HD-981: Việt Nam không hề thúc thủ trước Trung Quốc
07.08.2014 11:55
Việc Trung Quốc rút giàn khoan HD-981 ra khỏi vùng biển Việt Nam ngày 15/07/2014 đã dẫn đến một cuộc tranh luận giữa các học giả về việc ai thắng ai thua trong cuộc đọ sức kéo dài hơn hai tháng
 Giàn khoan Hải Dương HD-981 (DR) . Theo chuyên gia Carl Thayer, rõ ràng là Việt Nam đã không khuất phục trước sức ép của Bắc Kinh.Trong bài viết trên báo mạng The Diplomat ngày 04/08/2014, mang tựa đề « Việt Nam, Trung Quốc và cuộc khủng hoảng giàn khoan : Ai chùn bước ? - Vietnam, China and the Oil Rig Crisis: Who Blinked ? », Giáo sư Carl Thayer đã kết luận như trên sau khi phân tích ý kiến trái ngược nhau của hai chuyên gia Mỹ Zachary Abuza và Alexander Vuving. Thông báo bất ngờ của Trung Quốc vào ngày 15 rằng họ cho rút giàn khoan ra khỏi vùng biển Việt Nam đã dẫn đến một cuộc tranh luận giữa các học giả về lý do tại sao. Zachary Abuza, một giáo sư tại Đại học Simmons ở Boston, cho rằng Việt Nam đã oằn mình dưới áp lực của Trung Quốc, trong khi Alexander Vuving, một giáo sư tại Trung tâm Nghiên cứu An ninh Châu Á-Thái Bình Dương ở Hawaii, cho rằng Việt Nam đã đứng vững trên lập trường của mình còn Trung Quốc thì đã chùng bước. Phân tích của Abuza xuất hiện trong phần "Phát biểu tự do" của báo mạng Asia Times ngày 29/07. Phân tích của ông rất độc đáo, đầy tính chất khiêu khích và suy diễn. Zachary Abuza : Đa số trong Bộ Chính trị chiều theo áp lực của Trung Quốc Abuza cho rằng việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan "biểu thị một nguy cơ gây chia rẽ nghiêm trọng nhất trong những năm tới đây trong giới lãnh đạo của Đảng Cộng sản Hà Nội." Không chỉ nội bộ Bộ Chính trị bị chia rẽ sâu sắc, mà đa số lại chọn giải pháp xuống thang trong cuộc khủng hoảng bằng cách chiều theo sức ép của Trung Quốc. Abuza viết : "Quyết định lùi bước của Hà Nội có hệ quả tiềm tàng rất hệ nghiêm trọng. Việt Nam đã xoa dịu được Trung Quốc, nhưng điều đó rất có thể sẽ dẫn đến nhiều hành vi gây hấn khác." Abuza kết luận : "Một chính sách nhân nhượng sẽ gây nguy hiểm cho chính chế độ... [và] tính hợp pháp của chế độ." Để hỗ trợ cho lập luận của mình, Abuza cung cấp một số thông tin rất chi tiết về quá trình ra quyết định của lãnh đạo Việt Nam thường rất bí hiểm. Lập luận của Abuza có thể tóm lược trong bốn điểm : Đầu tiên, để đối phó với thái độ quyết đoán của Trung Quốc trong việc hạ đặt giàn khoan dầu HYSY 981 trong vùng biển Việt Nam vào đầu tháng Năm, Abuza quả quyết rằng Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã họp lại vào tháng Sáu và "nhất trí quyết định lên án hành động gây hấn và xâm lược của Trung Quốc." Thứ hai, chuyến thăm Hà Nội của Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc Dương Khiết Trì vào ngày 18 đã cho trở thành thiết yếu. Trước chuyến thăm, các nhà lãnh đạo Việt Nam hy vọng rằng ông Dương Khiết Trì sẽ có những nhượng bộ ngoại giao. Theo Abuza, điều ngược lại đã xảy ra. Ông Dương Khiết Trì "không một chút nhượng bộ..., quở mắng chủ nhà là đã 'thổi phồng' tình hình" và cảnh cáo 'một cách thẳng thừng rằng Trung Quốc sẽ 'dùng mọi biện pháp cần thiết' để bảo vệ giàn khoan." Thứ ba, kết quả của chuyến thăm của Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc là đa số trong số 16 ủy viên Bộ Chính trị đã đảo ngược nghị quyết tháng Sáu của Ban Chấp hành Trung ương. Theo Abuza, một thiểu số gồm 6 ủy viên ủng hộ "một chiến lược nhiều mặt" để chống lại Trung Quốc, trong khi đa số 10 ủy viên ủng hộ việc xuống thang khủng hoảng để thích nghi với Trung Quốc. Khía cạnh suy diễn mạnh nhất trong phân tích của Abuza là cách ông phân loại từng ủy viên Bộ Chính trị vào trong hai nhóm. Theo Abuza, nhóm thiểu số bao gồm sáu thành viên: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Bí thư Đảng ủy Thành phố Hồ Chí Minh và "ủng hộ cải cách" Lê Thanh Hải, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, và Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân và Thông [sic] Thị Phong. Đa số 10 ủy viên bao gồm: Tổng Bí thư Đảng Nguyễn Phú Trọng, Ủy viên Ban Bí thư Tô Huy Rứa và Lê Hồng Anh, Trưởng ban Kiểm tra Trung ương Ngô Văn Dụ, Trưởng ban Tuyên giáo Đinh Thế Huynh, Bí thư Thành phố Hà Nội Phạm Quang Nghị, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh, "có lẽ" Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang, và "rất có thể" Chủ tịch nước Trương Tấn Sang. Thứ tư, hệ quả của sự đảo ngược chính sách này là Bộ Chính trị đình hoãn một quyết định trước đó là xúc tiến hành động pháp lý chống lại Trung Quốc, bớt nhấn mạnh trên Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông mang tính chất ràng buộc, và hủy bỏ "chuyến đi Washington được dự kiến của Ngoại trưởng Phạm Bình Minh từng được quảng bá rộng rãi". Bộ Chính trị đã quyết định thăm dò Washington về "mức độ cam kết đóng một vai trò trong một cuộc xung đột tiềm tàng với Trung Quốc tại Biển Đông" bằng cách phái lãnh đạo Đảng của thành phố Hà Nội đồng thời là ủy viên Bộ Chính trị Phạm Quang Nghị đi thay vào chỗ Ngoại trưởng Phạm Bình Minh. Abuza kết luận rằng đa số Bộ Chính trị "không sẵn sàng chống lại Trung Quốc" và "có một hy vọng ở một số người rằng nếu Việt Nam nhượng bộ trên vấn đề quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc sẽ trả lễ trên vấn đề quần đảo Trường Sa." Alexander Vuving : Động thái bắt nạt của Trung Quốc đã thay đổi cách tiếp cận Bắc Kinh của Hà Nội Alexander Vuving cung cấp một cái nhìn ngược lại trong một bài bình luận với tựa đề "Có phải Trung Quốc chùng bước tại Biển Hoa Nam (Biển Đông)", được đăng trên báo mạng The National Interest. Vuving viết rằng cuộc khủng hoảng giàn khoan là "một trận đấu của ý chí... Bên nào có quyết tâm hơn sẽ có thể giành chiến thắng ngay cả khi nó là bên yếu hơn. Với chủ quyền của mình bị đe dọa, cả hai quốc gia đã thử quyết tâm của nhau để xem ai xao xuyến trước". Ngay sau khi Trung Quốc đặt giàn khoan trong vùng biển Việt Nam, các nhà lãnh đạo Hà Nội đã tìm cách thương lượng với Bắc Kinh. Trung Quốc phản ứng với bốn điều kiện tiên quyết : Việt Nam phải chấm dứt sách nhiễu giàn khoan; Việt Nam phải từ bỏ tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa; Việt Nam không được theo đuổi hành động pháp lý chống lại Trung Quốc; và Việt Nam không được lôi kéo môt bên thứ ba, chẳng hạn như Hoa Kỳ. Theo Vuving, tập thể lãnh đạo của Việt Nam đã phản ứng bằng cách hủy bỏ kế hoạch xúc tiến hành hành động pháp lý chống lại Trung Quốc và trì hoãn chuyến thăm Washington của Ngoại trưởng Minh. Điều này tạo tiền đề cho Trung Quốc để thực hiện "một hành động xuống thang tương ứng." Vào ngày 15/07/2014, Trung Quốc thông báo rút giàn khoan HD-981 ra khỏi vùng biển Việt Nam và, trong một động thái riêng biệt, đã thả 13 ngư dân Việt Nam bị họ bắt giữ trước đó. Vuving kết luận rằng "các hành động của Bắc Kinh có thể trông giống như một sự mặc cả ngầm, nhưng bản chất thực sự của sự mặc cả là một cái gì đó rất khác." Vuving ghi nhận tính chất đối xứng và sự mong manh của sự nhượng bộ lẫn nhau của cả Trung Quốc lẫn Việt Nam. Nói cách khác bên nào cũng có thể đảo ngược hành động của mình vào bất kỳ lúc nào. Trái với Abuza, Vuving xem xét động lực của cả Trung Quốc lẫn Việt Nam trong phân tích của mình. Vuving kết luận rằng thái độ nể trọng của Hà Nội đối với Bắc Kinh chỉ là "một phần nhỏ của các đối sách, nếu giả dụ rằng thực sự có phần đó." Vuving lập luận rằng cho đến lúc cuộc khủng hoảng giàn khoan nổ ra, Trung Quốc vẫn áp dụng chiến thuật "cắt lát xúc xích / salami - slicing" theo đó Bắc Kinh theo đuổi "một sự cân bằng tinh tế giữa quyết đoán và kiềm chế sao cho hành động [của Trung Quốc] đủ để thay đổi thực tế trên hiện trường nhưng không đủ để tạo ra một lý do tốt cho người khác để kiên quyết chống lại". Trái với Abuza vốn khẳng định rằng các lãnh đạo Việt Nam đã đầu hàng Trung Quốc, còn "Hoa Kỳ... thì đã không dấn thân một cách có ý nghĩa", Vuving kết luận ngược lại. Theo Vuving, động thái bắt nạt của Bắc Kinh đã dẫn tới một sự thay đổi chưa từng có trong nhận thức của Việt Nam về Trung Quốc, và "cùng với mối đe dọa về một liên minh trong thực tế với Mỹ, là một sự thay đổi lớn trong cách tiếp cận Bắc Kinh của Hà Nội." Hơn nữa, Vuving ghi nhận là "xu hướng chung... đã thúc đẩy thêm một số nước, trong đó có Nhật Bản, Philippines, Úc, Ấn Độ và Việt Nam, điều chỉnh tư thế quân sự của mình và sắp xếp lại chính sách đối ngoại để đối phó hiệu quả hơn với thái độ hung hăng của Trung Quốc." Trong phần kết luận, Vuving lập luận rằng trong quá khứ, nhiều nước, bao gồm cả Việt Nam và Hoa Kỳ, đã tạo ra một "cái trần nhà bằng thủy tinh" và "áp dụng chính sách tự kiềm chế vì sợ khiêu khích con rồng khổng lồ." Trung Quốc đã biết "khéo léo khai thác nỗi sợ hãi này với chiến thuật "cắt lát xúc xích". Do tác động của cuộc khủng hoảng giàn khoan, tấm trần thủy tinh đã bị phá vỡ và Trung Quốc đã lộ rõ bộ mặt "không khác nhiều so với các tác nhân khác" trong nỗi lo ngại một cuộc leo thang. Nói cách khác, Trung Quốc đã chùn bước. Lập luận của Abuza không hợp lý, thiếu xác thực Tường trình của Abuza về tiến trình lấy quyết định của Việt Nam có thể bị xét lại về tính hợp lý và xác thực. Trước hết, không có thông tin công khai nào về sự kiện Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã họp lại vào tháng Sáu. Một nhà quan sát tại Hà Nội đã ghi nhận trong một thông tin cá nhân: "Không hề có một tiếng thì thầm nào tại Hà Nội về một cuộc họp như vậy... Che giấu một sự kiện lớn như một cuộc họp của Ban Chấp hành Trung ương cũng là một điều rất khó khăn." Một quan chức cấp cao của chính phủ xác nhận vào cuối tháng Bảy rằng không hề có một cuộc họp nào của Ban Chấp hành Trung ương Đảng kể từ Hội nghị Trung ương lần thứ chín (08-14/05). Hơn nữa, như một nhà ngoại giao tại Hà Nội đã nói riêng với báo The Diplomat, "nếu quả là cuộc họp vào tháng Sáu của Ban Chấp hành Trung ương đã "nhất trí quyết tâm lên án sự gây hấn và xâm lược của Trung Quốc", tại sao Đảng lại không công bố bất kỳ nghị quyết nào về điều này sau cuộc họp ? Điều đó há không phải là sẽ phục vụ mục tiêu đối nội giúp trấn an công chúng rằng Đảng đang xử lý tình hình ?" Thứ hai, tường trình của Abuza về chuyến thăm Hà Nội ngày 18/06 của Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Dương Khiết Trì tập trung một cách quá hạn hẹp vào các thái độ công khai của ông Dương Khiết Trì. Trước chuyến thăm của ông, Trung Quốc đã từ chối khoảng 30 đề nghị tiếp xúc của Việt Nam để đàm phán về cuộc khủng hoảng giàn khoan, nhưng ông đã đến Hà Nội tham dự cuộc họp thường niên dự trù từ lâu của Ban chỉ đạo chung về hợp tác song phương. Đây là một dấu hiệu quan trọng cho thấy là Trung Quốc sẵn sàng đối thoại với Việt Nam. Khi đọc kỹ các thông cáo chính thức của Bộ Ngoại giao Việt Nam, ta thấy rằng khi ông Dương Khiết Trì gặp Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, hai bên đã có một thỏa thuận chung là « tiếp tục thảo luận về cách giảm bớt căng thẳng và giải quyết các vấn đề liên quan đến biển. ». Sau chuyến thăm của ông Dương Khiết Trì, các phương tiện truyền thông Trung Quốc mô tả kết quả bằng những từ ngữ tích cực hơn rất nhiều so với các phương tiện truyền thông phương Tây được ông Abuza trích dẫn. Theo ghi nhận của Vuving, chuyến thăm của ông Dương Khiết Trì tạo điều kiện cho một cuộc mặc cả để xuống thang. Thứ ba, Abuza không dẫn nguồn khi ông khẳng định rằng Bộ Chính trị đã họp lại sau chuyến thăm của ông Dương Khiết Trì và bác bỏ một nghị quyết của Ban Chấp Hành Trung ương lên án Trung Quốc xâm lược. Ban Chấp Hành Trung ương là cơ quan lãnh đạo cao nhất giữa hai kỳ đại hội Đảng. Bằng chứng là vào năm 2013, Ban Chấp Hành Trung ương đã nhiều lần phản bác một quyết định của Bộ Chính trị. Được biết là Bộ Chính trị đã họp nhiều lần nhân cuộc khủng hoảng giàn khoan cả lúc trước và sau chuyến thăm của ông Dương Khiết Trì. Trong một chuyến viếng thăm Việt Nam vào cuối tháng Bảy, tác giả bài này đã được một số nguồn tin Việt Nam và ngoại giao cho biết là Bộ Chính trị đã bỏ phiếu với tỷ lệ 9-5 để « thông qua một đề nghị xúc tiến thủ tục trọng tài quốc tế ». Các nhà ngoại giao tại Hà Nội theo dõi sát các sự kiện trên cho rằng cuộc họp mang tính chất quyết định đó của Bộ Chính trị diễn ra vào đầu tháng Bảy, trước lúc Trung Quốc thông báo rút giàn khoan HD-981. Không thể nào biết một cách chắc chắn là từng thành viên của Bộ Chính trị đã biểu quyết như thế nào tại cuộc họp đầu tháng bảy đó. Số liệu từ một số nguồn thạo tin Việt Nam và nước ngoài ở Hà Nội gợi lên kết quả như sau: Đa số bao gồm: Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Sinh Hùng, Lê Thanh Hải, Lê Hồng Anh, Tòng Thị Phóng, Nguyễn Xuân Phúc, Nguyễn Thiện Nhân và có khả năng là Phùng Quang Thanh. Năm ủy viên thiểu số bao gồm Nguyễn Phú Trọng, Tô Huy Rứa, Phạm Quang Nghị, Ngô Văn Dụ và Đinh Thế Huynh. Các thông tin theo đó có hai Ủy viên Bộ Chính trị bỏ phiếu trắng không chính xác. Vào đầu tháng Bảy, có hai Ủy viên Bộ Chính trị đang ở nước ngoài và không thể tham dự cuộc họp. Bộ trưởng Bộ Công an Trần Đại Quang đã đến thăm Đức ngày 3-4/07, trong khi Phó Chủ tịch Quốc hội, bà Nguyễn Thị Kim Ngân thì đến thăm Argentina và Chile từ 30/06- 5/07. Thứ tư, Abuza đã sai trong việc khẳng định rằng chuyến đi của Ngoại trưởng Minh sang Hoa Kỳ đã bị hủy bỏ và Ủy viên Bộ Chính trị Phạm Quang Nghị đã được cử đi thay. Chuyến công du của Ngoại trưởng Phạm Bình Minh chỉ hoãn lại cho đến tháng Chín. Hiện nay, Đại sứ quán Việt Nam tại Washington và Bộ Ngoại giao Mỹ đang thảo luận về thời điểm của chuyến thăm của ông Minh. Chuyến thăm của ông Phạm Quang Nghị được cho là nhằm tôi luyện lãnh vực đối ngoại của ông và thăm dò hiện trạng quan hệ với Mỹ trước chuyến thăm của Ngoại trưởng Phạm Bình Minh. Khó có khả năng Việt Nam thôi kiện Trung Quốc hay từ bỏ COC ! Về việc Bộ chính trị đã dẹp bỏ một quyết định kiện Trung Quốc hoặc là Việt Nam giảm nhẹ việc nhấn mạnh đến bộ Quy tắc Ứng xử tại Biển Đông, đây là một khả năng khó có thể xẩy ra. Vào ngày 26/07, trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh tổ chức một hội nghị quốc tế về « những giải pháp hợp pháp trước sự kiện Trung Quốc đặt giàn khoan HD 981 tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam ». Những người Việt Nam tham dự đã nói riêng là những khuyến nghị của hội nghị sẽ được đưa lên lãnh đạo cấp cao, trước cuộc họp Ban Chấp hành Trung ương dự trù vào tháng 8 này. Việt Nam vẫn hoàn toàn gắn kết với ASEAN và hậu thuẫn cho một bộ Quy tắc ứng xử (COC) ở Biển Đông. Năm ngoái Trung Quốc đã thay đổi thái độ và đồng ý gặp các viên chức trong ASEAN để bàn về Quy tắc ứng xử COC, trong khuôn khổ tiến trình thảo luận về việc thực thi Bản Tuyên bố về ứng xử các bên ở Biển Đông (DOC). Rất khó có khả năng Việt Nam giảm hậu thuẫn cho COC để được lòng Trung Quốc. Cả hai bên đều dấn thân vào tiến trình ngoại giao. Bây giờ Việt Nam có thực sự nghĩ là COC sẽ được đúc kết hay không, đó là một chuyện khác. Như một viên chức cao cấp Việt Nam trả lời tờ Diplomat, « hành trình quan trọng hơn là điểm đến ». Cuộc họp thường niên các ngoại trưởng ASEAN, Diễn đàn ARF, các cuộc gặp gỡ với các đối tác ASEAN, tất các cuộc họp đó sẽ bàn thảo về cuộc khủng hoảng do giàn khoan Trung Quốc gây ra, về hướng đi sắp tới. Điều rõ ràng là Trung Quốc sẽ bị sức ép ngoại giao rất mạnh để ‘đóng băng’ các hành động khiêu khích ở Biển Đông. Việt Nam sẽ không thúc thủ trước Trung Quốc, nhưng cũng không liên minh với Mỹ Sự cố giàn khoan đã chứng tỏ khả năng của Việt Nam đứng lên chống Trung Quốc, và cho thấy quyết tâm của mình. Việt Nam có lẽ sẽ không khóa cửa đối với bất kỳ giải pháp nào, kể cả việc kiện Trung Quốc. Vì quyền lợi của mình, Việt Nam nên giữ lại biện pháp này để phòng hờ. Các lãnh đạo thận trọng của Việt Nam có lẽ sẽ không xuôi tay trước sức ép của Trung Quốc cũng như sẽ không liên minh với Hoa Kỳ. Việt Nam và Trung Quốc phải nỗ lực rất nhiều để hàn gắn quan hệ song phương đã bị tổn thương và tái lập sự tin tưởng chiến lược vào nhau. Việt Nam có lẽ sẽ dấn thân sâu hơn vào quan hệ đối tác với Hoa Kỳ. Đường lối ngoại giao Việt Nam có lẽ sẽ tiếp tục như hiện nay hơn là thay đổi. Việt Nam sẽ tiếp tục thực hiện đượng lối ghi trong nghị quyết số 8 của Ban Chấp hành Trung ương, đấu tranh và hợp tác với các cường quốc lớn thế giới, đẩy mạnh lợi ích quốc gia và tiếp tục cách tiếp cận đa phương trong quan hệ đối ngoại.Những người tiếp tay cho giặc bán hải sản thời TQ chiếm biển ĐôngBa năm nay, kể từ ngày Trung Quốc cắt đứt cáp tàu thăm dò Viking 2 và tàu Bình Minh 02 của Việt Nam trong vùng biển Việt Nam cho đến giàn khoan HD 981 cắm vào vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam, vấn đề nguồn và giá cả hải sản Việt Nam có sự thay đổi đột ngột. Trong đó, chuyện hải sản tăng giá và những loại hải sản đông lạnh không rõ xuất xứ, nghi là của Trung Quốc nhập khẩu đang ngày càng nhiều, gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe của người dân. Chỉ cần ra một khu chợ nhỏ ở phố huyện cũng có thể bắt gặp sự thay đổi này. Hải sản tăng giá quá caoMột người tên Lài, ở Văn Giang, Hưng Yên, chia sẻ: “Cô cũng ít sử dụng lắm, nhưng thường người ta hay ngâm nước rồi nó nở trương ra. Cho nên đồ đó cô ít mua lắm! Tất nhiên là nó nguy hiểm, đồ nó ngâm rồi mình ăn không đảm bảo, cô không hiểu nó ngâm hóa chất gì nhưng nhiều khi nó ngâm hóa chất thì nó không đảm bảo nên thành ra ít khi ăn. Hiểu lơ mơ thôi bởi vì mình chưa gặp, thấy nó ngâm nhiều khi nó ngâm nước nở ra một con cá, con cá mình mua tươi nó khác, con cá nếu nó ngâm thì nhìn cũng tươi cũng cứng nhưng mua về nhà thì nó nấu thì bắt đầu nó dở. Vậy nên cô ít khi mua…” Cô cũng ít sử dụng lắm, nhưng thường người ta hay ngâm nước rồi nó nở trương ra. Cho nên đồ đó cô ít mua lắm! -Bà Lài Theo bà Lài, chuyện cá mắm ở quê bà hiện tại là một chuyện khó nói. Bởi vì Hưng Yên vốn dĩ là một tỉnh không gần biển, vấn đề hải sản có giá đắt hơn miền xuôi là chuyện chắc chắn xảy ra. Tuy nhiên, những năm trước đây, người tiêu dùng hải sản cảm thấy tự tin khi mua nó và luôn tâm niệm rằng hải sản là một loại thực phẩm có hàm lượng dinh dưỡng cao, tốt cho mọi lứa tuổi. Thế nhưng thời gian gần đây, sau nhiều vụ ngộ độc hải sản cũng nhưng giá cả tăng vọt của nó, người ta buộc phải suy nghĩ thử có nên dùng loại thực phẩm đắt tiền này nữa hay không. Bởi vì theo nhận định không phải của riêng gì bà Lài, hải sản hiện nay bị ướp hóa chất quá nặng, nếu như trước đây, ngư dân chỉ ướp muối và nước đá để giữ cho hải sản khỏi bị hôi thối trong quá trình vận chuyển từ ngoài khơi vào cảng và đến nơi tiêu thụ thì hiện tại, không còn chuyện đó nữa. Mọi tàu đánh cá khi ra khơi hoặc là chạy lòng vòng để tránh sự truy đuổi của tàu Trung Quốc, đến khi nào có cơ hội mới bủa lưới và kéo xong mẻ lưới phải ướp phân urê thật nhiều để duy trì độ tươi sản phẩm, sau đó lại chạy lòng vòng để tránh tàu Trung Quốc trước khi vào bờ. Trường hợp những tàu cá không dám đến những khu vực thường bị truy đuổi thì tìm những khu vực khác ít sản lượng hơn, chỉ bằng một phần tư sản lượng những nơi Trung Quốc chiếm cứ để đánh bắt. Và thời gian cũng như nhiên liệu bỏ ra để đánh bắt ở khu vực này thường tăng gấp đôi, gấp ba lần so với bình thường. Chính vì kéo dài thời gian đánh bắt nên hàm lượng urê ướp trong hải sản cũng phải nhân đôi, nhân ba để bảo đảm hải sản không bị hôi ươn, hư hỏng trong quá trình chạy lòng vòng tiếp tục đánh bắt. Và khi vào đến bờ, giá thành sản phẩm buộc phải tăng cao so với trước. Đó là chưa muốn nói đến nguồn hải sản của ngư dân Việt Nam đánh bắt thường bị Trung Quốc chặn mua bằng nhiều cách, trong đó có thu mua giá rẻ trên biển, tịch thu tàu thuyền và thả đầu nậu vào bờ để mua. Một lượng lớn hải sản Việt Nam bị chảy máu sang Trung Quốc, trong khi đó, một số lượng lớn hải sản hết hạn hoặc không qua kiểm dịch thực phẩm từ Trung Quốc lại thi nhau tuồn sang Việt Nam. Ăn hải sản giống như ăn bệnhCá được bày bán ở một chợ đêm. RFA PHOTO. Một người bán cá khác tên Hoa, ở huyện Khoái Châu, Hưng Yên, chia sẻ, phần lớn hải sản trong chợ mà bà mua bán hằng ngày là do Trung Quốc nhập sang, theo bà dự đoán là theo đường đi từ cửa khẩu Lào Cai sang chợ Cốc Lếu rồi sau đó phân phát đi nhiều nơi. Bởi loại hải sản từ Trung Quốc nhập sang có hai đặc điểm rất dễ nhận biết là chúng được ướp hóa chất rất kĩ nên bất kì cua, tôm, ghẹ hay cá mực gì cũng cứng, cho cảm giác dòn và đặc điểm thứ hai là tất cả hải sản Trung Quốc nhập sang Việt Nam đều là hải sản thứ cấp, những thứ mà người nhà khá giả của Trung Quốc không đụng đến vì chất lượng kém, không ngon miệng. Nhưng với những người ở các miền quê Việt Nam, đặc biệt là với các quán nhậu, đây là nguồn thực phẩm cực kì dễ xài, chỉ cần bỏ ra một ít tiền, không ảnh hưởng gì đến chi tiêu hằng tháng vẫn có thể ăn được món này. Rất tiếc là phần đông người dân còn nghèo khổ, chuyện cái ăn cái mặc luôn là nỗi ám ảnh mỗi ngày nên người ta sẽ mua bất kỳ thứ gì có giá rẻ nhưng nhìn hấp dẫn bữa ăn và giải quyết được nỗi mặc cảm về cái nghèo. Thường thì ở thôn quê, vùng nghèo khổ, việc ăn hải sản giống như một thứ gì đó nâng đẳng cấp, cho thấy chủ nhà không đến nỗi nghèo khổ. Nhưng một khi cái nghèo, nỗi mặc cảm được giải quyết theo hướng Tàu hóa như vậy thì sức khỏe lại bị đe dọa trầm trọng bởi loại hải sản thứ cấp có xuất xứ Trung Quốc này! Đó là chưa nói đến các quán nhậu, vì động cơ lợi nhuận, hầu hết các quán nhậu bình dân đều chọn các loại hải sản thứ cấp có xuất xứ Trung Quốc để mua về chế biến. Chỉ cần màu mè, gia vị thật nhiều, người ta sẽ biến loại hải sản dỏm này thành những món ăn hấp dẫn. Và đáng sợ nhất là các loại màu mè, gia vị ở các quán nhậu cũng được mua giá rẻ bởi xuất xứ Trung Quốc của nó. Vì chỉ có làm như thế, người ta mới mau giàu được. Trong khi đó, một tỉ lệ ngược đã phát triển đến độ báo động tại Việt Nam, đó là quán nhậu càng mau giàu, tỉ lệ người mang bệnh tật vì nhậu càng cao. Và một khi mọi thứ đã trở nên bình thường, người ta không còn suy nghĩ nhiều đến những gì mình bỏ vào miệng hằng ngày, hải sản không đảm bảo vệ sinh của Trung Quốc càng có cơ hội phát triển, phì đại trên lãnh thổ Việt Nam. Trong khi đó, một trữ lượng lượng hải sản sạch của ngư dân Việt Nam đánh bắt được lại rơi vào tay người tiêu dùng Trung Quốc. Chưa bao giờ người đi chợ cảm thấy khó khăn khi mua một ký hải sản do chính người Việt Nam đánh bắt và ướp giữ theo kĩ thuật truyền thống như bây giờ. Cũng chưa bao giờ tâm lý người tiêu dùng lại bất an, mất niềm tin khi đối diện với mâm hải sản như hiện nay. Cũng xin nói thêm, đã đến lúc chúng ta đặt tên nỗi bất an về lương thực nói chung, hải sản nói riêng thành cái tên chung, đó là Bất An Trung Quốc! Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.
Con trai bà BùTRUNG CỘNG ĐẦU ĐỘC CẢ THẾ GIỚI VỚI NHỮNG SẢN PHẨM NGUY HIỂM
Để trả lời câu hỏi: “Nhưng chết dưới tay Trung Cộng như thế nào?” Tiến sĩ Peter Navarro nói: “Nhiều cách lắm, bằng hàng hóa độc hại,bằng cạnh tranh bất chánh, bằng cách cướp công ăn việc làm của nhiều quốc gia, bằng các hoạt động gián điệp, chiếm tài nguyên thiên nhiên của các nước láng giềng, chiếm lãnh nhiều thuộc địa bằng mặt trận kinh tế, đánh cắp bí mật quốc phòng và tăng đầu tư vào quân đội toàn là những thủ đoạn hiểm độc.” Câu hỏi khác: “Có biện pháp nào để tránh hiểm họa “Chết dưới tay Trung Cộngkhông?” Tiến sĩ Peter Navarro đáp: “Có chứ! Nhưng, nó đòi hỏi Hoa Kỳ phải có một chánh sách khác và người dân Hoa Kỳ phải hiểu rõ thảm họa lớn nhất thế giới nầy!”. Trong cuốn “Death By China” đưa ra một số thống kê tiêu biểu:- Trung Cộng hiện cung cấp cho Hoa Kỳ 60% nước táo đặc, 50% tỏi, 70% thuốc trụ sinh Penicillin, 50% aspirin, 33% thuốc, Tylenol và 99% vitamin C.- Vật liệu xây dựng “drywall” của Trung Cộng chứa chất Sulfurous gas bốc mùi trứng thối làm cho người cư ngụ bị sưng phổi, ngứa cổ, nghẹt thở mà còn làm hư hỏng các ống nước làm hệ thống HVAC như máy lạnh, máy sưởi không làm việc được. Mỗi năm, hàng100.000 căn nhà của dân Mỹ phải tốn tiền sửa chửa khoảng 15 tỉ USD.- Về mặt gián điệp, “Death by China” cảnh báo rằng: mỗi năm có khoảng 750.000 người Hoa ngành tình báo vào Hoa Kỳ, đánh cắp kỹ thuật quốc phòng đưa về Hoa Lục. IV. VŨ KHÍ SINH HỌC DƯỚI HÌNH THỨC HÀNG ĐỘC: Rõ ràng Trung Cộng đã và đang dùng “vũ khí sinh học” dưới hình thức “hàng độc” đểđầu độc nhân loại và dân chúng Hoa Kỳ, đó là loại vũ khí hủy diệt con người một cách tiệm tiến. Hiện nay, nghành công nghệ sinh học đang nở rộ tại Trung Hoa Lục Địa và phát triển nhanh chóng, các sản phẩm độc hại được xuất khẩu ồ ạt, tràn ngập trên khắp thế giới. Xin liệt kê vài hàng độc đã được tìm thấy:THUỐC TÂY GIẢ:- Tại PANAMA: hơn 300 người tử vong vì uống thuốc ho Made in China có độc chất gây bệnh là “”, một loại độc chất cao thường tìm thấy trong nước chống đông đặc của xe hơi. - Tại HAITI: trên 76 trẻ em, phần lớn dưới 5 tuổi chết vì thận bị hủy hoại một cách kỳ lạ giống như nạn nhân ở Panama. Nhờ sự giúp đở của Hoa Kỳ, người ta khám phá ra nạn nhân tử vong vì thuốc trị sốt cho trẻ em có độc chất “Diethylene Glycol” phát xuất từ Xingang và qua công ty giao dịch SinochemInternational. - Không chỉ trong dược phẩm có chất Diethylene Glycol, còn được Tàu đưa độc chất nầy vào kem giả mạo dưới nhãn hiệu Colgate. Chính quyền Canada khuyến cáo dân chúng ngưng sử dụng kem đánh răng giả mạo độc hại Made in China. Dưới chủ đề “TRUY LÙNG THUỐC CỦA TỬ THẦN” phóng viên của tạp chí Le NouvelObservateur, kể lại cuộc điều tra của một nhân viên bào chế dược phẩm Thụy Sĩ hầu tóm cổ những kẻ sát nhân đã giết hại hàng ngàn bệnh nhân bằng thuốc giả đến từ Trung Cộng. Cuộc săn lùng chỉ trên địa bàn các quốc gia Cận Đông: Ai Cập, Jordanie, Syrie. Mở đầu bài viết, phóng viên Jean Paul Mari kể lại câu chuyện của ADEL, một ngườiPalestine: Vợ của anh bị ung thư vú, nhờ biết bệnh rất sớm và các bác sỹ lạc quan sẽ chữa được bệnh. Vấn đề thuốc “Imanitib” rất đắc, giá hộp. Để chữa trị cho vợ, Adel đã huy động gia đình bạn bè giúp đỡ đưa vợ sang Israel điều trị, Thời gian đầu, bệnh của vợ anh có vẻ ổn định. Sau đó, anh đưa vợ trở lạiPalestine vào bệnh viện tối tân ở Ramallah. Bác sỹ Baker sử dụng loại thuốc nói trên, nhưng giá thành chỉ có một nửa thôi. Vợ của Adel chết 6 tháng sau đó vì thuốc sử dụng tại đây là thuốc giả được pha chế chỉ có nước, pha một ít đường, phẩm màu và một ítaspirine. Giá thành của mỗi họp thuốc nầy là 2 USD. Điều nầy đã thúc giục JEAN LUC mở cuộc điều tra. Nhân vật trung tâm mạng lưới mà JeanLuc tìm ra được tên WAJEE ABU ODEH, một người Jordanie, đến từ Thẩm Quyến ở Hoa Lục. Tại vùng Cận Đông, mạng lưới do Wajee Abu Odeh điều khiển, cung cấp thuốc giảcho Jordanie, Ai Cập, Syrie…họ cung cấp thuốc giả tới 50% thuốc chữa trị ung thư. Không kể các loại thuốc giả chết người nầy tràn lan ở những vùng ngoại ô nghèo và qua nhiều môi giới nó hiện diện tại những bệnh viện có uy tín ở thủ đô. TRÀ TÀU TẨM CHẤT ĐỘC CHÌ: Theo The New Chenese Take Out – Michael E. Telzrow cho biết: Kỹ nghệ sấy khô lá trà tại Trung Cộng đã đạt tới trình độ tinh vi chưa từng có: Các hãng sản xuất trà dùng khí thải từ xe ô tô để làm khô lá trà nhanh chóng bằng cách trải lá trà tươi trên sàn của nhà kho, rồi lái những xe vận tải vào trong, nổ máy để khí thải từ ống khói xe làm khô lá trà. Vấn đề là xăng pha chì và những chất chì độc hại thoát ra theo khói xe bám trên lá trà. Chất độc chì sẽ ngấm dần dẫn đến việc hủy hoại thận và còn nhiều nguy cơ khác. NƯỚC TƯƠNG LÀM BẰNG TÓC: Bài viết nầy của GS, Tse – Yan Lee, B.H.Sci nhằm trình bày cho độc giả biết về một loại nước tương được sản xuất tại Hoa Lục không an toàn và được bày bán khắp nơi tại Hoa Lục và trên thế giới.Nước tương được chế biến từ đậu nành, gồm có hợp chất protein,carbohydrate không chất béo, dồi dào chất riboflavin (B2) và các chất khoáng nhưsodium, calcium, phosphorus, sắt, selenium và chất kẽm. Hàng năm, trên khắp thế giới người ta đã sản xuất ra hàng ngàn triệu tấn nước tương để cung ứng cho thị trường tiêu thụ. Vào năm 2003, tại Trung Cộng người ta sản xuất hàng loạt nước tương mang nhãn hiệu “HONGSHUAI SOY SAUCE”, áp dụng theo phương pháp sinh hóa và kỹ thuật tân tiến bởi một nhà máy chế biến thực phẩm gia vị không theo phương pháp chế biến cổ điển bằng đậu nành và lúa mì nên giá thành rất rẻ và được các nhà hàng và nhà trường sử dụng rất nhiều.Tháng giêng năm 2004, viên quản lý cho một nhóm ký giả của chương trình TV “WeeklyQuality Report” biết thành phần của nước tương gồm có “amino acid”, “sodiumhydroxide”, “hydrochloric acid” và mật đường (loại dung dịch phế thải sau khi đã quay ly tâm thành đường cát trắng) và vài chất hóa học khác hòa tan với nước. Nhu cầu chế biến nước tương, hàng tháng nhà máy phải sử dụng đến hàng chục ngàn tấn “amino acid” dưới dạng bột từ một nhà máy sản xuất hóa chất khác.Sau đó các ký giả đã tìm ra nguyên liệu để bào chế ra loại xi-rô amino acid này tại một nhà máy sinh hóa ở tỉnh Hồ Bắc. Họ trả lời các ký giả rằng “amino acid” chủ yếu chế biến từ tóc con người, thu nhặt được từ các tiệm hớt, uốn tóc và từ các đống rác thải ra ở các bệnh viện khắp nơi trong nước rất dơ bẩn và mang nhiều loại vi khuẩn gây nhiều mầm bệnh khác nhau. Tóc con người chứa nhiều loại hóa chất độc hại như thạch tín “arsenic” và chì “lead” sẽ gây phương hại trầm trọng đến hệ thống tiêu hóa, gan, thận, tim mạch, hệ thần kinh và sinh dục.Sau khi tin tức ghê tởm nầy được phổ biến trên toàn thế giới khiến Hiệp Hội Các Quốc Gia Châu Âu, HongKong, Đài Loan, Nhật, Hoa Kỳ…đã từ chối nhập cảng một số hiệu nước tương và nhiều loại thực phẩm khác sản xuất từ Trung Hoa Lục Địa vì lý do an toàn cho sức khỏe dân chúng. TỎI BỘT, ỚT BỘT NHIỄM PHÓNG XẠ:Do khả năng công nghệ bảo quản thực phẩm quá kém nên tỏi bột và ớt bột là sản phẩm nổi tiếng của quận Qixian, tỉnh Henan do cơ xưởngLimin sản xuất phải sử dụng chất phóng xạ Cobalt-60 để giữ lâu cho tỏi bột và ớt bột khỏi bị hư hỏng. Ngày 7/6/ 2009, chất Cobalt-60 bị rò rỉ thấm qua quần áo bảo hộ của công nhân và chất phóng xạ Cobalt-60 tuôn ra ngoài không khí, xưởng Limin bị phát hỏa, gây chết chóc cho nhiều người. Có khoảng 800.000 người trong vòng bán kính 50 km đã bỏ của chạy lấy thân. Hàng quán tại Qixian đóng cửa, đường xá vắng tanh như một thành phố chết. HOA KỲ BÁO ĐỘNG NHIỀU MẶT HÀNG NHẬP TỪ HOA LỤC CÓ CHẤT ĐỘC: Hoa Kỳ liên tiếp báo động về hàng hóa nhập cảng từ Trung Cộng có chứa kim loạiCadmium độc hại tiềm ẩn trong những kiểu trang sức thời trang. Quốc Hội Mỹ đã cấm các sản phẩm chứa chì nhập cảng vào Mỹ dưới dạng nữ trang cho trẻ em. Nhưng, cadmiumcòn độc hại hơn chì nhiều. Cadmium có thể gây bệnh ung thư. Thượng Nghị Sĩ MarkPryor báo động: “Sẽ có nhiều phụ huynh tức giận khi biết nữ trang nhập cảng như thế có thể làm tổn hại sức khỏe con em họ.” Nhiều sản phẩm may mặc dành cho trẻ em không bảo đảm an toàn, chứa nhiều hóa chất “formaldehyde”, “cadmium” và “chromium” độc hại vượt mức cho phép, gây nhiễm trùng da và đường hô hấp cho trẻ em.Trong khuôn khổ bài báo nầy, chỉ liệt kê những mặt hàng độc có tính cách tượng trưng mà thôi, còn nhiều mặt hàng độc khác như trái cây có tẩm hóa chất bảo quản Carbendazim hoặc còn dính thuốc trừ sâu, đũa ngâm hóa chất…một khi các hóa chất độc hại nầy bám vào các bộ phận trong cơ thể con người sẽ công phá tiến trình thoái hóa và tăng trưởng tế bào tự nhiên mà sinh ra nhiều TẾ BÀO DỊ HÌNHkhông cần thiết dư thừa, đan kết vào nhau, tích tụ lại làm thành bướu độc, cục u…là tiến trình của nguy cơ dẫn đến nhiều căn Vì thế, tất cả mặt hàng tươi, khô, đông lạnh hoặc đóng gói mang nhãn hiệu MADE IN CHINA là người tiêu thụ rùng mình kinh sợ.Trung Cộng thay đổi chiến lược để lừa người tiêu thụ bằng cách thay thế nhãn hiệu “Madein China” bằng nhãn hiệu mới trên các bao bì của thực phẩm, hàng hóa…là “MADE IN P.R.C” đó là chữ viết tắt “People Republic of China” (Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc).
Nhưng, nhãn hiệu “Made in P.R.C” đánh lừa giới tiêu thụ không được bao lâu thì bị phát giác làm mức tiêu thụ hàng hóa Trung Cộng lại bị thế giới tẩy chay, tụt dốc thê thảm.Trung Cộng lại giở thói gian manh, tiếp tục đánh lừa người tiêu thụ, không nhận diện được các mặt hàng độc của Trung Cộng bằng những phương cách xảo quyệt khác. Một thí dụ điễn hình: WAL-MART là một trong những siêu thị lớn nhất nước Mỹ. Nếu nhập hàng từTrung Cộng do công ty Wal-Mart đặt mua. Trung Cộng sẽ ghi “MADE FOR WAL-MARTUSA” hoặc “PACKAGED IN USA”.
Hàng hóa nhập từ Trung Cộng bằng những kiện hàng lớn, được ghi rõ ràng xuất xứ “Madein China” đúng theo qui định của chánh phủ Hoa Kỳ. Nhưng, khi những kiện hàng được tháo ra bán lẽ trên các quày hàng thì mang nhãn hiệu khác như “MADE FOR WALMARTUSA” hoặc “PACKAGED IN USA” và hàng chữ nhỏ li ti như “Made in China” hoặc “Madein P.R.C” nằm ở gốc nào đó rất khó nhìn thấy. Xin hãy cẩn thận khi mua hàng để đừng bịTrung Cộng lừa bằng những mánh khóe bẩn thỉu nầy.BÀI HỌC CỦA ĐÀI LOAN TẨY CHAY HÀNG ĐỘC CỦA TRUNG CỘNG:Một thành phố Đài Loan, thị trấn Chitung, nơi trận bão Morakot ập vào làm 500 người chết trong một vụ lở đất lớn và 700 người phải di tản sau cơn bão nhiệt đới tồi tệ nhất trong vòng 50 năm qua, đã xảy ra vào ngày 8/8/ 2009. Chánh quyền địa phương đã từ chối nhận 100 “nhà lưu động” lấp ráp nhanh do Trung Cộng viện trợ vì lo sợ hóa chất độc hại, vì những căn nhà nầy có chứa chất “formali”, một loại hóa chất nguy hiểm. Phó Quan Hành Chánh quận tên Chung Chia nói:“Mặc dầu những ngôi nhà là trợ giúp nhân đạo, nhưng chúng tôi cần phải đặt an toàn làm ưu tiên hàng đầu.” Ngoài ra, họ cũng từ chối hàng viện trợ của Trung Cộng gồm: 10.000 túi ngủ, 10.000 chăn đấp cùng với 176 triệu nhân tệ (26 triệu USD). Người dân Đài Loan đã mất tin tưởng vào hàng hóaTrung Cộng từ năm trước khi sản phẩm sữa bột của Trung Cộng của một số hãng Trung Cộng bị tìm thấy nhiễm melamine làm chết ít nhất 6 trẻ em và khiến hàng chục nghìn trẻ em lâm trọng bệnh. Đây là một cái tát vào mặt bọn lãnh đạo Trung Nam Hải. V. VIỆT NAM THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ HÀNG ĐỘC CỦA TRUNG CỘNG:Tất cả mặt hàng độcchết người do Trung Cộng sản xuất bị thế giới tẩy chay và vất vào thùng rác. Những con chó lãnh đạo Trung Nam Hải dùng Việt Nam làm thị trường tiêu thụ những hàng độc nầy vừa để thu lợi nhuận và vừa dùng nó làm vũ khí giết người thầm lặng, không tiếng súng để giết dân Việt Nam chết dần chết mòn. Sách lược dã man nầy, Trung Cộng chia ra làm hai giai đoạn: GIAI ĐOẠN I: Ngày 30 tháng 6 vừa qua, nhiều tờ báo trong nước đồng loạt lên tiếng báo động về hiện tượng nầy, từng đoàn doanh nhân Tàu Cộng vượt biên giới bỏ ngỏ, ào ạt sang Việt Nam từBắc vào trong Nam, tung tiền mua giá cao, vơ vét hàng nông sản, thu hút hàng sạch nhu yếu phẩm từ thủy sản, đường cát, heo, gà, vịt, trứng gà, vịt cũng bị thu mua chất hàng đống. Đặc biệt là vịt sống là sản phẩm bị chiếu cố tận tình nhất, khiến giá mỗi con từ60.000 đồng/con tăng vọt lên 120.000 đồng, tức tăng gấp đôi. Cho đến nay, chiến dịch vét hàng đã lên đến cao điểm, nhưng chưa biết chừng nào mới chấm dứt. Hiện tượng nầy, khiến vật giá trong nước tăng tốc leo thang không ngừng vì thiếu hàng để bán, làm dân nghèo khốn đốn.Theo nhận định của bà Nguyễn thị Thu Sắc, Phó chủ tịch Hiệp hội Hàng Xuất Cảng Thủy Hải Sản VN (VASEP) nói rằng: những năm trước thương gia Tàu sang VNthu mua tôm trực tiếp từ các trại nuôi tôm của người Việt mình. Còn bây giờ, họ ra tận bến cá, đón tàu đánh cá vừa từ ngoài khơi vào, tung tiền thu mua trực tiếp, gôm sạch các loại hải sản. Các công ty VN chế biến thủy, hải sản thiếu hàng xuất cảng, nâng giá mua lên để cạnh tranh mà vẫn chào thua các doanh nhân Tàu Cộng lắm tiền nhiều bạc nầy. Tại miền Trung, các tay thương gia Tàu Cộng nầy chiếu cố tận tình. Hậu quả, là giá tôm trắng hồi nằm ngoái chỉ có 57.000 đồng/kí bây giờ vọt lên 90.000 đồng/kí.Bà Sắc báo động, tình trạng nầy sẽ giết các công ty xuất cảng thủy sản và hải sản trong nước. Từ đầu năm đến giờ đã có 147 công ty loại nầy ở VN đã phải đóng cửa vì không mua được hàng. Bà Sắc cho biết đã đến lúc chánh phủ VN nên bắt chước Indonesia, vì quốc gia nầy đã cấm xuất cảng nguyên liệu thủy, hải sản kiểu đó. Việt Nam cần phải bảo vệ thị trường nội địa. Nhưng, biết bao giờ Đảng vànhà nước CSVNhọc được bài học khôn nầy? Ngoài ra, các tên thương gia trọc phú nầy còn nhắm vào hồ tiêu. Theo lời ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hiệp Hội Tiêu VN (VPN), cho biết: đã có 20% toàn bộ sản lượng tiêu VN bị thương lái Tàu Cộng thu vét. Cao su cũng vậy, có đến 70% số cao su làm ra ở VN đã vượt biên vào Hoa Lục. GIAI ĐOẠN II:Sau khi hút hết “HÀNG SẠCH” của thị trường Việt Nam, bọnTrung Nam Hải cho các thương buôn Tàu Cộng tuôn “HÀNG ĐỘC” vượt qua biên giới vào Việt Nam bán với giá rẻ mạt vừa túi tiền của đại đa số đồng bào lao động để đầu độc dân Việt Nam trên qui mô cả nước, gây ra hiện tượng “GIÀU ĂN SẠCH, NGHÈO ĂN ĐỘC”. Xin liệt kê một số hàng độc của Trung Cộng tượng trưng:  GẠO NHỰA TÀU: Sau khi tung tiền vơ vét cả triệu tấn gạo của VN chở sang Tàu. Liền sau đó, “gạo nhựaTàu” được Trung Cộng tung vào VN đã xuất hiện trên thị trường, đó là một loại giả làm bằng khoai lang /khoai tây xay nhuyển rồi trộn với bột nhựa (resin). Gạo nhựa Tàu nấu trên 30 tiếng vẫn không làm hạt gạo nát nhừ, hột cơm vẫn nguyên vẹn và không dính vào nhau. Tất cả các gạonhựa Tàu đều cùng kích thước và màu sắc giống nhau. Sữa A ĐỘC MELAMINE:Melamine là hóa chất dùng để sản xuất nhựa, được trộn vào các sản phẩm sữa để chúng trông giàu proteinhơn để dánh lừa thị giác giới tiêu thụ khiến các em nhỏ uống vào sẽ mắc bệnh “sạn thận”. Các hãng thông tấn nước ngoài đưa tin scandal về sữa độc melamine làm tử vong 4 em bé và làm hơn hàng trăm ngàn trẻ em khác bị bệnh vào năm 2008. Sau đó, chánh quyền Trung Cộng đã tìm thấy và tịch thu 170 tấn sữa bột độc hại nầy.Số 170 tấn sữa độcmelamine không được Trung Cộng thiêu hủy và tái phối trí lại để đưa vào thị trường Việt Nam tiêu thụ với giá rẻ khoảng 62.000 đồng/kí so với sữa bột Tân Tây Lan rẻ hơn20.000 đồng /kí. Nguồn tin cho biết, sữa độc melamine tràn ngập ở các chợ biên giới phía Bắc, đưa vào bán ở các chợ đầu mối tại Sài Gòn như chợ Kim Biên, Bình Tây và các đại lý chuyên doanh phân phối thực phẩm.
LỤC PHỦ NGŨ TẠNG CỦA GIA SÚC VÀ GIA CẦM:Ngộ độc thực phẩm diễn biến ngày càng phức tạp tại Việt Nam. Mỗi năm đã xẩy ra hàng ngàn vụ ngộ độc thực phẩm chết người. Nguyên nhân là ăn phải hàng độc, nhập lậu qua biên giới Việt – Trung bỏ ngỏ, kẻ qua người lại, nhập cảnh không cần visa . Hàng ngày, con buôn người Tàu lợi dụng nhập cảnh không cần chiếu kháng, để đưa hàng ngàn tấn hàng độc ồ ạt vượt qua biên giới vàoViệt Nam tiêu thụ. Phần lớn hàng độc được con buôn VN chiếu cố nhiều nhất như: tim, cật, thận, lòng heo, chân gà, vịt, cánh cổ, trứng non, lòng mề…được con buôn người Hoa ngâm tẩm và ướp bằng hóa chất như formol (dùng để ướp xác chết) để giữ tươi được lâu ngày, chống thối rữa. Những món hàng độc nầy khi vượt qua biên giới, đượccon buôn VN cho vào thùng xốp chuyển đi khắp nước tiêu thụ. Một người đi chào hàng nói với đối tác: “Yên chí đi! Có để đến nửa tháng nữa cũng chưa thối đâu! Đã tẩm ướp thứ đó rồi thì có chôn xuống đất tới cả tháng, đào lên vẫn còn tươi nguyên!”. Thị xã Hà Khẩu (Hoa Lục) là nơi tập trung nguồn hàng độc loại nầy, cung cấp cho chợ Tả Cái và Tả Xéo cách đó 1km để con buôn chuyển về VN tiêu thụ bằng vạn nẽo đường khác nhau. TRỨNG GÀ, VỊT NHIỄM MELAMINE CỦATRUNG CỘNG:Loại hàng độc nầy tập trung tại “tổng kho trứng” chợ Sẻo Cái ở Hà Khẩu, muốn mua bao nhiêu cũng có, nếu cần giao hàng ở bên Việt Nam cũng OK! Đây là một chợ khá lớn, bày bán mọi loại thực phẩm tươi, vệ sinh rất kém, bẩn thỉu và lầy lội, tấp nập nhiều con buôn VN đến mua bán hàng, đặc biệt là trứng gà các loại ở chợ nầy. Khu bán trứng gà nằm ngay bên ngoài gần đường vào chợ, hàng đống các thùng trứng gà, vịt xếp chồng chất lên nhau. Giá cả tại chỗ như sau: khoảng 31.000 đồng/1 kg, khi chở về đến chợ Cốc Lếu ở Lào Cai bên VN là 47.000 đồng/1kg, quả là siêu lợi nhuận.Tại thành phố Lào Cai có chợ Cốc Lếu, Gốc Mít, Kim Tân bày bán rất nhiều trứng gà nhiễmmelamine của Trung Cộng đã qua công đoạn vỏ trứng được đánh màu, chờ con buôn phân phối đi khắp nơi. Trong khi trận bão melamine trong sữa Trung Cộng chưa lắng dịu thì tìm thấy trứng gà nhiễm melamine của Trung Cộng đang ồ ạt xâm nhập vào thị trường VN. TRÁI CÂY NHẬP LẬU TỪ TRUNG CỘNG:
Hầu hết tất cả trái cây nhập cảng từ Trung Cộng đều có tẩm hóa chất bảo quản là mối quan tâm của người tiêu dùng như:TÁO: Quả táo nhập từ Tàu, được bọc trong một một lưới xốp. Lưu ý, khi bốc lưới xốp ra thì thấy hạt trắng mịn đọng trên vỏ quả, đó là do hóa chất bảo quản bị bốc hơi.CAM: Hiện nay, cam nhập lậu từ Trung Cộng, loại cam nầy quả rất to, bọc trong lưới, có màu vàng tươi do tẩm hóa chất và bị đánh bóng. QUÝT: QuýtTrung Cộng vỏ dày, bị đánh bóng và bóc vỏ, hai đầu múi quýt thường khô.HỒNG: Hồng Tàu rất dễ nát nên hàng nhập lậu thường được tẩm nhiều hóa chất bỏa quản hình dáng. Ngoài ra, hồng Tàu có vỏ rất đẹp, màu vỏ đỏ đậm do bị bôi phẩm màu.DƯA HẤU: Phần lớn dưa hấu bán trên thị trường loại vỏ vàng, ruột cũng màu vàng là của Trung Cộng, nhưng lại lấy nhãn hiệu của New Zealand. Loại dưa hấu nầy hay bị tiêm nước đường hóa học vào trong ruột nên khi bổ ra sau vài tiếng, ruột sẽ bị mềm nhũn. VI. ĐỀ CAO CẢNH GIÁC VŨ KHÍ SINH HỌC CỦA TRUNG CỘNG: Tin Saigon cho biết: Căn bệnh tay chân và miệng đang hoành hành dữ dội tại VN trong 6 tháng vừa qua với 15.000 người mắc bệnh đa số là trẻ em, trong đó có 50 trẻ em tử vong. Theo phúc trình của viện Pasteur Saigon: tại thành phố Saigon và các tỉnh lân cận như Đồng Nai, Bình Dương, Long An và Tiền Giang có tỉ lệ trẻ em nhiễm bệnh cao nhấtViệt Nam. Theo Trung Tâm Y Tế Dự Phòng thì 99% trẻ em tử vong vì chứng bệnh kỳ lạ nầy. Trẻ nhiễm bệnh nầy bị sốt cao, nổi mụt nước khắp cơ thể, thân thể đau nhức dữ dội và dẫn tới tử vong.Việc nầy, làm chúng ta liên tưởng tới khoảng thời gian đầu tháng 3 năm 2003, những ca bệnh SARS đầu tiên xuất hiện tại tỉnh QUẢNG ĐÔNG, miền Nam Hoa Lục. Từ đó, bệnh SARS bắt đầu lây truyền nhanh chóng các nước trên thế giới. Đây là căn bệnh truyền nhiễm mới đầu tiên của thế kỷ XXI. Người ta đặt nghi vấn: “Có phải virus gây bệnh Sars có nguồn gốc từ cái LAB bí mật nào đó của Trung Cộng bị rò rỉ và phát tán ra ngoài, gây khốn đốn cho nhân loại?”Chắc chắn là như vậy rồi!Trung Cộng ngày nay đang lâm vào 4 cơn khát: KHÁT ĐẤT – KHÁT DẦU – KHÁT NƯỚC – KHÁT MÁU. Cho dù Tập đoàn lãnh đạo Đảng CSVN đã bán nước cho bọn Trung Nam Hải, đưa dân tộc vào vòng nô lệ cho ngoại bang, biến Việt Nam thành một quận huyện của tên đế quốcTrung Cộng để được vinh thân phì gia: “Thà mất nước, chớ không chịu mất Đảng!”Nhưng, dã tâm của bọn Trung Nam Hải là không bao giờ từ bỏ tham vọng “DIỆT CHỦNG DÂN VIỆT NAM” chết càng nhiều, càng tốt bằng VŨ KHÍ SINH HỌC để đưa dân Tàuồ ạt di dân sang Việt Nam chiếm đất đai, tài nguyên của đất nước chúng ta. Vì vậy, xin đồng bào phải luôn luôn đề cao cảnh giác vũ khí sinh học của bọn quái vật Trung Cộng!Nếu như, tỉ lệ trẻ em nhiễm căn bệnh kỳ lạ nầy tiếp tục tăng cao, nguy cơ biến thành dịch lan tràn khắp nước, Trung Tâm Y Tế Dự Phòng Sàigòn cần phối hợp với Viện Pasteur Saigon báo động với Tổ Chức Y TẾ Thế Giới (WHO) và Cơ quan Kiểm soát và Ngăn ngừa bệnh Dịch Hoa Kỳ (Centers for Disease Control and Prevention) viết tắt “CDC” để tìm biện pháp giúp đỡ, xác định đặc điểm của loại virus nầy, nhằm chận đứng kịp thời, trước khi quá muộn. VII. KẾT LUẬN: Trước khi chấm dứt bài viết nầy, tôi xin nhắc lại lời của ông WINSTON CHURCHILL(1946) để thay cho lời kết: “Thế chiến thứ II đã không bao giờ xảy ra trong lịch sử nếu có những hành động ngăn chận đúng lúc…nhưng không một ai muốn lắng nghe. Chúng ta phải chắc chắn điều nầy không tái diễn.” (There was never a war (WW II) in all history easier to prevent timely action…but no one would listen…we surely must not let that happen again.” Và ông MICHAEL SCROCCARO – Giám đốc Sterling Communication – có viết bài bình luận “COMMENTARY: CHINA SIGNALS WAR, WILL THE WORLD LEARN FROM HISTORY?”Ông đã cảnh báo cảnh báo Phương Tây: “Tại sao Phương Tây đang tiếp tục làm ngơ trước những tín hiệu và bài học của lịch sử nữa chăng? Có phải vì những tin tức trong Trung Hoa Lục Địa không rõ ràng, không đủ sức thuyết phục để chúng ta lưu tâm sao? ”(So, why is the West ignoring the signs and lessons of history yet again? Could it be that news out of China is not clear or compelling enough to grasp our attention?”) Viết theo các tài liệu tổng hợp, phân tách và nhận định.
i Hằng sang Mỹ vận động trả tự do cho mẹChuyến bay của Trung từ Philippines đến phi trường LAX, vào lúc 9 giờ 30 tối Thứ Hai, 4 Tháng Tám, 2014 cũng trắc trở như chặng đường mà anh trải qua, kể từ khi quyết định rời khỏi Việt Nam tìm người giúp đỡ để cứu mẹ mình thoát khỏi cảnh tù tội cũng như một bản án oan sai có thể sắp xảy ra.  Anh Trần Bùi Trung khi vừa đặt chân đến phi trường LAX, tối 4 tháng Tám, 2014. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt) Chính vì thế mà Trung cho rằng cảm nghĩ đầu tiên của anh khi đặt chân xuống phi trường LAX “thật sự rất khó tả, pha trộn nhiều cảm xúc, buồn vui, nhưng hạnh phúc.” “Chặng đường để em được đặt chân đến đây không hề dễ dàng, phải trải qua rất nhiều nước, đặt chân đến rất nhiều phi trường quốc tế khác nhau, thậm chí bị giữ lại và có những thời điểm có cảm tưởng như sắp bị trục xuất về Việt Nam. Nhưng rất may là có sự giúp đỡ của tất cả mọi người cũng như anh Trịnh Hội thì em mới có được hôm nay, được đặt chân đến đây. Rất là vui, cảm giác hạnh phúc.” Trung nói cùng nụ cười tươi, không để lộ chút cảm giác mệt mỏi sau hành trình bay dài cùng nhiều giờ bị trì hoãn. Cũng ngay khi vừa khỏi nơi lấy hành lý, Trung, người thanh niên 24 tuổi, nói rõ thêm về mục đích đến Mỹ của mình, “Mục đích chính của em khi đến đây ngày hôm nay là để mang vụ việc của mẹ em là bà Bùi Thị Minh Hằng ra trước công luận quốc tế để thế giới bên ngoài biết được, để có thể tranh thủ được sự ủng hộ của mọi người để giúp đỡ cho hoàn cảnh của gia đình em nói riêng cũng như hoàn cảnh của bao gia đình đấu tranh dân chủ cho Việt Nam nói chung.” Bà Bùi Thị Minh Hằng, sinh năm 1964, mẹ của Trần Bùi Trung, được biết đến là một người tham gia tích cực trong các cuộc biểu tình chống Trung Quốc tại Việt Nam thời gian qua. Và đây chính cũng là nguyên nhân khiến bà bị bắt đưa vào trại cải tạo Thanh Hà ở tỉnh Vĩnh Phúc hồi Tháng 11 năm 2011, nhưng lại bị chính quyền Việt Nam gán cho tội danh ‘gây rối trật tự công cộng’. Bà được thả ra vào cuối Tháng 4, 2012. Vào ngày 11 Tháng Hai năm nay, bà Hằng lại bị bắt khi đang cùng 20 người khác đến thăm nhà cựu tù nhân lương tâm Nguyễn Bắc Truyển tại huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp. Một ngày sau, 18 người trong số này được trả tự do, ngoại trừ bà Hằng cùng hai người khác là cô Nguyễn Thị Thúy Quỳnh, sinh năm 1986 và anh Nguyễn Văn Minh, sinh năm 1980. Ngày 28 Tháng 2, công an huyện Lấp Vò, Đồng Tháp, tống đạt quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam Bùi Thị Minh Hằng, Nguyễn Thị Thúy Quỳnh về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” và Nguyễn Văn Minh về hành vi “Chống người thi hành công vụ.” Bà Hằng phản đối hành động bị bắt giam của mình bằng cách tuyệt thực trong trại giam suốt 50 ngày. Sức khỏe của người phụ nữ này trở nên suy yếu từ đó. Ngày 2 Tháng 7, 2014, công an Đồng Tháp đã đưa ra bản “Kết luận điều tra vụ án,” trong đó qui cả bà Hằng, cô Quỳnh và anh Minh vào tội danh “Gây rối trật tự công cộng.” Trung cho biết từ ngày mẹ anh bị bắt đến nay anh ”đã có nhiều lần xuống thăm nhưng phía công an không cho gặp.” Mọi tin tức liên quan đến bà Hằng đều được thông báo qua luật sư của bà là ông Trần Thu Nam. “Tinh thần của mẹ em theo lời của luật sư gia đình là anh Trần Thu Nam thì lúc nào cũng vững vàng nhưng sức khỏe của mẹ em sau thời gian tuyệt thực hiện tại rất là yếu. Ngay thời điểm hiện tại, theo tin em nhận được mới nhất thì tình trạng mẹ em cũng đã đỡ hơn rồi nhưng mà cũng không được khỏe mấy.” Trung nói. Nói về bản “Kết luận điều tra”, Trung cho rằng, “Đó là do phía bên công an điều tra họ đưa ra. Việc họ đưa ra là chuyện của họ, còn bên phía mẹ em và hai người bị bắt cùng thì từ đầu đến giờ và khẳng định luôn là đến lúc ra tòa là mọi người đều sẽ khẳng định là mình vô tội, không chấp nhận bất kỳ một lời cáo buộc có tội nào từ phía cơ quan công an.”
Cam Bốt kết án chung thân hai cựu lãnh đạo Khmer Đỏ Con cháu các nạn nhân bật khóc khi nghe tin hai lãnh đạo khmer đỏ lãnh án chung thân - REUTERS/Damir Sagolj Hôm nay, 07/08/2014, trong một phiên tòa tại Phnompenh, tư pháp Cam Bốt ra phán quyết kết án tù chung thân hai cựu lãnh đạo cao cấp nhất của Khmer Đỏ còn sống, Khieu Samphan, người đứng đầu nhà nước Campuchia Dân chủ, và Nuon Chea, nhà tư tưởng của chế độ Khmer Đỏ, vì tội diệt chủng, phạm tội ác chống nhân loại và tội ác chiến tranh. Hai bị cáo tuyên bố sẽ kháng án. Bản án đã được tuyên với sự có mặt của hai bị cáo. Án chung thân là mức án cao nhất theo dự kiến trong khuôn khổ các phiên tòa đặc biệt của Cam Bốt dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc xét xử các tội phạm Khmer Đỏ. Từ năm 1975 đến 1979, gần hai triệu người, tức gần một phần tư dân số Cam Bốt đã bị giết hại, chết vì đói hay kiệt sức dưới chế độ Khmer Đỏ. Hai cựu lãnh đạo Khmer Đỏ Khieu Samphan, 83 tuổi, và Nuon Chea, 88 tuổi, phủ nhận mọi trách nhiệm của mình trong tội ác diệt chủng của chế độ Khmer Đỏ. Khieu Samphan và Nuon Chea bị bắt năm 2007. Cùng với hai cựu lãnh đạo Khmer Đỏ khác, hai bị cáo bị tòa án đặc biệt Cam Bốt xét xử từ tháng 7/2011. Ieng Thirith, cựu Bộ trưởng Bộ Xã hội, người phụ nữ duy nhất trong số 4 bị cáo, đã được trả tự do năm 2012 vì mắc bệnh tâm thần. Cựu Ngoại trưởng Khmer Đỏ Ieng Sary chết hồi năm ngoái. Do các bị cáo tuổi cao và bị cáo buộc nhiều tội danh, quá trình xét xử được chia thành nhiều giai đoạn, để một phán quyết được đưa ra trước khi các bị cáo qua đời. Theo thông tín viên RFI tại Phnompenh, Stéphannie Gée, phán quyết đầu tiên đối với hai cựu lãnh đạo Khmer Đỏ đặc biệt liên quan đến việc cưỡng bức dân chúng di tản bằng bạo lực, nhằm kiểm soát dân cư và tiêu diệt các kẻ thù của chế độ. Trong phiên tòa nói trên, Nuon Chea và Khieu Samphan bị xét xử với tư cách là các lãnh đạo, chịu trách nhiệm về tội ác chung của toàn chế độ. Tòa nhắc lại rằng thực hiện bằng mọi giá một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, chế độ Khmer Đỏ đã phạm phải vô số tội ác chống thường dân Cam Bốt. Trong số các biện pháp nhằm khắc phục thiệt hại đối với các bên dân sự, có việc tổ chức một Ngày tưởng niệm chính thức. Vào tuần trước, hai cựu lãnh đạo Khmer Đỏ tiếp tục bị xét xử trong một phiên tòa khác, liên quan đến tội ác diệt chủng nhắm vào người Việt và thiểu số người Chăm theo đạo Hồi, cũng như các tội ác tại các trại giam và nhà tù, trong đó có nhà tù Tuol Sleng (S-21). Các phản ứng tại chỗ Về một số phản ứng tại chỗ, Thông tín viên RFI Stéphanie Gee cho biết cụ thể : « Phiên tòa kết thúc với sự thở phào nhẹ nhõm. Hai cựu lãnh đạo Khmer Đỏ sẽ phải sống phần còn lại sau chấn song sắt, như điều mà đông đảo người Cam Bốt trông đợi. Tuy nhiên, đằng sau thái độ hài lòng ra mặt, có nhiều phản ứng khác nhau. Một viên chức ở thủ đô bày tỏ : ‘‘Việc họ không được trả tự do là một phán quyết tốt. Tuy nhiên, không cần thiết phải xét xử tiếp, vụ việc này sẽ không thể đi xa hơn được’’. Tuy nhiên đây không phải là quan điểm của một người cao tuổi đến từ tỉnh Kampot : ‘‘Tôi thấy vui ! Như vậy là tốt, nhưng với tôi việc này vẫn chưa kết thúc. Tôi trông đợi phiên tòa tiếp tục công việc của mình. Chúng tôi không muốn những người cộng sản nữa. Họ giết hại tất cả mọi người !’’. Mọi việc sẽ kết thúc khi những người Khmer Đỏ chết hết, một người phụ nữ bên cạnh thì thầm. Đối với bà, án tù chung thân chỉ là một giai đoạn, trước khi các cựu lãnh đạo Khmer Đỏ đối mặt với nghiệp ác của họ (sau khi họ qua đời). Trong khi một số người khác, như một nhà nông vùng ngoại ô Phnompenh, thì có thái độ nặng nề hơn đối với phán quyết : ‘‘ Vẫn còn các cựu lãnh đạo Khmer Đỏ trong chính quyền hiện nay. Theo tôi, công lý sẽ không được thực thi chừng nào những người này còn chưa bị bắt giữ. Đứng từ quan điểm quốc tế, phán quyết này được coi là tốt, nhưng đối với tôi, với tư cách là một công dân Cam Bốt và tất cả những ai phải chịu đau khổ, thì những phiên tòa này mới chỉ là một màn trình diễn. Cần phải đưa ra tòa thêm những thủ phạm khác’’. Người thanh niên nói trên nhấn mạnh, rất nhiều người Cam Bốt ở xa không theo dõi phiên xét xử qua đài hay truyền hình. Theo anh, quá trình xét xử quá chậm và quá mang tính tượng trưng khiến họ chán nản ».
Alan Phan - Giá Trị Tài Chánh Của Biển Đôngwww.ducme.tv -Cà Phê Tối- Biểu tình công nhân ở Bình Dương: nghĩ về XHDS
Thứ Ba, ngày 05 tháng 8 năm 2014
Theo sự méo mó nghề nghiệp của tôi, bất cứ điều gì cần phải tranh đấu, đều phải đáng đồng tiền bát gạo. Ngay cả chuyện tình cảm. Nếu một cô gái hay một chàng trai đã nhất quyết không yêu mình, thì giải pháp tốt nhất là bỏ đi, tìm chỗ kín đáo mà ngồi khóc. Van xin thì quá yếu hèn thảm hại mà kết quả sau cùng vẫn là con số không.
Có dùng quyền lực hay thủ đoạn nào đó để mà thâu tóm thì cũng không gì để vui hưởng, vì đó chỉ là một hình thức hiếp dâm hay lừa gạt hợp pháp. Nhưng quan trọng nhất trong khi quyết định về một cuộc tranh chấp là chúng ta phải thẩm định xem “giá trị thực” của vật thể hay lợi ích là thế nào.
Và tuyệt đối đừng để tình cảm xen vào việc đánh giá. Đừng lẫn lộn giữa “mirror and smoke” (gương và khói). china oil 2
Gần đây, những diễn biến về Biển Đông gây nhiều tranh cãi trên thế giới và lôi kéo vào cuộc tranh chấp những quyền lực lớn như Mỹ, Nhật, Úc… Trong khi đó, những bài viết hay bình luận trên nhiều mạng lề phải hay lề trái thường xoay tròn trong tình yêu nước (Việt và Trung), pháp lý (công hàm hay thoả thuận?, kiện hay cười trừ?), quân sự (số tàu chiến, máy bay, ngư dân, tốt thí…), ngoại giao (xúi biểu tình tại hải ngoại, kêu gọi Thượng Hạ Viện Mỹ ra quyết nghị cảnh báo…) và chính trị (PR, diễn văn, lý giải lịch sử tốt vàng gì đó)….
Câu hỏi chính của tôi lại là ,”Tại sao Trung Quốc Muốn Kiểm Soát Biển Đông?”
Giá trị thực sự về tài chánh của Biển Đông là gì?
Tôi tình cờ lướt Net và tìm một vài nét chính yếu khi đi tìm 2 câu trả lời trên từ các graphics của Bloomberg và xác định bởi US Energy Information Administration. Tuy nhiên, tôi đang chịu sự chập chờn của mạng khi nằm dài trên bờ cát dài ở một nơi vắng vẻ và vợ con đang mắng là đi nghỉ mát mà còn lo nghiên khảo các “của nợ” này. Do đó, tôi hy vọng là các đọc giả và học giả sẽ bổ sung những khiếm khuyết về các con số dưới đây để chúng ta có một góc nhìn chính xác hơn.
(Với tôi, dù trích dẫn nguồn từ Bloomberg hay chánh phủ Mỹ, nhưng những số liệu này mang nhiều tính chất phỏng đoán. Việc nắn bóp thống kê để phục vụ cho thâm ý chính trị hay kinh tế rất phổ thông.) china oil 1
Theo Bloomberg, đây là cốt lõi của vấn đề Biển Đông:
- Dưới thềm biển, có khoảng 190 ngàn tỷ foot khối (cubic foot) khí đốt. Con số này sẽ thoả mãn nhu cầu về khí đốt của Trung Quốc trong một thế kỷ. Hiện nay, giá khí đốt khoảng $2.5 mỗi ngàn cubic feet, thị giá tổng cộng của số lượng trên là 475 tỷ US đô la.
- Ngoài khí đốt, tiềm năng của Biển Đông còn nằm trong số 11 tỷ thùng dầu (barrels) dự trữ, đủ để cung cấp nhu cầu về dầu hoả của Trung Quốc trong 5 năm. Thị giá của dự trữ tính theo $100 mỗi thùng là 1,100 tỷ US đô la.
- Lưu lượng hàng hoá vận chuyển qua Biển Đông lên đến 5.3 ngàn tỷ US đô la mỗi năm. Lực lượng nắm giữ quyền kiểm soát có thể thu tô hay tạo những khủng hoảng chiến lược trị giá vô kể cho quyền lực kinh tế. Nếu dùng con số 1 phần ngàn của tổng số, tô thu về có thể đạt 5.3 tỷ mỗi năm. Trung bình 100 năm là 530 tỷ US đô la.
- Số lượng hải sản đánh bắt từ Biển Đông có thể lên đến 10% lượng cung của toàn thế giới. Hiện nay, 10% tương đương với 6 tỷ hay 600 tỷ cho 100 năm.
- Nếu chỉ tính nhẩm giá trị của 4 tài nguyên kể trên, tôi có con số tổng cộng là 2 ngàn 705 tỷ US đô la hay tổng số GDP của Việt Nam ước tính cho 14 năm tới.
Như tôi đã thưa, đây là con số để khởi đầu một phân tích sâu rộng hơn. Trong kinh nghiệm làm ăn của tôi, những cái lăng nhăng viển vông chỉ là những thủ thuật ma quái của các người cầm quyền hay chính trị gia hay doanh gia để “định hướng” dư luận và khách hàng. Cứ đi tìm giá trị thực và tìm giải pháp nghiêm túc dựa trên con số này. Mọi chuyện khác chỉ là bánh vẽ.
Nguyễn Tiến Hưng - Nhìn lại lịch sử 40 năm trướcThứ Ba, ngày 05 tháng 8 năm 2014
“It's so sad, it's so sad” (Thật là buồn, thật là buồn), tôi nghe thấy Pat lẩm bẩm nói bâng quơ... Không ai nói năng gì nữa. Cũng chẳng còn hạt nước mắt nào để mà khóc. Tôi ngả đầu vào lưng ghế và nhắm mắt lại,” TT Nixon viết để kết thúc cuốn hồi ký dài 1,120 trang. Ðây là lúc ông ngồi trên chiếc trực thăng rời Washington sau khi từ chức ngày hôm trước. Bà Patricia là phu nhân tổng thống.
Trước 10 giờ sáng ngày Thứ Năm, mồng 8 tháng 8, 1974, Phó Tổng Thống Gerald Ford cùng với Phụ tá John Marsh chủ tọa lễ trao Huân Chương Danh Dự Quốc Hội cho gia đình của bảy người quân nhân tử trận ở Việt Nam. Lễ nghi diễn ra tại Blair House, nhà khách của Tổng Thống [chúng tôi xin mở ngoặc để ghi lại là TT Thiệu đã lưu lại nơi đây vào tháng 4, 1972 khi TT Nixon mời ông tới Washington; chúng tôi có ghé thăm ông]. Lễ nghi vừa xong, ông Ford liền được Tướng Al Haig, chánh văn phòng cho biết Tổng Thống Nixon muốn gặp ông ngay. Ông vội vàng bước qua đường Pennsylvania sang tòa Bạch Ốc. Khi ông vừa tới, TT Nixon đứng lên bắt tay rồi ngồi xuống ngả lưng vào ghế. Hai tay nắm chặt vào nhau để trên đùi, trông mặt ông thật căng thẳng vì vừa trải qua một giai đoạn hết sức khó khăn. Với một giọng nghiêm nghị nhưng kiềm chế, ông chậm rãi nói với ông Ford: “Tôi đã quyết định từ chức, quyền lợi đất nước đòi hỏi như vậy. Tôi không muốn nói tới chi tiết những lý do nên hay không nên làm như vậy, nhưng tôi đã đi tới quyết định rồi.” Buổi tối hôm ấy TT Nixon lên TV tuyên bố từ chức.
Chúng tôi gọi ngày này là “Ngày Song Bát,” ngày lịch sử của Hoa Kỳ, cũng là ngày đánh dấu buổi hoàng hôn của nền Cộng Hòa Việt Nam.
'Water - gate' hay cửa đập nước đã mở?
Watergate là tên của một tập hợp những cao ốc đẹp nằm trên đường Virginia cạnh bờ sông Potomac lãng mạn. Ðây là một khuôn viên gồm khách sạn, chung cư sang trọng và một cao ốc văn phòng. Nơi đây có trụ sở của “Ủy Ban Quốc Gia Ðảng Dân Chủ.” Nhân viên của Tổng Thống Nixon đã cho người đột nhập vào trụ sở này vào ngày 17 tháng 6, 1972 để cài đặt đường dây nghe lén vào mùa vận động bầu cử Tổng Thống 1972. Sau khi đổ bể, Quốc Hội điều tra, TT Nixon chối đi là ông không dính dáng gì đến việc này. Cuộc điều tra tiếp tục. Từ chuyện này dẫn tới chuyện khác. Tuy nhiên cũng chưa có bằng chứng nào kết tội tổng thống.
Tới trên hai năm sau, vào ngày 24 tháng 7, 1974 thì có bước ngoặt: Tối Cao Pháp Viện phán quyết Tổng Thống Nixon phải chuyển cho Chánh Án Sirica băng thu 64 cuộc nói chuyện tại văn phòng Tòa Bạch Ốc. Trước đó luật sư của Tòa Bạch Ốc đã tranh đấu để không chuyển băng. Hai bên giằng co rất quyết liệt vì những băng này có liên quan tới việc xét xử sáu quan chức trong vụ Watergate. Chỉ ba ngày sau thì có biến cố lớn. TT Nixon kể lại về ngày 27 tháng 7, 1972: “Tôi đang tắm ở bãi biển Red Beach gần San Clemente khi Ủy Ban Tư Pháp Hạ Viện bỏ phiếu điều khoản thứ nhất của thủ tục bãi chức tổng thống (impeachment). Ðiều khoản này buộc tội tôi đã có những hành động cản trở việc điều tra Watergate. Số phiếu thuận là 27 và chống là 11, đúng như tôi vẫn e sợ. Tôi đang mặc quần áo trong chiếc xe trailer thì chuông điện thoại kêu và (phụ tá) Ziegler báo tin cho tôi. Ðây là giây phút tôi biết mình sẽ là tổng thống thứ nhất trong 106 năm bị đề nghị bãi chức. Lúc ấy tôi đang đứng trong chiếc xe trailer trên bãi biển, đi chân không, mặc cái quần xà lỏn, một cái áo chemise Banlon và một cái áo ở ngoài có vẽ dấu ấn của tổng thống.”
Cuốn băng “Smoking Gun”
Ngày 5 tháng 8, Tòa Bạch Ốc bắt buộc phải chuyển giao băng thu cuộc họp ngày 23 tháng 6, 1972. Băng này đã ghi lại rõ ràng là chỉ mấy ngày sau vụ đột nhập Watergate, chính TT Nixon đã họp với Phụ tá Haldeman để bàn tính việc ngăn chận cuộc điều tra. Theo kế hoạch thì Haldeman sẽ để cho CIA thông báo đại với FBI là vụ này dính tới an ninh quốc gia nên không điều tra nữa.“Một cách để xử lý vụ này,” Haldeman nói với tổng thống, “là ta cho Walters (CIA) gọi đại cho Pat (FBI) để chỉ nói 'Chớ có dính líu gì tới việc này... việc này, chà... chúng tôi không muốn các anh đi sâu hơn nữa.'” (Stay the hell out of this... this is ah, business here we don't want you to go any further on it). TT Nixon chấp thuận kế hoạch. Ông chỉ thị Haldeman, “Ðược rồi, tốt, tôi hiểu hết rồi... Anh gọi bọn họ vào. Tốt, cách xử lý tốt đấy. Phải cho thật cứng rắn. Ðó là cách họ đối xử với chúng ta và cũng là cách chúng ta sẽ đối xử với họ.”
Nghe băng này, các luật sư của Tòa Bạch Ốc thấy hết đường cứu chữa! Ðây là bằng chứng đi ngược lại với những lời phủ nhận của TT Nixon và ngược lại với những lý luận của các luật sư trước đó. Như vậy TT Nixon đã có tội là “cản trở việc thi hành luật pháp.” Người ta gọi cuốn băng này là “Smoking Gun,” nòng súng có khói (bằng chứng là súng đã có bắn).
Căn dặn người kế vị hãy cẩn thận với ông Kissinger
Trong những giờ phút cuối cùng, TT Nixon vẫn còn quan tâm đến VNCH. Ông viết về cuộc họp với ông Ford sáng ngày 8 tháng 8: “Chúng tôi nói tới những vấn đề ông Ford sẽ phải đối đầu khi ông lên chức tổng thống đúng 24 giờ nữa. Quan trọng nhất là chớ có để cho những người lãnh đạo ở Moscow hay Bắc Kinh nắm lấy việc từ chức của tôi để thử thách Hoa Kỳ tại Việt Nam và những nơi khác trên thế giới.”
Sau đó TT Nixon đã căn dặn người kế vị rằng nên dùng ông Kissinger nhưng phải cẩn thận đối với ông này. TT Ford kể lại lời trối trăn trong Hồi Ký 'A Time To Heal': “Tổng Thống Nixon đã khuyên tôi nên tiếp tục một chính sách mạnh mẽ về Việt Nam và Campuchia và nhấn mạnh vai trò của Henry Kissinger trong việc này.” Ông thêm rằng, “Henry là một thiên tài, tuy nhiên ông không phải chấp nhận tất cả mọi việc ông ta đề nghị. Ông ta có thể rất hữu ích, và trung thành, nhưng ông không thể để cho Kissinger hoàn toàn tự do làm theo ý mình.”
Như vậy TT Nixon đã hối hận vì để cho Kissinger lộng hành? Tuy người tiền nhiệm đã dặn dò như vậy, nhưng TT Ford vẫn khoán trắng cho ông Kissinger. Trở về văn phòng, việc đầu tiên ông Ford làm là gọi điện thoại cho Kissinger: “Henry, tôi cần ông, đất nước cần ông. Tôi muốn ông tiếp tục ở lại. Tôi sẽ làm tất cả những gì có thể để làm việc với ông.” Kissinger trả lời, “Thưa ngài, sẽ không có vấn đề gì. Bổn phận của tôi là làm việc cùng với ngài chứ không phải là ngài cùng với tôi.” TT Ford mời ông Kissinger tiếp tục kiêm nhiệm cả hai chức vụ cùng một lúc: Ngoại Trưởng và Cố Vấn An Ninh: tha hồ mà thao túng.
Miền Nam rung động
Tuy đã tiên đoán là Tổng Thống Nixon sẽ phải từ chức, nhưng khi nghe tin này, Tổng Thống Thiệu vẫn bàng hoàng. Gặp ông ngay buổi chiều hôm ấy, chúng tôi thấy ông không giấu nổi sự lo lắng. Vụ Watergate bắt đầu từ tháng 6, 1972 nhưng TT Nixon vẫn thắng cử nhiệm kỳ hai vào mùa Thu năm ấy. Tuy nhiên sau Hiệp Ðịnh Paris thì TT Thiệu đã thấy có điều gì không ổn. Ông kể lại là sau cuộc họp tại San Clemente ngày 3 tháng 4, 1973, khi TT Nixon chào tạm biệt để tiễn ông lên trực thăng (cùng chiếc Mariner one - xem hình) thì “hồn vía ông ta như để ở đâu đâu; trực thăng vừa cất cánh thì ông đã quay gót trở lại. Vội vã đi vào nhà.” Những lần trước khi hai người gặp nhau, dù ở đảo Midway hay ở Sài Gòn (1969), lễ nghi tiễn biệt đã kéo dài, TT Nixon vui vẻ giơ tay vẫy chào thật lâu ('Khi Ðồng Minh Tháo Chạy,' Chương 4). TT Thiệu bắt đầu e ngại nhưng vẫn còn chút hy vọng vì đã có được những cam kết tuy bí mật nhưng hết sức vững vàng của người lãnh đạo tối cao Hoa Kỳ. Mặc dù Hiệp Ðịnh Paris, TT Nixon cũng không nỡ lòng nào bỏ rơi Miền Nam. Ông vẫn tranh đấu cho viện trợ. Nhưng sau ngày Song Bát thì khác.
Ðang lúc bối rối như vậy thì TT Thiệu nhận ngay được một lá thư của tân Tổng Thống Ford gửi cho ông. Thư đề ngày 10 tháng 8, 1974 đã khẳng định: “Thưa tổng thống... tất cả những gì mà Hoa Kỳ đã cam kết với VNCH trong quá khứ thì vẫn còn hiệu lực và sẽ hoàn toàn được tôn trọng trong nhiệm kỳ của tôi.” Ông Thiệu lên tinh thần đôi chút. Nhìn lại lịch sử, chúng tôi cho rằng đây chỉ là một mưu lược rất tinh xảo của ông Kissinger nhằm trấn an ông Thiệu. Vì Kissinger đã giấu nhẹm đi không cho TT Ford và Quốc Hội biết gì về những cam kết của TT Nixon, bây giờ ông phải tìm cách để tiếp tục che giấu. Nếu để ông Thiệu nại đến những cam kết này khi bị Quốc Hội cắt xén quá nhiều viện trợ thì sẽ gây nhiều tranh luận, đưa chính ông Kissinger vào chỗ kẹt. Ðiều hay nhất là làm sao giữ cho Sài Gòn cứ yên lặng, làm sao cho mọi chuyện được êm ả cho tới lúc hạ màn. Ðó là điều ông Kissinger đã từng cố vấn TT Nixon: “Thưa tổng thống, chúng ta chỉ cần tìm ra một công thức nào đó để làm cho yên bề mọi chuyện trong một hay hai năm, rồi sau đó thì Việt Nam sẽ trở thành một bãi hoang vu.” ('Tâm Tư Tổng Thống Thiệu,' Chương 15).
Mấy ngày sau khi nhận được thư của TT Ford, sau một buổi họp của Hội Ðồng Tổng Trưởng tại Dinh Ðộc Lập, ông Thiệu bảo tôi ở lại nói chuyện thêm. Ông hỏi qua loa về cá nhân ông Ford, vì ông này quá mới mẻ đối với VNCH. Tôi nói với ông Thiệu về cái thông lệ của Hoa Kỳ là một tân tổng thống thường được Quốc Hội dành cho một “tuần trăng mật” chỉ dài khoảng 100 ngày, đôi khi lâu hơn. Trong thời gian này, họ dành mọi sự dễ dàng cho vị tân tổng thống. Không những TT Thiệu mà tất cả Nội Các cũng hết sức lo âu. Câu chuyện mọi người bàn bạc lúc ăn trưa trong những buổi họp hàng tháng vào sáng Thứ Tư tại Phủ Thủ Tướng cũng đều xoanh quanh Watergate và viện trợ Hoa Kỳ.
Ðể tìm hiểu rõ hơn về tình hình và xem Việt Nam Cộng Hòa phải xoay xở ra sao, chúng tôi đề nghị Tổng Thống Thiệu mời Giáo Sư Warren Nutter sang thăm. Ông là cựu phụ tá tổng trưởng Quốc Phòng, đặc trách phần tài chính của chương trình Việt Nam Hóa. Ông cũng là người thầy kính mến của chúng tôi tại Ðại Học Virginia. Ông rất am hiểu đường đi nước bước của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ và vấn đề quân viện. GS Nutter dự điểm tâm với TT Thiệu và chúng tôi sáng ngày 23 tháng 8 tại Dinh Ðộc Lập. Tổng Thống Thiệu nói về tình hình đang trở nên hết sức nguy ngập và bày tỏ sự lo ngại về viện trợ Hoa Kỳ.
Là người ủng hộ ông Thiệu từ lâu, ông Nutter cũng rất bối rối. Ông cảm thấy khó khăn khi giải thích hành động của Quốc Hội. Ông hứa khi về đến Washington sẽ cố gắng trình lên Tổng Thống Ford tình trạng nguy ngập ở Việt Nam. Ông than phiền: “Không có nhân vật cao cấp nào trong chính phủ để ý đến vấn đề Việt Nam nữa!” Câu nói của GS Nutter làm TT Thiệu bỏ dở tô hủ tiếu. Về tới Washington, ông viết một lá thư cho bạn ông là John O. Marsh, Phụ Tá của TT Ford. Nutter nhất quyết rằng miền Nam sẽ tồn tại được nếu có phương tiện chống trả các cuộc tấn công của quân đội chính quy Bắc Việt. Nhưng nếu Hoa Kỳ ngưng viện trợ thì sẽ gây hậu quả trầm trọng cả về vật chất lẫn tinh thần. Nutter viết cho ông Marsh và đưa cho tôi một bản sao: “Tôi chưa thấy ông Thiệu và các tướng lãnh Việt Nam có khí sắc u sầu như vậy bao giờ. Họ sẽ càng mất tinh thần nếu Bắc Việt tiếp tục gây áp lực... Tôi tin rằng hành động của Quốc hội và hậu quả tai hại của việc cắt viện trợ là đầu mối của những xáo trộn chính trị và biểu tình trong vài tuần lễ gần đây (tại Sài Gòn). Tình hình sẽ bất ổn về cả chính trị lẫn quân sự, và mọi sự có thể đổ vỡ nếu không xoay ngược được chiều hướng này. Nếu phải lựa chọn, ta nên viện trợ quân sự trước, rồi kinh tế sau, để đương đầu với những đe dọa quân sự trước mắt...
“Ðể cho Miền Nam Việt Nam rơi vào đổ vỡ và thảm cảnh chỉ vì hơn kém nửa tỷ đôla sẽ có hậu quả còn sâu xa hơn, đó là sẽ xé nát lương tâm của Hoa Kỳ. Nó sẽ là ngọn gió thổi bay ảnh hưởng của Hoa Kỳ tuy còn mạnh nhưng đang yếu dần trên chính trường quốc tế.”
Thêm vào đó, Ðại Sứ Martin cũng cố gắng vận động tại Quốc Hội Hoa Kỳ, nhưng chẳng ai làm được gì vì ông Kissinger đã trở nên một ông quan toàn quyền.
Hoàng hôn của nền Cộng Hòa
Cuối Hè vào Thu, chân trời miền Nam đã tím lại. Chỉ vài ngày sau khi TT Ford viết bức thư cho TT Thiệu khuyên ông đừng có lo nghĩ gì cả vì “sau cùng VNCH sẽ được đầy đủ cả quân viện lẫn kinh viện,” Ủy Ban Chuẩn Chi Thượng Viện đã cắt thêm nữa: từ mức quân viện cho Tài khóa 1973 là 2.2 tỷ đôla bây giờ cắt xuống còn 700 triệu. Ðiều chỉnh theo lạm phát thật cao lúc ấy thì mãi lực của số tiền này chẳng còn bao nhiêu. Thực là tin sét đánh cho Bộ Tổng Tham Mưu VNCH. Ðối với TT Thiệu một chút hy vọng khi nhận được thư đầu tiên của vị tân tổng thống Mỹ đã tan biến đi như mây khói.
Ngoài chiến trường thì tình hình bắt đầu sôi động, đặc biệt là ở Ðức Dục và Thường Ðức. Tới cuối năm 1974 thì đạn dược và xăng nhớt đã cạn kiệt. Theo dự tính của Bộ Tổng Tham Mưu: dự trữ đạn dược tồn kho chỉ còn cung ứng được từ 30 tới 45 ngày. Ðại Tướng Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng kết luận rằng, “nếu tình hình chiến sự cứ tiếp tục xảy ra theo cùng một nhịp độ thì“số đạn tồn kho sẽ hết vào tháng 6, 1975 nếu không nhận được thêm viện trợ.” Tình hình chiến sự đã tiếp tục xảy ra, lại theo một nhịp độ gia tăng. Không nhận được thêm viện trợ, lại còn bị Quốc Hội biểu quyết cúp hết quân viện, Miền Nam đã sụp đổ trước tháng 6, 1975.
***
Về miền Cali
Sau khi từ chức và trao quyền cho TT Ford, trưa ngày 9 tháng 8, 1974 nguyên TT Nixon và gia đình rời cửa trước Tòa Bạch Ốc từ từ đi trên tấm thảm đỏ dài dẫn tới Marine one, chiếc trực thăng của tổng thống. Sau đây là những dòng cuối cùng của cuốn 'Nhật Ký Richard Nixon' - viết về lúc giã từ thủ đô: “Tôi bắt tay Jerry (Ford) - Pat ôm Betty (phu nhân TT Ford) - rồi hôn Julie (con gái) - và tạm biệt David (con trai). Rồi tôi đứng một mình. Lên hết cầu thang, tôi quay mình, nhìn lại một lần cuối... Tôi giơ tay vẫy chào lần cuối cùng. Tôi vẫn cười. Tôi bước vào trực thăng, cửa đóng lại, chiếc thảm đỏ được cuộn nhanh. Ðộng cơ bắt đầu nổ. Cánh quạt bắt đầu quay. Tiếng động cơ ầm ầm mạnh lên hầu như lấn át cả những suy nghĩ của tôi.
“Bất chợt chiếc trực thăng từ từ bay lên. Những người ở dưới vẫy tay chào. Rồi chúng tôi đổi hướng. Bây giờ thì Tòa Bạch Ốc đã nằm phía sau chúng tôi. Chúng tôi bay thấp và ngang qua Washington Monument. Một lần đổi hướng nữa và hồ Tidal Basin đã nằm ở dưới. Rồi tới Jefferson Memorial.
“Không ai nói năng gì. Cũng chẳng còn hạt nước mắt nào để mà khóc. Tôi ngả đầu vào lưng ghế và nhắm mắt lại. 'Thật là buồn, thật là buồn' tôi nghe thấy Pat lẩm bẩm nói bâng quơ.”
“Sau một lần đổi hướng nữa chúng tôi đã bay về hướng phi trường Andrew, ở đó chiếc Air Force one đã đợi để đưa chúng tôi về California.”
“Tiếng động cơ ầm ầm mạnh lên hầu như lấn át cả những suy nghĩ của tôi.”
Chắc chắn rằng trong những suy nghĩ của TT Nixon về những gì đã xẩy ra ông không khỏi hối hận vì đã sơ suất để phải chết đuối trong vũng lầy. Vào mùa bầu cử 1972, ông đã quá mạnh để thắng nhiệm kỳ hai, không cần phải cho nghe lén ở trụ sở Ðảng Dân Chủ. Thành tích của ông vẻ vang vì mở cửa Bắc Kinh lại rút hầu hết quân đội Mỹ khỏi Việt Nam. Chương trình Việt Nam Hóa - chứng minh cho 'Học Thuyết Nixon' - đang thành công.
Nhìn theo một khía cạnh tâm linh nào đó, ta có thể cho Ngày Song Bát cũng chỉ là điểm chốt của vận mệnh TT Nixon. Từ một chuyện nhỏ nhặt đã gây nên thảm cảnh. Một thanh niên người da mầu tên là Frank Wills, 24 tuổi, làm nhân viên bảo vệ cho một cao ốc văn phòng tại khuôn viên Watergate. Ðêm ngày 17 tháng 6, 1973, anh thủng thẳng đi quanh tòa nhà để xem xét, bất chợt anh thấy có miếng băng nhỏ dán vào ổ khóa một cánh cửa. Chẳng nghi ngờ gì, anh lấy tay gỡ miếng băng ra, đóng chặt cửa rồi tiếp tục đi kiểm tra như thường lệ. Ba mươi phút sau anh vòng lại chỗ cũ. Ấy chết, lại có thêm băng dán vào chốt cửa. Vội vàng, anh chạy lên lobby lấy điện thoại gọi cho cảnh sát Khu Vực II. Cảnh sát ập tới, bắt được năm người trong văn phòng Ðảng Dân Chủ đang cài dây nghe lén. Thế là chỉ trong giây phút “Water - gate” đã bắt đầu - cửa đập đã mở ra cho nước lũ tràn xuống.
Ta thử hỏi giả như anh Wills không vòng lại lần thứ hai thì lịch sử đã như thế nào? Vô tình, chỉ trong giây phút anh đã là người khởi sự quá trình dẫn đến ngày Song Bát. Một quá trình đã chấm dứt sự nghiệp của người tổng thống lừng danh. Ông đã đại thắng trong cuộc bầu cử nhiệm kỳ hai - một đại thắng 'landslide' - long trời lở đất. Ðể rồi đại bại, sụp đổ. TT Nixon đã ra đi và giã từ thủ đô để trở về miền Cali, nơi có nắng âm hiền hòa hơn Washington.
Chưa tới chín tháng sau ngày Song Bát, miền Nam Việt Nam cũng sụp đổ theo ông. Những con thuyền bé nhỏ lênh đênh trên mặt Biển Ðông trông giống như những chiếc lá tre trôi dạt dào. Bao nhiêu người quay lại giã từ Sài Gòn một lần chót. Mệt lả, họ lẩm bẩm “thật là buồn, thật là buồn - It's so sad, it's so sad!” Cũng chẳng còn hạt nước mắt nào để mà khóc. Không có lưng ghế, họ ngả đầu vào nhau, nhắm mắt lại, phó mặc cho số phận. Với chút may mắn, một số người đã vượt qua được đại dương. Từng đợt rồi lại từng đợt, họ kéo nhau về miền Cali, nơi có nắng ấm hiền hòa. Thêm một sự trùng hợp lạ lùng nữa: phần đông lớp người ra đi đầu tiên lại được đưa tới Camp Pendleton, gần ngay khu nhà Casa Pacifica của TT Nixon ở San Clemente. Cả hai đều nằm sát Ðường Xuyên Bang - Interstate 5.
Trần Vinh Dự/VOA - Ðào mỏ ngân sáchThứ Ba, ngày 05 tháng 8 năm 2014Kinh tế học của phương Tây có khái niệm rent-seeking (khái niệm được Anne Krueger đặt ra năm 1974).
Cư dân Hà Nội xem mô hình đô thị dự trù xây dựng cạnh sông Hồng. (Hình minh họa: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)
Rent-seeking được dùng để chỉ hành vi của các cá nhân, tổ chức, hay doanh nghiệp, dùng tiền bạc hay các loại lợi ích vật chất khác (trực tiếp hoặc gián tiếp) để “vận động hành lang” (lobby) với các quan chức nhà nước nhằm trục lợi từ các chính sách của nhà nước. Hành vi của người đi lobby trong trường hợp đó được gọi là rent-seeking. Làm chính sách được tạo ra dưới ảnh hưởng của các hành vi rent-seeking này được gọi là rent-seeking policy making.
Thí dụ một doanh nghiệp lobby quan chức nhà nước để có được một giấy phép hoạt động trong một lĩnh vực nào đó và sau đó lobby để ngăn chặn các doanh nghiệp khác tham gia vào thị trường này. Cụ thể, vụ việc của EMG vừa qua ở Việt Nam có thể coi là một trường hợp rent-seeking trong giáo dục ở Việt Nam.
Các hoạt động này ít nhiều đều có ở hầu hết các nền chính trị, kể cả các nền chính trị dân chủ như Hoa Kỳ. Tuy nhiên, các nền chính trị càng thiếu minh bạch và pháp quyền (rule of law) càng ít được tôn trọng thì các trường hợp rent-seeking càng phổ biến.
Khái niệm này không dùng được trong trường hợp các quan chức nhà nước (bị lobby hay không bị lobby) tìm cách xin thực hiện các dự án của nhà nước, bằng tiền ngân sách của nhà nước, nhưng với động cơ thuần túy là để được chia phần trăm từ các dự án này. Tôi tạm gọi trường hợp này bằng cái tên đào mỏ ngân sách (budget-mining) dựa trên sự tương đồng nhất định giữa hoạt động xin ngân sách làm dự án (để trục lợi) với việc đào mỏ.
Khác với khái niệm rent-seeking, người làm chính sách trong trường hợp của budget-mining ngay từ đầu đã xác định vẽ ra dự án, xin ngân sách để làm dự án, với mục tiêu trục lợi cá nhân. Ở đây không quan trọng ai là người (đối tác, nhà thầu, contractors) triển khai, vì công thức chia phần trăm cho những người “chủ” của dự án đã có và đã được mặc định bằng các quy luật bất thành văn. Ðương nhiên vẫn có những trường hợp theo kiểu crony, tức là doanh nghiệp câu kết với quan chức tạo thành một nhóm, quan chức đứng ra xin dự án, nếu thành công thì doanh nghiệp thân hữu này đứng ra triển khai, lợi nhuận cùng chia.
Ðào mỏ ngân sách bản thân nó là một quá trình có rủi ro. Nó chỉ tồn tại và thịnh vượng trong các môi trường với những đặc điểm chính sau đây:
Thứ nhất, việc lại quả phải là một thông lệ (norm) mà bất cứ nhà thầu nào có kinh nghiệm trong lĩnh vực làm dự án công cũng phải biết. Công thức lại quả trên thị trường càng rõ ràng thì kỳ vọng về lợi nhuận của quan chức khi xin được dự án càng rõ ràng, vì thế động cơ đào mỏ ngân sách càng mạnh.
Thứ hai, quy trình “xin” và “cho” dự án công càng lỏng lẻo bao nhiêu thì việc vẽ dự án rởm để đào mỏ càng dễ dàng bấy nhiêu. Nói cách khác, việc thẩm định tính cần thiết, yêu cầu kỹ thuật, chi phí... càng đơn giản và dễ lấp liếm bao nhiêu thì các nhà đào mỏ ngân sách càng phấn khích bấy nhiêu.
Thứ ba, việc thẩm định chất lượng, nghiệm thu dự án càng mù mờ, dễ bỏ qua bao nhiêu thì khả năng xảy ra “sự cố” khi phát hiện các vấn đề sau khi dự án triển khai xong càng thấp bấy nhiêu. Nói cách khác, tính an toàn của “mỏ” càng cao. Chính vì điểm thứ 3 này và điểm thứ 2 ở trên nên các dự án trong các lĩnh vực và công luận dễ nhìn thấy hiệu quả, chất lượng, chi phí... khó đào mỏ hơn các lĩnh vực mới mẻ, tiên phong, lạ lẫm, mang tính thử nghiệm, hoặc bí mật.
Thứ tư, việc xét xử và quy trách nhiệm quan chức bị phát hiện đã đào mỏ ngân sách càng khó, các chế tài áp dụng đối với người bị phát hiện càng nhẹ nhàng, thì hoạt động đào mỏ càng thuận lợi. Một môi trường của chế độ trách nhiệm tập thể đương nhiên là một môi trường thuận lợi hơn nhiều so với môi trường theo đó phải chịu trách nhiệm cá nhân.
Thứ năm, muốn đào mỏ ngân sách thì mỏ ngân sách cũng phải đủ lớn để đào. Tức là không phải quan chức trong ngành nào cũng dễ đào mỏ ngân sách, và không phải thời điểm nào cũng thuận lợi như nhau cho việc đào mỏ. Vào những thời điểm khó khăn, ngân sách nhà nước bị thu hẹp, kỷ luật ngân sách được đề cao, thì việc đào mỏ ngân sách sẽ khó khăn hơn so với những thời kỳ kinh tế phát triển thuận lợi.
Các điều kiện thuận lợi cho hoạt động đào mỏ ngân sách đều ít nhiều tồn tại ở Việt Nam. Mặc dù đã có nhiều vụ việc tham nhũng trong các dự án đầu tư bằng ngân sách của nhà nước bị phát hiện (thí dụ như vụ PMU18 đình đám một thời), nhưng chưa có một nghiên cứu có tính hệ thống nào về cách tiếp cận của các quan chức nhà nước đối với việc làm dự án. Sẽ rất thú vị nếu có một nghiên cứu chỉ ra bao nhiêu các dự án (về số lượng dự án và về số tiền) được hình thành xuất phát từ các nhu cầu có thật, tính cấp thiết có thật, và hoàn toàn không mang tính tư lợi, và bao nhiêu dự án xuất phát từ hoạt động đào mỏ ngân sách (budget-mining).
|
|