Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Sáu 2026
T2T3T4T5T6T7CN
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30          
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 4
 Lượt truy cập: 29344209

 
Khoa học kỹ thuật 16.06.2026 05:34
Cái ngu của vua độc tài uống thủy ngân mong trường sinh bất tử Tần Thủ Hoàng băng hà tuổi 49!
24.01.2016 17:16

Lăng mộ Tần Thủy Hoàng hé lộ cái chết của vị vua tàn bạo

Việc phát hiện và khai quật lăng mộ Tần Thủy Hoàng là một bước tiến dài trong ngành khảo cổ và giúp các sử gia có cái nhìn sâu hơn về một triều đại từng rất hưng thịnh trong lịch sử Trung Hoa, đồng thời nguyên nhân cái chết bất ngờ của Tần vương cũng bắt đầu hé mở.

TẦN THUỶ HOÀNG 

HOÀNG ĐẾ TÀN BẠO ĐỘC TÀI CHUYÊN CHẾ

 

Tần Thủy Hoàng họ Doanh tên Chính, là một ông vua độc tài bạo ác, đã thôn tính sáu nước và thống nhất Hoa Hạ, phong Lý Tư làm thừa tướng, thực thi chế độ tập trung quyền lực ở cấp trung ương, phế bỏ phong kiến, lập ra các quận huyện để cai trị. Tần hoàng tự cho mình là người có công hơn cả Tam hoàng, có đức hơn cả Ngũ đế, rồi tự xưng mình là hoàng đế đầu tiên của Trung Hoa. Ông đã ra lệnh đốt sách và chôn học trò, thực hiện chính sách ngu dân nô dịch; cho xây Vạn lý trường thành để ngăn chặn giặc Hồ; dựng cung A Phòng dài hơn ba trăm dặm, làm khổ nhân dân, tổn hao tiền của, nỗi cùng cực không thể nói thành lời. Tần Thủy Hoàng còn cho chế tạo vũ khí bằng sắt, đúc tượng người bằng đồng; bắt sửa chữ viết, thay đổi y phục, xe cộ và các chỉ số cân đo đong đếm v.v.. toàn quốc đều phải nhất trí thực hiện theo. Tần Thủy Hoàng đã lập nên một đại đế quốc đầu tiên của Trung Hoa, áp đặt thuế má nặng nề, làm cho nhân dân phải sống trong cảnh khốn khổ lầm than.    

Lúc bấy giờ vua A-dục bên nước Thiên Trúc phái đoàn sa-môn, có ngài Thất-lị-phòng cùng các nhà sư khác tổng cộng gồm mười tám vị đến nước Chấn Đán (tên người Ấn Độ dùng để gọi nước Trung Hoa ngày xưa) để truyền bá Phật Giáo. Tần Thủy Hoàng nhìn thấy sắc phục của các sa-môn khác lạ nên đã bắt giam họ, đêm đến có một vị thần thân sắc vàng cao một trượng sáu đến phá ngục cứu các vị sa-môn. Tần đế biết được việc này sanh lòng sợ hãi, bèn đãnh lễ tạ lỗi rồi dùng nhiều lễ vật trọng hậu ban ban tặng các vị sa-môn.

            

Lời bình:

Hiếu đại hỷ công

Chiến tranh lữ hưng

Chuyên chế độc tài

Thôn lục quốc binh

Tung hoành cuồng vọng

Tự khoa sính năng

Ngũ đế Tam hoàng

Bất nguyện tịnh hành

 

Diễn thơ:

   Thủy Hoàng tham lợi chuộng danh

Khởi binh tác chiến máu thành biển sông

   Chuyên quyền độc đoán cướp công

Gồm thâu sáu nước về vòng tay ta

   Hung hăng cuồng bạo vọng tà

Tự cao ngã mạn ngợi ca mình tài

   Tam Hoàng Ngũ Đế quốc khai

Chẳng noi gương đức lại hoài miệt khinh.

 

Lại có kệ rằng:

Bạo ngược vô đạo nhất kiêu hùng

Hổ đầu nhân thân quái yêu tinh

Thực tận thế nhân lưu bạch cốt

Trảm tuyệt thương sanh nhiễm huyết tinh

Vạn lý trường thành điếu cổ tích

Thiên kiếp cự khanh hận nan bình

Doanh Tần thế lực kim hà vãng

Thả khứ nhật bổn vấn ngư ông.

Diễn thơ

Thủy Hoàng hung bạo lại kiêu căng

Thân người đầu hổ tợ yêu tinh

Ăn thịt thế nhân chừa xương trắng

Giết người máu nhuộm chẳng thương tình

Vạn Lý Trường Thành ghi dấu hận

Ngàn sau tiếng oán khó san bằng

Doanh Tần thế lực nay đâu nhỉ!

Ngư ông xứ Nhật rõ tường tình.

Nói đến Tần Thủy Hoàng, thì trong số các vị hoàng đế Trung Hoa từ xưa đến nay không ai tàn bạo bằng ông. Ông họ Doanh, tên Chính, từ nhỏ đã có nhiều điều đặc biệt khác thường, ông vô cùng thông minh nhưng cũng rất ngang ngược, nên có thể nói, Tần Thủy Hoàng là một bậc anh hùng đầy mưu lược cũng là một ông vua độc đoán bạo ngược. Vua Tần lấy sự anh hùng của mình để tạo thời thế và cũng biết chọn thời thế để tạo anh hùng cho chính mình. Lúc bấy giờ Trung Hoa gồm có các nước nhỏ như: Tề, Sở, Yến, Hàn, Triệu, Ngụy, Tần, gọi là “Thất hùng”. Thế lực của các nước Thất hùng đều ngang nhau, nhưng Doanh Chính đã có thể trong tình hình thế lực cân bằng ấy mà mang quân đánh chiếm và chinh phục luôn cả sáu nước kia, gọi là “Thôn tính sáu nước” chính là để chỉ còn lại một nước Tần của Doanh Chính mà thôi. Nhưng sáu nước kia có phải là do Tần Thủy Hoàng thôn tính không? Không phải thế đâu. Người xưa nói: “Diệt lục quốc giả, lục quốc dã, phi Tần dã; vong Tần giả, Tần dã, phi lục quốc dã” (Người tiêu diệt sáu nước, chính là tự thân sáu nước, chứ không phải nước Tần tiêu diệt; người làm mất nước Tần, chính là tự thân nước Tần, chứ không phải do sáu nước). Nhìn vào thì thấy là Tần đã tiêu diệt sáu nước, thực ra chính do sáu nước ấy tự tiêu diệt mình, không phải do nước Tần tiêu diệt họ. Bởi vì, nếu sáu nước kia biết tự đứng lên, biết làm mạnh nước mình, khéo cai trị đất nước thì nước Tần cũng không có cách để tiêu diệt. Cũng chính vì sáu nước kia hoang dâm vô đạo không lo việc quốc gia, thiết lập quốc phòng, thế nên đã bị Tần nhân cơ hội đó mang quân đánh chiếm. Do vậy mới nói nói: “Người tiêu diệt sáu nước, chính là tự thân sáu nước, chứ không phải nước Tần”  

Tần Thủy Hoàng tuy là tự là xưng hoàng đế, và còn cho rằng có thể truyền ngôi đế vương lại cho đời con, đời cháu, đời chắt, đời chít, đời đời truyền nhau…cho đến vạn đời, vạn vạn đời đều là hoàng đế (1), nhưng có ai ngờ rằng đến đời con của Tần Thủy Hoàng thì thiên hạ đã rơi vào tay người khác. Bởi vua Tần làm khổ muôn dân phá hoại tài sản, làm cho người dân chịu cảnh khốn cùng, nên phần đông đã sanh lòng bất mãn, thế nhưng vua Tần đã dùng những thủ đoạn rất độc ác, thời ấy không ai có thể ngăn cản được. Đợi đến đời con của Tần Thủy Hoàng là Hồ Hợi lên ngôi thì sự đối kháng phản loạn bắt đầu nổi lên. Hai nước Hán, Sở tranh đấu nhau để giành quyền đế vương, và như thế đã làm cho đất nước từng được thống nhất rơi lại vào cảnh loạn lạc, triều đại nhà Tần bị diệt vong. Đây cũng chính là “Kẻ làm mất nước Tần, chính là nhà Tần, chứ không phải là sáu nước”. Thế nên mọi việc giữa cuộc đời này không có gì là bền chắc cả, ngay cả giang san của hoàng đế cũng không giữ được, huống chi chút ít tài sản của chúng ta, có đáng là gì đâu chứ? 

Tần Thủy Hoàng sau khi đã tóm thâu được sáu nước, thống nhất Hoa Hạ và từ đó nước Trung Hoa có chung một bản đồ, không còn phân chia nhiều nước nữa. Thủy Hoàng phong cho Lý Tư (2) làm thừa tướng, rồi nghe theo lời đề nghị của Lý Tư, tập trung hết quyền lực vào cấp trung ương, thực thi chính sách tập quyền trung ương đao to búa lớn ngang nhiên sát phạt, phế bỏ chế độ phong kiến, lập ra quận huyện, toàn bộ quyền lực đều do trung ương nắm giữ và không còn tồn tại các nước chư hầu nữa. Do dưới triều đại nhà Chu chư hầu được triều đình phong đất và có thể tự quản lý từng lãnh địa của mình, triều đình tự kiến lập một vương quốc riêng, nhưng rốt cuộc thì các nước chư hầu lại không nghe theo những hiệu lệnh của nhà vua, ai cũng mang tâm muốn giành quyền làm chủ thiên hạ. Tần Thủy Hoàng đã dẹp bỏ chế độ chư hầu này, chia cả nước ra làm 36 quận, mỗi quận có người đứng đầu do trung ương phái đến, mọi việc đều nghe theo sắc lịnh của trung ương. Thường thì người làm quan, quyền lực rất hạn chế, ít quyền lực thì không có cơ hội tạo phản triều đình. Làm được những điều này, Tần Thủy Hoàng đã tự nhận công lao của mình vượt qua cả “Tam Hoàng” (Thiên Hoàng, Địa Hoàng, Nhân Hoàng), còn đức hạnh thì cao hơn “Ngũ Đế” (Hiên Viên Hoàng Đế, Chuyên Húc Huyền Đế, Tuấn Đế Cốc, Phóng Quân Đế Nghiêu và Trọng Hoa Đế Vũ), cho nên tự xưng mình là vị hoàng đế đầu tiên - “Thủy Hoàng Đế”.

Vua Tần lại thực hiện theo chính sách hết sức kỳ quái do thừa tướng Lý Tư đưa ra đốt sách chôn học trò, đem toàn bộ các loại thư tịch, bao gồm các loại kinh điển cho đến những tác phẩm của bách gia chư tử (chư Tử là chỉ cho Khổng Tử, Lão Tử, Trang Tử, Mặc Tử, Mạnh Tử và Tuân Tử; bách Gia là chỉ cho các trường phái học thuật cổ điển của Trung Hoa như Nho gia, Đạo gia, Mặc gia, Danh gia, Pháp gia…) đều đem ra thiêu hủy sạch, chỉ để lại một số sách có thể cần dùng đến như sách y dược, bói toán, trồng trọt …; rồi cho đào hầm lớn đem chôn sống tất cả những người có học. Quý vị xem, đến người có học thức cũng đều trở thành kẻ phạm tội! Bởi Thủy Hoàng lo sợ nhân dân chê trách mình, bất mãn với mình rồi đứng lên tạo phản, nên đã thực thi chính sách làm ngu dân, biến họ thành những kẻ tôi tớ (3).

Lo sợ các nước lân bang xâm lược,Tần Thủy Hoàng đã cho xây dựng Vạn Lý Trường Thành để đối phó với giặc Hồ ở phương Bắc; người Hồ, thời ấy bao gồm những dân tộc của các nước ở phía đông và phía Tây giáp với biên giới Trung Hoa như: Mông Cổ, Liên Xô, Cao ly và Nhật Bản v.v…Để xây dựng công trình Vạn Lý Trường Thành này, phải cần đến công sức và tài sản của nhân dân, thế là người dân phải hứng chịu bao khổ sở! Chỉ mỗi việc xây Vạn Lý Trường Thành thôi mà đã có biết bao nhiêu sinh linh đã ngã xuống; thế nhưng vua Tần cũng không màng đến, cứ thản nhiên xây dựng Vạn Lý Trường Thành cho đến khi hoàn tất.

Bạo Chúa Tần Thủy Hoàng lại tiếp tục bắt nhân dân làm nô dịch, xây dựng cung A Phòng. Cung A Phòng được kiến trúc rất quy mô, phòng lầu san sát, tất cả đều được chạm trổ với những nét điêu khắc và hoa văn rất độc đáo với diện tích chiếm hơn ba trăm dặm tương đương một trăm năm mươi dặm Anh. Các công trình xây dựng hiện đại ngày nay, dù quy mô đến mấy cũng không sao sánh được với Cung A Phòng. Tuy Tần Thủy Hoàng đã kiến tạo nên công trình vĩ đại như thế, nhưng cũng không cách nào giữ mãi được, cung A Phòng sau đó cũng đã bị Sở Bá Vương thiêu rụi thành tro bụi. Cho nên, Đạo Phật đã dạy rằng, tất cả đều là vô thường, đây là một chân lý không sai chạy được.

Tần Thủy Hoàng chỉ lo làm theo những điều mình thích, rồi bày ra đủ loại thuế má để vơ vét tài sản nhân dân, khiến cho dân lành càng thêm đói khổ. Bao nhiêu sắt đồng đều gom về Hàm Dương cho nấu chảy ra và đúc thành rất nhiều quả chuông lớn và kim nhân (còn gọi là đồng nhân tức người đồng), mỗi kim nhân nặng đến một tấn (千石 ‘Thiên thạch’: hai mươi vạn cân Tàu tương đương một ngàn kilogram), đem đặt ở cửa cung. Vua Tần nghĩ, người dân không có binh khí thì không thể tạo phản được, cách làm này là một kế thật tuyệt, để giang sơn mãi vững chắc, để đời đời cháu con đều có thể làm hoàng đế! Thế nhưng ông vẫn chưa an tâm, Tần Thủy Hoàng còn cưỡng bức mười hai vạn gia đình phú hộ lắm tiền trên khắp cả nước chuyển đến kinh đô Hàm Dương để gần gũi tiện giám sát.

Tần Thủy Hoàng còn cho sửa đổi chữ viết, y phục, xe cộ, dụng cụ cân đo.v.v..thống nhất thành một thể. Riêng về phương diện thống nhất văn tự, Tần Thủy Hoàng được xem là người có một chút công lao. Đến như tiếng nói của Trung Hoa, hiện nay được xem như đã thống nhất, chứ thời xưa ngôn ngữ Trung Hoa cótiếng Quảng Đông, tiếng Phước Kiến, tiếng Ninh Ba, tiếng Hồ Nam, tiếng Hồ Bắc…mỗi xứ đều có tiếng nói riêng rất khó nghe hiểu, cũng không thể giao lưu với nhau, bây giờ có thể đã cải thiện rất nhiều.

Tần Thủy Hoàng hễ muốn gì là làm nấy, đặt ra đủ loại thuế má nặng nề, khiến cho dân lành vô cùng khốn khó, ông xây dựng một chế độ đại đế quốc quy mô từ xưa chưa hề có. Cũng trong khoảng thời gian đó, tương đương với thời vua A Dục bên Ấn Độ. Vua A Dục đã cho xây dựng rất nhiều tháp xá-lợi Phật, vua còn phái các vị Phạm tăng (Cách người Trung Hoa gọi các vị xuất gia Ấn Độ) như Thất-lị-phòng gồm mười tám vị đến Trung Hoa truyền bá Phật Pháp. Tần Thủy Hoàng truyền lệnh mời các vị tăng Ấn Độ vào cung, vừa trông thấy các sư ăn mặc khác lạ, tiếng nói lại khó hiểu, liền ra lệnh bắt nhốt tất cả các nhà sư Ấn Độ vào ngục. Nhưng đến lúc trời tối, có vị thần mình mặc giáp vàng cao một trượng sáu, đến mở cửa ngục cứu các vị sư ra. Tần Thủy Hoàng biết được việc này nên vô cùng kinh sợ, liền cúi đầu tạ tội, lại còn dâng tặng rất nhiều lễ vật, châu báu, sản vật quý hiếm của Trung Hoa, sau đó đưa họ đến biên giới trở về Ấn Độ. Đó là lần đầu tiên Phật giáo được truyền đến Trung Hoa, chỉ tiếc là lúc ấy Tần Thủy Hoàng đã không cho phép các vị Sa Môn lưu lại Trung Hoa để truyền bá Phật Giáo, mãi cho đến Triều Đại Nhà Hán (Hán Minh Đế) Phật Giáo mới chính thức được truyền bá vào Trung Hoa. Điều này cũng bởi vì thời cơ chưa đến, nên nhân duyên chưa chín mùi, thế nên trong thời Tần Thủy Hoàng, nhân dân Trung Hoa vẫn chưa thể đón nhận được ánh sáng Phật Pháp.

Bây giờ chúng ta cùng bình luận một chút về Nhân vật Tần Thủy Hoàng:

Hiếu Đại Hỷ công, Chiến tranh lữ hưng: Tần Thủy Hoàng là người thích lớn ham công. “Hiếu đại” có nghĩa là làm gì cũng thích vĩ đại, cho nên quý vị hãy xem ông ta xây Vạn Lý Trường Thành dài và rộng như thế. Bên trên Vạn Lý Trường Thành có thể làm được ba dòng xe chạy. Ông còn xây dựng cung A Phòng rộng hơn ba trăm dặm, và không ngừng mang binh đánh nhau, chinh phạt đối phương, để chiếm lấy binh sĩ đất đai của kẻ khác đem về cho mình.

Chuyên chế độc tài, Thôn lục quốc binh: Tần Thủy Hoàng vừa chuyên chế, vừa độc tài, tiêu diệt sáu nước để tóm thâu quyền lực vào tay của mình.

Tung hoành cuồng vọng, Tự khoa sính năng: Tần Thủy Hoàng là không tuân thủ theo quy luật chung, cố tình thích làm theo ý nghĩ của riêng mình… tung hoành dọc ngang thiên hạ, chẳng kiêng nể một ai. Ông lại tự tôn vinh, ca ngợi và tán thán chính mình, tự nhận công lao của mình to lớn hơn cả “Tam Hoàng”, đức lớn hơn cả “Ngũ Đế”, xem ai cũng không bằng mình.

Ngũ Đế Tam Hoàng, Bất nguyện tịnh hành: Tần Thủy Hoàng không chịu cùng ngang hàng cùng Tam hoàng Ngũ đế, khinh mạn Tam hoàng Ngũ đế, cho mình cao hơn cả trời, hơn cả Thượng Đế.  

Lại có kệ rằng: 

Bạo ngược vô đạo nhất kiêu hùng: Tần Thủy Hoàng là một ông vua bạo ngược vô đạo, hết sức tàn nhẫn, nếu không thì làm gì có chuyện đốt sách chôn sống học trò chứ!

Hổ thủ nhân thân quái yêu tinh: Tần Thủy Hoàng chính là một yêu quái ăn thịt người, cũng giống như thân là người nhưng mang đầu hổ, thật là một quái tinh.

Thực tận thế nhân lưu bạch cốt: Loài quái tinh này đã bắt người trên khắp nhân gian ăn thịt chỉ còn chừa lại xương cốt.

Trảm tuyệt thương sinh, nhiễm huyết tinh: Tần Thủy Hoàng nhẫn tâm giết hết mọi người, toàn thân nhuộm đầy máu tanh hôi.

Vạn lý trường thành điếu cổ tích: Người đời sau đến viếng trường thành như là một chứng nhân để truy điếu những dấu tích oan nghiệt ngày xưa.

Thiên kiếp cự khanh hận nan bình: Mỗi khi nghĩ đến việc Tần Thủy Hoàng vì xây Trường Thành, đã đào hố chôn sống vạn vạn sinh mạng. Hố sâu oan nghiệt mà vua Tần đã đào, hố sâu oán hận này cho dù cả ngàn đại kiếp qua đi cũng không thể lấp được nỗi uất hận ấy!

Doanh Tần chính lực kim hà vãng: Họ Doanh là họ của nhà Tần, nên gọi là Doanh Tần, để phân biệt với nhà Phù Tần sau này, thế lực của Doanh Tần ngày nay đã đi đâu hết rồi? Chẳng còn ai biết được!

Thả khứ Nhật bản vấn ngư ông: Nếu có thể, chúng ta nên đến Nhật Bản mà hỏi thăm, người Nhật có lẽ ít nhiều cũng cũng biết chuyện này. Lí do tại sao người nhật lại biết chuyện này? Nhân vì Tần Thủy Hoàng khi ấy muốn trường sinh bất lão, để vĩnh viễn muôn đời ngự trị ở ngôi Vua, khi nghe nói giữa đại dương mênh mông có hòn đảo tiên tên là Bồng Lai, liền bắt sống cả ngàn thanh thiếu niên nam, nữ tướng mạo đẹp đẽ, do Từ Phúc dẫn đầu, đưa các em đi đến đảo Bồng Lai để đổi lấy thuốc trường sinh bất lão mang về cho Tần Thủy Hoàng. Những thiếu niên ấy đã mang trong lòng một nỗi uất hận lìa xa quê hương để bôn ba nơi xứ lạ. Tuy rằng sau đó những thiếu niên ấy kết hôn với nhau, sinh con đẻ cái nối dõi và trở thành người Nhật Bản sau này; nhưng quý vị thử xem người Nhật lúc nào cũng hung hăng không chịu khuất phục. Dù đã qua bao nhiêu thời gian, lòng oán hận của họ vẫn ngùn ngụt. Có thể những đứa trẻ ấy khi bị Tần Thủy Hoàng bắt đem đến Nhật bản thì cha mẹ của chúng cũng mang một nỗi oán hận như thế. Cứ nhìn người Nhật thì biết, tính khí của họ hung hăng, nếu không sao lại mang quân sang xâm lược nước Trung Hoa kia chứ? Cho nên quý vị có thể xem tính dân tộc của mỗi quốc gia mà có thể biết họ từ đâu đến.  

◎ Tuyên Hóa thượng nhân giảng vào ngày 04/09/1987

 

Chú thích (1): Tần Thuỷ Hoàng nhiều lần gặp tai nạn, nhiều lần bị ám sát, cả đời của ông ta gặp hiểm nguy không ít. Tuy luôn ôm mộng trường sanh bất tử, nhưng rồi lần thứ tư khi đi tuần du, vua Tần  đã lâm bệnh và qua đời tại Sa Khâu (nay là Hà Bắc huyện Bình Hương), năm ấy vua mới 50 tuổi, nguyên nhân mà nhà vua băng hà đến nay vẫn chưa được xác định rõ.

Chú thích (2): Lý Tư là học trò của Tuân Tử, ông ta học “thuyết tính ác”(con người sinh ra vốn đã có sẵn tính ác) của Tuân Tử, quan niệm cơ bản của thuyết này chính là dùng pháp luật nghiêm khắc để ngăn chặn bản tính làm ác của con người. Còn Mạnh Tử thì ngược lại, cho rằng con người sinh ra bản tánh vốn hiền lương, đề xướng “thuyết tánh thiện”. Lý Tư vốn chỉ là một khách quan của Tần Thủy Hoàng, về sau được Tần Thủy Hoàng tín nhiệm cho làm thừa tướng, có thể nói là chức vị quan cao nhất trong triều đình, nhưng ông ta tuy hiểu biết yếu chỉ của lục nghệ, nhưng lại không lấy chính nghĩa phục vụ cho triều đình để bù đắp những khuyết điểm của Tần Thủy Hoàng, trái lại vì quá xem nặng bổng lộc, nên chiều theo ý thi hành những hình phạt tàn khóc. Thậm chí khi Tần Thủy Hoàng băng hà, Lý Tư đã nghe theo âm mưu của quan thái giám Triệu Cao, lập chiếu chỉ giả, phế bỏ thái tử Phù Tô, lập Hồ Hợi - một kẻ ngu muội - lên kế vị Tần Thủy Hoàng tức là Tần Nhị Thế. Cuối cùng, Lý Tư cũng bị Triệu Cao lập kế mưu hại, không chỉ một mình Lý Tư bị chém đầu mà còn liên lụy đến cả dòng họ ba đời đều bị tru di.

Chú thích (3): Chính sách cai trị bạo tàn của Tần Thủy Hoàng, không những ức chế nhân dân, mà còn cho rằng quỷ thần cũng phải sợ mình nữa, những hình phạt lập ra cũng có thể dành cho những loài khác loài người. Ví dụ có một lần khi đi tuần về phía Nam phải qua sông Trường Giang để đến núi Tương thì gặp phải gió lớn, thuyền không cách nào lướt tới nổi, Tần Thủy Hoàng nổi giận lôi đình, lấy lý do là “thần núi Tương thổi gió lớn, làm trở ngại đường mình đi” rồi sai ba ngàn tù binh, chặt hết toàn bộ cây trong núi Tương.

 Một điều mà không nhà lịch sử nào phản bác chính là chính sách cai trị độc ác và tàn bạo của Tần Thủy Hoàng.

Tần Thủy Hoàng (tiếng Trung Quốc: 秦始皇)(259 TCN – 210 TCN) [1][2], tên thật là Doanh Chính (嬴政), còn có tên khác là Triệu Chính (趙政), là vua của nước Tần ở Trung Quốc từ năm 246 TCN đến 221 TCN trong thời kỳ Chiến Quốc và trở thành vị Hoàng đế sáng lập ra nhà Tần, đồng thời là hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc thống nhất vào năm 221 trước Công nguyên sau khi tiêu diệt các nước chư hầu khác. Ông cai trị cho đến khi qua đời vào năm 210 trước Công nguyên ở tuổi 49.

Tự gọi mình là Thủy Hoàng Đế (始皇帝) sau khi Trung Quốc được thống nhất, Tần Thủy Hoàng là một nhân vật quan trọng trong lịch sử Trung Quốc, mở ra gần hai thiên niên kỷ của hoàng gia cai trị Trung Quốc. Sau khi thống nhất, ông và thừa tướng Lý Tư đã thông qua một loạt các cải cách lớn về kinh tế và chính trị. Ông đã tiến hành nhiều dự án khổng lồ, bao gồm việc xây dựng và hợp nhất các bộ phận của Vạn Lý Trường Thành, lăng mộ kích thước thành phố nổi tiếng được bảo vệ bởi đội quân đất nung có kích thước thật, và một hệ thống đường quốc gia lớn, với cái giá của rất nhiều mạng người. Để đảm bảo sự ổn định, ông đặt ra ngoài vòng pháp luật và đốt cháy nhiều cuốn sách và chôn sống một số học giả. Tương truyền ông là người tinh thông ngũ hành,từng nhiều lần dùng phép ngũ hành nhấn chìm các nước đối thủ,làm động đất thiệt hại cho Triệu quốc.

Nhắc đến tính cách hung bạo và tàn ác chẳng mấy ai quên được Tần Thủy Hoàng, vị vua đầu tiên của Trung Quốc. Vào năm 221 trước Công nguyên, Tần Thủy Hoàng đã thống nhất đất nước, thành lập chế độ tập quyền về mặt chính trị thống nhất từ trung ương, xây dựng nền quân chủ chuyên chế.

Tần Thủy Hoàng - Vị Hoàng đế

Tần Thủy Hoàng. Hình minh họa.

Ông đã có công tiêu diệt các nước chư hầu Thời Chiến Quốc, thống nhất Trung Hoa lập nên một đế quốc rộng lớn. Tuy nhiên, ông cũng được xem là bạo chúa vì chính sách cai trị hà khắc và tàn bạo của mình.

Một điều mà không nhà lịch sử nào phản bác chính là chính sách cai trị độc ác và tàn bạo của Tần Thủy Hoàng. Mặc dù, cuộc cách mạng tàn độc này đã giúp thống nhất Trung Hoa nhưng đây vẫn là một dấu lặng đau lòng trong lịch sử Trung Hoa.

Suốt chiều dài lịch sử cai trị của Tần Thủy Hoảng chính sách độc tôn duy trì chính là sự tàn bạo, đa nghi, xem mạng người như cỏ rác. Tần Thủy Hoàng cai trị một cách độc tài, không chú trọng đến nhân đức, ân nghĩa, trong một thời gian dài không tha tội cho ai, không để ý đến giáo hóa hoặc tuyên truyền cho dân thấu hiểu.

Vốn nghĩ mình là con trời nên Tần Thủy Hoàng luôn thể hiện tính tình gàn dở tự đắc, muốn gì được nấy, tự cho rằng từ xưa đến nay không ai bằng mình. Một trong những quyết định của Tần Thủy Hoàng khiến nhiều văn sĩ đầu rơi máu đổ là chính sáchđốt kinh thi, kinh thư, sách vở trong vòng 30 ngày, truy lùng các học sĩ.

Ông từng ra lệnh chôn sống 460 người ở Hàm Dương vì không cùng quan điểm chính trị. Ngoài ra, một trong những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử là Lã Bất Vi (người được cho là cha ruột của Tần Thủy Hoàng) đã bị chính vị hôn quân này giết chết.

Vì muốn trường sinh bất tử, vị vua này còn sai biết bao người đi tìm thuốc tiên, thần dược. Tần Thủy Hoàng có lẽ là vị vua duy nhất sợ cái chết đến mức điên dại.Quá trình này đã khiến biết bao người dân vô tội bị chết để thỏa mãn cho sở thích quái đản của vị vua này. Lúc còn sống cho xây lăng mộ gồm 3 tầng, trên cùng là ngoại cung, tiếp theo là nội cung và sau cùng là tẩm cung, nằm ở phía Bắc núi Ly Sơn thuộc địa phận tỉnh Thiểm Tây.

Rất nhiều binh sĩ, thợ thuyền được điều động đến để xây lăng mộ cho vị hoàng đế này. Dã man hơn, sau khi thợ chôn cất châu báu, để tránh bị lộ ra ngoài, vị vua này đã sai đóng đường hầm, chôn sống những người thợ ở đây với mục đích biến họ trở thành thần giữ của cho Tần Thủy Hoàng.

Tần Thủy Hoàng - Vị Hoàng đế

Chiêu Tín - Ác phụ được mệnh danh "Quái vật của lịch sử TQ"
(Khám phá) - (Phunutoday) - Chuyện bị bại lộ, Lưu Khứ bắt Chiêu Bình ra dùng khổ hình tra khảo.

Năm 211 TCN, một thiên thạch được cho là rơi xuống Đông Quận (东郡) ở chỗ thấp của sông Hoàng Hà. Trên thiên thạch có người ghi dòng chữ "Thủy Hoàng chết thì đất bị chia." [52] Khi Thủy Hoàng biết được, ông đã phái người đi điều tra. Không ai nhận là người đã viết dòng chữ nên tất cả những người sống gần đó đều bị giết. Tảng thiên thạch sau đó bị đốt cháy và nghiền thành bột [12].

Sau đó, Thủy Hoàng đi kinh lý phía đông, Tả Thừa tướng Lý Tư đi theo, Hữu Thừa tướng Khứ Tật ở nhà. Hồ Hợi, con nhỏ của Thủy Hoàng, được nhà vua yêu mến xin đi theo, vua bằng lòng.

Sau khi tế vua Hạ Vũ ở Cối Kê, Tần Thủy Hoàng trở về kinh. Trên đường trở về phía tây đến bến Bình Nguyên thì bị bệnh.

Thủy Hoàng ghét người ta nói đến việc chết, cho nên quần thần không ai dám nói với nhà vua về việc chuẩn bị cho việc ông qua đời. Khi bệnh càng nặng, nhà vua viết thư đóng dấu của vua gửi đến công tử Phù Tô nói: "Con về Hàm Dương với đám tang, và chôn cất ta ở đấy." Bức thư đã niêm phong ở trong phủ trung xa thuộc quyền Triệu Cao. Bức thư có dấu của nhà vua làm tin chưa giao cho sứ giả, thì Thủy Hoàng qua đời ở Bình Đài (平台), thuộc đất Sa Khâu (沙丘), là nơi cách khoảng hai tháng đi bằng đường bộ cách kinh thành Hàm Dương vào ngày 10 tháng 9 năm 210 TCN theo lịch Julius [22][22][53][54]. Sử liệu phương Tây cho rằng ông chết do uống phải thuốc thủy ngân do các ngự y chế ra[55] mà những viên thuốc này vốn được làm nhằm mục đích giúp cho Tần Thủy Hoàng bất tử [55].

Thừa tướng Lý Tư thấy nhà vua mất ở xa kinh đô nên đã trở thành vô cùng lo lắng rằng tin tức về cái chết của Thủy Hoàng có thể kích hoạt một cuộc nổi dậy lớn trong toàn đế chế [22], bèn giấu kín điều đó, không báo tang, chở quan tài trong một cỗ xe mát, cho một hoạn quan được vua yêu ngồi trong xe, đến đâu thì dâng thức ăn, trăm quan vẫn tâu việc như thường [22]. Viên hoạn quan ở trong xe nghe lời tâu, liền bảo: "Được!". Chỉ có Hồ Hợi, Triệu Cao và một vài hoạn quan thân tín của nhà vua, tất cả có năm sáu người biết là nhà vua đã chết [22].

Xe đi từ Tỉnh Hình đến Cửu Nguyên. Gặp lúc trời nắng, chiếc xe mát phát ra mùi thối, đòng tùy tùng sai các quan đi theo chở trên xe một thạch cá muối để đánh lẫn mùi thối [22]. Đi theo đường thẳng đến Hàm Dương mới báo tang.

Tổng cộng, ông ở ngôi được 35 năm, trong đó 24 năm là làm vua nước Tần từ năm 246 TCN đến năm 222 TCN, và 11 năm làm hoàng đế của đế chế Tần từ năm 221 TCN đến năm 210 TCN.

Tần Thủy Hoàng - Vị Hoàng đế

Vị vua hoang dâm nhất lịch sử TQ, chọn mỹ nhân qua đêm bằng xe dê
Cứ ngồi trên xe cho dê dẫn đi, dê dừng ở đâu thì ông sẽ ngủ lại ở đó với một trinh mỹ nữ địa phương. 

Lăng mộ chứa nhiều bí ẩn

Lăng mộ Tần Thủy Hoàng cách thành phố Tây An 35km, phía nam là núi Linh Sơn và phía bắc là sông Vỹ, vị trí này được coi là "đế thủy" của Tần vương. Các nhà địa lý Trung Hoa ngày xưa cho rằng, vùng này mang thế đất con rồng. Lăng mộ Tần vương nằm trong lòng núi Lệ, được xem là ở chính giữa khu vực mắt rồng. Bởi vậy, đây là khu lăng mộ rất linh thiêng và mang nhiều điển tích kỳ lạ bao quanh.

Bà Hua Yue (81 tuổi), một cao niên sống gần núi Linh Sơn kể: "Theo truyền thuyết, cứ đến ngày rằm hàng tháng, đội quân đất nung lại sống dậy, hô vang câu thề quyết bảo vệ hoàng đế Tần Thủy Hoàng bằng thứ ngôn ngữ cổ. Còn hoàng đế thì ngồi trên ngai vàng, quan sát sự hùng vĩ của nơi cung điện tọa lạc với vẻ uy nghiêm và oai hùng".

Tần Thủy Hoàng - vị vua tàn bạo đời Tần.

Gần 4 thế kỷ đã trôi qua, các nhà khảo cổ học đã khám phá thêm nhiều di tích quanh lăng mộ của vị vua nổi tiếng tàn bạo Tần Thủy Hoàng. Đến thời điểm này, họ đã khai quật được hơn 2.000 chiến binh đất nung trong lăng mộ. Họ hết sức ngạc nhiên khi chứng kiến Đội quân đất nung của Tần vương mỗi bức tượng một khuôn mặt, một trạng thái cảm xúc. Ý nghĩa của chúng cũng là điều gây tò mò cho các lịch sử gia và họ đang tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu Đội quân kỳ lạ này.

Theo dự đoán của các chuyên gia khảo cổ, còn khoảng hơn 6.000 bức tượng nữa, một con số khá lớn so với một lăng mộ vua chúa ở Trung Hoa thời xưa. Quá trình khai quật lăng mộ cũng gặp nhiều khó khăn, bởi các bức tượng đã bị thời gian "mài mòn" đi khá nhiều. Nhà khảo cổ Romey cho biết: "Khi chúng tôi bắt đầu khai quật đội quân đất nung vào những năm 70, do các bức tượng tiếp xúc với không khí và ánh sáng một cách đột ngột nên sau thời gian ngắn, từng mảng sơn bắt đầu bong ra và phai màu dần.

Ngày nay, chúng tôi đã tìm ra một kỹ thuật mới để bảo vệ màu sơn khi khai quật. Nếu khoa học có nhiều thiết bị kỹ thuật hiện đại và phương pháp khai quật tiến bộ, lăng mộ sẽ không bị thiệt hại nghiêm trọng và nhiều bí mật của lăng mộ cũng sẽ được giải đáp".

Điều mong muốn lớn nhất của các nhà khoa học chính là mở được khu lăng mộ trung tâm của Tần Thủy Hoàng và những bí mật ẩn sâu trong đó, mặc dù họ vẫn muốn bảo tồn những báu vật của thế giới cổ đại đầy màu sắc. Theo tài liệu cổ để lại, Hoàng đế Tần Thủy Hoàng đã xây dựng cả một thế giới ngầm dưới lòng đất. Ở đó là cả một vương quốc với đền đài, cung điện nguy nga, trần hang động được mô phỏng theo bầu trời đêm với những vì sao làm từ ngọc trai.

Đặc biệt, vị vua còn chuẩn bị cho mình cả những phi tần bằng đất nung, nhưng đến nay, các nhà khảo cổ vẫn chưa tìm thấy một bức tượng phi tần nào. Sách sử có ghi: "Ngôi mộ hoàng đế lộng lẫy, tất cả đều bằng vàng, xung quanh được đính đá quý, rải châu báu từ trong ra ngoài". Phần mộ của Tần Thủy Hoàng vẫn là một dấu hỏi lớn với các nhà khoa học, bởi họ cũng không chắc chắn phần mộ của ông có thực sự nằm trong khu lăng mộ trung tâm hay không.

Phần mộ của vị vua đầu tiên của nhà Tần có những gì? Đây luôn là câu hỏi thu hút sự tò mò của công chúng không chỉ ở Trung Quốc mà còn là thắc mắc của rất nhiều các nhà khảo cổ và nhà nghiên cứu lịch sử trên thế giới.

Các tài liệu viết về lăng mộ Tần Thủy Hoàng thường nói tới những hệ thống bẫy rắc rối và bí ẩn có thể làm bị thương hoặc lấy mạng bất cứ ai dám xâm nhập vào đây. Tuy nhiên, lý do chính xác hơn là các nhà khảo cổ chưa đủ tự tin với công nghệ hiện tại do e ngại có thể làm hỏng những đồ vật chắc chắn là cực kỳ quí báu.

Họ cũng sợ cả những đồn đại về sự bí ẩn của lăng mộ Tần vương cũng tương tự những lời nguyền xung quanh lăng mộ Tutankhamun ở Ai Cập trước khi các nhà khảo cổ khai quật. Tuy nhiên, nếu những huyền sử là đúng thì lăng mộ Tần Thủy Hoàng đang chôn giấu một kho báu và đồ trang trí lớn hơn bất kỳ lăng mộ vua chúa nào trong lịch sử thời cổ đại, kèm theo đó là những lời nguyền đáng sợ.

Thủy ngân -phương thuốc “trường sinh bất tử” của Tần vương?

Tần Thủy Hoàng không chỉ là một vị vua mang tiếng tàn ác, giết người không ghê tay mà còn là một vị vua hoang tưởng với giấc mơ bất tử. Vị Tần vương dần trở nên điên khùng bởi các loại hóa chất kỳ dị nhằm duy trì sự bất tử để "vĩnh viễn trị vì trên ngôi báu". Ngay việc xây dựng cả một thế giới thu nhỏ với cung vua có đầy đủ binh lính bảo vệ quanh ngôi mộ của Tần Thủy Hoàng đã thể hiện rõ điều này.

Có lẽ, Tần Thủy Hoàng là vị vua duy nhất sợ cái chết đến mức điên dại. Vị vua này sẵn sàng bỏ cả hoàng cung để đi tìm thuốc trường sinh bất tử. Và rồi cuối cùng, vị hoàng đế này cũng tìm ra phương thuốc "quý giá" đó.

Đội quân chiến binh đất nung bên trong lăng mộ khai quật được.

Trong một lần lang thang ở Quốc sử quán (nơi lưu trữ sách sử), Tần Thủy Hoàng bất ngờ tìm thấy một cuốn sách cổ về y học thời xưa. Cuốn sách này có đề cập đến một chất có thể ban cho con người một cuộc sống bất tử, trẻ mãi không già, đó chính là thủy ngân lỏng. Quá đỗi vui mừng, Tần Thủy Hoàng liền cho người đi khắp nơi, thu thập lượng lớn thủy ngân về cung. Thậm chí, Tần Thủy Hoàng còn cho xây một con sông thủy ngân lỏng vây quanh cung điện ngầm của mình.

Nguồn thông tin duy nhất về lăng mộ Tần Thủy Hoàng cũng như dòng sông thủy ngân được ghi chép rất cẩn thận trong cuốn Sử ký của Tư Mã Thiên, sống vào đời Hán. Cuốn sách ra đời một thế kỷ sau khi Tần Thủy Hoàng chết. Tư Mã Thiên miêu tả rằng, hơn 700.000 người đã được huy động đào hầm ngầm xuyên dưới ba con sông. Khu hầm mộ được lát toàn bộ bằng đồng. Các nghệ nhân đã trang trí trần bằng châu báu mô phỏng bầu trời và các vì tinh tú, tạo ra sông và biển bằng thủy ngân, được xem là sức mạnh bảo tồn sự sống thời đó. Thậm chí, dân gian còn thêu dệt một loại máy đặc biệt đã được tạo ra nhằm giúp dòng sông thủy ngân luôn chảy.

Chính con sông chứa đầy thủy ngân ghi trong sử sách là lý do khác khiến các nhà khoa học phải bất đắc dĩ dừng việc khám phá. Thủy ngân ở đây có nồng độ rất cao, nếu cố khai quật vào sâu bên trong sẽ gây nguy hiểm như xói mòn, sạt lở đất ở khu vực xung quanh và tạo điều kiện cho thủy ngân thoát ra ngoài, gây ô nhiễm. Tuy nhiên, các sử gia vẫn đặt ra nghi vấn, lượng thủy ngân để tạo nên sông và biển cũng lên tới hàng chục ngàn tấn, liệu Tần Thủy Hoàng có đủ khả năng để thu thập được số thủy ngân lớn như vậy? Nhưng vì mộ Tần vương chưa được khai quật nên họ không thể biết chắc chắn những điều Tư Mã Thiên mô tả đúng đến đâu.

Trong nỗ lực kiểm chứng câu chuyện của Tư Mã Thiên về dòng sông thủy ngân, 4.000 di vật được tìm thấy đã có phản ứng với radar xác định dấu hiệu hơi thủy ngân. Thật đáng ngạc nhiên, các kết quả xét nghiệm đã khẳng định những dấu hiệu tìm được là của thủy ngân, nhất là khu vực lăng mộ. Mọi bằng chứng đều hướng tới giả định: Có một dòng sông thủy ngân chảy quanh mộ Tần Thủy Hoàng, thậm chí là xung quanh tấm bản đồ nhà Tần.

Nhà khảo cổ Romney nói: "Có lẽ, thủy ngân chính là lý do khiến Tần Thủy Hoàng chết. Tần vương đã nuốt thủy ngân với ước muốn được trường thọ nhưng không ngờ, nó lại đặt dấu chấm hết cho cuộc đời vị vua tàn bạo ở tuổi 49".

Trong cuốn Sử ký của Tư Mã Thiên có ghi: Tần Thủy Hoàng chết vì bạo bệnh và rất nhiều những cuốn sử khác cũng thừa nhận điều "dường như" đã hiển nhiên này. Cũng theo Sử ký, Tần Vương từ nhỏ đã mang bệnh, thể chất yếu đuối, lại làm việc quá sức, mỗi ngày phê duyệt văn thư lên tới 60 cân. Bởi thế, nguyên do dẫn đến cái chết của Tần Thủy Hoàng được kết luận là do mắc bệnh, cộng thêm sức ép của việc triều chính nặng nề, tham vọng bá quyền lúc nào cũng đè nặng trên vai của vị hoàng đế đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa. Vậy, đâu là sự thật cho cái chết của Tần Thủy Hoàng? Liệu Tần vương có thực sự bị bạo bệnh hay không? Câu trả lời nằm trong chính khu lăng mộ trung tâm chưa được khai quật.

An Mai (Theo Livescience)





Giải mã bí ẩn xung quanh cái chết của vua Quang Tự

Sử sách Trung Quốc ghi chép rằng, vua Quang Tự - vị vua gần cuối cùng của nhà Thanh đã bị bệnh mà qua đời ở tuổi 38, song trên thực tế, điều này hoàn toàn là một sự lầm tưởng.



Chân dung Hoàng đế Quang Tự.
Chân dung Hoàng đế Quang Tự.

Từ trước đến nay, người Trung Quốc vẫn có một mối nghi ngờ lớn đối với cái chết của Hoàng đế Quang Tự - vị vua gần cuối cùng của triều đình nhà Thanh.

Sử sách ghi chép rằng, ông vua này tử vong vì bệnh tật song cách nói này, vẫn tồn tại rất nhiều điểm khả nghi.

Có người cho rằng, Từ Hy Thái hậu đã hạ độc thủ hại chết Quang Tự. Ngay cả việc Quang Tự - Từ Hy từ trần người hôm trước – kẻ hôm sau cũng khiến người ta nghi hoặc.

Cũng có ý kiến nhận định, vị vua hưởng thọ 38 tuổi này bị Viên Thế Khải hại chết và cho đến nay, những ý kiến trên vẫn tạo ra những cuộc tranh luận sôi nổi.

Quang Tự sinh tháng 8/1871, đột tử vào ngày 14/11/1908, hưởng thọ 38 tuổi. Ngay ngày hôm sau, Từ Hy Thái hậu qua đời ở tuổi 74. Hai "oan gia" qua đời với sự trùng hợp không tưởng về mặt thời gian đã khiến dư luận Trung Quốc một thời xôn xao.

Quang Tự bị Từ Hy hại chết

Về tình và lý mà nói, quan hệ giữa hai nhân vật lịch sử này không tốt đẹp, chính kiến lại hoàn toàn trái ngược nhau.

Một người là Hoàng đế nhưng không có thực quyền, ngược lại một người thân là Thái hậu nhưng điều hành cả một triều đại. Sự mâu thuẫn giữa Từ Hy và Quang Tự không phải chỉ kéo dài trong một, hai ngày.

Trong bối cảnh đó, việc Hoàng đế trẻ trung chết trước Thái hậu già nua đúng một ngày khó có thể là sự trùng hợp ngẫu nhiên mà là một âm mưu hạ độc được sắp đặt tinh vi. Do đó, rất nhiều ý kiến cho rằng, Quang Tự bị chính Từ Hy hại chết.

Vị vua này không phải là con đẻ của Từ Hy. Ông là em họ của Hoàng đế Đồng Trị, là cháu của vua Hàm Phong và là con của em gái Thái hậu.

Đồng Trị qua đời khi mới 19 tuổi, chưa có con trai nối dõi. Vì lẽ đó, Quang Tự được đưa lên tiếp quản ngai vàng. Dù vậy, mọi chuyện lớn nhỏ trong thiên hạ, nhất nhất đều phải qua tay Từ Hy.

Sống trong cung, Quang Tự như chim lồng cá chậu, không được làm điều mình thích, mọi sự phải tuân theo sự sắp đặt của bác gái nên tâm trạng trở nên u uất, phiền muộn.

Tuy nhiên, đây không phải là một ông vua không có lý tưởng. Ông muốn một ngày thoát khỏi vòng kìm hãm của Thái hậu nên đã bày tỏ rõ thái độ chống đối ra mặt.

Khi chiến tranh Giáp Ngọ nổ ra, Quang Tự chủ trương đánh nhau với Nhật song Từ Hy lại e dè, sợ hãi. Cuối cùng, cuộc chiến này vẫn không thể tránh khỏi và nhà Thanh phải ký "Hiệp ước Mã Quan".

Sự kiện này càng làm gia tăng mối bất hòa giữa hai nhân vật đứng đầu Thanh triều lúc bấy giờ. Quang Tự kể từ đó càng nỗ lực làm cách mạng, sát lại gần những trí thức như Khang Hữu Vi, Lương Khởi Siêu.

Lẽ tất nhiên, Từ Hy không thể vui. Sau thất bại của Duy Tân biến pháp, ông vua này đã bị Thái hậu khét tiếng của Thanh triều giam lỏng, không cho phép bất cứ ai được tiếp xúc.

Từ đầu đến cuối, vị vua áp chót của nhà Thanh phải sống dưới cái bóng của Từ Hy, trong người luôn bất an. Khi biết ái phi của mình là Trân phi qua đời, tinh thần ông hoàn toàn xuống dốc, bệnh cũ tái phát ngày một nặng.

Cái chết của Quang Tự có liên quan rất lớn đến Từ Hy. Bản thân người phụ nữ này đã nhiều lần muốn phế "con trai hờ", nhưng vì người phương Tây không đồng ý.

Có thể nói, bản thân bà ta khi ý thức được rằng mình sắp chết, sợ rằng Hoàng đế đương nhiệm sẽ lên nắm quyền nên đã đi trước một bước, ra tay sai người tiêu diệt "cái gai trong mắt".

Xét theo bối cảnh lúc bấy giờ, Từ Hy là người có nhiều khả năng, điều kiện và cơ hội ra tay khử Quang Tự nhất, bởi mâu thuẫn giữa hai nhân vật này quá lớn.

Hình ảnh Từ Hy và Quang Tự trên phim truyền hình Trung Quốc.

Quang Tự bị Lý Liên Anh hại chết

Cách nói này cũng tồn tại song song với nghi vấn Từ Hy giết Quang Tự trong một thời gian dài.

Từ Hy ngoại truyện của tác giả người Anh Poland và Doanh Đài khấp huyết ký của Đức Linh cho rằng: "Bọn quan lại trong triều, đứng đầu là đại thái giám Lý Liên Anh thường ngày ỷ thế chủ là Từ Hy hay làm nhiều chuyện tổn thương Quang Tự.

Bọn họ sợ rằng Từ Hy qua đời, Quang Tự nắm quyền sẽ trừng phạt, vì thế "Tiên hạ thủ vi cường", hạ độc cho Quang Tự đi trước".

Quang Tự bị Viên Thế Khải hại chết

Phổ Nghi – Hoàng đế cuối cùng của nhà Thanh trong cuốn hồi ký "Nửa đời trước của tôi" đã nhắc đến Viên Thế Khải.

Trong Mậu Tuất chính biến, Viên được Quang Tự tín nhiệm đưa quân đảo chính, vô hiệu hóa quyền lực Từ Hy để thực hiện kháng chiến chống phương Tây.

Nhưng vào thời điểm mấu chốt, Viên Thế Khải đã bán đứng Quang Tự, tiết lộ âm mưu với Từ Hy, khiến Từ Hy giam Quang Tự vào Doanh Đài.

"Trước khi vua Quang Tự qua đời, ông vẫn khỏe mạnh. Chỉ vì dùng một chén thuốc mà chết. Sau này mới biết thuốc là do Viên Thế Khải dâng lên. Theo lẽ thường, Hoàng đế đổ bệnh, Thái y mới là người kê thuốc", Phổ Nghi viết.

Sự khỏe mạnh của Quang Tự đã được rất nhiều người thời đó, bao gồm thái y, thái giám và cung nữ xác nhận là đúng.

Trong tình huống này, có thể thấy Viên Thế Khải sợ Quang Tự nắm quyền sẽ không tha cho mình, nên đã mượn cơ hội dâng thuốc mà hạ độc.

Vị Hoàng đế này mất năm 38 tuổi, dẫn đến sự nghi ngờ rằng ông đã bị giết bởi kế hoạch cải tổ, chống đối lại Từ Hy Thái hậu và bè lũ của bà ta.

Tài liệu của tòa án khi đó cho rằng ông vua này đã chết một cách tự nhiên sau một thời gian dài lâm bệnh.

Tuy nhiên, các tài liệu cá nhân khác được lưu trữ bởi các nhân viên tòa án lại tiết lộ về khả năng chính âm mưu trong hoàng cung mới là nguyên nhân dẫn đến cái chết của vị vua này.

Trúng độc cấp tính

Các giám định pháp y đã lấy 2 nhúm tóc, một ít xương và mẫu y phục của Quang Tự để xét nghiệm. Kết quả cho thấy trong tóc của Quang Tự có nồng độ thạch tín khá cao và có sự chênh lệch hàm lượng rất lớn giữa các đoạn tóc.

Đã từng có giả thuyết cho rằng thời gian ở trong cung và bị giam ở Doanh Đài, Quang Tự từng uống nhiều trung dược để chữa bệnh suy nhược, trong đó thường dùng hùng hoàng, thư hoàng, chu sa, dẫn đến nhiễm độc thạch tín, thủy ngân mãn tính mà tử vong.

Tuy nhiên, trong tình huống trúng độc mãn tính mà chết thì về nguyên tắc, hàm lượng độc tính ở gốc tóc của người trúng độc phải cao hơn so với đoạn giữa và ngọn tóc.

Nhưng ở trường hợp vua Quang Tự thì ngược lại, hàm lượng thạch tín ở ngọn và giữa tóc cao hơn gốc tóc rất nhiều. Điều này chứng minh vua Quang Tự chết không phải do trúng độc mãn tính do dùng thuốc nam dài ngày.

Đồng thời với việc xét nghiệm, các chuyên gia khoa học cũng thông qua những tư liệu lịch sử về tình hình 10 ngày trước khi Quang Tự băng hà để chứng minh rằng vị vua này bị trúng độc cấp tính do sử dụng thạch tín quá liều trong thời gian ngắn.

Việc phát hiện một lượng lớn chất độc asen trong quan tài của Hoàng đế Quang Tự giúp làm sáng tỏ những đồn đại xung quanh cái chết của ông.

Như vậy, nguyên nhân cái chết của vua Quang Tự cũng như những "đối tượng có liên quan" đều đã được giải mã. Song điều khiến hậu thế "vò đầu bứt tai" là tại sao Từ Hy lại có thể chết ngay sau Quang Tự 1 ngày?

Đây là một sự trùng hợp ngẫu nhiên hay là sự sắp xếp của con người, điều này cho đến nay vẫn chưa có lời giải thích nào thỏa đáng.

VUA QUANG TRUNG VÀ CHIẾC HOÀNG BÀO BÍ ẨN ĐẦU ĐỘC– HỒ VĂN QUANG

Hơn hai thế kỷ qua, nhiều sử gia, nhiều học giả đã từng tốn nhiều công sức trong việc nghiên cứu của mình, nhằm tìm hiểu đâu chính là sự thật về lần vĩnh biệt của vị anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ vua Quang Trung, vị Ðại Ðế đã làm rạng rỡ cho cơ đồ Việt Nam! Chuyện tức tưởi bước vào cõi vĩnh hằng không phải chỉ dành riêng với cá nhân ông ta mà còn là sự uất ức chung cho cả dân tộc Việt Nam ta. Do đó, vấn đề bàn cãi đâu là nguyên do chính đáng nhất của nó vẫn còn bao trùm bởi chiếc màn dày đặc của sự bí mật. Nếu ai đó đưa ra cân trả lời để kết luận “Nhà vua chết vì bệnh.” thì chúng ta khỏi nói thêm nữa…

Hiện tại, người viết bài này chỉ biết kiểm nghiệm lại những gì có trong tài liệu sưu tầm được, để gọi là phần nào đó, ghi góp thêm cho cách giải đáp “thắc mắc” thôi. Chuyện “Chiếc áo ấm” mà Càn Long (vua Thanh) cẩn tặng vua Quang Trung để mặc lúc ngự hàn, là một nghi vấn nằm trong những nghi vấn khác mang tính: “khó tin nhưng có thật”, vì chỉ có nó mới có thể nói lên cả một kế hoạch lâu dài của các nhà “lý số” Tàu dưới triều Càn Long quyết hại chết vua ta, để trừ mọi hậu hoạn nơi bờ cõi phương Nam của họ.

Sách “Ngụy Tây Liệt Truyện” của bộ sử ký “Ðại Nam Chính Biên Liệt Truyện”, quyển 30 trang 42, các sử quan triều Nguyễn ghi như sau:

“…Một hôm về chiều, Quang Trung đang ngồi, bỗng xây xẩm tối tăm, thấy một ông già đầu bạc từ trên trời xuống, mặc áo trắng, cầm gậy sắt mắng rằng: Ông cha ngươi sống ở đất của Chúa, đời đời làm dân của Chúa, Ngươi sao dám phạm đến lăng tẩm? Rồi lấy gậy đánh vào trán, Quang Trung mê man ngã xuống, bất tỉnh nhân sự, lâu lắm. Lúc tỉnh dậy nhà vua đem việc ấy nói với quan trung thư Trần Văn Kỷ. Từ đó bịnh chuyển nặng mới triệu quan trấn thủ Nghệ An Trần Quang Diệu về bàn bạc để dời đô ra đó. Thương nghị chưa xong thì Thế Tổ ta đã lấy lại được Gia Ðịnh, chiếm Bình Thuận, Bình Khang, Diên Khánh, thanh thế chấn động. Quang Trung nghe được lo buồn, bịnh ngày càng kịch liệt…”

Ðọc những trang sử này, chúng ta có thể hiểu được ý chính của các sử quan triều Nguyễn, họ muốn dựng lên một huyền thoại, nhằm thóa mạ vua Quang Trung. Dụng ý chính ở đây là để ghép tội, và chứng minh rằng vua Tây Sơn là người: Vô đạo và tàn bạo Tiếm đoạt thành Phú Xuân, xâm phạm lăng tẩm các Chúa Nguyễn nên bị tổ tiên các Chúa Nguyễn trừng phạt Vì đang bệnh mà vua Quang Trung còn phải lo lắng thêm việc con cháu Chúa Nguyễn phục thù, đang chiến thắng tại nhiều nơi, lấn chiếm dần các phần đất phía Nam… và lãnh thổ Tây Sơn ngày một thu hẹp lại. Do đó, nhất định bệnh tình nhà vua ngày một nặng thêm, và rồi nhất định phải chết. Dầu có nói gì chăng nữa, họ cũng không thể che giấu hành vi trả thù, một sự trả thù dã man, tàn bạo đối với một triều đại từng làm cho họ xích bích xang bang, sống trong tan tác, cơ hồ như bị hủy diệt luôn. Cho nên khi chiến thắng rồi, họ quên bẵng thời điểm lịch sử 1792 (năm vua Quang Trung mất), tình thế chiến trường đem ra so sánh, binh đội phe Nguyễn Ánh chỉ là một nhóm người nhỏ lẻ tẻ, ô hợp, chưa đủkhả năng chống chọi với đại binh Tây Sơn.

Sách “Ðại Nam Thực Lục Chính Biên”, là bộ sách sử tuy được cả triều Nguyễn ca tụng, nhưng phần “Ðệ Nhất Kỷ” cũng phải ghi: “Tháng 3 năm Nhâm Tý (1792) nhân khi gió Nồm thổi, Nguyễn vương sai tướng là Nguyễn Văn Trương cùng Nguyễn Văn Thành đem chiến thuyền từ cửa Cần Giờ ra đốt phá thủy trại Tây Sơn ở của Thị Nại (Quy Nhơn) rồi rút lui về. Khi lui về Nam, Nguyễn Ánh có ý định chiếm Phan Rang, Phan Rí… nhưng cuối cùng Nguyễn Ánh thấy chống không nổi, phải cho rút quân về lại Gia Ðịnh“. Như vậy, giai đoạn từ mùa hè 1792 trở về trước, Nguyễn Ánh đã không thể có mặt trên đất miền Trung, mà phải lo cố thủ Gia Ðịnh, có nghĩa là triều đại Tây Sơn vẫn còn cai quản phần đất từ Gia Ðịnh trở ra Bắc và chính lúc bình yên trên phần đất cai quản của mình như thế này, vua Quang Trung bị bệnh, rồi sau đó băng hà. Không giống như nội dung đoạn sử trên mô tả: Về tính huyền thoại huyễn hoặc: bị ông tiên nào đó đánh cho một gậy để phải lâm bệnh Về mặt thực tế cụ thể: như lo âu mất đất và bị thua trên chiến trường… Chính hai lý do này đã khiến vua Quang Trung buồn phiền, rồi bệnh nặng mà băng hà?

Thực ra, từ năm 1787 trở đi, vua Quang Trung bận rộn rất nhiều về chuyện nội trị, phần khác cần đối phó loạn lạc tại Bắc Hà! Riêng phía Nam, cũng có chuyện cần cấp giải quyết, vì sự cai quản non kém của Ðông Ðịnh Vương Nguyễn Lữ, tạo điều kiện thuận lợi để Nguyễn Ánh chiếm lại Gia Ðịnh. Và cũng nhờ vào sự bận rộn này mà bắt đầu từ năm 1787 cho đến năm 1792, Nguyễn Ánh mới có cơ hội chiếm lại rồi củng cố thành Gia Ðịnh. Mãi tới tháng 5 năm 1790, Nguyễn Ánh cho Lê Văn Câu (có sách ghi là Lê Văn Quân, một đại công thần, có thứ bậc trên cả Võ Tánh, Nguyễn Văn Thành) đem quân ra đánh chiếm Bình Thuận. Chưa đầy một tháng sau đó, Tây Sơn phản công, quân lính Câu tan tác, phải cấp báo về Gia Ðịnh xin Nguyễn Ánh cho viện binh. Ánh không chấp thuận trong tình thế nguy cấp này, Nguyễn Văn Câu đành rút chạy về Phan Rí, quân binh Tây Sơn tiếp tục truy kích, Câu phải chạy thẳng về Gia Ðịnh… Trước một bại tướng từng sống chết với mình, Nguyễn Ánh không những không tìm cách che chở, bảo bọc, mà còn tỏ ra không thương tiếc, nhất định nghị tội, bãi chức… Quá uất ức, Câu đành uống thuốc độc, kết liễu đời mình. Thương thay cho một vị đại tướng tìm lầm chúa thờ!

Trở lại cái chết của vua Quang Trung, chúng ta không nhìn nội dung trên ở khía cạnh mạ lỵ cá nhân, mà trên sự kiện nguyên do cái chết. Từ đó chúng ta cũng có thể kết luận họ đã xác nhận vua Quang Trung chết vì bệnh. Ðọc sử Việt Nam, có rất nhiều cách giải thích khác về cái chết của vị anh hùng dân tộc của chúng ta, nhưng không mấy hấp dẫn. Do đó, người viết phải tìm thấy thêm trong “Ðại Thanh Thực Lục” và “Ðông Hoa Toàn Lục” (Sử Trung Quốc) ghi rằng:

Năm Càn Long thứ 58 (vào tháng 1 năm 1793), Quách Thế Huân khấu báo lên Càn Long là An Nam quốc vương Quang Trung đã chết vì bệnh“.

Càn Long, hơi giật mình rồi như đang suy nghiệm một điều gì có thể đúng với dự tính trước đó của ông ta… Phải chăng, vua Thanh đã biết trước được một chuyện gì chăng về cái phải xảy ra với vua Quang Trung? Theo hắn ta phải sớm hơn… (vì khoảng sáu tháng sau
ngày vua Quang Trung băng hà, Càn Long mới biết tin). Tại Bắc kinh, trước lúc đó, Vũ Văn Dũng được tin mật, vị trưởng đoàn sứ thần này xỉu đi… Khi tỉnh lại, liền gấp rút từ tạ vua Thanh mà trở về Phú Xuân ngay. Chính sự đau đớn này, Vũ Văn Dũng đã làm bài thơ (Tập san sử địa số 9, Sai Gòn 1968, trang 154):

“Bố y phấn tích ngũ niên phong
Mai cổ thi vi tự bất đồng
Thiên vị Ngô Hoàng tăng nhất kỷ
Bất ư Ðường,Tống thuyết anh hùng”.

Tạm dịch:

Năm năm dựng nghiệp tự thân nông
Thời trước thời sau có mấy ông?
Có thương, trời cho mươi năm nữa,
Anh hùng Ðường, Tống khó so công!

Vua Quang Trung mất vào mùa Thu 1792, nửa năm sau Mãn Thanh mới biết, và cho người sang báo tang. Sự chậm trễ này không phải do Quách Thế Trung, mà chính do sự sắp đặt của hoàng triều Phú Xuân muốn làm vậy. Trong “Ðông Hoa Toàn Lục”, quyển 117, trang 5s, đã ghi lại ý trách móc của Càn Long: “Quốc Vương Nguyễn Quang Bình đã mất ở Nghệ An vào tháng 9 năm ngoái. Vua Càn Long liền quở trách người đưa tin như thế là quá chậm, chắc bây giờ đã tống táng rồi“. Sự việc rõ ràng bên trong có dụng ý riêng, vì không phải báo về cái chết của Nguyễn Quang Bình chậm, mà còn sai chỗ nữa (Phú Xuân chứ không phải Nghệ An).

Mặt khác, Phú Xuân còn cho làm mộ giả của vua bên Hồ Tây để đón sứ thần Mãn Thanh sang phúng điếu. Sứ Thanh đến, muốn vào thăm Phú Xuân, triều thần Tây Sơn nhất định không cho, còn tìm mọi cách đánh lạc hướng như dẫn họ lên tận Sơn Tây, khi sứ Thanh phát hiện, triều thần Tây Sơn mới chịu dẫn họ trở lại, nhưng chỉ dừng ở Thăng Long mà thôi. Những việc nhà Thanh làm rất mâu thuẫn và bí mật, nhất là việc đòi phải vào đến tận Phú Xuân xem xét…

Năm 1789, chính Thành Lâm không chịu vào Phú Xuân để phong vương cho vua Quang Trung (lần đầu sau khi Phạm Công Trị đóng vua Quang Trung giả), mà chỉ tại Thăng Long, viện lý do không được trái lệ thường (Các triều đại trước mỗi khi Trung Hoa cho sứ sang nước ta làm lễ phong vương, đều thực hiện tại Thăng Long theo qui lệ của các vua Trung Hoa), nhưng lần này lại đòi vào tận Phú Xuân để điếu tang. Tại sao triều thần Tây Sơn không cho Thành lâm vào Phú Xuân? Cũng như vua Quang Trung luôn cho người giả mình để tiếp xúc với nhà Thanh? Tất cả mọi nghi vấn như thế này chỉ có vua Quang Trung và các cận thần của ông ta mới biết!

Ngày nay, chúng ta sao có thể suy đoán rằng: triều thần Tây sơn sợ các thầy địa lý Tàu ếm bùa ếm ngãi nơi mộ vua Quang Trung!(?). Giai đoạn xã hội lúc đó, chuyện xảy ra như thế này không phải là không có. Triều thần Tây Sơn làm sao lường trước chuyện rửa nhục “thất trận Xuân Kỷ Dậu”? (Vào cuối năm 1788, Tôn Sĩ Nghị ngày nào cũng cấp báo tin thắng trận, vua Càn Long vô cùng mừng rỡ, tiệc mừng được liên tiếp tổ chức, ba quân luôn được cất nhắc thăng thưởng (tăng thêm một tháng lương cho đội quân viễn chinh dùng để ăn tết trên xứ Nam). Chính Càn Long đã chọn ngày mồng 5 Tết làm ngày “Hội mừng công, bình định đương An Nam”, các Ðại thần, các Ðại học sĩ, các Văn nhân, quan chức phải tề tựu về kinh đô (Bắc Kinh) cùng nhau xướng họa, bình phẩm, gọi là chúc mừng thọ nhân buổi đầu năm lên vua. Thực ra, đây là việc mừng chiến thắng bình định phương Nam. Nhưng, ngày mồng 5 đã làm họ ê chề đau đớn, vì họ không có thắng lợi, mà ngược lại đã bị vua Quang Trung xóa sổ 29 vạn quân xâm lược tinh nhuệ ngay trên đất Thăng Long! Tàn quân Thanh khi chạy về lại nước mình, chỉ còn vỏn vẹn 5.500 người mà đa số đều bị sứt tay gãy gọng! Thật đột ngột, thật bất ngờ, và cũng thật đau đớn nữa… Trước tin này, Càn Long vẫn bình tĩnh, ra lệnh chiêu an Tôn Sĩ Nghị, ghép tội cho Lê Chiêu Thống…

Sự thật thế nào cũng phải phơi bày, nên về sau, Càn Long biết được lỗi lầm do Tôn Sĩ Nghị gây nên, mới xuống chiếu nghiêm trị, bãi chức họ Tôn, cho Phúc Khang An thay thế làm lưỡng Quảng Tổng Ðốc, cầm giữ 50 vạn quân để bảo vệ biên giới tiếp giáp với An Nam. Trước tình hình như thế này, vua Quang Trung nhất định không thể khinh xuất, đã phải cùng triều thần nghị bàn quyết định dùng ngoại giao để giải quyết cuộc chiến đầy thầm lặng này. Ðại Nam Chính Biên Liệt Truyện, quyển 30, trang 36s, ghi lại bức thư của Thang Hùng Nghiệp (quan đạo Tả Giang) viết cho vua Quang Trung như sau:

“Lê Duy Kỳ đã trốn ra khỏi nước, thiên triều không ủng hộ cho y làm vua nước Nam nữa. Vậy trong khi chưa có người đến gõ cửa quan xin thụ phong, thì “Người” nên đến sớm để được đặc ân…”.

Cơ hội hòa hoãn với Thanh triều coi như đã nắm chắc trong tay, vua Quang Trung liền cho đòi Ngô Thời Nhiệm vào chầu, giao cho nhiệm vụ thảo thư trả lời vua Thanh. Cũng trong sách này, quyển 30, trang 136b, 37a, có viết lại lời Phúc An Khang nói về tình hình sau vụ Xuân Kỷ Dậu: “…đã chính thấy mắt Nghị trơ trọi một mình chạy về. Sau đó, tai hại được nghe thanh thế của vua Quang Trung nên trong bụng không khỏi rụt rè, lo sợ… bèn nói nhỏ với viên thuộc quan rằng: Nam – Bắc thôi việc binh đao đó là phúc của sinh dân, mà là điều may mắn cho quân ở ngoài bờ cõi. Ta nghe nói viên quan coi việc giấy tờ của nước Nam tên là Ngô Thì Nhậm, bao nhiêu thư từ, từ trước đến nay đều do tay y mà ra. Vậy ngươi nên viết thư trả lời, bảo y chuyên tâm chủ trương việc giảng hòa, gấp rút viết tờ biểu tạ tội đưa sang, ta sẽ ở trong giúp đỡ cho, việc ấy thế nào cũng xong…” Vua Quang Trung xuống chỉ bảo Hồ Hổ hầu làm chính sứ sang Trung Hoa, trực tiếp gặp Thang Hùng Nghiệp. Nội dung tờ biểu đã nói lên được tính nhún nhường, kèm theo sự giải thích rõ ràng lý do phế bỏ Lê Chiêu Thống. Riêng việc va chạm với binh đội thiên triều, thì đây chẳng qua là cách đối xử quá vụng về của Tôn Sĩ Nghị mà thôi. Trong đoạn chót, nội dung thư, tỏ ra cứng rắn, không chịu lép vế, có đoạn rất đanh thép, mỉa mai, hăm dọa (Sách vừa dẫn cùng trang): “…Tôn Sĩ Nghị lấy địa vị đại thần ở biên cương, lại vì tiền hay vì gái mà đem tờ biểu chương của thần xé ném xuống đất, làm nhục sứ giả, ý muốn động binh dấy quân, không biết việc đó quả do Ðại Hoàng Ðế sai khiến hay do Tôn Sĩ Nghị? Thử hỏi vì một người đàn bà sai khiến mong lập công ở biên cương mà cầu lợi lớn có đáng mặt quân tử không?…” Trong phần cuối thư Ngô Thời Nhiệm còn nhấn mạnh: “…nay đường đường là triều đình thiên tử, lại đi so hơn thua với một nước rợ nhỏ, ắt là muốn cùng khốn binh sĩ, lạm dụng vũ lực hầu sướng khoái cái lòng tham lam tàn bạo, thì chắc lòng dạ của Thánh Thượng cũng không nhẫn. Còn nếu như cứ chiến tranh kéo dài, tính thế đến nỗi nào thì thật không phải do thần muốn, mà thần cũng không dám nói trước rồi tình thế sẽ đi đến đâu…” Ðọc xong thơ, Thang Hùng Nghiệp run sợ, nhưng vẫn cố giữ thái độ thật ôn hòa, bình tĩnh nói với Hồ Hổ hầu rằng:
“…nay không phải là lúc hai nước đánh nhau, sao lại hành sự toàn một giọng giận dữ? Nói như thế là để cần phong vương hay muốn gây rối can qua chăng?…”

Ðối với chuyện này, Thang Hùng Nghiệp thật dở khóc dở cười, không biết phải làm thế nào, thủ tiêu ngay lá thơ thì không dám mà trình lên Càn Long thì lại càng không dám hơn. Sự việc mà đổ bể, Thang Hùng Nghiệp sẽ mất hết lòng tin của Càn Long đối với Y. Do vậy, từ đó về sau, mọi giao thiệp với Ðại Nam đều về một tay Phúc Khang An bưng bít lo liệu. Chuyện ngoai giao giữa hai nước kể từ đó mỗi ngày một mật thiết hơn. Tháng 11 năm 1789, khi đọc tờ biểu của Tôn Vĩnh Thanh, nói về kết quả công việc Thành Lâm sang Thăng Long phong vương cho Nguyễn Quang Bình, Càn Long chỉ thị ngay cho Tôn Vĩnh Thanh (Ðại Thanh Thực Lục, quyển 1342, trang 17a): “Trẫm xét Thành Lâm sang Thăng Long tuyên phong, tất chắc mục kích được quốc vương và phong thổ nước ấy, Trẫm muốn đích thân xét hỏi viên quan ấy sẽ được rõ ràng hơn là lời tâu của Tôn Vĩnh Thanh, phải cho ngay Thành Lâm tiến kinh, để Trẫm hỏi...”

Sứ Thanh – Thành Lâm, trong chuyến sang nước Nam phong vương, vua Càn Long có gởi tặng vua Quang Trung một chiếc áo choàng màu, trên đó thêu 7 chữ: “Xa Tâm Chiết Trục Ða Ðiền Thử” Và kèm theo một bài thơ trong đó có câu: “Phát Dị Nam Bang Y Dữ Quan” (Mũ áo không khác gì người nước Nam). Lúc đó không ai có thể hiểu được nội dung “7 đại tự” thêu trong chiếc áo, mang ý gì… Năm 1792, sau khi vua Quang Trung băng hà, Càn Long lại làm thêm một bài thơ khác nhắc lại, ở câu thứ 7 với 7 chữ:

“Thất Tự Bất Năng Bãi Ai Thuật” (ý nói: 7 chữ không dứt được niềm xót xa của Trẫm)

Và câu:”Trung Thu Thượng Ức Y Quan Túc” (Trong mùa Thu trước Trẫm nhớ Quốc vương đã có áo mão đoan trang),

và thêm câu: “Hoài Nghi Kham Tiếu Ðại Kim Nhân” (Hoài nghi và đáng cười việc triều trước bắt phải làm việc cống người vàng để thay thế).

Cái ái ngại và lo lắng nhất khi vua Quang Trung còn tại vị, là Càn Long vẫn cứ đòi gặp cho bằng được con người bằng xương bằng thịt của Nguyễn Quang Bình? Chuyện bí mật vẫn chưa ai có thể khám phá ra vua Thanh có hàm ý gì trong “chiếc áo tặng”? Nội dung lời thơ? Tại sao “7 chữ” đó lại không nói hết được nỗi xót xa?… Tặng “chiếc áo” chắc có lý do “đặc biệt” bên trong, nên Càn Long mới nhắc đi nhắc lại mãi?… Phải chăng triều Minh đòi vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) cống “người vàng”, thì triều Thanh đòi vua Quang Trung cống “người thật”? Vua Càn Long cho vẽ truyền thần Quang Trung (Phạm Công Trị 1790) có mưu mô gì? Có thể Càn Long đã biết người được vẽ hình không phải là Quang Trung thật? Ngược lại, Quang Trung giả xin một bức chân dung của Càn Long thì lại không được?… (bài biểu của sứ đoàn nước Nam nộp cho Phúc Khang An để trình lên Càn Long: “Nay hạ thần muốn xin một bức chân dung của Hoàng Ðế để mang về nước, kính cẩn cung phụng ở điện Kính Thiên”).

Trên thực tế, Mãn Thanh, không hề đặt điều kiện tiền bạc cho sự bang giao giữa 2 nước. Không những bãi bỏ lệ cống người vàng mà còn chịu chi phí rộng rãi, nồng hậu mọi khoản tiếp đón cho cả đoàn sứ thần nước Nam cả chuyến đi lẫn chuyến về. Nhất định không thể sai lầm khi có nhận định rằng ở đằng sau bộ mặt dễ thương đầy vẻ hiếu hòa kia, sẽ có một âm mưu gì thật đáng sợ? Trả thù? Càn Long đang ráo riết thi hành một kế hoạch, và chưa có cơ hội bộc lộ ra bên ngoài?… Mùa Thu 1792, vua Quang Trung băng hà, triều thần Tây Sơn mới có thể khám phá ra được ý nghĩa của “7 đại tự” kim tuyến thêu trong “chiếc áo” tai ác kia!Theo cách chiết tự và diễn nghĩa từ 7 chữ “Xa Tâm Chiết Trục Ða Ðiền Thử” đã có ý nói rõ: Nguyễn Huệ chết vào năm Tý. Vì chữ “Xa” và chữ “Tâm” đem ghép lại là chữ “Huệ”; “Chiết Trục” là gẫy trục; “Thử” là chuột mà chuột là “Tý”, hay năm Tý…

Như thế, phải chăng từ năm 1790 trở về trước, Càn Long đã đoán được số mạng của vua Quang Trung sẽ mất vào năm Tý? Chúng ta có thể đưa ra hai cách suy nghĩ để lý giải lập luận này:

1).- Càn Long là một vị vua giỏi nhất, thông minh nhất của Thanh Triều, như thế về thuật số, bấm độn, tính quẻ, ông ta không thể không tinh thông.

2).- Chính Càn Long là người có âm mưu và dự mưu giết cá nhân vua Quang Trung từ lâu, và đã dùng thuật số ếm vào chiếc áo bào, hay gài độc vào 7 đại tự kim tuyến để vua Quang Trung khi mặc vào sẽ bị chất độc khuếch tán từ từ.

Cho đến hôm nay, đối với việc ra đi của vua Quang Trung vẫn còn là chuyện bí mật, chưa một ai có thể giải đáp được những câu hỏi: “Tại sao nhà vua lại chết vào lúc tuổi đời đang sung mãn (đang đi vào độ tuổi 40), công danh, thắng lợi cứ dồn dập ập đến? Nhà vua đã chết vì bệnh? Hay chết vì bị đầu độc, bị ếm bùa ngãi của Càn Long? Và cũng có thể chết vì bức chân dung của Phạm Công Trị vẽ bằng một loại mực có pha hóa chất cực độc cộng thêm việc dùng bùa chú ếm vào chân dung đó? Hay chết vì những hoạt động tình báo của đối phương? (kẻ thù gài điệp viên vào cạnh bệ rồng? Cũng có thể là sự trả thù của con cháu nhà Lê? Của Nguyễn Ánh? Và cũng có thể là do đoàn sứ bộ của Thành Lâm (Thành Lâm là một người rất giỏi thuật số hồi ấy)? Sau cùng cũng có thể là sự ám hại từ phía Nguyễn Nhạc?…” Tất cả những câu hỏi trên đều phát xuất từ các giả thuyết của một vấn đề: “Cái chết của vua Quang Trung”. Rốt cuộc, những nhà nghiên cứu chỉ có thể kết luận: “Ông ta chết vì bệnh”! Thật đơn giản, bị bệnh mà không chữa trị đúng cách, dĩ nhiên chỉ có chết! Không thể có một ai bài bác nổi lập luận này! Tình hình chính trị xã hội ở giai đoạn cuối thế kỷ 18 của nước ta thật quá nhiều biến động. Sự xôn xao không những xảy ra ngay trong cung đình mà ngay cả trong dân gian… Bởi vậy theo sau một vấn đề chính thường được gài thêm những chuyện phụ, nhằm tô vẽ cho sự phát triển giáo phái “Thần quyền” của những kẻ lãnh đạo phong kiến… Làm sao ngày nay chúng ta không thể không hoài nghi về các tài liệu để lại? Cũng cùng trong một thời gian lịch sử, lại mang nội dung trái ngược nhau? Chúng ta có thể tin tưởng ngày chết của một người phải đúng vào ngày giỗ hàng năm do con cháu dựng ra để tưởng niệm. Nhưng, cũng có thể vì một lý do an nguy nào đó, mà con cháu nhất định chọn ngày khác, trùng với ngày qui tiêncủa người trưởng tộc của họ? Ðây cũng là cách giải quyết mang tính tục lệ của người Việt Nam chúng ta. Ngày vĩnh biệt của vua Quang Trung có thể rơi vào tình trạng này lắm…

TÁC GIẢ: HỒ VĂN QUANG


Sự thật nghiệt ngã về cuộc sống của các phi tần thời xưa

Cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc triều đại phong kiến khác xa với sự hào nhoáng trên phim ảnh, và nạn nhân không ai khác chính là các phi tần, cung nữ.


  Hoàng cung lầu son gác tía cũng ẩn giấu nhiều nỗi đắng cay cho số phận người phụ nữ
Hoàng cung lầu son gác tía cũng ẩn giấu nhiều nỗi đắng cay cho số phận người phụ nữ

Triều đại phong kiến Trung Quốc đã kết thúc hơn 1 thế kỷ, nhưng sự thật về cuộc sống của các cung nữ phi tần trong tam cung lục viện suốt hàng nghìn năm qua vẫn còn là điều bí ẩn. Qua phim ảnh, hậu thế có thể biết được sự xa hoa hào nhoáng mà người thường không thể với tới, nhưng thực sự đằng sau cuộc sống nhung lụa ấy là sự cô độc bi thương khó thoát ra được.

Trong cuộc chiến này, các phi tần đều phải sử dụng đủ các thủ đoạn, các kỹ xảo để được hoàng thượng để mắt đoái thương. Những việc này cũng lấy đi của họ rất nhiều thời gian, trí lực và cả những giọt nước mắt cay đắng, thậm chí có cả đổ máu. Ở hậu cung, có một nơi chuyên quản lý phi tần được gọi là phòng Kính sự. Phòng này trực thuộc và chịu sự quản lý trực tiếp của phủ Nội vụ. Nhiệm vụ quan trọng nhất chính là quản lý, ghi chép và theo dõi việc hoàng thượng lâm hạnh các phi tần trong hậu cung.Từ khi tiến cung năm 16 tuổi cho tới 60 tuổi, cuộc sống của phi tần cung nữ của hoàng đế phong kiến Trung Quốc được ví như “cá chậu, chim lồng” luôn bị bó buộc bởi hàng trăm luật lệ hà khắc, gọi chung là “cung quy”. Khi đã được chọn làm phi tần, tất cả đều phải tham dự vào một cuộc chiến “tranh sủng”, cho dù là được sủng ái hay phải tranh giành để được sủng ái thì cũng đều gam go, ác liệt và nguy hiểm không kém gì chiến trường, thậm chí cũng phải đổi cả tính mạng.

Công việc này sẽ do các thái giám chuyên trách ở phòng Kính sự trực tiếp đảm nhiệm. Mỗi lần, khi một phi tần được lâm hạnh, thái giám tổng quản của phòng Kính sự đều ghi chép cụ thể tỉ mỉ ngày, tháng, năm, giờ giấc và tên phi tần để làm bằng chứng đối chứng trong trường hợp nếu hậu phi đó có được vinh hạnh mang long thai.

Các phi tần, mỹ nữ chỉ được coi là "món đồ chơi" của hoàng đế

Quy trình thị tẩm cũng rất phức tạp. Hoàng thượng sẽ đến hành cung trước. Sau khi lên giường, chăn sẽ được đắp đến đầu gối, để lộ phần chân ra ngoài. Phi tần “hầu hạ” hoàng thượng cũng sẽ bắt đầu từ phần chân lộ ra. Phi tần nào được chọn, trước khi đến hành cung phải khoả thân hoàn toàn. Thái giám phụ trách sẽ quấn nàng ấy vào tấm chăn, sau đó vác đến hành cung.

Sau khi mọi việc xong xuôi, thái giám sẽ hỏi ý kiến hoàng đế. Nếu hoàng thượng nói giữ lại (tức muốn để nàng phi tần đó có cơ hội mang long thai) thì tổng quản sẽ ghi chép chi tiết tên tuổi phi tần, và ngày giờ lâm hạnh. Nếu hoàng thượng không muốn giữ lại, thái giám tổng quản sẽ đi tìm phi tử, bấm vào huyệt vị ở vùng eo bụng cho “long tinh” chảy hết ra ngoài để tránh không mang thai. Nếu biện pháp này vẫn không tránh được việc mang thai thì khi phi tần có thai sẽ phải làm thủ thuật nạo hút. Chính vì thế nếu không được ghi chép vào sổ sách chuyện giường chiếu thì phi tần có cố giữ thai cũng chả có ích gì.

Tất cả các cô gái độ tuổi từ 13 - 18 đều phải tham dự kỳ tuyển tú

Do hậu cung quá nhiều giai nhân nên nhiều khi triệu hạnh cũng là việc khiến hoàng thượng đau đầu. Chính vì thế có nhiều ông hoàng đã nghĩ ra rất nhiều chiêu quái đản để chọn phi tần lâm hạnh. Ví dụ như tung xúc sắc, dùng xe dê, bắn mũi tên... để chọn phi tần. Cho dù có lọt hay không lọt vào mắt hoàng đế, những mỹ nữ này cũng phải ở lại trong cung làm cung nữ cho tới 60 tuổi, rồi sau đó bị tuẫn táng theo vua hoặc xuất gia làm ni cô.



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
Tin tức thế giời mới nhât song ngữ Việt Anh để học sinh ngữ [Đã đọc: 364 lần]
Kiều bào phát triển quê hương [Đã đọc: 359 lần]
Làm Giàu Bằng Đầu Tư Chứng Khoán [Đã đọc: 350 lần]
Siêu đô thị Đà Nẵng mở rộng, siêu đầu tư địa ốc làm giàu [Đã đọc: 343 lần]
Một châu Âu đứng trước ngã ba lịch sử [Đã đọc: 329 lần]
Cách mạng chiếc đòn gánh của phụ nữ VN [Đã đọc: 292 lần]
“NHỮNG NGƯỜI CUỐI CÙNG CÒN GIỮ LẠI CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN”** [Đã đọc: 289 lần]
Làm thế nào đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa từ Trung Cộng [Đã đọc: 284 lần]
Nghệ Thuật Làm Giàu Của Người Việt Hải Ngoại - “The Art of Wealth for Overseas Vietnamese”. [Đã đọc: 283 lần]
Cuba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cuba nghỉ [Đã đọc: 273 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.