KHÔNG HỐI LỘ - PHIÊN TÒA ĐẶC BIỆT CỦA NGƯỜI VIỆT TẠI BA LAN
28.06.2015 19:10
(NCTG) Hai cảnh sát viên Ba Lan bị tuyên án tù bốn năm vì nhốt người Việt trong vòng ba mươi phút để tống tiền. “Sau phiên tòa, chúng tôi đã giành lại được niềm tin, rằng Ba Lan không tham nhũng như Việt Nam. Chúng tôi muốn những người khác đừng sợ nữa” – hai anh Nam và Mạnh chia sẻ với báo giới.
Bài viết về một vụ án đặc biệt trên báo Ba Lan Nhật báo lớn nhất Ba Lan là “Gazeta Wyborcza” đã đăng bài phóng sự về vụ việc sau khi hai nạn nhân Việt Nam thắng kiện trước tòa. Dưới đây là bài viết của nữ ký giả Aleksandra Szyłło mang tựa đề “Sẽ không hối lộ”, được Cường và Vân Anh chuyển ngữ từ nguyên bản tiếng Ba Lan. Xe cảnh sát vượt chiếc Golf Combo màu than, cảnh sát giơ tấm biển hiệu lệnh dừng xe. Khi đó là buổi sáng, hai ngày trước giao thừa năm 2012. Trong chiếc xe bị bắt dừng lại có bốn người đàn ông và một phụ nữ, tất cả đều mang quốc tịch Việt Nam và đều có giấy tờ cư trú hợp pháp tại Ba Lan. Cảnh sát viên Tomasz M. và Stefan G. lần lượt tính phạt. Giấy phạt Thứ nhất, ba hành khách ngồi ghế sau không cài đai an toàn – 300 Złoty (tương đương 100 USD - ND). Thứ hai, tài xế dùng bằng lái do Việt Nam cấp. Tại Ba Lan, chỉ được dùng bằng lái của Việt Nam trong nửa năm, sau đó phải chuyển sang bằng lái của Ba Lan. Thời hạn nửa năm đã bị quá, vì vậy – 500 Złoty Thứ ba, có hàng hóa trong cốp xe. Vận chuyển nguyên liệu làm rèm cửa để kinh doanh không có hóa đơn – thêm 1.000 Złoty nữa, dù vận chuyến một số lượng hàng nhỏ có giá trị chỉ vài chục đồng như trường hợp này lẽ ra không cần có biên lai. Dầu vậy, cảnh sát vẫn tính phạt. Tổng cộng là 1.800 Złoty (600 USD – ND). Những người Việt yêu cầu cảnh sát viết phiếu phạt, họ hứa sẽ trả tiền phạt qua bưu điện. Tuy nhiên cảnh sát nhất quyết từ chối. “ Các anh đưa nộp đây 1.000 Złoty thì mọi chuyện cho qua” – cảnh sát nói. Nhóm người Việt không đồng ý, nhất quyết đòi được giải quyết đúng luật. (Tại sao họ lại nhất quyết như vậy? - Có thể bởi vì dẫu có tiền theo người, song, đó không phải là tiền của họ, mà là của cô bạn nhờ họ trả tiền vé bay về Việt Nam. Họ sẽ giải thích thế nào với cô ta khi bị mất hết sạch số tiền đó? Hoặc có lẽ đơn giản chỉ vì họ đã bao lần được nghe những câu chuyện tương tự, rằng bạn bè họ luôn cúi đầu im lặng và trả tiền: vì sợ hãi, vì muốn yên thân, hoặc bởi không có lựa chọn nào khác). Nguyễn Thanh Nam và Trần Mạnh nói “cần chấm dứt”. Không trả. Yêu cầu phiếu phạt. Tình thế trở nên bế tắc. Cảnh sát ra lệnh cho người lái xe, Nam, ngồi vào ghế lái và đi theo xe cảnh sát tới đồn gần nhất nằm tại Raszyn ngoại ô Warszawa. Bạn của tài xế, Mạnh đề nghị được lái xe. Là người duy nhất có bằng lái xe Ba Lan, anh muốn tránh việc xe tiếp tục vi phạm luật giao thông. Cảnh sát không đồng ý. Tại sao? “ Tôi không thấy có lý do nào hợp lý” – luật sư Maciej Zaborowski, đại diện cho các công dân Việt Nam tại tòa, đã bình luận như vậy sau đó. “ Có thể bởi các viên cảnh sát cảm thấy quá tự tin và họ làm điều họ muốn, đó là cách lý giải duy nhất cho cách hành xử của họ”. Nam tiếp tục ngồi sau tay lái. Mạnh ngồi bên cạnh. Là người nói tiếng Ba Lan tốt nhất trong nhóm, Mạnh muốn cùng đến đồn cảnh sát để giúp bạn mình. Ba hành khách còn lại đi ra xe buýt. Vì lo xa, Mạnh bấm máy camera trên điện thoại và đặt sau kính xe. Sau này, những gì anh ghi được trở thành bằng chứng quan trọng cho tòa. Xe cảnh sát, thay vì đỗ trước đồn, đã đỗ bên vệ rừng. Stefan G. và Tomasz M. xuống xe và nhắc lại đề nghị: “ 1.000 Złoty rồi đường ai nấy đi”. Hai người Việt từ chối. Lời đe dọa được tung ra: vậy thì các người sẽ bị trục xuất. Cuối cùng, cảnh sát trở lại xe của mình, và lần này quả thật chạy tới đồn cảnh sát tại Raszyn. Mạnh cho hay: “ Tôi mới nghĩ: miễn sao tới được đồn cảnh sát, ở đó chúng tôi sẽ an toàn. Vậy mà tôi đã nhầm to”. Trong đồn cảnh sát, Nam (người lái) phải bỏ tất cả mọi thứ trong túi ra ngoài. Tomasz M. và Stefan G. lục soát người anh Nam rồi giam anh trong phòng cách ly. Họ cũng làm như vậy đối với Mạnh. “ Nhưng tôi có bị cáo buộc gì đâu, tôi tới đây là để giúp bạn tôi!” – Mạnh phản đối. Cảnh sát viên thứ ba, trực tại đồn, nãy giờ chỉ ngồi nghe, bỗng đứng dậy. Người này vung tay tóm cổ áo Mạnh và đè đầu anh xuống mặt bàn. Mạnh chịu thua, ngoan ngoãn moi giấy tờ và ví ra khỏi túi. Cảnh sát nói là cả điện thoại nữa. Mạnh rút điện thoại ra. Cảnh sát giam Mạnh cùng phòng với Nam. Tomasz M. ngó vào phòng biệt giam, bảo bây giờ lệ phí phải là 2 nghìn Złoty. Và hai người Việt sẽ không được ra nếu không chịu trả tiền. - Vậy chúng tôi sẽ ở đây bao lâu? - Nam hỏi. - Không biết – cảnh sát trả lời. Những người Việt Nam giải thích rằng họ không có từng ấy tiền bên người. - Vậy hãy gọi điện cho ai đó, bảo người ta mang tiền đến – cảnh sát mách nước. Ba mươi phút, có thể là một tiếng trôi qua. Cảnh sát cầm ví của hai người Việt vào phòng giam và bảo, rõ ràng có tiền đấy chứ. Hai người nộp cho cảnh sát 2.000 Złoty, yêu cầu giấy biên nhận nhưng được trả lời là sẽ không có biên lai. Nam, tài xế, được thả tự do. Hai người Việt trước đó đã kịp thống nhất với nhau là ai được thả trước sẽ cố gắng mang theo cả hai chiếc ví đựng tiền. Và việc đó đã thành. Nam, khi đi ra, đã vơ hết từ trên bàn mọi thứ đồ của mình và của bạn mình. Trong lúc đó, Tomasz M. và Stefan G. gọi Mạnh đến trước màn hình máy tính. Họ cho Mạnh xem dữ liệu cảnh sát mà theo đó anh Mạnh đang ở Ba Lan bất hợp pháp. Cảnh sát sẵn sàng “giúp đỡ” nếu nhận được thêm 1.000 złoty. Mạnh nói, sự thật là hiện tại anh không còn đồng nào. “ Tôi biết là giấy tờ của tôi hợp pháp, nhờ có ân xá cho những người nhập cư bất hợp pháp mà tôi có thẻ cư trú. Song, tôi cũng thấy là lập luận cũng như lý giải của tôi chỉ gây cho cảnh sát thêm khó chịu. Tôi không biết phải làm gì, và điều gì sẽ xẩy ra sau đó” - Mạnh thuật lại. Và sau đó là một hồi lời qua tiếng lại, cuối cùng cảnh sát chỉ cho ông Mạnh cửa ra. Ra ngoài đường, hai người Việt nhận ra rằng, trong đồn, họ bị moi ví và mất thêm khoảng 350 Złoty nữa. Mạnh và Nam về tới Wolka Kosowska (trung tâm buôn bán của người Việt gần đó - ND) và kể cho những người bán hàng trong đó câu chuyện họ vừa trải qua. Các bạn hàng hoài nghi hỏi lại: “ Các anh ở đây lâu năm như thế mà mới hôm nay là lần đầu tiên gặp phải chuyện này à?”. Ba kịch bản săn lùng Câu chuyện này điển hình và không điển hình. Câu chuyện điển hình luôn khớp với một số kịch bản chính. - Kịch bản A. Người Việt Nam đi ôtô. Tại Warszawa có một số tuyến đường cố định: từ khu Cổng Sắt, từ quận Wola hoặc Ochota, nơi người Việt Nam sinh sống, đến trung tâm thương mại bán buôn tại Wolka Kosowska hoặc trung tâm bán lẻ Marywilska thuộc quận Bialoleka. Xe nào bên trong có hành khách là người Việt Nam, thì chắc như đinh đóng cột là chiếc xe đó sẽ bị giữ để kiểm tra. Bàn thắng lớn nhất cho những người mặc đồng phục (công an, cảnh sát, biên phòng...) là săn được người “bất hợp pháp”. Những người như thế sẽ nộp hết tất cả những gì có trong người, để tránh bị trục xuất. Bởi vì gia đình họ, ở miền quê Việt Nam, đã gom góp để con cháu mình vượt hành trình bất hợp pháp tới Moscow sang Ba Lan. Nếu những người bị kiểm tra có giấy tờ cư trú, người thi hành công vụ chưa chắc đã thắng, như câu chuyện này minh chứng. - Kịch bản B. Người Việt Nam đi xe buýt. “ Xin đưa vé cho tôi kiểm tra”. Người “bất hợp pháp” luôn luôn có vé, bởi vì họ rất sợ bị hỏi về giấy tờ. “ Nhưng vé này không có giá trị”, người Việt bị mời xuống xe. Đằng sau bến xe, cách xa mọi người, người Việt được biết rằng ông ta không có vé. Hoặc là 500 Złoty, hoặc chúng tôi gọi điện cho biên phòng. - Kịch bản C. Đó là những câu chuyện của các tài xế taxi tại Warszawa. Nhiều lần họ tâm sự với tôi về tình huống khó xử: chở người Việt hay không chở? Vừa lợi vừa không lợi. Chỉ chở người Việt được một quãng ngắn là ngay lập tức bị cảnh sát giữ lại. Mặc dù bình thường thì cảnh sát rất ít giữ taxi có khách. Song, cảnh sát thường chú tâm săn người Việt, từ năm giờ sáng, khi những quầy hàng của người châu Á bắt đầu hoạt động. Tới máy trả tiền thì gặp rừng Câu chuyện của hai anh Nguyễn Thanh Nam và Trần Mạnh là bất thường, vì nó được tòa án Cộng hòa Ba Lan thụ lý. Sau khi ra khỏi đồn tại Raszyn, ngay tối hôm đó, hai ông đã gọi điện thoại đến Tôn Vân Anh nhờ giúp đỡ. Số điện thoại của Tôn Vân Anh được lưu truyền trong cộng đồng nhập cư người Việt, giống như điện thoại của ông Jacek Kuron đối với người Ba Lan gặp hoạn nạn thời cộng sản. Tôn Vân Anh, một nhà hoạt động gốc Việt tại Ba Lan sau một buổi làm việc trên đài phát thanh - Ảnh do nhân vật cung cấp Vân Anh nói chuyện với bà Irena Olczyk, lãnh đạo Quỹ La Strada. Bà Irena chỉ cách tới Văn phòng Nội vụ Cảnh sát. Tại đây, ngay từ đầu, vụ việc được xem xét một cách rất nghiêm túc. “ Ở đó, chúng tôi đã lấy lại được niềm tin, rằng chúng tôi đang sống trong đất nước pháp quyền, rằng Ba Lan không phải là nước tham nhũng như Việt Nam” – hai nạn nhân nói. - Chứng minh với tòa cảnh sát có tội không phải việc dễ làm – luật sư Maciej Zaborowski nói. - Trong các vụ sự liên quan hối lộ, thường chỉ có lời nói của các bên làm chứng. Tuy nhiên, trong trường hợp này, các viên cảnh sát bị tố cáo dường như đã tạo điều kiện cho tôi dễ dàng xử lý vụ việc. Thứ nhất, việc họ từ chối lý giải trước tòa. Tất nhiên riêng việc từ chối thôi tự nó đã không phát quyết tội lỗi của bất cứ ai. Song tòa có thể đặt câu hỏi: tại sao lại từ chối? Các bị cáo chỉ trả lời các câu hỏi đã lựa chọn. Trong quá trình chuẩn bị tố tụng, các bị cáo đã giải thích rằng, khi dẫn người Việt đến đồn cảnh sát, họ đã dừng lại tại trung tâm thương mại, để người Việt có thể sử dụng máy trả tiền tự động. Nhưng trên video do một trong hai người Việt mà tôi đại diện ghi lại cho thấy lời khai đó không đúng sự thật. Video cho chúng ta thấy rằng điểm dừng xe nằm trong rừng,vậy mà cảnh sát đã che gấu điều này. Thứ hai, khi các sĩ quan Văn phòng Nội vụ xác minh lời khai của người Việt, thì một trong các bị cáo (một trong hai cảnh sát - ND) trình giấy phạt 500 Złoty và bị cáo đã tự thanh toán đơn phạt này thay cho người phạm luật giao thông (luật cho phép thực hiện thủ tục như thế). Các cảnh sát viên tại Raszyn cố gắng thuyết phục rằng, mặc dù họ đã lấy một số tiền từ người Việt, nhưng sau đó họ đã thanh toán đơn phạt theo đúng luật. Nhưng chú ý: chuyên gia của tòa nói rằng chữ ký của ông Nguyễn Thanh Nam trên đơn phạt là chữ ký bị làm mạo. Theo chuyên gia thì chữ ký này không thuộc về bất cứ ai trong hai người Việt, cũng như không thuộc về ai trong hai cảnh sát bị tố cáo. Thứ ba, các bị cáo cứ lặp đi lặp lại trước tòa như hô thần chú là họ không nhớ chi tiết, bởi vì “ tất cả người Việt đều giống nhau”. Nhưng một sự kiện như sau đã xảy ra: tại một trong những phiên tòa đầu tiên, các bị cáo trông thấy Tôn Vân Anh trong nhóm người quan sát phiên tòa. Ngay lập tức, phía bị cáo đệ đơn yêu cầu không cho cô ngồi trong phòng xử, với lập luận là trong tương lai sẽ có thể bổ nhiệm cô làm nhân chứng, vậy cô không được nghe những gì diễn ra trong tòa lúc này. - Các bị cáo nhìn thấy tôi lần cuối cách đây một tháng, lúc đó tôi để kiểu tóc khác và áo quần cũng khác. Vậy tại sao họ lại dễ dàng nhận ra tôi, nếu như tất cả người Việt Nam đều giống nhau? - nhà hoạt động không nén được và nói vậy trước tòa. Thứ tư, bên bị cáo cố gắng củng cố lập luận rằng vụ việc này là do Tôn Vân Anh kích động, vì cô này “ không thích cảnh sát”. Để biện chứng, luật sư của một trong hai bị cáo mang trình tòa bài phỏng vấn mà Tôn Vân Anh chia sẻ với nguyệt san “Zwierciadlo” hồi tháng Hai năm nay. Trong bài nói chuyện đó, cô kể về hiện trạng của các nhóm thiểu số tại Ba Lan và có nói câu: “ Đôi khi người Việt bị cảnh sát Ba Lan đối xử không tốt”. Lập luận của phía biện hộ về sự thù nghịch của nhà hoạt động bị đổ vỡ khi Tôn Vân Anh trình tòa bằng chứng phản bác. Cô nộp cho tòa nào là bằng khen, nào là thư cám ơn mà cô nhận được từ cảnh sát, biên phòng khi cô tham gia hướng dẫn nghiệp vụ cho các công chức. Và các lớp đào tạo do cô dẫn dắt thường tập trung vào đề tài làm sao hỗ trợ công chức cảnh sát cải thiện phương pháp giao tiếp với người nhập cư. Sự thật khách quan và sự thật khác
Sự vụ trên tòa diễn ra trong hơn một năm rưỡi. Tomasz M. và Stefan G. bị kết tội hối lộ, tội tước đoạt trái phép quyền tự do của hai người, tội chiếm dụng tiền, tội lạm dụng quyền hạn. Tòa lệnh cho Tomasz M. và Stefan G. phải trả lại cho nạn nhân số tiền đã ăn cắp. Và phải trả lại cả tiền các nạn nhân đã phải chi phí cho luật sư. Các bị cáo không nhận tội. Họ công bố sẽ kháng cáo. Tôi đã gọi điện đến cả hai cảnh sát này cũng như đến các luật sư của họ xin được nói chuyện. Luật sư Artur Jurczak, người bào chữa cho Stefan G. từ chối. Ông so sánh trọng lượng bản án của tòa ngang như trọng lượng của những tin đồn. Stefan G. đã không gọi lại, mặc dù qua luật sư đại diện của ông, tôi đã gửi đến ông này yêu cầu liên lạc. Luật sư Piotr Derwinski, bào chữa cho Tomasz M. đồng ý gặp tôi tại tòa soạn. Ông hôn tay tôi, không quên nhắc lại những phiên tòa tiếng tăm có ông từng tham gia – ông từng là một trong những luật sư bào chữa cho đại tá Kukliński, cũng như cho các binh lính bị buộc tội thảm sát dân thường ở Nangar Khel. - Thưa phóng viên, cô đang tìm sự thật khách quan; còn tôi – tôi tìm sự thật bảo vệ được khách hàng của tôi – ông nói. - Tôi khẳng định rằng người tôi bào chữa là người vô tội. - Tại sao cảnh sát lại đưa hai người Việt vào rừng? - câu hỏi này tôi phải nhắc lại tới năm lần. Sau mỗi lần tôi đặt câu hỏi này, luật sư luôn đột ngột thay đổi đề tài. Khi tôi nhắc lại câu hỏi lần thứ sáu, ông ta nói : - Tôi không thể trả lời câu hỏi này của cô. Trong mọi trường hợp, nếu trên đường đi các cảnh sát viên có dừng xe, thì chỉ để tiếp tục ra hiệu cho người Việt rằng cần phải đi theo xe cảnh sát. - Tại sao các bị cáo từ chối giải thích trước tòa? - Họ không có nghĩa vụ phải giải thích trước tòa. - Tại sao cảnh sát không muốn nói với tòa sự thật, nếu như họ khẳng định rằng họ vô tội? - Chúng tôi đã lựa chọn chiến thuật đó trong quá trình xét xử. Thưa cô, đây có thể là sự trả thù lắm chứ. Những người Việt này có thể muốn trả thù, vì khi kiểm tra ông Stefan G. đã nói là những người này có nguy cơ bị trục xuất. - Những người bị kiểm tra đều có giấy tờ chứng minh cư trú hợp pháp tại Ba Lan. Tại sao cảnh sát lại đe dọa trục xuất những người như vậy? - Tôi không chắc, liệu các giấy tờ người Việt xuất trình có đúng tiêu chuẩn hay không. Giấy tờ của những người bị hại đều hợp pháp. Luật sư giải thích cho sự “thiếu lòng tin” vào bộ giấy tờ đó bằng cách nói: ai cũng biết là người Việt Nam và người Trung Quốc hầu như không chết. Khi ngã bệnh, ngay lập tức họ bay về Việt Nam, để chuyển hộ chiếu cho người khác. Và đối với người Ba Lan ít trải nghiệm trong đời, thì người Việt Nam hay người Trung Quốc trông như nhau. Ông luật sư khẳng định rằng để xác thực giấy tờ của người Á châu thì cách duy nhất là lấy vân tay và mẫu tròng mắt. Tôn Vân Anh, thuộc Hội Tự do Ngôn luận, cho hay: “ Chuyện người Việt Nam trước khi chết nhường hộ chiếu cho người bạn giống mình, hoặc giấu xác biệt tăm biệt tích để chuyển nhượng hộ chiếu cho người khác là một trong những “sự thật” gây tổn thương nhưng cũng phổ biến nhất đối với nhóm thiểu số người Việt.
Đó là những câu chuyện bịa đặt, giống như chuyện người Việt Nam ăn thịt chó và bồ câu của Ba Lan, như thể người Việt có tài bắt chim câu chỉ bằng một tay khi chim đang bay. Người Ba Lan và người Việt Nam tại Warszawa sống cạnh nhau từ nhiều năm, nhưng rất ít hiểu nhau”. Để người khác hết sợ Hai viên cảnh sát Tomasz M. và Stefan G. bị kết án ngày 26-8-2014 tại Tòa án Quận ở Pruszkow. Tomasz M. bị tuyên án hai năm, Stefan G. bị một năm mười tháng, cả hai bản án được chuyển thành bốn năm tù treo. Chỉ huy trưởng Cảnh sát tại Pruszkow đã ra lệnh sa thải kỷ luật hai viên cảnh sát này. Thương nhân Việt Nam buôn bán tại Wolka Kosowska đều đồng thanh nói rằng, từ khi Văn phòng Nội vụ Công an bắt giữ hai viên cảnh sát nọ, những người Việt sáng đi làm việc từ Warszawa qua Raszyn đến Wolka Kosowska không còn bị thường xuyên bắt giữ để tống tiền. Tòa án “vụ Việt Nam”, ngày 31-8-2013 đã tách riêng một vụ việc khác: khi khiểm tra đồn cảnh sát ở Raszyn, trong tủ của ông Tomasz M, các sĩ quan Văn phòng Nội vụ đã tìm thấy ma túy. Việc này được tách để tố tụng riêng biệt. Tôn Vân Anh phát biểu: “ Điều làm tôi vui nhất là các anh Nguyễn Thanh Nam và Trần Mạnh đã làm gương cho những người khác, là có thể đấu tranh và nên đấu tranh cho việc thực thi pháp luật. Đã nhiều lần khi tôi trực nhật tại Hội Tự do Ngôn Luận, tôi nhận được bao cuộc gọi từ những người Việt tuyệt vọng, đã nếm trải những sự việc tương tự. Khi sự việc mới xảy ra, một số người tuyên bố sẽ khởi kiện, nhưng sau đó thì không.
Hoặc họ sợ, hoặc họ không tin là có thể có cơ hội đòi công lý. Hoặc họ nghĩ: thôi, mất 1.000 Złoty rồi, bây giờ phải cố cần cù làm việc để bù vào khoản tiền đã mất. Nếu theo kiện thì ai sẽ thay tôi đi làm? Chúng ta, người Ba Lan (vì tôi đã cảm thấy tôi là người Ba Lan rồi), chúng ta có khi không hiểu được rằng đối với người Việt, việc di chuyển trên đường khó khăn như thế nào. Không chỉ những người “bất hợp pháp”.
Kể cả những người có giấy tờ cũng luôn sống trong cảm giác bị đe dọa. Nhiều người có quá khứ không tốt tại Việt Nam, quá trình vượt biên sang Ba Lan cũng để lại ấn tượng rất xấu trong họ, và họ không thạo ngôn ngữ. Nếu thêm vào đó là những trải nghiệm xấu vì bị cơ quan công quyền đối xử tệ hại, họ sẽ khép mình và có khi cả năm không đi thăm thú thành phố.
Họ chỉ đi từ nhà tới nơi làm việc với cảm giác là ở mọi góc đường luôn có nguy cơ nào đó chầu chực, như chầu chực để săn mục tiêu trong trò chơi điện tử”. Irena Dawid-Olczyk, thuộc mạng lưới “La Strada”: “ Đối với người Việt, chỉ cần bước vào tòa nhà thuộc văn phòng cơ quan hay đồn cảnh sát thì đó đã là một việc quá nặng nề. Họ mang sự sợ hãi từ trong nước họ sang đây. Tại Việt Nam, các cơ quan hành chính, các cơ sở an ninh luôn rất tham nhũng. Người dân bình thường không bao giờ biết sẽ được đối xử ra sao: có thể bị đuổi ra khỏi cơ quan, bị đánh đập hay bị giam cầm…”. Cả Nguyễn Thanh Nam cũng như Trần Mạnh đều cho rằng, điều quan trọng nhất mà họ giành được khi thắng kiện là lấy lại được lòng tin. Rằng Ba Lan, nơi họ sinh sống, là đất nước của pháp quyền. Vì vậy mà hơn một năm trước hai người đã đánh bạo và cắt một phần thu nhập để thuê luật sư. Mặc dù bình thường thì họ dành dụm từng xu để gửi về nhà. Mạnh tiết kiệm cho gia đình tương lai của mình, anh muốn lập gia đình tại Ba Lan. Anh sang đây đã mười một năm, khi mới mười tám tuổi. Kể từ khi sang Ba Lan, công việc của anh là bán hàng. Tám năm nữa anh có thể hy vọng được nhận thẻ định cư. Anh Nam thì dành dụm cho gia đình anh ở Việt Nam. Hai con gái của anh giờ đã mười bốn và mười tuổi. Trong mười năm qua, tức là từ khi rời Việt Nam, anh chỉ gặp vợ con có một lần. Trước khi sang được Ba Lan, Nam đã hai năm làm việc trong các xưởng may bất hợp pháp gần Moscow. Nhờ tiền anh gửi về từ Ba Lan, vợ con anh đã thoát cảnh đói nghèo. Giấc mơ lớn nhất của anh là mang được vợ con sang Ba Lan. Và một ngày nào đó, được thăm họ hàng ở Việt Nam, để cùng nhau đón Tết, Năm mới của Việt Nam. Ghi chú: (*) Bài báo được đăng trong phụ san hàng tuần “Duży Format” của nhật báo “Gazeta Wyborcza” hôm 25-9-2014, đã thu hút sự chú ý của công luận và nhiều bình luận vừa chúc mừng những người Việt thắng kiện, vừa có ý khen ngợi. Có ý kiến còn nói rằng “rất mừng rằng người Việt giúp Ba Lan trở thành nhà nước pháp quyền”.
Có ý kiến phẫn nộ vì bản án quá thấp đối với hai viên cảnh sát. Một chi tiết khác không được đề cập trong bài phóng sự là hai nạn nhân người Việt, anh Nguyễn Thanh Nam và Trần Mạnh, đã thỉnh cầu tòa phán tội đối với hai cảnh sát viên nhưng xin tòa cho họ hưởng mức phạt nhẹ nhất. Tôn Vân Anh tổng hợp, từ Warszawa - Ngày 28-9-2014 VIỆT KIỀU Tống Phước Hiến * Cuộc chiến tranh vừa qua, nhiều người ngỡ đã kết thúc vào 30.4.1975 và bị đánh giá là cuộc nội chiến Nam Bắc, mà Cầu Hiền Lương vắt qua giòng sông Bến Hải, trên Vĩ tuyến 17 là biểu tượng cho một giai đoạn xót xa của lịch sử. Thật ra, cuộc chiến tranh đó vẫn được tiếp diễn, nhưng theo thế trận khác và ý nghĩa cũng được nhận định lại đúng đắn hơn ! Sau 30.4.1975 Cộng sản phơi bày chân tướng là một lũ phỉ quyền tham ác lưu manh; nên Người Quốc Gia giành đoạt được chính nghĩa và tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng Dân tộc hầu có điều kiện đưa đất nước đến phồn thịnh, nhân dân được tự do. Trận quyết đấu nầy, Người Quốc Gia đang thắng thế, từng bước chứng minh Cộng sản Việt Nam là tội phạm nhân loại, là tội đồ Dân tộc. Nhưng bỗng nhiên hàng ngũ chúng ta có hiện tượng giao động, địch biết tránh né, thoát hiễm. Thì ra, chúng ta đang bị một loại “nội thù” rất nguy hiểm mà mọi người thường gọi bằng tên nghe khá hiền lành “VIỆT KIỀU” !. Tất cả những người Việt Nam, nếu không là bọn có quyền thế sống hoan lạc trên nỗi thống hận Dân tộc, và nếu có điều kiện đều phải đành lòng chấp-nhận gian nan, nghiệt ngã, nguy hiểm, đau nhục để đào thoát ra đi. Sóng nước đại dương, rừng sâu, hải tặc, thổ phỉ... không cản ngăn được ý chí. Họ đào thoát khỏi Cộng sản dưới nhiều hình thức như vượt biên, vượt biển, con lai, bảo lãnh đoàn tụ, cựu tù nhân (H.O), Cựu nhân viên Chính phủ Hoa Kỳ (U.11), thuyền nhân hồi hương (ROVR); đào tỵ khi xuất ngoại như công tác, biểu diễn nghệ thuật, thi đấu, công nhân trong chương trình "xuất khẩu lao động"; ngay cả những du học sinh hay du lịch… v.v... phần đông trong thâm tâm họ cũng mơ ước cho toàn dân Việt Nam thoát khỏi ách nạn Cộng sản. Ðối với Việt cộng, những người hội đủ điều kiện được tái định cư ở nước ngoài khi trở về Việt Nam đều bị xếp vào loại người có danh xưng là “VIỆT KIỀU”. Nếu lấy 30.4.1975 làm thời điểm, thì trước đó đã có nhiều đợt người Việt Nam đến sinh sống tại nhiều nước khác với nhiều lý do: A.- Tỵ Nạn Do Bị Bức Hại: I/ Thời Nhà Lý Có hai đợt ra đi của hai Thân Vương nhà Lý và cùng trôi giạt vào nước Cao Ly(hay còn gọi là Triều Tiên hoặc Ðại Hàn): 1/Ðại Ðô Ðốc Kiến Hải Vương Lý Dương Côn cùng chiến thuyền binh sĩ thuộc quyền, gia nhân và gia thuộc ra đi vì sợ bị phía bà Chiêu Hiếu Thái Hậu và Cảm Thánh Hoàng Hậu giết chết trong âm mưu tranh đoạt ngai vàng cho Hoàngtử Thiên Tộ (tức vua LýThần Tôn). 2/Các Ðô Ðốc Kiến Bình Vương Lý Long Tường, Bình Hải Công Lý Quang Bật cùng hạm đội dưới quyền và khoảng 6.000 người vì tránh họa diệt tộc của Thái Sư Trần Thủ Ðộ trong mưu đồ tiếm đoạt Vương quyền nhà Lý cho nhà Trần. II/ Thời Nhà Nguyễn Cũng có nhiều đợt với nhiều lý do, đa số cư ngụ tại Bangkok Thái Lan: 1/Nhóm cùng bôn tẩu theo Nguyễn Ánh(tức vua Gia Long),vào cuối Thế kỷ thứ XVIII. 2/Nhóm theo Thiên chúa giáo lánh nạn sát đạo dưới thời Minh Mạng, Thiệu Trị (1820 –1847). 3/Nhóm thuộc hạ của Cụ Phan Ðình Phùng trốn giặc Pháp vào khoảng năm1895. 4/Nhóm theo Cụ Phan Bội Châu (1908 – 1909).
B.-Tỵ Nạn Vì Những Lý Do Khác Bị Thựcdân Pháp lưuđày, ép buộc trong chươngtrình mộ dân, gia nhập quân đội Liên Hiệp Pháp, du học và không trở về hoặc xuất bôn chiến đấu giành chủ quyền cho Tổ Quốc. Phần đông lưu trú tại Pháp hay các quốc gia thuộc Pháp, hoặc Trung Hoa, Cao Mên. Ai Lao. Ngoài ra còn có một số ít định cư tại những quốc gia khác vì nhiều lý do. Trước khi đất nước rơi vào tay Cộng sản, những người có nguồn gốc Việt Nam, đang sinh sống ở nước ngoài được gọi là Kiều bào để phân biệt những sắc dân khác trú ngụ trên lãnh thổ Việt Nam như Ấn kiều, Hoa kiều, Pháp kiều. Nên khi Cộng sản gọi những người Việt Nam đang định cư ở nước ngoài là Việt kiều đã hàm chứa ý nghĩa những người nầy không còn là người Việt Nam. Số phận Việt kiều chơi vơi giữa người ngoại quốc và người Việt Nam. Tùy theo từng trường hợp, nhưng bao giờ Việt kiều cũng bất lợi kể cả trường hợp so sánh giữa Việt Kiều và những người thuộc các sắc dân khác cùng vào lãnh thổ Việt Nam trong cùng thời gian và cùng có lýdo phạm pháp giống nhau. C.- So Sánh Giữa Việt Kiều Và Ngoại Kiều: 1/Giống nhau: Tất cả mọi ràng buộc về pháp lý, hành chánh, thuế khóa, kiểm soát; những quy định gắt gao về giá trị kim ngạch hối xuất. Tóm lại không có sự khác biệt về phương diện kiểm-soát quản lý và những gì thuộc về kinh-tế, tài chánh. 2/-Khác nhau: Nếu vì bất cứ lý do gì có liên-quan đến pháp lý thì ngoại kiều được chi phối bởi luật pháp và thói quen mà quốc tế đã chuẩn nhận. Nhưng trong trường hợp nầy thì Việt kiều bị xem là "Công Dân Việt Nam”. Nghĩa là chúng thông báo, hoặc xử phạt tùy theo ý chúng. Chưa Quốc gia nào có chính sách kỳ thị và ty tiện với Kiều bào của mình như ngụy quyền cộng-sản Việt Nam. Dưới mắt chúng, Việt kiều là thành phần nguy hại cho sự tồn tại chế độ chúng, mặc dầu Việt kiều cũng là con bò sữa giúp chúng hồi sức, đồng thời Việt kiều cũng là những kẻ vong thân, nên Việt kiều bị Việt cộng xem như là những kẻ nô lệ dùng để kháng cự và tấn công các tổ-chức yêu nước chân chính. Tóm lại, cộng sản Việt Nam xem khinh, sửdụng sai khiến Việt kiều nhưng lúc nào cũng rắp tâm hãm hại Việt kiều. Khi nền kinh tế kiệt quệ, cộng sản thử nghiệm chính-sách chiêu dụ Việt kiều bằng nhiều hình thức như: gởi tiền, gởi quà, trở về thăm thân nhân, du lịch, hợp tác, đầu tư làm ăn tại Việt Nam. Có khá nhiều trường hợp những người Quốc Gia chân chính rất khổ tâm khi phải gởi tiền hay phải về Việt Nam vì tình cảm, vì trách nhiệm đối với thân nhân, đồng bào, đang lâm cảnh thiên tai, lao đao cơ cực, hay đồng đội bị lăng nhục. Xin được chia sẻ những hoàn cảnh cần có sự cảm thông ấy. Ðồng thời cũng xin chân thành nghiêng mình cảm tạ, ngưỡng mộ những anh hùng trở lại quê hương đối diện, trực chiến với quân thù với quyết tâm lật đổ bạo quyền cộng sản Việt Nam. Ðối tượng câu chuyện hôm nay là những Việt kiều trở về trên tư thế của kẻ hãnh tiến, loại áo gấm về làng, những kẻ đi tìm hoan lạc trên nỗi đau thương bất hạnh của đồng bào, đồng đội, những kẻ ích kỷ manh tâm đồng lõa với Cộng sản bất chấp lương tâm, làm chậm hoãn ngày bạo quyền sập đổ. Hãy nhìn lại mà Việt kiều đã lưu lại dấu vết gì với đồng-bào, đồng đội trong nước. D.-Việt Kiều Làm Đồng Bào, Đồng Đội Trong Nước Thêm Tủi Nhục, Cơ Cầu: Một Mỹ kim có giá trị tương đương khoảng trên 20.000 đồng Việt cộng nên Việt kiều tiêu xài hoang phí làm ảnh hưởng vật giá gia tăng trong khi tiền lương không gia tăng. Tầm cách biệt giữa người có hay không có thân nhân hoặc thành phần sống bám theo ảnh hưởng Việt kiều dài ra và cao thêm. Ðồng tiền ấy cũng xô đẩy những hạng người nầy với Việt cộng gần nhau hơn và từ dó, hình thành ra giai-cấp mới tạm gọi là liên minh thống trị. Ðồng tiền Việt kiều còn là nguyên nhân chủ yếu của các tệ nạn hối lộ tham nhũng, mãi dâm, trộm cướp, cờ bạc dẫn đến bất công áp bức, và dĩ nhiên nạn nhân vẫn là lương dân nghèo khó. E.-Việt Kiều Giúp Cho Việt Cộng Chạy Tội Vi Phạm Nhân Quyền Dù vô tình, thiển cận hay có toan tính, Việt kiều tung những thông tin, những hình ảnh phiến diện, biện hộ cho cộng-sản; làm lu mờ chính nghĩa, làm hàng ngũ chống Cộng bị ngộ nhận, bị trở ngại. Dưới nhiều hình thức như hợp tác, đầu tư, cố vấn, giao lưu “văn hóa, nghệ thuật”..., và dù khoác chiếc áo “tình thương, cứu trợ...”. Việt kiều vẫn là lực lượng tiếp sức hữu hiệu cho Việt cộng. Bởi vì chính Việt cộng mới là kẻ được thụ hưởng còn những người cùng khổ là đại đa số người dân Việt Nam nghèo đói, khốn cùng chỉ được làm “Vật Nhân Danh”, thậm chí còn tủi nghèo cơ cực hơn, và Việt cộng càng phè phỡn tàn ác hơn. Thế nhưng chưa bao giờ Việt kiều dám nhìn nhận sự ấu trĩ, hèn nhát, phản bội, và bất nhân của họ. Tùy thuộc vào những gì Việt kiều có và những gì Việt cộng cần mà bọn chúng đổi thay sách lược. Sách lược hay chính sách là chiến thuật. Chiến lược là trấn lột là trả thù không bao giờ thay đổi ! Hãy đi ngược thời-gian để thêm lần nữa nhận diện Việt cộng đổi thay về cái gọi là chính sách đối với Việt kiều . F.-Việt-Kiều Là Kẻ Phản-Quốc Cộng sản xem những người vượt biên, vượt biển trốn chạy chúng là phản quốc, phản động, phản bội, là cặn bã, là bọn quen ăn bám, là vong bản, dĩ điếm, lười biếng v.v... không một hình-dung từ xấu xa nhơ bẩn nào mà Việt cộng không dùng để ám chỉ, mô tả những người nầy, và dĩ nhiên Việt cộng có chính sách trả thù. Nếu không thoát được thì họ có thể bị bắn chết, bị hãm hiếp (nếu là nữ giới), bị lao tù đầy ải, tài sản bị tịch thu. Bị gây muôn trùng khó khăn trong đời sống như thân nhân bị giam giữ, bị điều-tra, vợ con, cha mẹ, anh chị em bị kềm chế quản-lý, bị kỳ thị ... Và cuối cùng chỉ có tiền và vàng mới may ra những áp-lực những khe khắc được nới lỏng, nhưng cái tội Phản-Quốc vẫn còn đó, chờ cơ-hội lên án và trừng phạt. G.- Việt Kiều Là Khúc Ruột Nối Dài Khi nền kinh tế trì trệ, tài sản Quốc gia bị Việt cộng đục khoét tham nhũng. Lầm than, thống hận vượt tràn qua sức chịu đựng toàn dân, hội đủ những điều kiện làm cuộc bạo loạn. Việt cộng liền nhớ ra và cải danh bọn “Phản Quốc” kia thành Việt kiều; rồi hóa thân cho Việt kiều thành “Khúc ruột nối dài”. Sau thời gian dè dặt thử nghiệm, Việt cộng thấy còn có thể khai thác tận dụng phần bên trong của cái khúc ruột nối dài nầy. Và từ thượng tầng đảng Mafia đỏ hình thành bộ phận Kiều vụ. Nhiệm vụ chủ yếu của Kiều vụ là nghiên cứu tìm ra phương cách gom góp ngoại tệ, khả năng, trí tuệ của Việt kiều hầu giữ vững chiếc ghế quyền-lực, để túi tham được phồng thêm. Bộ phận Kiều vận không những chiêu dụ Việt kiều về thăm, làm cái gọi là từ thiện mà còn về mua bán đầu tư, thực hiện chương-trình giao lưu làm nền tảng cho bọn tư bản đỏ đi ra, bọn phản-bội đi vào. Chúng kết nạp bọn vong thân, bọn bất lương rồi tổ chức những bọn nầy thành lực lượng khuấy phá, tạo hỏa mù làm mờ đi chính nghĩa, làm nản lòng người tâm huyết. Nhưng hạnh phúc không bao giờ đến với kẻ phản bội ! Không phải đó là lời răn đe mà còn là kinh nghiệm, không những ở tình trường mà còn ở nhân cách. Thật vậy, người Việt Nam định cư nước ngoài tuy vì nhiều lý do nhưng lại cùng một nguyên nhân là kinh tỡm Cộng sản, họ cũng là chứng nhân xác nhận ngụy quyền Cộng sản Việt Nam là quân vô lại, bất nhân, bạc ác không đáng để được gọi là NGƯỜInữa. Hầu hết, trước khi ra đi Việt kiếu đều ít nhiều ấp ủ: -Một ước mơ: Cộng-sản phải sụp đổ -Một hoài bão: Nhân-dân Việt Nam được sống đúng với giá-trị con NGƯỜI. Thoát được xiềng ách Cộng sản, họ sẽ thay mặt đồng bào, đồng đội còn lầm than cơ cực, còn bị kềm kẹp để tố cáo tội ác Cộng sản Việt Nam trước lương tâm nhân loại. Ước mơ và ý chí của họ thật đáng yêu và đáng kính. Họ đã làm rúng động lương tâm loài người. Nhân Loại cũng đã nghiêng mình cảm phục những Người Tỵ Nạn Cộng Sản Việt Nam. Họ đã từng được thế giới ngưỡng mộ như những anh hùng. Nhưng rồi vì một số trong những người Tỵ nạn Cộng sản Việt Nam năm xưa ấy đã nhẫn tâm trở giáo chém anh em cùng chung chí hướng, họ phản bội ngay cả ước mơ ban đầu của chính họ. Và chắc chắn họ sẽ nhận lại hậu quả từ chính những người từng là đồng cảnh, từng là đồng tâm, từng là đồng bào, từng là đồng đội và cũng chính ngay từ kẻ họ đang qùy gối cúi đầu. Sự phản bội đã có hậu quả xảy ra. Tương quan giữa hậu quả và nguyên nhân là tỷ lệ thuận. H.- Loại Việt Kiều Áo Gấm Về Làng : Mang tâm địa của kẻ hãnh tiến nên Việt kiều lấy sự đau xót, thương hận số phận bẽ bàng kém may mắn, hay sự mơ ước của những người vất vả nghèo khổ để tự mãn, để huênh hoang, kiêu căng và thích thú. Việt kiều bất chấp đạo lý tối thiểu để thỏa mãn hoan lạc dục vọng. Việt kiều thú tính ngay cả những trẻ vị thành niên (lắm khi là con em của thân nhân, bè bạn, đồng đội năm xưa). Thế nhưng Việt kiều rất hèn hạ với cán bộ Cộng sản để an toàn. Chính bọn Việt kiều nầy, đã cung-cấp tin tức, vu khống người Việt hải-ngoại cho Việt cộng. Việt kiều biện hộ và đồng lõa sự tham bạo của Việt cộng với nhân dân trong nước. Khi trở lại nơi định cư, Việt kiều rỉ tai tuyên truyền, nghe ngóng để báo cáo. Bọn Việt kiều vô lại nầy tình nguyện làm nô bộc không công, làm con chó giữ nhà và đánh cắp tài sản của người khác, có khi Việt kiều cống nạp hoặc hoảng sợ trước quyền lực mà cúi dầu phủ phục trước mũi giày Cộng sản hoặc a tòng với Cộng sản trong những mưu-đồ bất chính. Thời gian qua, một số trong bọn Việt kiều nầy đã bị Việt cộng cướp đoạt tài sản qua dàn dựng hoạt cảnh tai nạn lưu thông, du đảng xã hội đen; có tên bị thanh toán bởi ghen tương. K.-Việt Kiều Nhân Danh Tình Thương: Tình thương và lòng nhân ái, Quê hương và Tổ quốc luôn trên đầu môi chót lưỡi bọn Việt cộng, Việt kiều. Kẻ lưu-manh tàn bạo thường che giấu chân tướng bằng mỹ ngữ. Nên nạn nhân thiên tai, người nghèo khổ tật nguyền, những đồng đội ngày xưa oanh liệt nay gãy cánh bất hạnh lại bị Việt cộng liên minh với Việt kiều bất lương kinh doanh, lấy tình thương làm bình phong. Nếu bị vạch mặt, chúng sẽ lẩn trốn với tấm thẻ bài khẩu hiệu không cấm vận tình thương - nói theo ngôn ngữ của Nhật-Tiến. Có người còn tính đến cả chuyện xây nhà, xây trường học, đào giếng, trả tiền lương cho cô thầy giáo, mở trường dạy nghề, xóa đói giảm nghèo v..v...như Nguyễn xuân Bảo hay Vũ thành An - nghe đến đây Cộng sản vừa ngạc-nhiên vừa mừng!. Ðây là trách nhiệm của ngụy quyền Cộng sản. Toàn dân Việt Nam trong và ngoài nước có nghĩa vụ bắt buộc chúng phải trả lại quyền sống, quyền làm NGƯỜI CHO DÂN VIỆT. Tại sao kinh tế Quốc doanh bao giờ cũng ghi nhận thua lỗ và ngân sách quốc gia phải bù lỗ nhưng chúng không cho giải tư ? Bởi vì, toàn bộ các công ty Quốc doanh phải đài thọ cho cá-nhân và toàn gia-đình của non 500 ủy viên trung ương đảng vừa hưởng bổng lộc suốt đời, vừa có tiền gởi ở ngoại quốc để thủ thân khi có biến động, vừa phải chi cấp cho khoảng 2.000 du học sinh là con cháu bọn cán bộ. Theo sự tiết lộ của "Tổng Công Ty Xuất Khẩu Hải Sản Miền Nam Seaprodex", một trong những đơn vị trực tiếp chi trả mọi chi phí cho con cháu quan chức đỏ thì cứ 4 tháng, 1 du học sinh loại được du học do lý lịch phải đóng cho trường học (College hay University) khoảng 1.500 USD học phí, tiền chi tiêu như ăn ở, xe cộ, bảo-hiểm...là 1.500 USD nữa. Như thế, cứ mỗi 4 tháng, chỉ riêng cho con cháu bọn cán bộ đang du học thì toàn dân Việt Nam phải móc ra khoảng 6 triệu USD. Có biết nỗi niềm nầy không hởi phường bất lương J.-Việt Kiều Văn Hóa – Văn Nghệ Loại Việt kiều nầy trở về với Việt cộng khúm núm bợ đỡ xin áo cơm, như Hương Lan, Hoài Linh, Lệ Thu, Chí Tài, Chế Linh, Phượng Mai, Ý Lan, Khánh Ly. Nhưng áo cơm không đủ cho nô bộc, có đâu cho lũ phản trắc. Bọn nầy bị lừa, chưa về thì háo hức, lúc về bị khó khăn và trở ra bị chê bai là hương sắc tàn phai, là rẻ tiền, là phản giáo dục, là phi nghệ thuật (xem Thời-luận số ra ngày 12 và 19/8/2000) và đương nhiên loại Việt kiều nầy không tránh khỏi bị Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản vốn là những khách hàng đang nuôi sống họ trách cứ hoặc tẩy chay : Chưa về, cứ tưởng mình ngon Về rồi cúi mặt như con chó hèn Hay Ngậm đầy một miệng bẩn nhơ Nhổ ra e thẹn, nuốt vào thối tha Việt kiều về nước hát ca, Thân con chó ghẻ lê la gầm bàn. Ước mong các ca-sĩ, các trung-tâm băng nhạc không dẫm lên nỗi đau của đồng bào dù nhìn với chiều hướng nào. k.-Việt Kiều Hợp Tác Kinh Doanh Bọn Việt kiều nầy là những tên thương lái vô lương tâm, chúng biết đồng-bào, đồng đội nghèo khó, cần tiền, phải nhẫn nại, chịu đựng, nên chúng móc ngoặc với bọn cường quyền chèn ép bóc lột hà hiếp đồng-bào. Những vụ làm sỉ nhục công nhân Việt Nam như bắt quỳ, đánh giày lên đầu, phạt trừ lương...những chủ Việt kiều nầy có thái độ gì không ? -Thưa KHÔNG, rất rõ ràng là KHÔNG ! Dưới mắt Việt cộng, thì Việt kiều phải là vật hy sinh. Để bảo vệ manh mối làm ăn, để tỏ thái độ quyết liệt với nhau khi nội vụ bị phanh phui, để giữ bí mật lưu manh thương trường, lập tức Mafia Việt cộng xử tử Việt kiều để bịt đầu mối như vụ bà Việt kiều Nguyễn Thị Hiệp ở Canada, hay vụ tống vào tù để trấn lột như Việt kiều Trịnh vĩnh Bình ở Hòa-Lan với số vốn bị tước đoạt lên tới 20 hoặc 30 triệu Mỹ kim; và Việt kiều Lưu hùng Sơn tức Sonny Lưu 55 tuổi trú tại vùng Little Sài Gòn Nam California, Hoa kỳ đang bị “rắc rối” vì mang số tiền 25 triệu dollars về làm ăn và đang quỵ lụy khẩn cầu được bỏ của cứu lấy thân ! Thực tế người dân trong nước quá bi thương khốn cùng. Đồng bào căm hận Việt kiều đã đóng vai Việt gian, đồng lõa với Việt cộng, gieo bao đau thương tan tác thảm nạn, nên trong nước có câu ca-dao mới như sau: Việt Gian, Việt Cộng, Việt Kiều, Ba thằng Việt ấy, tiêu điều Việt Nam. Hay : Việt gian, Việt cộng, Việt kiều, Ba thằng Việt ấy, đem bêu thằng nào ? Việt kiều, Việt cộng, Việt gian Ba thằng giặc ấy, thằng nào cũng bêu ! Ðể chấm dứt câu chuyện trao đổi hôm nay, chúng tôi xin lược trình bài phóng-sự của ký giả Xuân Mai báo áp phê số 4 tại Paris như sau : -“Ông Nguyễn Minh Tuyền, 59 tuổi, định cư tại Pháp năm 1980 với lá đơn có lời lẽ chân thành thống thiết như sau: "Nếu tôi ở lại, nhà cầm quyền CSVN sẽ bắt giam, đánh đập và bỏ tù tôi không có ngày ra. Vì lý do nhân đạo, tôi trân trọng thỉnh cầu nước Pháp vui lòng chấp thuận cho tôi được tỵ nạn chính trị, sống tạm dung trên mảnh đất tự-do nầy, và tôi chỉ trở về xứ cũ, khi nào Quê-hương tôi không còn duy trì chế-độ Cộng-sản”. Nhưng ông Tuyền đã phản bội tư cách tỵ nạn của ông liên tục từ năm 1995 đến Tết Canh Thìn 2.000 tới 7 lần chôn (chôn bà nội 3 lần, 2 lần chôn bố và 2 lần chôn mẹ mà không hề xin phép OFPRA (Office Francais de Protection des Réfugiés et Aptrides – Cơ quan bảo vệ những người tỵ nạn và vô Tổ quốc tại Pháp) hoặc giấy Sauf-Conduit (hộ chiếu đặc biệt) của Cảnh sát địa phương. Ngày 26.7.2000 ông Tuyền và 544 người Việt khác được OFPRA gởi thư thông báo rút lại thẻ tỵ nạn với lý-do: "Ông tự ý trở về xứ cũ, khi chế độ độc tài Cộng sản chưa chấm dứt, nhưng không hỏi ý kiến hoặc thông báo cho cơ quan chúng tôi biết, để bảo-vệ sinh mạng cho ông, tức là ông đã từ bỏ quyền tỵ nạn chính trị, không cần đến sự che chở của chúng tôi nữa. Chiếu theo đìều I khoản A-2 của Hiệp định Genève ngày 28.7.1951, chúng tôi thu hồi lại thẻ tỵ nạn. Ðồng thời cũng trình lên Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc, kể từ hôm nay, OFPRA không còn chịu trách nhiệm với ông, về tình trạng cư-trú, xin việc làm, hưởng trợ cấp xã hội, theo diện tỵ nạn chính trị”. Ðược biết từ năm 1988 đến tháng 7 năm 2000, tổng số người Việt lâm vào tình trạng tương tự là 22.417 người. Theo lời ông M.Motu thì người tỵ nạn có quyền trở về xứ cũtrong trường hợp đặc biệt như con cái, cha mẹ, anh chị em ruột bị bịnh nặng, đang hấp hối, chết ; trong các trường hợp đó người tỵ nạn có thể đến Préfecture sở tại xin cấp Sauf-Conduit. Sẽ phạm luật nếu đến tòa Ðại-sứ Việt cộng xin visa trước khi có hộ-chiếu đặc-biệt”. Tên trưởng-phòng cấp chiếu khán Việt cộng rất đểu cán khi giải thích vấn đề nầy : - "Nhà nước Việt Nam rất có thiện chí trong vấn đề hàng tháng cung cấp danh sách ghi nhận tất cả người Việt Nam mang Titre de Voyage (thẻ thông hành) lên sứ quán xin nhập cảnh cho Préfecture biết để Préfecture thông báo lại cho OFPRA. Chúng tôi hợp tác việc ấy với chính phủ Pháp là nhằm mục đích chứng minh cho dư luận Quốc tế thấy rằng, bọn Việt kiều nầy lếu láo, chạy qua đây vì lý do kinh tế, kiếm việc làm, chớ không phải vì nhà nước chúng tôi đàn áp, bắt bớ, tra tấn, giam cầm, chà đạp nhân quyền như bọn họ đã từng vu khống”. Và một giới chức cao cấp trong bộ Ngoại giao Pháp mạnh mẽ phản đối : - Chính phủ Pháp không bao giờ hại người vô tội như thế. Chính-phủ Việt cộng từ lâu, qua các trào Võ văn Sung, Mai Văn Bộ, Trịnh ngọc Thái, Nguyễ -chiến Thắng và Nguyễn mạnh Dũng đã xem người Việt Nam là thành phần cực kỳ phản động, cần phải triệt hạ, khéo léo áp dụng chính sách gậy ông đập lưng ông” . - Dễ dãi trong việc cấp chiếu khán cho người Việt tỵ nạn về thăm nhà, dù thừa biết rằng, họ không có quyền. Ðây là cách thức giúp người tỵ nạn phạm pháp, để một ngày kia họ sẽ bị OFPRA rút thẻ ty nạn. - Sau khi cấp chiếu khán bừa bãi, tòa đại sứ lại ra thông cáo cho Bộ Nội Vụ Pháp biết rõ tên tuổi từng người xin cấp visa về Việt Nam . - Một khi bị rút thẻ ty nạn, họ bị mất luôn thẻ thường trú (Carte de séjour).Muốn xin việc làm phải có thẻ Lao-động (Carte de travail). Nếu muốn cư ngụ trên 3 năm phải trình Passport của CSVN. Như thế người tỵ nạn đang được sống Tự do, bỗng trở thành công dân VC, đặt mình dưới sự kiểm soát của Cộng sản Việt Nam cho đến mãn kiếp. - Chính-phủ Cộngsản Việt Nam cũng phải hiểu rằng, tán trợ, hoặc giúp đỡ người phạm pháp, cũng phạm tội đồng-lõa. Cấp visa cho người tỵ nạn tức là cố ý phạm luật bang giao giữa hai nước. Chúng tôi nghĩ, đã đến lúc nên đặt lại vấn-đề nầy với chính phủ Cộng sản Việt Nam”. Kết luận Ðồng bào trong nước đã đầy ắp thống khổ và căm hận. Chấm dứt ngay hành động bất lương, những con người manh tâm mang LÒNG VIỆT GIANtrong chiếc áo Việt kiều. Những hình ảnh nêu trên chắc cũng đủ thức tỉnh lương tâm một số người, nếu có và còn muốn trở thành VIỆT KIỀU. Tống Phước Hiến
Người Việt không xấu nhưng nghèo đủ thứ...nên cuốicùng lại xấuTác giả: Alan Phan.Gần đây tự phát một phong trào đánh hội đồng về người Việt xấu xí, từ dân đen trong nước đến Việt Kiều hải ngoại, từ các mạng lề trái đến báo lề phải. Bị nhiều phóng viên và BCA quay hỏi về đề tài này, ông già Alan xin xác định rõ ràng: chúng ta không xấu.Lý Nhã Kỳ, một phụ nữ Việt không xấu mà cũng chẳng nghèo. Mà số này thì khá nhiều! Trước hết, xấu xí là một tĩnh từ chung chung, nhất là khi nói về con người. Người này có ngoại hình xấu, cô này nhiều tật xấu, anh này thích chơi xấu, thằng bé này xấu ăn, bà lão kia đang “làm” xấu…và tất cả điều đó cũng không bầy tỏ điều gì rõ ràng lắm. Ngay cả ngoại hình. Cô người mẫu có khuôn mặt hơi xấu (theo định giá chủ quan) nhưng với một bầu sữa tốt thì cũng có thể nổi tiếng với rất nhiều giới trẻ đang dư thừa hormone. Tôi quen biết một phụ nữ giàu đẹp quý phái học thức ở Mexico. Khi cô lấy chồng, cả gia đình bạn bè đều chê là mắt mũi cô để đâu mà ôm phải một ông “xấu đau xấu đớn”; nhưng họ đã sống hạnh phúc với nhau hơn 15 năm.Theo định nghĩa về ngoại hình xấu xí của tôi, người đàn bà chỉ thực là xấu xí nếu sáng tôi ngủ dậy cùng nàng, nhìn nàng qua ánh sáng đầu ngày và chỉ muốn lấy một khẩu súng bắn vào đầu mình cho đỡ ngu và bớt hổ thẹn.Trong đời, tôi đã có vài lần muốn tự tử kiểu đó, nhưng chưa lần nào ở Việt Nam. Như vậy, tôi tin chắc rằng ít nhất phụ nữ Việt không “xấu”. Còn về tính xấu nói chung của người Việt? Những từ ngữ thông dụng nhất là lưu manh vặt, tham lam, ăn cắp, chật hẹp, dối trá, thích xin xỏ, ỷ lại, lười biếng, tự ti và tự tôn lẫn lộn. Cụ Tản Đà (1927) thì chê là quan bất nghĩa vô lương, còn dân thì ngu hơn lợn nên bị hút máu. Cụ Phan Khôi (1929) thì nói các sĩ phu ảo tưởng thoái hóa cho mình là Thượng Đế. Còn cụ Lương Thiệp (1944) thì kết luận là Nho sĩ do Trung Quốc đào tạo thì trì trệ, bất lực, hèn kém. Ngày hôm nay, trên mạng lề phải, không thiếu những câu chuyện và lý do để “tự hào dân tộc” từ bóng đá đến siêu mẫu bị lộ hàng; còn mạng lề trái thì đủ chuyện để làm chúng ta xấu hổ: ăn cắp ở Nhật Bản, ăn tham ở Thái Lan; lưởng gạt ở Mỹ…và ăn rồi chạy ở Việt Nam (hay hạ cánh ở ẩn trong an toàn với biệt thự giá rẻ nhất là vài chục tỷ).
Thực ra, suy cho cùng, những cái gọi là “xấu xí” đều phát xuất từ một nguyên nhân quan trọng nhất: người Việt ta rất nghèo.Nghèo tiền bạc là một chuyện thấy rõ qua lịch sử. “Bần cùng sinh đạo tặc” nên cả dân tộc và quốc gia loay hoay hoài 80 năm qua với vụ đi xin đi vay. Không được thì cướp giật rồi đổ thừa cho cái “nghèo tiền” của mình.Nghèo đến độ phải dựng tượng thánh cho những tay bịp bợm quốc tế hay dùng một cuốn sách từ thế kỷ 18 làm kim chỉ nam cho thời đại Internet. Phải ôm chân khóc lóc xin xỏ đủ chuyện từ những ông chồng vũ phu, bần tiện, chuyên lợi dụng…vì bỏ ông thì mất sổ hưu? Rồi đến những cái nghèo về văn hóa, đạo đức. Hoặc cái nghèo về kiến thức, tư duy. Nghèo về quan hệ gia đình và xã hội. Nghèo khi hành xử theo các thói quen xấu của thế kỷ 19 ở thế kỷ 21. Luôn luôn có những lý giải, biện luận, bào chữa; nhưng tất cả chỉ chứng minh thêm cho một cái nghèo khác cũng khủng khiếp: nghèo về tinh thần, về sự tha hóa dối trá không phương cứu chữa.
Một ông du học sinh (ông khoe vậy) chê là đời sống ở Mỹ như “tù khổ sai”, làm việc quần quật suốt ngày. Ông kết luận là ông và người Việt, dân chủ, à quên, “hạnh phúc” gấp trăm lần bọn tư bản giẫy chết. Dĩ nhiên, một bà già bán vé số ở Việt Nam sẽ hạnh phúc vô cùng, nếu bà có một người con “làm tù khổ sai” gởi tiền về tiếp tế mỗi tháng. Và chắc ông này cũng không biết các lao động Việt trong những khu công nghiệp phải “khổ sai” như thế nào mỗi ngày? Tù khổ sai Mỹ dường như là lựa chọn của phần lớn nhân loại.Một vài bạn phản biện cho rằng vào thời bao cấp ngoài Bắc, chúng ta đâu có văn hóa chụp giựt như ngày nay? Suy cho kỹ, trong một xã hội chỉ đi xe đạp và ăn bo bo thì cũng không có nhiều thứ để chụp giựt. Tuy tôi không sống qua môi trường này (thank God), tôi vẫn đọc rất nhiều hồi ức từ các nhà văn, các học giả…về một xã hội dối trá, trên lạy dưới đạp, tham nhũng tem phiếu thực phẩm…chỉ đáng vài xu. Chắc họ hoang tưởng hết?Nhưng đó là chuyện ngày xưa. Điều khó hiểu nhất với tôi là chúng ta không sống trong hang động thời đồ đá mà tại một thế giới nơi kiến thức toàn cầu tụ tập gần như miễn phí với dấu bấm Google. Các nguyên tắc và hành xử văn minh văn hóa được nhắc nhở liên tục qua những kênh thông tin tự do. Ngoài tiền bạc, tại sao chúng ta phải chứng kiến cái nghèo tàn mạt về kiến thức, văn minh, nhân cách và tinh thần?Sự nghèo hèn tự nguyện của người Việt là điều chua xót nhiều hơn các quan điểm về xấu xí. Nhìn ra một bối cảnh xa hơn, khi xã hội “chấp nhận” nghèo hèn để yên ổn thì chúng ta phải suy nghĩ điều gì? Khi một người vợ cam phận sống đời đời kiếp kiếp …vì vài lợi ích cá nhân của ông gia trưởng đã khô xác…thì chúng ta có nên quay mặt đi và thở dài?Có xấu xí không khi đã nghèo mà còn ngu?Theo blog Alan |
|