Thân phận người mẹ Việt Nam dưới thời đại bác Hồ: Tại sao đàn ông Đại Hàn chỉ thích giết Vợ hoặc Bạn gái VN?
01.12.2014 12:41
Một phụ nữ Việt bị sát hại ở Hàn QuốcNguyễn Thị Thanh Ngân, một phụ nữ Việt Nam 22 tuổi, đêm qua bị sát hại bởi một người đàn ông mới quen.
Theo đại sứ quán Việt Nam tại Seoul, Ngân bị người đàn ông quốc tịch Hàn Quốc, họ Kim sát hại vào 3h sáng ngày 30/11 tại một khách sạn trên đảo Jeju.
Ngân, 22 tuổi, quê Tiền Giang, trước sinh sống tại quận 4, thành phố Hồ Chí Minh. Ngân đã kết hôn với một người chồng Hàn Quốc vào tháng 4/2012 và nhập cảnh Hàn Quốc hai tháng sau đó, theo thông báo của cảnh sát khu vực miền tây tỉnh đảo Jeju.
Tuy nhiên, cô đã ly hôn và bỏ ra ngoài sinh sống. Gia đình Ngân tại Việt Nam cho biết cô chưa về nhà lần nào kể từ khi sang Hàn Quốc và cũng ít liên lạc về gia đình.
Cảnh sát cho biết thêm, qua giới thiệu của bạn bè, Ngân đã gặp một người đàn ông họ Kim, 37 tuổi, quốc tịch Hàn Quốc, vào ngày 30/11. Sau khi uống rượu, hai người cùng tới một khách sạn. Tại đây, người đàn ông mới quen này đã siết cổ cô gái Việt đến chết.
Sau khi ra tay, Kim có gọi yêu cầu cấp cứu nhưng Ngân đã tắt thở trước đó. Kim tự thú và bị bắt giữ. Cảnh sát đang tiếp tục điều tra động cơ giết người của người đàn ông này.
Sứ quán Việt Nam đang liên lạc chặt chẽ với cảnh sát Jeju và cho hay gia đình của nạn nhân đang dự tính cử người nhà sang Hàn Quốc để xử lý vụ việc. Sứ quán cũng đã gửi công văn về các cơ quan chức năng ở Việt Nam đề nghị cấp nhanh hộ chiếu và thị thực cho gia đình Ngân.Ngân, 22 tuổi, trước sinh sống tại quận 4, thành phố Hồ Chí Minh. Ngân đã kết hôn với một người chồng Hàn Quốc vào tháng 4/2012 và nhập cảnh Hàn Quốc hai tháng sau đó, theo thông báo của cảnh sát khu vực miền tây tỉnh đảo Jeju. Tuy nhiên, cô đã ly hôn và bỏ ra ngoài sinh sống. Gia đình Ngân tại Việt Nam cho biết cô chưa về nhà lần nào kể từ khi sang Hàn Quốc và cũng ít liên lạc về gia đình.  | Nạn nhân Nguyễn Thị Thanh Ngân. Ảnh do gia đình cung cấp |
Cảnh sát cho biết thêm, qua giới thiệu của bạn bè, Ngân đã gặp một người đàn ông họ Kim, 37 tuổi, quốc tịch Hàn Quốc, vào ngày 30/11. Sau khi uống rượu, hai người cùng tới một khách sạn. Tại đây, người đàn ông mới quen này đã siết cổ cô gái Việt đến chết. Sau khi ra tay, Kim có gọi yêu cầu cấp cứu nhưng Ngân đã tắt thở trước đó. Kim tự thú và bị bắt giữ. Cảnh sát đang tiếp tục điều tra động cơ giết người của người đàn ông này. Sứ quán Việt Nam đang liên lạc chặt chẽ với cảnh sát Jeju và cho hay gia đình của nạn nhân đang dự tính cử người nhà sang Hàn Quốc để xử lý vụ việc. Sứ quán cũng đã gửi công văn về các cơ quan chức năng ở Việt Nam đề nghị cấp nhanh hộ chiếu và thị thực cho gia đình Ngân. Nguyễn Duy Bình, em họ của Ngân, cho hay mẹ Ngân đã mất cách đây vài năm do bệnh tật. Bình nói gia đình nạn nhân hiện gặp khó khăn tài chính trong việc lo liệu vé máy bay sang Hàn Quốc và hậu sự cho Ngân. Lãnh sự quán tại TPHCM đã tạo điều kiện về thủ tục nhập cảnh, và dự kiến anh trai ruột của cô Ngân sẽ sang Hàn vào ngày mai. 
Đám tang một cô dâu Việt bị sát hại tại Hàn Quốc hồi mùa hè năm nay. Ảnh: Facebook Cộng đồng Người Việt Nam tại Hàn Quốc Hiện có khoảng 50.000 cô dâu người Việt lấy chồng và sinh sống ở Hàn Quốc. Hầu hết các cô dâu được cho là có đời sống yên ổn với gia đình chồng, nhưng trong những năm qua cũng từng xảy ra nhiều vụ cô dâu Việt Nam bị bạo hành hoặc giết chết ở Hàn Quốc. Chính phủ sở tại đã mở rộng chính sách để hỗ trợ cho các gia đình đa chủng tộc như mở lớp dạy văn hóa, dạy tiếng, rà soát các trung tâm môi giới hôn nhân. Nguyễn Duy Bình, em họ của Ngân, cho hay mẹ Ngân đã mất cách đây vài năm do bệnh tật. Bình nói gia đình nạn nhân hiện gặp khó khăn tài chính trong việc lo liệu vé máy bay sang Hàn Quốc và hậu sự cho Ngân. Lãnh sự quán tại TPHCM đã tạo điều kiện về thủ tục nhập cảnh, và dự kiến anh trai ruột của cô Ngân sẽ sang Hàn vào ngày mai.
Đám tang một cô dâu Việt bị sát hại tại Hàn Quốc hồi mùa hè năm nay. Ảnh: Facebook Cộng đồng Người Việt Nam tại Hàn Quốc Anh Ngọc
Cô dâu Việt linh cảm xấu trước khi bị giết ở Hàn Quốc?(VTC News) – Cô dâu Việt đã có những linh cảm không hay trước khi bị sát hại tại một nhà nghỉ ở đảo Jeju của Hàn Quốc. Ông Nguyễn Ngọc Minh, cha của cô dâu Việt bị sát hại (SN 1954, ngụ đường Bến Vân Đông, phường 2, quận 4, TP.HCM) đang rất nóng lòng chờ tin tức về đứa con gái xấu sổ từ anh Nguyễn Tấn Thắng (con trai đầu ông Minh) ở Hàn Quốc.
 | | Hình ảnh hạnh phúc ngày cưới của chị Nguyễn Thị Thanh Ngân với người chồng Hàn Quốc |
Đêm qua anh Thắng đã bay sang Hàn Quốc nhận lại thi thể em gái là chị Nguyễn Thị Thanh Ngân (SN 1992) để đưa về nước mai táng.
“Gia đình tôi đang rất lo lắng, không biết nó sang bên đó có bị trục trặc chuyện gì không mà đến giờ vẫn chưa gọi điện về. Cầu trời cho mọi chuyện được êm xuôi tốt đẹp để nó đưa thi thể em gái về nước an toàn”, ông Minh nấc nghẹn.
 | | Niềm vui trong ngày sinh nhật của cô dâu Việt trước khi bị sát hại |
Ông Minh kể, Ngân là cô gái sống rất tình cảm, hiếu thảo với mọi người trong gia đình. Từ bé Ngân ít khi sống xa nhà nên mới đầu về làm dâu ở xứ Hàn, cô liên tục gọi điện về khóc nức nở vì nhớ mọi người.
Cũng vì thương cha và anh chị nên khi bị gia đình chồng đuổi ra khỏi nhà, Ngân không nói cho ai biết. Chỉ đến khi làm đơn ly dị với chồng và có việc làm ổn định, Ngân mới điện cho ông Minh khóc vì trót dại lấy chồng ngoại.
Theo ông Minh, hôm sinh nhật Ngân có gọi điện cho ông nói: “Con sẽ cố gắng làm việc kiếm chút đỉnh để tết năm nay về nước mua quà cho cha và mọi người. Cha đừng buồn nha, mấy năm rồi con không về được, lần này nhất định con sẽ về…
 | | Món quà sinh nhật chị gái tổ chức ở Việt Nam gửi qua facebook tặng Ngân |
Chị Hồng (chị gái Ngân) nhớ lại, mấy ngày trước Ngân còn nhắn tin cho chị qua mạng facebook than buồn và cảm thấy trong người bất an.
“Tôi nghĩ vì nó mệt mỏi với cuộc sống bên đó nên mới nhắn tin tâm sự như thế, ai ngờ ít hôm sau thì xảy ra chuyện”, chị Hồng cho biết.
Lúc 19h50 đêm 29/11, mấy tiếng đồng hồ trước khi bị sát hại, Ngân còn lên facebook cá nhân viết: “Ta đi đây…”. Một số bạn bè đọc được thông tin này đều cảm thấy bất an vì sợ Ngân buồn chuyện gì đó sẽ làm điều dại dột.Cô gái Việt bị sát hại ở Hàn Quốc: ‘Mong Nhà nước hỗ trợ để sớm đưa con tôi trở về’(TNO) Đó là lời thỉnh cầu tha thiết của ông Nguyễn Ngọc Minh (60 tuổi), cha của chị Nguyễn Thị Thanh Ngân (22 tuổi, ngụ quận 4, TP.HCM), người bị sát hại ở Hàn Quốc và được phát hiện vào rạng sáng 30.11.
 Những người trong gia đình gần như suy sụp khi hay tin chị Ngân bị sát hại nơi xứ người |
Tuổi thơ đầy sóng gió Qua nhiều con hẻm ngoằn ngoèo, chúng tôi tìm đến nhà ông Minh để tìm hiểu câu chuyện về người con gái út của ông vừa bị sát hại ở Hàn Quốc. Không khí tang thương bao trùm căn nhà được dựng tạm bằng những miếng tôn mỏng tanh, tiếng kinh cầu nguyện cứ vang vọng, len lỏi khắp các ngõ ngách của căn nhà khiến những người đến viếng thăm không khỏi chạnh lòng. Ngồi dựa vào tấm vách làm bằng tôn đã loang lổ, ông Minh thẫn thờ: “Sáng hôm qua (30.11), bạn nó bên đó gọi về báo tin. Lúc đó, người tôi như chết lặng, tay chân bủn rủn chẳng muốn làm gì. Nó là đứa con gái út nên tôi thương nó nhất, vậy mà nó lại ra đi nơi đất khách quê người”. Ông Minh còn cho biết thêm, trước đây, ông cũng có nhà cửa đàng hoàng nhưng vợ bị ung thư phải chạy chữa hơn 3 năm nên mọi tài sản trong gia đình đều đội nón ra đi.  Những đứa cháu nhỏ của chị Ngân chưa thể cảm nhận sự mất mát quá lớn của gia đình |
Sau đó, nhờ chính quyền hỗ trợ nên ông đến dưới chân cầu Dừa (phường 2, quận 4, TP.HCM) dựng tạm căn nhà để ở. Căn nhà chỉ rộng chừng 16 m2 nhưng có đến 13 người thuộc ba thế hệ sinh sống. “Mẹ bệnh nên Ngân phải nghỉ học sớm để đi làm phụ giúp gia đình. Đêm về thì dẹp đồ đạc qua một bên rồi cả nhà nằm xếp lớp dưới đất” - ông Minh nói. Vào tháng 6.2012, qua bạn bè giới thiệu, chị Ngân gặp và kết hôn với một người Hàn Quốc (41 tuổi). Để có tiền làm đám cưới cho con gái, ông Minh phải vay mượn bà con khắp nơi. Những hy vọng về cuộc sống đầy đủ bắt đầu le lói khi chị Ngân có việc làm ổn định bên xứ người. Nhưng tai ương một lần nữa lại đổ ập xuống trên vai người con gái đôi mươi khiến hạnh phúc gia đình chị bị đổ vỡ. “Sau một thời gian chung sống mà không có con nên nó bị chồng bỏ và phải ở lại bên đó làm phục vụ quán xá kiếm tiền về nhà. Ai ngờ…” - ông Minh nghẹn ngào. Sinh nhật cuối cùng Trong làn khói hương nghi ngút, 6 đứa cháu của chị Ngân ngây thơ đùa giỡn bên di ảnh của người cô, dì của mình. Khi chúng tôi hỏi về hoàn cảnh hiện tại và những kế hoạch sắp tới của gia đình để đưa tro cốt của chị Ngân về nước thì ông Minh bảo: “Nói thiệt với anh trong túi tôi chỉ còn hơn 1 triệu. Hồi sáng đi làm hộ chiếu hết 500.000, giờ chỉ còn mấy trăm. Trong khi đó, bên Hàn Quốc người ta kêu mọi chi phí phải tự túc nên không biết kiếm đâu ra 40-50 triệu để qua bên đó”. Ông Minh cố giữ bình tĩnh và bảo người con gái đầu: “Con nói chuyện với anh ấy đi, ba không còn đủ sức nói nữa”.  Ông Minh và chị Hồng khóc ngất trước bàn thờ của chị Ngân |
Ngôi bên di ảnh em gái, chị Tuyết Hồng (33 tuổi, chị ruột của chị Ngân) lau vội nước mắt và nói: “Cách đây mấy ngày là sinh nhật nó (24.11), mấy chị em ở nhà góp tiền mua cái bánh kem 25.000 đồng, rồi thắp nến kêu mấy đứa cháu ngồi vây quanh hát chúc mừng, tôi chụp hình gởi qua bên đó cho nó xem. Nó xúc động, liền gọi về nhà và khóc nhiều lắm. Nó bảo sẽ cố gắng làm kiếm tiền để tết này về nước ở luôn chứ bên đó khổ quá. Ai ngờ, đó là lần sinh nhật cuối cùng của nó”. Vừa dứt lời, chị Hồng òa khóc. Người bình tĩnh nhất trong nhà là anh Nguyễn Tấn Thắng (31 tuổi, anh trai chị Ngân) cũng không cầm được nước mắt. Khi chúng tôi xin phép thắp nén hương để cầu mong linh hồn chị Ngân được siêu thoát thì anh Thắng nói: “Lúc xảy ra chuyện, tìm mãi trong nhà chẳng thấy tấm hình nào của nó. Rồi mấy chị em tìm kiếm trên mạng mới lấy được hình đem đi in làm hình thờ”. Trong lúc chúng tôi chuẩn bị rời đi, ông Minh cố gượng người đứng dậy nói như thỉnh cầu: “Giờ chú chẳng mong gì hơn, chỉ mong Nhà nước hỗ trợ để sớm đưa em Ngân về nước”. Bài, ảnh: Đức Tiến Đỗ Thị Mỹ Tiên, sinh năm 1987 tại ấp Ninh Lợi, xã Ninh Thạnh, thị xã Tây Ninh, nhập quốc tịch Hàn năm 2012 với tên Seo Jin Hee sau khi kết hôn với người chồng Hàn Quốc. Ngày 22/7, chị Mỹ Tiên đã qua đời ở Hàn Quốc với nguyên nhân ban đầu là tai nạn. Oan nghiệt thay, ít ngày sau, chính chồng chị Tiên thừa nhận đã giết hại vợ.  | | Ông Linh buồn bã xem lại ảnh cưới của con gái. |
Con đường đất đỏ đầy ổ gà, ổ trâu ngập nước dưới cơn mưa tầm tã. Nhà của ba mẹ Mỹ Tiên nằm trong một con hẻm sâu hút. Căn nhà nhỏ lợp tôn, vách ván cũ nát. Ông Đỗ Thanh Linh, ba của Mỹ Tiên mới 58 tuổi mà già yếu, phờ phạc. Ông lặng lẽ nhìn những di ảnh của con gái, mắt đỏ hoe, vẻ sốt ruột không biết bao giờ thì vợ đem tro cốt của con về lại quê nhà. Vợ ông, bà Nguyễn Thị Thanh Thủy, 52 tuổi, đã bay sang tỉnh Chec llanam-do (Hàn Quốc) để lo đám tang cho con hôm 26/7. Kể lại những ngày cuối của con gái, ông Linh nói, suốt ngày 21/7, Mỹ Tiên gọi điện về nhà ba lần, lo lắng hỏi thăm bệnh tình của ba má và anh trai. “Chiều 21/7, lần thứ ba nó điện cho tôi, báo đang chơi với bé Mên (con trai tám tuổi) tại nhà chồng. Sáng 22/7, nó nhắn tin, cho biết là chuẩn bị ký hợp đồng về nước làm việc cho một công ty Hàn Quốc tại Khu công nghiệp Phước Đông (Tây Ninh). Nó muốn ở gần nhà để chăm lo ba má”.  | | Vợ chồng Mỹ Tiên khi còn hạnh phúc ở Hàn Quốc. |
Tháng 10/2013, hình như có linh tính về sự đi xa, Mỹ Tiên về thăm nhà lần thứ tư trong 10 năm làm dâu xứ người. Chị ở lại khá lâu, phải xin gia hạn hộ chiếu tới lần thứ ba. Sau khi dành thời gian đi du lịch Hà Nội, Hạ Long, Tam Đảo… chị về Tây Ninh ăn Tết với gia đình. Sự ra đi đột ngột của Mỹ Tiên, mãi đến ngày 25/7 vừa qua gia đình ông Linh mới biết, do một người bạn của Mỹ Tiên tên Tuyết đang về thăm nhà ở TP.HCM, trực tiếp đến báo tin. Vụ việc được cô bạn thân tên My ở cùng phòng với Mỹ Tiên kể lại, trưa ngày thứ Bảy 21/7, Mỹ Tiên bảo sẽ đi thăm con trai. Lúc 10h, hai chị em nấu mì ăn, tới 11h30, Mỹ Tiên đón xe buýt về nhà chồng, quãng đường đi khoảng 45 phút. Từ trạm cuối xe buýt, đi khoảng 1 km thì tới nhà chồng. Chiều đó, Mỹ Tiên gọi điện khoe với My rằng hai mẹ con đang đùa giỡn vui lắm. Sáng ngày 22/7, không thấy bạn quay về phòng để thứ Hai đi làm, My gọi điện thì điện thoại của Mỹ Tiên “không liên lạc được”. Chiều đó cô gọi tiếp, thấy máy đổ chuông rồi tắt ngay. My liền gọi điện báo cho Tuyết hiện ở Việt Nam, rằng Mỹ Tiên mất tích. Cô Tuyết là thông dịch viên của công ty, nên đã gọi điện hỏi Lee Geun Sik, chồng Mỹ Tiên, anh ta báo rằng Mỹ Tiên bị tai nạn, đã qua đời, hiện xác đang để ở bệnh viện.  | | Mỹ Tiên và chồng trong ngày cưới ở Tây Ninh. |
Theo ông Linh, gia đình ông nghèo lắm. Mỹ Tiên là con gái thứ hai, rất hiếu học, dù nhà nghèo nhưng vừa làm mướn vừa học hết lớp 12. “Nó nói với tôi, nhà nghèo không nuôi con học đại học được, ba để con đi làm phụ má tiền cơm, tiền thuốc”. Đi làm khoảng năm tháng, một hôm Tiên về nhà, thông báo ba má dọn dẹp nhà cửa “để người ta tới coi mặt”. Tiên nói với má là lấy chồng Hàn Quốc để có tiền cho ba má. “Nó lấy chồng năm 2004, hai năm sau có con trai, chúng tôi cũng mừng. Gần đây, nó nói con rể Sik vô trách nhiệm, không lo cho vợ con, nói mãi mà không thay đổi. Nó đòi chia tay, chồng không chịu, vì sợ phải chia tài sản. Tiên đăng ký kết hôn ở Hàn nên ly hôn thì chồng phải chia tài sản. Con gái tôi cũng đồng ý ra đi tay không, chỉ giữ lại chiếc xe hơi nó mua. Chưa hiểu kết quả ra sao, nay con tôi chết rồi”, người cha nói. Theo tin cô My cung cấp cho gia đình, cảnh sát Hàn Quốc nghi ngờ vụ tai nạn giao thông là hiện trường giả, vì chiếc xe đổ dốc mới 10 m đã bị lật, chìa khóa điện bị ngắt. Chị Mỹ Tiên bị vết đập trên đỉnh đầu làm vỡ hộp sọ, mặt bị biến dạng, tuy ngồi trước vô lăng, nhưng kính xe phía trước không bị vỡ. Theo kết quả khám nghiệm tử thi, chị Tiên chết vào khoảng từ 20h - 22h ngày 22/7. Camera trên đường có ghi lại hình ảnh chiếc xe của chị chạy qua lúc 22h ngày 22/7, nhưng do một người đàn ông cầm lái. Hình ảnh ghi lại lúc 1h sáng có một người đàn ông đi bộ ngược chiều lại hướng xe, do trời tối không nhìn rõ mặt, nhưng dáng đi rất giống Sik, chồng Mỹ Tiên. Theo Phương Qúy / Phụ Nữ TP.HCM Cô dâu Việt bị giết, ném xác xuống núi ở Hàn QuốcNguồn tin từ cộng đồng người Việt tại khu vực tỉnh Chonlanam-do - Hàn Quốc cho biết ngày 29-7, cảnh sát địa phương đã phát hiện thi thể một cô dâu Việt dưới thung lũng trong khu vực.Lễ an táng chị Đỗ Thị Mỹ Tiên tại Hàn Quốc Ảnh: Cộng đồng người Việt tại khu vực Chonlanam-do cung cấp Thông tin ban đầu cho biết nạn nhân là chị Đỗ Thị Mỹ Tiên (SN 1987 tại Tây Ninh) lấy chồng Hàn Quốc từ năm 2004. Hiện chị Tiên đã nhập quốc tịch Hàn Quốc và có một con trai 8 tuổi. Cảnh sát địa phương đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi để điều tra và sơ bộ kết luận chị Tiên đã bị sát hại khoảng 5 ngày trước, sau đó bị hung thủ đẩy xuống núi cùng với chiếc xe máy nhằm tạo hiện trường giả là một vụ tai nạn. Cảnh sát địa phương đã triệu tập chồng chị Tiên, 47 tuổi, để lấy lời khai. Theo một số cô dâu Việt ở cùng địa phương, trước khi mất tích, chị Tiên và chồng đã xảy ra mâu thuẫn và cãi vã. Mẹ đẻ chị Tiên đang có mặt tại Hàn Quốc để cùng với gia đình nhà chồng chị Tiên làm lễ an táng cho con gái. Theo Vietnam+ Nguên nhân phụ nũ miền Nam phải liều mang bán trôn cho ngoại quốc để sinh tồn thời XHCN:
Hiện tượng người Bắc XHCN chiếm hữu toàn bộ phố xá thương mại quan trọng ở Sài gòn, khống chế mọi lãnh vực trọng yếu ở miền Nam.
Cho dù núp dưới cái hào quang chiến thắng “đánh Tây, đuổi Mỹ” – cho dù che giấu, lấp liếm, giải thích thế nào chăng nữa – Thì dân miền Nam (gồm cả Nam lẫn Bắc theo chế độ Tự Do) vẫn thấy một sự thật.
Sự thật đó là người Bắc XHCN tràn ngập, chiếm hữu toàn bộ phố xá thương mãi trọng yếu của Sài gòn. Làm sao nói khác được khi đi một vòng quanh Sài gòn và các khu phố sầm uất nhứt, vào những hiệu buôn lớn để mua hàng hay hỏi han chuyện trò thì thấy toàn là người Bắc Cộng sản –
Từ cô bán hàng đến bà chủ ngồi phía trong cũng toàn là người của xã hội chủ nghĩa miền Bắc. Các tiệm buôn lớn trước 75- như các tiệm vàng Nguyễn thế Tài, Nguyễn thế Năng, Pharmacie Trang Hai, tiệm Émile Bodin của bầu Yên, nhà hàng Bồng Lai, Thanh Thế, Nguyễn văn Đắc, Phạm thị Trước.
Hiện nay, một số đã đổi bảng hiệu hoặc xây cât lại nhưng đều do người miền Bắc XHCN làm chủ. Các cơ sở khác như nhà hàng ăn lớn, tiệm phở, công ty thương nghiệp, dịch vụ lớn, những tiệm buôn bán đồ nhập cảng v. v. cũng đều do người Bắc XHCN chiếm giữ.
Tuy không có con số thống kê chính xác nhưng tự mình đi đếm hàng trăm tiệm buôn sang trọng quanh các khu phố lớn ở Sài gòn thì khám phá ra được chủ nhân là người Bắc XHCN (Tất nhiên là vợ con, thân nhân cán bộ lớn).
Những gái Bắc XHCN bán hàng là con cháu của chủ nhân người Bắc CS (do các cô tự nói ra). Các cô chiêu đãi viên trên phi cơ VNHK đều là người Bắc thân nhân hay con cháu cán bộ – dĩ nhiên – vẻ mặt lạnh lùng, hách dịch với người Việt Nam và khúm núm lịch sự với khách ngoại quốc. Cán bộ, công nhân viên trọng yếu – Cũng đều là người Bắc – Trừ một số cán bộ gốc miền Nam ra Bắc tập kết – theo đoàn quân viễn chinh vào đánh chiếm miền Nam, thì cũng kể họ là người XHCN miền Bắc cả.
Hệ thống quyền lực từ trên đến dưới – Từ Trung ương đến địa phương – Từ Tỉnh thành đến quận lỵ, thị trấn, làng xã gần – đều do đảng viên người miền Bắc XHCN – nắm giữ.
Những công Ty dịch vụ có tầm cở, những công Ty thương mãi sản xuất lớn – điển hình là một công Ty vận tải và du lịch có đến 10,000 xe hơi đủ loại, chủ nhân cũng là người Bắc XHCN. Từ chính trị đến văn hóa, từ giáo dục đến truyền thông, từ nhà cầm quyền cai trị đến chủ nhân cơ sở thương mãi, sản xuất – Cũng là do người miền Bắc XHCN nắm giữ. Đó là sự thật trước mắt ai cũng thấy. Còn những vàng bạc, kim cương, đô la, tài sản tịch thu, chiếm đoạt được trong các cuộc đánh tư sản, cải tạo công thuơng nghiệp – nhà cửa của tù cải tạo, của dân bị đuổi đi kinh tế mới, những tấn vàng của VNCH để lại, những luợng vàng thu được từ những người vuợt biên bán chánh thức – tài sản những người thuộc diện tư sản – toàn bộ tài sản nầy từ Sài gòn đến các Tỉnh miền Trung, miền Nam – được đem đi đâu? – Không ai biết. Thông thường – những của cãi nầy phải được sung vào công quỹ – để làm việc công ích như các ông cộng sản thường rêu rao bằng những mỹ từ đẹp đẻ.
Thế nhưng – sự thật trước nhứt – là các ông đem chia chác nhau. Chia nhau một cách hợp hiến và hợp pháp theo Luật pháp XHCN (Đọc Đất đai-Nguồn sống và Hiểm Họa của Tiến sĩ Nguyễn thanh Giang).
Ông lớn lấy tài sản lớn. Ông nhỏ – nhà cửa nhỏ. Có ông cán bộ trung cấp chiếm hữu đến 4, 5 căn nhà. Ở không hết… đem cho công Ty ngoại quốc thuê.
Điều phổ biến nhứt là các ông cán bộ nầy – vì lo sợ cái gì đó – bèn đem “ bán non” những căn nhà đó lấy tiền bỏ túi trước. Một căn nhà của một viên chức tù cải tạo đã sang tay đến 3 đời chủ.
Nhà cửa thuộc diện tù cải tạo là dứt khoát phải tịch thu – không ngoại lệ. Những trường hợp con ruột có hộ khẩu chánh thức còn được phép ở lại – là những biện pháp vá víu.
Chủ quyền căn nhà nầy là Nhà nước XHCN. Không chỉ có những người thuộc diện cải tạo công thương nghiệp, tù cải tạo, vượt biên mà người dân thường có nhà cửa phố xá đều bị “ giải phóng” ra khỏi nhà bằng nhiều chánh sách: Đuổi đi kinh tế mới, dụ vào hợp tác xã tiểu công nghiệp, mượn nhà làm trụ sở, cho cán bộ vào ở chung (chủ nhà chịu không nổi… phải bỏ đi), đổi tiền để vô sản hoá người dân, khiến họ bắt buộc phải bán tất cả những gì có thể bán để mua gạo ăn, cuối cùng chịu không nổi, phải bán nhà với giá rẻ bỏ, để vô hẻm ở, ra ngoại ô hoặc về quê…
Cán bộ hoặc thân nhân cán bộ miền Bắc XHCN tràn vào “mua” nhà Saigòn với giá gần như cho không… và bây giờ là chủ những căn nhà mặt tiền ở Sài gòn.
Mang xe tăng T. 54, cà nông Liên xô, AK Trung cộng, đẩy hàng hàng lớp lớp thiếu niên “xẻ dọc Trường Sơn” bằng máu, nước mắt và xác chết… vào xâm chiếm miền Nam. Chiêu bài là “giải phóng” nhân dân miền Nam – nhưng sựthật khó chối cãi được – là vào để chiếm đoạt tài sản, đất đai, của cải, đuổi dân Sài gòn (gồm cả người Nam lẫn Bắc theo chế độ Tự Do) ra khỏi Thủ Đô bằng nhiều chánh sách khác nhau – để bây giờ chính các ông đã trở thành những nhà tư bản đỏ triệu phú, tỉ phú đô la, vàng bạc kim cương đầy túi – những ông chủ công Ty có tầm vóc, những địa chủ đầy quyền lực. Trương mục ở nước ngoài đầy nhóc đô la. Con cái du học ngoại quốc. (Trường hợp con Thủ Tướng CS Nguyễn tấn Dũng đang du học Mỹ là trường hợp điển hình).
Như vậy hành vi nầy gọi là gì? Trong những lúc canh tàn rượu tỉnh – một mình đối diện với luơng tâm thuần luơng của mình – các ông tự gọi mình đi. Đến thời “mở cửa” – cơ hội hốt tiền còn nhiều hơn gấp bội. Tư bản ngoại quốc ồ ạt đầu tư, khai thác dầu khí, thâu đô la Việt kiều về thăm quê hương – đô la khách du lịch ngoại quốc, bán đất cho Công Ty ngoại quốc xây cất cơ xưởng, cấp giấy phép các công Ty ngoại quốc, các dịch vụ đấu thầu xây cất cầu cống, làm đuờng xá, xây cất đại công tác.
Những món nợ kếch xù từ Ngân hàng thế giới, từ quỷ tiền tệ quốc tế – những món nợ trả đến mấy đời con cháu cũng chưa dứt. Những đại công tác nầy mặc sức mà ăn, no bóc ké. Nhiều công trình vừa xây cất xong đã muốn sụp xuống vì nạn ăn bớt vật liệu.
Một thí dụ diển hình: Một bệnh viện gần chợ “cua” Long Hồ – quê hương của Phạm Hùng – nước vôi còn chưa ráo đã muốn sụp. Hiện đóng cửa không sử dụng được.
Hiện tượng người Bắc XHCN khống chế toàn bộ, làm chủ nhân ông mọi lãnh vực, chiếm hữu nhà cửa, phố xá thương mãi ở những khu thương mãi quan trọng nhứt – là một sự thật không thể chối bỏ.
Cán bộ lớn đã trở thành những nhà tài phiệt đầy quyền lực – những ông chủ lớn giàu có nhứt lịch sử. Trong khi dân chúng miền quê – nhứt là miền Nam – ngày càng nghèo khổ, thất nghiệp kinh niên. Khoảng cách giàu nghèo càng lớn – đời sống cán bộ và dân chúng càng ngày cách biệt. Giàu thì giàu quá sức. Nghèo thì nghèo cùng cực.
Nhà văn – bác sĩ Hoàng Chính – gọi thời kỳ sau 75 là thời “Bắc thuộc”: – “Năm Bắc thuộc thứ 2: Lưu vong tại quê nhà trong cái đói lạnh. – Năm Bắc thuộc thứ 6: Cầu cho em nhỏ 10 tuổi đầu đủ cơm ăn giữa bầy thú hát điên cuồng chuyện thù oán. – Năm Bắc thuộc thứ 12: Trong ngục thất quê hương ấy, có những bộ xương thôi tập khóc cười. “ Miền Bắc XHCN đem quân xâm chiếm miền Nam để khống chế nơi đó bằng sự đô hộ hà khắc và tinh vi.
Bộ mặt của thôn quê miền Nam Có nhìn tận mắt, nghe tận nơi, mới hình dung được khuôn mặt miền Nam sau 37 năm dưới chế độ cọng sản. Để được trung thực – người viết ghi những điều thấy và nghe – không bình luận – tại những nơi đã đi qua.
Thôn quê miền Nam – những làng xóm gần tỉnh lỵ quận lỵ đã có điện. Những làng xã xa xôi hẻo lánh vẫn còn sống trong sự tăm tối. Đường sá có tu sửa phần nào. Đường mòn đi sâu vào thôn xóm được lót bằng những tấm dalle lớn (đường xóm Cái Nứa, Cái Chuối xã Long Mỹ, VL), xe Honda và xe đạp chạy qua được. “Cầu tre lắt lẻo”, cầu khỉ được thay thế bằng cầu ván, cầu đúc (vật liệu nhẹ).
Cầu tiêu công cộng trên sông các chợ quận (Cái bè, Cái răng) nay không còn thấy nữa. Nhà cửa dọc theo bờ sông Cần Thơ – chen vào những nhà gạch ngói, nhà tôn – còn nhiều nhà lá nghèo nàn. Tương tự như vậy – dọc theo bờ sông Long Hồ – một số nhà gạch nhỏ mới cất. xen kẻ những mái lá bạc màu. Vùng Trà ốp, Trà Cú (Vĩnh Bình), chợ Thầy Phó (Vĩnh Long) nhiều nhà gạch mới xây nhưng vẫn không thiếu nhà lá, nhà tôn. Đường mòn chạy sâu vào thôn xóm vẫn còn đường đất lầy lội vào mùa mưa nước nổi. Hai bên đường xe chạy từ Mỹ Tho, Cao Lãnh, Châu Đốc, Hà Tiên, Rạch Giá, Cần Thơ.
Nhìn chung – có một sự thay đổi rõ rệt. Nhà cửa, hàng quán dầy đặc, động cơ ồn ào, người ta chen chúc. Cảm giác chung là ngột ngạt, khó thở. Những vườn cây xanh um bên đường đã biến mất hoặc thụt sâu vào trong, không còn thấy nữa. Không còn vẻ đẹp thiên nhiên ngày nào của vườn xoài cát sai oằn, mát mắt vùng Cái Bè, An Hữu, vườn mận Hồng Đào chạy dài hàng mấy cây số ở Trung Lương. Dưới sông – từ kinh Vỉnh Tế chảy dài ra sông Tiền Giang – hai bên bờ toàn là nhà sàn, phía sau chống đở sơ sài bằng những trụ cây tràm. Mỗi nhà hoặc 2, 3 nhà đều có cầu tiêu tiểu bắc phía sau. Tắm rửa giặt giũ, múc nước lên uống, phóng uế – cũng cùng trên một dòng sông. Không có gì thay đổi. Làng Chàm còn gọi là chà Châu Giang cũng còn đó. Cũng nghèo như trước. Những chiếc ghe vừa dùng làm nhà ở, vừa là hồ nuôi cá Basa, cá điêu hồng v. v. ở dọc bờ sông khá dài. Dường như ngành nầy hoạt động khá mạnh.
Dọc trên những nhánh phụ lưu của 2 con sông Tìền và sông Hậu – người ta không còn thấy bóng dáng của những cô gái thướt tha trong chiếc áo bà ba và chiếc quần lãnh Mỹ A, chèo ghe tam bản, bơi xuồng như thời trước 75 nữa. Hỏi một ông già tên Ph. tại Cái Răng, được trả lời: “ Đi lấy Đại Hàn, Đài Loan hết rồi ông ơi! “
Tôi hỏi thêm: “ Các cô gái có nghe nhiều người bị gạt bán vào ổ mãi dâm, nhiều cô gái bị chồng bắt làm lao động khổ sai, bị ngược đãi, đánh đập. các cô gái nầy không sợ sao ông? –
“ Biết hết – mấy cổ biết hết, báo Tuổi trẻ đăng hàng ngày. Nhưng cũng có những cô có chồng Đại Hàn, cho tiền cha mẹ xây nhà gạch. Cô khác thấy vậy ham. Phần nghèo, phần không có việc làm kinh niên. Họ liều đó ông, biết đâu gặp may.
“Câu chuyện gái Việt lấy chồng Đại Hàn, Đài Loan hiện không ai là không biết. Tờ Tuổi trẻ – số ra ngày mùng 1 Tết năm Đinh Hợi – trong bài:
“ Nỗi đau từ những con số”- có nói đến số phận của 65.000 phụ nữ đang làm vợ những ông chồng Đài Loan già, tàn tật đui mù, làm vợ tập thể cho cả gia đình cha lẫn con. Cũng do tờ báo nầy: “Tại một tổ chức kết hôn lậu, hàng chục cô gái đang “bày hàng” để 2 ông Hàn quốc tuyển chọn làm vợ và 118 cô gái khác đang nằm, ngồi, lố nhố chờ đến luợt mình “ Và cũng do tờ Tuổi Trẻ số phát hành ngày 25-04-2007, viết:
“Hơn 60 cô gái, tuổi từ 18 đến 20 từ miền Tây Nam bộ lên Sài gòn để dự tuyển. Các chàng rể Hàn Quốc được quyền soi xem kỷ, chú ý đến cả từng vết thẹo trên thân thể cô gái.Dich vụ môi giới hôn nhân lậu có chiều hướng gia tăng. Chỉ trong vòng nửa tháng mà Công An đã phát hiện 3 vụ môi giới hôn nhân trái phép ở quận 6, 10 và Tân Bình với gần 400 lượt cô gái hiện diện.
Thậm chí – những cô gái được xe ôm chở tới địa điểm dồn dập gây náo loạn cả xóm”.
Người viết có lần lang thang trên đường Nguyễn tri Phương tìm quán ăn cơm trưa, có chứng kiến tại chỗ: Từng cặp trai gái lố nhố xếp hàng đôi trước cửa một trường học, để lần luợt vào trong. Hỏi một người trung niên lái xe Honda ôm, được anh trả lời: ‘
“Đó là những người con gái đi lấy chồng Đài Loan và Đại Hàn. Hàng bên trong là những đang làm thủ tục xuất ngoại theo chồng. Hàng bên ngoài là những người đang vào ký giấy hôn thú sau khi đã qua các cửa ải môi giới và thủ tục tuyển lựa”.
Tôi nhìn kỷ các cô gái nầy tuổi rất trẻ khoản chừng 18 đến 20, đứng cặp với những anh Tàu già sồn sồn- có một người tàn tật. Không thấy có thanh niên trẻ. Nhìn cách ăn mặc và nghe họ nói chuyện – tôi đoán chừng họ đến từ miền Tây Nam Bộ. Đây là tổ chức môi giới chánh thức có giấy phép hành nghề.
Song song với tổ chức chánh thức, còn có một tổ chức “ môi giới hôn nhân lậu”- sự thật là một tổ chức buôn người, chuyên đi dụ dỗ trẻ em và gái, nói gạt là đi bán hàng hay đi làm việc tại các cơ xưởng ngoại quốc nhưng là để bán thẳng vào các ổ mãi dâm ở Kampuchia, Thái Lan, Ma Cau để nơi đây huấn luyện trẻ em làm nô lệ tình dục, các cô gái làm điếm, hoặc bán cho người Tàu bỏ tiền ra mua nô lệ. Tất nhiên là phải có sự tiếp tay che chở ăn chia của Công An. Nói là lậu nhưng thật ra là nhan nhãn xảy ra hằng tuần – thậm chí hằng ngày trước mặt dân chúng tại các quận Bình Thạnh, quận 11, Sàigòn. Cho dù chánh thức hay lậu, hậu quả cũng gần giống nhau. Chánh thức thì có giấy phép, có công an làm thủ tục, chánh phủ thu tiền lệ phí. Lậu thì lén lút với sự che chở của Công An.
Hậu quả gần giống nhau. Nhiều cô gái về làm vợ mấy tên Đài Loan, Đại Hàn bị ngược đãi, đánh đập tàn nhẫn – ban ngày làm nô dịch, ban đêm phục vụ tình dục rồi bán vào động mãi dâm lấy tiền gở vốn lại. (Trại cứu giúp nạn nhân của cha Hùng ở Đài Bắc là một bằng chứng) Còn lậu thì bán thẳng vào ổ điếm.
Biết bao nhiêu thảm cảnh, biết bao nhiêu bi kịch thương tâm làm rúng động lương tâm nhân loại. Cựu Quốc Trưởng Sihanouk không giấu được nỗi xót xa trước thảm cảnh người phụ nữ Miên làm vợ mấy thằng Tàu, lên tiếng kêu gọi họ trở về nước. Không thấy Việt Nam nói nửa lời!
Những cô gái nầy có biết những thảm kịch đau thương, những sự hành hạ, ngược đãi, đánh đập. nầy khi lấy chồng Đài Loan, Đại Hàn không? Có bị cưỡng bức, bị dụ dỗ hay tự nguyện? Cha mẹ có đồng ý hay cản trở? Nguyên nhân nào đã thúc đẩy họ dấn thân vào con đường hiểm nguy, tương lai mù mịt?
Trừ những trường hợp bị dụ dỗ qua đường dây buôn người – những người con gái này thật sự là họ TỰ NGUYỆN. Họ còn phải vay tiền mua sắm, ăn diện, hối lộ để đuợc giới thiệu.
Nhưng nguyên nhân nào thúc đẩy họ đi lấy chồng Đài Loan, Đại Hàn? Có thể có nhiều nguyên nhân phức tạp. Phó thường dân tôi chỉ đưa ra vài nhận định thiển cận như sau: Quá nhiều chương trình ngăn chống lũ lụt, chương trình công nghiệp hóa, đô thị hoá bừa bãi, không được nghiên cứu cẩn trọng, đất đai canh tác bị thu hẹp, Dân số gia tăng. Khối lượng đông đảo người miền Trung, Bắc XHCN tràn vào. Nông dân miền Nam thiếu đất canh tác.
Các cô gái miền Tây quẩn bách vì không có việc làm kinh niên – cuộc sống vô vọng mịt mờ – có nhiều trường hợp bị thúc đẩy vì cha mẹ mắng nhiếc, đay nghiến khi so sánh con gái mình với cô con gái làng bên có chồng Đại Hàn mang tiền về xây nhà gạch cho cha mẹ. Và cũng vì hấp thụ một nền giáo dục của chế độ CS (sinh sau 75) – những người trẻ tuổi không có ý niệm về luân lý đạo đức cũ, thang giá trị bị đảo lộn nên họ không đặt nặng danh dự, sĩ diện như thời trước. Do vậy – khi bị dồn vào đường cùng họ đành đánh liều nhắm mắt đưa chưn. Nhưng động lực chánh là nghèo.
Nghèo Là nguyên nhân chánh đưa đẩy các cô gái miền Tây Nam Bộ đi lấy chồng Đại Hàn và Đài Loan… để hy vọng thoát khỏi cảnh đời cơ cực, vô vọng không lối thoát. Thế nhưng tại sao đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) – vựa lúa nuôi sống cả nước – sau 32 năm dưới chế độ CS lại trở nên nghèo như vậy – nghèo hơn cả đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) ?
Theo tiêu chuẩn nghèo từng vùng của Tổng cục thống kê Việt Nam – thì tỷ lệ ĐBSCL năm 1998: ĐBSC: 37%. ĐBSH: 29% . Năm 2002: ĐBSCL: 13 %. ĐBSH: 9%. (Nhà x. b Thống kê – Hànội, trang 13 – LVB trích dẫn) Dù theo tiêu chuẩn nào: tiền tệ (tính bắng tiền hay bằng gạo) – mức sống (bao gồm lương thực, nhà ờ, mức sống văn hóa) – ĐBSCL vẫn nghèo hơn ĐBSH – bởi lẽ khi nghèo về lương thực – thì khó có thể giàu về nhà ở và đời sống văn hoá. Đó là cái nghèo mà anh Lâm văn Bé đã nhìn qua những con số có giá trị của những chương trình nghiên cứu thống kê khoa học. Và sau đây là cái nghèo miền Nam qua cái nhìn tận mắt, nghe tận nơi của người viết:
Cái nghèo ở Việt Nam bao gồm cả thành thị lẫn thôn quê là cái nghèo thiếu trước hụt sau, ăn bữa sáng lo bữa chiều – cái nghèo của một nông dân, nhà dột nát. khi trời mưa lúc ban đêm, không có chỗ để nằm phải tìm một góc nhà, phủ cái mền rách lên người ngồi run cằm cặp, trước từng cơn gió lạnh buốt lùa vào căn nhà trống hốc…
Cái nghèo của một người đi mượn tiền, muợn gạo. tới ngày hẹn không tiền trả. Cái nghèo của một thanh niên thất nghiệp, cha bị lao phổi không tiền mua thuốc nằm ho sù sụ, mẹ bơi xuồng đi bán bắp nấu không đủ gạo cho một đàn con 4 đứa, mũi dãi lòng thòng đang bốc đất cát chơi ngoài sân. Tục ngữ bình dân có câu:
Ít ai giàu 3 họ, khó 3 đời. – Có. Tôi quen biết ông Sáu S. làm nghề chày lưới. ở sông Long Hồ. Đời con là anh Tư Te tiếp nối nghề nầy: nghề đi nhủi tép. Và trên bờ sông Long Hồ năm nay (2011) tôi thấy vợ chồng một cậu thanh niên tên M. vừa cặp xuồng vào bến, đem miệng nhủi còn dính đầy rong rêu phơi trên mái nhà lá đã nhuộm màu thời gian bạc thếch. Hỏi thăm thì té ra là con của Tư Te. Đời ông nội – nghèo! Đời cha nghèo! Đời cháu cũng nghèo! Khó 3 đời đó. Cọng Sản đổi đời cho người giàu thành nghèo – không đổi đời cho người nghèo thành giàu.
Người nghèo vẫn tiếp tục nghèo. Nói chung thì nông dân Việt Nam chiếm 85% dân số mà đất không đủ để canh tác – còn công nghiệp không có khả năng biến nông dân thành thợ thuyền. trong khi dân số lại gia tăng quá tải. Cho nên thất nghiệp không thể tránh. Nghèo là hiện thực. Tiến sĩ Lê đăng Doanh trong một bài phổ biến trên mạng, viết : “Nông dân đã nghèo, đất đã kém đi, nhưng mỗi năm thêm 1 triệu miệng ăn, lấy đâu ra mà ăn. Lao động vất vả mỗi ngày trên 8m2 đất thì lấy gì mà giàu có được? “
Miền Nam – 37 năm dưới chế độ Cộng sản Kinh tế Việt Nam – trong đó có miền Nam – có chút tiến bộ – so từ thời kỳ bao cấp đến thời kỳ mở cửa. Nhưng chỉ là tiến bộ với chính mình. Đối với các nước khác trong vùng thì còn lẹt đẹt, cầm lồng đèn đỏ… Và điều quan trọng là sự phát triển nầy có đem lại phúc lợi cho dân chúng qua sự tái phân lợi tức quốc gia, để tài trợ các chương trình y tế, giáo dục (hiện nhiều người nghèo không có tiền đóng học phí bậc Tiểu học cho con) – các chương trình tạo công ăn việc làm, phát triển nông nghiệp, xây dựng hạ tầng cơ sở hay không? Hay là phát triển bằng những con số báo cáo rổng tuếch? Lợi tức tạo được đã bị cả hệ thống của những con virus tham nhũng đục nát cơ thể. Và hiện tại – muốn phát triển công nghiệp – nhà cầm quyền địa phương – theo lệnh Đảng – mở rộng khu công nghiệp, khu du lịch, đã quy hoạch lấy đất, phá mồ phá mả, chiếm nhà dân một cách bạo ngược. Lòng dân phẩn uất, kêu la than khóc. Oán hận ngút trời xanh! (19 Tỉnh miền Nam biểu tình khiếu kiện trước trụ sở quốc hội 2 Sàigòn). Như vậy có gọi là phát triển không?
Kết luận - 37 năm nhìn lại: Người ta thấy miền Bắc đã “giải phóng” dân Sài gòn ra khỏi đất đai, nhà cửa của họ. Họ phải rút vô hẻm, ra ngoại ô hay về quê bằng nhiều chánh sách khác nhau. “Giải phóng” miền ĐBSCL ra khỏi sự trù phú do thiên nhiên ưu đãi từ nhiều thế kỷ. “Giải phóng” quân nhân, viên chức chế độ cũ ra khỏi nhà, để đưa họ vào các trại tù cải tạo hoặc đẩy họ ra biển… “ Giải phóng” phụ nữ miền Tây, để họ được tự do đi làm “vợ nô lệ”, đi làm điếm ở Kampuchia, TháiLan.
- 37 năm nhìn lại: Người ta thấy Việt Nam trở lại thời kỳ mua bán nô lệ như thời Trung cổ. Phụ nữ Việt Nam bị bán đấu giá trên E-bay Taiwan website (2010) – bị trưng bày trong lồng kính, cũng để bán đấu giá như một con súc vật ở Singapour (2011). Chỉ trong năm 2011 – có khoản 400.000 phụ nữ và trẻ em bị bán ra ngoại quốc. (Theo UNI CEF – LHQ và Bộ Tư Pháp Việt Nam)
- 37 năm nhìn lại: Mượn lời nhà báo Claude Allegre, báo L’expresse ngày 29-8-2011: “Người ta không thể cho qua một cách im lặng những Khơ me đỏ, những trại tập trung ở Cambodia và những cuộc tàn sát man rợ ở đó. Và Việt Nam không được biết đến như là một chế độ nhân đạo hơn. Dưới cái cớ là dân tộc can đảm nầy đã chiến thắng các siêu cường quốc – người ta đi đến chỗ quên đi một nền độc tài đẫm máu đang thực thi trên xứ sở”
- 37 năm nhìn lại: Miền Bắc XHCN rõ ràng đã thiết lập một nền đô hộ miền Nam – khắc nghiệt, tinh vi hơn cả thời Pháp thuộc. Và điều quan trọng trên hết là Việt Nam đang đứng trước hiểm họa mất nước. Một trí thức Việt Nam lên tiếng cảnh cáo: “Việt Nam đang đứng trước hiểm họa mất nước. Mất cả đất đai, sông núi và dân tộc. Việt Nam sẽ trở thành một tỉnh lẻ của Tàu.” (Trích Người việt hải ngoại – Nguyễn văn Trấn)
© Trần Thế Phong
PHỤ NỮ VIỆT NAM | DƯỚI SỰ THỐNG TRỊ CỦA CỘNG SẢN |
Việt Thường Hàng năm, cứ đến ngày 8-3, chính quyền cộng sản Việt Nam lại tổ chức “ngày hội” của phụ nữ. Người phụ nữ Việt Nam được đề cao trong thơ, văn, ca nhạc, điện ảnh… chính thống. Các giới chức cộng sản có thẩm quyền, từ Hồ chí Minh đến Phạm văn Đồng, Nguyễn văn Linh và nay là Đỗ Mười, đều có bài viết về vai trò quan trọng của phụ nữ trong xã hội Việt Nam. Bởi vì lý luận kinh điển của chủ nghĩa cộng sản là chừng nào phụ nữ chưa được giải phóng (khỏi công việc gia đình) và chưa được quyền bình đẳng về chính trị với nam giới – tức quyền bầu cử và ứng cử, thì cách mạng vô sản dù có nắm được chính quyền cũng mới chỉ là thành công một phần mà thôi. Tiếc thay, cái lý thuyết nghe đầy “nhân ái” như vậy nên đã lừa được không chỉ những người nghèo khổ, những phụ nữ đã từng là trung tâm cấu trúc gia đình mà ngay những trí thức, học giả uyên bác cũng bị lóa mắt. Thực tiễn của Việt Nam hiện nay đã cho thấy rằng người cộng sản hoặc đứng trên lập trường của người cộng sản thì trong mọi lãnh vực của xã hội đều được giải quyết giữa lý luận và thực hành hoàn toàn trái ngược nhau. Cứ xét năm mục tiêu mà Hồ chí Minh và đảng của hắn đề ra cho nhân dân và đất nước Việt Nam thì thấy: 1- Gọi là một nước Việt Nam dân chủ nhưng thực tế lịch sử đã chứng minh chưa bao giờ nhân dân Việt Nam lại bị thống trị một cách độc tài, khát máu như dưới chế độ Hồ chí Minh và những người thừa kế; ghê tởm hơn cả thời Minh thuộc và Pháp thuộc; 2- Gọi là cộng hòa nhưng thực tế Hồ chí Minh và những kẻ thừa kế còn “vua hơn cả vua” 3- Gọi là tự do nhưng thực tế người dân bị tước trọn vẹn mọi quyền tự do như tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng trong mọi sinh hoạt xã hội, thực chất là cái gi? Tư bản được tăng gấp đôi Chế độ xã hội chủ nghĩa (hay cộng sản) là một chế độ độc đảng trị, lấy đấu tranh giai cấp, xóa bỏ bất công xã hội làm bình phong; lấy đàn áp, khủng bố làm phương tiện để gò ép quần chúng dưới sự thống trị của một dúm nhân vật chóp bu của đảng cộng sản; dùng các hội đoàn để quản lý quần chúng nhân dân. Cho nên khái niệm “dân chủ” và “tự do” hoàn toàn xa lạ trong xã hội xã hội chủ nghĩa. Bời vì ngay nội bộ đảng cầm quyền – tức đảng cộng sản – cũng không hề có dân chủ và tự do. Từ việc bầu ra các cấp ủy cho đến việc định ra đường lối chính sách và chỉ đạo thực hiện các chính sách ấy hoàn toàn nằm trong tay của các ủy viên bộ chính trị có thực quyền – thường là kiêm ủy viên ban bí thư. Tất cả nhân sự còn lại, kể cả ủy viên ban bí thư cho đến dự khuyết trung ương chỉ là những kẻ thừa hành có quyền hạn ở mức độ khác nhau tùy theo quan hệ “thân tình” với các ủy viên bộ chính trị có thực quyền. Ngay cả một vài nhân vật tuy đã được vào bộ chính trị nhưng cũng chỉ là cái bóng, cái tay nối dài của các ủy viên bộ chính trị có thực quyền và vẫn có thể bị quăng sọt rác nếu trót quên thân phận (như trường hợp Trần xuân Bách…) Một thí dụ điển hình về hình ảnh “dân chủ” và “tự do” của nội bộ đảng CSVN là kỳ đại hội đảng lần thứ 4 (có ông Gorbachev của Nga-xô tham dự), các đại biểu được cho học tập để bầu ban chấp hành trung ương và phải bầu thử. Bầu thử đến lần thứ hai vẫn chưa vừa ý “lãnh đạo” nên Lê đức Thọ (trưởng ban tổ chức trung ương) và Trần quốc Hoàn (bộ trưởng công an) phải đến từng tổ hăm dọa là “ghi âm” các đại biểu khi phát biểu và lưu các phiếu bầu chuyển cho Ban bảo vệ đảng xem xét. Cho nên lần bầu thử thứ ba đã khớp với ý kiến chỉ đạo của “trên” nghĩa là Lê Duẩn được cao phiếu nhất để từ bí thư thứ nhất chuyển danh xưng thành tổng bí thư, hoàn toàn thắng thế phe Trường Chinh. Hai triệu đảng viên cộng sản chỉ được phép bầu (có chỉ đạo) ra hơn một ngàn đại biểu đi dự đại hội đảng – cơ quan quyền lực cao nhất của đảng (như ghi trong điều lệ), mà còn không được hưởng cái quyền “tự do” và “dân chủ” chỉ trong gần một tuần lễ đại hội thì hỏi rằng làm sao quần chúng nhân dân Việt Nam (ngay cả công nhân và cốt cán lẫn đảng viên thường) lại được phép biết đến “tự do” và “dân chủ” trong cuộc đời mình, dưới sự thống trị của một dúm đảng viên chóp bu cầm quyền!!! Phụ nữ Việt Nam nằm trong phạm trù “quần chúng nhân dân Việt Nam” nên đương nhiên cũng không thể biết được mùi vị của các khái niệm “tự do” và “dân chủ” chừng nào nước Việt Nam còn bị cộng sản thống trị. Bởi lý thuyết kinh điển của cộng sản coi “con người là tư bản quý nhất” (L’homme est le capital le plus précieux), nghĩa là so với các thứ khác như ruộng đất, trâu bò v.v… Còn Hồ chí Minh giải thích thêm cho đệ tử rằng: “Nhân dân là vô tận”. Chính vì con người là “tư bản quý nhất”, vì đó là nguồn gốc sinh ra mọi loại tư bản khác, mọi giá trị khác cho nên người phụ nữ Việt Nam được Hồ chí Minh và đảng của hắn lôi ra khỏi vị trí “nội tướng” trong gia đình và được ban cho quyền bình đẳng như nam giới, nghĩa là làm cái việc như hiến pháp của nhà nước cộng sản ghi rằng: “Có nghĩa vụ và quyền lợi lao động”. Trong chế độ cộng sản, dù có tô màu bằng mọi uyển ngữ thì thực tế cho thấy thân phận người dân chỉ là “nô lệ” của tập đoàn chóp bu cầm quyền. Mọi người chỉ được phép ước mơ và thực hiện cho sự hy sinh vì sự nghiệp của đảng và “bác” – tức một dúm chóp bu cầm quyền và Hồ chí Minh, chứ không được phép bàn bạc việc nước, được ước mơ ngồi vào vị trí cầm lái con tàu tổ quốc, được xây dựng hạnh phúc cho đồng bào của mình, cho gia đình của mình và cho bản thân mình. Cho nên thực chất của cái mà Hồ chí Minh và đảng của hắn gọi là giải phóng phụ nữ chính là tước đoạt quyền xây dựng hạnh phúc gia đình và cá nhân của người phụ nữ, đưa lực lượng phụ nữ – chiếm ít ra là một nửa dân số – vào phạm trù “tư bản quý nhất” để tăng “tư bản quý nhất” đó lên gấp đôi một cách “nhẹ nhàng”. Như thế là chỉ cần một chữ ký ban bố sắc lệnh “giải phóng phụ nữ” và thi hành “luật hôn nhân và gia đình”, Hồ chí Minh và các đệ tử đã nhân đôi lực lượng có “nghĩa vụ và quyền lợi lao động” để “xây dựng và hoàn thiện chủ nghĩa xã hội”, nghĩa là xây dựng và hoàn thiện lối hưởng thụ vương giả cho Hồ chí Minh và đồng bọn (như xây lăng cho cả cha con Hồ chí Minh; như bắt dân lục tỉnh đi lao động nghĩa vụ đào đất lắp sông xây biệt thự cho Lê Duẩn ở An Phú, Thủ Đức…). Còn một vấn đề khác nữa là cộng sản và chiến tranh như bóng với hình. Bởi chiến tranh là sức sống của cộng sản. Làm chiến tranh để cướp chính quyền, để củng cố chính quyền, để mở rộng bờ cõi thống trị. Cho nên lôi lực lượng phụ nữ ra khỏi tổ ấm gia đình, ra khỏi chức năng người mẹ, người vợ để trở thành lực lượng chủ yếu trong sản xuất và phục vụ sản xuất – tức là cấu thành nền tảng cho cuộc sống hưởng thụ của tập đoàn cộng sản cầm quyền, còn nam giới sẽ được sử dụng chủ yếu cho mục đích chiến tranh bành trướng, núp dưới cái tên mỹ miều là “cách mạng vô sản toàn thế giới”. Phụ nữ tham chính “Cơ cấu thành phần” là khái niệm về tổ chức, một quái thai “dân chủ” do chế độ xã hội chủ nghĩa (hay cộng sản) đẻ ra. Nghĩa là từ bộ máy của đảng (cộng sản) cho đến quốc hội (bù nhìn), chính phủ, các đoàn thể và thậm chí đến cả đoàn chủ tịch các hội nghị (kể cả cấp tổ!), các cuộc mít-tinh v.v… thì về nhân sự phải đủ các thành phần nam, nữ, già, trẻ, người sắc tộc, quân sự, dân sự, công nhân, nông dân v.v… Nói theo ngôn từ của cán bộ tổ chức (cộng sản) là phải “đủ mâm đủ bát”. Trò hề này là sáng kiến của Hồ chí Minh nhằm “cụ thể hóa” cái gọi là “sự đoàn kết của mọi tầng lớp nhân dân xung quanh đảng (cộng sản) và bác (Hồ)”! Và, phụ nữ bao giờ cũng được Hồ chí Minh và những kẻ kế thừa hắn quan tâm cho “ngồi cạnh”, cho “chụp ảnh chung” – biểu hiệu cho việc “giải phóng” và “được bình đẳng” của phụ nữ!(?) Đó cũng là sự cụ thể hóa cái gọi là “dân chủ tập trung” của chế độ xã hội chủ nghĩa của Hồ chí Minh và những kẻ thừa kế hắn. Người phụ nữ trong chế độ Hồ chí Minh vì đã được “giải phóng” và được “bình đẳng” nên đương nhiên có đại biểu của giới mình tham chính, có đại biểu của mình trong cơ quan lãnh đạo của các đoàn thể được đặt tên là “đoàn thể quần chúng”. Điểm qua những nhân vật được cho nổi lên, ta thấy có: Nguyễn thị Thập, Hà thị Quế, Đinh thị Cẩn, Trương thị Mỹ, Nguyễn thị Định, Nguyễn thị Bình, Nguyễn thị Hằng, Hồ thị Bi, Nguyễn thị Chiên, Cù thị Hậu, Lê thu Trà, Kim Hạnh… Nếu tìm hiểu nguyên nhân sự nổi lên của những người đó thì thật là… buồn cho chị em phụ nữ. Bởi vì, không thiếu gì người vừa có lòng yêu nước vừa có trí thức nhưng chỉ được dùng có tính chất đối phó với thời cuộc, một thứ bù nhìn trong sân khấu “dân chủ, hòa hợp, hòa giải”. Đó là trường hợp của các bà như Trịnh thục Viên, ủy viên ban thường vụ của quốc hội khóa 1; Phan thị An (nguyên hiệu trưởng trường nữ trung học Hoài Đức, Hà-nội trước 1945) phó chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam; bác sỹ Vũ thị Chín, phó chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ; bác sỹ Nguyễn thị Ngọc Phượng, phó chủ tịch quốc hội (khóa 8); các anh hùng quân đội Nguyễn thị Chiên, Hồ thị Bi v.v… thì được dùng làm cái mồi “vinh hoa rởm” để lừa chị em cố mà hy sinh thật nhiều cho “đảng và bác”. Còn lại, số có quyền thực sự ở các mức độ khác nhau là ai? Đó là Hà thị Quế, ủy viên trung ương đảng từ khóa 3, từng giữ các chức phó ban kiểm tra trung ương đảng, phó ban tổ chức trung ương, hội trưởng hội liên hiệp phụ nữ xuất thân từ du kích Yên Thế, từng là giao liên đặc biệt và bộ hạ thân tín của Trường Chinh. Đó là Đinh thị Cẩn, ủy viên dự khuyết trung ương đảng khóa 3, đã giữ các chức thứ trưởng thứ nhất kiêm bí thư đảng đoàn bộ y tế (thời kỳ bác sỹ Phạm ngọc Thạch làm bộ trưởng) rồi phó chủ nhiệm phụ trách thường trực ủy ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em, xuất thân là cấp dưỡng (tức đầu bếp) của Hồ chí Minh. Đó là Trương thị Mỹ, phó chủ tịch tổng công đoàn Việt Nam (thời kỳ Hoàng quốc Việt làm chủ tịch), xuất thân là cần vụ (tức hầu phòng) của Hồ chí Minh. Đó là Lê thu Trà, phó chủ nhiệm thường trực ủy ban thiếu niên và nhi đồng, vợ thiếu tướng Lê Liêm, từng là chủ nhiệm tổng cục chính trị (trước Nguyễn chí Thanh), có bồ đỡ đầu là Nguyễn Côn, bí thư trung ương đảng kiêm phó thủ tướng (thời kỳ Phạm văn Đồng làm thủ tướng). Đó là Nguyễn thị Định, nhờ cặp bồ với trung tướng Trần Độ mà được thoát ra ẩn số, đẩy lên chức phó tư lệnh lực lượng vũ trang miền Nam (của CS trước 1975), được cho làm ủy viên trung ương đảng từ khóa 4 và thay Hà thị Quế trong chức chủ tịch hội phụ nữ. Đó là Nguyễn thị Bình, vợ lẽ của một đốc phủ sứ, ngán cảnh “kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng” nên được Nguyễn thị Thập giác ngộ theo cộng sản, bỏ chồng có cưới xin lấy một đệ tử của Nguyễn thị Thập và từ đó – nhờ có học – trở thành thư ký riêng của Nguyễn thị Thập (chủ tịch đầu tiên của hội phụ nữ, luôn cặp bồ với họ Hồ và được hắn cho chức ủy viên trung ương đảng từ khóa 2); được Thị Thập giới thiệu sang giữ chức vụ phó vụ lễ tân bộ ngoại giao. Nhờ ở vị trí này Thị Bình được bộ trưởng ngoại giao lúc đó là Xuân Thủy, bí thư trung ương đảng, để mắt tới, nên khi Xuân Thủy sang hội đàm Paris đã “lôi” Thị Bình đặt vào cái ghế bộ trưởng ngoại giao của Mặt trận Giải phóng, đá Trần bửu Kiếm về vườn, để được gần nhau bàn việc “thơ văn” và việc… nước. Từ đó Thị Bình được lên như diều và nay là phó chủ tịch hội đồng Nhà nước! (Mặc dù nhà xuất bản quân đội cộng sản có cho in một cuốn sách phơi bày toàn bộ mánh khóe và sự sa lầy của Thị Bình trong mánh mung, tham nhũng khi giữ ghế bộ trưởng bộ giáo dục). Đó là Nguyễn thị Hằng, xuất thân từ xã viên dệt chiếu ở hợp tác xã dệt chiếu cói thị xã Thanh Hóa. Đúng ngày máy bay Mỹ đánh phá thị xã Thanh Hóa, cô dân quân Nguyễn thị Hằng bị thương ở ngực, cô dân quân Nguyễn thị Tuyển mặc dù nhỏ yếu nhưng đã vác được những thùng đạn nặng hàng tạ tiếp tế cho pháo binh và được đơn vị pháo binh tuyên dương công trạng. Báo Tiền Phong (Hà-nội) nêu gương cô Nguyễn thị Tuyển – Phóng viên ảnh của báo Tiền Phong là Mai Nam đi “thực tế” Thanh Hóa thấy cô Hằng cao đẹp, nét mặt như lai, cũng bị thương, chụp lên ảnh dễ “ăn khách” hơn nên đã chụp và đưa hình cô Hằng lên… các báo. Nhờ đó cô Hằng đã… lọt vào “mắt xanh” của bí thư trung ương đảng, phụ trách trưởng ban đối ngoại trung ương đảng, kiêm bộ trưởng, kiêm phó chủ tịch và tổng thư ký ủy ban thường vụ quốc hội Xuân Thủy. Thế là cô Hằng được Xuân Thủy đưa vào chức ủy viên ủy ban đối ngoại của quốc hội kiêm ủy viên ban bí thư đoàn thanh niên lao động (cộng sản) Hồ chí Minh; được Xuân Thủy đề cử vào danh sách ban chấp hành trung ương đảng khóa 4 (nhưng cô Hằng xin rút tên), được đưa sang giữ ghế thứ trưởng lao động và xã hội (thời kỳ này bị tố giác là buôn lậu thuốc lá ngoại) và khóa đại hội đảng kỳ 7 vừa xong được “trúng” ủy viên trung ương đảng chính thức!!! Còn Kim Hạnh, cô sinh viên của trường đại học Sài-gòn nhờ chống quốc gia trốn vào bưng làm cấp dưỡng (tức đầu bếp) cho Mai chí Thọ nên đã được giữ ghế tổng biên tập báo Tuổi Trẻ (Sài-gòn)! Nay thì Kim Hạnh mất chức vì cho đăng lại tin của báo Nhân dân rằng Hồ chí Minh từng có vợ (nghĩa là không phải trai tân như Hồ và đảng của hắn tự hào), nhưng ở Việt Nam thì ai cũng biết đó là cái “cớ rẻ tiền” còn sự thực thì phe Mai chí Thọ lung lay thì loại tần gửi như Kim Hạnh tất phải rụng. Qua những dẫn chứng về “người thật việc thật” kể trên, có thể kết luận rằng số phụ nữ tham chính trong chế độ cộng sản ở Việt Nam từ trước đến nay, loại trừ một số bù nhìn chắp vá cho cái áo rách “dân chủ”, hầu hết là kẻ ăn người ở của vài viên chức cộng sản chóp bu hoặc là “nhân tình nhân ngải” của những nhân vật cộng sản có thế lực. Từ Hồ chí Minh cho đến các đệ tử gần gũi của hắn đều lớn tiếng kêu gào rằng trong chế độ cũ (phi xã hội chủ nghĩa), người phụ nữ là “đồ chơi”, là “đồ trang sức” cho đàn ông và giai cấp thống trị. Buồn thay, Hồ chí Minh và đảng của hắn đã “giải phóng” phụ nữ khỏi cái chế độ cũ ấy để bước vào chế độ Hồ chí Minh với thân phận vừa là “đồ chơi” vừa là “đồ trang sức” vừa là “nô lệ”. Nữ nô lệ của thế kỷ 20 Ngày ban hành bộ luật “Hôn nhân và gia đình”, Hồ chí Minh đắc ý tuyên bố rằng thể chế chính trị ở Việt Nam là tiến bộ nhất vì là nước đầu tiên ở khu vực Á-Phi đã xóa bỏ chế độ đa thê. Nhưng cũng chính Hồ chí Minh đã giới thiệu (không qua bầu bán) Lê Duẩn thay hắn giữ ghế bí thư thứ nhất của trung ương cộng đảng Việt Nam có lẽ vì… Lê Duẩn cùng lúc ba vợ. Chũng chính hắn bổ nhiệm Lê đức Thọ cùng lúc hai vợ, vào chức vụ trưởng ban tổ chức trung ương cộng đảng. Cũng chính hắn đưa ra danh sách bộ chính trị trong đại hội đảng cộng khóa 3 (1960) những nhân vật có vợ lẽ hoặc bồ nhí như Phạm Hùng (2 vợ), Hoàng văn Hoan (bồ nhí tên là Hoa, hiện ở Pháp); những nhân vật trong ban bí thư Tố Hữu (bồ nhí), Nguyễn văn Trân (bồ nhí), Nguyễn Côn (bồ nhí), Văn tiến Dũng (bồ nhí), Xuân Thủy (bồ nhí); chủ tịch tổng công đoàn, kiêm viện trưởng viện kiểm sát tối cao, kiêm chủ tịch đoàn chủ tịch Mặt trận Tổ quốc là Hoàng quốc Việt (bồ nhí). Được phép bỏ vợ già lấy vợ trẻ như Trần xuân Bách, Nguyễn đức Lạc, Cù huy Cận… Cho phép lấy thêm vợ lẽ như Trần huy Liệu, Nguyễn khánh Toàn, Hoàng minh Giám… Phải chăng những đảng viên thân cận của Hồ vẫn được phép đa thê? Và, thực sự trong con mắt của Hồ chí Minh và đảng của hắn, phụ nữ vẫn là “đồ chơi”… rẻ tiền nhất. Vì, hắn cũng hay quất ngựa truy phong. Sau khi được ăn hai cái bánh vẽ của Hồ chí Minh là “được giải phóng” và “được bình đẳng”, người phụ nữ Việt Nam bị khoác vào cổ một lô gông xiềng “3 đảm”, “tay búa tay súng”, “tay cày tay súng”. Trong “3 đảm” có hai khoản là “đảm đang việc nước” và “đảm đang việc xã hội”, nghĩa là thay người đàn ông làm lính và nhận gánh nặng lao động sản xuất trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân và kinh tế quốc phòng cũng như sức nặng của sưu dịch – tức một năm tự túc lương thực đi dân công 3 tháng hoặc gia nhập các đội thanh niên xung phong thường trực. Người phụ nữ xưa kia làm nhiệm vụ thờ chồng, nuôi con, vun vén gia đình mình ở vị trí “nội tướng” thì nay được Hồ chí Minh và đảng của hắn cho làm cùng lúc vừa là lính vừa là nông hoặc công nhân, vừa là phu phen tạp dịch. Không chỉ ở lãnh vực sản xuất mà ngay trong lãnh vực nghệ thuật, phụ nữ cũng được sử dụng như những nô lệ của giới chức cầm quyền chóp bu. Các “cô văn công” tài sắc thường để mua vui cho “lãnh đạo” khi mệt mỏi, ốm đau và được dùng trong một số mưu đồ chính trị. Thí dụ: nữ ca sỹ Khánh Vân được theo Hồ đi Ấn-độ chỉ vì nghe nói thủ tướng Nehru và con gái là Indira Gandhi thích giọng ca của Khánh Vân. Xong việc, Khánh Vân đau ốm bị bịnh tâm thần cũng chẳng được chữa chạy và chết thật thảm khốc. Thúy Quỳnh (nay là giám đốc nhà hát nghệ thuật) là diễn viên múa, có chửa con so đã được năm tháng mà chỉ vì yêu cầu của Fidel Castro muốn có đoàn múa Việt Nam (cộng sản) nhân quốc khánh Cuba nên nhà nước Hồ chí Minh đã buộc Thúy Quỳnh phải “phá thai” và chỉ được nghỉ 10 ngày sau khi làm “đọa thai nhân tạo”, đã phải lên đường đi Cuba “phục vụ nước bạn”! Ái Loan (chị Ái Vân) một nghệ sỹ cải lương tài sắc, trước ngày cưới bị bắt đi vét bùn ở sông Tô Lịch do cống thành phố chảy ra nên bị chết vì uốn ván. Ca sỹ Tường Vi của đoàn văn công Tổng cục chính trị, người có giọng hát quyến rũ đã “được” anh chàng đại úy Koong-Le của Lào chết mê chết mệt. Mặc dù Tường Vi đã có chồng con, nhưng nhà nước cộng sản Hà-nội lúc đó cũng định “ghép đôi” để lợi dụng Koong-Le. May mắn sao đại úy một bước lên trung tướng Koong-Le bị ngã ngựa chính trị! Nguyễn thị Hằng (nay là ủy viên trung ương cộng đảng) được một đô đốc hải quân Nga-xô có “tình cảm đặc biệt” nên được bổ sung vào đoàn quân sự đi xin vũ khí về giết dân và đặc biệt là được “đi trước” và “về sau” đoàn. Để chấp vá thêm cho tấm bình phong che đậy bộ mặt bán nước hại dân, Hồ chí Minh đích thân viết thư mời bà Hoàng thị Thế con gái cụ Đề Thám, ở Pháp về (1960). Sau khi chụp ảnh, quay phim, báo chí trong và ngoài nước đưa tin đã tới mức “quá đầy đủ” thì bà Hoàng thị Thế bị đưa về “lưu đày” ở Bắc Giang. Cũng may chính quyền ở tỉnh và huyện hầu hết là binh lính hoặc con em binh lính cụ Đề Thám nên bà Thế không bị khó khăn lắm. Thế là Hồ cho lôi bà về Hà-nội, ở một phòng thuộc lầu 2 nhà tập thể trong ngõ Khâm Thiên, tháng tháng ra Mặt trận Tổ quốc lĩnh một số tiền vừa đủ khỏi chết đói. Bà Thế xin trở lại Pháp không được và đã chết già trong cô đơn và nghèo khổ. Ngay “được” làm vợ của các “ông lớn” thì nhiều phụ nữ cũng vẫn chỉ như “con ở”; chẳng có chút bình đẳng nào trong quan hệ vợ chồng. Thí dụ như vợ chồng Trường Chinh, trong khi ông ta ngồi ăn cơm thì bà vợ mặc áo dài đứng hầu cơm. Hay như Lê Duẩn, bà vợ cả được cho qua “gánh việc nước” ở sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh (Trung cộng). Còn Xuân Thủy, ngự trong tòa vila liền tường với trường Nguyễn Trãi (cũ) ở đường Lý Thường Kiệt, sang trọng tiếp các Nguyễn thị Bình, Nguyễn thị Hằng v.v… để bàn “việc nước” ở nhà trên, còn bà vợ già răng đen, ăn trầu thuốc, lấy ông ta từ khi Xuân Thủy còn thái dao cầu, tán thuốc bắc ở ga Đa-phúc thì… ăn ngủ ở nhà ngang, chỗ xưa chủ Tây cho bồi bếp và chị hai ở! Nữ ca sỹ Diệu Thúy, giọng hát trẻ đang lên, vừa tốt nghiệp trường đại học âm nhạc Hà-nội, trong chuyến đi Chí-lợi – thời kỳA-gien-đê cầm quyền – với bí thư thứ nhất đoàn thanh niên lao động (cộng sản) Hồ chí Minh là Vũ Quang, bị “ăn cơm trước kẻng” (tức ngủ trước khi cưới) khi ghé qua La Habana; về làm vợ Vũ Quang, không còn được hát “phục vụ” nhân dân nữa mà ngày ngày cơm nước, giặt giũ và tưới nước cho những giỏ phong lan do các chi đoàn thanh niên trong quân đội và thanh niên xung phong ở Trường-sơn gửi biếu. Bà vợ già của Trần xuân Bách – là đảng viên “lão thành” – cùng hoạt động từ thời kỳ bí mật cho đến lúc bật mí, chồng làm chánh văn phòng trung ương đảng (cộng), chiếm một tòa vila đồ sộ tại Hà-nội, có kẻ hầu người hạ còn đông hơn của “tư sản mại bản”, lại có cả một cô “đầu bếp” mới 20 tuổi, đã tốt nghiệp trường trung cấp nấu ăn, phục vụ nhưng bà vợ già vẫn phải ở Nam Định làm “việc nước” và “xã hội”. Đùng một cái, từ bộ chính trị “phôn” về Nam Hà lệnh cho bí thư tỉnh ủy là Lê Điền phải cho tòa án tỉnh sử ly hôn khẩn cấp cặp vợ chồng “vừa là đồng chí vừa là phu thê” ấy để Trần xuân Bách kịp cưới cô đầu bếp 20 tuổi – bằng 1/3 tuổi của Bách – kẻo con biết bò vào dịp đầy năm cưới của mẹ. Nhân dân là vô tận Đầu đề trên là khẩu hiệu đầy “sáng tạo” của chính Hồ chí Minh khi phát triển khái niệm kinh điển của chủ nghĩa cộng sản rằng “người là tư bản quí nhất”. Chính vì thế mà Hồ chí Minh đã tung ra lệnh cho đảng của hắn là “dù có phải đốt cháy Trường-sơn” hay “tát cạn biển đông” – một dạng khác của tư bản (bình thường) thì cũng phải giải phóng (tức thôn tính) miền Nam Việt Nam (còn hàm ý cả Lào và Cam-bốt) để thu được “tư bản quý nhất” là “quần chúng nhân dân” trong đó bao gồm “quần chúng phụ nữ”. Biểu hiện thành chính sách cụ thể cái tư tưởng “tàn bạo, khát máu” đó của Hồ, trước năm 1975, phụ nữ ở cả hai miền Bắc và Nam Việt Nam đều bị lợi dụng theo phương thức khác nhau. Ở miền Bắc, phụ nữ vừa là lính; vừa là lao động chính thay trâu cày bừa trên đồng ruộng, thay máy trong các công trường xí nghiệp; vừa là phu đi đắp đường, khẩn hoang, xây dựng các công trình phục vụ quân sự, hoặc có thời hạn – mỗi năm 3 tháng phải tự túc lương thực, hoặc phải thường trực – tức thanh niên xung phong. Người phụ nữ phải làm tất cả những việc nặng nhọc nhất, hoàn toàn không phù hợp với giới tính; bị bóc lột sức lao động tàn khốc dưới cái trò thi đua “làm thay cho đồng bào miền Nam”, làm thay cho “anh Trổi, chị Quyên” để phải lao động cả 3 ca/ngày và hoàn toàn không có ngày nghỉ trong suốt 3 tháng đi sưu như vậy trong mỗi năm. Còn nữ thanh niên xung phong? Được nuôi cơm… độn, một năm hai bộ quân áo, được đi phép 10 ngày/năm, được lương tháng đủ ăn… những 2 tô phở theo giá mậu dịch quốc doanh (nếu là nam giới thì chỉ đủ tiền một lần hớt tóc). Điều đáng nói là chị em phải lao động không kể giờ giấc, hoàn cảnh, địa hình, tình trạng sức khỏe. Nghĩa là ngày kinh nguyệt cũng phải lội sông, ngâm bùn, gánh nặng, ốm bệnh cũng phải lao động; lao động không kể ngày đêm: từ làm đường ở Trường-sơn cho đến phá bom nổ chậm; từ tải thương cho đến gánh vác súng đạn. Ấy thế mà trong thực tế người nào cũng phải làm đơn “xin hiến” 10 ngày phép năm cho “đảng” và “bác” cho đến khi “cách mạng thành công” và còn thi đua “mặc áo cũ không lãnh áo mới” để tiết kiệm tiền của vào việc “đánh Mỹ-Ngụy”! Mỗi tháng còn vài lần nhịn ăn lấy gạo “giúp đồng bào miền Nam ruột thịt” (vì như sách, truyện của đảng cho biết: miền Nam đói khổ đến nỗi lính Mỹ còn phải “cưỡi trực thăng đi cướp từng bao gạo” và nhà buôn thì trộn hạt ny-lông vào gạo để bán)!!! Bị chôn vùi cả tuổi trẻ trong rừng sâu, bị lừa đảo niềm tin, bị tước đoạt sức khỏe và hạnh phúc, bị làm “trò giải khuây” cho những người lính “sinh Bắc tử Nam” trên đường hành quân… nên hầu hết nữ thanh niên xung phong bị bệnh phụ khoa, bị rong kinh, bị sốt rét rừng, bị bệnh đường ruột, bị tâm thần… mà không được chữa chạy, bị… phá thai chôn gốc cây rừng v.v… Có ai thoát về làng thì cũng… quá lứa lỡ thì! Hồ chí Minh kêu gọi thanh niên rằng: “Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên” cũng như bài “Thanh niên xung phong ca” có câu: “Bác Hồ dạy chúng ta Không có việc gì khó Đào núi và lấp biển Quyết chí cũng làm nên” Nhưng chỉ có Thơ ghế đá mới nói đúng số phận của nữ thanh niên xung phong: “Em là thanh niên xung phong Đắp đường, tải đạn, long đong tháng ngày Đảng nuôi hai bữa một ngày Cơm độn ba bát, muối đầy lòng tay Áo quần hai bộ đổi thay Một năm đi phép 10 ngày… “có lương” Cho nên chẳng có người thương Xuân tình chợt gặp giữa đường với nhau Nói ra bảo kể khổ đau Thời gian thấm thoát bước mau về già Sốt rừng da mái, mắt lòa Đảng cho giải ngũ về nhà ăn rơm! Tuổi xuân chôn chốn Trường sơn Nhiều cô thai nạo vứt chân cây rừng Về làng chân bước ngập ngừng Tương lai mờ mịt, gối trùng, lưng cong Biết khôn đã chót vào tròng!!! Hai chính sách rất tàn bạo của Hồ chí Minh và cái đảng mafia của hắn đối với phụ nữ miền Bắc Việt Nam (kể cả một số vùng trong Nam gọi là “vùng giải phóng) là đem phụ nữ làm cái mồi câu, làm vật khen thưởng mua bán (nhất là phụ nữ ở nông thôn): một là tổ chức theo lối cưỡng bức để buộc nữ thanh niên lấy chồng là thương bệnh binh – nhất là những người lính bị tàn phế nặng – làm chồng, mà còn phải làm đơn tình nguyện “lao động nuôi chồng” không nhận một thứ trợ cấp nào. Chính sách tàn bạo này đã là nguyên nhân của biết bao vụ “vợ đầu độc chồng” cho thoát nợ đời hoặc người vợ đành… tự tử chết mà không nhắm được mắt. Hai là tổ chức cưới cho những thanh niên bị bắt lính trước khi nhập ngũ vài ngày nhằm trút gánh nặng lao động bên gia đình người tân binh lên đầu người phụ nữ, nhằm lấp lỗ hổng trong luật nghĩa vụ quân sự về khoản “miễn đi lính cho những thanh niên là con một trong gia đình”. Nhà nước Hồ chí Minh tổ chức lấy vợ cho thanh niên đến tuổi bắt lính và lý luận rằng: “Khi người thanh niên con một có vợ thì không còn là con một nữa vì vợ cũng là con trong gia đình nên không được miễn lính như luật nghĩa vụ quân sự qui định”!!! Còn nữa, đó là ràng buộc tình cảm người lính với “quê hương” để yên tâm đi chiến đấu cho “sự nghiệp của đảng và bác” vì cha mẹ đã có vợ “đảm đang” (khoản thứ 3 trong đường lối “3 đảm” của phụ nữ), hệt như ngón võ “tập kết ra Bắc” của năm 1954. Người phụ nữ vừa kịp hưởng tuần trăng mật với chồng nay sống trong sự chờ đợi còn nhức nhối hơn Pénéllope chờ chồng sau cuộc chiến thành Troie, bị cột cho sợi dây “vợ bộ đội cụ Hồ” để trói vào guồng máy “lao động quên mình vì nước vì chồng! Chính nó là nguyên nhân đẻ ra bao chuyện “bi hài” của xã hội miền Bắc Việt Nam dưới chế độ Hồ chí Minh, cứ tưởng “như đùa”. Một thí dụ: bệnh viện C (bệnh viện phụ sản đầu ngành của miền Bắc Việt Nam) ở Hà-nội được một bệnh nhân từ Hà-bắc chuyển tới. Bác sỹ Thìn phó giám đốc bệnh viện – đã sống từ chế độ Bảo Đại, không thể nào ngạc nhiên hơn được khi biết nguyên nhân bệnh nhân bị nhiễm trùng nặng “chỗ kín” là do người chồng bệnh nhân, một tân binh lấy vợ được 3 ngày thì phải ra trận, vì quá ghen đã lấy kim chỉ khâu “chỗ ấy” của vợ lại (chắc vì chưa biết đến loại “thắt lưng trinh tiết” của nước Nga xưa)!!! Điều đáng lưu ý nữa là chính cái cảnh “chồng Nam vợ Bắc” khổ hơn cả vợ chồng ngâu (ít ra một năm được gặp nhau một lần) cộng với đời sống kinh tế khó khăn cùng cực và quyền sinh quyền sát của các cấp ủy đảng nên chị em vắng chồng trở thành đàn gà con trước cấp ủy đảng quạ. Nạn chửa hoang, phá thai từ nông thôn đến thành thị là chuyện “quá bình thường”. Người phụ nữ đi phá thai được “đảng và bác” bảo vệ tuyệt đối bí mật (như bí mật quốc phòng). Các cơ sở nạo thai chỉ biết nạo thai theo yêu cầu của người nạo. Không cần một giấy giới thiệu nào, không được hỏi họ tên và “tác giả” của thai nhi. Sáng vào nạo, chiều ra về, cứ như đi lao động “thông tấm”, hàng xóm có tọc mạch cũng đành chịu. Các bào thai nạo ra được chế biến thành thuốc bổ, nghe nói còn hơn “lợn hà nàm”. Đó cũng là nguồn “lấy thu bù chi” của cơ sở nạo thai, tất cả trực thuộc ủy ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em do chính thủ tướng Phạm văn Đồng làm chủ nhiệm và Đinh thị Cẩn, ủy viên dự khuyết trung ương cộng đảng từ khóa 3, xuất thân là đầu bếp của Hồ chí Minh, làm phó chủ nhiệm phụ trách thường trực. Thế là dưới chế độ Hồ chí Minh, tục “người ăn thịt người” được khuyến khích như quốc sách và phụ nữ ngoài chức năng là “đồ chơi”, là “đồ trang sức”, là “nô lệ” lại còn nhiệm vụ “sản xuất thêm chất đạm” – tức thai nhi – cho xã hội! Còn phụ nữ ở miền Nam thì sao? Tất nhiên Hồ chí Minh và cái đảng mafia của hắn đã triệt để lợi dụng thể chế chính trị ở miền Nam trước 1975 có lỏng lẻo và nhiều sơ hở, nghĩa là có việc độc tài độc diễn, có việc dân chủ quá trớn, cùng với sự “nhẹ dạ” và “lòng yêu nước” của phụ nữ để lập ra những đội quân “tóc dài”. Những chị Quyên (vợ anh Trổi mà nhà thơ cung đình Tố Hữu “lộn” tên làm thơ khi gọi là Trôi lúc gọi là Trổi!), chị Tạ thị Kiều, Chị Trần thị Lý v.v… được đề cao, đến mức Tố Hữu hạ bút vẽ tàu bay… giấy cho chị Lý: “Em là cô gái hay nàng tiên Em có tuổi hay không có tuổi? Tóc của em hay là mây là suối?…” Nhưng cũng chị Lý ấy sau 1975 về ở Đà-nẳng đến tận 1991 vẫn khổ như ăn mày vì bệnh tật, lương thấp, chồng cũng là thương binh. Đảng bận hưởng thụ quên đã đành, ngay chính nhà thơ kiêm chính trị và kinh tế gia (loại 3 xu) Tố Hữu cũng quên luôn sau khi lĩnh một đống tiền nhuận bút về bài thơ. Chỉ có chị Quyên, nhờ được vào “bưng” ở với “chú” Nguyễn hữu Thọ và “chú” Trần bạch Đằng, nên được phóng viên báo Cứu quốc (Hà-nội) là Thái Duy đi công tác B (tức xâm nhập miền Nam) đổi tên thành nhà văn giải phóng Trần đình Vân, phỏng vấn viết một truyện ngắn “người thực việc thực” được đích thân Tố Hữu đặt tên truyện là “Sống như anh”, nên sau 1975, vào lúc “anh Trổi” được tạc tượng và được đặt tên cho đường phố Sài-gòn, chị Quyên được các “chú” kiếm cho một tấm chồng khác và được cho ngồi ghế giám đốc nhà hàng Vĩnh Lợi (đường Hàm Nghi, quận nhất, Sài-gòn). Đúng là có số “quý nhân phù trợ”, mệnh “giáp thọ giáp đằng”! Còn số phận đội quân tóc dài? Xin dành để bạn đọc tìm trong truyện ngắn “Tượng đài” của Hoàng thiếu Phủ đăng trên tờ “Tuổi trẻ cười” hiện nay của Sài-gòn, rất đầy đủ. Ngoài cái số đội quân tóc dài đó ra, phụ nữ miền Nam Việt Nam có chồng là sỹ quan, binh lính, nhân viên chính quyền Việt Nam Cộng Hòa v.v… bị lừa đi tù (học tập cải tạo) cũng bị đảng mafia của Hồ theo đúng sách của đảng trưởng để lợi dụng “triệt để”. Đó là đem chị em ra làm phần thưởng cho tù nhân. Tất cả các trại tù của cộng sản Việt Nam đều áp dụng chính sách rằng tù nhân nào “cải tạo tiến bộ” sẽ được phép “ngủ với vợ mình 24 giờ, 48 giờ hoặc hơn” – tùy theo mức độ tiến bộ hoặc số lượng tiền đút lót công an. Trong lịch sử Việt Nam, có lẽ chỉ có cái đảng mafia của Hồ chí Minh mới đủ vô liêm sỉ là đem vợ tù ra làm phần thưởng cho tù, chưa kể sự bẩn thỉu thú vật của lũ công an là chọc tường để rình xem vợ chồng tù ngủ với nhau để kháo thành chuyện cười của bọn chúng và trêu chọc người tù được ngủ với vợ của mình! Sau sự “đứt phim” năm 1975, miền Nam được “hoàn toàn giải phóng” nên phụ nữ miền Nam được đi vào vết xe đổ của phụ nữ miền Bắc, nghĩa là vừa là “đồ chơi” vừa là “đồ trang sức” vừa là“nô lệ”. Nam thanh niên cũng được vét vào lính để “giải phóng Cam-bốt”, để khi trở về hoặc “lê trên nạng gỗ” hoặc nằm trong bệnh viện “chờ” một chị em nào đó dại dột nghe lời đảng “cõng về làm chồng… hờ”, may mắn lắm thì được hỏa thiêu cho vào lọ sành đem về cho gia đình, hoặc thất nghiệp đi lang thang ngoài phố “chiêm ngưỡng” các anh chị hải quan, thủy thủ tàu viễn dương, công an các loại và con cái giới quan lại đỏ nhậu nhẹt và khoe bộ cánh hợp thời trang! Và, phụ nữ lại gánh toàn bộ sức nặng của mọi loại hình sản xuất và phục vụ sản xuất của xã hội. Con đường phụ nữ miền Nam phải đi sau lá cờ đỏ sao vàng hệt như phụ nữ miền Bắc trước đây, đã ai oán rằng: “Chồng bị bắt lính phương xa Mẹ cha cải tạo chết già rừng sâu Ngày cày thay kiếp ngựa trâu Đêm làm cái nệm để hầu quan viên: - Đảng ủy, chủ tịch ưu tiên Trưởng công an xã tiếp liền theo sau Ơn đảng, nghĩa bác dày sâu Nhân dân thành đĩ, thành trâu hết đời Thấu tình chăng, hỡi Đất, Trời?” Nhiều chị em, chồng bị lừa đi tù (cải tạo), đã phải chịu sự cưỡng ép bán thân cho quan lại đỏ để yên thân nuôi con và có thể đi thăm nuôi chồng, như trong vụ án Hai Hiệp ở Đồng-nai, hay như bà chủ tiệm phở Thủy-tiên ở phố Tự Do (Đồng khởi) Sài-gòn với tên Ngọc, chủ tịch phường… Ngay một diễn viên điện ảnh nổi tiếng, từng bị ghép là nhân viên của CIA Mỹ, cũng đành đến nhà riêng “chú” Cao đăng Chiếm (thứ trưởng công an, phụ trách khu vực miền Nam) cho nên mới được “chú Chiếm” viết lá thư cầm tay ra Hà-nội gặp riêng “chú” Phạm Hùng (bộ trưởng công an), nhờ vậy cô diễn viên có cái phận “Thúy Kiều” đó mới được Hồ tôn Hiến (của cộng sản chứ không phải của cụ Nguyễn Du) đặc cách cho thăm cả chồng sau và… chồng trước. Hơn thế, ông chồng sau còn được thả sớm hơn cả thượng sỹ canh cửa sân bay Tân Sơn Nhất và được… vào cả quốc hội làm đại biểu của dân (may thiệt). Đau khổ của phụ nữ Việt Nam còn phải nhắc đến những người ra đi phải bỏ xác ngoài biển, phải chịu cảnh cưỡng hiếp của hải tặc, phải nằm chôn năm tháng trong các trại với bao nhục nhằn. Mà, tác giả những bất hạnh đó của phụ nữ vẫn là Hồ chí Minh và cái đảng mafia của hắn. Còn phải kể đến biết bao chị em bị bán làm nô lệ (dưới cái uyển ngữ “hợp tác lao động”) sang Nga, Trung Đông v.v… trong cảnh mang con bỏ chợ. Được sự chỉ đạo của đảng mafia tác giả các văn tự bán nô lệ đó chính là Trần đình Hoan và Nguyễn thị Hằng – cô bồ tỉnh Thanh của ông lang băm cách mạng Xuân Thủy. Cho nên đến đại hội đảng mafia lần 7, cả Hoan lẫn Hằng đều được là trung ủy chính thức! Phụ nữ với “mở cửa” và “đổi mới” Năm 1986, vở hài kịch “mở cửa” và “đổi mới” được quảng cáo rùm beng. Những màn đầu tiên là các khách sạn, nhà hàng xưa kia bị đảng mafia đổi cho tên mới, nay lại “đổi mới” thành têncũ, như ở Sài-gòn: Đồng Khởi trở lại Continental, Hữu Nghị trở lại Palace, 147 Đồng Khởi trở lại Brodard v.v…Và, ngay đó là các cuộc thi đủ loại hoa hậu được tổ chức với sự đỡ đầu của thương nhân nước ngoài. Kinh doanh đĩ điếm là nét đặc trưng của mafia. Cho nên cái đảng mafia của Hồ chí Minh cũng không ra ngoài qui luật của trò chơi mafia thông thường. Chỉ có điều nó được công khai hóa với “mở cửa” và “đổi mới”. Nếu xưa kia – trước 1975 – ở cảng Hải-phòng có những tổ chiêu đãi viên là nữ để phục vụ thủy thủ nước ngoài, kể cả thân xác, do cơ quan an ninh quản lý với lý do vừa thu ngoại tệ (dùng cho công tác gián điệp) vừa moi tin tình báo và tìm cộng sự viên (tức điệp viên) ở nước ngoài, thì nay lực lượng “chiêu đãi viên” nhiều gấp bội lần và công khai hóa, thí dụ như quán Lan Thành ở phố Nguyễn Thiệp, Sài-gòn (phố nối liền Đồng Khởi – Nguyễn Huệ). Nếu xưa kia ở khu họp hành và nghỉ ngơi của trung ương đảng cộng mafia gồm những căn nhà kiểu “cottage” của Anh trên dẻo Hồ-tây có những nữ thanh niên được chọn lọc để mua vui cho lãnh đạo đỡ “buốt đầu” thì nay ở ngành nào, bộ nào cũng có nhà khách ở Sài-gòn, Đà-lạt và người phụ trách nhà khách kiêm việc “kiếm gái” cho lãnh đạo. Nhiều nhân vật nổi lên từ nghề ma-cô quốc doanh này, điển hình là tay Trường, hiện là giám đốc Cilturimex của Sài-gòn – cơ quan thuộc bộ văn hóa thông tin của nhạc sỹ cung đình Trần Hoàn (quan thầy của Trịnh công Sơn). Trong chính sách “mở cửa” và “đổi mới” phụ nữ trở thành mặt hàng có thể nói là quan trọng của giới mafia cầm quyền. Chẳng có thế mà ngay giữa Sài-gòn, một cơ quan gọi là “tìm việc cho thanh niên” thuộc thành đoàn thanh niên do Lê văn Nuôi làm bí thư, và do thành ủy quản lý với Võ trần Chí, ủy viên bộ chính trị mafia, đứng đầu, đã công khai tuyển các nữ thanh niên và đánh lừa cho ra các khách sạn ven biển như Vũng Tàu “làm đĩ”. Giám đốc cái cơ sở “ma-cô” mafia quốc doanh đó là Nguyễn anh Dũng. Sự bung ra làm kinh tế đĩ điếm lan sang đến cả các ngành như đường sắt, thư viện, tòa án, bệnh viện v.v… đều lấy mặt bằng làm nhà hàng và tuyển người đẹp, trẻ, nhẹ dạ để làm chiêu đãi viên (tức đĩ). Phụ nữ được từ Nguyễn văn Linh đến Đỗ Mười; Võ văn Kiệt dùng làm mồi câu “Việt kiều yêu nước” và thương nhân nước ngoài. Nhiều “Việt kiều yêu nước” đã “áo gấm về làng” lấy vợ lẽ (vừa là lẽ vừa ít tuổi) ở quê hương để tỏ rõ lòng yêu nước mặn nồng. Nhà nước chắc nhớ đến trường hợp ông tổng bí thư đã chết Lê Duẩn, 3 vợ, nên không gây phiền hà gì cho các “Việt kiều yêu… đa thê”. Phải chăng những người cầm quyền nhớ câu “trai anh hùng năm thê, bảy thiếp” mà “bác” Hồ đã phong cho nhân dân Việt Nam là anh hùng, nghĩa là “sấm” cho đệ tử phải dùng võ “phục hồi đa thê” để phục hồi kinh tế, củng cố nhà nước… độc đảng cộng sản? Nhiều “Việt kiều yêu nước” thăm quê hương trở ra hải ngoại không ngớt lời khen Hà-nội, Sài-gòn… thay đổi nhiều lắm! Nhưng, thay đổi cái gì? Bộ mặt các thành phố, thị xã ở Việt Nam hiện nay nhiều màu sắc chói chang là nhờ lực lượng phụ nữ bị chính sách “mở cửa” và “đổi mới” của cộng sản lôi từ nông thôn ra để nhập vào đạo quân thần Bạch Mi, với áo quần hợp thời trang do… buôn lậu nhập vào, đã giết chết hàng nội địa. Số liệu công khai của nhà nước Đỗ Mười, Võ văn Kiệt dự đoán có 600 ngàn điếm ở Việt Nam, hiện nay. Con số đó còn rất xa với sự thật. Nó có thể xấp xỉ số lượng đảng viên của tổng bí thư Đỗ Mười hiện nay, nhưng có điều tốc độ phát triển của nó nhanh gấp nhiều lần tốc độ phát tiển đảng (cộng sản), bởi nó được sự quan tâm của cả “ba giòng thác cách mạng” là đảng cộng sản Việt Nam, thương nhân nước ngoài và “Việt kiều yêu nước”. Thay kết luận Người dân miền Bắc Việt Nam đã thấy các trò hề về các ngày lễ từ trước 1975. Cho nên đã lưu hành trong dân Thơ ghế đá về các ngày “hề” của cộng sản, rằng: “Nhớ ngày mùng 3 tháng 2 Liềm búa lễ đài máu đỏ mưa sa Nhớ ngày mùng 8 tháng 3 Đàn ông đi lính, đàn bà đi phu Nhớ ngày 26 tháng 4 Thanh niên chết trận hoặc tù quanh năm Nhớ ngày mùng 1 tháng 5 Công nhân đào đất xây lăng “bác Hồ” Hai mươi tháng 7 lập lờ Thương binh, tử sĩ được tờ “vẻ vang” Bước sang tháng 8 rõ ràng Phất cờ khởi nghĩa, xóm làng mừng vui Nào ngờ vận nước còn xui Mùng 2 tháng 9 ngậm ngùi Việt Nam Ái quốc lại hóa Việt gian Chiến tranh huynh đệ tương tàn từ đây Con côi, vợ góa, mẹ gầy Rừng xanh tàn úa, máu đầy biển Đông…” Chừng nào còn là chế độ cộng sản độc đảng trị thì nhân dân Việt Nam, nhất là phụ nữ, không thể nào có tự do, hạnh phúc được. Cái gọi là “mở cửa” là mở cửa cho khách tìm hoa lạ và “đổi mới” là đổi mới đối tượng đi tàu bay giấy: khi chiến tranh thì nam thanh niên là những anh hùng “Phù đổng”, và bây giờ với “kinh tế thị trường” (có chỉ đạo) là đạo quân hàng triệu phụ nữ phấn son trong các vũ trường, khách sạn, nhà hàng. Với Việt Nam lúc này có hai cách nhìn khác nhau: một, của những người có ngoại tệ mạnh nhằm hưởng thụ “tứ khoái” và hai là của đại đa số nhân dân Việt Nam còn nghèo khổ, không có tự do, không có hạnh phúc. Cái thứ nhất nhìn từ ánh đèn vũ trường, bàn tiệc nhà hàng, qua đôi vai trần của người phụ nữ phải bán thân xác. Cái thứ hai nhìn qua những túp lều chắp vá, qua bãi rác, qua đồng ruộng bùn lầy, qua rừng hoang tàn, qua bờ hè v.v… Cho nên nghe một người “bàn” về chuyện Việt Nam – dù người nước ngoài hay Việt kiều yêu nước hay cò mồi cơ hội hay bồi bút văn nô – đều dễ dàng nhận ra chỗ họ đứng để ngắm con tàu Việt Nam. Còn đại đa số nhân dân Việt Nam, những người dân đen bất hạnh bị thống trị bởi cái đảng mafia của Hồ chí Minh thì vẫn sáng suốt thấy rằng: “Ông Anh, ông Kiệt, ông Mười Dở khóc, dở cười biết chọn ông nao Ông nào ông nảo ông nao Một đồng một cốt làm sao bây giờ “Cửa mở” ra phải giấy tờ “Đổi mới” nhìn lại vẫn thờ mấy ông Đèn cù cứ chạy lòng vòng Dân chủ cái còng, tự do đói ăn Hạnh phúc chú cuội cung trăng!!!” Việt Thường
Bi kịch phụ nữ Triều Tiên trong chế độ của Kim Jong-un(TNO) Triều tiên là một “lò thiêu người”, còn quá trình trốn sang Trung Quốc cũng là “địa ngục” của những mảnh đời bất hạnh, trang The Diplomat mô tả cuộc đời nhiều bi kịch của những người phụ nữ đào tẩu khỏi Triều Tiên. Phụ nữ Triều Tiên - Ảnh: Reuters
|
Giữa tháng 10 năm nay, tờ The Huffington Post (Anh) đăng bài viết về cô gái có tên Yeonmi Park. Nữ sinh người Triều Tiên này đã trốn khỏi nước cô, và nói rằng cả thế giới nên nhận thức được Triều Tiên là “một lò thiêu, tàn nhẫn kiểu phát xít”. Trường hợp của Yeonmi Park điển hình, và cũng là số phận của rất nhiều người phụ nữ muốn trốn khỏi Triều Tiên, theo The Diplomat. Triều Tiên là bể khổ “Triều Tiên không thể thay đổi vì người dân không biết rằng họ có thể sống tốt hơn những gì họ hưởng”, sinh viên 20 tuổi Yeonmi Park nói tại một hội nghị dành cho thanh tiên toàn thế giới hồi tháng 10, Hufington Post trích dẫn. Yeonmi đã trốn khỏi Triều Tiên cùng mẹ năm cô mới 13 tuổi. Cô thừa nhận đã không hề có khái niệm về internet, không biết đến các phương tiện giao tiếp với bên ngoài. Trùng hợp với những thông tin trước đó về Triều Tiên, giai đoạn nhà Yeonmi trước khi cô trốn khỏi nơi này là thời của lãnh đạo quá cố Kim Jong-il. Theo đó, những người đào tẩu giai đoạn này đều kể rằng họ được dạy phải căm thù Mỹ và “ca ngợi ông Kim Jong-il” bất chấp những gì họ quan tâm chỉ là miếng ăn, theo Daily Mail.  Liên Hiệp Quốc vừa qua tố cáo Triều Tiên vi phạm nhân quyền - Ảnh: Reuters
|
Huffington Post dẫn lời Yeonmi nói rằng nhờ có người cha giàu có, cô không bị ảnh hưởng bởi nạn đói lịch sử đã cướp đi mạng sống của 2,5 triệu người. Tuy nhiên, cha của Yeonmi bị bắt vào năm 2002 vì tội gian lận thương mại, kết án 17 năm tù. Nhờ tiền, cha của Yeonmi được thả tự do 3 năm sau, và ông lập tức đưa 2 mẹ con Yeonmi trốn khỏi Triều Tiên, chạy sang Trung Quốc. Khu vực biên giới Triều Tiên - Trung Quốc cũng là nơi chứng kiến đa phần phụ nữ có thể trốn thoát, theo bài báo của The Diplomat đăng hôm 24.11. Và "địa ngục trần gian" The Diplomat cho biết theo ước tính của một nhân viên cứu trợ năm 2010, có khoảng 90% phụ nữ Triều Tiên đào tẩu sang Trung Quốc là nạn nhân của buôn người. Lý do xuất phát từ việc Trung Quốc mất cân bằng giới tính. Theo đó, tỉ lệ bé trai và bé gái của nước này đã là 122/100, vì Trung Quốc vẫn trọng nam khinh nữ. Con số tương tự ở khu vực gần biên giới Triều Tiên – Trung Quốc lên đến 14 bé trai/1 bé gái. Điều này dẫn đến việc khu vực biên giới kể trên hình thành đường dây mua bán phụ nữ. The Diplomat dẫn lời nhân chứng cho biết giá của các cô gái Triều Tiên bị dẫn sang làm vợ cho cánh đàn ông Trung Quốc sẽ dao động từ 2.000 Tệ (khoảng 325 USD) đến 20.000 Tệ (khoảng 3.250 USD).  Ông Kim Jong-un siết chặt kỷ luật cho người muốn trốn khỏi Triều Tiên - Ảnh: Reuters
|
Cuộc sống của các nạn nhân này nghèo khổ, thiếu thốn, bị hành hạ, bị xâm hại tình dục nặng nề. Ngay như trường hợp của Yeonmi, cô kể rằng chính mình đã phải chứng kiến cảnh mẹ bị hãm hiếp trên đường sang Trung Quốc. Vậy, nếu muốn thoát thân thêm một lần nữa khỏi Trung Quốc thì sao? Không thể. Nếu bị phát hiện chạy trốn, hoặc bị bắt lại, họ bị trục xuất trở lại Triều Tiên. Nhưng việc trở lại Triều Tiên lại càng điên rồ hơn. Theo The Diplomat, Triều Tiên có luật lệ cực kỳ nghiêm khắc với việc người dân lấy chồng nước ngoài. Họ muốn phải “thuần chủng”, nên theo các nhân chứng, họ bị ép phá thai, có người trong số họ phải tự tay dìm chết đứa con mang dòng máu Triều Tiên lai Trung Quốc. Một số khác may mắn hơn sẽ phải chịu cảnh “không quốc tịch”, và có khoảng 10.000 đến 20.000 trẻ em dạng này đang lánh ở Trung Quốc. The Diplomat tiếp tục tiết lộ Triều Tiên ngày càng siết chặt luật xử người cố tình đào tẩu, trong đó nặng nhất là “hình phạt 3 thế hệ” – tru di tam tộc. Tuy nhiên, điều đó không làm nạn buôn người tại Trung Quốc thuyên giảm. Ước tính đến năm 2020 sẽ có tới 30 triệu đàn ông Trung Quốc không thể lấy vợ vì mất cân bằng giới tính. Đó là viễn cảnh của hàng chục triệu phụ nữ Triều Tiên nếu trốn sang Trung Quốc phải chịu cảnh áp bức... Nhật Đăng THIÊN ĐƯỜNG XHCN BẮC HÀN: CHA ĂN THỊT CON "Nhân dân mà đói nhăn răng Cái đảng nói láo hàm răng chẳng còn"
Đi Tới- Sáng Thứ Hai 28-1-13, có tin làm nhiều người sửng sốt: “Người Bắc Hàn ăn thịt đồng loai vì đói”. Theo nguồn tin từ báo Sunday Times cho biết về người đàn ông giết các con của họ để làm thực phẩm:
“Trong khi vợ của ông đi làm, ông đã giết ngườit con gái lớn nhất và, bởi vì con trai của ông thấy những gì ông đã làm, ông giết luôn người con trai. Khi người vợ trở về nhà, ông dọn thức ăn cho bà và nói rằng: 'Chúng ta có thịt ”. “Nhưng vợ ông nghi ngờ, thông báo cho Bộ Công an, đã dẫn đến việc phát hiện ra phần thân thể của hai người con dưới mái nhà.”
Một tin khác do Gu Gwang-ho, ký giả báo Asia Press thuật lại: “Do tình cờ, một người đàn ông đã bị bắt vì đào mộ đứa cháu nội và ăn phần thi thể còn lại.”
Đây không phải là lần đầu tiên có báo cáo về “người ăn thịt người” tại Bắc Hàn. Năm 2003, trong một tình trạng thiếu lương thực khác đã có người dân trong nước giết hại và ăn thịt con cái của họ và sau đó bán xác chết của con em họ.
Chương trình Lương thực Thế giới (WFP) của Liên Hiệp Quốc yêu cầu được đến các “chợ nông dân” nơi có “buôn bán thịt người” nhưng Bình Nhưỡng đã từ chối với lý do an ninh.
Mặc dù bị đói như vậy, Bắc Hàn đã từ chối đề nghị các khoản viện trợ bước đầu của Nam Hàn gồm 10.000 tấn bột mì, 3 triệu gói mì ăn liền và thuốc. Năm ngoái, Bắc Hàn cũng bác bỏ viện trợ của Nam Hàn gốm 500.000 tấn gạo và 300.000 tấn phân bón một năm.
Bắc Hàn nêu ra lý do là viện trợ như thế là “ít” vá “rất xúc phạm”. Họ muốn nhận những lô hàng gồm ngũ cốc, bê tông và thiết bị xây dựng nhưng Nam Hàn tỏ ý lo ngại rằng Bắc Hàn sẽ sử dụng viện trợ này cho quân đội của họ.
Đọc tin Bắc Hàn, lại nhớ đến bài giảng cho giáo sư đại học của ông Trần Đăng Thanh khi nói về Bắc Hàn: “…Quả tên lửa ấy chỉ bay trong khoảng không vũ trụ 1 phút 28 giây (bị hỏng rớt xuống biển)... thì cái họ đạt được là họ đánh lừa được tất cả các ông lớn, họ làm tất cả các nước lớn mất ăn mất ngủ và rất là lo lắng về quả tên lửa của họ. Cái điều mà chúng ta phải cần học tập.”
Bắc Hàn là nước cộng sản, độc tài, nghèo đói mà lại hay có những hành động ngang ngược khiến bị cô lập trên thế giới. Mới đây, họ lại bị Liên Hiệp Quốc trừng phạt nặng hơn vì tiếp tục thử nghiệm và phóng hỏa tiển tầm xa bất chấp lệnh cấm của quốc tế. Người dân Bắc Hàn sẽ bị đói nhiều hơn và đất nước Bắc Hàn cũng khó vươn lên được.
Việt Nam tuy chưa bắn hỏa tiễn tầm xa và chưa bị Liên Hiệp Quốc trừng phạt, chỉ với luật “đất đai là sở hữu của toàn dân”, người dân oan VN đã bị nhà nước CS cưỡng chế để cướp hết ruộng, vườn, nhà cửa, đời sống thiếu thốn mà tương lai chưa biết đi về đâu như trường hợp gia đình anh Đoàn Văn Vươn. Nếu nhà nước CS làm theo “lời khuyên quý báu” của ông Trần Đăng Thanh mà “học tập gương Bắc Hàn” là dồn dân vào đường cùng.
Ca dao, tục ngữ dân gian mới có câu:
Nhân dân mà đói nhăn răng Cái đảng nói láo hàm răng chẳng còn.
Đi TớiNgười Việt có thể đến những nước nào không cần visa?(VTC News) - Có những nước không yêu cầu công dân Việt Nam phải làm visa để nhập cảnh, miễn là hộ chiếu còn thời hạn nhất định. Ở một số quốc gia, công dân Việt Nam có thể nhập cảnh mà không cần thủ tục xin visa, chỉ cần hộ chiếu còn thời hạn ít nhất 6 tháng hoặc chứng minh bản thân có đủ khả năng chi trả trong thời gian du lịch.
Trong một số trường hợp khác, du khách người Việt chỉ cần có hộ chiếu và vé khứ hồi là có thể đến ngay quốc gia đó du lịch.  | | Một số quốc gia không yêu cầu công dân nước khác làm thủ tục xin visa khi tới du lịch - Ảnh minh họa |
Myanmar: 14 ngày không cần visa; Du khách có thể ở lại 28 ngày với visa điện tử. Tuy nhiên, du khách sẽ buộc phải đến Myanmar qua các sân bay Yangon, Nay Pyi Taw hoặc Mandalay.
Ở Nepal: 90 ngày. Palau: 30 ngày; Panama:180 ngày; Papua New Guinea: 60 ngày; Philippines: 21 ngày; Saint Lucia: Visa 42 ngày.
Theo trang Viettravel, Việt Nam vẫn xếp trên nhiều nước về số quốc gia mà công dân có thể đi du lịch mà không cần visa. So với một số nước trong khu vực, Việt Nam vẫn xếp trên Trung Quốc (43), Triều Tiên (41), Myanmar (40)
Trong khi đó, một số nước khu vực Đông Nam Á được thống kê có số lượng vượt trội như Malaysia (163 nước), Brunei (146) hay đạt mức trung bình như Philippines (58), Indonesia (53), Campuchia (46), Lào (45)
Danh hiệu quốc gia 'quyền lực nhất' thuộc về Vương quốc Anh, Phần Lan và Thuỵ Điển với số lượng 173 nước mà không cần xin thị thực.
Với quốc tịch Mỹ, Đan Mạch, Đức và Luxembourg, các quốc gia này cùng chiếm vị trí thứ hai với 172 nước. Vị trí thứ ba thuộc về Ý, Bỉ và Hà Lan với số lượng 171.
Afghanishtan trở thành quốc gia đứng cuối danh sách khi công dân đất nước này chỉ có thể tự do đi lại tại 28 nước. Ngoài ra, Iraq và Pakistan, Somalia lần lượt xếp thứ 2 (31) và thứ 3 (32) từ dưới đếm lên.
Algeria, Afghanistan, Nicaragua, Romania, Cuba đều là những nước cấp thị thực cho người Việt có hộ chiếu phổ thông còn hạn và miễn thu lệ phí. |
|