Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Sáu 2026
T2T3T4T5T6T7CN
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30          
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 11
 Lượt truy cập: 29327746

 
Tin tức - Sự kiện 13.06.2026 06:56
Đảng sấp sụp đổ: ‘Đảng viên CS không còn tha thiết Chủ Nghiã Xã Hội’
31.07.2014 19:16

Đa số các đảng viên về hưu ‘không còn tha thiết với con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội nữa’, một đảng viên kỳ cựu tham gia ký tên vào thư ngỏ gửi Ban chấp hành Trung ương Đảng nói với BBC.

Nguyễn Phú Trọng chỉ là ông giáo trình độ rất thấp !
clip_image001
Ngoại trừ các đảng viên nắm quyền, đa số các đảng viên đã không còn tin vào chủ nghĩa xã hội?
Trao đổi với BBC từ Huế, ông Nguyễn Đắc Xuân, nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa có hơn 40 năm tuổi Đảng, còn nói việc ông ký vào thư ngỏ là ‘thể hiện trách nhiệm của một đảng viên trước Đảng’.
Các bài liên quan
Chủ đề liên quan
Ông Xuân là một trong số 61 đảng viên lão thành ký tên vào bức thư ngỏ mới đây yêu cầu Đảng ‘từ bỏ đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội’ và ‘từ bỏ những nhận thức mơ hồ, ảo tưởng’ trong quan hệ với Trung Quốc’.
‘Trách nhiệm của đảng viên’
Ông Xuân nói rằng những kiến nghị nêu trong thư ngỏ là những vấn đề mà ‘ông đã suy nghĩ nhiều năm rồi’.
“Khi có một tập thể với những đảng viên tử tế mà tôi rất quý trọng thảo ra một bức thư ngỏ thì tôi rất vui được ký chung với họ,” ông nói.
"Trừ những người vì quyền lợi, vì chức vụ này kia còn các đảng viên về hưu từ Bộ Chính trị trở xuống không ai còn tha thiết với chủ nghĩa xã hội cả."
Nguyễn Đắc Xuân, đảng viên lão thành ở Huế
Ông cho biết thư ngỏ được đưa ra vào thời điểm Đảng đang chuẩn bị cho Đại hội lần thứ 12 (vào đầu năm 2016) để ‘đóng góp ý kiến cho Trung ương tham khảo để họ hoạch định chính sách sắp tới của Đảng’.
Với lại, tình hình Trung Quốc đặt giàn khoan trên Biển Đông, theo ông Xuân, ‘đã bộc lộ ra hết âm mưu trước mắt và lâu dài của Trung Quốc muốn xâm lược Việt Nam’.
“Trách nhiệm của đảng viên là tham gia với Trung ương để làm sao khắc phục những khuyết điểm để có tương lai tốt hơn,” ông nói và cho biết với tư cách đảng viên ông sẽ nói lên ý kiến của ông trong các sinh hoạt chi bộ từ nay đến Đại hộ 12 và sẽ có những bài viết ‘cụ thể hóa’ những kiến nghị trong thư ngỏ trên trang blog riêng của ông.
“Đôi khi Trung ương không thấy hết trong khi tôi về hưu ở cùng quần chúng tôi có thể thấy được những nhược điểm trong sự lãnh đạo của Đảng.”
“Trừ những người vì quyền lợi, vì chức vụ này kia còn các đảng viên về hưu từ Bộ Chính trị trở xuống không ai còn tha thiết với chủ nghĩa xã hội cả,” ông cho biết.
‘Đảng viên biết Đảng sai’
clip_image002
Liệu Đảng Cộng sản có chấp nhận từ bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin?
Ông nói những sai lầm của Đảng nêu trong thư ngỏ các đảng viên ‘đều thấy cả’.
“Nhưng với sự lãnh đạo toàn trị thì việc đảng viên đưa ý kiến lên Bộ Chính trị, lên Trung ương không phải dễ. Họ nghĩ rằng có tới nơi đi nữa thì cũng không được quan tâm nên họ lặng lẽ chờ thời,” ông giải thích.
Ông Nguyễn Đắc Xuân nói rằng dù Đảng có chấp nhận thư ngỏ của các ông hay không thì ‘xu thế là phải dân chủ hóa’ vì ‘không dân chủ thì không có sức mạnh và không đoàn kết được dân tộc’.
clip_image003
Ông Nguyễn Đắc Xuân nói ông vào Đảng 'không phải vì chủ nghĩa xã hội'
Ông cũng nói là việc ông yêu cầu từ bỏ con đường chủ nghĩa xã hội ‘không đi ngược lại niềm tin lúc đầu của ông khi vào Đảng’.
“Tôi vào Đảng trong rừng – là Đảng Nhân dân Cách mạng – để đóng góp vào công cuộc thống nhất đất nước,” ông nói, “Hầu như trong miền Nam những người hoạt động chống Mỹ hết 99% là vì thống nhất đất nước chứ không vì chủ nghĩa xã hội.”
Tuy nhiên, sau năm 1975, mặc dù ông nói ông vẫn tiếp tục ở trong Đảng Cộng sản nhưng đến bây giờ ông thấy chủ nghĩa cộng sản ‘không còn hợp thời nữa’.
“Cái gì trở ngại thì phải bỏ để xây dựng đất nước,” ông nói.

Thư ngỏ gửi BCH Trung ương và toàn thể đảng viên Đảng CSVN

Ngày 28 tháng 07 năm 2014                                    

THƯ NGỎ    

Kính gửi: Ban Chấp hành Trung ương và toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam

Từ nhiều năm nay, Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) dẫn dắt dân tộc đi theo đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình xô-viết, được coi là dựa trên chủ nghĩa Mác-Lênin. Công cuộc đổi mới gần ba nươi năm qua nhằm sửa chữa sai lầm về đường lối kinh tế nhưng chưa triệt để, trong khi vẫn giữ nguyên thể chế độc đảng toàn trị kìm hãm tự do, dân chủ và chia rẽ dân tộc. Đường lối sai cùng với bộ máy cầm quyền quan liêu, tha hóa tạo điều kiện cho sự lộng hành của các nhóm lợi ích bất chính gắn với tệ tham nhũng, đưa đất nước lâm vào khủng hoảng toàn diện, ngày càng tụt hậu so với nhiều nước xung quanh.

Trong khi đó, giới lãnh đạo Trung Quốc từ lâu đã theo đuổi mưu đồ đặt nước ta vào vị thế lệ thuộc, phục vụ lợi ích của Trung Quốc. Sau Hội nghị Thành Đô năm 1990 đến nay,Việt Nam đã có nhiều nhân nhượng trong quan hệ với Trung Quốc, phải trả giá đắt và càng nhân nhượng, Trung Quốc càng lấn tới. Gần đây, trong bối cảnh quốc tế phức tạp, Trung Quốc có nhiều hành vi leo thang mới trong mưu đồ xâm lược và bá chiếm Biển Đông, coi Việt Nam là mắt xích yếu nhất cần khuất phục trước tiên. Thực tế bóc trần cái gọi là “cùng chung ý thức hệ xã hội chủ nghĩa” chỉ là sự ngộ nhận và “4 tốt, 16 chữ” chỉ là để che đậy dã tâm bành trướng. Cho đến nay, thế lực bành trướng Trung Quốc đã đi được những bước quan trọng trong mưu đồ biến Việt Nam thành “chư hầu kiểu mới” của họ.

Thực trạng đau lòng này phơi bày sự yếu kém cả về trách nhiệm và năng lực của lãnh đạo đảng và nhà nước trong thời gian qua.

Toàn thể ĐCSVN, trong đó có chúng tôi, phải chịu trách nhiệm trước dân tộc về tình hình nói trên và phải góp phần tích cực khắc phục những sai lầm đã gây ra; trong đó phần trách nhiệm chủ yếu và trước hết thuộc về Ban Chấp hành Trung ương và Bộ chính trị.  

Vì vậy chúng tôi, những người ký tên dưới đây, thấy cần bày tỏ suy nghĩ của những đảng viên ĐCSVN trung thành với tâm nguyện vì nước vì dân khi vào Đảng với mấy yêu cầu chính dưới đây:

1. Trước tình thế hiểm nghèo của đất nước, với trách nhiệm và vị thế của mình, ĐCSVN tự giác và chủ động thay đổi Cương lĩnh, từ bỏ đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội, chuyển hẳn sang đường lối dân tộc và dân chủ, trọng tâm là chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ một cách kiên quyết nhưng ôn hòa. Ngay từ bây giờ, cần thảo luận thẳng thắn và dân chủ trong toàn Đảng và trong cả nước về tình hình mọi mặt của đất nước và những thách thức trước bước đi mới rất trắng trợn của Trung Quốc bá chiếm Biển Đông, vạch ra con đường chuyển đổi cơ cấu kinh tế lạc hậu và lệ thuộc nghiêm trọng vào Trung Quốc hiện nay, xây dựng hệ thống nhà nước pháp quyền thật sự dân chủ. Chỉ có như vậy mới phát huy được sức mạnh trí tuệ, tinh thần và vật chất của dân tộc Việt Nam, tăng cường được đoàn kết, hòa hợp dân tộc và tranh thủ được sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân loại tiến bộ, mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển và bảo vệ đất nước.

Quan điểm nêu trên cần được thấu suốt và thực hiện ngay trong việc chuẩn bị và tiến hành đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XII với các đại biểu được bầu chọn thật sự dân chủ, đáp ứng được yêu cầu chính trị của đại hội. Đó là trách nhiệm của các tổ chức đảng các cấp và của từng đảng viên có tinh thần yêu nước. Đồng thời, kỳ bầu cử Quốc hội sắp tới phải thật sự dân chủ, tạo lập một Quốc hội chuyên nghiệp, xứng đáng đại diện cho dân, đáp ứng yêu cầu lập pháp chuyển đổi thể chế chính trị.

 Việc cần làm ngay để thể hiện sự thực tâm chuyển đổi thể chế chính trị, tạo niềm tin trong dân là các cơ quan công quyền chấm dứt các hành động sách nhiễu, trấn áp, quy kết tùy tiện đối với người dân biểu tình yêu nước, đối với các tổ chức xã hội dân sự mới thành lập, trả tự do cho những người đã và đang bị kết án hình sự chỉ vì công khai bày tỏ quan điểm chính trị của mình.

2. Lãnh đạo đảng và nhà nước thống nhất nhận định về mưu đồ và hành động của thế lực bành trướng Trung Quốc đối với nước ta, từ bỏ những nhận thức mơ hồ, ảo tưởng; và có đối sách trước mắt và lâu dài bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ trong mọi tình huống, thoát khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc, xây dựng quan hệ láng giềng hòa thuận, hợp tác bình đẳng, vun đắp tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước.  

Là người chủ đất nước, nhân dân có quyền được biết và phải được biết sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc và những điều quan trọng đã ký kết với Trung Quốc như thỏa thuận Thành Đô năm 1990, thỏa thuận về hoạch định biên giới trên đất liền và vịnh Bắc Bộ, những thỏa thuận về kinh tế v.v…

Việc cần thiết và cấp bách hiện nay là phải nhanh chóng kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế nhằm phát huy thế mạnh chính nghĩa của nước ta. Đồng thời, Việt Nam cần chủ động cùng với các nước ven Biển Đông thỏa thuận giải quyết những vướng mắc về chủ quyền trên biển với các đảo, bãi đá; củng cố sự đoàn kết, thống nhất của các nước ASEAN, trước hết là giữa các quốc gia ven biển, trong cuộc đấu tranh chống mọi hành động bành trướng của Trung Quốc muốn độc chiếm vùng biển này thành ao nhà của mình.

Quan điểm “không liên minh với nước nào nhằm chống nước thứ ba” là tự trói buộc mình, không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi.

Tổ quốc đang lâm nguy đồng thời đứng trước cơ hội lớn để thay đổi! Trách nhiệm của các đảng viên yêu nước là phải cùng toàn dân nắm lấy thời cơ này, vượt qua thách thức, mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển và bảo vệ đất nước.

Bỏ lỡ cơ hội này là có tội với dân tộc!

______________________


DANH SÁCH CÁC ĐẢNG VIÊN KÝ THƯ NGỎ GỬI BCH TW VÀ TOÀN THỂ ĐẢNG VIÊN ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

  1. Nguyễn Trọng Vĩnh, vào Đảng năm 1939, Thiếu tướng, nguyên Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành trung ương Đảng khóa III, nguyên Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Trung Quốc, Hà Nội.
  2. Đào Xuân Sâm, vào Đảng năm 1946, nguyên Trưởng khoa Quản lý kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội.
  3. Trần Đức Nguyên, vào Đảng năm 1946, nguyên Trưởng ban Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội.
  4. Nguyễn Văn Tuyến, vào Đảng năm 1946, Đại tá, Cựu chiến binh, Hà Nội.
  5. Lê Duy Mật, vào Đảng năm 1947, Thiếu tướng, nguyên Tư lệnh phó, kiêm Tham mưu trưởng Quân khu II, Chỉ huy trưởng Mặt trận Vị Xuyên, Hà Giang 1979 – 1988, Hà Nội.
  6. Tạ Đình Du (Cao Sơn), vào Đảng năm 1948, Đại tá, Cựu chiến binh, Hà Nội.
  7. Vũ Quốc Tuấn, vào Đảng năm 1948, nguyên Trợ lý Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Hà Nội.
  8. Nguyễn Hữu Côn, vào Đảng năm 1949, Đại tá, Cựu chiến binh, nguyên Tham mưu trưởng Hậu cần Quân đoàn 2, Hà Nội.
  9. Hoàng Hiển, vào Đảng năm 1949, nguyên Trung tá Hải quân, Hà Nội.
  10. Đỗ Gia Khoa, vào Đảng năm 1949, nguyên cán bộ cơ quan Bộ Công an và Tổng cục Hải Quan, Hà Nội.
  11. Hà Tuân Trung, vào Đảng năm 1949, nguyên Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương, nguyên Tổng biên tập tạp chí Kiểm tra, Hà Nội.
  12. Nguyễn Thị Ngọc Toản, vào Đảng năm 1949, Đại tá, Giáo sư, Cựu Chiến binh, nguyên Chủ nhiệm khoa, Quân Y viện 108, Hà Nội.
  13. Phạm Xuân Phương, vào Đảng năm 1949, Đại tá, Cựu chiến binh, nguyên chuyên viên Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Hà Nội.
  14. Tô Hòa, vào Đảng năm 1950, nguyên Tổng Biên tập báo Sài Gòn Giải phóng.
  15. Võ Văn Hiếu, vào Đảng năm 1950, nguyên cán bộ thuộc Ban Tuyên huấn trung ương Cục Miền Nam.
  16. Hoàng Tụy, vào Đảng năm 1950, Giáo sư Toán học, Hà Nội.
  17. Huỳnh Thúc Tấn, vào Đảng năm 1951, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Hà Nội.
  18. Tạ Đình Thính, vào Đảng năm 1951, nguyên Vụ trưởng Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội.
  19. Nguyên Ngọc, vào Đảng năm 1956, Nhà văn, nguyên Bí thư Đảng đoàn Hội Nhà văn Việt Nam, Hội An.
  20. Tương Lai, vào Đảng năm 1959, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học, nguyên thành viên Tổ tư vấn của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, TP. Hồ Chí Minh.
  21. Nguyễn Khắc Mai, vào Đảng năm 1959, Giám đốc Trung tâm Minh Triết, Hà Nội.
  22. Đào Công Tiến, vào Đảng năm 1960, nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Hội Kinh tế Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh.
  23. Vũ Linh, vào Đảng năm 1962, nguyên Chủ nhiệm chương trình PIN mặt trời, Đại học Bách Khoa Hà Nội, Hà Nội.
  24. Nguyễn Kiến Phước, vào Đảng năm 1962, nguyên Ủy viên Ban Biên tập báo Nhân Dân, TP. Hồ Chí Minh.
  25. Nguyễn Thị Ngọc Trai, vào Đảng năm 1963, nhà báo, nhà văn, nguyên Phó Tổng biên tập báo Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam, Hà Nội
  26. Võ Văn Thôn, vào Đảng năm 1965, nguyên Giám đốc Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
  27. Nguyễn Trung, vào Đảng năm 1965, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Thái Lan, Hà Nội.
  28. Huỳnh Kim Báu, vào Đảng năm 1965, nguyên Tổng thư ký‎ Hội Trí thức yêu nước TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
  29. Hạ Đình Nguyên, vào Đảng năm 1965, nguyên Chủ tịch Ủy ban phối hợp hành động Tổng hội Sinh viên Sài Gòn, TP. Hồ Chí Minh.
  30. Nguyễn Văn Ly (Tư Kết), vào Đảng năm 1966, nguyên thư k‎ý của Bí thư Thành ủy Mai Chí Thọ, nguyên Phó bí thư Đảng ủy Sở Văn hóa -Thông tin TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh
  31. Lê Công Giàu, vào Đảng năm 1966, nguyên Phó bí thư Thường trực Thành đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh, nguyên Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại, đầu tư TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
  32. Kha Lương Ngãi, vào Đảng năm 1966, nguyên Phó Tổng Biên tập báo Sài Gòn Giải phóng, TP. Hồ Chí Minh.
  33. Tô Nhuận Vỹ, vào Đảng năm 1967, nhà văn, nguyên Bí thư Đảng Đoàn kiêm Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thừa Thiên – Huế, Tổng biên tập tạp chí Sông Hương, nguyên Giám đốc Sở Ngoại vụ tỉnh Thừa Thiên – Huế, TP. Huế.
  34. Phạm Đức Nguyên, vào Đảng năm 1968, Phó Giáo sư Tiến sĩ ngành Xây dựng, 46 tuổi đảng, Hà Nội.
  35. Bùi Đức Lại, vào Đảng năm 1968, nguyên Vụ trưởng, chuyên gia cao cấp bậc II, Ban Tổ chức trung ương Đảng, Hà Nội.
  36. Lữ Phương, vào Đảng năm 1968, nguyên Thứ trưởng Bộ Văn Hóa Chính phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam, TP. Hồ Chí Minh.
  37. Nguyễn Lê Thu An, vào Đảng năm 1969, cựu tù chính trị Côn Đảo, TP. Hồ Chí Minh.
  38. Nguyễn Đăng Quang, vào Đảng năm 1969, Đại tá công an, đã nghỉ hưu, Hà Nội.
  39. Trần Văn Long, vào Đảng năm 1970, nguyên Phó Bí thư Thành đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
  40. Nguyễn Thị Kim Chi, vào Đảng năm 1971, Nghệ sĩ ưu tú, Đạo diễn điện ảnh, Hà Nội.
  41. Huỳnh Tấn Mẫm, vào Đảng năm 1971, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước 1975, nguyên đại biểu Quốc hội khóa 6, nguyên Tổng biên tập báo Thanh Niên, TP. Hồ Chí Minh.
  42. Võ Thị Ngọc Lan, vào Đảng năm 1972, nguyên cán bộ công an TP. Hồ Chí Minh.
  43. Hà Quang Vinh, vào Đảng năm 1972, cán bộ hưu trí, TP. Hồ Chí Minh.
  44. Nguyễn Đắc Xuân, vào Đảng năm 1973, nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa, nguyên Trưởng Đại diện báo Lao Động tại khu vực Miền Trung – Tây Nguyên, TP. Huế.
  45. Lê Đăng Doanh, vào Đảng năm 1974, Tiến sĩ Kinh tế học, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội.
  46. Chu Hảo, vào Đảng năm 1974, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Hà Nội.
  47. Nguyễn Xuân Hoa, vào Đảng năm 1974, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa – Thông tin tỉnh Thừa Thiên – Huế, TP. Huế.
  48. Nguyễn Vi Khải, vào Đảng năm 1974, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, 40 tuổi đảng, Hà Nội.
  49. Cao Lập, vào Đảng năm 1974, nguyên Bí thư Đảng ủy ngành Văn hóa -Thông tin TP. Hồ Chí Minh.
  50. Lê Thân, vào Đảng năm 1975, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên Tổng Giám đốc Liên doanh SG-Riversite, TP. Hồ Chí Minh.
  51. Ngô Minh, vào Đảng năm 1975, nhà báo, nhà văn, TP. Huế.
  52. Trần Kinh Nghị, vào Đảng năm 1976, cán bộ Ngoại giao về hưu, Hà Nội.
  53. Hồ An, vào Đảng năm 1979, nhà báo, TP. Hồ Chí Minh.
  54. Đoàn Văn Phương, vào Đảng năm 1979, nguyên chiến sĩ thuộc Ban Giao lưu trung ương Cục, TP. Hồ Chí Minh.
  55. Hồ Uy Liêm, vào Đảng năm 1980, nguyên Quyền Chủ tịch Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Hà Nội.
  56. Trần Đình Sử, vào Đảng năm 1986, Giáo sư Tiến sĩ Ngữ văn, Hà Nội.
  57. Lê Văn Luyến, vào Đảng năm 1987, nguyên cán bộ thuộc Ban Tuyên huấn trung ương Cục Miền Nam, TP. Hồ Chí Minh.
  58. Nguyễn Gia Hảo, vào Đảng năm 1988, nguyên thành viên Tổ tư vấn của Thủ Tướng Võ Văn Kiệt, Hà Nội.
  59. Phạm Chi Lan, vào Đảng năm 1989, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội.
  60. Đào Tiến Thi, vào Đảng năm 1997, Thạc sĩ, Ủy viên Ban chấp hành Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hà Nội
  61. Nguyễn Nguyên Bình, vào Đảng năm 1986, Trung tá, cựu chiến binh, Hà Nội.

Tôi Bỏ Đảng

Tôi sinh ra trên quê nghèo đất Bắc
Cọng sản nòi nối gót của cha anh
Bố của tôi, một cách mạng lão thành
Đi kháng chiến thuở tầm vông giáo mác.

Lúc còn nhỏ, tôi đã nghe về bác
Một ông già râu tóc bạc phơ phơ
Tôi hát bài, em thấy bác trong mơ
Cô giáo bảo, bác là tiên là phật.

Tôi lớn lên, nghe những lời đường mật
Được vào đoàn, vào đảng bác quang vinh
Cờ búa liềm, hình lãnh tụ Lê Nin
Thay tổ quốc và Hùng Vương dựng nước.

Đảng dạy tôi, chủ nghĩa mình siêu việt
Đưa năm châu lên thế giới đại đồng
Nhà nước ta của giai cấp công nông
Dân là chủ, đảng viên là đầy tớ.

Tôi ngất ngây trong hào quang lý tưởng
Tình nguyện vào chiến đấu ở miền Nam
Cứu đồng bào ra khỏi cảnh lầm than
Mà đảng nói do bàn tay Mỹ Nguỵ.

Ánh sáng Miền Nam đưa tôi về chân lý
Vùng đất hiền hoà, nhân bản, phồn vinh
Cuộc sống tự do, dân chủ, nghĩa tình
Không sắt máu, căm thù, như Miền Bắc.

Tôi uất hận cho đảng mình láo khoét
Lùa dân vào một cuộc chiến tổn hao
Phung phí máu xương bộ đội, đồng bào
Để phục vụ cho quan thầy quốc tế.

Từ đó đảng hiện nguyên hình đồ tể
Vung búa liềm đập nát cả quê hương
Một miền Nam hạnh phúc hoá tang thương
Một xã hội thiên đường thành địa ngục.

Và bây giờ cả hai miền đất nước
Đã san nghèo cào khổ giống như nhau
Cùng đội chung cái ách nạn trên đầu
Một chủ nghĩa ngông cuồng đầy tội ác.

Người chủ nhân thành dân oan mất đất
Khóc vang đường, ngủ chật những vườn hoa
Người đầy tớ trên lầu cao chất ngất
Lợi ích đổi trao quanh yến tiệc rượu trà.

Thì ra đảng thầu bán buôn xương máu
Và biển trời sông núi để chia nhau
Nuôi bầy chó dữ, dưỡng đám giòi sâu
Quyết đàn áp những tấm lòng yêu nước.

Đảng cũng rước bọn Tàu ô xâm lược
Vào ém quân trên khắp cả ba miền
Để dự phòng khi dân Việt vùng lên
Sẽ đàn áp tiếp tay bầy giặc cướp.

Đảng khốn khiếp chẳng thiết gì tổ quốc
Sẵn sàng dâng xã tắc của cha ông
Để cầu phong độc trị đến ngàn năm
Hàm thái thú đời cha truyền con nối.

Đảng ghê tởm! tôi chán chường muốn ói
Xin trả người thẻ máu với cờ ma
Tôi sẽ đi về với nước non nhà
Cùng dân tộc dựng lại mùa quang phục.

Thơ Phan Huy

Trách nhiệm của “những đảng viên cộng sản vì dân vì nước” đến đâu?

(qua Thư ngỏ ngày 28/7/2014 gởi Ban Chấp hành Trung ương và toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.)

Tiêu Dao Bảo Cự

Nhiều người có thể nhìn thấy Thư ngỏ ngày 28/7/2014 gởi Ban Chấp hành Trung ương và toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (sau đây gọi tắt là Thư ngỏ)của 61 đảng viên là một bước ngoặt lớn trong nội bộ những người cộng sản. Tiếp theo việc một số người tuyên bố từ bỏ Đảng Cộng sản có tính lẻ tẻ, cá nhân và lời kêu gọi bỏ Đảng Cộng sản, thành lập đảng mới của Lê Hiếu Đằng chưa được đáp ứng thì việc xuất hiện Thư ngỏ này quả là một bước đột phá.

Những đảng viên ký Thư ngỏ là những đảng viên kỳ cựu, từ hơn 20 cho tới 70 tuổi đảng, đã từng giữ những chức vụ quan trọng trên nhiều lãnh vực hoặc là những trí thức ưu tú có uy tín trong xã hội, đã kinh qua chiến đấu và góp phần xây dựng Đảng. Đây là cuộc tập hợp chưa từng có trước đây.

Những vấn đề Thư ngỏ nêu lên thực ra không mới, người ta, nhất là phía “lề dân” và ngay cả một số đảng viên cộng sản đã nói nhiều, nhưng đây là lần đầu một tập thể khá đông đảng viên minh nhiên nói ra. Hai vấn đề cốt tử được nêu lên là chuyển đổi thể chế từ toàn trị sang dân chủ và “thoát Trung”, bằng những lời xác quyết ngắn gọn, rành mạch. Thư ngỏ đã nhận định tình hình, phê phán và cảnh báo nghiêm khắc đối với đảng, đồng thời đưa ra những biện pháp cụ thể chứ không phải chỉ nói chung chung.

Những người ký Thư ngỏ đã không ngần ngại xác định, chỉ ra những sai lầm nghiêm trọng của Đảng Cộng sản và không né tránh trách nhiệm của chính mình. Đó là một thái độ trung thực, thẳng thắn và can đảm.

Cho đến nay, trên phạm vi toàn thế giới, nhiều quốc gia và người dân, ngay cả tại những nước từng theo chế độ cộng sản, đánh giá chủ nghĩa cộng sản, nhất các chế độ cộng sản, như một tội ác lớn chống lại loài người, đã giết vài chục triệu người và đày đọa hàng trăm triệu người khác trong cảnh khốn cùng, mất tự do. Tuy nhiên cũng đã có một thời kỳ, lý tưởng cộng sản được xem như khát vọng và lương tri của một nửa phần nhân loại. Không chỉ những công nhân dưới chế độ tư bản man dã, những người bị bóc lột, áp bức, nhân dân các nước bị nô lệ, mà cả những trí thức có lương tri cũng đã tán thành và đấu tranh cho lý tưởng cộng sản. Nhưng rồi thực tế lịch sử cho thấy khi những người cộng sản đã nắm được quyền lực, mọi sự đều đã quay ngược chiều cho đến khi sai lầm trở nên nghiêm trọng, tan rã toàn hệ thống và trở thành tội đồ của lịch sử. Đây là một bi kịch của chủ nghĩa cộng sản và cũng là bi kịch của nhân loại trong thế kỷ 20.

Ngay từ những ngày đầu thành lập và suốt lịch sử của mình, đảng cộng sản Việt Nam có không ít những người thực sự có lý tưởng cộng sản, chống áp bức bóc lột, vì độc lập dân tộc và đã hi sinh không ít máu xương cho cuộc chiến đấu của mình. Hiện nay trước tình hình suy thoái toàn diện của đảng, những người ký Thư ngỏ tự nhận là những đảng viên ĐCSVN trung thành với tâm nguyện vì nước vì dân khi vào Đảng” đã lên tiếng.

Đọc Thư ngỏ, người dân có thể hỏi và cũng là vấn đề đương nhiên được đặt ra cho chính người trong cuộc, là nếu đảng không đáp ứng những yêu cầu của quý vị (mà xem ra tình hình sẽ như thế) thì quý vị sẽ làm gì? Có thể nghĩ đến hai cách:

-  Tiếp tục cuộc vận động mạnh mẽ trong toàn đảng để lôi kéo những đảng viên còn “vì nước vì dân” làm một cuộc chuyển hóa mạnh mẽ trong Đảng. Đây là việc không hề dễ dàng với sức ỳ và sự cố kết của các thành phần bảo thủ đang nắm quyền lực và quyền lợi trong Đảng.

-  Ra khỏi Đảng hay thành lập một đảng mới và đứng về phía nhân dân tiến hành một cuộc đấu tranh cho tổ quốc và dân quyền. Đây cũng là việc mà một số trong thành phần những người ký Thư ngỏ đã và đang làm.

Với sự xuất hiện của Thư ngỏ, một số người dân và đảng viên có thể có chút hi vọng vì sự chuyển hóa trong Đảng liên quan đến vận mệnh đất nước. Tuy nhiên đại đa số người dân có thể tán thành và hoan nghênh nhưng không thể trông chờ hoàn toàn về điều này mà vẫn phải luôn tiến hành cuộc đấu tranh của mình, trước hết thông qua những hoạt động và tổ chức xã hội dân sự đang dần khởi sắc để đạt đến mục tiêu dân chủ hóa, phát triển đất nước và thoát vòng nô lệ của Trung quốc.

Còn về phía những đảng viên ký Thư ngỏ, những người tự nhận là vì dân vì nước và không chối bỏ trách nhiệm của mình về những sai lầm của đảng, nếu không tiếp tục làm gì tích cực tiếp theo, thì cũng chỉ khác với những đảng viên đang cầm quyền là họ đã về hưu.

Đà Lạt 31/7/2014

TDBC

Trung Quốc và ý đồ phá hoại sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam

Ngày 20/07/1954, Hiệp định Genève được chính thức ký kết nhằm chấm dứt cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất và tái lập hoà bình tại Đông Dương. Hiệp định này đã thừa nhận nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Nhưng dù là một bên ký vào Hiệp định, ngay từ thời đó, Trung Quốc đã tìm cách lợi dụng Việt Nam và nuôi dã tâm phá hoại sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Trong vòng 60 năm qua, giới nghiên cứu đã có rất nhiều đánh giá về bản Hiệp định này, về vai trò của các bên chủ chốt tham gia cuộc đàm phán tại Genève, từ hai phái đoàn đại diện cho miền Bắc và Miền Nam Việt Nam, cho đến Pháp, Mỹ, Liên Xô hay Trung Quốc, đặc biệt là trên vấn đề chia cắt Việt Nam thành hai miền, lấy đường ranh là vĩ tuyến 17.

Vào lúc chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam trên Biển Đông đang bị Trung Quốc đe dọa dữ dội, dịp kỷ niệm 60 năm Hiệp định Genève 1954 đã nêu bật trở lại vai trò của Trung Quốc, trong việc bắt tay với Pháp tại Hội nghị Genève để chia cắt Việt Nam, một quyết định mà cả hai phái đoàn Việt Nam vào khi ấy phải miễn cưỡng chấp nhận.

Theo nhiều nhà nghiên cứu, ý đồ đánh vào chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam thể hiện vào thời Hiệp định Genève, đã được Bắc Kinh tiếp tục từ đó đến nay, với một loạt những hành động đi đêm ngoại giao với Hoa Kỳ vào đầu thập niên 1970, ngay trong lúc Việt Nam đang lâm chiến với Mỹ, cho đến nhưng hành vi lấn chiếm biển đảo – Hoàng Sa năm 1974, Trường Sa năm 1988 và gần đây nhất là vụ đưa giàn khoan HD-981 vào hoạt động trong vùng thềm lục địa của Việt Nam.

Đó là chưa kể đến việc Bắc Kinh nuôi dưỡng lực lượng Khmer Đỏ quấy phá vùng biên giới Tây Nam của Việt Nam vào cuối thập niên 1970, và đặc biệt là vụ xua quân đánh vào các tỉnh thuộc vùng biên giới phía Bắc của Việt Nam vào năm 1979.

Trả lời phỏng vấn của RFI nhân kỷ niệm 60 năm bản Hiệp định Genève 1954, nhà nghiên cứu lịch sử Dương Trung Quốc, Tổng biên tập Tạp chí Xưa và Nay tại Hà Nội đã phân tích thêm về ý đồ lợi dụng Việt Nam của Trung Quốc ngay từ thời Hội nghị Genève, bước khởi đầu của một chiến lược lâu dài nhằm vào chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, trong đó có Biển Đông.

Đối với sử gia Dương Trung Quốc, « Giá trị cơ bản nhất của Hiệp định Genève đương nhiên là việc chấm dứt cuộc Chiến tranh Đông Dương Lần thứ I. Nhưng nội dung quan trọng, mang ý nghĩa thiết thực chính là việc quốc tế thừa nhận chủ quyền, độc lập và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam ».

Trung Quốc là nước đã ký vào văn kiện quốc tế năm 1954 công nhận sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, nhưng đồng thời, Trung Quốc lại tán đồng việc chia cắt Việt Nam thành hai miền Nam Bắc. Theo sử gia Dương Trung Quốc, đó là vì trong toàn cảnh cuộc chiến tranh lạnh Đông-Tây vào thời đó, Bắc Kinh muốn biến Việt Nam thành lá chắn để bảo vệ Trung Quốc trong cuộc đối đầu với Mỹ, dùng Việt Nam làm quân cờ để mặc cả với Hoa Kỳ khi Bắc Kinh cần thay đổi chiến lược.

Vấn đề được sử gia Dương Trung Quốc nêu bật là bất chấp sự chọc gậy bánh xe của Trung Quốc, Việt Nam vào năm 1975 đã thống nhất được đất nước. Phản ứng sau đó của Trung Quốc chính là xúi giục lực lượng Khmer Đỏ của Pol Pot mở cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam sau đó xua quân đánh vào vùng biên giới phía Bắc Việt Nam (1979).

Dụng tâm phá hoại sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam còn được thấy qua việc dùng võ lực đánh chiếm nhiều bãi cạn do Việt Nam kiểm soát trên quần đảo Trường Sa (1988), và biết bao hành động quyết đoán khác tại vùng Biển Đông.

Sau đây mời quý vị nghe phần phỏng vấn nhà nghiên cứu lịch sử Dương Trung Quốc qua điện thoại.

Nhà nghiên cứu lịch sử Dương Trung Quốc tại Hà Nội
 
31/07/2014
by Trọng Nghĩa
 
 

Ý nghĩa quan trọng nhất : Lần đầu tiên quốc tế công nhận nền độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam

DTQ : Nội dung căn bản nhất của Hiệp định Genève là đình chiến, (kết thúc) cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ I. Tuy nhiên sau đó người Việt Nam vẫn phải tiếp tục cuộc Chiến tranh Đông Dương thứ hai, rồi cuộc chiến tranh bảo vệ chủ quyền của dân tộc. Sau Hiệp định Genève, như thế là chiến tranh chưa phải hoàn toàn chấm dứt. Hiệp định này, đối với người Việt Nam do đó chỉ là sự khởi đầu của một quá trình...

Giá trị cơ bản nhất của Hiệp định Genève đương nhiên là việc chấm dứt cuộc Chiến tranh Đông Dương Lần thứ I. Nhưng nội dung quan trọng, mang ý nghĩa thiết thực chính là việc quốc tế thừa nhận chủ quyền, độc lập và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Đây là một điều hết sức quan trọng bởi vì nước Việt Nam hiện đại, thoát thai từ xã hội thuộc địa, gắn liền với cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố độc lập.

Nhưng để nền độc lập được thừa nhận và gắn với nền độc lập là sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, đó là một cuộc phấn đấu không đơn giản…

Vì thế cái giá trị lớn nhất của Hiệp định Genève là công nhận nền độc lập đã được xác lập từ năm 1945, và đi cùng với nền độc lập ấy là sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ...

Trong lịch sử hình thành dân tộc Việt Nam, bên cạnh giá trị của hai chữ độc lập, vấn đề cực kỳ quan trọng là thống nhất quốc gia. mặc dù Hiệp định Genève quy định việc chia cắt Việt Nam tạm thời ra thành hai phần ở vĩ tuyến 17, nhưng thừa nhận trên tổng thể một nước Việt Nam thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ…

Toàn vẹn lãnh thổ bao gồm cả vùng biển dù chưa được đặt ra

DTQ : Có thể nói đến một vấn đề vào thời điểm đó chưa đặt ra, nhưng có hệ quả cực kỳ quan trọng cho thời kỳ hiện nay : Chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam bao gồm cả một không gian sống còn là không gian biển.

Tuy không có câu chữ nào nói đến chủ quyền trên biển của Việt Nam, nhưng cái đó được thấy nếu « xâu chuỗi » lại tất cả các nội dung với những yếu tố có tính cách cam kết quốc tế trước đó, như tại Hội nghị San Francisco năm 1951 đã bàn về chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa, đã từng bác bỏ đề nghị trao những quần đảo đó cho Trung Quốc, và không phản đối ý kiến cho rằng Hoàng Sa-Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.

Tất cả đã được thề hiện trong các điều khoản mà chính Trung Quốc là một trong những nước quan trọng nhất, tham gia đóng góp và ký kết vào bản Hiệp định này…

Mỹ, một trong những nước tham gia Hiệp định Genève không ký kết vào văn bản này, đã phải ký Hiệp định Paris 20 năm sau, và điều khoản quan trọng đầu tiên cũng là thừa nhận sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam…

Vai trò “khả nghi” của Trung Quốc ngay từ thời Hiệp định Genève

DTQ : ...Chúng ta thường hay nhắc đến vai trò của Trung Quốc đối với những vấn đề liên quan đến bán đảo Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng

Người Trung Quốc thường hay nhắc đến ơn nghĩa của họ đối với Việt Nam... Tôi nghĩ rằng chúng ta sẵn sàng ghi nhận các đóng góp. Trong lịch sử, Trung Quốc quả là một đồng minh quan trọng của Việt Nam, nhất là trong cuộc Chiến tranh Đông Dương Lần thứ I...

Nhưng mà nói cho sòng phẳng… Trung Quốc cũng khai thác Việt Nam như một « không gian », một « điều kiện » trong quá trình trỗi dậy của mình. Nhìn vào lịch sử, sau khi thành lập CHND Trung Hoa vào năm 1949, bên cạnh vấn đề Triều Tiên, thì Đông Dương, và đặc biệt là Việt Nam là cơ hội để Trung Quốc bước vào võ đài thế giới.

Nếu Triều Tiên là một sự « không ai thắng ai thua », thì rõ ràng là Việt Nam với trận Điện Biên Phủ, và tác động của trận Điện Biên Phủ, (đã giúp) Trung Quốc (trở thành) đồng minh của bên thắng trận và điều đó cũng tạo ra cho Trung Quốc một vị thế để bước vào chính trường thế giới.

Nhưng mà chúng ta cũng thấy rất rõ là trong bối cảnh chung của thế giới sau Đại chiến Thứ II, thì lợi ích của các nước xã hội chủ nghĩa nói chung, và đặc biệt là của Trung Quốc ở phương Đông là muốn tạo ra được những vị trí « tiền tiêu », ở đó không chỉ có sự đối đầu, mà đằng sau đó là một sự mặc cả giữa Đông và Tây.

Dã tâm dùng Việt Nam làm lá chắn và bàn đạp

Cho nên là người ta sớm thấy rõ ý đồ của Trung Quốc, sau Triều Tiên là đến Việt Nam cũng rơi vào hình thái tương tự, tức là chia cắt nước Việt Nam – hay là Triều Tiên - ra làm đôi, để mà tạo ra được « vùng đệm » hay « phên dậu » để che chắn cho Trung Quốc, đồng thời là cái nơi để Trung Quốc có thể tạo ra những tiền đề họ có thể tiếp cận với các nước lớn, cụ thể trong vùng phương Đông này là Hoa Kỳ.

Cho nên Trung Quốc đã có những động thái tưởng như nhỏ, nhưng sau này phân tích ra, thì thấy rõ dụng tâm của Trung Quốc : Thái độ của Trung Quốc đối với các thành phần trong Hiệp định Genève.

Người ta thấy rất rõ cái việc Trung Quốc thỏa mãn với kết cục… là sau Hiệp định Genève, nước Việt Nam phải chia đôi, giống như Bắc và Nam Triều Tiên, để sau đó Việt Nam luôn luôn bị rơi vào tình trạng một nước phải đại diện cho một cái cực của cái sự đối đầu của thế giới lúc đó.

Vì thế, nếu nghiên cứu kỹ lịch sử Việt Nam, đặc biệt là cuộc Chiến tranh Đông Dương Lần thứ II, thì như một số đánh giá, hay tiên đoán của các nhà báo vào thời đó, thì ở chiến trường Việt Nam, Trung Quốc muốn « đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng ».

Nhưng trong khi diễn ra chiến trường Đông Dương, hay Việt Nam, Trung Quốc luôn luôn đứng ở vị trí dùng sức ép của Việt Nam để đạt mục đích của mình, mà mục đích quan trọng nhất đối với Trung Quốc là bắt tay với Mỹ.

Và điều đó đã diễn ra một cách hết sức rõ ràng, thậm chí đối với người Việt Nam lại trắng trợn, với các diễn biến trong năm 1972 : Chuyến thăm Bắc Kinh của Tổng thống Mỹ Nixon ; vai trò của cố vấn Henry Kisinger ; hay những ký kết tại Thượng Hải.

Người ta thấy rất rõ sự đảo chiều. Tuy Việt Nam vẫn là đồng minh, nhưng rõ ràng là Trung Quốc dùng Việt Nam như là « bàn đạp » để thay đổi chiến lược của mình, trong bối cảnh đang diễn ra những biến đổi rất lớn trên thế giới, với vai trò của Mỹ và Liên Xô…


Nhận định:
VÌ SAO VIỆT CỘNG ĐÃ TỪ BỎ MỤC TIÊU XÂY DỰNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRÊN THỰC TẾMÀ VẪN BÁM LẤY CÁI VỎ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA?
Thiện Ý
 Facebook
Trên thực tế, sau 10 năm “Đổi Mới” thất bại hoàn toàn, kểtừ năm 1995, Việt cộng trong thâm tâm đã thực sựtừ bỏ mục tiêu “Xây dựng xã hội chủ nghĩa” ở Việt Nam.
 
Tuy nhiên, bước vào thời kỳ “Mở cửa”, Việt cộng vẫn bám lấy mục tiêu này một cách giả tạo trên bình diện lý luận, ngụy biện bằng định thức “kinh tế thị trườngtheo định hướng xã hội chủnghĩa”, trong khi thực tế“kinh tế thị trường đã và đang định hướng tư bản chủ nghĩa”.
Tương tự như bề ngoài Việt cộng vẫn bám lấy bảng hiệu “Đảng Cộng Sản Việt Nam”,dù thực chất đã là một “Đảng Tư Bản Đỏ” (đỏvỏ xanh lòng)và danh xưng chế độ “Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam” cũng chỉ là kiểu gian thương “Treo đầu dê bán thịt chó”. Thếnhưng Việt cộng vẫn tuyên truyền cho mục tiêu xây dựng xã hội chủ nghĩa; dù các đảng viên lớn bé đã thoái hóa biến chất hoàn toàn, không còn đảng viên nào còn có phẩm chất của một đảng viên CS chân chính (theo nghĩa rèn luyện nhân cách, có tinh thần hy sinh quên mình đấu tranh cho mục tiêu hiện thực lý tưởng cộng sản..), và không một đảng viên cộng sản nào còn niềm tin vào sự hiện thực lý tưởng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Thế nhưng, sở dĩ Việt cộng vẫn cốbám lấy những Cái vỏ “đảng Cộng sản” và “nhà nước XHCH” này như một chiêu bài là để che đậy một thực chất muốn dùng mô hình tổ chức,kinh nghiệm và kỹ thuật trấn áp của mộtđảng độc tôn, độc quyền thống trị (Cộng đảng Việt Nam) trong một chế độ độc tài toàn trị (Xã hội chủ nghĩa với nền chuyên chính vô sản).
 
Thực tế ai cũng thấy Việt Nam đã chuyển hóa thành một “xã hội thực dụng tư bản chủ nghĩa”,với các quan hệ sản xuất kinh doanh tư bản chủ nghĩa chi phối mọi hoạt động kinh tế vĩ mô cũng như vi mô. Thành phần kinh tế quốc doanh đang thoi thóp, giải tư từng bước và đang chờ ngày được giải tư hoàn toàn để bị cáo chung.
 
Đến đây một câu hỏi được nhiều người đặt ra:
   
-Vì sao Việt cộng không theo gương Liên Xô,sau“Đổi mới” thất bạichuyển đổi ngay qua dân chủ đa nguyên, kinh tế thị trường tưbản chủ nghĩamà tiếp tục“Đi lên xã hội chủ nghĩa” bằng con đường“Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”?
Thật ra, Cộng Đảng Việt Nam thực hiện chính sách “Đổi mới” để “Sửa sai” chỉ là sự bắt chước theo gương Cộng đảng Liên Xô trước đó trong thời khoảng này cũng đang đi vào còn đường cải cách đểcứu nguy chế độ xã hội chủ nghĩa sau gần 70 năm xây dựng (1917-1985).
 
Người đứng đầu nhóm khởi xướng chương trình “cải tổ” (Glasnost) và “Cởi mở”(Perestroika) là Tổng Bí ThưCộng Đảng Liên XôMikhail Gorbachev, lúcđó mới 56 tuổi đời, là một Tổng Bí Thư trẻ tuổi nhất, ít được nhân dân Liên Xô và thế giới bên ngoài biết đến nhất trong lịch sử lên ngôi của các Tổng Bí ThưCộng Đảng Liên Xô. Thế nhưng, có lẽ nhờ tuổi đời ấy, Gorbarchev đã sinh ra và lớn lên trong lòng chế độ xã hội chủ nghĩa, nên đã dễ dàng nhìn thấy những khuyết tật của chặng đường đã qua của đất nước Liên Xô trên con đường“Xây dựng xã hội chủ nghĩa”.Từ đó và nhờ đó, phải chăng Ông và cácđồng chí cấp tiến trong đảng Cộng Sản Liên Xô mới mạnh dạn thực hiện quyết tâmđi theo con đường cải cách, với kết cuộc chính sách “cải tổ” và “cởi mở” đềuđã thất bại, vẫn không tạo ra được bộ mặt mới cho chủ nghĩa xã hội, không cứuđược Liên Bang Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Xô Viết (gọi tặt là Liên Xô) như ý định thực sự của ông Gorbachev và cácđồng chí cấp tiến trong đảng CSLX, buộc lòng phải chuyển đổi một cách hòa bình qua chế độ Cộng Hòa Liên Bang Nga ngay nay. Một sự chuyển đổi có lợi cho các dân tộc từng bị cưỡng ép phải sống chung dưới mái nhà“Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Liên Bang Xô Viết” sau hơn 70 năm.
 
(Trong báo cáo trước Hội Nghị Toàn Liên Bang Xô-Viết lần thứ 19 của đảng CSLX ngày 28-6-1988, nghĩa là sau gần 4 năm tiến hành công cuộc cải tổ(1988-1991), Ông Gorbachev đã khẳng định việc cải cách hệ thống chính trị là bảo đảm quan trọng nhất làm cho công cuộc cải tổ không thể đảo ngược. Và rằng thông qua cuộc cải tổ cách mạng sẽ tạo ra bộ mặt mới cho chủ nghĩa xã hội. Ông nói: “…Vâng, chúng ta đang từ bỏ tất cả những gì đã làm biến dạng chủ nghĩa xã hội trong những năm 30 và những gì đã đưa đến trì trệ trong những năm 70. Nhưng chúng ta muốn có một chủ nghĩa xã hội đã được tẩy sạch khỏi những sai lạc của những thời kỳ trong quá khứ và đồng thời kế thừa tất cả những gì tốt đẹp nhất đã được tạo ra bằng tư duy sáng tạo của những nhà sáng lập ra học thuyết của chúng ta…”)
 
Như vậy, có thể nóiLiên Xô đi vào con đường “Cải tổ” sau gần 70 năm nói là đã cải tạo xong và hoàn tất công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa về cơ cấu, nhưng chưa hoàn chỉnh, còn nhiều khuyết tật cần cải sửa. Nhưng sau gần 6 năm cải cách thất bại (1985-1991), Liên Xô đã nhanh chóng chuyển đổi toàn bộ hệ thống chính trị, kinh tế qua chế độ dân chủ đa nguyên và kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa (từ 1991).
 
Trong khi Việt cộng theo gương Liên Xô (từng xưng tụng là Tổ Quốc Xã Hội Chủ Nghĩa của mình) làm“Đổi mới” sau 10 năm (1986-1996), đã thất bại hoàn toàn trong mục tiêu “cải tạo và xây dựng cơsở vật chất-kỹ thuật của xã hội chủ nghĩa”, song vẫn không chuyển đổi như liên Xô. - Vì sao Việt cộng có sự lựa chọn khác Liên Xô,? Không lẽ “Trò Việt cộng” lại tài giỏi hơn “Thầy Liên Xô”?
 
Theo nhận định của chúng tôi, Việt cộng dám làm khác Liên Xô, là vì có được những điều kiện chủ quan và khách quan khác Liên Xô để thoáthiểm và tiếp tục tồn tại thêm thời gian, dù cũng biết rằng sự tử vong đã là một tất yếu, song cố bám víu được ngày nào tốt ngày ấy cho việc duy trì những ưu quyền đặc lợi cho một tập đoàn thống trị độc tôn và độc quyền là Cộng đảng Việt Nam.
Mặt hàng đối tác chiến lược của đảng
 
Học trò Việt cộng đã làm được việc này, chẳng phải tài giỏi gì hơn Thầy Liên Xô, mà nhờ có những điều kiện chủ quan và khách quan thuận lợi khác Liên Xô sau đây:
 
-Một là vì người cầm đầu phe “Cải tổ” ở Liên Xô là Tổng Bí Thư Cộng đảng Liên Xô Mikhail Gorbachev trẻtuổi (56 tuổi đời) và có tinh thần cấp tiến mạnh bạo hơn nhiều so với người cầm đầu phe “Đổi mới” Việt cộng là Tổng Bí thư Nguyễn văn Linh già nua (ngoài 70),đổi mới cầm chừng, nửa vời.
 
-Hai là vì khi “Cải tổ” ở Liên Xô thất bại, phe cấp tiến trong đảng Cộng sản Liên Xôđã hình thành một lực lượng đối trọng mạnh hơn phe bảo thủ và được sự hậu thuẫn của các kuynh hướng chính trị ngoài đảng cộng sản đã liên kết được, nhất là được sự hậu thuẫn tánđồng của tuyệt đại đa số nhân dân Liên Xô thuộc nhiều dân tộc có chung số phận bị áp chế dưới chế độ xã hội chủ nghĩa độc tài toàn trị Liên Xô trong hơn 70 năm(Đã đến biên độ tức nước vỡ bờ)
 
Tất cả đã tạo ra điều mà chính Vladimir Lenine người sáng lập Đảng Cộng sản Bolsevick Nga và chế độ Cộng Hòa Liên Bang Xô Viết gọi là “Tình thế cách mạng chín mùi”. Tình thế mà giai cấp thống trị độc quyền là Cộng Đảng Liên Xô đã tạo ra mâu thuẫn đối kháng (một mất, một còn) với mọi giai cấp, với toàn xã hội, bị cô lập hoàn toàn và chính các lực lượng bảo vệ “Chuyên chính vô sản” (Công an, quân đội)cũng đứng về phía nhân dân, không còn ai dám bắn giết nhân dân để bảo vệ chế độ.(Hình ảnh nhân dân Liên Xô bao vây việt DUMA quốc hội Liên Xô, quân đội, xe tăng câm họng, chế độXô- Viết cáo chung năm 1991).
 
Ba là vì trong khi Việt Nam, vào thời điểm “Đổi mới” thất bại, về đối nội phe cấp tiến trong nội bộ Cộngđảng Việt Nam quá yếu ớt, một ủy viên Bộ Chính Trị Trần Xuân Bách cấp tiến tiêu biểu, muốn theo gương Liên Xô “Đổi mới cả kinh tế lẫn chính trị” là bị triệt hạ ngay, dù trước đó đã có dấu hiệu sẽ thay thế Nguyễn Văn Linh trong chức vụ Tổng Bí Thứ Cộng Đảng Việt Nam. Các khuynh hướng chính trị ngoài đảng nhất là các tổ chức, đảng phái quốc gia chống cộng vẫn phân tán, không tập trung được lực lượng trong cũng như ngoài nước khả dĩ tạo được lực lượng đối trọng với Cộng đảng Việt Nam, để hậu thuẫnđược gì cho phe cấp tiến. Quần chúng nhân dân thì bị liệt kháng do bị chế độkềm kẹp, trấn áp nhiều năm, quá lắm cũng chỉ dám bầy tỏ quan điểm chính trịtrong chốn riêng tư. Nghĩa là Việt cộng vẫn “Nắm vững được chuyên chính vô sản” dựa vào các công cụbảo vệ chế độ là quân đội, công an cảnh sát.
 
- Bốn là về đối ngoại, vào đúng thời điểm Việt cộng làm “Đổi Mới” thấ
t bại, thì lại được cựu thù “Đế quốc Mỹ” đưa tay cứu vớt (Với ý đồ cải tạo Việt cộng thành công cụ chiến lược mới trong vùng), bằng hành động bãi bỏ cấm vận, thiết lập quan hê ngoại giao, giúp Việt cộng đi vào thời kỳ “Mở cửa” với thế giới bên ngoài.
 
Vì sau đó, theo chân “đế quốc Mỹ”, các nước tư bản và các nhà tư bản nước ngoài, mở rộng và phát triểnđầu tư trong các quan hệ làm ăn song phương cũng như đa phương với Việt cộng.Đây chính là điều kiện thuận lợi giúp Việt cộng chơi trò “Lá mặt lá trái”tiếp tục “Đổi mới kinh tế” bằng chính sách“Mởcửa” đón cựu thù “Đế quốc Mỹ” và các nước tư bản vào đầu tư, phát triển theo cái gọi là “Kinh tế thị trường (lá mặt), theo định hướng xã hội chủ nghĩa (lá trái)”.
Như vậy là mọi chủ trương, chính sách để thực hiện cuộc “Cách mạng quan hệ sản xuất” nhằm phá hủy “quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa”, thiết lập “quan hệ sản xuất xã hội chủnghĩa”, Việt cộng đã thất bại hoàn toàn. …
Thiện Ý
(Trích đoạn Tài liệu nghiên cứu lý luận “39 năm Việt cộng xây dựng chủ nghĩa xã hội vì sự nghiệp cộng sản quốc tế, thành quả và 

CA khủng bố Phạm Thanh Nghiên sau buổi hội thảo tại ĐSQ Úc

Description: http://3.bp.blogspot.com/-acUb54dJkLA/U2yUz3NALJI/AAAAAAABjw4/aBD03XExTMw/s1600/Phamthanhnghien-tratasongnui2.jpg
CTV Danlambao - Theo tin khẩn báo gửi đến Danlambao vào lúc 13:00 chiều nay, 30/7/2014, nhà hoạt động Phạm Thanh Nghiên, thành viên Mạng Lưới Blogger Việt Nam (MLBVN), đã bị nhiều an ninh, mật vụ kéo đến đòi bắt sau khi tham dự buổi hội thảo "Truyền thông Phi Nhà nước ở Việt Nam trong thời kỳ hiện nay" tại đại sứ quán Úc.
Khoảng 5 viên an ninh hiện đang bao vây Phạm Thanh Nghiên tại khu vực 347 Đội Cấn, Phường Cống Vị, Quận Ba Đình, Hà Nội. Những người này yêu cầu chị Nghiên phải theo họ về trụ sở CA phường để "làm việc" mà không nêu rõ lý do.
Trước những hành vi ngang ngược của phía CA, Phạm Thanh Nghiên đã dứt khoát bất hợp tác. Tuy nhiên, nhóm an ninh này vẫn tiếp tục lỳ lợm đeo bám ngày càng hung hăng hơn.
Thông tin về vụ việc đã được các thành viên của MLBVN nhanh chóng được thông báo đến tòa đại sứ quán Úc.

Được biết, buổi hội thảo vừa kết thúc trước đó lúc 11:00 sáng, Phạm Thanh Nghiên là khách mời với vai trò đại diện Mạng Lưới Blogger Việt Nam.

Description: http://2.bp.blogspot.com/-zQDtU6hw10o/U9iccTi_KSI/AAAAAAABmnQ/ipWD2dutPm4/s1600/Thanhnghien-MLB-30.7.2.jpg
Phạm Thanh Nghiên và ông David Skowronski - Tuỳ viên chính trị - 
tại buổi Hội thảo của ĐSQ Úc
Description: http://1.bp.blogspot.com/-e7URBnREm_c/U9id6se2xgI/AAAAAAABmnk/fLPD9Ohz0kk/s1600/Thanhnghien-binhnhi-thuy-MLB-30.7.6.jpg
Đại diện MLBVN cùng với anh Nguyễn Thanh Thuỷ (trái), 
con trai của Tù nhân lương tâm Nguyễn Xuân Nghĩa,
Bình Nhì Nguyễn Tiến Nam (phải)
Trước đó, Blogger Mẹ Nấm - Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, một thành viên của Mạng Lưới Blogger Việt Nam cũng  bị CA Nha Trang bắt cóc khi chuẩn bị đến sân bay ra Hà Nội dự hội thảo; chị Trần Thị Nga và Huỳnh Phương Ngọc bị công an cùng côn đồ kéo đến bao vây, phá cửa khách sạn tại Hà Nội. 
Những hành vi ngăn chặn và quấy phá buổi hội thảo đã lộ rõ bộ mặt tráo trở của nhà cầm quyền CSVN sau những cam kết với cộng đồng quốc tế.  Nhất là đối với hành động cho cả công an, côn đồ khủng bố một buổi hội thảo quốc tế do các quốc gia Úc, cùng với Liên minh châu Âu, Nhóm sứ quán đại diện cho 4 quốc gia ở Việt Nam (Canada, New Zealand, Na Uy, Thụy Sĩ) và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ chủ trì.

Vài hình ảnh của buổi Hội thảo tại ĐSQ Úc

Description: http://1.bp.blogspot.com/-SbCDyzvBL6U/U9iwIg1c_UI/AAAAAAABmn0/PQu-4KbVDXY/s1600/Thanhnghien-MLB-30.7.3.jpg
Description: http://2.bp.blogspot.com/-Sk-grtJ_K4Y/U9iwW1jYnsI/AAAAAAABmn8/pg_gXjWbv8Q/s1600/MLB-DSQ-Uc.jpg
Description:  http://1.bp.blogspot.com/--BklQZICcpY/U9iwlJG03qI/AAAAAAABmoE/QqmViJAHqO4/s1600/anhchi-30.7.jpg
Description: http://3.bp.blogspot.com/-tnfKL3JUvls/U9iwsgBgGFI/AAAAAAABmoM/xOK9ih0i2rM/s1600/Thanhnghien-MLB-30.7.4.jpg
Description: http://1.bp.blogspot.com/-PDBgoRfAj9w/U9iw2omvm0I/AAAAAAABmoU/z2CFsr38dLI/s1600/Thanhnghien-MLB-30.7.5.jpg
Description: http://3.bp.blogspot.com/-CXPZANp_ndk/U9ixADwFNWI/AAAAAAABmoc/bRkL0nWPfOw/s1600/Thanhnghien-thuy-MLB-30.7.jpg”)
 VN giữa trật tự thế giới mới
Phan Công Chánh
Gửi cho BBC từ San Jose, Hoa Kỳ
Cập nhật: 09:47 GMT - thứ hai, 28 tháng 7, 2014
clip_image004
Trung Quốc và Nga thường đồng ý với nhau về các vấn đề ngoại giao
Câu hỏi tôi muốn đặt lại để suy nghĩ trong bài này là: Có phải một trật tự thế giới mới đang trong tiến trình hình thành với cuộc tranh hùng quyền lực toàn cầu kiểu mới giữa ba tay chơi quyền lực quốc tế siêu cường Mỹ, đại cường Nga, đại cường Trung Quốc là nội dung chính của nó?
Sự sụp đổ của đế quốc Nga Xô đã dẫn đến sự thay thế của “một trật tự thế giới lưỡng cực” (với cuộc tranh hùng bá chủ thế giới tay đôi Mỹ - Nga) bằng “một trật tự thế giới nhất cực” (với sự lãnh đạo hoàn cầu của siêu cường Mỹ). Nhưng sự “trỗi dậy” nhanh chóng của Trung Quốc dưới sự lãnh đạo có viễn kiến của Đặng Tiểu Bình và những lãnh tụ kế nghiệp cũng như sự phục hồi quyền lực nội tại của Nga dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ Vladimir Putin đã góp phần tạo dựng điều kiện cho sự hình thành một trật tự thế giới mới.
Phan Công Chánh
Gửi cho BBC từ San Jose, Hoa Kỳ
Các bài liên quan
Chủ đề liên quan
Nhưng một câu hỏi liên hệ khác cũng đã được đặt ra: Cơ cấu nội tại của trật tự thế giới mới sẽ là một trật tự thế giới nhất cực hay một trật tự thế giới lưỡng cực hay một trật tự thế giới tam cực hay một trật tự thế giới đa cực?
Mặc dù câu hỏi chính trị quan trọng này vẫn còn là một vấn đề tranh cãi nặng tính chất học đường, tôi cho rằng “một trật tự thế giới mới” đang hình thành có nhiều khả năng sẽ là một trật tự thế giới tam cực. Nhưng nó lại được đặt trên căn bản một cơ cấu đa khối quốc gia với nhiều loại hình quan hệ khác nhau cùng nhiều hệ thống trục xoay quyền lực đa dạng đang nối kết tất cả các khu vực chiến lược trên thế giới lại với nhau.
Thuật ngữ “một thế giới tam cực” được dùng để chỉ sự tái định vị trí quyền lực chân vạc của Nga - Mỹ - Trung Quốc trong những cuộc đọ sức tranh hùng tay ba tương lai nhằm mục đích bá chủ thiên hạ cũng như việc theo đuổi những mục đích quốc gia thực tế (đó là duy trì phát triển mở rộng quyền lực quốc gia và lợi ích dân tộc trong quan hệ khối - khu vực - toàn cầu) mà không được che đậy dưới những chiêu bài ý thức hệ lý tưởng cao siêu như xưa.
Nếu nhìn từ quan điểm văn hoá chính trị thì Hoa Kỳ thuộc loại văn minh hiện đại và đang chuyển mình sang loại hình văn minh mới hậu hiện đại. Nhưng ngược lại, văn hoá chính trị của Nga cũng như văn hoá chính trị Trung Quốc vẫn còn thuộc vào loại hình văn minh tiền hiện đại. Thí dụ, Nga và Trung Quốc vẫn còn coi trọng giá trị sở hữu đất đai và biển đảo và không ngần ngại sử dụng những “thủ đoạn” tiền hiện đại như đã xảy ra tại Crimea và Biển Đông.
Đây là loại tâm lý và chính sách thuộc chủ nghĩa thuộc địa kiểu cũ hay chủ nghĩa đế quốc kiểu cũ chứ không phải chủ nghĩa đế quốc kiểu mới như Mỹ vì dân tộc Mỹ đã trải qua hơn 200 trăm phát triển văn minh kỹ thuật hiện đại.
Liệu mô hình “một thế giới tam cực” với nội dung cuộc tranh hùng tay ba Nga - Mỹ - Trung có giống như loại kịch bản “Tam Quốc Chí” hay “The Good, the Bad and the Ugly” (cuốn phim nổi tiếng cao bồi Mỹ 1966)? Ai là “The Good” (Loại Thiện)? Ai là “The Bad” (Loại Ác)? Ai là “The Ugly” (Loại Xấu Xí)? Ai sẽ là kẻ chiến thắng sau cùng?
Siêu Cường Mỹ
clip_image005
Mỹ cố gắng duy trì vị trí lãnh đạo ở châu Á
Mỹ muốn tiếp tục duy trì ngôi vị “siêu cường” của mình theo kiểu “vương đạo” với chính sách xây dựng quan hệ song phương đối tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc vì vẫn xem Nga là “đối thủ chính” của mình (vì an ninh khu vực Đông Âu và Trung Đông). Con số khổng lồ trên 562 tỷ đôla buôn bán thương mại hai chiều Mỹ - Trung năm 2013 nói lên sự quan trọng kinh tế giữa hai nước khi ta so sánh với con số 203 tỷ đôla mậu dịch hai chiều Mỹ - Nhật cùng năm.
Nhưng đối với vấn đề an ninh toàn bộ khu vực châu Á-Thái Bình Dương thì Mỹ đã quyết định “cầm chân Tàu” với chiến lược “Xoay Trục sang châu Á-Thái Bình Dương” vì Trung Quốc lại được xem là “đối thủ chính” trong quan hệ chiến lược đối trọng Mỹ - Trung. Mỹ đã tiến qua giai đoạn triển khai chính sách “Xoay Trục sang châu Á-Thái Bình Dương” cũng như khuyến khích vai trò quân sự mới của Nhật trong chính sách cân bằng quyền lực tại khu vực chiến lược này trước “sự trỗi dậy” đáng ngờ của Trung Quốc. Cuộc tranh hùng Mỹ - Trung đang chuyển thành cuộc tranh hùng khu vực Nhật - Trung.
Đây là vài nghi vấn chiến lược: Việt Nam sẽ chọn đứng chiến tuyến nào trong cuộc tranh hùng tay ba Mỹ - Nhật - Trung? Ai mới thực là “kỳ phùng địch thủ hoàn cầu” của Mỹ trong tương lai: Nga hay Trung Quốc? Mục đích chiến lược mới của Mỹ là gì khi tiếp tục chính sách nuôi dưỡng con sư tử Tàu?
Đại cường Nga - Giấc mơ hồi sinh
Nga lại muốn vươn lên giành lại cái ghế siêu cường một thời oanh liệt đã qua cũng như phục hồi lại cái đế quốc Xô Viết đã mất của mình để có thể có được một ngôi vị siêu cường thật sự trong quan hệ tranh hùng tay ba kiểu mới.
Vì thế, Tổng thống Putin phải chặn đứng ngay chính sách xâm nhập “lót ổ” của Âu Mỹ tại Ukraine bằng cách tiến chiếm bán đảo Crimea của Ukraine (giống kịch bản Trung Quốc chiếm Biển Đông) cũng như kéo Trung Quốc về phe Nga bằng cách đẩy mạnh các loại hình quan hệ song phương lên cao điểm mới (rềnh rang nhất mặc dù bị Trung Quốc chơi trò chơi buôn bán “áp giá” là việc ký kết hiệp thương khí đốt khổng lồ gần đây).
Nhưng đối với sự lo sợ của Nga, Trung Quốc lại là “một địch thủ khó lường” vì Trung Quốc đang từng bước xâm nhập mạnh vào nền kinh tế lạc hậu nhưng giàu tài nguyên thiên nhiên của các nước Trung Á (thuộc đế quốc Xô Viết cũ) cũng như dân Tàu đang du nhập mạnh vào khu vực rộng lớn đầy tiềm năng Tây Bá Lợi Á (Siberia).
Nga lo sợ Bắc Kinh đang dòm ngó “miếng mồi ngon” không những vì diện tích Siberia khổng lồ, phong phú về tài nguyên nhưng dân chúng lại nghèo khổ.
Giấc mơ Hoa Tộc
Trung Quốc đang làm tất cả những gì cần phải làm trong khuôn khổ mô hình phát triển “Tứ Hiện Đại” để có thể nhanh chóng thực hiện cho kỳ được cái “giấc mơ siêu cường” bao đời ấp ủ của mình. Trung Quốc đã và đang thành công với chính sách “hiện đại kinh tế” của mình và triển vọng sẽ vượt qua cả siêu cường Mỹ để trở thành quốc gia có “nền kinh tế lớn nhất thế giới”.
Chính sách hiện đại quân sự đang làm cho các nước láng giềng lo ngại không những vì Trung Quốc đang “dành đất chiếm biển” và thiết lập “vùng trời bất khả xâm phạm” tại biển Đông Á mà còn đổ tiền vào quốc sách phát triển kỹ nghệ quốc phòng. Theo công bố của Lầu Năm Góc, năm 2013 Trung Quốc đã chi hơn 145 tỷ đôla. Nhưng theo học viện Stockholm International Peace Institute (SIPRI), con số đã lên đến 188 tỷ đôla. Con số thật có thể còn cao hơn nhiều.
Bắc Kinh tỏ ra rất khôn khéo trong những kế hoạch khai thác quan hệ đối kháng Nga - Mỹ để thủ lợi cũng như xây dựng những hệ thống giao thông đường bộ (như tái thiết lập the Con Đường Tơ Lụa) lẫn cái mà nhà báo Mỹ Robert D. Kaplan gọi là “Đế Chế Đại Dương Nẩy Mầm Trung Quốc” nhằm nối liền Trung Quốc với khu vực Trung Đông và châu Phi. Vì thế, Biển Đông và Đông Nam Á được những lãnh tụ Bắc Kinh xem như tối quan trọng đối với chiến lược xây dựng “Đế Chế Đại Dương” vì chúng sẽ nối liền biển Đông Á với Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương thành một trục giao thông hàng hải (cũng như một loại lãnh thổ đại dương khổng lồ của Trung Quốc).
Vì thế, ngoài mục đích khai thác tài nguyên biển (như dầu lửa), việc chiếm trọn Biển Đông có thể được xem như là bước chiến lược đầu tiên mà Trung Quốc tiến hành để xây dựng một loại “Trân Châu Cảng” cho Hạm Đội Nam Hải. Từ đó, Trung Quốc sẽ dần tiến chiếm toàn bộ Đông Nam Á nhằm thành lập “khu vực ảnh hưởng đầu tiên của Trung Quốc” để kiểm soát trục vận chuyển đường biển Đông Tây và để phóng chiếu sức mạnh quyền lực khu vực cũng như trên thế giới.
Lựa chọn của Việt Nam?
clip_image006
Việt Nam sẽ là một trong các hội viên hùng mạnh nhất của Asean?
Nếu lịch sử chính trị thế giới đang chuyển động với cuộc tranh hùng kiểu mới tay ba toàn cầu Mỹ - Nga - Trung và cuộc tranh hùng tay đôi khu vực Nhật - Trung, thì sự lựa chọn chiến tuyến lịch sử mới của Việt Nam phải như thế nào?
Việt Nam cần phải làm gì để không trở thành một nạn nhân bi thảm đáng thương như đã từng xảy ra trong quá khứ mà là một tay chơi quyền lực thế giới nặng ký trên chính trường quốc tế?
Những sự lựa chọn mới của Việt Nam có thể được diễn tả bằng 8 chữ vàng sau đây nếu Việt Nam thấy chuyển hướng toàn diện là một sự cần thiết để tìm một sinh lộ mới cho dân tộc đi tới: Tây Tiến - Đông Kết - Bắc Hẹn - Nam Hòa.
“Tây Tiến” nghĩa là Việt Nam phải tiến thẳng vào nền kinh tế Mỹ - Nhật -châu Âu để phát triển và làm giàu. Nước Mỹ phải là đất dụng võ của Việt Nam và phải là một thành trì kiên cố cho sứ mạng dựng nước và giữ nước lâu dài của Việt Nam.
"Những sự lựa chọn mới của Việt Nam có thể được diễn tả bằng 8 chữ vàng sau đây nếu Việt Nam thấy chuyển hướng toàn diện là một sự cần thiết để tìm một sinh lộ mới cho dân tộc đi tới: Tây Tiến - Đông Kết - Bắc Hẹn - Nam Hòa."
“Đông Kết” nghĩa là Việt Nam phải nhanh chóng tiến tới việc thiết lập một hệ thống đồng minh nhất tâm tứ trụ mà trong đó quan hệ đồng minh Việt - Mỹ và Việt - Nhật sẽ là trục xoay quyền lực đầu tiên trong quan hệ đối trọng với Trung Quốc. Để thoả mãn một số yêu sách của Mỹ và mặc cả những bao thầu lớn với Mỹ trong tương lai, Việt Nam nên cho Mỹ thuê quân cảng Cam Ranh và lập một lộ trình xây dựng những thể chế dân chủ. Đây là con đường sống.
“Bắc Hẹn” nghĩa là Việt Nam sẽ tạm đoạn tuyệt với Trung Quốc giống như Mao và Đặng đã làm khi bắt tay với Mỹ và phớt tỉnh với Nga để dốc toàn lực vào quốc sách xây dựng kinh tế trong vòng 60 năm tới (2015-2075) rồi mới “tái xuất giang hồ” làm ăn tại hai nước bạn “đồng chí” năm xưa này cũng như các nước khác trên thế giới sau khi Việt Nam đã trở thành một “trung cường”.
“Nam Hòa” nghĩa là Việt Nam sẽ hoà với tất cả các quốc gia dân tộc trên thế giới (trừ Trung Quốc trong giai đoạn hiện tại) nhưng lấy đại hòa với các nước Đông Nam Á làm trọng. Vì sau 60 năm phát triển Việt Nam sẽ là một trong những nước hội viên hùng mạnh nhất để bảo vệ và lãnh đạo ASEAN thành một khối liên minh thống nhất trong quan hệ đối trọng với các nước đại cường và siêu cường trên thế giới.
Nhưng để làm được những việc này, Việt Nam đang cần những nhà lãnh đạo có viễn kiến.
Bất cứ thời đại nào trong bất cứ một xã hội nào, dân chủ hay phi dân chủ, một nhân vật hay một lãnh tụ bình thường, nhưng yêu nước thương dân, đều có những mưu lược phi thường để xuất hiện làm một nhà lãnh đạo quốc gia có viễn kiến, tự nhận sứ mạng xoay chuyển càn khôn cứu dân độ thế.
Ai sẽ xuất hiện để trở thành một nhà lãnh đạo Việt Nam chân chính như thế? Ai sẽ là nhân vật bình thường vươn lên từ “vũng lầy quyền lực” Đảng Cộng sản hiện nay, giống như một vầng thái dương hừng lửa, để làm nên đại nghiệp huy hoàng cho quốc gia dân tộc?

 
 
Đảng viên lão thành kêu gọi thoát Trung
Cập nhật: 07:34 GMT - thứ ba, 29 tháng 7, 2014
clip_image007
Cựu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh đứng đầu nhóm các Đảng viên lão thành
Hơn 60 Đảng viên Cộng sản lão thành vừa gửi thư ngỏ lên Ban Chấp hành Trung ương kêu gọi từ bỏ con đường xây dựng XHCN và thoát khỏi lệ thuộc vào Trung Quốc.
Các bài liên quan
Chủ đề liên quan
Bức thư mà BBC có trong tay đề ngày 28/7/2014 với 61 chữ ký của nhiều nhân vật hoạt động lâu năm và có tiếng ở Việt Nam như Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, cựu Thứ trưởng Chu Hảo, các kinh tế gia Lê Đăng Doanh và Phạm Chi Lan... được gửi tới Ban Chấp hành Trung ương và toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nội dung thư bắt đầu bằng nhận định rằng từ nhiều năm nay, Đảng CSVN đã "dẫn dắt dân tộc đi theo đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình xô-viết, được coi là dựa trên chủ nghĩa Mác-Lênin".
"Công cuộc đổi mới gần ba mươi năm qua nhằm sửa chữa sai lầm về đường lối kinh tế nhưng chưa triệt để, trong khi vẫn giữ nguyên thể chế độc đảng toàn trị kìm hãm tự do, dân chủ và chia rẽ dân tộc."
Đường lối chính sách của Đảng và nạn tham nhũng, theo các tác giả bức thư, đã "đưa đất nước lâm vào khủng hoảng toàn diện, ngày càng tụt hậu so với nhiều nước xung quanh".
Thư nhắc tới Hội nghị Thành Đô năm 1990, mà nhiều người cho là mốc dấu cho một giai đoạn Việt Nam bị lệ thuộc về chính trị-kinh tế vào Trung Quốc.
Từ đó tới nay, "Việt Nam đã có nhiều nhân nhượng trong quan hệ với Trung Quốc, phải trả giá đắt và càng nhân nhượng, Trung Quốc càng lấn tới".
Theo các Đảng viên chấp bút thư, thực trạng yếu kém của Việt Nam phơi bày sự bất cập "cả về trách nhiệm và năng lực của lãnh đạo Đảng và nhà nước trong thời gian qua".
Khuyến cáo
Những người này cũng thừa nhận rằng toàn thể Đảng CSVN, trong đó có bản thân họ, phải chịu trách nhiệm trước dân tộc về tình hình nói trên nhưng phần trách nhiệm chủ yếu và trước hết thuộc về Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị.
Bức thư nêu ra một số yêu cầu chính, mà trước tiên là Đảng CSVN cần thay đổi Cương lĩnh và "từ bỏ đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội, chuyển hẳn sang đường lối dân tộc và dân chủ, trọng tâm là chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ một cách kiên quyết nhưng ôn hòa".
Chỉ có hệ thống nhà nước pháp quyền thật sự dân chủ mới có thể mở ra thời kỳ mới phát triển cho Việt Nam, theo nhận định trong thư.
Họ cũng kêu gọi quyết tâm thoát khỏi tình trạng lệ thuộc nghiêm trọng vào Trung Quốc.
"Đảng CSVN cần thay đổi Cương lĩnh và từ bỏ đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội, chuyển hẳn sang đường lối dân tộc và dân chủ, trọng tâm là chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ một cách kiên quyết nhưng ôn hòa."
Giai đoạn này, Đảng CSVN đang chuẩn bị tiến tới đại hội Đảng các cấp trước khi tổ chức Đại hội Đảng lần thứ XII vào năm 2016. Các tác giả bức thư cho rằng đây là thời điểm thuận lợi để tiến hành thay đổi thể chế chính trị một cách thực sự.
Đặc biệt, lá thư đề cập tới quan hệ đối ngoại, mà trước hết là với Trung Quốc.
Các tác giả kêu gọi lãnh đạo Đảng CSVN và nhà nước "thống nhất nhận định về mưu đồ và hành động của thế lực bành trướng Trung Quốc đối với nước ta, từ bỏ những nhận thức mơ hồ, ảo tưởng; và có đối sách trước mắt và lâu dài bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ trong mọi tình huống, thoát khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc".
Họ yêu cầu minh bạch hóa sự thật về quan hệ Việt – Trung và những điều quan trọng đã ký kết với Trung Quốc như thỏa thuận Thành Đô năm 1990, thỏa thuận về hoạch định biên giới trên đất liền và vịnh Bắc Bộ, những thỏa thuận về kinh tế …
Lá thư cũng khuyến cáo nhanh chóng kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế về tình hình tranh chấp căng thẳng trên Biển Đông.
"Quan điểm 'không liên minh với nước nào nhằm chống nước thứ ba' là tự trói buộc mình, không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi."
Trước đây đã một vài lần các thư ngỏ với nội dung kêu gọi thay đổi đã được gửi tới lãnh đạo Đảng và nhà nước Việt Nam nhưng không thấy có phản hồi công khai từ người nhận.
 
 

CON ĐƯỜNG NÀO VIỆTNAM PHẢI ĐI
NGUYỄN HƯNG QUỐC
tka23 post
Trong bài phát biểu tại Philippines mới đây, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nêu đích danh Trung CỘNG  là kẻ “vi phạm luật pháp quốc tế”, “xâm phạm nghiêm trọng vùng biển của các quốc gia ven biển”, “đe doạ nghiêm trọng hoà bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải tại Biển Đông." Sau đó, trong cuộc tiếp xúc với báo chí, ông khẳng định: "Chúng tôi luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, và nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó.”

Nghe những lời tuyên bố hùng hồn ấy, rất nhiều người ở Việt Nam cảm thấy an tâm, và nhiều người đặt hết sự tin tưởng vào Nguyễn Tấn Dũng; họ hy vọng, qua ông, đảng Cộng sản và chính quyền Việt Nam sẽ lãnh đạo đất nước vượt qua những thách thức hiểm nghèo trong hiện tại.

Tôi cũng hy vọng vậy, nhưng tiếc, tôi lại không thể tin tưởng và an tâm. Tôi không thể không nhớ giữa năm 2011, lúc tàu hải giám Trung cộng  ngang nhiên tiến sâu vào hải phận Việt Nam, cắt dây cáp ngầm của tàu thăm dò dầu khí được hải quân Việt Nam bảo vệ, giới lãnh đạo Việt Nam cũng lên tiếng một cách cứng rắn như vậy.
 
clip_image008Tàu hải giám Trung Quốc ở ngoài khơi tỉnh Phú Yên hôm 26/5/2011

Ngày 7/6, khi đến thăm huyện đảo Cô Tô, Chủ tịch nước (lúc ấy) Nguyễn Minh Triết khẳng định: "Chúng ta mong muốn các vùng biển và hải đảo của Tổ quốc luôn hòa bình, hữu nghị, ổn định nhưng chúng ta cũng quyết tâm làm hết sức mình để bảo vệ vùng biển đảo của đất nước. Biết bao thế hệ đã hi sinh xương máu để có được Tổ quốc như ngày nay. Vì vậy, chúng ta cũng sẵn sàng hiến dâng tất cả để bảo vệ quê hương, bảo vệ chủ quyền biển đảo."

Ngày 8/6, tại Nha Trang, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố: “Tiếp tục khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa." Đồng thời, ông khẳng định: “Nhân dân Việt Nam có đủ ý chí quyết tâm và sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc để giữ gìn, bảo vệ các vùng biển và hải đảo của mình."

Rồi sao nữa? Sau đó, chả có gì xảy ra cả. Tàu Trung cộng vẫn tiếp tục tuyên bố chủ quyền trên con đường lưỡi bò của họ; tiếp tục sách nhiễu các tàu đánh cá Việt Nam; tiếp tục bắt nạt chính quyền Việt Nam; và mới đây nhất, đưa giàn khoan HD-981 vào ngay thềm lục địa Việt Nam. Trong suốt thời gian ấy, dân chúng vẫn tiếp tục bị cấm biểu tình,những người tiếp tục kiên cường lên tiếng chống Trung cộng  vẫn bị bôi nhọ, hơn nữa, còn bị bắt bớ và bỏ tù. Không có gì thay đổi, từ cả hai phía: sự hung hãn và ngang ngược của Trung cộng cũng như sự bất động đầy nhu nhược của Việt Nam.
 
clip_image009Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu tại Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF).

Bây giờ Nguyễn Tấn Dũng cũng lặp lại những gì chính ông đã nói và Trương Tấn Sang cũng lặp lại những gì người tiền nhiệm của ông, Nguyễn Minh Triết, đã nói. Xin lưu ý một điều: trong cả biến cố tàu Bình Minh 02 bị tàu hải giám Trung cộng  uy hiếp vào ngày 26 tháng 5 và ngày 9 tháng 6 năm 2011 cũng như hiện nay, Nguyễn Phú Trọng vẫn im thin thít. Ông không hề phát biểu bất cứ điều gì cả. Chỉ có tin đồn là ông xin qua Trung cộng  để gặp Tập Cận Bình hai lần nhưng không được. Vậy thôi. Không ai nghe được từ ông bất cứ một lời phát biểu nào. Trong khi đó, trên nguyên tắc, chính ông, với tư cách Tổng bí thư đảng, có quyền lực hơn hẳn cả Nguyễn Tấn Dũng và Trương Tấn Sang. Vậy mà ông lại im lặng.

Mai này, nếu có ai đó hỏi Nguyễn Tấn Dũng và Trương Tấn Sang tại sao Việt Nam không chịu kiện Trung cộng  ra trước toà án quốc tế hoặc không tìm kiếm sự giúp đỡ của các nước khác trong thế trận đương đầu với Trung cộng , không chừng lúc ấy, cả ông Sang và ông Dũng sẽ lại than thở: Đảng chưa cho phép!

Rồi thôi. Đâu lại vẫn vào đó. Việt Nam lại để mặc cho Trung cộng  lấn từ từ. Từ từ. Hơn nữa, nếu chính quyền Việt Nam làm thật những điều họ nói thì họ có thể làm được gì?

Trước hết, về phương diện quân sự, với ngân sách quốc phòng chỉ bằng 1 phần 60 của Trung cộng , người ta dễ dàng nhận thấy Việt Nam hoàn toàn không phải là đối thủ của Trung cộng . Không nên dùng cuộc chiến biên giới năm 1979 để vớt vát niềm tin. Trung cộng  bây giờ không phải là Trung cộng  lúc ấy và Việt Nam bây giờ cũng khác hẳn những năm sau 1975, lúc lực lượng phòng không còn rất mạnh khiến Trung cộng  phải e dè không dám sử dụng không quân và cũng là lúc từ bộ đội đến tướng lĩnh đều dày dạn kinh nghiệm chiến đấu.

Bây giờ thì về mọi mặt, Việt Nam đều ở thế yếu. Nếu chiến tranh bùng nổ, liệu có nước nào sẵn sàng ra tay để cứu Việt Nam? Nước duy nhất Việt Nam có thể hy vọng là Mỹ. Nhưng Mỹ chả có lý do gì để giúp Việt Nam khi Việt Nam chưa phải là một người bạn thân thiết của Mỹ. Hơn nữa, nếu chính phủ Mỹ muốn giúp, Quốc hội Mỹ chưa chắc đã đồng ý. Nếu Quốc hội đồng ý, dân chúng Mỹ chưa chắc đã đồng tình. Nếu dân chúng Mỹ không đồng tình, chính phủ Mỹ cũng đành thúc thủ.
 
clip_image010

Về phương diện pháp lý, gần đây, một số người trong giới lãnh đạo Việt Nam úp úp mở mở về việc họ có thể kiện Trung cộng  ra trước tòa án Liên Hiệp Quốc. Trên các diễn đàn mạng, hầu như mọi người đều hoan nghênh sáng kiến ấy. Nhưng theo tôi, đó là một công việc phức tạp mà chính quyền Việt Nam cần phải cân nhắc thật kỹ.

Lý do, rất đơn giản:
  1. 1 - Nếu Trung cộng  thua kiện và bị tòa ra án lệnh phải rút giàn khoan ra khỏi thềm lục địa Việt Nam, hoặc xa hơn, rút quân ra khỏi đảo Gạc Ma thuộc Trường Sa và không được cho các tàu hải giám quấy nhiễu các tàu đánh cá Việt Nam thì chắc chắn Trung cộng  sẽ phớt lờ án lệnh ấy, và, cũng chắc chắn, sẽ chả có ai dám làm gì Trung cộng .
  2. Nhưng nếu vì lý do nào đó, ví dụ vì cái công hàm do Phạm Văn Đồng ký ngày 14 tháng 9 năm 1958, toà án ra phán quyết Việt Nam thua thì chắc chắn Việt Nam sẽ phải tuân theo án lệnh ấy, ngay cả việc thừa nhận con đường lưỡi bò ngang ngược của Trung cộng . Nếu Việt Nam kháng cự lại án lệnh ấy, Trung cộng  càng có thêm lý do chính đáng để tấn công Việt Nam. Lúc ấy, sẽ chả có ai dám bênh vực Việt Nam cả.
Trong trường hợp thứ nhất, thắng trước tòa, nhưng thật ra, Việt Nam chỉ thắng về phương diện tuyên truyền. Trong trường hợp thứ hai, Việt Nam thua trắng tay.
 
Như vậy, Việt Nam có thể làm điều gì?
 
Chính quyền Việt Nam hay nói đến biện pháp giải quyết xung đột bằng ngoại giao. Ừ, thì cũng được. Nhưng nên nhớ điều này: Trên bàn hội nghị, một nhà ngoại giao giỏi là người có một thứ vũ khí gì đó mạnh hơn đối phương. Đừng hy vọng gì Việt Nam có thể dùng ngoại giao để giải quyết các tranh chấp với Trung cộng  ở Biển Đông khi Việt Nam rõ ràng là đang ở thế yếu, rất yếu. Đừng hy vọng. Vô ích.
 
Cuối cùng, biện pháp duy nhất Việt Nam có thể làm được là chuẩn bị chiến tranh để chiến tranh không xảy ra. Bằng cách nào? Chỉ có một cách: Sử dụng sức mạnh của quần chúng. Bằng cách nào? Chỉ có một cách: Cho phép dân chúng bày tỏ lòng yêu nước và sự căm ghét ngoại xâm của họ, và tạo nên sự đoàn kết thực sự giữa chính quyền và dân chúng để Trung cộng  thấy là họ không thể khuất phục dân tộc Việt Nam bằng các biện pháp quân sự.
 
Điều duy nhất khiến Trung cộng  có thể e dè trước Việt Nam không phải là tài trí của giới lãnh đạo, sự tối tân của vũ khí hay sự thiện chiến của quân đội Việt Nam (thật ra, hầu hết bộ đội Việt Nam, từ lính đến tướng, đều không có hoặc có rất ít kinh nghiệm chiến trường!) mà chính là con người Việt Nam vốn nổi tiếng bất khuất.
 
Bởi vậy, đàn áp dân chúng, không cho dân chúng biểu tình là một cách triệt tiêu  sức mạnh lớn nhất của mình: Đó là một quyết định dại dột.

Trần Đức Thảo – Những lời trăn trối

nhung loi trang troi
Ðã có nhiều tác giả tây ta viết về nhân vật Hồ Chí Minh (HCM) riêng cuốn Trần Ðức Thảo Những Lời Trăng Trối là cuốn rất ðặc biệt vì sách ðã “phân tích sư thật về những hành ðộng khủng khiếp” của họ Hồ bởi một triết gia “lỗi lạc của Việt Nam và thế giới”. Nãm 1951 ông bỏ Paris về bưng, qua ngả Mạc Tư Khoa, tham gia kháng chiến chống Pháp; ðã từng “trải nghiệm gian khổ trong chiến tranh, trong cách mạng” suốt 40 nãm. Nhà triết học họ Trần trước khi mất ðã khẳng ðịnh, Marx ðã gây ra mọi sai lầm và tội ác. Ông còn nói, chính “cuồng vọng lãnh tụ” ðã khiến “ông cụ” là một con người “cực kỳ vị kỷ, bất chấp những chuẩn mực của lương tri, của ðạo lý”. Theo ông, ðây là “một Tào Tháo muôn mặt của muôn ðời” và “là một con khủng long ba ðầu, chin ðuôi”.
Lời trối trãng của nhà triết học Trần Ðức Thảo cho biết, “nếu không dám khui ra những sai trái lịch sử của “ông cụ”, không dám ðưa ra ánh sáng tội lỗi của Marx thì không bao giờ thoát ra ðược tình trạng bế tắc chính trị ðộc hại như hiện nay ở nước ta”. Theo ông, quá khứ cách mạng của Viêt Nam ðã tích tụ quá nặng ðầy những di sản xấu. Quyển sách dày 427 trang là những lời tâm sự sống ðộng của một nhà tư tưởng giúp ðộc giả hiểu rõ nguồn gốc của thảm kịch ðang bao phủ lên thân phận dân tộc, lên ðất nước ta. Ông cảnh báo xã hội Việt Nam “ðang bị ung thối bởi cãn bệnh xảo trá, cãn bệnh thủ ðoạn của ðảng”. Ông bị tống ði ra khỏi quê hương vĩnh viễn với cái vé ði một chiều, bị ðuổi khỏi Saigon, buộc phải ði Pháp, không ðược trở về Hà nôi.
Trong cuốn sách, nhà triết học Trần Ðức Thảo (1917-1993) ðã vạch ra rằng, về lâu về dài, càng thấy ba chọn lựa của “cụ Hồ” mang tính sinh tử với ðất nước và dân tộc, ðã ðể lại di sản vô cùng trầm trọng: “chọn chủ nghĩa xã hội của Marx ðể xây dưng chế ðộ, chọn chiến tranh xoá hiệp ðịnh hòa bình ðể bành trướng xã hội chủ nghĩa và thống nhất ðất nước, chọn Mao và ðảng Cộng sản Trung Quốc làm ðồng minh, ðồng chí”. Sách có 16 chương, một chương chỉ ðể giải mã lãnh tụ; nhưng ở chương nào HCM cũng ðược ðề cập tới. Ông xác nhận, hễ nói tới thảm kịch VN thì “không thể không nhãc tới ông cụ”. Cố giáo sư quả quyết, ‘phải nói thẳng ra là Mao ðã trực tiếp bẻ lái “ông cụ”; và “Trung Quốc muốn nhuộm ðỏ Việt Nam theo ðúng màu ðỏ ðậm của Trung Quốc”.
Đãi ngộ hay bạc đãi
Triết gia Trần Ðức Thảo (TÐT), nổi tiếng về hiện tượng luận, từng tranh cãi với Jean-Paul Sartre ðược ðảng Cọng Sản Pháp vận ðộng ðể ðược cho về xứ nhằm phục vụ cách mạng vì “tôi có những nghiên cưú sâu rộng cuộc cách mạng tháng 10 ở Nga và có vốn hiểu biết vững chắc tư tưởng của Karl Marx”. Khi về tới quê hương “tôi bị vỡ mặt và vỡ mộng”; bị nghi là “siêu gián ðiệp trí thức”. Tên tuổi ông, một thời danh tiếng trời Âu chìm hẳn. Nãm 1991 ông “bị ðẩy trở lại Paris”. Thế nhưng, sau khi qua ðời ngày 24/4/1993, nhà cầm quyền Hà nội lại truy tặng ông huy chưong Ðộc Lập; ca tụng ông là nhà triết học lớn của thế kỷ. Họ còn cho rằng “”tư tưởng HCM” ðã có ảnh hưởng với nhà triết học số một Việt Nam và lúc sinh thời ðảng, nhả nước rất mực trọng ðãi ông.
Có thật thế không? Trong chương Ðãi ngộ hay bạc ðãi, ông nói, những chức vị mà người ta ban cho, “che dấu một ðối xử nghiệt ngã và tồi tệ”. Ông cho biết, sự có mặt của ông trong một số sinh hoạt chỉ là “bù nhìn ðứng giữa ruộng dưa”. Sự thật “họ chỉ ðể cho sống; cho tôi khỏi chết ðói; chỉ toàn là bạc ðãi”. Nhà triết học phân trần, chúng bắt “tôi phải gắng mà học tập nhân dân nghĩa là phải cúi ðầu tuyệt ðối vâng, nghe lời ðảng”. Ông tiết lộ, tuy có chức phó giám ðốc trường Ðại Học Vãn Khoa Sư Phạm nhưng “chưa hề ðược tham dự bàn bạc gì vào việc tổ chức, ðiều khiển, ngay cả ý kiến giảng dạy cũng không hề có”. Sự có mặt của ông trong các buổi họp hay ði theo các phái ðoàn thanh tra là chỉ ðể “giới thiệu có thạc sĩ triết bên tây về ủng hộ cách mạng”.
Những ðiều nói ðó phù hợp với bài báo của nhà thơ Phùng Quán Chuyện vui về triết gia Trần Ðức Thảo ðãng trên báo Tiền phong ngày 11/5/1993: nhờ cái chết của nhà tư tưởng lớn này qua các báo mà rất nhiều người trong nước ðược biết rằng ðất nước chúng ta ðã từng sinh ra một triết gia tầm cỡ quốc tế. Ông ta sang tận bên Tây mà chết. Khi sống ở trong nước thì lôi thôi nhếch nhác hơn cả mấy anh công nhân móc cống. Mùa rét thì áo bông sù sụ, mùa nực thì bà ba nâu bạc phếch, quần ống cao ống thấp, chân dép cao su ðứt quai, ðầu mũ lá sùm sụp, cưỡi cái xe ðạp “Pơ-giô con vịt” mà mấy bà ðồng nát cũng chê. Thật ðúng như anh hề làm xiếc! Mặt cứ vác lên trời, ðạp xe thỉnh thoảng lại tủm tỉm cười một mình, một anh dở người”.
Mưu thần chước quỷ
Nhiều người tự hỏi bị ðối xử cay ðắng như vậy sao “bác Thảo lại hay có lúc bật cười như ðiên”; và bị chung quanh chê bai, chế giễu “bác là người khùng”? TÐT cho hay, ông bắt ðầu “hết cười rồi lại khóc” sau khi tham gia ðợt thì hành cải cách ruộng ðất ở huyện Chuyên Hóa, tỉnh Tuyên Quang nãm 1953. Lương tri trỗi dậy khi thấy lãnh ðạo “chọn con ðường hành ðộng nặng tính cuồng tín, dã man”. Ông nói, “chẳng thà là thằng khùng hơn làm thằng ðểu, thằng ác, thằng lưu manh”. Về giai thoại TÐT ði chãn bò, theo ông, ðó là một sự xấu hổ cho cả nước. Làm nhục một trí thức là lối hành xử của một chính quyền man rợ, bị ảnh hưởng Trung Quốc, buộc họ phải học thuộc lòng câu “trí thức không bằng cục phân” của Mao.
Nhà tư tưởng họ Trần nhận xét, Cộng Sản Việt Nam rất sùng bái Trung Quốc, ‘cứ như là con ðẻ của ðảng Cộng sản Trung Quốc”. Là một nhà triết học, có thói quen tìm hiểu, ðánh giá lại, ông thấy “nước ta trồng cây tư tưởng của Marx, cho tới nay cây ðó chỉ cho toàn quả ðắng”. Chính “cái thực tại tàn nhẫn khi chứng kiến sự ðau khổ của con người bị kềm kẹp bởi ý thức hệ” khiến ông muốn “ðặt lại vấn ðề từ học thuyết”. Triết gia TÐT nói, nhiều lãnh tụ “từ lầu ðài tư tưởng Marx bước ra ðã trở thành những ác quỉ”. Theo ông, “quỉ ấy là ý thức ðấu tranh giai cấp”; là thứ “vi rut” tư tưởng ðộc hại vô cùng; nó phá hoại xã hội, nó thúc ðẩy con người ðam mê tìm thắng lợi, bằng ðủ thứ quỉ kế, ðể mưu ðồ củng cố cho chế ðộ ðộc tài, ðộc ðảng.
Theo nhà triết học số một của Việt Nam, “ông cụ” là một nhà ảo thuật chính trị ðại tài: lúc thì biến có thành không, lúc thì biến không thành có”. Ðúng là “mưu thần chước quỉ” chuyên hành ðộng muôn hướng, muôn mặt, “trí trá còn hơn huyền thoại Tào Tháo trong cổ sử Trung Quốc!” Bác Hồ ðánh lừa dư luận Âu Mỹ, khi chép lời nói ðầu bản tuyên bố ðộc lập của Mỹ; ðánh lừa các ðảng trong nước khi thành lập chính phủ ðại ðoàn kết và mời cựu hoàng Bảo Ðại làm cố vấn. Vài tháng sau, Võ Nguyên Giáp dẹp bỏ; coi họ là phản ðộng; ðẩy Bảo Ðại sang Côn Minh. “Ông cụ” còn ðược triết gia TÐT gọi là một nhà chính trị “thần sầu quỉ khốc” khi “ông cụ” khôn khéo mưu tìm sự tiến cử của Mao ðể ðược ðưa về xứ làm lãnh ðạo duy nhất phong trào cách mạng Việt Nam.
Cố Giáo sư TÐT kể lại rằng, biết mình bị Ðệ Tam Quốc Tế tức Liên Sô loại ðuổi khéo về Viễn Ðông và biết Mao là thủ lãnh các phong trào cộng sản ở Châu Á, “ông cụ” vào làm việc cho Bát Lộ Quân, tuyên thệ gia nhập ðảng Cộng sản Trung Quốc; ðược Mao rất ưu ái. Nhờ vậy, “ông cụ” từng bước loại bỏ tất cả ðối thủ Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn vãn Cừ… ðể rồi vươn lên làm Tổng Bí Thư kiêm chủ tịch nước nãm 1945. Dù sự tấn phong “ông cụ” ở các ðại hội Ma Cao và Hồng Kông bị phản ứng của các khu uỷ, xử uỷ và của “Ðê Tam” nhưng nhờ Mao dàn xếp nên ðã qua mặt những sự phản ðối này vì họ là những kẻ ðã từng nhận ðược sự nâng ðỡ của cộng sản Trung Quốc. Triết gia họ Trần nói thêm, “ông cụ” luôn luôn là người biết chụp bắt cơ hội”.
Huyền thoại “bác Hồ”
Vẫn theo nhà tư tưởng TÐT, các nhà nghiên cứu nước ngoài khi viết về HCM họ bị chói lòa bởi những huyền thoại về “ông cụ” của bộ máy tuyên truyền; họ xử dụng sản phẩm chính thống của ðảng thì làm sao họ hiểu hết ðược mặt thật của họ Hồ. Ông nói, có một thứ tư liệu rất chính gốc, bộc lộ rõ cái cuồng vọng lãnh tụ của “ông cụ”; nó chi phối từ nội tâm. Ðó là những tên giả chính “cụ Hồ” ðã tự ðặt cho mình. Muốn tìm hiểu cặn kẻ, phải phân tách những chuyện biến tư tưởng qua từng giai ðoạn ðổi tên, ðổi họ; từ những cái tên “Tất Thành”, rồi “Vương”, rồi là “Ái Quốc”, chót hết là “Chí Minh”. Ðấy là những biểu hiện của một thứ bệnh tâm thần, khao khát danh vọng. HCM chỉ thành lãnh tụ cách mạng sau khi không ðược cho vào học Trường Thuộc Ðịa ðể ra là quan.
Nhà triết học nói thêm rằng, một người tự viết sách ðề cao mình, như cuốn “Những mẩu chuyện về cuộc ðời hoạt ðộng của Hồ chủ tịch” và “Vừa ði ðường vừa kể chuyện” thì không thể là một người vì nước vì dân ðược. “Ông cụ” ðã tạo ra một thời chính trị ðiên ðảo. Ngoài ra, ðám quần thần chung quanh “ông cụ”, không tha thứ cho ai dám tỏ ra ngang hàng với “Người”. Họ tôn vinh “ông cụ” làm bác, làm cha dân tộc. Tạ Thu Thâu chết mất xác vì câu nói “ngoài bắc có cụ, trong nam có tôi”. TÐT cho biết, nãm 1946 gặp “ông cụ” trong một buổi chiêu ðãi ở Paris, ông ðã bất ngờ trước lời khước từ: “cách mạng chưa cần tới chú ðâu” của HCM; khi ông tự ý nắm tay “ông cụ” ngỏ lời: “Tôi muốn về nước cùng cụ xây dựng thành công một mô hình cách mạng tốt ðẹp tại quê hương”.
Dù thế, triết gia vẫn nhờ bạn bè phương tây giúp ông ðược vể nước tham gia kháng chiến. Nhờ vậy, ông có cơ hội quan sát một Hà nội và Saigon ðang bị lột xác theo sự phát triển của chủ nghĩa xã hội. Một giai cấp thống trị mới ðang hình thành. Càng quan sát nhà tư tưởng TÐT càng thấy huyền thoại về “bác Hồ” là tác phẩm của “cả một công trình nghệ thuật hoá trang cao ðộ”. Cái gì có giá trị là của bác, của ðảng. Họ công kênh “ông cụ” lên làm bậc thần, bậc thánh. Theo TÐT, “phải hít thở cái không khí” thờ kính, phục tùng lãnh tụ mới có thể hiểu phần nào những “phương pháp tâm lý tinh vi” tôn sùng HCM. Ông nhấn mạnh, “bác Hồ” chỉ có thể coi như mẫu mực thành ðạt về chính trị; “không thể nào là mẫu mực về mặt ðạo ðức”; vì cách sống muôn mặt của bác ðâu phải là gương sáng.
Nhà triết học bị kết tội “cầm ðầu âm mưu chống ðảng” vì hai bài viết trên Nhân Vãn Giai Phẩm (NVGP), do một số anh em vãn nghệ trẻ chủ xướng. Ông cho biết, nếu không có mấy nhà trí thức Pháp ðứng ðầu là Sartre “tận tình quan tâm, chãm sóc” ðến ông thì với mấy tội: tự ý nắm tay bác nãm 1946 ðòi cùng về nước làm cách mạng; từ chối lên án bố mẹ khi khai lý lịch; muốn ðấu lý với cố vấn Trung Quốc lúc làm ðội viên cải cách ruông ðất và vụ NVGP, ông có thể “dễ chết`như chơi”. Nãm 1952 triết gia ðược dẫn ði chào “Bác”. Ban lễ tân dặn ông bốn ðiều cần nhớ: phải ðứng xa “Người” ba mét, chỉ lại gần khi “Người” ra lệnh; không ðược nói leo, chỉ trả lời câu hỏi; không ðược chào trước; không ðược nói tôi phải xưng bằng cháu, gọi “Người” bằng “bác.
Chư hầu ngoan ngoãn
Theo sự chiêm nghiệm của triết gia TÐT thì HCM chưa ðọc kỹ học thuyết sách vở của Marx, “tư duy sổi nên chưa tiêu hóa ðược”; nhưng lại “ðọc thuộc lòng cuốn “Le Prince” của Machiavel”, cuốn chỉ bày tận dụng mọi thứ ðể người ta sùng bái. “Ông cụ” luôn luôn chứng tỏ một bề ngoài nặng lý trí ðến vô cảm; không thiết tha với gia ðình; không có bạn hữu thân tình. “Ông cụ” rất ghét cánh Tây học. Trong vòng thân cận, chỉ có toàn hầu cận ít học ðược ”ông cụ” ðào tạo ðể phục tùng; rồi sau ðề bạt lên làm lớn. “Ông cụ” làm thơ là “do cuồng vọng chính trị”, là ðể “ca ngợi mình” và “hô hào quyết chiến”. Nhà triết học này còn cho rằng, trên thân phận HCM có một bóng ma quái nó ðè. Ðó là “ bóng ma ðế quốc bành trướng vô cùng ðộc ðoán, lấn át của Mao.”
Vẫn theo TÐT, ý thức hệ xã hội chủ nghĩa chỉ là một phương cách giam hãm các dân tộc chư hầu với cái tên ðẹp “khối các nước xã hội chủ nghĩa anh em” nhưng thực chất là một ðế quốc ðỏ; nó kềm kẹp các dân tộc nhược tiểu quanh nó. Ðó “chỉ là thứ liên minh ma quái, quỉ quyệt, giả dối”; muốn biến “nước ta thành một chư hầu ngoan ngoãn”. “Ông cụ” vì tham vọng quyền lực từ ý chí muốn học ra làm quan nhưng không ðược nên ðã lấy học thuyết “giai cấp ðấu tranh” làm kim chỉ nam ðể tạo cơ hội thành danh, thành lãnh tụ. Nhà triết học nói, ðể nắm vững quyền lực “ông cụ” phải thủ vai ông thánh, ông thần”, từ bỏ cả vợ con, mất ði tính người, thẳng tay tiêu diệt những kẻ có tài. Lại thêm, Mao ðã cài chung quanh “ông cụ” một ðám cực kỳ cuồng tín.
Trong chương “Hai chuyến di chuyển ðổi ðời” của cuốn sách, nhà triết học họ Trần cho biết, ông ðược rời cảnh “sống như bị giam lỏng ở Hà nội” ðể vào Saigon ở là nhờ sự vận ðộng của một số ðồng chí trí thức Nam Bộ. “Saigon ðã làm tôi bàng hoàng tới cùng cực. Khang trang và hiện ðại; ðâu có ðói khổ vì bị Mỹ Ngụy kềm kẹp. Miền Nam ðã có một mức ðộ dân chủ rõ rệt. Miền bắc bị tư tưởng Mac-Lenine làm nẩy sinh những chính sách ðầy sai lầm. Sĩ quan của “bộ ðội cụ Hồ” ðã có “thái ðộ thô bạo, ứng xử thô bỉ” khi nhục mạ, gọi Dương vãn Minh là mày, và bắt cả nhóm phải ðứng cúi ðầu.” Ðấy là những lời thố lộ của TDT mà nhà vãn Tri Vũ Phan Ngọc Khuê ðã viết lại qua các cuốn bãng thu những ðiều ông tâm sự với một số bạn trong sáu tháng cuối ðời ông ở Paris.
Nhà triết học còn thú nhận Trần Dần và Trịnh Công Sơn là hai người ðã thúc ðẩy ông phải thoát khỏi thái ðộ hèn nhát ðã ngự trị trong ðầu óc trí thức và vãn nghệ sĩ Hà nội; giới này ðã ứng xử ðồng lõa với tội ác của cách mạng. Người thứ nhất là Trần Dần lúc ông ta mời viết cho NVGP. Người thứ hai là các bài hát của họ Trịnh. Ngoài ra, những ai từng sống ở Saigon sau 1975, nếu ðọc chương “Vẫn chưa ðược giải phóng” ðều nhận thấy những mô tả của triết gia về Hà nội nãm 1954 rất giống Saigon sau 30/4/75: “cả con người và xã hội ở ðây ðã không hề ðược giải phóng” và thật là “vô lý và nhục nhã” khi so sánh với chế ðộ cũ. Ông nhận xét: tư hữu kiểu cũ do làm cần cù, tích lũy mà có ðược; tư hữu kiểu mới do chiếm ðoạt bằng chữ ký và quyền lực.
Cao vọng hơn “bác Hồ”
Ðược gợi hứng bởi môi trường miền Nam, trong vòng 10 ngày TÐT hoàn thành một tập sách nhỏ “Con người và chủ nghĩa lý luận không có con người”. Ðây là vãn bản phản bác giáo ðiều, ðược ðón nhận như một bông hoa lạ. Chẳng bao lâu sách bị cấm phổ biến. Giới cựu kháng chiến và nhiều trí thức khác còn ở lại trong nước tấp nập tới làm quen với nhà triết học ðể nghe những “lời tiên tri” là “cách mạng ðã biến chất ðể tư bản man rợ tràn ngập”. Trung Ương thấy số người “phức tạp” ðến gặp “bác Thảo” càng ngày càng ðông, nên Ðảng ðã quyết ðịnh “anh phải ra ði”. Nhà triết học than “thôi thì ðành mang thân xác ra xứ người”. Qua Pháp, tuy ðã một thời vang danh ở Paris, ông vẫn “lâm cảnh sống nay lo mai”, và còn bị Toà ðại sứ theo dõi kiểm soát chặt chẽ.
Trong cài xui có cái may. Nhà vãn Tri Vũ-Phan Ngọc Khuê nhờ những lúc nhà triết học bán chữ ðể kiếm sống qua các buổi thuyết trình ở kinh ðô ánh sáng mà ðã làm quen thân với ông, ðược nghe ông tâm sự. Quyển sách ghi lại nỗi hối hận ðã thiêu ðốt ông vào lúc hoàng hôn của cuộc ðời. Nhà vãn cho hay ông “sẵn sàng trao mấy cuốn bãng cho những ai muốn nghiên cứu về TÐT”. Trong sách nhà triết học có lần ðã khẳng ðịnh: “tôi có tham vọng cao hơn của “bác Hồ” nhiều lắm”. Ðấy là xây dựng “một lâu ðài tư tưởng trong ðó toàn thể nhân loại ðều thể hiện rõ quyền sống của mình, quyền dân chủ bằng lá phiếu của mình”. Nhưng mộng ðó không thành, triết gia lừng danh một thời trời Âu bị ðột tử. Chúng ta mất ði “một kho tàng trải nghiệm về chiến tranh, về cách mạng”.
Người chủ trương Tổ Hợp Xuất Bản Miền Ðông Hoa Kỳ, Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích cho biết việc tái bản cuốn sách là ðể phục hồi danh dự một nhà tư tưởng lớn của Việt Nam. Trong lời bạt ông viết, “cuộc ðời TÐT xem như cuộc ðời tan nát vì “cách mạng” mà ông chọn phục vụ vào nãm 1951 nên mọi sự trở nên vỡ lở. Cuộc ðời ðó có thể xem như một bài học –“an object lesson”- với những ai ðể cho tình cảm, lý tưởng che mờ ði lý trí, kinh nghiệm. Không những ông mất vợ, không có ðời sống gia ðình, không có tự do trong bóng tối làm những việc ông muốn làm cho quê hương ðất nước của ông. Sự nghiệp triết học của ông là một sự nghiệp dang dở.” Sách ðược xuất bản lần ðầu với số lượng ít; tên gốc là Nỗi hối hận lúc hoàng hôn chỉ ðể thãm dò ý kiến thân hữu.
Những ai yêu “bác Hồ”, những ai coi HCM là tên tội ðồ hay các nhà khoa bảng, các học giả, các ông bà phản chiến và những ai còn nghĩ ðến nước Việt nên ðọc cuốn này. Cho tới nay chưa có tác giả nào trên thế giới – ngoại trừ triết gia TÐT- nêu ra ðược, thật sáng tỏ, những ðiều vô cùng bi thảm trong thời cách mạng; vì ông ðã trải nghiệm 40 nãm trong cuộc. Ngoài ra, ông bà nào giỏi tiếng Tây tiếng Mỹ nên dịch sách ra cho thế giới biết thêm về HCM, kẻ ðã lừa mọi người từ Âu sang Á; khiến nhà tư tưởng số một Việt Nam TÐT phải nói thẳng rằng, Napoléon, Hitler cũng có tâm thức tự cao tự ðại nhưng “không gian trá ðến mức tinh quái” ðể có những “hành ðộng muôn hướng, muôn mặt, trí trá còn hơn cả huyền thoại Tào Tháo trong cổ sử Trung Quốc!”.
Phan Thanh Tâm
Saint Paul, 6/2014

Alan Phan - Thêm Một Cơ Hội Mới Cho Việt Nam

Tôi quyết định quay về kinh doanh tại Mỹ cách đây 3 năm. Kinh tế Việt Nam đang bước vào một chu kỳ mới mà dân làm ăn chúng tôi gọi là “day of reckoning” (ngày phán xét?); nôm na là khi các bong bóng bắt đầu xì hơi, rác rưởi 
Ts Alan Phan

27 July 2014

Tôi quyết định quay về kinh doanh tại Mỹ cách đây 3 năm. Kinh tế Việt Nam đang bước vào một chu kỳ mới mà dân làm ăn chúng tôi gọi là “day of reckoning” (ngày phán xét?); nôm na là khi các bong bóng bắt đầu xì hơi, rác rưởi như nợ xấu, gánh nặng hành chánh, tham nhũng…không còn đủ chỗ để đem “dấu dưới thảm” được nữa. Ở các nền kinh tế thị trường khác, những biến cố tương tự cũng không hiếm (chúng là cá thể của tư bản tham lam)…nhưng những lực đẩy từ chánh phủ đến tư nhân chung sức điều chỉnh; và sau vài năm, phần lớn các cấu trúc, vận hành bắt đầu hồi phục.

Việt Nam hơi khác. Trong định hướng CNXH, chánh phủ cố gắng điều trị theo lối “bôi dầu cù là”, hy vọng một phép lạ nào đó sẽ “úm ba la” chữa lành mọi bệnh tật. Còn tư nhân thì quen lối làm giàu dựa trên quan hệ với quyền lực nên không nghĩ đến các giải pháp sáng tạo nào khác ngoài việc “lobby” để hưởng cứu trợ, khoanh hay giảm nợ. Với một nhận định như vậy, tôi và nhiều nhà đầu tư ngoại dài hạn khác write-off (xoá sổ) các khoản tiền đã mất ở Việt Nam và đi tìm chân trời mới. (Tuy nhiên, một cơn bạo bệnh kéo dài hơn 1 năm đã làm chậm lại kế hoạch này của tôi).

Trong khi vài nhà đầu tư vẫn đam mê tiềm năng của các quốc gia mới nổi, phiêu lưu vào Myanmar, Ấn Độ, châu Phi…tôi đánh cược vào nền kinh tế Mỹ qua sự năng động của công nghệ mới, hệ thống pháp trị và những lực chuyển trong hai thập kỷ tới trên toàn cầu (Xin xem loạt bài về Lực Chuyển trên web site Góc Nhìn Alan). Sau một năm vất vả để hoàn thiện các chi tiết của kế hoạch kinh doanh, tiếp cận đối tác và mentors (thầy đỡ đầu), lấy xong giấy phép…tôi hứng khởi bắt tay vào việc mới…ở tuổi 69. Tôi đem gia đình đi nghỉ hè 1 tháng để thu nạp thêm năng lượng.

Trong khi đó, như chúng tôi đã tiên đoán, suốt 5 năm qua, Việt Nam vẫn tiếp tục tổ chức hội thảo liên miên để bàn về nợ xấu, tái cấu trúc, cải cách cơ chế, hệ thống ngân hàng, phương thức bắt kịp các quốc gia láng giềng….Chúng tôi đều đoán trước kết quả: thành phần có quyền và có tiền có quá nhiều thứ để mất nếu thay đổi, sợ bứt dây động rừng, sợ cạnh tranh trên một sân chơi bằng phẳng… Thành phần bỏ quên bên lề thì vẫn tiêu thụ bia rượu, thuốc lá, số đề… với nhiều kỷ lục mới và vẫn cho là mình hạnh phúc nhất nhì thế giới.  Bánh xe kinh tế tiếp tục lăn theo nhịp độ của FDI, kiều hối và ODA. Do đó, điều kiện đòi hỏi dành cho các dự án FDI càng ngày càng dễ dãi để lưu giữ dòng tiền đang rò rỉ từ Trung Quốc. (Lý do chính là  vì giá sản xuất tại Trung Quốc cao vụt biến cùng những  tệ nạn về ăn cắp bàn quyền, khích động chánh trị Hán hoá của chánh phủ  và hệ thống phong bì).  Khoản tiền ODA càng vay nhiều càng tốt, lợi lộc càng nhiều…và việc trả nợ thì đã có thế hệ sau lo.

Ở tầm vĩ mô hơn, Việt Nam vẫn coi mình là đàn em ngoan ngoãn của Trung Quốc, có một đồng minh chiến lược với Nga, có những người bạn thân thiết như Bắc Triều Tiên, Cuba, Venezuela…An ninh nội địa vững vàng với gọng kềm kiểm soát và mọi chánh sách ngoại giao đều hướng về mục tiêu “làm vừa lòng mọi người”. Nếu đế quốc Mỹ có phàn nàn về nhân quyền thì ra vài câu tuyên bố lấy lệ, rồi quay lưng bảo nhau…thằng Mỹ nó giàu mạnh nhưng ngu lắm.

Trong bối cảnh đó, khó mà có thể hình dung Việt Nam biến thể thành một con chim cánh cụt…nói gì đến hoá rồng. Nếp sống người dân có thể tăng cao hơn đà tiến chung của nhân loại vì dân Việt thông minh và láu cá hơn; nhưng kinh tế Việt Nam sẽ vẫn đội sổ về hiệu năng và vị trí.

Tuy nhiên, lá số tử vi của nhà cầm quyền Hà Nội tốt thật. Định mệnh lại tình cờ cho họ thêm một cơ hội mới.

Trung Quốc đem giàn khoan vào lãnh hải Việt Nam, Putin Nga quay mặt ôm hôn Tập Cận Bình, và các bạn thân thiết như Bắc Triều Tiên, Cuba…hoàn toàn không quan tâm. Một tình thế mới tạo nên một thực tại mới khá phũ phàng, như khi người vợ khám phá ra là chồng đang ăn nằm với nhiều bà vợ khác, kể cả bạn thân của mình. Dĩ nhiên bà vợ vẫn mang nhiều hy vọng là ông chồng sẽ hồi tâm và quay lại với mình để nối lại cuộc đời “16 chữ vàng” như xưa.

Đây không phải là điều đáng ngạc nhiên với các chánh trị gia chuyên nghiệp. Chơi đểu, lừa gạt, tham lam…là bài học hàng đầu từ Machiavelli, Tôn Tử… Chỉ có những ông già vừa ngu vừa điên…mới ngạc nhiên. Tuy vậy, một sự kiện làm tôi và vài chuyên gia “shocked” là sự can thiệp của Mỹ đã có hiệu lực đến thế nào với Trung Quốc! Vì quyền lợi của tư bản Mỹ trong thế cân bằng của địa chánh trị tại Biển Đông, Trung Quốc đã rút giàn khoan sớm hơn dự định, tránh một cuộc đối đầu bất lợi lúc này với liên minh Mỹ-Nhật-Úc. Dĩ nhiên, đây chỉ là một bước lùi để lấy đà tiến lên hai ba bước sau này…nhưng cũng là một chiến thắng nhỏ cho quyền lực Mỹ.

Quay lại thế cờ mới của Việt Nam. Cách đây vài năm, Myanmar phải thoát Trung bằng một động thái quyết liệt cần nhiều can đảm và vốn chính trị của các lãnh đạo. Theo một lời đồn, khi biết Myanmar muốn ngã về phương Tây, Trung Quốc đã bật đèn xanh để vài phần tử Miến Điện thân Trung Quốc thực hiện một cuộc đảo chánh. Âm mưu bất thành và định mệnh Myanmar bước vào một chu kỳ mới. Việt Nam may mắn hơn. Với sự tranh chấp công khai hoá toàn diện và với sự bầy tỏ ý muốn thoát Trung của đa số dân Việt, các phần tử thân Trung Quốc phải cẩn thận dè chừng trong mọi hành động.

Đây là cơ hội mới hiếm hoi cho những lãnh đạo Việt Nam muốn rẽ qua một con đường mới.

Nhiều người Việt “tư hào” là mình sẽ không cần theo ai hay thoát ai. Việt Nam có con đường riêng của mình. Tôi hiểu đó là con đường xuống bãi sình lầy chúng ta đã tới đích sau 70 năm cố gắng. Không dựa trên bất cứ một triết thuyết cao siêu nào về chính trị hay kinh tế, tôi có thể đoan chắc là trên mọi chiến trường hay thương trường, trừ khi bạn là một siêu cường, hay một lãnh đạo,  bạn “phải” chọn phe. Không có sức mạnh nội tại mà đòi “trung lập”, thì sớm hay muộn, bạn sẽ bị cả hai phe tiêu diệt (nhiều khi chỉ cho bỏ ghét).

Tôi thực sự không biết các lãnh đạo Việt Nam sẽ chọn lựa như thế nào. Sẽ ngã về một nền kinh tế tư bản thị trường pháp trị của phương Tây như 98% các quốc gia khác đang làm; hay sẽ theo lời khuyên của hoàng đế cách mạng Fidel Castro đứng hẳn về một trật tự mới do Trung Quốc và Nga đang thiết lập? Dù thế nào, nó sẽ không ảnh hưởng gì đến sinh hoạt và công việc của tôi hay triệu người gốc Việt trên khắp thế giới.

Tôi chỉ biết rằng ân sủng của Ơn Trên đang cho Việt Nam một cơ hội mới. Như trong những video games, nút RESET đã được bấm. Quê hương và dân tộc đang chờ đợi.

Có thể chúng ta lại sẽ chẳng làm gì. Như suốt vài chục năm qua. Mọi người còn quá bận lo chuyện cá nhân và gia đình? Mong là định mệnh Việt Nam không hẩm hiu như vậy.



Alan Phan

PS: “ Không có quyết định nào khó khăn hơn, chịu nhiều thử thách hơn và khó đoán được thành quả hơn…là nắm cơ hội để đem đến một trật tự mới – There is nothing more difficult to take in hand, more perilous to conduct, or more uncertain in its success, than to take the lead in the introduction of a new order of things. – Niccolo Machiavelli)


Văn Việt

(qua Thư ngỏ ngày 28/7/2014 gởi Ban Chấp hành Trung ương và toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.)

Tiêu Dao Bảo Cự

Nhiều người có thể nhìn thấy Thư ngỏ ngày 28/7/2014 gởi Ban Chấp hành Trung ương và toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (sau đây gọi tắt là Thư ngỏ)của 61 đảng viên là một bước ngoặt lớn trong nội bộ những người cộng sản. Tiếp theo việc một số người tuyên bố từ bỏ Đảng Cộng sản có tính lẻ tẻ, cá nhân và lời kêu gọi bỏ Đảng Cộng sản, thành lập đảng mới của Lê Hiếu Đằng chưa được đáp ứng thì việc xuất hiện Thư ngỏ này quả là một bước đột phá.

Những đảng viên ký Thư ngỏ là những đảng viên kỳ cựu, từ hơn 20 cho tới 70 tuổi đảng, đã từng giữ những chức vụ quan trọng trên nhiều lãnh vực hoặc là những trí thức ưu tú có uy tín trong xã hội, đã kinh qua chiến đấu và góp phần xây dựng Đảng. Đây là cuộc tập hợp chưa từng có trước đây.

Những vấn đề Thư ngỏ nêu lên thực ra không mới, người ta, nhất là phía “lề dân” và ngay cả một số đảng viên cộng sản đã nói nhiều, nhưng đây là lần đầu một tập thể khá đông đảng viên minh nhiên nói ra. Hai vấn đề cốt tử được nêu lên là chuyển đổi thể chế từ toàn trị sang dân chủ và “thoát Trung”, bằng những lời xác quyết ngắn gọn, rành mạch. Thư ngỏ đã nhận định tình hình, phê phán và cảnh báo nghiêm khắc đối với đảng, đồng thời đưa ra những biện pháp cụ thể chứ không phải chỉ nói chung chung.

Những người ký Thư ngỏ đã không ngần ngại xác định, chỉ ra những sai lầm nghiêm trọng của Đảng Cộng sản và không né tránh trách nhiệm của chính mình. Đó là một thái độ trung thực, thẳng thắn và can đảm.

Cho đến nay, trên phạm vi toàn thế giới, nhiều quốc gia và người dân, ngay cả tại những nước từng theo chế độ cộng sản, đánh giá chủ nghĩa cộng sản, nhất các chế độ cộng sản, như một tội ác lớn chống lại loài người, đã giết vài chục triệu người và đày đọa hàng trăm triệu người khác trong cảnh khốn cùng, mất tự do. Tuy nhiên cũng đã có một thời kỳ, lý tưởng cộng sản được xem như khát vọng và lương tri của một nửa phần nhân loại. Không chỉ những công nhân dưới chế độ tư bản man dã, những người bị bóc lột, áp bức, nhân dân các nước bị nô lệ, mà cả những trí thức có lương tri cũng đã tán thành và đấu tranh cho lý tưởng cộng sản. Nhưng rồi thực tế lịch sử cho thấy khi những người cộng sản đã nắm được quyền lực, mọi sự đều đã quay ngược chiều cho đến khi sai lầm trở nên nghiêm trọng, tan rã toàn hệ thống và trở thành tội đồ của lịch sử. Đây là một bi kịch của chủ nghĩa cộng sản và cũng là bi kịch của nhân loại trong thế kỷ 20.

Ngay từ những ngày đầu thành lập và suốt lịch sử của mình, đảng cộng sản Việt Nam có không ít những người thực sự có lý tưởng cộng sản, chống áp bức bóc lột, vì độc lập dân tộc và đã hi sinh không ít máu xương cho cuộc chiến đấu của mình. Hiện nay trước tình hình suy thoái toàn diện của đảng, những người ký Thư ngỏ tự nhận là những đảng viên ĐCSVN trung thành với tâm nguyện vì nước vì dân khi vào Đảng” đã lên tiếng.

Đọc Thư ngỏ, người dân có thể hỏi và cũng là vấn đề đương nhiên được đặt ra cho chính người trong cuộc, là nếu đảng không đáp ứng những yêu cầu của quý vị (mà xem ra tình hình sẽ như thế) thì quý vị sẽ làm gì? Có thể nghĩ đến hai cách:

-  Tiếp tục cuộc vận động mạnh mẽ trong toàn đảng để lôi kéo những đảng viên còn “vì nước vì dân” làm một cuộc chuyển hóa mạnh mẽ trong Đảng. Đây là việc không hề dễ dàng với sức ỳ và sự cố kết của các thành phần bảo thủ đang nắm quyền lực và quyền lợi trong Đảng.

-  Ra khỏi Đảng hay thành lập một đảng mới và đứng về phía nhân dân tiến hành một cuộc đấu tranh cho tổ quốc và dân quyền. Đây cũng là việc mà một số trong thành phần những người ký Thư ngỏ đã và đang làm.

Với sự xuất hiện của Thư ngỏ, một số người dân và đảng viên có thể có chút hi vọng vì sự chuyển hóa trong Đảng liên quan đến vận mệnh đất nước. Tuy nhiên đại đa số người dân có thể tán thành và hoan nghênh nhưng không thể trông chờ hoàn toàn về điều này mà vẫn phải luôn tiến hành cuộc đấu tranh của mình, trước hết thông qua những hoạt động và tổ chức xã hội dân sự đang dần khởi sắc để đạt đến mục tiêu dân chủ hóa, phát triển đất nước và thoát vòng nô lệ của Trung quốc.

Còn về phía những đảng viên ký Thư ngỏ, những người tự nhận là vì dân vì nước và không chối bỏ trách nhiệm của mình về những sai lầm của đảng, nếu không tiếp tục làm gì tích cực tiếp theo, thì cũng chỉ khác với những đảng viên đang cầm quyền là họ đã về hưu.

Đà Lạt 31/7/2014

TDBC

Bạo động gia tăng cường độ tại Tân Cương

Đền thờ Idkah tại Kashgar : bạo động đã khiến hàng chục người chết trong tháng nhịn ăn ramadan của người Hồi giáo ở Tân Cương - AFP /Frederic J. Brown
Đền thờ Idkah tại Kashgar : bạo động đã khiến hàng chục người chết trong tháng nhịn ăn ramadan của người Hồi giáo ở Tân Cương - AFP /Frederic J. Brown

Thanh Phương

Các vụ đụng độ dữ dội ngay trước khi kết thúc tháng nhịn ăn ramadan của người Hồi giáo ở Tân Cương đã khiến hàng chục người chết và bị thương, thậm chí cả trăm người, theo một tổ chức bảo vệ người Duy Ngô Nhĩ, sắc tộc chính của vùng này. Bạo động ở vùng Tân Cương như vậy là đã gia tăng cường độ một cách đáng ngại.

Tối ngày 29/07 vừa qua, Tân Hoa Xã loan tin là một nhóm « trang bị dao », vào sáng 28/07 đã tấn công vào một đồn cảnh sát và các công sở tại huyện Shache. Cũng theo hãng tin này, lực lượng cảnh sát đã bắn hạ hàng chục kẻ tấn công vào thường dân và xe cộ. Đối với Tân Hoa Xã, đây là một vụ « tấn công khủng bố có dự tính ». 

Về phần phát ngôn viên của tổ chức Đại hội Duy Ngô Nhĩ Thế giới, trụ sở tại Đức, hôm qua cho biết là có đến cả trăm người chết và bị thương, trích dẫn các nguồn tin tại địa phương, nhưng nói rõ là họ không thể kiểm chứng các thông tin này. Tân Hoa Xã thì khẳng định có hàng chục người chết và bị thương, toàn bộ là thường dân người Duy Ngô Nhĩ hoặc người Hán, sắc tộc chính ở Trung Quốc. 

Theo như tường thuật của tờ Hoàn cầu Thời báo hôm qua thì bạo động ngày 28/07 dường như đã bùng phát từ một vụ kiểm tra an ninh. Do hôm đó có hội chợ, cho nên cảnh sát ở Tân Cương đã tăng cường kiểm tra. Vào sáng sớm, cảnh sát phát hiện trong đám đông có một số người mang theo chất nổ. Hai bên xô xát nhau và những tên « côn đồ » đó đã chạy thoát, rồi « kích động » những người khác tấn công vào các công sở và đồn cảnh sát. 

Nhưng phát ngôn viên tổ chức Đại hội Duy Ngô Nhĩ thế giới hôm qua yêu cầu Bắc Kinh chấm dứt việc « bóp méo sự thật » về vụ bạo động ngày 28/07. Phát ngôn viên này cho rằng chính quyền Trung Quốc không thể né tránh trách nhiệm về vụ này, vì rõ ràng đã có một sự sử dụng lực lượng vũ trang quá đáng. Ông yêu cầu phải tiến hành một cuộc « điều tra độc lập ». 

Sau các vụ bạo động ngày 28/07/2014, chính quyền trung ương ở Bắc Kinh đã quyết định « phong tỏa » Tân Cương, tăng cường lực lượng quân đội và cảnh sát, lập thêm nhiều chốt kiểm soát. Mạng internet bị đóng hoàn toàn, còn điện thoại thì bị nghe lén để ngăn chận người dân Tân Cương liên lạc với bên ngoài.

Tại Tân Cương, hiện có khoảng hơn 9 triệu dân Duy Ngô Nhĩ, tức là người Hồi giáo nói tiếng Thổ, mà một bộ phận từ lâu vẫn không chấp nhận sự cai trị của Bắc Kinh. Theo chính quyền Trung Quốc, chính những thành phần cực đoan trong số này đã gây ra các vụ tấn công đẫm máu ở Tân Cương và ngoài vùng này trong những tháng qua. 

Vụ bạo động hôm 29/07 diễn ra sau một vụ khủng bố tự sát vào tháng Năm 2014 tại một khu chợ ở Urumqi, thủ phủ vùng Tân Cương, khiến 43 người chết, trong đó có bốn người tham gia tấn công, và khoảng 100 người bị thương. 

Trước đó, vào tháng Ba, tại nhà ga xe lửa Côn Minh, tỉnh Vân Nam, 29 người đã bị hạ sát bằng dao và khoảng 140 người bị thương trong một vụ tấn công đầu tiên với tầm cỡ như vậy bên ngoài vùng Tân Cương. 

Đáp lại những cuộc tấn công này, chính quyền Bắc Kinh đã tiến hành một chiến dịch « chống khủng bố » quy mô lớn, xử tử ít nhất 13 người và bắt giữ hàng trăm người. Ấy là chưa kể những phiên xử hàng loạt, diễn ra chóng vánh, với những bản án nặng nề. 

Các tổ chức nhân quyền vẫn cho rằng chính là do Bắc Kinh thi hành chính sách đàn áp văn hóa và tôn giáo của người Duy Ngô Nhĩ, nên những căng thẳng và những vụ bạo động mới bùng phát như thế.

Biểu hiện mới nhất là chính quyền Trung Quốc đã hạn chế nghiêm ngặt người Hồi giáo Tân Cương tuân thủ tháng nhịn ăn ramadan, cấm công chức, giáo viên và sinh viên tham gia tháng ramadan. Nhiều người dân Duy Ngô Nhĩ vẫn tố cáo họ bị kỳ thị và không được hưởng lợi từ những đầu tư của Trung Quốc vào vùng Tân Cương.



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:
Chúc Mừng Năm Mới 2026 [01.01.2026 19:26]




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
Kiều bào phát triển quê hương [Đã đọc: 339 lần]
Tin tức thế giời mới nhât song ngữ Việt Anh để học sinh ngữ [Đã đọc: 334 lần]
Làm Giàu Bằng Đầu Tư Chứng Khoán [Đã đọc: 323 lần]
Siêu đô thị Đà Nẵng mở rộng, siêu đầu tư địa ốc làm giàu [Đã đọc: 321 lần]
Một châu Âu đứng trước ngã ba lịch sử [Đã đọc: 314 lần]
Cách mạng chiếc đòn gánh của phụ nữ VN [Đã đọc: 275 lần]
“NHỮNG NGƯỜI CUỐI CÙNG CÒN GIỮ LẠI CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN”** [Đã đọc: 268 lần]
Nghệ Thuật Làm Giàu Của Người Việt Hải Ngoại - “The Art of Wealth for Overseas Vietnamese”. [Đã đọc: 262 lần]
Làm thế nào đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa từ Trung Cộng [Đã đọc: 259 lần]
Cuba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cuba nghỉ [Đã đọc: 252 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.