Tưong tự như các tôn giáo, lúc chết được lên Thiên đàng gặp Chúa, gặp Phật ở cõi Niết Bàn.

Về hình thức cũng tựa như các tôn giáo khác. Họ xây trụ sở đảng, làm nơi tụ họp các tín đồ thờ cúng Các Mác Lenin, và các vị giáo chủ khác như Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông bằng ảnh tượng. Các chức sắc cao trong đạo có trưởng lão (TBT) các tăng sĩ Linh Mục, Thượng Tọa (UVBCT), có Bí thư tỉnh ủy v.v...

Lễ kết nạp “quy y” hoặc “rửa tội” là phải tuyên thệ từ bỏ tổ tiên ông bà... Tuyệt đối trung thành với đảng. Khi họp hành, hát Thánh ca (Quốc Tế ca). Các ‘con thiên CS’ tập chính trị, diễn thuyết, lý luận, ý thức hệ v.v... Có nhiều trường đào tạo tu sĩ ngoài việc học tập lý thuyết, giáo lý trong giáo trình còn có một đề mục rất hấp dẫn, thu hút đảng viên nhiều nhất là trường đảng trung cấp đào tạo “lưu manh trung cấp”, cán bộ cấp tỉnh, huyện, thành... Trừơng đảng cao cấp, và học viện Nguyễn Ái Quốc đào tạo “lưu manh chuyên nghiệp cao cấp”. Ai tốt nghiệp sau ra làm lãnh tụ, làm cán bộ cao cấp, thả cửa tham nhũng móc ngoặc hối lộ. Một trăm phần trăm các cấp lãnh đạo ĐCSVN đều tốt nghiệp từ trường này.

Sự Thật
Ở miền Bắc thời HCM, những đảng viên trung kiên của đảng thấm nhuần tận xương tủy chủ nghĩa Marx-Lenin, và tư tưởng Mao Trạch Đông. Những câu chuyện kể cho tuổi thơ nghe về ông Stalin, bác Mao hiện lên như thần thánh, tiên Phật. Tôn giáo Mác-Mao chiếm địa vị, độc tôn chi phối toàn diện mọi sinh hoạt xã hội. Không có một loại tôn giáo nào khác nữa. Không có Phật, không có Chúa, đến Tổ Tiên ông cha cũng quẳng bỏ tuốt tuồn tuột.

Về Bài hát, ‘Đông Phương Hồng’ của Mao Trạch Đông vang vọng khắp mọi nơi, như kinh nhật tụng hàng ngày. Từ già đến trẻ ai cũng phải đeo huy hiệu có hình Mao Trạch Đông ở trên ngực, trong nhà thì có bàn thờ Mao Chủ Tịch. Đảng CSVN không cưỡng lại nổi sự cám dỗ để cho người ta thần thánh hóa các lãnh tụ Stalin, Mao khắp các nẻo đường đất nước. Họ dựng lên những đền thờ cho những người đang sống như Mao Trạch Đông. Đứng đầu là Hồ Chí Minh, đối với Thiên triều bắc Kinh thì hết lòng tôn thờ, còn đối với Tổ tiên thì miệt thị khinh khi, cho người đào mồ, phá đền thờ các vị anh hùng dân tộc (sẽ dẫn chứng cụ thể ở bài sau).

Bạn có sống trên đất Bắc thời Hồ mới thấy dân mình bị Trung Cộng đô hộ. Ngày xưa bọn phong kiến Tầu đô hộ Việt nam hơn một ngàn năm! Chúng tuy chiếm được đất, nhưng không cưỡng chiếm được tinh thần văn hóa của dân tộc ta. Thế mà thời Hồ chí Minh, từ năm 1951, miền Bắc Việt nam chưa bị Trung Cộng chiếm đất. Nhưng đời sống tinh thần, tổ chức xã hội đều bị “tư tưởng Mao Trạch Đông” cưỡng chiếm cả: những mầu sắc Tầu, những chủ Tầu xuất hiện tự nhiên, lập trường giai cấp, đấu tranh giai cấp, tính giai cấp, phát động căm thù, phát động tư tưởng, bài trừ phong kiến v.v... 

Những cuốn sách của Mao như “Bàn về Mâu Thuẫn”, “Chiến Tranh Lâu Dài”, “Bàn về Chủ Nghĩa Mới” là những cuốc sách được in với số lượng khổng lồ, nó tràn ngập khắp mọi nơi, từ thư viện trung ương, đến làng xa, các cơ quan xí nghiệp, và các sinh hoạt văn nghệ đâu cũng là Tầu, trong khi đó sách vở, Kinh điển các tôn giáo, nhất là Phật Giáo bị thiêu hủy, và mọi hình thức thờ, cúng cha mẹ, ông bà, tổ tiên bị coi là tàn dư của chế độ phong kiến “phải đào tận gốc, chốc tận rễ”...(1) (Muốn hiểu tường tận vấn đề này, xin bạn đón đọc bài: Tại sao ĐCSVN phá hoại các di tích lịch sử, và xóa bỏ nền văn hóa truyền thống? sẽ được phổ biến.)

Dù đứng ở góc cạnh nào để quan sát, và thẩm định một cách khoa học, người ta cũng nhận thấy ĐCSVN rõ ràng là một tổ chức (lưu manh chuyên nghiệp), bất nhân nhất. Bởi vì nó tập hợp các phần tử tiêu cực thối rữa bên dưới đáy của xã hội cũ:Đánh giầy, làm bồi, bán báo, hoạn lợn, kẻ ghi xe hỏa, đám anh chị... ở đâu đó đều được cách mạng vô sản lôi cuốn vào phong trào. Đường lối của nó là “lừa phỉnh – dối trá”...

Có thể nói trong lịch sử cổ kim của nhân loại chưa từng có bọn lưu manh nào mà dối trá to tát và rộng khắp như ĐCSVN. Chúng dùng mọi kiểu dối trá vào từng thời kỳ năm 1945 khác... năm 1954 khác... năm 1975 khác... và bây giờ năm 2006... Vào từng đối tượng thí dụ 1945 là địa chủ, phú nông, tư sản, trí thức, các tôn giáo... Năm 1954 – là nông dân, công nhân v.v... mỗi hình thức dối trá thiết kế một khác, đối với đồng bào... đối với người ngoại quốc... chúng biết tâm lý và quan niệm của họ để dối trá. Thí dụ, lúc chưa nắm được chính quyền chúng lần lượt tung ra các mặt trận ma, để dấu bộ mặt thật. Có thể tạm liệt kê theo thứ tự thời gian như sau:
Năm 1936, Mặt trận Nhân dân phản đế.
Năm 1938, Mặt trận Dân chủ Đông Dương.
1939, Mặt trận Thống Nhất phản đế Đông Dương.
1941, Mặt trận Việt Nam đồng Minh Hội.
1946, Hội Liên Hiệp Quốc Dân Việt Nam gọi tắt là Mặt Trận Liên Việt. Điển hình nhất là Mặt Trận ma, mang tên (Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam được xuất hiện vào năm 1960.) Tên tuổi của nó vang dội khắp thế giới.

Vậy mà suốt 16 năm liền, cái mặt trận Ma này được xem như lực lượng thuần túy do nhân dân miền Nam thành lập để chống Mỹ-Diệm. Cộng Sản Hà Nội ‘chỉ đứng ngoài cổ võ, không can thiệp vào nội bộ miền Nam’. Mặt trận thành lập chính phủ lâm thời Miền Nam. Vì quan niệm là một chính quyền tất nhiên đủ các bộ phận trực thuộc như: Nội vụ, Ngoại giao, thông tin, giáo dục, quốc phòng... Chính phủ Ma này gửi một phái đoàn đại diện đến tham dự hội nghị Paris. Sau mấy năm kéo co... cù nhằng... giữa Ma và người, thỏa hiệp đình chiến được ký kết bốn bên: Ba bên phái đoàn kia trong tư thế phân biệt với phái đoàn Hà Nội đồng đẳng ngang hàng với phái đoàn Hoa Kỳ và Cộng Hòa miền Nam.

Những con rối như Trần Bửu Kiếm, Nguyễn Thị Bình dưới sự điều khiển của tên phù thủy Lê Đức Thọ (trùm Mafia) đã diễn xuất một cách tuyệt hảo trong vai đại diện chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam, trước con mắt ngây thơ của giới truyền thông phương Tây và khán giả toàn thế giới.

Chung cuộc cũng chính cái chính phủ lâm thời này thượng cờ nửa xanh nửa đỏ lên cột cờ dinh Độc Lập ngày 30-4-1975. Nhưng chỉ sau đó ít lâu nó tan biến thành mây khói. Bọn lưu manh công khai dẹp bỏ chính phủ lâm thời miền Nam. Cho những con rối nào bị, vào sọt rác. Đồng bào miền Nam ngơ ngác, trong lúc đó cả thế giới im lặng. Đến cuối năm 1988, các cựu kháng chiến cũ ở Nam Bộ họp thành đoàn thể cho ra mấy số tập san (Truyền Thống Kháng Chiến), nhiều đảng viên CS kỳ cựu như Nguyễn Hộ, Nguyễn Văn Trấn v.v... tố cáo thẳng thừng Đảng lừa dối đồng bào Miền Nam. Đảng đã đưa đất nước đến bờ vực (...) Sau năm 1975 họ mới thức tỉnh biết đảng đã đánh lừa người miền Nam. Mặt Trận và Chính Phủ Lâm Thời không bao giờ có thực.

Thấy tài nghệ của bọn lưu manh chuyên nghiệp chưa! Nhân đây cũng phải nói sơ sơ về cái gọi là (Cách Mạng Tháng 8) 1945.
Trước hết, chúng ta có thể đặt câu hỏi:
- Phải chăng Việt Minh cướp chính quyền từ tay người Pháp? Hay người Nhật?
- Một trăm lần không. Chính CS cướp chính quyền trong tay chính phủ Trần Trọng Kim (quốc gia). Xin tóm lược, bối cảnh thế giới lúc bấy giờ để chúng ta xác định vấn đề cho đúng đắn. Thời gian đó chiến tranh thế giới lần thứ hai vừa kết thúc.
Ngày 7 tháng 5 năm 1945 Đức đầu hàng đồng minh.
Ngày 9 tháng 8 năm 1945 Nhật đầu hàng đồng minh.
Đó là tình hình quốc tế. Còn tình hình ở Đông Dương nói chung ở Việt Nam nói riêng, thì ngày 9 tháng 3 năm 1945 quân Nhật bất thần tấn công quân Pháp. Toàn bộ hệ thống cai trị của thực dân Pháp hoàn toàn tan rã ở Đông Dương, và Đông Dương trở thành thuộc địa của Nhật. Như vậy người Nhật thật sự cầm quyền ở Đông Dương có 5 tháng.

Trước khi Nhật đầu hàng đồng minh. Hoàng Đế Bảo Đại đã sáng suốt đưa ra tuyên cáo: “Việt Nam độc lập, từ bỏ cái điều ước bảo hộ của Pháp” trước công luận nhân dân Việt Nam và thế giới. Liền sau đó Ngài cho thành lập nội các Trần Trong Kim, cùng với đạo dụ của Bảo Đại về việc cải tổ bộ máy triều đình cho phù hợp với tình hình mới.
Ngày 19 – 3- 1945, Viện Cơ Mật do Phạm Quỳnh đứng đầu xin từ chức. Ngày 17 – 4 – 1945, Trần Trọng Kim chuyển tới Bảo Đại danh sách tân nội các trước sự có mặt của đại diện chính phủ Nhật.
Chính phủ Trần Trọng Kim là chính phủ đầu tiên của Việt Nam độc lập đã quy tụ được những bậc nhân tài nổi tiếng thời đó có thể nói là tinh hoa của đất nước.
Ngày 17-4-1945, Cụ Trần Trọng Kim đã trình lên vua Bảo Đại một nội các gồm 11 nhân sĩ:
Trần Trọng Kim GS: Thủ Tướng.
Trần Đình Nam, Y sĩ: Bộ Trửong Bộ Nội Vụ.
Trần Văn Chương, LS: Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao.
Trịnh Đình Thảo, LS: Bộ Trưởng Bộ Tư Pháp.
Hoàng Xuân Hãn, Thạc Sĩ Toán Học: Bộ Trửơng Bộ Giáo Dục và Kỹ Nghệ.
Vũ Văn Hiền, LS: Bộ Trưởng Bộ Tài Chính.
Phan Anh, LS: Bộ Trưởng Bộ Thanh Niên.
Lưu Văn Lang, Kỹ Sư: Bộ Trưởng Bộ Công Chính.
Vũ Ngọc Anh, BS: Bộ Trưởng Bộ Y Tế.
Hồ Tá Khanh, BS: Bộ Trưởng Bộ Kinh Tế.
Nguyễn Hữu Thi, Y sĩ: Bộ Trưởng Bộ Tiếp Tế.

BS Phan Huy Quát còn cho biết thêm về chương trình hành động của Hoàng Đế Bảo Đại: “Một trong những vấn đề ưu tiên hàng đầu mà vua Bảo Đại muốn chính phủ phải thực hiện ngay lúc đó là đòi lại 3 thành phố: Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng cùng với Nam bộ trong tay người Nhật để danh lại nền độc lập và chủ quyền cho đất nước. Nhưng việc đó thì cho đến tháng 8 năm 1945 cụ Trần Trọng Kim mới thực hiện được chỉ vài ngày sau khi Nhật bị bom nguyên tử khoảng một tuần.
Các biến cố trọng đại và các sự kiện từ thế giới, đến trong nước đã xẩy ra như thế. Và người ta có thể nói: Chính quyền Pháp đã hoàn toàn tan rã. Nhật đã đầu hàng đồng minh. Việt Nam đã có chính phủ Trần Trọng Kim thay thế một cách hợp thời hợp pháp. Như thế là cộng sản không phải cướp chính quyền trong tay người Pháp hay người Nhật. Như bao nhiêu năm họ tuyên truyền dối trá, làm cho bao nhiêu người Việt Nam bị hiểu lầm.

Trong cuốn hồi ký Một cơn gió bụi cụ Trần Trọng Kim viết về tuyên truyền dối trá của CS Việt Minh như sau: 
... “Đảng Việt Minh lúc ấy hoạt động, đánh huyện này, phá huyện kia. Lính Bảo An ở các nơi phần nhiều bị VM tuyên truyền. Tuy không theo hẳn, nhưng không chống cự nữa. Dân gian lúc bấy giờ rất hoang mang, một đường có chính phủ quốc gia, nhưng vì thời gian eo hẹp chưa kịp sắp đặt gì cả. Công việc thấy có nhiều sự khốn khó, mà thường nghe sự tuyên truyền của Việt Minh nói rằng họ đã có các nước đồng minh giúp đỡ cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập. Dân ta từ khi bị người Pháp sang cai trị khao khát độc lập, nay Việt Minh nói như thế. Lại nghe nói Việt Minh cầm quyền thì dân không phải đóng thuế nước ta được hoàn toàn tự do và có nhiều hạnh phúc lắm, thành ta ai cũng tin theo. Ngay cả những đội thanh niên tiền tuyến, Bộ Thanh Niên do chính phủ quốc gia lập ra cũng có ý ngả về Việt Minh...
Bọn Thanh niên tiền tuyến trước rất nhiệt thành nay còn thế, huống chi những lính Bảo An và lính Hộ Thành, tất cả độ vài trăm người, những lính để canh giúp công sở súng ống không ra gì, đạn dược không đủ thì còn ai làm gì được. Họ cũng bị Việt Minh tuyên truyền nên siêu lòng hết cả rồi. Lúc ấy chỉ có cách lùi đi là hơn.”

... Cụ Trần Trọng Kim cho biết sau đó, cụ đã lên tâu vua Bảo Đại “Vì dân ta đã bị bọn Việt Minh tuyên truyền và hăng hái về việc cách mạng như nước đang lên mạnh, mình ngăn lại thì vỡ lở hết cả. Mình thế lực đã không có, bọn Việt Minh có dân chúng ủng hộ, nên để cho họ nhận lấy trách nhiệm bảo vệ nền độc lập của đất nước...”
“Vua Bảo Đại là ông Vua thông minh nên hiểu ngay và nói: “Trẫm có thiết gì ngôi vua đâu, miễn là bọn Việt Minh giữ được nền tự chủ của nước nhà là đủ: Trẫm muốn làm người dân một nước độc lập còn hơn là làm vua một nước nô lệ.”

Nhờ Ngài có tư tưởng quảng đại nên tờ chiếu thoái vị. Khi tờ chiếu ấy tuyên bố ra nhân dân có nhiều người ngậm ngùi cảm động.
Trên thực tế thì CS đã cướp chính quyến từ tay người quốc gia. Họ luôn luôn đi sau, mà ăn cỗ của người khác đã sắp sẵn.
Cũng cần nói cho rõ, khi chính quyền Pháp tan rã, Nhật đầu hàng đồng minh. Trong khi đó Việt Minh (CS) còn ở trên rừng. Ngày 4/5/1945 Hồ Chí Minh vội vã rời hang pác Bó về Tân Trào lập bản doanh chỉ đạo cách mạng (bọn lưu manh cướp chính quyền). Đến sau các sự kiện mấy tháng.

Điểm đáng nói ở đây nữa là lực lượng của họ cũng chẳng có gì. Theo hồi ký của Thiếu Tướng Lê Quảng Ba kể lại buổi lễ ra mắt đội du kích vũ trang đầu tiên ở căn cứ địa Pác Bó ngày 22 tháng 12/1944, đơn vị tuyên truyền Giải Phóng quân đầu tiên được thành lập, gồm có 3 tiểu đội, 34 chiến sĩ với hơn chục khẩu súng trường. Nhóm thứ hai do Chu Văn Tấn thành lập ở Tuyên Quang có một trung đội. Nhóm thứ ba do Võ Nguyên Giáp thành lập ở Bắc Việt sau này về Tân Trào cũng chỉ có một trung đội du kích trang bị thô sơ mã tấu và súng trường. Ở miền Trung và miền Nam là một con số không. 

Trong khi đó các lực lượng quốc gia, như Quốc Dân Đảng, Đại Việt, đều có lực lượng và hoạt động trước CS và chịu nhiều hy sinh.. Về lực lượng quân sự theo như GS Nguyễn Văn Canh, Đại Việt Quốc Dân Đảng có Chiến Khu Đông Triều, có cơ sở quân sự nhiều nơi, đến tận Ninh Bình, Thanh Hoá. Việt nam Quốc Dân Đảng có đệ Tam chiến Khu ở vùng Vĩnh, Phúc Yên… Đại Việt lúc đó đã điều động 200 Sinh Viên Biệt Chính được đào tạo ở tại trường Sĩ quan Quân Chính của Đại Việt từ Yên Bái về năm chờ lệnh ở Gia Lâm, bên kia cầu Paul Doumer để bắt Hồ chí Minh và đồng bọn vì cướp công cách mạng. Họ được trang bị đầy đủ võ khí. Tuy nhiên, lệnh đó không bao giờ được đưa ra. Đoàn quân tinh nhuệ đó, mà đa số xuất thân là sinh viên trường Đại Học Đông Dương, từ từ rút lui vào chiến khi Di Linh ở Thanh Hoá, rồi bị giải tán.

Ở đây ta thử đặt một câu hỏi: Tại sao các lực lượng đảng phái người quốc gia nhiều như vậy, mà thua nhóm thiểu số Cộng Sản? Cũng theo GS Canh thì khi đó đã có một cuộc họp giữa các lãnh tụ của Việt Quốc và Đại Việt về vấn đề này, lúc đó Việt Quốc và Đại Việt đã thống nhất thành Mặt Trận Quốc Dân Đảng Việtnam ( MTQDĐ). Có người trong MTQDĐ chủ trương vào Bắc Bộ Phủ bắt HCM và tiêu diệt CS, và bọn này chỉ có một ít người và ít súng. Việc thanh toán nhóm này không khó và kế hoạch hành quân đã có. Vài sĩ quan chỉ huy cho biết rằng chỉ trong vòng 3 tiếng đồng hồ là họ chiếm trọn được Bắc Bộ Phủ, nơi đó họ Hồ vừa đến trú ngụ với một ít súng trường bảo vệ. Nhưng đa số các vị lãnh đạo không tán thành, bởi vì nếu hành động như vậy, sẽ gây ra cảnh ‘nồi da sáo thịt, gây khổ đau cho nhân dân’. Điều này là một lẽ rất tự nhiên vì đa số các vị đó được sinh ra, được hun đúc truyền thống dân tộc, lấy Đạo Làm Người, Đạo Tâm, Nhân Đạo, Gia Đạo làm gốc. Chính vì nét đặc thù ấy, mà họ không giết tên trùm lưu manh HCM và tiêu diệt nhóm CS. Hoài bão lý tưởng của số đông là một nước Việt Nam độc lập. Họ quan niệm HCM và nhóm Việt Minh cũng là một lực lượng yêu nước tranh đấu cho nền độc lập dân tộc.
Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

Họ cứ đặt những tình Người Hoa trái Nhân Sinh để minh xác:
Anh em cốt nhục đồng bào.
hay: Anh em một thứ huyết dây
Cũng như người có chân tay khác gì.

Nói chung người quốc gia yêu nước lúc ấy không coi Việt Minh (CS) là kẻ thù, mà chỉ nhìn thấy họa xâm lăng của ngoại bang ( thực dân Pháp).

Chuyện này là cả một pho sử không thể gói gọn trong vài trang giấy, ở đây tôi chỉ muốn điểm lại một vài sự kiện nổi bật, và chúng ta có thể xem một vài tư liệu cho sáng tỏ vấn đề nhất là về chính phủ Trần Trong Kim, mà CS thường gắn cho là chính phủ bù nhìn, tay sai.

Chính quyền thực dân Pháp tan rã. Nhật đầu hàng đồng minh, còn ai để mà bù nhìn và tay sai?

Năm 1989, nhà sử học Na Uy, ông Stein Tonneson có sang Việt nam để chuẩn bị cho cuốn sách viết về Cách Mạng tháng 8 năm 1945. Ông có phỏng vấn nhiều nhân chứng lịch sử, trong đó có luật sư Phan Anh, người đã từng làm bộ trưởng Bộ Thanh Niên trong Chính Phủ Trần Trọng Kim. Sau đó bị mời làm Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng của chính phủ cách mạng HCM vài tháng... (...)

Ông Phan Anh đã bày tỏ những quan điểm của mình đối với chính phủ Trần Trọng Kim. Bỏ qua những lời nói hóa trang hoa mỹ của Phan Anh, để khỏi phải mang họa vào thân và gia đình... Ở đây tôi chỉ dẫn những đoạn nêu rõ ý tưởng của ông ta. Thí dụ như sử gia Stein Tonnesson hỏi:
- Có phải chính phủ Trần Trọng Kim là chính phủ bù nhìn như người ta thường nói không?
- Phan Anh: Lấy tư cách là một thành viên của chính phủ Trần Trong Kim, tôi nói với ông rằng chúng tôi tuyệt đối không có ảo vọng gì về người Nhật. Tình thế đã dứt khoát rồi. Phải là kẻ điên mới đi hợp tác với Nhật. Có những người điên, nhưng chúng tôi là trí thức, chúng tôi tham gia chính phủ là để phụng sự quốc gia. Với chủ trương ấy mà chúng tôi đã thành lập chính phủ với khẩu hiệu là: “đuổi bọn Pháp và nắm lấy độc lập.”(2) (...) Đọc hồi ký của Bảo Đại, của Trần Trọng Kim, nghe Phan Anh trả lời chúng ta có thể hiểu rõ lịch sử ở giai đoạn đó một cách đúng đắn, rất tiếc không thể dài dòng ở đây.

Xin trở lại việc cướp chính quyền của Việt Minh CS trên tay Chính Phủ Trần Trọng Kim ở Hà Nội. Ngày 19/8/1945: Ngày Cộng Sản gọi là Cách Mạng Tháng 8. Trước đó 2 ngày tức là ngày 17/8/1945 ở Hà Nội, Tổng Hội Viên Chức của Chính Phủ Trần Trọng Kim tổ chức một cuộc mít tinh lớn tại Quảng Trường nhà Hát lớn Thủ Đô. Có hàng vạn người tham dự, để ủng hộ chính phủ lâm thời Trần Trọng Kim. Cuộc mít tinh đang diễn ra đầy sôi nổi trong không khí hào hứng, thì đùng một cái có một nhóm du côn cướp lấy diễn đàn của cuộc mít tinh hành hung người diễn thuyết đưa cho cán bộ Việt Minh, biến nó thành cuộc biểu dương lực lượng sức mạnh của Việt Minh. Hồ chí Minh chỉ đạo cách mạng tháng 8 bằng cách dùng bọn lưu manh như thế đó.

Để giải quyết các vấn đề về thái độ đối với các đảng phái quốc gia, Đảng CS chủ trương tiêu diệt tất cả để dành quyền lãnh đạo chính trị tuyệt đối, vừa bằng bạo lực vừa lừa đảo. Các kiểu dối trá khác nhau... , vào các hoàn cảnh khác nhau... Đảng CS thường xử dụng chiến tranh tâm lý trước khi bắt đầu thanh toán các đối thủ hoặc phát động chiến tranh bằng cách bóp méo sự thật.

Trong khi nó hô hào đoàn kết toàn dân, đoàn kết các lực lượng yêu nước. Nhưng khi kêu gọi đoàn kết, nó đã có âm mưu tiêu diệt anh. Vì anh chống lại nó, nó cũng tiêu diệt anh chỉ vì anh khác với nó. Nhưng nó cũng có thể tiêu diệt anh chính vì anh đã nuôi dưỡng nó, và hết lòng ủng hộ nó. Nó tiêu diệt anh chính vì anh đã theo nó. Như hầu hết những người bị gán cho là địa chủ, phú nông, cường hào, phong kiến, phản động, tư sản, những trí thức văn nghệ sĩ tham gia kháng chiến đều chung số phận. Những người ủng hộ tuần lễ vàng ở Hà Nội 1946 do Hồ Chí Minh kêu gọi, chẳng mấy ai thoát chết. Nó giết anh, hễ khi nào nó nhận thấy rằng cần phải tiêu diệt anh thì nó sẽ tìm cách, tìm cớ để tiêu diệt. Nếu nó chưa giết anh vội, vì nó còn lợi dụng được anh, còn khai thác được anh. Nó giết anh khi việc nó làm đã đạt mục tiêu. Nó diệt các tôn giáo, dẹp Mặt Trận, dẹp Chính Phủ lâm thời miền Nam, vì nó đã đạt mục tiêu... Nó là một tổ chức lưu manh, được lãnh đạo bởi những tên trùm lưu manh bất nhân nhất.

Đảng CSVN luôn luôn tuyên truyền, tuyên bố là họ đã lãnh đạo nhân dân VN đánh bại quân xâm lựơc Pháp, và đế quốc Mỹ thống nhất đất nước.
Nhưng những người lãnh đạo đảng CSVN, đã không chân thật về lý do của hai cuộc chiến tranh này. Ngày nay rất nhiều tài liệu vạch ra rõ ràng nước Việt Nam đã có độc lập và thống nhất. Mà không cần phải đổ thêm một giọt máu nào. Nhưng vì bản chất hiếu chiến, khát máu nó đã phát động chiến tranh bằng cách ngụy trang giải phóng dân tộc, và để phục vụ quốc tế CS chủ trương đấu tranh của quốc tế CS.Khiến 4 triệu thanh niên nam nữ thuộc ba thế hệ đã hy sinh vô ích.
- Cuộc chiến tranh lần thứ nhất chống Pháp gần 9 năm (1946-1954).
- Cuộc chiến tranh lần thứ II chống Thế giới tự do, Hoa Kỳ và đồng minh trong 20 năm (1955-1975)
- Cuộc chiến tranh lần thứ III chống lẫn nhau giữa 3 đảng CS Trung Cộng, Khờ Me Đỏ và Việt Nam kéo dài 10 năm.

Đảng CSVN trung thành với chủ nghĩa Mac-Lenin, nó đã phủ định chủ nghĩa dân tộc. Chỉ xử dụng cuộc tranh đấu dành độc lập dân tộc như một chiêu bài, một chiến thuật để đạt mục tiêu chiến lựơc quốc tế hóa CS. Trong các bài viết trước tôi đã vạch rõ nhưng nhận thấy cần phảỉ nói thêm rằng: Chủ Nghĩa Đế Quốc xâm lược thuộc địa đã trở thành dĩ vãng, và một trào lưu tiến hóa tất yếu của lịch sử là quyền tự trị và độc lập của các dân tộc, đã bắt đầu từ năm 1946. Và cuộc chiến tranh do Hồ chí Minh khởi động theo lệnh quan Thày không cần thiết để đạt mục tiêu này:

Năm 1919 tại hội Quốc Liên (Tổ chức Liên Hiệp Quốc), Tổng Thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson đề xứơng quyền dân tộc tự quyết để khuyến cáo các đế quốc Tây Phương từng bước trả lại độc lập cho các thuộc địa Á Phi. Và tiến trình này đã xảy ra:
Từ năm 1946 đến năm 1949 tất cả các đế quốc Phương tây đã lần lượt tự giải thể các thuộc địa trả độc lập cho 12 thuộc địa Á Châu. Đi đầu là Hoa Kỳ trả độc lập cho Phi Luật Tân năm 1935. Và Pháp trả tự do cho Syria và Liban 1936, Anh trả độc lập cho Ấn Độ 1947, Miến Điện 1948, Tích Lan cùng năm. Năm 1949 Pháp trả độc lập cho chính phủ Quốc gia Việt Nam, Vương Quốc Lào, Campuchia, và Hòa Lan trả độc lập cho Nam Dương.
Vậy lịch sử đã chứng minh rằng đấu tranh bất bạo động ở thập niên 50 – 60, không liên kết là đường lối hợp thời và khôn ngoan hữu hiệu nhất để dành độc lập cho quốc gia. Ngược lại đứng vào hàng ngũ Quốc Tế CS để đấu tranh võ trang là chiến tranh ý thức hệ giữa Quốc tế CS và thế giới tự do.
Qua sáu thập niên chúng ta đã thấy rõ bộ mặt dối trá của CSVN trong mọi phương diện, làm tay sai cho Nga Tầu. Từ tuyên truyền độc lập tự do hạnh phúc, để đoạt quyền lực, thống trị độc tài, và ngụy trang kháng chiến chống Pháp chống Mỹ, mạo danh độc lập, dâng đất cho giặc, mạo danh giải phóng để ăn cướp...

Cũng nên biết rằng ngày 27 tháng 3 năm 1947 Hội Đồng Chính Phủ Ramadier và Hội Đồng các chính đảng Pháp, Quốc Hội đã công bố quyết nghị về chính sách mới của Pháp tại VN. Theo quyết nghị này Pháp không chủ trương tái lập thuộc địa tại Á Châu, Pháp tán thành nguyện vọng chính đáng của nhân dân VN về quyền độc lập và thống nhất lãnh thổ ba miền Trung, Nam, Bắc. 
Năm 1947 Pháp đã chính thức đăng ký VN là một quốc gia độc lập tại Liên Hiệp Quốc. (3)
Chủ quyền độc lập cho Việt Nam được thừa nhận bởi Hiệp định Elysée ngày 8-3-1949 ký kết giữa Tổng Thống Pháp Vincent Auriol và Quốc Trưởng Bảo Đại ngày 6-6-1946. Quốc Hội Pháp phê chuẩn Hiệp định Elysée từ đó chiếu theo công pháp quốc tế Việt Nam được hoàn toàn độc lập. Các Hiệp Ứơc ký kết với Pháp trong hậu bán thế kỷ thứ 19 đã bị bãi bõ hoàn toàn. (4)

Mặc dầu là vậy những người lãnh đạo đảng CSVN đã cố tình phủ nhận nền độc lập chính đáng này. Họ tiếp tục làm theo lệnh của Quốc Tế Cộng Sản. Võ trang chiến đấu, để độc quyền yêu nước, độc quyền kháng chiến. Chúng ta cũng không nên quên rằng năm 1949 Trung Cộng đã đánh bại đựoc quân đội Tửơng Giới Thạch giành quyền kiểm soát lục địa Trung Hoa, sau đó họ đánh chiếm Tây Tạng từ đó đảng CSVN Miên Lào hoàn toàn phụ thuộc vào đảng CS Trung Quốc, việc Cộng Sản hóa Đông Dương là một thực tế. Trước nguy cơ này các nhà lãnh đạo thế giới tự do chủ trương giữ Việt Nam để ngăn làn sóng đỏ chặn đứng âm mưu của Quốc Tế CS. Đương nhiên Việt Nam là một quốc gia liên hiệp với Pháp, nên Pháp phải có nghĩa vụ mang quân để bảo vệ biên thùy cho Việt Nam theo quy chế của Liên Hiệp Pháp, về an ninh quốc nội, và ngoại xâm đe dọa.

Để vận động nhân dân Việt Nam chiến đấu, Đảng CSVN đã tuyên truyền rằng Pháp đem quân trở lại VN để tái lập thuộc địa. Do đó họ phải lãnh đạo nhân dân chống lại Pháp để dành lại độc lập cho quốc gia. Thực tế, chính nó mang Pháp vào Việt nam. Đây là một luận điệu tuyên truyền xuyên tạc sự thật.
Đến năm 1954, họ buộc phải ký Hiệp Định Geneve chia đôi đất nước ở Miền Nam thành lập nền đệ Nhất Cộng Hòa. Nhưng họ đã phủ nhận nền độc lập này, và đã phá hoại liên tục... Họ tuyên bố rằng Mỹ đã thay thế Pháp để thống trị miền Nam. Do đó buộc họ phải chiến đấu chống Mỹ để giải phóng miền Nam thống nhất đất nứơc.
Mỗi khi Đảng CSVN muốn phát động chiến tranh, nó cần người dân cả nước tham gia. Nó lại xử dụng chiêu bài “yêu nước” và “dân tộc” để động viên dân chúng. Trong ba cuộc chiến tranh nó đều xử dụng tuyên truyền dối trá và đã thành công. Trong chiến tranh gọi là chống Pháp, chống Mỹ giải phóng miền Nam, nhiều người dân bị kích động khi nghe các đài phát thanh và báo chí của đảng CS..., họ đã suy nghĩ theo cách “méo mó” mà nó tạo ra. Đảng CSVN thường quy tất cả tội ác vào cho người quốc gia, mà nó gọi là “phản động” và bọn đế quốc Mỹ. Trong khi đó nó nhận hết những sự việc tốt về cho đảng CS.
Đảng CSVN đã xử dụng mỗi thành quả để khiến cho việc tuyên truyền, tuyên bố tính hợp pháp trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ giải phóng miền Nam. Ngay cả việc đảng CS giết hại lẫn nhau “đấu tranh nội bộ”. Nó cũng có thể biến thành cái gì đó “rất tốt”, để phục vụ cho mục đích của nó. Đảng CSVN đã chế tạo ra nhiều bộ mặt như đã nêu ở phần trước các mặt trận ma... Chúng quá khéo vận dụng bộ máy tuyên truyền, sử dụng tất cả mọi hình thức, tất cả mọi thủ đoạn lật lọng lừa đảo tinh vi nổi tiếng nhất là ở việc tô vẽ HCM kẻ đồ tể, tên tội phạm số 1 của dân tộc trở thành một vị anh hùng dân tộc.

Dối trá có mặt ở khắp nơi trên thế giới. Nó đã thuyết phục được nhiều trí thức, chính trị gia chính phủ của nhiều nước suốt trong hai cuộc chiến tranh uûng hoä noù. Với nhân dân nó đã thuyết phục được nhiều người theo nó, nó hóa trang làm trò rất tài... khiến cho họ không nhận thức được chân tướng của nó. Ngược lại bị tiêm nhiễm vào những luận điệu tuyên truyền bóp méo sự thật, những người ấy cảm thấy thù ghét chính quyền miền Namvà đế quốc Mỹ, mong báo thù và muốn chiến đấu để giải phóng dân tộc. Trong hàng ngũ quân đội nhân dân Việt Nam không thiếu những người có nhiệt tình với tổ quốc, chỉ vì vị trí “giặc” và “tổ quốc” bị cộng sản cố tình đặt sai, biến kẻ xâm lựơc thành người bảo vệ, biến kẻ tước đoạt tự do, thành kẻ giải phóng, biến tội ác của ĐCSVN thành thành tích vĩ đại.

TRẦN NHU, Oct. 1, 2006

Xin các bạn tìm đọc bài “ĐCSVN là một tổ chức 
lưu manh ăn bám lớn nhất thế giới”
Chú thích:
(1) Dẫn sách TTPGNT NgồnSống xuất bản năm 2005
(2) Dẫn báo Xưa Nay số 145 năm 2001 - là tờ báo cơ quan khoa học, lịch sử VN do Hà Nội xuất bản
(3) Bảo Đại và sự thành lập các Đảng Phái Quốc Gia của Nguyễn Khắc Ngữ
(4) Everyone’s United Nations ấn bản 1986 trang 332 cuả Nguyễn Khắc Ngữ
-Các tài liệu tham khảo: Hồi Ký cuả Thiếu Tướng CS Lê Quảng Ba, Hà Nội XB 1999
-Hồi ký Một Cơn Gió Bụi cuả Cụ Trần Trọng Kim


Khi người Cộng sản phản tỉnh

Tiến sỹ Đoàn Xuân Lộc
Gửi cho BBC Việt ngữ từ London

Trong thời gian qua có khá nhiều đảng viên và cựu quan chức lên tiếng chỉ trích những bất cập, phi lý, sai lầm của Đảng Cộng sản Việt Nam và kêu gọi giới lãnh đạo Việt Nam thay đổi để giúp Đất nước tiến tới tự do, dân chủ, giàu mạnh.
Trong số họ, có những người đã công khai từ bỏ Đảng Cộng sản vì họ nhận ra rằng Đảng đã suy thoái biến chất, chỉ lo cho lợi ích của mình và coi nhẹ lợi ích của Đất nước, Dân tộc, Nhân dân.
Một gương mặt tiêu biểu cho những tiếng nói đòi hỏi dân chủ ấy – và có thể nói cũng là biểu tượng cho phong trào dân chủ trong nước – là ông Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh, người vừa qua đời tại thành phố tối hôm 22/1.
Nhận ra ‘Đảng đang biến chất’
Dù biết rằng đâu đó có những người không thích ông Đằng vì ông là một người Cộng sản và từng tham gia phong trào đấu tranh chống chính quyền Sài Gòn trước năm 1975, nhưng chắc ít ai có thể phủ nhận rằng ông làm vậy chỉ vì ông tin rằng sự dấn thân của mình có thể giúp giải phóng Dân tộc và đưa Đất nước tới tự do, dân chủ.
Có thể nói, ông thuộc thế hệ mà có ai đó gọi là ‘thế hệ Vàng của cuộc Cách mạng Giải phóng Dân tộc, trong sáng, lãng mạn, tràn đầy lí tưởng’.
Và nếu nhìn lại cuộc đời của ông Lê Hiếu Đằng, công việc của ông, những băn khoăn, trăn trở của ông – đặc biệt trong những năm tháng cuối đời, được thể hiện qua ‘Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh’ được ông viết vào tháng 8/2013 – có thể thấy rõ điều đó.
Quả thực, ông là một người rất nặng lòng với Nước, với Dân và là một người ‘Cộng sản’ thực sự.
Khác hẳn với những quan chức ‘cộng sản’ nhưng nhiều ‘tư bản’ – như biệt thự, xe hơi – ở Việt Nam, dù nhiều năm công tác trong Đảng với một chức vị khá cao ông chẳng có tài sản gì đáng giá.
Trong một bài viết kể về chuyện đi thăm ông Đằng khi ông nằm viện được đăng trên trang Bauxite Việt Nam vào tháng 12/2013, một người bạn của ông Đằng là ông Hạ Đình Nguyên, nguyên Chủ tịch Uỷ ban Hành động thuộc Tổng hội Sinh viên Sài Gòn, đã viết rằng cái nhà ông Đằng ‘chỉ có 3 thước bề ngang đã cho thuê, chỉ sống ở phần bếp đằng sau, không thể để lọt cái quan tài’.
Chính vì một lý tưởng trong sáng và một lối sống minh bạch như vậy, ông không thể chấp nhận khi thấy Đảng Cộng sản ‘trở thành lực cản cho sự phát triển đất nước, dân tộc, đi ngược lại lợi ích dân tộc, nhân dân’ như ông nhận định trong tuyên bố bỏ Đảng của mình.
Cũng vì nhận ra rằng ‘đảng’ của ngày hôm nay là một ‘đảng của những tập đoàn lợi ích’, không còn là Đảng mà ông từng biết trước đây, trong những năm tháng cuối đời, ông liên tục lên tiếng chỉ trích đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản. Cùng lúc ông kêu gọi đa nguyên, đa đảng, đòi dân chủ, tự do và hạnh phúc cho người dân và độc lập cho đất nước.
Chẳng hạn, dù đang lâm trọng bệnh, ông vẫn chấp nhận trả lời phỏng vấn của BBC sau khi Quốc hội Việt Nam thông qua Hiến pháp sửa đổi. Trong cuộc phỏng vấn ấy ông nhận định rằng việc thông qua một bản Hiến pháp như vậy chứng tỏ ‘Quốc hội chỉ là bù nhìn chứ không có thực quyền, phản lại lợi ích quần chúng’.
Chuyện Quốc hội Việt Nam thông qua ‘một Hiến pháp đi ngược lại lòng dân, không có dân chủ, nhất là trong vấn đề ruộng đất’ cũng là ‘là giọt nước làm tràn ly’, khiến ông đi đến quyết định bỏ Đảng.
Trở thành biểu tượng dân chủ
Khi mạnh dạn, công khai lên tiếng đòi dân chủ, tự do, hạnh phúc cho dân, ông cũng đã trở thành một biểu tượng cho phong trào dân chủ trong nước.
Việc nhiều giới – trong đó các nhân sỹ, trí thức và những ai muốn Việt Nam thay đổi – dành cho ông sự ủng hộ hay bày tỏ sự vui mừng, thán phục mỗi khi ông thẳng thắn đề cập đến các vấn nạn của Đất nước hay mạnh dạn kêu gọi giới lãnh đạo Việt Nam thay đổi và đặc biệt khi ông quyết định bỏ Đảng Cộng sản và kêu gọi thiết lập một chính đảng mới chứng minh điều đó.
Nhiều người đã bày tỏ lòng quý mến cũng như lo lắng khi biết ông lâm bệnh. Và chắc chắn trong những ngày tới sẽ có nhiều nhân sỹ, trí thức và những người đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam cũng như hải ngoại sẽ bày tỏ sự thương tiếc, cảm phục và biết ơn ông khi hay tin ông qua đời.
Với họ, trong những năm vừa qua ông đã đóng một vai trò quan trọng trong việc cổ vũ dân chủ, tự do, nhân quyền ở Việt Nam. Là một quan chức với 40 năm là đảng viên, có nhiều đóng góp cho chế độ lại nắm rõ nội tình của Đảng, việc ông lên tiếng về các vấn đề đó và đặc biệt quyết định bỏ Đảng của ông chắc chắn đã và đang có nhiều tác động lớn đến phong trào dân chủ.
Đây cũng là điều làm cho giới lãnh đạo Việt Nam cảm thấy khó chịu vì nó còn có tác động rất lớn lên xã hội Việt Nam nói chung và ảnh hưởng đến vị thế, vai trò của Đảng nói riêng.
Việc các báo Đảng – như Nhân Dân, Quân đội Nhân dân và Sài Gòn Giải phóng – đã mở một ‘chiến dịch’ công kích ông Đằng sau khi ông cho đăng bài viết ‘Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh’ và coi những suy nghĩ của ông là ‘những hành vi độc hại của một khuynh hướng tư tưởng sai lầm’ chứng minh điều đó.
Dẫn đến diễn biến hòa bình?
Quan trọng hơn Đảng Cộng sản sợ những tiếng nói và quyết định của ông Lê Hiếu Đằng vì những hành động như thế có thể làm các đảng viên khác phản tỉnh và ‘tự diễn biến’. Đây là một điều mà Đảng luôn lo sợ, thường cảnh báo, chỉ trích và tìm cách ngăn ngừa.
Với những kinh nghiệm từ Đảng Cộng sản Liên Xô trước đây, có thể Đảng Cộng sản Việt Nam nhận ra rằng ‘đối tượng’ phá hoại Đảng lớn nhất, làm Đảng sụp đổ không phải đến từ bên ngoài mà ngay từ trong Đảng. Vì vậy, Đảng luôn sợ và tìm cách ngăn ngừa mọi ‘diễn biến hòa bình’.
"Chắc chắn nhiều người sẽ không quên ông – một người ‘Cộng sản’ đích thực và là một con người rất nặng lòng với Nhân Dân, với Dân tộc và với Đất nước."
Nếu nhìn lại những gì diễn ra tại Việt Nam trong những năm qua có thể thấy rằng Đảng có ‘lý’, có ‘cơ sở’ để lo sợ như vậy vì xem ra những tiếng nói đối lập trong Đảng hay từ những đảng viên, cựu quan chức ở Việt Nam có tác động lên xã hội Việt Nam nói chung và phong trào dân chủ nói riêng nhiều hơn những tiếng nói từ các nhân vật hay đảng đối lập Việt Nam ở hải ngoại.
Với Đảng Cộng sản – và đặc biệt đối với những lãnh đạo không muốn Việt Nam thay đổi – sự ‘phản tỉnh’ của đảng viên hay ‘tự diễn biến’ trong Đảng là một mối nguy, cần phải ngăn ngừa bằng mọi giá.
Nhưng đối với tiến trình dân chủ của Việt Nam nói chung và với những ai muốn đất nước tiến tới dân chủ, tự do, giàu mạnh đó có thể lại là một tín hiệu vui, đáng mừng. Chẳng hạn, những thay đổi của Miến Điện và những biến động ở các nước Ả Rập và Bắc Phi trong thời gian vừa qua cho thấy việc tự diễn biến không chỉ tốt cho Đất nước, cho Nhân dân mà còn có thể tốt cho cả Đảng.
Vì biết phản tích và biết chấp nhận tự diễn biến, giới tướng lãnh tại Miến Điện đã đưa đất nước này từ bỏ độc tài chuyển sang dân chủ mà người dân không đổ máu, mình có thể chính danh nắm quyền.
Trái lại, vì không biết phản tích, không tự diễn biến, Tổng thống Hosni Mubarak của Ai Cập bị truất phế, Đại tá Moammar Gaddafi của Libya phải chết bi thảm, nhục nhã và hai quốc gia này phải rơi vào xung đột, bất ổn.
Và nếu trong tương lai giới lãnh đạo Việt Nam tự diễn biến và có những thay đổi quan trọng, tích cực như ở Miến Điện hay khi Đất nước thực sự có dân chủ, tự do các thế hệ sau sẽ không quên ông và những đóng góp của ông.
Có thể ông ra đi chưa thực sự an lòng vì bao điều dang dở, vì sau bao năm tháng dấn thân cho lý tưởng, theo và phục vụ Đảng cuối đời thất vọng nhận ra rằng lý tưởng trong sáng, tốt đẹp ban đầu ấy không mang đến kết quả như mình mong muốn, theo đuổi. Nhưng chắc chắn nhiều người sẽ không quên ông – một người ‘Cộng sản’ đích thực và là một con người rất nặng lòng với Nhân Dân, với Dân tộc và với Đất nước.

Vì sao nhiều đảng viên bỏ đảng? 

Công luận tại Việt Nam trong tuần đầu tháng 12 xôn xao về việc công khai từ từ bỏ đảng Cộng sản của các ông Lê Hiếu Đằng, Phạm Chí Dũng và bác sĩ Nguyễn Đắc Diên tại Sài Gòn.

Trước đó có một số người từng thực hiện biện pháp tương tự; tuy nhiên số này vẫn còn là thiểu số trong chừng hơn ba triệu đảng viên tại Việt Nam.

Lời nói không đi đôi với việc làm

Danh sách những đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức công khai làm đơn ra khỏi đảng, hồi tháng 7 vừa qua lại có thêm một tên mới là ông Nguyễn Thái Sơn.

Trong đơn ra khỏi đảng, ông này nêu rõ ‘Có thể nào một cán bộ, đảng viên suốt đời gương mẫu, cần cù, chịu khó làm việc, tin tưởng vào pháp luật và hệ thống chính quyền của nhà nước đấu tranh bảo vệ lẽ phải lại trở thành thảm họa’.

Ông Nguyễn Thái Sơn năm nay đã 70 tuổi cho biết lý do khiến ông phải đi đến quyết định ra khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam:

Lý do chính là lời nói không đi đôi với việc làm, chính sách, chủ trương, cương lĩnh, nghị quyết của Đảng không được thực hiện. 
-Ô. Nguyễn Thái Sơn

“Lý do chính là lời nói không đi đôi với việc làm, chính sách, chủ trương, cương lĩnh, nghị quyết của Đảng không được thực hiện. Thứ hai nhiều vấn đề bất bình trong xã hội do chủ trương, đường lối không đi đôi với thực hành nên gây cho tôi những thảm họa. Vụ việc của tôi báo chí đã đăng rất nhiều, và nhiều cơ quan pháp luật cũng xác nhận chuyện này là chuyện vi phạm luật pháp, nhưng cuối cùng họ cũng làm tầm bậy, tầm bạ. Chính vì thế tôi cũng báo cáo lên trong chi bộ vụ việc này không làm đến nơi đến chốn thì Đảng cũng chẳng có việc gì nữa nên tôi xin nghỉ sinh hoạt đảng, vì sinh hoạt đảng như thế là hình thức, là vớ vẩn thôi.

Qua chuyện tôi đi khiếu kiện cũng gặp trong xã hội nhiều chuyện cũng rất bức xúc. Nhiều người cũng rất khổ sở. Ngay cả chúng tôi là người có học, có hành, đọc báo, đọc luật và có thể hiểu; còn nhiều người dân quá cực khổ không có điều kiện đọc nên không hiểu nhiều. Nhiều người cũng không có tài liệu bằng chứng, mất thời giờ cho chuyện ấy mà không giải quyết được. Vấn đề của chúng tôi làm rất chính đại, quang minh, đàng hoàng; đấu tranh có tổ chức mà họ còn làm bậy như thế thì những người không có điều kiện như chúng tôi họ khổ như thế nào!

Thực chất vấn đề tôi xin ra đảng là đấu tranh cho một xã hội bình đẳng, công minh. Tôi đã gửi trên 4.000 đơn đến các cơ quan bảo vệ pháp luật, các cơ quan quốc hội, chính phủ mà họ không giải quyết thì trách nhiệm của họ ở đâu, làm gì?

Liên quan đơn (xin ra đảng) vừa rồi tôi cũng muốn dư luận của xã hội, kể cả dư luận quốc tế vì đây là chân lý - lẽ phải mà; trắng đen phải phân minh thì xã hội mới phát triển lành mạnh được. Nếu tình hình thế này kéo dài thì đất nước sẽ trở nên tồi tệ, con người sẽ trở nên rất xấu.”

Khó tìm người cùng chí hướng

Một đảng viên trẻ công khai từ bỏ lý tưởng cộng sản được nhiều người biết đến là anh Nguyễn Chí Đức. Sau một năm ra khỏi đảng, anh có bài viết mang tựa ‘Suy nghĩ cô đọng sau một năm từ bỏ Cộng sản’.

000_Hkg4476059-250.jpg
Các Đại biểu đang biểu quyết tại Đại hội đảng XI hôm 17-01-2011. AFP PHOTO / HOANG DINH Nam.

Trong bài anh có câu ‘Sự thật đã rõ nhưng những người đảng viên ĐCSVN dám dứt ra khỏi chuyện cơm áo, gạo tiền, chuyện quá khứ nặng nghĩa - nặng tình, chấp nhận dấn thân còn rất rất ít hơn tôi kỳ vọng.’

Anh Nguyễn Chí Đức cho biết:

“Khó tìm người mong muốn và người mình mong muốn. Bản thân công an địa phương họ cũng tìm cách ngăn trở chuyện những người như tôi tụ lại thành một điểm nào đấy. Vừa rồi tôi có tìm đến những người đảng viên có suy nghĩ không tin vào đảng, và tôi đánh bài ngửa với họ mời bác, mời anh có uy tín làm hội trưởng (từ rất khiêm tốn, không nói là đảng trưởng) quy tụ những người như tôi, nhưng nhiều người không dám. Thực tế như ông Lê Hiếu Đằng, ông đã dám bỏ đảng đâu. Nếu ông bỏ đảng tôi sẽ đến ngay để bàn, hoặc tôi với góc độ người thế hệ sau để ‘một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao’. Tôi đã bỏ rồi, tôi cần những người dám đoạn tuyệt và ly dị tổ chức cộng sản thì mới tin nhau được. Chỉ tin nhau qua hành động, chứ không thể qua những lời nói trên mạng. Cũng như trong chuyện tình cảm, phải ly dị mới có thể tìm người khác, đối phương mới yên tâm hơn.”

Bản thân ông Nguyễn Thái Sơn vì tố cáo tham nhũng và việc bảo kê, bao che cho hành vi phạm pháp mà theo ông là tội ác, nên bản thân ông bị trù dập, trả thù. Ông cho biết cũng khá đơn độc, khó tìm được người đồng cảm lên tiếng bênh vực ông:

“Ở Việt Nam có những người cũng biết đó là sự thật, nhưng không dám can thiệp vì họ sợ liên lụy đến vấn đề này, vấn đề khác. Ở Việt Nam mà làm được điều đó là có nghị lực phi thường rồi. Bình thường họ sợ nhiều vấn đề phức tạp nên không dám làm. Thứ hai xã hội không có trách nhiệm nên nhiều người cũng bàng quang trong vấn đề này.”

Bất hạnh của dân tộc?

Khó tìm người mong muốn và người mình mong muốn. Bản thân công an địa phương họ cũng tìm cách ngăn trở chuyện những người như tôi tụ lại thành một điểm nào đấy. 
-Anh Nguyễn Chí Đức

Anh Nguyễn Chí Đức còn viết thêm rằng ‘Một nỗi buồn xâm chiếm trong tôi nhưng từ đây tôi rút ra được một điều đau đớn: ĐCSVN đã tàn phá nặng nề khả năng phản biện, đầu độc tư tưởng các thế hệ thanh niên Việt Nam trong tổ chức này ngay từ khi tâm hồn họ còn rất trong sáng, động lực đầy nhiệt huyết .”

Theo anh Nguyễn Chí Đức thì đó là nỗi bất hạnh cho dân tộc Việt Nam:

“Bản thân người cộng sản đi đầu độc người khác nhưng chính họ cũng bị đầu độc. Bản thân những người mới vào đảng ai cũng đầy nhiệt huyết, thông minh, có chí khí; nhưng vào tổ chức này nó làm cho người ta phải nói dối, rồi phải luồn cúi; nhất là trong xã hội bây giờ muốn lên chức trưởng, phó phòng phải biết nịnh bợ rồi, phải biết ‘thượng đội, hạ đạp’, phải biết dùng tiền để lên chức cao hơn. Đó là cấp thấp nhất, cấp càng cao thì tha hóa càng cao. Mà đã tha hóa cao đến mức vào Quốc hội rồi mà bỏ đảng thì họ khui ra đầy ‘phốt’ ngay. Thời bây giờ nói thật những người phản tỉnh ở cấp cao cũng chả tốt đẹp gì đâu, hiếm lắm. Thời chống Pháp thì nhiều, vì đó là thời các tiền bối cộng sản phần lớn họ trong sạch, có lý tưởng; nên khi họ phản tỉnh thì họ đa số được mọi người tín nhiệm, lắng nghe ví dụ như ông Trần Độ, hay Hoàng Minh Chính, Trần Xuân Bách. Những người đó, thời chưa có Internet, tôi nghe bố mẹ, hàng xóm bàn tán cả tuần về những người đó.”

Người cựu đảng viên Nguyễn Thái Sơn mới ra khỏi đảng từ hồi tháng 7 thì cho rằng những người bị oan ức cùng cảnh ngộ như ông không có được một chỗ dựa nào tại đất nước Việt Nam:

“Vấn đề ở Việt Nam hiện tại không có chỗ dựa nào cho những người thẳng thắn đấu tranh như thế.”

Trong bài viết sau một năm từ bỏ Cộng sản, anh Nguyễn Chí Đức trích lại lời nói của cố tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu ‘Đừng nghe những gì Cộng sản nói mà hãy nhìn những gì Cộng sản làm’. Đó là một trong ba cảnh tỉnh chân thành mà anh Nguyễn Chí Đức đưa ra.

  1. PHỎNG VẤN CỰU ĐẠI TÁ CSVN BÙI TÍN, MỘT ĐẢNG VIÊN ...

    www.youtube.com/watch?v=K-1rXsz-Tik
    Jul 5, 2014 - Uploaded by Pastor LOUIS Ngo
    PHỎNG VẤN CỰU ĐẠI TÁ CỘNG SẢN BÙI TÍN, MỘT ĐẢNG VIÊN CỘNG SẢN KỲ CỰU, PHẢN TỈNH SAU 60 NĂM THEO CỘNG SẢN.

.

Đã nhập cư lậu còn trồng cần sa, một ông Việt Nam xộ khám

Một người Việt nhập cư lậu vào Anh Quốc lại đi trồng cần sa trong một căn nhà hai tầng có sân thượng ở thành phố Fenton, Anh quốc đã bị câu lưu, theo tin vào chiều thứ ba 10/2 của báo chí Anh cho hay.

Photo Courtesy: stokesentinel.co.uk
 
Cali Today News - Nghi can Trần Văn Tuấn, 24 tuổi, đã nhận trồng 60 cây cần sa trong một căn nhà ở đường Berdmore Street của Fenton, để đổi lấy một nơi trú thân. Tòa án đã tuyên phạt Tuấn 8 tháng tù.
 
Vị Chánh Thẩm còn yêu cầu sau khi mãn hạn tù, Tuấn phải bị trục xuất về Việt Nam. Ngày 23 tháng 12 năm 2014, quan tòa công tố Neil Ahuja cho biết cảnh sát và nhân viên di trú đến căn nhà nói trên với lệnh lục soát.
 
Tuấn là người đi ra mở cửa và còn táo tợn khai một cái tên khác cùng nhiều chi tiết gian dối. Quan tòa Ahuja cho hay người ta khám phá 60 cây cần sa trong căn phòng phía sau với hệ thống tưới tầm và chiếu sáng cùng quạt gió.
 
Tuấn nhìn nhận thoạt đầu đã khai gian với cảnh sát điều tra vì lo sợ sau khi bị phát giác có thể bị trả trở về Việt Nam. Tuấn khai mới đến Anh có 3 ngày, bên trong một xe tải lậu.
 
Một viên chức điều tra tên David Bratt cho báo chí hay Tuấn nhất định bảo mình đến căn nhà này mới có ài ngày. Ông nói: “Người thanh niên này đã bị bốc lột, anh ta cần một chổ ngủ qua đêm và thế là sập bẫy”.
 
Quan tòa Paul Glenn cho hay ‘loại tội phạm như Tuấn có rất nhiều, 60 cây cần sa là một số tiền lớn. Tuấn bị phạt không nặng vì anh ta chỉ là nạn nhân, chúng tôi đồng ý gửi anh ta về VN trở lại, ở đất nước này đã có khá nhiều tội phạm cần sa rồi”.



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:
Chúc Mừng Năm Mới 2026 [01.01.2026 19:26]




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
Tin tức thế giời mới nhât song ngữ Việt Anh để học sinh ngữ [Đã đọc: 361 lần]
Kiều bào phát triển quê hương [Đã đọc: 354 lần]
Làm Giàu Bằng Đầu Tư Chứng Khoán [Đã đọc: 346 lần]
Siêu đô thị Đà Nẵng mở rộng, siêu đầu tư địa ốc làm giàu [Đã đọc: 340 lần]
Một châu Âu đứng trước ngã ba lịch sử [Đã đọc: 327 lần]
Cách mạng chiếc đòn gánh của phụ nữ VN [Đã đọc: 288 lần]
“NHỮNG NGƯỜI CUỐI CÙNG CÒN GIỮ LẠI CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN”** [Đã đọc: 284 lần]
Làm thế nào đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa từ Trung Cộng [Đã đọc: 276 lần]
Nghệ Thuật Làm Giàu Của Người Việt Hải Ngoại - “The Art of Wealth for Overseas Vietnamese”. [Đã đọc: 275 lần]
Cuba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cuba nghỉ [Đã đọc: 268 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.