Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Sáu 2018
T2T3T4T5T6T7CN
        1 2 3
4 5 6 7 8 9 10
11 12 13 14 15 16 17
18 19 20 21 22 23 24
25 26 27 28 29 30  
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 9
 Lượt truy cập: 10635130

 
Bản sắc Việt 21.06.2018 07:23
Nhờ chiến lược “Trung Quốc quyết tâm đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng” mà được vị trí đệ nhị siêu cường ngày nay
19.05.2018 06:35

TQ nợ nhân dân VN lời cám ơn - Xuân Dương
(GDVN)- Năm 1972, trong lúc mà Hà Nội bị ném bom rải thảm, các học giả phương tây đã bình luận rằng: “Trung Quốc quyết tâm đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”.

The Time of India, tờ báo uy tín bậc nhất Ấn Độ từng khẳng định hành động của Trung Quốc ở Biển Đông cho thấy “Chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc không ngừng gia tăng”. Bài báo cũng thẳng thắn chỉ ra rằng: “Chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa phục hồi lãnh thổ hiếu chiến của Trung Quốc đã trở thành một đặc điểm cố hữu trong chính sách đối ngoại và bành trướng của nước này”.

Vài năm trước, nhân chuyến thăm của Giám đốc Học viện quốc phòng Việt Nam sang Trung Quốc, trang bbc.co.uk/vietnamese/ bản tiếng Việt ngày 30/6/2011  đưa tin:
“Bản tin của Nhật báo Giải phóng quân (Trung Quốc) không nhắc tới vấn đề Biển Đông, nhưng dường như Tướng Mã (Mã Hiểu Thiên) đã đề cập tình hình căng thẳng sau các diễn biến tại đây trong cuộc gặp khi nhấn mạnh rằng ông hy vọng “phía Việt Nam sẽ xử lý các vấn đề tế nhị một cách thích đáng và hướng dẫn dư luận cũng như cảm tính xã hội một cách đúng đắn”.


Theo cách nói của viên tướng Trung Quốc, Việt Nam phải hướng dẫn dư luận cũng như cảm tính xã hội một cách đúng đắn.


Có hai khả năng lựa chọn: hoặc là từ ngữ mà chúng ta nói, cấp độ người nói phải theo chuẩn mực của Trung Quốc, hoặc là chúng ta nói theo quyền lợi của dân tộc và công pháp quốc tế.

Phương án 1: Chúng ta nói “theo chuẩn mực của Trung Quốc”


Để hiểu chuẩn mực của Trung Quốc là gì chúng ta cần biết Trung Quốc gần đây nói năng ra sao. BBC đưa tin: “Nhật báo Hoàn Cầu, do Đảng Cộng sản Trung Quốc xuất bản, hôm 11/6/2011 có bài xã luận cáo buộc Việt Nam áp dụng “chủ nghĩa dân tộc ở hình thức thấp kém nhất để tạo ra sự thù địch mới giữa hai nước”.


Cần giới thiệu rằng Hoàn Cầu nhật báo là tờ báo quốc tế có uy tín tại Trung Quốc, lượng phát hành mỗi số là 1,6 triệu bản. Báo có phóng viên tại 65 nước trên thế giới. Tờ này do Nhân Dân nhật báo – cơ quan của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc quản lý, ra số đầu tiên ngày 3/1/1993.

Trang mạng Hoàn Cầu, con đẻ của nhật báo Hoàn cầu đã có hàng trăm bài viết về Việt Nam, xin trích dẫn một số bài viết cách đây năm năm.

– “Vấn đề Biển Đông, vì sao Quân Giải phóng không chọn phương thức giải quyết trên bộ?” (30/6/2009)
– “Trung quốc phải sử dụng vũ lực giải quyết vấn đề Biển Đông” (3/7/2009)
– “92% dân mạng Trung Quốc tán thành dùng vũ lực giải quyết vấn đề Biển Đông” (5/7/2009)
– “Quân Giải phóng giải quyết bằng vũ lực vấn đề Biển Đông, nước Mỹ không có khả năng trực tiếp tham chiến” (16/7/2009)
– “Quan điểm của phái phản đối: vấn đề Biển Đông cần giải quyết nhanh, càng kéo dài càng chết” (5/8/2009)

– “Cuộc chiến ở Biển Đông: năm nguyên nhân lớn khiến Trung Quốc nên đánh cho Việt Nam lụn bại” (18/8/2009)

Điểm lại ngôn từ mà những người từ lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc đã nói như “dạy cho Việt Nam một bài học” đến loại trung trung như các tướng lĩnh và loại “dân thường” như các bài nêu trên chúng ta đã thấy người Trung Quốc ăn nói ra sao.


Theo lời khuyên của tướng Mã, nhà nước nên “hướng dẫn dư luận nói theo chuẩn mực của Trung Quốc”, không nhất thiết phải e dè. Người Việt hàng nghìn năm nay chưa bao giờ sợ chiến đấu vì chủ quyền quốc gia, chưa bao giờ sợ bọn xâm lược bất kể chúng là thứ nhất, thứ nhì hay thứ ba trên thế giới.


Ngày xưa An Dương Vương gả công chúa Mỵ Châu cho Trọng Thủy, lại còn cho ở rể trong kinh thành. Trọng Thủy ăn cắp bí mật quân sự rồi về nước cùng bố đem quân sang đánh chiếm nước Nam khiến cho An Dương Vương phải chém chết công chúa Mỵ Châu rồi tự vẫn.

Chúng ta không quên những sự giúp đỡ về vũ khí, lương thực và một số đơn vị quân đội mà Trung Quốc đưa sang Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhưng chúng ta cũng không quên năm 1972 vì câu nói “Người không động đến ta thì ta không động đến người” của lãnh đạo cao cấp của Trung Quốc mà Hà Nội bị bom B52 rải thảm. Các học giả phương tây khi đó đã nêu bình luận rằng: “Trung Quốc quyết tâm đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”.

Những người ngây thơ nhất cũng hiểu rằng sự hy sinh của hàng triệu con dân đất Việt, sự sa lầy của Mỹ tại Việt Nam đã dành cho Trung Quốc khoảng thời gian quý giá để xây dựng kinh tế, củng cố quốc phòng.

Vũ khí, lương thực, quân trang có thể so sánh với máu và sinh mạng con người không?
Nói theo cách nói của Trung Quốc thì Trung Quốc không chỉ là vô ơn mà còn bạc tình, bạc nghĩa.


Phương án 2: Hướng dẫn dư luận “theo cách của Việt Nam”

So với hàng trăm bài báo của Trung Quốc, chúng ta có rất ít bài viết về các chủ đề nhạy cảm này, cũng chưa hề có bài nào dùng ngôn từ như họ. Đã đến lúc truyền thông nhà nước cần cho nhân dân biết sự thật. Chúng ta cố gắng để không mất đi tình hữu nghị giữa hai dân tộc nhưng tại sao trong khi  “92% dân mạng Trung Quốc tán thành dùng vũ lực giải quyết vấn đề Biển Đông” (Hoàn cầu 5/7/2009) thì chúng ta lại không thể nói lên ý kiến của mình?


Người lãnh đạo giỏi không phải là người chiến thắng trong các cuộc chiến tranh mà là người tránh cho đất nước khỏi các cuộc chiến tranh. Quan điểm này là sáng suốt và đúng đắn. Nhưng người lãnh đạo giỏi cũng phải biết chuẩn bị cho đất nước đương đầu với các cuộc chiến không mong muốn nếu nó xảy ra. Lịch sử đã chỉ ra rằng rất nhiều cuộc chiến tranh xảy ra do ý muốn chủ quan của một phía. Cuộc chiến tranh nhân dân chống ngoại xâm chỉ có thể thắng lợi nếu toàn dân một lòng hy sinh quyền lợi cá nhân vì độc lập tự do của dân tộc. Quyền lợi quốc gia, dân tộc phải đặt trên ý thức hệ. Xin nêu một vài ví dụ về hướng dẫn dư luận:


Nhật báo Hoàn cầu kết thúc bài báo ngày 11/6/2011 bằng câu đe dọa “Nếu Việt Nam cứ tiếp tục gây rối, tưởng rằng càng gây rối thì càng hưởng lợi, chúng tôi thành thật xin nhắc các nhà hoạch định chính sách ở Việt Nam là hãy đọc lại lịch sử”.


Quả đúng như vậy, chúng ta cần làm theo “lời khuyên” đó. Không chỉ thế hệ hôm nay mà muôn đời con cháu mai sau cần nhớ đến những cái tên như Liễu Thăng, Thoát Hoan, Toa Đô, Ô Mã Nhi, Sầm Nghi Đống, Tôn Sĩ Nghị… Cần phải nhớ rằng năm 1956 Trung Quốc đánh chiếm đông Hoàng Sa, năm 1974 đánh chiếm tây Hoàng Sa, năm 1979 đánh biên giới phía bắc, năm 1988 đánh chiếm bãi Gạc Ma ở Trường Sa…


Lịch sử đã chỉ ra rằng: “Vận nước có lúc thịnh, lúc suy nhưng hào kiệt đời nào cũng có”.
Người Trung Quốc nêu danh Hàn Tín chịu chui qua háng người khác, Câu Tiễn chịu nếm phân kẻ thù để tìm cách khôi phục nền độc lập của quốc gia. Người Việt không hạ mình như vậy, người Việt không sợ bất kỳ kẻ thù nào. Nói theo cách nói của chị Út Tịch  giặc đến nhà đàn bà “còn cái lai quần cũng đánh”.


Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến năm 1945 đã viết: “Hỡi đồng bào toàn quốc!

Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân  Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!”


Thực dân pháp muốn cướp nước ta lần thứ hai, nhưng các triều đại Trung hoa từ Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh đến nay họ muốn cướp nước ta không chỉ hai lần. Như lời dạy của bác Hồ, chúng ta đã “phải nhân nhượng” Trung Quốc trên biên giới phía bắc. Nếu chúng ta “phải nhân nhượng” lần nữa trên biển Đông thì sẽ không còn đường ra biển bởi đường lưỡi bò ôm sát toàn bộ ven biển nước ta. Lời kêu gọi của bác Hồ đến nay chỉ cần thay một vài từ lại mang tính thời sự.


Để giữ tình hòa hiếu giữa hai nước, các phương tiện thông tin của Việt Nam chưa bao giờ dùng ngôn từ như Hoàn Cầu nhật báo đã dùng. Lãnh đạo Việt Nam cũng chưa bao giờ dùng các ngôn từ tương đương với lãnh đạo Trung Quốc.

Các phương tiện truyền thông và quan chức Trung Quốc đã và đang cố tình bóp méo sự thật, cố tình làm cho dư luận thế giới hiểu lầm rằng Việt Nam chủ động tạo ra căng thẳng, rằng Việt Nam đã đưa tàu cản trở hoạt động của Trung Quốc. Mặc dù thế giới ngày nay vẫn còn cảnh cá lớn nuốt cá bé nhưng nên nhớ có những loài cá nhỏ nuốt vào là chết.


Thế giới có thể mắc lừa về lời nói của Trung Quốc nhưng nhất định không thể mắc lừa về hành động của Trung Quốc. Chúng ta hy vọng những những người bạn ở bên kia biên giới nhận thức được một điều rằng người Việt Nam “Dù phải đốt cả dãy Trường Sơn cũng phải giữ cho được Tự do – Độc lập”, đó là chân lý đã được chứng minh hàng ngàn năm nay.

Một số ảnh của BBC:
Trung Quốc cho đào cột mốc theo hiệp ước Pháp-Thanh 1887-1895, trong hình là cột mang dòng chữ Đại Nam Quốc Giới tại Đông Hưng, Quảng Tây.
Được biết, một số cột cả ở Quảng Tây và Vân Nam đều được đào đem về.
Cột mốc thuộc tỉnh Vân Nam còn ghi hai bên là ‘Trung Hoa’ và ‘An Nam’.

Trung Quốc quyết tâm đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng

(GDVN)- Năm 1972, trong lúc mà Hà Nội bị ném bom rải thảm, các học giả phương tây đã bình luận rằng: "Trung Quốc quyết tâm đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng".


CHỮ KHẮC TRÊN ĐỀN THỜ LÊ DUẨN TẠI HÀ TĨNH

Lê Duẩn 'thắng Mỹ nhưng cái giá quá cao'

Đám tang Hồ Chí Minh năm 1969Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTác giả Zachary Shore nói ông Lê Duẩn (hàng đầu bên trái) đã nắm quyền kể cả khi Chủ tịch Hồ Chí Minh còn sống nhưng già yếu

Việt Nam vừa kỷ niệm 110 năm Ngày sinh Tổng Bí thư Lê Duẩn (7/4/1907-7/4/2017).

Với 26 năm liên tục đảm nhận cương vị Bí thư thứ Nhất và Tổng Bí thư của Đảng Cộng sản Việt Nam, Lê Duẩn được Đảng Cộng sản gọi là "chiến sĩ cộng sản kiên cường, nhà lãnh đạo kiệt xuất của Đảng".

Tuy vậy, đến vài năm gần đây, giới nghiên cứu nước ngoài mới bắt đầu có những bài viết chi tiết hơn về chính khách này.

Vai trò ý thức hệ trong cuộc cách mạng cộng sản ở Việt Nam

Ông Diệm không thoát nổi 'ảnh hưởng của Mỹ'

Trong bài về ông Lê Duẩn trên tạp chí Journal of Cold War Studies năm 2015, sử gia Zachary Shore, nhận xét:

"Người ta đã viết nhiều về con người và chính sách của Hồ Chí Minh, nhưng ảnh hưởng mạnh mẽ của Lê Duẩn lên chiến lược thì ít được quan tâm."

Nhân dịp kỷ niệm ngày 30/4 năm nay, sử gia Zachary Shore, từ Trường hải quân hệ sau cao học của Mỹ (Naval Postgraduate School), cho BBC biết nhận định của ông về tầm nhìn chiến lược của ông Lê Duẩn trong chiến tranh:

Zachary Shore: Dường như Lê Duẩn là người quyết định rất nhiều trong chiến lược chống Mỹ của Hà Nội. Theo sau thất bại của Pháp ở Điện Biên Phủ 1954, và thậm chí có thể là sớm hơn, Lê Duẩn đã ghi dấu Mỹ là kẻ thù chính của Hà Nội.

Một thập niên sau, đến thời điểm Tổng thống Johnson leo thang, Lê Duẩn đã mài sắc các nhận định chiến lược. Đến giữa thập niên 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã già, yếu và dần chuyển thành nhân vật lãnh đạo tượng trưng. Trong suốt Chiến tranh Việt Nam, chủ yếu quyết định nằm trong tay Lê Duẩn và cánh tay phải của ông, Lê Đức Thọ.

BBC: Trong bài nghiên cứu của mình (2015), ông nói Lê Duẩn hiểu rõ kẻ thù, đánh giá đúng ý định của đối phương. Ông có thể nói rõ hơn?

Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson và ông Lê Duẩn (hình minh họa)Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTổng thống Mỹ Lyndon Johnson và TBT Lê Duẩn (hình minh họa)

Chìa khóa để hiểu kẻ thù là nắm bắt động cơ và những hạn chế của đối thủ. Lê Duẩn hiểu rõ những hạn chế của Mỹ trong suốt cuộc chiến. Tuy vậy, cái nhìn của ông ấy về những động cơ của Mỹ thì mù mờ hơn.

Lê Duẩn nhận ra Mỹ bị lúng túng vì những cam kết khắp thế giới. Khác với Bắc Việt, có thể tập trung toàn lực chống Mỹ, Mỹ thì bận rộn kiềm chế chủ nghĩa cộng sản ở châu Âu, chống các phong trào cánh tả ở châu Phi, Trung và Nam Mỹ, kiềm chế chiến tranh và hòa bình ở Trung Đông.

Hồ sơ cho thấy Lê Duẩn nhận ra Mỹ lo lắng về thương vong. Vì thế ông ta ra hẳn yêu cầu: phải giết được 40 đến 50.000 lính Mỹ trong vài năm sau khi Mỹ leo thang. Nhờ nhận ra những hạn chế chủ yếu của Mỹ, Lê Duẩn soạn nên các chiến lược đánh vào những điểm yếu nhất của kẻ thù.

BBC: Ông có cho rằng nếu ông Lê Duẩn không làm lãnh đạo trong đảng, mục tiêu thống nhất đất nước của Hà Nội có thể không thành vào năm 1975?

Dĩ nhiên không thể nói chắc được. Một số nhận định của Lê Duẩn không có tính tiên tri. Ông đánh giá nhầm mức ủng hộ cho chủ nghĩa cộng sản ở Nam Việt Nam. Ông hy vọng tổng nổi dậy ở miền Nam nhưng nó không xảy ra.

Tuy vậy, ông là xung lực, có lẽ là quan trọng nhất, đằng sau nỗ lực thống nhất đất nước bằng mọi giá. Đáng buồn là cái giá mà ông áp đặt lên nhân dân Việt Nam thật quá to lớn.

BBC: Theo ông, quyết định tổng tiến công Mậu Thân 1968 có phải là sai lầm lớn nhất của ông Lê Duẩn trong chiến tranh?

Nếu xét số thương vong, được ước đoán khoảng hàng chục ngàn người, đợt tấn công Mậu Thân phải được xem là sai lầm chiến thuật.

Ông Lê Duẩn là Bí thư thứ Nhất, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản (1960-1986)Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionÔng Lê Duẩn là Bí thư thứ Nhất, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản (1960-1986): Ta đánh cho TQ trở thánh siêu cường nhưng cái giá quá cao

Tuy vậy, nó lại trở thành chiến thắng chiến lược do nó đã làm đảo ngược sự ủng hộ chiến tranh trong dân chúng Mỹ.

Chúng ta vẫn không biết chắc liệu Lê Duẩn có nhìn ra trước kết quả bước ngoặt này không. Chúng ta đành phải đồn đoán, tranh cãi chừng nào nhiều kho tư liệu còn đóng cửa. Một ngày nào đó, khi giới sử gia được tiếp cận đủ hồ sơ, chúng ta mới biết được khả năng đánh giá của Lê Duẩn đến đâu, và tư duy chiến lược của ông đã tác động đến cuộc chiến như thế nào.

Tư liệu:

Bà Nguyễn Thị Bình hỏi về 'số đông Đảng viên'

Lê Duẩn và 'chiến tranh vì hòa bình' - BBC Tiếng Việt

Bài tiếng Anh trên BBC

BBC Tiếng Việt phỏng vấn vợ của cố TBT Lê Duẩn

Ông Hoàng Văn Hoan và vụ thanh trừng 1979


“Giải phóng miền Nam”: Cho ai và vì ai? 

Hàng năm, cứ mỗi lần đến ngày 30 tháng 4, Đảng và Nhà nước Việt Nam long trọng tổ chức kỷ niệm ngày “giải phóng miền Nam”.  Ngọc Trân, thông tín viên RFA

    Một đơn vị pháo binh của quân đội Việt Nam triển khai dọc theo đường biên giới Việt -Trung thuộc tỉnh Lạng Sơn hôm 23 tháng 2 năm 1979. Ngày 17 tháng 2 năm 1979, TQ đồng loạt tấn công VN theo đường biên giới Việt-Trung
Một đơn vị pháo binh của quân đội Việt Nam triển khai dọc theo đường biên giới Việt -Trung thuộc tỉnh Lạng Sơn hôm 23 tháng 2 năm 1979. Ngày 17 tháng 2 năm 1979, TQ đồng loạt tấn công VN theo đường biên giới Việt-Trung
AFP photo

Trong dịp này, những người “chiến thắng” luôn tự hào và hãnh diện vì đã đánh thắng đế quốc Mỹ, một cường quốc hùng mạnh nhất thế giới. 


  Cái gọi là “công cuộc giải phóng miền Nam” mà những người Cộng sản Việt Nam đã tiến hành, ngoài mục đích xóa bỏ chế độ tư bản, kẻ thù của Chủ nghĩa Xã hội theo học thuyết Mác – Lênin, những người Cộng sản Việt Nam còn bị chi phối bởi mục đích nào khác? 

Con cờ trong bàn cờ của Trung Quốc

Khi tiến hành “giải phóng miền Nam”, Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ bị chi phối bởi Liên Xô mà còn chịu nhiều tác động từ Đảng Cộng sản Trung Quốc. 
Dựa trên các tài liệu đã được giải mật, do kế hoạch của Mao Trạch Đông muốn bành trướng xuống khu vực Đông Nam Á trong tương lai, nên lãnh đạo Trung Quốc không muốn cuộc chiến Việt Nam sớm kết thúc, mà muốn chiến tranh kéo dài để làm Việt Nam suy yếu. 

Tháng 8 năm 1965, tại cuộc họp Bộ Chính trị BCH Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông Mao Trạch Đông tuyên bố: “Chúng ta phải giành cho được Đông Nam Á, gồm cả miền Nam Việt Nam, Thailand, Miến Điện, Malaysia, Singapore... Một vùng như Đông Nam Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản, xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy”.

Và những người Cộng sản Việt Nam đã giúp Trung Quốc thực hiện kế hoạch này. Trong số các tài liệu đã được giải mật, một tài liệu được lưu trữ ở Trung tâm Wilson cho thấy, trong cuộc họp với Mao Trạch Đông hồi năm 1970, ông Lê Duẩn đã cho ông Mao Trạch Đông biết, Việt Nam đang trường kỳ kháng chiến chống Mỹ là vì Trung Quốc. Ông Lê Duẩn đã nói, nguyên văn như sau: “Tại sao chúng tôi giữ lập trường bền bỉ chiến đấu cho một cuộc chiến kéo dài, đặc biệt trường kỳ kháng chiến ở miền Nam? Tại sao chúng tôi dám trường kỳ kháng chiến? Chủ yếu là vì chúng tôi phụ thuộc vào công việc của Mao Chủ tịch…Chúng tôi có thể tiếp tục chiến đấu, đó là vì Mao Chủ tịch đã nói rằng 700 triệu người Trung Quốc đang ủng hộ nhân dân Việt Nam một cách vững chắc”.

Ở một tài liệu khác, cuốn “Sự thật về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong 30 năm qua” – do Nhà xuất bản Sự Thật của Đảng Cộng sản Việt Nam phát hành – tại trang 53, có đăng nguyên văn nội dung lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam trả lời ông Đặng Tiểu Bình hồi năm 1966, như sau: "Sự nhiệt tình của một nước XHCN, với một nước XHCN khác là xuất phát từ tinh thần quốc tế vô sản. Chúng tôi không bao giờ nghĩ nhiệt tâm là có hại. Nếu các đồng chí nhiệt tâm giúp đỡ thì chúng tôi có thể đỡ hy sinh 2-3 triệu người... Miền Nam chúng tôi sẽ chống Mỹ đến cùng và chúng tôi vẫn giữ vững tinh thần quốc tế vô sản".

Những lời thú nhận

Tuy tiến hành cuộc chiến tranh “giải phóng miền Nam” là nhằm phục vụ mục tiêu đưa cả thế giới cùng tiến lên Chủ nghĩa Cộng sản, như tuyên bố của ông Lê Duẩn, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cả nhân loại”, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn không thể làm hài lòng cả Liên Xô lẫn Trung Quốc. Vì sao?

Cùng là Cộng sản nhưng cả Liên Xô lẫn Trung Quốc không thể “đoàn kết” với nhau, bởi bên nào cũng muốn tạo ảnh hưởng, chi phối khu vực Đông Dương và rộng hơn là khu vực Đông Nam Á.

Cư dân ở các huyện biên giới phía Bắc tìm nơi trú ẩn khi Trung Quốc đồng loạt tấn công dọc theo biên giới Trung-Việt. Ảnh chụp ngày 23 tháng 2 năm 1979. AFP photo
Cư dân ở các huyện biên giới phía Bắc tìm nơi trú ẩn khi Trung Quốc đồng loạt tấn công dọc theo biên giới Trung-Việt. Ảnh chụp ngày 23 tháng 2 năm 1979. AFP photo Cư dân ở các huyện biên giới phía Bắc tìm nơi trú ẩn khi Trung Quốc đồng loạt tấn công dọc theo biên giới Trung-Việt. Ảnh chụp ngày 23 tháng 2 năm 1979. AFP photo
Sau khi chiến tranh kết thúc, nhận thấy Việt Nam có vẻ muốn ngả hẳn về phía Liên Xô, năm 1979, Trung Quốc đã xua quân tràn sang Việt Nam, nhằm “dạy cho Việt Nam một  bài học”. Đến lúc này, Nhà xuất bản Sự Thật – một cơ quan thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam - mới công bố những bí mật trong quan hệ Việt – Trung ở giai đoạn tiến hành “giải phóng miền Nam”, “đánh Mỹ cho Liên Xô, Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cả nhân loại”, qua cuốn “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua”.  

Tại trang 5 của tác phẩm vừa dẫn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thú nhận: “Trên thế giới chưa có người lãnh đạo một nước nào mang danh là ‘cách mạng’, là ‘xã hội chủ nghĩa’ và dùng những lời lẽ rất ‘cách mạng’ để thực hiện một chiến lược phản cách mạng, cực kỳ phản động như những lãnh đạo Trung Quốc. Trên thế giới chưa có những người lãnh đạo một nước nào về mặt chiến lược đã lật ngược chính sách liên minh, đổi bạn thành thù, đổi thù thành bạn nhanh chóng và toàn diện như những người lãnh đạo Trung Quốc”. 

Ở trang 73 của tác phẩm này, những người cộng sản Việt Nam đã cay đắng thú nhận: “Những người cầm quyền Trung Quốc, xuất phát từ lợi ích dân tộc, họ có giúp Việt Nam khi nhân dân Việt Nam chiến đấu chống Mỹ, nhưng cũng xuất phát từ lợi ích dân tộc, họ không muốn Việt Nam thắng Mỹ và trở nên mạnh, mà chỉ muốn Việt Nam yếu, lệ thuộc Trung Quốc...Họ lợi dụng xương máu của nhân dân Việt Nam để buôn bán với Mỹ... Họ muốn chia rẽ Việt Nam với Liên Xô và các nước XHCN khác”.

Cũng trong tác phẩm vừa dẫn, ở trang 100, Đảng Cộng sản Việt Nam cho biết âm mưu của Trung Quốc trong cuộc chiến Việt Nam như sau: “Họ bật đèn xanh cho Mỹ ném bom miền Bắc Việt Nam, đồng thời đưa quân Mỹ trực tiếp xâm lược miền Nam, Việt Nam. Khi Việt Nam muốn ngồi vào thương lượng với Mỹ để phối hợp ba mặt trận: quân sự, chính trị, ngoại giao thì họ ngăn cản. Khi nhân dân Việt Nam trên đà đi tới thắng lợi hoàn toàn thì họ bắt tay với chính quyền Nixon, dùng xương máu của nhân dân Việt Nam để  đưa nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa lên địa vị ‘siêu cường thứ ba’ và đổi chác việc giải quyết vấn đề Đài Loan”.

Mười một năm trước khi lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam nhận ra và thú nhận những điều vừa kể, vào  tháng 3 năm 1968, khi phát biểu tại trường Đại học Kansas, Thượng nghị sĩ Robert Kennedy đã tuyên bố, mục tiêu của cuộc chiến “giải phóng miền Nam” do Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành, thật ra chỉ vì Trung Quốc muốn Mỹ sa lầy.

Ông Robert Kennedy nhận định: “Mao Trạch Đông và các đồng chí Trung Quốc của ông ta yên lặng ngồi nhìn: [Việt Nam] đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng. Họ xem chúng ta làm suy yếu một nước, là hàng rào vững chắc chống lại sự bành trướng của Trung Quốc xuống phía Nam. Họ hy vọng sẽ buộc chúng ta chặt hơn trong cuộc chiến kéo dài ở Campuchia, Lào và Thái Lan. Họ tự tin rằng cuộc chiến ở Việt Nam ‘sẽ càng làm cho Mỹ sa lầy, hủy hoại tài nguyên, mất uy tín về sự kỳ vọng của các nước vào sức mạnh của Mỹ, chúng ta bị đồng minh xa lánh, xung đột với Liên Xô, và bất đồng gia tăng trong dân chúng Mỹ’. Như một nhà quan sát Mỹ đã nói: ‘chúng ta dường như đang bị chơi đúng kịch bản mà Mao đã viết ra’.”

Ba mươi sáu năm sau khi cuộc chiến tranh “giải phóng miền Nam” kết thúc, Trung Quốc càng ngày càng hùng mạnh hơn và sự hùng mạnh đó đang gây trăn trở cho hàng triệu người Việt. Còn lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục tự hào vì đã “giải phóng miền Nam”.

Không Ai Thắng Trong “Cuộc Chiến Việt Nam” chỉ có nhân dân VN thảm bại

Tác giả: Nguyễn Nhật Huy

Cuộc chiến Việt Nam” là một bộ phim của người Mỹ, làm cho người Mỹ, nhằm giải thích và giải quyết các vấn đề trong xã hội Mỹ. Nó giống như một phiên tâm lý trị liệu mà các bên cùng ngồi xuống và kể câu chuyện của mình. Qua đó mỗi người sẽ hiểu được phần nào suy nghĩ của những người khác, trở nên bao dung và gắn kết với nhau hơn. Mặc dù được xây dựng trên một nền tảng nghiên cứu lịch sử đồ sộ có tính học thuật cao, mục đích chính của Ken Burns và Lynn Novick vẫn là cung cấp một cơ hội giải toả (catharsis) cho người Mỹ sau sang chấn tinh thần Chiến tranh Việt Nam. Sẽ là vô lý nếu đòi hỏi những người Mỹ phải làm phim từ góc nhìn người Việt Nam. Đã có nhận xét cho rằng bộ phim là một trại cải tạo (re-education camp) cho xã hội Mỹ và điều này cũng có thể áp dụng với người Việt. Có rất nhiều bài học và câu hỏi dành cho người Việt từ bộ sử thi này.

Bộ phim có ý nghĩa thế nào với người Việt Nam?

Một bài học giá trị từ bộ phim là tất cả chính quyền, dù ở Mỹ hay ở Việt Nam, đều gian dối và đa số những nhà lãnh đạo đều sẵn sàng hy sinh tính mạng hàng ngàn, thậm chí cả triệu người để thực hiện mục tiêu cá nhân của mình. Sự can thiệp của Mỹ ở Việt Nam bắt đầu từ nỗi lo chủ nghĩa cộng sản sẽ bành trướng nhưng dần dần nó lại bị chi phối chủ yếu bởi nỗi sợ không thắng cử của các Tổng thống Mỹ. Từ Johnson mặc dù biết là không thể chiến thắng nhưng vẫn liên tục gửi quân sang Việt Nam vì sợ bị coi là kẻ thua trận. Nixon vì muốn kiếm thêm phiếu bầu đã xúi giục chính quyền Nguyễn Văn Thiệu tẩy chay đàm phán hoà bình.

Về phía Việt Nam, cuộc chiến khởi đầu như một cuộc tranh đấu cho độc lập dân tộc, chống lại sự thống trị của ngoại bang nhưng sau khi lính Mỹ rút khỏi Việt Nam năm 1973 thì các lãnh đạo Hà Nội vẫn tiếp tục cuộc nội chiến khiến hàng trăm ngàn người bỏ mạng, hàng triệu người mất nhà cửa, gia đình ly tán. Các lãnh đạo cộng sản tuyên bố “Đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng” nhưng họ đa phần cho con em ở hậu phương hoặc đi học ở nước ngoài.

Chiến tranh có đáng?

Trong một đoạn phỏng vấn cho phim tài liệu Hearts and Minds, tướng William Westmoreland, chỉ huy quân đội Mỹ ở Việt Nam đã nói “Người phương Đông không coi trọng mạng sống như người phương Tây. Mạng sống là vô kể, mạng sống là rẻ mạt ở phương Đông. Và như triết lý phương Đông, mạng sống là không quan trọng.” Tất nhiên Westmoreland đã không thể sai hơn. Nhưng điều gì đã mang lại ấn tượng đó cho ông ta? Trong cuộc chiến Việt Nam, quân đội Mỹ tử trận ở con số hơn 58,000 trong khi ít nhất 250,000 binh sỹ VNCH, hơn một triệu lính VNDCCH và Giải phóng quân cộng thêm hơn hai triệu dân thường ở cả hai miền bỏ mạng. Gần 60,000 người Mỹ thiệt mạng đã gây áp lực khổng lồ lên nước Mỹ phải rút khỏi cuộc chiến nhưng hàng triệu người chết vẫn chưa đủ làm các nhà lãnh đạo Việt Nam chần chừ. Và cũng như người Mỹ sau chiến tranh, nhiều người Việt Nam bắt đầu đặt câu hỏi liệu hơn ba triệu người chết và đất nước bị tàn phát suốt 20 năm có là cái giá đáng để hy sinh?

Tại sao người Việt Nam chưa hoà giải?

Hơn 40 năm sau ngày thống nhất, người Việt Nam đã hoà giải với các cựu thù là người Pháp và người Mỹ. Nhưng sự hoà giải giữa người Việt với người Việt dường như vẫn còn xa vời. Điều này có phải do người Việt thân thiện hơn với người nước ngoài? Hay do những hành động của “bên thắng cuộc” mà đất nước thì thống nhất về quân sự và lãnh thổ nhưng không thống nhất trong lòng người? Lần đầu tiên, 173 năm sau khi Nguyễn Ánh chiếm được Thăng Long từ quân Tây Sơn, người Việt Nam lại có một lãnh thổ thống nhất hình chữ S từ Bắc vào Nam. Và cũng giống như Nguyễn Ánh, những người cộng sản đã tiến hành trả thù một cách có hệ thống với bên thua cuộc, tuy mức độ tàn bạo không giống nhưng quy mô thì gấp nhiều lần. Hàng trăm ngàn người bị giam giữ không qua xét xử, có những người bị giam tới 17 năm, có những người được thả ra vài ngày thì qua đời. Nhiều nghĩa trang quân sự của binh sĩ Việt Nam Cộng Hoà bị san ủi. Sau 30 năm chiến tranh, đất nước bị tàn phá nặng nề và khánh kiệt,  cần tới sức lực, trí tuệ và tâm huyết của tất cả những ai có thể cống hiến thì những người thắng cuộc lại chọn cách trả thù ấu trĩ và nhỏ nhen. Khi kết thúc một cuộc giao tranh, hoà giải có đạt được hay không có lẽ phụ thuộc chính vào tầm vóc và trí tuệ của người chiến thắng.

Ai là người chiến thắng?

Ngày 30/4/1975 Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện lực lượng Quân giải phóng và yêu cầu tất cả binh sĩ Việt Nam Cộng Hoà hạ khí giới. Chính thể tồn tại 20 năm ở miền Nam Việt Nam bị xoá bỏ. Trước đó 2 năm, người Mỹ đã thừa nhận thất bại và rút quân sau 10 năm can thiệp mà không đạt được mục tiêu của mình. Những người cộng sản mừng chiến thắng mà họ phải chiến đấu ròng rã suốt 30 năm. Nhưng liệu có được gọi là chiến thắng khi ngay trong thời bình mà 2 triệu người phải rời bỏ đất nước bất chấp nguy hiểm tới tính mạng?

Những người cộng sản chiến đấu để tạo lập một nước Việt Nam thống nhất dưới chủ nghĩa xã hội nhưng chỉ 10 năm sau chiến tranh, họ lại lựa chọn hình thái kinh tế mà họ từng muốn xoá bỏ bằng mọi giá. Bên thắng cuộc tự hào đã thắng cường quốc số một thế giới nhưng 20 năm sau đó chính người Mỹ lại là bên ra điều kiện khi Việt Nam muốn bình thường hoá quan hệ và hội nhập thế giới. Người Mỹ vì quá tự tin, nghĩ họ phi thường nên đã thua trong chiến tranh Việt Nam. Nhưng Việt Nam sau khi thắng Mỹ và nghĩ mình phi thường nên đã thua ngay trong thời bình.

Nhật Huy


Podcast

Trung Quốc và ý đồ phá hoại sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam

Ngày 20/07/1954, Hiệp định Genève được chính thức ký kết nhằm chấm dứt cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất và tái lập hoà bình tại Đông Dương. Hiệp định này đã thừa nhận nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Nhưng dù là một bên ký vào Hiệp định, ngay từ thời đó, Trung Quốc đã tìm cách lợi dụng Việt Nam và nuôi dã tâm phá hoại sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Trong vòng 60 năm qua, giới nghiên cứu đã có rất nhiều đánh giá về bản Hiệp định này, về vai trò của các bên chủ chốt tham gia cuộc đàm phán tại Genève, từ hai phái đoàn đại diện cho miền Bắc và Miền Nam Việt Nam, cho đến Pháp, Mỹ, Liên Xô hay Trung Quốc, đặc biệt là trên vấn đề chia cắt Việt Nam thành hai miền, lấy đường ranh là vĩ tuyến 17.

Vào lúc chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam trên Biển Đông đang bị Trung Quốc đe dọa dữ dội, dịp kỷ niệm 60 năm Hiệp định Genève 1954 đã nêu bật trở lại vai trò của Trung Quốc, trong việc bắt tay với Pháp tại Hội nghị Genève để chia cắt Việt Nam, một quyết định mà cả hai phái đoàn Việt Nam vào khi ấy phải miễn cưỡng chấp nhận.

Theo nhiều nhà nghiên cứu, ý đồ đánh vào chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam thể hiện vào thời Hiệp định Genève, đã được Bắc Kinh tiếp tục từ đó đến nay, với một loạt những hành động đi đêm ngoại giao với Hoa Kỳ vào đầu thập niên 1970, ngay trong lúc Việt Nam đang lâm chiến với Mỹ, cho đến nhưng hành vi lấn chiếm biển đảo – Hoàng Sa năm 1974, Trường Sa năm 1988 và gần đây nhất là vụ đưa giàn khoan HD-981 vào hoạt động trong vùng thềm lục địa của Việt Nam.

Đó là chưa kể đến việc Bắc Kinh nuôi dưỡng lực lượng Khmer Đỏ quấy phá vùng biên giới Tây Nam của Việt Nam vào cuối thập niên 1970, và đặc biệt là vụ xua quân đánh vào các tỉnh thuộc vùng biên giới phía Bắc của Việt Nam vào năm 1979.

Trả lời phỏng vấn của RFI nhân kỷ niệm 60 năm bản Hiệp định Genève 1954, nhà nghiên cứu lịch sử Dương Trung Quốc, Tổng biên tập Tạp chí Xưa và Nay tại Hà Nội đã phân tích thêm về ý đồ lợi dụng Việt Nam của Trung Quốc ngay từ thời Hội nghị Genève, bước khởi đầu của một chiến lược lâu dài nhằm vào chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, trong đó có Biển Đông.

Đối với sử gia Dương Trung Quốc, « Giá trị cơ bản nhất của Hiệp định Genève đương nhiên là việc chấm dứt cuộc Chiến tranh Đông Dương Lần thứ I. Nhưng nội dung quan trọng, mang ý nghĩa thiết thực chính là việc quốc tế thừa nhận chủ quyền, độc lập và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam ».

Trung Quốc là nước đã ký vào văn kiện quốc tế năm 1954 công nhận sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, nhưng đồng thời, Trung Quốc lại tán đồng việc chia cắt Việt Nam thành hai miền Nam Bắc. Theo sử gia Dương Trung Quốc, đó là vì trong toàn cảnh cuộc chiến tranh lạnh Đông-Tây vào thời đó, Bắc Kinh muốn biến Việt Nam thành lá chắn để bảo vệ Trung Quốc trong cuộc đối đầu với Mỹ, dùng Việt Nam làm quân cờ để mặc cả với Hoa Kỳ khi Bắc Kinh cần thay đổi chiến lược.

Vấn đề được sử gia Dương Trung Quốc nêu bật là bất chấp sự chọc gậy bánh xe của Trung Quốc, Việt Nam vào năm 1975 đã thống nhất được đất nước. Phản ứng sau đó của Trung Quốc chính là xúi giục lực lượng Khmer Đỏ của Pol Pot mở cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam sau đó xua quân đánh vào vùng biên giới phía Bắc Việt Nam (1979).

Dụng tâm phá hoại sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam còn được thấy qua việc dùng võ lực đánh chiếm nhiều bãi cạn do Việt Nam kiểm soát trên quần đảo Trường Sa (1988), và biết bao hành động quyết đoán khác tại vùng Biển Đông.

Sau đây mời quý vị nghe phần phỏng vấn nhà nghiên cứu lịch sử Dương Trung Quốc qua điện thoại.

Nhà nghiên cứu lịch sử Dương Trung Quốc tại Hà Nội31/07/2014 - Trọng NghĩaNghe

Ý nghĩa quan trọng nhất : Lần đầu tiên quốc tế công nhận nền độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam

DTQ : Nội dung căn bản nhất của Hiệp định Genève là đình chiến, (kết thúc) cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ I. Tuy nhiên sau đó người Việt Nam vẫn phải tiếp tục cuộc Chiến tranh Đông Dương thứ hai, rồi cuộc chiến tranh bảo vệ chủ quyền của dân tộc. Sau Hiệp định Genève, như thế là chiến tranh chưa phải hoàn toàn chấm dứt. Hiệp định này, đối với người Việt Nam do đó chỉ là sự khởi đầu của một quá trình...

Giá trị cơ bản nhất của Hiệp định Genève đương nhiên là việc chấm dứt cuộc Chiến tranh Đông Dương Lần thứ I. Nhưng nội dung quan trọng, mang ý nghĩa thiết thực chính là việc quốc tế thừa nhận chủ quyền, độc lập và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Đây là một điều hết sức quan trọng bởi vì nước Việt Nam hiện đại, thoát thai từ xã hội thuộc địa, gắn liền với cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố độc lập.

Nhưng để nền độc lập được thừa nhận và gắn với nền độc lập là sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, đó là một cuộc phấn đấu không đơn giản…

Vì thế cái giá trị lớn nhất của Hiệp định Genève là công nhận nền độc lập đã được xác lập từ năm 1945, và đi cùng với nền độc lập ấy là sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ...

Trong lịch sử hình thành dân tộc Việt Nam, bên cạnh giá trị của hai chữ độc lập, vấn đề cực kỳ quan trọng là thống nhất quốc gia. mặc dù Hiệp định Genève quy định việc chia cắt Việt Nam tạm thời ra thành hai phần ở vĩ tuyến 17, nhưng thừa nhận trên tổng thể một nước Việt Nam thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ…

Toàn vẹn lãnh thổ bao gồm cả vùng biển dù chưa được đặt ra

DTQ : Có thể nói đến một vấn đề vào thời điểm đó chưa đặt ra, nhưng có hệ quả cực kỳ quan trọng cho thời kỳ hiện nay : Chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam bao gồm cả một không gian sống còn là không gian biển.

Tuy không có câu chữ nào nói đến chủ quyền trên biển của Việt Nam, nhưng cái đó được thấy nếu « xâu chuỗi » lại tất cả các nội dung với những yếu tố có tính cách cam kết quốc tế trước đó, như tại Hội nghị San Francisco năm 1951 đã bàn về chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa, đã từng bác bỏ đề nghị trao những quần đảo đó cho Trung Quốc, và không phản đối ý kiến cho rằng Hoàng Sa-Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.

Tất cả đã được thề hiện trong các điều khoản mà chính Trung Quốc là một trong những nước quan trọng nhất, tham gia đóng góp và ký kết vào bản Hiệp định này…

Mỹ, một trong những nước tham gia Hiệp định Genève không ký kết vào văn bản này, đã phải ký Hiệp định Paris 20 năm sau, và điều khoản quan trọng đầu tiên cũng là thừa nhận sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam…

Vai trò “khả nghi” của Trung Quốc ngay từ thời Hiệp định Genève

DTQ : ...Chúng ta thường hay nhắc đến vai trò của Trung Quốc đối với những vấn đề liên quan đến bán đảo Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng

Người Trung Quốc thường hay nhắc đến ơn nghĩa của họ đối với Việt Nam... Tôi nghĩ rằng chúng ta sẵn sàng ghi nhận các đóng góp. Trong lịch sử, Trung Quốc quả là một đồng minh quan trọng của Việt Nam, nhất là trong cuộc Chiến tranh Đông Dương Lần thứ I...

Nhưng mà nói cho sòng phẳng… Trung Quốc cũng khai thác Việt Nam như một « không gian », một « điều kiện » trong quá trình trỗi dậy của mình. Nhìn vào lịch sử, sau khi thành lập CHND Trung Hoa vào năm 1949, bên cạnh vấn đề Triều Tiên, thì Đông Dương, và đặc biệt là Việt Nam là cơ hội để Trung Quốc bước vào võ đài thế giới.

Nếu Triều Tiên là một sự « không ai thắng ai thua », thì rõ ràng là Việt Nam với trận Điện Biên Phủ, và tác động của trận Điện Biên Phủ, (đã giúp) Trung Quốc (trở thành) đồng minh của bên thắng trận và điều đó cũng tạo ra cho Trung Quốc một vị thế để bước vào chính trường thế giới.

Nhưng mà chúng ta cũng thấy rất rõ là trong bối cảnh chung của thế giới sau Đại chiến Thứ II, thì lợi ích của các nước xã hội chủ nghĩa nói chung, và đặc biệt là của Trung Quốc ở phương Đông là muốn tạo ra được những vị trí « tiền tiêu », ở đó không chỉ có sự đối đầu, mà đằng sau đó là một sự mặc cả giữa Đông và Tây.

Dã tâm dùng Việt Nam làm lá chắn và bàn đạp

Cho nên là người ta sớm thấy rõ ý đồ của Trung Quốc, sau Triều Tiên là đến Việt Nam cũng rơi vào hình thái tương tự, tức là chia cắt nước Việt Nam – hay là Triều Tiên - ra làm đôi, để mà tạo ra được « vùng đệm » hay « phên dậu » để che chắn cho Trung Quốc, đồng thời là cái nơi để Trung Quốc có thể tạo ra những tiền đề họ có thể tiếp cận với các nước lớn, cụ thể trong vùng phương Đông này là Hoa Kỳ.

Cho nên Trung Quốc đã có những động thái tưởng như nhỏ, nhưng sau này phân tích ra, thì thấy rõ dụng tâm của Trung Quốc : Thái độ của Trung Quốc đối với các thành phần trong Hiệp định Genève.

Người ta thấy rất rõ cái việc Trung Quốc thỏa mãn với kết cục… là sau Hiệp định Genève, nước Việt Nam phải chia đôi, giống như Bắc và Nam Triều Tiên, để sau đó Việt Nam luôn luôn bị rơi vào tình trạng một nước phải đại diện cho một cái cực của cái sự đối đầu của thế giới lúc đó.

Vì thế, nếu nghiên cứu kỹ lịch sử Việt Nam, đặc biệt là cuộc Chiến tranh Đông Dương Lần thứ II, thì như một số đánh giá, hay tiên đoán của các nhà báo vào thời đó, thì ở chiến trường Việt Nam, Trung Quốc muốn « đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng ».

Nhưng trong khi diễn ra chiến trường Đông Dương, hay Việt Nam, Trung Quốc luôn luôn đứng ở vị trí dùng sức ép của Việt Nam để đạt mục đích của mình, mà mục đích quan trọng nhất đối với Trung Quốc là bắt tay với Mỹ.

Và điều đó đã diễn ra một cách hết sức rõ ràng, thậm chí đối với người Việt Nam lại trắng trợn, với các diễn biến trong năm 1972 : Chuyến thăm Bắc Kinh của Tổng thống Mỹ Nixon ; vai trò của cố vấn Henry Kisinger ; hay những ký kết tại Thượng Hải.

Người ta thấy rất rõ sự đảo chiều. Tuy Việt Nam vẫn là đồng minh, nhưng rõ ràng là Trung Quốc dùng Việt Nam như là « bàn đạp » để thay đổi chiến lược của mình, trong bối cảnh đang diễn ra những biến đổi rất lớn trên thế giới, với vai trò của Mỹ và Liên Xô…



Cái gọi là công lao đánh Pháp, đuổi Nhật, chống Mỹ chỉ là bịp bợm


Le Nguyen (Danlambao) - Có một bộ phận không nhỏ mù đảng, cuồng Hồ nên đã bị một bộ phận lãnh đạo cộng sản ma dầu đánh tráo khái niệm làm cho lẫn lộn “tinh thần cộng sản” với “tinh thần dân tộc” để chúng lợi dụng phục vụ cho ý đồ, cho tham vọng quyền lực, quyền lợi của chúng. Chính vì lẽ đó, chúng ta những người lương thiện hãy tự biến mình thành chiến sĩ thông tin, mỗi người một tay, bằng mọi phương tiện có được tấn công, đánh thẳng vào bộ não bại liệt của bọn mù đảng, cuồng Hồ để giúp chúng nhận ra, biết phân biệt tinh thần cộng sản với tinh thần dân tộc trong con người Hồ Chí Minh.

Có lẽ trong chúng ta, ai cũng biết, người cộng sản lấy tư tưởng Mác-Lênin làm ngọn đuốc soi đường, kiên trì định hướng xã hội chủ nghĩa và thế giới đại đồng là kim chỉ nam, là mục tiêu phải đạt tới. Đặc thù của người cộng sản là tôn thờ chủ nghĩa tam vô: vô gia đình; vô tôn giáo; vô tổ quốc và người cộng sản thuộc nằm lòng phương châm hành động “cứu cánh biện minh cho phương tiện”. Thế cho nên, người cộng sản bất chấp thủ đoạn, đạo đức và bằng mọi giá thực hiện đấu tranh giai cấp, hô hào chuyên chính vô sản, hô khẩu hiệu vô sản toàn thế giới đoàn kết lại, kêu gọi “nô lệ” vùng lên làm cách mạng vô sản, làm cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân theo chỉ đạo của quốc tế cộng sản. 

Tài liệu, bút tích lịch sử đã chứng thực Hồ Chí Minh là một tên cộng sản cuồng tín nên trong tư tưởng Hồ chỉ có tổ quốc xã hội chủ nghĩa và nhiệm vụ quốc tế cộng sản giao phó phải hoàn thành. Trong quá trình lãnh lương làm việc cho cộng sản quốc tế với trăm tên nghìn mặt, Hồ giỏi che dấu thân phận, tông tích cộng sản dưới lớp vỏ bọc yêu nước. Hắn giỏi phô diễn tinh thần dân tộc cao độ cộng với bản chất gian manh, tàn bạo giết người không gớm tay của cộng sản nên Hồ đã uy hiếp tinh thần cũng như lừa gạt một bộ phận không nhỏ người dân lao vào cuộc đánh thuê cho cộng sản quốc tế dưới khẩu hiệu đánh đuổi thực dân Pháp, phát xít Nhật, đế quốc Mỹ vì độc lập tự do, vì thống nhất đất nước...

Thế nhưng thực sự là Hồ đánh Pháp, đuổi Nhật, chống Mỹ là cho Nga-Tàu, cho quốc tế cộng sản và ngày nay các văn kiện lịch sử đã chỉ ra phát xít Nhật đã trao trả độc lập cho Việt Nam được diễn ra như sau:

“...Ngày 9 tháng 3 năm 1945, khi tình hình chiến tranh Thái Bình Dương thay đổi bất lợi, Nhật đổi chính sách và đảo chính Pháp, bắt giam các tướng lãnh và tước khí giới của quân đội Pháp ở Đông Dương. 

Đại sứ Nhật ở Đông Dương là Matsumoto Shunichi giao cho đại diện Pháp là Toàn quyền Đông Dương Đô đốc Jean Decoux tối hậu thư đòi người Pháp phải chấp nhận vô điều kiện quyền chỉ huy của Nhật trên mọi phương diện. Ở Huế đại úy Kanebo Noburu vào trình báo vua Bảo Đại quyền lực của Pháp đã bị loại. Cùng chiều hướng đó Đế quốc Nhật Bản thỏa thuận trao trả độc lập cho Việt Nam trên danh nghĩa. 

Hai ngày sau, 11 tháng Ba vua Bảo Đại triệu cố vấn tối cao của Nhật là đại sứ Yokoyama Masayuki vào điện Kiến Trung để tuyên bố nước Việt Nam độc lập... Cùng đi với Yokoyama là tổng lãnh sự Konagaya Akira và lãnh sự Watanabe Taizo. 

Bản tuyên ngôn đó có chữ ký của sáu vị thượng thư trong Cơ mật Viện là Phạm Quỳnh, Hồ Đắc Khải, Ưng Úy, Bùi Bằng Đoàn, Trần Thanh Đạt, và Trương Như Đính, nguyên văn chiếu chỉ đề ngày 27 Tháng Giêng ta năm thứ 20 niên hiệu Bảo Đại: “Theo tình hình thế giới nói chung và hiện tình Á Châu, chính phủ Việt Nam long trọng công bố rằng: Kể từ ngày hôm nay, Hòa ước Bảo hộ ký kết với nước Pháp được hủy bỏ và vô hiệu hóa. Việt Nam thu hồi hoàn toàn chủ quyền của một Quốc gia Độc lập.”

Thế nhưng Hồ Chí Minh không chấp nhận Việt Nam độc lập nằm ngoài quỹ đạo cộng sản nên đã chủ động tổ chức cướp chính quyền của thủ tướng Trần Trọng Kim năm 1945. Năm 1946 Hồ sang Pháp đơn phương ký tạm ước Modus Vivendi với Moutet thuộc phe cánh tả, một viên chức của bộ thuộc địa. Tạm ước có 11 điều khỏa trong đó có điều khoản cho phép thực dân Pháp trở lại Việt Nam, là nguồn gốc phát sinh 9 năm kháng chiến chống Pháp, với thịt da xương máu dân tộc Việt Nam nát tan!

Điểm đáng chú ý khác là trong 9 năm kháng chiến chống Pháp do Hồ Chí Minh phát động thì chính quyền Pháp sau hai năm đàm phán, từ năm 1947 đến tháng 01/1949 tổng thống Pháp Vincent Auriol và vua Bảo Đại đã ký hiệp ước Elysée trao trả độc lập cho Việt Nam. Một lần nữa sự thật lịch sử đã chỉ ra, Hồ Chí Minh làm theo lệnh quốc tế cộng sản, không để Việt Nam độc lập trong hòa bình nằm ngoài hệ thống nhà nước xã hội chủ nghĩa nên Hồ đã chủ động núp bóng dân tộc, phát động chiến tranh đánh Pháp cho Nga-Tàu mở rộng đế chế cộng sản, là sự thật lịch sử đã diễn ra.

Việc cộng sản Hồ Chí Minh khoát áo dân tộc hô hào chống xâm lăng không dừng lại ở đó! Sau chiến tranh kháng Pháp, Hồ tiếp tục nhiệm vụ của quốc tế cộng sản phát động chiến tranh đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng, với chiêu bài “chống Mỹ cứu nước”. 

Hầu như những người dân Việt Nam yêu nước lao vào cuộc chiến “chống Mỹ cứu nước” chỉ thấy phần ngọn của sự hoang tàn đổ nát, khốc liệt của khói lửa bom đạn chiến tranh. Không mấy ai bình tĩnh nhận ra căn nguyên của sự tàn bạo, lạnh lùng của con người cộng sản “máu lạnh, khát máu” Hồ Chí Minh. Chính Hồ gây ra cuộc chiến để thực hiện nhiệm vụ nhuộm đỏ Việt Nam cho cộng sản quốc tế như chính tổng bí thư Lê Duẩn, tên học trò lớn của Hồ đã thú nhận: “...Ta đánh Mỹ đây là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc và cho chủ nghĩa xã hội...”

Nếu chịu khó đọc tài liệu lịch sử nhiều nguồn và bình tỉnh phân tích sẽ thấy cái gọi là chống Pháp của Hồ không phải là vì độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam bởi thực tế tài liệu lịch sử đã chỉ ra Nhật, Pháp đã trao trả độc lập cho Việt Nam và chống Mỹ cứu nước cũng chỉ là trò mị dân trò của Hồ. Ngày nay ai cũng biết, Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam là công cụ Hồ lập ra năm 1960, mãi đến năm 1965 mỹ mới đưa quân vào Việt Nam tham chiến để bảo vệ miền nam tự do và quân đội Mỹ rút về nước từ năm 1973, mãi đến năm 1975 cuộc chiến “chống Mỹ cứu nước” mới kết thúc thì Mỹ ở đâu để ông Hồ và bè đảng gọi là “chống Mỹ cứu nước?”

Con người cộng sản Hồ Chí Minh trước sau như một. Với Hồ tất cả chỉ có tổ quốc xã hội chủ nghĩa và nhiệm vụ quốc tế cộng sản bằng mọi giá phải hoàn thành, kể cả hoàn thành với núi xương sông máu của dân tộc Việt Nam! 

Thời thông tin bùng nổ, ai cũng biết Hồ Chí Minh là thành viên, là tình báo của quốc tế cộng sản với tư tưởng được chứng minh qua các tài liệu lịch sử chỉ ra tư tưởng Hồ không có gì... Tất cả tư tưởng của Hồ chỉ là vay mượn hoặc là bệnh hoạn, quái đản đã thể hiện qua các bài viết giả danh Trần Lực, C.B, Trần Dân Tiên, T.Lan... và đạo đức của Hồ trong cuộc sống đời thường dan díu với nhiều người đàn bà nhưng một mực bảo là sống độc thân để toàn tâm toàn ý cho dân cho nước, thật đáng ghê sợ, là câu chuyện đạo dức của Hồ có một không hai trong lịch sử Việt Nam.

Cuộc đời sự nghiệp của của tên cộng sản Hồ nhòe nhẹt, bẩn thỉu, nhem nhuốc nhưng nó đã được tuyên giáo trung ương đảng tô son trét phấn theo quy trình tư tưởng, đạo đức bệnh hoạn, quái đản trong các tác phẩm hư cấu bịa đặt, tự biên soạn, tự khen mình thánh thiện, tài giỏi của Hồ và do chính ông ta bịa đặt, làm ra, phát tán để dẫn dắt cán bộ, đảng viên vào mê lộ, tin Hồ là đạo đức, văn minh...

Cũng từ các tài liệu, bút tích lịch sử trong kho lưu trữ của đảng, nhà nước đã chỉ ra - Hồ Chí Minh chẳng phải vì độc lập dân tộc, vì thống nhất đất nước và ông Hồ cũng chẳng có công lao gì trong công cuộc đánh Pháp, đuổi Nhật, chống Mỹ. Tất cả hào quang đánh thắng chỉ là bịp bợm do tuyên giáo biên soạn hư cấu, thu gom từ các ý tưởng Hồ tự khen mình và cuộc đời hoạt động cách mạng của cộng sản Hồ cũng chỉ vì lý tưởng cộng sản, vì yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội của Hồ mà thôi! 

Ngày nay các câu chuyện Hồ núp bóng dân tộc phát động chiến tranh dưới danh nghĩa đánh đuổi thực dân, đế quốc do bộ máy tuyên giáo, thông tin truyền thông, tuyên truyền Hồ thần thánh đã bị lột trần truồng... Thực chất là Hồ “làm công ăn lương” làm tên lính đánh thuê cho Nga-Tàu, cho cộng sản quốc tế, là sự thật Hồ Chí Minh và sự thật lịch sử đã được phơi bày không ai có thể lấp liếm che dấu nổi cho bộ mặt ghê tởm của Hồ Chí Minh. 

Thật ra nói đến công lao của ông Hồ nếu có, thì chỉ là công lao đối với cộng sản chứ không phải công lao đối với dân tộc Việt Nam. Sự thật Hồ Chí Minh đã chỉ ra, động cơ hành động của Hồ là vì quốc tế cộng sản, vì tổ quốc xã hội chủ nghĩa vĩ đại của ông ta. Nếu những đảng viên mù đảng, các cháu ngoan cuồng Hồ tôn thờ những việc làm vô đạo, bạo tàn, gian trá của Hồ và cho rằng đó là hình mẫu của thánh nhân thì cứ tự nhiên chứ đừng vơ dân tộc Việt Nam vào rồi bảo Hồ là thánh của dân tộc Việt Nam, là ngoa ngôn loạn ngữ mang tội với tổ tiên nòi Việt.

Thời nay ai cũng biết cộng sản là tội ác chống nhân loại, nó xuất hiện rất ngắn trong giòng lịch sử phát triển của xã hội loài người nhưng nó đã lập nên kỳ tích “giết” hơn trăm triệu mạng người với cách dã man, tàn bạo nhất. Lịch sử phát triển xã hội loài người cũng đã chỉ ra cộng sản còn độc ác, bạo tàn hơn cả bạo chúa Tần Thủy Hoàng và Phát xít Hitler. Cụ thể là Tần Thủy Hoàng giết người tàn độc, man rợ vào lúc loài người còn mông muội hoang dã, đạo đức chưa định hình và dù Hitler giết người hàng loạt trong lò hơi ngạt cả thế giới lên án tội diệt chủng nhưng Hitler không giết dân tộc Đức, giết người đồng chủng với ông ta. Trong khi cộng sản giết người man rợ trong thời con người tương đối văn minh, chúng giết người như loài thú hoang dại khát mồi, giết cả dân của chúng như cộng sản Nga giết dân Nga, Cộng sản Tàu giết dân Tàu, cộng sản Miên giết dân Miên... cộng sản Hồ giết dân Việt. 

Nhìn chung, vì một bộ phận thiếu thông tin về sự thật Hồ Chí Minh nên đã bị lãnh đạo gian manh lợi dụng lòng tin mù quáng phục vụ ý đồ đen tối của họ. Tin tưởng mù quáng dễ bị lợi dụng cũng chính là một trong những nguyên nhân sản sinh ra nhóm lợi ích, với ngày càng nhiều cán bộ, quan chức suy thoái đạo đức lối sống, tiêu cực tham nhũng không thể đẩy lùi và chế độ ngày càng mục ruỗng, thối nát. Do đó nếu một bộ phận đảng viên mù đảng, cháu ngoan bác Hồ mê muội vẫn thiếu thông tin, không biết cộng sản Hồ Chí Minh vẫn nhập nhằng, hiểu lệch lạc Hồ Chí Minh yêu nước với tinh thần chủ nghĩa dân tộc thì sẽ còn bị lãnh đạo gian manh buôn bán xác chết Hồ lợi dụng lòng tin mù quáng phục vụ cho tham vọng quyền, tiền và vô tình tiếp tay cho bọn sâu dân mọt nước kiềm hãm đất nước chìm đắm trong vũng lầy đói nghèo, lạc hậu, chậm tiến.

Tổn thất nhân mạng trong Chiến tranh Việt Nam
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
"SP4 Ruediger Richter (Columbus, Georgia), Tiểu đoàn 4, Trung đoàn Bộ binh 503Lữ đoàn nhảy dù chiến đấu 173 đưa mắt mệt mỏi vì trận đánh đang nhìn lên bầu trời trong khi Trung sĩ Daniel E. Spencer (Bend, Oregon) nhìn xuống xác đồng đội. Trận chiến ban ngày kết thúc, họ chờ đợi trực thăng đến di tản đồng đội của họ khỏi các ngọn đồi có rừng nhiệt đới bao phủ tại tỉnh Long Khánh."

Chiến tranh Việt Nam đã gây ra cái chết của từ 2 đến 4 triệu người Việt (tính cả binh sỹ và thường dân, tùy nguồn thống kê khác nhau). Trong số các nước ngoại quốc tham chiến, người Mỹ có số thương vong cao nhất với hơn 58.000 người chết và hơn 305.000 người bị thương (trong đó 153.000 bị thương nặng hoặc tàn phế). Vào khoảng từ 4.400 đến 5.000 binh sĩ Hàn Quốc bị chết và khoảng 11.000 bị thương; Úc có khoảng 500 binh sĩ chết và hơn 3.000 bị thương; New Zealand có 38 chết và 187 bị thương; Thái Lan có 351 chết và bị thương; còn Philippines vẫn chưa có con số thống kê cụ thể.[1][2][3] Tổn thất trực tiếp và gián tiếp trong Chiến tranh Việt Nam được chia ra như sau:


Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam

849.018 liệt sĩ (khoảng 1/3 chết bởi những nguyên nhân phi chiến đấu, ví dụ như bệnh tật, tai nạn, kiệt sức...)

  • Khoảng 500.000 - 600.000 bị thương

Theo thống kê của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Việt Nam, trong tất cả các cuộc chiến tranh kể từ sau năm 1945 (bao gồm Chiến tranh Đông DươngChiến tranh Việt NamChiến tranh biên giới Tây NamChiến tranh biên giới Việt-Trung và một số chiến dịch chống thổ phỉ và FULRO), cả Việt Nam có trên 1.140.000 liệt sĩ.[4] Theo tài liệu thống kê của cổng thông tin điện tử ngành chính sách quân đội - Cục chính sách - Tổng cục Chính trị - Bộ Quốc phòng thì đến năm 2012, toàn quốc có 1.146.250 liệt sĩ và khoảng 600.000 thương binh, trong đó có 849.018 liệt sĩ hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ.[5]

Cần lưu ý, số binh sỹ thiệt mạng không chỉ bao gồm số thiệt mạng trong chiến đấu, mà còn bao gồm số thiệt mạng do bệnh tật, tai nạn, kiệt sức..., và cũng không chỉ gồm lính chiến đấu mà còn gồm bộ phận không tham gia chiến đấu như cán bộ dân chính, cơ sở chính trị ngầm, tổ chức dân vận...

Tính tới năm 2012, cả nước có 9.637 công trình ghi công Liệt sĩ trên cả nước (nghĩa trang, đài tưởng niệm, đền thờ). Tỉnh có nhiều liệt sĩ nhất cả nước là Quảng Nam với 65.000 liệt sĩ (ngoài ra tỉnh Quảng Nam còn có hơn 30.000 thương binh). Huyện có nhiều liệt sỹ nhất cả nước là huyện Điện Bàn (cũng thuộc tỉnh Quảng Nam) với hơn 19.800 liệt sĩ[6][7]

Từ tháng 12 năm 1994 đến hết năm 2001, Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã phong tặng hoặc truy tặng danh hiệu cao quý "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" cho 44.253 bà mẹ có chồng, con hy sinh trong chiến tranh. Một số Bà mẹ Việt Nam anh hùng tiêu biểu: mẹ Nguyễn Thị Thứ ở Quảng Nam có chồng, 9 con đẻ, một con rể, 2 cháu ngoại là liệt sĩ; Mẹ Trần Thị Mít ở Quảng Trị có chồng, 6 con đẻ, một con dâu và một cháu nội là liệt sĩ; Mẹ Lê Thị Tự ở Quảng Nam có 9 con là Liệt sĩ; Mẹ Phạm Thị Ngư ở Bình Thuận, mẹ Nguyễn Thị Rành ở huyện Củ Chi (Sài Gòn) đều có 8 con là Liệt sĩ, bản thân 2 mẹ cũng là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Số lượng Bà mẹ Việt Nam anh hùng chia theo khu vực gồm[8]:

  • Miền Bắc: 15.033 mẹ
  • Miền Nam: 29.220 mẹ
  • Tỉnh Quảng Nam là tỉnh có nhiều Bà mẹ Việt Nam anh hùng nhất với 11.658 Mẹ.

Nhờ các hoạt động quy tập mộ liệt sĩ, đến năm 2012 cả nước đã quy tập được hơn 937.000 hài cốt liệt sĩ, trong đó tổng số mộ liệt sĩ trong các nghĩa trang liệt sĩ là 780.522 mộ; tổng số mộ liệt sĩ gia đình quản lý là 156.904 mộ. Số địa phương còn nhiều mộ liệt sĩ chưa được quy tập là 18 tỉnh, là những địa bàn chiến tranh ác liệt. Tính đến tháng 7/2014, sau 20 năm liên tục tiến hành các cuộc tìm kiếm, cả nước đã tìm thêm được gần 90.000 hài cốt liệt sĩ, song vẫn còn khoảng 214.000 liệt sĩ chưa tìm được hài cốt. Nhiệm vụ tìm kiếm số hài cốt còn lại là hết sức khó khăn, phức tạp do địa hình, địa vật tại nơi chôn cất có nhiều thay đổi, đặc biệt là thông tin trong giấy báo tử, hồ sơ danh sách liệt sĩ được ghi theo ký hiệu, phiên hiệu, mật danh riêng của đơn vị để giữ bí mật.[4]

Trong các báo cáo sau trận đánh, quân đội Mỹ thường dùng tỉ lệ "1 đổi 10" (1 lính Mỹ thương vong đổi 10 lính Quân đội Nhân dân Việt Nam). Tuy nhiên, tỉ lệ này là phi lý vì nếu cộng lại thì nó còn vượt gấp nhiều lần tổng quân số của QĐNDVN. Số liệu toàn cuộc chiến cho thấy thương vong của hai bên khá tương đương. Do đó, tỷ lệ "1 đổi 10" hiện nay được các nhà sử học xác định là do quân Mỹ phóng đại nhiều lần so với thực tế, cả vì vô tình lẫn cố ý, ví dụ như:

  • Để đơn vị và bản thân được khen thưởng, các sĩ quan Mỹ thường cố ý khai khống số thi thể đối phương đếm được vì dù sao cũng chẳng có ai kiểm chứng lại báo cáo của họ.
  • Khi ném bom hoặc pháo kích, nhiều thi thể không còn nguyên vẹn, thi thể của một người có thể bị tưởng là của nhiều người.
  • Mặt khác, trong nhiều trường hợp, cả do vô tình lẫn cố ý, lính Mỹ đã tính luôn xác thường dân vào số lính đối phương bị tiêu diệt.

Các tài liệu mới do Quân đội Nhân dân Việt Nam công bố về thương vong trong các trận đánh cũng thấp hơn khá nhiều so với ước tính của Mỹ. Một số ví dụ khác về tài liệu Mỹ tịch thu được cho thấy con số thương vong thực của Quân đội Nhân dân Việt Nam thường chỉ bằng một nửa so với con số mà Hoa Kỳ công bố.[9] Thực tế tổng kết số liệu toàn cuộc chiến, thương vong của hai bên khá tương đương (tuy rằng tỉ lệ chết của lính Mỹ và đồng minh thấp hơn do được hỗ trợ quân y tốt hơn).

Một tỉ lệ khá lớn số binh sĩ thiệt mạng của Quân đội Nhân dân Việt Nam (có thể lên tới 40%) không phải trong chiến đấu mà bởi các nguyên nhân diễn ra trong hoàn cảnh chiến đấu khó khăn (như tai nạn, rắn cắn, thú dữ, bệnh tật, thiếu dinh dưỡng...), đặc biệt với những đoàn quân hành quân qua những chặng đường gian khổ của Đường mòn Hồ Chí Minh. Tính trung bình, trong giai đoạn nửa đầu (trước 1968), khi quân Mỹ đánh phá ác liệt và hệ thống quân y viện chưa phổ biến, cứ 10 lính Quân đội Nhân dân Việt Nam vào Nam chiến đấu thì chỉ 5-6 người vào tới miền Nam, còn lại hầu hết bị ốm hoặc tử vong dọc đường do sốt rét, rắn cắn, kiệt sức hoặc tai nạn. Hiện Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn là nghĩa trang liệt sĩ lớn nhất Việt Nam với hơn 1 vạn mộ, song cũng chỉ chiếm một phần số bộ đội hi sinh khi hành quân trên tuyến đường này.[cần dẫn nguồn]

Con số bị thương cũng khó xác định bởi nhiều chiến binh bị thương nhiều lần, nhiều người khác lại không bị thương do bom đạn mà bị mất sức chiến đấu do bệnh tật, và khó lần tìm bằng cách xem sổ sách lưu giữ, nhất là đối với lực lượng du kích ở miền Nam. Hơn nữa việc cấp cứu y tế khó khăn và thiếu thốn thuốc men cho lực lượng du kích đồng nghĩa với tỷ lệ chết của thương binh cao hơn nhiều so với của lực lượng Hoa Kỳ và đồng minh ở miền Nam [10] (thông thường cứ 2 lính quân Giải phóng bị thương thì có 1 chết vì không đủ phương tiện cứu chữa, trong khi cứ 6 lính Mỹ và đồng minh bị thương thì mới có 1 chết do có hệ thống quân y trang bị đầy đủ).

Hoa Kỳ

Khoảng 58.200 tử trận và chết vì lý do khác[11]

  • Hơn 304.000 bị thương. Trong đó 153.303 bị thương nặng hoặc tàn phế[12]
  • 1.948 mất tích[13]
Quốc giaBinh chủngCon số binh sỹ phục vụChếtBị thươngMất tích
Hoa Kỳ[4]Lục quân4.940.00038.21896.802
Thủy quân lục chiến794.00014.84051.392
Hải quân1.842.0002.5654.178
Không quân1.740,0002.5871.021
Tổng số8.744.00058.209153.3031.948
Quốc giaNăm chếtSố người chết
Hoa Kỳ[5]
1956-1964401
19651.863
19666.143
196711.153
196816.592
196911.616
19706.081
19712.357
1972641
1973168
1974-19981333

Tổng thương vong của Hoa Kỳ lên tới hơn 362 ngàn lính, còn cao hơn cả tổn thất trong chiến tranh Thái Bình Dương (khoảng 354.500 lính) và chiến tranh thế giới thứ nhất (khoảng 320 ngàn lính), và là số thương vong cao thứ 2 trong một cuộc chiến tranh đối với Hoa Kỳ. Tuy nhiên tỷ lệ lính Mỹ thiệt mạng được so với các cuộc chiến trước được giảm xuống khá thấp. Tại Việt Nam, lần đầu tiên Hoa Kỳ trang bị rộng rãi các phương tiện cơ giới như xe bọc thép và nhất là trực thăng. Điều này cho phép quân Mỹ khi bị thương nặng có thể được vận chuyển đến trạm phẫu thuật rất nhanh chóng (chỉ dưới 15 phút), cho phép hạn chế tỉ lệ tử vong của thương binh xuống đáng kể. Nếu như trong chiến tranh thế giới thứ hai và chiến tranh Triều Tiên, trung bình cứ 3 lính Mỹ bị thương thì có 1 chết, thì tỉ lệ này ở Việt Nam là 6 lính Mỹ bị thương mới có 1 chết (tức giảm 1 nửa số lính thiệt mạng so với trước).

Thương vong của lính Mỹ chia theo nguyên nhân[14]:

  • 51% số tử vong và 16% số bị thương là do súng bộ binh như AK-47SKS...
  • 36% số tử vong và 65% số bị thương là do mảnh văng từ đạn pháo binhsúng cốilựu đạn.
  • 11% số tử vong và 15% số bị thương là do các loại bẫy treo và mìn
  • 2% số bị thương gây ra bởi hầm chông, cọc nhọn...
  • 2% số tử vong và 2% số bị thương được gây ra bởi các phương tiện khác

Bên cạnh những tổn thất về sinh mạng về thể xác, lính Mỹ còn phải chịu những mất mát nặng nề về tinh thần. Hàng trăm ngàn lính Mỹ khi về nước đã mắc nhiều chứng rối loạn tâm thần do bị chấn thương tâm lý bởi những nỗi khiếp sợ họ gặp ở Việt Nam (thường được người Mỹ gọi là Hội chứng Việt Nam); khoảng 200 ngàn lính Mỹ đã mắc nghiện ma túy trong những ngày ở Việt Nam[15]. Thêm vào đó, hàng trăm ngàn lính Mỹ đã bị nhiễm chất độc màu da cam, khiến sức khỏe của họ dần hao mòn và con cháu mà họ sinh ra bị mắc nhiều chứng dị tật bẩm sinh khác nhau.

Tổn thất đầu tiên và cuối cùng của Hoa Kỳ

Tù binh chiến tranh

Tù binh chiến tranh đầu tiên bị bắt

  • Tù binh chiến tranh cuối cùng bị bắt
  • Tù binh chiến tranh bị giữ lâu nhất
    • 8 năm, 355 ngày- Floyd James Thompson bị bắt ngày 26 tháng 3 năm 1964 và được phóng thích ngày 16 tháng 3 năm 1973. Chỉ thiếu 10 ngày là đủ 9 năm làm tù binh chiến tranh, ông bị bắt giữ làm tù binh lâu nhất trong Chiến tranh Việt Nam và là tù binh Hoa Kỳ bị bắt giữ lâu nhất trong lịch sử Hoa Kỳ.

Việt Nam Cộng hòa

Quân lực Việt Nam Cộng hòa

  • ~310.000 tử trận hoặc mất tích
  • ~1.170.000 bị thương 

Con số 220.357 tử trận được Lewy dẫn từ tài liệu lưu trữ của Bộ quốc phòng Mỹ, tính từ năm 1965 đến năm 1974. Cộng thêm con số tử trận trong giai đoạn 1974-1975 và trước đó cho ra ước tính khoảng 300.000 tử trận. Nhà sử học R.J. Rummel đưa ra con số ước tính cao nhất có thể lên tới 313.000 tử trận[16]

Theo thống kê chi tiết của Jeffrey J. Clarke thì tính từ năm 1960 tới 1974, Quân lực Việt Nam Cộng hòa có 254.256 lính tử trận[17]. Cộng thêm con số tử trận trong các năm 1956-1959 và năm 1975 thì số lính Việt Nam Cộng hòa tử trận ước tính là khoảng 310.000.

Từ năm 1965 đến năm 1972, ước tính có khoảng 840.000 binh sĩ Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã đào ngũ. Giữa tháng 4 tới tháng 12/1974, có 176.000 lính đào ngũ[18]. Số lượng lính đào ngũ không được tính vào số thương vong.

Hàn Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

  • 5.099 tử trận
  • 11.232 bị thương
  • 4 mất tích trong chiến đấu[19]

CHDCND Triều Tiê]

14 phi công chết, 2 cố vấn bị thương.

Trung Quốc

  • 1.446 công binh bị chết (phần lớn do bệnh tật hoặc tai nạn hoặc bị trúng bom ném từ báy bay Mỹ)

Liên Xô

Khoảng 6.000 quân nhân Xô Viết từng có mặt ở Việt Nam trong thời gian chiến tranh với vai trò cố vấn kỹ thuật và huấn luyện; 16 trong số đó thiệt mạng do bệnh tật hoặc tai nạn (không có ghi nhận thiệt mạng trong chiến đấu)[cần dẫn nguồn].

Philippines

552 tử trận

Thái Lan

351 tử trận[19]

  • 1.358 bị thương

Úc[sửa | sửa mã nguồn]

Khoảng 502 chết, bao gồm 426 chết trong chiến đấu và 76 chết vì các nguyên nhân khác (tai nạn hoặc bị bệnh).

New Zealand

  • 55 tử trận + 2 dân thường
  • 212 bị thương[19]

Campuchia

Thường dân Campuchia

  • 70.000

Lào

Tổn thất dân sự

~900.000 đến 4.000.000 dân thường chết: Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Việt Nam đưa ra con số này vào ngày 3 tháng 4 năm 1995[cần dẫn nguồn], hai triệu thường dân tại miền Bắc và hai triệu tại miền Nam đã chết khoảng giữa năm 1954 và 1975. Con số tổn thất dân sự của miền Bắc có thể là hậu quả của các chiến dịch ném bom của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam.

  • ~3.000.000 ảnh hưởng bởi chất độc da cam
  • Số liệu chính thức về thương vong của phía Việt Nam được chính thức công bố gần đây nhất:
- Gần 2 triệu thường dân chết;
- Hơn 2 triệu thường dân mang thương tật suốt đời;
- Khoảng 2 triệu người (gồm cả quân nhân) bị phơi nhiễm các loại hóa chất độc hại.

Nick Turse, trong sách "Giết mọi thứ di động, lập luận rằng: việc không ngừng tìm kiếm nhiều hơn số xác chết, việc sử dụng lan tràn vùng tự do bắn phá, thường dân có thể bị xem là du kích, và thái độ khinh miệt phổ biến dành cho thường dân Việt Nam đã dẫn đến thương vong lớn và tội ác chiến tranh gây ra bởi quân đội Mỹ.[20] Một ví dụ là Chiến dịch Speedy Express, được mô tả bởi John Paul Vann, là một vụ thảm sát còn ghê gớm gấp nhiều lần Thảm sát Mỹ Lai. Cụ thể hơn:

Đại úy không quân, Brian Wilson, thực hiện ném bom vào vùng tự do bắn phá, nhận thấy những kết quả đầu tiên: "Đó là hình ảnh thu nhỏ của sự vô đạo đức... Một trong những lần tôi đếm số xác chết sau khi không kích kết thúc với hai quả bom napalm, thứ sẽ đốt cháy tất cả mọi thứ, tôi đếm được 62 thi thể. Trong báo cáo của tôi, tôi mô tả họ gồm rất nhiều phụ nữ ở khoảng 15 tới 25 tuổi và rất nhiều trẻ em - thường nằm chết trong vòng tay người mẹ hoặc chị, và rất nhiều người già." Thế nhưng sau khi đọc báo cáo chính thức, Wilson lại thấy những thi thể thường dân này được quân đội Mỹ liệt kê là 130 binh lính địch bị giết.[21]      Wikipedia 

TQ đánh Mỹ đến người Việt cuối cùng ? .wmv - YouTube

https://www.youtube.com/watch?v=O3uisnw-YQU
Sep 7, 2012 - Uploaded by MrLecongnhan
... Đảo đã bị TQ Chiếm : http://www.youtube.com/watch?v=L0jfKhG1x6A Trong chiến tranh , Mỹ thiệt mạng 58.029 ; Bộ ...

Nếu Trung Cộng đánh việt Nam - M-ỹ Sẽ Phá Hủy các đảo nhân tạo ở ...

https://www.youtube.com/watch?v=Ch-XQbcFeP4
Jun 10, 2016 - Uploaded by Mối Hoạ trung Hoa
Theo ta hiểu,người mỹ không ai ở không mà đánh dùm mình hết đâu !!!!!cho ... Sau đó,các bên ở VN phải tiến đến hoà giãi ...

Lê Duẩn nói : VN đánh Mỹ là đánh cho Trung Quốc, cho Liên Xô.wmv ...

https://www.youtube.com/watch?v=clCeXPRhTaA
Oct 30, 2012 - Uploaded by MrLecongnhan
Lê Duẩn nói : VN đánh Mỹ là đánh cho Trung Quốc, cho Liên Xô.wmv. MrLecongnhan. Loading. ... Trong chiến ...

Người Việt Nam 'tin tưởng' Hoa Kỳ hơn Trung Quốc - YouTube

https://www.youtube.com/watch?v=djcjRfhXP9k
May 12, 2016 - Uploaded by BBC News Tiếng Việt
Một người Mỹ làm tư vấn kinh doanh ở Hà Nội bình luận với BBC ... chỉ còn tám tháng nữa là ông Barack Obama kết thúc nhiệm kỳ ...

Mậu Thân 68: Đánh nhau làm Huế 'điêu tàn'! - YouTube

https://www.youtube.com/watch?v=F11dlFWnYtM
Feb 17, 2018 - Uploaded by BBC News Tiếng Việt
Mậu Thân 68: Đánh nhau làm Huế 'điêu tàn'! ..... còn hcm theo T/Quốc và làm theo lệnh Mao: "TQ chống Mỹ đến người ...



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 
Khủng bô Công An TPHCM: Nổ lớn tại trụ sở công an phường, 1 công an nhập viện [NEW]
Khủng bô Công An TPHCM: Nổ lớn tại trụ sở công an phường, 1 công an nhập viện [NEW]
Tại sao lại là Bình Thuận?
Tâm Thư LM Lý gửi Chức Sắc thuộc 6 Giáo Hội Phật Giáo tại VN thờ giặc Hồ mãi quốc
Chỉ có tổng biểu tình toàn quốc mới giải phóng được dân tộc VN thoát khỏi nô lệ Tàu - Cách băng qua rào kẻm gai
Trong khi đảng CSVN đưa ra bán nước, tàu Trung Quốc xua đuổi 20 tàu cá Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa
Người Việt định cư ở Mỹ từ năm 1980 bị tử vong trong khi bị giam chờ trục xuất
Những kẻ ăn cơm Quốc-Gia thờ ma Cộng-sản ngày ấy, bây giờ ra sao?
Nhờ công lao đảng CSVN, toàn bộ lãnh thổ Việt Nam đã an bài trong tay Trung Quốc
Người Việt có tiền mua ngay thị trấn ở California chỉ 900,000$US được làm thị trưởng
QH Việt Nam sẽ lo ‘dịch chuyển đám mây ảo’?
Lãnh đạo CSVN bỏ chạy, Nguyễn Phú Trọng gọi quân đội về bảo vệ tư dinh và chính trị bộ có tin sắp đảo chính
Chính phủ Hoa Kỳ kêu gọi Việt Nam trả tự do cho công nhân Mỹ bị bắt trong cuộc biểu tình
Bí mật: Luật kinh tế đặc khu 经济特区 do TQ việt áp đặt quốc hội VN dịch ra để thông qua văn phap lủng củng tiếng Tàu nghịch tai khó hiểu
Tiền chính phủ TQ mua chuộc Việt Cộng bao nhiêu?

     Đọc nhiều nhất 
Hiện tượng Thích Chân Quang: Trung Quốc là anh, Việt Nam là em… em phải lễ phép với anh, Lý Thường Kiệt vô lễ [Đã đọc: 1554 lần]
30-4: Hãy trả về cho dân tộc [Đã đọc: 1366 lần]
Cháy nhà máy Đài Loan có nhiều lao động Việt Nam, 5 lính cứu hỏa hy sinh [Đã đọc: 1151 lần]
Xót xa trước hình ảnh MC Nguyễn Ngọc Ngạn phải thở oxy trước giờ giờ ra sân khấu [Đã đọc: 1112 lần]
Lụi tàn làng Việt tại Philippines - Nữ Việt kiều Anh bị khủng bố ở VN [Đã đọc: 1104 lần]
Khủng bố Canada: Xe tông người đi bộ ở Toronto, 9 chết 15 trọng thương [Đã đọc: 1067 lần]
Cái bắt tay lịch sử của Triều Tiên là tấm gương cho CSVN học tập, làm theo [Đã đọc: 987 lần]
Đô đốc tư lệnh Mỹ nói chỉ chiến tranh mới ngăn Trung Quốc chiếm Biển Đông có VN tham gia [Đã đọc: 964 lần]
Hồi tưởng ngày giải phóng, nổi kinh hoàng của dân tộc VN [Đã đọc: 943 lần]
Mỹ cảnh báo “hậu quả” nếu Trung Quốc quân sự hóa Biển Đông, VN đứng lên đòi lạ Hoàng Trường Sa [Đã đọc: 883 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.