Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Sáu 2026
T2T3T4T5T6T7CN
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30          
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 9
 Lượt truy cập: 29338291

 
Vietnam News in English 15.06.2026 06:21
Quyền được biết
03.08.2014 00:23

Vụ giàn khoan HD-981 hiệp 1 coi như đã kết thúc. Nói hiệp 1 vì hầu như, trên thế giới, ai cũng biết là Trung Quốc sẽ không bao giờ từ bỏ ý định lấn chiếm Biển Đông. Một ngày nào đó, có thể rất gần, khi mùa bão đã qua, không chừng họ sẽ sang thăm dò tiếp, và sau đó, có thể khai thác dầu khí ở ngay trên thềm lục địa Việt Nam.

 Hơn nữa, họ cũng có thể tuyên bố vùng kiểm soát hàng không ngay trên con đường lưỡi bò để bất cứ chuyến bay nào, kể cả của Việt Nam, đi ngang qua vùng không phận ấy, đều phải xin phép chính quyền Trung Quốc!
Tất cả những việc đó đều có thể xảy ra. Chỉ là vấn đề thời gian sớm hay muộn. Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là về phía Việt Nam: Họ sẽ phản ứng như thế nào trước các hành động xâm lấn càng lúc càng ngang ngược của Trung Quốc?
Suốt mấy tháng vừa qua, trong khi trên thế giới, người ta đưa tin và bình luận rất nhiều về các âm mưu lấn chiếm Biển Đông của Trung Quốc, thì ở Việt Nam, dân chúng được biết rất ít. Không ai biết chính quyền Việt Nam có chiến lược hay chiến thuật gì để đối phó với Trung Quốc. Không ai biết Việt Nam có kiện Trung Quốc ra trước tòa án quốc tế hay không. Không ai biết Việt Nam sẽ làm gì với những khẩu hiệu “4 tốt” và “16 chữ vàng”. Không ai biết Bộ Chính trị đảng Cộng sản Việt Nam có thống nhất với nhau được về vấn đề gì hay không; nếu không thống nhất, thì ai ở phe nào và động cơ thực sự của việc không thống nhất ấy là gì. Không ai biết Việt Nam có ý định liên minh với nước nào để tạo thành sức mạnh nhằm cân bằng sức uy hiếp đến từ Trung Quốc hay không.
Tất cả những việc ấy đều là bí mật. Gần như là bí mật tuyệt đối.
Cũng nhân vụ giàn khoan HD-981, người ta biết rõ hơn về công hàm của Phạm Văn Đồng, thủ tướng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, gửi Chu Ân Lai vào năm 1958 trong đó chính quyền miền Bắc thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Không có nhà lãnh đạo nào của Việt Nam lên tiếng về cái công hàm ấy cả. Không xác nhận. Mà cũng không phủ nhận. Người dân cũng tò mò muốn biết thêm: cái công hàm ấy có ảnh hưởng gì đến việc mang Trung Quốc ra trước tòa án quốc tế hay không. Không có người nào giải đáp cái thắc mắc ấy cả.
Có thể nói, một cách tóm tắt, trong suốt mấy tháng vừa qua, người dân Việt Nam hoàn toàn bị bưng bít mọi thông tin. Thảng hoặc một vài nhà lãnh đạo Việt Nam có tuyên bố gì đó, họ cũng chỉ nói với thế giới bên ngoài chứ không hề nói với dân chúng trong nước.
Không còn hoài nghi gì nữa, đó chính là dấu hiệu rõ ràng nhất cho thấy chính quyền Việt Nam hoàn toàn coi thường nhân dân của họ: Họ không thèm đối thoại với nhân dân. Không thèm cung cấp thông tin cho nhân dân dù đó là những vấn đề ai cũng thấp thỏm lo lắng và muốn được biết. Đó là chính là dấu hiệu chắc chắn nhất cho thấy Việt Nam hoàn toàn không có dân chủ.
Nói đến dân chủ là nói đến quyền của người dân. Những cái quyền ấy phong phú và đa dạng vô cùng, từ quyền tự do tư tưởng, tự do phát biểu, tự do tôn giáo, tự do lập hội đến các quyền đi lại, quyền cư trú, quyền biểu tình, quyền ứng cử, quyền đối lập, v.v… Nhưng người ta thường quên một quyền đơn giản hơn và cũng căn bản hơn: quyền được biết.
Dân chúng không thể suy nghĩ hay phát biểu về những vấn đề họ hoàn toàn không có thông tin. Dân chúng không thể chọn lựa các ứng cử viên trong các cuộc tuyển cử nếu không có thông tin về các ứng cử viên ấy. Dân chúng không thể làm được gì cho đất nước nếu họ hoàn toàn bị bưng bít mọi thông tin, ngay cả những thông tin quan trọng và có ảnh hưởng sâu rộng đến số phận của toàn dân tộc. Dân chúng cũng không thể ủng hộ chính quyển nếu họ không biết chính quyền đang nghĩ gì và làm gì.
Ở Tây phương, người ta xem quyền được biết của dân chúng là một trong những quyền căn bản nhất. Cái gọi là quyền được biết ấy bao gồm rất nhiều khía cạnh. Ví dụ liên quan đến thực phẩm, chẳng hạn, tất cả các công ty sản xuất phải ghi rõ các thành phần hoá chất trên nhãn để đáp ứng quyền được biết của người tiêu thụ. Về phương diện xã hội, ví dụ để sửa một khúc đường vốn sẽ có ảnh hưởng đến vấn đề giao thông, các công ty phải thông báo trước ngày bắt đầu khởi công về thời hạn của công việc theo quyền muốn biết của dân chúng.
Nhưng quan trọng nhất là trong lãnh vực chính trị. Hầu hết những toan tính và những dự án lớn của chính phủ đều phải được thông báo cho dân chúng. Dân chúng, đặc biệt giới truyền thông và giới đối lập đều có quyền đòi hỏi các chi tiết chung quanh các toan tính và các dự án ấy. Theo luật về quyền tự do thông tin, chính phủ hoàn toàn không thể từ chối.
Các nhà phân tích chính trị và luật pháp đều cho quyền được biết của dân chúng là một thứ dưỡng khí của dân chủ. Không có quyền được biết, mọi thứ quyền khác đều bất khả thực hiện.
Không chừng ở Việt Nam hiện nay những người tranh đấu cho dân chủ nên đặt vấn đề về quyền được biết của dân chúng và của chính mình. Để không có cảnh ngoại xâm đang rình rập ngay trước ngõ mà chính quyền cứ im thin thít như vậy mãi.

Ngư dân Việt vỡ nợ sau các vụ tấn công của Trung Quốc ở Biển Đông

28.07.2014
Ngư dân trên đảo Lý Sơn, tỉnh Quãng Ngãi, tả tơi và vỡ nợ sau các cuộc tấn công của tàu Trung Quốc ở Hoàng Sa trong thời gian giàn khoan 981 hiện diện tại khu vực.
Phóng viên đài VOA Poch Reasey vừa thực hiện chuyến thăm Lý Sơn 1 ngày tường thuật rằng dù tình hình trên biển đã lắng dịu sau khi Bắc Kinh rút giàn khoan về nước, nhưng ngư dân Việt vẫn chưa hàn gắn được những nỗi đau đớn, mất mát, thiệt hại vì vì tài sản mất trắng, tàu bè hư hại, nợ nần chồng chất và họ đang khẩn thiết mong chờ sự hỗ trợ, giúp đỡ của chính quyền địa phương.
Poch Reasey: Tới đảo Lý Sơn, tôi gặp rất nhiều ngư dân trên đó. Hai ngư dân mà tôi có dịp nói chuyện, cả hai đều có tàu bị hư phải sửa chữa lại. Họ lúc này không có tiền, phải đi vay mượn của bà con. Họ nói chưa nhận gì từ chính phủ, chính phủ không có giúp gì. Họ yêu cầu chính phủ giúp vì họ không có tiền lúc này. Trung Quốc bắn nước làm tàu họ hư ngày 6/7/14 trong lúc giàn khoan còn đó. Còn chủ chiếc tàu khác nói năm ngoái tàu ông bị Trung Quốc tấn công 2 lần, tháng 7 năm nay bị lần nữa. 
Trà Mi: Khả năng sửa chữa, phục hồi của họ hiện nay ra sao?

Poch Reasey: Bây giờ tàu họ còn đang sửa vì bị hư nhiều nên cần thời gian rất nhiều. Một chuyện nữa, trong thời gian ở đảo Lý Sơn này, Reasey nghe dân ở đây nói trước đây chưa bao giờ có nhiều khách như vậy từ khắp nơi đến thăm để xem cuộc sống ở đây ra sao. Họ xem TV thấy hoàn cảnh vậy nên muốn ra đây xem và giúp đỡ.
Trà Mi: Các ngư dân bị Trung Quốc tấn công, họ có cho biết kế hoạch sắp tới ra sao, họ đã cầu cứu những đâu?
Poch Reasey: Họ có nói là đã xin chính quyền giúp đỡ, nhưng chưa nhận được tiền bạc hay sự giúp đỡ gì từ chính phủ. Cho nên, họ tiếp tục yêu cầu chính phủ Việt Nam giúp đỡ họ.
Trà Mi: Về sự bảo vệ, họ có yêu cầu hay nguyện vọng thế nào?

Poch Reasey: Họ cũng có yêu cầu, nhưng không nhận được cái gì từ chính phủ.
Trà Mi: Những nhu cầu thiết yếu chưa được đáp ứng có làm cho họ chùn bước?
Poch Reasey: Họ nói họ vẫn tiếp tục đi vì biển đó là biển của Việt Nam từ lịch sử xa xưa rồi. Họ không sợ, họ vẫn tiếp tục đi như bình thường.
Trà Mi: Ngư dân là lực lượng chính giúp Việt Nam khẳng định chủ quyền trên Biển Đông. Suy nghĩ của chính các ngư dân thế nào?
Poch Reasey: Theo tôi biết họ cũng muốn yêu cầu nhà nước lắm nhưng họ không biết làm sao, nhà nước làm thế nào, họ cũng không có ý kiến về chuyện họ nghĩ sao.
Trà Mi: Kể từ khi giàn khoan Trung Quốc rút đi, công việc đánh bắt của ngư dân ở đó ra sao?
Poch Reasey: Họ vẫn tiếp tục đi, tiếp tục làm ăn như bình thường. Hầu như không có chuyện gì nữa, chỉ sợ thời tiết thôi.
Trà Mi: Anh có suy nghĩ thế nào về những gì mắt thấy tai nghe trong chuyến ra thăm đảo Lý Sơn lần này?
Poch Reasey: Tôi thấy cuộc sống của dân trên đảo không dễ, rất khó khăn. Họ đi biển mỗi chuyến đi hàng tháng, bỏ vợ con ở nhà, không biết thời tiết ra sao hay sẽ có chuyện gì, rất khó khăn.
Trà Mi: Gia cảnh của họ thế nào? Cuộc sống của các ngư dân trên đảo Lý Sơn có được sung túc?
Poch Reasey: Cũng được, vì trên đảo đồ ăn các thứ đều rẻ hơn ở các thành phố. Họ kiếm tiền ít, họ cũng xài ít. Họ trồng rau cải, bắt cá, đồ ăn cũng rẻ hơn. Lúc này, không đi đánh cá được họ không có tiền, họ phải đi mượn tiền từ bà con vì họ đi bắt cá cả đời rồi, không có nghề gì khác. Cho nên rất là khó khăn.
Trà Mi: Rời Lý Sơn về lại đất liền, ấn tượng nào đọng lại trong tâm trí anh?
Poch Reasey: Tôi rất ấn tượng về sự can đảm của ngư dân Việt Nam, họ bất chấp hiểm nguy và khó khăn.

Nhiều thế kỷ nay, Lý Sơn, hòn đảo cách bờ biển Việt Nam 28 cây số, là nơi sinh sống của hàng ngàn ngư dân Việt gìn giữ nghề truyền thống ở Biển Đông.

Bloomberg dẫn lời giới chức địa phương cho hay trong thời gian giàn khoan Hải Dương 981 hiện diện ở Hoàng Sa từ đầu tháng năm tới giữa tháng bảy, 14 trong tổng số 426 tàu thuyền của đảo Lý Sơn bị thiệt hại nặng nề vì các vụ va đụng, gây hấn từ Trung Quốc. Thiệt hại ước tính lên tới nhiều trăm ngàn đô la.
Chủ nhiệm luật sư đoàn Sài Gòn bị khai trừ đảng
31.07.2014 SÀI GÒN (NV).- Nguyễn Đăng Trừng, chủ nhiệm Đoàn luật sư thành phố Sài Gòn, vừa bị khai trừ khỏi đảng CSVN vì bị cáo buộc 'vô kỷ luật' với những dấu hiệu có vẻ là một chuyện đấu đá nội bộ.
Ông Nguyễn Đăng Trừng, chủ nhiệm luật sư đoàn Sài Gòn, vừa bị khai trừ khỏi đảng CSVN. (Hình: Lao Động)
“Chiều 31/7, Ban Tuyên giáo Thành ủy TP HCM đã họp báo công bố quyết định của Ban Thường vụ Thành ủy thi hành kỷ luật với hình thức khai trừ Đảng đối với ông Nguyễn Đăng Trừng, Bí thư Đảng đoàn, Chủ nhiệm Đoàn Luật sư TP do một số khuyết điểm, vi phạm trong quá trình công tác.”  Bản tin Thông Tấn Xã Việt Nam (TTXVN) loan báo và các tờ báo chính thống ở Việt Nam đều nhất loạt loan tin này.
TTXVN kể tội ông Nguyễn Đăng Trừng rằng “Theo thông báo kết luận của Ban Thường vụ Thành ủy, từ năm 2012, ông Nguyễn Đăng Trừng trong lãnh đạo, điều hành hoạt động của Đảng đoàn đã có khuyết điểm, vi phạm: xem nhẹ vai trò lãnh đạo của Đảng đoàn đối với hoạt động của Đoàn Luật sư Thành phố; không tổ chức cho Đảng đoàn thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Đảng đoàn theo quy chế làm việc đã ban hành; phân công, bổ nhiệm, đề bạt một số cán bộ tại Đoàn Luật sư Thành phố vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ của Đảng, vi phạm quy chế làm việc của Đảng đoàn”.
Bản tin TTXVN cáo buộc ông Trừng “đã chỉ đạo chuẩn bị nhân sự Đại hội Đoàn Luật sư TP HCM nhiệm kỳ VI (2013-2018) không đúng quy trình, thiếu công khai, minh bạch; không tổ chức cho Đảng đoàn Đoàn Luật sư TP thực hiện nghiêm túc chế độ kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo quy định của Đảng...”
Hồi tháng 1/2014 vừa qua, ông Nguyễn Đăng Trừng “đã kiểm điểm, nhận các khuyết điểm, vi phạm và xin tự phê bình, rút kinh nghiệm trước tập thể Đảng đoàn Đoàn Luật sư TP...” nhưng “không những không khắc phục các khuyết điểm, vi phạm mà còn tiếp tục có những vi phạm ngày càng nghiêm trọng hơn.”
Bản tin vừa kể đổ tội cho ông Trừng là “không thực hiện nghị quyết, quyết định, kết luận của tập thể Đảng đoàn, của Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư TP; lợi dụng chức vụ Chủ nhiệm Đoàn Luật sư, không thông qua Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư TP, tự ý ký 4 văn bản để phản bác ý kiến chỉ đạo của UBND TP, của Liên đoàn Luật sư Việt Nam.” Bản tin còn  cáo buộc ông Trừng “đã nói không đúng sự thật về ý kiến chỉ đạo công tác chuẩn bị Đại hội đại biểu Đoàn Luật sư TP nhiệm kỳ VI (2013-2018) đối với một số cán bộ lãnh đạo trong Ban Thường vụ Thành ủy và Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam”.
* Đấu đá nội bộ
Trên trang mạng của Đoàn luật sư thành phố Sài Gòn mà ông là chủ tịch, ông Trừng phổ biến các văn bản phản bác các văn bản “chỉ đạo” từ ông Lê Thúc Anh, chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam, và các văn bản “chỉ đạo” của Ủy ban Nhân dân thành phố, liên quan đến việc tổ chức bầu cử ban chấp hành mới cho Đoàn luật sư Sài Gòn nhiệm kỳ 2013-2018 cũng như đòi những người cầm đầu tổ chức đó, đặc biệt là chủ nhiệm “không quá 70 tuổi” và “chỉ được bầu là chủ nhiệm nhiều nhất 2 nhiệm kỳ liên tiếp”.
Nếu cả hai điều ràng buộc này được thi hành thì đồng nghĩa với việc gạt ông Nguyễn Đăng Trừng ra ngoài. Nguyễn ĐăngTrừng, sinh năm 1942, vừa quá tuổi đó lại đã ngồi lỳ trên ghế chủ nhiệm Đoàn Luật sư Sài Gòn suối từ năm 1995 đến nay, tức đã 19 năm rồi.
Một điều khác không được nhiều người để ý là ông Nguyễn Đăng Trừng, trước 1975 từng là sinh viên Đại học Luật khoa Sài Gòn, từng với các sinh viên thân Cộng hay cán bộ Cộng sản nằm vùng khác nằm lấy Tổng hội Sinh Viên Sài Gòn để biểu tình chống chính phủ, chống chiến tranh. Nguyễn Đăng Trừng là chủ tịch Tổng hội sinh viên Sài Gòn nhiệm kỳ 1967-1968 nhưng khi cộng sản vi phạm thỏa thuận lệnh ngưng bắn ăn tết, tổng tấn công tết Mậu Thân thì ông Trừng rút ra bưng.
Sau 1975, Nguyễn Đăng Trừng trở thành đại úy an ninh, giống như Huỳnh Bá Thành, thẩm vấn, bắt giam rất nhiều văn nghệ sĩ, nhà báo thời VNCH. Bị đẩy ra khỏi ngành công an vì phạm lỗi thì chuyển sang ngành tòa án rồi trở thành “Bào chữa viên nhân dân” ở thời kỳ không có luật sư được huấn luyện bài bản và cũng không công nhận nghề luật sư.
Tới khi chế độ Hà Nội “đổi mới” muốn hội nhập với thế giới thì nghề luật sư mới được tái lập, đại học luật được thành lập, và ông “bào chữa viên nhân dân” Nguyễn Đăng Trừng được “biên chế” thành “luật sư” dù không có bằng cử nhân luật. Chủ nhiệm Đoàn luật sư Sài Gòn đầu tiên là ông Triệu Quốc Mạnh và người kế nhiệm ông Mạnh là Nguyễn Đăng Trừng suốt từ năm 1995 đến nay.
Trong văn thư phản bác lại đòi hỏi của ông Lê Thúc Anh, chủ tịch Liên đoàn luật sư Việt Nam, cũng như các cấp chỉ huy đảng ở Sài Gòn, ông Trừng lập luận rằng tổ chức luật sư ở Việt Nam là “kết hợp sự quản lý của nhà nước với chế độ tự quản của đoàn luật sư”. Sự tự quản được ông hiểu là tổ chức và hoạt động độc lập không bị nhà nước cũng như đảng đoàn chi phối, ra lệnh.
Bởi vậy, ông đả kích cái công văn đòi giới hạn tuổi và giới hạn nhiệm kỳ của chủ nhiệm đoàn luật sư của ông Lê Thúc Anh, Chủ tịch liên đoàn luật sư CSVN, là “Không phù hợp với Luật Luật Sư, điều lệ Liên đoàn luật sư Việt Nam, điều lệ đoàn luật sư thành phố Sài Gòn”. Ông Trừng gọi ý kiến của ông Lê Thúc Anh là “không có cơ sở pháp lý và thực tế”.
Ông Trừng đả kích ông Lê Thúc Anh là “tiếp tay cho sự áp đặt không dân chủ và sự can thiệp trái pháp luật” mà như vậy “càng không xứng đáng là chủ tịch Liên đoàn luật sư Việt Nam”. Một số phiên họp do Ban Nội Chính thành ủy Sài Gòn tổ chức về vấn đề tổ chức bầu bán đoàn luật sư địa phương với những thay đổi theo ý “ở trên” đã bị ông Trừng phản bác, tẩy chay và trình bày trong các văn bản phổ biến trên mạng.
Khi ông Lê Thúc Anh được “cơ cấu” từ Tòa án nhân dân tối cao sang ngành luật sư để chuẩn bị nắm liên đoàn luật sư, ông nộp đơn xin gia nhận Đoàn luật sư Sài Gòn, năm 2006, thì bị ông Nguyễn Đăng Trừng gạt ra ngoài.
Cái thẻ đảng là cái bùa hộ mạng cho những ai dựa vào cái tổ chức này để tiến thân, câu cơm và tham nhũng, khi bị khai trừ thì đồng nghĩa với những quyền lợi và cơ hội trong đảng không còn. Việc ông Nguyễn Đăng Trừng bị hất ra khỏi đảng không đi xa hơn là chuyện cái ghế mà ông muốn giữ. (TN)

 

Trách nhiệm của “những đảng viên cộng sản vì dân vì nước” đến đâu ?

Tiêu Dao Bảo Cự
Tiêu Dao Bảo Cự
Trách nhiệm của “những đảng viên cộng sản vì dân vì nước” đến đâu? 
(qua Thư ngỏ ngày 28/7/2014 gởi Ban Chấp hành Trung ương và toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.)

Nhiều người có thể nhìn thấy Thư ngỏ ngày 28/7/2014 gởi Ban Chấp hành Trung ương và toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (sau đây gọi tắt là Thư ngỏ) của 61 đảng viên là một bước ngoặt lớn trong nội bộ những người cộng sản. Tiếp theo việc một số người tuyên bố từ bỏ đảng cộng sản có tính lẻ tẻ, cá nhân và lời kêu gọi bỏ đảng cộng sản, thành lập đảng mới của Lê Hiếu Đằng chưa được đáp ứng thì việc xuất hiện Thư ngỏ này quả là một bước đột phá.

Những đảng viên ký Thư ngỏ là những đảng viên kỳ cựu, từ hơn 20 cho tới 70 tuổi đảng, đã từng giữ những chức vụ quan trọng trên nhiều lãnh vực hoặc là những trí thức ưu tú có uy tín trong xã hội, đã kinh qua chiến đấu và góp phần xây dựng đảng. Đây là cuộc tập hợp chưa từng có trước đây.


Những vấn đề Thư ngỏ nêu lên thực ra không mới, người ta, nhất là phía “lề dân” và ngay cả một số đảng viên cộng sản đã nói nhiều, nhưng đây là lần đầu một tập thể khá đông đảng viên minh nhiên nói ra. Hai vấn đề cốt tử được nêu lên là chuyển đổi thể chế từ toàn trị sang dân chủ và “thoát Trung”, bằng những lời xác quyết ngắn gọn, rành mạch. Thư ngỏ đã nhận định tình hình, phê phán và cảnh báo nghiêm khắc đối với đảng, đồng thời đưa ra những biện pháp cụ thể chứ không phải chỉ nói chung chung.

Những người ký Thư ngỏ đã không ngần ngại xác định, chỉ ra những sai lầm nghiêm trọng của đảng cộng sản và không né tránh trách nhiệm của chính mình. Đó là một thái độ trung thực, thẳng thắn và can đảm.

Cho đến nay, trên phạm vi toàn thế giới, nhiều quốc gia và người dân, ngay cả tại những nước từng theo chế độ cộng sản, đánh giá chủ nghĩa cộng sản, nhất các chế độ cộng sản, như một tội ác lớn chống lại loài người, đã giết vài chục triệu người và đày đọa hàng trăm triệu người khác trong cảnh khốn cùng, mất tự do. Tuy nhiên cũng đã có một thời kỳ, lý tưởng cộng sản được xem như khát vọng và lương tri của một nửa phần nhân loại. Không chỉ những công nhân dưới chế độ tư bản man dã, những người bị bóc lột, áp bức, nhân dân các nước bị nô lệ, mà cả những trí thức có lương tri cũng đã tán thành và đấu tranh cho lý tưởng cộng sản. Nhưng rồi thực tế lịch sử cho thấy khi những người cộng sản đã nắm được quyền lực, mọi sự đều đã quay ngược chiều cho đến khi sai lầm trở nên nghiêm trọng, tan rã toàn hệ thống và trở thành tội đồ của lịch sử. Đây là một bi kịch của chủ nghĩa cộng sản và cũng là bi kịch của nhân loại trong thế kỷ 20.

Ngay từ những ngày đầu thành lập và suốt lịch sử của mình, đảng cộng sản Việt Nam có không ít những người thực sự có lý tưởng cộng sản, chống áp bức bóc lột, vì độc lập dân tộc và đã hi sinh không ít máu xương cho cuộc chiến đấu của mình. Hiện nay trước tình hình suy thoái toàn diện của đảng, những người ký Thư ngỏ tự nhận là “những đảng viên ĐCSVN trung thành với tâm nguyện vì nước vì dân khi vào Đảng” đã lên tiếng.

Đọc Thư ngỏ, người dân có thể hỏi và cũng là vấn đề đương nhiên được đặt ra cho chính người trong cuộc, là nếu đảng không đáp ứng những yêu cầu của quý vị  (mà xem ra tình hình sẽ như thế) thì quý vị sẽ làm gì?  Có thể nghĩ đến hai cách:

-          Tiếp tục cuộc vận động mạnh mẽ trong toàn đảng để lôi kéo những đảng viên còn “vì nước vì dân” làm một cuộc chuyển hóa mạnh mẽ trong đảng. Đây là việc không hề dễ dàng với sức ỳ và sự cố kết của các thành phần bảo thủ đang nắm quyền lực và quyền lợi trong đảng.

-          Ra khỏi đảng hay thành lập một đảng mới và đứng về phía nhân dân tiến hành một cuộc đấu tranh cho tổ quốc và dân quyền. Đây cũng là việc mà một số trong thành phần những người ký Thư ngỏ đã và đang làm.

Với sự xuất hiện của Thư ngỏ, một số người dân và đảng viên có thể có chút hi vọng vì sự chuyển hóa trong đảng liên quan đến vận mệnh đất nước. Tuy nhiên đại đa số người dân có thể tán thành và hoan nghênh nhưng không thể trông chờ hoàn toàn về điều này mà vẫn phải luôn tiến hành cuộc đấu tranh của mình, trước hết thông qua những hoạt động và tổ chức xã hội dân sự đang dần khởi sắc để đạt đến mục tiêu dân chủ hóa, phát triển đất nước và thoát vòng nô lệ của Trung quốc.

Còn về phía những đảng viên ký Thư ngỏ, những người tự nhận là vì dân vì nước và không chối bỏ trách nhiệm của mình về những sai lầm của đảng, nếu không tiếp tục làm gì tích cực tiếp theo, thì cũng chỉ khác với những đảng viên đang cầm quyền là họ đã về hưu.

Đà lạt 31/7/2014

TDBC

Tây Nguyên và sự phát triển của VN

Ông Nguyên Ngọc nói con người đã gây "tội ác" ở Tây Nguyên

Lời nguyền Tây Nguyên không phải là lời của tác giả của 'Đất nước đứng lên' và 'Rừng xà nu'.

Nhưng tôi không khỏi có cảm giác đó chính là những gì ông muốn nói khi được hỏi về sự phát triển của vùng cao nguyên ở Việt Nam trong cuộc gặp tình cờ tại miền nam nước Pháp.

Chính xác hơn ông Nguyên Ngọc nói về "lời nguyền tài nguyên".

"Cái quan điểm phát triển lấy tài nguyên làm chính vẫn chưa thay đổi trong phát triển ở Việt Nam và chúng tôi khẳng định đó là con đường phát triển sai," ông nói.

"Người ta có cái gọi là ‘lời nguyền tài nguyên’ thì Việt Nam hiện đang lâm vào lời nguyền tài nguyên.

"… Một là dựa vào đó là đường lối phát triển rất dở. Hai là thường anh có cảm giác vô tận [về tài nguyên].

"Nhưng những phát triển trong những năm vừa qua cho thấy nó không vô tận chút nào.

"Rừng Tây Nguyên bây giờ hết rồi, không còn gì cả, không vô tận tí nào cả."

Chúng tôi bắt đầu câu chuyện sau bữa ăn trưa tại khuôn viên một trường đại học ở Toulouse, nơi ông và một số bạn bè gặp mặt.

Tôi hỏi ông về việc thí điểm khai thác bauxite ở Tây Nguyên với nhà máy ở Tân Rai, Lâm Đồng đã đi vào hoạt động trong khi nhà máy ở Nhân Cơ, Đắk Nông cũng đang chuẩn bị hoàn thành.

Nhà văn nói 10 lý do không nên làm bauxite mà ông và kỹ sư mỏ Nguyễn Thành Sơn đưa ra trong một bài viết phản đối khai thác bauxite "đang dần dần bộc lộ hết".

Về kinh tế đang "rất lỗ" do cách tính chi phí đầu vào mà ông gọi là "ăn gian", không liệt kê đủ các chi phí trong tính toán ban đầu.

Vì thế việc khai thác bauxite không mang lại hiệu quả kinh tế dù đã được giảm một số loại thuế.

Về vận tải, việc vận chuyển đang diễn ra trên đường 20, đường "dân sinh" từ Đà Lạt qua Lâm Đồng và về thành phố Hồ Chí Minh.

Ông Nguyên Ngọc nói mỗi ngày có hàng trăm chuyến xe với trọng tải thiết kế 40 tấn đi trên đường với những cây cầu chỉ chịu được 25 tấn.

Sự lưu thông của các xe tải hạng nặng này cũng dễ gây tai nạn.

Về môi trường, ông nói, đã có "tai nạn bùn đỏ gây chết người."

Đắc Nông và Lâm Đồng có lượng mưa nhiều nhất ở Tây Nguyên và thêm nữa mưa dồn dập trong 2 tháng trong năm gây nguy cơ vỡ hồ chứa bùn đỏ.

Khách hàng Trung Quốc

Nhưng điều khiến nhà văn gắn bó và hiểu biết Tây Nguyên lo ngại không kém là sự liên quan của Trung Quốc tới khai thác bauxite.

Hiện Bắc Kinh là khách hàng duy nhất của Hà Nội trong việc bán nguyên liệu sản xuất nhôm từ hai nhà máy thí điểm khiến việc ép giá có thể xảy ra.

Bên cạnh đó nhà văn cũng có những lo ngại về an ninh khi nói về khai thác bauxite:

"Về mặt quốc phòng rất nguy hiểm. Từ xưa người ta đã nói ai làm chủ Tây Nguyên sẽ làm chủ toàn bộ khu vực Nam Đông Dương…

Nhà văn Nguyên Ngọc nói Trung Quốc 'ráo riết' vào các dự án bauxite

"Một mặt Biển Đông như thế, một mặt ở phía tây mà có bất ổn nữa thì rất nguy hiểm.

Ông nói việc Trung Quốc đưa giàn khoan vào Biển Đông vừa qua cũng là dịp nhìn lại vấn đề bauxite.

"Vì sao họ cứ chăm chăm họ đòi vào làm bauxite? Thực ra vì bauxite ở Tây Nguyên. Nếu bauxite ở chỗ khác chưa chắc họ đã vào đâu.

"Và có điều rất lạ là trong ký kết giữa ông Nông Đức Mạnh với Trung Quốc thì nói từng nhà máy ở Tây Nguyên… như vậy tỏ ra Trung Quốc rất ráo riết vào mấy nhà máy bauxite ở Tây Nguyên.

"Trong khi đó nhu cầu về bauxite của họ ở Tây Nguyên là không lớn, thì họ có mục đích khác."

Ông nói ông hy vọng các nhà lãnh đạo Việt Nam thấy rõ "âm mưu" của Trung Quốc ở Tây Nguyên hơn qua việc họ hạ đặt giàn khoan.

'Dân tộc điêu tàn'

Về tái định cư người dân tộc thiểu số bị ảnh hưởng bởi các dự án bauxite, ông Nguyên Ngọc nói Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có yêu cầu nơi tái định cư phải tốt hơn chỗ cũ hoặc ít nhất bằng chỗ cũ nhưng điều này không được thực hiện trên thực tế.

Ông nói với BBC:

"Tôi đã đến mấy làng, ví dụ làng của Tập đoàn Than khoáng sản làm cho người K’Ho ở đây thì không tài nào mà sống được.

"Mình thấy cũng không sống được chứ chưa nói là họ với văn hóa của họ.

"Ví dụ ở những nhà xây bê tông chật hẹp, xa nơi chăn nuôi… thậm chí gà vịt cũng không chăn được.

"Rẫy của họ rất xa, họ đi làm café, cao su, lúa …. rất xa.”

Nhà văn cũng lo ngại việc mất môi trường sống và văn hóa của người thiểu số sẽ để lại hậu quả "nguy hiểm."

"Ta biết một dân tộc mất văn hóa thì sẽ điêu tàn," ông nói.

'Tội ác' của con người

Trên thực tế việc khai thác bauxite chỉ là một trong các lý do khiến văn hóa của người thiểu số ở Tây Nguyên lụi tàn.

Ông Nguyên Ngọc nói cuộc "đại di dân" lên Tây Nguyên khiến người Kinh từ chỗ là người thiểu số trước đây giờ chiếm tới 80% dân số và nói thêm về ảnh hưởng của việc di dân này:

Người Kinh đã khiến người dân tộc thành thiểu số trên quê hương họ

"Từ tập quán canh tác, văn hóa, cách sống đều thay đổi hết.

"Nó đảo lộn đột ngột như vậy tai hại vô cùng cho tất cả các phương diện ở đó.

"Người Tây Nguyên hàng ngìn đời đã có phương thức canh tác để giữ gìn tự nhiên…

"Nhưng người Kinh có tập quán canh tác khác – đó là phá rừng.

"Người Tây Nguyên nhìn rừng là môi trường sống của họ.

"Thực ra cũng không phải là môi trường nữa mà là toàn bộ cuộc sống của họ.

"Người Kinh nhìn vào rừng là thấy gỗ."

Theo nhà văn, việc tàn phá rừng đã khiến "về cơ bản rừng tự nhiên không còn ở Tây Nguyên" và điều này ảnh hưởng cả tới đồng bằng sông Cửu Long do nước ở phía tây Tây Nguyên đổ vào sông Mekong.

“Ở đời cái gì cũng có cái ngưỡng, khi nào chưa đến cái ngưỡng đó thì mình có thể quay lại," ông nói.

“Nhưng mà vượt qua ngưỡng đó thì không thể quay lại được nữa.

“Tôi nghĩ ở Tây Nguyên có những điều hoặc là mấp mé ngưỡng, hoặc là quá ngưỡng rồi.

“Ví dụ rừng tôi sợ không khôi phục được nữa, văn hóa tôi sợ không khôi phục được nữa, tự nhiên ở đó rất khó.

“Thí dụ tôi nói thế này, voi, tôi ở trong rừng mấy chục năm tôi biết mà, voi nó hiền lành lắm, con vật rất hiền lành, voi nó quay lại nó tấn công con người.

“Bây giờ voi rất nguy hiểm, không còn bao nhiêu. Thỉnh thoảng cả vùng rộng lớn chỉ còn một con voi mà nó phá và giết người nữa cơ.

“Thì vì sao? Vì nó mất môi trường sống.

“Mình làm cho thiên nhiên trở nên thù địch với con người. Nó cực kỳ nguy hiểm.

“Tôi sợ Tây Nguyên vượt ngưỡng, khó quay trở lại.”

Ông coi những gì xảy ra ở Tây Nguyên là "tội ác" của con người.

Thay đổi 'bất ngờ'

Nhưng cũng không vì thế mà nhà văn bi quan về khả năng có thay đổi tích cực ở Việt Nam.

Biểu tình phản đối Trung Quốc nhân kỷ niệm 35 năm cuộc chiến Việt - Trung

Thay đổi bất ngờ có thể diễn ra ở Việt Nam theo nhà văn Nguyên Ngọc

Ông nhận định:

"Thường khi mình thấy nó càng bế tắc đến cùng cực thì lúc đó rất dễ xảy ra thay đổi.

"…Thứ hai thường thay đổi nó cũng rất bất ngờ…

"Bây giờ thấy rất bế tắc, chưa thấy có nhân tố nào, nhân vật nào, chưa thấy biểu hiện nào để thay đổi.

"Nhưng thường thường nó diễn ra thì một là nó diễn ra theo những cách bất ngờ, ở những nơi bất ngờ và vào những lúc bất ngờ."

Ông cũng nhìn điều mà ông gọi là sự "bành trướng trắng trợn hơn và hung hăng hơn" của Trung Quốc như một cơ hội để Việt Nam thay đổi.

"Thách thức đó bộc lộ ra hết những nhếch nhác, hư hỏng của cơ chế, những vấn nạn của xã hội và chính cái đó thúc đẩy sự thay đổi," ông nói.



Cùng là CS độc tài nhưng lãnh đạo VN ngu hơn TQ

Một trong những chuyên gia thống kê kinh tế nói dù có nhiều điểm giống nhau nhưng Việt Nam thua kém Trung Quốc đáng kể về hiệu quả quản lý kinh tế và trọng dụng nhân tài.

Trong cuộc phỏng vấn với Nguyễn Hùng của BBC, ông Vũ Quang Việt, người từng làm việc nhiều năm cho Liên Hiệp Quốc, nói rằng Trung Quốc "tham nhũng hiệu quả" hơn Việt Nam vì họ "làm được việc" và họ cũng có những lãnh đạo được đào tạo bài bản tại các trường hàng đầu của Trung Quốc.

BBC: Khi so sánh Việt Nam Trung Quốc, ông cho rằng cả hai bên đều giống nhau ở chỗ “xã hội hóa rủi ro nhưng “tư nhân hóa lợi ích”. Ông cũng nói hai bên đều có vấn nạn tham nhũng nhưng ở Trung Quốc thì tham nhũng “hiệu quả hơn”. Ông có thể nói rõ hơn.

TS. Vũ Quang Việt: Nhiều người nói và báo chí cũng đã đưa lên là con cái của các quan chức Trung Quốc đều giàu có cả, gia đình họ cũng giàu có và Việt Nam cũng hệt như vậy. Và những người liên quan tới các hoạt động đầu tư của các công ty nhà nước thì cũng vậy cả. Tham nhũng trong đầu tư công là 20%-30%. Khi hỏi những người trong ngành thống kê hoặc những người liên quan tới việc làm ăn thì họ cũng đều nói như vậy cả. Họ trả lời là họ phải bôi trơn 30%. Thì 20%-30% là chuyện bình thường.

Mà tại sao lại có thể bôi trơn dễ dàng như vậy là vì đầu tư của Trung Quốc và của Việt Nam là rất lớn, khoảng 40%-50% GDP, trong khi các nước Tây phương thì nhiều lắm cũng chỉ 20%, ở Hoa Kỳ đầu tư cũng chỉ khoảng mười mấy phần trăm GDP. Trung Quốc và Việt Nam muốn phát triển cho thật nhanh nên họ đầu tư rất nhiều. Mà đầu tư ở đây là chủ yếu là quốc doanh, công ty nhà nước đầu tư. Do đó tham nhũng là dễ dàng.

'Tham nhũng hiệu quả?'

Nhưng tại sao Trung Quốc tham nhũng hiệu quả hơn? Ta cứ nhìn GDP của Trung Quốc thì thấy phát triển rất cao, trong khi từ 2006 trở lại đây GDP của Việt Nam tiếp tục xuống. Lạm phát Trung Quốc chỉ 2-3% là cùng trong lúc ở Việt Nam có lúc lạm phát lên tới 20-30% mặc dù bây giờ giảm xuống còn 6-7% nhưng trong kinh tế mà lạm phát như vậy là ở mức rất lớn và là ở mức không chấp nhận được. Do đó rõ ràng là hiệu quả của Việt Nam là không có.

Một trong những cái để so sánh về hiệu quả là Trung Quốc càng ngày càng nắm được công nghệ của thế giới. Trung Quốc để Nhật đầu tư vào công nghệ tàu hỏa cao tốc, sau đó họ học được công nghệ, nay họ không những tự làm được mà không cần tới Nhật mà còn xuất khẩu tàu này sang các nước khác kể cả tại Calirfornia, Hoa Kỳ.

Họ xây dựng đường xá cầu, nhà máy điện. Trong khi đó 60-70% các dự án trong lĩnh vực này của Việt Nam là để Trung Quốc trúng thầu. Trong mấy chục năm phát triển Việt Nam không xây nổi đường, tại sao phải cần tới nhà thầu Trung Quốc? Tại sao nhà thầu Việt Nam không thắng nổi?

Nguyễn Phú Trọng

Một số lãnh đạo cộng sản Việt Nam được cho là còn có 'quan hệ ý thức hệ' với cộng sản TQ.

BBC: Câu hỏi đặt ra là tại sao Việt Nam không tập trung vào phát triển công nghệ. Có phải do thiếu hiểu biết về chính sách hay do lợi ích nhóm?

TS. Vũ Quang Việt: Có lợi ích nhóm. Nhưng ở Trung Quốc thì những người lãnh đạo của họ là thành phần có đầu óc. Theo tôi hiểu thì những người lãnh đạo cao cấp nhất của Trung Quốc như Tập Cận Bình hay Giang Trạch Dân đều học ở những trường lớn nhất, những trường khó vào. Chẳng hạn như Đại học Bắc Kinh, Đại học Thanh Hoa… là các trường có thể mang so sánh với Harvard hay MIT của Hoa Kỳ. Tức là họ chọn lựa từ sớm những người có khả năng lãnh đạo. Còn những người lãnh đạo Việt Nam thì rất hãnh diện là ngày xưa mình chỉ biết cầm súng, bây giờ mình là lãnh đạo.

Bản thân những người lãnh đạo đó lại không biết sử dụng những người có tài. Chỉ biết sử dụng đám bộ sậu của mình, người của mình, sẵn sàng đi với mình và làm theo lệch của mình và hai bên cùng chia lợi trong các dự án đầu tư phát triển. Do đó Việt Nam chả có cái chất lượng gì cả.

Do đó tôi nói là tham nhũng ở Trung Quốc nó vẫn tạo ra sự phát triển và tạo ra chất lượng. Tham nhũng tại Việt Nam chả tạo ra được hiệu quả gì.

Tôi có thể lấy ví dụ là cán bộ làm thống kê ở Trung Quốc thì có thể sống được bằng đồng lương chứ không cần đi làm thêm công việc khác còn cán bộ cũng trong ngành này ở Việt Nam thì luôn phải chạy làm việc khác. Ở Trung Quốc khi họ làm gì thì họ đặt ra mục tiêu và cố gắng để thực hiện mục tiêu đó. Còn những cán bộ Việt Nam nếu lấy được tiền làm dự án thì cố làm sao để tăng thu nhập cho mình chứ chẳng có tinh thần cố gắng và học hỏi gì cả.

'Đánh nhau suốt ngày'

BBC: Được biết Việt Nam có tới cả trăm người tốt nghiệp tại các trường lớn như Harvard ở Hoa Kỳ, nhưng câu hỏi đặt ra là liệu những người này có được trọng dụng hay không?

TS. Vũ Quang Việt: Giai đoạn trước thì giới lãnh đạo họ biết rằng họ không đủ hiểu biết về khoa học nhưng họ còn sẵn lòng họ nghe. Sau này thì không có chuyện đó nữa. Do đó tôi không nghĩ rằng họ biết sử dụng nhân tài.

BBC: Việt Nam gần như gắn kết với Trung Quốc về ý thức hệ và quan hệ giữa hai đảng, vậy sao họ chia sẻ nhiều như vậy mà không chia sẻ được thành quả của nhau?

TS. Vũ Quang Việt: Trung Quốc thì tổng bí thư cũng là chủ tịch nước và chỉ có một người lãnh đạo toàn diện và họ sử dụng các biện pháp độc tài và kiểm soát thì ít tự do hơn Việt Nam.

Còn Việt Nam thì thực ra gọi là ba phe: Chủ tịch nước, Tổng bí thư và Thủ tướng. Việt Nam chưa bao giờ thực sự là một phe cả và đánh nhau suốt ngày. Mà đánh ở đây là đánh ở dưới gầm bàn chứ không phải tranh luận nhau trên báo chí hay trước công chúng hay tranh luận trong đảng.

Và như vậy không ai kiểm soát được ai cả. Thì mỗi phe dĩ nhiên là phải có nhóm lợi ích riêng của mình. Và đã gọi là nhóm lợi ích thì nhóm lợi ích kinh tế là mạnh nhất.


Dân chủ trong Đảng với chọn lựa gì?

Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc

Thư ngỏ của 61 đảng viên kêu gọi lãnh đạo Đảng CSVN từ bỏ lệ thuộc vào TQ.

Thư ngỏ của 61 vị đảng viên là một động viên rất lớn cho những người đang đau đáu âu lo về sự tồn vong của dân tộc Việt Nam trước nguy cơ xâm lăng phương Bắc.

Bức Bấm thư ngỏkêu gọi thể hiện dân chủ trong nội bộ ĐCSVN trước khi tiến hành ĐH XII của ĐCSVN vào năm 2006. Trong ý nghĩa dân chủ như cơ chế cho phép từng thành viên tiến tới một quyết định chung, đầu tiên là phải hỏi họ có những chọn lựa nào.

Quyết định có tác động xã hội rộng khắp, sâu xa, cao nhất là thể chế chính trị một đất nước. Chọn lựa gì là câu hỏi buộc phải đề xuất minh bạch. Đảng viên ĐCSVN, một đảng lãnh đạo theo Hiến Pháp 2013, phải chọn lựa giữa hai giải pháp đối cực:

Một là thể chế dân chủ pháp trị với hệ luận là Thoát Trung, dứt khoát không mô phỏng chế độ chính trị Trung Quốc và hai là tiếp tục thể chế độc quyền đảng trị, giải pháp có thể gọi là Thuộc Trung (hay lệ thuộc Trung Quốc), tái lập Việt Nam ở cấp quận huyện của xã hội Trung Quốc với tất cả những hệ lụy lệ thuộc về văn hóa, chính trị, kinh tế và quân sự, ngoại giao.

Bức thư ngỏ kêu gọi giải pháp một: những đảng viên và những thành viên khác trong xã hội nếu chia sẻ giải pháp này phải tiếp sức bằng những thảo luận về phương cách Thoát Trung.

Lấy một thí dụ về kinh tế: giảm lệ thuộc Trung Quốc bằng cách tìm nguồn nhập khẩu mới (từ những nước ASEAN chẳng hạn) và thay dần nhập khẩu (import- substitution) những nguyên vật liệu (da giày, vải vóc, phụ liệu trong công nghiệp nhẹ...); kiểm soát việc nhập cư nguồn lao động từ Trung Quốc và thay thế những người nhập cư trái phép; hủy bỏ hoặc thương lượng lại những dự án Trung Quốc trúng thầu nhưng đình đốn triển khai; tìm phương án bảo vệ nông sản phẩm bị thương lái Trung Quốc lũng đoạn...

Xin nhắc ý Đức Thánh Trần 6 thế kỷ trước từng nói: "Nếu chúng ào ạt vào thì không sợ. Nhưng sợ nhất là chúng từng bước xâm lấn, như tằm ăn dâu...’’ Mười năm nay tầm vào gậm dâu nhấm từ Bắc chí Nam, nhả bùa tham nhũng, bằng mọi thủ đoạn quận huyện hóa nền kinh tế Việt Nam.

'Hậu quả lệ thuộc'

Giải pháp Thuộc Trung đã dẫn xã hội Việt Nam đến đâu? Có phải là đến tình trạng hiện tại với một nền kinh tế oèo oặt không hiệu quả, tham nhũng tràn lan, đạo đức suy thoái, xã hội gần như mất định hướng, khiếp nhược trước họa xâm lăng, đối ngoại không nguyên tắc làm mất lòng tin của nhiều đối tác có khả năng là bạn trong thế giới hội nhập toàn cầu hiện nay? Mặt khác, và rất quan trọng, là chính nền kinh tế Trung Quốc hiện đang chênh vênh, bong bóng bất động sản có thể bùng nổ (40% xây dựng tồn đọng không ai mua) kéo theo sự sụp đổ của nhiều ngân hàng ăm ắp nợ xấu.

Quan hệ Trung - Việt

Quan hệ hai đảng cộng sản láng giềng trải qua nhiều thăng trầm thời gian qua.

Tiếng là giàu (khi chỉ nhìn GDP, hiện là một khái niệm gây tranh cãi), nhưng Trung Quốc thực sự không có 'miếng': những sản phẩm công nghệ cao như Iphone làm ra, bán khoảng 200 USD một đơn vị thì TQ chỉ thu về được 7 USD chi phí cho lắp ráp, phần còn lại là tiền mua những linh kiện về bộ nhớ, hình ảnh, vv...từ Âu-Mỹ. Đây chỉ là một thí dụ trong rất nhiều gợi ra để nói cho ngay, kinh tế Trung Quốc chủ yếu vẫn còn là kinh tế gia công. Hiện lương lao động Trung Quốc tăng, nhiều Doanh Nghiệp từ từ chuyển khỏi Trung Quốc đến những nơi lao động rẻ, nạn thất nghiệp tạo áp lực trên phân bố lợi tức vốn rất bất bình đẳng (1% ngườigiầu kiểm soát gần 30% GDP) và có thể gây bạo loạn ở một số địa phương phía Bắc và Tây Bắc... Mô phỏng mô hình kinh tế Trung Quốc sẽ đưa Việt Nam đến vực bờ một sụp đổ trong tương lai không mấy xa.

Về những mặt văn hoá, quân sự, ngoại giao, thiển nghĩ các nhân sĩ và chuyên gia uy tín trong nước cũng như hải ngoại cùng nhau nói tiếng nói trung thực nay là chuyện gấp rút phải làm. Trong thời đại Internet, những người theo giải pháp hai buộc phải lên tiếng. Và trước toàn dân, xin được nhắc "Khôn không qua lẽ, khoẻ chẳng qua lời’’.

Những phản biện trong một thế giới đa nguyên với thông tin mở sẽ là một cách vừa chấn dân khí, vừa mở dân trí. Với một lực lượng "dư luận viên" khá đông đảo, chắc chắn giải pháp hai sẽ được một giàn hòa tấu tung hô với mọi cung nhịp rôm rả.

'Cần nhưng chưa đủ'

Cuộc luận chiến giữa hai giải pháp cho phép những đảng viên ở mọi cấp cơ sở, từ những Bộ, Ban, Ngành cho đến các địa phương, tiếp cận với lý lẽ, sai trái, và từ đó chọn lựa giải pháp của mình.

Xin nhớ, những đảng viên này sẽ bầu Hội Đồng Đại Biểu, và những người này sẽ cùng những ủy viên trung ương khóa XI bầu ra ủy viên trung ương khóa XII.

Ngay chuyện bầu những người đại biểu này cũng không nên áp đặt mệnh lệnh, phải tôn trọng tính dân chủ, để mỗi thành viên tự mình quyết định trên cơ sở lợi hại của sự lựa chọn giữa hai giải pháp một và hai nói trên.

Có thể trước Đại Hội XII, Đảng sẽ tổ chức Hội nghị Trung ương bàn về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc. Nhân dân hẳn hết lòng mong mỏi trong hội nghị này, nguyên tắc dân chủ cũng sẽ được tuân thủ.

Hội nghị Thành Đô

TQ đã có những toan tính sâu xa về VN từ Hội nghị Thành Đô (1990), theo tác giả.

Tình thế đất nước trước sự xâm lấn lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam do Trung Quốc mưu đồ từ thời Hội Nghị Thành Đô, khiến lòng yêu nước của nhiều tầng lớp nhân dân sôi sục.

Bức thư ngỏ của 61 Đảng viên kỳ cựu là một bước tích cực, 'cần' nhưng ai cũng rõ là chưa 'đủ'. Trong số những nhà bình luận, có người cho rằng bức thư vẫn nặng vị thế kiến nghị "xin, cho" hoà hoãn, có người bảo bức thư không thực tiễn, chỉ là tiếng kêu suông của một bầy chim trong nắng quái chiều tà.

Nhưng còn nắng, cứ nắng. Còn kêu được, cứ kêu. Nếu không đến đâu thì chỉ còn một kết luận, như ông Yeltsin (cố Bí thư thành ủy Moscow, cố Tổng thống Nga đầu tiên) đã từng làm ở Mạc Tư Khoa vào tháng 12 năm 1991, gần một phần tư thế kỷ trước.

Tại sao Đảng Cộng sản Trung Quốc lại đi đến chỗ diệt vong

Kết cục đó có thể phải mất nhiều năm, thậm chí hàng thập kỷ, nhưng những rạn nứt thì đã bắt đầu lộ rõ 

Isaac Stone Fish | Foreign Policy | 23.4.2014
Người dịch: Lê Anh Hùng


Trên đời này chẳng có gì tồn tại vĩnh viễn cả; Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng vậy. Bất kể nó có lụi tàntrong vài năm tới hay không, hay vẫn tiếp tục tồn tại trong hàng chục năm nữa, người ta cũng đã thấy xuất hiện hàng loạt dấu hiệu đáng lo ngại. Bắc Kinh tỏ ra chậm chạp trong việc tiến hành cải cách nhằm định hướng nền kinh tế theo một lộ trình bền vững. Chủ tịch Tập Cận Bình đang bận rộn với chiến dịch chống tham nhũng nhằm vào các đảng viên cao cấp, một chiến dịch chưa từng có tiền lệ về phạm vi và quy mô trong lịch sử Trung Hoa hiện đại và làm dấy lên quan ngại về khả năng của đảng trong việc kiểm soát nó. Trong khi đó, bên ngoài những hành lang quyền lực, một dân chúng vốn ngày càng trở nên tinh tế của Trung Quốc lại quan tâm đến tình trạng ô nhiễm môi trường, tự do ngôn luận và mối quan hệ giữa Trung Quốc với các nước láng giềng, đặc biệt là Nhật Bản. Tương lai thì không thể đoán định, dĩ nhiên là như vậy, và Đảng CSTQ từng vượt qua những thách thức lớn hơn sau khi Mao qua đời năm 1976 cũng như sau các cuộc biểu tình tại quảng trường Thiên An Môn năm 1989. Tuy nhiên, 6 tháng trước khi diễn ra lễ kỷ niệm 65 năm ngày Đảng CSTQ cai quản Trung Quốc, cần nhấn mạnh rằng Đảng Cộng sản và đất nước Trung Hoa không phải là một – đất nước Trung Hoa ra đời trước Đảng Cộng sản và sẽ tồn tại lâu hơn nó.

Đảng Cộng sản Nga, thực thể từng định hình và thống trị Liên Xô kể từ khi ra đời năm 1922 cho đến khi tan rã năm 1991, chính là câu chuyện mang đầy tính cảnh báo cho Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tuy nhiên, trong khi tìm cách đẩy lùi những gì là bất khả kháng, Đảng CSTQ có thể lại muốn nghiên cứu kinh nghiệm của một chính phủ xa xôi khác: đó là chính phủ của Đảng Cách mạng Thể chế (thường được biết đến với tên viết tắt từ ba chữ cái đầu trong tiếng Tây Ban Nha – PRI), vốn cai trị Mexico từ năm 1929 đến 2000. Mexico dưới sự cai trị của PRI không chỉ là nhà nước độc đảng tồn tại lâu nhất trong thế kỷ 20, mà PRI còn hoạt động tốt sau khi bị mất quyền lực. Ngày nay, Đảng Cộng sản Nga đang rệu rã; những vị thánh và lãnh tụ của nó – Lenin, Stalin, Brezhnev – đã bị thất sủng. Trái lại, tầng lớp tinh hoa của PRI chỉ phải đối mặt với tương đối ít thù nghịch sau khi mất quyền lực năm 2000. Và trong một cuộc bầu cử tương đối tự do và công bằng năm 2012, người Mexico lại đưa PRI trở lại cầm quyền – một phần thưởng an ủi lý tưởng dành cho một chính đảng từng độc chiếm quyền lực trong quá khứ.
Mặc dù Đảng CSTQ và PRI rất khác nhau về mặt cấu trúc và ý thức hệ, song những gì mà chúng từng trải qua, cũng như hoàn cảnh hiện nay của chúng, lại có một số điểm tương đồng đáng ngạc nhiên. Trước khi sụp đổ, Liên Xô là một đế chế quá căng sức cho cuộc chạy đua vũ trang với Hoa Kỳ và lao đao vì 10 năm sa lầy ở Afghanistan. Tình trạng nghèo đói thì tràn lan, cơ hội đi ra nước ngoài bị hạn chế, còn nền kinh tế tự cung tự cấp của Moscow đồng nghĩa với thực tế là các sản phẩm trong nước thì thấp kém và hàng hoá nước ngoài thì khan hiếm. Trái lại, Mexico và Trung Quốc lại đã (và đang) hội nhập một cách lành mạnh vào thị trường toàn cầu. Bất chấp một cuộc khủng hoảng giữa những năm 1990, nền kinh tế Mexico trong thập niên cuối cùng trước khi PRI bị mất quyền lực vẫn phát triển lành mạnh, giống như Trung Quốc bây giờ vậy. Trong khi phần lớn ban lãnh đạo Liên Xô những năm 1970 và 1980 kém cỏi đến mức đáng ngạc nhiên thì Trung Quốc ngày nay và Mexico dưới thời PRI lại được cai trị bởi các nhà kỹ trị thuần thục. (Năm 1990, Mario Vargas Llosa, tác gia từng được trao giải Nobel Văn học, đã gọiMexico là một “chế độ độc tài hoàn hảo” – lời ca tụng khiên cưỡng mà người ta cũng có thể dành cho Trung Quốc.)
So với sự đàn áp tàn khốc vốn là đặc trưng của phần lớn lịch sử Liên Xô, chế độ độc đoán mà về cơ bản là thận trọng, chừng mực của Bắc Kinh sau cái chết của Mao năm 1976 lại tương đồng với Mexico của những năm 1980 và 1990 nhiều hơn. Và một chiến dịch trấn áp tham nhũng trong thập niên 1990 nhằm vào Raul Salinas (người anh trai của ông là Carlos vừa mới rời khỏi ghế tổng thống trước đó) đã phơi bày tình trạng tham nhũng khủng khiếp và sự chia rẽ của tầng lớp tinh hoa ở Mexico – chẳng khác gì vụ bê bối tham nhũng hiện nay liên quan đến cựu trùm an ninh Chu Vĩnh Khang, vốn cũng có thể gây ra hệ luỵ tương tự cho Trung Quốc.

Nikita Khrushchev | Ian Brodie/Express/Getty Images
Dù vậy, Đảng CSTQ vẫn tiếp tục chú tâm vào sự so sánh với một Liên Xô hỗn loạn. Gần đây, một cuốn phim tài liệu 6 phần do đảng dàn dựng về sự sụp đổ của Liên Xô, dựa trên một cuốn sách năm 2012, đã được trình chiếu tại hàng chục hội nghị chính trị. Cuốn phim bắt đầu với lời cảnhbáo của người thuyết minh: “Trước thềm dịp kỷ niệm lần thứ 20 ngày Liên Xô và Đảng Cộng sản Liên Xô sụp đổ, chúng ta cũng đang đi trên lộ trình tương tự.” Và trong một bài phát biểu hồi tháng 12.2012, Tập Cận Bình được thuật lại là đã nói với những người tin cẩn trong đảng: “Tại sao Liên Xô lại tan rã? Tại sao Đảng Cộng sản Liên Xô lại sụp đổ? Một lý do quan trọng là lý tưởng và niềm tin của họ đã lung lay.” Tuy nhiên, qua nỗi ám ảnh từ bài học của Liên Xô, “tôi nghĩ rằng họ đang nhìn vào một minh chứng sai lệch” – Giorge Guajardo, Đại sứ Mexico tại Trung Quốc từ 2007-2013, nhận xét. Ngẫm lại, ông nói với Foreign Policy: “Sống ở Trung Quốc hàng ngày cho tôi cái cảm giác giống như sống ở Mexico dưới thời PRI vậy.”
Guajardo hồi tưởng lại thời điểm ông theo dõi lễ kỷ niệm 60 năm Đảng CSTQ nắm quyền tại Trung Quốc diễn ra trên Đại lộ Hoà bình Vĩnh cửu ở trung tâm Bắc Kinh ngày 1.10.2009. Lễ kỷ niệm – nhằm mục đích biểu đạt sự trường tồn và tính chính danh – có màn diễu binh của 10.000 quân, nơi Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào hô vangcâu khẩu hiệu quen thuộc: “Đảng Cộng sản vạn tuế!” Sự tự tin của Đảng CSTQ – và của các đại sứ đồng nghiệp, những người dường như tin rằng Đảng CSTQ sẽ cầm quyền vĩnh viễn – gợi nhắc Guajardo về PRI. “Mọi người đều từng nhất trí rằng Mexico nằm dưới sự cai trị của một chính đảng, và điều đó sẽ không bao giờ thay đổi”, ông nói. (Năm 1995, Guajardo gia nhập Đảng Hành động Quốc gia đối lập [PAN]; chiến thắng năm 2000 của PAN đã chấm dứt nền độc trị của PRI.)
Sự tương đồng giữa giả thuyết phổ biến rằng đất nước Trung Quốc là đảng và đảng là đất nước Trung Quốc gợi nhắc ông về một thời kỳ trong quá khứ không xa, khi công chúng không có ý thức phân biệt giữa PRI và đất nước Mexico. Guajardo, người hiện nay là một giámđốc cấp cao tại công ty tư vấn McLarty Associates ở Washington, đã bắt đầu chú ý đến những sự so sánh khác. Thái độ không hài lòng với cách chính quyền xử lý trận động đất khủng khiếp ở Tứ Xuyên năm 2008 đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội dân sự, điều khiến ông nhớ đến trận động đất năm 1985 ở thành phố Mexico City, “vốn phơi bày tình trạng tham nhũng, thiếu minh bạch và kém cỏi của PRI”, ông nêu trong một bài phát biểu hồi tháng 1.2014.
Và giống như PRI từng chống tham nhũng bằng cách truy tìm những con “cá lớn”, Tập Cận bình cũng đã thề là sẽ săn đuổi “hổ và ruồi” – cả quan chức tham nhũng cấp cao lẫn cấp thấp.
“Trên phương diện kinh tế, chính trị và xã hội, Mexico và Trung Quốc rất tương đồng với nhau theo một số cách” – Li He, một giáo sư tại trường Merimack College ở Massachusettes và là tác giả của cuốn Từ cách mạng đến cải cách: Một nghiên cứu so sánh về Trung Quốc và Mexico (From Revolution to Reform: A Comparative Study of China and Mexico), nhận xét. Cả hai nước, Li nói, đều từng phải đối mặt với những cuộc cách mạng nông dân khốc liệt trước khi một chính đảng độc nhất hùng mạnh thống nhất đất nước. Cả Mexico và Trung Quốc đều tiến hành cải cách kinh tế theo hướng tự do hoá cả trong nước và quốc tế  Mexico gia nhập Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) năm 1994, Trung Quốc tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2001, gần 25 năm sau khi họ bắt đầu chính sách cải cách và mở cửa toàn diện.

Tập Cận Bình | Sascha Steinbach/Getty Images
PRI mất quyền lực năm 2000, “nhưng cho đến tận những năm 1990, việc trở thành lực lượng đối lập vẫn là chuyện hoàn toàn đáng cười”, Guajardo nói. “Với ý tưởng đó, bạn bị coi là một kẻ thất bại, người không thể kiếm nổi một công việc thực sự. Ở Trung Quốc cũng vậy.”
Guajardo thuật lại một cuộc gặp năm 2008 tại Bắc Kinh giữa Enrique Peña Nieto, lúc bấy giờ là một thống đốc bang và hiện là Tổng thống Mexico sau năm 2000 của PRI, và một quan chức Đảng CSTQ đặc trách Châu Mỹ Latin: “Câu hỏi đầu tiên mà họ đặt ra là ‘Tại sao PRI lại bị mất quyền lực?’ Nieto trả lời, ‘Sự mỏi mệt của hệ thống. Vì chúng tôi là đảng duy nhất nắm quyền lực nên chúng tôi bị đổ lỗi cho mọi thứ.” (Tác giả không thể liên lạc được với người phát ngôn của Nieto để hỏi về câu chuyện.)
Giữa hai chính đảng cũng như kinh nghiệm của chúng có nhiều sự khác biệt rõ rệt. Dân số 1,3 tỷ người của Trung Quốc rõ ràng là lớn hơn rất nhiều so với mức 120 triệu của Mexico. Một Mexico dưới thời PRI từng tổ chức (và thao túng) các cuộc bầu cử tổng thống – còn Bắc Kinh thì không tổ chức các cuộc bầu cử toàn quốc. Việc tin rằng Đảng CSTQ có thể học hỏi từ kinh nghiệm của PRI chắc chắn không phải là quan điểm chủ đạo ở Trung Quốc. Mặc dù nhiều quốc gia phải đối mặt với những vấn đề như tham nhũng và khoảng cách ngày càng gia tăng giữa người giàu và người nghèo, song “điều đó dĩ nhiên không hàm ý rằng những gì từng xẩy ra ở Mexico cũng sẽ diễn ra ở Trung Quốc” – Jiang Shixue, phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Mỹ Latin tại Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Trung Quốc, cơ quan tư vấn hàng đầu của Trung Quốc, nhận xét. Báo chí lề đảng của Trung Quốc thỉnh thoảng đăng bài về lý do tại sao PRI đánh mất quyền lực, song việc so sánh giữa Trung Quốc với Liên Xô vẫn phổ biến hơn nhiều.
Tháng Giêng vừa qua, một bài viết về chiến dịch chống tham nhũng hiện hành của Trung Quốc đăng trên trang mạng của tạp chí Cầu Thị (trực thuộc Đảng CSTQ) đã đúc kết những bài học rút ra từ sự sụp đổ của Liên Xô: “Nếu không thể thực sự kiểm soát được tham nhũng thì cuối cùng nhân dân sẽ không thừa nhận [tính chính danh của] đảng cầm quyền nữa.” Niềm tin rút ra từ thất bại của Liên Xô dường như là: Bài trừ tham nhũng sẽ đảm bảo cho việc người dân tiếp tục trung thành với Đảng CSTQ. Vậy bài học gì có thể rút ra từ Mexico? “Tôi hẳn sẽ khuyên Tập Cận Bình chấm dứt chiến dịch chống tham nhũng”, Guajardo nói. “Hệ thống được xây dựng dựa trên tham nhũng. Vậy hãy làm quen với điều đó, hãy thừa nhận thực tế đó.”
Bài học sâu sắc nhất có lẽ là: Rốt cuộc, tất cả các đảng phái chính trị đều bị mất quyền lực. “Trước kia, không một ai trong một khoảnh khắc hình dung ra rằng Mexico lại có thể tồn tại mà không cần tới PRI”, Guajardo nói. “Nhưng bạn thì có thể đấy.”



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:
100 cách làm giàu [10.03.2025 21:06]




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
Tin tức thế giời mới nhât song ngữ Việt Anh để học sinh ngữ [Đã đọc: 352 lần]
Kiều bào phát triển quê hương [Đã đọc: 348 lần]
Làm Giàu Bằng Đầu Tư Chứng Khoán [Đã đọc: 340 lần]
Siêu đô thị Đà Nẵng mở rộng, siêu đầu tư địa ốc làm giàu [Đã đọc: 336 lần]
Một châu Âu đứng trước ngã ba lịch sử [Đã đọc: 323 lần]
Cách mạng chiếc đòn gánh của phụ nữ VN [Đã đọc: 283 lần]
“NHỮNG NGƯỜI CUỐI CÙNG CÒN GIỮ LẠI CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN”** [Đã đọc: 281 lần]
Làm thế nào đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa từ Trung Cộng [Đã đọc: 272 lần]
Nghệ Thuật Làm Giàu Của Người Việt Hải Ngoại - “The Art of Wealth for Overseas Vietnamese”. [Đã đọc: 271 lần]
Cuba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cuba nghỉ [Đã đọc: 263 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.