 |
 |
Các chuyên mục |
|
Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm
Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal
Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat
Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục
Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói
Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí
Web links
Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo
Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng
Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP
|
|
|
|
Xem bài theo ngày |
|
| Tháng Sáu 2026 | | T2 | T3 | T4 | T5 | T6 | T7 | CN |
| 1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
| 8 |
9 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
| 15 |
16 |
17 |
18 |
19 |
20 |
21 |
| 22 |
23 |
24 |
25 |
26 |
27 |
28 |
| 29 |
30 |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Thống kê website |
|
 |
Trực tuyến: |
2 |
 |
Lượt truy cập: |
29338182 |
|
|
|
|
| |
|
 |
 |
|
|
|
Đỉ điếm còn yêu nước hơn lãnh đạo CSVN
10.07.2014 00:34

Toàn dân Việt KHÔNG BÁN NƯỚC Những ngày Miền Nam hấp hối Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu hiệu triệu Quốc dân Lập đi lập lại trên hệ thống truyền thông Quốc gia rằng: ” Đất nước còn – Còn tất cả Đất nước MẤT – MẤT tất cả! “ Câu khẩu hiệu này được khai triễn trong bài thơ sau: ĐẤT thiêng của Tổ Tiên ta NƯỚC thiêng là nước CỘNG HÒA VIỆT NAM CÒN cộng sản, còn dân nghèo khổ CÒN máu đào, còn nợ non sông TẤT nhiên con cháu Lạc Hồng CẢ đời dâng hiến cho non sông này ĐẤT còn đó dân gầy trơ xác NƯỚC còn kia ngơ ngác muôn dân MẤT cửa nhà, mất người thân MẤT dần lãnh thổ, nhưng dân vẫn còn TẤT nhiên muốn bảo tồn nước Việt CẢ toàn dân phải diệt cộng nô Bắt đầu từ người đàn ông gánh nước hôm 8/6/2014 tại Sài Gòn với biểu ngữ “Nước nhà không bán” và “Mất nước là chết”, các hoạt động ủng hộ ý tưởng mang tên “Không bán nước” sau đó liền được hưởng ứng và lan tỏa đến Nha Trang, Hải Phòng. Trong tuần qua, 2 bloggers Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (Mẹ Nấm) và Phạm Thanh Nghiên đã xuống đường cùng thông điệp “Không bán nước” và mời gọi người dân uống nước miễn phí. ( CTV – Danlambao ) Câu thơ khởi đầu câu chuyện Nước mất hay còn của Nguoiconghoa rằng: “ ĐẤT thiêng của Tổ Tiên ta NƯỚC thiêng là nước CỘNG HÒA VIỆT NAM “ Câu thơ thật đơn sơ, mười tám triệu dân Miền Nam ngày xưa dều biết y như vậy. Còn như chuyện ngày nay, đâu phải bây giờ việt gian cộng sản mới bán Nước. Chúng bán Nước đã từ lâu, kể từ ngày già Hồ bác cụ xè tay nhận lãnh súng đạn Mao tàu, nói là để chống thực dân Pháp giành Độc lập Dân tộc mà kỳ thật là làm xung kích mở đường cho cộng sản Nga – Hoa tiến xuống nhuộm đỏ Đông Nam Á. Còn như câu chuyện Đồng vẫu ký cái công hàm bán hai Quần Đảo Hoàng Sa – Trường Sa cho chệt thì cũng y như vậy. Đâu phải một mình Đồng vẫu tự tung, tự tác mà được. Mọi sự cũng từ Hồ tặc và Bộ Cá Tra Ba Đình chủ sử. “ Cộng sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá “. Lời tự thú của tổ sư cộng sản Gorbachev là đúng y bong: Hồ và Đồng vẫu cư đinh ninh chúng chơi trò gian xảo, dối trá “ bán da gấu “ Hoàng – Trường Sa khi ấy thuộc Chủ quyền của Việt Nam Cộng hòa, nghĩa là bán khống tài sản thuộc chủ quyền của người khác cho chệt thì cái văn tự bán đảo ấy vô giá trị. Chẳng ngờ rằng chú chệt cộng còn là kèo trên của bọn đàn em An nam. Chúng cũng biết như vậy nhưng vẫn cứ cầm đó chờ thời. Và ngày nay thời cơ đã tới. Năm 2011, chú chệt trưng cái công hàm bán nước ấy ra trước cuộc Hội thảo Quốc tế New York. Năm sau chúng ra văn bản chánh thức lập Hoàng Sa – Trường Sa thành Huyện Tam Sa. Bọn việt cộng ú ớ, chiếu lệ, rồi huề. Giờ đây, tàu khựa rấn tới, đưa giàn khoan dầu vào sâu Vùng Đặc Quyền Kinh Tế VN tới 81 hải lý mà bọn việt gian cộng sản chỉ biết xua cảnh sát biển và ngư dân ra đương đầu với tiểu hạm đội chệt! Bọn bán nước việt cộng lâm cảnh há họng mắc quai! Đảo đã ký bán rồi làm sao nói năng gì được? Thôi thì Đại cuộc để cho dân liệu tính: Nội gian việt cộng bán nước, nhưng dân Việt quyết KHÔNG BÁN NƯỚC. Và như câu thơ kết của Nguoiconghoa: “ MẤT dần lãnh thổ, nhưng dân vẫn còn TẤT nhiên muốn bảo tồn nước Việt CẢ toàn dân phải diệt cộng nô “ Phải rồi, Toàn dân vùng lên đánh đuổi bọn bán nước cầu vinh việt cộng, giành lại Quyền Tự Quyết Dân Tộc, Giành lại Chánh Quyền chính danh, chính thống, Giành lại Độc Lập Dân Tộc và Quyền Sống, Quyền Làm Người. Đó là con đường Duy nhất Đúng vào lúc nầy đây: TOÀN DÂN VIỆT QUYẾT KHÔNG BÁN NƯỚC Dân bán đồ cỗ chống Tàu cứu nướcAi đã lạc vào “thế giới đồ cổ” giữa Sài thành này đều say mê, choáng ngợp trước sức hút và giá trị của nó.Ông Hoàng Văn Cườngđược giới chơi cổ vật mệnh danh là “vua đồ cổ Sài Gòn” bởi số lượng cổ vật ông có thuộc loại “khủng”, với đủ loại cổ vật có niên đại từ vài trăm năm như thời các triều Nguyễn, thời Quang Trung… hay cổ vật có niên đại cả ngàn năm ở thời Óc Eo, Sa Huỳnh, Đông Sơn… Có những món đồ sứ men màu lam, chỉ dụ của vua hay những cây đèn dầu được chạm khắc tinh vi, sắc sảo. Những bộ sưu tập độc sắc (chỉ một màu trắng) của các triều đại Tống, Minh, Nguyên, Thanh (Trung Quốc)… Trong đó, nhiều cổ vật có giá trị “thiên hạ vô đối” như chiếc sập có tuổi đời 300 năm của một viên quan người Huế có giá trị khoảng 40 tỷ đồng; những chiếc long sàng của vua Dục Đức, của Hoàng Thái hậu Từ Dũ; bộ sưu tập 25 cây súng Nhật được chế tạo từ năm 1600 có báng súng được làm bằng ngà voi… Do số lượng cổ vật sưu tầm lớn nên ông Cường phải chia làm 3 nơi để trưng bày, triển lãm tại một căn nhà ở trung tâm quận 1 và hai nơi khác ở quận 7 và quận 9 (TPHCM).  Ông Hoàng Văn Cường - người được giới chơi cổ vật mệnh danh là "vua cổ vật Sài Gòn" bởi số lượng cổ vật ông sưu tầm có gần 2.000 hiện vật và giá trị khoảng 100 triệu USD “Cổ vật gắn với cuộc sống hằng ngày của tôi. Nó như một món ăn tinh thần không thể thiếu. Từ lúc biết chơi cổ vật đến nay đã 46 năm sưu tầm, tôi chỉ biết mua chứ không bán. Bởi mỗi cổ vật đều có giá trị riêng và ý nghĩa khác nhau” - "ông vua đồ cổ" đất Sài thành chia sẻ. Chưa bao giờ ông nghĩ sẽ bán đi cổ vật hoặc tặng một người nào nhưng kể từ khi Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trên vùng biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, ông quyết định sẽ bán đấu giá số cổ vật hiện có để ủng hộ 70% tổng giá trị cho quỹ quốc phòng và quỹ hỗ trợ các ngư dân bám biển, chỉ giữ lại 30% cho gia đình. Ông Cường tâm sự: “Khi tôi quyết định đem 70% giá trị gia sản của mình ủng hộ cho quỹ quốc phòng, tất cả thành viên trong gia đình đều đồng ý vì đây là việc rất đáng làm vì chủ quyền biển đảo của Tổ quốc”. Theo giới chơi cổ vật, tổng số cổ vật của ông Cường có giá trị khoảng 100 triệu USD.   Chiếc sập có tuổi đời 300 năm của một viên quan người Huế mua lại từ Trung Quốc. Chiếc sập này được làm bằng gỗ Lệ Chi với những đường chạm trổ tinh xảo. Đã có người trả 2 triệu USD nhưng ông Cường không bán.  Trong những món đồ giá trị của ông Cường có 9 chiếc long sàng (giường của vua). Những món đồ này đều có giá trị “khủng” với giá 40 tỷ đồng.    Bộ “Cành vàng lá ngọc” được làm rất tinh xảo với nhiều chi tiết khó bằng các loại chất liệu như ngọc, mã não, san hô, hổ phách từ đời nhà Thanh, Trung Quốc có giá trị rất lớn được nhiều người chơi cổ vật say mê.  Ống đựng bút bằng ngà voi cũng có từ thế kỷ thứ 18 với giá trị “khủng”.  Mã đáo thành công có chất liệu làm bằng ngà voi được chạm trổ rất tinh xảo.   Nhiều chum, hũ có giá trị từ vài chục đến vài trăm triệu đồng của "ông vua đồ cổ Sài Gòn", trong đó có những cổ vật men sứ màu lam hay bộ sưu tập độc sắt (chỉ một màu trắng).  Nhiều bình, bát, dĩa có niên đại cách đây cả trăm năm. Có cổ vật có niên đại gần ngàn năm.  Bộ bình ly uống trà có niên đại rất cao nó được làm bằng sứ. Ông Cường cho biết ngoài giá trị về thời gian, khi pha trà vào bình này “uống có hương vị rất thơm và đậm đà”.   Nhiều bình, chén có hoa văn rất tinh tế. Giá trị của nó thuộc vào loại “khủng”.  Bộ sưu tập đèn bằng pha lê trong suốt của "vua đồ cổ Sài thành"    Những con vật thân thương, gắn liền với cuộc sống nông thôn Việt Nam cũng nằm trong bộ sưu tập của "vua đồ cổ".  Tẩu hút thuốc của các vị quan, chức sắc ngày xưa. Có tẩu làm hoàn toàn bằng ngọc.  Chiếc chuông cổ có niên đại cách đây hơn 200 năm. Ông Cường kết duyên với sưu tầm cổ vật cách đây 46 năm và thừa hưởng “máu” sưu tầm cổ vật của ông nội và cha.  Bộ sưu tập về tượng các cô gái thời xưa. Ngoài điểm trưng bày là căn nhà ông đang ở, hiện tại ông Cường còn có 2 địa điểm trưng bày cổ vật khác ở quận 7 và quận 9. Số lượng cổ vật khổng lồ này được ông sưu tập từ khắp nơi, cả trong và ngoài nước.  Từ lúc biết chơi cổ vật đến giờ, ông Cường chỉ biết mua chứ không bán món nào. Bởi theo ông mỗi cổ vật đều có ý nghĩa và giá trị rất riêng.  Nhiều món cổ vật của ông Cường được giới chơi đồ cổ thèm muốn nhưng không được. Có người đưa tấm séc để ông tự ghi số tiền vào nhưng ông vẫn nhất quyết không bán. Trong ảnh là bộ vòng ngọc, trang sức của cô gái trong gia đình quyền quý ngày xưa. Tổng giá trị cổ vật của ông Cường theo giới chơi đồ cổ đánh giá khoảng 100 triệu USD.
Trước việc Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển đảo Việt Nam, như nhiều người dân khác ông Cường rất quan tâm. "Khi nghe Mặt trận Tổ quốc TP.HCM phát động chương trình vì biển đảo quê hương, tôi quyết định sẽ bán đấu giá số cổ vật sưu tầm được để ủng hộ 70% tổng số giá trị cho quỹ quốc phòng, còn lại chia cho con cái, bà con dòng họ còn nhiều khó khăn", "vua đồ cổ" Hoàng Văn Cường chia sẻ.
Chửi Mỹ và lén lút mua thẻ xanh đi MỹTrần Mạnh Trung (Cán bộ Tuyên huấn hưu trí) - Vụ Dương Chí Dũng lộ ra quá trình trốn chạy và thiên hạ mới ngã người. Dũng có visa vào Mỹ từ đời tám hoánh nào. Buôn bán làm ăn thì Dũng bắt tay với Nga, với Tàu nhưng chuẩn bị lúc sa cơ thì chuồn sang Mỹ. Đảng viên, gia đình cách mạng truyền thống đấy. Có phải là bọn con em VNCH đâu mà tính nước đi Mỹ từ lâu thế...
*
Điên cuồng chửi Mỹ, đứng đầu là Hồ Thu Hồng - tức blog Beo. Bà Beo chửi Mỹ can thiệp vào nhân quyền Việt Nam vô lý. Bà chửi nghị sĩ Mỹ ngu đần, hám quyền chức. Mỗi khi phái đoàn nhân quyền của Mỹ hay Hạ Nghị Viện Mỹ nhắc đến vấn đề nhân quyền Việt Nam là y như lần đấy có mặt bà Beo đăng đàn chửi bới, mạt sát Mỹ, đưa ra những luận điệu, dẫn chứng mà cơ quan an ninh hay dùng.
Vì sao bà Beo chửi Mỹ và có những luận điệu, dẫn chứng ấy. Vì bà là cánh tay truyền thông của cơ quan an ninh, đứng đầu là tình nhân Nguyễn Văn Hưởng, cho nên bà phải phụ họa với an ninh và có những tin tức bên an ninh cấp cho để viết.
Thế nhưng khi Hưởng buộc phải về hưu, bà Beo suýt bị truy tố tội tham nhũng tiền khi làm TBT tờ báo do bà ta quản lý. May một phần nhờ có dàn xếp của tình nhân, phần cũng là thân phận đàn bà, người ta đã châm chước xá tội cho bà Beo.
Đáng lẽ bà Beo phải cảm ơn cái nghĩa tình ấy, thế nhưng bà nhảy tót đi Mỹ và chửi bới như thường. Thì ra bà Beo Hồ Thu Hồng đã sắm cho mình thẻ xanh ở bển, nơi mà chứa đầy bọn ''rân chủ'' mà bà vẫn miệt thị gọi lúc tại chức. Hóa ra mảnh đất Mỹ ấy tốt lành không phải như bà Beo vẫn chửi mọi khi. Tốt cả người, tốt cả đất, tốt cả chính sách. Phải thế bà Beo mới gửi con mình và gửi thân già mãn kinh đến nơi như thế chứ.
Vụ Dương Chí Dũng lộ ra quá trình trốn chạy và thiên hạ mới ngã người. Dũng có visa vào Mỹ từ đời tám hoánh nào. Buôn bán làm ăn thì Dũng bắt tay với Nga, với Tàu nhưng chuẩn bị lúc sa cơ thì chuồn sang Mỹ. Đảng viên, gia đình cách mạng truyền thống đấy. Có phải là bọn con em VNCH đâu mà tính nước đi Mỹ từ lâu thế.
Rồi lại vụ đại lừa đảo Huyền Như mấy nghìn tỷ bằng hàng trăm triệu usd, lòi ra mới thấy chỉ cần bỏ ra 1 phần mấy trăm ấy là đã có thẻ xanh định cư tại bọn tự bản đế quốc thối nát mà ta vẫn chửi hàng này.
Từ con thủ tướng đến bà tổng biên tập tờ báo quèn đều được gửi gắm thẻ xanh bên Mỹ cả. Sự thật đấy bà con ạ. Giữa con thủ tướng và con của Beo Hồng còn nhiều con cái của các vị khác. Không tin bà con cứ đến lãnh sự quán các bang Hoa Kỳ, vào những ngày lễ lạt gì đó là thấy nay cả đám lúc nhúc con của cán bộ cấp ủy viên trung ương. Đặc biệt là con của cả nhiều vị tướng an ninh, công an có mặt trong đó nữa.
Một số bọn này đã có cơ sở, điều kiện để định cư. Có công ty, cửa hiệu kinh doanh. Một số khác thì đang đi học tự túc. Thử hình dung xem bọn cán bộ và con cháu cán bộ này lấy tiền đâu ra để kinh doanh, để tự túc học?
Tiền của đất nước, của nhân dân cả đấy.
Chúng lấy tiền của nhân dân ta. Chửi Mỹ cho nhân dân ta nghe. Rồi khi có sự, chúng chuồn êm sang Mỹ với số tiền chúng lấy được của nhân dân ta.
Chúng bảo Tàu là bạn, chúng bảo nhân dân ta phải kết tình nghĩa với Tàu. Chúng nói Mỹ là kẻ thù, chúng ta phải cảnh giác, xa lánh.
Thế nhưng chúng lại không sang Tàu ở, chúng lại đi Mỹ ở mới lạ làm sao?
Đến bao giờ những luận điệu xảo trá này của bọn chúng mới bị nhân dân ta vạch mặt? Chỉ khi đó chúng ta mới mong được đất nước có tương lai tươi sáng còn không thì chúng ta vẫn bị lừa bịp, biết mà không dám phản bác, còn không thì chúng ta vẫn tiếp tục ăn đồ độc hại của Tàu, sống trong cảnh o bế của Tàu. Còn bọn chúng, những đứa to mồm chửi Mỹ lại đang sống phè phỡn bên Mỹ. Lúc chúng gặm gà rán, khoai tây sạch. Chúng sẽ cười nhân dân ta là một lũ ngu.
Muốn dân chủ hóa, chống ngoại xâm phải chôn xác chết cộng sản
Le Nguyen (Danlambao) - Cộng sản đã vỡ trận, tan tác ngay từ khi cuộc cách mạng dân chủ từ những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, quét sạch hệ thống tổ chức nhà nước xã hội chủ nghĩa làm sụp đổ dây chuyền từ Đông Âu tràn sang giật sập thành trì cộng sản, liên bang Nga Sô Viết. Chính từ đó chủ nghĩa cộng sản đã chết... chết từ trên lý thuyết “...thế giới đại đồng... làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu... tiến lên thiên đường cộng sản sẽ không còn cảnh người bóc lột người...” cho đến chết từ trong thực tiển đời sống. Thực tế, cho đến ngày nay không còn tên cộng sản nào “...là vô sản chuyên chính... là đội quân tiên phong trung thành với giai cấp công nhân, nông dân...”
Cụ thể là qua hình ảnh của đám quan chức các cấp của cộng sản Tàu - Việt, đứa nào cũng nhà lầu xe hơi, tiền đô, tiền mao - hồ rủng rỉnh, của chìm của nổi, cất dấu rải rác từ trong nước cho đến theo chân con cháu của chúng đi vào các nước tư bản “bóc lột” không hề ít. Đặc biệt những tài sản kết sù của chúng có được không qua quá trình lao động cật lực chân chính của bàn tay tài năng lẫn khối óc trí tuệ dựng nên mà đa phần do bóc lột, ăn cắp, ăn cướp của dân, của nước để có được!
Chính cái chết lý thuyết đến cái chết trong thực tiễn đời sống cộng sản nên đã không ít cá nhân đấu tranh không đồng quan điểm với những cá nhân tiếp tục giữ quan điểm chống cộng triệt để với suy nghĩ, dẫn chứng lý luận là“cộng sản có tồn tại đâu để mà chống?” Chuyện cộng sản đã chết trên lý thuyết lẫn trong thực tế là sự thật, không điều chi để bàn cãi và tại sao chúng ta vẫn tiếp chống cộng? Chúng ta vẫn tiếp tục chống cộng bởi vì tàn dư cộng sản, vì cộng sản đã chết nhưng cái xác, chính xác hơn là cái xác thối của cộng sản Việt Nam vẫn tồn tại, vẫn còn nguyên đó với nhiều di họa nghiêm trọng như:
Một là hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước độc tài độc đảng - tổ chức cai trị kiểu cộng sản là một tổ chức phản động, tàn dân hại nước đi ngược lại chiều tiến hóa của nhân loại, nó không đem lại ấm no hạnh phúc, nó chỉ gieo rắc bất công nghèo đói, khổ đau cho người dân và vẫn tồn tại cần phải loại trừ. Lẽ khác tổ chức nhà nước theo mô hình dân chủ với tam quyền phân lập, sinh hoạt chính trị đa đảng, đa nguyên theo thời gian chứng minh chính thể này hữu hiệu, có khả năng giúp cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, vẫn chưa có ở Việt Nam.
Hai là tổ chức cai trị kiểu cộng sản đã sản sinh ra lớp người phi nhân tính, thiếu nhân cách lẫn tư cách, giỏi dối trá xảo quyệt nhưng dư thừa hèn nhược nắm giữ những chức vụ trong các cơ quan ban, bộ, ngành nhà nước cũng như trong các lực lượng vũ trang, bán vũ trang, công an, quân đội làm thanh gươm lá chắn, làm bệ đỡ cho chế độ. Chính lớp người phi nhân tính này, vừa là lá chắn, vừa là công cụ trấn áp các tiếng nói yêu nước chống bất công, chống độc tài, chống hành động tay sai bán nước để bảo vệ xác chết cộng sản, cần phải loại bỏ.
Ba là cộng sản đã chết nhưng cái loa tuyên giáo tổ chức tuyên truyền dối trá kiểu cộng sản vẫn chưa chịu chết và hệ thống loa đài vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục dở chiêu trò lừa gạt nhân dân Việt Nam, mưu cầu quyền lực, quyền lợi cho cá nhân phe nhóm. Bên cạnh loa đài, là tổ chức an ninh mật vụ kiểu cộng sản vẫn chưa chịu chết, nó vẫn còn đe dọa, ám hại, khủng bố tinh thần những người yêu nước can đảm đứng lên đấu tranh vạch trần tội ác cộng sản, chỉ mặt tàn dư cộng sản nuôi dưỡng giặc nội xâm, cấu kết với giặc ngoại xâm phá tan hoang đất nước của tổ tiên nòi Việt.
Bốn là chế độ cộng sản đã sản xuất ra những trí thức “mác, lê, búa, liềm” đúng y như lời tên đồ tể Mao phán “trí thức không bằng cục phân” và chúng độc chiếm quyền lực chính trị thay nhau truyền đời cai trị, thay nhau ngồi vào những vị trí then chốt, tối quan trọng của hệ thống tổ chức nhà nước. Với năng lực, lý luận “mác, lê, búa, liềm” vô nhân tính, độc ác, dối trá nên loại trí thức này đã tiếp tay cho bọn lãnh đạo tay sai bán nước cầu vinh phá tan hoang đất nước và đưa người dân xuống vùng trũng ngu dốt, đói nghèo, lạc hậu, chậm tiến không lối thoát.
Hẳn ai cũng biết, bốn điểm vừa nêu không phải là tất cả hậu quả do cộng sản tạo ra. Cộng sản đã chết nhưng di họa, tàn dư của cộng sản vẫn tồn tại và cộng sản Việt Nam vẫn chưa chịu chôn cái xác thối “Marx - Lenin, Mao- Hồ”. Giống như chúng chẳng chịu chôn cái xác của lãnh tụ Hồ Chí Minh nằm trong lăng ở Ba Đình - lý do chúng không chịu chôn là để phục vụ nhu cầu tuyên truyền “mê tín” nhằm thu lợi trên xác chết của ông Hồ và cái xác hoang tưởng cộng sản. Có lẽ không còn ai mơ hồ về xác chết, ai cũng hiểu xác chết nào không thối rửa, không gây ô nhiểm, xác chết để càng lâu hậu quả của nó càng nghiêm trọng và chúng ta không nên chủ quan nghĩ rằng cộng sản đã chết không cần phải “bận tâm” đến chúng nữa?
Đấu tranh thực hiện dân chủ hóa Việt Nam, không chú ý đến tàn dư cộng sản, xác chết cộng sản là thiếu sót lớn bởi cộng sản đã chết nhưng những kẻ mù đảng vẫn còn đặt trái tim không đúng chỗ. Họ vẫn núm níu không muốn chôn cộng sản, một phần do cảm tính, phần khác do không biết rõ bộ mặt thật của cộng sản, nhất là chưa hoặc giả vờ chưa biết về bác, về đảng cộng sản Việt Nam. Do đó mục tiêu đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền là đúng, là phù hợp với trào lưu dân chủ hóa của nhân loại thời hiện đại. Hiện nay có nhiều dân tộc đấu tranh chống độc tài, độc ác nhằm thực hiện dân chủ nhưng họ không nhấn mạnh, không nhắc nhở đến yếu tố cộng sản vì cộng sản không tồn tại, không còn là mối nguy đối với đất nước, dân tộc họ.
Thế nhưng với Việt Nam, những cá nhân, lực lượng, đảng phái đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền nhằm thiết lập thể chế chính trị dân chủ tiến bộ, chúng ta không nên lơ là, không thể tách rời đấu tranh chống tàn dư cộng sản, dọn dẹp xác chết cộng sản nằm quá lâu trên đất nước Việt Nam vì di họa cộng sản nghiêm trọng vẫn còn nguyên. Thế cho nên trong đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền chúng ta vẫn cần phải vạch trần bộ mặt gian manh độc ác của bác, đảng cũng như phải bẻ gãy mọi luận điệu tuyên truyền dối trá của đám tàn dư cộng sản cho đến khi nào tàn dư cộng sản, xác chết cộng sản biến khỏi đất nước Việt Nam.
Hiện nay hẳn ai cũng đều biết, không kể những người mê đảng, phục vụ cho chế độ mà ngay cả không ít người cộng sản “phản tỉnh” đấu tranh cho dân chủ biết rõ chủ trương, đường lối của đảng cộng sản là sai lầm nhưng trong suy nghĩ, trong thâm tâm của họ vẫn tin bác là đạo đức, đảng lãnh đạo là tài tình, sáng suốt và vẫn tin rằng không có bác, đảng thì Việt Nam không có “độc lập, tự do(?)” Mặc dù trong số họ đã tiếp cận, đã đọc được nhiều tài liệu, nhiều bài viết chỉ ra sự thật trần trụi về bác đảng, về mô hình tổ chức cai trị phản động kiểu cộng sản và nhiều dân tộc bị thực dân đế quốc đô hộ không có bác đảng, không khởi động chiến tranh vẫn giành dược độc lập, tự do.
Sự thật lịch sử đã phơi bày nhưng dường như vẫn không lay chuyển được lòng tin mù quáng của họ đối với bác, với đảng, với con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa. Họ tin rằng con đường phục vụ cho cộng sản là đúng đắn và họ vẫn tin rằng chỉ có những lãnh đạo cộng sản đương thời là sai, xã hội chủ nghĩa suy thoái chỉ là bước lùi tạm thời, “ta nhất định thắng địch nhất định thua!”
Những người này là ai? Họ là những người tự hào với danh xưng bộ đội cụ hồ, với lão thành cách mạnh, là cựu quan chức cao cấp của đảng, nhà nước... họ lên án mạnh mẽ tiêu cực, hô hào chống tham nhũng, chống xấu ác, chống bọn ăn không chừa thứ gì của dân, chống kẻ làm nghèo đất nước làm khổ nhân dân, chống những tên hèn với giặc ác với dân... họ mạnh miệng đòi đảng thực hiện dân chủ hơn, dân chủ nữa. Thật tội nghiệp, phản kháng của họ, đấu tranh cho dân chủ của họ rất vớ vẩn khi trong đầu tư duy, kêu ca về việc sửa đổi luật lệ bầu bán trong đảng như thế là “một bước lùi dân chủ trong đảng”. Thực chất là đảng cộng sản sửa đổi luật lệ bầu bán chỉ nhằm củng cố, gia tăng độc tài chứ cộng sản có dân chủ đâu để mà tiến với lùi!
Không chỉ riêng thành phần bộ đội cụ hồ, lão thành cách mạng, cựu quan chức đảng nhà nước, cựu ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản... lên tiếng đòi dân chủ nhưng không dám vượt lên, không dám bước qua ngưỡng cửa “bác, đảng”. Động thái đấu tranh dân chủ “lững lơ” loại này còn nằm trong tư tưởng của thành phần trí thức, nhà báo, nhà văn, nhà thơ... chỉ dám phản kháng, chống tiêu cực trước mắt chứ chưa can đảm chỉ thẳng vào nguyên nhân của mọi nguyên nhân tiêu cực, tai hại làm tan hoang đất nước là do bác đảng gây ra.
Đấu tranh cho dân chủ không dứt khoát, lững lơ của thành phần liên quan đến đảng, nhà nước cộng sản có nhiều nguyên nhân, trong đó có hai nguyên nhân chính: một là họ không hiểu sâu sắc, hiểu không đủ, không đúng về bác đảng, về chủ nghĩa xã hội, về lý thuyết cộng sản nên họ vẫn sống trong ảo tưởng cộng sản và tin rằng chế độ cộng sản sẽ mang đến dân chủ cho họ trong tương lai; hai là họ biết rõ bộ mặt thật của bác đảng, của chủ nghĩa cộng sản nhưng do tư duy giới hạn và do cảm tính lấn át lý tính khiến cho họ ảo tưởng, tin rằng lý tưởng cộng sản, chế độ cộng sản có thể sửa đổi để mang đến ấm no, hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam nên họ vẫn tôn thờ xác chết cộng sản!
Chính cái xác cơ cấu tổ chức cai trị kiểu cộng sản và thành phần tàn dư cộng sản vừa bàn đến là lực cản không nhỏ cho tiến trình dân chủ hóa Việt Nam. Do đó đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền thật sự hiệu quả, thành công không thể không dọn dẹp tàn dư cộng sản, không đem chôn hoặc đem đốt cái xác thối cộng sản được. Tàn dư cộng sản, xác chết cộng sản là lực cản rất lớn cho tiến trình dân chủ hóa Việt Nam, chừng nào chưa dọn dẹp tàn dư cộng sản, chưa chôn đốt xác chết cộng sản là công cuộc đấu tranh giải trừ độc tài, độc đảng thực hiện tự do, dân chủ, nhân quyền vẫn còn vướng mắc cản trở và những vướng mắc, cản trở lẽ ra không nên có.
Do đó đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền cùng lúc cũng là đấu tranh loại trừ độc quyền lãnh đạo của đảng cộng sản “giả danh”. Muốn đạt được hiệu quả, điều kiện tiên quyết là phải tẩy uế tàn dư cộng sản và dứt khoát là phải chôn, đốt cái xác thối cộng sản đi, bằng không thây ma mục rữa này vẫn còn gây ô nhiễm cho môi trường sống, truyền nọc độc, truyền bệnh độc ác, dối trá cho những ai ngây thơ tiếp cận với nó.
Lẽ khác tàn dư cộng sản biến tướng còn độc hại hơn “nguyên thủy” cộng sản chuyên chính. Điển hình là tàn dư Tàu Cộng biến tướng thành bá quyền Đại Hán và tàn dư Hàn Cộng thì trở nên hung hăng, độc tài, độc ác dã man, kinh sợ hơn bản chất cộng sản chuyên chính vốn có. Về xác chết cộng sản cũng nguy hiểm không kém tàn dư cộng sản bởi xác chết không thể đối thoại cũng như xác chết không có khả năng lắng nghe, không khả năng hiểu người sống nói gì?
Chính vì lẽ đó nên đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền Việt Nam không thể tách rời đấu tranh giải trừ cộng sản, là dọn sạch tàn dư cộng sản và chôn đốt thây ma, cái xác chết chưa chôn cộng sản Việt nam. Nhất là nếu không xóa sạch tàn dư cộng sản, không chôn đốt cái xác cộng sản thì không thể dân chủ hóa và không dân chủ hóa thì không thể ngăn chận, phá vỡ âm mưu thôn tính Việt Nam của Tàu Cộng. Do đó thực hiện dân chủ cho Việt Nam cũng là giải pháp ngăn chận âm mưu xâm lăng của loài giặc dữ, bá quyền Đại Hán.

THƯ TÂM TÌNH CỦA HUỲNH TẤN MẪM GỞI CÁC BẠN THANH NIÊN – SINH VIÊN – HỌC SINH Sài Gòn, ngày 4 tháng 7 năm 2014 Cùng các bạn Thanh niên-Sinh viên-Học sinh thân mến,
Tôi là Huỳnh Tấn Mẫm, không mang một danh phận nào trong guồng máy công quyền hay một địa vị xã hội, tôi chỉ là một thanh niên – nếu các bạn cho tội dùng từ này – một thanh niên nhiều tuổi, và hơn thế, là một công dân có ý thức trách nhiệm về tình hình đất nước hiện nay. Tôi tiếc là không còn nhiều thời gian và sinh lực như các bạn, để có thể cống hiến một cách xứng đáng và trọn vẹn cho một vận hội mới đang đến với dân tộc. Như các bạn đã biết, sự kiện giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981 của Trung Quốc hiện diện hai tháng nay ở vùng lãnh hải Việt Nam, không phải là sự kiện lớn đơn thuần, mà nó biểu hiện một tiến trình vô cùng hệ trọng đối với sinh mệnh của Tổ Quốc chúng ta, nó là màn mở đầu công khai cuộc xâm lược của Trung Quốc vào lãnh thổ, lãnh hải nước ta trong kế hoạch có quy mô thôn tính cả Biển Đông, từng bước khống chế toàn vùng Đông Nam Á, để thực hiện mộng siêu cường bá chủ không giấu diếm của mình. Nó còn bộc lộ cho toàn dân ta biết mối quan hệ mờ ám được che giấu lâu nay dưới các từ ngữ và khẩu hiệu đẹp đẽ của Đảng Cộng sản Trung Quốc đối với Việt Nam ta. Nhưng đồng thời cũng cần hiểu rằng đây là vận hội mới cho dân tộc, vì nó mang ý nghĩa thức tỉnh toàn diện của một giai đoạn lịch sử, bởi toàn bộ sự thật đã được phơi bày. Việt Nam là một nước nhỏ về quy mô dân số và diện tích so với họ, lại chậm phát triển về kinh tế, khoa học kỹ thuật, về công nghệ thông tin, công nghệ quân sự… lại đúng vào lúc xã hội đang suy yếu, kinh tế bên bờ vực thẳm, tầng lớp lãnh đạo thì suy thoái tư tưởng- đạo đức – lối sống, tham lam, nhũng nhiễu đầy khắp. Thử hỏi trong tình thế đó làm sao có thể đối địch trước một tham vọng vĩ cuồng như thế của đối phương? Câu hỏi ấy đang xoáy vào lòng mỗi người dân nước ta, và chúng ta thật sự day dứt về câu trả lời. Dù chúng ta yêu hòa bình bao nhiêu, chân thành mong muốn hữu nghị bao nhiêu, tất cả cũng bằng thừa, nếu không nói là tự huyễn hoặc lấy mình, trước tham vọng của chủ nghĩa Đại Hán phương Bắc. Bành trướng Bắc Kinh đang tiến công chúng ta ở thế áp đảo về bạo lực, thế thượng phong về kinh tế, đánh phủ đầu ta về ngoại giao tuyên truyền. Quan chức cao cấp của Trung Quốc – Dương Khiết Trì – đến nước ta, đưa ra một thông điệp với tư cách cao ngạo của một nước lớn, thể hiện mối quan hệ bất bình đẳng không phải đột nhiên mới có: yêu cầu ta chấm dứt cái gọi là “quấy nhiễu” chúng ở giàn khoan HY981, đe dọa nếu ta kiện chúng ra tòa án quốc tế, ta sẽ nhận lấy “hậu quả” khôn lường. Nếu ta “ngoan cố” không hàng phục, chúng sẽ phong tỏa kinh tế, phong tỏa bờ Biển Đông, và mọi tai họa khác sẽ xảy đến. Chúng ngăn cản ta không được mở rộng liên minh quân sự với Mỹ và các nước khác, bởi làm như thế chúng quy là ta mang tội “khiêu khích” chúng. Các bạn thử nghĩ xem. Họ bao vây và khống chế ta, nhưng không cho ta la lên để nhờ người can thiệp, không cho ai giúp sức, vâng, trói lại và đánh, buộc ta phải tự nguyện đầu hàng! Qua cách nói và hành động của họ, cơ hồ như ta đã là quốc gia phụ thuộc không có bao nhiêu chủ quyền? Các quốc gia có chủ quyền, có quan hệ bình đẳng, bất kể là nước lớn hay nhỏ, chưa từng nói năng như thế. Hồ đồ, trịch thượng phải bắt nguồn từ một thực tế. Song, yếu kém, nhu nhược vốn cũng không phải không có nguyên nhân. Có khi là sự tương thích bắt nguồn từ những sự kiện chưa bộc lộ từ phía nhà cầm quyền nước ta chăng? Dù sao cũng đã có một câu phương ngôn đáng nhớ: “Nếu ta đứng lên, là ta ngang hàng, nếu ta quỳ xuống, thì ngang rốn đối phương”. Các bạn thân mến, Đó là kết quả của một thực tế yếu kém, hay từ một tinh thần bạc nhược, hay cả hai? Sự than trách hay nguyền rủa đối phương lúc này quả là một sự xa xỉ. Làm công dân của một nước, làm sao ta không thấy đau lòng khi đất nước bị xâm lăng? Làm sao ta không thấy nhục khi bị kẻ khác lăng nhục vào dân tộc mình? Trên những con đường mà các bạn đi làm hay đi học hằng ngày, trong công viên mà các bạn dạo chơi, trong sách sử mà các bạn đã đọc, luôn phảng phất bóng dáng của tiền nhân, mang tên những vị anh hùng, trong lịch sử hàng nghìn năm trải qua từng thế hệ, đã chống trả lại bọn xâm lược phương Bắc oanh liệt ra sao, và không hề khiếp sợ. Tiền nhân đã để lại cho chúng ta một giang sơn vẻ vang. Đến lượt chúng ta, chúng ta không thể thoái thác, và không hề thoái thác bởi bất cứ lý do gì, để hết lòng bảo vệ giang sơn ấy. Nhưng lời tâm tình của tôi là vô nghĩa, nếu tôi không nói với các bạn rằng, sức mạnh có ưu thế nhất đang lớn lên từ trong tim và trong trí tuệ của các bạn, là niềm hy vọng của dân tộc – những thế hệ Thanh niên-Sinh viên-Học sinh hôm nay. Các bạn đang đứng ở đầu thề kỷ 21 của một nhân loại đang toàn cầu hóa, mà tri thức thì trở nên vô biên giới và không ai có thể che giấu hay độc quyền được. Một cuộc chiến đấu để bảo vệ Tổ Quốc bằng mọi biện pháp và thông minh mà các bạn sẵn sàng dấn thân, và một xã hội mà các bạn cần xây dựng, có tương lai như thế nào, là hai vấn đề quyện vào nhau mà có lẽ các bạn đang suy nghĩ? Để có một đất nước độc lập tự do, trước hết mỗi chúng ta cần có một trí tuệ độc lập tự do, không để bị nhuộm đen, nhuộm đỏ, hay bất cứ màu nào khác; nó phải là lòng yêu nước nồng nàn, trong sáng, yêu hòa bình độc lập và dân chủ bằng một nhận thức kịp thời đại. Một cuộc chiến đấu chỉ bằng niềm tin và sinh mạng dù rất cao cả, nhưng nó sẽ đem lại một kết quả ra sao? Một xã hội các bạn mong muốn, chưa biết là thế nào, nhưng ít nhất, và chắc chắn nó không thể là một xã hội như các bạn đang nhìn thấy, nó đầy dẫy những bất công, trên một tầng nền của hẹp hòi và thiển cận, nó không bao giờ là bền vững! Tôi không muốn nói một câu như sáo ngữ: tương lai đang nằm trong tay thanh niên, với nghĩa nó là màu hồng. Không, có thể nó không đến các bạn với màu hồng, nò tùy thuộc vào ý thức của các bạn. Đó là cái nhìn thẳng vào thực tế với đôi mắt biết đúng sai và nói được tiếng nói của trái tim mình. Một cuộc chiến đấu sẽ rất mạnh mẽ khi nó có đầy đủ chân lý. Điều tôi muốn nói cùng các bạn, chúng ta phải cương quyết làm người công dân tự do, dù xã hội chưa có luật pháp thừa nhận tự do đúng nghĩa. Chúng ta cương quyết làm con người có quyền con người, dù quyền con người chưa được thừa nhận đầy đủ. Chúng ta có quyền và có nghĩa vụ – quyền sống tự do và nghĩa vụ bảo vệ độc lập, toàn vẹn lãnh thổ. Tôi trộm nghĩ, tự do trong bối cảnh Việt Nam hôm nay quan trọng hơn vì nó chứa cả sự độc lập. Tôi muốn nói đến một thể chế dân chủ, một xã hội dân sự, nó sẽ không bị đem ra mua bán hay đổi chác bất ngờ bởi một đất nước, nếu nằm gọn trong tay của một nhóm người độc quyền. Chúng ta tin tưởng sẽ giữ được độc lập tự do, sẽ bảo vệ được giang sơn vì chúng ta có hai điều quan trọng: - Một, chúng ta có chính nghĩa, lẽ phải ở về phía chúng ta. Thế giới bây giờ là sự liên kết rộng lớn và có sức mạnh vô tận, vấn đề là ta có làm cho sức mạnh ấy hội tụ lại được hay không? Chúng ta có làm rõ chính nghĩa để xứng đáng được nhận sự ủng hộ đó hay không? Chế độ phát xít của Bắc Kinh hiện nay với chủ trương bạo lực và bành trướng đang tự đào mồ cho mình, và nhân loại sẽ chôn chúng. Tôi tin chắc chắn điều đó sẽ xảy ra như lịch sử nhân loại đã cho thấy. - Hai, chúng ta biết sửa mình. Một quốc gia hùng mạnh là vì có phương hướng đúng, một quốc gia yếu kém là vì có phương hướng sai. Đó là một thể chế chính trị tiến bộ hay lạc hậu, có tạo được sức mạnh đoàn kết của toàn dân hay không mà Việt Nam ta phải cấp bách xem xét để sửa đổi. Sự sửa đổi đó phải đến từ sức mạnh đoàn kết của nhân dân, kể cả những lực lượng, những con người từ trong bộ máy nhà nước, và đồng bào ở nước ngoài. Tôi tự hỏi, có lẽ cũng giống như các bạn, vì chúng ta không muốn hy sinh xương máu khi chưa cần thiết, và nếu chúng ta là chính nghĩa, tại sao chúng ta không dám kiện để đưa họ ra tòa án quốc tế? Thế giới ngày nay không còn ở thời kỳ hồng hoang, nhân loại không phải là bầy thú trong rừng để con lớn dễ dàng giày xéo con bé, hay chính chúng ta mang mặc cảm tự ti, tội lỗi và hẹp hòi mà không dám nhìn nhận và tiếp nhận sức mạnh đang rộng mở của thời đại? Làm sao chúng ta có thể tin là an toàn và có giá trị khi tự thu mình, núp vào hang ổ “hữu nghị” giả dối dưới nách của kẻ xâm lược? Thưa các bạn, Bao giờ, hay ngay bây giờ chúng ta có thể cất lên tiếng nói thống nhất, mạnh mẽ đối với những người đang mang trọng trách dẫn dắt dân tộc? Hiện nay, tôi không tán thành nhiều điều, trong đó có hai điều căn bản và cấp bách mà Chính phủ của Đảng Cộng sản Việt Nam đang thực hiện: 1- Đặt Hiến pháp cũng như luật pháp của một Quốc gia dưới cương lĩnh và các chỉ thị của Đảng Cộng sản. Thay vì ngược lại, Đảng Cộng sản phải đặt mình dưới Hiến pháp và luật pháp nhà nước, với chức năng là thi hành chứ không phải chỉ đạo. Từ sự trái ngược đó, với quyền hành độc đoán trong tay, Đảng đã tự tha hóa và suy thoái (như đã tự thừa nhận), đưa đến một Chính phủ thiếu trách nhiệm và không hiệu quả, làm cho xã hội rệu rã, không phát triển và mất dần sức sống, người dân trở nên lơ láo, mất phương hướng và tích lũy nỗi bất bình. Tình trạng này là điều kiện phù hợp ý muốn của kẻ xâm lược. 2- Đường lối đối ngoại hiện nay, là thuộc về Đảng Cộng sản, cụ thể là Bộ Chính trị, chứ không phải do một Chính phủ của nhân dân, vì thế đã không giữ được tư thế chính danh của một Quốc gia, đặc biệt trong quan hệ với Trung Quốc. Các từ ngữ: hữu nghị, bạn, môi răng, đồng chí, anh em, 16 chữ vàng (*), 4 tốt…đã xóa tan tư cách và khoảng cách phải có của một quốc gia với một quốc gia. Mối quan hệ mang tính chất tình cảm quá đà và độc hại đó đã tràn ngập trong tư tưởng giới lãnh đạo, quan chức, các đoàn thể, kể cả Đoàn Thanh niên Cộng sản mới lớn sau chiến tranh, thể hiện lời nói, phong cách trong các văn kiện cũng như trong cách hành xử, chứng tỏ một tinh thần dựa dẫm, bấu víu, lệ thuộc, thiếu tự tin của tâm lý nhược tiểu chưa trưởng thành về mặt quốc gia, làm mất quốc thể, của giới lãnh đạo hiện nay. Lẽ ra, mối quan hệ không chính danh đó phải được chấm dứt, khi chiến tranh chấm dứt và đất nước thống nhất. “Ân đền oán trả” gì khi còn nằm trong rừng sâu suối lạnh, thì cũng phải minh bạch trong chính sách ngoại giao, không “giáo dục” toàn dân theo cách “xóa tan biên cương” mập mờ như thế được! Vì thế, làm sao trách thái độ kẻ cả của Dương Khiết Trì khi bảo Việt Nam “quấy rối” chúng ở giàn khoan, hay kêu gọi Việt Nam “ đứa con đi hoang hãy sớm quay đầu về”, hoặc bí thư Quảng Đông gởi “danh mục công việc phải làm” cho Bộ Ngoại giao ta? Tôi sống ở miền Nam, và biết người dân miền Nam đều nhận thấy cực kỳ phẫn nộ về cách ngoại giao xa lạ như trên. Thưa các bạn, Văn hóa ngoại giao cũng là biểu hiện chiều sâu của thực thể. Lẽ nào tôi dám nói ép, nói oan cho các lãnh đạo Việt Nam chăng, khi cho rằng mối quan hệ được biểu hiện như thế là xuất phát từ hành vi và tư duy lệ thuộc do quán tính, hoặc do “tận đáy lòng”? Tôi không tán thành về mối quan hệ bất bình đẳng, được gọi là “hữu nghị” giữa Việt Nam và Trung Quốc lâu nay, mà ông Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam đang cố gắng níu kéo một cách vô vọng trong cô đơn và sợ hãi, có tác dụng cuốn cả đất nước rơi vào quỹ đạo của bành trướng Bắc Kinh. Tôi cho rằng Trung Quốc là không đáng sợ, một nước rộng về đất, đông về dân, mạnh về bạo lực, chứ không hề là một nước lớn với ý nghĩa là có sức mạnh văn hóa, văn minh và đáng nể trọng. Không tự cúi người xuống để phong Trung Quốc là đại ca vô địch. Cũng không thể có ý nghĩ đến việc có thể hay không thể “rinh” đất nước chạy đi nơi khác với lời than thở vô nghĩa: “Có ai chọn được láng giềng đâu!”. Thật ra đó là ý của một tướng Tàu đã nói ở Hà Nội các đây hai năm, nhằm đe nẹt Việt Nam đã lỡ nằm cạnh Trung Quốc, không thể “chọn” thân phận khác được đâu, lẽ ra không nên lặp lại theo cách áo não như thế. Thủ tướng Nhật, chưa từng than van chuyện phải bê mấy hòn đảo của mình đi đâu. Nữ Tổng thống Hàn Quốc cũng không có một lời nào tương tự! Tôi chân thành bày tỏ, chia sẻ cùng các bạn về niềm tự tin và tự hào của dân tộc, trước vó ngựa của quân Nguyên-Mông xưa, nay là trước sự hung hăng của quân Tập, với tinh thần là nhân dân phải biết làm chủ vận mệnh của mình, thông qua một thể chế dân chủ bởi một Hiến pháp đứng đắn, và quan hệ bình đẳng không lệ thuộc Bắc Kinh. Đó là khẳng định căn bản và lâu dài, dù cho nay mai giàn khoan có thể rút đi, hay thay một chiếc khác. Mối quan hệ giữa “hai” dân tộc – theo nghĩa dân sự – xưa nay chưa từng có vấn đề, ngoại trừ bọn cầm quyền hung hăng mỗi lúc. Nhắc lại điều này với dân chúng cũng lại là một xa xỉ nữa. Hai điều nêu trên, không phải là vô cùng hệ trọng của hiện tình đất nước đáng trăn trở hay sao? Chúng ta không để sự thờ ơ của hôm nay là nỗi hối tiếc của ngày mai. Chúng ta không muốn một đồng bào nào của mình phải tự thiêu như người Tây Tạng, không muốn những nhóm thanh niên ta đến lúc phải vung dao liều chết vào bọn Hán tộc ở các bến tàu như ở Tân Cương. Và chúng ta cũng cần tinh tường cảnh giác về những kẻ diễn hài nội địa. Một phương châm chân chính đã từng vang lên trong lòng dân tộc: “Chúng ta yêu hòa bình nhưng sẵn sàng chiến tranh” để bảo vệ Tổ quốc. Mong rằng tôi có nhiều cơ may được gặp các bạn, góp phần nhỏ bé của mình cùng các bạn bước tới, cùng cả đất nước đứng hẳn lên đấu tranh, giữ vững độc lập trước sự khống chế và xâm lược của Bắc Kinh, xây dựng một xã hội dân sự vững chắc, công bằng và dân chủ. Ao ước thay! Trân trọng kính chào. Huỳnh Tấn Mẫm – một thanh niên nhiều tuổi. ——————————————————– (*) “Sơn thủy tương liên, lý tưởng tương thông, văn hóa tương đồng, vận mệnh tương quan” (!) – thập lục tự phương châm – do Trung Quốc đưa ra, dịch thành phương châm hành động: Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”.
"...Trung Quốc, bất chấp hậu quả nhãn tiền, vẫn đang đi theo một chủ trương đối ngoại, vượt ngoài chuẩn tắc bang giao chính trị hiện đại, trong đó không có khái niệm của sự tử tế, thành thật và tôn trọng. Họ không cần đồng minh, họ chỉ muốn chư hầu! Họ không cần cam kết quan hệ bền vững mà chỉ muốn có sự qui phục lâu dài!..." Lịch sử ngoại giao thế giới đang chứng kiến một "ca" rất lạ: thay vì xây dựng đồng minh và lôi kéo đồng minh kẻ địch về phe mình, Trung Quốc lại đẩy ra tất cả để đứng riêng một góc! Bắc Kinh đã đánh mất rất nhiều cơ hội để biến họ thành một cường quốc châu Á thật sự, thay vào đó, họ đã tự dâng khu vực cho Mỹ. Với Nhật Năm 2009, cử tri Nhật đẩy đảng Dân chủ Tự do (LDP) ra khỏi cuộc chơi, lần đầu tiên trong 50 năm, và đưa đảng Dân chủ (DPJ) lên nắm quyền. Tân Thủ tướng Yukio Hatoyama công khai nói về ý tưởng thành lập một liên minh Đông Á mới và bày tỏ sự gần gũi với Bắc Kinh. Đầu năm 2010, chính trị gia Ichiro Ozawa dẫn một phái đoàn hùng hậu 143 nghị sĩ Nhật sang Bắc Kinh. Ozawa là một chính khách sừng sỏ của Nhật, được mệnh danh "tướng quân trong bóng tối" bởi ảnh hưởng hậu trường của ông lên sân khấu chính trị nước này. Chỉ vài tháng sau, tháng 8-2010, quan hệ Nhật-Trung trở nên căng thẳng, bắt đầu từ vụ tuần duyên Nhật bắt một thuyền trưởng Trung Quốc khi đoàn tàu cá Trung Quốc thâm nhập Senkaku. Phản ứng Bắc Kinh là rất hung hăng. Họ yêu cầu Nhật thả thuyền trưởng Trung Quốc ngay lập tức, và bật đèn xanh cho loạt cuộc biểu tình dữ dội chống Nhật. Cùng lúc, Trung Quốc ngăn một số mặt hàng xuất khẩu đến Nhật trong đó có đất hiếm. Đây là một trong những lần đầu tiên Bắc Kinh áp dụng đòn trừng phạt kinh tế trong một xung đột lẽ ra không đáng làm to chuyện. Yoichi Funabashi, tổng biên tập tờ Asahi Shimbun, gọi phản ứng Trung Quốc là một "chiến dịch gây sốc và kinh ngạc". Funabashi chính là người từng hoạt động tích cực việc khuyến khích trao đổi du học sinh hai nước và là một trong những người mạnh mẽ kêu gọi Nhật hàn gắn vết thương chiến tranh với Trung Quốc. Chỉ vài ngày sau vụ trên, Funabashi buộc phải thốt lên: "Nhật và Trung Quốc đang ở hiện trường một vụ đổ nát toàn diện và quanh cảnh trông ảm đạm trơ trọi trống vắng". Trong cuộc phỏng vấn sau đó, Funabashi cảnh báo rằng châu Á đang đối mặt với một thứ luật rừng! Cuối cùng, chính thái độ của Trung Quốc đã trở thành nguyên nhân một phần khiến chính trường Nhật thay đổi: cánh chính trị thân Trung, DPJ, bị hất cẳng; và đảng LDP, thân Mỹ, trở lại, vào cuối năm 2012. Với Úc Là một trong những nước đầu tiên nhận ra sự trỗi dậy Trung Quốc, Úc bắt đầu thắt chặt quan hệ kinh tế với Bắc Kinh từ thập niên 1980. Mùa xuân mới trong cuộc tình Canberra-Bắc Kinh đã bắt đầu bằng sự kiện "xông đất" của Hồ Diệu Bang năm 1985. Thủ tướng Úc Bob Hawke háo hức đến mức phá vỡ nguyên tắc thông thường trong ngoại giao tiếp đón nguyên thủ quốc gia và xem Hồ Diệu Bang như một người bạn khi đưa họ Hồ đến vùng đất giàu khoáng sản Pilbara xa xôi ở phía Tây nước Úc cách Canberra hơn 3.000 km. Bức ảnh chụp hai người, đều vận sơmi trắng và không mang cà vạt, đứng trên một ngọn núi hướng mắt về nơi xa xa, nơi có một trong những quặng sắt lớn nhất thế giới, đã trở nên nổi tiếng như một dấu ấn lịch sử quan hệ hai nước. Năm 2007, Kevin Rudd, người mà báo chí Trung Quốc gọi thân mật bằng cái tên tiếng Hoa là Lục Khắc Văn (Lu Kewen), đã trở thành lãnh đạo một nước phương Tây đầu tiên biết nói thông thạo tiếng Hoa. Tương tự Hàn Quốc, Đài Loan và một số nước châu Á, Úc hưởng lợi đáng kể từ sự phát triển kinh tế Trung Quốc. Quan hệ kinh tế song phương đến nay vẫn tăng đều. Hiện tại, ¼ xuất khẩu Úc đang đổ vào thị trường Trung Quốc. Trong chuyến công du Trung Quốc tháng 4-2014, Thủ tướng Úc Tony Abbott đã dẫn theo phái đoàn đông chưa từng có (hai nước dự kiến ký Hiệp định Tự do thương mại vào cuối năm 2014). Từng có một thời điểm rộ lên nguồn tin cho biết, một số viên chức cấp cao Trung Quốc đã thẳng thắn đề nghị Canberra "chơi" theo "kiểu Pháp": vẫn là một phần của liên minh phương Tây nhưng tách khỏi Mỹ để đi theo con đường riêng. Khuynh hướng "bỏ Mỹ-thân Trung" còn được ủng hộ từ một số nhân vật tên tuổi của Úc. Cựu Thủ tướng Malcolm Fraser nói rằng cách tiếp cận của Mỹ đối với Trung Quốc là một phiên bản thời Chiến tranh lạnh. Chỉ trích của cựu cố vấn chính phủ Hugh White thậm chí còn gay gắt hơn. Trong bài bình luận "Power Shift", Hugh White viết: "Nếu không rút khỏi châu Á và không chịu chia sẻ quyền lực với Trung Quốc, Mỹ phải chấp nhận đấu với thách thức Trung Quốc về khả năng ai mới là kẻ xứng đáng lãnh đạo". Greg Sheridan, biên tập viên đối ngoại tờ The Australian, gọi bài bình luận của White là "tài liệu chiến lược độc nhất và ngu xuẩn nhất từng được soạn cho lịch sử Úc"! Thế nhưng Bắc Kinh lại làm vuột mất bàn tay người tình Canberra. Một lần nữa, cũng chỉ bắt nguồn từ một sự kiện không mấy nghiêm trọng. Năm 2009, Hồ Sĩ Thái (Stern Hu), công dân Úc gốc Hoa làm việc cho tập đoàn khai thác khoáng sản Rio Tinto tại Thượng Hải, bị Trung Quốc bắt với cáo buộc đánh cắp bí mật quốc gia. Lúc đó, Rio Tinto đang dính vào cuộc tranh cãi căng thẳng với Bắc Kinh quanh vấn đề giá sắt. Cáo buộc dành cho Hồ Sĩ Thái sau đó được làm nhẹ bớt, với tội đánh cắp bí mật thương mại. Hồ Sĩ Thái bị kết án 10 năm tù. Báo chí Úc tin rằng chính vụ tranh cãi với Bắc Kinh mới là nguyên nhân khiến Rio Tinto bị "xử" và Hồ Sĩ Thái chỉ là một nạn nhân vạ lây. Dù vậy, chính sự hung hăng trong chính sách đối ngoại khu vực của Trung Quốc mới là nguyên nhân khiến Úc nhìn Bắc Kinh bằng cặp mắt lo ngại. Cuối năm 2011, Tổng thống Mỹ Barack Obama đến Úc, tuyên bố đưa 2.500 thủy quân lục chiến đến nước này. "Lợi ích lâu dài của chúng tôi trong khu vực đòi hỏi sự hiện diện lâu dài của chúng tôi trong khu vực. Hoa Kỳ là một cường quốc Thái Bình Dương, và chúng tôi đến đây để ở lại" - Obama phát biểu tại Quốc hội Úc. Sự hiện diện của 2.500 thủy quân lục chiến Mỹ đã thể hiện một "chính sách bảo hiểm" cho một tương lai không chắc chắn trước sự đe dọa an ninh từ Trung Quốc mà Úc bắt đầu nhận ra. Và trong chuyến công du Hoa Kỳ vào giữa tháng 6-2014, Thủ tướng Tony Abbott đã đứng tên chung với Tổng thống Obama trong bài xã luận đăng trên Los Angeles Times. Bài có đoạn: "Cả Úc và Hoa Kỳ đều quan ngại rằng hành vi gây hấn tăng dần trong các cuộc tranh chấp biển đảo tại châu Á đang tạo ra một nguy cơ ngày càng tăng của tính toán sai lầm và, trong trường hợp xấu nhất, dẫn đến xung đột… Cả hai nước chúng tôi đều phản đối việc sử dụng hăm dọa, ép buộc hoặc xâm lược trong vấn đề tranh chấp của bất kỳ quốc gia nào". Với Philippines Có lúc tưởng chừng Trung Quốc đã "mua" được Philippines. Dưới thời Tổng thống Gloria Macapagal Arroyo, Trung Quốc từng dứ ra đĩa mồi thơm phức: 2,8 tỉ USD (chưa kể 330 triệu USD cung cấp hệ thống băng thông rộng kết nối 25.000 văn phòng chính quyền). Năm 2005 là thời điểm quan hệ Manila-Bắc Kinh ở đỉnh cao. Đó là lúc "Joint Marine Seismic Undertaking" (JMSU; ký năm 2004) bắt đầu có hiệu lực. JMSU là thỏa ước giữa Philippines, Việt Nam và Trung Quốc về việc thăm dò một khu vực 142.886 km2 phía Tây Palawan nằm hoàn toàn trong chủ quyền Philippines. Dư luận Philippines phản ứng gay gắt, cho rằng Arroyo bán đứng đất nước. Quốc hội Phi tin rằng đây là một điều kiện mà Bắc Kinh đặt ra để đổi lấy khoản vay 2,8 tỉ USD… Quan điểm đối ngoại của Arroyo rất rõ: anh em xa không bằng láng giềng gần. Tuy nhiên, tay láng giềng này, với một quan hệ mà Arroyo từng nói rằng "bắt đầu bước sang thời hoàng kim" khi tiếp Hồ Cẩm Đào trong chuyến công du Manila tháng 4-2005, đã gây ra liên tiếp va chạm căng thẳng từ các vụ xâm nhập đánh cá. Cuối cùng, thái độ ngang ngược của Trung Quốc khiến thay đổi diện mạo chính trị Philippines, với cuộc thắng cử của Benigno Aquino III vào tháng 5-2010, đưa Manila chuyển hẳn sang trục Mỹ. *** Kết quả chính sách đối ngoại đưa mình lên vị trí trung tâm khu vực của Bắc Kinh: Càng cố đẩy Mỹ ra xa, Trung Quốc càng khiến Mỹ gắn chặt quyền lợi hơn với châu Á. Càng cố lôi kéo các nước châu Á, Trung Quốc càng khiến họ nhảy về phía Mỹ. Bắc Kinh không thể không nhận ra điều này nhưng họ tin rằng đây là thời khắc chín mùi để thể hiện sức mạnh. Một vài phép thử rải rác từ năm 2009 cho thấy phản ứng yếu ớt của khu vực trong khi Mỹ vẫn chưa thực hiện xong kế hoạch "cắm cọc" đã khiến Bắc Kinh tự tin đẩy cực nhanh tốc độ "xử lý dứt điểm" vấn đề biển Đông. Ở đây có lẽ không cần thiết nói về cái được cái mất trong chính sách đối ngoại của Bắc Kinh, vì nó quá rõ - như lời chính Thời Ân Hoằng (Shi Yinhong), học giả có sức ảnh hưởng mạnh tại Trung Quốc, rằng: "Chúng tôi đã giành được những điều hoàn toàn trái ngược với những gì mà chúng tôi hy vọng muốn có" - mà cần nhấn mạnh vấn đề ở một khía cạnh khác: Trung Quốc, bất chấp hậu quả nhãn tiền, vẫn đang đi theo một chủ trương đối ngoại, vượt ngoài chuẩn tắc bang giao chính trị hiện đại, trong đó không có khái niệm của sự tử tế, thành thật và tôn trọng. Họ không cần đồng minh, họ chỉ muốn chư hầu! Họ không cần cam kết quan hệ bền vững mà chỉ muốn có sự qui phục lâu dài! Thật chua xót đối với bất kỳ nước nhỏ nào vẫn còn ngây thơ tin rằng mình đang được Trung Quốc đối xử ngang bằng và tôn trọng như một quốc gia với một quốc gia! Mạnh Kim (03/07/2014) Theo FB Mạnh Kim Biển Đông Sẽ Dậy Sóng Với Sự Can Thiệp Của Các Cường Quốc Phạm Gia Đại Giàn khoan HD-981 của Trung Cộng cắm sâu vào lãnh hải của Việt Nam đã trên hai tháng và từ đó đã khơi dậy trong lòng dân tộc Việt Nam mối thù truyền kiếp đối với kẻ thù phương Bắc luôn có tham vọng thôn tính và đồng hóa giòng giống Lạc Hồng ở phương Nam. Trong lịch sử bốn ngàn năm của nước Việt, các triều đại nhà Hán, Tống, Minh, Nguyên Mông, Thanh, v.v.. đã bao lần xua quân xuống đánh phá xâm lấn bờ cõi phương Nam, nhưng tổ tiên chúng ta đã đánh bại và phá tan các cuộc xâm lăng hay lật đổ các chế độ cai trị hà khắc của người Tầu phương Bắc.
Lợi dụng sự lệ thuộc và tiếp tay của chế độ Cộng Sản tại Hà Nội, Trung Cộng đã xâm nhập vào các vùng có vị trí quan trọng về chiến lược và kinh tế trên đất liền của Việt Nam. Bước thứ nhì của họ là xâm lấn vào lãnh hải của Việt Nam; một phần để thực thi chiến lược của họ tại Biển Đông với vùng biển Lưỡi Bò mà Trung Cộng tự vẽ ra, tự công nhận, bất chấp làn sóng phản đối của các nước trong vùng. Trong dự trù và nếu biển êm sóng lặng thì trong sáu tháng cuối năm 2014, Trung Cộng sẽ thả xuống tổng cộng 24 giàn khoan vào Biển Đông. Nhưng nếu bị chống đối mạnh mẽ từ các nước liên hệ trong vùng như Việt Nam Cộng Sản, Nhật Bản, Phi Luật tân, Nam Dương, Mã Lai, hoặc xa hơn chút nữa là Hoa Kỳ, thì Trung Cộng sẽ phải xét lại toàn bộ chiến lược này của họ tại Biển Đông, hoặc sẽ phải hủy bỏ ý định ấy.
Chúng ta hãy thử nhìn vào phản ứng của các nước liên hệ. Trước hết phía Cộng Sản Việt Nam (CSVN) chỉ phản đối cho có hình thức vì cái thế và cái lực của Hà Nội buộc họ phải qùy gối trước Bắc Kinh để giữ lấy quyền lợi cho họ và cho đảng Cộng Sản của họ, dù có mất nước vào tay Trung Cộng. Trước làn sóng biểu tình rầm rộ khắp nơi của người Việt trong và ngoài nước, CSVN vẫn không thể thay đổi trong quan hệ “chủ tớ” đối với Trung Cộng được; vì nương theo Trung Cộng là con đường sống còn của đảng CSVN. Tuy nhiên, với các quốc gia láng giềng thì hoàn toàn khác hẳn. Từ đầu năm 2013, Phi Luật Tân đã đưa Trung Cộng ra tòa án quốc tế với một bản cáo trạng dầy hơn quyển tự điển Bách Khoa về các vi phạm của Trung Cộng về luật hàng hải và biển quốc tế; dựa theo bộ luật mới nhất vào năm 1982. Gần đây, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã lên tiếng yêu cầu Trung Cộng rút giàn khoan HD-981 này ra khỏi lãnh hải của Việt Nam làm cho Bắc Kinh vô cùng khó chịu. Nhưng chính các thay đổi quân sự mang tính chiến lược của các nước trong vùng đã làm Bắc Kinh rất quan tâm và lo sợ; bởi lẽ hơn ai hết Trung Cộng biết rằng tiềm năng về quân sự của họ vẫn còn rất thô sơ và yếu kém so với các cường quốc trên thế giới và chỉ có thể hù dọa CSVN mà thôi.
Gần đây, Tập Cận Bình chắc không ăn ngon ngủ yên khi Thủ Tướng Nhật Bản Shinzo Abe ra một tuyên bố vô cùng hệ trọng về sự thay đổi chiến lược quân sự của Nhật. Đó là từ năm 1945 khi thua trận trong Thế chiến Thứ Hai, Nhật Bản buộc phải nằm dưới ô dù che chở về quân sự của Hoa Kỳ và chỉ được duy trì đội quân Phòng Vệ mà thôi; đội quân này mang tính tự vệ và chỉ được hành quân ra ngoại vi không hơn 1000 dậm. Thế nhưng trong lời tuyên bố của Thủ Tướng Nhật Abe kể từ nay Nhật Bản sẽ có quân đội riêng của họ gọi là Quân Đội Hoàng Gia Nhật Bản, và đội quân này có quyền tham chiến ở bất cứ nơi nào trên thế giới, kể cả Biển Đông, để bảo vệ quyền lợi của Nhật và các đồng minh của Nhật. Một điểm làm Bắc Kinh thực sự lo ngại là các chiến hạm của Nhật Bản sẽ được trang bị vũ khí hạt nhân. Là người Tầu, Tập Cận Bình chắc sẽ không bao giờ quên được mối nhục khi Tầu bị Nhật Bản đô hộ, và không thể coi thường sức mạnh về quân sự của người Nhật. Bẩy thập niên qua, nước Nhật như con sư tử nằm yên ngủ và bây giờ con sư tử đó đang trỗi dậy làm thay đổi hẳn thế chiến lược tại vùng Đông Nam Á và tại Á Châu, hoàn toàn bất lợi cho Trung Cộng. Với kỹ thuật cực kỳ tối tân bây giờ thì các cỗ trọng pháo của Trung Cộng gắn trên các thiết giáp hạm bắn đi các đầu đạn mang chất nổ đã thành lạc hậu. Hải Quân Nhật sẽ được trang bị các cỗ trọng pháp bắn đi các đầu đạn bằng từ trường như vậy sẽ giảm nhẹ hẳn trọng tải cho chiến hạm vì chỉ riêng các thuốc nổ đã là một trọng lượng lớn nhất so với các bộ phận khác trên một chiến hạm. Các cỗ pháo bắn bằng từ trường này có thể bắn xa đến 500, 600 hải lý. Một điểm làm cho Bắc Kinh e ngại nữa là mấy năm trước đây CSVN đã ký kết với Nhật một thỏa hiệp chiến lược toàn diện quốc phòng, như vậy trên thực tế CSVN đã là một “đồng minh” về quân sự với Nhật và có thể Nhật sẽ đem quân đến Việt Nam để bảo vệ “đồng minh” này nếu Trung Cộng sử dụng vũ lực tại Biển Đông. Ngoài ra chúng ta không nên quên rằng Cộng Sản Việt Nam bây giờ là con nợ lớn nhất của Nhật và ngược lại Nhật là chủ nợ lớn của CSVN. Mới đầu năm 2014, Thủ Tướng Nhật Abe sang thăm Việt Nam, được tiếp đón long trọng và nhân dịp này Nhật đã cho Việt Nam vay thêm 500 triệu USD nữa để phát triển hạ tầng cơ sở. Các hãng thông tấn quốc tế gần đây loan tin Bắc Kinh phản đối kịch liệt việc Nhật Bản có quân đội riêng và thái độ không hài lòng vì quan hệ chặt chẽ giữa Nhật và Cộng Sản Việt Nam. Một điểm mà CSVN rất hài lòng với Nhật Bản là Nhật đã đứng đầu trong các nước viện trợ cho CSVN và khi viện trợ hay cho vay, Nhật không màng hay đặt nặng đến các vấn đề chính trị khác như về thể chế độc đảng của CSVN, về vi phạm nhân quyền, v.v...
Một khía cạnh khác mà Bắc Kinh đang lo sợ không chỉ là tiềm lực phong phú của Nhật về kinh tế có thể chuyển nhanh chóng các thiết bị dân sự qua quân sự ngay tức khắc, mà vì Hoa Kỳ đã cho phép Nhật Bản được bán các chiến cụ của đầu thế kỷ 21 cho các nước, kể cả CSVN. Một điều chúng ta nên ghi nhớ rằng hiện nay Nhật đang đứng đầu thế giới về những phát minh khoa học và quốc phòng. Những phát minh mới này về quốc phòng của Nhật Bản một khi được áp dụng vào quân sự sẽ là những sáng chế làm đảo lộn hệ thống vũ khí phòng vệ và tấn công trên đất liền, trên không và trên biển.
Những biến chuyển khác về quân sự của các nước trong vùng cũng làm cho Bắc Kinh lo ngại như Nam Dương đang hợp tác với Úc để tuần duyên và tuần thám một vùng biển chiến lược từ phía nam của Ấn Độ Dương qua Singapore, eo biển Malacca vào tới Biển Đông. Mỹ và Ấn cũng bắt tay nhau kiểm soát phía Bắc Ấn Độ Dương xuống eo biển Malacca nối sang Biển Đông.
Phi Luật Tân đã mở cửa từ hai tháng nay cho hải quân Hoa Kỳ vào trấn đóng tại hai căn cứ chiến lược của Phi là Subic và Clark, theo một hiệp ước đã được ký kết giữa Mỹ và Phi cho Mỹ trú đóng 10 năm tại hai căn cứ này. Ngoài ra việc chuyển quân Mỹ đến Phi cũng là hành động cảnh cáo Bắc Kinh rằng Biển Đông này không phải của một mình Trung Cộng, và Mỹ có thể sử dụng biện pháp quân sự nếu tình thế đòi hỏi. Ba sư đoàn TQLC Hoa Kỳ 3, 5, và 8, trong đó có sư đoàn 3 là sư đoàn trú đóng tại Đà Nẵng và đã tham chiến tại Việt Nam trước kia, đã đổ bộ lên 5 căn cứ quân sự tiếp liệu của Mỹ trên hai hòn đảo Mindanao và Palawan. Đối với cách dụng quân của Mỹ, nơi nào cam go thử thách nguy hiểm nhất của chiến trường là nơi đó có mặt của TQLC Hoa Kỳ, binh chủng vẫn thường được gọi là “Cổ Da: Leatherneck”.
Liệu Trung Cộng còn giữ ý định sẽ thả vào Biển Đông 24 giàn khoan nữa từ nay cho đến cuối năm? Liệu vùng biển Lưỡi Bò Chín Đoạn do Trung Cộng tự vẽ ra và tự công nhận còn tồn tại được bao lâu? Với sự bố trí lại lực lượng quân sự của Hoa Kỳ và các nước trong vùng nhất là sự ra đời của Quân Đội Hoàng Gia Nhật Bản, Trung Cộng có còn dám diệu võ giương oai coi Trời bằng vung tại Biển Đông nữa hay không? Chúng ta hãy chờ xem.
Trung Cộng đối đầu với Nhật Bản Ngô Nhân Dụng Ông Shinzo Abe đi thăm Canberra. Hai vị thủ tướng Nhật và Australia (Úc Châu) nói hai nước không liên minh để chống Trung Quốc. Trước đó, ông Tập Cận Bình sang Seoul gặp bà Park Geun-hye, tổng thống Nam Hàn. Cả hai đều nói lên nỗi lo ngại khi chính phủ Nhật giải thích bản “hiến pháp hòa bình” theo cách mới để tăng cường quân lực và sẵn sàng tham chiến, không phải chỉ để tự vệ mà cả khi cần hỗ trợ các đồng minh.
  Chính phủ Úc trù tính mua tầu ngầm Soryu của Nhật, loại tầu ngầm sẽ khiến Trung Cộng phải hết sức dè dặt nếu muốn gây chiến với Nhật Bản. Soryu là thứ tầu ngầm lớn nhất và trang bị kỹ thuật mới có khả năng lặn chìm dưới đáy biển suốt hai tuần liền. Chính phủ Obama đã gia tăng số thủy quân lục chiến Mỹ đóng ở Úc lên 2,500 người. Nhật Bản cũng là nơi gần 50,000 quân Mỹ đồn trú trong nhiều căn cứ quân sự, được Mỹ bảo vệ bằng liên minh quân sự, và trao đổi kỹ thuật quân sự thường xuyên với Mỹ. Bộ tư lệnh Hạm Ðội Bảy của Mỹ cũng đặt tại Nhật Bản. Nhật Bản và Úc đang tiến tới một thỏa ước mậu dịch tự do; hiện nay Nhật là nước mua bán với Úc nhiều thứ nhì, sau Trung Quốc. Hai phần ba số quặng than và sắt Nhật nhập cảng là mua từ nước Úc. Trong lúc ông Abe đang ở Úc, Thủ Tướng Trung Cộng Lý Khắc Cường tiếp đón bà Angela Merkel, thủ tướng Ðức, đã nhân cơ hội tố cáo các tội ác của quân đội Nhật trong thời Ðại Chiến Thứ Hai, hai nước Nhật, Ðức đã liên minh trong cuộc chiến đó. Hàn Quốc và Trung Quốc đều đã bị quân Nhật chiếm đóng từ trước Ðại Chiến Thứ Hai; và cả hai đều còn đang tranh chấp với Nhật Bản về chủ quyền trên một số hòn đảo. Hiện có hơn 28,000 quân Mỹ còn đóng ở Nam Hàn, sau khi đẩy lui hàng triệu quân Trung Cộng trong cuộc chiến Nam Bắc Cao Ly năm 1950. Bà Park Geun-hye nói thông thạo tiếng Trung Hoa và bà đã gặp Tập Cận Bình năm lần, kể từ khi ông nhậm chức, mới gần hai năm trời. Trung Quốc là nơi các công ty Nam Hàn xuất cảng và đầu tư nhiều nhất. Ðiện thoại di động của Samsung bán chạy nhất ở nước Tàu. Dân Trung Hoa lục địa cũng mê phim bộ Hàn Quốc, mà ông Vương Kỳ San, người đứng đầu ủy ban chống tham nhũng ở Bắc Kinh rất hoan nghênh, vì luân lý trong phim bộ chính là nền đạo lý cổ truyền của các nước Á Ðông. Tập Cận Bình kêu gọi các nước xây dựng một “cấu trúc hợp tác an ninh mới trong Á Châu và Thái Bình Dương.” Nhưng Trung Cộng hiện nay không có một đồng minh quân sự nào trong vùng, trừ Bắc Hàn, mà ông Tập sẽ đi thăm sau khi thăm Nam Hàn. Bản thông cáo chung ở Seoul kêu gọi chống võ khí nguyên tử, nhưng không nói đến tên Bắc Hàn! Thế cờ trong vùng Á Ðông đang thay đổi, với những chuyển động mạnh kể từ sau cuộc Ðại Chiến Thứ Hai và sau khi chấm dứt Chiến Tranh Lạnh. Có những quốc gia thù nghịch (Úc, Nhật hoặc Nam Hàn, Trung Cộng) nay lại hợp tác. Nhật Bản và Nam Hàn vừa cộng tác, vừa đối đầu. Mỹ, Nhật từng là kẻ thù, nay là đồng minh. Mối thù cũ giữa Nhật Bản và Trung Quốc vẫn được chính quyền Trung Cộng dùng để khích động dân chúng, để họ lãng quên ách cai trị độc tài đầy tham nhũng. Bản Hiến Pháp năm 1947 do quân đội Mỹ soạn trong thời gian chiếm đóng đã lỗi thời. Sau khi ông Abe xác định muốn nước Nhật trở lại vai trò “một quốc gia bình thường,” chính phủ Mỹ cũng ủng hộ lối giải thích mới của ông. Chỉ có một nửa dân chúng Nhật hoàn toàn ủng hộ chính sách quân sự mới của ông Shinzo Abe. Sống trong chế độ dân chủ tự do, cho nên nhiều người Nhật đã biểu tình phản đối, một người đàn ông đã tự thiêu ở nhà ga xe lửa Shinjuku, Tokyo. Nước Nhật sẽ tái võ trang, lập lại quân đội chính quy, không thể nào tránh được. Một quốc gia với nền kinh tế lớn hàng thứ nhì, rồi thứ ba trên thế giới không thể nào “tự cung,” không lập quân đội và từ bỏ quyền dùng vũ lực bên ngoài lãnh thổ của mình. Trung Cộng đang hô hoán về mối đe dọa quân phiệt Nhật tái xuất hiện. Nhưng chúng ta biết dân Nhật đã nếm mùi dân chủ tự do từ hơn nửa thế kỷ qua, khó lòng chấp nhận một chính quyền quân phiệt. Chính sách nước Nhật thay đổi chính vì mối đe dọa bành trướng của Trung Cộng, đặc biệt là tham vọng kiểm soát vùng Ðông Nam Á. Ông Shinzo Abe đã so sánh hành động của Trung Cộng trong Biển Ðông nước ta với tham vọng của các đế quốc Ðức và Áo muốn kiểm soát bán đảo Balkan đầu thế kỷ 20, đầu mối gây ra cuộc Ðại Chiến Thứ Nhất, xảy ra trước đây đúng 100 năm. So với Trung Cộng thì hiện nay quân đội Nhật Bản thua về số lượng, nhưng vượt hơn rất xa về phẩm chất. Ngân sách quốc phòng của Trung Cộng lên tới 188 tỷ đô la trong lúc nước Nhật chi 49 tỷ (Mỹ chi 640 tỷ, sau khi đã cắt giảm). Quân đội Trung Cộng có 2 tỷ 3 sĩ tốt dưới cờ, còn “quân tự vệ” Nhật Bản chỉ có 58,000 người. Nhưng thực ra, ngay trong tình trạng chỉ có “quân tự vệ” theo bản Hiến Pháp hòa bình đòi hỏi, lực lượng quân sự Nhật cũng đủ sức đương đầu với quân Trung Cộng, không cần Mỹ can thiệp, hỗ trợ. Hầu hết các vũ khí quân Trung Quốc đang dùng đều cũ kỹ, vì nền kinh tế và công nghiệp suy sụp trong những năm Mao Trạch Ðông còn sống. Trong số gần 8,000 xe thiết giáp, chỉ có 450 chiếc thuộc thế hệ mới sản xuất. Phần lớn máy bay chiến đấu là di sản thời 1970, nhập cảng máy bay Nga Xô Viết. Hàng không mẫu hạm Liêu Ninh mua lại của Ukraine, do Nga Xô chế tạo thời 1980, chỉ dám hoạt động ở vùng ven biển Trung Quốc; không đủ sức phóng những máy bay đường xa. Chỉ có một nửa số tàu ngầm của Trung Cộng được chế tạo trong 20 năm gần đây. Trong khi đó, Nhật Bản vẫn tiếp tục mua vũ khí, phi cơ của Mỹ từ mấy chục năm qua; cho nên hải quân và không lực Nhật mạnh hơn Trung Cộng. Trong ba năm nữa, Nhật sẽ nhận được những máy bay F-35 mới, chỉ bán cho các nước đồng minh thân nhất. Tạp chí Hoàn Cầu Thời Báo của Bắc Kinh tiết lộ rằng máy bay F-35 có thể bắn hạ những hỏa tiễn do hàng không mẫu hạm Liêu Ninh phóng lên, từ khoảng cách an toàn xa 290 cây số. Những máy bay J-15 tối tân nhất của Trung Cộng có thể bị bắn trước khi biết sắp gặp F-35 của quân địch. Hệ thống phòng thủ trên đất liền của Nhật được trang bị với các hỏa tiễn Mỹ có thể hạ các hỏa tiễn địch bắn bên trong hay bên trên bầu khí quyển. Trong lúc ở Canberra, ông Abe phân trần rằng nước Nhật không có ý gây chiến với ai mà chỉ muốn “xây dựng một trật tự thế giới dựa trên tinh thần thượng tôn luật pháp.” Ðó cũng là điều ước ao của mọi người dân trong vùng Ðông Á. Người dân ở xã hội nào cũng muốn được bảo đảm an toàn bằng luật pháp minh bạch, công khai. Trong bang giao, các chính phủ cũng phải tôn trọng luật lệ quốc tế. Hành động của chính quyền Cộng sản Trung Quốc hiện nay trong vùng Biển Ðông hoàn toàn bất chấp luật pháp của loài người. Ðó là điều khiến tất cả các quốc gia khác đều lo ngại. Khi nào người dân Trung Hoa được sống trong một thể chế dân chủ tự do thì họa may họ mới có thể bầu lên một chính quyền biết tôn trọng luật pháp thế giới. Chúng ta đã thấy người Trung Hoa sống ở Ðài Loan đã thực hiện được công cuộc dân chủ hóa từ ba chục năm qua. Dân Hồng Kông cũng mới biểu lộ khát vọng dân chủ trong tuần qua. Từ năm 1997, mảnh đất này được trao trả lại cho Trung Quốc, chính phủ Anh đã đòi Bắc Kinh không được áp dụng ở đó thể chế cai trị như trong lục địa, nhờ vậy dân Hương Cảng vẫn được hưởng nhiều quyền tự do như còn sống dưới chế độ thuộc địa Anh. Trong tuần qua, dân Hồng Kông đã đi bỏ phiếu trong một cuộc trưng cầu dân ý, và 87% cử tri đồng ý các cuộc bàu cử trong tương lai phải theo đúng các thủ tục dân chủ tự do quốc tế. Chúng ta có thể tin rằng sớm hay muộn người dân Trung Hoa trong lục địa cũng đứng dậy xóa bỏ chế độ độc tài toàn trị của đảng Cộng sản. Trào lưu dân chủ hóa tràn lan khắp miền Á Ðông, có thể sẽ thay đổi cục diện bang giao. Vì các chính quyền do dân chúng bầu lên thường không thể gây chiến tranh phi lý. Dưới chế độ dân chủ chính quyền khó lòng mê hoặc dân bằng những tình tự dân tộc quá khích; mà dân nước nào cũng chỉ muốn được sống hòa bình. 
| | Ngày Hát Cho Biển Đông & Quyền Con Người Đoàn Kết Người Việt Yêu Nước Khắp Nơi Hơn 200 đoàn thể cùng gửi thư chung đến Tổng Thống Obama Ngày “Hát Cho Biển Đông & Quyền Con Người” tại Washington DC vừa kết thúc trong tinh thần và nhiệt huyết đấu tranh cao độ của hơn 3.000 đồng bào đến từ hơn 20 tiểu bang Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác.
Ngày sinh hoạt bắt đầu với khoảng 2.000 đồng bào biểu tình trước Tòa đại sứ Trung Cộng và CSVN. Sau đó tại quảng trường Freedom Plaza, thêm nhiều đồng bào đã nhập cuộc để cùng hát và tuần hành cho Biển Đông và quyền con người.
Đặc biệt trong chương trình là sự tham dự của các đoàn thể và các nhà đấu tranh từ Quốc Nội qua những tiếng thu âm “nguyện cùng đồng bào hải ngoại bảo vệ chủ quyền đất nước và quyền con người”. Những tiếng nói từ Quốc Nội cất lên giữa lòng Thủ đô Washington D.C. đã làm đồng bào khắp nơi ấm lòng và vững tin. Đại diện của các cộng đồng bạn như Philippines, Indonesia, Tây Tạng, và Trung Hoa cũng có mặt để hỗ trợ nỗ lực đấu tranh của người Việt Nam và tất cả đều đồng ý rằng dân chủ, nhân quyền là điều kiện tất yếu cho sự hòa bình và ổn định trên Biển Đông.
Cao điểm của ngày sinh hoạt là cuộc tuần hành quy mô đến Tòa Bạch Ốc. Đoàn người dài 1 cây số, dẫn đầu bởi các anh chị em Ban Tổ Chức và các nghệ sĩ Trung Tâm ASIA đã gửi thông điệp “China, Get Out of Vietnam!” một cách rất rõ ràng đến với dư luận Hoa Kỳ.
Một thành quả đặc biệt của Ngày Hát Cho Biển Đông & Quyền Con Người là lá thư chung của hơn 200 hội đoàn, tổ chức tôn giáo, cộng đồng, chính đảng, và cơ quan truyền thông trong và ngoài nước gửi đến Tổng thống Obama. Lá thư chung kêu gọi hành động mạnh mẽ hơn từ chính phủ Hoa Kỳ với thông điệp rõ ràng: “Hai nhà cầm quyền Cộng sản tại Việt Nam và Trung Quốc đang gây trở ngại và thiệt hại cho nhân dân Việt Nam và tất cả những ai hỗ trợ cho một Đông Nam Á thịnh vượng và độc lập. Điều đó hiển nhiên cho thấy là chế độ độc tài cộng sản Hà Nội không đại diện cho ý muốn và quyền lợi của nhân dân Việt Nam.” Ban Tổ Chức đã trao lá thư chung này đến Hội Đồng An Ninh Quốc Gia (NSC) của chính phủ Obama. Một ngày trọn vẹn với nhiều sinh hoạt tố cáo hành động phi pháp và ngang ngược của nhà cầm quyền Trung Cộng và sự nhu nhược của nhà cầm quyền CSVN, Ngày Hát Cho Biển Đông và Quyền Con Người chỉ là sự khởi đầu cho nhiều nỗ lực vận động trong những ngày tới.
Ban Tổ Chức xin chân thành cảm tạ hơn 200 hội đoàn, tổ chức tôn giáo, cộng đồng, chính đảng, cơ quan truyền thông cùng hàng ngàn đồng bào và các mạnh thường quân đã tham gia và hỗ trợ hết lòng để Ngày Hát Cho Biển Đông và Quyền Con Người được thành công mỹ mãn. Trân trọng, Ban Tổ Chức |
|
|
| |
|
|
Những nội dung khác:
|
|
|
 |
|