Lê Quế Lâm Năm 2015 đánh dấu 40 năm biến cố 30/4/1975. Từ ngày đó, hai miền đất nước sống dưới gông cùm Cộng sản, và có nhiều dấu hiệu cho thấy đất nước đang dần dần bị Hán hóa. Vì thế, chuyển đổi chế độ từ độc tài cộng sản sang dân chủ tự do là khát vọng nóng bỏng của toàn dân. Ước mơ này sớm muộn gì cũng sẽ xảy ra, vì đó là xu thế phát triển tất yếu của xã hội…Nhưng đồng bào đã mòn mõi trông chờ quá lâu rồi, nên có vẻ bi quan. Tôi tin tưởng năm 2015, thời điểm đã chín muồi để ước mơ trở thành sự thật. Tôi xin được chia sẻ cái nhìn lạc quan về Đất nước với bằng hữu và bạn đọc, coi như lời Chúc Mừng Năm Mới Lạc quan và Hy vọng. Đất nước chuyển mình, Hoa Tự Do nổ rộ trên quê hương thân yêu.
Chế độ Cộng sản ở Liên Sô có thời rất hùng mạnh, đã góp phần với Đồng Minh đánh bại Đức Ý trong Thế chiến II, sau đó đối đầu với Hoa Kỳ trong suốt cuộc chiến tranh lạnh (1947-1990)…Nhưng chỉ kéo dài 74 năm từ Cách mạng tháng Mười 1917 đến cuối năm 1991 thì tự động cáo chung, cùng sự tan rã của khối Xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu. Vào thời điểm này, cựu bí thư Cộng sản Thành ủy Moscow và là Tổng thống nước Cộng hòa Nga -Boris Yelsin đã tuyên bố với thế giới: “Chủ nghĩa CS là một thảm kịch cho dân tộc chúng tôi. Kinh nghiệm lịch sử cho phép chúng tôi kết luận một cách quả quyết rằng mô thức xã hội chủ nghĩa đã thất bại. Tôi tin rằng đây không chỉ là một bài học đối với riêng chúng tôi mà còn cho các dân tộc khác nữa”.
Trước khi sụp đổ, năm 1987 báo Pravda -cơ quan ngôn luận của Đảng CSLS đã nói thẳng “70 năm Cộng sản cầm quyền ở Liên Sô là thời kỳ chuyên chính phá hoại”. Đó là tiền đề để Tổng bí thư Mikhail Gorbachev kêu gọi 5 ngàn đại biểu tham dự Đại hội Đặc biệt toàn Đảng Cộng sản Liên Sô từ 28 đến 30/6/1988, hãy ủng hộ chính sách cải cách của ông. Sau khi nắm quyền lãnh đạo tối cao từ năm 1985, Gorbachev đề ra chủ trương perestroika (tái cơ cấu) nhằm thay đổi thể chế chính trị và kinh tế một cách triệt để; đồng thời kết hợp với chính sách glassnot (cởi mở) nhằm dân chủ hóa chế độ. Ông cho rằng hệ thống Sô Viết sẽ sụp đổ nếu họ không kịp thời nhận thức bài học của lịch sử và nhìn nhận những sai lầm trầm trọng của các lãnh tụ đảng đã theo đuổi trong mấy chục năm qua.
Gorbachev nhấn mạnh trong phiên họp cuối cùng của Đại hội Đảng Đặc biệt, lần đầu tiên được triệu tập kể từ năm 1941: “sự sống còn của chủ nghĩa xã hội đang nằm trong tay của đảng. Nó sẽ chết nếu chúng ta không trao quyền cho nhân dân”. Một năm rưởi sau, ngày 7/2/1990 Ban Chấp hành Trung Ương Đảng CSLS chấp nhận đề nghị của Gorbachev biểu quyết từ bỏ quyền độc tôn chính trị, chấp nhận chế độ đa đảng. Hai tháng sau, Quốc hội LS xóa bỏ điều 6 trong Hiến pháp: Đảng CS không còn độc quyền lãnh đạo đất nước. Chế độ tổng thống được thành lập. Ngày 15/3/1990 Gorbachev được bầu làm tổng thống LS. Năm sau Yelsin đắc cử tổng thống Cộng hòa Nga (12/6/1991)
Kế hoạch cải cách của Gorbachev bị một số Ủy viên Bộ chính trị cực đoan bảo thủ chống đối. Ngày 19/8/1991, họ tổ chức đảo chính, quản thúc Gorbachev và ra lịnh quân đội, công an, mật vụ KGB bao vây trụ sở Quốc hội Nga nhằm triệt hạ Boris Yelsin và các phần tử cấp tiến…Nhưng quân đội và lực lượng công an mật vụ bảo vệ nền chuyên chính vô sản không tuân lịnh thượng cấp, không nổ súng để trấn áp người dân đang kéo nhau đến bảo vệ Tòa nhà Quốc hội. Cuộc đảo chính bất thành, ngay sau đó Gorbachev đặt Đảng CSLS ra ngoài vòng pháp luật, giải tán Ban chấp hành Trung ương và từ chức Tổng bí thư Đảng.
Để biện minh cho hành động mà ông cho là “khó khăn nhưng trung thực này”, Gorbachev nêu lý do là “có nhiều cán bộ lãnh đạo Đảng lại là những kẻ chủ chốt trong âm mưu đảo chánh. Ban bí thư, Bộ chính trị và Ban chấp hành TƯ Đảng thì hèn nhát, không lên tiếng chống lại cuộc đảo chánh, cũng không bày tỏ lập trường cứng rắn chống lại tập đoàn chủ mưu và không huy động đảng viên tham gia phản kháng hành động vi phạm hiến pháp. Còn các ủy ban và cơ quan truyền thông của Đảng lại ủng hộ các hành động phản quốc”.
*
Đảng CSVN nếu tính từ năm 1945 khi Nhật đầu hàng Đồng minh, ông Hồ Chí Minh cùng 5 ngàn đảng viên CSVN thực hiện cuộc Cách mạng tháng Tám, cướp được chính quyền từ tay chính phủ Trần Trọng Kim. Từ ngày đó, lá cờ đỏ sao vàng đã hiện diện ở VN đến nay vừa tròn 70 năm. Đảng CSVN tổ chức bộ máy nhà nước và xây dựng xã hội chủ nghĩa theo đúng mô hình của Liên Sô.
Vào những năm cuối của thập niên 1980, chủ nghĩa CS đã thoái trào, Gorbachev lo cải tổ để cứu Đảng CSLS, ông tuyên bố tại Helsinki ngày 25/10/1989: “Chủ thuyết Brezhnev đã cáo chung” (LS không còn giữ các nước Đông Âu trong quỹ đạo của LS như chủ trưong của Brezhnev) và “bất cứ quốc gia nào cũng có quyền quyết định vận mạng riêng của họ”. Các nước Đông Âu lần lượt từ bỏ chủ nghĩa xã hội, tổ chức các cuộc bầu cử dân chủ tự do, xây dựng chế độ đa đảng. VN cũng nằm trong hệ thống XHCN, đáng lẽ VN cũng phải theo gương các nước Đông Âu từ bỏ xã hội chủ nghĩa, chuyển đổi thể chế từ độc tài cộng sản sang dân chủ tự do khi chủ nghĩa CS đã tàn rụi…Nhưng giới lãnh đạo CSVN đã trở cờ, quay về thần phục TQ ở Thành Đô.
Đặng Tiểu Bình từng lên án CSVN là phường vong bội nghĩa khi Hà Nội theo LS chống TQ, nay lại quay về với TQ nên ngay bước đầu Bắc Kinh đã tỏ rõ thái độ khinh miệt. Họ mời giới lãnh đạo cao cấp CSVN từ Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch nước Lê Đức Anh, Thủ tưóng Đỗ Mười và Cố vấn Bộ chính trị Phạm Văn Đồng phải rời Hà Nội đến họp với họ vào những ngày lễ trọng đại của CSVN: ngày Quốc khánh 2/9 và kỷ niệm ngày chết của HCM 3/9. Địa điểm họp không phải là thủ đô Bắc Kinh, mà là thành phố Thành Đô của tỉnh Tứ Xuyên. Sau đó, TQ công bố cho thế giới biết CSVN đã thỏa thuận toàn bộ 8 điểm của TQ để chấm dứt cuộc chiến ở Campuchia. Điều đó cho thấy CSVN đã bị TQ khuất phục.Thỏa hiệp Thành Đô như nhận xét của Nguyễn Cơ Thạch, lúc bấy giờ là Ủy viên Bộ chính trị, Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao: “Một thời kỳBắc thuộc mới rất nguy hiểm đã khởi sự”.
GS.TS Luật sư Nguyễn Mạnh Tường (1909 - 1997)
Vào thời điểm này, quyển sách tiếng Pháp tựa đề Un Excommunié - Hanoi 1954-1991: Procès d’un intellectual (Kẻ bị khai trừ - Hànội 1954-1991: Bản án một người trí thức) của Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường được Quê Mẹ xuất bản ở Paris năm 1992. Trong trang chót của tác phẩm, người trí thức bị CS khai trừ NMT đã chất vấn Đảng CSVN: “Nhân dân có thể đặt một số câu hỏi với Đảng: Trong khi phong trào dân chủ và tự do dâng lên như sóng cồn, tại sao các ông ngoan cố không chịu nhìn nhận sự thực, và bám víu một cách tuyệt vọng vào một tín điều đã lỗi thời không thể sửa chữa được? Giữa chủ nghĩa của các ông và quyền lợi của nhân dân, các ông thiêng về bên nào? Những bông hoa các ông nhập cảng và cắm vào trong bình, đã héo tàn. Các ông ngoan cố sùng bái cái xác ướp không thể sống lại ấy cho đến bao giờ? Và nhất là các ông hãy cho nhân dân biết những lý do thực sự các ông thù ghét chế độ đa đảng? …Dư luận nhận xét rằng các ông đã đi bước đầu trên con đường đổi mới. Như vậy các ông bắt đầu thú nhận các sai lầm. Nhưng các ông và cả nhân dân nữa, có thể nào bằng lòng với những biện pháp nửa chừng không, khi mà các biện pháp ấy chỉ có thể chữa trị một vài lãnh vực đã được nêu rõ, nhưng bệnh tật đã lan ra khắp toàn thân thể của quốc gia và các cấu trúc của quốc gia? Các ông thích tự hào về những hy sinh to lớn, kể cả mạng sống, để cống hiến cho Đảng. Các ông không đủ anh hùng tính để hy sinh Đảng của các ông cho tổ quốc và nhân dân hay sao? Nước Việt Nam và lịch sử Việt Nam đang chờ đợi câu trả lời của các ông”. (hết trích dẫn)
Từ đó đến nay, đã tròn một phần tư thế kỷ (1990-2015), đồng bào vẫn còn chờ đợi câu trả lời của Đảng CSVN. Trong mấy năm gần đây, nội tình Đảng CSVN cũng có những mâu thuẫn tương tự như Đảng CS Liên Sô trước khi cáo chung. Ở VN có sự xung đột giữa một bên là Đảng với Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và những phần tử cực đoan bảo thủ. Một bên là Chính phủ với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có khuynh hướng cải cách với chủ trương thực hiện quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân để thay đổi thể chế chính trị.
Ông Dũng được Đảng bố trí làm thủ tướng từ năm 2006 đến nay. Ông xuất thân từ MTGPMN, là Việt Cộng miền Nam nhưng ông chứng tỏ có tinh thần cộng sản còn hơn cộng sản chính gốc ở miền Bắc và Trung. Để xây dựng xã hội chủ nghĩa, ông thúc đẩy sự lớn mạnh các cơ sở quốc doanh bằng cách thành lập nhiều tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực. Việc phát triển doanh nghiệp nhà nước theo qui mô lớn của NTD đã làm vừa lòng Đỗ Mười, Lê Đức Anh và nhóm lãnh tụ bảo thủ. Đây là cơ hội giúp TT Nguyễn Tấn Dũng tạo được uy thế lớn trong đảng. Các cán bộ cao cấp điều hành các cơ sở quốc doanh cũng như lãnh đạo ở địa phương hưởng rất nhiều đặc quyền đặc lợi nhờ thực hiện các chính sách lớn của Đảng do Nguyễn Tấn Dũng đề ra.
Trước đây, ông Võ Văn Kiệt cố đả phá việc xây dựng XHCN, nhưng bất thành. Trong sách Bên Thắng Cuộc, chương 19: Đại hội VIII, nhà báo Huy Đức có đề cập đến việc này. Trong thời gian làm thủ tướng ông Kiệt đã lập nên 3 thành tích ngoại giao, đáp ứng với chủ trương đổi mới đất nước. Tháng 7/1995: HK giải tỏa cấm vận và bình thường hóa bang giao với VN; Hà Nội gia nhập khối ASEAN và ký hiệp định hợp tác với Cộng đồng Châu Âu (EU). Trong thư gởi Bộ chính trị tháng 8/1995, ông Kiệt cảnh báo là “thảm họa cho đất nước” nếu Đại hội Đảng VIII “rụt rè bỏ lỡ hội xây dựng dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”. Ông nhấn mạnh “nếu không đáp ứng được đòi hỏi phát triển đất nước, Đảng sẽ đứng trước nguy cơ bị tước quyền lãnh đạo”. Trong dịp chuẩn bị nhân sự cho Đại hội VIII năm sau (1996), nhiều uỷ viên TƯ Đảng lão thành đề nghị Bộ chính trị để ông Kiệt làm Tổng bí thư “nhằm tiếp tục giữ và phát triển được cái đà của nền kinh tế”. Ông Phan Văn Khải nhận xét“Nếu ông Kiệt làm Tổng bí thư, Việt Nam sẽ đổi mới nhanh hơn. Tuy không được đào tạo hệ thống, nhưng ông Kiệt luôn nhất quán ủng hộ cái mới. Ông chán đến tận cổ mô hình xã hội chủ nghĩa miền Bắc và ông làm tất cả để phá bỏ nó”.
Kiến nghị đưa ông Võ Văn Kiệt làm Tổng bí thư Đảng trong Đại hội VIII gặp sự phản kháng quyết liệt của Cố vấn Nguyễn Văn Linh, Tổng bí thư Đỗ Mười, Chủ tịch nước Lê Đức Anh…Một số thành viên trong Bộ chính trị chỉ trích kịch liệt các quan điểm của ông Kiệt trong lá thư gởi Bộ Chính trị như: không còn đấu tranh giai cấp; Mỹ không phải là đối tượng thù nghịch của VN; cần hợp tác với thế giới, đến lúc cạnh tranh kinh tế chớ không phải coi nhau như thù địch. Ông Kiệt còn đề nghị xóa bỏ các cơ cấu kinh tế đoàn thể, kinh tế đảng, kinh tế của các lực lượng vũ trang. Trần Trọng Tân -Trưởng ban Tư tưởng & Văn hóa TƯ chỉ trích “Sáu Dân (tức Võ Văn Kiệt) phát biểu nhiều cái ẩu, ví dụ như ông đề xuất dẹp Quốc doanh, tư nhân hóa nền kinh tế”. Thượng tướng Lê Khả Phiêu -Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội cho đó là “âm mưu phi chính trị hóa các lực lượng vũ trang”. Các sĩ quan chính trị Quân đội coi chủ trương của ông Kiệt là “chệch hướng” và “khuynh hướng xã hội chủ nghĩa dân chủ đang hình thành trong Đảng”.
Để chận đường ông Kiệt trở thành Tổng bí thư trong Đại hội VIII, Bộ chính trị quyết định duy trì “ba đồng chí chủ chốt thêm một nhiệm kỳ nữa dù tuổi đã cao”. Lúc đó Tổng bí thư Đỗ Mười 79 tuổi, Chủ tịch nước Lê Đức Anh 76 và Thủ tướng Võ Văn Kiệt 73. Đến cuối năm 1977 trong Hội nghị TƯ 4 (khoá VIII) cả ba ông cũng vì cao tuổi, đều bị loại khỏi Bộ chính trị. Trước đó ông Kiệt đã bị áp lực từ chức thủ tướng. Ông đã bị loại khỏi chính trường đúng bài bản do Đảng sắp đặt. Lê Khả Phiêu được cử làm Tổng bí thư Đảng. Tháng 2/1999, Phiêu đến Bắc Kinh, Tổng bí thư Giang Trạch Dân đưa ra hai “phương châm” làm nền tảng cho mối quan hệ hai nước thể hiện trong “16 chữ” và “4 tốt” (Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt). Phương châm 16 chữ được Phiêu đề cao là “16 chữ vàng” (Ổn định lâu dài, hướng tới tương lai, láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện).
Đây là nổi bất hạnh lớn của dân tộc. Đảng CS giành quyền độc tôn lãnh đạo, nhưng kiềm hãm sự phát triển của đất nước của xã hội. Họ sợ ông Võ Văn Kiệt đưa đất nước hội nhập, giao tiếp với thế giới văn minh bên ngoài, nên ông Đỗ Mười dù đã bước vào tuổi 80, vẫn được bố trí tiếp tục lãnh đạo để lót đường đưa Thượng tướng Lê Khả Phiêu làm Tổng bí thư Đảng, không phải do Đại hội Đảng mà do một Hội nghị của TƯ Đảng quyết định. Thượng tướng Quân đội lên nắm quyền lãnh đạo tối cao, để Quân đội Nhân dân bảo vệ Đảng. Và hậu quả như mọi người đã thấy trong giai đoạn Thượng tướng Lê Khả Phiêu nắm quyền lãnh đạo tối cao, Đảng CSVN đã ký với TQ hai hiệp ước lãnh thổ trên bộ và vịnh Bắc Việt hồi cuối năm 1999 và 2000. So với các hiệp ước mà thực dân Pháp ký với triều đình Mãn Thanh năm 1887, thì VN đã mất một phần đất và biển vào tay TQ, điển hình là ãi Nam Quan và Thác Bản Giốc. Có thể nói, đây là hai hiệp ước bán nước cho TQ, để Đảng CSVN giữ tình hữu nghị và hợp tác toàn diện với TQ. Đó là thành tích QĐNDVN bảo vệ Đảng, bảo vệ đất nước! Giờ đây, QĐNDVN sẽ nghĩ gì khi TBT Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định trong bài viết đăng trên báo Quân đội Nhân dân ngày 18/12/2014: “Chỉ có Đảng CSVN là tổ chức duy nhất lãnh đạo Quân đội Nhân dân Việt Nam. Sự lãnh đạo quân đội không thể phân chia cho bất kỳ một cá nhân nào, một lực lượng chính trị nào khác”.
Năm 1997, vì đả phá xã hội chủ nghĩa, ông Võ Văn Kiệt bị loại khỏi chính trường sau 6 năm làm thủ tướng (1991-1997) Nay đệ tử của ông là Nguyễn Tấn Dũng, cố công xây dựng XHCN, sử dụng các đảng viên CS cao cấp là những người XHCN để xây dựng CNXH. Chính số người này đã góp phần phá hoại việc xây dựng XHCN, vì hầu hết doanh nghiệp, công trình lớn của nhà nước đều thất bại thì làm sao xây dựng được XHCN! Ông NTD đã “lấy độc trị độc” và thành công trong việc đả phá XHCN, lại được đa số ủy viên Ban chấp hành TƯ Đảng ủng hộ, giúp ông khỏi bị loại trong Hội nghị TƯ 6 khóa XI hồi giữa tháng 10/2012.
Trước đó, trong tháng 7/2012, TBT Nguyễn Phú Trọng dùng chiêu bài “kiểm điểm, phê và tự phê” trong nội bộ Bộ chính trị nhằm hạ bệ TT Nguyễn Tấn Dũng vì các sai phạm nghiêm trọng trong việc điều hành các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước, nhưng bất thành. TT Dũng biện minh cơ chế của Đảng là “Tập thể chỉ huy, cá nhân phụ trách”, các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước là những chủ trương lớn của Đảng và ông được Bộ Chính trị giao phó việc thực hiện. Ông đã báo cáo định kỳ và xin chỉ thị của Bộ CT. Đây là sai phạm chung của Bộ CT chớ không riêng cá nhân ông. Cuối cùng Bộ CT và “đồng chí X” (ám chỉ TT Nguyễn Tấn Dũng) trình bày sự viện trong một hội nghị của Ban Chấp hành TƯ Đảng và xin nhận một hình thức kỷ luật. Đây là bài bản mà 15 năm trước Đảng đã dùng để loại ông Võ Văn Kiệt khỏi chính trường.
Lần này, Đảng CSVN lâm vào một tình huống khó xử. Chả lẽ BCH/TƯ Đảng áp dụng kỷ luật và loại bỏ toàn thể Bộ CT hay sao? Bộ CT là đầu não của Đảng đã phạm khuyết điểm, tất nhiên Đảng CSVN đã phạm khuyết điểm. Trong tờ trình để BCH/TƯ Đảng kỷ luật “Đồng chí X” Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã thuyết phục TBT Nguyễn Phú Trọng phải ghi khuyết điểm số một của Dũng là đã để một bộ phận lớn cán bộ đảng viên tha hóa, biến chất. Đây cũng không phải là khuyết điểm của riêng ông Dũng mà là khuyết điểm do cái sai có hệ thống, từ cơ chế của Đảng. Như vậy BCH/TƯ hoặc Tổng bí thư Đảng phải tuyên bố vai trò của Đảng phải chấm dứt. Thời điểm này chưa chín muồi, nên chưa thể thực hiện được, BCH/TƯ Đảng đành phải miễn thi hành kỷ luật đối với tập thể Bộ CT và “đồng chí X”.
BCH/TƯ Đảng không hạ bệ được Dũng, nhóm cực đoan bảo thủ lại nhờ Quốc hội chất vấn thủ tướng về những khuyết điểm của chính phủ. Trong phiên họp ngày 14/11/2012, Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc đề nghị ông Dũng thể hiện “văn hóa từ chức”. Nguyễn Tấn Dũng trả lời, suốt 51 năm theo Đảng, ông không bao giờ xin xỏ hoặc khước từ những nhiệm vụ do Đảng giao phó, vì thế ông không có quyền từ chức.
Trước đây, nghe nói trong Bộ chính trị, nhóm chống NTD chỉ thiếu một phiếu là đủ túc số quá bán để kỷ luật ông ta. Vì thế trong Hội nghị TƯ 7 khóa XI (đầu tháng 5/2013) TBT Nguyễn Phú Trọng đề cử Nguyễn Bá Thanh -Trưởng ban Nội chính TƯ và Vương Đình Huệ -Trưởng ban Kinh tế TƯ bổ sung vào Bộ CT. Cả hai đều bị bác, TƯ Đảng chọn hai người khác là Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân và Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn thị Kim Ngân. Hai tân ủy viên Bộ CT đều thuộc phe cánh của NTD, cho thấy thế lực Chính phủ đã thắng Đảng. Với tư thế đó, ngày 31/5/2013 TT Nguyễn Tấn Dũng đăng đàn như là diễn giã chính ở hội nghị An ninh châu Á tại Diễn đàn đối thoại Shangri-La (Singapore).
Tại diễn đàn này, TT Nguyễn Tấn Dũng cổ vũ việc hợp tác quốc tế, xây dựng khu vực Á châu/Thái Bình Dương hoà bình, ổn định và phát triển, dựa vào ASEAN và vai trò lớn của hai cường quốc. Đó là Trung Hoa đang trổi dậy mạnh mẽ và Hoa Kỳ một cường quốc Thái Bình Dương. Ông Dũng tế nhị, không nêu đích danh TQ là thủ phạm gây sự ở Biển Đông làm cho khu vực mất ổn định, ông chỉ nói “Đâu đó đã có những biểu hiện đề cao sức mạnh đơn phương, những đòi hỏi phi lý, những hành động trái với luật pháp quốc tế, mang tính áp đặt và chính trị cường quyền”. Rõ ràng, TT Dũng muốn ám chỉ TQ, nên ông coi trọng vai trò của Mỹ khi cường quốc này xoay trục về châu Á để duy trì hòa bình và ổn định. Người viết có cảm tưởng bài phát biểu của ông Dũng là chỉ dấu cho thấy CSVN đã có chuyển hướng chiến lược. Từ hợp tác toàn diện với TQ có nguy cơ làm mất nước, chuyển sang hợp tác với quốc tế để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ. Hồi tháng 11/2011, ông Dũng đã gây ngạc nhiên lớn cho mọi người khi tuyên bố trước Quốc hội về chủ quyền của VN trên hai dảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đồng thời đề xuất đất nước cần có một bộ luật biểu tình.
Sau chỉ dấu đổi mới trong đường lối đối ngoại, TT Nguyễn Tấn Dũng có bài viết được coi là thông điệp đầu năm 2014, trong đó đề cập đến việc Đổi mới thể chế và phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân, mở rộng dân chủ trực tiếp và hoàn thiện cơ cấu bầu cử quốc hội, xây dựng nhà nước pháp quyền. Sau đó trong website của TT Nguyễn Tấn Dũng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ngày 5/3/2014 xuất hiện bài viết tựa đề “Việt Nam có cần một nguyên thủ như Putin? Khởi đầu bài viết là câu hỏi và câu trả lời ngắn gọn: “Vì sao từ một quốc gia nghèo đói, chỉ cần khoảng 30 năm, Nhận Bản, Hàn Quốc, Singapore đã trở thành những quốc gia hưng thịnh hàng đầu thế giới, còn Việt Nam thì không? Câu trả lời ở ngay trong cơ chế của chúng ta”. Bài viết trình bày như sau:
“Nhà nước được phân tán ra làm ba nơi: Lập pháp, hành pháp và tư pháp.Đó là cơ chế rất tốt cho tất cả các quốc gia trong thời đại ngày nay nhưng mô hình nhà nước ta và thể chế còn nhiều bất cập. Hiến pháp quy định: tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Vậy thì không có một con người cụ thể nào lãnh đạo, không thể tự quyết và cuối cùng không có cá nhân nào chịu trách nhiệm!
Những người lãnh đạo có tài và có tâm muốn đóng góp cho đất nước thì không thể tự quyết vì quyền lực thuộc về tập thể. Thật là tai hại cho đất nước mà không ai chịu trách nhiệm. Khi người dân đã thực sự làm chủ đất nước của mình. Khi ấy nhân dân sẽ chọn người lãnh đạo xuất sắc nhất của mình. Các nhà lãnh đạo đưa ra các chiến lược, các chính sách để được dân chúng chọn lựa một người lãnh đạo vừa có tài, vừa có đức và đặc biệt là đủ quyền lực và tự chịu trách nhiệm để đưa đất nước đi lên”(hết trích)
Bài viết trên cho thấy, thủ tướng và chủ tịch nước đã nhận thức sở dĩ đất nước trì trệ là do cơ chế và mô hình cộng sản tạo ra. Vì thế cần phải thay đổi thể chế, tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân. Tổ chức các cuộc bầu cử viết dân chủ tự do để người dân trực tiếp chọn lựa người lãnh đạo có tài đức, có quyền lực và chịu trách nhiệm trước nhân dân về sự hưng thịnh của đất nước. Nhân dân trực tiếp bầu một Quốc hội thảo ra Hiến pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền với ba quyền phân lập minh bạch. Như vậy, thể chế mới của đất nước phủ nhận vai trò độc tôn lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Có thể nói thông điệp đầu năm 2014 của TT Nguyễn Tấn Dũng và bài viết nói trên cho thấy những người lãnh đạo nhà nước và chính phủ đã có quyết tâm thay đổi thể chế đất nước trong tương lai. Sự thay đổi này cộng với đường lối đối ngoại mới là hai điều kiện thiết yếu để VN hội nhập với thế giới sau thời gian dài chỉ biết hợp tác toàn diện với LS và sau đó là TQ, mang lại biết bao thảm họa cho dân tộc. Nhân vật để xuất ý kiến này hiện nay là người có nhiều quyền lực nhất, được Đảng và Quốc hội tín nhiệm, vì thế có nhiều khả năng trở thành hiện thực.
Với sự tin tưởng đó, nhân kỷ niệm lần thứ 39 biến cố 30/4 (2014) tôi có viết loạt bài tựa đề “Từ buổi hoàng hôn của Đất nước đến buổi bình minh của Dân tộc”. Một vài thân hữu nhận xét, đó là nhận định chủ quan đầy lạc quan, chớ chưa thể khẳng định buổi bình minh của Dân tộc đã gần kề. Hiểm họa đất nước bị Hán hóa đang hiện ra trước mắt. Quả thật, đó là ước tính lạc quan của tôi về đất nước, của một người luôn theo dõi các bước thăng trầm của dân tộc xảy ra trong cuộc đời của mình, có những sự kiện giúp tôi vững tin ở tương lai tươi sáng của Dân tộc.
Năm 2015 đánh dấu 40 năm biến cố 30/4/1975. Từ ngày đó, hai miền đất nước sống dưới gông cùm Cộng sản, và có nhiều dấu hiệu cho thấy đất nước đang dần dần bị Hán hóa. Vì thế, chuyển đổi chế độ từ độc tài cộng sản sang dân chủ tự do là khát vọng nóng bỏng của toàn dân. Ước mơ này sớm muộn gì cũng sẽ xảy ra, vì đó là xu thế phát triển tất yếu của xã hội…Nhưng đồng bào đã mòn mõi trông chờ quá lâu rồi, nên có vẻ bi quan. Tôi tin tưởng năm 2015, thời điểm đã chín muồi để ước mơ trở thành sự thật. Tôi xin được chia sẻ cái nhìn lạc quan về Đất nước với bằng hữu và bạn đọc, coi như lời Chúc Mừng Năm Mới Lạc quan và Hy vọng. Đất nước chuyển mình, Hoa Tự Do nổ rộ trên quê hương thân yêu.
Nửa thế kỷ trước tôi nhập ngũ, được Quân đội giao nhiệm vụ làm công tác khai thác và nghiên cứu tài liệu về cuộc chiến VN. Tôi đeo đuổi công việc này suốt cuộc đời với sự say mê cuồng nhiệt. Năm 1993, tôi xuất bản quyển Việt Nam-Thắng và Bại. Theo tôi, cái thắng của CS năm 1975 không quang minh chính đại, có thể nói CS “bị thắng” hay “được thắng” và sẽ đón nhận những hệ quả khôn lường.
Sở dĩ tôi có ý nghĩ trên vì trong cuộc chiến VN, người lính Mỹ không được phép thắng, tức nhiên CSVN sẽ "được" thắng. Hơn một tháng sau khi nhậm chức, ngày 24/2/1981, TT Ronald Reagan đến Ngũ Giác Đài trao gắn Huân chương Danh dự của Quốc hội –huy chương cao quý nhất của HK cho Thượng sĩ Roy P. Penavidez, là một trong hơn 3,5 triệu chiến binh Mỹ đã chiến đấu ở VN. TT Reagan bắt đầu bài phát biểu tuyên dương Thượng sĩ Roy “Cách đây không lâu, các chiến binh Mỹ, đáp lời kêu gọi của đất nước đã chiến đấu dũng cảm như bất cứ những con dân nước Mỹ trong lịch sử chúng ta. Họ chiến đấu và trở về không chiến thắng, không phải vì họ bị đánh bại, mà vì họ không được phép thắng” (They came home without a victory not because they’d been defeated, but because they’d been denied permission to win).
Từ trước đến nay, nhiều người luôn nghĩ rằng Mỹ chiến đấu ở VN là để đánh bại CS Bắc Việt, bảo vệ sự tồn tại của Miền Nam tự do… Nhưng Mỹ không chủ trương chiến thắng cuộc chiến để bảo vệ VNCH, nên lên án Mỹ phản bội đồng minh mà không ai để ý đến tuyên bố của TBT Lê Duẫn: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Sô, Trung Quốc”. Để bành trướng ảnh hưởng của mình nên LS, TQ tận lực giúp CSVN . Còn Bắc Việt dùng bạo lực của nền chuyên chính vô sản đẩy hàng triệu thanh niên miền Bắc lao vào cuộc chiến xâm lược Miền Nam như những con thiêu thân. Vì thế dù có sức mạnh, HK cũng không thể chiến thắng cuộc chiến này bằng quân sự. Tháng 3/1965, HK đưa quân chiến đấu vào Miền Nam VN, họ nói rõ: HK không chủ trương tiêu diệt miền Bắc, mà chỉ áp lực Hà Nội. ngồi vào bàn đàm phán để vãn hồi hòa bình ở VN, HK sẽ rút quân.
Sau khi BV chịu tham dự cuộc thương thuyết ở Paris hồi tháng 5/1968, HK chấm dứt việc oanh tạc miền Bắc. Sau đó từng bước rút quân khỏi miền Nam. Hai tháng sau khi hiệp định hòa bình Paris 1973 ra đời, không còn một người lính chiến đấu nào của Mỹ còn ở lại VN. Gần 6 vạn binh sĩ tử thương, trên 300 ngàn bị thương tật, HK đã mang lại hòa bình cho VN. Một nền hòa bình trong danh dự, không làm mất uy tín bất cứ một cường quốc nào, một phe phái nào. Trái lại, còn mang lại lợi ích không những cho ba bên ở VN mà còn vì lợi ích cho cả LS, TQ và Mỹ. HĐ Paris 1973 được một hội nghị quốc tế về VN có mặt đầy đủ 5 thành viên thường trực Hội đồng Bảo An và ông Tổng thư ký LHQ, tán thành.
CSVN chủ trương “đánh Mỹ là đánh cho Liên Sô và Trung Quốc” để tăng cường, bành trướng phe xã hội chủ nghĩa. Còn HK can dự vào cuộc chiến VN, không phải để tiêu diệt CSVN, mà để tái lập hòa bình ở VN, tôn trọng quyền dân tộc tự quyết và các quyền tự do dân chủ của nhân dân VN, tôn trọng và bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước VN. Để thực hiện mục tiêu này, HK tìm cách phân hóa mối quan hệ Nga Hoa; đào sâu sự xung đột giữa hai cường quốc CS này; tranh thủ Bắc Kinh hợp tác với Mỹ để kết thúc chiến tranh VN. Hai bên thỏa thuận, sau khi chiến tranh chấm dứt, HK rút lui khỏi Đông Nam Á, ba nước Đông Dương không thuộc ảnh hưởng bất cứ cường lực nào. Miền Nam VN, Cam Bốt và Lào trung lập.
Ngày 21/4/1975 TT Nguyễn Văn Thiệu từ chức và xuất ngoại. Sau đó TT Trần Văn Hương được sự đồng ý của Lưỡng viện Quốc hội trao quyền cho cựu Đại tướng Dương Văn Minh. Chính phủ DVM bao gồm những thành phần yêu chuộng hòa bình, thuộc Lực lượng thứ ba chủ trương trung lập MN và hòa hợp hòa giải dân tộc theo tinh thần HĐ Paris 1973… Nhưng CS Bắc Việt bắt ông DVM phải đầu hàng. Hai bên MNVN chỉ còn một bên là Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam VN tức Mặt trận Giải phóng Miền Nam mà Cương lĩnh của Mặt trận này cũng chủ trương MN trung lập. Sau đó, MTGPMN và Chính phủ Cách mạng Lâm thời CHMN cũng bị giải tán. Cưỡng chiếm xong MN, Hà Nội đổi tên nước thành Cộng hòa Xã hội Việt Nam, đưa cả nước vào quỹ đạo Liên Sô. Đây là hành động mù quáng, ngông cuồng của một đảng giành quyền độc tôn lãnh đạo đất nước, luôn tự nhận làm nghĩa vụ dân tộc. Nhiều triệu đồng bào đã chết để đất nước thống nhất, Đảng CSVN lại hy sinh quyền lợi đất nước, tình nghĩa dân tộc để phục vụ Liên Sô. Hành động phản dân hại nước này đã bị TQ trừng phạt và còn bị lên án là phường vong ân bội nghĩa.
Đầu tháng 9/1978, Lê Duẩn đến Moscow cùng Breznhev ký Hiệp ước Hữu nghị & Hợp tác Sô Việt. Dựa vào Liên Sô, ba tháng sau, vào Mùa Giáng sinh 1978 Hà Nội đưa quân sang Phnom Penh lật đổ chế độ Pol Pot thân Bắc Kinh. Vì hành động này, Bắc Kinh bình thường hóa bang giao với Mỹ (1/1/1979). Ngay sau đó Đặng Tiểu Bình viếng thăm HK, ông hô hào Mỹ, Nhật, Tây Âu hợp tác với Trung Quốc thành lập một liên minh chống bá quyền mà LS là tên “đại bá quyền” còn CSVN là tên “tiểu bá quyền khu vực”. Ngày 17/2/1979, Đặng huy động 60 vạn quân tấn công VN “dạy cho một bài học” Cuộc chiến Đông Dương lại tái diễn, lần này không phải giữa thực dân đế quốc với phe xã hội chủ nghĩa, mà là giữa các nước CS: Việt Nam, Trung Quốc và Campuchia. Cuộc chiến kéo dài 10 năm và khi chấm dứt, cũng là lúc khối XHCN ở Đông Âu và Liên Bang Sô Viết tan rã. Mất chỗ dựa, CSVN phải quay về thần phục Bắc Kinh, thà chịu mất nước chớ không để mất đảng, để tiếp tục xây dựng xã hội chủ nghĩa, thế giới đại đồng, không còn ranh giới quốc gia nữa.
Thắng để tiếp nhận cái Bại có nguy cơ làm mất nước, tất sẽ đưa chế độ CS đến chỗ cáo chung, mở đầu một chương sử mới huy hoàng của dân tộc. Nay thời cơ đã đến, trong thời đại tin học tân tiến, những sự thật lịch sử lần lượt được phơi bày, giúp người dân cũng như những người lãnh đạo mạnh dạn dấn thân làm cuộc cách mạng vì thế trận quốc tế đang diễn ra rất thuận lợi cho đất nước chuyển mình.
Trong 40 năm qua, có những biến cố đột biến không ai ngờ đã xảy ra, làm thay đổi lịch sử: Năm 1975 HK bỏ rơi VNCH khiến Miền Nam tự do rơi vào tay CS. Sau đó LHQ thành lập Phủ Cao ủy Tị nạn cứu giúp cả triệu đồng bào ta lánh nạn CS định cư ở hải ngoại, đa số sống ở các nước văn minh tân tiến nhất thế giới. Rồi LS và khối CS Đông Âu sụp đổ. Rồi đây, còn có những biến động đột ngột nữa sẽ xảy ra làm đảo lộn cả cuộc diện thế giới có ảnh hưởng tốt đến đất nước.
Tháng 4 năm 2014 trôi qua, loạt bài viết về ngày 30/4/1975 của tôi cũng chấm dứt, Ngay sau đó, biến động lớn đã xảy ra khi TQ đưa giàn khoan dầu vào thềm lục địa VN gần đảo Hoàng Sa. Ngày 11/5/2014, trong diễn văn đọc trước hội nghị thượng đỉnh lần thứ 24 của khối ASEAN ở thủ đô Miến Điện, TT Nguyễn Tấn Dũng đã thông báo “Từ ngày 1/5/2014 Trung Quốc đã ngang nhiên đưa giàn khoan nước sâu cùng hơn 80 tàu vũ trang, tàu quân sự và máy bay hộ tống đi vào vùng biển Việt Nam. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc ngang nhiên đưa giàn khoan vào, hạ đặt tại địa điểm nằm sâu trong Thềm lục địa và vùng Đặc quyền Kinh tế của một nước trong ASEAN, là sự vi phạm đặc biệt nghiêm trọng Luật pháp Quốc tế…Hành động cực kỳ nguy hiểm này đã và đang đe dọa trực tiếp đến hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải ở Biển Đông.Trước tình trạng nghiêm trọng này, VN đề nghị ASEAN, chúng ta tăng cường đoàn kết, thống nhất …đồng thời yêu cầu TQ tuân thủ luật pháp quốc tế, Công ước LHQ về Luật biển 1982, đặc biệt phải tôn trọng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của các quốc gia ven biển…”
Trước yêu cầu khẩn thiết của CSVN, song Thông cáo chung kết thúc hội nghị cũng như diễn văn khai mạc và bế mạc của Chủ tịch hội nghị là TT Thein Sein của Miến cũng không nói gì đến vấn đề giàn khoan cũng như hành động gây hấn của TQ. Không có nước ASEAN nào ủng hộ VN, họ coi sự tranh chấp giữa VN và TQ là chuyện nội bộ của họ, nên không can thiệp để hai bên giải quyết với nhau. Báo NY Times nhận xét VN đã thất bại trong việc vận động bạn bè ủng hộ trong cuộc đối đầu với TQ. Phản ứng của HK cũng không khác gì thái độ của ASEAN dù NT John Kerry đã nhận xét hành động của TQ có tính khiêu khích.
Trước phản ứng của thủ tướng VN và các cuộc biểu tình chống TQ diễn ra nhiều nơi, ngày 15/5/2014 trong chương trình phát thanh tiếng Việt của đài Tiếng Nói Nhân dân Trung Hoa nghe được trên mạng lưới internet toàn cầu, có đề cập đến bản thông báo của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa về sự kiện này đăng trên tờ Thời Báo Hoàn Cầu của TQ. Nội dung cho biết TQ “đồng ý Hoàng Sa, Trường Sa và bờ biển thuộc VN”, nhưng đã “thuộc về chủ quyền của TQ mà CSVN do TT Phạm Văn Đồng đã ký kết vào năm 1958”. Và TQ “có đầy đủ những bằng chứng để đem ra LHQ và buộc CSVN phải rút hết những tầu chiến của họ và để cho tầu Hải Dương 981 được trực tiếp làm nhiệm vụ thăm dò và khai thác dầu khí”. Bản tin còn nói rằng “Không hiểu vì lý do gì những người lãnh đạo trong Bộ chính trị đảng CSVN không công bố cho toàn dân biết là đã ký và công nhận quần đảo HS, TS và bờ biển VN thuộc về TQ…Các người đã thiếu nợ TQ trên 870 tỷ về chiến tranh Điện Biên Phủ và chiến tranh chống Mỹ. Thì bây giờ các người đã nhượng đảo và biển cho Cộng hòa Nhân dân TH thì không có lý nào các người không công bố cho tất cả mọi người dân biết để họ tiếp tục chống TQ”.(hết trích dẫn)
Ngày 22/5/2014, TT Nguyễn Tấn Dũng đến Manila (Phi Luật Tân) tham dự Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) khu vực Đông Á, một lần nữa ông lên tiếng công kích TQ về vụ giàn khoan HD 981. Ông kêu gọi ASEAN và các nước khác tiếp tục ủng hộ VN bảo vệ chủ quyền và lợi ích chính đáng của mình. Trước đó, ông tuyên bố với báo chí “VN không đánh đổi chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, và nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viễn vông, lệ thuộc”. Ông Dũng cũng tham khảo với TT Benigno Aquino III của Phi về việc kiện TQ, nhưng “VN cân nhắc nhiều giải pháp khác nhau, kể cả giải pháp pháp lý theo luật quôc tế”.
Về phía TQ, họ đã gởi công hàm đến LHQ tố cáo VN gây hấn và đưa ra một số bằng chứng cho thấy VN nhìn nhận chủ quyền của TQ ở Hoàng Sa và Trường Sa. Trong các bằng chứng có lời tuyên bố của Thứ trưởng Ngoại giao Ung Văn Khiêm năm 1956, bản đồ, sách giáo khoa Địa lý lớp 9 và Công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng. Ngày 18/6/2014 Dương Khiết Trì viên chức cao cấp Quốc vụ viện TQ phụ trách đối ngoại đến Hà Nội thảo luận việc tranh chấp vùng biển, phía VN cũng chưa đưa ra tuyên bố chính thức nào để bác bỏ các lập luận của TQ. Hà Nội cũng chưa khởi kiện TQ trước Tòa án Quốc tế như Phi Luật Tân. Có lẽ vì thế, trong thời gian ở Hà Nội, tiếp xúc với các giới lãnh đạo CSVN, thái độ của họ Dương rất trịch thượng, y yêu cầu VN không được quốc tế hoá cuộc xung đột, phải chấm dứt hoạt động của các tàu quanh vùng giàn khoa HD 981 để cho TQ tiếp tục tìm kiếm dầu khí. Và “vì đại cục”, VN hãy cùng TQ “hành động theo một hướng”. Bản tin BBC ngày 20/6/2014 tiết lộ Tờ Hoàn cầu Thời báo bản tiếng Hoa đăng tải một bài xã luận trong đó gọi chuyến thăm của ông Dương ở Hà Nội là để thông qua việc đối thoại, TQ “thúc giục đứa con hoang đàng hãy trở về nhà”.
Trong biến động giàn khoan HD 981, TT Nguyễn Tấn Dũng có những tuyên bố chống TQ khá mạnh mẽ, trong khi Quốc hội không dám họp công khai về sự kiện này. Còn Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thì im hơi lặng tiếng, các cơ quan thông tấn quốc tế tiết lộ ông nhiều lần xin gặp Tập Cận Bình nhưng bị khước từ. TQ vẫn khăng khăng không đáp ứng đòi hỏi của Hà Nội: yêu cầu TQ rút giàn khoan và tàu ra khỏi vùng biển của VN. Cục diện đó kéo dài đến giữa tháng 7/2014 thì có chuyển biến lớn.
Ngày 9/7/2014 tại Bắc Kinh, TQ và HK gặp nhau tại diễn đàn Đối thoại Chiến lược và Kinh tế (US-China Strategic and Economic Dialogue gọi tắt S&ED) lần thứ 6. Trong bài phát biểu khai mạc, Chủ tịch TQ Tập Cận Bình cho rằng sự đối đầu giữa TQ và HK sẽ là một thảm họa, cả hai bên cần phải tôn trọng lẫn nhau và đối xử bình đẳng. Ông Tập nêu rõ “cả hai cần tăng cường hợp tác chống khủng bố và thúc đẩy việc đàm phán về hiệp định đầu tư song phương sớm hoàn tất”. Đại diện Mỹ tham dự Đối thoại là NT John Kerry tuyên bố “HK không tìm cách kiềm hãm TQ”. Ông nhấn mạnh “Mỹ hoan nghênh một nước TQ hòa bình, ổn định, thịnh vượng, đóng góp cho sự ổn định và phát triển trong khu vực cũng như thể hiện tinh thần trách nhiệm trong các vấn đề quốc tế”. Trong khi đó tại Washington, ngày 9/7 TT Obama khẳng định “Mỹ cam kết xây dựng mối quan hệ kiểu mới với TQ”. Ông nêu rõ: “Mỹ hoan nghênh một nước Trung Hoa hòa bình, ổn định và thịnh vượng”. Điều này đã được Obama thỏa thuận với ông Tập trong cuộc họp ở California hồi tháng 6/2013. Hai bên cam kết xây dựng “mối quan hệ kiểu mới’ giữa 2 nước, theo đó không xung đột và đối đầu, tôn trọng lẫn nhau và hợp tác cùng có lợi.
Trong lúc cuộc Đối thoại Chiến lược và Kinh tế Mỹ Trung diễn ra ở TQ, thì tại Mỹ, ngày 10/7/2014 Thượng Viện HK với 100% phiếu thuận thông qua Nghị quyết “S.Res.412” lên án việc TQ sử dụng các hành vi khiêu khích và gây hấn để thay đổi hiện trạng, gây mất ổn định trong khu vực Châu Á/Thái Bình Dương. Nghị quyết yêu cầu Bắc Kinh rút giàn khoan Hải Dương 891 ra khỏi vị trí hiện tại, bảo đảm nguyên trạng như trước thời điểm tháng 5/2014. TQ đã đáp ứng ngay đòi hỏi này. Sáng thứ tư 16/7, Hong Lei - Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao TQ thông báo giàn khoan dầu ngoài khơi mang tên HYSY 981 của Công ty dầu khí Quốc gia TQ đang di chuyển khỏi vùng biển tranh chấp với VN tại đảo Hoàng Sa. Theo kế hoạch giàn khoan này hoạt động ở đây đến ngày 15/8/2014 mới rút đi
Tuần lễ trước, Tập Cận Bình đã xác định với Ngoại trưởng John Kerry là lập trường của TQ trong cuộc tranh chấp ở Biển Đông với VN hiện nay là đúng và sẽ không từ bỏ, tuy nhiên TQ không muốn đối đầu với Mỹ. Như vậy, việc rút giàn khoan chứng tỏ TQ không muốn đối đầu với Mỹ ở Biển Đông, tạo sự ổn định trong khu vực để hai nước cùng hợp tác và phát triển. Ngoài mục tiêu trên, động lực chính khiến TQ phải nhượng bộ, là hiểm họa khủng bố Hồi giáo đang đe dọa TQ ở hướng Tây (Tân Cương) buộc TQ phải tạo ra không khí hòa dịu ở Biển Đông.
Ngày 29/6/2014, Abu Bahr al-Baghdadi -lãnh tụ Nhà nước Hồi giáo Iraq (Islamic State of Iraq gọi tắc là IS) tuyên bố thành lập Vương quốc Hồi giáo (Caliphate) mà ông ta là vua (Caliph). Kế hoạch hành động của Vua Hồi giáo và nhóm IS đặt trọng tâm vào việc báo thù cho “quyền lợi của người Hồi Giáo bị cướp đoạt ở 20 nước trên thế giới”, trong đó đứng đầu danh sách là TQ, kế tiếp là Ấn Độ. Ông ta lên án TQ thi hành chính sách cấm đạo và đàn áp người Hồi giáo ở Tân Cương và kêu gọi tất cả những người Hồi giáo ở đại lục cùng đứng lên lật đổ chế độ phi nhân này.
Có lẽ vì đe dọa của IS, giữa tháng 9/2014 Tập Cận Bình đến Ấn Độ thúc đẩy mối quan hệ thương mại Ấn Trung. Hai nước đang có sự tranh chấp chủ quyền trên cao nguyên Ladakh trong dãy Hi Mã Lạp Sơn phía Tây Ấn Độ. Nơi đây từng xảy ra chiến tranh hồi năm 1962. Hai nước đã tổ chức 17 vòng đàm phán về biên giới từ năm 1990 đến nay, nhưng không đạt tiến triển nào đáng kể. Vì thế Thủ tướng Ấn Narendra Modi đặt điều kiện với họ Tập “Cần có hòa bình trong quan hệ của chúng ta ở biên giới. Nếu điều đó diễn ra, chúng ta có thể nhận ra tiềm năng thực sự trong mối quan hệ này”. Đáp lại họ Tập đồng ý với thủ tướng Ấn về việc hợp tác để giải quyết tranh chấp và Trung Quốc sẽ đi theo con đường phát triển hòa bình. TQ cam kết sẽ đầu tư 20 tỷ mỹ kim trong vòng 5 năm tới tại Ấn Độ.
Hiện nay IS đang chiến đấu ở Iraq, Syria và họ không dại gì tiếp tục hoạt động ở đây để bị không quân Mỹ tiêu diệt. Họ sẽ thực hiện chủ trương của IS và vua Hồi giáo,, chuyển hướng về Tân Cương và khu vực Trung và Nam Á bao gồm ba nước giáp giới với Nga trong Liên bang Sô Viết cũ là Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan. Mông Cổ, Afghanistan và bang Jammu, Kashmir của Ấn. Dân cư khu vực này đa số theo đạo Hồi, có nguồn tài nguyên phong phú về dầu và khí đốt. Riêng Tân Cương có nguồn trữ lượng than đá lớn nhất thế giới. Nơi đây còn là hành lang vận chuyển năng lượng và là nguồn tài nguyên cung cấp cho nhu cầu công nghiệp hóa ở TQ.
Tân Cương nằm ở vị trí địa lý có vai trò chiến lược quan trong ở lục địa Âu-Á, giúp Nga và Trung Quốc mở đường tiến ra Ấn Độ Dương. Vì thế TQ thường tố cáo Mỹ ủng hộ các phần tử ly khai Hồi giáo Duy Ngô Nhĩ đòi ly khai Tân Cương ra khỏi TQ. Tháng 6/2014 chính quyền Obama đã phóng thích 5 phiến quân quan trọng của Taliban chỉ để giải cứu Trung sĩ Bowe Bergdahl. Phải chăng Mỹ thả hỗ về rừng để khũng bố Hồi giáo khuấy động khu vực Trung Nam Á? Lực lượng IS chuyển hướng về khu vực này có lợi cho Mỹ, sẽ giúp ổn định tình hình ở Iraq, Afghanistan và Trung Đông…Nhưng sẽ là bất lợi trong tương lai đối với TQ, Nga và cả Ấn Độ nữa.
Vì hiểm họa IS đang hiện ra trước mắt, Tập Cận Bình sẽ không còn coi Biển Đông là “quyền lợi cốt lõi” của mình nữa. Đây còn là quyền lợi chiến lược của Mỹ, Ấn, Nga, Nhật, Úc và nhiều nước khác nữa, nên cần hợp tác vớ các quốc gia này xây dựng khu vực Á châu/TBD ổn định, hòa bình và thịnh vượng. Ngoài hiểm họa khủng bộ Hồi giáo, thế giới còn đang đối đầu với dịch bịnh hiểm nghèo Ebola. Dịch bịnh này cũng tai hại không kém thiên tai và địch họa do chiến tranh gây ra. Nhất là TQ với dân số đông nhất thế giới, sẽ chết chóc nhiều và tốn kém lớn lao.
Nhân kỷ niệm lần thứ 25 bức tường Bá Linh sụp đổ (10/11/1989) cựu lãnh tụ LS Gorbachev nói rằng dịch bịnh Ebola và phiến quân IS là những nguy hiểm mà thế giới đang trực diện có thể giúp các nước thù nghịch đến gần nhau hơn. Điều nhận xét của người từng được giải Nobel hòa bình nhờ công lao cải cách dân chủ làm sụp đổ chủ nghĩa CS một cách êm thắm, đã thể hiện rõ tại các hội nghị thượng đỉnh APEC ở Bắc Kinh, thượng đỉnh ASEAN và Đông Á ở Miến và G20 ở Úc hồi gữa tháng 11 vừa qua. Nguyên thủ các cường quốc gặp nhau trong không khí hòa dịu, đều tỏ thiện chí hợp tác cùng nhau giải quyết những tai họa lớn.
Hiểm họa IS đã khiến Trung Quốc tạo ra biến cố giàn khoa HD 981 để có cơ hội bắt tay và hợp tác với Mỹ chống khủng bố của nhóm Hồi giáo cực đoan. Biến cố này giúp người Việt thấy được những gì? Một là qua Công hàm 1958 của TT Phạm Văn Đồng, chứng minh CSVN đã bán nước từ thời ông HCM. Bắc Kinh còn nhắc đến những thỏa thuận cấp cao giữa hai Đảng và hai nước về mối quan hệ Việt Hoa. Thỏa hiệp Thành Đô 1990 cho thấy CSVN đã đưa đất nước vào thời kỳ Bắc thuộc mới. Đó là nhận định của một Ủy viên Bộ chính trị - Phó thủ tướng kiêm bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch. Sau đó là “phương châm 16 chữ và 4 tốt” dưới thời Lê Khả Phiêu, CSVN đã ký hai hiệp ước biên giới với TQ. Đó là hai hiệp ước bán nước trắng trợn dưới thời CSVN đưa một tướng lãnh giữ địa vị Tổng bí thư Đảng. Nhiệm vụ của Quân đội nhân dân bảo là vệ đất nước hay là bán nước để bảo vệ Đảng?
Hai là, đây là lần thứ tư, TQ trở mặt với CSVN để hợp tác với Mỹ. Ba lần trở mặt trước mà CSVN gọi là “bị TQ phản bội” đã đưọc trình bày trong Văn kiện ngoại giao của Hà Nội, tựa đề “Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua” công bố hồi tháng 7/1979. Phản bội lần 1 ở Hội nghị Genève 1954, lần 2 ở Hội nghị Paris 1973 và lần 3 thiếp lập bang giao với Mỹ và xua quân tấn công VN.
Hai sự thật trên làm cho nhóm Đảng của TBT Nguyễn Phú Trọng có khuynh hướng thân TQ lâm vào yếu thế vì Bắc Kinh không còn ủng hộ CSVN nữa. Thời gian gần đây tình báo Hoa Nam còn tung những tin nhằm hạ uy tín ông HCM -người sáng lập Đảng CSVN. Chẳng hạn như ông HCM là người Tàu Đài Loan, sắc tộc Hẹ (Hakkard) tên Hồ Tập Chương bí danh Hồ Quang, ủy viên Quốc tế CS. Trên mạng còn có hình Hồ Quang hồi năm 1938 là Thiếu tá Quân giải phóng TQ. Năm 1943 Hồ Quang về hang Pác Bó mang tên Hồ Chí Minh. Không biết tin tức trên thực hư như thế nào, nhưng rõ ràng đã làm mất uy tín Đảng CSVN.
Quay mặt với CSVN, nhưng TQ không sợ sẽ đẩy TT Nguyễn Tấn Dũng ngã về phía Mỹ để chống TQ vì Mỹ không có chủ trương này. Chính quyền Obama đã nói rõ HK không tìm cách kiềm hãmTQ, mà còn mong muốn TQ phát triển thịnh vượng. Đó là chủ trương của Mỹ đã có từ khi Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ra đời hồi năm 1949, Mỹ chỉ ngăn chận không để TQ bành trướng ảnh hưởng bằng vũ lực.
Năm 1954 HK thành lập Liên Phòng ĐNÁ (SEATO) để ngăn chận sự bành trướng của TQ. Nhờ chiến tranh VN, đầu thập niên 1970, vòng vây ngăn chận TQ kéo dài từ Đông Bắc xuống Đông Nam Á Châu đã thiết lập xong. Ngoài Nhật, Đài Loan, Úc, Tân Tây Lan, Singapore, Mã Lai là thân hữu của Mỹ, các nước còn lại như Phi Luật Tân, Nam Dương, Thái Lan, Cam Bốt và VNCH đều do các tướng lãnh thân Mỹ lãnh đạo. Mục tiêu ngăn chận sự bành trướng của TQ đã hoàn tất. Hiệp hội các nước ĐNÁ tức ASEAN ra tuyên bố, đây là khu vực hòa bình, tự do và trung lập. Năm 1971 Mỹ giúp TQ nâng cao uy thế trên chính trường quốc tế nên không dùng quyền phủ quyết giúp TQ gia nhập LHQ, trở thành Ủy viên thường trực HĐBA.
Sau Thế chiến II, HK đã giúp các nước bại trận Đức, Ý, Nhật phục hồi đất nước sau chiến tranh. Hai mươi năm sau, cả ba trở thành những cường quốc, ngang hàng với 4 nước Anh, Pháp, Mỹ và Gia Nã Đại từng đánh bại họ, hình thành khối Thất cường G-7, là những nước có nền kinh tế hùng mạnh nhất thế giới. Tất cả đều là đồng minh của HK. Đó là thái độ “anh hùng mã thượng” có một không hai trong lịch sử các quốc gia. Vì thế HK trở thành cường quốc số 1, chi phối cả thế giới.
Sau khi Liên Sô sụp đổ, Mỹ tận tình viện trợ giúp TT Nga Yelsin vượt qua các khó khăn trong giai đoạn hậu cộng sản. Đến khi Putin kế vị, nhờ giá dầu tăng nhanh, Nga trở nên hùng mạnh. Mới đây Nga can dự vào nội tình Ukraine bị khối Thất cường G-7 và Cộng đồng Châu Âu (EU) cấm vận trở nên khốn đốn, lại bị trời hại vì giá dầu đột nhiên sụt giảm.
Chiến tranh VN chấm dứt, HK rút khỏi ĐNÁ, mà còn giúp Đặng Tiểu Bình “hiện đại hóa” Trung Quốc. Ngày nay TQ trở nên hùng mạnh, vẽ bản đồ chín đoạn với tham vọng độc chiếm Biển Đông, bắt buộc HK phải trở lại Châu Á. Lần này, HK được Nhật cộng tác, nước này vừa tu sửa Hiến pháp, tăng cường vũ trang để bảo vệ quyền lợi chiến lược của mình và hợp tác với quốc tế bảo vệ hòa bình thế giới. Do đó TQ phải nhưọng bộ, không đối đầu với Mỹ nữa, trái lại còn hợp tác để bảo vệ quyền lợi cốt lõi của mình hiện nay, không phải ở Biển Đông mà là Tân Cương.
Chủ trương ngăn chận TQ độc chiếm Biển Đông kể như xong, HK cần gì lôi kéo TT Nguyễn Tấn Dũng để chống TQ. Trái lại TT Obama còn hợp tác chặt chẽ hơn nữa với TQ trong cuộc chiến chống khủng bố quốc tế cũng như ủng hộ TQ trong cuộc chiến chống khủng bố ở Tân Cương. Obama đã tuyên bố như vậy với báo chí TQ trước khi lên đường đi BK tham dự hội nghị thượng đỉnh APEC.
Thời điểm hiện nay vô cùng thuận lợi đối với TT Nguyễn Tấn Dũng, giúp ông thực hiện đường lối độc lập tự chủ cho VN mà không làm cho TQ lo ngại. Cuối tháng 5/2013, tại Diễn đàn Đối thoại Shangri-la ở Singapore, ông Dũng đã cổ vũ việc hợp tác quốc tế, xây dựng khu vực Á châu-Thái Bình Dương hòa bình, ổn định và phát triển. Ông tuyên bố “Việt Nam chúng tôi có niềm tin sâu sắc vào tương lai tươi sáng trong hợp tác phát triển của khu vực”. Kế hoạch này dựa vào ASEAN và “vai trò lớn của hai cường quốc. Đó là Trung Hoa đang trổi dậy mạnh mẽ và HK là cường quốc Thái Bình Dương”. Thủ tướng NTD tuyên bố đứng về phía ASEAN và khẳng định “VN không là đồng minh quân sự của nước nào và cũng không liên minh với nước này để chống lại nước khác”.
TT Dũng tin tưởng tương lai tươi sáng của VN dựa vào ASEAN và “vai trò lớn của hai cường quốc Trung Hoa và Hoa Kỳ”. Người viết xin được sơ lược nhắc lại những gì mà hai cường quốc trên đã thỏa thuận trong 60 năm qua về khu vực ĐNÁ. Năm 1954 tại Hội nghị Genève 1954 về Đông Dương, hai bên thỏa thuận để Miên và Lào trung lập, còn VN vì cuộc xung đột Quốc Cộng nên tạm thời bị chia đôi. Năm 1960, Hà Nội phát động cuộc chiến giải phóng MN, họ vi phạm quy chế trung lập của Lào, đưa quân vào Nam Lào thiết lập đường mòn HCM để vận chuyển người và vũ khí vào MN. Hội nghị Genève 1962 về Lào được triệp tập để tái xác định qui chế trung lập của Lào. HĐ Paris 1973 về VN, TQ và HK thỏa thuận để MNVN, Lào và Cam Bốt được trung lập. Trước đó, vào năm 1971, Hiệp hội các nước ASEAN đã ra tuyên bố ĐNÁ là khu vực hòa bình, tự do, trung lập.
Tóm lại, trung lập là chủ trương chiến lược của Mỹ ở ĐNÁ đã được sự đồng thuận của TQ trong 6 thập niên qua. Điều bất hạnh của dân tộc là những người lãnh đạo không khôn khéo, biết nương theo thế cờ của các cường quốc, để mang lại lợi ích cho đất nước. Vì thế, VN lâm vào cuộc chiến tàn khốc kéo dài quá lâu, một phần lãnh thổ đã lọt vào tay TQ mà còn bị TQ khống chế nặng nề. Có điều may mắn là hiện nay vì hiểm họa IS, khiến TQ phải buông VN. TT Nguyễn Tấn Dũng có lẽ rút tĩa được lỗi lầm những người tiền nhiệm, nhận thức được con đường mà VN phải đi bằng sự khẳng định “Việt Nam không liên minh với nước này để chống lại nước khác” Điều này làm cho TQ an lòng vì VN vẫn duy trì tình hữu nghị với TQ.
Trong chuyến viếng thăm 4 nước Á châu Nhật, Hàn Quốc và hai nước ASEAN Mã Lai và Phi Luật Tân hồi cuối tháng 4/2014, TT Obama đã đưa ra một thông điệp gồm 3 điểm chính: (1) Chính sách của Washington đối với châu Á không phải nhằm để kiềm chế sức mạnh của TQ. (2) HK không ngã về bên nào trong các vụ tranh chấp, bất luận ở biển Đông Trung Hoa hay biển Nam Trung Hoa. (3) Mỹ không yêu cầu các nước Châu Á phải chọn giữa Washington hay Bắc Kinh. (Lữ Giang: Xảo thuật giàn khoan của Trung Quốc). Điểm 3 này cho thấy HK muốn các nước Châu Á đặc biệt là ASEAN trong đó có VN chọn con đường trung lập, điều này phù hợp với phát biểu của TT Nguyễn Tấn Dũng ở Singapore năm trước.
Đề cập đến trung lập, người viết liên tưởng đến Giáo sư Vũ Quốc Thúc và việc vận động cho Việt Nam được hưởng quy chế trung lập theo quốc tế Công pháp, được ông trình bày trong quyển hồi ký lịch sử Thời Đại Của Tôi -Cuốn II: Đời tôi trải qua các thời biến, Người Việt xuất bản năm 2010. Quyển sách viết bằng tiếng Việt, nhưng mới đây được dịch sang tiếng Anh, vừa được xuất bản tại Mỹ. Đây là điều khiến tác giả cũng ngạc nhiên. Riêng người viết nghĩ rằng người Mỹ đã biết tiếng Gs Thúc qua Phúc trình Stanley/VuQuocThuc đệ trình TT Kennedy hồi giữa năm 1961 và Kế hoạch Hậu chiến Lilienthal/VuQuocThuc đệ trình TT Johnson năm 1968.
Phúc Trình Lilienthal-Vũ Quốc Thúc (1968) về kế hoạch tái thiết kinh tế hậu chiến VNCH, được nhà xuất bản danh tiếng Praeger, NY xuất bản (Lilienthal, D.E. & Vu, Quoc Thuc: The Postwar Development of the Republic of Vietnam: Policies and Programs, New York: Praeger, 1970). Kế hoạch này đã được Bộ Ngoại thương của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dùng làm sách tham khảo với tên gọi "Kế hoạch phát triển kinh tế miền Nam Việt Nam 10 năm sau chiến tranh của Mỹ-nguỵ" xuất bản tại Hà Nội năm 1971 (375 trang). Và sau này được Giáo sư Đặng Phong một người bạn thân của nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt tham khảo trong việc đề ra chiến lược phát triển kinh tế cho Việt Nam.
Có lẽ vì thế mà người Mỹ muốn đọc sách của ông để hiểu rõ hơn về các biến cố của VN trong thời gian qua và nhất là những đề xuất của ông viết trong sách. Ngày 8/12 vừa qua, Đài RFI đã phỏng vấn Gs Thúc về sự kiện này. Đáp câu hỏi “Giáo sư có hy vọng là cuốn hồi ký này, khi được dịch sang tiếng Anh và xuất bản tại Hoa Kỳ, sẽ có tác động phần nào đến dư luận Mỹ, để họ hiểu rõ hơn về hoàn cảnh của Việt Nam trước đây và hiện nay? Gs Thúc trả lời: “Tôi không dám ngông cuồng đến độ tin rằng cuốn sách của tôi sẽ làm sáng tỏ hơn nhiều chuyện… Nhưng tôi thấy rằng ở Hoa Kỳ, trước khi ra một biện pháp gì đó, hay thay đổi một chính sách nào đó, người ta thường thăm dò dư luận. Tôi coi việc phổ biến hồi ký của tôi phần nào như là một cách để họ thăm dò dư luận, không chỉ trong người Mỹ gốc Việt, mà cả những người Mỹ khác và dư luận thế giới. Còn cuốn sách của tôi sẽ có tác động gì đến chính sách của Hoa Kỳ hay không, thì quả thật tôi không dám tin như thế, vì Hoa Kỳ có chính sách của họ, họ cứ làm. Ở đây họ chỉ thăm dò dư luận. Có thể họ sẽ dùng cuốn sách của tôi để biện minh cho một số biện pháp mà họ sẽ thi hành. Đó là hy vọng của tôi thôi.”
RFI hỏi Gs Thúc về sự kiện TQ đưa dàn khoan dầu HD 981 vào hải phậnVN, thái độ của giới lãnh đạo ở Hà Nội không muốn đối đầu với Bắc Kinh và đề xuất về quy chế trung lập được giáo sư trình bày trong sách Thời Đại Của Tôi. Giáo sư trả lời, từ đó đến nay càng ngày tôi càng thấy phấn khởi. TQ đã rút dàn khoan, đây là thời điểm thuận lợi để VN thực hiện con đường độc lập tự chủ. Độc lập phải gắn liền với trung lập và hòa bình. Đứng về siêu cường này hay siêu cường kia thì làm sao độc lập được mà còn đưa đến xung đột chiến tranh.Gs Thúc khẳng định “Đối với tôi, không có chuyện lựa chọn giữa Hoa Kỳ hay Trung Quốc, mà chỉ có con đường duy nhất là chọn lựa Việt Nam, tranh đấu cho Việt Nam. Phải nghĩ đến quyền lợi lâu dài của dân tộc. Phải chọn con đường vì Dân tộc”.
Trong Lời Mở Đầu sách Thời Đại Của Tôi Cuốn I:Nhìn lại 100 năm lịch sử, do Bạn Văn xuất bản năm 2009, Giáo sư Vũ Quốc Thúc tin tưởng: “Tương lai đất nước tùy thuộc rất nhiều ở cách suy tư cũng như xử sự của mọi người Việt, đặc biệt của những kẻ đang cầm quyền”. Người viết kỳ vọng ngày nay những sự thật của lịch sử đã sáng tỏ, mọi giới đồng bào nên dành cho đất nước những phút suy tư, có trách nhiệm đối với sự tồn vong và phát triển của dân tộc.
Trong sách Thời Đại Của Tôi, Gs Thúc còn đề cập đến việc ông vận động vãn hồi Hiệp định Paris 1973 hồi năm 1987. Nay sách vừa được dịch sang tiếng Anh và phổ biến thì Cali Today News loan tin ngày 5/12/2014 tại Thượng viện Quốc hội Gia Nã Đại đã diễn ra một “Bàn tròn về tranh chấp biển đảo ở Biển Đông/Nam Hải và bản Hiệp định cuối cùng về Hòa bình ở Việt Nam năm 1973 (The Roundtable on the South-China Sea Territorial Dispute and the Final 1973 Peace Accord on Vietnam” (tiếng Anh) hay “La table ronde sur le conflit territorial en mer de Chine méridionale et l’Accord de Paix Final de 1973 sur le Vietnam” (tiếng Pháp). Sở dĩ sinh hoạt này có tên tiếng Anh và Pháp là vì mọi tài liệu chính thức của Quốc hội Canada đều phải dùng hai thứ tiếng chính thức của nước này.
Đây là bàn tròn do Thượng Nghĩ Sĩ Ngô Thanh Hải tổ chức với sự hiện diện và tiếp tay của TNS Lang, Chủ tịch Ủy ban thường trực về Quốc phòng và An ninh của Thượng viện Canada, TNS Andreychuck, Chủ tịch Uỷ ban thường tực về Ngoại giao và Thương mại quốc tế và ông David W. KIlgour, nguyên là Phó chủ tịch Hạ viện Canada và Bộ trưởng Ngoại giao đặc tránh Á châu/Thái Bình Dương.
Điều 1 HĐ Paris 1973 xác định rõ HK và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định Genève 1954 đã công nhận. Ngày 28/2/1973 một Hội nghị Quốc tế về VN diễn ra ở Paris, có sự tham dự đầy đủ của 5 thành viên thường trực Hội đồng Bảo An (có TQ) và 4 nước thuộc Ủy hội Quốc tế kiểm soát và giám sát việc ngưng bắn (có Canada) đã long trọng ký bản Định ước của Hội nghị Quốc tế về VN trước sự chứng kiến của ông TTK/LHQ Kurt Waldheim, tuyên bố tán thành và ủng hộ hiệp định Paris 1973.
TQ đã ký bản Định ước trên, nhưng tháng Giêng năm sau lại đánh chiếm Hoàng Sa của VNCH, xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ của nước VN. Nay Canada cũng là nước đã ký bản Định ước trên lên tiếng để minh chứng sự chiếm đóng Hoàng Sa của TQ là bất hợp pháp. Đây là cơ sở pháp lý có lợi cho Hà Nội trong việc đàm phán với TQ giải quyết vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa một cách êm thắm. Nhân dịp cuộc họp bàn tròn này, cựu Quốc Vụ Khanh VNCH Lê Trọng Quát từ Paris gởi lá thư nhờ TNS Ngô Thanh Hải chuyển đến Thủ tướng Stephen Harper của Canada, nói lên nguyện vọng của người dân MN (và toàn dân VN nói chung) phải được quyền tự quyết dân tộc đúng như tinh thần HĐ hòa bình Paris 1973.
Chọn con đường trung lập là giải pháp hợp tình, hợp lý của VN để thoát sự kềm chế của TQ vừa giữ được tình hữu nghị với TQ. Tháng 6/2014 ông Dũng đã khôn khéo bày tỏ với Dương Khiết Trì: “VN luôn ghi nhớ, biết ơn sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của TQ, luôn coi trọng việc giữ gìn, tăng cường và phát triển quan hệ hợp tác toàn diện bình đẳng cùng có lợi, cùng phát triển giữa VN-TQ”. Ngày 16/10/2014 bên lề cuộc họp thượng đỉnh Á-Âu (Asia-Europe Meeting gọi tắt ASEM) ở Milan (Ytalia), hai thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Lý Khắc Cường của TQ đã đồng ý hai nước sẽ “xử lý thỏa đáng” các tranh chấp trên biển và duy trì quan hệ tốt giữa hai nước.
Để giữ tình hữu nghị Việt Trung, VN không kiện TQ trước Tòa án quốc tế như Phi Luật Tân đã làm. Nhưng đầu tháng 12 vừa qua, Hà Nội đã gởi đến Tòa án trọng tài Thường trực về Luật Biển (ITLOS) ở La Haye (Hòa Lan) bản Tuyên bố quyền lợi (Statement of interest) trong đó VN công nhận thẩm quyền của Tòa án trong việc thụ lý đơn kiện của Philippines. Và khi xem xét đơn kiện TQ của Philippines, Toà án nên quan tâm thích đáng đến quyền lợi hợp pháp của VN tại vùng biển Hoàng Sa, Trường Sa và vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của VN. Việt Nam bác bỏ toàn bộ yêu sách Đường 9 đoạn của TQ vì không có cơ sở pháp lý.
Tại Hội nghị thượng đỉnh APEC ở Bắc Kinh tháng 11 vừa qua, Chủ tịch TQ Tập Cận Bình đã tiếp đón TT Obama hết sức ưu ái. Ông mời tổng thống Mỹ dùng bữa cơm tối tại Trung Nam Hải, trụ sở Đảng CSTQ -biểu tượng quyền lực tối cao của TQ. Theo báo Le Monde, đây là một động thái ưu ái đặc biệt dành cho một nguyên thủ nước ngoài. Buổi ăn tối có thể là nơi dẫn đến nhiều thỏa thuận quan trọng. Người viết tin rằng mục tiêu lớn của Tập Cận Bình hiện nay là nhờ Mỹ giúp TQ chống lực lượng IS ở Tân Cương và thuyết phục Obama chấp nhận đề xuất của TQ về “mối quan hệ kiểu mới” giữa hai nước, theo đó Mỹ công nhận sự đồng đẳng và không đối đầu với TQ để cùng lãnh đạo thế giới trong thế kỷ 21. Nhờ IS mà HK ở vào thế mạnh đối với TQ trong việc đàm phán những vấn đề lớn của thế giới
Rời Bắc Kinh, TT Obama đến Miến Điện tham dự hội nghị thượng đỉnh Đông Á. Chiều 13/11/2014 TT Obama đã hội đàm với TT Dũng tại phòng khách của phái đoàn Mỹ. TT Obama đã ra tận chỗ rẽ hành lang cách phòng họp gần 20 mét để đón TT Dũng. Cuộc họp dự trù 30 phút nhưng kéo dài đến 50 phút. TT Dũng mời TT Obama thăm VN, ông trả lời “tôi và vợ tôi rất muốn thăm VN từ lâu, nhưng chưa có cơ hội. Mong hai bên thu xếp sớm để sang năm vợ chồng tôi thăm VN nhân dịp mối quan hệ chúng ta tròn hai mươi tuổi”. Vấn đề Biển Đông kể như đã tạm xong, chương trình nghị sự giữa Mỹ và VN có lẽ TPP là chủ đề chính.
Hai mươi năm trước, vào ngày 11/7/1995, TT Bill Clinton tuyên bố bình thường hóa bang giao với VN. Ông nói “Bằng việc giúp đưa VN hòa nhập cộng đồng các dân tộc, việc bình thường hóa còn phục vụ lợi ích của chúng ta trong việc phấn đấu cho một nước VN tự do và hòa bình ở Châu Á ổn định và hòa bình…Chương trình này đòi hỏi phải có sự thừa nhận về các quyền con người. Tôi tin rằng việc bình thường hóa sẽ thúc đẩy sự nghiệp tự do ở VN như đã từng diễn ra ở Đông Âu và Liên Sô trước đây. Tôi tin tưởng mạnh mẽ rằng việc lôi cuốn người VN vào mặt trận cải cách kinh tế và cải cách dân chủ. Dân chủ sẽ giúp tôn vinh sự hy sinh của những người đã chiến đấu vì tự do ở VN. Những người Mỹ dũng cảm đã chiến đấu và bỏ mình ở đó đều có những động cơ cao cả. Họ đã chiến đấu vì tự do và độc lập của nhân dân Việt Nam”.
Ngày nay, Hà Nội hội nhập với thế giới và duy trì được quan hệ tốt với TQ, TT Nguyễn Tấn Dũng sẽ rảnh tay thực hiện việc thay đổi thể chế vì Đảng CSVN đã có những lỗi lầm nghiêm trọng đối với đất nước. Các xí nghiệp quốc doanh có nhiều khiếm khuyết đã làm kinh tế đất nước trì trệ, nợ công chồng chất đến mức báo động, phải bị hủy bỏ. Việc trả tự do và đưa nhà đấu tranh cho dân chủ Điếu Cày Nguyễn Văn Hải sang Mỹ đúng vào ngày Tom Malinowski -Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ đặc trách Dân chủ, Nhân quyền và Lao động đến thăm VN, cho thấy Hà Nội sẽ đáp ứng những đòi hỏi của Mỹ trong việc cải tổ chính trị, lao động và nhân quyền. Những yếu tố này sẽ giúp VN gia nhập TPP. Đây là con đường giúp VN quan hệ hợp tác với Mỹ, vừa giúp đất nước phát triển, vừa mang lại dân chủ tự do cho dân tộc. Khi đó, mối bang giao với HK mới chính thức hoàn thiện để chào đón TT Obama đến thăm VN năm 2015 –đánh dấu 20 năm mối bang giao Việt Mỹ.
TT Obama cũng vừa có một quyết định lịch sử là bình thường hóa bang giao với Cuba sau hơn nửa thế kỷ gián đoạn. Nhớ lại sau ngày 30/4/1975, TBT Lê Duẩn và Fidel Castro đều tưởng rằng Đế quốc Mỹ bắt đầu giẫy chết. Cuba theo LS từ 1961, nay mới dịp tung hoành. Ông ta dùng Cuba làm chỗ dựa xuất khẩu cách mạng sang các nước láng giềng như Nicaragua, El Salvador…để bành trướng ảnh hưởng LS ở Trung Mỹ. Còn CSVN xua quân sang Phnom Penh để mở rộng ảnh hưởng LS ở Đông Dương. Nhưng kết cuộc không ai ngờ, “đồng chí kính yêu” Breznhev từ trần, sau đó LS sụp đổ. CSVN quay về thần phục TQ. Còn Cuba nhờ đồng chí Hugo Chavez của Venezuala, nhờ được thiên nhiên ưu đãi có nhiều nguồn dầu khí, ra tay đùm bọc. Hai năm trước Chavez từ trần, nay giá dầu sụt giảm mạnh, chỗ dựa vào Venezuala không còn bảo đảm, Cuba phải vận động để bình thường hóa bang giao với Mỹ. Cả hai Cuba và CSVN đều dựa vào ngoại bang để duy trì quyền lực, nay trời xui đất khiến, cục diện đổi thay, anh hùng phải tận số.
Trong nhiệm kỳ đầu, TT Obama đã triệt hạ Bin Laden, kẻ đã chủ mưu khủng bố, lao phi cơ tự sát vào Ngũ Giác Đài -biểu tượng sức mạnh quân sự và Tháp đôi ở Nữu ước -biểu tượng sức mạnh kinh tế của Mỹ. Nhiệm kỳ hai, TT Obama bình thường hóa bang giao với Cuba và hoàn thiện mối bang giao với CSVN. Ông đã hoàn tất công việc mà 10 vị tổng thống tiền nhiệm đã tận lực đeo đuổi.
*
Với chủ trương hội nhập với thế giới, từ đầu năm 2014, TT Nguyễn Tấn Dũng đã tham dự nhiều hội nghị thượng đỉnh và hội đàm song phương với hàng chục nguyên thủ quốc gia kể cả Đức Giáo Hoàng. Uy tín của ông trên chính trường quốc tế được nâng cao. Năm 2015, CSVN chuẩn bị nhân sự cho Đại hội Đảng XII năm 2016, ông NTD có nhiều con đường để tung hoành. Theo tiền lệ, lúc đó TT Dũng đã trên 65 tuổi và là ủy viên Bộ CT hai khóa X và XI, ông phải ra đi. Với uy tín lớn hiện nay, có thể Đảng sẽ du di để ông tiếp tục phục vụ một khóa nữa, ông sẽ phụ trách Tổng bí thư Đảng hoặc Chủ tịch nước nếu ông Trương Tấn Sang làm Tổng bí thư. Trong vai trò này, ông hoặc ông TTS sẽ kêu gọi BCH/TƯ Đảng ủng hộ để thực hiện việc thay đổi thể chế. Việc này sẽ tiến hành từ sau năm 2016, nhưng thời gian không cho phép khi cục diện thế giới thay đổi quá nhanh, chuyển biến từng giờ, từng phút.
Nếu tình huống xấu hơn, BCH/TƯ Đảng có thể dựa vào lý do tập thể Bộ chính trị đã nhận khuyết điểm trong Hội nghị 6, phải ra đi, hoặc một số nhân vật nào đó trong đó có NTD phải ra đi. Điều này khó có thể xảy ra vì hiện nay ông NTD được đa số ủy viên TƯ Đảng ủng hộ. Nhưng nếu nó xảy ra, ông Dũng không bao giờ chịu để mất quyền lực một cách dễ dàng như vậy, ông sẽ triệu tập một kiểu Đại hội Đảng đặc biệt như Gorbachev đã làm trước đây, để ủng hộ ông cải tổ thể chế, Đảng tuyên bố từ bỏ vai trò lãnh đạo, Quốc hội xóa điều 4 trong Hiến pháp, tổ chức bầu cử đa đảng. Ông Dũng sẽ thành lập Đảng Xã hội chủ nghĩa dân chủ mà trước đây ông Lê Khả Phiêu cho rằng ông Võ Văn Kiệt đã manh nha hình thành nó trong Đảng.
Tôi tin rằng TT Nguyễn Tấn Dũng sẽ được bố trí tiếp tục phục vụ sau Đại hội Đảng XII, nhưng năm 2015 này ông sẽ “chớp thời cơ” thực hiện việc Đổi mới thể chế, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, được đề cập trong thông điệp đầu năm 2014 của ông. Đây là một nhu cầu bức thiết của đất nước hiện nay. Trong bài viết chào mừng năm mới 2015 của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, được Thanh Niên online phổ biến với phụ đề “Đón bắt thời cơ, phát huy sức mạnh của toàn dân, bảo vệ lợi ích Quốc gia Dân tộc, đưa đất nước tiếp tục tiến lên”.
Trong bài viết này coi như Thông điệp đầu năm 2015 của Chủ tịch nước, ông Trương Tấn Sang có những câu khẳng định “Có dân là có tất cả, mất dân là mất tất cả. Chúng ta không sợ bất cứ kẻ thù nào dù là hung bạo nhất, chỉ sợ mất lòng dân. Lòng dân, đó là quốc bảo dựng nước và giữ nước Việt Nam! Vì hiện nay có kẻ lăm le lấn đất, lấn biển, chiếm đảo của ta. Chỉ có sự đồng lòng, nhất trí của toàn dân, khối đại đoàn kết toàn dân tộc mới là sức mạnh vô địch để chúng ta vượt qua mọi sóng to, gió lớn của thời cuộc”. (Hết trích)
Muốn được lòng dân, đó là quốc bảo để giữ nước Việt Nam trong thời điểm hiện nay, không còn con đường nào khác là Đảng CS phải trao quyền lại cho Nhân Dân. Người dân sẽ trực tiếp bầu người lãnh đạo đất nước và Quốc hội thảo ra Hiến pháp mới với tam quyển phân lập mà TT Nguyễn Tấn Dũng đã gợi ý trong bài viết xuất hiện trên webside của ông hồi tháng 3/2014. Ông sẽ trở thành tổng thống.
Tóm lại, VN theo mô hình của LS, nên điều gì đã xảy ra ở LS năm 1991 cũng sẽ xảy ra ở VN trong năm 2015 hoặc trể lắm là 2016, có thể nhẹ nhàng có thể gay gắt, nhưng chế độ CS phải cáo chung. Lúc đó, khát vọng chuyển đổi chế độ từ độc tài cộng sản sang dân chủ tự do của đồng bào có cơ may thành tựu. Sở dĩ “Bất chiến tự nhiên thành” là nhờ những biến cố bất ngờ xảy đến làm đảo lộn tất cả. Tôi tin đó là do cơ trời xui khiến, thiên cơ huyền diệu, để dứt sổ một chế độ độc tài phi nhân mà “trời không dung, đất không tha” đã làm hại cả dân tộc trong hơn nửa thế kỷ qua.
Những đột biến đó xảy ra trong năm Ngựa hay Mã (Giáp Ngọ) 2014, khiến người viết nhớ đến mấy câu sấm của cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm được truyền tụng trong dân gian từ bấy lâu nay: “Mã đề, Dương cước anh hùng tận. Thân Dậu niên lai kiến thái bình”. Năm nay là năm con Dê hay Dương (Ất Mùi) 2015, anh hùng sẽ tận số. Anh hùng ở đây là CSVN vì những gì của họ đều tự nhận là anh hùng, nào là nhân dân anh hùng, quân đội nhân dân anh hùng, anh hùng lao động v.v… Như vậy, năm nay 2015, theo số trời đã định CSVN tất sẽ cáo chung, mở đường đưa Đất nước bước vào kỷ nguyên mới Độc lập, Dân chủ, Tự do, Thịnh vượng, Thanh bình.
Lê Quế Lâm
Thảm hoạ của độc đoán, chuyên quyền
Một "Quan Làm Báo" khác
Giống như trang "Quan Làm Báo", trang "Chân Dung Quyền Lực", ra đời vào giữa tháng 12 năm 2014, đã gây tiếng vang trong dư luận.
"Quan Làm Báo" xuất hiện vào lúc các hội nghị trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) chuẩn bị nhóm họp lần thứ 6, thứ 7, khi xảy ra cuộc tranh giành ảnh hưởng, hay đúng hơn, cuộc xung đột giữa Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang với Nguyễn Tấn Dũng, thậm chí cho khả năng loại bỏ Nguyễn Tấn Dũng khỏi ghế Thủ tướng.
Nếu như "Chân Dung Quyền Lực" được "Nikkei Asian Review", một trong những cơ quan truyền thông lớn nhất Nhật Bản đưa tin, thì "Quan Làm báo" vào thời gian ấy cũng được nhiều tờ báo nước ngoài nói đến.
Về cuộc xung đột giữa Sang-Trọng và Dũng, tờ "Bangok Post" ngày 15 tháng 10, 2012 viết:
"Dẫn đầu cuộc tấn công vào ông Dũng không ai khác là Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, người đã rọi ánh sáng vào những vụ bê bối xung quanh thủ tướng và chính phủ của ông. Nền kinh tế chậm chạp, lạm phát, tham nhũng và khủng hoảng ngân hàng trong những tuần gần đây đã được xem là tất cả các tiêu cực đối với ông Dũng".
Cũng tháng 10/2012, trong bài "Úm bà la, chúng ta tha chúng mình", lấy ý "We forgive us" của tờ "The Economist" tôi đã viết:
"Đặt cược quá cao, có lúc một ăn tới một trăm, nên bị cháy túi, "Quan Làm Báo" suốt hai tuần Hội nghị Trung ương 6 họp kín, đã không mò ra được thông tin nào khả tín. Những cơn gió từ các dữ kiện bê bối mà "Quan Làm Báo" trong gần nửa năm nỗ lực tạo nên, dường như đã thổi vào nhà hoang. Sau cuộc chơi, ta nhìn thấy một "Quan Làm Báo" khác, có vẻ đã thấm mệt, chất liệu thông tin gây sốc kém hẳn!"
"Ngay sau cơn sóng gió, hình ảnh Nguyễn Tấn Dũng đi duyệt binh oai vệ bên cạnh Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang, một yếu nhân được "Quan Làm Báo" đặt ở phía Sang-Trọng, có thể chưa hẳn nói lên hết sức mạnh của ông Dũng trong thế chân kiềng kinh tế-an ninh-quân đội, nhưng là một tín hiệu thách thức cho bất cứ ai muốn làm suy chuyển chiếc ghế Thủ tướng của ông ta và cho cuộc mặc cả tiếp theo. Cứ xem sự hỉ hả, có phần lấc cấc của bà Hồ Thu Hồng, người được dư luận cho là thân cận với tướng công an Nguyễn Văn Hưởng, cựu cố vấn của Nguyễn Tấn Dũng, thì thấy.
"The one-man -show" kịch tính của Hội nghị Trung ương 6, được kết thúc bằng "The Day After Show" hoành tráng!
Ông Nguyễn Phú Trọng lúc bấy giờ run lên như sắp bật khóc khi nói về những sai lầm của đảng trong báo cáo tổng kết. Dấu hiệu bất lực kết thúc cuộc chiến Sang-Trọng và Dũng với giải pháp thoả hiệp "chúng ta tha chúng mình"!
Với đà chiến thắng, tới hội nghị Trung ương 7, Nguyễn Tấn Dũng đã làm chủ tình hình, gần như "mua đứt" gần 200 uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương, mà đa phần là các bộ trưởng, thứ trưởng trong nội các và lãnh đạo các tỉnh được ông bổ nhiệm và phân bổ lợi ích. Ý đồ đưa Nguyễn Bá Thanh, Trưởng Ban nội Chính vào Bộ Chính Trị của Nguyễn Phú Trọng bị chặn đứng bằng việc Ban Chấp hành Trung ương giới thiệu thêm các nhân vật khác để bỏ phiếu. Và hai người nằm ngoài ý muốn của Nguyễn Phú Trọng là Nguyễn Thị Kim Ngân, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội cùng Nguyễn Thiện Nhân, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ, lọt vào Bộ Chính Trị.
Từ hội nghị Trung ương 7 đến hội nghị Trung ương 10 là thời gian khá dài ông Dũng củng cố vị trí, chấn chỉnh một số chính sách.
Mặc dầu bức tranh kinh tế vĩ mô của Việt Nam ảm đạm với nợ công tăng nhanh, nợ xấu chồng chất và tình trạng phá sản của các doanh nghiệp tư nhân, mức tăng trưởng kinh tế năm 2014 cao hơn so với dự kiến, 5,9% (5,42 % năm 2013) đã làm cho ông Dũng có thể mạnh miệng hơn.
Tăng trưởng kinh tế chủ yếu nhờ xuất khuẩt của khu vực vốn nước ngoài FDI (chiếm khoảng 66-69% tổng kim ngạch xuất khẩu, riêng Samsung đã xấp xỉ 30 tỷ USD). Xuất khẩu của khu vực FDI, xuất khẩu qua Mỹ (xấp xỉ 26 tỷ USD) và nguồn kiều hối trên 12-14 tỷ USD (2014) đã làm cân bằng tổng cán cân xuất nhập khẩu thương mại, nhưng trong thực tế nhập siêu từ Trung Quốc tới 24 tỷ USD (bằng15% GDP).
Ủng hộ ông Dũng?
Nếu như "Chân Dung Quyền Lực" tiết lộ kết quả bỏ phiếu tín nhiệm trong hội nghị Trung ương 10 là đúng (và có khả năng như thế) thì rõ ràng ông Dũng đã đạt được một bước vững chắc trong việc nắm trọn quyền lực
"Chân Dung Quyền Lực" nhận xét về ông Dũng như sau:
Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng tại Hội nghị thượng đỉnh Á Âu (ASEM) tổ chức tại Milan, Ý vào ngày 16 tháng 10 năm 2014.
"Về Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, ông là người đạt số phiếu tín nhiệm cao nhất (với 152 phiếu tín nhiệm cao, đạt 77%), điều này phản ánh đúng thực tế, thời gian qua ông đã khẳng định bản lĩnh với các quyết sách làm ổn định kinh tế và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Không chỉ Trung ương mà dư luận trong quần chúng nhân dân cũng thể hiện rõ điều này".
Từ nhận xét trên đây, "Chân Dung Quyền Lực" dường như lộ rõ chân tướng là một trang web của nhóm lợi ích ủng hộ ông Dũng.
Đầu năm 2016 sẽ có đại hội 12 của ĐCSVN, cũng là lúc phân định các chức vụ lãnh đạo của đảng và nhà nước. Ở tuổi 65 ông Dũng không thể tiếp tục giữ vai trò lãnh đạo nhà nước hay chính phủ nữa. Khả năng ông sẽ làm Tổng Bí thư là hoàn toàn có thể xảy ra trong bối cảnh hiện tại và ông đang phát quang con đường này để nắm vị trí cao nhất của đảng cầm quyền.
Nguyễn Phú Trọng trong hội nghị 10 nói về việc thay đổi thể chế nhưng không thay đổi chế độ, có nghĩa rằng, cơ cấu quyền lực Tổng Bí thư -Chủ tịch nước-Chủ tịch Quốc hội-Thủ tướng, tức cơ cấu "Vua Tập Thể", có thể bị thay đổi.
Tuy nhiên, theo tôi, khả năng giống mô hình Trung Quốc, Tổng Bí thư kiêm luôn Chủ tịch nước khó xảy ra, vì ĐCSVN chưa muốn trao trọn quyền lực vào một người.
Về Chủ tịch Quốc hội, ông Nguyễn Tấn Dũng có thể yên tâm với bà Nguyễn Thị Kim Ngân, dường như là một ứng viên nặng ký nhất với số phiếu tín nhiệm cao đứng thứ ba.
Cho nên không bỗng dưng mà "Chân Dung Quyền Lực" tấn công vào Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc hay Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh, những người có khả năng cạnh tranh các chức vụ Chủ tịch nước hoặc Thủ tướng không hợp với ý ông Dũng.
Sống trong văn hoá sợ hãi và nô lệ, tư duy há miệng chờ sung mong dân chủ tới, nên không ít người Việt hy vọng nếu quyền lực tập trung vào Nguyễn Tấn Dũng, Việt Nam sẽ có những thay đổi lớn, sẽ thoát Trung, xích gần với Mỹ hơn. Cũng có người cho rằng, giải pháp Nguyễn Tấn Dũng là sự lựa chọn bất khả kháng giữa cái xấu và cái xấu hơn.
Ngay đến Jonathan London, giáo sư Đại học Hồng Kông, trong bài "Những bất ngờ trên đường chọn lãnh đạo kế vị" cũng viết:
"Tuy có người nghi vấn sự thành thật của ông, ông vẫn là chính khách hùng biện nhất của Việt Nam và là tác giả của kế hoạch có chủ trương tự do nhất cho sự phát triển của Việt Nam, đó là bài phát biểu Năm Mới 2014 của ông. Ông nhiều lần tuyên bố rằng “dân chủ là tương lai”, không nao núng trước những trò gây hấn hung hăng của Bắc Kinh ở Biển Đông, và dường như rất thoải mái với ý tưởng bang giao mật thiết với Mỹ".
Những tuyên bố nghe có vẻ hùng hồn của ông Dũng về chủ quyền Hoàng Sa thực ra là những câu mị dân nhằm trấn an dư luận, vô thuởng vô phạt trong quan hệ với Bắc Kinh. Người ta có câu "vừa ăn cướp vừa la làng" là vậy!
Ai chủ trương cho Trung Quốc thuê 300 ngàn héc-ta rừng đầu nguồn? Chính sách nào để hơn 90% tổng thầu EPC các dự án đầu tư quan trọng nhất lọt vào tay Trung Quốc? Ai cho Trung Quốc thuê Vũng Áng 70 năm với đặc khu Formasa? Ai chủ trương cho Trung Quốc thuê đèo Hải Vân? Ai để Trung Quốc khai thác Bauxite Tây Nguyên và hơn 60% các mỏ tài nguyên phía Bắc? Chính sách nào để hàng hoá Trung Quốc tràn ngập lãnh thổ, hàng chục ngàn nguời Trung Quốc sang Việt Nam lao động bất hợp pháp khắp ba miền, v.v...
Tất cả những điều nói trên là bằng chứng rõ ràng nhất của hành động đẩy nền kinh tế VIệt Nam vào lệ thuộc Trung Quốc, an ninh quốc phòng và chủ quyền lãnh thổ bị đe doạ; là sự tiếp tay cho cuộc xâm thực mềm của Bắc Kinh.
Không ai khác, đây là chính sách, chủ trương của ĐCSVN mà ông Nguyễn Tấn Dũng trực tiếp thực hiện trong vai trò Thủ tướng.
Khi nhậm chức Thủ tướng vào năm 2006, ông Nguyễn Tấn Dũng đã tập hợp gần 20 tập đoàn, tổng công ty nhà nước dưới quyền điều hành trực tiếp của mình. Chính sách sai lầm, đầu tư vô tội vạ, bắt chước mô hình Cheabol của Hàn quốc của ông đã đẩy các tập đoàn, tổng công ty nhà nước vào tình cảnh thua lỗ khủng khiếp (đến nay hơn 1,5 triệu tỷ đồng, trong đó nợ khó đòi hơn 200 ngàn tỷ đồng).
Mới 2014 của ông tuyên bố “dân chủ là tương lai”, nhưng đồng thời cũng lệnh cho Bộ Công an kiên quyết không để hình thành lực lượng đối lập và bắt giam các bloggers "Anh Ba Sàm" Nguyễn Hữu Vinh, "Người Lót Gạch" Lê Hồng Ngọc, và "Quê Choa" Nguyễn Quang Lập.
Nếu nói về độ giả dối và trơ trẽn chẳng ai bằng ông ta. Ông ta đã từng công bố sẽ từ chức nếu không chống được tham nhũng vào năm 2006. Tình trạng tham nhũng hiện giờ ra sao?
Cài cắm các con trai vào các chức vụ công quyền, con gái vào các dự án đầu tư từ Nam ra Bắc, đặc biệt ở đảo Phú Quốc, chứng tỏ ông là một người rất hám danh lợi, chăm sóc cho lợi ích của gia tộc. Chuyên quyền như V. Putin của nước Nga cũng không cho con cái dính líu vào chuyện làm ăn và chính trị.
Quyền lực của Nguyễn Tấn Dũng hiện nay bao trùm nhưng vẫn còn vướng rào cản của cơ cấu "Vua Tập Thể". Nếu tiếng nói quyết định nằm hết về phía ông ta, thì đây là thảm hoạ cho dân tộc. Đất nước sẽ đắm chìm trong một chế độ độc tài, độc đoán và chuyên quyền hơn cả chế độ "Vua Tập Thể" hiện nay.
Vì vậy, chọn Nguyễn Tấn Dũng không phải là giải pháp ít xấu hơn mà là giải pháp tồi tệ hơn!
Trong thời gian ông Nguyễn Bá Thanh nghỉ chữa bệnh, ông Phan Đình Trạc, Phó trưởng ban Nội chính T.Ư sẽ thay mặt giải quyết, điều hành các công việc của Ban.
Ngày 21/1, Ban Nội chính T.Ư cho biết đã ban hành văn bản thông báo về việc phân công ông Phan Đình Trạc làm nhiệm vụ Phó trưởng Ban Thường trực Ban Nội chính T.Ư, điều hành giải quyết công việc của Ban và công việc của Trưởng ban Nội chính T.Ư Nguyễn Bá Thanh trong trường hợp ông Thanh vắng mặt, hoặc khi được ủy quyền.
Ông Phan Đình Trạc sẽ thay ông Nguyễn Bá Thanh giải quyết công việc của Ban Nội chính T.Ư - Ảnh: Ban nội chính T.Ư
Theo Ban Nội chính T.Ư, việc phân công này được thực hiện trên cơ sở ý kiến của ông Nguyễn Bá Thanh và đã nhận được sự thống nhất trong cuộc họp lãnh đạo Ban Nội chính T.Ư ngày 16.1 vừa qua.
Trước đó, sau khi Ban Bảo vệ và chăm sóc sức khỏe T.Ư phát hiện bệnh suy tủy, ông Nguyễn Bá Thanh đã sang Mỹ để chữa bệnh. Ngày 9.1, ông Thanh đã được đưa từ Mỹ về Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng để tiếp tục điều trị.
Ông Phan Đình Trạc, sinh năm 1958 tại xã Diễn Lộc, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, là đại biểu Quốc hội khóa 12 và 13, thuộc Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Nghệ An.
Ông Trạc nguyên là Giám đốc Công an tỉnh Nghệ An. Năm 2005, ông giữ chức Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An, đến cuối nhiệm kỳ được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Nghệ An và được bầu vào Ban chấp hành T.Ư tại Đại hội Đảng 11.
Từ tháng 1/2013, ông Phan Đình Trạc được điều động làm Phó trưởng ban Nội chính T.Ư.
Ông Phạm Bình Minh trong lần tiếp đón và gặp lại ông Dương Khiết Trì vào ngày 27/10/2014 ở Hà Nội.
Tuyên bố nhấn mạnh quan hệ Việt - Trung phải dựa trên cơ sở 'bình đẳng, cùng có lợi' chỉ là một câu nói 'sáo ngữ' của Phó Thủ tướng, Ngoại trưởng Việt Nam trong dịp hai nước đánh dấu 65 năm thành lập bang giao chính thức, theo ý kiến của nhà quan sát từ trong nước.
Trao đổi với Bàn tròn Trực tuyến (Hangout) cuối tuần của BBC hôm 18/01/2015, Tiến sỹ Phạm Chí Dũng, Chủ tịch Hội nhà báo Độc lập Việt Nam từ Sài Gòn cho rằng đã hơn một lần ông Phạm Bình Minh sử dụng 'sáo ngữ' này, kể cả trong thời điểm vụ Giàn khoan HD-981 năm ngoái trên Biển Đông.
TS. Dũng nói: "Ngay vào thời điểm đó cũng đã nêu lại vấn đề bình đẳng, cùng có lợi trong quan hệ giữa hai nước. Đó thực ra nó giống như một câu sáo ngữ ở trong bài tuyên bố của ông Phạm Bình Minh.
"Và chúng tôi thử hỏi là bây giờ một Phó Thủ tướng phụ trách về ngoại giao như vậy và năm nào cũng lặp lại sáo ngữ như vậy trong một bối cảnh mà thực ra mọi chuyện nó đang hoàn toàn khác.
"Tức là vào năm 2014 thì xảy ra vụ (Giàn khoan) Hải Dương 981 và dường như bài tuyên bố của ông Phạm Bình Minh, chúng tôi có cảm giác như ông đã quên đi khá nhanh sự kiện Hải Dương 981.
"Sự kiện đó là một sự gây hấn có thể nói ở mức độ khá cao của người Trung Quốc và nó cho thấy, nó báo một điềm không lành rằng những năm tới Trung Quốc sẽ không bình đẳng với Việt Nam về vấn đề ngoại giao và đặc biệt về vấn đề Biển Đông.
"Cho nên những tuyên bố của ông Phạm Bình Minh, tôi có cảm giác nó chỉ như là sáo ngữ thôi, nó chỉ mang tính chất ngoại giao thôi, dường như ông đã quên đi khá nhanh sự kiện Hải Dương 981 và nó cũng khá tương phản với những điều người ta tương phản về ông là 'là đôi mắt hình viên đạn' mà ông đã nhìn Ủy viên Quốc vụ viện Dương Khiết Trì trong chuyến đi của Dương Khiết Trì tới Hà Nội trong năm vừa rồi."
'Quan hệ nay đã khác'
Từ Hong Kong, Phó Giáo sư Jonathan London, nhà quan sát tình hình Việt Nam từ Đại học Thành thị Hong Kong cho rằng trong quan hệ bang giao chính thức Việt - Trung mấy thập niên qua có thể có nhiều 'dịp' khác nhau để đánh dấu.
Ông nói: "Tôi nghĩ rằng với một lịch sử dài giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc, chúng ta có thể lựa chọn rất nhiều kỷ niệm khác nhau, việc kỷ niệm 65 năm thành lập quan hệ chính thức cũng là một cơ hội.
"Nhưng cũng có nhiều ngày khác nhau và ý nghĩa của mỗi ngày cũng khác nhau... Vào dịp này kỷ niệm 65 năm là một cơ hội cho đại diện của hai nước gặp nhau và nhấn mạnh để nâng cao tình hữu nghị.
Quan hệ Việt - Trung trong năm 2014 đã trải qua những thăng trầm, theo các nhà quan sát.
"Nhưng như đã biết, trong vòng một năm vừa rồi đã có những biến đổi quan trọng trong quan hệ giữa hai nước mà hiện nay dù cả hai chính phủ cùng hai đảng, hai nhà nước vẫn đang điều chỉnh tầm nhìn của họ, rõ ràng quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc đã bước vào một giai đoạn mới...
"Nhưng rõ ràng quan hệ Trung Quốc và Việt Nam hiện nay khác hẳn so với chỉ gần đây một, hai năm, nên tôi chấp nhận là dịp này cũng có một ý nghĩa cụ thể của nó, nhưng mà không thể hiểu ở ngoài bối cảnh ở lớn hơn - cụ thể là những căng thẳng trên biển trong năm vừa rồi."
Hôm Chủ Nhật, nhiều báo Việt Nam dẫn lời của Phó Thủ tướng Việt Nam, ông Phạm Bình Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Ngoại giao nói về 65 năm quan hệ ngoại giao chính thức Việt - Trung.
"Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng cùng có lợi với Trung Quốc, mong muốn quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt - Trung ngày càng phát triển, đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững trong bối cảnh trên thế giới đang đầy rẫy các bất ổn và mọi con mắt đang hướng và đặt nhiều kỳ vọng vào châu Á," ông Minh được truyền thông Việt Nam trích lời nói.
"65 năm qua, quan hệ giữa hai nước tuy có trải qua thăng trầm nhưng ngày càng phát triển", bài viết đánh dấu sự kiện hơn sáu thập niên bang giao chính thức giữa hai quốc gia láng giềng cùng theo thể chế cộng sản của Phó Thủ tướng, Ngoại trưởng Việt Nam nhận định.
'Bình đẳng và nhập siêu'
Bình luận với Bàn tròn Cuối tuần của BBC hôm 18/01/2015 về bài phát biểu này, Tiến sỹ Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phản biển Độc lập (IDS - đã tự giải thể) nói:
"Tôi nghĩ rằng trong quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, bất kể chính phủ nào chăng nữa, thậm chí ngay cả đến trong tương lai nếu mà có một chính phủ không phải là cộng sản đi chăng nữa, thì vẫn phải giữ một quan hệ hữu nghị với Trung Quốc.
"Cái đấy là một điều hiển nhiên và tôi nghĩ rằng Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh đặt vấn đề như thế là dễ hiểu, ông nhấn mạnh mối quan hệ phải trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi, điểm đó cũng phản ánh sự thay đổi như là ông Jonathan London vừa nói.
Hiện chưa rõ liệu năm 2015 trên Biển Đông có giảm bớt căng thẳng, đối đầu hay không.
"Tuy nhiên mình sẽ cố gắng bình đẳng hết sức có thể, nhưng tôi nghĩ rằng trong quan hệ quốc tế, giữa các nước với nhau, mình cố gắng đạt được cái gọi là bình đẳng theo một cái nghĩa nào đấy.
"Nhưng trên thực tế không có một sự bình đẳng thực sự, bởi vì có những nước lớn, nhỏ, có những nước có trọng lượng, có những nước trọng lượng lớn, trọng lượng bé, xét một khía cạnh nào đó, đòi hỏi về bình đẳng là một sự cố gắng để phấn đấu, còn trong thực tế, tôi nghĩ rằng trong quan hệ giữa các nước với nhau, từ trước tới nay, từ nay về sau cũng không bao giờ có một cái gọi thật là bình đẳng cả đâu," Tiến sỹ Quang A nói.
Hôm Chủ Nhật, một số tờ báo và truyền thông chính thống của Việt Nam cũng sử dụng từ 'thăng trầm' để nói về quan hệ 65 năm giữa hai quốc gia.
Tờ báo điện tử Vnexpress.net hôm 18/01 dẫn ra 11 sự kiện chính được gọi là 'những cột mốc' lịch sử trong quan hệ song phương, trong đó liệt kê ba sự kiện là 'Trung Quốc chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam (1/1974)', 'Chiến tranh biên giới phía Bắc (2/1979)' và 'Trung Quốc đặt giàn khoan vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam (5/2014)'.
Bình luận riêng về khía cạnh có bình đẳng hay không trong quan hệ thương mại, mậu dịch giữa hai nước, ông Phạm Chí Dũng, người có bằng Tiến sỹ kinh tế, nói với Bàn tròn trực tuyến của BBC:
"Một sự bất bình đẳng thứ hai mà có thể chứng minh được, mà chúng ta có thể nói, đó là sự bất bình đẳng về mặt kinh tế, thì làm sao có thể nói là bình đẳng khi mà Việt Nam nhập siêu một năm tới 24-25 tỷ đô-la từ Trung Quốc, mà không có một cách nào có thể khắc phục được," ông Dũng nói.
Cũng hôm Chủ Nhật, tờ Vnexpress đưa ra con số trong đó nói Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc 36,95 tỷ USD, trong khi xuất khẩu sang Trung Quốc thu được 13.25 tỷ USD từ nước láng giềng phía Bắc trong riêng năm 2013.
Một số mặt hàng chính mà Việt Nam xuất sang Trung Quốc là nhiên liệu, nguyên liệu thô, nông sản, thủy sản và đồ thủ công mỹ nghệ, trong khi các mặt hàng chính Trung Quốc xuất vào Việt Nam là máy móc, thiết bị phụ tùng, hàng tiêu dùng, nhiên liệu (như xăng) và các hàng hóa tiêu dùng v.v...
Trước đây, trên thế giới, có 15 quốc gia chính thức theo chủ nghĩa cộng sản và 11 quốc gia tự nhận là cộng sản hoặc theo khuynh hướng cộng sản. Mười lăm quốc gia ở trên là: Albania, Bulgaria, Czechoslovakia, Đông Đức, Hungary, Mông Cổ, Ba Lan, Romania, Liên Xô, Yugoslavia, Trung Quốc, Cuba, Bắc Triều Tiên, Lào và Việt Nam. Mười một quốc gia ở dưới là: Angola, Benin, Congo, Ethiopia, Mozambique, Zimbabwe, Grenada, Nicaragua, Campuchia, Afghanistan và Nam Yemen. Tổng cộng, từ hai bảng danh sách ấy, có cả thảy 26 nước cộng sản hoặc có khuynh hướng theo cộng sản. Từ đầu thập niên 1990, tất cả các chế độ cộng sản ấy đều lần lượt sụp đổ. Hiện nay, trên cả thế giới, chỉ còn năm nước mang nhãn hiệu cộng sản: Trung Quốc, Cuba, Bắc Triều Tiên, Lào và Việt Nam.
Chưa có dấu hiệu nào cho thấy chủ nghĩa cộng sản ở năm quốc gia này sẽ sụp đổ sớm. Trong năm nước, có ba nước có quan hệ chặt chẽ với nhau: Trung Quốc, Việt Nam và Lào. Có lẽ Lào chỉ thay đổi được thể chế chính trị nếu, trước đó, Việt Nam cũng thay đổi; và Việt Nam có lẽ chỉ thay đổi nếu trước đó Trung Quốc cũng thay đổi. Như vậy, quốc gia có khả năng châm ngòi cho bất cứ sự thay đổi lớn lao nào là Trung Quốc.
Tuy nhiên, ngay cả khi Trung Quốc và Việt Nam chưa thay đổi và chưa từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, giới nghiên cứu cũng phát hiện những dấu hiệu suy tàn âm thầm của chủ nghĩa cộng sản bên trong hai quốc gia này.
Ở đây, tôi chỉ tập trung vào Việt Nam.
Nhìn bề ngoài, chế độ cộng sản tại Việt Nam vẫn mạnh. Hai lực lượng nòng cốt nhất vẫn bảo vệ nó: công an và quân đội. Dân chúng khắp nơi bất mãn nhưng bất mãn nhất là nông dân, những người bị cướp đất hoặc quá nghèo khổ. Có điều nông dân chưa bao giờ đóng được vai trò gì trong các cuộc cách mạng dân chủ cả. Họ có thể thành công trong một số cuộc nổi dậy nhưng chỉ với một điều kiện: được lãnh đạo. Trong tình hình Việt Nam hiện nay, chưa có một tổ chức đối kháng nào ra đời, hy vọng nông dân làm được gì to lớn chỉ là một con số không. Ở thành thị, một số thanh niên và trí thức bắt đầu lên tiếng phê phán chính phủ nhưng, một, số này chưa đông; và hai, còn rất phân tán. Nói chung, trước mắt, đảng Cộng sản vẫn chưa gặp một sự nguy hiểm nào thật lớn.
Thế nhưng, nhìn sâu vào bên trong, chúng ta sẽ thấy quá trình mục rữa của chủ nghĩa cộng sản đã bắt đầu và càng ngày càng lớn. Như một căn bệnh ung thư bên trong một dáng người ngỡ chừng còn khỏe mạnh.
Sự mục rữa quan trọng nhất là về ý thức hệ.
Khác với tất cả các hình thức độc tài khác, chủ nghĩa cộng sản là một thứ độc tài có… lý thuyết, gắn liền với một ý thức hệ được xây dựng một cách có hệ thống và đầy vẻ khoa học. Thật ra, chủ nghĩa phát xít cũng có lý thuyết, chủ yếu dựa trên sức mạnh và tinh thần quốc gia, nhưng không phát triển thành một hệ thống chặt chẽ và có ảnh hưởng sâu rộng như chủ nghĩa cộng sản. Còn các chế độ độc tài ở Trung Đông chủ yếu gắn liền với tôn giáo cộng với truyền thống quân chủ kéo dài (thường được gọi là độc tài quốc vương, sultanistic authoritarianism) hơn là lý thuyết. Nhiều nhà nghiên cứu nhấn mạnh: các chế độ cộng sản không thể tồn tại nếu không có nền tảng ý thức hệ đằng sau.
Ý thức hệ cộng sản một thời được xem là rất quyến rũ vì nó bao gồm cả hai kích thước: quốc gia và quốc tế. Ở bình diện quốc gia, nó hứa hẹn giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân; ở bình diện quốc tế, nó hứa hẹn giải phóng giai cấp vô sản và tạo nên sự bình đẳng và thịnh vượng chung cho toàn nhân loại. Ở bình diện thứ hai, chủ nghĩa cộng sản, gắn liền với một ước mơ không tưởng, rất gần với tôn giáo; ở bình diện thứ nhất, đối lập với chủ nghĩa thực dân, nó rất gần với chủ nghĩa quốc gia. Trên thực tế, hầu hết các nước cộng sản trước đây đều cổ vũ và khai thác tối đa tinh thần quốc gia trong cả quá trình giành chính quyền lẫn quá trình duy trí chế độ. Sự kết hợp giữa chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa quốc gia dễ thấy nhất là ở các nước thuộc địa và cựu thuộc địa như Việt Nam.
Sau năm 1991, tức sau khi chủ nghĩa cộng sản tại Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, ý thức hệ cộng sản cũng bị phá sản theo. Thực trạng nghèo đói, bất công và áp bức dưới các chế độ cộng sản ấy đều bị vạch trần và phơi bày trước công luận. Sự hứa hẹn về một thiên đường trong tương lai không còn được ai tin nữa. Tính hệ thống trong chủ nghĩa Marx-Lenin cũng bị đổ vỡ. Nền tảng ý thức hệ của các chế độ cộng sản bị tan rã tạo thành một khoảng trống dưới chân chế độ.
Để khỏa lấp cái khoảng trống ấy, Trung Quốc sử dụng hai sự thay thế: chủ nghĩa Mao và Nho giáo (trong chủ trương tạo nên một xã hội hài hòa, dựa trên lòng trung thành). Việt Nam, vốn luôn luôn bắt chước Trung Quốc, không thể đi theo con đường ấy. Lý do đơn giản: Đề cao chủ nghĩa Mao là một điều nguy hiểm cả về phương diện đối nội lẫn đối ngoại; còn với Nho giáo, một là Việt Nam không am hiểu sâu; hai là, nó đầy vẻ… Tàu, rất dễ gây phản cảm trong quần chúng. Bế tắc, Việt Nam bèn tạo nên cái gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhưng ông Hồ Chí Minh lại không phải là một nhà lý thuyết. Ông chỉ là một người hành động. Ông viết nhiều, nhưng tất cả đều rất thô phác và đơn giản. Hơn nữa, ở Việt Nam hiện nay, cũng không có một người nào giỏi lý thuyết để từ những phát biểu sơ sài của Hồ Chí Minh xây dựng thành một hệ thống sâu sắc đủ để thuyết phục mọi người. Thành ra, cái gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh hoàn toàn không trám được khoảng trống do sự sụp đổ của ý thức hệ Marx-Lenin gây ra. So với Trung Quốc, khoảng trống này ở Việt Nam lớn hơn gấp bội.
Mất ý thức hệ cộng sản, chính quyền Việt Nam chỉ còn đứng trên một chân: chủ nghĩa quốc gia.
Nhưng cái chân này cũng rất èo uột nếu không muốn nói là đã lung lay, thậm chí, gãy đổ.
Trên nguyên tắc, Việt Nam vốn có truyền thống yêu nước rất cao. Bao nhiêu chế độ ra đời từ giữa thế kỷ 20 đến nay đều muốn khai thác và tận dụng lòng yêu nước ấy. Tuy nhiên, với chế độ cộng sản hiện nay, việc khai thác vốn tài sản này gặp rất nhiều khó khăn. Lý do là lòng yêu nước bao giờ cũng gắn liền với sự căm thù. Không ai có thể thấy rõ được lòng yêu nước trừ phi đối diện với một kẻ thù nào đó của đất nước. Hai kẻ thù chính của Việt Nam, trong lịch sử mấy ngàn năm, là Trung Quốc; và gần đây nhất, là Mỹ. Nhưng Việt Nam lại không dám nói quá nhiều về hai kẻ thù này. Với Mỹ, họ cần cả về phương diện kinh tế lẫn phương diện chiến lược. Đề cao truyền thống chống Mỹ, do đó, là điều rất nguy hiểm. Đề cao truyền thống chống Trung Quốc lại càng nguy hiểm hơn: Trung Quốc có thể đánh hoặc ít nhất đe dọa VIệt Nam bất cứ lúc nào.
Bởi vậy, Việt Nam, một mặt, phải hạ giọng khi nói về truyền thống chống Mỹ và phải né tránh việc nhắc nhở đến truyền thống chống Trung Quốc. Hai hành động này có lợi về phương diện đối ngoại nhưng lại có tác hại nghiêm trọng về phương diện đối nội: chính quyền hiện ra, dưới mắt dân chúng, như những kẻ hèn, hèn nhát và hèn hạ. Từ một chế độ được xây dựng trên thành tích chống ngoại xâm, chế độ cộng sản tại Việt Nam lại bị xem như những kẻ bán nước, hoặc bán nước dần dần bằng cách hết nhượng bộ điều này sang nhượng bộ điều khác trước sự uy hiếp của Trung Quốc.
Trước sự sụp đổ của cả hai nền móng, ý thức hệ cộng sản và chủ nghĩa quốc gia, đảng Cộng sản Việt Nam bèn chuyển sang một nền tảng khác: kinh tế với phương châm ổn định và phát triển. Nội dung chính của phương châm này là: Điều cần nhất đối với Việt Nam hiện nay là phát triển để theo kịp các quốc gia khác trong khu vực cũng như, một cách gián tiếp (không được nói công khai), đủ sức để đương đầu với Trung Quốc. Nhưng để phát triển, cần nhất là phải ổn định về chính trị, nghĩa là sẽ không có thay đổi về thể chế và cũng không chấp nhận đa đảng.
Phương châm ấy, thật ra, là một sự bịp bợm: Nó chuyển vấn đề từ chính trị sang kinh tế với lý luận: nếu vấn đề quan trọng nhất của Việt Nam hiện nay là vấn đề kinh tế thì mọi biện pháp sửa đổi sẽ chỉ giới hạn trong phạm vi kinh tế. Với lập luận này, chính quyền có thể trì hoãn mọi yêu cầu cải cách chính trị.
Tuy nhiên, nó hoàn toàn không thuyết phục, bởi, ai cũng thấy, lãnh vực kinh tế là mặt mạnh nhất của chủ nghĩa tư bản và cũng là mặt yếu nhất của chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản. Tất cả các quốc gia dân chủ ở Tây phương đều có hai đặc điểm nổi bật: về chính trị, rất ổn định và hai, về kinh tế, rất phát triển. Ở Việt Nam, người ta cố thu hẹp phạm vi so sánh: các cơ quan truyền thông chính thống chủ yếu tập trung vào các nước Đông Nam Á, đặc biệt Thái Lan với một thông điệp chính: đa đảng như Thái Lan thì lúc nào cũng bị khủng hoảng. Nhưng ở đây lại có hai vấn đề: Một, dù liên tục khủng hoảng về chính trị, nền kinh tế của Thái Lan vẫn tiếp tục phát triển, hơn hẳn Việt Nam; hai, ngày nay, do xu hướng toàn cầu hóa, tầm nhìn của dân chúng rộng rãi hơn nhiều; chính quyền không thể thu hẹp mãi tầm nhìn của họ vào tấm gương của Thái Lan được.
Về phương diện lý luận, chiêu bài ổn định và phát triển, do đó, không đứng vững. Về phương diện thực tế, những sự phá sản của các đại công ty quốc doanh và đặc biệt, khối nợ nần chồng chất của Việt Nam khiến dân chúng càng ngày càng thấy rõ vấn đề: các chính sách kinh tế của Việt Nam không hứa hẹn một sự phát triển nào cả, nếu không muốn nói, ngược lại, chỉ lún sâu vào chỗ bế tắc.
Thành ra, có thể nói, tất cả các nền tảng chế độ cộng sản Việt Nam muốn nương tựa, từ chủ nghĩa Marx-Lenin đến chủ nghĩa quốc gia và lập luận ổn định để phát triển, đều lần lượt sụp đổ. Chế độ cộng sản Việt Nam hiện nay như một đám lục bình chỉ nổi bập bềnh trên mặt nước. Sự tồn tại của nó chỉ dựa vào sự trung thành của công an. Do đó, một mặt, đảng cộng sản đưa ra sự khuyến dụ đối với công an: “Còn đảng, còn mình”; mặt khác, họ ngoảnh mặt làm ngơ trước hai tệ nạn do công an gây ra: tham nhũng và trấn áp dân chúng một cách dã man. Nhưng chính sách này chỉ càng ngày càng biến công an thành một đám kiêu binh và càng ngày càng đẩy công an cũng như chính quyền trở thành xa lạ với dân chúng. Sự xa lạ này càng kéo dài và càng trầm trọng, đến một lúc nào đó, trở thành đối nghịch với quần chúng.
Một nhà nước được xây dựng trên một đám kiêu binh, trong thời đại ngày nay, không hứa hẹn bất cứ một tương lai nào cả.
Cộng sản Việt Nam sẽ sụp đổ vì internet (*)
Bùi Lộc – Mặc dầu xa Hải phòng nửa vòng trái đất, nhưng người ta vẫn theo dõi và biết rất tường tận được những gì đang diễn ra tại phiên tòa xử anh Đoàn văn Vươn và thân nhân tại Tòa án Nhân dân tỉnh Hải phòng, Đường Lê Hồng Phong, phường Đằng Lâm, quận Hải An, Hải phòng.Tiếng nói hỗ trợ vang vọng khắp mọi miền đất nước và trên thế giới nhờ“Internet.”
Cộng sản Liên sô sụp đổ vì nền kinh tế èo ọt.Nhà nước và đảng cộng sản (cs) đã bóp cạn kiệt hầu bao của toàn dân đề chạy đua vũ trang với Hoa kỳ khi Tổng thống Reagan tố xả láng bằng con bài Hỏa tiễn MX vào năm 1983. Ông Gorbachev nhìn thấy nguy cơ sụp đổ của Liên bang Sô viết nên đã phải đưa ra Chương trình “Perestroika”, chấn hưng kinh tế và sau đến “Glanost”, mở cửa và giới hạn sự can thiệp vào nội tình của những quốc gia đàn em (satellites).
Cs Đông Âu sụp đổ vì niềm tin Tôn Giáo.Khi Công đoàn đoàn kết chập chững cũng xuất hiện cũng bị dàn áp nhiều khi nghẹt thở và tưởng chừng bị chết yểu.Nhưng với đức tin tôn giáo đã nuôi dưỡng và duy trì được ngọn lửa do công đoàn này nhóm lên.Ngọn lửa này bùng phát khi Linh mục Jerzy Popielluszuko bị mật vụ Balan bắt cóc và thủ tiêu và dùng bao bố cột đá nhận chìm xuống Hồ chứa nước trên Sông Vistula vào ngày 19 tháng 10 năm 1984. Mãi sau hai ngày người ta mới tìm được xác do người tài xế của Ngài trốn thoát và báo cáo lại cho công đoàn.
Sau cái chết của Ngài, lần đầu tiên Ông Lech Walesa, người lãnh đạo công đoàn có thể nói trước công chúng.Ông đã nói: “Solidary lives because Popielluszoko shet his blood for it.”Kể từ ngày đó dân chúng Ban lan hoàn toàn vượt trên sợ hãi làm chủ tình hình đất nước.Liên xô không còn khả năng can thiệp đành phải để cs Balan tự giải quyết nội bộ của mình.Cộng sản Balan sụp đổ kéo theo Hungary, Tiêp khắc, Rumani.Bức tường Bá Linh bị giật sập và toàn khối Đông Âu được hoàn toàn tự do, thoát khỏi nanh vuốt cs thống trị suốt từ năm 1945 sau khi Thế chiến Thư hai kết thúc.
Ngày tàn của csvn cũng sẽ đến và đến rất nhanh, nhanh không thể ngờ được.Yếu tố chính giúp cho sự sụp đổ này chính là Internet.Kể từ khi cs xuất hiện tại Việt Nam, họ đã âm thầm thủ tiêu không biết bao nhiêu nạn nhân với khẩu hiệu “thà giết lầm hơn bỏ sót,” mà thường số nạn nhân bị giết lầm lúc nào cũng vượt trội những nạn nhân thực sự họ muốn thanh toán.Nhiều người đang ngủ đêm bị gọi cửa dẫn đi và không bao giờ trở lại.Thân nhân thì lặng câm, ai hỏi cũng không giám hé răng.
Ngay cả những quan đại thần như Phạm Quỳnh và Ngô Đình Khả, Ngô Đình Khôi cũng bị thủ tiêu không xét xử.Sau này có vài bài báo của cán bộ cs viết đổ lỗi cho cấp dưới làm mà bác không biết.Một quan đại thần mà không có lệnh bác, bố bảo cũng không một anh nào dám động đến chân lông của những vị quan này.Trò bênh vực thật trơ trẽn và rẻ tiền.Bác thủ tiêu họ không những vì đối kháng chính kiến nhưng còn vì mặc cảm thua kém.Họ còn đó làm sao bác làm ăn được.
Người ta bị chết vì đủ mọi lý do, chết vì không đồng chính kiến, chết vì thù hắn cá nhân đem lồng vào với tư tưởng chống đối, phản động, chết vì hơn cán bộ miếng ăn, chiếc áo hay ngôi nhà khang trang, cả vì tranh giành người yêu.Kẻ có quyền hành, ngay cà viên chức xã ủy, huyện ủy cũng có quyền sinh sát trong tay;tệ hơn nữa là quyền sinh sát nằm cả trong tay thân nhân những viên chức này.Thật là khủng khiếp.Số nạn nhân vì nạn cường hào đỏ này không sao thống kê được.
Những vụ giết người, những phiên tòa với chứng cớ nguỵ tạo một chiều qua truyền hình, truyền thanh và những tờ báo trong tay đảng với những phóng viên vì nồi cơm, sổ hưu phóng tay viết qua cả lương tâm tạo nên một bầu không khí khủng bố bao trùm.
Nhưng thời của bóng đêm đang phải qua đi nhường chỗ cho những thông tin chính trực qua mạng Internet.Bộ mặt lem nhem chưa kịp rửa xong qua hai bao cao xu đã sử dụng trong vụ án Luật sư Cù Huy Hà Vũ lại đến Nhà Báo Điếu Cầy Nguyễn Văn Hải trốn thuế.Nếu những ngụy chứng này cách đây vài thập niên chắc chẳng ai thắc mắc;nhưng ngày nay không những người ta mỉm cười và còn vạch trần cho mọi người thấy.
Hằng loạt những người bất đồng chính kiến tranh đấu cho nhân quyền, bênh vực dân oan đã bị vào tù.Nhưng họ không còn bị cô đơn.Tất cả những hành vi thô bạo, đánh đập họ cả thế giới sẽ biết ngay chỉ sau mấy phút.Ngay cả vết bầm trên mặt họ do công an đánh cả thế giới đều nhìn thấy rõ.
Tòa án Hải phòng mở phiên tòa xử Anh Em anh Đoàn văn Vươn vào sáng ngày 2 tháng 4 năm 2913. Trước giờ khai mạc nhiều người từ khắp các miền xa xôi của đất nước đã có mặt ngay tại Thành phố Hải phòng đôi co với công an để được nghe và chứng kiến những gì xảy ra trong vụ án này.
Những người Việt xa quê hương khắp nơi trên thế giới đang hướng về Hải phòng.Họ theo dõi từng giây, từng phút những gì đang diễn ra tại Hải phòng.Họ đọc những bài tường thuật phiên tòa của cả lề dân lẫn lề đảng để rút ra được những thông tin trung thực và cũng đo lường khá năng nhào nặn thông tin của lề đảng tới mức nào và bộ mặt của ngành tư pháp cs còn bao nhiêu khả năng be bờ cho đảng.
Người ta trực tiếp nghe những lời phát biểu của những phụ nữ yếu đuối nhưng vô cùng dũng cảm lên tiếng bênh vực công lý, bênh vực cho gia đình anh Đoàn văn Vươn trước nạn cường hào đỏ.Cs muốn thanh toán hết những người chống đối này, nhưng ngày nay họ bị bó tay không thể làm được nữa.Intenet trong tay những người tranh đấu cho quyền sống của con người.Mỗi cử động của công an cs, mỗi lời chửi bới của họ cả thề giới đều nghe và chứng kiến.Có rất nhiều người trong họ cũng ý thức được điều đó, nhưng chỉ vì nồi cơm của cả gia đình, họ đành nhắm mắt bước tới bất chấp hậu quả.
Người Việt khắp nơi đang chứng kiến những đoàn người từ xa đổ về Hải phòng để bênh vực gia đình anh Vươn, những gương mặt hăng say, lạc quan của Nguyễn Thị Minh Hằng, Trương văn Dũng, Nguyễn chí Đức, Phạm Thanh Nghiên, Nguyễn Hoàng Vi.Người ta cũng đang theo dõi anh Nguyễn Lân Thắng, Ngô Nhật Đăng, Nguyễn Việt Hưng bị bắt;đồng thời cũng ghi nhận những hình ảnh trấn áp của lực lượng công an và của lực lượng đen (dân phòng).Một hình ảnh đẹp của chị Hiền, vợ anh Đoàn văn Quý mời nước tay an ninh đang cầm phone và hằm hằm nhìn chị với thái độ sẵn sàng trấn áp.
Người ta thấy họ lạc quan có lẽ họ linh cảm hay trực giác được ngày sụp đổ của cs đang đến gần.Nhớ lại ngày 19.8.1991 khi các tướng lãnh Xô viết muốn cứu vãn cs Nga đã nhắm thẳng nòng, súng trên thiết giáp vào đám đông dân chúng.Nhưng chỉ trong nháy mắt, lương tri con người bừng tỉnh và cũng nòng súng đó đã quay trở lại những kẻ đang hăng say chống lại nhân dân bắt họ buông súng và cs Liên sô đã sụp đỗ.
Trường hợp Rumani, lúc đầu quân đội còn nghe theo lệnh của Ceausescu, tổng bí thư đảng cs Rumani nỗ súng vào người biểu tình, nhưng vào ngày 22 tháng 12 năm 1989, quân đội đã đột nhiên quay về phía nhân dân cùng hướng tới Ủy ban Trung ương lùng bắt Ceausescu và đã xử ông ta.Sau đó cuộc bầu cử tự do đã được tổ chức vào ngày 20 tháng Năm 1990. Ngày nay cs đã bị những nước Đông Âu đặt ra ngoài vòng pháp luật.
Mùa Xuân Á Rập cũng đã cuốn trôi những thể chế độc tại tại Phi châu nhờ internet.Miến điện chuyển đổi sang thể chế dân chủ một cách ôn hòa vì bộ mặt nhem nhuốc độc tài cũng như khuôn mặt khả ái và dũng cảm của nhà đấu tranh dân chủ Aung San Su Kyi được chuyển tải trên Internet cho cả thế giới chứng kiến hằng ngày.Mọi người khắp nơi trên hành tinh này đều chứng kiến Bắc Hàn đang lên cơn say rượu với lãnh tụ baby Kim yung Un.Còn lại Trung quốc và Việt Nam, dân chúng vẫn đang phải nhẫn nhục chịu đựng.Lãnh đạo hai đảng đang cấu kết bám víu vào nhau.Cả hai đảng sống còn chỉ vì có những tay chân với quyền lợi riêng tư ngập đầu, nhưng cũng đã chuẩn bị bãi đáp an toàn với những món tiền khổng lồ vơ vét được nằm trong các nhà băng ở ngoại quốc.
Qua biến cố Đoàn văn Vươn, cộng sản Việt Nam đang vô cùng bối rối, tiến thoái lưỡng nan, trên dưới mâu thuẫn.quan chức trung ương địa phương phát biểu đối nghịch nhau.Họ đã không thể giải quyết êm lẹ như những vụ án áp đặt trước đây và đặc biệt người dân rõ ràng là không còn sợ hãi cs như trước nữa và cùng đoàn kết nắm tay nhau trong trận chiến dành lại công lý, tự do và nhân quyền này;hứa hẹn đây sẽ là màn đầu cho sự sụp đổ của băng đảng mafia đỏ Việt Nam…