"Và với bối cảnh kinh tế Việt Nam ngày hôm nay, nó gần như hoàn toàn sụp đổ, nếu các bạn có tìm hiểu một chút về kinh tế, thì tôi thấy rõ ràng là chủ nghĩa xã hội và đường hướng phát triển và những chính sách phát triển của Đảng cộng sản có thể là, nói là đem 'vứt sọt rác' thôi, chứ không có làm cái gì được hết trơn," Hồng Thuận nói với BBC.
Rapper Nah Nguyễn Vũ Sơn nói Đảng Cộng sản có thể phải 'giải thể' không lâu nữa.
Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ có thể tồn tại được thêm hai năm nữa, theo bình luận củaRapper Nah Nguyễn Vũ Sơn, người vừa mới đây gây tranh cãi trong dư luận với một bản tục ca chính trị về Đảng Cộng sản.
Trước câu hỏi Đảng Cộng sản tới đây sẽ có tương lai ra sao, nhạc sỹ trẻ người Sài Gòn đang tu nghiệp tại Oklahoma Hoa Kỳ nêu quan điểm với tọa đàm Bàn tròn Thứ Năm http://bit.ly/1CVSslF tuần này của BBC Việt ngữ:
"Tôi xin nói một phỏng đoán thế này. Tôi cũng biết có những người là Đảng viên lâu năm, những đảng viên này cũng có một nhân xét là dân oan bây giờ quá nhiều, những bất cập trong xã hội quá nhiều, cho nên Đảng Cộng sản không tồn tại được lâu.
"Tôi nghĩ trong vòng 2 năm tới là Đảng Cộng sản sẽ phải giải thể, đó không phải là lời của tôi mà là lời của một số đảng viên lâu năm rồi.
"Mà bây giờ nếu lên Google, gõ chữ 'dân oan' vào, xem hình ảnh, thì rõ ràng nhiều dân oan, rất nhiều người đang muốn có một sự thay đổi lớn về mặt xã hội và chính trị ở Việt Nam."
'Tùy thuộc chính Đảng'
Vũ Minh Huy từ Sài Gòn cho rằng Đảng CSVN tồn tại ra sao trong tương lai là 'tùy thuộc vào bản thân Đảng'.
Còn từ Sài Gòn, sinh viên Vũ Minh Huy nói với BBC:
"Theo tôi, trải qua 85 năm Đảng Cộng sản lãnh đạo thì có những đúng đắn, cũng có những sai lầm. Việc dự đoán là Đảng Cộng sản tồn tại như thế nào trong tương lai, thì cái này tùy thuộc vào chính bản thân Đảng Cộng sản."
Trích dẫn lời được cho là của chính Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Nguyễn Phú Trọng về điều kiện tồn tại của Đảng, sinh viên ngành hóa học này nói với Bàn tròn Thứ Năm:
"Nếu anh ta đại diện được cho nhân dân, được sự ủng hộ của nhân dân, đưa ra được những đường lối đúng đắn, mà đưa được đất nước đi lên thì sẽ được nhân dân ủng hộ, thì sẽ tiếp tục tồn tại.
"Còn nếu anh ta không đại diện được cho đa số nhân dân, thì phải chấm dứt sự lãnh đạo của mình, cái này là ý của chính Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nói, hình như là ở Đại hội Đảng.
"Tôi nghĩ trong xã hội hiện nay vẫn còn nhiều bất cập, những cái đó là những vấn đề hiển nhiên của một đất nước đang phát triển, thì sẽ gặp vấn đề này, vấn đề khác, tôi nghĩ đó là vấn đề đương nhiên thô.
"Và Đảng Cộng sản phải có trách nhiệm lãnh đạo nhân dân vượt qua những cái đó, thì lúc đó mới có thể tồn tại, mới có thể đại diện cho nhân dân trong tương lai.
'Điều kiện tồn tại'
Nhà hoạt động Hồng Thuận đặt câu hỏi tại sao lại có khẩu hiệu 'Mừng Đảng' trước 'Mừng Xuân'?
Theo blogger Hồng Thuận, một nhà hoạt động xã hội trẻ từ California, Hoa Kỳ, có một số điều kiện để một đất nước phát triển và trong đó một chính đảng tìm được sự tồn tại của mình.
Nhà hoạt động nói với Bàn tròn của BBC: "Hồng Thuận nghĩ là một đất nước đi lên, tức một đất nước phát triển, hài hòa để mà hội nhập với thế giới, nó cần có một số yếu tố căn bản. Thứ nhất là phải có một thành phần lãnh đạo luôn luôn đặt quyền lợi của dân tộc, của đất nước lên quyền lợi của chính đảng phái và chính phe nhóm của mình.
"Và phải biết rằng đảng không phải là một sự cứu cánh (mục đích cuối cùng) của một dân tộc. Cho nên đối với Đảng (cộng sản Việt Nam), tôi nghĩ rằng đảng không đạt được điều này và đảng coi mình chính là cứu cánh. Mà rõ ràng mình thấy bây giờ cái khẩu hiệu, chắc các bạn ra ngoài đường thấy những khẩu hiệu như là 'Mừng Đảng, Mừng Xuân!', cho thấy rằng họ coi chính mình là cứu cánh chứ không phải nhân dân là cứu cánh.
"Tại sao một mùa Xuân, ai cũng mong chờ mùa Xuân tươi sáng, đảng lại không hòa mình với dân tộc mà lại bắt người ta phải mừng đảng trước, rồi mừng xuân, đúng không ạ? Và cái thứ nhì Hồng Thuận nghĩ cũng quan trọng là chấp nhận sự khác biệt để cùng nhau thúc đẩy sự thăng tiến, sự phát triển của xã hội, chứ không thể nào đem một chủ nghĩa để áp đặt bên cạnh cả dân tộc được.
"Cái thứ ba Hồng Thuận nghĩ là không thể nào mà sử dụng một phần nhỏ của nhân dân để giúp vào sự phát triển của Đảng, mà một đất nước muốn có phát triển cần phải có sự đóng góp của tất cả người thân, như một bạn (khách mời Nguyễn Quang Duy)... có chia sẻ là bạn đó muốn tham gia vô đảng là tại vì bạn đó muốn được thăng tiến, có một số quyền lợi.
"Thì trong một đảng, một đất nước mà sử dụng một số đảng viên tham gia vô như vậy vì quyền lợi của cá nhân mình đó, không có sử dụng hết những chất xám, những tinh hoa của những người dân khác không phải là đảng viên, thì làm sao có thể phát triển được hết mình, hết tiềm năng được?
Giảng viên Nhạc viện Nguyễn Quang Duy nói 'vào Đảng hay không' không ảnh hưởng đến 'chuyên môn'.
'Động cơ vào Đảng'
Hôm thứ Năm, khách mời Nguyễn Quang Duy, giảng viên Khoa Nhạc cụ Truyền thống, Học viện Âm nhạc Quốc gia, nói với Bàn tròn Thứ năm của BBC về lý do vào Đảng Cộng sản của mình.
"Vì thứ nhất nó là truyền thống của gia đình tôi. Gia đình tôi, tất cả những người trong gia đình đều là Đảng viên, tôi là con út, tôi cũng muốn phấn đấu để noi gương cha mẹ, cũng như các bác, các cô, các chú để đứng trong hàng ngũ của Đảng.
"Vậy vậy đó là động lực mà cũng là đích đến của tôi hướng tới, tôi đã được đứng trong hàng ngũ của Đảng."
Trước câu hỏi liệu có sự khác biệt gì không về mặt chuyên môn, khi một giảng viên âm nhạc là đảng viên đảng cộng sản hay là không, khách mời Quang Duy từ Hà Nội cho biết:
"Không, những người vào Đảng hay không vào Đảng thì không ảnh hưởng đến công tác chuyên môn...," Quang Duy, người đã vào Đảng từ năm 2010, nói.
"Theo tôi sự vào Đảng là quyền lợi và nghĩa vụ của mình, đồng nghĩa với việc đứng trong hàng ngũ của đảng, thì trách nhiệm của mình đối với bản thân, đối với xã hội sẽ lớn hơn so với khi mình chưa được kết nạp vào Đảng Cộng sản.
"Một khi mà mình kết nạp vào Đảng rồi, mình cảm giác là trong người mình trưởng thành hơn rất nhiều khi đi theo Đảng," giảng viên Nhạc viện Hà Nội nói với BBC.
'Về phát triển Đảng'
Đảng Cộng sản Việt Nam mới đánh dấu tròn 85 năm thành lập vào đầu tháng 2/2015.
Ngay trước cuộc Tọa đàm của BBC nhân sự kiện tròn 85 năm Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, một nhà quan sát chia sẻ với BBC một số thông tin về một cuộc khảo sát từng tham gia liên quan tới quan tâm của nông dân, công nhân và giới trẻ nói chung với việc vào Đảng.
Hôm thứ Năm, nhà quan sát này nói: "Ở nông thôn hiện nay vẫn có một bộ phận nông dân muốn vào Đảng mà một trong những lý do là họ thấy rằng nhiều cán bộ cơ sở là Đảng viên ở nông thôn khi về hưu có lương hưu.
"So với mức sống nông thôn và cuộc sống ruộng đồng, nông nghiệp, thì việc các đảng viên về hưu mà lại là cán bộ có lương như thế trong tình hình hiện nay cũng là một điều đáng kể."
Về tình hình phát triển đảng liên quan tới công nhân, vẫn nhà quan sát này nói:
"Chúng tôi đã có dịp khảo sát về công nghiệp, doanh nghiệp và công nhân, thì chúng tôi thấy là việc vào đảng không phổ biến như trước, đặc biệt là ở khu vực kinh tế tư nhân, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
"Còn về thanh niên nói chung và thanh niên ở đô thị, nông thôn nói riêng, thì chúng tôi thấy rằng quan tâm lớn nhất của thanh niên hiện nay là vấn đề có được công ăn việc làm ổn định.
Nhà sử học Vũ Minh Giang tin rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đang cầm quyền với 'chính danh'.
"Như đại học, cao đẳng ra trường kiếm được việc, thanh niên đến tuổi trưởng thành thì kiếm được những việc làm cụ thể như là làm công nhân, làm thợ may v.v...
"Còn việc trở thành đảng viên ở khu vực công nhân có vẻ không còn phổ biến như thời trước đây nữa," nhà quan sát này nói với BBC.
'Đảng chính danh hay không?'
Hôm 2/2, một cựu thành viên Hội đồng Lý luận Trung ương của Đảng Cộng sản VN, Giáo sư Vũ Minh Giang nói với BBC ông tin rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đang cầm quyền với sự 'chính danh'.
Ông Giang nói: "Bởi vì Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trong bối cảnh đất nước mất chủ quyền. Chính Đảng đã lãnh đạo dân tộc giành lại độc lập...
“Đầu năm 1946, Đảng Cộng sản đã tổ chức bầu cử Quốc hội và ra Hiến pháp. Hệ thống chính trị Việt Nam có bầu cử và những người của Đảng ra ứng cử vào các chức vụ. Nếu nói không phải là nhân dân trao quyền thì nhân dân là ai? Nhân dân phải là số đông.
"Tại sao các nước khác công nhận chính quyền do Đảng lãnh đạo? Điều đó có nghĩa là Đảng lãnh đạo hợp hiến, hợp pháp đó chứ?”
Bình luận về 'tính chính danh' này của Đảng Cộng sản Việt Nam, Rapper Na Sơn từ Okalahoma, Hoa Kỳ, nói:
"Đảng cộng sản tạo ra sự chính danh bằng cách đàn áp các đảng khác, cho nên tất cả các đảng khác không có khả năng tồn tại, Đảng Cộng sản là duy nhất cho nên tự gọi là chính danh thôi."
Vì sao không 'đa đảng'?
Các khách mời trao đổi nhiều vấn đề xung quanh Đảng CSVN, từ 'tính chính danh', tới vì sao chưa có đa đảng ở VN...
Về việc thiếu vắng thể chế 'đa đảng' được thừa nhận công khai ở Việt Nam hiện nay, sinh viên Vũ Minh Huy từ Sài Gòn nêu quan điểm:
"Tại sao Việt Nam chưa có đa đảng, thứ nhất nguyên nhân trực tiếp là do pháp luật Việt Nam không cho phép đa đảng.
"Mà nguyên nhân sâu xa của nó là ở Việt Nam chưa có một tư tưởng, chưa có một lý tưởng, lý luận, đường lối thế nào để cho moi người có thể thu phục được lòng dân, để mọi người đi theo.
"Tôi nghĩ đó mới là gốc vấn đề mà Việt Nam chưa có đa đảng, tức là chưa có một tổ chức chính trị nào mà có khả năng, có đủ sức mạnh, có đủ thu phục được lòng dân như Đảng Cộng sản đã từng làm trong quá khứ.
"Đó mới là nguyên nhân sâu xa chứ không phải là việc pháp luật cho phép hay không," Minh Huy nói với Tọa đàm.
Từ California, Hoa Kỳ, nhà hoạt động Hồng Thuận trao đổi lại:
"Qua ý kiến của bạn Huy, tôi thấy nó cũng hơi mâu thuẫn chút xíu là tại là vì bạn nói rằng ở Việt Nam hiện giờ chưa có một đảng hay một tổ chức đối lập nào, đúng không?
"Nhưng mà thực sự là cho dù là có đi chăng nữa, thì Đảng Cộng sản cũng đều bỏ tù, hay là đều không cho phép cái sự đó xảy ra, không cho bất kỳ một tiếng nói hay một lực lượng đối lập nào có thể xuất hiện, xảy ra, thì tại sao?
"Nếu như mà không xảy ra thì làm sao để cho người ta biết được về nó để mà nói là nó có đủ thu phục lòng dân hay không?", Hồng Thuận trao đổi với khách mời từ Việt Nam.
Ngày 3 tháng 2 năm 2015 này Đảng Cộng sản Việt Nam vừa tròn 85 tuổi và đã cầm quyền trong gần 70 năm tại miền Bắc và 40 năm trên cả nước. Dù có lập trường nào đối với Đảng Cộng sản thì đây cũng vẫn phải là thời điểm để nhìn lại thành tích của nó, vì một lý do giản dị là chúng ta đã là chúng ta hiện nay vì nó. Nó đã là yếu tố chính trong các yếu tố quyết định số phận của đất nước ta trong gần một thế kỷ qua.
Chiến tranh giành độc lập và thống nhất đất nước hay nội chiến khủng bố ?
Hãy bắt đầu bằng thành tích quan trọng nhất, cũng là thành tích duy nhất mà Đảng Cộng sản tự hào : Cuộc chiến 1945-75. Sự kiện cho tới nay các cấp lãnh đạo cộng sản chỉ tự hào về cuộc chiến này tự nó có ý nghĩa. Trước hết nó là sự thú nhận rằng ngoài cuộc chiến này họ không thể khoe khoang một công lao nào khác dù 40 năm, nghĩa là gần hai thế hệ, đã trôi qua từ ngày 30 tháng 4 năm 1975. Một chính quyền không làm được gì đáng kể trong suốt một thòi gian dài như vậy là một chính quyền chắc chắn phải bị loại bỏ không thương tiếc dù có quá khứ lẫy lừng thế nào đi nữa ; không một dân tộc nào có thể chấp nhận phí phạm một thời gian dài như thế nếu còn muốn tồn tại trong thế giới thay đổi dồn dập này.
Nhưng cuộc chiến này là gì ?
Về bản chất, cả hai giai đoạn mà Đảng Cộng sản gọi là “chống Pháp” và “chống Mỹ” đều chỉ là những giai đoạn của một cuộc nội chiến bởi vì tuyệt đại bộ phận những người đã chiến đấu cũng như những nạn nhân đều là người Việt. Các lãnh tụ cộng sản cũng không hề phủ nhận bản chất nội chiến của cuộc chiến này. Họ chỉ biện luận rằng đây là cuộc nội chiến chính nghĩa lãnh đạo bởi những nhân vật tài đức phi thường một lòng vì dân vì nước, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, một mẫu mực về trí tuệ, kiến thức và đạo đức để giải phóng đồng bào khỏi ách thống trị và bóc lột dã man của một bọn ngụy quyền bán nước, và hơn nữa cũng là cuộc đấu tranh chống Pháp, chống Mỹ để xây dựng chủ nghĩa xã hội trong tiến trình tất yếu của nhân loại lên chủ nghĩa cộng sản. Giờ đây tất cả những lập luận này đều đã bộc lộ rõ thực chất ngây ngô và gian trá. Dân chúng ở trong các vùng “tạm chiếm” thoải mái hơn hẳn các vùng “giải phóng” về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội, giáo dục. Những tiết lộ muộn màng như của Bùi Tín, Trần Đĩnh và nhiều người khác cũng đã cho thấy các cấp lãnh đạo cộng sản, kể cả ông Hồ Chí Minh, đều chỉ là những người vừa sơ sài về kiến thức vừa thấp kém về đạo đức và nhân cách. Ngày nay, khi sự hỗ trợ ồ ạt của Liên Xô và Trung Quốc cho Đảng Cộng sản đã được mọi người nhìn nhận, những chiêu bài “chống Pháp”, “chống Mỹ” chỉ nói lên một sự thực đau lòng : dân tộc ta đã là con vật khờ khạo bị hy sinh trong cuộc tranh hùng giữa các nước lớn. Đảng Cộng Sản phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về cuộc nội chiến này bởi vì họ đã khởi xướng nó và đã nhất định không chịu đối thoại với những người Việt Nam trước mặt họ để tìm một thỏa hiệp. Cũng đừng quên rằng nội chiến nằm trong bản chất của chủ nghĩa cộng sản, tiếng gọi đấu tranh giai cấp và tiếng gọi nội chiến chỉ là một.
Bao nhiêu người Việt Nam đã thiệt mạng ? Cho đến nay dù đã cầm quyền 40 năm trên cả nước chính quyền cộng sản Việt Nam vẫn chưa thực hiện một nghiên cứu nghiêm túc nào về cuộc nội chiến đẫm máu này, nhưng như trong mọi thảm kịch bị bưng bít thiệt hại thực sự có thể vượt mọi ước lượng. Thí dụ như con số nạn nhân thực sự của Cải cách ruộng đất : nhiều người đã đưa những con số 20.000 hay 50.000 người, nhưng rồi cố giáo sư Đặng Phong sau khi phối kiểm vô số báo cáo lưu trữ đã tìm ra con số 172.008 người. Sáu triệu có thể là con số nạn nhân vừa phải của cuộc nội chiến này, ngoài những tàn phá kinh khủng khác về tình cảm cũng như vật chất cho đất nước. Ý niệm “nội chiến chính nghĩa” tự nó cũng đã là một ý niệm ngu xuẩn. Không có cuộc nội chiến nào có chính nghĩa cả bởi vì không có gì tàn phá một dân tộc bằng nội chiến. Gây ra nội chiến phải được coi là tội nặng nhất đối với đất nước dù nhân danh bất cứ lý do nào. Trong lịch sử thế giới chưa có dân tộc nào gượng dậy được trong một vài thế hệ sau một cuộc nội chiến dài và khốc liệt như như chúng ta đã trải qua, ngay cả với một cố gắng hòa giải dân tộc thành thực và quả quyết. Sự kiện có những người hãnh diện vì đã tham gia cuộc chiến này chỉ tố giác sự thiếu vắng tư tưởng chính trị của chúng ta. Sự kiện có những người đến nay vẫn không nhìn thấy nhu cầu hòa giải dân tộc chỉ chứng tỏ chúng ta là một dân tộc vẫn chưa trở lại bình thường sau khi đã bị chấn thương quá nặng trong cả cơ thể lẫn trí tuệ và tâm hồn.
Cũng cần phải nhắc lại thêm một lần nữa là Đảng Cộng sản đã thắng không phải vì tài giỏi – các cấp lãnh đạo cộng sản thường chỉ có trình độ tiểu học – mà nhờ bản chất khủng bố của nó, như tuyệt đại đa số các đảng cộng sản trên thế giới. Các tổ chức khủng bố có hiệu lực ghê gớm của chúng. Chúng giữ được kỷ luật nội bộ tuyệt đối, có thể quyết định một cách rất nhanh chóng và có thể làm bất cứ gì vì đối với chúng tất cả mọi phương tiện đều tốt để đạt mục đích. Chỉ từ vài thập niên gần đây thôi thế giới mới lên án khủng bố như một phương thức đấu tranh dơ bẩn. Sự thay đổi cách nhìn về khủng bố này đã là một trong những nguyên nhân chính khiến phong trào cộng sản thế giới khựng lại rồi sụp đổ.
Một tội ác đối với Tổ quốc…
Thành tích gắn liền và chuẩn bị cho cuộc nội chiến này là tội ác tàn sát hàng trăm nghìn người thuộc các đảng phái quốc gia – như Việt Nam Quốc dân Đảng và Đại Việt Quốc dân Đảng – hoặc chỉ giản dị là không chấp nhận chủ nghĩa cộng sản, được phát động ngay từ năm 1945 và đạt tới cao điểm trong những năm sau đó. Những người yêu nước này đã bị tàn sát chỉ vì Đảng Cộng sản muốn giành độc quyền kháng chiến để áp đặt chủ nghĩa Marx-Lenin. Đợt tàn sát này đã cướp đi của đất nước những người yêu nước chân chính nhất và giải thích tại sao tinh thần dân tộc của chúng ta lại yếu hẳn đi sau đó, yếu đến nỗi “yêu nước” bị đồng hóa với yêu chủ nghĩa cộng sản, một chủ nghĩa mà một trong những mục tiêu chính được công bố là xóa bỏ các quốc gia, mà không gây phản ứng nào đáng kể. Lịch sử sẽ phải làm rõ thảm kịch này, ít nhất để làm rõ trách nhiệm của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản, để trả công lý cho ký ức của các nạn nhân.
…và một tội ác đối với nhân loại
Một thành tích kinh khủng giữa hai giai đoạn nội chiến là đợt tàn sát Cải cách ruộng đất. Như vừa nói ở phần trên 172.008 người đã bị thảm sát. Họ bị giết, sau khi bị đánh đập và sỉ vả, không phải vì đã phạm một tội nào mà chỉ vì bị coi là thuộc một thành phần mà Đảng Cộng sản muốn tiêu diệt. Đảng Cộng sản còn đẩy sự bỉ ổi đến độ bắt buộc con cái phải chửi cha mẹ sắp bị hành quyết. Theo định nghĩa của công pháp quốc tế đây là một tội ác lớn đối với nhân loại(1). Hồi ký Đèn cù của Trần Đĩnh vừa được xuất bản cho thấy chính ông Hồ Chí Minh đã chủ xướng tội ác có chuẩn bị quy mô với tất cả nhẫn tâm này. Dù sau đó Đảng Cộng sản đã nhìn nhận sai lầm nhưng những người có trách nhiệm chính đã chỉ bị phê bình và kiểm điểm chiếu lệ. Riêng ông Hồ Chí Minh vẫn còn được ca tụng như một mẫu mực về đạo đức.
Hủy diệt trí tuệ và nhân cách Việt Nam
Thành tích vẫn còn cần được đánh giá đúng mức là chính sách tàn phá trí tuệ Việt Nam mà vụ Nhân Văn – Giai Phẩm chỉ là một thí dụ. Người Việt Nam bị cấm suy nghĩ và phát biểu một cách khách quan. Tư tưởng bị cấm đoán, triết lý duy nhất được nhồi sọ là triết lý Marx-Lenin vừa sai vừa độc hại. Đó là một trong những lý do chính khiến trí tuệ Việt Nam bị thui chột và làm chúng ta thua kém thế giới như hiện nay. Tuy vậy sự tàn phá trí tuệ có lẽ không tai hại bằng sự tàn phá đạo đức và nhân cách đối với trí thức Việt Nam. Các tiết lộ muộn màng ngày càng nhiều cho thấy không phải là các trí thức cộng sản đã lầm mà thực ra họ đã nhận ra ngay từ đầu bản chất gian ác của Đảng Cộng Sản nhưng họ đã bị khủng bố toàn diện đến độ không dám nói lên sự thực, dù chỉ là một phần. Rồi để che giấu sự nhát sợ của chính mình một số người đã làm ra vẻ thực sự tin tưởng vào đảng, thậm chí còn đóng kịch hãnh diện và đóng góp lừa bịp quần chúng. Hậu quả là một phần đáng kể các cựu chiến binh và đảng viên cộng sản vẫn còn tin ở quá khứ oai hùng của đảng. Họ cũng là những nạn nhân của những người cầm đầu Đảng Cộng sản và của sự thiếu vắng những trí thức dũng cảm.
Cuối cùng là một nước Việt Nam không đáng kể và không có chủ quyền
Người ta cũng có thể nhắc tới cuộc thảm sát Tết Mậu Thân 1968 tại Huế, chính sách bỏ tù và hạ nhục tập thể đối với quân đội, công chức, trí thức, doanh nhân miền Nam sau 1975, các đợt “đánh tư sản”, hai vụ đổi tiền cướp đoạt, đợt tổ chức cho vượt biên bán chính thức, việc thành lập “Đảng Việt Nam Phục quốc” để làm bẫy bắt hàng chục ngàn thanh niên vô tội… Không quên hàng triệu dân oan bị cướp đất cướp nhà. Tất cả đều vừa là những sai lầm lớn vừa là những tội ác lớn.
Nhưng thành tích rõ rệt và đồ sộ hiện nay là sự tụt hậu bi đát so với thế giới. Thu nhập trung bình của một người Việt Nam chỉ bằng 15 % mức trung bình thế giới. Tổng sản lượng của nước ta chỉ bằng một nửa số thương vụ của một công ty Samsung của Hàn Quốc. Càng bi đát vì môi trường ô nhiễm, đạo đức suy đồi, xã hội băng hoại, con người suy nhược ý chí, mất lòng tin và vô cảm. Chúng ta đứng hàng thứ 14 trên thế giới về dân số nhưng hoàn toàn không có một thành tựu nào được thế giới biết đến cả, dù là công ty, một sản phẩm, một tác phẩm văn học, nghệ thuật hay một thành tích thể thao. Việt Nam hiện nay là một nước không đáng kể.
Không đáng kể và cũng không có chủ quyền quốc gia. Ông Trương Tấn Sang sẽ để tên lại trong lịch sử như là người đã thay mặt Đảng Cộng sản sang Bắc Kinh tháng 6 năm 2013 chính thức hóa một thời kỳ Bắc thuộc mới, cam kết nhận chỉ thị của Trung Quốc trong các quan hệ đối ngoại. Trung Quốc “trúng thầu” 80 % các công trình xây dựng, thuê nhiều khu rừng đầu nguồn, lập nhiều khu của riêng người Hoa ngay trên lãnh thổ Việt Nam. Số nợ của Việt Nam đối với Trung Quốc còn là một “bí mật quốc gia” nhưng điều chắc chắn là chính quyền Việt Nam hiện nay chỉ sống được để tiếp tục đưa ra những con số thống kê lếu láo nhờ được Trung Quốc bơm tiền, trên thực tế nó đã phá sản.
Và nếu ta đặt câu hỏi : “Nếu không có Đảng Cộng sản thì ngày nay Việt Nam sẽ ra sao ?” thì chắc chắn câu trả lời sẽ là : “Ít nhất cũng phồn vinh hơn gấp 15 hay 20 lần hiện nay, đã là một trong những nước G20, đã không có sáu triệu người thiệt mạng vì nội chiến, đã không mất Hoàng Sa, Trường Sa, Nam Quan, Lão Sơn, Bản Giốc”.
Thành tích của Đảng Cộng sản thật là kinh hoàng. Thất bại không phải là từ ngữ phù hợp, phải nói là thảm họa. Đảng Cộng sản đã là thảm họa cho Việt Nam trên tất cả mọi phương diện và trong tất cả mọi địa hạt. Người Việt Nam nào có thể không phẫn nộ ? Càng phẫn nộ khi nhân danh thành tích đó nó ngang ngược tuyên bố giữ độc quyền lãnh đạo đất nước trong thời gian vô hạn định. Thực không khác một lực lượng chiếm đóng.
Đảng Cộng sản là một bộ máy mà tính hoại loạn (perversion) đã liên tục tăng cường để sau cùng thoát khỏi mọi kiểm soát. Nó thay đổi con người chứ không ai thay đổi được nó. Hãy lấy thí dụ của chính ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Về mặt cá nhân ông ấy có thể là một người tốt. Tôi có cảm tưởng ông Trọng là một người chuyên cần và tương đối lương thiện, nhận xét này cũng được xác nhận bởi một người bạn chung là anh Trần Bắc Quỳ, tức nhà văn Trần Hoài Dương. Tuy vậy ở địa vị Tổng bí thư ông ấy chỉ biết biện hộ một cách trâng tráo cho một chế độ gian ác, hung bạo với đồng bào nhưng lại quỵ lụy trước Bắc Kinh.
Thái độ nào ?
Kỷ niệm 85 năm hiện hữu của Đảng Cộng sản là dịp để mọi người Việt Nam cùng ý thức rằng chế độ cộng sản là một quốc họa đã kéo dài quá lâu. Nó phải chấm dứt sớm để đất nước còn có thể có một tương lai. Nó không mạnh mà cũng không tự tin. Nó xấc xược chỉ bởi vì chúng ta quá nhu nhược và chúng ta nhu nhược không phải vì dân trí hay dân chí Việt Nam yếu mà vì trí thức Việt Nam chưa đảm nhiệm được vai trò đáng lẽ phải đảm nhiệm.
Thực ra chúng ta cũng không nên thù ghét Đảng Cộng sản. Nó chỉ là một sản phẩm của lịch sử và văn hóa của chính chúng ta. Một dân tộc không có tư tưởng chính trị không khác một con tàu không phương hướng ; mọi tai họa đều có thể xảy đến và cộng sản chỉ là một. Vấn đề là giải quyết bài toán cộng sản, bắt đầu bằng một thái độ. Phải dứt khoát đối với Đảng Cộng sản, từ bỏ mọi ý định “giúp đảng cải thiện để mạnh lên, giành lại lòng tin của nhân dân“. Một cơ hội trước mắt để biểu lộ thái độ này là từ chối thẳng thắn mọi kêu gọi “đóng góp ý kiến” cho đại hội 12 sắp tới.
Chúng ta vẫn có thể, và cần, thảo luận ôn hòa và thân thiện với Đảng Cộng sản về một lộ trình dân chủ hóa bởi vì không có chọn lựa nào khác một khi chúng ta đã lên án nội chiến và chọn đấu tranh bất bạo động trong tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc. Nhưng tư thế và mục tiêu phải rõ ràng. Họ là họ, chúng ta là chúng ta. Chúng ta không giấu mục tiêu là đưa chế độ và chủ nghĩa cộng sản vào dĩ vãng và xây dựng một thể chế dân chủ đa nguyên đúng nghĩa. Không có vấn đề cải tiến chế độ cộng sản vì ít ra những thảm kịch của đất nước cũng đã phải khiến chúng ta hiểu rằng chế độ cộng sản không cải tiến được nữa.
Những thảo luận xem các chính sách và mục tiêu của đại hội 12 phải như thế nào, nên ủng hộ ai làm Tổng bí thư, những ai nên vào Bộ Chính trị và Ban Bí thư… đều vô nghĩa và quá trễ. Bất cứ chính sách nào, lãnh đạo nào cũng thế thôi bởi vì chính Đảng Cộng sản – bộ máy cũng như tinh thần của nó – đã bị hoại loạn. Chính Đảng Cộng sản, chứ không phải các cán bộ và đảng viên, đã trở thành độc hại một cách không thể đảo ngược. Đảng Cộng sản cũng giống như một tôn giáo mà cả thượng đế lẫn giáo lý và hàng giáo phẩm đều phải vất bỏ ; các tín đồ chỉ còn một chọn lựa hiển nhiên.
Trong tinh thần đồng bào và anh em, thay vì khuyến khích các đảng viên cộng sản dùng dằng trong ảo tưởng có thể đổi mới đảng, chúng ta phải nói rất thẳng thắn là họ chỉ có chọn lựa giữa bỏ đảng hoặc phấn đấu thật quyết liệt để biến nó thành một đảng hoàn toàn khác. Tự họ sẽ khám phá ra rằng hai chọn lựa này thực ra chỉ là một. Và nhiều người sẽ đến với phong trào dân chủ.
1. Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930-1931) ban đầu là cuộc nổi dậy của nông dân, không có sự tham gia, chứ đừng nói là lãnh đạo, từ đảng cộng sản
Một trong những lừa đảo đầu tiên ĐCSVN thực hiện là cái gọi là Xô Viết Nghệ Tĩnh. Theo ĐCSVN, "[n]gay sau khi thành lập, Đảng đã lãnh đạo nhân dân trong cả nước đứng lên đấu tranh, đỉnh cao là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh năm (1930-1931)" (ĐCSVN 2012). ĐCSVN tuyên bố rằng "Xô-viết Việt-nam đầu tiên trong lịch sử Đảng ta - là sự phát triển tất yếu cho cao trào đấu tranh cách mạng của công nhân và nông dân cả nước ta trong những năm 1930-1931" (ĐCSVN 1976, 205).
Thực ra, cuộc nổi dậy Nghệ Tĩnh ban đầu là một cuộc nổi dậy của nông dân, không có sự tham gia, chứ đừng nói là lãnh đạo, từ Đảng cộng sản Đông dương (ĐCSĐD), tiền thân của ĐCSVN (Duiker 1973, 198; Bernal 1981, 159; McLane 1966, 147-157). Cũng không có gì tương tự như chính quyền địa phương "Xô-viết."
Nguyên nhân chính của phong trào là "nông dân bất mãn về điều kiện kinh tế" (Duiker 1973, 192). Đặc biệt, ở Nghệ An, "mùa lúa gạo tháng mười năm 1929 và tháng năm 1930 đều tệ" (Bernal 1981, 157). ĐCSVN (hoặc ĐCSĐD - lúc ấy) có thể miễn cưỡng tham gia chỉ sau khi cuộc nổi dậy trở nên thịnh hành bởi vì "đảng không chuẩn bị vào năm 1930 về tổ chức và về mặt lý thuyết cho một cuộc đối đầu quan trọng với chính quyền Pháp và... ban lãnh đạo đã nhận thức rõ rằng một cuộc nổi dậy là quá sớm" (Duiker 1973, 197) Do đó, Đảng "bị ép buộc vào vị trí hỗ trợ một cuộc nổi dậy mà họ không thực sự muốn" (sđd.).
Nông dân thậm chí không biết lá cờ đỏ búa và liềm tượng trưng cho cái gì. Nhiều người nghĩ rằng lá cờ này là cờ chính phủ (sđd., 190). "Bằng chứng dường như cho thấy lãnh đạo ĐCSĐD không khởi động các Xô viết, cũng không chấp thuận khi chúng xuất hiện, nhưng một khi phong trào được tiến hành, họ đành phải hỗ trợ chúng cho đến cùng" (sđd., 198). "Không có tài liệu ghi chép nào về chỉ thị đặc biệt gửi đến miền Trung, chứ đừng nói là Nghệ Tĩnh" (Bernal 1981, 159). "Tuyệt đối không có dấu hiệu cho thấy các lãnh tụ cảm thấy thời cơ đã đến" (sđd.). Sự tham gia cộng sản trong cuộc nổi dậy, do đó, chỉ đơn thuần là một phản ứng với một việc đã rồi (Duiker 1973, 197).
Ngoài sự không chuẩn bị của Đảng cho cuộc nổi dậy, có một lý do thuyết phục tại sao ĐCSVN không muốn lãnh đạo một phong trào "cách mạng" như thế. Trong thời gian cuộc nổi dậy, ĐCSVN đổi tên thành ĐCSĐD trong tháng 10 năm 1930 đưới sự kiên quyết của Quốc tế Cộng sản (Duiker 2000, 187). "Tài liệu ấn hành của hội nghị rất ngạc nhiên là chú ý rất ít về các sự kiện diễn ra ở Nghệ-Tĩnh" (Duiker 1973, 193). Nhưng ĐCSĐD chỉ trích ban chấp hành ủng hộ các hành động đại chúng và nhận xét rằng liên minh giữa công nhân và nông dân trong vùng không được thống nhất cao (Duiker 2000, 188). Chuyện này rõ ràng phù hợp với chỉ trích của Quốc tế Cộng sản vào năm 1929 rằng vai trò trung tâm của giai cấp công nhân trong cuộc cách mạng Việt Nam không được nhấn mạnh đủ (sđd., 186).
ĐCSVN đã cố gắng mang kết nối giữa công nhân và nông dân trong phong trào, nhưng trên thực tế, cuộc nổi dậy Nghệ Tĩnh bản chất là một phong trào nông dân. Thống kê dân số cho thấy giới trí thức, nông dân, tư sản bao gồm 73% đảng viên cộng sản ở Nghệ Tĩnh trong tháng 12 năm 1930 (Bernal 1981, 164), một tỷ lệ phần trăm mà hầu như không được Quốc tế Cộng sản coi là thuận lợi. ĐCSĐD thừa nhận vấn đề này và đã đưa ra hướng dẫn "vì chưa nhận thức đúng đường lối giai cấp của Đảng ở nông thôn và mắc sai lầm hữu khuynh cho nên Nông hội đỏ đã kết nạp cả phú nông, thậm chí có nơi phú nông tham gia Ban chấp hành" (ĐCSVN 1976, 239).
Lý do tại sao nhiều thành viên cộng sản bị bắt hoặc bị giết trong giai đoạn này là "mọi người Pháp ở Đông Dương, từ nhiều năm đã quen với việc đặt nhãn hiệu Bolshevik trên tất cả các hình thức chủ nghĩa quốc gia ở Việt Nam, đã nhanh chóng thấy lãnh đạo cộng sản trong phong trào đình công" (Duiker 1973, 190). Ngoài ra, một thành viên ban chấp hành, Ngô Đức Trí, "bị bắt giữ bởi Pháp... và không những thú nhận những bí mật, mà còn tiết lộ vị trí của các đảng viên khác trong Ủy ban Trung ương" (sđd., 194; Dommel 2002, 44). Nói cách khác, các đảng viên cộng sản bị bắt và bị giết trong cuộc nổi dậy không phải vì họ lãnh đạo cuộc nổi dậy, nhưng vì Pháp tin mãnh liệt là cuộc nổi dậy được tổ chức bởi họ và do đó truy nã họ.
Vậy thì làm sao nhãn hiệu "Xô viết" được dùng để chỉ cuộc nổi dậy của nông dân? Đó là vì Hồ (Nguyễn Ái Quốc vào lúc đó) láu táu báo cáo với Quốc tế Cộng sản vào tháng 11 năm 1930, "Hiện nay ở một số làng đỏ, Xô-viết nông dân đã được thành lập" (trích dẫn trong Nguyễn 2001, 75). Trên thực tế, không có chính quyền địa phương Xô viết như vậy tại các làng Nghệ Tĩnh. Có những hội nông dân mới được thành lập, nắm quyền, và "thường tự xưng là xã bộ nông, cái danh xưng được giữ trong suốt phong trào" (Bernal 1981, 152). Tuy nhiên, các lãnh tụ Đảng cộng sản "lập tức gọi các tổ chức đó là ‘Xô viết’" (sđd.) Các sử gia Đảng Việt Nam thừa nhận rằng "về chủ trương thành lập chính quyền Xô-viết thì hồi đó không đồng chí nào nhận được chỉ thị hoặc nghe phổ biến" (trích dẫn trong Nguyễn 2001, 75). Nếu vậy, tại sao Hồ gọi cuộc nổi dậy nông dân là một phong trào Xô Viết? Có thể có hai lý do: (1) Hồ muốn làm hài lòng các cấp trên của mình trong Quốc tế Cộng sản, và (2) Quốc tế Cộng sản gợi ý cho Hồ ý muốn của họ thúc đẩy cộng sản ở các nước ngoài thực hiện theo các thí dụ thiết lập bởi cộng sản Việt Nam (Nguyễn 2001, 76).
Bất kể chuyện gì đã khiến Hồ gọi cuộc nổi dậy là Xô viết, nhãn hiệu Xô viết và sự mô tả các cuộc nổi dậy nông dân là phong trào tiền phong cách mạng Đảng là hư cấu thuần túy. ĐCSVN chỉ giành công cho cuộc nổi dậy của nông dân,"chính yếu là dưới dạng các bài viết bởi kẻ tuyên truyền tài ba Trần Huy Liệu" (Dommen 2002, 44).
Thực ra, cái gọi là Xô Viết Nghệ Tĩnh được gây ra bởi phong trào quốc gia bắt đầu bằng cuộc khởi nghĩa Yên Bái (McLane 1966, 147-157, gọi cuộc khởi nghĩa Yên Bái là binh biến "Enbay"). Cuộc khởi nghĩa Yên Bái và các cuộc nổi dậy tiếp theo bởi Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ) bị Pháp dập tắt nhanh chóng. Nhiều thành viên của VNQDĐ, kể cả vị lãnh tụ nổi tiếng Nguyễn Thái Học, bị bắt giữ, xử, và hành quyết. Các hoạt động cách mạng quốc gia được hoan nghênh bởi cộng sản Liên Xô (sđd., 148-149). Động lực của cuộc khởi nghĩa Yên Bái lan tràn sang các phần khác ở Việt Nam và dẫn đến các cuộc đình công ở Sài Gòn và các thành phố khác và các cuộc nổi dậy nông dân ở phần phía bắc miền Trung Việt Nam, đặc biệt là vùng Nghệ Tĩnh (sđd., 149-150).
Xô Viết Nghệ Tĩnh là một gian lận nghiêm trọng bởi vì không những cộng sản Việt Nam giựt công cho chuyện mà họ không xứng đáng, mà họ còn bỏ qua sự đóng góp và hy sinh đáng kể của nông dân Nghệ Tĩnh và VNQDĐ.
2. Việt Minh (1941) là bẫy dụ dỗ những người quốc gia đi theo cộng sản
Một vụ lừa đảo khác là sự hình thành Việt Minh, được Hồ và các đồng chí thành lập vào tháng 5, 1941 tại Pắc Bó dưới sự bảo trợ của ĐCSĐD. Hồ, một tác nhân Quốc tế cộng sản, và các đồng chí cộng sản tạo nên phần nòng cốt của lãnh đạo Việt minh, nhưng họ giấu giếm sự dính líu cộng sản của họ.
Các lãnh tụ theo chủ nghĩa quốc gia Việt Nam "đủ khôn ngoan để nhận ra Việt Minh là một cái bẫy Cộng sản" (Buttinger 1967, 265) nên từ chối tham gia. Tuy nhiên, Việt Minh "không thiết kế để thu hút các lãnh tụ nhưng thu hút những người quốc gia đi theo họ... để vận động họ theo chính trị cho đến khi họ bị buộc phải hợp tác với đảng cộng sản" (sđd., 266). Bản chất lừa đảo của Việt minh đã nảy sinh "niềm tin rằng để được thành công chính trị, không những phải tàn nhẫn, mà còn phải gian dối và vô đạo đức như những người Cộng sản hình như lúc nào cũng vậy" (sđd.).
Mặc cho lời nói hoa mỹ cộng sản, các sự kiện lịch sử không nói láo. Các sự kiện cho thấy việc cướp quyền thành công của cộng sản là do bởi "một số hoàn cảnh xảy ra tình cờ" (Duiker 1996, 104), gồm có: (1) "Các lực lượng chiếm đóng Đồng minh đến [Việt Nam] trễ nải nên tạo ra một khoảng trống chính trị ở các đòn bẩy quyền lực" (Duiker 1996, 104); (2) sự rối loạn toàn bộ về tương lai Việt Nam trong khoảng thời gian quanh việc Nhật đầu hàng (Vu 1986, 312); (3) nỗ lực của chính phủ Trần Trọng Kim để lấy độc lập hoàn toàn và thống nhất lãnh thổ (sđd., 313); (4) nạn đói năm Ất Dậu "tạo ra nỗi tuyệt vọng giúp cộng sản đến được làng thôn và hun nóng cuộc nổi loạn ở đồng quê" (Duiker 1996, 104-105); (5) trò xảo quyệt Việt Minh xưng là có Đồng minh hỗ trợ; (6) "các mối chia rẽ bè phái và địa phương" của mọi đảng quốc gia (Duiker 2000, 105); (7) và Nhật đảo chánh Pháp vào tháng ba 1945 tiêu diệt sự hiện diện quân sự Pháp tại Việt Nam cho tới 1946.
Vào thời điểm đó, Hoa Kỳ muốn thiết lập một mạng lưới ở Đông Dương để chiến đấu chống Nhật và xóa bỏ hệ thống thực dân Pháp (Lacouture 1968, 267-268). Chuyện Mỹ sử dụng Hồ là một hoạt động viên để cung cấp thông tin tình báo về Nhật được biết rõ (Xem, thí dụ như, Bartholomew-Feis 2006, 166, 209). Sự giúp đỡ Mỹ cho Việt Minh không đáng kể dưới quan điểm quân sự, nhưng nó cung cấp Hồ một vũ khí tâm lý mạnh mẽ để giành chiến thắng trong niềm tin và tín nhiệm của dân Việt Nam.
Hồ khai thác tối đa vũ khí tâm lý này kể cả dùng những thủ thuật rẻ tiền. Năm 1945, tại một cuộc họp với Thiếu tướng Hoa Kỳ Claire Chennault, Hồ xin một bức ảnh có chữ ký của tướng (Bartholomew-Feis 2006, 157-158; Logevall 2012, 84), để ông ta có thể dùng nó như là bằng chứng về hỗ trợ của Mỹ, ve vẩy nó "như một cây đũa thần trong các chuyến đi khắp vùng" (Logevall 2012, 84). Trong tháng tám năm 1945, "bức ảnh Tướng Chennault có ký tên của Hồ được hiển thị nổi bật" (Jamieson 1995, 193). Chuyện bên lề là thủ thuật ông ta dùng ảnh có chữ ký những người có quyền hành để hù thiên hạ không phải lúc nào cũng thành công. Năm 1950, ông ta xin Stalin ký một bức chân dung (hoặc một tờ tạp chí), nhưng Stalin, một bậc thầy cộng sản hiểm độc, dường như biết thủ thuật Hồ nên sai thủ hạ lấy lại những bức ảnh hay tờ tạp chí có ký tên (Brocheux 2007, 145; Duiker 2000, 421). Dầu sao chăng nữa, nếu không có tuyên bố về giúp đỡ của Mỹ, sự thu giữ chính quyền của Việt minh sẽ không nổi lên một cách nhanh chóng và mạnh mẽ như vậy (Lacouture 1968, 269).
Ngoài ra, chính phủ Trần Trọng Kim, thành lập ngày 17 tháng 4 năm 1945, đã mở đường cho một cuộc lấy quyền lực sau khi Nhật đầu hàng. Thực ra, "Hồ là người thừa hưởng chính cho các thành quả của Kim" (Vu 1986, 316). Trước ngày 17 tháng 8 và trước khi đầu hàng, Nhật quyết định cho Việt Nam độc lập hoàn toàn và thống nhất lãnh thổ. Tài liệu cho thấy là "Kim có được thống nhất lãnh thổ ngay trước khi Nhật bất ngờ đầu hàng, và, quan trọng hơn, Thuận Hóa và Nam Bộ đã có những bước chuẩn bị để thực hiện việc thống nhất đó" (sđd., 314). Cũng nên ghi chú là chính Kim đã từ chối các đề nghị bởi các cấp chỉ huy Nhật dùng quân Nhật để dẹp Việt Minh (sđd., 315).
Oái oăm thay, "sự đóng góp không chối bỏ được của chính phủ [Trần Trọng] Kim" cho cái gọi là Cách mạng tháng Tám là việc họ khuyến khích tham gia chính trị đại chúng "kể cả xuống đường, hội họp, và đi bộ phản đối, lan tràn tinh thần độc lập văn hóa và chính trị" (sđd.,313), Quan trọng hơn, "một thế hệ trẻ Việt được huy động dưới sự bảo bọc của chính phủ Kim và giới thẩm quyền Nhật" (sđd.). "Các dự án cho tuổi trẻ cho Việt Minh hàng chục ngàn thanh thiếu niên phục vụ lá cờ ĐCSĐD trên danh nghĩa độc lập và đoàn kết quốc gia thay vì trên danh nghĩa chủ nghĩa Marxist-Lenin" (sđd.).
4. Bản tuyên bố độc lập của Hồ (1945) lừa gạt dân Việt vì Hồ đã có ý định bán đứng Việt Nam cho Pháp hai tháng trước đó.
Vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ đọc diễn văn tuyên bố độc lập, mượn lời lẽ từ Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ và Bản Tuyên Ngôn Quyền Con Người và Dân từ cuộc Cách mạng Pháp. Ông ta lên án gay gắt "bản chất tàn bạo và thiếu dân chủ của chế độ thực dân Pháp" (Duiker 1996, 104).
Thực ra, Hồ đã sẵn sàng bán đứng Việt Nam cho Pháp ngay cả khi Pháp bất lực tại Việt Nam. Vào tháng 7, 1945, Hồ "đề nghị tái lập tạm thời cai trị của Pháp cho đến khi nền độc lập Việt Nam được đảm bảo... trong một thời gian 5-10 năm" (Huyen 1971, 72-73; Sainteny 1972 , 43, ghi chú dưới trang **). Đề nghị này ngay lúc Pháp vẫn còn dưới sự kiểm soát của Nhật, cho thấy rõ ràng tuyên bố độc lập của Hồ chỉ là lời bịp bợm của Hồ để lấy lòng người Việt. Nên nhớ rằng tuyên bố độc lập của Hồ là y như vậy, một lời tuyên bố, không hơn không kém. Không có nghĩa là nền độc lập của Việt Nam được đảm bảo. Hồ hiểu chuyện đó rất rõ, như các hành xử của ông ta với Nhật và Pháp sau này cho thấy. Cái đề nghị tháng 7, 1945, do đó, vẫn còn mới mẻ trong đầu khi ông ta đọc diễn văn ngày 2 tháng 9.
Ngoài ra, cùng với Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp lừa dối dân Việt bằng cách tuyên bố có sự hỗ trợ của quân Đồng minh. Giáp, ngay sau diễn văn của Hồ, đọc diễn văn mình, tuyên bố, "Hoa Kỳ... đóng góp lớn nhất cho sự tranh đấu Việt Nam chống lại phát xít Nhật, kẻ thù chúng ta, và do đó, Cộng hòa Mỹ vĩ đại là bạn tốt của chúng ta" (Xem, thí dụ như, Cao-Đắc 2014b cho danh sách tài liệu tham khảo). Nói sự giúp đỡ nhỏ nhặt của Hoa Kỳ là "đóng góp lớn nhất cho sự tranh đấu Việt Nam chống lại phát xít Nhật" là lời nói láo trắng trợn.
5. "Tuần lễ Vàng" (1945) là một cuộc trá hình cho việc cướp tài sản dân để hối lộ quân Tàu và tướng Lư Hán
Vào ngày 28 tháng 8 năm 1945, bốn quân đoàn Trung Hoa (Tàu) quốc gia "với tổng số 180.000 người dưới sự chỉ huy của tướng Lư Hán, vượt qua biên giới Bắc kỳ" với nhiệm vụ giải giáp Nhật (Huyen 1971, 97). Ngày 14 tháng 9 năm 1945, quân Tàu quốc gia vào miền Bắc Việt Nam (Willbanks 2009, 8). Hồ và các đồng chí, nhất là Võ Nguyên Giáp, lo lắng là lính Tàu đe dọa phe cộng sản vì các cấp chỉ huy Tàu "đã có mối liên hệ thân thiện với các đối thủ của ĐCSĐD là Đồng Minh Hội và VNQDĐ" (Duiker 1996, 115; Marr 1996, 499).
Hồ và các đồng chí tổ chức Tuần lễ Vàng vào ngày 22-26 tháng 9, "kêu gọi dân nộp vàng và các vật có giá trị khác để chính phủ có thể mua vũ khí từ Trung hoa" (Willbanks 2009, 8). "Tuần lễ Vàng" mang lại khoảng "400 kg hoặc 800 cân vàng và 20 triệu đồng [Đông Dương]" (Huyen 1971, 100). Tổng cộng giá trị của vàng và tiền mặt do "Tuần Lễ Vàng" đem lại cho Hồ và đảng cộng sản là khoảng 33 triệu đô la Mỹ theo thời giá năm 2014. Không nhiều, nhưng đó là tài sản kếch xù của người dân nghèo tại miền Bắc Việt Nam vào năm 1945.
Số vàng và tiền dùng cho chuyện gì? Theo báo cáo cộng sản, "[s]ố tiền đó đã góp phần giúp Chính phủ khắc phục những vấn đề về tài chính trước mắt, mua sắm được một số vũ khí cần thiết xây dựng nền quốc phòng" (QĐND 2010). Thực ra, "phần lớn số lượng [tặng thu] được dùng để hối lộ những người Tàu đang chiếm đóng" (Huyen 1971, 100; Willbanks 2009, 8). Đặc biệt, khi "Lư Hán đến Hà Nội, Hồ đã chào đón ông với một món quà tuyệt vời, 'bộ hút thuốc phiện vàng' " (Huyen 1971, 100; cũng trong Buttinger 1967, 634 n79; Harrison 1989, 107).
Việc Hồ hối lộ Tàu giúp cho giảm căng thẳng giữa phe cộng sản và quân Tàu đang chiếm đóng. Nó cũng làm dễ dàng chuyện Hổ đối phó với các đảng phái quốc gia Việt Nam.
6. Việc giải tán ĐCSĐD (1945) chỉ là trá hình cho hoạt động cộng sản để trấn an Trung hoa quốc gia và những người quốc gia
Dưới áp lực của các người quốc gia đang có hỗ trợ của Trung hoa quốc dân đảng, Hồ giải tán ĐCSĐD vào năm 1945. Việc giải tán là để loại bỏ cái tên "cộng sản" ra khỏi hiệp hội của Hồ để tránh vẻ bề ngoài là có liên kết cộng sản.
Trên thực tế, "việc giải tán ĐCSĐD chỉ là một mưu mẹo của Hồ" (Huyen 1971, 103). Đảng tiếp tục công việc dưới danh xưng Hội nghiên cứu chủ nghĩa Marx (Duiker 2000, 349-350). Đảng được chính thức tái thành lập với một tên mới, Đảng Lao Động Việt Nam vào năm 1951 sau khi Hồ vững chắc bảo đảm sự ủng hộ của Trung cộng và Liên Xô.
Việc giải tán ĐCSĐD năm 1945 là một hành động lừa đảo tuyệt vọng để "trấn an Trung hoa quốc gia về bản chất quốc gia của chính phủ Việt minh và để tạo ra thiện cảm hơn với những người không theo cộng sản Việt Nam" (Huyen 1971, 103). Chuyện đó cũng được dùng để kêu gọi Hoa Kỳ hỗ trợ. Sự gỉải tán ĐCSĐD "quả thực làm trơn tru các cuộc đàm thoại hòa bình" (Duiker 2000, 350). Tướng Xiao Wen tổ chức một phiên họp giữa đại diện đảng cộng sản và các thành phần các đảng quốc gia. "Các phe đồng ý trên nguyên tắc về sự thành lập một chính phủ liên minh rộng rãi gồm có thành phần của nhiều đảng phái" (Duiker 2000, 350).
Những nỗ lực phối hợp của Hồ và ĐCSVN giấu giếm sự liên kết với cộng sản thực sự của họ khi Hồ là người lãnh đạo phong trào cách mạng cho thấy rõ ràng bản chất lừa đảo của họ.
Thỏa thuận ký kết giữa Hồ và Jean Sainteny vào ngày 6 tháng 3, năm 1946 cho phép quân Pháp trở lại miền Bắc Việt Nam là một lừa đảo đôi. Bề ngoài, như thể Hồ nhượng bộ cho Pháp mang 25.000 lính tới Bắc Việt Nam để đổi lấy chuyện Pháp công nhận Cộng hòa Dân chủ Việt Nam là một nước tự do trong Liên bang Đông dương và Liên hiệp Pháp (Huyen 1971, 123, 131; Logevall 2012, 133).
Trên thực tế, đó là một hành động lừa đảo thiết kế bởi Hồ và Đảng ông ta, hoạt động dưới danh nghĩa Hội Nghiên cứu chủ nghĩa Mác, để đạt được hai mục tiêu chính: (i) có được công nhận là lực lượng hợp pháp chính trị Việt Nam duy nhất tại Việt Nam (Logevall 2012, 135), và (ii) dùng sức mạnh quân sự của Pháp trong việc loại bỏ các phe quốc gia đối thủ.
Hồ và Đảng ông ta biết sự cướp quyền của họ trong tháng 8 năm 1945 là bất hợp pháp vì nó không có hỗ trợ dân thực sự. Cuộc tổng tuyển cử ngày 6 tháng 1 năm 1946 được sắp đặt với quá nhiều bất thường (Huyền 1971, 107-110) đến nỗi Hồ và Đảng ông ta phải tìm cách để tuyên bố tính chất hợp lệ. Thỏa thuận Hồ-Sainteny cho thế giới và dân Việt Nam một cảm giác rằng chính phủ của Hồ không những hợp pháp, mà còn là lực lượng chính trị duy nhất đại diện cho Việt Nam. Ngoài ra, các phe quốc gia trở thành ngày càng đe dọa, nhất là với sự hỗ trợ của quân Trung hoa quốc gia đang chiếm đóng. Trong khi giả vờ thừa nhận 70 chỗ người quốc gia trong quốc hội, Hồ và Đảng ông ta ngấm ngầm chuẩn bị loại bỏ lực lượng họ. Pháp thích thú giúp một tay trong việc loại trừ này vì họ cũng sẽ dập tắt được một lực lượng đối lập.
Để ra vẻ ông ta miễn cưỡng ký thỏa thuận với Sainteny, Hồ nói rằng chẳng thà ông ta ngửi cứt Pháp trong một thời gian còn hơn ăn phân Tàu suốt đời (Logevall 2012, 133). Thực ra, ông ta đã biết Pháp sẽ quay trở lại miền Bắc Việt Nam có hoặc không có thỏa thuận giữa ông ta và Sainteny, và quân Tàu sẽ rời Việt Nam không bao lâu. Ông ta đã biết về cuộc đàm phán Trung-Pháp tại Chungking, dẫn đến một hiệp ước vào ngày 28 tháng 2 năm 1946 (Huyen 1971, 111). Theo hiệp ước Trung-Pháp này, để đổi lấy nhượng bộ rất nhiều từ Pháp, Tàu đồng ý rút quân đội ra khỏi Đông dương trong tháng ba năm 1946 (Huyen 1971, 111). Trên thực tế, một lực lượng khoảng 21.000 người thuộc sư đoàn 9 bộ binh thuộc địa và sư đoàn thiết giáp Pháp đã được gửi đi trên tàu chiến từ Sài Gòn đến Bắc Bộ vào cuối tháng Hai năm 1946 (Logevall 2012, 132). Thỏa thuận Sainteny, do đó, chỉ đơn thuần cho Pháp an tâm là lực lượng Việt Nam sẽ không tham gia vào các hoạt động thù địch với Pháp.
Với giúp đỡ của Pháp, Việt minh dưới sự chỉ huy của Võ Nguyên Giáp giết chết hàng ngàn người quốc gia một cách có hệ thống vào năm 1946 (Huyen 1971, 163). Cuộc tàn sát những người quốc gia và các lãnh tụ quốc gia tương lai được ghi rõ (Xem, thí dụ như, Cao-Đắc 2014b). Khi chiến tranh bùng nổ giữa Pháp và Việt Minh trong tháng 12 năm 1946, "không ngạc nhiên là Hồ đã trở thành lãnh tụ của lực lượng kháng chiến quan trọng duy nhất" vì "ông ta đã giết chết gần như tất cả những người khác" (Nixon 1985, 35).
Trận Điện Biên Phủ (1954) được chính phủ cộng sản hoan hô là chiến thắng long trời lở đất. Theo chính phủ cộng sản, chiến thắng này “được ghi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa trong thế kỷ XX" (Chính phủ CHXHCNVN). Câu này là lời xuyên tạc trắng trợn các sự kiện lịch sử. Đổ đồng Điện Biên Phủ với Bạch Đằng, Chi Lăng, và Đống Đa là một sự khinh thường tột đỉnh lịch sử Việt Nam và lăng mạ Ngô Quyền, Lê Lợi, và Nguyễn Huệ một cách không thể tha thứ được. Trận Điện Biên Phủ lu mờ so với các trận này về mọi phương diện.
Trận Điện Biên Phủ chỉ là một trận do Tàu cộng chỉ đạo đổi lấy hàng chục ngàn mạng dân Việt. Sự hỗ trợ của Tàu cộng cho Việt Minh trong trận Điện Biên Phủ đã được biết rộng rãi (Xem, thí dụ như, Cao-Đắc 2014b).
Để huy động lực lượng hỗ trợ hậu cần, Đảng của Hồ dựa vào nông dân nghèo với lời kêu gọi lòng yêu nước và hứa hẹn cho đất trong chiến dịch cải cách ruộng đất (Zhai 2000, 38). Cuối cùng, phe cộng sản huy động một lực lượng cung cấp khổng lồ gần 300.000 người nhờ vào cuộc kêu gọi lừa đảo cho lòng yêu nước buộc giới trí thức và công nhân hợp tác nhau để đánh Pháp (Xem, thí dụ như, Cao-Đắc 2014b cho danh sách tài liệu tham khảo). Với 47.500 quân tổ chức thành năm sư đoàn và giúp đỡ quân sự vĩ đại từ Tàu cộng, hỗ trợ bởi lực lượng cung cấp khổng lồ, Việt Minh bao vây Điện Biên Phủ, phòng thủ bởi một lực lượng kết hợp khoảng 20.000 quân chiến đấu trong 55 ngày. Điện Biên Phủ xụp đổ ngày 7 tháng 5 năm 1954. Thương vong Việt Minh được ước tính là 7.900 chết và 15.000 bị thương trong khi thương vong Pháp là 2.204 chết, 6.452 bị thương và 3.610 mất tích (Fall 2002, 484, 487).
Với những con số như vậy, làm sao mà ĐCSVN dám so sánh Điện Biên Phủ với Bạch Đằng, Chi Lăng, hoặc Đống Đa? Người nước ngoài không biết về trận Bạch Đằng, Chi Lăng, hoặc Đống Đa có thể tưởng là các trận lịch sử này tương tự như trận Điện Biên Phủ về tính chất trận đánh (bao vây đồn lũy trong 55 ngày), cuộc huy động lực lượng cung cấp và binh lính vĩ đại so với lực lượng địch nhỏ nhoi (350,000 so với 20,000), thương vong (23,000 so với 9,000), và trợ giúp ngoại bang dồi dào. Kẻ ngu xuẩn nào lại có thể nghĩ ra cách hạ nhục dân Việt và các anh hùng dân tộc Ngô Quyền, Lê Lợi, và Nguyễn Huệ như vậy?
Trận Điện Biên Phủ còn là dịp cho ĐCSVN vinh thánh Võ Nguyên Giáp. Tính chất tàn bạo, coi thường sinh mạng con người (kể cả lính mình), bất tài, và hèn nhát của Giáp đã được biết rõ (Xem, thí dụ như, Cao-Đắc 2014b cho các nguồn tài liệu; Đặng 2013).
Ngày 13 tháng 10, 2013, đám tang Võ Nguyên Giáp được tổ chức linh đình. Hàng vạn người đứng bên lề đường khi quan tài ông ta được mang ra phi trường để được bay về Quảng Bình, quê ông ta. Cả ngàn người khóc lóc công khai. Gần một năm sau, ngày 2 tháng 9, 2014, cuốn phim "Sống Cùng Lịch Sử" do "hoàn toàn bằng kinh phí Nhà nước cấp" ở 21 tỷ đồng (khoảng 1 triệu đô la Mỹ) với nội dung ca ngợi chiến thắng Điện Biên Phủ và Võ Nguyên Giáp được trình chiếu tại Hà Nội. Chỉ sau vài ngày, cuốn phim đã phải ngừng chiếu vì số lượng khán giả tới xem chỉ có 2, 3 người mỗi ngày (Tuổi 2014b). Nhiều người tự hỏi tại sao hàng vạn người chịu khó đứng bên lề đường khóc lóc trong đám tang Giáp mà chỉ có 2, 3 người đến coi phim vinh danh ông ta.
Tuy tính chất tàn bạo của cộng sản không hoàn toàn bất ngờ, phản ứng lẹ làng và to lớn hơi đáng ngạc nhiên. Thì ra lý do cho sự đàn áp nhanh chóng và tàn bạo là để cho Tàu thấy là mọi chuyện êm thấm. "Vào ngày 18 tháng 11, Chu Ân Lai dẫn một phái đoàn Tàu tới Hà Nội" (Ang 1997, 42). Dù chuyến thăm của Chu không được loan báo rầm rộ, chuyến đi "đã được biết trước" (sđd.). Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH), sốt sắng làm vui lòng quan thầy Tàu, không muốn Chu phải bận tâm tới một cuộc nổi dậy nào đó.
Với lý do hiển nhiên, ĐCSVN làm giảm cường độ của cuộc nổi dậy. Một bài báo cộng sản báo cáo là cuộc nổi dậy được dàn dựng bởi Mỹ và chính quyền Nam Việt. “Mỹ-Diệm chỉ huy bọn phản động đội lốt tôn giáo lợi dụng tự do tín ngưỡng xuyên tạc chủ trương sửa sai cải cách ruộng đất của ta, kích động giáo dân gây bạo loạn ở Quỳnh Lưu” (Lê 2004). Không có báo cáo về chuyện giết nông dân và việc tống hàng ngàn dân nổi loạn bị bắt tới các trại lao động và cải tạo.
Cuộc nổi dậy Quỳnh Lưu năm 1956 giống cuộc nổi dậy Nghệ Tĩnh năm 1930 trên nhiều khía cạnh: địa danh (Nghệ An), dân nổi loạn (nông dân), cường độ, bạo lực, và sự đàn áp tàn bạo. Tuy nhiên, trong thế giới cộng sản, cuộc nổi dậy Quỳnh Lưu đã đi vào quên lãng trong khi cuộc nổi dậy Nghệ Tĩnh được xưng với vinh quang là do bởi lãnh đạo sáng suốt của ĐCSVN.
Vụ công hàm Phạm Văn Đồng gửi cho Tàu đồng ý tuyên bố Tàu về lãnh hải đã được biết rộng rãi. Sự hiệu lực của lá thư Đồng vẫn còn trong tranh chấp, nhưng giá trị pháp lý của lá thư đó không phải là vấn đề ở đây.
Sự tranh chấp các đảo có thể được diễn giải theo hai cách, tùy theo ý tin của Hồ và các đồng chí về tình trạng sở hữu của các hòn đảo lúc đó. Nếu họ tin rằng các đảo thuộc về Bắc Việt lúc đó, thì lá thư của Đồng rõ ràng là bằng chứng về hành vi phản quốc của họ bí mật bán một phần lãnh thổ đất nước cho ngoại bang để có được "tình hữu nghị tốt đẹp" giữa hai nước. Nếu họ không tin rằng các đảo thuộc về Bắc Việt lúc đó và thay đó thuộc về Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), thì lá thư của Đồng rõ ràng là bằng chứng về hành vi lừa đảo của họ đối với người khác, ngay cả với người bạn thân nhất của họ. Trong cả hai trường hợp, Hồ và các đồng chí ông ta đã hành động thiếu đạo đức và vi phạm các yếu tố cơ bản của sự tin cậy và trung thực trong việc đối phó với dân họ hay với các nước khác trong vấn đề quốc tế.
Chính phủ CHXHCNVN có thể hoặc không thể thắng vụ tranh chấp các đảo về phương diện pháp lý, nhưng họ không thể thắng về phương diện đạo đức.
11. Mặt trận Giải Phóng miền Nam (1960) là một công cụ của cộng sản Bắc Việt nhưng ĐCSVN chối bỏ cho tới khi họ chiếm đoạt miền Nam năm 1975
Năm 1960, cộng sản Bắc Việt thành lập và điều khiển Mặt trận Giải Phóng (MTGP) và Chính phủ Cách mạng Lâm thời nhưng chối bỏ là có liên kết với Mặt trận Giải Phóng trong nhiều năm (Joes 2001, 49). Chỉ sau khi Bắc Việt chiếm được Nam Việt Nam, họ mới công khai thừa nhận rằng "Chính phủ Cách mạng Lâm thời luôn luôn chỉ đơn giản là một nhóm phát ra từ VNDCCH" (trích dẫn trong Truong 1986, 268).
Có lẽ một trong những sự lừa đảo tồi tệ nhất của ĐCSVN là sự trở mặt với chính người của họ, MTGP và CPLT (Chính phủ lâm thời). "Sau chiến thắng 1975, Mặt trận và CPLT không những không có vai trò gì hơn nữa, họ còn trở thành một trở ngại tích cực trong sự củng cố quyền lực nhanh chóng" (Truong 1986, 268). Theo lời của cựu bộ trưởng tư pháp của CPLT, "với quyền lực trong tay, họ bắt đầu cho thấy bộ mặt thật của họ trong kiểu tàn bạo nhất" (sđd.).
12. Chiến tranh Việt Nam (1954 – 1975) được tiến hành bởi Hồ và ĐCSVN bằng cách lừa đảo dân miền Bắc và tạo chia rẽ hận thù trong dân Việt để phục vụ ngoại bang
Cái lừa đảo tồi tệ nhất, và cái bạo lực dùng để che đậy sự lừa đảo và / hoặc để đạt được các mục tiêu cộng sản, mà Hồ và ĐCSVN thực hiện, là kế hoạch hiểm ác của họ trong việc tiến hành chiến tranh chống lại miền Nam Việt Nam và Hoa Kỳ. Kế hoạch này hiểm ác vì nó lợi dụng tình huynh đệ thiết tha của dân Việt Nam và biến nó thành một mối thù sâu đậm với đế quốc và chính phủ ngụy tưởng tượng đưới danh nghĩa tinh thần yêu nước. Kết quả là sự phí phạm hàng triệu sinh mạng.
Hồ và ĐCSVN thực hiện sự lừa đảo của họ bằng những lời nói láo trắng trợn và bịp bợm. Đối với dân Bắc Việt, Hồ và ĐCSVN vẽ ra bức tranh miền Nam Việt Nam là một quốc gia bị áp bức bởi một chính phủ ác độc sử dụng một quân đội to lớn phục tòng đế quốc Mỹ. Nhiều người Bắc Việt tin rằng miền Nam Việt Nam là một nước nghèo vì dân bị lính Nam Việt Nam cướp bóc và họ có nhiệm vụ cao cả giải phóng anh em họ ra khỏi sự đàn áp và chấm dứt nỗi đau khổ của dân (Herrington 1982, 192). "Những kẻ lãnh tụ Hà Nội thực hiện một việc đáng kể là bán dân Bắc Việt cái sứ mệnh thiêng liêng cứu anh em miền Nam của họ khỏi nanh vuốt chủ nghĩa đế quốc" (sđd., 264).
Dương Thu Hương, một nhà văn và người bất đồng chính kiến, kinh ngạc về các lừa dối cộng sản khi bà chứng kiến tình trạng miền Nam so với miền Bắc vào năm 1975. Bà nói, "Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người" (Đinh 2012).
13. Vụ Lê Văn Tám (1945) và Nguyễn Văn Bé (1967) cho thấy đầu óc ngu muội của người cộng sản trong việc bịa đặt hình ảnh anh hùng để phục vụ mục tiêu họ.
Câu chuyện về Lê Văn Tám và Nguyễn Văn Bé được biết rõ (Xem, thí dụ như, Nguyên 2013; Southerland 1971; Phan 2009). Cộng sản coi họ là anh hùng hy sinh tính mạng trong chiến tranh chống Pháp và Mỹ, và đưa họ lên hàng liệt sĩ. Vấn đề là có những yếu tố hư cấu trong các câu chuyện đó. Lê Văn Tám là một nhân vật bịa đặt với hành động anh hùng tưởng tượng dựa vào một sự kiện có thật, và Nguyễn Văn Bé là một người thật với câu chuyện hư cấu. Cộng sản Việt Nam nói láo và tạo dựng các chuyện đó. Không có người thật nào chết và không có hành động anh hùng nào được thực hiện.
Mặc cho chứng cớ không chối cãi được về các dối trá, chính phủ CHXHCNVN vẫn giữ hình ảnh anh hùng của họ. Câu chuyện Lê Văn Tám được kể trong sách giáo khoa trong trường tiểu học. Nhiều trường học, quỹ học bổng, tượng đài, công viên, đường xá, và nhiều địa danh trên khắp Việt Nam được đặt tên anh ta. Vài đường có tên Nguyễn Văn Bé được đổi lại sau 1975, nhưng vẫn có nhiều trường mang tên Nguyễn Văn Bé.
Đầu óc cộng sản không thể hiểu được. Qua việc giữ tên các anh hùng bịa đặt cho trường học, đường xá, và công viên, chính phủ CHXHCNVN khuyến khích lừa đảo, dối trá, và lừa gạt. Họ gợi ý cho dân là những câu chuyện về các anh hùng hoặc liệt sĩ cộng sản khác cũng có thể bịa đặt. Một mặt, sự ngu xuẩn này thực ra tốt vì quả thật nhiều câu chuyện về các anh hùng cộng sản là bịa đặt. Mặt khác, cái tai hại thật khủng khiếp vì những anh hùng thực sự trong lịch sử bị vạ lây. Thông điệp rõ ràng họ muốn gửi tới trẻ em là, "Nói láo không sao, miễn là chuyện đó phục vụ mục tiêu cách mạng và ca ngợi tinh thần hào hùng của dân Việt." Thảo nào học sinh Việt Nam ghét học sử. Đối với các em, Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Lê Lợi, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Huệ và các anh hùng dân tộc khác chắc chỉ là những nhân vật bịa đặt, y như Lê Văn Tám; hoặc họ có thể là người thật nhưng hành động anh hùng của họ là hư cấu, y như hành động của Nguyễn Văn Bé.
14. Sự kiện UNESCO (1989) không những lừa bịp dân Việt mà còn là một quốc nhục khi Hồ Chí Minh bị so sánh tệ mạt hơn một học giả Thái Lan.
Vào năm 1987, chính phủ CHXHCNVN thông báo UNESCO là Việt Nam sẽ kỷ niệm sinh nhật thứ 100 của Hồ vào ngày 19 tháng 5 năm 1990, và nói rằng Hồ là một người vĩ đại cho nền văn hóa Việt Nam (Bùi 2006, 82). UNESCO chỉ thông qua một kiến nghị đề nghị các nước thành viên tham gia trong lễ tưởng niệm sinh nhật thứ 100 của Hồ, ghi nhận rằng "năm 1990 sẽ đánh dấu 100 năm sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc và người vĩ đại trong nền văn hóa Việt Nam" ("the year 1990 will mark the centenary of the birth of President Ho Chi Minh, Vietnamese hero of national liberation and great man of culture") (Bùi 2006, 81-83; UNESCO 1987).
Bằng cách rõ ràng dùng tính từ "Việt Nam" ở đầu nhóm chữ để mô tả toàn bộ nhóm chữ, UNESCO chỉ đơn giản lập lại những gì mà chính phủ CHXHCNVN đòi hỏi rằng Hồ Chí Minh là một anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam và một người vĩ đại trong nền văn hóa Việt Nam. Tất nhiên ông ta là anh hùng và người vĩ đại với cộng sản của Cộng sản Việt Nam, cùng một cách như Hitler là anh hùng và người vĩ đại với Nazi của Đức Quốc Xã Nazi, Kim Jong Il với người Bắc Hàn của Bắc Triều Tiên, Mao Trạch Đông với người Tàu cộng của Trung Quốc, và Stalin với người Soviet cộng sản của Liên Xô trong lúc họ sống.
Mặc dù sự chỉ định này thật rõ ràng, các viên chức cộng sản Việt Nam, không biết vì ngu dốt, thiếu hiểu biết, hoặc cố tình bóp méo sự thật, giải thích nhóm chữ của UNESCO là "anh hùng giải phóng quốc gia Việt Nam và người vĩ nhân quốc tế về văn hóa." (Nhấn mạnh thêm.) Chỉ định Hồ là một trong "những người văn hoá vĩ đại trên thế giới" được bao gồm trong sách giáo khoa dùng trong các trường học Việt Nam ("Hồ Chí Minh còn là một Danh nhân văn hoá thế giới, một nhà thơ lớn") (BGDĐT 2011, 141). Lời tuyên bố Hồ là một "người văn hóa nổi tiếng thế giới" được công bố trên các phương tiện truyền thông của chính phủ (Chinhphu 2010; Trương 2014).
UNESCO rõ ràng từ chối thừa nhận Hồ là người văn hóa quốc tế. Thay vì vậy, UNESCO thừa nhận một công dân Thái Lan là một học giả văn chương thế giới trong cùng phiên họp và gồm câu đó trong cùng đoạn văn. Việc này là bằng chứng cụ thể là Hồ, một lãnh tụ quốc gia, bị coi là tệ hơn một công dân Thái.
Trong cả phân đoạn (phân đoạn 18.65) trong nghị quyết, UNESCO chỉ dùng những từ như "quốc gia (national)," và "Việt Nam" để mô tả Hồ. Ngoài ra, UNESCO cẩn thận dùng từ cho hành động là "ghi chú (noting)," và "xem xét/ cân nhắc (considering)." Ngược lại, trong phân đoạn dành cho kỷ niệm một trăm năm sinh nhật của Phya Anuman Rajadhon, một học giả Thái Lan, UNESCO phát biểu, "Thừa nhận rằng Phya Anuman Rajadhon là một học giả vĩ đại, những đóng góp của ông cho thế giới văn học sẽ luôn luôn được nhớ và quý, và là tia sáng hướng dẫn những người đương thời với ông và các thế hệ theo sau tiến đến chân lý, tốt lành và đẹp đẽ" ("Recognizing that Phya Anuman Rajadhon was a great scholar whose contributions to the literary world will always be remembered and appreciated, and was the light that guided his contemporaries and succeeding generations towards truth, goodness and beauty") (UNESCO 1987, 133. Nhấn mạnh trong nguyên tác.)
Sự dùng các từ "thừa nhận/ công nhận (recognizing)" và "thế giới văn học (literary world)" trong phần mô tả Phya Anuman Rajadhon khác hẳn với những từ "ghi chú (noting)," "xem xét/ cân nhắc (considering)" và "quốc gia (national)" mô tả Hồ. Vì UNESCO dùng "thừa nhận/ công nhận" và "thế giới văn học" cho Phya Anuman Rajadhon nhưng không dùng những từ ngữ đó cho Hồ Chí Minh trong cùng một đoạn và trong cùng một phiên họp, rõ ràng là UNESCO từ chối "thừa nhận/ công nhận" Hồ về đóng góp của ông ta trong lãnh vực văn hóa, giáo dục, và nghệ thuật, cho dù ở trong Việt Nam, chứ đừng có nói là xem xét Hồ cho tầm vóc đó ở mức thế giới. Chắc chắn, thừa nhận Hồ về đóng góp của ông ta cho thế giới văn hóa là một chuyện không thể có được.
Thật là quái đản khi chính phủ CHXHCNVN không hiểu được các sự khác biệt đơn giản như vậy. Vì Phya Anuman Rajadhon chỉ đơn thuần là một học giả Thái Lan và Hồ Chí Minh là một lãnh tụ quốc gia, chuyện này nên coi như một tủi nhục quốc gia. Thay vì vậy, chính phủ CHXHCNVN xuyên tạc lời UNESCO, hãnh diện về chuyện đó, và loan báo cho cả nước. Trong khi thế giới, và đặc biệt là Thái Lan, đang chê cười Việt Nam, nhân dân Việt Nam khoe khoang Hồ là "người văn hóa nổi tiếng thế giới." Ngoài việc dùng một kẻ không xứng đáng để đại diện cho nền văn hóa Việt Nam, chính phủ CHXHCNVN lại còn làm tình trạng tệ hơn qua việc xuyên tạc sự thật để lừa gạt dân.
Còn có cái ô nhục nào nghiêm trọng hơn mà chính phủ CHXHCNVN có thể mang đến cho dân Việt Nam?
15. Bộ phim "Mậu Thân 1968" (2013) của đạo diễn Lê Phong Lan là một nỗ lực tuyệt vọng trong việc xóa bỏ tội ác không tả xiết của cộng sản.
Ngày 25 tháng 1 năm 2013, Đài Truyền hình Việt Nam VTV1 khởi đầu phát hình bộ phim "Mậu Thân 1968" gồm 12 tập, do đạo diễn Lê Phong Lan thực hiện (Lê 2013). Theo Lê Phong Lan, bà ta đã đi đi về về giữa Việt Nam và Mỹ trong suốt 10 năm, "đã gặp và phỏng vấn khoảng 200 nhân chứng" cả mọi bên (cộng sản, Mỹ, và Việt Nam Cộng Hòa) để đi tìm sự thật (Lê 2013). Đáng buồn thay, cái sự thật mà Lê Phong Lan đi tìm, thực ra chỉ là một nỗ lực tuyệt vọng trong việc xóa bỏ tội ác không tả xiết của cộng sản. Một cách khôi hài, bộ phim "Mậu Thân 1968" dường như cho thấy sau 45 năm im lặng, đã đến lúc phe cộng sản đem "sự thật" ra ánh sáng. Có ai tin là người cộng sản chịu im lặng trong 45 năm khi họ bị "vu oan"? Tuyên truyền là tài năng họ hãnh diện mà họ chịu im lặng trong 45 năm?
Một cách trắng trợn, tập 8, nhan đề "Khúc ca bi tráng," chối bỏ cuộc thảm sát tại Huế do Việt Cộng, và đổ lỗi cho bom đạn Mỹ và quân đội VNCH. Trong một khúc phim, Lê Phong Lan phỏng vấn Nguyễn Đắc Xuân, kẻ nói rằng cuộc thảm sát là do phản kích tâm lý chiến của phe VNCH. Đoạn phim trích dẫn lời các học giả Hoa Kỳ Noam Chomsky, Edward S. Herman, và D. Gareth Porter cho rằng những người chết trong các hầm chôn tại Huế là do bom đạn Mỹ, do quân VNCH trả thù những cảm tình viên cộng sản khi tái chiếm Huế, và là những người lính cộng sản bỏ xác tại chiến trường. Luận điệu chống đỡ này chẳng có giá trị gì cả. Ai cũng biết Nguyễn Đắc Xuân là một trong những tên sát nhân đã giết những người dân Huế. Những kẻ sát nhân khác gồm có Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, và Nguyễn Thị Đoan Trinh. Phỏng vấn một chiều một kẻ bị coi là sát nhân về tội ác mà hắn coi là gây ra là một chuyện ghê tởm trong phim tài liệu lịch sử. Trích dẫn lời của những học giả phản chiến về cuộc chiến quả thật là một nỗ lực ngu xuẩn của những kẻ muốn sửa lại lịch sử.
Do đó, không ngạc nhiên khi bộ phim "Mậu Thân 1968" không hề đề cập đến một nhân chứng vả tài liệu quan trọng nhất về vụ thảm sát Mậu Thân: Bác sĩ Alje Vennema và cuốn sách ông, nhan đề "Cuộc Thảm Sát tại Huế bởi Việt Cộng" xuất bản năm 1976 (Vennema 1976). Bác sĩ Alje Vennema, một cảm tình viên cho phong trào phản chiến, là nhân chứng đáng tin cậy nhất về vụ thảm sát Mậu Thân vì ông đích thân tham gia trong việc tìm các hầm chôn nạn nhân và khám xét hài cốt nạn nhân để xác định nguyên nhân chết với cặp mắt chính xác của một bác sĩ. Chính D. Gareth Porter, sử gia phản chiến Hoa Kỳ và là kẻ bênh vực cộng sản, công nhận Bác sĩ Vennema là nhân chứng. Porter, tuy nhiên, dùng những báo cáo tương phản với những báo cáo của Bác sĩ Vennema.
Ngoài cuốn sách của Bác sĩ Vennema, có hàng trăm nhân chứng và tài liệu cho thấy cuộc thảm sát Mậu Thân năm 1968 là một cuộc giết người tập thể dã man của cộng sản Việt Nam theo chính sách cộng sản Bắc Việt. Chi tiết về những hầm chôn nạn nhân và nguồn các tài liệu này được ghi chép tỉ mỉ (Xem, thí dụ như Vennema 1976; Cao-Đắc 2014a, 356-362).
Bác sĩ Vennema từ trần năm 2011 tại British Columbia, Canada. Nếu quả thật Lê Phong Lan là người muốn tìm hiểu sự thật "trong suốt 10 năm" thì bà ta nên phỏng vấn ông lúc ông còn sống, hoặc it nhất bà ta lẽ ra tham khảo cuốn sách ông. Lê Phong Lan tuyên bố, "Có người hỏi tôi làm phim tài liệu lịch sử có công bằng không, tôi xin trả lời, tôi phải công bằng vì đó là nghề nghiệp, là thanh danh của tôi” (Lê 2013). Lê Phong Lan quả thật đã cho một định nghĩa mới cho "công bằng" hoặc bà ta đã coi thường chính thanh danh mình, nếu bà ta có thanh danh.
Ngày 8 tháng 9 năm 2014, Viện Bảo tàng Lịch sử quốc gia mở cuộc triển lãm Cải Cách Ruộng Đất 1946 - 1957 với thông cáo: "Cuộc trưng bày chuyên đề Cải cách ruộng đất 1946-1957 là một hoạt động góp phần tuyên truyền, giáo dục cho đông đảo tầng lớp nhân dân, đặc biệt thế hệ trẻ nhận thức đúng hơn về cuộc cách mạng ruộng đất trong tiến trình cách mạng giải phóng dân tộc ở nước ta những năm 1946-1957" (Dân 2014a). Cuộc triển lãm trưng bày gần 150 hiện vật, tài liệu gốc, và hình ảnh về cuộc cải cách ruộng đất tại miền Bắc trong thập kỷ 1950, nhưng không có cái gì trưng bày về cuộc hành quyết hơn 170.000 nạn nhân.
Cuộc triển lãm dự trù mở cửa cho công chúng cho tới cuối năm 2014 nhưng chỉ sau bốn ngày, cuộc triển lãm đóng cửa với lý do kỳ lạ là "sự cố điện" (Tuổi 2014a). Sự đóng cửa bất ngở của cuộc triển lãm cho thấy ĐCSVN nhận ra cái dại dột của họ khi cố gắng che đậy tội ác giết hơn 170,000 dân vô tội. Lần này, ĐCSVN không còn lừa gạt dân với những lởi lẽ lừa đảo vì sự thật của cuộc CCRĐ đã được phổ biến khắp nơi qua các phương tiện truyển thông và Internet.
Cuộc triển lãm khơi lại vết thương của cuộc thảm sát dã man dân vô tội trong một trong những giai đoạn đen tối nhất trong lịch sử Việt Nam. Nó nhắc nhở thân nhân còn sống của những nạn nhân về mối thương đau mà họ đã chịu đựng trong hơn nửa thế kỷ. Tại sao chính phủ CHXHCNVN muốn làm vậy?
Kết luận
ĐCSVN hiện hữu hơn tám mươi năm nhờ vào ba yếu tố: lừa đảo, tàn bạo, và may mắn. Ta chẳng làm gì được với may mắn. Cũng khó thay đổi bản chất tàn bạo của người cộng sản. Nhưng lừa đảo là cái móc nối yếu nhất của họ. Nó có thể bị phơi bày.
ĐCSVN không bao giờ thực sự thừa nhận họ đã phạm những hành vi lừa đảo. Điều này cho thấy họ sẽ tiếp tục lừa đảo và vi phạm hành vi tội phạm. Thực ra, đó chính là những gì đang xảy ra ngay bây giờ tại Việt Nam. Ngoài ra, cần có thời gian cho một sự lừa đảo được khám phá. Bất cứ những gì ĐCSVN đang làm bây giờ có thể không được biết đến cho đến khi hai mươi, ba mươi, hay năm mươi năm sau. Hai mươi năm sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, tổng số thương vong của Bắc Việt cuối cùng mới được tiết lộ. Năm mươi năm sau cuộc cải cách ruộng đất đẫm máu, ĐCSVN mới tiết lộ tổng số địa chủ bị hành quyết. Sáu mươi năm sau vụ Lê Văn Tám, câu chuyện thật mới lộ ra. Dưới hệ thống độc đảng không có cơ chế kiểm tra và cân bằng, không có cách nào mà dân Việt biết những gì chính phủ đang làm.
Phong trào "Chúng Tôi Muốn Biết," phát động bởi Mạng Lưới Blogger Việt Nam vào tháng 9, 2014 (Dân 2014b), đòi hỏi chính quyền đáp ứng với công chúng về những việc ảnh hưởng đến chủ quyền đất nước. Với cái văn hóa lừa đảo và dối trá sâu đậm, cộng với bản chất tàn ác và hiểm độc, xác suất cho việc ĐCSVN thỏa mãn yêu cầu này hầu như là con số không. Tuy nhiên, phong trào "Chúng Tôi Muốn Biết" có vẻ là một hóa trang tài tình, vô tình hay cố ý, cho một phong trào hay chiến dịch mạnh mẽ hơn, hoặc là một chiến thuật làm chia trí hay đánh lạc hướng ĐCSVN. Bất cứ ý định họ là gì, ĐCSVN chẳng làm gì được với người dân muốn biết chuyện gì đang xảy ra với đất nước. Ít nhất nó là một thông điệp to và rõ cho ĐCSVN là dân Việt Nam không còn là đàn thú ăn cỏ sợ đám linh cẩu hiểm ác.
Phong trào "Chúng Tôi Muốn Biết" ngầm có một phong trào em bổ sung đồng hành: phong trào "Chúng Tôi Không Muốn Biết" hoặc "Chúng Tôi Không Thèm Biết." Phong trào em này nhắm vào những lừa đảo lịch sử bao che cho các tội ác quá khứ của ĐCSVN hoặc xuyên tạc sự thật để tô điểm hình ảnh cộng sản.
Cả hai phong trào đều có thông điệp to và rõ cho ĐCSVN.
Thực vậy, dân Việt đã quát to và rõ thông điệp "Chúng Tôi Không Muốn Biết" hoặc "Chúng Tôi Không Thèm Biết" vào những lừa đảo lịch sử của phim "Sống Cùng Lịch Sử" và cuộc triển lãm Cải Cách Ruộng Đất.
Và các em sẽ không chỉ quát thông điệp. Các em sẽ kèm theo thông điệp mình với hành động cụ thể.
Cao-Đắc Tuấn danlambaovn.blogspot.com
Hồ chí Minh và cái ách cộng sản tại Việt Nam
Bảo Giang
Lịch sử Việt Nam còn ghi lại một số cuộc hội nghị có tiếng nói của người dân đã làm thay đổi, không phải chỉ trong sinh hoạt thường nhật, nhưng còn làm thay đổi cuộc sống và ý niệm về sự trường tồn của đất nước. Một trong những cuộc hội nghị ấy, không một người Việt Nam nào không biết đến. Đó là hội nghị Diên Hồng thời nhà Trần. Nhưng lúc gần đây, có một số người đang còng lưng đánh bóng và nhắc đến cái hội nghị có khoảng 60 người tham dự ở gốc cây đa Tân Trào vào thời Hồ chí Minh, như là một “đại hội quốc dân” vì nó cũng làm thay đổi bộ mặt của đất nước. Thử xem, nó đã thay đổi bộ mặt đất nước thế nào?
Truớc hết, đã là người Việt Nam thì dù là người buôn thúng bán bưng, anh phu xe, người khuân vác, anh nông dân cho đến các quan chức trí thức… không ai mà không biết, hoặc nghe nói về Hội Nghị Diên Hồng cách xa chúng ta hơn 730 năm. Người dân Việt Nam biết đến hội nghị Diên Hồng bởi một lẽ rất đơn giản: Hội nghị đã làm nên cuộc sống và sự trường tồn của dân tộc Việt Nam. Hội nghị ấy như một bí quyết đặc biệt để truyền sức sống không phải chỉ ở trong lòng mọi người, tạo nên một khối đồng tâm, mà còn vang dội vào lòng chiến mã, cây cỏ, sông, núi, để từ đó tạo nên một thực thể sống, đồng nhất, trong một mục đích bảo vệ sự vẹn toàn và độc lập của Việt Nam. Từ đó, hội nghị đã tạo nên những chiến công hiển hách trong lịch sử như Bạch Đằng, Chi Lăng, Xương Giang, Hàm Tử, Vạn Kiếp, Đống Đa… Và người Việt Nam có quyền ngửa mặt lên để tự hào về những trang lịch sử vẻ vang của Bà Trưng, Bà Triệu, của Đức Trần Hưng Đạo, Bình Định Vương, của Đức Quang Trung hay các bậc danh tướng Trần Bình Trọng, Lý Thường Kiệt…v.v… là những vị mà ngày nay khi nhắc tên, vẫn làm cho những binh đoàn Hán, Mông, Mãn kinh hoàng, tức tưởi. Như thế, Diên Hồng là lịch sử sống cho một dân tộc còn sống.
Diên Hồng là thế, còn cái hội nghị ở gốc cây đa Tân Trào thì thế nào? Khi làm thay đổi bộ mặt của người dân trong một giai đọan, liệu nó có viết nên một trang sử không bị ô uế cho người còn sống, không làm nhục những ngưòi đã chết, hay nó đã viết ra một trang nhơ nhớp trong dòng lịch sử của một dân tộc anh hùng?
Trước tiên, theo như sách vở của Việt cộng còn ghi lại thì cái gọi là “đại hội đại biểu quốc dân vào chiều ngày 16-8-1945 ở gốc đa Tân Trào, huyện Sơn Dương, Tỉnh Tuyên Quang có hơn 60 đại biểu đại diện từ Nam bộ, miền Nam Trung Bộ và Việt Kiều ở Thái Lan, ở Lào về dự đại hội”. Hội nghị cây đa đã lập ra “Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam” do Hồ Chí Minh cầm chầu.
Không biết đây là sự trùng hợp ngẫu nhiên, hay là lịch sử của đảng cộng sản và cái hội nghị Tân Trào do Việt Minh tổ chức lại có mối liên hệ tiền kiếp với chuyện cây đa?
Tôi hỏi thế là vì, khi nhắc đến cây đa là nhắc đến một truyền thuyết lớn về chú cuội trong nhân gian của Việt Nam, mà không một ai không nghe biết. Từ ông già bà lão cho đến đứa trẻ nhỏ không ít lần đã ngửa cổ lên nhìn trăng để mà xem chú cuội ngồi ở gốc cây đa tròn méo ra sao! Hồi còn nhỏ ở dưới quê, tôi cũng tưởng là chuyện có thật. Bởi lẽ, vào ngày có trăng sáng nhìn lên, lạ qúa, hình như cũng thấy mờ mờ ảo ảo như có thằng cuội ngồi ở gốc cây đa.
Tuy nhiên, chuyện thằng cuội và cây đa là một câu chuyện hài trong nhân gian. Nó mang ý nghĩa dí dỏm, châm biếm, không có thật. Nhưng chắc chắn, cái không có thật ấy không làm hại ai. Nghĩa là, dù có bị người khác bảo “mày nói láo như cuội” thì ngưòi bị chê có lẽ cũng chẳng mất mát gì và có lẽ cũng không phải đi tù. Nhưng nay ở Tân Trào, Việt Minh lại nhờ gốc cây đa, như một truyền thuyết để đẻ ra một hội nghị “đại biểu quốc dân”, và đẻ ra cái “ủy ban giải phóng Việt Nam” do Hồ cầm chầu, hẳn nhiên là phải có ý khác. Không biết có phải họ muốn nhờ cây đa trong truyền thuyết để ví von đảng là cây đa cho đồng bào biết đến Việt Minh? Hay thực tế, đảng cộng và cái hội nghị này chỉ là câu chuyện và việc làm của thằng cuội?
Ở đây, tôi xin mở một dấu ngoặc là, riêng về nhân vật chính ở gốc cây đa thì cho đến thời điểm này chẳng có mấy người biết ông ta là ai. Dù trưóc đó: “để thực hiện chỉ thị của quốc tế CS cuối 1929 NAQ (Nguyển ái Quốc tức Hồ chí Minh?) từ Xiêm về Hương cảng, TQ để triệu tập và chủ trì hội nghị hợp nhất 3 tổ chức CS. Hội nghị họp từ ngày 03 - 07/2/1930. (Tham dự Hội nghị có đại diện của Đông Dương Cộng Sản Đảng và An Nam Cộng Sản Đảng). Hội nghị có 03 đại biểu chính thức và 2 đại biểu dự khuyết. Sau 5 ngày làm việc với tinh thần thống nhất cao, dân chủ hội nghị đã đi đến việc: thành lập đảng CSVN”(Ngô chí Tâm). Người như thế đó, nay lại thành kẻ cầm đầu câu chuyên về gốc cây đa!
Câu chuyện được khởi đầu như thế, nên sau 80 năm hươu cuội, tất cả mọi người Việt Nam, không trừ ai. Từ kẻ buôn thúng bán bưng, hay anh nông dân chẳng một ngày đến trường, đến hàng trí thức quan cán có những mảnh bằng to với những chữ nhớn TS, rồi PTS, hay là GS đến phó GS. Hoặc là chuyên viên các ngành nghề, như nghề công an đến nghề móc túi. Từ nghề tự do trí thức như BS, LS đến nghế xe ôm. Và trú quán thì từ người ở hải ngoại cho đến những người ở trong nước, kể cả những kẻ ngồi tù vì mọi loại tội phạm. Rồi về tuổi thì kể từ 6, 7 tuổi trở lên cho đến chờ xuống lỗ… không xót bất cứ một ai, đều biết rất rõ và là chứng nhân cho một sự kiện là: cái “đại hội đại biểu quốc dân ở gốc cây đa Tân Trào” ấy đã làm nên hai thành qủa “vĩ đại” trong sự nghiệp của Hồ chí Minh và của Việt cộng trong lịch sử cận đại của Việt Nam:
1. Hội nghị gốc đa vào ngày 16-08-1945 của Việt Minh đã tạo ra cuộc đảo lộn luân thường trong xã hội Việt Nam.
2. Hội nghị Tân Trào tạo nên một cuộc đảo lộn đạo lý sâu sắc làm băng hoại nền luân lý của dân tộc Việt.
Đây chính là hai cái ách tàn bạo nhất của cộng sản mà Hồ Chí Minh và tập đoàn Việt Minh đã khoác lên cổ người dân Việt Nam theo từng vùng, miền hay trong cả nước trong 80 năm qua. Chuyện cây đa và thằng cuội là hoang đường. Nhưng chuyện cái ách Hồ Chí Minh là chuyện thật, hàng ngày vẫn còn tiếp tục tái diễn tại Việt Nam.
1. Hồ chí Minh và cuộc làm đảo lộn luân thường trong xã hội Việt Nam
Trước hết, đạo nghĩa của chữ luân thường là sự đúng, tính thật của một sự việc. Làm đảo lộn luân thường là làm cho những điều đúng thành sai, hay thành gian dối, và nó làm đảo lộn những gía trị, những nguyên tắc trong đời sống yên bình của xã hội.
Thật vậy, người Việt Nam ta từ xưa vẫn được đánh gía là một sắc dân trung hậu, thật thà, có nề nếp và hiếu khách. Họ không ưa dối trá. Nhưng kể từ ngày có cái gọi là “đại hội đại biểu” ở gốc đa đến nay, Việt cộng đã ra sức làm thay đổi bộ mặt giao tế của xã hội Việt Nam bằng con đường dối trá. Tệ hơn thế, chúng còn ép buộc người dân phải đi vào con đưòng một chiều ấy để dối gạt chính mình và lừa đảo đồng loại. Nói toạc ra là sự gian dối ấy được Hồ Chí Minh thực hiện ngay từ trong bản lý lịch của mỗi cá nhân.
Nói cho rõ là: Tất cả các bản lý lịch cá nhân của các đoàn, đảng viên Việt cộng và những kẻ liên hệ của nó, đều là những bản lý lịch man trá, gian dối, không đúng với sự thật. Riêng với người dân, vì hoàn cảnh phải sống với cộng sản, nên hầu như mọi ngưòi đành phải, hay dễ dãi chấp nhận sự hướng dẫn khai gian dối trong bản lý lịch của mình để được yên thân, hay cầu lợi. Với lớp trẻ, sự gian dối ấy được dạy ngay từ khi còn ở trong học đường. Theo đó, chỉ trừ ra một số ít người không tính đến chuyện liên hệ trực tiếp với chúng, hoặc là những chức sắc tôn giáo, hay người công giáo thì mới có được một chữ “thật” ở trong cái bản lý lịch cá nhân của mình. Ngoài ra, ít có trường hợp ngoại lệ.
Tôi đại ngôn ư? bạn đọc ngỡ ngàng về chuyện này ư?
Không, tôi tin tất cả đều tình táo để biết rằng. Đây không phải là lỗi ở chúng ta, nhưng là cái ách của cộng sản nó đang đè trên chúng ta, nên đành phải làm thế.
Để cho đoạn viết trên sáng tỏ hơn, bạn có đồng ý với tôi là tất cả mọi người Việt Nam đều biết phân biệt sự thiện và ác trong việc làm, lời nói của mình, và thường có khuynh hướng xa lánh cái gian ác hay không? Bạn có đồng ý với tôi là hầu hết ngưòi Việt Nam là người có tín ngưỡng hay không?
Đúng thế. Chắc chắn là thế và còn cao hơn thế nữa. Tất cả mọi người Việt Nam đều có tín ngưỡng, có tinh thần tôn giáo và có ý niệm về tôn gíao rất sâu sắc. Theo thống kê từ trước, đa phần người Việt Nam theo đạo ông bà, kế đến là đạo Phật, đạo Công Giáo, đạo Tin Lành, đạo Cao Đài, đạo Phật Giáo Hòa Hảo, hay đạo Bàlamôn (gốc Chàm). Không ai là không có đạo. Không làng nào mà không có Đình, Chùa, nhà thờ, Thánh Thất, hay các cơ sở trang nghiêm để thờ thần hoàng, hay thờ cúng ông bà tại nhà. Rồi dọc trên các đường quốc lộ không thiếu những cái miếu nhỏ với hương đèn trong các ngày rằm, ngày đầu năm. Và các nghĩa địa thì lúc nào cũng ngập hương khói…
Nhưng từ sau cái hội nghị ấy, chuyện nghịch thường đã xảy ra. Trong tất cả mọi bản lý lịch cá nhân của các đoàn đảng viên Việt cộng, từ Hồ Chí Minh trở xuống cho đến anh cán tại cơ sở địa phương. Từ những nhà trí thức cho đến lớp cán bộ chỉ biết dùng dao mã tấu, trong phần hỏi về tôn giáo đều ghi một chữ Không. Nghĩa là không có đạo, không có tín ngưỡng, không theo một tôn giáo nào.
Họ khai như thế có nghĩa gì? Có phải những ngưòi viết bản lý lịch này đều là những người không có đạo, không theo bất cứ một tôn giáo nào ư? Hay họ đã bị buộc phải gian dối với chính mình và từ đó gian dối với người khác theo chủ trương vô tôn giáo của cộng sản? Thử hỏi, nếu một kẻ đã phải gian dối với chính mình thì làm sao tìm ra lời nói và việc làm trong sự thật cho người khác hưởng nhờ? Họ đã chối lý lẽ về thiện ác, về phong cách nhân bản tính làm người thì tìm đâu ra chân lý cho xã hội?
Mà câu chuyện nào có kết thúc ở trong lãnh vực đoàn đảng viên, cán bộ của nhà nước? Bước vào học đường, cô giáo thầy giáo mới của xã hội Việt cộng thì trăm người như một chỉ dạy học sinh, dù là học sinh công giáo, phải viết chữ không vào trong bản lý lịch của mình. Nếu không thì có thể bị đánh, bị tát cho sưng mồm, và cô thầy gian ác kia không ngần ngại xé bản lý lịch có chữ công giáo kia đi và buộc đứa trẻ phải viết chữ KHÔNG lại theo ý của mình. Hoặc gỉa, cô tự viết lấy bản lý lịch của trò theo ý cô để cán trên hài lòng, yên chuyện? Hai đứa cháu của tôi năm 1977 đã là những nạn nhân của trò giáo dục quái gở này. Và rất nhiều học sinh công giáo xuất sắc, đỗ đầu trường nhưng vì cái lý lịch có chữ công giáo nên các em không hề được bước lên đại học (lúc này thì có đổi khác một chút).
Nhớ lại những ngày sau 30-4-1975, khi Việt cộng vào Sài Gòn, sinh viên phải trình diện tại trường thì ngoại trừ một số sinh viên công giáo bỏ về hay trong bản khai lý lịch còn ghi rõ tôn giáo. Đa phần còn lại là được các cán bộ đoàn trường hướng dẫn là viết chữ Không cho nó tiện (cá nhân tôi là một trải nghiệm). Lúc ấy, chẳng ai muốn rắc rối vào mình nên cũng đành viết một chữ “không” cho nó qua chuyện. Mình nghĩ nó đơn giản, vì đạo tại tâm. Tuy nhiên, cộng sản không nhìn chữ Không ấy một cách đơn giản, nhưng là sự chiến thắng trong sách lược vô tôn giáo của họ! Thưa bạn, thưa những nhà trí thức không phải là đoàn, đảng, quan cán, còn đang ở trong nước, qúy vị đọc lại bản lý lịch của mình xem? Đây là chuyện nhỏ hay là chuyện cố tình làm đảo lộn luân thường trong xã hội đã bắt nguồn từ cái “đại hội đại biểu” tại gốc đa Tân Trảo?
Tại sao cộng sản lại muốn người dân viết chữ “không” vào trong bản lý lịch của mình?
Câu trả lời của Mac-Lê là: “Chỉ trong xã hội cộng sản chủ nghĩa phát triển thì tôn giáo mới có thể hoàn toàn biến mất và bị xoá bỏ khỏi đời sống con người. Nhưng việc tôn giáo mất đi không phải là một quá trình tự động; nó đòi hỏi phải kiên trì hoạt động giáo dục quần chúng, tuyên truyền rộng rãi những hiểu biết khoa học tự nhiên, xã hội và thế giới quan mác-xít “ (Từ điển Triết học, tr.588, từ mục “Tôn giáo”).
Bàn về chuyện này, Phạm Việt Anh trong “Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về giải quyết vấn đề tôn giáo trong chủ nghĩa xã hội viết: “Tôn giáo là một hệ tư tưởng mang tính chất duy tâm, do đó về bản chất nó có thế giới quan, nhân sinh quan trái ngược hoàn toàn so với quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin - quan điểm duy vật biện chứng khoa học. Bởi vậy, để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội không thể nào không xoá bỏ tôn giáo”. Theo sách lược này, ở Việt Nam, sau ngày hội tại gốc đa Tân Trào, Hồ Chí Minh đã tìm cách xóa bỏ dấu tích tôn giáo ngay trong việc viết các bản lý lịch cá nhân của từng người. Đây hẳn nhiên không phải là việc chỉ viết chữ “không” cho vui của vui nhà, hay vui lòng cấp trên mà thôi. Nhưng là buộc viết theo chủ đích của Hồ là xóa bỏ dấu vết tôn giáo trên từng cá nhân, từng đơn vị. Hồ muốn biến người Việt Nam thành những kẻ vô tôn giáo!
Kế đến là quan niệm về Quân, Sư, Phụ trong xã hội ta. Quân thuộc về mặt sinh hoạt chính trị thì dĩ nhiên, nay còn, mai mất. Nó không phải là lý lẽ để trường tồn. Nhưng Sư và Phụ là đạo của người sống trong trời đất, có thể đảo lộn được không?
Tôi e rằng cái quan niệm kính Sư, trọng Phụ ở xã hội ta ngày nay đã bị đảo lộn rồi. Trò không được giáo dục về Nhân Lễ Nghĩa Trí Tín, lại được dạy theo gương Hồ Chí Minh, là người suốt đời không thắp cho bố mẹ một nén nhang, là người không biết đến đạo lý ở trong gia đình là gì. Rồi y cũng là người giết người đã ăn ở với mình là Nông thị Xuân, tàn ác hơn thế, Y cho quăng xác của Xuân ra ngoài đường giả như một tai nạn xe hơi để phi tang, vì cô ta đã sinh con với Hồ! Rồi Hồ Chí Minh cũng từ bỏ đứa con ấy thì cái nghĩa vợ chồng, tình cha con ở đâu? Kế đến, y là người tàn sát hơn 170.000 ngàn người dân vô tội trong vụ đấu tố để cướp đoạt tài sản của họ thì Nhân ở đâu có, mà bắt học sinh phải noi theo?
Trẻ được học những cái gương ấy thì lấy gì mà tôn sư trọng phụ? Làm sao xã hội có được cuộc sống tốt đẹp?
Trái lại, chính vì cái ách giáo dục này, ngày nay đã cho ra những kết qủa vô cùng kinh hãi: Nhan nhản trên các phố, có những địa điểm phá thai (lò giết người), có quảng cáo công khai, hay lén lút, cách giết người. Các bà mẹ đến với dịch vụ này đa phần là các học sinh, sinh viên, nhiều khi còn là vị thành niên nữa. Những người mở lò giết ngưòi (phá thai) này có phải là lương y cứu sinh độ thế hay không? Tại sao lớp tuổi trẻ ngày nay phá thai nhiều đến như thế? Có phải tại vì cái lối giáo dục “noi theo gương Hồ chí Minh vĩ đại” hay không? Bạn đọc thân mến, đây là nỗi đau khôn nguôi của dân tộc ta hôm nay. Nó có phải là cái ách đảo lộn luân thường mà dân ta phải gánh chịu từ ngày có cái gọi là đảng cộng sản Việt Nam ra đời ở Hương Cảng, Trung Hoa vào ngày 03-02-1930, được Hồ Chí Minh và tập đoàn Việt Minh đem vào áp đặt cho dân ta không? Tôi sẽ trở lại vấn đề này sau.
2. Hồ Chí Minh và công cuộc đảo lộn đạo lý ở Việt Nam
Hẳn nhiên việc khai không đúng sự thật trong mục tôn giáo trong các bản lý lịch cá nhân của người dân là do chính sách Vô Tôn Giáo của cộng sản chủ trương. Họ muốn lấy chữ “không”, có nghĩa là không có tôn giáo để chống chọi và tiêu diệt niềm tin của các tôn giáo và lấy số lưọng chữ không để tấn công các tôn giáo khác (Nói đúng ra là chúng chỉ cố gắng xóa bỏ những chữ Phật Giáo, Công Giáo, Tin Lành, hay đạo Ông Bà ra khỏi bản lý lịch của các cá nhân mà thôi. Riêng phần tinh thần thì chúng biết rõ là không bao giờ có thể làm được). Lúc đầu, phần vì sợ, phần nhìn chữ “Không” dầu có viết cũng chẳng mang ý nghĩa gì, bởi vì, đạo tại Tâm, nên đa phần viết chữ Không. Tuy nhiên, cái kết qủa về lâu về dài là một thảm khốc. Bởi vì mình đã mắc bẫy cộng để tự lừa mình. Bản thân đã trở thành người không có đạo (tự bỏ đạo), không còn mang ý niệm về tôn giáo, là ý niệm ăn ngay ở lành lúc nào chính mình cũng không hay biết. Khi đó, cũng chẳng cần giữ những nghi thức, nghi lễ của tôn giáo mình nữa. Cuộc sống sẽ đi về đâu?
Kế đến, có thể trở thành một áp lực xã hội đối với người chung quanh. Thí dụ như, có chữ “Không” là có cơ hội để được CS tổ chức học tập cho vào đoàn, vào đảng, để ăn trên ngồi trốc, làm lãnh đạo. Có chữ Phật Giáo, Công Giáo thì nên… kiếm đường vượt biên, hay hành nghề không có một chút liên quan gì đến các cơ quan, công sở của nhà nước. Đành phải chấp nhận là loại công dân hạng hai, hạng ba trong xã hội. Ấy là chưa kể đến việc nó tạo ra một sự đố kỵ, thù hận giữa tôn giáo với tôn giáo. Giữa con người với con người. Giữa đảng viên và người dân. Giữa nhà nước với tôn giáo. Chuyện này đối với những ngưòi đã trưởng thành khi chúng vào thì ít bị ảnh hưởng. Nhưng lớp trẻ mới sinh ra, hay lớn lên sau này thì qủa là một vấn nạn lớn. Trong phạm vi ngắn hẹp, tôi chỉ đề cập đến cuộc chiến giữa nhà nước với tôn giáo mà thôi.
a. Cuộc chiến trực diện.
Theo cuốn Lịch Sử Kinh Tế Việt Nam do chính nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam biên soạn và in ấn, trong cuộc cải cách ruộng đất từ 1953-56 đã có 172.000 người Việt Nam bị giết chết. Tuyệt đại đa số trong những người này bị chết oan và không hề có sự bồi thường đáp trả cân xứng. Cũng theo cuốn sách này, có đến 123.266 người, tức hơn 70% bị giết oan, có nghĩa là họ vô tội. Nhưng cho đến nay, nhà cầm quyền cộng sản chưa bao giờ có được, dù chỉ là một lời xin lỗi một cử chỉ biểu lộ hay một cách thức đền trả tương xứng cho những gia đình bị chết oan khiên. Trái lại vẫn chiếm hữu tài sản của họ.
Song song với cuộc đấu tố đầy máu và nước mắt này, Nhà nước Việt cộng đã cho dân công, cán bộ, thành phần bất hảo trong xã hội đi đập phá rất nhiều nhà thờ, đình, chùa, miếu thần hoàng tại các vùng thôn quê hay thị xã để ngưòi dân mất điểm quy tụ. Mất điểm tựa tinh thần. Kế đến, các sinh hoạt thuần tuý của công giáo nhiều nơi đã bị nghiêm cấm một cách công khai, hoặc bằng cách, vào những giờ có nghi lễ tôn giáo thì nhà nưóc cũng tổ chức những buổi học tập chính trị và bó buộc ngưòi dân phải đến tham dự. Rồi khi bức màn tre buông xuống, tháp chuông của các giáo đường hầu như đã lặng tíếng ngân sau cuộc di cư vào Nam năm 1954. Cuộc đập phá này đến nay vẫn chưa chấm dứt. Vài năm trước là khu TKS, đến Thái Hà, Tam Tòa, Đồng Chiêm, Cồn Dầu, Loan Lý nay là Tam Đảo!
Dĩ nhiên, cuộc chiến trực diện này đã tạo cho xã hội Việt Nam bộ mặt chết, đổ vỡ và sợ hãi. Nếu chỉ nhìn vào những hành động đập phá và cướp bóc của nhà nước Việt cộng đối với tôn giáo, có ngưòi cho rằng cộng sản đã là kẻ chiến thắng. Trong thực tế, tôi cho rằng, cuộc chiến trực diện này đã để lộ ra một sự thất bại ê chề cho chế độ. Nghĩa là nhà nước có thể đập phá nhà thờ, chùa chiền, đình hội, khoe ra cái tàn bạo ác độc của kẻ mất lương tri, mất nhân bản tính, khoe ra cái vóc dáng vai u tịt bắp của những con bò mộng vô tri ở trong đấu trường mà thôi. Kẻ bạo ác như thế xưa nay vẫn có. Chúng có thể bắt bớ, giam cầm, quản thúc vị lãnh đạo của tôn giáo thì cũng không thể áp bức được niềm tin của tôn giáo. Bởi lẽ, tôn giáo đã tồn tại và sống trong lòng người hàng nghìn năm. Sự chân thật đã truyền đời kế thừa nhau như nếp sống, như hơi thở của con người, nên cái bạo lực của cộng sản trở thành vô gía trị, không bao giờ có thể trấn áp được niềm tin của tôn giáo. Cách riêng, với người công giáo, biểu tượng là cây thánh gía của họ mạnh hơn cả sự chết! Họ sẵn sàng ôm lấy Thánh Gía và chết dưới chân Thánh Gía hơn là cuộc đầu hàng vô đạo. Đó chính là phong cách sống và niềm tin của họ. Thật không cách gì thay đổi.
Đến nay, sau cuộc bể dâu 1954 và 1975, cộng sản phải nhìn thấy một điều về người công giáo là: Dù ở bất cứ nơi đâu, thành thị hay thôn quê, cao nguyên hay đồng bằng, ven sông, trên biển hay nơi góc nuí, kể cả ở hải ngoại, người công giáo vẫn có khuynh hướng sống chung thành làng, thành vùng, ngoài việc sinh hoạt theo tôn giáo cho dễ dàng, họ cũng là người sống hoà mình, yêu thương và bao bọc lẫn nhau. Tình cảm của họ là một thứ tình cảm rất chân thật dành cho nhau, dành cho đất nước và cho đồng loại trong mọi hoàn cảnh. Đó là phong cách sống thực của những người công giáo. Một phong cách đã trải nghiệm qua nhiều bạo lực. Ngày xưa thì dưới triều Minh Mạng, Thiệu Tri, Tự Đức. Ngày nay thì dưới gọng kìm cộng sản. Tuy nhiên, nguyên lý của sự trường tồn đã có sẵn. Cộng sản và sự bạo tàn của nó sẽ bị hủy diệt bất ngờ như cách mà nó đã khởi đầu. Đạo sẽ vĩnh viễn trường tồn.
Câu chuyện sau đây tôi đã có dịp chứng kiến vào năm 1972 tại miền quê Xuân Lộc.
Một anh cán binh Việt cộng bị thương, bị đồng đội bỏ lại trên đường mai phục để thoát chạy lấy thân. Ngoài cơn đau xé da thịt vì không được cứu chữa là sự uất hận bị bỏ rơi, anh còn lo sợ thần chết, lo sợ bị bắt và bị “nguỵ” chém giết, xẻ thịt banh da như những lời tuyên truyền nhồi sọ từ hàng ngũ cán bộ lãnh đạo trước khi đi gài mìn giết hại đồng bào. Anh đau đớn, tuyệt vọng khi lê thân vào những quãng đường, đồi, nương rẫy. Bỗng nhiên, cuộc sống như hồi sinh, dòng máu, nhịp tim lại dồn dập trong người. Một sự an bình như chưa bao giờ có đã chiếm trọn lấy cả tâm hồn và thể xác khi anh ta bò đến, và ôm được một cái chân cột. Lúc mở mắt nhìn lên. Đó chỉ là một Cây Thánh Giá thô sơ cắm trên ngôi mộ trong nghĩa trang của một xứ đạo miền quê. Anh gục đầu xuống, ôm chặt lấy và không còn muốn rời xa nữa. Là người theo đạo thờ cúng ông bà, tổ tiên, anh chưa một lần biết cầu kinh. Trái lại, còn được học tập, nuôi lòng căm thù những thành phần “tôn giáo phản động” bán nước. Kết qủa, khi gặp được người dân trong làng đi viếng mộ, anh chỉ còn duy nhất một ước mơ. Nếu có phải chết, anh xin được chết trong phút giây an bình dưới chân cây cột mà anh đang ôm trong tay. Bởi ít nhất anh sẽ có một nấm mộ ở nơi đây. Anh không muốn chết vì lòng căm thù như đã được học tập. Anh xin với cha sở cho anh chôn ở một góc nghĩa trang nếu anh chết. Anh đã toại nguyện.
Như thế, tôn giáo không thể tách rời khỏi cuộc sống của con người. Bởi lẽ, tôn giáo nào thì cũng nhắm tới đích Chân Thiện Mỹ, là dạy con ngưòi ăn ngay ở lành, sống hòa thuận và thương yêu đùm bọc lẫn nhau và nhất là xa lánh những sự ác và gian dối. Nhìn cách khác, tôn giáo trở thành nhu cầu sống, không phải chỉ dành riêng cho từng cá nhân, nhưng là cho toàn xã hội. Mác- Lê muốn xóa bỏ hết dấu vết tôn giáo để cho xã hội chủ nghĩa hoàn thành chỉ là một ảo tưởng. Cái ảo tưởng ấy nay đã hiện thưc. Mác-Lê đã bước vào cống rãnh, cái thời của đao to búa lớn bạo tàn đã chấm hết sau 70 năm kể từ ngày nó tác yêu tác quái, khủng bố nhân loại. Tiếc rằng Hồ Chí Minh không nhìn đuợc hình ảnh dân Liên Sô treo cổ Lê Nin để nghĩ đến thân phận của mình mà đấm ngực, thay vì tiếp tục lao đầu vào cuộc chiến chống tôn giáo, gây thêm tôi ác. Nói thì như thế, nhưng những con bò trên đấu trường, cứ thấy miếng vải đỏ là húc đầu vào. Nó không biết phía sau miếng vải đỏ là một cái mũi nhọn đang chờ đợi nó. Cái mũi nhọn khoan thủng bạo ác đó chính là Tôn Giáo.
Phần 3: Cuộc chiến giấu mặt.
Có nhiều người cho rằng, cuộc chiến trực diện với tôn giáo do cộng sản VN mở ra chỉ như những nhát búa, bổ mạnh xuống trên các tôn giáo sau ngày hội nghị gốc đa Tân Trào. Tuy nó đã tạo ra được những thành quả vẻ vang cho những tên bạo chúa trong các hành động vô tri của cái vai u thịt bắp của những loài động vật kéo cày kéo xe, trong các vụ đập phá nhà thờ, chùa chiền, đình hội. Và tạo ra một bộ mặt bi thảm, chết chóc, đổ vỡ cũng như sợ hãi trong xã hội, nhưng xem ra, nó không có khả năng đạt tới cái đích “vô tôn giáo”, như nhà nước này mong ước. Trái lại, cuộc chiến giấu mặt, lặng lẽ như cái liềm, luôn nhẹ nhàng kề vào cổ các tôn giáo và không ngừng đưa qua, kéo lại cho cái liềm từng lúc, từng thời, lấn sâu vào trong cổ họng của các tôn giáo để tạo ra những vết thương đau đớn và không bao giờ lành, trở thành những tai họa khôn lường cho các tôn giáo và xã hội. Điều này đúng hay sai?
A. Những lý do đưa đến cuộc chiến giấu mặt.
Tôn giáo là những ý niệm hướng tới Chân Thiện Mỹ, là điểm công lý ẩn sâu trong tim lòng của mỗi con ngưòi, là gốc sinh ra an toàn cho xã hội, trở thành điểm tựa an toàn cho con người. Hơn thế, cho cả xã hội dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nào. Theo đó, không có một sức mạnh nào từ bên ngoài có thể phá vỡ và tiêu diệt được niềm tin tôn giáo trong lòng người, trừ ra chính cá nhân ấy muốn từ bỏ. Như thế, cộng sản với chủ trương vô tôn giáo, chẳng bao giờ muốn giúp vốn cho tôn giáo vững mạnh trong xã hội qua những cuộc đập phá toàn diện. Trái lại, chúng muốn tạo cho các tôn giáo có thêm nhiều Giuđa, hơn là có nhiều thánh tử đạo.
Thứ hai, công lý không chỉ có ở trong lòng một người, nhưng là ở trong mọi người. Công lý không phải chỉ có trong nhất thời, nhưng là vĩnh cửu. Có khi nó tự phát sinh ngay trong lòng kẻ cầm búa đập phá các cơ sở của tôn giáo. Như thế, cuộc chiến trực diện nhắm đạp đổ chân lý của các tôn giáo do Hồ chí Minh chủ trương không thể kéo dài. Nó được sử dụng như một phương tiện để tạo ra khủng hoảng, sợ hãi. Nếu cần, nó có thể tái diễn, rồi ngưng. Bởi vi nếu kéo dài, nó sẽ đập vỡ chính đầu nó.
Lý do thứ ba. Đây là cuộc chiến người ta không tìm ra được khúc đầu, cũng không tìm ra được khúc cuối. Bởi vì phải sống trong gian dối, cá nhân những thành viên hoạt động trong cuộc chiến giấu mặt này, cũng như kẻ chỉ huy chúng, không bao giờ để lộ ra tung tích làm tay sai, phản đạo của mình. Trái lại, thành phần này luôn nhân danh tôn giáo, hoạt động lầm lũi theo lệnh như những loài côn trùng, sâu bọ có đầy ở dưói mặt đất, ngày đêm đục khoét, phá hoại rễ hay thân cây đang sinh hoa kết trái ngon ngọt, nhưng không ai nhìn thấy chúng. Nên dù biết cây trái mùa màng của mình bị phá hoại, chủ nhân lại không tìm ra cách trị đúng mức, hoặc không biết chúng ẩn nấp ở đâu để triệt hạ cho dứt căn bệnh.
Sự việc này được giải thích là: Khi thấy vườn hoa trái có nhiều trái thối, trái sâu, trái bệnh, lúc đầu, chủ nhân khu vườn cho là nó bị ảnh hưởng thời tiết trái mùa. Ông đi tìm mua một số loại thuốc sát trùng về dùng với hy vọng sẽ cải tạo lại được vườn hoa trái. Kết qủa, tốn kém lên cao mà không đạt kết qủa. Số cây lây bệnh cho nhau, sinh ra trái hủi ngày càng nhiều. Chặt đi thì tiếc công lao nuôi trồng, mà để lại thì khó chịu. Trong lúc phân vân tìm hiểu nguyên nhân, ông dùng cái cuốc, cuốc sâu xuống đất, sát bên một gốc cây. Hỡi Trời đất ơi! Phơi ra theo nhát cuốc ấy là vô số những loại sâu bọ đang đục khoét rễ và gôc cây. Có đủ loại. Con thì to con thì nhỏ. Ông bị hoa mắt, chẳng thể phân định được loại nào có mang trùng độc hại cây.
Dĩ nhiên, theo nhát cuốc, có con đứt đầu, con đứt mình, con bị chết, con bị phơi ra ánh nắng và lộ mặt như qúy cụ Huỳnh công Minh, Trương bá Cần, Phan khắc Từ, Vương đình Bích… Nhưng còn biết bao nhiêu con khác thấy động thì tìm chỗ ẩn núp, ông không thể nào tìm ra được. Nếu dùng loại thuốc cực mạnh đổ xuống cái lỗ ông vừa đào, cây ăn trái kia sẽ bị ảnh hưởng nặng, đất có thể thành chai cứng không sử dụng được mà sâu bọ trùng độc kia có khi lại không chết. Nó di sang gốc cây khác thì cái hoạ càng lớn. Ông đành lấp đất lại, tự nhủ, để cho nó trốn ở đây còn hơn là làm động để chúng di đi nơi khác!
B. Những điểm tựa, hỗ trợ cho cuộc chiến giấu mặt.
1. Điểm tựa từ tôn giáo.
Có thể nói một cách không qúa sai lệch là: Tôn giáo là nạn nhân nhưng cũng là điểm tựa, rồi trở thành bức tường thành vững chắc hỗ trợ cho cuộc chiến dấu mặt, triệt tiêu tôn giáo của cộng sản. Đọc qua đoạn viết này, nhiều người sẽ nổi giận. Nhưng sự thật hiển nhiên đã được chứng minh là:
Vì nhiều lý do thực tế, hay vì sinh hoạt, có khi vì thể diện của tôn giáo, nên các chức sắc cao cấp của các tôn giáo dù không muốn bao che, nhưng cũng không dám công khai, công nhận thực tế là có những thành viên thuộc cấp lãnh đạo trong tôn giáo của mình thoái hóa, rồi trở thành những kẻ giấu mặt trong cuộc chiến phá hoại tôn giáo do cộng sản chỉ huy. Đã thế, các tôn giáo liên hệ cũng không dám công khai triệt hạ, hay đặt những kẻ giấu mặt này ra ngoài vòng sinh hoạt nghi lễ của tôn giáo mình, dù có đầy đủ những bằng chứng cá nhân, cũng như luật lệ của tôn giáo quy định về những trường hợp phản nghịch này. Điển hình là trường hợp của nhóm gọi là “tứ nhân bang” Minh, Cần, Từ, Bích… thuộc giáo hội công giáo, hay Nguyễn văn Bồng, tức TT Quang bên giáo hội PGVNTN? Đây có phải là một tai họa hay không? Tôi sẽ trở lại phần này sau.
2. Sự hỗ trợ từ nhà nước Việt Nam.
Ngoài việc xây dựng, giáo dục, vận động, cài cắm ngưòi của cộng sản vào trong các hoạt động của tôn giáo, cộng sản còn triệt để áp dụng hai phương án tối độc để hỗ trợ cho cuộc chiến dấu mặt, phá hoại niềm tin đạo hạnh của tôn giáo. Đó là việc dùng bạo lực để trấn áp, thách đố những vị lãnh đạo cao cấp của các tôn giáo đã bị cài đặt người vào. Thứ hai, dùng thủ thuật Xin- Cho để chế ngự các tôn giáo.
a. Dùng áp lực.
Câu chuyện được kể lại như sau. Không phải là TGM Nguyễn văn Bình muốn sử dụng nhóm “tứ nhân bang” gồm các ông Hùynh công Minh, Trương bá Cần, Phan Phắc Từ, Vương đình Bích là những Linh Mục đã hoạt động cho các tổ chức của cộng sản để họ di họa cho giáo hội về sau. Xin mở dấu ngoặc là theo Sắc Lệnh của Đức Pio XII công bố năm 1949, thì những người này đã đương nhiên bị khai trừ khỏi giáo hội vì những hoạt động của họ cho cộng sản mà không cần phải công bố. Theo đó, ngay tư cách ngưòi công giáo của họ cũng không còn, nói chi đến phẩm hàm LM. Nên trong danh xưng với những vị này tôi chỉ dùng chữ qúy ông cho việc xưng hô mà thôi. (The Decree against Communism is a 1949 Catholic Church document (by Pope Pius XII) which excommunicates all Catholics collaborating in communist organizations.) “.điều 4, (Q.4 If Christians declare openly the materialist and antichristian doctrine of the communists, and, mainly, if they defend it or promulgate it, “ipso facto”, do they incur in excommunication (“speciali modo”) reserved to the Apostolic See? R. Affirmative).
Trái lại, sau khi những con cờ này đã lộ diện trong vụ tấn công TGM Nguyễn văn Thuận và có những hành động phản nghịch (nếu như không muốn nói là thiếu cả giáo dục) của họ trong việc tát ( theo LT) và đẩy TGM Henry Lemaitre ra khỏi tòa Khâm Sứ ở đường Hai bà Trưng Sài Gòn vào ngày 14-5-1975. Tòa GM SàiGòn đã sửa soạn những văn bản cần thiết để công bố vô hiệu hóa tất cả những năng quyền thuộc lãnh vực tôn giáo của nhóm người này theo luật định. Nhưng, Nguyễn Hộ, một hung thần trong ban tôn giáo vụ ở Sài gòn lúc đó, đứng chống lưng, ra mặt thách đố tòa TGM Sài Gòn thực hiện việc công bố các văn kiện này. Tệ hơn thế, Nguyễn Hộ và nhóm “cố vấn” này, sau khi thành công trong việc đẩy TGM Nguyễn văn Thuận ra khỏi Sài Gòn, còn áp lực TGM Nguyễn văn Bình, đưa kiến nghị sang Rôma để xin đổi tên của TGP là Sài Gòn ra HCM. Vì sự bạo phát của cộng sản lúc bấy giờ và vì cái thế ngoại giao trong lúc khó khăn, Rôma đành phải chấp thuận việc đổi tên này cho hợp với thủ tục hành chánh. Dĩ nhiên, việc Sài Gòn mất tên, và TGP Sài Gòn cũng mất tên còn là một vết thương lâu dài. Vết thương không phải chỉ dành cho người công giáo, mà còn là cho dân tộc Việt Nam nữa.
b. Thủ thuật Xin- Cho.
Cộng sản biết rất rõ một điều là: Tôn giáo không có việc làm là tôn giáo chết. Việc làm ở đây có nhiều dạng. Từ việc xây dựng cơ sở thờ phượng đến các cơ sở giáo dục. Việc phát triển nhân sự, việc sinh hoạt của các hội đoàn, đoàn thể thuộc lãnh vực riêng của tôn giáo, hay các tổ chức từ thiện, xã hội do tôn giáo tổ chức v.v. Nên về mặt lý thuyết, cộng sản có đủ mọi loại giấy tờ chứng mình rằng nhà nước tôn trọng và bảo vệ sự tự do tín ngưỡng của người dân. Nghĩa là nhà nước Việt cộng chỉ bảo đảm không cấm cản việc người dân theo bất cứ một tôn giáo nào họ muốn mà thôi. Ngoài ra không có bất cứ một giấy tờ, văn bản nào công nhận hay bảo đảm việc các tôn giáo được tự do trong các sinh hoạt phát triển về nhân sự, cũng như các sinh hoạt làm tăng tiến đời sống đạo hạnh của các tôn giáo, ngõ hầu đem lại phúc lợi cho xã hội. Chính vì cái lối lý luận thịt ba rọi, công nhận “tự do tín ngưỡng” nhưng không cộng nhận tự do sinh hoạt theo tín ngưỡng mà cộng sản đã đặt cái lệ Xin - Cho, rồi áp đặt lên trên các tôn giáo với mục đích bóp nghẹt và kiểm soát các tôn giáo.
Lệ Xin - Cho là cái lệ gì?
Theo nguyên tắc, tất cả các dịch vụ hành chánh đều mở ngõ cho mọi ngưòi, nên khi cần chuyện gì thì đương sự phải có đơn xin. Đơn xin trong trường hợp này chỉ là những thủ tục thông thường. Thí dụ như xin giấy khai sinh, khai tử, xin giấy hôn thú, xin kết hôn, xin xuất cảnh, xin việc làm…. Và sự thường là các loại giấy tờ này đều có thời hạn để giải quyết. Riêng các đơn xin có liên hệ đến sinh hoạt của các tôn giáo như xin xây nhà thờ, cơ sở, xin tuyển sinh, xin phong chức cho ngưòi đã đủ điều kiện thì cái thời gian “cho” nó giống như sợi giây thung. Thích thì địa phương xét sớm, trường hợp cần thêm tiền lót tay, hay các mưu toan mờ ám thì cứ ngâm tôm. Thời gian ngâm tính tháng hay năm, không thính theo ngày! Trong thời gian bị ngâm cũng chính là lúc các khẩu lệnh và điều kiện ngầm được các cán bộ nhà nước từ trung ương cho đến địa phương triệt để áp dụng, trao đổi để đưa đến chữ “cho”. Đó là nguyên tắc, là luật của xã hội chủ nghĩa!
Trong khi đó, sinh hoạt của tôn giáo không hề tách rời ra khỏi đời sống xã hội và con người. Trái lại, còn đi sâu vào trong lòng xã hội để truyền rao Chân Lý, Sự Thật, nên các chức sắc trong các tôn giáo tại Việt Nam, đều bị áp chế bởi thủ thuật Xin - Cho của Việt cộng. Nó chính là cái lưỡi câu, là cái chìa khoá, có kịch độc dùng để tiêu diệt sự đạo hạnh chân chính của tôn giáo, và là đòn buộc tôn giáo phải nâng cấp cái phẩm cách gian dối, bất lương của cộng sản lên ngang hàng với những đạo đức của xã hội. Hoặc kéo tôn giáo xuống ngang hàng cái gian dối của cái xã hội chủ nghĩa. Đó là cái gía quá đắt, ai cũng biết, nhưng các tôn giáo ở Việt Nam hôm nay lại không thể vượt thoát ra ngoài cái thủ thuật vô đạo Xin - Cho của cộng sản.
Điển hình, việc Nguyễn Thiện Nhân, một cán bộ cao cấp của đảng và nhà nước Việt cộng có mặt trên lễ đài trong đại hội La Vang dịp kết thúc năm Thánh là một việc rất khó giải thích và khó chấp nhận. Bởi lẽ, không phải chỉ có giáo dân, mà tất cả mọi người đến đây để cầu nguyện, xin ơn bình an, xin Mẹ yên ủi chúng con đều không muốn nhìn thấy kẻ vô thần, hại đạo ngồi trên nơi cao kia nhìn xuống. Như thế, sự hiện diện này được coi như là một thứ “điều kiện” của cái lệ xin - cho của nhà nước. Nghĩa là, qúy tôn giáo xin được tổ chức những buổi lễ lớn, tuy là thuần túy của tôn giáo, nhưng có hiện diện của cả khách nước ngoài thì cũng phải mời cả đại diện của nhà nước đến dự và đọc diễu văn. Dù cái diễu văn của nhà nước chưa đọc thì ngưòi ta đã biết rõ nội dung của nó chỉ là những xảo trá tuyên truyền cho thế giới biết là ở Việt Nam có tự do tín ngưỡng. Người ngoài thì xấu hổ thay cho những hành động này, nhà nước Việt cộng thì không.
Trong khi đó, tại Hà Nội, như một biểu tượng cho những người đi tìm Tự Do, Sự Thật và Công Lý. Ngày 20-9-08 , trong cuộc họp chung với UBNDTP Hà Nội để giải quyết về quyền sở hữu khu nhà đất TKS, thuộc tài sản của tòa TGM Hà Nội. TGM Ngô quang Kiệt đã công khai đặt vấn đề với nhà nước phải phá bỏ, tháo gỡ cái lệ xin - cho mà họ đã áp đặt trên các tôn giáo từ khi nắm công quyền. Bởi vì: “Tự do tôn giáo là quyền chứ không phải là cái ân huệ xin - cho“. Nghĩa là GM Kiệt muốn xác định cả cái quyền tự do sinh hoạt tôn giáo đều thuộc về ngưòi dân, chứ không phải chỉ có cái quyền tự do theo đạo mà thôi. Đây là một sự kiện lớn có thể dẫn đến việc thay đổi cả bộ mặt đất nước. Kết qủa, sự tự do sinh hoạt trong tôn giáo không có. Trái lại tất cả mọi dự án thuộc TGP Hà Nội, từ trung ương đến địa phương, ngoài cái lệ xin cho vốn đã có những điều kiện khắt khe từ trước, nhà nước còn chủ động tạo ra thêm nhiều khó khăn, dẫn đến việc làm tê liệt đời sống hoạt động Mục vụ của TGP. Tạo nên một lý do sâu sắc, khiến Ngài phải từ nhiệm.
Và còn rất nhiều trường hợp khác như câu chuyện dưới đây:
Hai vị LM có thời từng học chung trường và chung một Giáo phận. Một hôm cả hai gặp nhau trao đổi ý định xin giấy xuất cảnh, ra hải ngoại để vận động người thân quen, mạnh thường quân, giúp đỡ tài chánh để về xây dựng lại ngôi thánh đường mái tôn, vách đất đã xuống cấp mà giáo dân thì không có khả năng đóng góp nhiều. Ít năm sau, một vị thì đang chạy đông chạy tây, mời khách đến dự khánh thành nhà thờ mới. Một vị vẫn chưa qua cửa ải phỏng vấn để được xuất cảnh:
- Bác làm thế nào mà công việc chạy nhanh thế?
- Mình mất cả mấy tháng trời, đi không lại về không. Sau có một người giáo dân trong xứ đề nghị là lên thành phố, xin cái giấy giới thiệu của một vị trong ủy ban đoàn kết xem thế nào. Kết qủa, khi trở về tỉnh là giấy xuất cảnh được thuận. Tôi đi ra ngoại vài chuyến và được đồng bào hảo tâm trợ giúp.
- Họ có thần thế lắm à?
- Thần thế gì. Trong nhà là sâu là mọt, nhưng mình lợi dụng được sâu mọt để xong chuyện của mình thì tôi cũng phải liều một chuyến. Không ngờ thành sự!
- Mình rất kém về ngoại giao kiểu trao đổi này.
- Cha cứ nghe tôi, sen trong bùn mà hoa rất tươi đẹp, chỉ cần mình không mang theo mùi bùn là được! Hơn nữa, gặp cái thời thế đảo điên vô luật lệ này, mình chỉ mặt kẻ phản bội, có khi lại lỡ việc. Nó đã chủ trương tạo cho nhau cái thế như vậy. Mình muốn bước qua, e rằng qúa khó…
- Chúa ơi! C’est la vie!
Câu chuyện này là sự thật hay sao? Thưa, chỉ nói lên được một phần nhỏ của sự thật thôi. Bởi vì, có một sự thật rất thật là:
Cộng sản có đủ mọi thứ giấy tờ để chứng minh, tuyên truyền rằng có tự do tôn giáo tại Việt Nam. Họ hoàn toàn không can dự gì vào việc đào tạo và phong chức cho những tân chức trong các tôn giáo. Trong thực tế, mỗi khi giáo phận muốn phong chức cho những nhân tuyển đã đủ điều kiện học hành, tu đức thì đều phải nộp danh sách cho nhà nước duyệt trước. Nghĩa là kẻ duyệt có toàn quyền quyết định xem trong cái danh sách ấy ai được giữ lại và ai bị loại ra ngoài. Sự việc duyệt danh sách này không chỉ nằm ở cấp phong chức LM mà còn có thể ở những cấp cao hơn nữa? Nghe nói chuyện khởi đầu là do chính nhóm tứ nhân bang đã tạo ra tiền lệ trong việc nhờ Nguyễn Hộ và ban tôn giáo vụ ở Sài Gòn đẩy Đức TGM Nguyễn Văn Thuận ra khỏi Sài Gòn. Chuyện đẩy đi thành công thì chuyện về cũng phải có ý kiến của nhà nước. Và người đầu tiên bị ảnh hưởng trong chuyến về Sài Gòn là Đức GM Huỳnh Văn Nghi, xảy ra sau khi ông Huỳnh Công Minh trở lại Viêt Nam sau chuyến đi Rôma. Đến nay, cái lệ Xin - Cho đã thành nếp và tạo ra những sự kiện nghiêm trọng đầy tai hoạ:
1. Cài người vào phá hoại: Gài các đảng viên, những thành phần bất hảo vào giả tu trì để phá hoại tôn giáo, mà những vị có thẩm quyền, nếu biết, cũng không dám loại những kẻ này ra khỏi danh sách khi đệ nộp cho nhà nước.
2. Tập gian dối cho tôn giáo: Có nhiều vị đạo đức chân tu, nhưng không biết “ngoại giao” đút lót cho nhà nước, hoặc gia đình không có tiền, tên của họ có nhiều cơ hội bị loại ra khỏi danh sách do đề nghị của địa phương vì lý do lý lịch! Một khi tên họ đã bị loại ra thì không ai dám phong chức cho những vị này. Ngoại trừ Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt
Đấy là cái “gía” của ân huệ Xin - Cho. Ai thật, ai giả? Ai thực tình làm việc vì Chúa, vì giáo hội, vì tôn giáo? Ai làm việc cho bác đảng? Không một ai biết, ngoại trừ kẻ trong cuộc. Một khi, trong lòng tôn giáo đã có sự hoài nghi, không còn niềm tin nơi nhau, thiếu sự hiệp thông, chỉ còn lại những toan tính thì đời sống tôn giáo cũng chỉ còn là cái vỏ bọc, không còn sự sống đích thực trong sự hiện hữu của Thần Linh. Nghi lễ, kinh sách khi ấy dễ trở thành cái vỏ để che lấp lối sống gian dối, là một lối sống mà cộng sản tôn thờ và người bị cài đặt vào đã tự nguyện sống theo cái giả hình ấy. Như thế, chính lối sống gian dối của cộng sản là một định nghĩa gắn kết cho lối sống theo chủ nghĩa vô tôn giáo của chúng.
Nói cách khác, sách lược vô tôn giáo mà cộng sản chủ trương chính là sự việc thúc đẩy, thực hiện cuộc sống gian dối trong tôn giáo, hơn là sự việc xóa sổ, không còn tôn giáo trong xã hội. Bởi vì, Tôn giáo là cuộc sống của Sự Thật, của Chân Lý của Niềm Tin lành thánh. Nhưng khi sự gian dối đã được thực hiện ngay trong đời sống tôn giáo thì Sự Thật, Chân Lý sẽ dần dần bị loại trừ. Không còn Chân Lý, không còn Sự Thật thì không còn tôn giáo. Nghĩa là, khi niềm tin về Sự Thật, về Chân Lý về sự Thánh Thiện trong tôn giáo không còn, tôn giáo sẽ tự rã, hoặc chỉ còn cái vỏ bọc với nhiều vết thương. Như thế, việc cố tạo ra gian dối trong tôn giáo, theo tôi, chính là điểm căn bản, là ý nghĩa đích thực của chủ nghĩa vô tôn giáo mà cộng sản chủ trương, theo đuổi, thực hiện, hơn là việc chúng muốn xóa sổ các tôn giáo trong xã hội.
Thật vậy, vì ấu trĩ và vì mặc cảm phát sinh từ sự thấp hèn trong xã hội, (K. Mark cũng chỉ là kẻ ăn bám, sống nương nhờ vào kẻ khác) cộng sản như những kẻ nô lệ chưa được giáo hóa, bỗng nhiên chiếm được quyền lực nên không thể hiểu được ý nghĩa của quyền lực xã hội, quyền lực nhân bản là gì. Từ đó, cộng sản chỉ biết dùng bạo lực, khủng bố để phá hủy luân thường đạo lý trong xã hội, và đẩy xã hội ngụp lặn vào cảnh sống loạn thường, không nhân tính. Theo đó, đời sống đạo đức, luân lý xã hội Việt Nam ngày nay bị xuống cấp là phản ảnh trực tiếp từ cái căn bản vô đạo của chế độ cộng sản. Nó được thể hiện rõ nét trong việc chế độ này thúc đẩy, giáo dục, nuôi nấng và tạo ra gian dối ở mọi nơi, mọi chốn. Từ học đường cho đến môi trường xã hội đều phải gian dối, thấp hèn để tồn sinh.
Riêng với tôn giáo, cộng sản còn chủ trương sử dụng bạo lực để áp đặt lên các tôn giáo hệ thống Xin - Cho, ngõ hầu đạt đến mục đích là gian dối hóa đời sống của tôn giáo để loại trừ Chân Lý, Sự Thật, Thánh Thiện ra khỏi cuộc sống của con người. Để từ đó, cộng sản sẽ đồng hóa cái gian dối của cộng sản với xã hội và tôn giáo, rồi buộc con người quy phục và tin vào cái duy vật biện chứng hiện thực: Đảng cho anh danh vọng chứ không phải Chúa Trời hay Thần Linh! Nghĩa là, đảng là sự hiện diện, còn Thần Linh thì không! Đó là lý do trả lời tại sao họ đặt ra lệ xin cho và tìm cách đưa hình ảnh của Hồ chí Minh vào chùa, nhà thờ. Để đưa tà ác thần trên thần quyền
Dĩ nhiên, khi muốn thực hiện công tác này, cộng sản sẽ từng bước từng bước xiết chặt lệ xin cho với những điều kiện được áp dụng riêng cho từng cá nhân. Khi một người muốn được việc cho mình, dù trong ý muốn tốt, có khi việc của tập thể sẽ không hay. Một ông thầy muốn chịu chức phải đút tiền để có tên trong danh sách được phong chức Linh Mục (điều này đã xảy ra). Tiền có thể ông không có, nhưng nhiều người đứng ra vay mượn cho ông. Khi ông làm Linh Mục thay vì phải sống xa lánh tiền của để phục vụ cho đời sống tinh thần dân Chúa. Nhưng vì món nợ của ngày chịu chức, buộc ông phải tìm tiền để trả nợ. Không phải nợ không mà cả vốn lẫn lời. Khi ấy, đời sống tinh thần cho nhà Chúa sẽ ra sao? Rồi giáo dân càng ngày càng nghe biết thêm nhiều trường hợp như thế, tôn giaó sẽ đi về đâu? Liệu có bước vào cuộc phá sản niềm tin hay không?
Ấy là chưa kể đến việc vị chức sắc này đã bị cộng sản “nắm”, giữ những điều kiện ngay từ trước khi nhận chức. Liệu ông có đủ can đảm chống lại những công việc gian dối của chúng? Hay sẵn sàng tham gia vào những công tác của chính quyền cộng sản, và được chúng ưu đãi thêm nhiều đặc quyền đặc lợi? Hoặc giả, giữ im lặng trước những hành động bạo ngược vô đạo của chúng vì đã trót nhận ân huệ? Dẫu nằm ở trong trường hợp nào thì cũng đều giúp vốn cho việc phá sản niềm tin mau hơn mà thôi.
Như thế, chủ trương vô tôn giáo của cộng sản không phải chỉ là việc muốn xóa sổ tôn giáo ở trong xã hội cộng sản, nhưng còn là việc thúc đẩy gian dối hoá đời sống tôn giáo để tiêu diệt niềm tin vào Chân Lý, Sự Thật và Thánh Thiện của tôn giáo.
Điều tôi vừa viết, có lẽ mọi người đều biết và đều có thể cảm nghiệm được. Nhưng nếu buộc phải chứng minh cho từng trường hợp thì không ai có thể làm được. Bởi lẽ, nó là cái chìa khóa mang ẩn số của cuộc chiến giấu mặt. Sẽ chẳng tìm ra bằng chứng. Người trong cuộc gian dối thì chối cãi và người ngoài thì vô kế chứng minh. Có chăng chỉ dựa vào những việc làm, lý lẽ, lời nói của họ để mà dẫn chứng, suy luận mà thôi. Liệu viết như thế, người viết có bị kết án là hàm hồ, hay là vạch áo cho ngưòi xem lưng không? Điều đó cũng có thể xảy ra. Tuy nhiên:
Tôi không nghĩ thế. Trái lại, nếu không dùng cái cuốc mà cuốc xuống đất thì cũng không gieo được hạt giống mới! Không thấy được sâu bọ đang phá hoại cây trái. Nói cách khác, khi công khai hóa cái lệ xin cho xấu xa của cộng sản áp đặt trên tôn giáo là lúc chúng ta đang giải cứu tôn giáo ra khỏi cái ách của cộng sản. Phần bạn, bạn nghĩ sao? Có hay là không có các Linh Mục, Giám Mục, Đại Đức, Thượng Tọa là những đoàn đảng viên của đảng cộng sản Việt Nam? Kế đến, các tôn giáo có nên lên tiếng công khai về những trường hợp này để loại trừ gian dối ra khỏi đời sống của tôn giáo hay không? Hay nên giữ im lặng để cho người ta tưởng tôn giáo của mình không bị cộng sản xâm nhập, điều hành?
Tạm thay lời kết. Trong cuộc chiến giấu mặt này, cộng sản là những kẻ hoàn toàn chủ động và vạch ra đường đi nước bước mà các tôn giáo thật khó thoát ra khỏi cái vòng vây của chúng. Nếu tiếp tục giữ im lặng, hoặc né tránh giải quyết mạnh mẽ những trường hợp cụ thể như nhóm tứ nhân bang và những nhân sự trực tiếp tham dự vào sinh hoạt của các tổ chức do cộng sản điều hành, vì họ đã vi phạm sắc lệnh năm 1949 của Đức Pio XII. Công giáo nói riêng và tôn giáo nói chung, lần hồi sẽ trở thành những tác nhân bảo vệ cho chính cuộc chiến triệt hạ niềm tin, Sự Thật, Chân Lý và Thánh Thiện của tôn giáo. Và biết đâu, vô tình trở thành những mắt xích giúp cho cộng sản có cơ hội thực hiện gian dối hóa đời sống tôn giáo, để dần đi vào cái chủ trương vô tôn giáo của chúng? Tệ hơn, khi hình ảnh của Hồ chí Minh đã lấn vào trong chùa, trong nhà thờ thì đời sống của tôn giáo ra sao? Đạo đức, Thần Thánh được đánh gía ngang hàng với ác quỷ chăng?
Hẳn nhiên, mọi người sẽ trả lời là không. Không bao giờ. Tuy nhiên, khi trả lời là không, chúng ta có hiểu rõ ràng, hay có biết: Cái ân huệ Xin - cho và thái độ tiêu cực, giữ im lặng hôm nay chính là cánh cửa mở ra để cho ta đi vào cái tai họa ấy hay không?
Phải chăng chỉ có những dân tộc bất hạnh mới bị CS cai trị trong thế ỷ 21?
Tội ác của Cộng sản với nhân loại
Dưới nền trời ảm đạm, Tổng thống Putin đã đặt vòng hoa trước cây thánh giá được dựng lên để tưởng nhớ hơn 20.000 người đã bị hành quyết tại trường bắn Butovo ở ven phía Nam thủ đô Matxcơva
Chủ nghĩa Mác-Lê
Chủ nghĩa Mác-Lê do hai ông Karl Marx và Angels chủ xướng và được ông Lênin vận dụng tạo cuộc cách mạng giải phóng lớp công nhân thợ thuyền bị bốc lột và các dân tộc nhược tiểu bị áp bức. Chủ thuyết này thoạt đầu rất được phát triển ở các nước Đông Âu, Á, Phi và Mỹ Latin. Tuy nhiên chẳng được bao lâu thì nó đã bị phá sản, nó bị phá sản vì nó chỉ là một chủ thuyết mơ hồ, ảo tưởng không đưa được các dân tộc đã tốn nhiều xương máu có được đời sống ấm no, không đi đến được thiên đường mà họ đã rêu rao, trái lại chỉ đem đến cho họ một cuộc sống cơ cực hơn và bị bạc đãi hơn.
Rồi bức tường ngăn cách Đông Tây nước Đức bị vỡ tan, người vùng cộng sản chạy sang tìm cuộc sống mới trên vùng tư bản. Sau cùng chủ nghĩa cộng sản dãy chết trên cái nôi, nơi sinh ra nó: thành trì Liên Xô. Tuyên truyền hoạt động giành chánh quyền về tay nhân dân để làm chủ đất nước theo thiên đường cộng sản, nhưng khi chiếm được chính quyền rồi thì người cộng sản trở lại đàn áp và bốc lột nhân dân gấp trăm lần tư bản.
Vì thế sau khi chiếm được chính quyền chẳng bao lâu thì người dân thấy được bộ mặt gian trá, chỉ giỏi tuyên truyền phỉnh gạt của người cộng sản nên họ luôn tìm cách vượt biên, vượt biển, băng rừng trốn sang vùng tự do của chế độ tư bản, vì chế độ tư bản dù sao cũng khá hơn. Những chính trị gia vùng Đông Âu cộng sản trước đây nhận định về chủ nghĩa cộng sản như sau:
Lech Walesa, giải Nobel Hòa bình, cựu chủ tịch Công đoàn Đoàn Kết và là tổng thống Balan sau ngày giải phóng từng tuyên bố:
Lech Walesa. Photo courtesy of Wikipedia.
“Người cộng sản là những tổ sư chuyên về phá hoại. Họ có thể biến cái hồ cá thành tô súp cá dễ như chơi. Cái mà chúng tôi phải đối đầu hôm nay là biến tô súp cá đó thành cái hồ cá lại…” (Đàn chim Việt online ngày 12-5-2007)
Theo Brianhanrahan, phóng viên ngoại giao đài BBC trong bài “ Vai ttrò của Hungary trong cách mạng 1989 ” viết về Ông Imre Pozsgay, một nhân vật có đầu óc chủ trương đổi mới hàng đầu trong đảng Cộng sản Hungary. Ông nói: “ Từ lâu tôi tin vào chủ thuyết cộng sản. Nhưng từ đầu thập niên 1980, tôi nhận thức là không thể nào đổi mới được đảng cộng sản, và điều duy nhất là phải thay đổi chế độ đó.” (BBC online ngày 26-10-2009)
Cũng lời của ông Imre Pozsgay do Chris Bowlby thuật trong một cuộc phỏng vấn ông đáp không hề do dự:
“ Tôi không muốn trở về thời kỳ trước đây vì bất cứ một lý do nào cả bởi vì xã hội trước đây là một xã hội ung thối và phải tan rã, thế thôi.”(BBC online ngày 04-11-2009 )
Sau đây là ý kiến của những nhà cách mạng lão thành và những nhà trí thức trẻ đang đấu tranh vì dân chủ của Việt nam nhận định về chủ nghĩa cộng sản như sau:
Ông Lê Hồng Hà, nguyên chánh văn phòng Bộ Công an trong bức thư chất vấn Bộ trưởng Công an Lê Minh Hương , ông viết:
“Đối với dân tộc Việt nam, học thuyết Mác là học thuyết ngoại nhập…Không giúp lý giải được xã hội Việt nam với những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng toàn khác với Tây Âu, rất dể dẫn cách mạng VN đi chệch đường và do đó gây nên tổn thất, gây đổ vỡ, gây kiềm hãm sự phát triển…” (Người Việt ngày 28-2-2001)
Giáo sư Hoàng Minh Chính, nguyên Viện trưởng viện Triết học Mác-Lê của Hà nội trả lời phỏng vấn của đài RFA:
“ Cái đảng này nó đi theo chủ nghĩa Mác-Lênin, mà bản thân chủ nghĩa Mác-Lênin đã sai từ gốc rễ và cái đảng này nó đang xây dựng một cơ chế độc tài, độc quyền toàn trị thì làm sao cải tổ được, tự đổi mới được…Liên xô đàn áp nhân dân như thế, Liên xô đi theo chủ nghĩa Mác-Lênin xây dựng một chính đảng toàn trị, thì chính nhân dân đã nổi dậy lật đổ cái chính đảng đó…”(Việt Tide số 55, ngày 02-08-2002)
Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang trong cuộc hội luận trong và ngoài nước do đài RFA tổ chức, ông nói:
“Ba mươi năm qua, chủ nghĩa Mác-Lênin đã tàn phá đất nước này về mặt kinh tế, và tàn phá cả về mặt văn hóa và tư tưởng…Phải bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin và phải rút ra được những nhận định một cách khách quan, thẳng thắng về sự tàn hại của cái ứng dụng sai lầm chủ nghĩa Mác-Lênin…” (Người Việt ngày 11-07-2005)
Linh mục Phan Văn Lợi trích trong bức thư nhân ngày lễ Tháng Tư Đen lần thứ 32:
“ Thành tố thứ nhất, tức cái chủ nghĩa phi nhân sai lạc mang tên học thuyết Mác-xít, khởi sự hoành hành trên cả nước. Bao nhiêu gía trị văn hóa, đạo đức cao dẹp ngàn đời vốn được tổ tiên chúng ta xây dựng và bồi đắp nhờ sự trợ lực của các tôn giáo, nay bị thứ chủ nghĩa lai căng tồi tệ đó coi khinh, xóa bỏ…”(Thời luận ngày 3-4-2007 )
Kỹ sư Đỗ Nam Hải, một nhà trí thức trẻ trong thư trả lời cô Hải Yến ông viết: “Thiên đường Mác-Lênin hiện nay đã quá lỗi thời và đảng CSVN chỉ dùng để nhồi sọ, ru ngủ thanh niên mà thôi…” (Người Việt ngày 09-08-2005 )
Xem thế, chủ nghĩa Mác-Lênin ngày nay không còn ai tin nữa, tuy nhiên đảng Cộng sản Việt nam còn mượn nó để làm cái phao “ nín thở qua sông ” chớ không thôi rã bè ra thì chết chùm cả đám, mà ngay cái mã Hồ Chí Minh cũng không còn.
Luật sư Lê Quốc Quân, trích bài “Đảng cộng sản cần canh tân”
“Học thuyết Mác Lê Nin xây dựng CNXH từ lâu không còn tồn tại trong thực tế. Chủ nghĩa CS thực sự đang chết dần vì những toan tính lợi ích riêng tư của từng đảng viên khi phấn đấu vào đảng…
Những đảng viên cộng sản hiện nay tự vo tròn, co vòi lại. Họ không còn dám xả thân vì nghiệp lớn. Nhiều đảng viên nay né tránh, lười biếng và phủ nhận chính mình…Lý thuyết cộng sản mất đi tính quyến rũ. Nó trở nên trần trụi và lai căng…
Bởi vậy, đảng phải tự ý thức đổi mới nhiệm vụ đầu tiên và quan trọng nhất. Đảng phải thẳng thắn sám hối và canh tân từ trong sâu thẩm chứ không chỉ thay đổi bề ngoài rồi lại tiếp tục nguỵ biện, chấp vá một cách thiếu cơ sở…” (BBC online ngày 12-3-2010)
Tiến sĩ Đỗ Xuân Thọ một đảng viên kỳ cựu, một trí thức ở Hà Nội đã gửi thư cho đảng CSVN đề nghị bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin trả lời phỏng vấn của phóng viên Mặc Lâm đài RFA, ông Thọ nói:
“…Quan điểm của tôi, nếu mà đảng không lấy chủ nghĩa dân tộc làm nền tảng tư tưởng thì cái nghủ nghĩa Mác-Lênin sẽ bằm nát đảng lại. Với những mũi nhọn tấn công từ phía ngoài, nó chỉ cần đánh vào cộng sản và đánh vào tham nhũng là chết rồi, là tan đảng rồi….” (RFA online ngày 02-04-2010 )
Khi trả lời phỏng vấn của BBC hôm 13- 4 tiến sĩ Đỗ Xuân Thọ nói:
“Chính chủ nghĩa Mác-Lênin và sự “ mù mờ”của định hướng XHCN đã gây ra những vấn đề trong xã hội Việt nam hiện nay trong đó có tham nhũng và “ bịt miệng”. Ông Thọ cũng nói ông tin là đa số các đảng viên của đảng cộng sản nhìn thấy sự cần thiết phải gạt bỏ học thuyết của Mác và Lênin.”(BBC online ngày 14-04-2010)
Những con người cộng sản khát máu
Liên xô: Vladimir llyich Lenin
Vladimir llyich Lenin. Photo courtesy of Wikipedia.
“Các sử gia từ lâu đã thống nhất rằng lãnh tụ Cách mạng Nga Vladimir llyich Lenin đã phải chịu đựng ba cơn đột quỵ liên tục để cuối cùng dẫn đến cái chết của ông. Nhưng chứng cứ mới được phát hiện cho thấy Lenin qua đời vì căn bệnh lây truyền qua đường tình dục: giang mai...”
“Trong hồ sơ lưu trữ tại Đại học Columbia ở New York, cô (Helen Rappaport) đã tìm thấy bản tham chiếu liên quan đến sự thật hiển nhiên về căn bệnh của Lenin do nhà khoa học lỗi lạc người Nga Ivan Pavlov ghi lại…
Các bác sĩ của Kremllin từng nghiên cứu về Lenin đều bị cấm nói về chuyện nầy – có thể phải chịu hình phạt tử hình – và đã bị buộc phải tiêu huỷ tài liệu chính thức…” (Đối thoại online ngày 23-10-2009 )
“Cung điện Mùa Đông bị tấn công đêm 24 rạng 25 tháng 10. Sau đó Lénine, chiến thắng vào 07tháng 11, tuyên bố lập trật tự xã hội bằng tàn sát cũng như đày ải. Vô thần và duy vật bắt đầu gieo rắc đau khổ cho nhân loại kể từ ngày 07-11-1917…” (Đàn chim Việt online ngày 15-11-2009 )
Joseph V. Stalin:
“ Ngày 17-09(1939) Hồng quân Liên xô cũng tràn vào nước Balan từ phía Đông. Mười ngày sau, chính quyền Balan sụp đổ và rút lực lượng còn lại chạy theo hướng Đông-Nam ra nước ngoài . Sau đó, Liên xô bắt chừng 1 triệu rưỡi người Balan đi đày ở vùng Siberia và bắn chết 22 ngàn người tù binh Balan ở rừng Katyn, bất chấp Công ước quốc tế về chiến tranh. Khi vụ thảm sát bị phát hiện, Matxcơva đổ tội cho quân Đức. Mãi đến thời Gorbachov nước Nga mới nhận lỗi về vụ này.” (BBC online ngày 06-0502005 )
“Tổng thống Nga Dmitry Medvedev đã lớn tiếng chỉ trích những ai có ý định phục hồi vị thế của cựu lãnh tụ Xô viết Joseph Stalin. Hàng triệu người dân Liên xô cũ chết dưới thời Stalin và ông Medvedev khẳng định không có lời giải thích thỏa đáng cho hành động của những người lãnh đão huỷ diệt chính nhân dân mình…Ông Medvedev nói ông không thể tưởng tượng nổi quy mô đàn áp dưới thời Stalin khi nhiều nhóm người bị tàn sát và thậm chí mất cả quyền được chôn cất.” (Đài BBC online ngày 31-10-2009 )
Joseph V. Stalin. Photo courtesy of Wikipedia.
“Cách đây đúng 70 năm, trong giai đoạn 1937-1938, chế độ độc tài của nhà độc tài sắt máu Stalin, mở đầu hàng loạt vụ bắt bớ, thủ tiêu và thanh trừng chính trị. Từ tháng 8-1937 đến tháng 10-1938, chỉ riêng trong nhà tù tại Uỷ ban An ninh quốc gia, chế độ Stalin đã bắn bỏ 20.760 người, trong đó có khoảng 1.000 người lãnh đạo tôn giáo. Giáo chủ giáo phận St.Petersburg Serafincũng bị giết vào thời gian này…Hơn 700 ngàn người bị giết. Theo Alexandr Solzhenitsyn, nhà văn đoạt giải thưởng văn học, có khoảng 60 triệu người đã bị chết trong chế độ Xô viết trong giai đoạn từ 1917 đến 1956…”(BBC online ngày 12-08-2007 )
Trung cộng: Mao trạch Đông
Trích bài “Cựu thư ký nói về Mao Trạch Đông .”
“Theo Lý Nhuệ, Mao từng nói:“Ta là Tần thuỷ Hoàng và Marx.Hoặc anh ủng hộ ta, hoặc anh không dám nói ra, hoặc anh tự thú nói trái lòng mình.”
Lý Nhuệ nói:“ Bất kỳ ai có não bộ phải nói dối.” Nhưng năm 1958, tính cứng cỏi khiến ông ta bị tống đi cải tạo 2 năm sau khi phê phán Đại Nhảy Vọt. Trong phong trào Đại Nhảy Vọt năm 1958, ước tính 30 triệu người đã chết đói…”(BBC online ngày 14-02-2008 )
Nhà báo Bùi Tín: Trích bài “ Những điều chưa biết về Mao trạch Đông .”
Trả lời phỏng vấn của Pv Nguyễn An đài RFA dựa theo cuốn sách
“ Mao-an unknown story ” của hai tác gỉa Jung Chang và Jon Halliday do nhà xuất bản Globalflair ấn hành .
“Đặc biệt là cuộc Cách mạng Văn hóa đã làm đổ máu hàng 10 triệu người mà tiêu biểu nhất là ông Lưu thiếu Kỳ, ông Bành đức Hoài, nguyên soái Hạ Long đã bị đối xử một cách tàn khốc, bị đọa đày, bị bắt phải quỳ xuống, bị đánh đá hộc máu. Gọi Cách mạng Văn hóa mà không có một tí gì văn hóa cả…”(RFA online ngày 14-02-2008)
Bác sĩ Lý Chí Tuy nói về bí mật cuộc đời của Mao trạch Đông như sau:
“Họ Mao bị viêm phế quản và nay thêm bịnh mới-lậu mủ. Các cuộc tiếp xúc tình dục của họ Mao đã đến mức quá đáng và vì giữa tôi và ông không còn thân thiết như trước nên cũng không tiện tìm hiểu nguyên nhân. Để chửa bịnh này tôi dùng thuốc Bắc…”
Ông Mao Trạch Đông (1893-1976). Chủ tịch Đảng cộng sản Trung Quốc nhiệm kỳ từ 1943 đến 9 tháng 9, 1976. Photo courtesy of Wikipedia.
“Bước nhảy vọt của họ Mao đem đến nạn đói bi thảm nhất trong lịch sử Trung hoa với con số lên đến bốn mươi ba triệu người chết. Cuộc Cánh mạng Văn hóa thì đẩy đất nước vào tình trạng hổn loạn, tiêu huỷ đời sống người dân, phá hại gia đình, làm vỡ tan tình bằng hữu và toàn bộ cơ cấu xã hội Trung hoa…”
“Điều đáng ngạc nhiên hơn là con số các cô gái trẻ đẹp hầu hạ cho họ Mao tăng lên nhiều hơn trước, khắp mọi nơi…Chung quanh ông lúc nào cũng có một bầy con gái. Lúc Cách mạng Văn hóa trở thành cao trào thì họ Mao nằm trên giường với ba, bốn hoặc năm cô cùng một lúc…” (Trích “Bí mật cuộc đời Mao trạch Đông” do Bs Lý Chí Tuy viết và Ngọc Dung dịch)
“ Nghi phạm ra vành móng ngựa đầu tiên là ông Khang Gạc Yêu, tên thường gọi là Dutch, trưởng trại giam Tuol Sleng S-21, là nơi được ví như địa ngục trần gian trong gần 4 năm cầm quyền của Khmer Đỏ, từ năm 1975 đến năm 1979…
Ông Dutch là một trong 5 vị lãnh đạo tối cao của chế độ Khmer Đỏ bị quy trách nhiệm về cái chết của gần 2 triệu người Cambodia. Ông bị bắt ở gần biên giới Thái lan vào năm 1999, và bị tòa án xử Khmer Đỏ ra quyết định đưa vào trại giam trong trụ sở của tòa này vào tháng 7 năm 2007 vừa qua.
Theo Trung tâm tài liệu Cambodia, ông Dutch sẽ chịu trách nhiệm về cái chết của trên 10.000 tù nhân trong trại giam S-21 do ông phụ trách…”(RFA online ngày 31-10-2007)
Việt-nam : Hồ Chí Minh
Cải cách ruộng đất 1953-1956 :
Hòa thượng Thích Quảng Độ, trong cuốn“ Nhận định về những sai lầm tai hại của đảng CSVN đối với dân tộc và Phật giáo Việt nam”, đoạn viết về cuộc tàn sát những người dân vô tội của cộng sản trong chiến dịch cải cách ruộng đất, ông viết:
“…cuộc đấu tranh câm thù giai cấp diễn ra suốt sáu tháng trời trên toàn miền Bắc chết chốc quá nhiều, đến 700 ngàn người (trong đó có nhiều trường hợp, như một cán bộ đã nói với tôi nguyên văn như sau: “cộng sản chặt đầu cộng sản mới đau chứ.” (Đối thoại online trang 11 ngày 21-09-2007)
“Ông Bùi Tín một người bất đồng quan điểm với chính phủ CSVN cũng nêu lên con số nạn nhân là 500 ngàn người do Michel Tauriac, nhà văn, nhà báo đưa ra. Bùi Tín cũng cho rằng con số này hợp lý nếu kể cả người bị giết, bị chết trong tù, bị chết sau khi thả ra và tự tử.” (Wikipedia online ngày 19-5-2006)
Thảm sát Tết Mậu Thân ở Huế:
Trích bài “Huế, 40 năm sau Tết Mậu thân…” của Pv Thiện Giao đài RFA:
“Học gỉả Douglas Pike, thuộc Phòng Thông tin Hoa kỳ, trong bản báo cáo hoàn tất vào ngày 01 tháng 02 năm 1970 tại Sài gòn, đã viết: chỉ trong Mậu thân tại Huế, gần 4.800 thường dân đã chết và mất tích. Ông Pike kết thức lời mở đầu của báo cáo bằng một câu khẳng định:“Nếu báo cáo của tôi là một bản án đối với thái độ của người cộng sản, thì thật sự nó là như vậy đấy. Đơn giản vì thái độ ấy đáng bị lên án.” (RFA online ngày 4-2-2008)
Theo giáo sư Nguyễn Lý Tưởng, người tham dự cuộc tìm kiếm xác các nạn nhân bị cộng sản sát hại trong Tết Mậu Thân tại Huế trong bài “ Huế, 25 ngày kinh hoàng của 40 năm trước” của phóng viên Thiện Giao đài RFA viết lại thì:
“ Tại thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên, 22 địa điểm tìm được là các mồ chôn tập thể Trong 22 địa điểm này, người ta đếm được2.326 sọ người. Sau tết, chúng tôi lập Hội Gia đình Nạn nhân Cộng sản trong Tết Mậu Thân. Các gia đình kê khai có người chết, có người mất tích, lên đến 4.000 gia đình. Người ta ước tính vào khoảng 6.000 người, có nhà báo ước tính 5.000.Chúng tôi cho con số 5 đến 6 ngàn là không sai lệch lắm đâu.” (RFA online ngày 31-01-2008)
Tội ác của cộng sản đối với nhân loại
“Dưới nền trời ảm đạm, Tổng thống Putin đã đặt vòng hoa trước cây thánh giá được dựng lên để tưởng nhớ hơn 20.000 người đã bị hành quyết tại trường bắn Butovo ở ven phía Nam thủ đô Matxcơva…Nhà lãnh đạo Nga nói rằng hàng triệu người đã bị tiêu diệt, bị đưa đến các trại lao động tập trung, bị tra tấn hoặc bắn chết…” (VOA online ngày 30-10-2007)
Trong bản tinTổng thống Bush đã tham dự lễ khánh thành một Đài kỷ niệm nạn nhân Cộng sản trên khắp tế giới, bản tin viết:
“Trong buổi lễ ngày hôm nay được tổ chức tại thủ đô Washington, tổng thống Bush nói rằng, thế giới sẽ không bao giờ biết được tên của tất cả những nạn nhân đã chết trong tay người cộng sản."
“ Nhưng tổng thống Bush nói rằng, mọi người có bổn phận tưởng nhớ họ và vinh danh kỹ niệm của hơn 100 triệu người gồm cả đàn ông, đàn bà và trẻ em đã chết dưới chế độ cộng sản trên khắp thế giới. Ông Bush nói rằng, con số chính xác các nạn nhân cộng sản này sẽ không bao giờ biết được. Tổng thống ghi nhận nỗi thống khổ của những người đã chết tại Trung quốc, Bắc Triều tiên, Châu Phi, Đông Âu, Cambodia, Cuba, Đông Đức và những nơi khác trên thế giới dưới chế độ cộng sản…”(VOA online ngày 28-6-2007)
Tại Việt Nam đã có các cuộc biểu tình có qui mô hồi tháng 5/2014.
Chủ tịch UBND Tp HCM Lê Hoàng Quân cảm ơn Việt kiều “mạnh mẽ lên tiếng” bảo vệ chủ quyền lãnh thổ vụ giàn khoan Trung Quốc.
Bình luận được ông Lê Hoàng Quân đưa ra trong chương trình “Họp mặt kiều bào - Xuân quê hương 2015” do Bộ Ngoại giao, UBND TP HCM tổ chức tối 07/02/2015 với sự có mặt của hơn 600 kiều bào từ Mỹ, Australia, Canada…, theo Vnexpress.
Ông Quân được dẫn lời cảm ơn những đóng góp của kiều bào cho sự phát triển của thành phố nói riêng và cả nước nói chung.
“Đặc biệt, trong vụ Trung Quốc hạ đặt giàn khoan HD 981 trái phép trong vùng biển chủ quyền Việt Nam, kiều bào đã cùng nhân dân cả nước đưa ra tiếng nói mạnh mẽ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ”, Chủ tịch UBND Tp HCM được báo điện tử này dẫn lời.
Sau khi Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 ở gần quần Hoàng Sa, đã có nhiều cuộc biểu tình phản đối Bắc Kinh trong đó có hàng ngàn sinh viên du học từ Việt Nam và người Việt sống ở nhiều nước xuống đường phản đối Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển.
Tại Việt Nam cũng đã có các cuộc biểu tình có qui mô ở một số thành phố lớn trong đó có Hà Nội và Tp HCM mà dường như được "bật đèn xanh" từ phía chính quyền.
Cũng có chỉ dấu khi đó cho thấy nhiều đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài vận động sinh viên nói riêng và người Việt nói chung biểu tình phản đối Trung Quốc.
Tuy nhiên sau các vụ bạo động xảy ra tại Bình Dương và Hà Tĩnh gây thiệt hại cho công ty nước ngoài và có công dân Trung Quốc thiệt mạng, chính quyền Việt Nam đã điều động lực lượng an ninh qui mô cấm biểu tình triệt để vì lo ngại bất ổn.
Một trong những người tổ chức biểu tình ở Warsaw muốn ẩn danh mới đây cho BBC biết theo sau việc cấm biểu tình ở Việt Nam thì Sứ quán Việt Nam tại Ba Lan cũng không khuyến khích biểu tình nữa.
Sau căng thẳng vụ giàn khoan Trung Quốc, cả Hà Nội và Bắc Kinh dường như muốn làm dịu lại quan hệ bị rạn nứt ở mức nghiêm trọng trong nhiều thập niên gần đây.
Trong một cuộc hội thảo về an ninh khu vực tại viện nghiên cứu CSIS ở Hoa Kỳ mới đây, bà Bonnie Glaser, chuyên gia về Trung Quốc của viện này, nói rằng khó có khả năng Trung Quốc sẽ lại đưa giàn khoan tới các khu vực gây tranh chấp như lần hồi tháng 5/2014.
Tết là dịp mừng xuân mới và nhiều người, trao tặng quà cho nhau ở Việt Nam.
Tết là một dịp tốt cho việc đưa quà biếu 'hối lộ, đút lót' hay 'chạy chức, chạy quyền', theo một nhà quan sát xã hội từ Hà Nội.
Trao đổi với BBC hôm 07/2/2015, trước thềm Việt Nam chuẩn bị đón Tết nguyên đán Ất Mùi, Tiến sỹ Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện phản biện độc lập IDS, nói:
"Tết luôn luôn là một dịp thuận lợi cho những việc mà hối lộ, đút lót, giúp cho việc chạy chức, chạy quyền.
"Rồi chạy hợp đồng, chạy dự án, đủ mọi thứ.
"Cái đấy nó đã trở thành một căn bệnh ung thư ở nước Việt Nam này hàng chục năm nay rồi.
"Không có gì là lạ cả, bởi vì những năm trước cũng thế, dù đấy là Tết.
"Nhất là dịp Tết, thì lũ lượt xe cộ từ các địa phương đến chầu trực ở nhà các ông ấy.
"Và cũng có thể có ông nào đó bây giờ như vậy thấy rằng mình cũng hết thời rồi, hay là sắp sửa hết thời rồi, thì cũng chẳng ai đếm xỉa đến nữa.
"Không ai chạy đến mình nữa, và lúc ấy thì đúng là rất là buồn trong "nháy nháy" và có thể là phát khóc ra thật."
Bình luận về việc Tết nguyên đán năm nay 2015 và Tết nguyên đán sang năm 2016 là những dịp gần và rất gần với Đại hội Đảng, liệu việc quà biếu 'chạy chức, chạy quyền' có thể bị kiểm soát, tiết giảm hay không trước các quy định của nhà nước nghiêm cấm 'quà biếu' và 'biếu quà' ngay cả giữa các cơ quan của nhà nước, chính quyền với nhau, Tiến sỹ Quang A nói:
"Không thể hạn chế được cái gì cả, bởi vì tất cả những trò mà nêu lên quy định là cấm, là nghiêm thế này, thế kia, chỉ là những trò hề mà thôi.
"Bởi vì trong thực tâm một số người nào đó người ta muốn làm cái chuyện ấy thật, nhưng mà bởi vì bản thân chế độ độc tài này, bản thân chế độ độc đảng này nó sinh ra cái chuyện chạy đó, nó sinh ra cái chuyện tham nhũng, hối lộ đó.
"Cho nên là bất chấp mong muốn của bất kể một ai, dẫu đó là ông trùm của Đảng này, hay là những người khác nào đó, còn có một chút nghĩ rằng cái việc đó là không nên, rất là đáng buồn hay đáng thương cho những người ngờ nghệch như vậy.
"Bởi vì họ chẳng hiểu cái gì cả, cái cốt lõi từ trong xương tủy của cái hệ thống này là nó phải sinh ra cái chuyện đấy, bất chấp sự mong muốn có vẻ tốt đẹp của bất kể ai cả," Tiến sỹ Quang A nói với BBC.
'Sốt ruột vì chạy chức?'
Báo Việt Nam nói Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng 'sốt ruột vì chạy chức'.
Hôm thứ Hai tuần trước, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam được truyền thông trích thuật lại lời nói ông 'sốt ruột vì chạy chức' trong hệ thống quyền lực các cấp.
"Cứ nghe bao nhiêu tỉ để vào chức nọ chức kia mà sốt cả ruột! Nếu có chúng ta phải tìm xem ở đâu chứ cứ để râm ran thế này mà không có thì oan," ông Nguyễn Phú Trọng được tờ Pháp luật TP. Hồ Chí Minh trích lời.
"Ai chạy, chạy ai làm rõ nếu không đổ hết cho công tác cán bộ thì oan cho anh em.”
Phát biểu trên được truyền thông Việt Nam tường thuật là "tâm tư" của Tổng Bí thư Trọng chia sẻ tại một Hội nghị Cán bộ toàn quốc về "công tác tổ chức xây dựng Đảng" nhóm họp ở Hà Nội sáng 29/01/2015.
Bịnh luận về phát biểu này của ông Trọng, hôm thứ Sáu, một nhà bình luận về chính trị - xã hội của Việt Nam từ Hà Nội lên tiếng:
"Tôi đọc câu ấy rồi, và tôi nghĩ rằng nếu câu ấy là của một anh xem ôm hay chở tôi đi lại, thì tôi chấp nhận được," Giáo sư Nguyễn Khắc Mai, nguyên Vụ trưởng Vụ Nghiên cứu, Ban Dân vận Trung ương của Đảng CSVN, nói.
"Nhưng mà câu ấy của một anh cầm đầu một thể chế mà nói như thế thì nó quá là tức cười và quá là giả vờ ngây thơ và cũng quá ư là vô trách nhiệm.
"Anh cầm đầu cơ mà, anh thừa biết cái đấy, và vấn đề của anh là anh phải chỉ ra cái phương thức nào để ngăn chặn cái đấy, hạn chế cái đấy, phanh phui cái đấy ra, để mà giải quyết.
"Thì thế mới là vấn đề của anh lãnh đạo, còn anh nói như thế thì anh đặt anh ngang hàng với anh cu-li xe thôi, cho nên không hy vọng được cái đấy. Cái ấy nó chỉ lòe được một số người nào đấy ít tin tức, ít suy nghĩ và họ không cần tin tức, suy nghĩ thì được.
"Nhưng với chúng tôi thì làm sao một người lãnh đạo, tức là một quan chức cao cấp mà có thể nói như thế, đấy là một thái độ rất vô trách nhiệm," Giáo sư Nguyễn Khắc Mai nói với BBC
TT - Chỉ vì bức xúc khi bạn mình bị nhắn tin đe dọa, ném chất bẩn vào nhà, ông Lê Trung Kiên, khi phạm tội là phó Ban tổ chức Quận ủy Cầu Giấy, đã nhờ một số người đứng
Việc nhờ vả dẫn đến hậu quả một nạn nhân bị đâm chết ngay trong ôtô trước cổng Bộ Công an (47 Phạm Văn Đồng, Hà Nội).
Sau khi kết thúc điều tra vụ án “giết người; không tố giác tội phạm” xảy ra ngày 5-8-2014 tại trước số 47 Phạm Văn Đồng, Hà Nội, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Hà Nội đề nghị Viện KSND TP Hà Nội truy tố năm bị can.
Trong đó bốn bị can Nguyễn Kim Bình (44 tuổi), Hoàng Anh Tuấn (35 tuổi), Lê Hồng Thuận (23 tuổi) và Lê Trung Kiên (44 tuổi, nguyên phó Ban tổ chức Quận ủy Cầu Giấy, Hà Nội) bị đề nghị truy tố về hành vi “giết người”. Riêng bị can Nguyễn Quốc Văn (55 tuổi, trú tại phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, Hà Nội, chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng thương mại tổng hợp và kinh doanh bất động sản) bị đề nghị truy tố về hành vi “không tố giác tội phạm”.
Đòi nợ không được, nhắn tin đe dọa, ném chất bẩn vào nhà
Hành vi của bà Minh không cấu thành tội phạm
Đối với bà Phan Thị Hồng Minh, cơ quan điều tra xác định xuất phát từ việc nhà bị ném chất bẩn và bị nhắn tin đe dọa, bản thân bà Minh nghi ngờ ông Thành nên đã nhờ Lê Trung Kiên tìm người đến nói chuyện với ông Thành để dừng việc ném chất bẩn, nhắn tin đe dọa. Khi được ông Kiên nói về việc bảo người đánh dằn mặt ông Thành, bà Minh không đồng ý. Khi bị triệu tập, bà Minh đã trình bày toàn bộ sự việc nên cơ quan điều tra xác định không cấu thành tội phạm.
Ngoài ra, trong vụ án còn một số người có liên quan nhưng hành vi không đến mức xử lý hình sự nên chỉ bị phạt tiền, xử lý hành chính.
Theo kết luận điều tra, sáng 5-8 ông Kiều Hồng Thành (53 tuổi, trú tại phường Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm) chạy ôtô gần đến đoạn qua trước cửa Bộ Công an thì bị hai người đàn ông đi xe máy chặn lại. Người đàn ông ngồi sau nhảy xuống xe, dùng dao nhọn đâm ông Thành khiến nạn nhân tử vong ngay trên xe.
Qua điều tra, công an khởi tố, bắt tạm giam các bị can trên và điều tra làm rõ hành vi vi phạm pháp luật.
Theo đó, nạn nhân Kiều Hồng Thành có quan hệ làm ăn trong lĩnh vực xây dựng với ông Nguyễn Quốc Văn. Quá trình làm ăn, ông Văn nợ ông Thành số tiền khoảng 2 tỉ đồng, bị ông Thành đòi nhiều lần nhưng chưa trả được.
Đầu tháng 6-2014, ông Thành thông qua người quen giới thiệu và biết ông Bùi Minh Chuyên (trú tại quận Cầu Giấy, Hà Nội) nên nhờ ông Chuyên đòi hộ khoản tiền trên. Ông Chuyên và ông Thành đã đến công ty của ông Văn cũng như nhiều lần điện thoại và ông Văn hứa trả nợ dần.
Tiếp đó, ông Thành đưa cho ông Chuyên năm số sim điện thoại và cung cấp số bà Phan Thị Hồng Minh (44 tuổi, vợ của ông Nguyễn Quốc Văn), khi đó là trưởng phòng tài chính - kế hoạch quận Cầu Giấy, để ông Chuyên nhắn tin gây sức ép đòi tiền.
Trong thời gian cuối tháng 6, đầu tháng 7-2014, ông Chuyên đã nhiều lần nhắn tin, có nội dung đe dọa để hai vợ chồng ông Nguyễn Quốc Văn phải trả tiền cho công ty ông Thành.
Đến ngày 26-6-2014, thấy ông Văn chưa trả tiền nên ông Thành nói với ông Chuyên cần có biện pháp mạnh hơn để ép ông Văn trả tiền. Ông Chuyên đã bày cách ném chất bẩn vào nhà và công ty của ông Văn. Ông Thành đồng ý nên ông Chuyên rủ ông Nguyễn Văn Tuyến (trú tại Phú Thọ) đi cùng và hai lần thực hiện việc ném chất bẩn vào nhà và công ty ông Văn.
Đánh dằn mặt thành án mạng
Do bức xúc về việc nhà và công ty bị ném chất bẩn, bản thân mình và vợ bị nhắn tin đe dọa nên ông Nguyễn Quốc Văn đã nhờ ông Lê Trung Kiên (bạn của bà Minh từ trước) tìm người đến nói chuyện với ông Thành, đồng thời thỏa thuận việc trả nợ tiền. Ông Kiên đưa ông Nguyễn Kim Bình đến gặp và nhận lời giúp bà Minh.
Khoảng ngày 22, 23-7-2014, Bình cùng Kiên và một người là Trần Văn Thọ đến nhà ông Thành để nói chuyện, Kiên ngồi ngoài chờ. Tuy nhiên, ông Thành không hợp tác và mắng chửi nên Bình và Thọ ra về. Sau đó 2-3 ngày, bà Minh nhắn tin cho Kiên về nội dung tiếp tục bị nhắn tin đe dọa. Do đó, Kiên đã tự ý gọi điện cho Bình thống nhất để Bình cho “anh em” đánh dằn mặt ông Thành.
Sau đó, ông Bình đã nhờ Hoàng Anh Tuấn (bạn tù với Bình) và Lê Hồng Thuận đánh dằn mặt ông Thành với tiền công 30 triệu đồng. Ông Bình đưa trước cho Tuấn 3 triệu đồng và hẹn sau khi xong việc sẽ đưa nốt.
Sáng 5-8, Thuận chạy xe máy đến đón Tuấn và tháo biển kiểm soát cất đi. Tuấn mang theo một dao nhọn, cả hai cùng đến rình gần nhà ông Thành. Khi ông Thành ra khỏi nhà thì cả hai đi theo, dàn dựng kịch bản va chạm xe để Tuấn xuống đâm hai nhát khiến ông Thành tử vong.
Gây án xong, cả hai về nhà Tuấn và được Bình đến chi nốt 27 triệu đồng. Tuấn và Thuận chia nhau mỗi người 15 triệu đồng. Sau khi gây án, Thuận đã đến cơ quan công an đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.
Cơ quan điều tra xác định đây là vụ án mang tính chất đặc biệt nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị can gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn thủ đô.
Thành tích CS: Làm láo báo cáo hay
07/02/2015 11:54 GMT+7
TT - Những câu chuyện kiểu thực tế một đằng, báo cáo một nẻo không phải xa lạ trong ngành y tế.
Các bệnh nhi phải nằm ghép giường tại Bệnh viện Nhi T.Ư - Ảnh: Thùy Anh
Tuần trước, ngay sau khi giám đốc Bệnh viện Nhi trung ương Lê Thanh Hải thông báo bệnh viện này bốn tháng nay không còn nằm ghép thì phóng viên VOV đã cho ông Hải biết mới ngày 12-1, con chị vào Bệnh viện Nhi trung ương và phải nằm ghép ba cháu/giường.
Muốn được nằm giường riêng, gia đình phải thuê loại giường dịch vụ 660.000 đồng, trong đó có 60.000 đồng/ngày là tiền điện nước cha mẹ bệnh nhi dùng khi... trông con nằm viện.
Tại Bệnh viện Việt Đức, giám đốc bệnh viện này cho biết từ lâu lắm rồi bệnh viện không còn nằm ghép. Quá đẹp. Có điều thực tế thì không thật sự đẹp như vậy, bởi không nằm ghép là vì ra ngoài hành lang mà nằm hoặc nằm cáng!
Những câu chuyện kiểu thực tế một đằng, báo cáo một nẻo không phải xa lạ trong ngành y tế.
Là ngành dịch vụ gắn với người dân, người dân nhận dịch vụ, người dân giám sát, kiểm tra và phản hồi chất lượng hằng ngày khiến ngành y tế lúc nào cũng nóng. Và với những người làm ngành y, áp lực làm giảm sức nóng ấy cũng đang khiến họ trở nên nôn nóng.
Mới nhất, ngày 4 và 5-2, khi các tỉnh thành xử phạt rất nhiều vụ vi phạm quy định về an toàn thực phẩm thì tại một hội nghị trực tuyến lần đầu tiên có sự tham gia của 650 điểm cầu từ y tế tuyến huyện đến trung ương, các báo cáo về an toàn thực phẩm đánh giá tình hình hiện nay là hết sức an toàn, gần như mỹ mãn, không còn gì phải lo.
Thực tế một đằng, báo cáo một nẻo càng khiến những báo cáo quá đẹp về tình hình an toàn thực phẩm trở nên khó tin.
Trong thời buổi báo chí công dân như hiện nay, mỗi người dân với một chiếc điện thoại di động loại thông thường cũng có thể quay clip, tự công bố trên Internet để phản ảnh những bức xúc của mình. Trong đó có vô vàn vụ bức xúc liên quan đến lĩnh vực y tế, vệ sinh thực phẩm.
Bệnh làm đẹp báo cáo đã khiến một quan chức ngành y tế đặt câu hỏi “các báo cáo đều đẹp mà làm sao người dân vẫn không tin thực phẩm an toàn?”.
Lần đầu tiên sau nhiều năm người dân buộc phải chấp nhận giường ghép, quyền cơ bản mỗi người bệnh một giường cũng không được thực hiện, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến đã phát động bệnh viện, trước hết là 38 bệnh viện tuyến trung ương cam kết không nằm ghép.
Nói như ông Nguyễn Văn Tiên, phó chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội, đây là một biện pháp quản lý nhà nước mạnh tay.
Trong vấn đề thực phẩm, riêng tỉnh Nghệ An dịp tết này cũng có đến hàng trăm đoàn thanh tra, kiểm tra thực phẩm. Sắp tới Hà Nội và TP.HCM sẽ thí điểm thanh tra chuyên ngành an toàn thực phẩm, có thể xử phạt tại chỗ nếu phát hiện vi phạm.
Công cụ nhiều, làm mạnh tay, mong muốn thực phẩm sạch, bệnh viện không nằm ghép là mơ ước của mọi người dân chứ không chỉ riêng ngành y tế, nhưng nó phải được đặt ra trong điều kiện có cơ sở để thực hiện, chứ không phải có thêm thanh tra chuyên ngành để thêm một lực lượng làm khó người kinh doanh nhỏ, trong khi tình hình an toàn thực phẩm vẫn như thế.
Không phải cam kết không nằm giường ghép bằng việc đưa bệnh nhân ra ngoại trú nhiều hơn, hay cho nằm cáng, nằm hành lang.
Một năm mới đang đến, mong rằng những báo cáo đẹp trong năm mới của ngành y tế là những báo cáo thực chất hơn, người dân đỡ khổ hơn, không thêm âu lo, bức xúc vì câu chuyện trái ngược giữa thực tế và báo cáo.