Người Việt góp phần chinh phục sao Hỏa
23.11.2015 01:17
Nhân sự kiện một loạt quốc gia gửi xe tự hành lên nghiên cứu sao Hỏa, đài BBC đã phỏng vấn ông Võ Đức Hùng, trưởng nhóm thiết kế chương trình hoa tiêu tự hành của JPL NASA.
 | | Kỹ sư Võ Đức Hùng là trưởng nhóm thiết kế chương trình hoa tiêu tự hành của JPL NASA | | Chính nhóm của ông lo nhiệm vụ thử chiếc xe Spirit rover được NASA gửi lên sao Hỏa.Trong cuộc nói chuyện với BBC, ông cho biết mục tiêu của Hoa Kỳ là tìm xem trên Hỏa Tinh có nước hay không và liệu điều kiện trên hành tinh này có giúp cho việc lập các trạm khai thác của loài người trong tương lai. |
Trước câu hỏi tại sao Hoa Kỳ vẫn muốn nghiên cứu và khai thác Hỏa Tinh trong khi trên Trái Đất vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết như nạn đói nghèo, dịch bệnh rất cần ngân khoản, ông cho rằng ngân quỹ cho nghiên cứu vũ trụ của nước Mỹ không nhiều so với các chi phí khác. Ngoài ra, theo ông thì tại Hoa Kỳ có quan điểm rằng không lẽ cứ phải đợi quyết định xong các vấn đề khác của nhân loại thì mới chinh phục không gia vũ trụ. Theo ông Võ Đức Hùng, thời gian này là thời gian rất tốt để gửi phi thuyền lên Hỏa tinh vì hành tinh này và Trái Đất ở vào vị trí gần nhau nhất trong vòng 60 nghìn năm.  | | Hình chiếc Spirit rover nhìn từ trên xuống | | |
Con mắt người Việt Mô tả chiếc xe tự hành Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ gửi lên trên sao Hỏa, ông Võ Đức Hùng ví nó ‘lớn bằng một chiếc xích-lô, cao ngang bụng người lớn, trên xe có các cần cao bằng tầm mắt người gắn các máy nhìn đường’. Chiếc xe này được thử nghiệm trong phòng chứa đất đá hoặc ngoài sa mạc với địa hình xếp đặt sao cho giống nơi hạ cánh trên Sao Hỏa. Dù Việt Nam là nước không có chương trình chinh phục vũ trụ, nhưng được biết các cơ quan của NASA có một số đông nhân viên người gốc Việt Nam. Ông Võ Đức Hùng cho biết chỉ trong tòa nhà ông làm việc ở California có hơn nhiều chuyên gia và nhân viên kỹ thuật người Việt. Theo ông chỉ trong dịp Tết họp nhau lại có thể có tới hơn 100 đồng hương Việt Nam.
Người Việt Nam đầu tiên trong không gian

Sự kiện diễn ra cách đây 35 năm, - phóng viên Alexei Syunnerberg của đài phát thanh Sputnik viết. – Vào lúc đêm khuya ngày 23 tháng Bảy theo giờ Moskva và rạng sáng ngày 24 ở Hà Nội.Tàu vũ trụ Soyuz-37 của Liên Xô xuất phát bay vào bầu trời. Chỉ huy trưởng con tàu là ông Victor Gorbatko, phi hành gia đã hai lần bay quanh hành tinh chúng ta. Phi công nghiên cứu là tân binh vũ trụ Phạm Tuấn. Trong buổi chuyện trò với tôi trước chuyến bay, ông Phạm Tuấn đã chia sẻ về mơ ước trở thành phi hành gia từ nhỏ, khi ông được biết về chuyến bay của Yuri Gagarin năm 1961. Nhưng những ngày đầu nhập ngũ, thậm chí ông không được tuyển vào phi công vì sức khỏe kém. Người chiến sĩ trẻ đã khắc phục tất cả những trở ngại về thể lực, để không chỉ trở thành một phi công mà còn là anh hùng trên bầu trời quê hương, người lái chiến đấu cơ Nga bắn rơi "pháo đài bay" B-52 của Mỹ bảo vệ Hà Nội. Tại Trung tâm Đào tạo vũ trụ ở ngoại ô Moskva, Phạm Tuân phải đối mặt với những khó khăn lớn hơn. Ông đã bóng bẩy so sánh chương trình đào tạo các chuyến bay với tượng đài Người chinh phục không gian ở Moskva. Đó là một đường cong ban đầu thoai thoải rồi nhanh chóng vươn lên dựng đứng, đưa tên lửa lên cao vút giữa bầu trời. Công tác đào tạo từ ngày này sang ngày khác càng thêm phức tạp, khó khăn. Thành công của người học viên trong huấn luyện chính là nhờ vào lòng quyết tâm của chính mình, nhờ sự giúp đỡ tận tình từ tập thể cán bộ trung tâm, các phi công Nga đã từng bay trong không gian.
Hành trình chinh phục vũ trụ của người Việt thứ 2 bay vào không gian
Trịnh Hữu Châu (Eugene Trinh), nhà vật lý thiên văn, là người tham gia vào chuyến bay STS-50 của NASA. Ông trở thành người Mỹ gốc Việt đầu tiên bay vào vũ trụ vào ngày 25/6/1992. Ông ở ngoài vũ trụ 13 ngày 19 giờ 30 phút.Trịnh Hữu Châu (Eugene Trinh), nhà vật lý thiên văn, là người tham gia vào chuyến bay STS-50 của NASA. Ông trở thành người Mỹ gốc Việt đầu tiên bay vào vũ trụ vào ngày 25/6/1992. Ông ở ngoài vũ trụ 13 ngày 19 giờ 30 phút. Phi hành gia Trịnh Hữu Châu. Ảnh: Wikipedia Eugene Trịnh (tên khai sinh là Trịnh Hữu Châu) sinh ngày 24/09/1950 tại Sài Gòn. Ông là con trai út của kỹ sư công chánh Trịnh Ngọc Sang. Năm 1953, ông cùng với gia đình sang định cư ở Pháp, nơi đây chính là tiền đề phát triển sự nghiệp của chàng kỹ sư tài năng này. Trịnh Hữu Châu học trung học tại Trường Michelet (Paris) và lấy bằng năm 1968. Sau đó, ông sang Mỹ học ngành chế tạo máy và vật lý ứng dụng tại Đại học Columbia, tốt nghiệp năm 1972. Trong hai năm liên tiếp 1974 và 1975, chàng trai Sài Gòn này nhận học bổng và bảo vệ thành công các luận án thạc sĩ khoa học và triết học. Châu tiếp tục học lên tiến sĩ và năm 1977 lấy được bằng vật lý ứng dụng của Đại học Yale lừng danh. Năm 1979, NASA ngắm Eugene như là một tài năng hiếm thấy và ngay lập tức ông được mời vào làm việc tại phòng thí nghiệm về sức đẩy phản lực của NASA. Trong thời gian này, ông kết thúc khóa học sau tiến sĩ và tham gia các hoạt động nghiên cứu của Viện Kỹ thuật California dưới sự hỗ trợ của NASA. Hiện tại, ông đang làm Giám đốc bộ phận khoa học tự nhiên tại trụ sở của NASA ở thủ đô Washington D.C., Mỹ. Hành trình bay vào vũ trụ của Eugene Trịnh Năm 1983, NASA chọn ông để huấn luyện thành chuyên viên sức đẩy làm việc cho phòng thí nghiệm không gian 3 (Spacelab 3) của mình. Ông trở thành người dự khuyết cho chuyên viên sức đẩy nổi tiếng Taylor Wang. Trịnh Hữu Châu thứ 2 từ trái sang cùng phi hành đoàn tàu Columbia STS - 50 Tháng 8/1990, NASA cái tên Eugene Trịnh được điền vào danh sách thành viên nghiên cứu sức đẩy tại phòng thí nghiệm vi trọng lực của tàu con thoi. Ngày 25/06/1992, sau khi hoàn thành hai năm huấn luyện, ông có mặt trong chuyến bay của tàu con thoi Columbia STS – 50 bay lên không gian. Ông ở ngoài vũ trụ 13 ngày 19 giờ 30 phút. Trong một buổi thuyết trình, khi được hỏi là ông đã nhìn thấy gì khi ở trên quỹ đạo, Trịnh Hữu Châu đã trả lời rằng: "Đó là Việt Nam! Tôi đã nhìn thấy quê hương tôi. Nó mới hiền hòa làm sao!". "Tôi nhớ là chúng tôi đã bay vòng quanh thế giới, mất khoảng một tiếng rưỡi, bay nhiều lần ngang vùng Đông nam Á. Và tuy phần lớn đều gặp nhiều mây che phủ, song tôi nhớ đã ba lần chúng tôi bay bên trên Việt Nam, Campuchia và những nước khác trong vùng, nhìn xuống thấy rất rõ ràng. Những lúc ấy làm tôi nghĩ đến liên hệ của mình, đến đất nước quê hương, nơi mình đã xuất thân từ đó. Tôi không phải là người nặng về tình cảm, song luôn luôn có một cái gì, nhất là khi đang bay bên trên, làm ta nhớ đến nguồn gốc của mình." Như vậy, Trịnh Hữu Châu đã trở thành người Mỹ gốc Việt đầu tiên bay vào vũ trụ, đồng thời là người Việt thứ hai bay vào vũ trụ sau khi anh hùng Phạm Tuân làm được điều kỳ diệu tương tự trước đó 12 năm (1980). Ngoài việc đảm trách vai trò là Giám đốc bộ phận khoa học tự nhiên tại tổng hành dinh của NASA, Trinh Hữu Châu còn là giáo sư trợ giảng ngành cơ học tại Đại học Nam California ở Los Angeles. Hoạt động nghiên cứu của anh mở rộng trên các lĩnh vực vật lý truyền âm, động lực chất lỏng, vật liệu học, hệ thống chân không. Từ năm 1972 đến 1979, anh đã thực nghiệm và khảo cứu vật lý về chất Plasma, nhiệt động học và vật lý âm hưởng học. Anh đã thu thập được rất nhiều kiến thức cũng như kinh nghiệm về những hệ thống chân không, sự thoát những chất khí và dụng cụ đo quang phổ, sự chuyển động của âm thanh tại những tần số cao độ, chuyển động của âm thanh và sự tác động qua lại của âm thanh với những chất liệu thuộc sinh vật học và tế bào sống. Nghiên cứu vật lý truyền âm, áp suất truyền bức xạ đã được ứng dụng vào các đề tài điều tra bề mặt trái đất và sự biến đổi thuộc tính của chất lỏng trong điều kiện không trọng lực. Kỹ thuật tần số thấp cũng được anh giới thiệu và ứng dụng cho các chức năng liên kết thu thập dữ liệu quang học trong các thí nghiệm rơi ở trọng lực thấp. Anh là người phát minh ra thiết bị xác định vị trí của các giọt nhỏ trong gas và bong bóng ở trong chất lỏng được thiết kế và vận hành trong điều kiện thiếu trọng lực và các công cụ đo lường vi trọng lực đặt trong máy bay phản lực KC-135 của NASA. Phát triển công nghệ sóng âm trong điều kiện nhiệt độ cao, anh tiến hành các phép đo cường độ âm thanh, phân tích các dữ liệu hình ảnh tự động hóa thu được trong không gian. Hầu hết nghiên cứu của anh đều ứng dụng vào phát triển những kỹ thuật điều khiển chất lỏng không bình chứa cho phòng thí nghiệm và trạm không gian. Tính đến nay, Trịnh Hữu Châu đã có 40 công trình khoa học được công bố trên các tạp chí khoa học lớn của Mỹ và châu Âu: Tạp chí Cơ học chất lỏng, Tạp chí Sóng âm học, Tạp chí Nghiên cứu khoa học ứng dụng, Tạp chí Truyền dẫn nhiệt, Tạp chí Vật lý chất lỏng, Tạp chí Vật lý châu Âu ứng dụng... Anh còn là thành viên của các hiệp hội nghiên cứu không gian như Tổ chức Nghiên cứu Sigma Xi, Hội Cơ học Mỹ, Hội Vật lý Mỹ, Viện Hàng không và vũ trụ Mỹ, Hiệp hội Khám phá không gian. Anh được mời tham dự hàng chục cuộc hội thảo và giảng dạy tại các trường đại học, trung học trên toàn nước Mỹ. Với những đóng góp cho lịch sử chinh phục vũ trụ, NASA đã trao tặng Trịnh Hữu Châu Huy chương Phi hành gia, Huy chương Thành tựu khoa học đặc biệt, và bốn bằng phát minh cùng với các đồng nghiệp (Taylor Wang, D. Ellerman và A. Croonquist). Từ năm 1985 cho tới nay, anh đã nhận được bảy giải thưởng công nghệ của NASA.
Chàng lao công gốc Việt trở thành khoa học gia không gian vũ trụ của MỹTiến sĩ Phạm Đại Khánh.Một thanh niên làm lao công cho các cửa hàng trong những khu mua sắm khi sang Mỹ tỵ nạn trở thành một nhà khoa học không gian vũ trụ của Trung tâm Thí nghiệm Nghiên cứu Không quân Hoa Kỳ sau 25 năm miệt mài vượt khó vươn lên. Đó là câu chuyện thành công của Tiến sĩ Phạm Đại Khánh, cháu nội đích tôn của sử gia nổi tiếng Phạm Văn Sơn và là cháu ngoại của nhà thơ lừng danh một thời Bàng Bá Lân. Đến Mỹ năm 1991 theo diện HO vì bố mẹ là cựu tù nhân chính trị từng làm việc cho chính phủ Mỹ trước năm 1975, chàng thanh niên 19 tuổi quyết tâm theo đuổi ‘giấc mơ Mỹ’, phấn đấu tiến thân bằng con đường học vấn. Ý chí kiên trì và những nỗ lực không ngừng đã mang về cho anh những thành quả đáng nể. Trong số này phải kể tới hàng trăm bài viết nghiên cứu khoa học cùng hàng chục giải thưởng của Không quân Hoa Kỳ như Huy chương Không quân về Thành tựu dân sự, Giải Kỹ sư Không quân Xuất sắc, Bài nghiên cứu Xuất sắc nhất năm. Anh cũng là thành viên phê bình trong các ủy ban luận án Tiến sĩ và Thạc sĩ tại các trường đại học Mỹ, cố vấn nghiên cứu cho các cơ quan khoa học danh tiếng của Mỹ như Cơ quan Phòng thủ Tên lửa, Cơ quan Dự án Nghiên cứu Quốc phòng cao cấp, Hội Kỹ thuật Khoa học Quốc phòng Hoa Kỳ..v..v.. Tạp chí Thanh niên VOA hôm nay mời các bạn cùng gặp gỡ tấm gương thành công Phạm Đại Khánh, niềm tự hào của người Việt hải ngoại.
Bấm vào đây để nghe toàn bộ cuộc phỏng vấnTS. Khánh: Khi tôi đến Mỹ, mọi sự đều bỡ ngỡ về văn hóa, lịch sử, phong tục-tập quán. Khó khăn lớn nhất đối với tôi và cả gia đình là không có đủ khả năng đọc hiểu và nói tiếng Anh. Bản thân tôi phải bắt đầu lại con đường học vấn từ lớp 10. Các khó khăn về kinh tế người tỵ nạn nào cũng phải đương đầu, nhưng mình cũng phải cố gắng. Tôi cùng với em trai mỗi sáng sớm phải đi làm thêm. Sáng sớm, chúng tôi đi dọn dẹp, lau chùi các cửa hàng to trong các khu thương mại lớn. Mình làm 2-3 tiếng/ngày, và đi học cho tới 10 giờ đêm. Lên thạc sĩ, mình được học bổng. Mình biết tiết kiệm nên tiền học bổng cũng đủ trang trải các chi phí như đi lại, xe cộ, bảo hiểm. Trà Mi: Với những cái giá đã trả để có được vị trí hôm nay, nhìn lại, anh nghiệm ra cho mình điều gì? TS. Khánh: Tôi nghĩ mình lúc nào cũng nên luôn làm việc chăm chỉ, không được hài lòng với những gì đạt được, và con đường đó lúc nào cũng đòi hỏi những hy sinh. Chẳng hạn như vì công việc, thời gian của tôi dành cho gia đình đã bị ít đi. Trà Mi: Tư chất ham học, nỗ lực, và sự may mắn chiếm tỷ lệ thế nào trong sự thành công của anh? TS. Khánh: Tinh thần học hỏi và sự nỗ lực, hai tố chất này cộng lại chiếm 90%. Còn lại là do sự may mắn hay do cơ hội chính mình tự tạo nên. Những người tỵ nạn như tôi khi gặp khó khăn mà không biết cách giải quyết vấn đề và đương đầu với khó khăn một cách tích cực thì rất khó khăn. Làm sao để vượt qua và tìm phương hướng tùy thuộc vào bản thân mỗi người kèm theo các yếu tố tác động xung quanh từ gia đình. Trà Mi: Nếu đặt tất cả những bí quyết thành công anh vừa kể vào môi trường ở Việt Nam, anh nghĩ đích đến của mình có giống ngày hôm nay không? TS. Khánh: Chị hỏi một câu rất sát thực tế. Những tố chất về nỗ lực, ham học, sự giúp đỡ của những người xung quanh thì ở trong hay ngoài nước mình đều có được, nhưng môi trường nuôi nấng nghiên cứu và các chính sách hay những khuyến khích từ các cơ quan, hội đồng khoa học rất quan trọng. Có thể trong nước đang dần dần có môi trường này nhiều hơn so với những năm trước, nhưng những điều kiện đó không thể nào bằng được bên Mỹ này. Trà Mi: Có nhiều con đường để thành công, vì sao anh chọn theo đuổi con đường khoa học đầy cam go đòi hỏi rất nhiều kỳ công và chất xám để tiến thân? TS. Khánh: Lĩnh vực khoa học luôn năng động, thay đổi, biến động nên tôi muốn đóng góp một phần nào đó cho hướng đi này. Trà Mi: Thành tựu hôm nay đạt được trên đất Mỹ có ý nghĩa thế nào đối với anh, một người tỵ nạn gốc Việt? TS. Khánh: Tôi vẫn luôn tự hào mình là người Việt Nam và đề ra mục tiêu dài hạn là hỗ trợ các doanh nghiệp nghiên cứu sáng tạo do người Việt đứng đầu hoặc các chuyên gia người Việt ở đây. Trà Mi: Vì sao mục tiêu đó chỉ mới giới hạn ở cộng đồng người Việt ở Mỹ? Anh có bao giờ nghĩ tới mình có thể làm gì để đóng góp, giúp đỡ nơi chôn nhau cắt rốn của mình chăng? TS. Khánh: Câu hỏi này tương đối rất khó. Bất kỳ thể chế nào muốn thu hút nhân tài về giúp nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Nếu đất nước trân trọng sự phát triển về khoa học, thúc đẩy và động viên tinh thần nghiên cứu khoa học thì ai cũng muốn về giúp đỡ cả. Hiện nay, tôi biết vài nhân tài người Việt bên này đang hợp tác với các cơ quan hữu trách ở Việt Nam để nâng cấp giáo dục đại học. Nhân tài người Việt ở nước ngoài đang dần dần trở về hợp tác và giúp đỡ phát triển kinh tế trong nước. Tôi nghĩ nếu môi trường và các điều kiện trong nước thích hợp với các nhân tài bên này và tạo điều kiện cho họ phát triển tài năng và lương bổng gần gần với bên này thì dần dần họ sẽ trở về thôi. Trà Mi: Theo ý kiến của Tiến sĩ, học vấn cao và vị trí lãnh đạo có phải là thước đo chính xác về sự thành công của người trẻ hay không? TS. Khánh: Tôi nghĩ học vấn vẫn là một công cụ nhiều tiềm năng. Về tinh thần lãnh đạo, đối với giới trẻ, nếu mình có vị trí cao trong một cơ quan hay tổ chức nào đó, mình nên truyền đạt tinh thần đóng góp tích cực và tinh thần tự nguyện. Tinh thần lãnh đạo và học vấn, hai điều này phải luôn đi đôi với nhau. Trà Mi: Một lời khuyên cho các bạn trẻ ngưỡng mộ thành quả anh đạt được, anh sẽ nói gì? TS. Khánh: Tôi muốn gửi đến các bạn trẻ một lời khuyên đơn giản thôi, đó là phải luôn luôn làm việc tích cực, ham học và hướng tới. Đây là những bí quyết đã giúp tôi thành công. Và mình cũng không nên quên nguồn gốc gia đình của mình và bản thân mình là ai. Trà Mi: Xin cảm ơn Tiến sĩ Khánh rất nhiều về thời gian dành cho cuộc trao đổi hôm nay.
Người Việt thành danh trong lĩnh vực vật lýCập nhật lúc 16h15' ngày 05/07 < iframe width="160" height="90" frameborder="0" marginwidth="0" marginheight="0" vspace="0" hspace="0" allowtransparency="true" scrolling="no" allowfullscreen="true" id="aswift_0" name="aswift_0" style="border-style: none; border-width: initial; max-width: 100%; left: 0px; position: absolute; top: 0px;">< /iframe> Xin giới thiệu tóm tắt thành công của ba nhà khoa học Việt kiều tiêu biểu ở Mỹ và Australia, những người đã và đang tiếp tục làm rạng danh đất nước Việt Nam trong lĩnh vực vật lý hiện đại.
Vào những năm l970 - 1980, người Việt Nam trong nước tự hào về những công trình tầm cỡ quốc tế của các nhà vật lý Việt Nam như: Nguyễn Văn Hiệu, Đào Vọng Đức, Nguyễn Xuân Hãn, Trịnh Xuân Thuận... Ngày nay, các thế hệ trẻ vẫn đang nối nghiệp cha anh viết tiếp trang sử vẻ vang đó. Võ Đình Tuấn - 30 bằng sáng chế và hàng chục giải thưởng  | TS Võ Đình Tuấn. (Ảnh: ND) |
Năm 17 tuổi, tốt nghiệp trung học ở Việt Nam, Võ Đình Tuấn sang Thụy Sĩ du học và lấy bằng cử nhân vật lý năm 1971. Bốn năm sau, Tuấn bảo vệ thành công luận án tiến sĩ (TS) hóa lý tại Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ (ETH) ở Zurich. Năm 1975, ông sang định cư tại Mỹ. Hai năm sau, ông là nghiên cứu sinh sau tiến sĩ tại ORNL. Với những thành công liên tục trong nghiên cứu khoa học, từ năm 2003, ông là giám đốc Trung tâm Lượng tử ánh sáng của ORNL cho đến khi giữ chức Viện trưởng Viện Lượng tử ánh sáng Fitzpatrick của Mỹ. TS Tuấn là người đi tiên phong trong lĩnh vực lượng tử ánh sáng, ông xây dựng nền tảng cho Viện Fitzpatrick trong các lĩnh vực: Lượng tử ánh sáng sinh học, Công nghệ nanô, Vật liệu quang học và Công nghệ thông tin lượng tử. TS Tuấn còn nghiên cứu cải tiến những công nghệ mới như: bộ phận cảm ứng quang học nanô có khả năng phát hiện những thay đổi phân tử ở cấp độ tế bào; công nghệ mạch điện tử sinh-quang học siêu nhỏ ("chip" sinh-quang học) giúp việc thí nghiệm hóa học trở nên dễ dàng hơn và ít tốn kém hơn; quang học lượng tử giúp cho việc truyền những dữ liệu y khoa cá nhân trở nên an toàn hơn. Sau gần 30 năm hoạt động khoa học, TS Tuấn là tác giả của trên 30 bằng phát minh và sáng chế đang được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực môi trường, sinh học, y học... Ông đã có hơn 330 bài viết được công bố trên các báo và tạp chí. Ông cũng là tác giả của sáu cuốn sách về các đề tài khoa học và là giảng viên tại nhiều trường đại học. TS Tuấn đã đoạt năm giải thưởng nghiên cứu và phát triển (R&D) vào các năm 1981, 1987, 1992, 1994 và 1996. Năm 1988, ông vinh dự được Hiệp hội Quang phổ học ứng dụng trao tặng huy chương vàng; năm 1989, ông là người đoạt giải Languedoc-Rousillon của Pháp; năm 1992, Hiệp hội Câu lạc bộ Sáng chế Mỹ trao tặng ông giải International Hall of Fame. Ông cũng là người hai lần đoạt giải chuyển giao công nghệ của Federal Laboratory Consortium (năm 1986 và 1995). Năm 1996, ông được Câu lạc bộ Sáng chế Mỹ và Hiệp hội Sáng chế Tennessee bình chọn là Nhà phát minh giỏi nhất trong năm; năm 1997, ông được Bộ Năng lượng Mỹ trao giải nghiên cứu công nghệ và môi trường; một năm sau đó, ông lại đoạt giải Thương mại hóa công nghệ... Ôn lại quá trình tạo dựng sự nghiệp của mình, TS Tuấn tâm sự: "Từ khi tôi còn học ở Việt Nam, cha mẹ tôi đã giúp tôi nhận thức rõ về giá trị của sự học và đã khơi dậy trong tôi niềm say mê khoa học. Thời đó, cha tôi thường bảo: "Của cải vật chất có thể mất đi bất cứ lúc nào; chỉ có trí tuệ mới theo con đến suốt cuộc đời thôi". Vì thế, sau khi tốt nghiệp trung học, tôi đã suy nghĩ rất nghiêm túc về bước khởi đầu cho sự nghiệp của mình. Sau khi hoàn tất khóa nghiên cứu sinh về vật lý, tôi đã quyết tâm bảo vệ thành công luận án tiến sĩ và con đường khoa học của tôi đã mở ra từ đó...".Đàm Thanh Sơn - những khám phá vật lý mới Đàm Thanh Sơn sinh năm 1969 tại Hà Nội. Là học sinh chuyên toán Trường ĐH Tổng hợp Hà Nội, mới 15 tuổi, Sơn đã lọt vào đội tuyển quốc gia đi thi Olympic toán quốc tế tại Prague, đoạt huy chương vàng với số điểm tuyệt đối 42/42.
 | | Nhà Vật lý trẻ - Đàm Thanh Sơn (Ảnh: ND) |
Đàm Thanh Sơn được chọn sang Nga học Khoa Lý Trường ĐH Tổng hợp Lomonosov danh tiếng. Hoàn thành luận án TS ở Nga năm 24 tuổi, sau đó, anh được sang thực tập tại ĐH Washington (Mỹ) rồi chuyển sang làm hai năm ở Viện Công nghệ Massatchussets (MIT), rồi tiếp tục thi và được chọn vào làm giảng viên chính thức của ĐH Columbia (1999). Đầu năm 2005, Đàm Thanh Sơn cùng các cộng sự là P. K. Kovtun (ĐH California, Mỹ) và A.O. Starinets (Viện Vật lý lý thuyết Perimeter, Canada) công bố một công trình mới về mô hình lỗ đen lỏng trong không - thời gian 10 chiều trên tạp chí vật lý hàng đầu thế giới Physical Review Letters. Ngay lập tức khám phá mới này gây tiếng vang trong giới bác học chuyên sâu. Các tạp chí thông tin khoa học có ảnh hưởng rộng như New Scientist (tháng 4-2005), Physics Today (tháng 5-2005) đều có bài viết về công trình này, một khám phá lý thuyết mà nếu được thực nghiệm hoàn toàn xác nhận sẽ là một định luật mới phổ quát của vật lý. Tờ Physics World, tờ tập san xuất bản hằng tháng của cộng đồng vật lý quốc tế số tháng 6-2005 đã mời Đàm Thanh Sơn, một nhà vật lý hàng đầu, viết bài Vũ trụ lỏng gặp lý thuyết dây để lý giải vấn đề mới này. Tờ New Scientist đăng bài của Jenny Hogan nhan đề Exotic blackholes spawn New Universal Law (Những lỗ đen ngoại lai dẫn tới quy luật mới phổ quát). Sở dĩ tác giả dùng từ exotic (ngoại lai) là vì đây chưa hẳn là lỗ đen với những thuộc tính đã quan sát được trong thực tại vật lý, mà chỉ là một "lỗ đen" được nhóm Đàm Thanh Sơn mô hình hóa bằng lý thuyết dây (string theory) trong không - thời gian 10 chiều nhằm mô tả một chất lỏng tương tác mạnh, chất lỏng quarkgluon tồn tại trong không - thời gian bốn chiều quen thuộc. Như vậy, "lỗ đen" ở đây chỉ là một công cụ toán học dùng trong tính toán. Sử dụng lý thuyết dây trong không - thời gian 10 chiều, nhóm Đàm Thanh Sơn đã tính toán được rằng vật chất do RHIC tạo ra đúng là một chất lỏng gần như lý tưởng có tỷ số độ nhớt với mật độ entropy là một hằng số liên quan với các hằng số cơ bản trong thế giới lượng tử như hằng số Planck, hằng số Boltzman. Những kết quả mà Đàm Thanh Sơn đạt được ở Mỹ chứng tỏ bộ óc người Việt Nam ta chẳng những có khả năng thấu hiểu những vấn đề tinh tế nhất, phức tạp nhất của khoa học hiện đại, mà còn có thể đạt tới những khám phá cơ bản, độc đáo miễn là được làm việc trong môi trường khoa học tiên tiến. Đàm Thanh Sơn tâm sự: "Dù ở đâu tôi vẫn phấn đấu và phát huy đến cùng sự sáng tạo cho ngành khoa học mà tôi theo đuổi và trái tim sẽ luôn hướng về Việt Nam, nơi đó có bố mẹ, họ hàng, bạn bè và những thầy cô đã dìu dắt tôi những năm tháng phổ thông chuyên toán".Kiều Tiến Dũng - cha đẻ "tính toán lượng tử" Kiều Tiến Dũng sinh năm 1961 tại Sài Gòn. Năm 1980, Kiều Tiến Dũng rời Việt Nam sang định cư và học ở Australia. Năm 1984, sau khi đỗ bằng cử nhân toán - lý xuất sắc tại ĐH Queensland, Kiều Tiến Dũng nhận được học bổng làm luận án tiến sĩ tại ĐH Edinburgh ở Anh. Hoàn thành luận án năm 1988, ông trở thành giáo sư ĐH Edinburgh và ĐH Oxford. Năm 1991, ông trở về làm giáo sư ĐH Melbourne, đồng thời cộng tác nghiên cứu với các đại học danh tiếng nhất của Mỹ như ĐH Princeton, ĐH Columbia, MIT.
Trong một công trình nghiên cứu ứng dụng các nguyên lý của cơ học lượng tử vào khoa học tính toán được gửi tới Viện Nghiên cứu quốc gia Mỹ ở Los Alamos gần đây, GS Kiều Tiến Dũng đã đưa ra một kết luận hết sức quan trọng: "Chúng tôi bác bỏ Luận đề Turing-church bằng cách chỉ ra rằng tồn tại những bài toán không giải được theo nguyên lý Turing, nhưng có thể giải được bằng cách thực hiện những quy trình cơ học lượng tử xác định rõ ràng". Nói cách khác, GS Dũng đã khám phá ra rằng những bài toán không giải được bằng máy tính hiện nay thực ra có thể giải được bằng máy tính lượng tử - máy tính dựa trên nguyên lý mã hóa lượng tử.
Theo Newsfctor, công trình của GS Kiều Tiến Dũng có thể bắn một phát đạn trúng hai đích: bài toán số 10 của David Hilbert và SCTM của Alan Turing. Ông đã có một khám phá có thể làm cho nền toán học và khoa học máy tính của thế kỷ trước vượt qua được giới hạn của chính nó: những bài toán từng được coi là "không giải được" hoặc "không tính được" có thể sẽ giải được bằng cách sử dụng những tính chất bí ẩn của cơ học lượng tử. Công trình này hiện thu hút sự chú ý của nhiều nhà khoa học trên thế giới vì lần đầu tiên nêu lên những nguyên lý của một máy tính lượng tử trong tương lai cho phép giải được những bài toán thuộc loại không giải được (unsolvable) hoặc không tính được (uncomputable) bằng máy tính thông thường.
 | | GS Kiều Tiến Dũng tại Đại học Swinburn (Ảnh: ND) |
Tạp chí New Scientist, một tạp chí tiên phong trong việc giới thiệu những tư tưởng mới trong khoa học, bình luận: đó là một cuộc tấn công táo bạo vào chính những giới hạn của toán học, nhờ đó có thể lấy lại những kho báu mà chúng ta tưởng rằng vĩnh viễn sẽ nằm ở phía bên kia tầm với. Có lẽ phải vài ba chục năm nữa mới có thể ra đời những máy tính lượng tử kỳ lạ đó, nhưng ngay từ bây giờ, GS Kiều Tiến Dũng đã được nhìn nhận như một người bạo gan dám đối mặt với những thách thức thuộc loại tầm cỡ nhất, khó khăn nhất của khoa học tính toán! Tiến sĩ Richard Gomez, giáo sư ĐH George Mason, Mỹ, một chuyên gia có uy tín lớn trong khoa học máy tính hiện nay nhận định: "Tôi đã đọc các công trình của GS Kiều Tiến Dũng và nhận thấy chúng hoàn toàn phù hợp với những khám phá của các nhà nghiên cứu khác trong lĩnh vực tính toán Lượng tử và vật lý lượng tử. Không còn nghi ngờ gì nữa, hiện nay đã có một sự chấp nhận rộng rãi rằng thông tin mang tính chất vật lý. Đơn giản là GS Kiều Tiến Dũng đã biết lợi dụng những quy luật của vật lý lượng tử để đạt tới những kết quả mà trong thế giới của vật lý cổ điển không thể đạt tới được".
Nếu lý thuyết của các nhà khoa học này được thực nghiệm trong tương lai sắp tới xác nhận, thì đây có thể sẽ là những thành tựu sánh ngang với những công trình bất hủ nhất của khoa học tính toán trong thế kỷ 21. Sự đánh giá này sẽ được kiểm nghiệm nhanh hay chậm tùy thuộc vào tốc độ phát triển của công nghệ máy tính lượng tử. GS Kiều Tiến Dũng nguyên là sinh viên năm thứ nhất Trường ĐH Tổng hợp TP Hồ Chí Minh. Niềm đam mê nghiên cứu đã lần lượt đưa ông đến những bậc thang khoa học cao trên thế giới. Ông đã trở thành một nhân tài của nước Australia, nhưng trái tim ông luôn luôn đau đáu hướng về quê hương Việt Nam. Ông thường xuyên về Việt Nam tham gia các buổi hội thảo; đóng góp ý kiến xây dựng các chiến lược về đào tạo con người. Ông tâm sự: "Người Việt đã có rất nhiều thành tích đóng góp trong nhiều lĩnh vực khác nhau cho đất nước nơi mình đang định cư. Tôi lấy làm hãnh diện lây với những thành công của người Việt khắp nơi. Đây là một kho tàng chất xám lớn có cùng mẫu số chung là một dòng máu Việt cần phải được khai thác trực tiếp hay gián tiếp cho sự phồn thịnh của đất nước. Theo tôi Việt Nam có dư khả năng để vươn lên và đuổi kịp các nước khác trong một thời gian tương đối ngắn, vì mình có một nền giáo dục ổn định, hầu như không có người mù chữ, dân số lại trẻ trung, hiếu học. Nhưng đây là một vấn đề phải được giải quyết không những bằng giáo dục, khả năng, kiến thức chuyên môn mà còn phải tùy thuộc nhiều yếu tố khác như là chính sách quốc gia, khả năng điều hành, luật pháp đầu tư, vân vân...".
Để kết thúc bài viết này, tôi xin mượn ý tưởng trong lời tâm sự trên của GS Kiều Tiến Dũng: tất cả các nhà khoa học Việt Nam đang làm việc trong nước hay ở nước ngoài đều là một kho tàng chất xám lớn có cùng mẫu số chung là một dòng máu Việt cần phải được khai thác trực tiếp hay gián tiếp cho sự phồn thịnh của đất nước. TS Ngô Tứ Thành (Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông)Chàng trai Việt chế tạo thành công phi thuyền vào không gianThiết bị bay do Phạm Gia Vinh chế tạo đã bay thành công vào vùng cận vũ trụ ở độ cao 23 km và chuẩn bị thử nghiệm ở độ cao 30 km.
Việc thử nghiệm thành công này, theo tác giả trẻ Phạm Gia Vinh, sẽ mở ra những cơ hội to lớn trong nghiên cứu tầng khí quyển cao, nghiên cứu môi trường, tài nguyên, viễn thông và quốc phòng. Từ đam mê bay tột bậc  | Chàng trai trẻ Phạm Gia Vinh và đam mê chế tạo máy bay không người lái |
Cái tên Phạm Gia Vinh không còn xa lạ trong giới chơi máy bay mô hình ở Việt Nam. Vinh là chủ nhiệm CLB máy bay mô hình phía Bắc với hàng trăm mẫu máy bay được các bạn trẻ rất yêu thích. Tuy nhiên, ít ai biết chàng trai trẻ Phạm Gia Vinh (sinh năm 1983) lại đang là giám đốc Công ty CP Nghiên cứu & Phát triển Đông Giang Việt Nam – một trong số ít công ty chuyên về nghiên cứu và sản xuất máy bay không người lái ở Việt Nam. Tên công ty được lấy từ tên ông ngoại Vinh, Thiếu tướng Võ Đông Giang, nguyên Bộ trưởng - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về Hợp tác & Đầu tư. Nổi tiếng từ khi còn là sinh viên ngành Điện, Điện tử công nghiệp – Điều khiển tự động, Chủ tịch Hội du học sinh Việt Nam tại thành phố Rennes (Pháp), Phạm Gia Vinh vẫn quyết định về Việt Nam để thực hiện ước mơ được tự nghiên cứu và chế tạo máy bay không người lái. Vinh bắt tay phát triển các loại máy bay và khí cụ bay không người lái. Những sản phẩm đầu tiên là máy bay không người lái tự động và bán tự động (M94, M96) phục vụ huấn luyện phòng không. Ý tưởng chế tạo một thiết bị có thể bay được ở trần cao gấp 3 đến 5 lần máy bay thông thường hình thành khoảng cuối tháng 2/2014.  | Phạm Gia Vinh (điều khiển máy tính) và các nhà khoa học Ấn Độ trong lần bay thử nghiệm tại Ấn Độ |
Sau khi trình bày với một khách hàng tiềm năng, họ đã sẵn sàng mở thầu công khai. Công ty Đông Giang của Phạm Gia Vinh đã dành được hợp đồng sản xuất và bay thử mẫu thiết bị bay và hệ thống thu hồi chính xác phục vụ nghiên cứu khoa học. Dù biết rằng thế giới đã có thiết bị tương tự được sử dụng nhiều trong lĩnh vực thử nghiệm, thực nghiệm các thiết bị hàng không và hàng không vũ trụ, Vinh vẫn quyết nghiên cứu cho ra đời thiết bị bay ‘made in Vietnam’ có những điểm khác biệt nổi trội. Điểm khác biệt của khí cụ bay do Đông Giang chế tạo là khả năng thu hồi chính xác thiết bị sau khi hoàn thành thử nghiệm, tránh thất lạc và giảm chi phí tìm kiếm, thu hồi, giữ an toàn cho các thiết bị đo đạc đắt tiền lắp đặt bên trong. Quan sát trái đất từ độ cao 23km Chỉ trong hơn nửa năm, Phạm Gia Vinh cùng các cộng sự của mình đã chế tạo thành công loại khí cụ bay có trọng lượng 600kg, với trần bay từ 30 đến 50km, thời gian bay có thể lên tới một tuần. TS Vũ Quốc Huy, Phó trưởng Bộ môn Kỹ thuật Hàng không & Vũ trụ, Viện Cơ khí Động lực, ĐH Bách khoa Hà Nội cho biết hiện tại, trên thế giới mới chỉ có một số quốc gia sở hữu công nghệ phát triển các khí cụ bay có trần bay trên 30 km như Mỹ, Pháp, Nhật, Tây Ban Nha, Ấn Độ… Nếu Việt Nam có thể sản xuất các thiết bị bay không người lái có trần bay trên 30 km thì sẽ là một bước tiến không nhỏ trong nghiên cứu về khoa học hàng không vũ trụ. Về mặt kinh tế, nếu sản xuất được trong nước, thiết bị này chắc chắn sẽ có giá thành thấp hơn so với sản phẩm cùng loại nhập khẩu. |
Những ngày đầu năm, Vinh âm thầm mang khí cụ đi nước ngoài bay thử. Anh phối hợp với một công ty công nghệ của Singapore, trường đại học và viện nghiên cứu của nước nước này tiến hành chuyến bay thử nghiệm đầu tiên. Ngoài việc bay thử thiết bị, Phạm Gia Vinh còn kết hợp với bệnh viện ở Singapore thí nghiệm trên chuột bạch nhằm kiểm tra biến đổi ở cấp độ tế bào trên môi trường cận vũ trụ (near space) để tiến tới bào chế thuốc. “Trong lần bay thử này, chúng tôi đã kết hợp với trung tâm nghiên cứu của nước bạn để đưa 3 con chuột lên để thí nghiệm trong môi trường cận vũ trụ,” Phạm Gia Vinh nói. Trong lần thử nghiệm đầu tiên, sản phẩm của Vinh đã đạt 80% yêu cầu và được các đối tác và khách hàng đánh giá rất cao. Trong đó, trần bay của thiết bị này đạt được tới 23 km với bán kính bay là 150 km trong 7 tiếng đồng hồ. Phạm Gia Vinh cho biết, độ cao này đã vượt xa tầm hoạt động của các máy bay dân dụng đang có trên thị trường thế giới. “Trong vài tuần tới, chúng tôi sẽ tiếp tục thử tầm bay cao hơn với mục tiêu là vượt qua trần bay 30 km,” vị giám đốc trẻ chia sẻ về dự định mới. Ưu điểm lớn nhất trong sản phẩm của Vinh là việc kiểm soát được vị trí hạ cánh của khoang đổ bộ. Chính điều này đã khiến cho công ty của anh giành chiến thắng ở trong các dự án đấu thầu quốc tế.  | Sản phẩm của Phạm Gia Vinh khả năng thu hồi chính xác thiết bị sau khi hoàn thành thử nghiệm |
Nếu như các sản phẩm cùng loại của một số công ty khác trên thế giới chỉ có thể thu hồi bằng cách sử dụng dù hỗ trợ thì sản phẩm này có thể thu hồi khoang đổ bộ một cách tương đối chính xác. “Chúng tôi có thể điều khiển thiết bị hạ cánh trong phạm vi 50km – 80km với sai số dưới 50m. Vì vậy, khoang đổ bộ hạ xuống đất sẽ không ảnh hưởng tới người, nhà, và các công trình dưới mặt đất, cũng như thu hồi các thiết bị nghiên cứu đắt tiền,” Phạm Gia Vinh giải thích về tính năng mới này. Cơ hội to lớn cho ngành công nghệ vũ trụ Thiết bị bay này, theo Phạm Gia Vinh có thể sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực, từ phục vụ an ninh quốc phòng đến các mục đích dân sự, nghiên cứu khoa học.  | Sản phẩm của Phạm Gia Vinh trưng bày tại Singapore |
Với tầm bay từ 30 đến 50 km, thiết bị này cho phép thực hiện các thí nghiệm y học, môi trường, nghiên cứu khí quyển cao của trái đất. Từ độ cao đó, thiết bị bay có thể gửi dữ liệu, ảnh đa phổ trực tiếp về hiện trường. Các nhà khoa học có thể tìm hiểu nguồn nước, độ phủ xanh của đất, quan sát được mầm bệnh của cây trồng. Khí cụ bay này cũng có thể mang các thiết bị quan sát, nghiên cứu tia vũ trụ và mang các thiết bị nghiên cứu ở môi trường cận vũ trụ. Khí cụ còn có thể kiểm nghiệm các thiết bị vệ tinh (camera, ăng ten, radar v.v.) trước khi tích hợp và đưa ra ngoài không gian. Ở độ cao khoảng 30 km, thiết bị này sẽ giúp các nhà khoa học dễ dàng quan sát, nghiên cứu sự hình thành, đường đi của các cơn bão. Ưu điểm của thiết bị này có thể chuyển dữ liệu về nhanh hơn vệ tinh bằng cách gửi trực tiếp hình ảnh thu thập được về trái đất. Trong lĩnh vực an ninh thông tin, khi vệ tinh hỏng có thể sử dụng khí cụ bay như một trạm thu, phát sóng trong thời gian một tuần để phục vụ sửa chữa. Bên cạnh đó, khí cụ bay có thể làm các hệ thống radar phục vụ cho Quốc phòng và nghiên cứu khoa học.  | Anh Phạm Gia Vinh (bên phải) bên thiết bị của mình tại Singapore |
Ngoài ra, thiết bị bay có thể mang camera để chụp các hình ảnh có độ phân giải cao truyền về trái đất. Một bức ảnh chụp góc rộng có thể phủ diện tích 50 x 50 km, tương đương diện tích của TP.HCM và các tỉnh lân cận. Bức ảnh góc hẹp chụp từ khí cụ bay với độ phân giải cao giúp thể hiện chi tiết dưới 10 cm. “Chụp từ độ cao này có thể quan sát được chiếc giày ai đó bỏ quên ngoài đường,” Phạm Gia Vinh tự tin. Trong lần thử nghiệm vừa qua ở độ cao 23 km, thiết bị bay này đã giúp Vinh có thể nhìn thấy vành cong của Trái Đất, thấy ranh giới giữa phần tối của vũ vụ và vành trái đất sáng. Khi thiết bị được đem trở lại, Vinh đã xem những bức ảnh có độ phân giải cao “đã mắt”. “Trước đây, tôi chỉ được xem những hình ảnh đó qua tivi, hay trên mạng nhưng giờ đây có thể nhìn thấy trực tiếp do chính thiết bị của tôi ghi lại. Hạnh phúc, sung sướng không có lời nào diễn ra được,” Phạm Gia Vinh chia sẻ. Có người nói anh là người Việt Nam thứ hai có thể quan sát trực tiếp được trái đất sau anh hùng Phạm Tuân. Ước mong được sử dụng ở Việt Nam Vị giám đốc trẻ khẳng định, thiết bị này có chi phí rẻ hơn nhiều máy bay và vệ tinh nên rất phù hợp với điều kiện kinh tế của Việt Nam. “Công nghệ này, tôi nghĩ chúng ta cần phải có. Đó cũng là lý do, tôi quyết tâm về nước. Nếu được triển khai trong thực tế thì Việt Nam sẽ là nước đầu tiên ở Đông Nam Á áp dụng công nghệ này”. Vị giám đốc trẻ tài năng cũng bày tỏ mong muốn sẵn sàng hợp tác với các cơ quan chức năng, các tập đoàn công nghệ ở Việt Nam để phát triển các sản phẩm bay phục vụ cho quân sự và dân sinh. (Theo VTC News)Người Việt đầu tiên bay vào không gian là ai? Trong cuộc thi đố vui, ngoài những câu hỏi về văn hóa còn có các câu hỏi về kiến thức. Giáo viên điều khiển chương trình chậm rãi bốc câu hỏi lên đọc: – Theo em, người Việt Nam đầu tiên bay vào không gian là ai? – Re…eeng! Re…eeng! – Mời đội A. – Thưa thầy, đó là Từ Thức lên không gian và đã lạc động Thiên Thai… – Mời đội B. – Thưa thầy, đó là Thánh Gióng cưỡi ngựa bay trước ạ. Tí đứng bên ngoài bổ sung: – Trật lất, đó là chú Cuội đã bay lên cung trăng ngồi ôm gốc đa lâu lắm rồi chứ bộ! Người điều khiển chương trình: – ??? |
|