Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Sáu 2026
T2T3T4T5T6T7CN
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30          
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 6
 Lượt truy cập: 29342968

 
Văn hóa - Giải trí 16.06.2026 00:58
Hồi ký của Justin Trudeau
13.09.2015 18:47

Chu Nguyễn (Thời Báo)

Lãnh tụ Đảng Tự do Liên bang Justin Trudeau vừa cho xuất bản một cuốn dạng hồi ký có tên là Common Ground. Tác phẩm được coi như là một bản tự bạch để chuẩn bị cho cuộc chiến giành vai trò thủ tướng Canada trong đợt tuyển cử như dự trù sẽ mở ra vào năm tới.

LKTD1_25

Trong vòng chưa tới một năm sẽ có cuộc bầu cử liên bang như dự trù vào 19 tháng 10 năm 2015, lãnh tụ Đảng Tự do Justin Trudeau tung ra Common Ground do Harper-Collins xuất bản và bán với giá phải chăng. Ông Justin này, vốn là nhà giáo, quay sang làm chính trị khi Đảng Tự do liên bang cần người lèo lái sau thất bại của các đàn anh như Stephane Dion và Ignatieff. Ông vốn là thiếu gia của một gia đình tăm tiếng trong chính giới Canada. Thân phụ ông là cựu Thủ tướng Pierre Trudeau (1919-2000), một chính khách cầm quyền trong thời gian dài nhất (hai nhiệm kỳ, 1968-79 và 1980-84) và được nhiều người ngưỡng mộ.

Cây cao gió lớn, dĩ nhiên đối thủ cũng tìm ra nhiều kẽ hở moi móc gia đình Trudeau. Justin Trudeau vào chính trường phải có biện pháp đề phòng mũi dùi tấn công nên nhiều người cho rằng Trudeau cho ra Common Ground với mục đích tự nói về mình trước khi phe đối thủ có thể dùng nó để đả kích “đời tư” của mình.
Sau đây là bảy điều mà Trudeau đã hé lộ cho độc giả biết về ông và gia đình ông trong thiên hồi ký tạm gọi là “chuyện đời tôi”.

1- Justin xuất thân từ một danh gia vọng tộc:
Điều nhiều người đã biết, Justin Trudeau, sinh năm 1971, ra đời trong một hoàn cảnh ưu mỹ ở 24 Sussex, nơi cha ông là thủ tướng Canada.
Justin kể lại, ngày ấy, trong tuổi ấu thơ, ông sống nơi quyền quý và an ninh tuyệt đối mà người dân thường ít ai dám mơ ước lọt vào dù chỉ để chiêm ngưỡng. Tuy nhiên, bề ngoài xem ra là nơi “gấm vóc, ngọc ngà” nhưng bên trong cuộc sống tinh thần không phải lúc nào cũng vàng son, Justin Trudeau không giấu giếm việc cha mẹ bất hòa và bà mẹ bị chứng rối loạn tâm trí lưỡng cực (bipolar) và mang lại cuộc hôn nhân sóng gió.
Ở Sussex cũng có những kỷ niệm đẹp in trong đầu óc của cậu bé tóc còn xanh. Justin Trudeau kể lại thuở ấu thơ tình cờ được thấy công nương Diana, công chúa xứ Wales. Ông nhớ lại: “Lúc đó tôi 11 tuổi và đang chơi với bạn là Jeff Gillin ở sân trước 24 Sussex thì bỗng nhiên một chiếc xe hơi đi vào sân, cửa mở, và một phụ nữ lịch thiệp tay cầm sắc bước ra: Bà ta là Diana, công nương xứ Wales. Bà và Hoàng tử Charles thăm viếng Canada, và nghe kể rằng bà tới 24 Sussex để bơi vài vòng cho giãn gân cốt vì nơi này kín cổng cao tường. Lúc đó Jeff mở đôi mắt thao láo và kêu lên nho nhỏ vì vô cùng ngạc nhiên và thích thú: Trời ơi! thực là khó tưởng tượng!”

2- Cuộc hôn nhân nửa đường đứt gánh của song thân:
Trudeau nhìn nhận giai đoạn u buồn (sad times) xảy ra trong tuổi thơ của ông bắt nguồn từ việc cha mẹ chia tay và mẹ ông tỏ ra mỗi ngày tinh thần một suy sụp. Ban đầu Trudeau không muốn nhắc tới việc cha mẹ ly dị nhưng cuối cùng quyết định phải nói ra vì không có chọn lựa nào khác. Ông kể lại: “Tôi làm sao quên sau nhiều lần chứng kiến cảnh đau lòng như có lần bước vào thư viện tại 24 Sussex, thấy mặt mẹ tôi đẫm lệ và nghe bà nói về việc sẽ ra đi trong khi cha tôi đứng nhìn bà, mặt sạm lại”.
Được biết cuộc hôn nhân cửa cựu Thủ tướng Pierre Trudeau (sinh 1919) với Margaret Joan Sinclair (sinh 1948) ban đầu cũng có nhiều dị nghị vì chồng già vợ trẻ, kéo dài cho tới 1984 thì kết thúc. Bà mẹ của Justin là một phụ nữ tài hoa về nhiều mặt, kể cả văn chương, nhưng cuộc sống có phần phóng túng nên không tránh được búa rìu dư luận.

3- Cái chết của người em là Michel Trudeau:
Michel Trudeau, sinh 1975, là người em út của Justin. Khi Michel mất tích trong một tai nạn trượt băng (1998) ở British Columbia, lúc đó Justin đang là một giáo sư ở tỉnh bang này.
Justin Trudeau viết về nỗi ân hận khi nghe tin Michel thiệt mạng trong một tai nạn băng lở khi đang trượt băng ở B.C. Ông kể lại khi nhận được tin này cha ông đã gần như phát điên và suy sụp hẳn, và kể từ bi kịch đó, Pierre Trudeau không còn được như lúc trước nữa, còn mẹ ông phải nếm trải nỗi buồn ghê gớm dai dẳng mãi mãi.
Justin cũng tiết lộ vài năm trước đó có lần Michel nói với mình: “Mấy năm trước khi em tôi chết… lúc đó Michel đang xem cảnh đám ma người châu Á trên truyền hình thì bỗng nói một cách bình thản: Đến lần em thì hãy để em nằm nguyên ở vùng núi em ngã xuống”.
Justin buồn bã kể lại: “Những lời em tôi nói hình như linh cảm trước sự thực tàn nhẫn: Nhân viên cứu hộ không bao giờ tìm thấy xác nó cho tới hôm nay”.

4- Bí mật của cựu Thủ tướng Pierre Trudeau:
Pierre Trudeau không cho người con trai đầu lòng biết là ông bị ung thư tiền liệt tuyến (prostate cancer). Vào mùa xuân 2000, Justin Trudeau đang dạy ở B.C. thì nhận được điện thoại của em trai là Sacha, cho biết cha ông sắp chết. Justin Trudeau trước đó chỉ biết thân phụ mình bị Parkinson’s vì người cha giấu đứa con cả căn bệnh ung thư của mình dù đã bệnh tình đã ở thời kỳ cuối. Cuối tháng Chín năm đó cựu thủ tướng qua đời.
Justin Trudeau nhớ lại lúc đó đã la lên với em trai trong phone: “Trời đất ơi! Sao không cho anh biết trước?” và người em Sacha giải thích rằng , “Đó là lệnh của cha”. Thì ra, “Cha tôi biết tôi sẽ bỏ mọi việc ở Vancouver và trở về Montreal khi nghe tin bệnh trạng của mình!”
Trudeau làm sao quên: “Tôi biết cha tôi rất quan tâm tơi mọi người, nhưng tôi vẫn khó ngăn nỗi bất bình vì không biết sớm người lâm trọng bệnh!”

5- Bà mẹ đã gây cuộc phản đối kỳ thị phái tính (sexism) ở các bệnh viện:
Trudeau tiết lộ chính mẹ ông, bà Margaret, đã gây áp lực khiến các bệnh viện phải cho phép người chồng vào trong phòng hộ sinh khi người vợ lâm bồn.
Justin Trudeau kể lại: “Vào năm 1971, bệnh viện Ottawa Civic Hospital vẫn còn không cho người chồng theo vợ vào phòng hộ sản. Mẹ tôi khi đó sắp sinh tôi, đã nổi giận và tuyên bố nếu người chồng không được phép ở bên cạnh vợ trong bệnh viện thì đến lượt bà, bà sẽ lâm bồn ngay ở 24 Sussex!
Lời phản đối của mẹ tôi tới tai ban giám đốc bệnh viện, họ vội vàng bãi bỏ lệ ngăn cấm cổ lỗ đó, tiếp đó là các bệnh viện khác ở Ottawa rồi ở khắp xứ làm theo”.
Justin vẫn thích nghĩ rằng, “cùng với cha tôi, tôi đã giúp mẹ tôi giáng một đòn nặng vào tư duy phụ hệ lỗi thời” (tư duy này cho rằng người nam tử cao quý không nên vào phòng sản phụ dơ bẩn!)

6- Pierre Trudeau nếu còn sống có đồng ý với con trai là Justin về lập trường phá thai hay không?
Justin Trudeau đã từng bị công kích kịch liệt khi tuyên bố rằng dưới sự lãnh đạo của ông, các dân biểu Đảng Tự do sẽ ủng hộ lập trường bênh vực sự tự do chọn lựa sinh hay không sinh của sản phụ. Ông cho rằng người cha quá cố, vốn là một tín đồ Công giáo kiền thành, chắc hẳn nếu biết chính kiến của con trai, cũng sẽ tán đồng vì lập trường này chính cố thủ tướng đã đặt nặng trong Hiến chương Dân quyền và quyền tự do (Charter of Rights and Freedoms).
Justin nhấn mạnh: “Hiến chương là cách cha tôi nhằm bảo đảm rằng không thể để một nhóm công dân Canada nào dùng chính quyền để hạn chế, một cách không thích hợp, tự do của một nhóm công dân Canada khác. Giá trị mà cha tôi tôn thờ có ý nghĩa chân chính của sự tự do. Giá trị này tôi chia sẻ và cũng tin tưởng sâu sắc vào nó.”
Ông kể tiếp: “Nhờ hiến chương, phụ nữ có quyền tự quyết khả năng kiện khang trong sinh đẻ. Vào mùa xuân 2014, tôi khẳng định lập trường vững chắc bênh vực quyền phụ nữ chọn lựa. Đây là một thay đổi lớn đối với một số đồng nghiệp trong quốc hội của tôi. Tôn chỉ tự do của tôi là nhằm bảo vệ quyền của những ai tin vào điều lương tâm họ phán quyết và đồng thời quyết liệt chống lại việc mang tín điều của người khác áp đặt lên họ.”
Kết quả là, khi dân biểu bỏ phiếu trong Hạ viện, không những họ thực hiện một sự chọn lựa, mà còn muốn thể hiện ý hướng hợp pháp được tất cả dân Canada tin tưởng.”
“Tôi tin rằng nếu cha tôi còn sống tới ngày nay cũng tán thành ý kiến của tôi.”

7- Những bài học nhận được từ các chuyến bay với người cha quá cố:
Trước khi Justin Trudeau ra ứng cử thủ lãnh Đảng Tự do, ông đã mời một số bạn thân tín họp ba ngày chung quanh lửa trại ở Mont Tremblant, Que., và tại đây họ bàn xem liệu Đảng Tự do nên giải thể và sáp nhập vô Đảng NDP hay không hay có thể cứu nguy trước thất bại dưới thời Ignatieff. Trudeau cho biết cách làm việc của ông là kinh nghiệm rút ra từ những chuyến công du ra nước ngoài của cha ông mà có ông đi theo. Ông kể lại: “Phần giá trị nhất của những chuyến đi với cha tôi là cơ hội cho tôi học được cách cha tôi giải quyết vấn đề khó khăn bằng cách nào. Ông thường đưa ra nhiều câu hỏi và khuyến khích người chung quanh ông trả lời. Tất cả những quyết định của cha tôi là kết quả của một quá trình thảo luận của nhiều người và đôi khi mất hàng tuần, hàng tháng.

Kiểu quyết định mà tôi học được từ những chuyến bay 707 đã góp phần nào hình thành cách lãnh đạo của bản thân tôi”.
Có người cho rằng Justin Trudeau đã quá cẩn thận khi “vạch áo cho người xem lưng” để tránh sau này bị công kích.
Thực ra, trước khi ông cho xuất bản “Common Ground”, thì phe tuyên truyền của Đảng Bảo thủ đã từng lên tiếng bài bác nguồn gốc quý tộc của Justin. Họ bảo rằng Justin chỉ là một công tử bột trông cậy vào uy tín của cha nên nuôi ảo vọng trở thành thủ tướng Canada: “Anh chàng này ra đời ở Sussex, nên mong trở về nắm chìa khóa ở Sussex”.
Không thiếu kẻ moi móc đời tư của gia đình Trudeau như hồi tháng 9 vừa qua Ezra Levant của Sun News Network đã làm. Levant nhân một bức hình Justin Trudeau, khách mời của một đám cưới, đã hôn lên má cô dâu trước mặt chú rể để chỉ trích Justin Trudeau sỗ sàng, coi thường phụ nữ và giao tế nhân sự. Từ đó Levant kết luận đó là truyền thống lợi dụng phụ nữ của gia đình Trudeau và rằng Pierre Trudeau, thân phụ Justin, chỉ là một kẻ dâm đãng (slut) và Margaret, thân mẫu Justin, chỉ là một phụ mữ phóng túng.

Thực ra, Justin Trudeau được chú rể và gia đình hai hai họ yêu cầu chụp hình làm kỷ niệm chứ không phải ông đã lợi dụng “cô dâu mới” như Levant chỉ trích.

Justin Trudeau phản đối lối chỉ trích cá nhân nhằm bôi nhọ mình và gia đình mình và quyết tẩy chay Sun News, và công ty truyền thông này sau đó đã ngỏ lời xin lỗi nhưng dư âm và thủ đoạn tuyên truyền trát bùn vào đối thủ vẫn còn đó.

Chu Nguyễn

Thân phụ của Justin Trudeau

Những nhân vật nổi tiếng sinh năm Mùi 1

Pierre Trudeau (18/10/1919 – 28/9/2000) là thủ tướng thứ 15 của Canada trong giai đoạn tháng 4/1968 – 6/1979 và từ tháng 3/1980 – 6/1984. Ông Trudeau là luật sư, nhà hoạt động trước khi bước vào chính trường Quebec. Những năm 1960, ông gia nhập Đảng Tự do Canada và dần có những bước tiến quan trọng trong sự nghiệp chính trị. Ông trở thành Thủ tướng Canada vào ngày 18/10/1919. Với những đóng góp của ông đối với sự phát triển của Canada, Trudeau được các học giả đánh giá là một trong những thủ tướng vĩ đại nhất của Canada. Ảnh: Telegraph


Cố thủ tướng Pierre Trudeau đón nhận 50,000 người tị nạn VN

30 tháng Tư, Chuyện còn nhớ?: Hành Trình Tìm TỰ DO

Nguyên Trần

Kể từ 1 giờ khuya ngày 5 tháng 6 năm 1980 khi chiếc thuyền mong manh bé nhỏ rời vàm Bãi San (Vĩnh Bình), chúng tôi tất cả 74 người vừa người lớn vừa trẻ em đã thực sự là “on our own risk” trên chiếc ghe mang số CLA 1273 nhắm mắt đánh liều cùng số mạng để đánh đổi hai chữ TỰ DO.

Vì đã quá trễ nên chú Trình tài công (định cư tại Toronto) cho ghe phóng hết ga. Mặc dù màn đêm dày đặc nhưng qua ánh sao le lói, tôi vẫn nhận ra ghe lướt nhanh ngang qua Vàm Trà Vinh, Bãi Vàng rồi Bến Đáy với những hàng đáy rộng thênh thang chắn ngay cửa biển trông thật rợn người. Bấy giờ cũng đã 4 giờ sáng. Mãi lo tránh né hàng đáy mà ghe lọt vào vùng cồn cạn nằm giữa cửa biển. Trên một vùng biển rộng bao la mà trông thấy cái cồn cát nổi lúp xúp trên mặt nước rồi sực nhớ có nhiều ghe vượt biên chạy ra tới cửa biển bị vướng cồn để bị hốt thì tôi đã thấy rởn tóc gáy rồi.

Rất may nhờ Trình là dân đánh cá địa phương quen hết địa hình địa vật ở đây nên ra lệnh cho một số thanh niên nhảy xuống biển… cạn rồi cầm những cây sào chèo chống hai bên mạn thuyền cho tới khi ra khỏi vùng chết người này. Tới bây giờ tụi Công An từ đồn Bến Đáy mới phát giác ra chúng tôi liền bắn súng truy kích và dùng ghe máy đuổi theo nhưng ghe quốc doanh của chúng làm sao mà chạy kịp máy 3 bloc đầu bạc của ghe vượt biên nên sau một lúc chúng quay về. Khi chúng tôi ra tới biển thì trời đã rạng sáng và Trình vẫn tiếp tục xả hết tốc lực cho chóng qua khỏi nơi nguy hiểm. Nhìn vào đất liền thoáng hiện xa xa, lòng tôi thấy buồn rưng rưng “Thôi nhé! Vĩnh biệt mẹ Việt Nam! Vĩnh biệt quê hương nơi đã sinh tôi ra và cưu mang tôi trong suốt 38 năm trời và là nơi tôi bỏ lại một bà mẹ yêu thương nghèo khổ gieo neo tảo tần để nuôi tôi lớn khôn và đứa em gái còn ngây thơ khờ dại. Lần đi nầy chắc là ngàn đời vĩnh biệt”.

Trên hải trình, thỉnh thoảng chúng tôi trông thấy những thương thuyền hay tàu chở hàng lớn của Nga và các nước Đông Âu. Họ nhìn ghe chúng tôi một cách lạnh lùng. Tới 6:00 giờ chiều đảo Côn Sơn hiện xa xa trước mắt. Tài công Trình chuyển hướng cho ghe lệch về hướng Bắc để tránh sự quan sát của Việt Cộng. Nhưng sau đó thì chúng cũng nhìn thấy và đuổi theo, Trình tăng hết tốc lực cho ghe chạy thẳng ra hải phận quốc tế bỏ lại đằng sau chiếc ghe Công An Côn Sơn lẹt đẹt và bỏ cuộc. Cố chạy quá xa ra hải phận quốc tế cho chắc ăn nên sáng hôm sau, thứ ba, 3 tháng 6 năm 1980, ghe phải quay về hướng Tây chạy suốt ngày thứ hai của chuyến hải trình cho đến ngày thứ ba mà vẫn không thấy bờ bến gì cả, biển ở độ sâu thăm thẳm nên nước đen ngòm trông thật ghê rợn.

Lúc bấy giờ, tôi mới hơi hoàn hồn một chút để nhìn các bạn đồng hành. Trên ghe, ngoài gia đình chúng tôi, mẹ con chị Hoa (Hartford), mẹ con chị Nghiêm (Nork York), bốn đứa em và cháu chị Phò (Toronto và Edmonton), còn có Sương (Edmonton), gia đình anh Sển chủ tiệm bazaar Hoa Nam (Sydney)… Tất cả là 74 người.

Sau 3 ngày lênh đênh trên biển cả, Trình cho biết ghe đang ở trên hải phận Mã Lai. Lâu lâu chúng tôi thấy có hàng lưới của ngư phủ giăng giữa vùng biển rộng. Ghe tiếp tục băng mình giữa vùng trời nước bao la mịt mùng. Không một tàu ghe nào qua lại, chỉ có độc nhất chiếc ghe vượt biên mong manh nhỏ bé đưa 74 người Việt Nam khốn khổ đến phương trời vô định. Tới 6 giờ chiều ngày thứ tư, 4 tháng 6, chúng tôi thấy từ đàng xa ánh đèn sáng rực cả một vùng biển, tôi đoán chừng đó là giàn khoan dầu (oil rig platform) nên bảo Trình chạy thẳng tới đó cầu cứu. Nhưng Thọ là chú của chủ tàu liền phản đối:
– Không được Trình. Chạy tránh xa đi, đó là tàu hải tặc đó, nó bắt được mình thì chết.

Lẽ dĩ nhiên, Trình phải nghe lời Thọ. Tôi không biết dựa vào suy luận quái đản nào đã khiến Thọ cho rằng vùng ánh sáng chói lòa kia là tàu hải tặc. Thứ nhất là tàu hải tặc cũng chỉ là chiếc tàu hay ghe đánh cá, cho dù nó lớn gấp 3, 4 lần ghe vượt biên thì nó cũng không thể tỏa ánh sáng chói lọi cả một góc trời, vả lại càng hải tặc thì nó càng che bớt ánh sáng để rình bắt con mồi chứ!
Ghe chuyển hướng xa vùng ánh đèn trong nỗi bực mình khó chịu của tôi.

Lúc bấy giờ, bầu trời chiều giăng đầy những đám mây xám xịt, loại mây mà người ta gọi là mây khói đèn báo hiệu cho cơn giông bão dữ dội sắp đến. Mặt biển lúc đó tuy còn êm nhưng mọi người đều nghe tiếng gầm gừ ục ục từ dưới lòng đại dương để chuẩn bị cơn cuồng nộ. Sau nửa đêm, biển bắt đầu động mạnh và những đợt sóng lớn dần lớn dần cho tới sáng ngày thứ năm, 5 tháng 6, chiếc ghe mong manh của chúng tôi thực sự lọt ngay trung tâm bão cấp 5 với những con sóng cao gần bằng nóc nhà. Mọi người đều phải xuống khoang đậy nắp lại, chỉ trừ những thanh niên đứng ở khoang thứ nhất thay phiên nhau tát nước biển đang tràn vào. Riêng tôi lên buồng lái để company và vận động tinh thần tài công Trình. Chiếc ghe nhỏ bé nghiêng ngả tròng trành như cái trứng vịt dưới sự phẫn nộ của đại dương. Biển gào thét, biển hung hăng, biển điên cuồng, biển tàn nhẫn trút từng cột nước khổng lồ như muốn nuốt trửng lấy con thuyền tội nghiệp của chúng tôi. Lúc đó thì mọi người trên ghe ai cầu kinh nấy, niệm Phật, cầu Chúa, vái ông bà vang dội khắp nơi. Tôi cũng luôn miệng đọc kinh Quán Thế Âm Bồ Tát mà quên đi nỗi tức giận Thọ đã quyết định ngu xuẩn trong đêm hôm trước để đưa cả ghe đến chỗ chết hôm nay. Biển cả thực sự chứng tỏ quyền lực vô biên chứ không hiền hòa êm dịu như mấy ngày đầu. Từng đợt sóng thần hung dữ phủ đầu chiếc ghe vượt biên cuốn xô tất cả áo quần nồi niêu xoong chảo và tệ hại hơn hết là lương thực trôi lềnh bềnh trên biển. Ở đời ai cũng có những phút giây quan trọng mà quyết định ảnh hưởng tới nhiều người, tôi đã trải qua những phút giây đó và tôi đã quyết định sai khi đưa vợ con ra thử thách cùng biển cả. Trong nỗi tuyệt vọng tận cùng, tôi bỗng ao ước giá mà bọn Việt Cộng bắt tất cả chúng tôi lúc này thì hạnh phúc biết bao nhiêu. Lúc nguy nan như thế nầy, tôi mới thấy khả năng lái ghe phải nói là siêu việt của tài công Trình. Gần như không nháy mắt, anh cố nhìn sóng biển khổng lồ đang bủa giăng tứ phía. Khi anh thấy nó sắp phủ chụp trước mũi ghe, anh bớt tốc độ lại để con sóng qua trước mắt, ngược lại nếu anh thấy sóng sắp xô tới phía sau ghe thì anh tăng tốc độ để ghe vượt qua khỏi. Có thể nói đây cuộc đấu tranh sinh tử giữa con người và thiên nhiên. Tôi ngồi kế bên thỉnh thoảng đưa vào miệng Trình thỏi sâm Cao Ly để trợ lực anh.

Giữa lúc đó, trên bầu trời xám xịt, một chiếc C47 bay thật thấp trên đầu chiếc ghe tới độ tôi còn thấy chữ US Army. Mấy người ở trên deck trông thấy mừmg rỡ la lên:
– Máy bay Mỹ! Máy bay Mỹ tới cứu chúng ta rồi bà con ơi!
Mọi người trên ghe vùng dậy như được hồi sinh. Đúng là có tin vui giữa giờ tuyệt vọng (tựa bản nhạc của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng).
Chiếc máy bay đảo lượn mấy vòng rồi thả khói màu chung quanh và quăng xuống biển gần chiếc ghe một cái hộp hình chữ nhật màu tro mà do kinh nghiệm làm việc với cố vấn Mỹ ngày xưa, nhìn qua là tôi biết cái transmitter mà phi công muốn chúng tôi nhặt lên dùng để liên lạc với họ để được hướng dẫn việc cấp cứu chúng tôi. Tôi la lớn lên yêu cầu mọi người cố lượm cái hộp đó cho tôi để gọi cầu cứu, nhưng vì sóng quá lớn nên chiếc hộp lần lần dạt ra xa ghe chúng tôi, nhận chìm bao hy vọng cải tử hoàn sinh. Chiếc máy bay lượn thêm mấy vòng nữa nhưng thấy hoàn toàn hopeless nên bay đi mất mang luôn theo sinh lộ của 74 thuyền nhân khốn khổ và như gióng tiếng chuông báo tử đã đến. Nét tuyệt vọng đã hằn rõ lên khuôn mặt mọi người. Cái giá của tự do nó đắc đến thế sao? Nhưng sau đó, có lẽ nhờ lòng thành tâm khấn nguyện Trời Phật linh hiển nên chiếc ghe tị nạn sau thời gian thập thò ở biên giới tử sinh từ cao điểm của cơn bão lúc 10:00 giờ sáng tới 4 giờ chiều thì bão từ từ dịu lại. Mọi người từ dưới khoang được lên sàn ghe để hít thở chút không khí trong lành của biển sau hơn 6 tiếng vật lộn với tử thần. Các con tôi ói mửa đến xanh xao mặt mày, tội nghiệp Sương phải xức dầu và lấy thuốc cho chúng uống trong khi bà xã tôi, chị Hoa, chị Nghiêm nằm sóng soài trên sàn. Riêng tài công Trình thì mặt mày tái mét, anh giao tay lái cho người phụ để ngồi thở dốc. Tôi phải lấy thêm sâm và thuốc hồi sinh (revitalose) cho anh uống. Chiếc ghe vượt biên cứ thả trôi theo sóng nước trong tình trạng lương thực đã khô cạn.

Giữa lúc khốn cùng bi đát thì bỗng có phép mầu hiện đến, phép mầu nầy là cái giàn khoan giữa trùng dương đang khè ánh lửa sáng ngời. Mọi người cùng reo mừng trong khi tài công phụ trao bánh lái cho Trình từ từ cho ghe tiến tới giàn khoan (lần này nếu Thọ mà ngăn cản nữa thì tôi sẽ là người đầu tiên chống lại vì ở đời dịp may nào đến hai lần). Lúc đó là 9:30 tối ngày thứ năm, 5 tháng 6. Khi ghe vừa tới giàn khoan mang hàng chữ “Pulai A” thật lớn, cây cầu thang sắt dẫn xuống mặt biển được kéo lên trên cao tận sàn giàn khoan. Tôi linh cảm đây là điều bất thường, chắc là giàn khoan không muốn tiếp những “người khách không mời mà đến”. Dù biết vậy nhưng đâu còn chọn lựa nào khác, tôi bảo Trình cho ghe cặp sát vào rồi nhờ vài thanh niên bấu chặt các thanh sắt khung giàn khoan để tôi leo lên cầu cứu. Từ mặt biển lên tơi sàn giàn khoan cao hơn 10 mét, thân giàn khoan lại rung rinh vì sóng biển và tôi tuy sức cùng lực tận nhưng với bản năng sinh tồn cũng đã cố leo lên được. Trong lúc bên dưới ghe mọi người, nhất là vợ con tôi, đều nín thở niệm Phật cầu Chúa giùm cho tôi. Một số khác la to lên để tiếp hơi khuyến khích:
– Ráng lên ông Phó ơi! Đừng nhìn xuống biển mà bị chóng mặt. Chút xíu nữa tới rồi.
Khi lên tới nơi, tôi quay lại thì thấy tài công Trình, anh nằm dài trên platform nói không ra hơi:
– Em đuối sức quá rồi ông Phó ơi! Ráng leo lên đây nhờ ông Phó xin mấy ổng cho thuốc khỏe.

Tôi bắt đầu kêu gào:
– Xin các người cứu giúp chúng tôi, những nạn nhân bão tố trên biển cả.
Tôi la lớn như vậy hai lần thì một cánh cửa mở ra với một người Á Châu tay cầm khẩu M18 bước tới chúng tôi, tôi liền mở lời cầu xin giúp đỡ. Anh ta bước vào trong và sau đó trở ra với hai người nữa: một da trắng và một da vàng. Người da vàng lịch sự giới thiệu với tôi rằng người da trắng là kỹ sư trưởng giàn khoan còn ông ta là phụ tá. Tôi bắt đầu trình bày hoàn cảnh thảm thương của chúng tôi để xin giúp đỡ. Sau nghe xong câu chuyện, viên kỹ sư da trắng nghiêm giọng bảo tôi:
– Các anh nói không thể sống với Cộng Sản nên ra đi tìm tự do. Tại sao các anh không ở lại kết họp nhau chống bọn họ mà lại cứ trốn chạy để mong sang Mỹ. Đến lúc nào mà Mỹ bị Cộng Sản xâm lăng thì các anh đi đâu?

Tôi sửng sốt bàng hoàng và bực tức trước lập luận đầy ác cảm với thuyền nhân của anh kỹ sư này, tuy nhiên vì sinh mạng của 74 người trên ghe nên tôi nhỏ nhẹ trả lời:
– Thưa ông! Tôi không leo lên đây để bàn cãi về phương sách chống Cộng, tôi chỉ van xin ông vì lòng nhân đạo cứu giúp 74 người trên ghe mà đa số là đàn bà trẻ con. Chúng tôi vừa may mắn sống sót sau cơn bão lớn ngày hôm nay, bây giờ thì ghe chúng tôi hoàn toàn hết nhiên liệu cũng như lương thực và nước uống. Khẩn cầu các ông mở lòng nhân mà trợ giúp giùm. Tôi xin thay mặt những người trên ghe vô cùng cảm ơn cứu tử của các ông.
Sau đó là cả một khoảng trống yên lặng đáng sợ, lúc bấy giờ một số nhân viên giàn khoan đầy đủ sắc tộc đen trắng vàng cũng kéo ra xem động tịnh. Sau đó vài phút, viên phụ tá da vàng ôn tồn bảo tôi:
– Xin ông vui lòng đợi chúng tôi một chút.

Rồi kéo tay kỹ sư trưởng tới một góc nói chuyện với nhau. Sau một hồi thảo luận, họ trở lại, viên kỹ sư trưởng nói với giọng điệu nhẹ nhàng hơn:
– Chúng tôi rất thông cảm hoàn cảnh của những người trên ghe nên chúng tôi sẽ tiếp tế đầy đủ nhiên liệu, lương thực nước uống cũng như thuốc men. Nhưng rất tiếc là chúng tôi không vớt quý vị được vì đó không nằm trong chính sách giàn khoan. So sorry.
Thấy được vậy là quá tốt rồi và tôi dư biết kết quả này là do lòng từ tâm của vị phụ tá giàn khoan, người mà qua thái độ và giọng nói đã biểu lộ cảm tình đối với đám thuyền nhân chúng tôi. Ân nhân ơi! Dù ở bất cứ phương trời nào, chúng tôi luôn khắc ghi ân nghĩa của ông. Anyway, thì cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới viên kỹ sư trưởng giàn khoan Pulai A của Mã Lai vì cho dù không đồng quan điểm, ông cũng đã ra tay cứu trợ chúng tôi. Sau đó tôi xin họ cho ghe được neo tại một trong những cái phao bằng sắt đặt chung quanh giàn khoan chờ biển yên sẽ tiếp tục cuộc hành trình. Nhưng sau đó Trình nói riêng với tôi là:
– Nói thiệt với ông Phó là tôi không dám lái chiếc ghe này đi đâu hết. Ghe nó mục hết rồi. Nghe Trình nói vậy, tôi thấy nản chí vô cùng. Cũng may là ngày hôm sau có ghe đánh cá Mã Lai cặp tới đề nghị chúng tôi trả họ hai hột xoàn một cho vợ của thuyền trưởng và thuyền phó thì họ sẽ kéo thuyền tới bờ biển Marang gần đó. Sau cơn chết đi sống lại nên cái deal nầy được hầu hết thuyền nhân đồng ý. Cặp bờ Marang, cảnh sát địa phương gọi Hội Trăng Lưỡi Liềm Đỏ Mã Lai (Malaysian Red Cresent Society) –Hồng Thập Tự – tới lập thủ tục đưa chúng tôi tới thị trấn Terengganu để hôm sau đáp tàu Pulau Tierra tới đảo Pulau Bidong.

Tại đồn Cảnh Sát Mã Lai Bidong, anh Huấn trưởng phòng bảo tôi sắp xếp đồng bào trong thuyền rồi trình diện Sam, trưởng đồn Cảnh Sát Mã Lai. Sau đó, Sam đề nghị tôi làm thông dịch viên và phiên dịch viên cho đồn Cảnh Sát mà nhiệm vụ chính là phiên dịch tờ tự khai của các đại diện tàu mới tới, phiên dịch giấy tờ từ Cao ủy và chính quyền Mã Lai, thông dịch phỏng vấn thuyền nhân loại đặc biệt, thưa gởi quỵt tiền vượt biên, nấu rượu lậu, tố giác Việt Cộng trà trộn. Phòng Cảnh Sát Mã Lai lúc bấy giờ có lối 10 thuyền nhân giúp việc gồm đủ các ban: ban tiếp nhận người mới tới, ban hành chánh, ban tiếp liệu, ban an ninh điều tra, ban thông dịch. Ông Hoàng Thanh Thảng đương kim chủ tịch hội Người Việt Toronto cũng làm việc tại đây một thời với tôi. Nhân số thuyền nhân ở Bidong lúc bấy giờ trên 40.000 người nên sinh hoạt thật rộn rịp. Đặc biệt các ca sĩ Lệ Thu, Ngọc Minh, Hùng Cường, Ali Minh, Hoàng Thi Thao thường lên đài phát thanh Bidong hát những bản tình ca người tị nạn như SaiGon ơi vĩnh biệt, Người di tản buồn, Nghìn trùng xa cách, Biển nhớ, Sao không thấy hồi âm… nghe mà đau buồn não nuột cho thân phận người tị nạn.

Gia đình tôi ở đảo Bidong gần 3 tháng thì gặp dịp Canada dưới quyền Thủ tướng Pierre Trudeau đã mở rộng vòng tay nhân đạo nhận người tị nạn với quota 50,000 người. Ngày 20 tháng 9 năm 1980 trên chuyến bay Ward Air chung với ông Hoàng Thanh Thảng chủ tịch hội cao niên Việt Nam Toronto, giáo sư Đặng Sĩ Hỉ, Nguyễn Chí Thành (giáo sư trung học kiểu mẫu Thủ Đức), tài công Bùi Quang Trình… Chúng tôi đến định cư tại Toronto từ năm 1980 tới nay và đã ổn định cuộc sống trong miền “xứ lạnh tình nồng” và “đất lành chim đậu”.

Nơi đây xứ lạnh tình nồng
Yêu thương chất ngất như lòng đại dương
Niềm tri ân nói khôn lường
Tương lai trải rộng con đường thêu hoa

Thank you Canada
It’s a great country to live 

Toronto, mồng một Tết năm Ất Mùi 2015

Nguyên Trần

Những Nhà Lãnh Đạo Có Tầm Ảnh Hưởng Ở Canada

Their Impacts Upon Immigration And Resettlement For Refugees
Their Impacts Upon Immigration And Resettlement For Refugees

Những Đóng Góp Trong Việc Tái Định Cư Di Dân Và Người Tị Nạn

Cho dù có rành rẽ về chính trị hay không, nếu được hỏi ai là người chịu trách nhiệm trong việc chấp nhận chính sách di dân của Canada, câu trả lời của bạn hẳn sẽ là Pierre Trudeau, Thủ Tướng thứ 15 của Canada. Tuy nhiên câu trả lời ấy cũng chỉ đúng một phần. Trong khi Trudeau đã tiên phong mang lại những thay đổi đáng kể trong chính sách của Canada, nhiều nhân vật trước ông đã góp phần mở lối và khuyến khích sự phát triển xã hội đa văn hóa của chúng ta.

Để có thể hiểu rõ hơn về vai trò của những nhà lãnh đạo có tầm ảnh hưởng trong việc đem lại bình đẳng cho người Canada, bất kể nguồn gốc sắc tộc nào, chúng ta hãy quay trở lại năm 1957 khi John George Diefenbaker, thủ tướng thứ 13 của Canada, nhậm chức. Diefenbaker là vị thủ tướng được ghi nhận là người cho ra đời Dự Thảo Luật Về Quyền Công Dân Canada năm 1960. Theo Tự Điển Bách Khoa Về Canada, “Dự thảo luật về quyền công dân năm 1960 là văn kiện luật pháp liên bang đầu tiên bảo vệ nhân quyền và quyền tự do căn bản. Được xem như viên đá đầu tiên của thời kỳ ấy…”

Dự Thảo Luật này bao gồm quyền bình đẳng, tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, quyền có được an ninh và sở hữu tài sản. Từ nhỏ, Diefenbaker đã từng chứng kiến sự kỳ thị đối với người Pháp, Métis và di dân gốc Âu châu. Người ta cho rằng ông đã chịu ảnh hưởng của một đạo luật tương tự – được thông qua tại tỉnh bang Saskatchewan nơi ông cư trú vào năm 1947 – về sự bình đẳng và những quyền tự do căn bản – nhiều tới mức bốn năm trước khi trở thành thủ tướng, ông đã bắt đầu soạn thảo dư luật này. Dự luật đã được áp dụng và cập nhật cho đến khi được thay thế bởi Hiến Chương Của Canada Về Quyền Lợi Và Tự Do năm 1982.

Diefenbaker cũng được ghi nhận là đã bổ nhiệm nữ dân biểu đầu tiên vào nội các năm 1957, bổ nhiệm người gốc thổ dân Da Đỏ đầu tiên năm 1958, và cho người Da Đỏ (First Nations) và Inuit quyền bỏ phiếu. Giải Thưởng John Diefenbaker Cho Công Trình Bảo Vệ Nhân Quyền Và Tự Do được thiết lập ngày 8 tháng Hai, 2012, để tưởng nhớ công ơn của ông.

Người kế vị Diefenbaker trong vai trò thủ tướng thứ 14 của Canada là Lester B. Pearson. Tên của ông đã được dùng để đặt cho phi trường quốc tế Toronto. Pearson có công thiết lập hệ thống di dân không lệ thuộc vào sắc tộc. Năm 1967, ông giới thiệu một hệ thống tính điểm không kỳ thị, dựa trên trình độ học vấn và đào tạo, năng khiếu nghề nghiệp, cũng như khả năng ngôn ngữ, tuổi tác cùng nhu cầu về ngành nghề. Những yếu tố này giúp khuyến khích di dân đến Canada. Năm 1957, Pearson được trao giải Nobel Hòa Bình cho đóng góp của ông trong việc giải quyết khủng hoảng kênh đào Suez tại Liên Hiệp Quốc.

Năm 1978, Joe Clark, vị thủ tướng thứ 16 nắm giữ chức vụ giữa thời kỳ nhiều người Việt đang tìm nơi cư trú sau khi rời bỏ quê hương bị chiến tranh tàn phá. Theo trang mạng của chính phủ Canada, “Để đáp ứng lại việc vận động tích cực của cộng đoàn các giáo hội và những đoàn thể trong lãnh vực thiện nguyện, tháng Bảy 1979, chính phủ thông báo sẽ tiếp nhận 50,000 người tị nạn đến Canada cho đến cuối năm 1980. Quyết định này đã giúp những người tị nạn do tư nhân bảo lãnh, cũng như do chính phủ bảo lãnh. Ban đầu chính phủ thỏa thuận sẽ bảo lãnh một số người tị nạn tương đương với số người mà các cơ sở tư nhân bảo lãnh. Nhờ vào sự đáp ứng rộng rãi của chính phủ thủ tướng Clark, 77,000 người tị nạn Đông Dương đã được nhận vào Canada trong khoảng từ 1975 đến 1981.”

Điều mà thủ tướng thứ 15 của Canada, Pierre Trudeau được ghi công là ông đã là người cổ động cho đường lối đa văn hóa của Canada. Ông bảo đảm quốc gia sẽ luôn yểm trợ những sinh hoạt khuyến khích các nền văn hóa khác duy trì di sản của mình, như các lễ hội, các chương trình dạy ngôn ngữ gốc và các vũ điệu dân tộc qua trợ cấp của chính phủ. Năm 1971, ông cho ra đời chính sách Đa Văn Hóa, quy định “Canada công nhận và tôn trọng một xã hội bao gồm những dị biệt về ngôn ngữ, phong tục, tôn giáo.” Năm 1988, Sắc Luật Đa Văn Hóa trở thành một phần của Hiến Chương Quyền Lợi Và Tự Do Của Canada dưới thời Brian Mulroney, thủ tướng thứ 18 của Canada. Pierre Trudeau là vị thủ tướng đầu tiên bổ nhiệm Bộ Trưởng Bộ Đa Văn Hóa.

Nhờ những nhân vật xuất chúng này trong lịch sử Canada mà người Canada gốc Việt (cùng với những người Canada khác) đã có thể tiếp nhận và thụ hưởng cuộc sống tự do. Một cuộc sống không bị thành kiến, trong một quốc gia không những cho phép mà còn khuyến khích việc bảo tồn những truyền thống và di sản Việt qua lễ lạc, hội hè được cử hành ngoài công chúng như Tết Âm Lịch, Tết Trung Thu. Những hoạt động mà người Việt di dân đều hết sức cảm kích. Canada hãnh diện công nhận chính sách Đa Văn Hóa là nền tảng quốc gia, nhờ công lao của những nhà lãnh đạo trước đây.

10 ridings the Liberals need to win to get out of 3rd place

Liberal leader Justin Trudeau smiles prior to making an announcement in Toronto o­n Wednesday, September 9, 2015.

Jonathan Hayward/The Canadian Press
 A A 

Over the past week, the polls have been kind to the Liberal Party.

TTerry Pedwell, The Canadian Press

Published Sunday, September 20, 2015 10:47AM EDT 
Last Updated Sunday, September 20, 2015 4:12PM EDT

ST. JOHN'S, N.L. -- NDP Leader Tom Mulcair apologized Sunday for referring to Newfoundlanders and Labradorians in a derogatory fashion during a heated exchange in the Quebec legislature nearly two decades ago.

Mulcair was in southeastern Newfoundland, where he dropped a fishing line Sunday morning to catch cod.

But he also caught criticism from a local Liberal candidate for a line he used in 1996 during a debate with a Parti Quebecois opponent over Quebec separation.he seat projections? Not quite as much.


Aalysis by the Laurier Institute for the Study of Public Opinion and Policy (LISPOP) projects the Liberals to win 103 seats, compared to 106 for the Conservatives and 128 for the NDP.
As the federal election campaign passes the halfway point, the Conservatives, NDP, and Liberals are still deadlocked in a three-way race. And while multiple polls now show the Liberals inching ahead of the Conservatives into second place nationally, most experts seem to think it wouldn’t guarantee them the second highest amount of seats.

See the LISPOP map below: 

Click to explore the latest seat projections in your riding

Over the last decade, the Liberals have lost support in suburban o­ntario to the Conservatives, and support in Quebec and Toronto to the NDP. So while their vote is fairly evenly distributed across the country, there are few seats where they’re expected to win by a blowout.

So if the Liberals were to get out of third place this election, where would their wins be?

If you look at the polls, it wouldn’t come from seats in Quebec or rural o­ntario that the party won in the Jean Chretien era.

Instead, it would come from dominating in Canada’s biggest cities—Toronto, Montreal, Vancouver and others—which have become more valuable than ever after the addition of 30 new seats.

Here are 10 seats from coast to coast where a Liberal victory would likely be part of a bigger wave for the party.

1. Cumberland—Colchester

Riding boundaries for the electoral district of Cumberland-Colchester

Elections Canada

2011 result (based o­n current boundaries): 3rd place, 18.4%
Current LISPOP projection: Too close to call

Outside of Cape Breton Island and Scott Brison’s riding of Kings-Hants, it’s been a while since the Liberals were competitive in rural Nova Scotia, but they have their eyes set o­n Cumberland—Colchester, where they finished a distant third in 2011 to CPC MP Scott Armstrong.

The biggest reason for their high hopes? Their candidate, the popular former MP Bill Casey. He served as a Progressive Conservative MP in this area from 1988 to 1993 and again from 1997 to 2003. He was re-elected as a Conservative MP in 2004 and 2006, left the party in 2007—but still won in the 2008 election as independent.

He retired in 2009, and is now attempting a political comeback as a Liberal.

If Casey wins here, it likely means the party swept most of Atlantic Canada, giving them a large buffer when election results come in from the rest of the country.

2. Dorval—Lachine—LaSalle

Riding boundaries for the electoral district of Dorval-Lachine-LaSalle

Elections Canada

2011 result (new seat, but based o­n results in polling stations within the boundaries):2nd place, 29.4%
Current LISPOP projection: Leaning NDP

The Liberals were o­nly able to win seven seats o­n the island of Montreal last election, their worst result in modern Canadian history. Getting out of third place means restoring their historical dominance here, especially o­n the west side of the island, and it comes from wins in ridings like Dorval—Lachine—LaSalle.

Located o­n the south shore, it’s in an area the Liberals had o­nly lost o­nce in the last 50 years prior to 2011. Neither their candidate, lawyer Anju Dhillon, or the NDP incumbent, Isabelle Morin, is particularly high-profile.

If the polls hold, the NDP are expected to hold o­nto a vast majority of their newly-gained seats in Quebec, but Dorval—Lachine—LaSalle is o­ne the Liberals believe they can take.

3. Ville-Marie—Le Sud-Ouest—Île-des-Soeurs

Riding boundaries for the electoral district of Ville-Marie-Le Sud-Ouest-Île-des-Soeurs

Elections Canada

2011 result (based o­n current boundaries): 2nd place, 27.5%
Current LISPOP projection: NDP

Another Montreal riding in an area the Liberals have traditionally dominated, this new riding combines bits of Jeanne-Le Ber, Westmount—Ville-Marie, Laurier—Sainte-Marie and Outremont. There is no incumbent in this riding, which will likely come down to a battle of the lawyers—Allison Turner for the NDP, and Marc Miller for the Liberals.

4. Brampton Centre

Riding boundaries for the electoral district of Brampton Centre

Elections Canada

2011 result (new seat, but based o­n results in polling stations within the boundaries):2nd place, 25.4%
Current LISPOP projection: Too close to call

Between 1993 and 2008, the Liberals won every single seat contested in Brampton. In 2011, they lost all three seats.

Thanks to redistribution, Brampton now has five electoral districts, and the Liberals are optimistic they can win every o­ne. Perhaps their biggest challenge will come in this new riding, where lawyer and immigration consultant Ramesh Sangha goes up against Conservative MP Bal Gosal.

Had this seat existed in the last election, the Conservatives would have taken it by 21 per cent more votes than the Liberals. Simply put, if the Liberals can pull off a victory here, it bodes well for their chances in the rest of Brampton, Mississauga, and scores of other ridings in the “905” belt.

5. Scarborough Southwest

Riding boundaries for the electoral district of Scarborough Southwest

Elections Canada

2011 result (based o­n current boundaries): 3rd place, 29.3%
Current LISPOP projection: Too close to call

Another GTA riding expected to be a close three-way race o­n election night.

Similar to Brampton, the Liberals won every single seat in Scarborough from 1993 to 2008, but came away with just two of five in the 2011 election.

They’re hoping for a sweep of the now-six ridings o­n election day, and perhaps the most hotly-contested of them is Southwest Scarborough.

The biggest wild card? Whether former Toronto Police Chief Bill Blair—perhaps the Liberals’ highest profile new candidate in o­ntario this election—helps or hurts the party in this diverse, working-class riding.

But much like a win in Brampton Centre over Gosal will mean a very good night for the Liberals throughout Brampton and Mississauga, a win in Scarborough Southwest over Harris will mean a good night in Scarborough.

6. Toronto Centre

Riding boundaries for the electoral district of Toronto Centre

Elections Canada

2011 result (based o­n current boundaries): 1st place, 39.4%
Current LISPOP projection: Too close to call

Both the NDP and Liberals will put considerable expenses into taking this prominent riding.

The southern half of Toronto has slowly moved from a Liberal to NDP stronghold in the last decade, but the Liberal party retains considerable strength in the area.

In Toronto Centre, they’re running Bill Morneau, a former chairman of the C.D. Howe Institute. The NDP are countering with Linda McQuaig, a high-profile author and journalist who lost here to Liberal MP Chrystia Freeland in a 2013 byelection.

However, the riding’s boundaries have shrunk and are now much more friendly to the NDP than before—had they been in effect in 2011, the Liberals would have won with 39.7 per cent, followed closely by the NDP with 36.5 per cent.

7. University-Rosedale

Riding boundaries for the electoral district of University-Rosedale

Elections Canada

2011 result (based o­n current boundaries): 2nd place, 30.6%
Current LISPOP projection: Leaning NDP

The other high-profile NDP-Liberal battle in the heart of Toronto is in University-Rosedale. Liberal MP Chrystia Freeland decided to run here rather than Toronto Centre after redistribution. She goes up against the NDP’s Jennifer Hollett, a former  journalist with a Masters in Public Administration from Harvard.

The riding includes both university students in the areas surrounding the University of Toronto, and some of Canada’s wealthiest families in Rosedale.

But between the new boundaries, the Liberals’ improved fortunes in o­ntario (if you believe the polls), and the significant media attention Freeland has received in the last two years, it’s anyone’s guess who should be considered the favourite in University-Rosedale.

8. Calgary Centre

Riding boundaries for the electoral district of Calgary Centre

Elections Canada

2011 result (based o­n current boundaries): 2nd place, 17.5%
Current LISPOP projection: Leaning Conservative

With the NDP’s strength in Quebec and the Conservative’s strength in rural o­ntario, it becomes most imperative for the Liberals to pick up some seats in western Canada, where they won just three ridings in 2011.

Their best chances will come in the centre of large cities. In Calgary Centre, the party is running former provincial MLA Kent Hehr, who was elected by comfortable margins in Calgary-Buffalo in both 2008 and 2011.

He goes up against Conservative MP Joan Crockatt, who eked out a tight 2012 byelection victory over the Liberals and Green Party.

A Liberal hasn’t won in Calgary since 1968, but the demographics of the city’s centre are rapidly changing, and this could be a riding where strategic voting plays a factor.

9. Edmonton Centre

Riding boundaries for the electoral district of Edmonton Centre

Elections Canada

2011 result (based o­n current boundaries): 3rd place, 22.4%
Current LISPOP projection: Leaning NDP

Popular Conservative MP Laurie Hawn is retiring, and all signs point to this being a tight three-way race o­n election day.

Anne McLellan held this riding for the Liberals from 1993 to 2004, and the party would like it back with Randy Boissonnault, a consultant and former journalist.

But it won’t come easy: the NDP dominated in Edmonton in this year’s provincial election, and are running a strong candidate in Gil McGowan, president of the Alberta Federation of Labour. And the Conservatives are running a strong candidate as well in James Cumming, the former President & CEO of the Edmonton Chamber of Commerce.

10. Vancouver Granville

Riding boundaries for the electoral district of Vancouver Granville

Elections Canada

2011 result (new seat, but based o­n results in polling stations within the boundaries):2nd place, 30.1%
Current LISPOP projection: Leaning Liberal

A new riding in the centre of Vancouver, this is a difficult riding to project because of the many diverse neighbourhoods it includes, from the working-class Mt. Pleasant to the wealthy Shaughnessy.

The Liberals have been targeting this seat for some time, nominating former Assembly of First Nations B.C. regional chief Jody Wilson-Raybould last year.

The candidates she is up against are no pushovers: the Conservatives have nominated Erinn Broshko, managing director at Rand Investments, while the NDP have chosen Mira Oreck, director of public engagement at the Broadbent Institute, and someone who has been campaigning with NDP leader Tom Mulcair in high-profile events in Toronto.

But some analysts are projecting over 10 seats for the Liberals in British Columbia, which would be the most they’ve won in this province since 1968. If they’re to do that, they have to win in places like Vancouver-Granville, where they’ve had some traditional strength.


Vietnamese Community of Canada
According to the 2011 census, Canada has 157,450 people who identify as ethnically Vietnamese.[7] The majority of Vietnamese Canadians reside in the provinces of Ontario and Quebec, with some having lived in Quebec before 1975. Vancouver is also another major destination for newly arrived Vietnamese immigrants since 1980, including Vietnamese of Chinese descent, with the city having a large Chinese population.

Mainstream Vietnamese communities began arriving in Canada in the mid-1970s and early 1980s as refugees or boat people following the end of the Vietnam War in 1975, though a couple thousand were already living in Quebec before then, most of whom were students. Most new arrivees were sponsored by groups of individuals, temples, and churches and settled in areas around Southern o­ntarioVancouver, British Columbia, and Montreal, Quebec. Between 1975 to 1985, 110,000 settled in Canada (23,000 in o­ntario; 13,000 in Quebec; 8,000 in Alberta; 7,000 British Columbia; 5,000 in Manitoba; 3,000 in Saskatchewan; and 2,000 in the Maritime provinces). As time passed, most eventually settled in urban centres like Vancouver (2.2% Vietnamese), Calgary (1.6% Vietnamese), Montreal (1.6% Vietnamese),Edmonton (1.6% Vietnamese), Toronto (1.4% Vietnamese), Ottawa (1.0% Vietnamese), and Hamilton (0.8% Vietnamese).[3]

The next wave of Vietnamese migration came in the late 1980s and 1990s as both refugees and immigrant classes of post-war Vietnam entered Canada. These groups settled in urban areas, in particular Toronto, Vancouver, Montreal, and Calgary.

Vietnamese immigrants settled mainly in the East Vancouver and in Montreal's downtown and south shore. In Toronto they have settled in the city's chinatown area near Spadina Avenue and Dundas StreetWest or to the west in Mississauga.

In Canada, local Vietnamese media is dominated by:


(http://www.vnthoibaoedmonton.com - Edmonton magazine

Thoi Bao - Toronto newspaper

Thoi Bao TV - Toronto

Thoi Moi - Toronto newspaper

Little Saigon Canada - Toronto newspaper

Vietnamville - Montreal

Phố Việt Montreal, printed newspaper of Vietnamville.ca

Viethomes Magazine - Toronto Magazine

Culture Magazin - Canadian magazine

In Vancouver, Vietnamese Canadians managed to open a variety of stores and restaurants throughout the city, especially o­n the east side of the city near Chinatown and around Kingsway and Fraser. These areas are home to concentrations of Vietnamese clothing, food stores, and shops. Vietnamese Canadians also brought their cuisine and phở has become a popular food throughout the city. Vietnamese Canadians have also opened up many stores and restaurants in Central City, Surrey, which is a rapidly growing suburb of Metro Vancouver.

In the Toronto area, there are 19 Vietnamese owned supermarkets.

In Montreal there are about 40,000 Vietnamese Canadian population among highest median income and education of Vietnamese Canadians in major cities. There are more than 100 Vietnamese restaurants, hundreds of small size manufacturers of different products from clothing to technology, about 80 pharmacies and hundreds of doctors, dentists, over a thousand scientists, engineers and technicians, about sixty convenient stores and groceries. Since Nov 2006, Mr. Ngo Van Tan has started a daring project to promote and build the first Vietnam Town in Canada called Vietnamville near metro Jean Talon including St-Denis, Jean Talon, St-Hubert and Belanger streets with over 130 businesses already opened in the area. Investment opportunities in Vietnam Town are open to Vietnamese worldwide.

Most feel a sense of belonging to Canada

The Vietnamese Community in Canada  

A growing community

Canadians of Vietnamese ethnic origin1 make up o­ne of the largest non-European ethnic origins in Canada. In 2001, the Vietnamese community was the 5th largest non-European ethnic group in Canada after Chinese, East Indian, Filipino, and Jamaican. That year, just over 150,000 people of Vietnamese origin lived in Canada, representing less than 1% of the total Canadian population.

The Vietnamese community in Canada is growing faster than the overall population. Between 1996 and 2001, for example, the number of people who said they had Vietnamese origins rose by 11%, while the overall population grew by 4%.

The large majority of people of Vietnamese origin reported they o­nly have Vietnamese origins. In 2001, 79% of all those who reported Vietnamese origin said they had o­nly Vietnamese origins, while 21% reported they had other ethnic origins. In contrast, almost 40% of the overall Canadian population has multiple ethnic origins.

The majority are foreign-born

A substantial majority of the Vietnamese population living in Canada was born outside the country. In 2001, over 70% of Canadians of Vietnamese origin were born outside of Canada, compared to18% of the overall population. Among foreign-born Canadians of Vietnamese origin, 93% were born in Vietnam.

The majority of immigrants of Vietnamese origin arrived in Canada during the past twenty years. In 2001, 44% of ethnic Vietnamese immigrants had arrived between 1981 and 1990, while another 31% came to Canada between 1991 and 2001.

Most live in four provinces

Almost all Canadians of Vietnamese origin live in o­ntario, Quebec, British Columbia or Alberta. In fact, in 2001, 96% of all Canadians of Vietnamese origin lived in o­ne of these four provinces. That year, o­ntario was home to 45%, while another 19% lived in Quebec, 18% in British Columbia and 14% in Alberta.

In terms of actual numbers, there were about 67,000 people of Vietnamese origin living in o­ntario in 2001, while there were just over 28,000 in Quebec, 27,000 in British Columbia and 21,000 in Alberta. That year, however, Canadians of Vietnamese origin accounted for less than 1% of the total number of residents of all provinces and territories.

Most live in large metropolitan areas

The majority of Canadians of Vietnamese origin live in o­ne of Canada 's largest metropolitan areas. In 2001, 69% of the Vietnamese community lived in o­ne of Toronto, Montreal, Vancouver or Calgary. Overall, 45,000 people of Vietnamese origin lived in Toronto, while 26,000 lived in Montreal, 23,000 in Vancouver and 12,000 resided in Calgary that year. Canadians of Vietnamese origin made up 1% of the total number of residents in each of Toronto, Calgary and Vancouver, whereas in other Canadian cities, they represented less than 1% of the total population.

A young population

Canadians of Vietnamese origin are somewhat more likely than the overall population to be children or young adults their prime working years. At the same time, they are less likely to be either seniors or approaching retirement age. In 2001, children under the age of 15 represented 25% of the Vietnamese community, versus 19% of the overall population. At the same time, 16% of people of Vietnamese origin, versus 13% of those in the overall population, were aged 15 to 24. Similarly, 38% of the Vietnamese community was aged 25 to 44, compared with 31% of the total Canadian population. In contrast, seniors made up 5% of the Vietnamese community, compared to 12% of all Canadians, while 16% of the Vietnamese community, versus 24% of the overall population, were aged 45 to 64.

Slightly more women than men

As with the overall population, there are slightly more women with Vietnamese origins than men. In 2001, 50.6% of the Vietnamese community, compared with 50.9% of the overall population, were female. Like their counterparts in the overall population, women over the age of 65 make up a substantial majority of seniors of Vietnamese origin. In 2001, 59% of people aged 65 and over of Vietnamese origin were women. In the over­all population, women made up 56% of seniors.

Close to half are Buddhist

Almost half of Canadians of Vietnamese origin report that they are Buddhists. In 2001, 48% of people with Vietnamese origin said they were Buddhist, while 22% said they were Catholic and 5% said they belonged to either a mainline Protestant denomination or another Christian group. At the same time, a relatively large proportion of people of Vietnamese origin, 24%, said they had no religious affiliation, compared with 17% of the overall population.

Most can converse in an official language

The large majority of Canadians of Vietnamese origin can converse in o­ne of Canada 's official languages.2 In 2001, 88% of Canadians of Vietnamese origin could carry o­n a conversation in at least o­ne official language, while 12% could not speak English or French. Most, 68%, could converse in English o­nly and another 6% could carry o­n a conversation in French o­nly, while 14% could converse in both English and French.

While most Canadians of Vietnamese origin can speak at least o­ne official language, the large majority have a mother tongue3 other than English or French. In 2001, 81% of people who reported Vietnamese origin said that their mother tongue was a non-official language, while 4% reported that their mother tongue was English and 5% reported that it was French. Vietnamese was reported as the mother tongue of 75% of the Vietnamese community, while 8% said their mother tongue was a Chinese dialect.

The majority of Canadians of Vietnamese origin also speak a language other than English or French at home. In 2001, 67% said that they spoke o­nly a non-official language in their home, while 6% said they spoke a non-official language in combination with English or French.

As well, over o­ne in 10 Canadians of Vietnamese origin who are employed speak a language other than English or French o­n the job. In 2001, 8% of Canadians of Vietnamese origin with jobs spoke a non-official language most often at work, while another 3% regularly used a non-official language in combination with English or French. At the same time, 76% spoke o­nly English at work, while another 13% spoke either French o­nly or both English and French.

Family status

Canadians of Vietnamese origin are about as likely as other Canadians to be married. In 2001, 48% of people aged 15 and over in the Vietnamese community were married, compared with 50% of the overall adult Canadian population. In contrast, adults of Vietnamese origin are less likely than other Canadian adults to live in a common-law relationship. In 2001, just 5% were living common-law, compared with 10% of all Canadian adults.Canadians of Vietnamese origin feel a strong sense of belonging to Canada. In 2002, 65% of those who reported Vietnamese origin said they had a strong sense of belonging to Canada. At the same time, 43% said that they had a strong sense of belonging to their ethnic or cultural group.

Canadians of Vietnamese origin are also active in Canadian society. For example, 57% of those who were eligible to vote reported doing so in the 2000 federal election, while 51% said they voted in the last provincial election. In 2002, about 34% reported that they had participated in an organization such as a sports team or community association in the 12 months preceding the survey.

At the same time, o­ne in three (33%) Canadians of Vietnamese origin reported that they had experienced discrimination or unfair treatment based o­n their ethnicity, race, religion, language or accent in the past five years, or since they arrived in Canada. A majority of those who had experienced discrimination said that they felt it was based o­n their race or skin colour, while a substantial proportion said that the discrimination took place at work or when applying for a job or promotion.

Pollsters fear dubious NDP poll o­n Trudeau hurts credibility of their industry

From left to right, Liberal Leader Justin Trudeau, NDP Leader Tom Mulcair and Conservative Leader Stephen Harper are introduced prior to the Globe and Mail leaders' debate in Calgary o­n Thursday, September 17, 2015.

THE CANADIAN PRESS/Sean Kilpatrick
 A A 

OTTAWA – A dubious poll purporting to show Justin Trudeau trailing in his own Montreal riding has set off alarm bells in an industry already struggling to regain credibility after some spectacular failures to gauge election outcomes.

The poll of voters in Papineau, conducted by CROP and commissioned by the NDP, suggested the Liberal leader was running 11 points behind New Democrat Anne Lagace Dowson.

It was strategically leaked to some media outlets Thursday a few hours before Trudeau was to face off against NDP Leader Tom Mulcair and Conservative Leader Stephen Harper in a crucial debate o­n the economy – an event with the potential to determine the outcome of the Oct. 19 federal election.

READ MORE: Highlights from the leaders debate o­n the economy

The immediate objective was clear: to rattle the Liberal leader and put him off his game.

But it also had a longer range goal: to break the three-way logjam in voting intentions by persuading Canadians not to waste their votes o­n a party whose leader can’t even win his own seat.

The Liberals immediately charged that the poll had over-sampled NDP supporters and under-sampled Liberal supporters. And five reputable pollsters who examined the methodology at the request of The Canadian Press agreed that the survey did indeed seem flawed in a number of ways, skewing the results.

Another survey, conducted by Mainstreet Research for Postmedia and involving a sample more than twice the size of the CROP poll, was released the next day with markedly different results, suggesting Trudeau was running five points ahead of Lagace Dowson.

REALITY CHECK: How ‘truthy’ were Trudeau, Harper, Mulcair in the Globe and Mail Leaders Debate?

As part of its survey, CROP asked respondents how they voted in the 2011 election: 32 per cent said NDP, just 14 per cent said Liberal – a far cry from the vote share each party actually scored last time, 28 and 38 per cent respectively.

Some deviation can be expected; people forget or lie about how they voted. But such a big discrepancy should have raised “huge questions” about how representative the survey sample truly was, said Christian Bourque, executive vice-president of Leger Marketing.

But even had CROP’s methodology been beyond doubt, Bourque is disturbed by the idea of a pollster’s research being used “a bit like guerilla polling” by a political party to destroy an opponent’s prospects.

“To me it does look like or sound like survey bombing, much like photo bombing,” Bourque said in an interview.

“And as an industry leader, I don’t find it’s a direction that we want to go in collectively as an industry … I find that a source of worry and concern.”

The Papineau poll flap is a cautionary tale for so-called progressive voters who are being urged by various groups to vote strategically for the opposition party best positioned to defeat Harper’s Conservatives. National poll numbers tell voters nothing about the dynamic in individual ridings and riding polls aimed at helping them make a more educated decision can be badly flawed or misleading.

Guidelines established by the industry’s voluntary professional watchdog, the Marketing Research and Intelligence Association, caution polling firms against marketing a product under the guise of market research, Bourque noted. Conducting a poll for a party to advance its own political interests treads too close to the line for Bourque’s comfort and “does not do our industry any good.”

CROP vice-president Youri Rivest did not respond to a request for comment.

Mainstreet is not doing any partisan polling during this election but has done some polling in the past for municipal campaign candidates. Mainstreet president Quito Maggi said his firm would never allow a client to leak survey results to score political points.

“In fact, my contract with Postmedia, they can’t publish a poll if I say they can’t publish a poll. It doesn’t matter how newsworthy it might be, if I don’t feel it’s responsible, they can’t publish it,” Maggi said.

WATCH: Mulcair hammers Trudeau over his stance o­n deficits

Among other things, Maggi said he wouldn’t allow publication of a riding poll that surveyed fewer than 600 respondents or that had a margin of error greater than four percentage points, 19 times in 20. The CROP poll surveyed 375 Papineau voters and had a margin of error of over five points.

Maggi suggested that CROP may not have known the NDP would leak its poll. However, the NDP leaked another CROP riding survey a couple weeks earlier, which suggested Bloc Quebecois Leader Gilles Duceppe was running a whopping 37 points behind the NDP incumbent in his old Montreal riding of Laurier-Sainte-Marie.

The controversy comes just as the polling industry is attempting to salvage its reputation with the creation of the new Canadian Association for Public Opinion Research, aimed at enhancing the quality of polling. It’s founding chairman, Ipsos Public Affairs head Darrell Bricker, has in the past railed against shoddy polls peddled to credulous news outlets and reported to the voting public as gospel.

“All of this MUST stop,” Bricker and Ipsos partner John Wright wrote in a 2011 open letter that bears re-reading today.

“We are distorting our democracy, confusing voters, and destroying what should be a source of truth in election campaigns – the unbiased, truly scientific public opinion poll.”

© The Canadian Press, 2015

4O YEARS OF VIETNAMESE CANADIAN COMMUNITY IN TORONTO

BỐN MƯƠI NĂM NHÌN LẠI (1975-2015): CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT VÙNG TORONTO AN CƯ LẠC NGHIỆP.

Một buổi tối trời lạnh căm căm (-200C) tại Toronto tôi nhận được bài viết “Kiếp Người” viết vào Tháng Hai, 2015 do tác giả Hồ Sĩ Đình gửi cho tôi.

Kiep Nguoi - cam trai -- 48403899.NEW_TraiheSVVNTôi biết tác giả là ai: một cựu sinh viên ngành Điện của trường Centennial College, nơi mà tôi đã dạy 32 năm trước khi về hưu. Trong đêm khuya tại căn phòng ấm cúng, người viết nằm dài trên sofa để thong thả mà đọc. Bị bài viết lôi cuốn, tôi đọc một lèo hết luôn vì bối cảnh của bài viết rất là quen thuộc và thân thương với cuộc đời đi dậy của người viết. Còn thân thương hơn nữa: bài viết đã đưa tôi trở về với những năm tháng tôi mà đã làm việc cùng với các cựu sinh viên Việt Nam tại Centennial College cũng như góp phần vào những sinh hoạt giáo dục liên quan đến cộng đồng người Việt và các cộng đồng sắc tộc khác tại vùng Đại Đô Thị Toronto (GTA) nữa. Một chút gì để nhớ, một chút gì để thương và nhất là để mà hãnh diện cho sự trưởng thành lớn mạnh của Cộng Đồng người Việt tại GTA nữa.

Người viết đã trải qua biết bao nhiêu kỷ niệm vui buồn trong những tháng Tư, nhất là tháng Tư năm 1975.

Câu chuyện dưới đây xin được bắt đầu vào tháng Tư năm 1975.

MỘT

Đầu tháng tư 1975, ông Tom Gould (có vợ Việt Nam) báo tin cho cộng đồng Việt Nam vùng Toronto chúng tôi (có chừng 50 người mà thôi) nên tổ chức một cuộc họp báo để yêu cầu chính phủ Canada cho phép chúng tôi bảo lãnh thân nhân của chúng tôi (cha me, anh chị em và gia đình) từ Việt Nam sang Canada trước khi CSVN tiến quân vào đến Saigon. Ông đã mau mắn giúp chúng tôi trong vụ bảo lãnh này vì lúc đó ông đang làm việc cho đài truyền hình CTV dưới chức vụ Vice President, News.

Thủ Tướng Pierre Trudeau đã chấp thuận rất nhanh chóng và các “thành viên của cộng đồng lèo tèo” đã được ông Bộ Trưởng Bộ Di Trú Robert Andras mời đến văn phòng Bộ Di Trú làm thủ tục bảo lãnh ngay sau đó.

Trong khi chờ đợi tin tức gia đình tại Việt Nam, thành phố Toronto của chúng tôi tự nhiên xuất hiên 57 trẻ em mồ côi Việt Nam đến Toronto bằng máy bay! Cháu lớn nhất khoảng 3 tuổi đời trần gian. Nhân viên nhà thương phải nhờ “cộng đồng lèo tèo” giúp họ về cách nấu ăn đồ Việt Nam cho các cháu và nhất là đến nói chuyện với các cháu bằng tiếng Việt vì chúng đâu đã biết tiếng Anh.

Sau ngày 30/04/75, chúng tôi hoàn toàn mất liên lạc với gia đình ở Việt Nam. Tuy nhiên cộng đồng lèo tèo cũng có cái “may mắn”: một vài người đã nhận được những “cú phôn collect” từ Phi Luật Tân hay “camp Pendleton” báo tin cho biết người nhà đã thoát ra khỏi được Việt Nam. Chúng tôi bắt đầu phải làm việc thực sự: làm sao đón được gia đình từ trại Pendleton, Ankansas… sang Canada, để rồi bận rộn ra phi trường đón thân nhân và kiếm nhà, kiếm việc làm cho người mới tới. Cộng đồng chúng tôi đã còn ra phi trường đón nhận đồng bào mới đến mà không có thân quyến ở nơi xứ lạ quê người này nữa.

Thế là cộng đồng lèo tèo Toronto nay đã có thêm nhân lực từ những đồng bào mới tới. Để quên đi những nỗi buồn xa xứ, cộng đồng người Việt lưu vong tại Toronto còn tổ chức ăn mừng Tết ta năm 1976 trong vòng có 5 tuần lễ để sửa soạn, giống như “thầy bói dọn cưới” vậy. Xin quý vị vào đọc bài của KS NP Phúc trong link dưới đây:

https://damtrungphan.wordpress.com/2015/04/08/40-nam-nhin-lai-cong-dong-nguoi-viet-toronto-lon-manh/

Có thể nói trong đợt di tản này (1975-1980), cộng đồng đón nhận khá nhiều người đã có ngành nghề tại Việt Nam như: Bác sĩ, Dược sĩ, Giáo sư… và con cái của họ vẫn còn đang ở tuổi đi học. Hầu hết lúc đó các chính phủ tỉnh bang của Canada chưa có chương trình nào để  giúp đỡ người Việt tị nạn tại Canada. Đời sống của người tị nạn khá chật vật vì chưa có gì được ổn định trong bước đầu của cuộc sống lưu vong.

Người viết bài này, do sự giới thiệu của văn phòng đón tiếp người tị nạn tại 8 York Street, Toronto, đã thường có dịp nói chuyện trên điện thoại với những người mới tới. Câu hỏi thường xuyên: làm sao trở lại ngành nghề, đi học Anh Văn ở đâu, làm sao đi học lại và học ngành gì để mau ra trường, kiếm việc làm để nuôi gia đình….

HAI

Năm 1977, lần đầu tiên tôi gặp một sinh viên Việt Nam duy nhất tại Centennial College khi em đến thăm tôi tại văn phòng. Em qua đây một mình, vừa đi làm vừa đi học ngành Cơ khí.

Năm 1980, sau khi biến cố “Thuyền Nhân” bắt đầu, hàng ngày tôi nhận khá nhiều cú phôn của đồng bào “Thuyền Nhân”: làm sao đi học lại tại các trường Cao Đẳng (Colleges) hay Đại Học (Universities), có chương trình huấn nghệ nào không, làm sao kiếm ngay được công việc chuyên môn …

KIep Nguoi 2- chuyen gia - cent--m48274399.VNseSutdentsClub_ParentsAssociation_ProfessionalsSocietyNhân viên phòng Thu Nhận Sinh Viên (Admissions Office) của Centennial College cho tôi biết một tin vui: tất cả các Community Colleges của tỉnh bang o­ntario sẵn sàng thâu nhận “mature students” (có nghĩa là cho những ai đã trên 21 tuổi mà không có bằng trung học của tỉnh bang o­ntario) với điều kiện người đó phải thi đậu môn Toán và Anh văn của trường. Mẩu tin này làm tôi thích thú và tôi bắt đầu đi tìm phương tiện để giúp đồng bào thuyền nhân đi học lại tại Colleges.

Là một Giáo sư của trường Công chánh (Department of Civil Engineering Technology), chuyên dậy những môn về Công chánh khô khan, phải làm thực tập trong các phòng thí nghiệm và nói nhiều hơn là làm toán. Tôi cũng còn phải dậy một vài môn “common subjects” nữa (môn học chung cho các ngành khác nhau như Cơ Khí, Điện, Kiến Trúc…)

Năm 1982, nhân dịp trường Toán đang cần một Giáo sư dậy Toán 4 tiếng một tuần trong phân khoa Kỹ Thuật, tôi xung phong ngay lập tức để được “cross appointed” (“nhẩy rào” để dậy môn Toán năm Thứ Nhất, trong khi đó vẫn còn dậy 3 môn Công chánh khác). Đây là cơ hội để tôi tìm hiểu xem sinh viên học những gì trong môn Toán MM101 của năm thứ nhất tại College.

Kết quả tốt đẹp không thể ngờ được: không những tôi đã làm quen được với 2 môn Toán MM101 và MM102 cho năm thứ Nhất và năm thứ Hai của phân khoa Kỹ Thuật mà tôi còn làm quen được hết tất cả các Giáo Sư trường Toán nữa. Nhờ vậy mà tôi đã xin được rất nhiều các sách giáo khoa về Toán (Math text books) mà các đồng sự trường Toán không dùng đến nữa. Mỗi lần có ai nói chuyện với tôi qua điện thoại, tôi hứa sẽ biếu cho họ một cuốn sách Toán để họ tự học lại vừa để biết thêm phần Anh ngữ trong môn Toán, vừa để ôn lại những gì mà họ đã từng học ở Việt Nam.

Năm 1983, con trai đầu lòng của chúng tôi bị xe tông, lúc đó cu cậu mới 11 tuổi. Một tay, một chân bị bó bột và phải ở lại trong nhà thương ba tháng trời. Trưa nào rảnh, tôi đều mang sách Toán vào trong nhà thương khi đi thăm con. Nếu anh chàng chơi “game”, ông bố ngồi coi sách Toán để sửa soạn phần “lecture notes” cho môn Toán MM102. Tôi đâm ra “mê dậy Toán” hơn mấy môn Công Chánh khô khan vừa phải nói mỏi miệng, vừa phải nhọc công soạn bài tốn nhiều thì giờ!

Một cái “bí kíp” thú vị “chăm phần chăm”: các đồng sự “đàn anh” (my senior colleagues) trong ngành Công chánh thường hay “xí” hết các môn “dễ nhằn” nên chàng “Giáo Út” nhà ta phải “chạy sang làng Toán” để mà “kiếm chỗ dung thân, rung đùi”. Tôi không hề cho các “tiền bối” biết niềm vui mới có của “Giáo Út” nhà ta: bớt phải soạn bài các môn “descriptive Civil subjects” đến mờ cả mắt, không phải nói sùi bọt mép như trong lớp học của  làng Công chánh mà lại còn ít phải chấm bài nữa! Sướng nhất là không phải viết các đề thi vì “Giáo Út” nhà ta chỉ là một “giáo sư khách” (cross appointed professor) của “làng Toán” mà thôi! Ui chao là hạnh phúc trong “thiên đàng làng Toán”! “Có những niềm vui, mồm không dám nói” vì sợ bị các bậc  đàn anh “xí phần”, bây giờ mới dám “hé môi”… cười hi hi một mình trong đêm khuya!!

Không những tôi đã có được “chỗ dung thân an nhàn” mà còn thích thú vì biết thêm được  hai môn Toán trong ngành Kỹ Thuật để sẵn sàng chỉ dẫn cho những “mature students” gốc Việt và các sắc dân khác trong trường nữa.

BA

Một hôm trời đang đổ tuyêt vào tháng Giêng năm 1985, một anh sinh viên lớn tuổi tên là NV đến văn phòng tôi nhờ tôi “booked” dùm phòng ăn của Giáo sư và Nhân viên nhà trường vào tuần sau đó để các anh-chị-em sinh viên Việt Nam tại Centennial College “ăn Tết” với nhau. Anh NV thực sự là một “mature student”: anh cỡ tuổi tôi, đã là một sĩ quan trong quân lực VNCH, đã từng đi cải tạo rồi vượt biên và vào College theo dạng “mature students”.

Tôi báo tin cho anh NV biết là tôi muốn mời bà Margareth K., Khoa Trưởng của phân khoa Kỹ Thuật (Dean, School of Engineering Technology) của chúng tôi tới chung vui với anh chị em sinh viên Việt Nam. Điều này sẽ rất có lợi cho các anh chị em nếu họ gặp trở ngại với các giáo sư hay nhân viên nhà trường .

Bà Margareth K. hoan hỉ nhận lời mời vì bà là người Canada gốc Hung Gia Lợi và cảm thấy gần gũi với người Việt Nam tị nạn Cộng sản. Năm 1956, trong lúc dân Hung Gia Lợi vùng lên chống lại Cộng Sản tại Budapest, bà cùng gia đình đã may mắn trốn thoát khỏi chế độ độc tài, khát máu của chính quyền Cộng Sản Hung Gia Lợi. Rồi bà và gia đình đã may mắn chọn Canada làm quê hương thứ hai của họ. Bà tốt nghiệp ngành Kỹ sư Công Chánh tại Đại Học Toronto rồi sau khi ra trường đã hành nghề Kỹ sư chuyên nghiệp (Professional Engineer) trước khi trở thành Giáo sư trong “Civil Engineeing Technology Department” cùng với người viết. Bà đã học ngành Kiến trúc được hai năm trước khi đổi sang ngành Công chánh tại Đại học Toronto. Vì lẽ đó, bà đã xin đã đổi sang “Architectural Technology Department” để dậy môn “Structures” (môn Công chánh) trước khi bà trở thành Khoa Trưởng của Phân khoa Kỹ Thuật.

Bà lớn hơn tôi vài tuổi, ngoài công việc nhà trường bà và tôi thường hay nói chuyện với nhau về cuộc đời của người di dân, người tị nạn CS với nhau. Bà rất hoan hỉ khi gặp các anh chị em sinh viên Việt Nam trong phân khoa kỹ thuật của chúng tôi (gồm có các ngành như: Điện, Cơ khí, Hóa học, Sinh vật Học, Công chánh, Robotics). Đây cũng là một cái “duyên” đưa đẩy chúng tôi mở rộng tầm hoạt động thu nhận sinh viên Việt Nam đã lớn tuổi vào phân khoa Kỹ Thuật và các phân khoa khác trong Centennial College của chúng tôi.

Vài ngày sau đó, Khoa Trưởng Margareth K. và tôi gặp nhau; chúng tôi bàn thảo kế hoạch thu nhận thêm sinh viên Việt Nam: bà Margareth K. sẽ làm tất cả những thủ tục hành chính để nhà trường cho đăng quảng cáo thu nhận sinh viên Việt Nam trên báo chí Việt Nam sở tại. Phòng Thu Nhận Sinh Viên (Admissions Office) sẽ viết quảng cáo bằng tiếng Anh và Phan Dam sẽ dịch sang tiếng Việt các tài liệu này. Phan Dam có nhiệm vụ trả lời điện thoại bằng tiếng việt cho đồng bào Việt Nam tị nạn muốn đi học lại. Đây là một công việc thiện nguyện của tôi, vừa có lợi cho nhà trường, vừa có lợi cho cộng đồng Việt Nam nữa. Đồng thời Phan Dam cũng là người “cố vấn” cho Phòng Thu Nhận Sinh Viên trong vụ duyệt xét kết quả thi của hai môn Toán và Anh Văn trong trường hợp khó xử.

Vài tháng sau đó, College đã tạo điều kiện cho chúng tôi có cơ hội để tổ chức những lần nói chuyện với những người di dân mới đến của cộng đồng Việt Nam cũng như của nhiều cộng đồng sắc tộc khác tại nhiều địa điểm khác nhau trong những ngày cuối tuần.

Giờ đây, khi viết những giòng chữ này, tôi cảm-nhận-thấy đây là một cái “duyên lành”, rất đẹp, rất nhẹ nhàng và đầy ý nghĩa, bắt đầu từ năm 1985 cho tới cuối thập niên 1990.

Trong dịp tổ chức “ăn Tết tại nhà trường” đầu tiên này, tôi đã có cơ duyên gặp tác giả Hồ Sĩ Đình và một số các anh chị em khác. Có thể nói tất cả các anh chị em sinh viên đều là “boat people mature students” hết. Họ đã đến Canada với hai bàn tay trắng trong những con thuyền mong manh trên biển cả đầy trắc trở. Đi học lại với vốn liếng tiếng Anh quá “khiêm nhượng” nhưng với một ý chí rất rõ ràng: có công mài sắt, có ngày nên kim.

Sau bữa “ăn Tết” thân mật đó, một số anh chị em đã mời tôi giảng giải cho họ một số bài Toán mà họ chưa thực sự hiểu (vì chưa hiểu rõ tiếng Anh mà thôi!) Tôi rất vui mừng và “ừ” liền. Lý do dễ hiểu: tôi đã dậy hai môn Toán MM101 & MM102 cho sinh viên trong phân khoa Kỹ Thuật được 2, 3 năm rồi và cảm thấy “ngứa tay” mỗi khi được bất cứ sinh viên nào “chiếu cố”. Thế là thầy trò Việt Nam “book” ngay một lớp học và kỳ này ông thầy Việt Nam được dậy bằng tiếng Việt môn Toán cho sinh viên Việt Nam “chăm phần chăm” ngay trong một lớp học của một trường cao đẳng tại Canada. Tôi có cảm giác như mình còn đang “học tổ” tại Việt Nam trong những năm Trung học vậy.

BỐN

Năm 1988 đã là cái mốc của thời gian dẫn đường đưa tôi đến khúc quanh của cuộc đời: thân phụ của tôi qua đời và lúc đó ở trong trường, các anh chị em sinh viên Việt Nam mà tôi quen biết đã ra trường hết. Những người tới sau chưa “xuất đầu lộ diện” và công việc nhà trường và cộng đồng của tôi quá nhiều. Có thể nói trong cuộc đời, chưa bao giờ tôi thấy hụt hẫng như lúc đó và tôi đã mô tả tâm trạng này trong hai câu thơ dưới đây:

“Những đêm đi họp trên đường vắng
Chợt thấy đời mình tuyết lạnh băng!”

Khúc quanh cuộc đời đã thực sự chuyển hướng đời tôi: năm 1989 tôi trở thành Giáo Sư Trưởng Phòng (Co-ordinator & Professor). Có nghĩa là tôi phải vừa dậy học vừa trông nom các dịch vụ hành chính cho “department” như: thâu nhận sinh viên; thay đổi chương trình học cho đỡ phí tổn; lo ngân sách cho “department”; đi họp liên miên trong “department”, trong Phân khoa, ngoài Phân khoa; nghe sinh viên than phiền về các giáo sư dậy dở; tuyển mộ các giáo sư dậy bán thời gian toàn thời gian trong và ngoài “department” (selection of part-time and full-time faculty)…

Nhà trường bắt buộc tôi phải đại diện cho phân khoa Kỹ Thuật đi dự các buổi họp với “English Department” để duyệt xét lại phần nội dung của hai môn “English as a second Language” (ESL1, ESL2 ), lý do chính là vì tôi đã là một giáo sư “khuôn mẫu” từ trong “lò” ESL mà ra! Nhờ vậy mà tôi đã có cơ hội để thực sự quen biết thêm hầu hết các giáo sư đồng sự của chúng tôi trong “English Department”. Tôi cũng đã thường gặp và trò truyện qua loa với họ trong những lúc đi uống cà phê với nhau.

Công bằng mà nói, hầu hết các ông, các bà giáo sư này đều dễ thương, hiền lành và công bằng hết chỗ nói. Họ làm tôi liên tưởng đến những người bạn sinh viên người Úc của chúng tôi trong thời gian còn đang đi học tại Úc Đại Lợi. Phần lớn họ đều quan tâm và có cảm tình với các sinh viên tị nạn Việt Nam. Nhiều người còn nói: ” Sinh viên Việt Nam thật là chịu khó, đi học đã khó rồi, thế mà họ còn lại phải lo việc sinh sống nữa. Điều ngạc nhiên: nhiều sinh viên gốc Việt Nam còn còn lĩnh giải thưởng của College nữa. Bravo!” Tôi nghe đồng sự nói mà thấy vui lây.

Tôi còn nhớ, một hôm đang đi trong hành lang, bỗng nghe một người nói tiếng Việt giọng lơ lớ từ phía đằng sau tôi: “Ông mặn(h) giỏi?” Tôi quay lại, hóa ra đó là một người da trắng có râu quai nón đang nhoẻn miệng cười với tôi. Tôi hỏi ngay:” John F., làm sao mà ông nói được tiếng Việt?” Ông trả lời bằng tiếng Anh: “Tôi là một đại úy trong Quân Lực Hoa Kỳ khi tôi ở Việt Nam. Mãn nhiệm xong, tôi về Mỹ và đi học tiếp cho xong bằng Ph.D. về văn chương Anh ngữ.” Chúng tôi cười vang với nhau rồi chia tay.

NĂM

Sau nhiều năm đi dậy, tôi vẫn chưa biết tại sao lại có rất nhiều sinh viên Cao đẳng  cũng như sinh viên Đại học quá dở về hai môn Toán và Anh văn (hai môn chính của học trò) đến như vậy?

kiep nguoi - PhanDamreceivingVNseAwardNăm 1989, nhân dịp Cộng Đồng Việt Nam vùng Đại Đô Thị Toronto (Great Toronto Area) đang cần một Phó Hội Trưởng Ngoại Vụ cho Hội Phụ Huynh Việt Nam tại Toronto (HPHHSVN). “Bị chiếu cố”, tôi xung phong gia nhập Hội Phụ Huynh vừa để tranh đấu quyền lợi cho các học sinh và phụ huynh học sinh Việt Nam, vừa để tìm hiểu hệ thống giáo dục cấp tiểu học cũng như cấp trung học của tỉnh bang o­ntario luôn. Tôi lại phải “đèo thêm” một số trách nhiệm mới và ban đêm thường hay phải đi họp với “Ty Học Chính Thành Phố Toronto” (Toronto Board of Education). Tuy mệt thật nhưng mà vui vì tôi đã có cơ hội để “lẩn trốn thời gian, tránh rỗng không” để mà quên đi cái “niềm riêng” của chính mình!

Cái “nghiệp” nó vẫn còn chưa “tha” cho tôi: cuối năm 1989, vì lý do nghề nghiệp, ba Giáo Sư Trưởng Phòng của Công chánh, Hóa học và Sinh vật học đã ngồi xuống làm việc với nhau và viết “proposal” để tạo dựng một bộ môn mới: Ngành Bảo Vệ Môi Sinh (Environmental Protection Technology). Đây là một trọng trách của bộ ba chúng tôi, không những cho ba “departments” mà còn là “sinh mạng” của phân khoa Kỹ Thuật nữa. Ngành này đang “hot” và Centennial College đang kỳ vọng thu nhận thêm sinh viên: có thêm nhiều sinh viên mới có thêm tiền cho ngân sách của Phân Khoa Kỹ Thuật để mà bảo đảm sự sống còn của Phân khoa.

May mắn thay, bộ ba chúng tôi đã viết xong văn kiện này, và đã được Ủy Ban Giảng Huấn (Academic Council, gồm có các Giáo sư trưởng phòng của Phân khoa Kỹ thuật, Phân khoa các môn học nhiệm ý, khoa Anh văn,  khoa Toán, đại diện sinh viên Phân khoa Kỹ thuật và đại diện sinh viên toàn trường) của Centennial College chấp thuận sau nhiều buổi họp thẩm vấn có khi vui vẻ, có khi gắt gao… Giữa năm 1990 phái đoàn chúng tôi gồm có Ông Phụ Tá Khoa Trưởng (Chair) và ba Giáo Sư Trưởng Phòng chúng tôi lên Bộ Cao Đẳng và Đại Học (Ministry of Colleges and Universities of Toronto) trình bầy về Chương trình, các môn học và nhất là tiềm năng về kiếm việc làm cho sinh viên sau khi họ đã ra trường.

Thế rồi “đời mình cũng qua” và năm 1991 Phân khoa Kỹ thuật chúng tôi bắt đầu thâu nhận sinh viên vào ngành này. Một niềm hãnh diện cho chúng tôi: không những College đã thu nhận học trò vừa mới học xong Trung học, mà chúng tôi còn được khá nhiều các sinh viên Đại học đã ra trường đến xin nhập học trong những năm về sau nữa. Xin mở một cái ngoặc kép: dĩ nhiên là chúng tôi cũng có thêm sinh viên gốc Việt trong ngành này nữa! Và cũng là một cái may mắn không ngờ cho người viết này: tôi đã là giáo sư duy nhất còn được giữ lại để dậy những môn gốc Công chánh trong “Environmental Protection Technology Department” sau khi ngành Công chánh bị đóng cửa vì  “Ministry of Colleges and Universities” đã cải tổ toàn diện về “funding” (ngân sách) cho 22 colleges trong toàn cõi tỉnh bang o­ntario.

SÁU

Sau năm 1990, số sinh viên Việt Nam vào học trường tôi càng ngày đông thêm. Nhờ có sự sốt sắng của anh chị em sinh viên, nhất là anh Đinh văn Cận, chúng tôi đã thành lập “Hội Ái Hữu Sinh Viên Việt Nam tại Centennial College”. Anh Đinh văn Cận là Hội Trưởng và Đàm Trung Phán là Giáo Sư Hướng Dẫn. Rút tỉa từ những kinh nghiệm trong nhiều năm trước, những ai đã ra trường rồi sẽ vẫn còn ở lại trong Hội Sinh Viên để giúp cho các anh chị em sinh viên mới tới với mục đích giữ phần liên tục cho các sinh hoạt của Hội Sinh Viên. Hội viên (gồm có các sinh viên mới và các cựu sinh viên) mỗi ngày một đông hơn. Một số các anh chị em đã ra trường và đang đi làm còn chỉ dẫn cách tìm việc cho các khóa đàn em nữa .

Năm 1990, tôi bắt đầu tham gia và tổ chức “Ngày Truyền Thống Học Đường” của Hội Phụ Huynh Học Sinh Việt Nam tại Toronto (HPHHSVN). Chúng tôi đã được Ty Học Chính Toronto đài thọ cho tất cả các chi phí và cho mượn trường ốc để vinh danh các học sinh Việt Nam xuất sắc về học lực và các sinh hoạt ngoại khóa. Đây cũng là cơ hội để HPHHSVN liên lạc được với rất nhiều phụ huynh học sinh. Chúng tôi cần rất nhiều nhân lực và may thay, chúng tôi đã được Hội Ái Hữu Sinh Viên Việt Nam tại Centennial College bắt đầu yểm trợ về nhân lực cũng như tinh thần trong việc tổ chức hàng năm ngày Truyền Thống Học Đường.

Kiep Nguoi - HPH-_EducationDay8Cuối thập niên năm 1980, thành phố Toronto đã có rất nhiều đồng bào thuyền nhân đến sinh sống. Hội Người Việt Toronto  cũng như các hội đoàn Việt Nam khác đã hăng say tích cực giúp đỡ những người mới tới trong việc định cư. Trong lúc đó số tội phạm người Á Châu da vàng cũng gia tăng. Có một mối bất lợi cho cộng đồng Việt Nam sở tại: cứ mỗi lần có vụ nổ súng nào trên phố Tầu hay ở khu nào có đông người Á Châu da vàng, báo chí và cảnh sát thường chỉ tay năm ngón vào cộng đồng người Việt chúng ta tại Toronto.

Nhiều thuyền nhân mới tới đã rất muốn được trở lại ngành nghề cũ của họ ở Việt Nam tại miền đất hứa này.

kiep nguoi - Chuyen gia -8225328.Professional_HHCGVN1Để phục vụ cộng đồng một cách hữu hiệu trên hai phương diện kể trên, một số các anh chị em chuyên gia Việt Nam đang đi làm tại vùng Đại Đô Thị Toronto đã thành lập Hiệp Hội Chuyên Gia Việt Nam (HHCGVN) vùng Nam o­ntario vào năm 1991. Mục đích chính là để hướng dẫn các em học sinh, sinh viên Việt Nam, những người mới tới muốn đi học lại hay tìm công việc có tính các chuyên môn. Và còn có một một mục đích khác cũng rất quan trọng: đối đầu với chính quyền đia phương trong những hành động kỳ thị chủng tộc đối với cộng đồng Việt Nam sở tại.

Năm 1992, khởi xướng từ Hội Phụ Huynh và với sự hợp tác chặt chẽ của HHCGVN và HNV, Quỹ Học Bổng Cộng Đồng (QHBCD) đã được thành lập. Mục đích chính của QHBCD là để vinh danh và khuyến khích các sinh viên Canada gốc Việt đang đi học Đại Học năm thứ nhất. Tuy số tiền phát thưởng cho mỗi sinh viên chẳng được là bao, nhưng nhờ có QHBCD, các em sinh viên cảm thấy hứng thú và hăng say trong việc học hơn.

Bước sang thập niên 1990, Cộng Đồng Người Việt vùng Đại Đô Thị Toronto bắt đầu khởi sắc rất nhiều so với những năm trước đó. Bác Sĩ, Dược Sĩ, Kỹ Sư, Luật Sư, Giáo Sư… gốc Việt, các cửa hiệu, nhà hàng, các hội đoàn người Việt tự do… đã có tên trong những tờ báo tiếng Việt tại vùng Đại Đô Thị Toronto ,

Người viết nhớ lại: trước năm 1975 cộng đồng lèo tèo chúng tôi tại Toronto không có một hiệu phở hay nhà hàng Việt Nam nào. Chúng tôi rất muốn nấu phở thuần túy theo kiểu Việt Nam nhưng gặp trở ngại chính là không có bánh phở nên phải dùng “spaghetti” của người Ý. Phở “lai Ý” chẳng giống phở VN gì hết!

Mãi tới đầu thập niên 1980 thành phố Toronto mới bắt đầu có được 1, 2 hiệu phở mà thôi. Giữa thập niên 1980, người viết  thấy “đỡ nhớ nhà” mỗi khi đi ăn ngoài tại khá nhiều nhà hàng Việt Nam ngay tại Toronto!

BẨY

Bước sang thập niên 1990, tuy Cộng Đồng Việt Nam đã bắt đầu ổn định nhưng phần lớn bạn bè và cá nhân chúng tôi đều thấy bận rộn hơn những năm trước nhiều: Cộng Đồng Việt Nam đang vươn mình, lớn mạnh.

Tuy chúng tôi bận rộn nhưng phần lớn đều cảm thấy vui vẻ, nhất là được cảm thấy mình không còn đơn lẻ trong đời sống lưu vong nữa. Những bạn bè của người viết trong HPH, HHCGVN, HNV, HAHSVVN Centennial College, Hội Phụ Nữ, Nhóm Thân Hữu Gia Long… đã cùng nhau tích cực tham gia trong những sinh hoạt về giáo dục, nghề nghiệp và sinh hoạt cộng đồng khác. Rất nhiều các anh chị em thuyền nhân sau khi đi học lại, họ đã ra trường và đã tìm được những công việc trong văn phòng hợp với khả năng học vấn của họ. Đồng thời, thế hệ thứ hai của những ai đã đến Canada trong đợt di tản đầu và kế tiếp cũng đã ra trường và bắt đầu đi làm. Tựu chung, đời sống của người Việt di tản và thuyền nhân không còn phải chật vật như ngày xưa nữa.

kiep nguoi - xx-Retirement_VNStudents_Phan 051Năm 2002, người viết  quyết định về hưu non ở tuổi 60 và đã cảm thấy rất vui mừng gặp lại tác giả Hồ Sĩ Đình cũng như khoảng 70 cựu sinh viên Việt Nam khác của Centennial College trong bữa tiệc “Tiễn thầy về hưu”.

Chúng tôi vẫn còn giữ liên lạc với nhau và mỗi năm chúng tôi thường gặp nhau hai lần: mùa hè picnic, mùa đông “ăn Tết” vào cuối tháng Hai.

Câu chuyện về Cộng Đồng 40 năm nhìn lại còn rất nhiều điều muốn kể nhưng mắt đã mờ, tay đã mỏi. Xin hẹn có dịp nào thuận tiện, người viết sẽ kể tiếp.

Quê hương Việt Nam cội nguồn vẫn còn đang sống với chúng ta trong tâm tưởng ở bất cứ nơi nào trên thế giới.

Chúng ta đã, đang và sẽ gieo cái hạt giống tươi tốt của cội nguồn Việt Nam ở hải ngoại. Hy vọng rằng con cháu của chúng ta sẽ mãi luôn thành công khi đi học cũng như khi đi làm. Cũng hy vọng rằng những thế hệ mai sau này sẽ vẫn còn giữ được nền tảng đạo đức vững chắc và đặc biệt các thế hệ này sẽ không bao giờ quên cội nguồn Việt Nam của chúng ta. Mong lắm thay!!

Xin đính kèm 2 tấm hình về “Ngày Quốc Hận, 30 Tháng Tư – Journey to Freedom”  tại hai thành phố  Toronto và Mississauga  đã tổ chức vào ngày 25 và 26 tháng Tư, 2015

KIEP NGUOI - JOURNEY TO FREEDOMDSC03001

kiep nguoi - thank youDSC07765

Đàm Trung Phán

Misissauga, Canada

Harper can’t play the fear card o­n the economy: Tim Harper

With so little to choose between the three leaders o­n the economy, neither Mulcair nor Trudeau inspire fear.


If Stephen Harper’s goal was to spook Canadians about handing our economy to o­ne of the “other guys,” he missed an opportunity Thursday evening.

That doesn’t mean that an often noisy 90-minute debate, with too much time spent with opponents talking over each other, was a breakout night for NDP Leader Tom Mulcair or Liberal Leader Justin Trudeau.

But no o­ne need be frightened, at least based o­n this encounter in Calgary, that someone other than Harper might get the keys to the treasury Oct. 19.

And why would anyone be spooked?

The economic differences between the trio — “modest deficits” run up by Trudeau; four years of surplus fuelled by raising corporate tax rates and killing an income-splitting program by Mulcair; or steady-as-she goes balanced budgets and targeted tax breaks by Harper — can really be measured in rounding errors.

A historic three-way battle may make for epic horse race stories, but it also invites caution, because all three men can smell victory.

No o­ne need be frightened, at least based o­n this encounter in Calgary, that someone other than Stephen Harper might get the keys to the treasury Oct. 19, writes Tim Harper.

SEAN KILPATRICK / THE CANADIAN PRESS

No o­ne need be frightened, at least based o­n this encounter in Calgary, that someone other than Stephen Harper might get the keys to the treasury Oct. 19, writes Tim Harper.

To get a touch visionary or to offer anything sweeping and untested, or even peek outside the conventional box, is seen as a risk when everyone is within a point of each other in the polls.

This exercise lasted less than 90 minutes but featured too many numbers, acronyms and inside spin that must have frustrated anyone seeking an answer to the questions causing anxiety in this country — is my job secure and will my kids be able to find work?

For Canadians just tuning in, it could o­nly be more confusing hearing the ever more centrist Mulcair sound like a Conservative o­n fiscal matters, claiming balanced budgets are in the NDP DNA, while Trudeau outflanked him o­n the left, talking about taxing the rich and spending slightly beyond our means to create infrastructure and jobs.

Harper tried to paint Mulcair with the old socialist brush even as the man standing suitably in the middle sounded closer to Bay St. than Main St.

The Conservative leader referred to the “old NDP playbook” of spending o­n the back of big corporations and a few rich people that o­nly results in job losses. It happened in British Columbia, he said, it is happening in Manitoba and Alberta and, of course, Harper had to add it happened in o­ntario, even if Bob Rae was elected here more than 25 years ago. There is no statute of limitations o­n the Rae bogeyman.

Harper said Trudeau didn’t fall in love with deficit financing based o­n principle, but did so because he went around the country promising things that cost more money than he had.

“High taxes and permanent deficits do not create jobs,’’ Harper said.

Virtually every day he has come to work as prime minister, Harper said, he has had to deal with a banking crisis, a sovereign debt crisis, a housing crisis, market chaos in China or falling oil prices and has dealt with them with long-term planning.

These may be effective debating points, but Canadians do not fear deficits, as long as they are not massive, and Trudeau accused Harper of o­nly balancing the budget in election years. Mulcair’s corporate tax hikes are modest and overdue, and still lower than the average rate over the length of the Harper reign. Canadians instinctively understand our economic future is often out of the hands of our leaders.

Trudeau, however, was still forced by Mulcair to join him and Harper in worshipping the balanced budget with the Liberal leader telling Canadians, “We said we are committed to balanced budgets and we are. We will balance that budget in 2019.’’

If there is more nuance than substantive gulfs between the three men, and this is a change election, than it was up to Mulcair and Trudeau to connect with the audience.

If anyone still thinks Trudeau cannot debate o­n the same stage as the other two men, they are dealing with historical perceptions.

The Liberal leader was effective in stepping back and asking the bigger questions about whether Canadians were better off than they were 10 years ago — Harper countered by asking, “where would you rather have spent the past 10 years?” — and accused his two opponents of lacking ambition.

“If you think things are great, Mr. Harper is your guy,’’ Trudeau said.

If he has a fault, it is that he still runs through his points too quickly and aggressively.

Mulcair, o­n the other hand, tried hard — maybe too hard — to be calm, as if he were the o­nly adult o­n the stage, certainly not the pretender from the third party or the discredited adversary who needs to be tossed from office.

Trudeau has two planks that polling data shows has support — his deficit plan and his vow to tax the top o­ne per cent of income earners to help the middle class.

Ironically, both would normally be NDP planks. There are still doubts about Trudeau’s readiness to govern, while Mulcair is not burdened by the same level of doubt.

One can o­nly wonder if Mulcair had hewn closer to traditional NDP policy and not allowed Trudeau to stake out what should be his turf, whether the NDP leader would be putting distance between himself and his opponents by now.

Latest Poll   Sept. 16, 2015

Conservative

30.1%

NDP

30.4%

Liberal

30.9%

Bloc

2.5%

Green

5.8%

21%34%33%7%4%Date:Pollster:Sample Size:Margin of Error:Method:Apr 30, 2015Leger1,4882.50%online surveyOct 1Jan 2015Apr 1Jul 1Polls from Jul 18, 2014 - Sep 16, 20150%10%20%30%40%SupportConservativeNDPLiberalBlocGreen

CAMERON TULK / TORONTO STAR

SEE DATA

Tim Harper is a national affairs writer. His column appears Monday, Wednesday and Friday. Tharper@thestar.ca Twitter;@nutgraf1


Sudbury letter: Mulcair not suited to be PM 0

NDP leader Thomas Mulcair CHRIS WATTIE/REUTERS

What do we expect from our leaders running to be prime minister o­n Oct. 19 -- ethical, moral, conscientious, honourable and righteous?


New Democrat leader Tom Mulcair said he had no plans to fire his most senior communications aide for tweeting offensive anti-Roman Catholic comments and telling the Pope to "f--- off."


Mulcair lashed out at evangelical Christian groups accusing them of going "completely against" Canadian values and law with their beliefs about homosexuality.


Well, Mr, Mulcair, these are also the beliefs of the Catholic Church to which you claim to have allegiance.


In the interview, with Peter Mansbridge o­n CBC, Mulcair criticized Canada's role in the coalition fighting Islamic State, ISIS, claiming "this is not our fight". Further stating, "We know a lot of the horrors that we are seeing are the direct result of the last misguided war (U.S invasion of Iraq)."


I quote Tarek Fatah, founder of the Muslim Canadian Congress, a columnist at the Toronto Sun. "I was stunned. Here was a man vying to be prime minister of Canada reading a script whose logic could have been taken straight out of the Muslim Brotherhood hymn book.


"In effect, Mulcair was saying it was the fault of America that ISIS was beheading fellow Muslims, pushing homosexuals off the roofs of buildings and making sex slaves out of captured, non-Muslim female prisoners. Nonsense! Jihadis have been doing this since the dawn of Islam."


Where is the high standards and moral philosophy that we expect from our leaders?


British Prime Minister Winston Churchill, the great leader of the Second World War, stated, and I quote, "I would say to the House as I said to those who have joined this government: I have nothing to offer but blood, toil, tears and sweat. We have before us an ordeal of the most grievous kind. We have before us many, many long months of struggle and of suffering."


What would have been Tom Mulcair's position if he was leading our country at that time - perhaps his famous words, "this is not our fight".


Great leaders take a stand for their country and fight along side their allies to eradicate injustices in the world. ISIS must be wiped from the face of the Earth so the people can live a normal life in their country and not have to flee for their lives and settle in strange lands as refugees.


On Oct. 19, the people of this great nation will make a decision who has the leadership qualities to be the prime minister and continue to govern Canada.


Tony Sottile, Sudbury 

Eat your words, Mr. Harper

Eastern Passages with Russell Wangersky

Eastern Passages with Russell Wangersky

It’s the quote you can no longer find: “In the end, it doesn’t really matter where (Jean Chretien’s) actions or lack of them fall o­n that scale. He is the leader and a leader is responsible for the actions of the people he leads. If he had a right or honourable bone in his body, he’d admit that and resign immediately.”

It’s making the rounds of social media right now as an example of how Stephen Harper says o­ne thing and then does another. While it’s sobering, I find an earlier speech of Harper’s far more telling.

Take a look at this o­ne from June 20, 2002, in the House of Commons o­n the then-Liberal government’s discussion of a Code of Conduct. (Luckily, the speech is recorded in Hansard, instead of the more-easily deleted world of the Conservative Party website. Oh, and I’ve taken the liberty of knocking out references to the Liberal government — judge for yourself if Harper could be speaking about the way he and his party do business now.)

“The government has shown it has no understanding at all of such basic concepts as conflict of interest and political interference. These are symptoms of a governing party that has governed for far too long. These are signs of a ruling party that has come to identify its own interests with those of the nation. It is an indication that ideas of propriety and impropriety no longer exist in the minds of the people at the top of the government as long as the (governing party) benefits. …

“The real issue is the systematic and systemic erosion of the public interest in favour of the narrow partisan interests of the (governing political party) and its friends. The ethical question is the mixing of the public interest with those narrow partisan interests and the use of the spending power of ministers and ultimately the prime minister. …

“As I have said, o­n this and several other issues, the real scary part of the government is that it has lowered our expectations of what we should get from public officials. The difference between now and 1993 is that in 1993 people were outraged about what went o­n. Now people expect it. There is no difference. That is what we are really fighting against. …

“When most people use the term corruption, they mean the abuse of power, as in power corrupts and absolute power corrupts absolutely. The system maintained by the government is o­ne where power is centralized in Ottawa and the power in Ottawa is centralized in the cabinet and in the Prime Minister’s Office. It is a system that invites corruption. …

“The (government) sees it as normal to flood their own constituencies with pork grants and contracts, not just as a matter of favourable legislation but even if such friends and such constituencies do not qualify under the government’s own rules, it will happen just the same. …

“Most important, Canada needs a government that understands right from wrong, o­ne that understands that the meaning of conflict of interest and corruption go beyond the letter of the criminal code and the written rules of conduct and into the spirit of good judgment, honesty, benevolence and integrity that all Canadians expect and deserve from their government.”

Brave words. Too bad they now describe the Harper PMO that the Duffy trial is revealing.

And then, of course, there’s Harper’s final use of the Liberal Red Book during that same speech: “It states o­n page 91, ‘After nine years of Conservative rule’ — and we just have to replace it with Liberal rule now — ‘cynicism about public institutions, governments, politicians and the political process is at an all time high. If government is to play a positive role in society, as it must, honesty and integrity in our political institutions must be restored.’”

Perhaps we have to put “Conservative rule” right back in again — because Harper could be just as easily chastising his own administration.

And perhaps, with a time machine, we could find the Stephen Harper who used to have a problem with that.

Russell Wangersky is TC Media’s Atlantic regional columnist. He can be reached at russell.wangersky@tc.tc — Twitter: @Wangersky.

Mulcair apologizes for 1996 'Newfie' remark at campaign stop in N.L.


Terry Pedwell, The Canadian Press 
Published Sunday, September 20, 2015 10:47AM EDT 
Last Updated Sunday, September 20, 2015 4:12PM EDT

ST. JOHN'S, N.L. -- NDP Leader Tom Mulcair apologized Sunday for referring to Newfoundlanders and Labradorians in a derogatory fashion during a heated exchange in the Quebec legislature nearly two decades ago.

Mulcair was in southeastern Newfoundland, where he dropped a fishing line Sunday morning to catch cod.

But he also caught criticism from a local Liberal candidate for a line he used in 1996 during a debate with a Parti Quebecois opponent over Quebec separation.

In the exchange, Mulcair, a Liberal member of the Quebec national assembly at the time, used the term "Newfie" as a synonym for "stupid," said Nick Whalen, the Liberal candidate for St. John's East.

At a news conference that followed a rousing speech to NDP supporters in St. John's, Mulcair said he regretted making the remark.

"There's no question that that was a mistake that I made in the heat of a debate 20 years ago," Mulcair said.

"I immediately withdrew it (then) because that was the right thing to do and I reiterate my apology to anyone who took offence at that."

Whalen said he didn't believe Mulcair apologized at the time for making the comment, but o­n Sunday accepted that the NDP leader is now sorry.

"I'll accept that, yes," Whalen said outside the hotel where just minutes before about 400 people attended a rally in support of Mulcair.

Mulcair also promised to reopen a maritime rescue sub-centre that the Conservatives closed in May 2012 and committed to ensuring that search and rescue response would be available 24 hours a day, with a maximum of 30 minutes to deploy o­nce an emergency call is fielded.

"Banker's hours just don't work for search and rescue," he said.

The New Democrats hold two seats in the area where Mulcair was campaigning Sunday, and where he took advantage of relatively calm waters and good weather earlier in the day to jig for codfish near Petty Harbour.

The fishing village rests in the riding of St. John's South-Mount Pearl, o­nce a longtime Conservative stronghold that turned Liberal in 2008 before flipping to the New Democrats in 2011.

Ryan Cleary, a former journalist who won the seat four years ago, is running again as the NDP candidate against Seamus O'Regan, who gained celebrity status as a national TV network morning show host.

Mulcair campaigned in St. John's East later in the day, where his party's defence critic, Jack Harris, is campaigning against Whalen and Conservative Deanne Stapleton. Harris took the seat from the Tories in 2008 and handily retained it three years later.

The NDP leader is expected to spend the first few days of this week o­n the East Coast before preparing for a French-language debate in Montreal o­n Thursday.



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:
Cải Tạo! [27.04.2025 10:06]




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
Tin tức thế giời mới nhât song ngữ Việt Anh để học sinh ngữ [Đã đọc: 364 lần]
Kiều bào phát triển quê hương [Đã đọc: 359 lần]
Làm Giàu Bằng Đầu Tư Chứng Khoán [Đã đọc: 349 lần]
Siêu đô thị Đà Nẵng mở rộng, siêu đầu tư địa ốc làm giàu [Đã đọc: 342 lần]
Một châu Âu đứng trước ngã ba lịch sử [Đã đọc: 329 lần]
Cách mạng chiếc đòn gánh của phụ nữ VN [Đã đọc: 291 lần]
“NHỮNG NGƯỜI CUỐI CÙNG CÒN GIỮ LẠI CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN”** [Đã đọc: 289 lần]
Nghệ Thuật Làm Giàu Của Người Việt Hải Ngoại - “The Art of Wealth for Overseas Vietnamese”. [Đã đọc: 281 lần]
Làm thế nào đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa từ Trung Cộng [Đã đọc: 281 lần]
Cuba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cuba nghỉ [Đã đọc: 271 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.