Từ Giàn Khoan HD-981: Việt Nam có thể sẽ “đón nhận” một “Hiệp định Da Beo” lần nữa!
02.07.2014 10:50
Tái lập chính phủ VNCH Hàn Giang Trần Lệ Tuyền Kể từ ngày Trung cộng hạ đặt giàn khoan HD-981 xuống ngay lãnh hải của Việt Nam, thì đã có rất nhiều những bài viết của người ngoại quốc lẫn người Việt Nam đã “tiên đoán” về những tình huống có thể xảy ra cho Việt Nam; Trong đó, cũng có nhiều ý kiến: “phải làm gì để hóa giải công hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng”.
Về phía đảng Cộng sản Việt Nam, thì gọi đó là “công thư chứ không phải là công hàm và không có giá trị, vì công thư của thủ tướng Phạm Văn Đồng, chỉ công nhận 12 hải lý của Trung quốc, chứ không nói gì đến hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa”. Ngoài những điều ấy, Hà Nội cũng nói “sẽ kiện” Trung cộng. Về phía Trung cộng, thì chẳng những đưa cái “công hàm” của ông Phạm Văn Đồng, mà còn trưng dẫn cuốn “sách giáo khoa” của Hà Nội ra làm “bằng chứng chủ quyền” của Trung cộng. Ngoài ra, Trung cộng còn khuyến cáo: “Việt Nam phải tôn trọng công hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng.” Với những sự kiện nêu trên, thì khoan nói tới cái “công hàm - công thư” của ông Phạm Văn Đồng, mà chỉ nói lên một sự thật hiển nhiên rằng: Nếu không có cái “công hàm - công thư” của ôngPhạm Văn Đồng, thì Trung cộng lấy cái gì “làm bằng” để ngang nhiên hạ đặt giàn khoan HD-981 xuống lãnh hải của Việt Nam, và cho đến hiện giờ còn đưa thêm 02 hay có thể còn nhiều giàn khoan khác xuống lãnh hải của Việt Nam??? Chỉ chứng đó thôi, cũng đủ chứng minh rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước quốc dân đồng bào về cái “công hàm-công thư” của ông Phạm Văn Đồng “Thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” có con dấu của “Chính phủ VNDCCH” đã gửi cho Chu Ân Lai vào ngày 14/9/1958, bằng một câu có tính cách quyết định như sau: “Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa công nhận quyết định chủ quyền của Trung quốc”. Như vậy, tất nhiên là bao gồm cả Hoàng Sa-Trường Sa của nước Việt Nam Cộng Hòa, mà cách đây hai năm, người viết đã nêu lên những sự kiện ấy, qua qua bài: Hoàng Sa-Trường Sa là của nước Việt Nam Cộng Hòa, nên ở đây, không cần phải viết thêm nữa. Tuy nhiên, tất cả những gì đã xảy ra, thì đã xảy ra, nên cho dù là thánh cũng không thay đổi được quá khứ, mà phải tìm mọi kế sách hay giải pháp tốt nhất để thay đổi hiện tại và tương lai. Vì thế, tất cả những “diễn biến” bắt nguồn từ cái văn bản của ông Phạm Văn Đồng, đã do đảng Cộng sản “cột” vào “vận mệnh” của đất nước, thì tất nhiên chính kẻ cột phải biết cách để mở ra. Còn nếu như đảng Cộng sản Hà Nội không chịu “mở ra”, thì toàn dân sẽ bằng mọi cách, để “mở ra”, để cứu lấy đất nước và dân tộc thoát khỏi đại họa diệt vong! Thế nhưng, cho đến thời điểm hiện nay, trước một tình huống khó lường trước mọi sự, thì đảng cộng sản Việt Nam nếu muốn “mở ra”, thì phải “mở” bằng cách nào, vì khi “ông Chủ tịch nước” Hồ Chí Minh và cả “bộ chính trị” của Cộng sản Việt Nam vào ngày 14/9/1958, đã quyết định để cho “thủ tướng” Phạm Văn Đồng gửi cái “công thư-công hàm” cho Chu Ân Lai với nội dung mà hôm nay, không riêng người Việt Nam, mà cả thế giới đều biết. Nên nhớ và nên biết, cá nhân ông Phạm Văn Đồng không dám, không có quyền tự ý quyết định khi viết và gửi văn bản này. Vì nếu tự ý, thì đảng Cộng sản Việt Nam phải dùng “đảng kỷ” để trừng phạt bằng những biện pháp cao nhất. Nhưng không, Phạm Văn Đồng vẫn ngồi trên chiếc “ngai” để cầm quyền cho đến khi chết thì vẫn có “Đại học Phạm Văn Đồng” và “đường Phạm Văn Đồng” trên khắp cả ba miền của đất nước, để tuyên dương cái công trạng của ông Phạm văn Đồng, với một văn bản chính thức: “Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa công nhận quyết định chủ quyền của Trung quốc”! Người viết xin nhắc lại: Ngày 14 tháng 9 năm 1958, “thủ tướng” Phạm Văn Đồng đã bất chấp cả luật pháp quốc tế, khi ngang nhiên nhân danh: “Thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, kính gửi đồng chí Chu Ân Lai Tổng lý nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa” để ký-gửi một bản văn mà xem như là dâng hiến cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của nước Việt Nam Cộng Hòa cho Trung cộng. Một bản văn hoàn toàn bất hợp pháp; bởi vì theo nguyên lý thông thường, thì không một ai có quyền dâng, bán bất kể là một vật gì, dù nhỏ nhất của người khác, không thuộc quyền sở hữu của mình, và một người biết tôn trọng luật pháp, tôn trọng lẽ phải, thì không bao giờ chịu đi mua hay nhận bất cứ một vật gì mà do một người không có quyền sở hữu đem dâng, bán cho mình. Nhưng đây là chuyện giữa ba nước: Nước Việt Nam Cộng Hòa, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Bản văn của Phạm Văn Đồng, là “Thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” lại dám ngang nhiên ký một cái “công hàm”, có con dấu của “Chính phủ nướcViệt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” để đem dâng-bán một phần biển, đảo của nước Việt Nam Cộng Hòa cho Trung cộng, thì không phải riêng người bán, mà kể cả kẻ mua cũng đều vi phạm luật pháp quốc tế. Năm 1958, Hoàng Sa-Trường Sa thuộc chủ quyền của Nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa. Vì thế, Phạm Văn Đồng “Thủ tướng nước Việt Nam dân Chủ Cộng Hòa”, không có một chút quyền, không có một tư cách gì để ký-gửi một văn bản như thế cho được. Phải nhắc lại như thế, để hiểu rằng, đảng Cộng sản Việt Nam không thể đương đầu với Trung cộng, mà chỉ có Việt Nam Cộng Hòa mới đủ tư cách trước Công Pháp Quốc Tế, để giành lại hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa. Chính Hà Nội cũng thừa biết điều ấy, nhưng vì đã đặt quyền lợi riêng trên cả Tổ Quốc và Dân tộc, nên họ vẫn cứ thà mất nước, chứ không thể thay đổi thể chế chính trị! Đừng ỷ vào ngoại bang Mới đây, một câu nói của cậu Cộng con, không hề có một chút kiến thức về chính trị, nên không muốn nêu tên vào đây làm gì. Tuy nhiên phải ghi lại câu trả lời khi được cô Trà Mi của đài VOA phỏng vấn như sau: “Khi Việt Nam và Mỹ thực sự cần đến nhau thì không có việc bỏ rơi nhau. Mỹ và Việt Nam là bạn của nhau cùng hợp tác phát triển về mọi lãnh vực chứ không phải riêng về Kinh tế”. Câu trả lời này, đã chứng tỏ đây là một con người hoàn toàn không hề biết gì về chính trị và thủ đoạn chính trị cả. Những người có tham vọng chính trị, đều cần phải nghiên cứu thật kỹ về những thủ đoạn chính trị và những thành bại của các nhân vật nỗi danh khắp năm châu, cũng như những cuộc cách mạng đã xảy ra trên thế giới, từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, dù có đổ máu hay «cách mạng nhung». “Mỹ không bỏ rơi Việt Nam”; Nhưng chính Mỹ đã tạo dựng ra cái Hiệp định Paris,1973, mà mọi người thường gọi là “Hiệp định Da Beo”; bởi theo cái Hiệp định này, đã buộc Việt Nam Cộng Hòa phải chấp nhận “ngưng bắn tại chỗ”, ở những vùng đất do phía nào kiểm soát, thì vẫn cứ duy trì, không thay đổi. Nghĩa là cho phép quân đội Bắc Việt được “sống chung” tại miền Nam. Và nước Việt Nam Cộng Hòa đã bị mất vì cái Hiệp định này! Là người Việt Nam, có ai không biết đến Hiệp định Geneve, 20/7/1954 và Hiệp định Paris, 1973 về Việt Nam, với những nước đã ngồi vào, cùng ký bằng những lời “cam kết vàng ngọc” như thế nào. Thế nhưng, những gì đã xảy ra sau đó, dẫn đến tang thương, máu lệ suốt bao nhiêu năm qua, cũng như thảm trạng ngày nay trên đất nước Việt Nam, thì các nước đã từng tham gia và ký kết vào cái Hiệp định quái ác này có lên tiếng hay không??? Trong chính trị, vốn không có sự thỏa hiệp nào vĩnh cửu ; bởi một khi muốn “xóa bỏ” những “cam kết” trước đó, nếu một chính phủ với nội các mới lên thay quyền lãnh đạo đất nước, thì chính phủ ấy có toàn quyền để quyết định, giữ lại phần nào, hay xóa bỏ, nếu xét thấy có lợi cho quốc gia hơn. Tiếc thay, những người đã và đang “tranh đấu” mà luôn luôn “đội” các cường quốc Âu-Mỹ lên đầu. Những điều ấy, đã chứng tỏ một cách chắc chắn: Các “nhà tranh đấu” theo kiểu này, họ không bao giờ đặt quyền lợi của Tổ Quốc và Dân Tộc lên hàng tối thương! Nhân đây, người viết muốn nói thêm một cách chắn chắn rằng, Hoa Kỳ cũng như các cường quốc khác không bao giờ đưa quân đi đánh Trung cộng, để giành lại Hoàng Sa-Trường Sa cho Việt Nam, và đừng nghĩ Hoa Kỳ sẽ làm như những lời tuyên bố: “Nếu Trung quốc đánh chiếm đảo Điếu Ngư, thì Hoa Kỳ sẽ đánh chiếm lại cho Nhật Bản”. Điều này, hoàn toàn khác, vì Nhật Bản không có gửi cái “công hàm-công thư công nhận chủ quyền của Trung quốc” cho Trung cộng giống như cái công hàm của ông Phạm Văn Đồng. Vì vậy, chỉ có chính người Việt Nam phải đứng lên tự cứu lấy Quê Hương đất nước của mình. Và xin đừng quên: Không có một cường quốc nào thương một dân tộc khác, mà tất cả chỉ vì quyền lợi của họ mà thôi! Về việc kiện Trung cộng ra Tòa án Quốc tế. Nói thì dễ, nhưng làm thì thiên nan, vạn nan, vì trước hết chính Hoa Kỳ đã lên tiếng rằng: “Hoa Kỳ đề nghị Việt Nam và TQ cùng rút hết tàu về” và “Trung quốc đừng hung hăng trên biển Đông”. Nên nhớ, Hoa Kỳ chỉ nói đến “Biển Đông” và đề nghị hai bên rút hết tàu về, chứ không nhắc đến Hoàng Sa-Trường Sa. Mới đây, ông Jean-Vincent Brisset, cựu Tướng không quân của Pháp nay là Giám đốc nghiên cứu Viện quan hệ quốc tế và chiến lược của Pháp nói: “Việt Nam nên kiện Trung Quốc” ; Nhưng ông không nói rõ Việt Nam phải kiện như thế nào, để “thắng”, trong khi Trung cộng đã trưng dẫn công hàm của ông Phạm Văn Đồng đã gửi cho Chu Ân Lai vào ngày 14/9/1958, để làm bằng chứng “chủ quyền” của họ. Ngoài ra, Trung cộng cũng thách thức: “Nếu Việt Nam đi kiện, thì nhớ đem theo công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng”. Cho tới thời điểm hiện nay, đảng Cộng sản Việt Nam đã “công nhận” hai Bia Chủ Quyền của Việt Nam Cộng Hòa tại Hoàng Sa và Trường Sa là “di tích lịch sử”; và cũng nói rằng “vào năm 1958 Hoàng Sa - Trường Sa do chính quyền Việt Nam Cộng Hòa quản lý”. Đó là những điều hiển nhiên, mà bây giờ đảng Cộng sản Hà Nội không thể nào chối cãi được, là đã biết Hoàng Sa-Trường Sa là của nước Việt Nam Cộng Hòa, mà đảng Cộng sản Hà Nội đã ngang nhiên viết và gửi cái công hàm có con dấu của “Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa công nhận quyết định chủ quyền của Trung quốc”. Vậy thì, cái gì của Việt Nam Cộng Hòa, thì hãy trả lại cho Việt Nam Cộng Hòa, để Việt Nam Cộng Hòa có đủ tư cách trước Công Pháp Quốc Tế mà đòi lại Hoàng Sa-Trường Sa. Và chỉ có Việt Nam Cộng Hòa mới có những hành động quyết liệt như: Đoạn giao với Trung cộng, đóng cửa biên giới Việt-Trung, như Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã từng làm đối với người Pháp. Đến lúc đó, thì không cần phải “trục xuất”, thì những đoàn quân Mã Viện, đã được ngụy trang dưới lớp vỏ bọc như “Học viện Khổng Tử” và các “Đặc khu kính tế” của Tầu cộng ở Hải Phòng, Vũng Áng, Cam Ranh, Tây Nguyên, Đà Nẵng, Bình Dương… cũng phải lo cuốn gói, “chui ống đồng” chạy khỏi nước Việt Nam. Còn nước “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” hậu thân của nước “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” không thể đối đầu với Trung cộng, dù bất cứ một tòa án Quốc tế nào, để giành lại Hoàng Sa-Trường Sa! Chính vì những lẽ ấy, đừng bao giờ ỷ lại vào ngoại bang, mà người Việt Nam phải tự quyết định lấy tương lai của đất nước, vì nếu ngoại nhân “thương” những dân tộc nhược tiểu, thì Tân Cương và Tây Tạng không đến nỗi phải nằm trong bàn tay sắt máu của Trung cộng như cả thế giới này đã chứng kiến, cho dù máu của người Tân Cương và Tây Tạng đã đổ, bao nhiêu người đã gục ngã, họ đã tự đốt chết thân mình với hy vọng là đòi lại đất nước của họ. Những hành động hy sinh ấy thật đáng thương, đáng phục. Nhưng tiếc thay, tất cả đều vô ích, vì chẳng có Quốc tế nào đưa quân đi đánh Tầu cộng, để giành lại đất nước cho người Tân Cương và Tây Tạng ; bởi quyền lợi của các cường quốc không có ở trên đất của Tân Cương và Tây Tạng! Thế nhưng, đối với Thái Bình Dương lại là chuyện khác. Xin nhấn mạnh là Thái Bình Dương, là Biển Đông, là cửa ngõ nằm trong vị trí chiến lược, thì các cường quốc trên thế giới không thể làm ngơ. Chúng ta đều biết, ngày xưa quân Pháp đã đổ bộ lên hải cảng Đà Nẵng, rồi quân đội Hoa Kỳ cũng đổ bộ lên Đà Nẵng, và tầm quan trọng của Vịnh Cam Ranh. Tuy nhiên, Hoa Kỳ cũng như các cường quốc trên thế giới đều chỉ muốn giữ “tuyến hải hành” Thái Bình Dương hay Biển Đông, chứ không bao giờ đem máu xương, để giành giữ Hoàng Sa -Trường Sa cho Việt Nam, mà chính người Việt Nam phải bằng mọi cách để giành lại Hoàng Sa-Trường Sa. Thế nhưng, nếu có cuộc đụng độ lớn xảy ra, thì Hoa Kỳ và các cường quốc khác trên thế giới sẽ có những hành động thiết thực, để bảo vệ quyền lợi của họ trên Thái Bình Dương, hay Biển Đông. Còn nếu cuộc tranh chấp chỉ bằng mồm, bằng “giải quyết song phương”, thì đó, chỉ là chuyện riêng của hai đảng Cộng sản “anh em một nhà”, nên người ngoài không thể can thiệp. Tại sao nhà cầm quyền Hà Nội cứ câu giờ? Như trước đây, cũng như hôm nay, Trung cộng vẫn tuyên bố theo như chính các báo trong nước như sau: “(ANTV) - Cục Hải sự Trung Quốc vừa đưa ra thời gian công tác trên... Theo đó, giàn khoan Nam Hải 9 sẽ kết thúc tác nghiệp vào ngày 20/8.” Tiếp theo, vào ngày 26/6/2014, các báo trong nước đã đăng những lời phát biểu của “Chủ tịch nước Trương Tấn Sang”. Xin trích một đoạn như sau: “ … Năm nay không xong thì năm tới, mười năm này không xong thì mười năm sau, đời ta không xong thì đến đời con cháu, phải dứt khoát như vậy. Trước sau như một, vấn đề chủ quyền là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, “Tuổi trẻ dẫn lời chủ tịch nước nói.”(*) Và hôm nay, ngày 01/07/2014, các báo trong nước đã đăng tải những lời của ông Nguyễn Phú Trọng “Tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam” rằng: “… phải kiềm chế để nhất quyết không cho phép xảy ra xung đột…” Những lời đã trích ở trên, đã cho toàn dân Việt thấy rằng: Nhà cầm quyền Hà Nội “tuyên bố phải kiềm chế để nhất quyết không cho phép xảy ra xung đột”; bởi không được phép “xung đột”, để chờ cho đến “mười năm sau… đến đời con cháu…” Nghĩa là đến lúc đó, thì đất nước Việt Nam đã trở thành một Tân Cương, một Tây Tạng rồi, thì con cháu nào để giành lại được đất nước? Riêng gia đình và con cháu của những người Cộng sản đã và đang cầm quyền, thì vì quá giàu, nên nếu có những biến động lớn xảy ra, thì họ sẽ không khó khăn khi chạy ra ngoại quốc, để sống một đời đế vương với những tài sản, mà từ lâu họ đã tẩu tán ra các quốc gia khác để hưởng thụ, chỉ còn lại người dân Việt sẽ phải chịu kiếp nô lệ như người Tân Cương và Tây Tạng! Một điều khác nữa, như bản tin “(ANTV) - Cục Hải sự Trung Quốc vừa đưa ra thời gian công tác trên... Theo đó, giàn khoan Nam Hải 9 sẽ kết thúc tác nghiệp vào ngày 20/8.” Và chính vì biết Trung cộng sẽ rút giàn khoan vào ngày 20/8/2014, nên trong suốt thời gian qua đảng Cộng sản Hà Nội chỉ lên tiếng cho có lệ, để chờ cho đến ngày 20/8/2014, khi Trung cộng rút giàn khoan khỏi lãnh hải Việt Nam, thì mọi sự sẽ đâu vào đấy. Thế nhưng, một khi Trung cộng đã “cắm mốc chủ quyền” rồi, thì dù có rút đi, nhưng tất nhiên Trung cộng sẽ quay trở lại bất cứ lúc nào, vì khi đã hạ đặt Giàn khoan HD-981 và các Giàn khoan khác xuống lãnh hải của Việt Nam, giết hại ngư dân Việt, mà nhà cầm quyền Hà Nội không hề có hành động cụ thể nào để chứng tỏ “bảo vệ chủ quyền”, bảo vệ dân, thì đương nhiên đã “công nhận” như văn bản của “thủ tướng” Phạm Văn Đồng đã viết: “Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa công nhận quyết định về chủ quyền của Trung quốc”.Vì vậy, trong những thời gian tới, Việt Nam Cộng sản không làm sao thoát nổi thiên la địa võng của Trung cộng! Về việc Hà Nội kiện Trung cộng Nếu nhà cầm quyền Cộng sản Hà Nội kiện Trung cộng ra trước tòa án Quốc tế, thì như phía Trung cộng đã “khuyến cáo nếu Việt Nam đi kiện, thì hãy nhớ phải kèm theo cái công hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng”. Nói cho ngắn gọn, có ai dám nghĩ rằng: Toà án Quốc tế sẽ buộc được Trung cộng phải cuốn gói, rời bỏ các nhà máy, trường học… trên đảo Hoàng Sa cũng như cái gọi là Thành phố Tam Sa… trên đảo Trường Sa, để giao hết lại cho Việt Nam hay không??? Riêng người viết bài này, thì lại nghĩ rằng: Nếu Việt Nam Cộng sản kiện Trung cộng ra trước Tòa án Quốc tế, thì trong tương lai, sẽ có một “Phán quyết” tương tự như cái “Hiệp định Da Beo” của Hiệp định Paris, 1973 về Việt Nam vậy. Nghĩa là, phía nào kiểm soát những vùng đất biển đảo nào, thì cứ giữ y nguyên trạng, hai bên không đụng chạm lẫn nhau. Còn Thái Bình Dương - Biển Đông thì “quốc tế hóa”, để các cường quốc đều được hưởng đặc quyền, đặc lợi như nhau. Cường quốc nào cũng cần Thái Bình Dương – Biển Đông, chứ không cần quyền lợi của Việt Nam, cũng như việc Hoàng Sa - Trường Sa thuộc Tầu cộng hay Việt cộng cũng chẳng khiến cho các cường quốc phải lưu tâm!
Và chính vì những lẽ ấy, nên Trung cộng đã và đang gấp rút hạ đặt thêm giàn khoan, và xây dựng thêm những nhà máy, “thành phố Tam Sa”, trường học… trên cả hai quần đảo quần đảo Hoàng Sa -Trường Sa, với mục đích là để “cắm dùi chủ quyền”, và để “chờ đón” cái “Hiệp định Da Beo” đó. Tạm kết: 

Sắc lệnh số 174-NV ngày 13/7/1961 của Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà Ngô Đình Diệm 
Nếu nhà cầm quyền Hà Nội không đặt Tổ Quốc và Dân tộc lên trên hết ; Không thay đổi thể chế chính trị, thì không thể đối đầu với Trung cộng được, mà chỉ có Việt Nam Cộng Hòa, một Quốc Gia đã từng dựng bia đá chủ quyền trên cả hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa từ năm 1956 với Sắc Lệnh rõ ràng, cũng như những thân xác, những dòng máu thắm của các Chiến Sĩ Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa đã hòa quyện dưới đáy Biển Đông, trong cuộc Hải chiến 1974, khi đã “nhắm thẳng quân thù mà bắn” để bảo vệ Hoàng Sa. Đó là những chứng tích lịch sử đời đời, và sẽ còn thâm khắc, để lớp hậu sinh cần phải ghi nhớ: Tiền nhân của chúng ta đã dày công dựng nước và giữ nước bằng cả núi xương, sông máu, thì hôm nay, toàn dân Việt; đặc biệt là lớp hậu sinh, sẽ không thể thản nhiên mà nhìn đảng Cộng sản Việt Nam mỗi ngày cứ đem dâng - bán từng phần lãnh hải, lãnh thổ của đất nước cho Trung cộng cho đến khi cả dân tộc phải bị diệt vong. Chính vì thế, cho dẫu có phải đánh đổi cả sinh mạng của mình, thì lớp hậu sinh cũng phải lấy máu xương để bảo vệ máu xương, là non sông gấm vóc Việt Nam của Tiền Nhân để lại! Paris, 01/07/2014 Hàn Giang Trần Lệ Tuyền _____________________________ (*) Trích dẫn: http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/614696/chu-tich-nuoc-truong-tan-sang--doi-ta-khong-xong-thi%C2%A0doi-con-chau.html
Ngoại trưởng Philippines thăm Việt NamCập nhật: 05:42 GMT - thứ tư, 2 tháng 7, 2014  Việt Nam và Philippines đang xích lại gần nhau trong căng thẳng chủ quyền ở Biển Đông? Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario đang có chuyến thăm gấp rút Việt Nam trong hai ngày 2/7-3/7. Bộ Ngoại giao Việt Nam xác nhận với BBC chuyến thăm được thực hiện "theo lời mời của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh". Chuyến thăm làm việc diễn ra trong bối cảnh Việt Nam bắt đầu có các động thái "chuẩn bị hồ sơ" kiện Trung Quốc lên tòa trọng tài quốc tế. Philippines đã mang Trung Quốc ra tòa này để khiếu nại về tuyên bố chủ quyền đường chín đoạn của Trung Quốc ở Biển Đông và nhiều lần kêu gọi Việt Nam và các nước láng giềng cùng tham gia. Manila cũng nói sẽ đề nghị tòa trọng tài phán quyết nhanh vụ tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc sau khi Bắc Kinh từ chối tham gia vào vụ kiện. Đầu tháng này, Trung Quốc đã bác bỏ thông báo từ tòa án, đề ra thời hạn đến 15/12 năm nay để Bắc Kinh trả lời đơn kiện của Philippines trên vùng biển được cho là giàu tài nguyên. Nguồn tin của BBC cho hay trong hai ngày làm việc ở Hà Nội, ông Albert del Rosario sẽ có hội đàm với người tương nhiệm Phạm Bình Minh và gặp Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Một trong những nội dung thảo luận được cho là căng thẳng chủ quyền với Trung Quốc trên Biển Đông. Cơ hội hợp tác?Đầu tháng Năm, Trung Quốc đưa giàn khoan nước sâu 981 vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, gây phản đối từ Hà Nội. Làn sóng biểu tình chống Trung Quốc đã kéo theo một số cuộc bạo động làm ít nhất bốn người Trung Quốc thiệt mạng ở miền Trung Việt Nam. Trung Quốc tuyên bố tiếp tục vận hành giàn khoan 981 tới giữa tháng Tám, đồng thời chuyển thêm một số giàn khoan khác vào Biển Đông. Sự kiện giàn khoan 981, theo một số đánh giá, có thể là cơ hội cho Việt Nam "thoát Trung", tức thoát khỏi tầm ảnh hưởng của Bắc Kinh. Căng thẳng chủ quyền với Trung Quốc cũng khiến Việt Nam phải đi tìm trợ giúp của quốc tế, nhất là các nước có quyền lợi quốc gia tại Biển Đông. Mới đây, ngày 8/6 hải quân Việt Nam và Philippines đã lần đầu tiên có giao lưu thể thao trên đảo Song Tử Tây thuộc Trường Sa, chỉ dấu cho thấy quân đội hai bên đang xích lại gần nhau. Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng, sau cuộc hội đàm với Tổng thống Philippines Benigno Aquino hồi tháng Năm, nói Việt Nam và Philippines kiên quyết phản đối Trung Quốc về vụ hạ đặt giàn khoan và kêu gọi cộng đồng quốc tế yêu cầu Trung Quốc chấm dứt hành động xâm phạm ở Biển Đông. Quảng Đông gửi VN '16 việc cần làm'Cập nhật: 09:35 GMT - thứ hai, 30 tháng 6, 2014  Ông Hồ Xuân Hoa (thứ hai từ trái) là ngôi sao đang lên trên chính trường Trung Quốc Chính quyền tỉnh Quảng Đông của Trung Quốc được cho là đã gửi cho Bộ Ngoại giao Việt Nam một bản danh mục ‘Các việc cần làm’ sau chuyến thăm Việt Nam hồi tháng Tư của ông Hồ Xuân Hoa, người lãnh đạo cao nhất của tỉnh này. Đây là các công việc mà Bí thư Hồ Xuân Hoa triển khai cho công chức thuộc quyền của mình, và được Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi công văn yêu cầu các bộ ngành và các tỉnh thành trong nước tham khảo thực hiện. Hiện tại công văn này, có số hiệu 1832/BNG đề ngày 3/6 năm 2014, đang được lan truyền trên các diễn đàn mạng. BBC hiện chưa có điều kiện kiểm chứng văn bản này, tuy nhiên nó có đóng dấu Bộ Ngoại giao và có chữ ký của Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn. 16 'việc cần làm' Văn bản này, nếu xác thực, được phát đi chỉ một tháng sau khi Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 ra vùng biển mà Việt Nam tuyên bố là thuộc chủ quyền của họ, gây căng thẳng nghiêm trọng trong quan hệ giữa hai nước. “Để triển khai tốt các chương trình hợp tác giữa các bộ, ngành, địa phương ta với tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, Bộ Ngoại giao xin chuyển đến quý cơ quan danh mục này để tham khảo, đưa vào chương trình hợp tác của quý cơ quan với tỉnh Quảng Đông,” công văn viết. Tổng cộng có 16 công việc mà các sở ngành thuộc tỉnh Quảng Đông được Bí thư họ Hồ yêu cầu thực hiện đính kèm theo công văn của Bộ Ngoại giao. Trong đó, việc cần làm số một là xúc tiến các chuyến công du Quảng Đông của bí thư Thành ủy Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là Phạm Quang Nghị và Lê Thanh Hải. Ông Nghị là người đứng đầu phía Việt Nam hội đàm với ông Hồ Xuân Hoa trong chuyến công du của ông Hồ hồi tháng Tư. Bí thư Quảng Đông sau đó cũng đã có cuộc tiếp xúc với ông Lê Thanh Hải khi đến thăm Thành phố Hồ Chí Minh. Việc cần làm quan trọng thứ hai là xúc tiến việc nhờ tỉnh Quảng Đông đào tạo cán bộ cho Đảng Cộng sản Việt Nam trong khuôn khổ chương trình đào tạo đã được Đảng Cộng sản hai nước thỏa thuận. Theo đó, kế hoạch đề ra là Quảng Đông sẽ giúp đào tạo 300 cán bộ cho phía Việt Nam trong 5 năm, trong đó Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh mỗi nơi có 100 cán bộ còn 100 người còn lại đến từ các tỉnh thành có quan hệ chặt chẽ với Quảng Đông như Hải Phòng, Đà Nẵng, Quảng Ninh và Quảng Nam.Thêm phân tích về 'đường chín đoạn'Cập nhật: 12:40 GMT - thứ ba, 1 tháng 7, 2014
 Một học giả gốc Hoa đánh giá rằng Trung Quốc biết rõ ‘đường chín đoạn’ thiếu nhiều căn cứ pháp lý nhưng vẫn duy trì nói như một ‘chiến lược mờ ảo’ và quyết tâm dùng vũ lực để khẳng định chủ quyền ở vùng biển Đông Nam Á. Bấm Trong bài viếtgần đây đăng trên Asia Pacific Bulletin của EastWestCenter.orgn, bà Tôn Vân (Yun Sun), một học giả tại Viện Stimson cho rằng Trung Quốc tiếp tục đẩy mạnh lập luận về ‘đường chín đoạn’ ở Biển Nam Trung Hoa. Đây là sự thay đổi rõ rệt với chính sách ngoại giao của Bắc Kinh vài năm về trước, khi mà Trung Quốc còn thảo luận về tính hợp pháp của ‘đường chín đoạn’. Nay, Trung Quốc đặt mọi sức nặng đằng sau ‘đường chín đoạn’ rất gây tranh cãi này, theo tác giả. Chủ quyền lịch sử “Trung Quốc hiểu rất rõ sự trái ngược của đường chín đoạn với Công ước Luật biển UNCLOS và vì thế bỏ sức đầu tư vào việc tìm tính hợp pháp cho ‘quyền lịch sử’ của lập luận họ nêu ra,” Thậm chí, theo tác giả, một số trường phái tại Trung Quốc hiện còn muốn nói rằng UNCLOS có sau khi Trung Quốc nêu ra chủ quyền nên không phải là căn cứ cho việc diễn giải chủ quyền ở Biển Đông. “Trung Quốc cũng cẩn thận khi nêu chi tiết điều gì họ muốn coi là chủ quyền trong khu vực đường chín đoạn. Lý do là để ở đó một sự mờ ảo chiến lược nhằm có chỗ cho các cuộc thương thảo tương lai.” “Đa số các nhà nghiên cứu Trung Quốc nay thiên về hướng coi vùng nước bên trong đường chín đoạn là Vùng Kinh tế Đặc quyền của mình dù chính chính phủ Trung Quốc chưa công khai nói ra điều này.” Bà Tôn Vân cũng nói: “Trong giới hoạch định chính sách của Trung Quốc có nhiều người hiểu rất rõ những điểm yếu của lập luận pháp lý này.” Tuy thế, họ tin rằng “có lập luận yếu còn hơn là không có gì”. Và Trung Quốc tin rằng quan điểm như thế “được quyền lực quốc gia mạnh mẽ ủng hộ và mong muốn sử dụng nó”.
 TQ quyết tâm biến đa phần Biển Đông thành vùng kinh tế đặc quyền Tựu trung lại, bài viết cho rằng Trung Quốc tin là “tổn thất về uy tín” khi dùng vũ lực để khẳng định chủ quyền ‘đường chín đoạn’ sẽ là thứ giải quyết được vì Trung Quốc có sức mạnh kinh tế với cả vùng Đông Nam Á. Vẫn theo bà, giới chức Trung Quốc tin rằng Hoa Kỳ sẽ không muốn để xảy ra xung đột vũ trang với Trung Quốc và vì thế có thể tiếp tục lấn áp Việt Nam. Theo họ, Việt Nam chưa phải là đồng minh có hiệp ước với Mỹ. Chủ đề Biển Đông mà Trung Quốc gọi là Nam Hải tiếp tục là đề tài truyền thông quốc tế và khu vực theo dõi, nhất là sau khi các giàn khoan được Trung Quốc đem ra để khai thác dầu khí, bất chấp phản đối từ Việt Nam. Với chính giới Hoa Kỳ, đây cũng là chủ đề quan trọng và có nhiều khả năng được bàn thảo trong chuyến thăm tới của Ngoại trưởng John Kerry tới Bắc Kinh tháng 7 này. Bộ Ngoại giao và Bộ Tài chính Mỹ vừa công bố lịch trình chuyến thăm của ông John Kerry tới Bắc Kinh 9-10 tháng 7 năm nay để tham dự Diễn đàn đối thoại chiến lược và kinh tế Mỹ - Trung.Trung Quốc tăng quyền cho quân đội xử lý 'ngư dân VN và gián điệp nước ngoài' (TNO) Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) đã được cấp thêm nhiều quyền hạn hơn để đối phó với "ngư dân và gián điệp nước ngoài" lai vãng gần khu vực được coi là vùng biển nước này. Hàng loạt tàu đánh cá Trung Quốc đang hướng về biển Hoa Đông - Ảnh: Reuters
|
Vào hôm 27.6, Ủy ban Thường vụ Quốc hội Trung Quốc đã ban hành luật Bảo vệ Cơ sở Quân sự, dự kiến sẽ có hiệu lực vào ngày 1.8, tờ South China Morning Post cho biết ngày 2.7. Đạo luật này là phiên bản mới của một bộ luật ban hành hồi năm 1990, vốn không bao gồm quy định bảo vệ các sân bay, đài phát thanh và vùng biển cấm. Đạo luật bổ sung nghiêm cấm các hoạt động đánh bắt thủy hải sản và các công trình xây dựng dân sự tại vùng biển cấm. Đối với quy định về gián điệp ngoại quốc, đạo luật mới bổ sung thêm một số điều khoản siết chặt kiểm soát các cơ sở dân sự tọa lạc gần các khu vực phòng thủ ven biển, bao gồm quy định nghiêm cấm các chuyến bay thấp ngang qua các vùng cấm. Tuy nhiên, bản tin của South China Morning Post không cho biết cụ thể luật mới sẽ được áp dụng ở những vùng biển nào của Trung Quốc. Trong một báo cáo công bố cuối tuần trước, bộ tham mưu PLA nói rằng nhiều quân khu của Trung Quốc đã bị gián điệp nước ngoài dò la. Tờ Nhật báo PLA (Trung Quốc) còn dẫn lời một cố vấn quân sự trong nước khẳng định rằng ngày càng có thêm nhiều các vụ "xâm phạm vô hại" vào các khu vực cấm, chẳng hạn như ngư dân cho tàu đi vào các vùng biển quân sự. “Thêm nhiều quy định chi tiết sẽ giúp ngăn người dân, chẳng hạn như ngư dân sống gần những vùng biển, làm rò rỉ bí mật quốc gia”, ông Li Jie, một chuyên gia hải quân Trung Quốc, nhận xét. Có nhiều trường hợp tàu đánh cá hoạt động ngay trong các khu vực có tàu hải quân qua lại thường xuyên, Cố vấn quân sự Sun Qiang nói với Nhật báo PLA. “Có trường hợp cá biệt ngư dân vẫy cờ yêu cầu tàu hải quân thay đổi hướng đi”, ông này cho hay. Đề cập về gián điệp nước ngoài, ông Song Xinhui, một cố vấn quân sự khác, tố cáo rằng đã có một số quốc gia thiết lập các trạm do thám được ngụy trang thành các hãng du lịch hay công ty hợp tác kinh tế song phương gần các khu vực quân sự của Trung Quốc để giám sát các hoạt động quân sự. “Các công ty ngoại quốc này theo dõi binh sĩ PLA”, ông Song nói chung chung và không đưa ra danh tính hay giải thích về hoạt động của các công ty nước ngoài. Đạo luật mới cũng liệt kê các biện pháp khẩn cấp dùng để đối phó với đối tượng xâm nhập vào các khu quân sự hoặc đối với hành động chụp ảnh mà không xin phép. “Người điều hành (khu vực quân sự) có thể bắt giữ những kẻ xâm nhập, chuyển giao họ cho cơ quan an ninh quốc gia, tịch thu máy chụp ảnh và ngăn chặn hành vi gửi dữ liệu nếu có”, theo quy định của đạo luật mới.Hoàng Uy Nguyễn Hưng Quốc - Chiến thuật của Việt Nam trên Biển ÐôngThứ Hai, ngày 30 tháng 6 năm 2014Bàn về sự phá sản toàn diện của chính sách ngoại giao của Hà Nội
Gần hai tháng nay, không có ai ít nhiều quan tâm đến Việt Nam mà không tự hỏi: Việt Nam đối phó với hành động lấn chiếm Biển Đông của Trung Quốc như thế nào? Về phía Trung Quốc, hầu như mọi người đều biết họ muốn gì. Và thật ra thì họ cũng không hề giấu giếm ý đồ của họ: Chiếm toàn bộ Biển Đông (bao gồm cả Trường Sa, dĩ nhiên!) Còn phía Việt Nam? Không ai biết gì cả. Tất cả các nhà lãnh đạo đều im lặng, hoặc nếu mở miệng thì chỉ nói những điều chung chung, vô thưởng vô phạt, ra vẻ đầy quyết tâm nhưng lại không chỉ ra, hoặc gợi lên, một chiến thuật nào cả.
Trở lại với câu hỏi trên, Việt Nam sẽ đối phó với Trung Quốc như thế nào?
Có hai cách trả lời: tiêu cực và tích cực.
Tiêu cực, như những gì chúng ta thường thấy nhan nhản trên các mạng lưới xã hội, từ blog đến facebook, nhiều người cho rằng Ciệt Nam đã bán đứng Biển Đông cho Trung Quốc rồi; hoặc nếu không phải bán đứng thì cũng, ít nhất, một số khá đông ủy viên trong Bộ Chính trị hoặc Ban Chấp hành Trung ương đảng chủ trương nhượng bộ, để Trung Quốc tha hồ làm chủ trên Biển Đông. Theo cách nhìn này thì những lời phát biểu này nọ hoặc việc đưa tàu hải giám hay tàu đánh cá ra chạy lòng vòng giàn khoan HD-981 chỉ là một vở kịch nhằm đánh lừa dân chúng để không ai quá phẫn nộ có thể đổ xuống đường biểu tình chống lại họ. Nói cách khác, theo cách nhìn này, “mặt trận” chính mà chính quyền Việt Nam muốn đối phó không phải là Trung Quốc mà chính là dân chúng Việt Nam.
Khả năng trên không phải không có. Có nhiều bằng chứng: Một, từ lịch sử, họ đã từng làm vậy qua công hàm Phạm Văn Đồng năm 1958; hai, qua cách họ hành xử với Trung Quốc kể từ sau hội nghị Thành Đô năm 1990; ba, qua sự lúng túng của họ trong cuộc đối đầu với Trung Quốc trong mấy tháng vừa qua. Không thể nói sự kiện Trung Quốc mang giàn khoan HD-981 đến Biển Đông là bất ngờ được. Làm chính trị, không thể không biết trước những việc đơn giản như vậy. Không biết là ngu. Nhưng nếu biết trước mà không chuẩn bị gì cả, thậm chí, không thống nhất được ý kiến trong một nhúm 14 người trong Bộ Chính trị là sao?
Nhưng thôi, ở đây, tôi xin nhìn vấn đề theo hướng tích cực, là, chính quyền Việt Nam, một, thực tâm muốn chống lại Trung Quốc; hai, đang toan tính một chiến thuật gì đó để bảo vệ Trường Sa và Biển Đông. Nếu vậy, chiến thuật của họ là gì?
Theo tôi, có hai chiến thuật chính: Câu giờ và bêu xấu Trung Quốc.
Họ ra lệnh cho các tài hải giám, hải ngư và tàu đánh cá tư nhân Việt Nam ra chạy lòng vòng chung quanh giàn khoan HD-981 nhưng không đối đầu để tránh leo thang xung đột. Họ chạy lòng vòng như vậy để chứng tỏ với dân chúng trong nước là họ cương quyết bảo vệ lãnh hải Việt Nam nhưng đồng thời cũng để tàu Trung Quốc húc vài chiếc chìm để… quay phim.
Vâng, để quay phim. Mới đây, trên các cơ quan truyền thông Tây phương đã xuất hiện một số hình ảnh tàu Trung Quốc xịt nước vào tàu Việt Nam, đâm sầm vào một số tàu Việt Nam, làm hư hại nhiều tàu đánh cá Việt Nam… Những bức ảnh và những thước phim ấy đều do phóng viên ngoại quốc thực hiện. Việc mời gọi phóng viên chụp ảnh và quay phim để công bố trên các phương tiện truyền thông đại chúng quốc tế như vậy có hai mục đích: Một, để cả thế giới thấy sự xâm lược hung hãn và tàn bạo của Trung Quốc, từ đó, càng thêm ghét và sợ Trung Quốc. Hai, để thế giới thấy Việt Nam, tuy nhỏ và yếu, nhưng vẫn nhất định không chấp nhận việc Trung Quốc làm bá chủ trên Biển Đông. Vì ghét và sợ Trung Quốc nên càng cảm thấy có nhu cầu đoàn kết với nhau để chống lại Trung Quốc. Vì thấy Việt Nam có quyết tâm nhưng yếu ớt nên càng cảm thấy có nhu cầu ủng hộ và giúp đỡ Việt Nam.
Nhớ, sau năm 1975, khi Khmer Đỏ quấy nhiễu ở biên giới phía Tây, Việt Nam cũng thực hiện chiến thuật ấy. Trong suốt mấy năm, từ cuối năm 1975 đến năm 1978, Khmer Đỏ nhiều lần xua quân tràn qua biên giới bắn giết đồng bào Việt Nam, chính quyền chỉ la làng chứ không có phản ứng gì quyết liệt cả. Nếu lúc ấy, chính quyền quyết định phản công, họ có thể làm được một cách dễ dàng. Nhưng họ không làm. Chủ yếu để chứng minh cho thế giới thấy họ là nạn nhân, và khi họ tràn quân sang chiếm Campuchia, thế giới cũng dễ dàng thông cảm: Đó chỉ là một phản ứng tự vệ. Một việc chẳng đặng đừng.
Lần ấy, Việt Nam không thành công trong nỗ lực tuyên truyền của mình cho nên khi Việt Nam chiếm Campuchia, các nước Tây phương vẫn đồng loạt kết tội là Việt Nam xâm lược và càng gia tăng mức độ cấm vận đối với Việt Nam. Tôi nhớ, trong một bài viết sau chuyến thăm Việt Nam năm 1980, khi nhắc đến phong trào vượt biên, Gabriel García Márquez cũng cho Việt Nam hoàn toàn thất bại trên mặt trận tuyên truyền đối ngoại.
Lần này, Việt Nam có nhiều lợi điểm hơn. Thứ nhất, hiện nay trên thế giới đang có rất nhiều người ghét Trung Quốc và cũng sợ sự phát triển của Trung Quốc. Âm mưu bành trướng của Trung Quốc đã quá rõ ràng. Hơn nữa, kẻ thù của Trung Quốc cũng rất nhiều. Ngoài Việt Nam, ít nhất Nhật Bản và Philippines cũng là đối tượng để Trung Quốc giành giật và uy hiếp. Thứ hai, Việt Nam hiện nay, tuy bị phê phán nhiều nhưng quan hệ với các nước trên thế giới tương đối tốt đẹp. Mọi người đều thấy Việt Nam chỉ nguy hiểm đối với chính đồng bào của họ nhưng không hề nguy hiểm đối với bất cứ một nước nào khác. Với hai lý do này, việc Việt Nam thành công trong nỗ lực tuyên truyền của họ không có gì khó hiểu.
Nhưng đó chỉ là một thành công nhỏ. Cuộc tranh chấp với Trung Quốc hiện nay rất phức tạp, bao gồm nhiều bình diện khác nhau: tuyên truyền, pháp lý, ngoại giao và, ở trường hợp xấu nhất, ít người mong muốn nhất, quân sự. Việc đóng vai trò nạn nhân để tranh thủ sự đồng tình của thế giới chỉ thuộc bình diện tuyên truyền. Giả dụ chiến dịch tuyên truyền ấy thành công thì, sau khi tranh thủ được sự ủng hộ của thế giới, Việt Nam sẽ làm gì nữa?
Ở đây có hai vấn đề:
Thứ nhất, nên lưu ý là Việt Nam không có nhiều thì giờ để làm một cái gì đó. Đến giữa tháng 8, khi Trung Quốc rút giàn khoan HD-981 về nước theo kế hoạch dự trù một cách yên ổn, họ đã thành công trong việc chứng tỏ với thế giới là Biển Đông thuộc về họ, nơi họ muốn đến lúc nào thì đến, muốn đi lúc nào thì đi. Việc bất động của Việt Nam cũng được xem là một sự xác nhận điều đó: Họ không hề phản đối.
Thứ hai, việc tranh thủ sự đồng cảm của thế giới chỉ là bước đầu và không hứa hẹn bất cứ một sự hậu thuẫn nào cả. Xin lưu ý: Ukraine được cả thế giới, đặc biệt Mỹ và Cộng đồng châu Âu, thương cảm và ủng hộ nhưng điều đó không hề ngăn chận được bàn tay tham lam, xảo quyệt và tàn bạo của Putin.
“Việt Kiều” nào muốn hữu nghị với Trung cộng. Gọi Nguyễn Sinh Hùng “đăng ký”, lẹ lên !!!
Ông Bút Phiên bế mạc cuộc họp “quốc hội” vừa qua, ngày 24/6/2014. Nguyễn Sinh Hùng, kêu gọi: “người Việt hải ngoạigìn giữ quan hệ hữu nghị Việt-Trung.”Tôi có tính ưa làm việc thiện, với hay lo sợ bà con Việt Kiều bận cày tối ngày, không nghe lời “quốc hội”, nên viết bài này. Trước phổ biến rộng rãi, sau nhắc nhở anh chị em, làm đúng như lời chủ tịch NSH “gìn giữ quan hệ hữu nghị với Trung Quốc.” Chủ tịch không nói rõ, tự tôi suy nghĩ, chắc có lẽ Việt Kiều phải đăng ký, thì cái việc hữu nghị mới có chất lượng, chứ kêu khơi khơi, biết ai hưởng ứng, ai không? Vậy quý vị gọi số phone: 08042269 & 08046383, để đăng ký, nếu không có người trực, chịu khó mua vé máy bay tới thẳng nhà riêng NSH, Số 7b, Nguyễn Gia Thiều, phường Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, TP Hà Nội. Đăng ký trực tiếp. Kể cũng hên, tháng trước nếu nghe lời xúi dại của báo An Ninh Thủ Đô, ký thỉnh nguyện thư, gởi Tổng Thống Hoa Kỳ, nhờ can thiệp, giờ đâm ra trái ý với quốc hội. Có ai lại đi nhờ kẻ thù can thiệp vào chuyện nội bộ “anh em,” can thiệp vào chuyện người ta đang ra sức hữu nghị? Kêu gọi thì kêu, tôi thấy hơi khó, và nghi ngờ ông Nguyễn Sinh Hùng, từ ngày 2 tháng 5 2014 tới nay, chắc chưa đọc báo và ở dưới cũng không báo cáo lên, để ông ta nắm tình hình. Nếu biết đầy đủ, coi như Nguyễn Sinh Hùng lây bịnh lú của Nguyễn Phú Trọng, không chừng nhiễm khá nặng rồi đó. Chưa đầy 2 tháng Trung Cộng, đặt 2 cái giàn khoan. Trên trời máy bay của nó vần vũ, dưới nước tàu thủy của nó rượt đuổi, đâm móc chọc chĩa, tàu của VN rách bươm tưa lưa, nó dàn hàng ngang cả trăm tàu vỏ sắt, dùng lưới cá, loại lưới quyét, chúng nó quyét sạch, không chừa cho ngư dân VN một con tép, ăn sạch nuốt luôn cả giống, ngư dân VN chỉ biết tiếc rẻ, bén mãng hơi xa xa, đã bị Trung Cộng rượt chí chết. Tin báo TNO: “Hôm nay 28/6/ 2014, Trung Quốc tuần tra phi pháp 18 đảo thuộc Hoàng Sa của VN. Tỉnh Hải Nam của Trung Quốc vừa ngang nhiên triển khai cái gọi là tuần tra chấp pháp 18 đảo nằm trong quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, Trung Quốc Hải dương báo đăng tin ngày 27.6. “Theo đó, đội tuần tra phi pháp do tàu hải giám 2129 dẫn đầu sẽ tuần tra, thị sát các đảo, chụp ảnh và sau đó lên đảo kiểm tra tình trạng sử dụng, khai phá đảo, và lập dữ liệu thông tin về các đảo. Những đảo thuộc Hoàng Sa mà Trung Quốc tuần tra phi pháp lần này có đảo Phú Lâm, đảo Đá, Cồn cát Nam, Cồn cát Trung, đảo Trung, đảo Nam, đảo Bắc, đảo Cây, đảo Ốc Hoa, đảo Hoàng Sa, đảo Hữu Nhật, đảo Quang Hòa, đảo Duy Mộng, đá Bắc, đảo Linh Côn và một số đảo khác. Đây là động thái mới nhất vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa. Hồi giữa tháng này, Trung Quốc đã ngang nhiên khởi công xây dựng trường học phi pháp đầu tiên ở đảo Phú Lâm, với diện tích 4.650 m2 và vốn đầu tư hơn 5,7 triệu USD. Thông tin trên được đưa ra trong bối cảnh Bắc Kinh hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 (Haiyang Shiyou-981) trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam”, Ngưng trích. Hàng trăm chuyện xảy ra như vậy, Nguyễn Sinh Hùng, còn thiết tha hữu nghị nữa hay sao? Hãy mang chiếc đầu hói ra giàn khoan mà hữu nghị, chỉ cần 3 giây, tụi Tàu nó nhổ không còn sợi... lông! Tầm cỡ chủ tịch thế này, hèn gì mấy bà chị dân oan, ngày 24/6 đấu tranh trước trụ sở Hạ Nghị Viện VNCH giăng khẩu hiệu: “500 ông nghị gật hãy ra Hoàng Trường Sa bàn luật chống ngoại xâm, trong nước đã có luật, luật là ta, ta là luật.” Thật khôi hài và trớ trêu, sao mấy bà chị khéo chọn chỗ thế! Người đứng đầu thế này, 499 nghị gật còn lại ra gì? Hy vọng chuyện cười dưới đây có giá trị: Thằng bé nọ, đem ba con chim ra chợ bán, nó rao rằng: -Con thứ nhất đẹp, thông minh, biết làm toán, hát hay. Giá 1 triệu -Con thứ hai đẹp, thông minh, chưa biết làm toán, hát tạm được. Giá 2 triệu. -Con thứ ba xấu, dốt làm toán không được, không biết hát. Giá 5 triệu. Nó đứng giữa chợ rao ông ống, điếc cả ta người ta, ông già kia mắng nó: Mầy ngu bỏ mẹ, ai thèm mua chim của mầy! Sao ngu bác? Thằng bé hỏi, ông già trả lời: Còn gì nữa, con chim đẹp thông minh, biết làm toán, mầy bán có 1 triệu, con vừa vừa, mầy bán 2 triệu, con xấu dốt đặc cán mai, mầy hét 5 triệu, ai thèm mua? Thằng bé: Thưa bác nó ngu, nó xấu mà nó lãnh đạo 2 con kia! Ấy chà, cái đất nước này y chang chuyện cười, càng ngu càng xấu, càng đớn hèn càng ngồi trên cao chót vót. Bác và đảng của các ông đã trót “thờ Mao chủ tịch, thờ Stalin,” thì cứ việc thờ, thờ nó linh lắm, nó phù hộ đến đời con, đời cháu chắt truyền ngôi lãnh đạo, bác Hồ bác hiết là bác, là cha non, cha già của các ông, chứ dân tộc nào đã chấp nhận cái ngữ này. Hữu nghị, hữu nghiết cứ kêu trong nội bộ đảng CS (chó săn) của các ông, kêu ra ngoài dân, họ chửi cha mấy ông í! Mấy ông kêu gào hữu nghị cho hết hơi, tụi Tàu nó chổng mông nghe cho, không thấy Tàu tạm đóng một số cửa khẩu sao!? Chưa cần nói tới xâm lược, chỉ nhìn thấy Tàu chuyên sản xuất hàng gian, hàng nhái, hàng độc hại, cũng đã không ai muốn chọn làm bạn, hữu nghị với nó, chỉ có bọn cộng sản mất dạy, bọn đầu đường xó chợ. Chứ người đàng hàng tử tế không chơi. Ông Bút Qúa thấpChúng nó là giống gì ? Cộng sản Việt Nam
- Tầm Của Quốc Hội Thấp Hơn Tầm Đời Sống Chính Trị Đất Nước
- Tầm Của Đại Biểu Quốc Hội Thấp Hơn Tầm Của Người Dân, Thấp Hơn Đòi Hỏi Của Đời Sống Xã Hội
Quốc hội họp trong cơn nóng thế sự ngút trời người dân cả nước hừng hực căm phẫn China nghênh ngang đưa giàn khoan xâm lược vào sâu trong vùng biển của ta. Chủ quyền, lãnh thổ bị xâm phạm. Danh dự, phẩm giá đất nước bị làm nhục. Người dân càng tủi nhục và đau xót hơn khi đối mặt với kẻ xâm lược ở chính trường thế giới, người có trách nhiệm bảo vệ đất nước không biết đến danh dự, không biết đến trách nhiệm, chỉ lo ve vãn, mơn trớn, lấy lòng kẻ xâm lược. Nguy khốn hiển hiện ngay trước mắt: mất biển dẫn đến mất nước đã cận kề. Những người cầm quyền chỉ lo giữ đảng để giữ ghế quyền lực. Không lo giữ nước, họ còn mang lợi ích đất nước ra đánh đổi lấy sự bảo lãnh chiếc ghế quyền lực, bổng lộc của họ. Những tâm hồn Việt cảm thấy bơ vơ, cuộc sống vô nghĩa, người Việt ở trong nước và ngoài nước nối tiếp tự thiêu. Như người dân Tây Tạng nối tiếp tự thiêu trong nỗi đau, nỗi nhục của người dân nô lệ bị China cướp mất đất Tây Tạng.
Đất nước như vậy, người dân như vậy nhưng Quốc hội vẫn dửng dưng chỉ dành một buổi cho Quốc hội chia thành các đoàn nhỏ vào các phòng nhỏ đóng kín cửa lại như nói thầm với nhau về biển Đông rồi lại bình thản lên hội trường lớn, lớn tiếng hào hứng bàn luận những chuyện tầm phào và nguội lạnh: đo mức độ tín nhiệm quan chức, thay đổi thẻ công dân... Tầm phào vì quan chức nhà nước do đảng sắp đặt. Theo lệnh đảng, Quốc hội bấm nút bầu họ vào các chức danh do đảng sắp đặt cũng chỉ để hợp thức hóa sự sắp đặt đó mà thôi. Quan chức cấp thấp do tỉnh ủy quản lí, cấp cao hơn do ban chấp hành trung ương, cao hơn nữa do ban Bí thư, bộ Chính trị quản lí. Đảng sắp đặt thì đảng chịu trách nhiệm, quan chức ngồi vào chiếc ghế quyền lực do đảng sắp đặt chỉ để hưởng bổng lộc, đâu có trách nhiệm gì với Quốc hội, với người Dân. Người dân và Quốc hội đâu có vai trò gì đến chiếc ghế bổng lộc của quan chức mà đòi bỏ phiếu tín nhiệm với họ!
Không có Nghị quyết với cơ quan hành pháp có trách nhiệm về việc lãnh thổ bị xâm lược, không có Tuyên bố với thế giới việc China ngang nhiên xâm chiếm vùng biển Việt Nam, Quốc hội chỉ ra thông cáo về biển Đông. Thông cáo chỉ là văn bản hành chính thông tin những sự việc tự nhiên, thông thường và chỉ có tính nội bộ. Với cách hành xử đó, Quốc hội hoàn toàn không cùng nhịp đập với trái tim người Dân, không cùng nỗi niềm lo toan việc riêng việc chung, việc dân, việc nước của người Dân. Tầm của Quốc hội quá thấp so với tầm của người Dân!
Ở nhà nước độc tài, những việc có nội dung dân chủ chỉ được thực hiện một cách hình thức, trống rỗng và vô nghĩa. Sau mỗi kì họp Quốc hội, các ông bà nghị lại về tiếp xúc chiếu lệ với vài chục cử tri chọn lọc, ngoan ngoãn, phục tùng. Danh nghĩa là các ông bà nghị tiếp xúc cử tri, lắng nghe tiếng nói cuộc sống từ cử tri. Nhưng đó là những cử tri đã được chọn lọc. Người Dân có tiếng nói trung thực, đúng đắn của cuộc sống đất nước thì không bao giờ được chọn. Chỉ có những cử tri luôn đồng tình, tán dương với mọi việc làm của đảng và nhà nước mới được tiếp xúc với “đại biểu của Dân”. Với họ, đảng và nhà nước bao giờ cũng sáng suốt, cũng đúng, chỉ có đôi lúc người thực hiện chưa tốt mà thôi. Tiếp xúc với những cử tri như vậy, ông bà nghị liền trở về vị trí quan lớn trong bộ máy nhà nước mà họ đang đảm nhiệm để ban phát lời vàng cho Dân, để báo chí giật chữ lớn lời của họ trên trang báo.
Ông nghị đang ngồi ghế Chủ tịch nước là ông nghị bự. Có thói quen vuốt đuôi cử tri, khi người Dân nhức nhối chuyện tham nhũng của bộ máy công quyền, ông nghị bự liền gọi đám tham nhũng đó là một bầy sâu. Bầy sâu lúc nhúc đó đang đục ruỗng đất nước, Dân biết từ lâu. Dân còn biết rõ từng con sâu lớn, sâu nhỏ. Nhưng Dân đen không thể đụng được đến bầy sâu đầy quyền lực đó. Thấy ông nghị bự cũng biết đến bầy sâu đó, Dân hi vọng, chờ đợi. Nhưng ông nghị bự nói chỉ để lấy lòng dân. Nói rồi để đấy. Bầy sâu cứ sinh sôi phát triển.
Lần này, lấy lòng Dân không gì tốt hơn là nói về biển Đông: “Phải giành lại chủ quyền. Đời ta không xong thì đến đời con cháu”! Nói như vậy là nhà nước cộng sản Việt Nam dựa vào sức mạnh cộng sản Chia để tồn tại sẽ chẳng dám làm gì với China đành để mất biển, mất đảo, đẩy nỗi đau mất mát cho con cháu!
Tìm mọi cách vay nợ nước ngoài thật nhiều để có nhiều tiền bòn rút, đẩy gánh nợ oằn lưng cho con cháu. Đào bới, vơ vét cạn kiệt tài nguyên cho đầy túi tham, đẩy cho con cháu một đất nước tan hoang những bãi thải ngập ngụa bùn đỏ, sông đen ô nhiễm. Liên minh ý thức hệ với China, cam chịu cho China cướp đất cướp biển, để lại cho con cháu gánh nặng phải giành lại núi sông biển trời của tổ tiên đã bị mất mát. Ôi, người Dân đang sống trong nhà nước độc tài đảng trị đã bất hạnh mà đến đời con đời cháu dù không còn nhà nước độc tài cộng sản nhưng với di sản nhà nước độc tài để lại, con cháu còn quá bất hạnh!
Tầm của những ông nghị bà nghị thấp hơn tầm người Dân, tất yếu tầm Quốc hội thấp hơn tầm thời đại, thấp hơn mặt bằng xã hội. Vì thế luật Quốc hội làm ra bao giờ cũng ở phía sau đời sống xã hội. Luật cứ sửa hoài cũng không bao giờ theo kịp cuộc sống!
Nếu chiến tranh xảy ra...
Ý kiến nầy, chỉ có thể đúng ở những ai có cái nhìn về góc cạnh nhân dân Trung Quốc sẽ nổi lên lật đổ chế độ Cộng sản Trung Cộng. Nhưng, nếu đặt kỳ vọng ở Hoa Kỳ thì sai!
Người Mỹ rất thực dụng. Những tính toán từ các bộ óc siêu việt trong chánh phủ Hoa Kỳ, không và chẳng bao giờ làm điều gì không có lợi ích cho quốc gia họ. Người viết có thể khẳng định, giả sử, Trung Cộng tàn sát 50% dân tộc họ, chánh quyền Mỹ (cũng nhưng các quốc gia khác) chỉ lên tiếng phản đối chiếu lệ trên diễn đàn quốc tế mà thôi. Nhưng, nếu quốc gia nào đụng đến nhân dân của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ thì sẽ biết hậu quả như thế nào.
Bình thường chánh quyền Mỹ không hề tuyên bố lếu láo, khoa trương, không hề có ý định xâm chiếm lãnh thổ và không hề có ý đô hộ bất cứ quốc gia nào. Lòng nhân ái của giới lãnh đạo và nhân dân Hoa Kỳ luôn mở rộng vòng tay đón tiếp tất cả các dân tộc bị đàn áp, hãm hại ở khắp nơi trên thế giới.
Với đất nước bị chiến bại trước sức mạnh vô địch của mình, sau cuộc chiến Hoa Kỳ sẵn sàng bảo vệ và giúp quốc gia ấy phát triển để tiến lên.
Về tình hình biển Đông hiện nay, Trung Cộng đã ngang nhiên thực hiện ý đồ xâm lược với tham vọng độc chiếm Châu Á Thái Bình Dương. Điều nầy đã chạm đến quyền lợi cốt lõi của Hoa Kỳ, mà giới lãnh đạo ngành ngoại giao Hoa Kỳ đã công khai xác định. Dù muốn hay không Hoa Kỳ không thể làm ngơ. Nếu Trung Quốc xem thường những lời cảnh báo ấy, thì chiến tranh sẽ xảy ra. Và, chắc chắn Trung Quốc sẽ trở về thời kỳ đồ đá.
Vì sao?
- Những tính toán chiến lược về an ninh Quốc Phòng của Mỹ thường là 40 năm.
- Không như Trung Quốc từng lếu láo tuyên bố “quân đội giải phóng nhân dân” của họ, là một quân đội hùng mạnh nhất thế giới. Quá sai lầm! Gián điệp của Trung Cộng chỉ có thể biết quân đội chánh thức của Mỹ. Nhưng Hoa Kỳ có một đội quân “tạm gọi là bí mật”, không một quốc gia nào có thể đoán được, và không một quốc gia nào đạt được số lượng ấy.
- Về vũ khí, những thứ vũ khí được Trung Quốc liệt vào hạng “tối tân, hiện đại nhất” chỉ là thứ vũ khí được sao chép, là một thứ hàng mạo hóa, ăn cắp từ những đồ án thiết kế của Mỹ đã lỗi thời ít nhất 15 năm.
- Kho vũ khí của Hoa Kỳ, là kho vũ khí lớn nhất thế giới. Người ta ước lượng “chỉ bằng” các kho vũ khí của nhiều nước gộp lại, trong đó cả Nga, Tàu, Anh, Pháp, Đức…
- Hiện tại, Bộ Binh Hoa Kỳ, mỗi tiểu đội đều được trang bị máy bay, trong tương lai, có thể một tiểu đội có hai chiếc. Xa hơn, máy bay sẽ là thứ vũ khí chống phi cơ chiến đấu của địch được trang bị cho từng binh sĩ.
- Phi cơ dội bom tối tân nhất của Quân Đội Hoa Kỳ, một lần có thể thả xuống đất địch vài chục quả bom với vài chục mục tiêu khác nhau, rất chính xác.
- Về bảo vệ nhân viên Quốc Phòng, có thể không ai ngờ, một nhân viên quốc phòng của Mỹ, làm việc trong các cơ quan liên quan đến Ngũ Giác Đài, từ nhà đến nơi làm việc phải vào “ba nơi bí mật” để thay đổi 3 lần xe. Khi trở về cũng theo quy luật ấy.
Thế thì, - có lẽ sẽ có vị đặt vấn đề, vì sao Mỹ để cho năm tên gián điệp Trung Cộng: Wang Dong, Sun Kailiang, Wen Xinyu, Huang Zhenyu, và Gu Chunhui độn nhập ăn cắp tài liệu từ năm 2006 đến năm 2014 mới phát hiện? Câu trả lời: “Thứ tài liệu cố tình để cho trộm cắp, và thời cơ truy nã chưa đến." Nếu năm 2014 nầy, Trung Quốc không hung hăng xâm phạm lãnh hải các quốc gia láng giềng, chắc chắn những tên gián điệp ấy cũng được an nhiên hành động.
- Hiện nay, giới chức lãnh đạo Hoa Kỳ, đều đồng quan điểm: “Trung Cộng là một quốc gia xảo trá và ngang ngược nhất thế giới”. Như thế, liệu Hoa Kỳ có thể nằm yên để cho Trung Cộng tiếp tục xâm lấn quyền lợi cốt lõi của Hoa Kỳ ở Châu Á Thái Bình Dương và tiếp tục ngang ngược lãnh hải các quốc gia khác không?
Để kết thúc, tử huyệt của Trung Quốc không phải là sự kiện xảy ở Thiên An Môn từ 25 năm trước, mà ở các giàn khoan vi phạm luật pháp quốc tế.
Chúng ta nên biết, chánh phủ Mỹ, nhất định dùng mọi biện pháp ngăn chận tất cả các cuộc chiến tranh có thể xảy ra trên lãnh thổ Hoa Kỳ. Như vậy, chiến tranh, nếu có, sẽ xảy ra nơi đâu? Câu trả lời chẳng ai cũng có thể trả lời chính xác.

Mike Lowe- 1989: Năm của Nhân Dân
Trần Quốc Việt (Danlambao) dịch - 15 tháng Giêng, Praha: 4.000 người biểu tình ở Quảng trường Wencelas để tưởng niệm Jan Palach, người đã tự thiêu để phản đối Liên Xô xâm lăng Tiệp Khắc vào năm 1968.
6 tháng Hai, Ba Lan: Hội nghị bàn tròn bắt đầu giữa chính quyền, Công đoàn Đoàn kết, và Giáo hội Công giáo.
11 tháng Hai, Hungary: Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản chấp nhận nguyên tắc của chế độ đa đảng.
9 tháng Ba, Vilnius: 15.000 người tham dự cuộc biểu tình đòi độc lập cho Lithuania.
22 tháng Ba, Hungary: Tám nhóm đối lập họp lại để công bố một cương lĩnh chung cho các cuộc đối thoại với Đảng Cộng sản.
26 tháng Ba, Liên Xô: Lần đầu tiên ở Liên Xô những cuộc tranh cử vào Quốc Hội gồm 2.250 đại biểu nhân dân mới. Một phần ba những người lãnh đạo đảng ở địa phương thất cử.
5 tháng Tư, Ba Lan: Hội nghị bàn tròn kết thúc bằng sự hợp pháp hóa Công đoàn Đoàn kết và đồng ý về các cuộc bầu cử tự do vào tháng Sáu.
4 tháng Sáu, Ba Lan: Công đoàn Đoàn kết thắng 99 phần trăm số ghế ở Thượng viện và tất cả số ghế được bầu ở Hạ viện, mặc dù thỏa thuận ở hội nghị bàn tròn bảo đảm những người cộng sản một đa số gồm hai phần ba số ghế. Các cuộc thương lượng về thành lập chính phủ bắt đầu.
4 tháng Sáu, Bắc Kinh: Quân đội bắn vào những người biểu tình ở Quãng trường Thiên An Môn.
13 tháng Sáu, Hungary: Hội nghị bàn tròn giữa chính quyền và đối lập bắt đầu.
22 tháng Tám, Lithuania: Uỷ ban Quốc hội tuyên bố việc Liên Xô sáp nhập Lithuania vào năm 1940 là bất hợp pháp.
23 tháng Tám, Các nước Baltic: Những cuộc biểu tình đòi độc lập ở Estonia, Latvia và Lithuania kết thành hàng rào người nắm tay nhau kéo dài 540km từ Tallinn đến Vilnius.
24 tháng Tám, Ba Lan: Tadeusz Mazowiecki thuộc Công đoàn Đoàn kết được bổ nhiệm làm thủ tướng.
11 tháng Chín, Hungary: Chính quyền cho phép những người tỵ nạn Đông Đức đi qua biên giới để vào Áo.
12 tháng Chín, Ba Lan: Công đoàn Đoàn kết giữ hầu hết các chức vụ trong chính phủ mới, mặc dù những người cộng sản vẫn nắm giữ hai bộ chủ chốt nội vụ và quốc phòng.
18 tháng Chín, Hungary: Hội nghị bàn tròn kết thúc bằng thỏa thuận về các cuộc bầu cử tự do vào tháng Ba 1990.
27 tháng Chín, Slovenia: Tuyên bố độc lập và tách ra khỏi Nam Tư, các cuộc bầu cử tự do sẽ diễn ra vào tháng Tư.
30 tháng Chín, Đông Đức: Ban lãnh đạo cho phép những người tỵ nạn đã vào được tòa đại sứ Tây Đức ở Praha đi đến Tây Đức bằng tàu lửa chạy qua Đông Đức.
4 tháng Mười, Dresden: Công an dùng vũ lực nhằm ngăn cản dân chúng cố gắng leo lên tàu lửa bị đóng kín mà chở những người tỵ nạn Đông Đức từ Praha đến Tây Đức.
7 tháng Mười, Hungary: Đảng Cộng sản tự giải tán và cải tổ thành Đảng Xã hội Hungary. Vào cuối tháng Mười Một số lượng đảng viên chỉ còn lại 45.000 người, so với số lượng hơn 800.000 đảng viên vào năm trước đó.
9 tháng Mười, Leipzig: 50.000 người biểu tình và làm bùng phát các cuộc biểu tình trên khắp Đông Đức.
18 tháng Mười, Đông Đức: Tổng Bí thư cứng rắn Đông Đức Eric Honecker bị khai trừ ra khỏi Đảng Cộng sản sau khi có tin rằng ông ta đã ra lệnh các lực lượng an ninh bắn vào người biểu tình. Thay thế ông là bộ trưởng bộ công an, Egon Krenz.
23 tháng Mười, Leipzig: Hàng trăm ngàn người biểu tình đòi cải cách dân chủ.
25 tháng Mười, Liên Xô: Gorbachev tuyên bố "Học thuyết Sinatra": Liên Xô sẽ cho phép các nước khác trong khối liên minh các nước cộng sản ở Đông Âu được "làm theo cách của họ".
4 tháng Mười Một, Bulgaria: Phong trào môi trường Ecoglasnot tổ chức cuộc biểu tình kêu gọi cải cách dân chủ.
9 tháng Mười Một, Đông Berlin: Krenz tuyên bố những công dân nộp đơn sẽ được phép đi đến Tây Phương. Tin đồn loan ra rằng Bức tường Berlin sẽ mở, cho nên hàng ngàn người đổ xô đến các trạm biên phòng ở Bức tường: đến nửa khuya bức tường sụp đổ. Ban lãnh đạo Đông Đức tuyên bố những cải cách cơ bản.
10 tháng Mười Một, Đông Berlin: Hàng trăm ngàn người tràn qua Tây Đức.
10 tháng Mười Một, Bulgaria: Cựu bộ trượng ngoại giao Peter Mladenov, người đồng ý các cuộc thảo luận bàn tròn và bầu cử tự do, lên làm tổng bí thư Đảng Cộng sản thay thế Todor Zhivkov.
17 tháng Mười Một, Praha: Hàng trăm người bị thương khi công an chống bạo động phá tan cuộc biểu tình của sinh viên.
19 tháng Mười Một, Praha: Các nhóm đối lập hình thành Diễn đàn Dân sự do nhà viết kịch Vaclav Havel lãnh đạo. Họ kêu gọi tổng đình công hai giờ đồng hồ vào ngày 27 tháng Mười Một.
20 tháng Mười Một, Praha: Havel phát biểu trước 200.000 người biểu tình ở Quãng trường Wenceslas.
24 tháng Mười Một, Praha: Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản Tiệp Khắc từ chức. Hàng trăm ngàn người vui mừng hân hoan.
25 tháng Mười Một, Praha: Uỷ ban Trung ương Đảng mới được công bố mà bao gồm nhiều người theo đường lối cứng rắn. Diễn đàn Dân sự tuyên bố cuộc tổng đình công dự định là một "cuộc trưng cầu dân ý tượng trưng" về sự ủng hộ dành cho chế độ.
27 tháng Mười Một, Praha: Cả nước bị tê liệt khi đa số dân chúng tham dự cuộc tổng đình công.
29 tháng Mười Một, Praha: Quốc hội đệ trình những thay đổi về hiến pháp qua đó kết thúc sự thống trị của Đảng Cộng sản và công bố ủy ban điều tra về những hành động của công an vào ngày 17 tháng Mười Một.
6 tháng Mười Hai, Đông Đức: Manfred Gerlach, nhà lãnh đạo dân chủ cấp tiến, thay thế Krenz.
16-17 tháng Mười Hai, Timisoara, Romania: Bảy mươi ba người bị thảm sát khi lực lượng an ninh bắn vào những người biểu tình.
20 tháng Mười Hai, Timisoara, Romania: 50.000 người biểu tình chống bạo lực của chính quyền. Hầu hết quân đội từ chối không tuân theo lệnh bắn vào những người biểu tình.
21-22 tháng Mười Hai, Bucharest: Cuộc biểu tình quốc doanh theo lời kêu gọi của nhà lãnh đạo Nicolae Ceausescu biến thành cuộc biểu tình chống lại ông. Ceausescu bỏ trốn trên chiếc trực thăng riêng.
23 tháng Mười Hai, Romania: Mặt trận Cứu nguy Dân tộc được thành lập. Trong vài ngày tới hơn 1.000 người chết trong các cuộc giao tranh.
25 tháng Mười Hai, Bucharest: Ceausescu bị bắt, bị xử án rồi bị tử hình cùng với vợ và con trai.
Nguồn: Tạp chí Anh For A Change, số tháng Tám-tháng Chín 1999
|
VN 'chuẩn bị cho tình huống xấu' với TQCập nhật: 10:11 GMT - thứ tư, 2 tháng 7, 2014
 Cuộc họp chính phủ hôm 1/7 Chính phủ Việt Nam cho biết đã chuẩn bị cho 'tình huống xấu' với Trung Quốc, trong lúc ý kiến chuyên gia nói Bắc Kinh sẽ không chọn cách cắt giao thương. "Với tình huống xấu xảy ra, hoạt động giao thương kinh tế thương mại với Trung Quốc đình trệ thì cần mở rộng thị trường", ông Nguyễn Văn Nên, Chủ nhiệm văn phòng chính phủ, được báo Dân Trí dẫn lời nói trong cuộc họp chính phủ hôm 1/7. “Trong các tình huống đó, tuy có ảnh hưởng nhưng không quá lớn đến mức chúng ta không giải quyết được". “Thực ra các kịch bản này đã được đề ra từ lâu. Với đường lối độc lập tự chủ của Việt Nam, các cấp lãnh đạo nhà nước đã nêu yêu cầu làm sao để nền kinh tế Việt Nam không quá phụ thuộc vào thị trường nào”, ông nói thêm. Căng thẳng trên Biển Đông từ khi Bắc Kinh đưa giàn khoan vào vùng biển mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền đã gây nhiều lo ngại rằng nền kinh tế Việt Nam, vốn dựa vào Trung Quốc để làm nguồn cung vật liệu và sản phẩm trung gian cho nhiều ngành xuất khẩu, sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng Trung Quốc sẽ không muốn quan hệ thương mại với Việt Nam bị xấu đi. Trả lời BBC ngày 2/7, tiến sỹ Vũ Minh Khương, giảng viên tại Đại học Quốc gia Singapore, nói "khả năng Trung Quốc đóng cửa hoàn toàn là không có". "Nếu Việt Nam bị thiệt hại một thì Trung Quốc cũng bị thiệt hại thêm nhiều lần." "Hơn ai hết, Trung Quốc rất sợ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, mà cách hành xử vừa qua của Trung Quốc đối với khu vực và thế giới đã tạo ra những trở lực rất lớn cho Trung Quốc phát triển nhanh chóng." "Việt Nam phải chủ động trong những tình huống có thể xảy ra và xem tình huống hiện nay là động lực để cải cách toàn diện, trong đó có những cải cách lâu nay vẫn ngần ngại." 'Hy sinh cho thế hệ sau' Theo ông Khương, Việt Nam cần chú trọng vào việc "vượt trên đầu" những người muốn ngăn trở mình, thay vì chỉ "đối đầu". "Đây là một nguyên lý rất quan trọng để Việt Nam trỗi dậy trong những thập kỷ tới", ông nói. "3 chữ C: Con người, cơ chế, chiến lược sẽ cho Việt Nam khả năng vượt lên đầu và tránh đối đầu." "Cần tìm những người có lòng với đất nước, cần có hệ thống chính trị sẵn sàng đổi mới cơ chế để cho phép người tài được cống hiến hết khả năng của mình và từ nhiệm khi đã hoàn thành nhiệm vụ." Ông cho rằng căng thẳng hiện nay là động lực để Việt Nam tái cân bằng điều mà ông gọi là sự 'rối loạn về cơ cấu thương mại'. "Việt Nam xuất sang Trung Quốc chỉ hơn 15 tỷ đôla, hầu hết là hàng nông sản, nguyên liệu, trong khi nhập hơn 35 tỷ đôla. Đó là mức thâm hụt rất lớn", ông nói. "Việt Nam nhập siêu rất nhiều hàng tiêu dùng và nguyên vật liệu, nhưng không có tính chất gì về công nghệ hay giá trị cao cả, chỉ tham giá rẻ, chấp nhận chất lượng thấp." "Trong ngắn hạn mà nói thì mọi rối loạn về thương mại đều gây sốc cho nền kinh tế, nhưng đó là cú sốc buộc Việt Nam phải chấn chỉnh cơ cấu thương mại mất hợp lý quá lâu dài". "Thế hệ ngày này phải chấp nhận những hy sinh gian khổ rất lớn để thế hệ sau có thể thừa hưởng những thành quả mà thế hệ này đã tạo ra." 'Không thiếu nguồn lực'
 Tiến sỹ Vũ Minh Khương nói nỗ lực của Việt Nam hiện nay không bằng Hàn Quốc và Đài Loan thời Chiến Tranh Lạnh Ông Khương cho rằng Việt Nam không thiếu nguồn lực mà thiếu 'tâm thế' để vượt lên. "Đài Loan và Hàn Quốc gặp rất nhiều thách thức trong thời Chiến Tranh Lạnh và tài trợ của thế giới vào họ rất hạn chế, chủ yếu là từ Mỹ," ông nói với BBC trong cuộc phỏng vấn ngày 2/7. "Nhưng tôi quan sát kinh nghiệm của họ thì thấy các nhà đầu tư giúp đỡ họ đều cảm thấy kinh ngạc vì nỗ lực của những nước này vượt xa kỳ vọng của nhà viện trợ." "Trong khi đó, nếu nhìn lại các dự án của Việt Nam thì phần lớn đều bị đánh giá thấp hơn kỳ vọng hoặc trung bình thấp." "Như vậy vấn đề ở đây là sử dụng nguồn lực thế nào để vượt lên chứ không phải là thiếu nguồn lực." "Ba chữ C mà tôi nói: con người, cơ chế, chiến lược, mới là cái Việt Nam đang thiếu." "Cần phải có quyết tâm lớn từ Đảng, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam. Rất nhiều bạn bè quốc tế cũng rất sẵn sàng tư vấn để giúp Việt Nam phát triển." "Có điều họ có coi trọng sứ mệnh đưa đất nước trở nên phồn vinh hay không, hay vẫn bám lấy thứ ý thức hệ giáo điều, lợi ích cá nhân và những thứ mơ hồ khác?"
THẢO LUẬN THOÁT TRUNG VỀ VĂN HOÁ: Giã từ nền văn hoá quỳ lạy Có lần, Hán Cao Tổ Lưu Bang (202 trước Công nguyên) nói với Lục Giả: “Ta ngồi trên lưng ngựa mà có được thiên hạ thì cần gì phải học Thi, Thư…”. Nhưng rồi Hán Cao Tổ cũng nghe lời khuyên của Lục Giả trọng dụng kẻ sĩ, đề cao Nho giáo để củng cố ngai vàng. Đến đời Hán Vũ Đế (140 trước Công nguyên) thì đạo Nho trở thành quốc giáo. Khổng Tử (sinh năm 551 trước Công nguyên, thọ 73 tuổi), người được xem là sáng lập ra Nho giáo được tôn lên bực thánh, trở thành Vạn thế sư biểu (người thầy của muôn đời). Điều cốt lõi của Khổng giáo là lý thuyết về người quân tử, tức kẻ cai trị đất nước (quân là cai trị, quân tử là người cai trị). Theo Khổng Tử thì người quân tử phải biết tu thân, phải có đạo đức và biết thi, thư, lễ, nhạc… Tu thân rồi, người quân tử phải dấn thân hành động: tề gia, trị quốc, bình thiên hạ! Người quân tử phải chính danh để cai trị đất nước. Các triều đại phong kiến sau này đều triệt để khai thác Khổng giáo, họ biến đổi, “gia cố” Nho giáo thành một triết thuyết cực đoan có lợi cho giai cấp thống trị. Chữ đạo của Khổng Tử là những mối quan hệ phải có trong xã hội thời đó như đạo vua-tôi, cha-con, chồng-vợ, anh-em, bạn hữu… sau này chỉ còn ba quan hệ vua-tôi, cha-con, chồng-vợ với cái logic phản động và phản dân chủ nhất: quân sử thần tử, thần bất tử bất trung (vua bảo chết, thần không chết là bất trung); phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu (cha bảo con chết, con không chết là bất hiếu); với phụ nữ thì: tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử (ở nhà thì phải theo cha, lấy chồng thì phải theo chồng, chồng chết phải theo con). Trong chế độ phong kiến, nhân dân đã tiếp thu những “đạo lý” đó như người khát nước uống thuốc độc để giải khát. Chế độ phong kiến tàn bạo và thối nát ở Trung Quốc đã nhờ triết thuyết của Khổng giáo mà tồn tại và kéo dài cho đến cách mạng Tân Hợi 1911. Vì thế, nhà văn hoá Nguyễn Khắc Viện (1913-1997) đã phê phán Nho giáo một cách triệt để: “Trên phương diện chính trị, Nho giáo chủ yếu là bảo thủ. Nó bỏ qua vấn đề pháp luật và thiết chế, từ chối mọi cải cách… Bảo vệ lễ nghi của các triều đại xưa là mối quan tâm hàng đầu của Khổng Tử. Trong chữ lễ, vương triều Trung Hoa cũng như Việt Nam đã tìm thấy biện pháp tốt nhất để duy trì sự ổn định của ngai vàng” (Bàn về đạo Nho – nguyên văn tiếng Pháp đăng trên tạp chí La Pensée số 10-1962 với đề là Confucianisme et Marxisme au Vietnam. Dịch sang tiếng Việt, in trong Bàn về Đạo Nho – 1993). Với Khổng giáo, vua là Thiên tử (con Trời), thay Trời cai trị muôn dân. Vua với nước là một. Yêu nước là trung với Vua (trung quân ái quốc). Điều nguy hiểm nhất của triết thuyết Khổng Tử là: Người quân tử nhờ tu thân mà có vai trò cai trị, nhưng khi quân tử – tức kẻ cai trị – không tu thân, trở thành những hôn quân bạo chúa thì dân chúng vẫn phải cam chịu, không được làm cách mạng lật đổ chúng. Vì thế Nguyễn Khắc Viện mới viết: Khổng Tử từ chối mọi cải cách! Trong xã hội Khổng giáo mấy ngàn năm ở Trung Quốc, kẻ sĩ đi học là mong được làm quan. Làm quan để được quỳ lạy dưới ngai vàng. Cái văn hoá quỳ lạy ấy đã kìm hãm nước Trung Hoa trong vòng tăm tối mấy ngàn năm. Trong nền văn hoá quỳ lạy ấy, chỉ có kẻ trên đúng. Chỉ có vua đúng. Vua bảo chết là phải chết. Cha bảo chết thì con phải chết. Tóm lại là không có chân lý. Hay nói khác đi, không ai đi tìm chân lý cả. Chân lý đã có sẵn ở kẻ bề trên, ở triều đại chính thống, bất kể nó thế nào! Điều trớ trêu là văn hoá quỳ lạy ấy còn tồn tại đến hôm nay ở nước Trung Hoa cộng sản. Tướng Lưu Á Châu, một nhà bình luận nổi tiếng ở Trung Quốc hiện nay kể rằng, khi ông đi học một lớp chính trị trong quân đội, thấy thầy giảng chướng quá, ông đứng lên thắc mắc. Ông thầy liền nói: Tại sao anh dám cãi lại tôi? Tướng Lưu Á Châu thất vọng, vì thầy đã không dám hỏi: “Vì sao anh lại nói như thế?”, rồi tranh luận để tìm ra chân lý. Thầy chỉ phán: “Vì sao anh dám cãi lại tôi?!”. Thầy luôn đúng. Trò không được cãi. Nước Trung Hoa cộng sản hôm nay vẫn nguyên hình là một xã hội Khổng Mạnh trá hình mà thôi! Trong khi đó thì ở phương Tây, cùng thời với Khổng Tử, Aristote (384-332 trước CN) đã tuyên bố: “Platon là thầy tôi, nhưng chân lý còn quý hơn thầy!” . Cái văn hoá chân lý quý hơn thầy ấy đã dẫn dắt phương Tây trở thành một xã hội dân chủ và văn minh đến ngày hôm nay. Việt Nam chúng ta từng một ngàn năm Bắc thuộc, lại luôn chịu ảnh hưởng của người láng giềng hủ bại Trung Hoa, nên tầng lớp có học của nước ta thấm đẫm thứ văn hoá quỳ lạy của Trung Hoa. Trí thức nước ta trong mấy ngàn năm lịch sử chỉ lo dùi mài kinh sử để mong đỗ đạt làm quan, để được quỳ lạy trước sân rồng. Có người già rồi còn đi thi, suốt đời ăn bám vợ con. Việc làm ra của cải vật chất đều do người phụ nữ và những người ít chữ gánh vác. Trí thức Việt Nam trong quá khứ không ai học để làm cách mạng, để thay đổi đất nước. Hình ảnh con trâu đi trước, cái cày theo sau còn tồn tại đến hôm nay ở nông thôn miền Bắc là kết quả của tư duy làm quan, tư duy quỳ lạy. Báo chí của Việt Nam hôm nay hay ca ngợi một bà mẹ đi bán hàng rong mà nuôi được bốn năm người con học đại học. Học để mong kiếm một mảnh bằng vênh vang với làng xóm! Học để mong kiếm một cái chân trong cơ quan nhà nước, để trở thành một anh công chức, một anh nha lại, trên bảo dưới phải nghe. Khi bàn về việc trọng dụng đội ngũ trí thức, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có lần nói, đại ý, xung quanh thủ tướng toàn là những người có bằng cấp cao, thạc sĩ, tiến sĩ… toàn là trí thức! Thực ra các vị đó chỉ là những công chức, không phải trí thức. Mà đã là công chức thì trên bảo gì dưới phải nghe theo. Nếu không nghe thì “văng” ra khỏi bộ máy quyền lực ngay lập tức. Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện lúc bình sinh có nói với người viết bài này: “Tư bản Pháp chỉ tuyển chọn vào bộ máy những người đỗ đạt cao. Vì thế, khi vào một cơ quan công quyền, người ta biết rõ những người ngồi đó đều là người tài giỏi, vì thế, họ vừa có quyền, lại vừa có uy. Thế mới gọi là uy quyền. Nhưng quyền uy mấy thì cũng là công chức. Nhân dân Pháp chỉ kính trọng những trí thức tự do, vì họ dám phản biện xã hội, bảo vệ lẽ phải. Nước Pháp có hàng trăm nghìn hội đoàn độc lập. Đó là một lực lượng dân chủ hùng mạnh để cân bằng với chính quyền của giai cấp tư bản”. Buồn thay, bộ máy công quyền của Việt Nam hôm nay chỉ tuyển chọn những người “dễ bảo” hoặc biết “mua bán”. Vì thế nó ngày càng xuống cấp. Có lần, trong một cuộc gặp gỡ có nguyên Bộ trưởng L.H.N., phó giáo sư tiến sĩ V.T.K. và người viết bài này, trong lúc vui vẻ, phó giáo sư V.T.K. than phiền với Bộ trưởng L.H.N.: Mấy tay vụ trưởng đi theo anh chuyến này vô Nam, qua nói chuyện tôi thấy các vị đó dốt quá! Nguyên Bộ trưởng L.H.N. nói: Ngày xưa dốt là từ cấp thứ trưởng trở lên, cấp vụ nó giỏi lắm, nay nó dốt xuống đến cấp vụ rồi!!! Từ nền văn hoá làm quan, văn hoá quỳ lạy, đã hình thành một tâm lý xin-cho trong xã hội. Khi nhóm Cánh Buồm của nhà giáo Phạm Toàn soạn thảo bộ sách Học tiếng Việt cho học sinh lớp 1 theo hướng cải cách giáo dục, tôi đến chơi một người bạn cũ từng là một quan chức cao cấp, từng ở nước ngoài nhiều năm, có học thức cao… và tặng ông một trong các cuốn sách Học tiếng Việt đó. Cầm sách trong tay, ông nói ngay: Họ không cho lưu hành đâu anh ạ! Thì ra cái tâm lý xin-cho đã ngấm vào xương tuỷ giới trí thức nước ta. Trên phải cho thì dưới mới được làm! Dù chưa ai cấm đoán bao giờ! Ít lâu sau, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có ý kiến phải đưa Hoàng Sa, Trường Sa vào sách giáo khoa cho học sinh phổ thông học. Thế là tôi viết giới thiệu bài tập đọc “Lễ thả thuyền ra Hoàng Sa…” đã có trong sách Tiếng Việt lớp 1 của nhóm Cánh Buồm. Báo Người Lao động TP HCM đã đăng ngay bài đó trong tháng 1-2014 (vì… Thủ tướng đã… cho… nói về Hoàng Sa và Trường Sa!!!). Ngày nay nước ta đã manh nha kinh tế thị trường, có bao nhiêu điều kiện và cơ hội để học làm người tự do, làm khoa học, làm chuyên môn, làm nghề… làm ra của cải cho một đất nước “đói nghèo trong rơm rạ” (Chế Lan Viên) thì trí thức nước ta cần mau chóng giã từ nền văn hoá làm quan, văn hoá quỳ lạy có cội nguồn từ văn hoá Khổng Mạnh Trung Hoa để canh tân đất nước. Để kết thúc bài viết này, tôi xin kể một câu chuyện về giáo sư Nguyễn Đăng Hưng, ông sinh năm 1941 tại xã Điện Thắng Bắc huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam. Hiện ông là một Việt kiều ở Bỉ, hoạt động trong lĩnh vực khoa học không gian. Ông là một nhà khoa học rất nổi tiếng, là “một trong 10 người làm thay đổi nước Bỉ” như cách nói của chính phủ Bỉ. Ông giảng dạy ở bậc đại học đã nhiều năm, từng là trưởng Khoa Cơ học phá huỷ thuộc Khoa Kỹ thuật không gian Đại học Liège. Một ngày kia, đồng nghiệp của ông “phát hiện” ra ông chỉ có bằng kỹ sư, chưa có bằng tiến sĩ như bao đồng nghiệp khác đang làm việc cùng ông. Người ta đề nghị giáo sư Nguyễn Đăng Hưng làm hồ sơ để thi tiến sĩ. Khi giáo sư Hưng tập hợp các công trình mình đã làm và đã được ứng dụng trong sản xuất để trình Hội đồng, chuẩn bị cho luận án tiến sĩ sẽ làm, thì Hội đồng nhất trí cao rằng ông xứng đáng là tiến sĩ từ lâu rồi, khỏi cần thi! Tại một quán càfê ở đường Phạm Ngọc Thạch Quận 1 TP HCM cuối năm 2013 vừa qua, giáo sư Hưng tâm sự với chúng tôi: Mải làm việc quá nên tôi… quên làm tiến sĩ. Bao giờ cái văn hoá học để làm việc thay thế được văn hoá làm quan, văn hoá quỳ lạy trong giới tinh hoa ở nước ta, thì Việt Nam mới mở mày mở mặt được. Tháng 6-2014 Lê Phú Khải
Khi Hồ Quý Ly trả lời phỏng vấn
Ghi Chép Của Xuân Ba
Hồ Quý Ly chủ trương giải nghĩa Thư kinh, Thi nghĩa bằng chữ Nôm. Viết tựa sách Thi nghĩa bằng quốc ngữ theo ý riêng độc đáo của mình không theo quan điểm của Chu Hy mà các thức giả lẫn học giả đương thời lấy làm mẫu mực!
Đáp nhân vấn An Nam phong tục
Dục vấn An Nam sự An Nam phong tục thuần Y quan Đường chế độ Lễ nhạc Hán quân thần Ngọc ủng khai tân tửu Kim đao chước tế lân Niên niên nhị tam nguyệt Đào lý nhất ban xuân.
(Trả lời người phương Bắc hỏi về phong tục nước An Nam
An Nam muốn hỏi rõ Phong tục vốn thuần lương Lễ nhạc như tiền Hán Y quan giống thịnh Đường Dao vàng cá vảy nhỏ Bình ngọc rượu lừng hương Mỗi độ mùa xuân tới Mận đào nở chật vườn. Bản dịch của Tuấn Nghi - Thơ văn Lý Trần Tập III, NXB KHXH - Hà Nội 1978).
Bao nhiêu là những tiếc xót khi hậu thế phải bỏ vô số công ra sức tra xét mà chỉ tìm thấy 5 bài thơ của một vị vua độc đáo, “nhiệm kỳ” chỉ có 7 năm nhưng từng để lại một huân nghiệp mà hậu thế đến giờ cũng chưa giải mã một cách rốt ráo. Đó là Hồ Quý Ly!
Một trong 5 bài thơ ấy là Đáp nhân vấn An Nam phong tục (như đã dẫn trên đây) mà tôi không hề sợ sái khi khẳng định đó là một bài trả lời phỏng vấn cực kỳ hiếm hoi còn sót lại của một vị vua nước Việt. Mà lại cách ta dằng dặc như thời gian tồn tại của thành nhà Hồ: gần 700 năm!
Thiết nghĩ cũng cần làm cái việc vấn tổ tầm tông một chút. Nhà thờ tổ họ Hồ ở Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An, có bức đại tự Nhất bản năng song cán, nghĩa là một gốc tốt hai cành. Có lẽ cành họ Hồ ở hương Đại Lại, Thanh Hóa, là sum suê nhất của cái gốc tổ Quỳnh Lưu? Hương Đại Lại thuộc huyện Vĩnh Phúc của xứ Thanh mà dưới triều Tây Sơn do kị húy đổi thành huyện Vĩnh Lộc bây giờ... Tông phái họ Hồ ở Đại Lại có một viên quan nhỏ làm con nuôi của cụ Tuyên úy Lê Huấn. Cháu bốn đời của Lê Huấn mang tên Lê Quý Ly đã đến hồi phát trở thành người tin cẩn của triều đình nhà Trần bởi Quý Ly thuộc hàng ngoại thích.
Lê Quý Ly có hai người cô ruột được sung vào cung của triều đình nhà Trần đều làm vợ Vua Trần Minh Tông. Ba mươi năm ra vào nơi cung cấm dốc lòng khuyển mã từ khi khí vượng nhà Trần thịnh đến hồi suy, dũng họ Hồ bao năm tưởng chìm lút đi bởi họ Lê đã dần dà được bộc phát trong chí trai của người tráng niên Hồ Quý Ly.
 Một góc Thành nhà Hồ. Ảnh: Xuân Ba.
Như là biện chứng của Dịch lẫn tạo hóa, một triều đại phong kiến thường là thịnh cực thịnh rồi suy và cực suy. Triều Trần với những chiến công hiển hách năm nào đã trở nên lụ khụ cỗi cằn, thậm chí ngáng trở bước tiến của lịch sử bằng ông vua lẫn cẫn Trần Nghệ Tông mà sử chép có lần bỏ Thăng Long mà dông tuốt sang Đông Ngàn để giặc Chiêm Thành vào kinh thành giết chóc cướp bóc hãm hiếp như vào chỗ không người!
Triết thuyết phương Đông vốn thường xuýt xoa lẫn nắc nỏm rằng ở đời vốn hơn nhau một chữ Thời! Kiểu người như Hồ Quý Ly đã trở thành nhân vật, đã trở thành anh hùng của thời loạn ấy bằng việc đoạt lấy ngôi và mở ra một thời kỳ mới của lịch sử dân tộc bằng triều đại nhà Hồ với quốc hiệu Đại Ngu.
Tôi thơ thẩn dưới chân thành nhà Hồ chả phải là một lần, một bận… Trí lực bấy bớt từ những ngày cấp ba trường huyện ấy cho tới bây giờ bạc đầu vẫn cứ lồng lộng và lừng lững, và có lẽ vẫn mãi chắc khừ tầm vóc của một ngôi thành bằng đá xanh độc nhất vô nhị ở xứ Đông Nam Á này!
Lật đi lật lại mãi những trang quốc sử mà vẫn có điều chi thảng thốt: “Mùa xuân năm Đinh Sửu niên hiệu Quang Thái thứ 10 (tức là năm 1397) tháng Giêng, Hồ Quý Ly sai Lại bộ Thượng thư kiêm Thái sư lệnh Đỗ Tỉnh đi coi đất rồi đo đạc động An Tôn Phủ Thanh Hoa đắp thành đào hào lập nhà tông miếu dung đàn xã tắc mở đường phố có ý muốn dời đô. Việc ba tháng thì xong...”
Việc ba tháng thì xong. Cụm từ ấy cứ như là thách đố mai hậu? Ba tháng vừa thiết kế lẫn thi công một công trình đá một tòa thành đá chu vi 4 cây số vuông, cao 10 mét, 4 vòm cổng hoành tráng bằng những khối đá đồ sộ. Cửa Nam thành: Rộng 38 mét, cao từ 7 - 10 mét. Nội chỉ một tấm đá ở Cửa Tây mà đã dài 5,1 mét, rộng 1,59 mét, cao 1,3 mét. Độ nghiêng mặt thành và chân móng trơ trơ với tuế nguyệt 700 năm nay như thế mà chỉ có 1,5 độ! Đá xanh granit độ cứng từ 10-12 với những thớt, những khối vuông vức lẫn hình múi cam ấy lấy ở đâu và vận chuyển lắp ráp như thế nào, đến bây giờ vẫn là một câu hỏi?
Một bận tôi đã bám theo tổ công tác của ngài Kikuchi Seiichi, PGS. TS khảo cổ của Đại học Chiêu Hòa, Nhật Bản, về thành nhà Hồ. Họ làm nhiều thứ khảo cổ, trong đó có việc góp phần giải mã câu hỏi 3 tháng xây thành! Chuyện này sẽ nói vào dịp khác nhưng UNESCO mấy tháng trước vừa làm thủ tục tiếp nhận hồ sơ để công nhận Thành Nhà Hồ là Di sản thế giới.
Hồ Quý Ly để đời cho mai hậu chưa hẳn là cái tòa thành đá kỳ vĩ kia. Mà là sự nghiệp cải cách. Mà là học thuật lẫn trước tác. Mà tinh những thứ lạ, độc đáo. Thông cảm cho sự nổi đóa của nhà sử học danh tiếng Ngô Sĩ Liên, trong Đại Việt sử ký Toàn thư, hai sử thần Phan Phù Tiên và Ngô Sĩ Liên đã mạt sát giễu cợt gọi là Ngụy Hồ.
Cũng dễ hiểu, chả riêng chi hai cụ, các sử gia phong kiến luôn coi những cải cách, những đổi mới lẫn công việc của cha con Hồ Quý Ly là một thứ thoán nghịch! Có lẽ chả phải dẫn ra ở đây những cải cách đổi mới về hạn điền, hạn nô, những bỏ tiền đồng dựng tiền giấy... mà các sử gia lẫn các nhà kinh tế hiện đại đã nhận xét và thẩm định là tiến bộ, là đi trước thời đại.
Xin trở lại bài thơ ăm ắp tinh thần hào sảng dân tộc của ông vua Hồ Quý Ly. Có thể coi đây là nội dung trả lời phỏng vấn khá độc đáo! Vậy thì ai, người nào làm cái việc phỏng vấn? Vua nhà Minh? Hay sứ thần nhà Minh? Chính sử không hề lưu bất kỳ sự kiện nào về việc này? Bài thơ Đáp nhân vấn... không hề có xuất xứ? Chúng tôi nghiêng về khả năng thời mạt Trần, Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương thường cử nhiều sứ sang Đại Việt (giao hảo hay dòm ngó?), Hồ Quý Ly khi ấy không khó khăn trong việc góp phần vào vai trò tiếp sứ?
Muốn hỏi về chuyện nước An Nam ư? An Nam quốc chứ không phải là thứ rợ phương Nam mà các thiên tử hay phán bảo một cách khinh miệt Man, Di, Nhung, Địch... Không phải xứ mà là vương quốc An Nam phong tục vốn thuần hậu. Áo mũ không khác chế độ nhà Đường. Lễ nhạc tương tự như vua quan nhà Hán.
Có thể trên thực tế hiếm ít khi diễn ra cung cách sinh hoạt sang trọng nhưng khi đãi đằng khách khứa vẫn có cung cách ẩm thực độc đáo của nước Nam. Vẫn có bình ngọc rót rượu mới cất ngát hương và thứ gỏi cá dân dã đưa cay. Gỏi cá, có lẽ món dân dã mà sang trọng ấy bên Trung Hoa và An Nam đều phổ biến nên Hồ Quý Ly mới nhắc đến Kim đao chước tế lân như một thứ đồng vị tương lân vậy? Cá ngon nhỏ vảy mà nguyên văn là tế lân.
Trong Xích Bích phú của Tô Đông Pha có câu: Cự khẩu tế lân trạng tự Tùng Giang chi lô (Miệng lớn vảy nhỏ giống cá mè sông Tùng Giang). Ông quan Trương Hàn đời Tấn nhân khi gió thu nổi lên nhớ món gỏi cá (cá vược) với rau thuần (rau rút) ở quê nhà đã bỏ cả chức quan mà về. Tích này Nguyễn Du đã diễn ra câu nổi tiếng trong Kiều để chỉ lòng lưu luyến quê hương: Thú quê thuần vược bén mùi...
Hai câu cuối mới thanh thản đĩnh đạc lẫn thần tình làm sao: Hằng năm cứ độ tháng hai tháng ba. Đào mận đều cũng xuân như nhau cả (bản dịch của cụ Tuấn Nghi đào mận nở chật vườn chưa toát lên cái câu thần đào lý nhất ban xuân - đào mận đều cùng xuân như nhau cả!)
Giải mã âm hưởng tự tôn tự hào dân tộc ấy trong bài thơ của Hồ Quý Ly không thể không xét đến căn cốt độc lập tự chủ mà Hồ Quý Ly thể hiện rất rõ trong quan điểm học thuật của mình. Đơn cử việc Hồ Quý Ly biên tập lại Tống Nho soạn sách Minh Đạo gồm 14 thiên, gọi Chu Công là Tiên thánh, Khổng Tử là Tiên sư. Cho sách Luận Ngữ có một số chỗ đáng ngờ khó tin. Nói Hàn Dũ là nhà Nho ăn trộm (đạo văn). Nhận xét Chu Đôn Di, Trình Hiệu, Chu Hy, Dương Thi, Lý Diên Niên... những học giả Trung Hoa sừng sững ấy là "những kẻ tuy học rộng nhưng tài kém không chú ý đến thực tế, chuyên đánh cắp văn chương của người xưa...".
Hồ Quý Ly chủ trương giải nghĩa Thư kinh, Thi nghĩa bằng chữ Nôm. Viết tựa sách Thi nghĩa bằng quốc ngữ theo ý riêng độc đáo của mình không theo quan điểm của Chu Hy mà các thức giả lẫn học giả đương thời lấy làm mẫu mực!
Quan điểm học thuật độc đáo như một thứ cách tân sáng tạo ấy đã khiến sử thần Ngô Sĩ Liên cáu bẳn lẫn cả hoang mang: “Đạo của tiên thánh nếu không có Khổng Tử thì không ai phát huy được. Hậu Thánh sinh ra nếu không có Khổng Tử thì không còn ai làm khuôn phép nữa. Từ khi có sinh dân đến nay, chưa có ai nổi tiếng hơn Khổng Tử, thế mà Quý Ly lại dám khinh suất bàn về Ngài thì thực không biết lượng sức mình! Người sau mà có trước tác thì cũng chỉ mở mang cho rộng thêm, tô chuốt cho bóng thêm có thế mà thôi, sao Quý Ly lại dám chê bai bàn cãi?” (Toàn thư. Bản kỷ nhà Trần. Quyển VIII. Trg 185-190. Sđd.).
Các nhà nghiên cứu phê bình lý luận đương đại có lẽ sẽ có ý kiến xác đáng về vấn đề này nhưng thử dẫn ra hai nhà nho ở hai thế kỷ đã nhận xét về học thuật của Hồ Quý Ly. Một là, ông vua Tự Đức đã phê Vị phi toàn phi (chưa chắc đã hoàn toàn sai). Hai là, cụ Huỳnh Thúc Kháng. Nhà đại khoa này có lẽ với khí chất ngang thẳng xứ Quảng cộng với thứ tiết tháo thực (chứ chẳng phải suông chung chung mà ta thấy thiên hạ cứ gán bừa cho các nhà Nho) đã tìm ở tiền nhân Hồ Quý Ly một sự đồng tình không khoan nhượng.
Cụ Huỳnh gay gắt như thế này: "Phải nhận thấy cái án Tống Nho mà Hồ Quý Ly là cái thiết án (tức cái án ăn cắp) rất xác đáng! Cái gọi là thiết án ấy là lối học giáo điều nô lệ tầm chương trích cú nhai văn nuốt chữ mà đầu óc tê liệt không suy nghĩ chẳng sáng tạo ra điều gì mới mẻ!". Cụ Huỳnh từ đó mà suy ra rằng lối học mót, học theo kiểu nô lệ đắm đuối với Tống Nho ấy đã lan tràn từ đời Hậu Lê trở về sau là khởi nguyên nạn xâm lược của nhà Minh đầu thế kỷ XV và đi liền đó là họa diệt chủng về văn hóa!
Cũng cần nói thêm rằng, trước tác của Hồ Quý Ly phần bị hủy diệt, phần thất lạc nhất là thời điểm xâm lược của nhà Minh nên đã có ý kiến rằng bài thơ Đáp nhân vấn... (được chép trong sách Liệt triều tập đời Minh) là của một sứ thần Nhật Bản (!?). Rằng Hồ Quý Ly đã mượn lời sứ thần Nhật Bản để đối đáp với sứ nhà Minh(!?). Vấn đề này xin các bậc cao minh chỉ giáo cùng phân định. Nhưng chắc chả khó gì khi việc phân định lẫn minh định trên tiêu chí độc lập tự chủ tự tôn dân tộc trong trước tác cùng việc làm trong 7 năm cầm quyền của ông vua họ Hồ để khỏi rơi vào trận đồ bát quái của việc ngụy thư lẫn tam sao thất bản?
Chao ôi, khó tìm thấy một triều đại phong kiến nào mà ngắn ngủi bỗng chốc như triều Hồ? Chỉ có 7 năm. Bảy năm chỉ là cái chớp mắt của lịch sử. Nhưng gần 700 năm sau, hậu thế vẫn còn bận rộn, vẫn còn tất tả với cái chớp mắt xửa xưa ấy!
Viết tới đây chợt dậy lên cảm giác bồi hồi lần ấy công cán qua Trung Hoa, một vị sứ thần trong Sứ quán ta ở Bắc Kinh cho biết đã cất công tìm mộ của Hồ Quý Lý (nghe đâu ở Giang Nam, mà Giang Nam mênh mông mấy tỉnh?) và mộ của con trai là Hồ Nguyên Trừng từng làm Thượng thư bộ Công dưới triều Minh (nghe đâu mộ ở Bắc Kinh) mà vẫn chưa thấy...

Việt Nam đã sẵn sàng trước mọi mưu toan của Trung quốc Hôm nay ngày đầu tháng Bảy, không hẹn mà gặp cả ba nhân vật đứng đầu Bộ chính trị đảng CSVN gồm Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Thủ tướng chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đều đồng loạt, kẻ tố cáo - người khẳng định quyết tâm bảo vệ chủ quyền quốc gia trước mọi âm mưu thôn tính biển đảo của Việt Nam. Cả ba đều đã thống nhứt ý chí kiên định lập trường bảo vệ tổ quốc dù phải đóng cửa biên giới, cắt đứt quan hệ ngoại giao và chấp nhận chiến tranh trong hoàn cảnh nhiều khó khăn chênh lệch trong tương quan lực lượng giữa đôi bên. Cảnh sát biển VN không chỉ đấu tranh với TQ còn phải bảo vệ ngư dân bám biển... Ngày 1/7, tại Hà Nội, đến thăm và tặng quà lực lượng Cảnh sát biển và Kiểm ngư Việt Nam, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã động viên và biểu dương những hoạt động thực thi pháp luật trên biển của cán bộ chiến sỹ, nhân viên Kiểm ngư trong suốt hai tháng kể từ khi Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương-981 (Haiyang Shiyou-981) trái phép trên vùng biển Việt Nam.  Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam. (Ảnh: Trọng Đức/TTXVN)
Thiếu tướng Nguyễn Quang Đạm, Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam báo cáo những diễn biến mới về việc thực thi pháp luật trên biển, đấu tranh với việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương-981 trái phép trên vùng biển Việt Nam. Đánh giá cao những hoạt động của lực lượng Cảnh sát biển, Chủ tịch Trương Tấn Sang biểu dương những nỗ lực của các cán bộ chiến sỹ đã vượt qua mọi khó khăn gian khổ, ngày đêm làm tốt nhiệm vụ chấp pháp, và căn dặn: là "lực lượng thực thi pháp luật trên biển, lực lượng Cảnh sát biển không chỉ kiên quyết đấu tranh buộc Trung Quốc rút giàn khoan Hải Dương-981 để bảo vệ chủ quyền, mà cần làm tốt nhiệm vụ bảo vệ bà con ngư dân bám biển, bảo vệ hoạt động kinh tế thăm dò dầu khí, chống buôn lậu trên biển". Về công tác trên thực địa, ông Trương Tấn Sang cho rằng, điều quan trọng là tập trung tuyên truyền để cho các lực lượng trên biển từ phía Trung Quốc hiểu rõ các hành vi sai trái đã gây ra; đồng thời làm sáng tỏ chính nghĩa, tinh thần khoan dung hòa hiếu của người Việt Nam. Có như vậy công tác đấu tranh trên biển mới mang lại kết quả. Tới thăm và nói chuyện với lực lượng Kiểm ngư Việt Nam tại Cục Kiểm ngư, Tổng cục Thủy sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Ông Trương Tấn Sang đã lắng nghe những chia sẻ từ đại diện các thuyền trưởng, thuyền phó các tàu kiểm ngư 951, 956, 799 từ thực địa trở về báo cáo về những thành tích, trở ngại khó khăn của lực lượng sau hai tháng đấu tranh trên thực địa. Đại diện Cục Kiểm ngư cũng cho biết, do tàu kiểm ngư của Việt Nam còn nhiều hạn chế về công suất, thiếu thốn trang thiết bị, nên gặp nhiều nguy hiểm trước các hành động hung hăng đang ngày càng gia tăng của tàu Trung Quốc. Dù thiệt hại về phương tiện, các kiểm ngư viên bị thương nhưng công tác chỉ đạo, tuần tra kiểm soát thực địa của các lực lượng Kiểm ngư vẫn đảm bảo thường xuyên, liên tục, ngăn chặn hiệu quả các hành vi xâm phạm chủ quyền. Biểu dương lực lượng với tinh thần kiên định, quả cảm đã bám trụ địa bàn, bảo vệ ngư dân trên vùng biển ngàn đời của tổ tiên để lại, Chủ tịch Trương Tấn Sang cho biết trong thời gian tới sẽ tiếp tục xem xét để hỗ trợ cho các lực lượng này đủ các trang thiết bị cần thiết và hiện đại.“ Nhất định không nhân nhượng với Trung Quốc Sáng 1/7, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có buổi tiếp xúc cử tri quận Tây Hồ – Hà Nội. Tại buổi tiếp xúc, nhiều cử tri đã bày tỏ rất nhiều suy nghĩ và quan điểm xung quanh việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.  Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với cử tri quận Hoàn Kiếm. (Ảnh: Trí Dũng/TTXVN)
Theo ông Nguyễn Phú Trọng, trước việc Trung Quốc ngang nhiên hạ đặt trái phép giàn khoan vào thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế của VN, các nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước đã lên tiếng thể hiện rõ lập trường của Việt Nam tại các diễn đàn khác nhau. “Chúng ta đã tuyên bố rất rõ rằng việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của chúng ta là vi phạm pháp luật quốc tế, vi phạm chủ quyền của Việt Nam, vi phạm thỏa thuận cấp cao giữa hai đảng, hai nhà nước…”. Ông nói thêm: “Chúng ta nói thẳng thắn, công khai giữa diễn đàn Quốc hội, cả thế giới đều biết. Chúng ta có nhân nhượng gì đâu. Chúng ta phản đối, kịch liệt lên án, yêu cầu Trung Quốc phải rút giàn khoan cùng tàu bè hộ tống ra khỏi vùng biển Việt Nam, đi vào đàm phán, đối thoại”. Tiếp thu ý kiến của cử tri, ông Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Vấn đề giải quyết tình hình căng thẳng trên Biển Đông là một vấn đề phức tạp và lâu dài. Chúng ta phải chủ trương chung sống hòa bình, hữu nghị, thân thiện, hợp tác cùng phát triển với người láng giềng Trung Quốc nhưng chúng ta kiên quyết giữ vững chủ quyền dân tộc. Chúng ta kịch liệt lên án hành động sai trái của Trung Quốc, nhất định không nhân nhượng”. Có cử tri hỏi: Nhỡ xảy ra chiến tranh thì sao? - "Thì chúng ta phải chuẩn bị tất cả mọi khả năng. Chúng ta không mong chiến tranh xảy ra, và cố gắng làm cho nó đừng xảy ra, nhưng nếu có chiến tranh, chúng ta luôn sẵn sàng chuẩn bị mọi phản ứng”. Tổng Bí thư trả lời. Đấu tranh lấy lại Hoàng Sa Cảm ơn sự tin tưởng của cử tri vào chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện các giải pháp bảo vệ chủ quyền, Tổng Bí thư nhấn mạnh: Chúng ta phải xác định đây là việc còn lâu dài, phức tạp, phải rất bình tĩnh, tỉnh táo, kiên quyết, kiên trì, bằng nhiều biện pháp, phát huy sức mạnh tổng hợp. Vì đây là vấn đề cơ bản đụng chạm đến chủ quyền quốc gia. Trung Quốc có ý đồ muốn hiện thực hóa đường “lưỡi bò”, độc chiếm biển Đông, muốn khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc. Ta nói rằng : "Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Hoàng Sa thì trên thực tế Trung Quốc đang chiếm giữ, họ đã hai lần đánh chiếm Hoàng Sa và lần gần nhất là năm 1974 khi chúng ta chưa giải phóng miền Nam. Chúng ta tiếp tục khẳng định chủ quyền, đấu tranh để lấy lại Hoàng Sa” – ông Nguyễn Phú Trọng khẳng định. Chuẩn bị hồ sơ, cân nhắc đấu tranh pháp lý với Trung Quốc Cũng trong ngày hôm nay, tại cuộc họp thường kỳ của Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng một lần nữa mạnh mẽ tố cáo Bắc Kinh đã “bất chấp đạo lý, pháp lý, và quan hệ hữu nghị Việt-Trung cho hạ đặt giàn khoan trái phép để thăm dò dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam". 
Ông Nguyễn Tấn Dũng nói hành động của Trung Quốc từ đầu tháng 5 tới nay “không những xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, mà còn đe dọa nghiêm trọng đến hòa bình, an ninh của khu vực.” Ông Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu chính phủ ra sức bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc bằng các giải pháp phù hợp với luật quốc tế song song với các giải pháp thích nghi nhằm giữ gìn hòa bình, ổn định và an ninh hầu có thể xây dựng và phát triển đất nước. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương nỗ lực cao nhất, tiếp tục thực hiện nghiêm túc chủ trương, định hướng của T.Ư Đảng, Chính phủ, triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, kiên định, kiên trì các giải pháp, biện pháp, đối sách đấu tranh bằng biện pháp hoà bình trên thực địa, bằng chính trị – ngoại giao, bằng thông tin, truyền thông trong nước và nước ngoài; kiên quyết yêu cầu Trung Quốc tuân thủ luật pháp quốc tế, rút giàn khoan và tàu hộ tống ra khỏi vùng biển của Việt Nam. Ông Nguyễn Tấn Dũng cũng yêu cầu các Bộ, ngành chức năng theo dõi sát, nắm chắc tình hình, chủ động xử lý và báo cáo kịp thời những tình huống mới, phức tạp. Giao các cơ quan chức năng tiếp tục củng cố, chuẩn bị hồ sơ để T.Ư Đảng xem xét, cân nhắc thực hiện việc đấu tranh pháp lý theo luật pháp quốc tế.“ "Tình huống xấu nhất là có thể chấm dứt quan hệ giữa hai nước” Chiều 1/7 ngay khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa kết luận phiên họp thường kỳ tháng 6. Bộ trưởng – Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Văn Nên nói với báo chí rằng:  Bộ trưởng - Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Văn Nên.
Qua 2 tháng sau thời điểm Trung Quốc hạ đặt giàn khoan, Chính phủ đưa ra kết luận về việc thống nhất, đồng thuận thực hiện các mục tiêu xác định. Việt Nam khẳng định hành động ngang nhiên hạ đặt giàn khoan trong vùng biển của Việt Nam là trái với đạo lý, trái pháp lý và quan hệ hữu nghị giữa 2 nước Việt Nam – Trung Quốc. Việc này tạo nên hệ quả không tốt không chỉ đối với Việt Nam mà đe doạ cả tình hình an ninh trong khu vực và thế giới. Việt Nam khẳng định sự kiên trì có mặt trên vùng biển của mình để khẳng định chủ quyền đối với 2 quẩn đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Việt Nam cũng tiếp tục đấu tranh trên mặt trận ngoại giao, kiên trì giải pháp hoà bình, luật pháp quốc tế, nhất là Công ước quốc tế về Luật Biển. Dư luận quốc tế đến nay cơ bản ủng hộ và đánh giá rất cao sự kiên trì của Việt Nam, kiên nhẫn chấp nhận đấu tranh bảo vệ chủ quyền bằng biện pháp hoà bình. Bạn bè cũng nhắc nhở Việt Nam cố gắng không để dẫn đến xung đột vì bất cứ xung đột nào cũng là lọt vào “bẫy”, âm mưu của Trung Quốc. Chưa có gì xảy ra mà Trung Quốc đã vu cáo trắng trợn rằng Việt Nam có hành vi quấy phá trên biển. “Việt Nam đã hành động trên tinh thần rất thiện chí với bạn. Đến nay Việt Nam đã gửi công hàm lên Liên Hợp Quốc lần thứ 3 đồng thời có những đề nghị hoà bình với Trung Quốc nhưng bạn vẫn không đáp lại” Trả lời câu hỏi về những tình huống xấu mà Chính phủ dự kiến xảy ra trên Biển Đông, Bộ trưởng Nguyễn Văn Nên cho biết: “Thực ra các “kịch bản” này đã được đề ra từ lâu. Với đường lối độc lập tự chủ của Việt Nam, các cấp lãnh đạo nhà nước đã nêu yêu cầu làm sao để nền kinh tế Việt Nam không quá phụ thuộc vào thị trường nào”. Tình huống xấu đề ra, theo Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, là có thể có sự hạn chế giao thương giữa biên giới 2 nước Việt – Trung, tình huống khác là đóng cửa biên giới và cao nhất có thể là chấm dứt quan hệ giữa 2 nước. Ông Nên xác nhận, tình huống nào thì cũng gây khó khăn nhất định cho Việt Nam nhưng không phải quá khó đến mức Việt Nam không thể vượt qua được. Mức độ ảnh hưởng được xác định là không quá lớn. Lê Nguyên (tổng hợp).
--
Hãy cứ cho thêm, hãy còn cho mãi Mai ta đi nào kịp vẫy tay chào. (Phạm Nhuận)
Viên chức cấp cao CSVN đòi kiện Trung Quốc HÀ NỘI 30-6 (NV) -“Trung Quốc từng giúp Việt Nam, nhưng cũng từng bán đứng và xâm lược Việt Nam... Đến nay, chủ quyền lãnh thổ, có nên xem xét dưới góc "đồng chí, anh em"?”

| | Bài viết trên tờ Giáo Dục hôm Thứ Hai 30/6/2014 đả kích Trung quốc từng bán đứng Việt Nam, kêu gọi kiện “đồng chí anh em”. (Hình: Người Việt cắt từ Internet) |
Một bài viết trên báo Giáo Dục Việt Nam hôm Thứ Hai 30/6/2014 phân tích ra để mọi người biết cái ông “đồng chí anh em” khổng lồ ở phương Bắc không phải là thứ tử tế gì cả. Các khẩu hiệu “16 chữ vàng” và “4 tốt” chỉ là trò lừa gạt. Bởi vậy, bài viết hàm ý kêu gọi xét lại mối quan hệ Việt - Trung và hô hào phải kiện Trung Quốc.
Báo Giáo Dục Việt Nam là tờ báo có “cơ quan chủ quản” là “Hiệp hội các Trường đại học, cao đẳng ngoài công lập ở Việt Nam.” Bài viết mà tờ báo đưa ra là ý kiến cá nhân của người viết có tên Trần Sơn Lâm. Tuy nhiên, trong lời giới thiệu tác giả bài viết của tờ báo, ông Trần Sơn Lâm được mô tả “từng là người lính trong chiến tranh vệ quốc cuối thế kỷ 20, đồng thời là nhà khoa học. Khi hòa bình lập lại, ông tham gia công tác chính quyền và nhiều năm nắm giữ vị trí Hàm vụ trưởng, Vụ khoa giáo-văn xã của Văn phòng Chính phủ.” Ở chức vụ khá cao như thế, lại là một viên chức ngay ở phủ thủ tướng, ông phải là một người được tin cậy cũng như đương nhiên phải là một đảng viên tầm cỡ. Bởi vậy tờ GDVN giới thiệu rằng “Với kinh nghiệm thực tế và dưới nhãn quan của một nhà nghiên cứu khoa học, ông đã viết bài báo này gửi riêng cho Báo Giáo dục Việt Nam. Tòa soạn xin đăng nguyên văn, với mục đích góp thêm một góc nhìn mới của tác giả về giải quyết vấn đề tranh chấp lãnh thổ giữa nước ta và Trung Quốc, hiện rất căng thẳng kể từ khi Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan 981 trên biển Đông.” Mở đầu bài viết dài khoảng 1,800 từ, ông Trần Sơn Lâm đem chuyện Trung Quốc ngang nhiên đưa giàn khoan HD981 tới vùng biển đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam dò tìm dầu khí “gây nên cuộc khủng hoảng tồi tệ trong quan hệ giữa 2 nước.” Ông Lâm nói rằng “Lâu nay lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước ta cũng vẫn luôn mong muốn giữ quan hệ hữu nghị giữa hai nước theo phương châm 16 chữ và 4 tốt để có môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước.” Tuy nhiên, nhìn vào sự kiện thực tế đang diễn ra cũng như lịch sử chống ngoại xâm phương bắc của dân tộc thì thấy “Trung Quốc từng giúp Việt Nam, nhưng cũng từng bán đứng và xâm lược Việt Nam”. Ông Trần Sơn Lâm cáo buộc “Việt Nam bao đời này luôn là mục tiêu nhòm ngó của các triều đại phong kiến, cho đến bây giờ lãnh đạo của họ vẫn không thôi âm mưu thôn tính lãnh thổ, lãnh hải nước ta.” Việc giúp Việt Nam trở thành nước Cộng Sản “phên dậu” của Trung Quốc thật ra chỉ là “dùng Việt Nam làm lá chắn để Mỹ và phương Tây không áp sát được biên giới Trung Quốc, dùng Việt Nam làm tiền đồn để Trung Quốc chống Mỹ.” Trong khi đó, Trung Quốc vẫn chiếm đất, chiếm biển đảo của Việt Nam. Trận chiến biên giới 1979 tuy kết thúc trong 1 tháng nhưng âm ỉ kéo dài suốt 10 năm vì thường xuyên bị quân Trung quốc “nã pháo qua biên giới mãi cho đến năm 1989”. Rồi đến năm 1988 thì xua tàu “đánh úp 6 bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa thuộc Việt Nam,” giết hại nhiều lính Việt Nam. Hàng năm thì cấm đánh cá ngay trên vùng biển Việt Nam tuyên bố chủ quyền, đưa tàu cắt cáp tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam trên vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt nam rồi còn đưa giàn khoan tới đặt ở vùng biển Việt Nam “thể hiện sự coi thường pháp luật quốc tế với tư tưởng bá quyền, cá lớn nuốt cá bé.” Ông Trần Sơn Lâm cáo buộc rằng “Những hành động của lãnh đạo Trung Quốc đối với láng giềng chỉ cho thấy một lòng tham vô đáy, bành trướng, hung hăng” nên ông đề nghị “khởi kiện Trung Quốc là lựa chọn tốt nhất cho Việt Nam.” Ông dẫn lại kết quả thăm dò dư luận quần chúng trong nước của báo Dân Trí ngày 27/6/2014 về có nên kiệm Trung Quốc ra tòa án quốc tế hay không. Theo kết quả đó, có 250,375 (96%) tán thành kiện Trung Quốc, trong khi chỉ có 9,126 (4%) không tán thành. Các báo mạng khác đều cho thấy tỷ lệ tán thành ý kiến kiện Trung Quốc luôn ở tỷ lệ đa số. Ông Trần Sơn Lâm kêu gọi “Đến thời điểm này, không đắn đo gì nữa, chúng ta cần nhận thức một cách sâu sắc rằng, dư luận quần chúng chính là Hội Nghị Diên Hồng trong thế kỷ 21 và phải xác định rõ mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung quốc là mối quan hệ bình đẳng giữa hai nước độc lâp, có chủ quyền, bình đẳng, phải tôn trọng lợi ích, sự toàn vẹn lãnh thổ theo các hiệp định quốc tế đã được 2 bên cùng ký kết, cần giải quyết mọi bất đồng theo luật pháp quốc tế.” Bài viết của ông Trần Sơn Lâm đăng tải trên một tờ báo ngoại vi nhằm tránh cái tiếng cho nhà cầm quyền trung ương và đám lãnh tụ đảng những lời chất vấn khó giải thích đối với phương bắc. Đây cũng là một bài viết hiếm hoi chỉ trích “đồng chí” Trung Quốc gay gắt mà không bị gỡ bài xuống ngay. Bài viết lúc đầu có tựa đề trên báo Giáo Dục Việt Nam là “Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ” Chọn ý thức hệ hay quốc gia, dân tộc?” sau chỉ bị sửa lại thành “Tranh chấp chủ quyền: Chọn hữu nghị viển vông hay quốc gia dân tộc?” Người ta không biết đích xác bài viết của ông Trần Sơn Lâm có bị sửa chữa hay biên tập gì không, vì như cái tựa đầu tiên, nó gây tò mò về một suy nghĩ gì có vẻ rất khác thường. Hoặc cũng chỉ là một cách bắn tiếng đe dọa kiện như một số lần trước đây, kể cả lời dọa của ông thủ tướng và người ta không biết “thời điểm thích hợp” đưa đơn kiện là khi nào. (TN) Người thất nghiệp tại Việt Nam càng ngày càng đông Tuesday, July 01, 2014 5:03:45 PM
HÀ NỘI (NV) - Trong 3 tháng đầu năm 2014, tại Việt Nam có khoảng một triệu người thất nghiệp. Nếu so với 3 tháng cuối năm 2013, số người thất nghiệp tăng thêm khoảng 150 ngàn. Tỷ lệ thất nghiệp chung của 3 tháng đầu 2014 là 2.21%. Ðó là những số liệu mới được công bố tại hội thảo cập nhật thông tin về thị trường lao động Việt Nam do Bộ Lao Ðộng-Thương Binh-Xã Hội, Tổng Cục Thống Kê của Việt Nam và Tổ Chức Lao Ðộng Thế Giới (ILO) phối hợp tổ chức vào sáng 1 tháng 7. 
Cô Nguyễn Kim Tiền, tốt nghiệp Ðại Học Sư Phạm, không tìm được việc làm sau khi ra trường nên phải làm tiếp viên cho một quán cà phê ở An Giang. (Hình: Người Lao Ðộng)
|
Dựa trên những số liệu này thì tỷ lệ thất nghiệp tại các thành phố ở Việt Nam là 3.72%, cao gấp 2.4 lần so với nông thôn. Ðáng chú ý là có hơn 162 ngàn người mà học vấn từ đại học trở lên đang thất nghiệp. So 3 tháng đầu năm nay với cuối năm ngoái thì chỉ trong vòng ba tháng, số người có học vấn từ đại học trở lên bị thất nghiệp đã tăng thêm khoảng 40 ngàn. Ngoài ra, còn có khoảng 80 ngàn thanh niên mà học vấn ở mức cao đẳng và 174 ngàn thanh niên đã được đạo tạo nghề bị thất nghiệp. Nếu tính riêng thanh niên trong độ tuổi dưới 24 bị thất nghiệp thì con số này khoảng 505 ngàn, tăng thêm chừng 55 ngàn so với cuối năm ngoái. Bộ Lao Ðộng-Thương Binh-Xã Hội Việt Nam thú nhận, “tình hình khá nghiêm trọng cho cả thanh niên lẫn những người lao động có trình độ” và “thị trường lao động chưa có dấu hiệu khả quan.” Kể từ khi số lượng người có trình độ học vấn cao bị thất nghiệp gia tăng, các viên chức chính quyền và báo giới Việt Nam đẩy mạnh chỉ trích hệ thống giáo dục, cho rằng, đây là hệ quả tất nhiên của việc đào tạo tràn lan, chương trình đào tạo bất cập, không bám sát và không đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động. Không có bất kỳ viên chức lãnh đạo nào của chính quyền Việt Nam nhận trách nhiệm, cũng như không có bất kỳ ý kiến nào đòi truy cứu trách nhiệm của những viên chức này về hàng loạt sai lầm khiến kinh tế suy thoái, số lượng doanh nghiệp phá sản càng ngày càng lớn và đó mới là nguyên nhân chính của vấn nạn vừa đề cập và là nguồn gốc của nhiều vấn nạn khác, ví dụ như tỷ lệ tội phạm gia tăng. Hồi giữa năm ngoái, ILO từng khuyến cáo, khi có tới 50% số người thất nghiệp tại Việt Nam là thanh niên, Việt Nam đang lãng phí một nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế-xã hội. Chưa kể theo ILO, ngoài số thanh niên bị thất nghiệp, khoảng 53% (chừng 4 triệu) thanh niên Việt Nam đang phải làm những công việc mà thu nhập kém, điều kiện lao động thấp và không có bảo hiểm xã hội. Ông Gyorgy Sziraczki, giám đốc chi nhánh Việt Nam của ILO cảnh báo, nếu thanh niên không được hưởng một sự khởi đầu tốt hơn và không được đối xử công bằng, Việt Nam đã bỏ lỡ một nguồn lực đáng kể cho sự phát triển kinh tế xã hội của mình. ILO đã từng khuyến cáo, Việt Nam nên khai mở tiềm năng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ để tăng cơ hội về việc làm với năng suất cao cho thanh niên. Chính quyền Việt Nam vẫn bị xem là thiếu quan tâm tới các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ðây là lý do khiến vài năm qua, có thêm hàng trăm ngàn doanh nghiệp loại này phá sản. Phần lớn những doanh nghiệp vừa và nhỏ đang tồn tại đã thu hẹp quy mô hoạt động thành “siêu nhỏ.” Tất cả những yếu tố đó làm cho cơ hội về việc làm của thanh niên càng lúc càng mong manh. Một chuyên gia về việc làm cho thanh niên khu vực Châu Á-Thái Bình Dương của ILO, tên là Matthieu Cognac, nhắc nhở thêm rằng Việt Nam cần phải chú ý tới khu vực nông thôn, nơi cư trú của phần lớn thanh niên Việt Nam. Ông Cognac khuyên chính quyền CSVN cần đẩy mạnh tư vấn về việc làm, mở các khóa đào tạo về phát triển doanh nghiệp để hỗ trợ thanh niên tự kinh doanh. Trao đổi với báo giới, ông Sziraczki nói rằng, sẽ không thể giải quyết vấn nạn về việc làm cho thanh niên Việt Nam, nếu không thay đổi chính sách vĩ mô, cấu trúc phát triển và tăng chi phí hỗ trợ tìm kiếm việc làm, tăng tổng cầu, thay đổi cách thức tiếp cận nguồn vốn và tăng hiệu quả đầu tư. Ðến nay, vẫn chưa có bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy, chính quyền Việt Nam lắng nghe những khuyến cáo của ILO. Dẫu cho các tập đoàn kinh tế quốc doanh, tổng công ty nhà nước đã làm thất thoát hàng trăm ngàn tỷ đồng, chính quyền này vẫn xác định “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” là chủ đạo. Ðiều đó có nghĩa là họ tiếp tục dồn gần như toàn bộ nguồn lực quốc gia vào việc duy trì sự tồn tại của các tập đoàn kinh tế quốc doanh, tổng công ty nhà nước. Bất chấp tình trạng các doanh nghiệp vừa và nhỏ phá sản hàng loạt, khiến vấn nạn thất nghiệp càng lúc càng nghiêm trọng. (G.Ð)
Một người đàn ông tự thiêu phản kháng TQ trong tư thế ngồi trên ghế gần Bệnh viện An Bình Người đàn ông tự thiêu trong tư thế ngồi trên ghế - Ảnh: Phạm Hoàng Sơn
|
Người dân xung quanh cho biết vào khoảng 11 giờ hôm nay một người đàn ông đã tự thiêu trong tư thế đang ngồi trên ghế. Chỉ một lát sau, chiếc ghế bị cháy rụi bởi ngọn lửa quá lớn, còn cơ thể người đàn ông này ngã ra phía sau trong tình trạng cháy đen.  Hiện trường vụ việc - Ảnh: Phạm Hoàng Sơn chụp lúc 11 giờ 10 phút ngày 2.7
|
Vụ việc khiến nhiều người đi đường hoảng hốt. Được biết, người đàn ông trên tên là H.V.Đ, khoảng 52 tuổi, sống lang thang tại khu vực trên. Hiện nạn nhân đã được đưa vào Bệnh viện An Bình. CSGT và các lực lượng địa phương đã có mặt, điều tiết giao thông nhằm tránh kẹt xe và phong tỏa khám nghiệm hiện trường.  
 Lực lượng chức năng có mặt tại hiện trường - Ảnh: Công Nguyên
Công Nguyên - Phạm Hoàng Sơ |
Hàng trăm công nhân nhập viện, nghi bị ngộ độc thực phẩm TQ
(TNO) Tối 1.7, hàng trăm công nhân ở Công ty may mặc Shin Dong (đường Lê Văn Khương, quận 12, TP.HCM) đồng loạt nhập viện với các biểu hiện choáng váng, đau đầu, đau thắt vùng bụng, nghi do ngộ độc thực phẩm.  Các công nhân nằm la liệt đang được truyền nước tại bệnh viện |
Thông tin từ Bệnh viện quận 12, tính đến 19 giờ 30 phút ngày 1.7, gần 200 công nhân của công ty Shin Dong đã nhập viện với các triệu chứng buồn nôn, choáng váng, đau thắt vùng bụng. Thạc sĩ - bác sĩ Lương Trọng Nghĩa, Phó phòng tổ chức Bệnh viện quận 12, cho biết các công nhân nhập viện đều có dấu hiệu ngộ độc thực phẩm. Cũng theo bác sĩ Nghĩa, Bệnh viện quận 12 đã nhanh chóng tổ chức sơ cứu, truyền dịch bù nước cho bệnh nhân, sau đó cho bệnh nhân uống kháng sinh để giảm co thắt đường tiêu hóa. Các công nhân cho biết lúc 18 giờ cùng ngày (1.7), họ bắt đầu ăn cơm tối tại công ty để chuẩn bị tăng ca. Sau khi ăn cơm xong khoảng 30 phút sau thì một số công nhân cảm thấy choáng váng, đau đầu, thậm chí nhiều người bị ngất. Chị Nguyễn Thị Nhung (30 tuổi, công nhân của Công ty Shin Dong), kể lại: Bữa cơm tối có trứng chiên, canh rau và bắp cải xào. Ăn xong khoảng 30 phút sau thì tôi thấy choáng váng, ngất đi. Đến khi tỉnh lại thì đã thấy mình nằm trong bệnh viện.  Các công nhân nằm khắp các hành lang bệnh viện |
Đại diện Công ty Shin Dong cho biết những khẩu phần cơm mà các công nhân ăn trong buổi tối 1.7 đều do bộ phận bếp của công ty chế biến. Trước mắt, Shin Dong sẽ lo toàn bộ viện phí và mang mẫu thức ăn đi xét nghiệm. Tin, ảnh: Lê Cầm |
|
|