(XHTT) Mới đây, Global Firepower đã công bố một báo cáo về bảng xếp hạng 35 cường quốc quân sự hàng đầu thế giới. Nhiều người đã lo lắng về sự xếp hạng này, nhưng không phải thế!(XHTT) Mới đây, Global Firepower đã công bố một báo cáo về bảng xếp hạng 35 cường quốc quân sự hàng đầu thế giới. Nhiều người đã lo lắng về sự xếp hạng này, nhưng không phải thế!Xếp hạng cũng chỉ là “để xếp hạng”
Theo đó, ba vị trí đầu tiên trong bảng xếp hạng này là Mỹ, kế đến là Nga và Trung Quốc (TQ).Việt Nam xếp vị trí thứ 23 thế giới và đứng thứ 2 Đông Nam Á. Riêng khu vực Đông Nam Á, chỉ có 3 nước lọt vào top 35 là Việt Nam, Thái Lan và Indonesia. Trong đó, Indonesia ở vị trí thứ 19 vì lực lượng động viên của họ có tới 129 triệu người (gấp 2,5 lần Việt Nam) và ngân sách quốc phòng hơn 6 tỷ USD mỗi năm (gấp 2 lần Việt Nam). Thái Lan đứng sau Việt Nam, mặc dù chi tiêu quân sự hàng năm hơn 5 tỷ USD nhưng nguồn động viên ít hơn và số lượng vũ khí chính như máy bay, xe tăng cũng ít hơn. Có một điều, bảng xếp hạng có lẽ đã được hoàn thành trước khi tàu ngầm thứ 2 về Việt Nam nên mới thống kê Việt Nam có 1 tàu ngầm.

Molniya, lớp tàu tên lửa trang bị tổ hợp tên lửa chống hạm Kh35 của Hải quân VN.
Tuy nhiên, theo giới chuyên gia quân sự, vị trí của bảng xếp hạng là một chuyện, còn “sự hơn thua” lại là một chuyện khác.
Bởi lẽ, để xếp hạng được (và có sở cứ), những người xếp hạng đưa ra vài chục yếu tố, gồm những tiêu chí như, tổng nguồn đầu tư cho quốc phòng (của các quốc gia); số vũ khí thiết bị quân sự hiện có, trong đó những vũ khí, thiết bị quân sự tiên tiến và hiện đại là quan trọng; số lượng quân nhân biên chế trong quân đội; khả năng chi tiêu quốc phòng; điều kiện địa lý và tài nguyên thiên nhiên sẵn có; v.v... và v.v... Dĩ nhiên, với một quốc gia “khủng” như TQ, có dân số đông nhất thế giới, cộng với kinh tế phát triển mạnh hàng chục năm qua nên họ có vị trí xếp hạng cao là đương nhiên. Còn Mỹ và Nga là một trong những “cường quốc” về quân sự lẫn kinh tế từ lâu, thậm chí còn là những quốc gia cung cấp vũ khí, khí tài cho các quốc gia khác nên khó có đối trọng”. Vấn đề là, chênh tới 20 bậc trong bảng xếp hạng, nhưng trong con mắt của các chuyên gia quân sự, Việt Nam “chẳng kém cạnh” TQ là bao.
Các chuyên gia quân sự Mỹ xem VN mạnh hơn TQ
Trong một bài viết trên website tạp chí The National Interest ngày 12/7, chuyên gia quân sự Mỹ Robert Farley đã phân tích những loại vũ khí của Việt Nam khiến TQ phải dè chừng nếu có chiến tranh xảy ra.
Ông Farley phân tích thêm, nếu chiến tranh xảy ra, mặc dù Việt Nam và TQ có cùng một số loại vũ khí giống nhau (đều được mua từ Nga), nhưng quân đội Việt Nam có thể sử dụng chúng hiệu quả hơn để chống lại quân đội TQ. Lấy cuộc chiến tranh biên giới Việt - Trung năm 1979 làm minh chứng, ông Farley cho rằng, quân đội Việt Nam không dễ gì bị TQ bắt nạt.
Ông Farley cho rằng, cả hai bên sẽ đều sử dụng máy bay Su-27 nếu chiến tranh xảy ra. Nhưng Việt Nam sẽ biết kết hợp tốt giữa Su-27 với những chiến đấu cơ thế hệ cũ hơn như Mig-21 trong hệ thống phòng không của mình để bảo vệ vững chắc không quân phận Việt Nam và phản công mạnh trở lại phía TQ. Và ông Farley cho hay, Quân đội Việt Nam hiện có khoảng 40 chiếc Su-27 Flanker với nhiều loại khác nhau. Đồng thời Việt Nam cũng đang đặt mua thêm 20 chiếc nữa từ Nga.
Còn trên biển - riêng về tàu ngầm lớp Kilo, ông Farley nhận xét, TQ là nước mua nhiều tàu ngầm lớp Kilo của Nga nhất. TQ đã mua 12 chiếc tàu ngầm loại này, với nhiều phiên bản khác nhau. Đến năm 2006, Nga đã bàn giao đủ 12 tàu ngầm lớp Kilo cho TQ.
Việt Nam cũng đặt mua 6 tàu ngầm điện-diesel Kilo vào năm 2009. Hợp đồng này bao gồm cả việc huấn huyện cho đội vận hành tàu ngầm của Việt Nam, có trị giá lên đến 2 tỉ USD - theo hãng tin RIA Novosti (Nga). Hiện Việt Nam đang sở hữu hai tàu ngầm Kilo 636 và Nga sẽ tiếp tục bàn giao 4 chiếc còn lại (theo hợp đồng) cho đến năm 2017. Tuy số lượng tàu ngầm Kilo 636 của của Việt Nam ít hơn, nhưng có thể là mối đe dọa lớn đối với các tàu chiến và các cơ sở quân sự ven biển của TQ, ông Farley nhận định. Bởi tàu Kilo của Việt Nam có kính tiềm vọng - “Con mắt” của tàu, là một ống kính quang học có thể kéo dài hoặc rút ngắn và đưa lên khỏi mặt nước để quan sát mục tiêu khi tàu ngầm ở cách mặt nước khoảng 8-10m, hiện đại hơn hẳn các tàu ngầm Kilo của TQ. Ngoài ra, tàu ngầm Kilo 636 nổi tiếng nhờ khả năng hoạt động cực êm, khó bị phát hiện, được các chuyên gia quân sự phương Tây đặt cho biệt danh “Hố đen trong đại dương”.
Do thuộc thế hệ sau, tàu ngầm Kilo của Việt Nam còn được trang bị lớp vật liệu chống dội âm (hay còn gọi là ngói chống dội âm) tốt hơn hẳn các tàu ngầm Kilo của TQ. Ông Farley cho biết thêm, mặc dù Trung Quốc đã cố gây áp lực nhằm khiến Nga chậm giao tàu ngầm và đạn dược cho Việt Nam, nhưng phía Moscow không làm theo.
Giáo sư Carl Thayer thuộc Học viện Quốc phòng Úc cũng có cùng quan điểm với ông Farley, cho rằng: “Tất cả công nghệ, bao gồm cả hệ thống vũ khí của tàu ngầm lớp Kilo của Việt Nam hoàn toàn hiện đại hơn của TQ”.
“Bất kỳ quốc gia nào định dùng sức mạnh hải quân để cưỡng bức Việt Nam cũng sẽ phải dè chừng đội tàu ngầm Kilo của Việt Nam. Với đội tàu ngầm lớp Kilo hiện đại, đối thủ sẽ phải gánh chịu tổn thất nặng nề nếu tấn công Việt Nam”, ông Thayer nhận định.
Với lực lượng mạnh như Trung Quốc thì Việt Nam có những gì để đối phó lại. Liệu mất trắng quần đảo hay không??Các bạn cùng so sánh lực lượng tàu chiến hải quân Việt Nam và tàu chiến hải quân Trung Quốc xem ai mạnh hơn ở dưới đây
Lực lượng tàu chiến của hải quân Việt Nam
1.-Chiến hạm đầu tiên của Việt Nam: Tàu tuần dương Petya II – III
Petya II và III là lớp chiến hạm hiện đại đầu tiên được hải quân Việt Nam nhận về sau khi giải phóng miền nam, năm 1978-1979 đã tham chiến trong cuộc chiến với Khmer đỏ. Hiện nay Petya vẫn còn phục vụ trong lực lượng HQ Việt Nam.
Loại chiến hạm Petya II này có độ giãn nước 1077 tấn, kích thước 81.8 x 9.2 x 2.85 m. Sức đẩy 3 trục, 6000bhp với hai động cơ đẩy Turbines khí 30.000 shp. Tốc độ của loại tàu này lf 29 hải lý/giờ.
HQ-13 lớp Petya II

Tàu được trang bị radar Fut-N/Strut Curve 2-D. Hệ thống vũ khí bao gồm: hai tháp pháo với súng hai nòng 76.2mm, 2 ống phóng ngư lôi 15.8 inch, hai dàn phóng tên lửa RBUU-6000 ASWRL
Còn loại tàu Petya III có độ giãn nước 1.040 tấn, kích thước 81.8 x 9.2 x 2.72 m. Sức đẩy 3 trục gồm một động cơ diesel, 6000 bhp với hai động cơ đẩy turbines khí 30.000 shp. Tốc độ tương đương với tàu tuần dương Petya II là 29 hải lý/giờ.
Petya III được trang bị radar Fut-N/Strut Curve 2-D. Hơn nữa tàu còn được lắp đặt hệ thống định vị siêu âm Titan hull mounted MF có thể phát hiện tàu ngầm và hệ thống định vị Herkules lắp trên thân.
Hệ thống vũ khí của Petya-III gồm có 2 tháp pháo với đại bác đôi 76,2 mm AK-726 với tầm bắn thẳng mục tiêu trên biển xa 8.2 km. AK-726 được điểu khiển bằng hệ thống tự động Fut-B có thể bắn hạ máy bay có tốc độ bay từ 350 – 650 m/s, ở độ cao từ 500 – 6000 m. Tầm bắn tối đa là 18,3 km. Tốc độ bắn là 45 viên trong 1 phút. Tuy nhiên đây là hệ thống pháo khá cũ được sản xuất vào các năm 1958 – 1964, cho nên có nhiều hạn chế về tầm bắn cũng như độ chính xác.
Clip tàu chiến Việt Nam đánh nhau tàu chiến Trung Quốc mới nhất
< iframe title="YouTube video player" class="youtube-player" type="text/html" width="640" height="505" src="http://www.youtube.com/embed/cEUYhPeEbrQ?wmode=transparent&fs=1&hl=en&modestbranding=1&iv_load_policy=3&showsearch=0&rel=1&theme=dark" frameborder="0" allowfullscreen="" style="box-sizing: border-box; max-width: 100%;">< /iframe>
Petya-III còn có 2 dàn Rocket RBU-6000 chống ngầm với 12 ống phóng mỗi dàn, sử dụng rocket cỡ 213 mm RGB-60 không điều khiển có khả năng bắn xuống mặt nước sâu từ 10-500m với tốc độ 11,5 m/s, tầm xa từ 350 – 5800 m. RBU-6000 được điều khiển bởi hệ thống Burya, ngoài nhiệm vụ chính là chống tàu ngầm và tàu chiến khác, RBU-6000 còn dùng để oanh kích các mục tiêu bờ biển. Ngoài ra Petya-III còn có 10 trái ngư lôi cỡ 400 mm
HIện nay Việt nam có ba tàu tuần dương Petya II và hai chiếc Petya III mang tên HQ-09 và HQ-11. Tuy nhiên, đây là loại tàu tuần dương nhỏ, khả năng chiến đấu còn hạn chế chính vì vậy Việt Nam trang bị thêm ccs loại tàu chiến hiện đại và có khả năng chiến đấu cao hơn.
2. Tàu hỏa tiễn cỡ nhỏ lớp BPS 500
Đây là loại tàu được Nga thiết kế nhưng các công việc sản xuất và lắp ráp tại Việt Nam. Tàu có kích thước 62 x 11 x 2.5 m, độ giãn nước 517 tấn. Sức đẩy của tàu gồm hai động cơ diesel, 2 động cơ phản lực waterjets với 19.600bhp. Tốc độ đi của tàu khá nhanh 32 hải lý/giờ.

BPS 500 được trang bị radar Positiv-E/Cross Dome air/surf search có thể định vị trên không và dưới biển và hệ thống phóng mồi bẫy 2 PK decoy.
Hệ thống vũ khí gồm 8 hỏa tiễn KH-35 Uran SSM, 1 đại bác 76.2mm, một súng phòng không 30mm, 2 súng 12.7mm MG.
3.-Tàu tên lửa Tarantul I
Đây là loại tàu tên lửa Việt Nam mua bản quyền đóng loại tàu này trong nước. Hiện Việt Nam có khoảng 4 chiếc Tarantul 1, và 2 chiếc Tarantul thế hệ mới thuộc project 1412.8. Trong tương lai sẽ đóng thêm 20 chiếc Tarantul nữa.
Tàu chiến Tarantul dùng để tác chiến tại các vùng cửa biển và ven bờ. Tàu Tarantul trang bị nhiều loại vũ khí hiện đại và các khí tài tiên tiến, có khả năng độc lập tác chiến và chiến đấu hiệp đồng trong đội hình biên đội.
Tàu tên lửa Tarantul trang bị đầy đủ các thiết bị trinh sát và truyền tin, các hệ thống ra-đa trinh sát và kiểm soát xạ kích. Ra-đa có tầm bao quát toàn bộ vùng tác chiến trong tầm bắn của tên lửa, bám tín hiệu 15 mục tiêu và khoá tới 6 mục tiêu trong môi trường tác chiến điện tử. Hệ thống ra-đa kiểm soát bắn của pháo và tên lửa trên tàu có khả năng phát hiện các mục tiêu trên không, trên biển, tự động dò tìm các tín hiệu đặc trưng của mục tiêu và xử lý các tín hiệu đó chuyển thành dữ liệu tác xạ trên máy tính

Vũ khí chính trang bị trên tàu Tarantul gồm: hệ thống tên lửa đối hạm với giàn phóng tên lửa U-ran phóng tên lửa hành trình KH-35 sắp xếp thành hai hàng, mỗi hàng 8 ống phóng (16 tên lửa). Tên lửa hành trình KH-35 dẫn bằng ra-đa chủ động giai đoạn cuối. Trên hành trình bay, tên lửa bay cách mặt nước 15 mét, ở giai đoạn cuối chúng hạ thấp độ cao và tiêu diệt mục tiêu chỉ ở độ cao từ 3 mét đến 5 mét. Tên lửa Kh-35 có cự ly tác chiến 130km, tốc độ tối đa khoảng 300 m/s, đầu nổ HE nặng 145 kg. 12 tên lửa phòng không Igla-1M. Một pháo hạm 76mm AK-176M (với 316 viên đạn), tầm xa 15km, hai pháo phòng không 30mm AK-630M
Ngoài ra, tàu cũng có thể
thể trang bị với loại tên lửa hành trình đối hạm Moskit – SS-N-22 với 2 giàn phóng (tổng cộng có 4 tên lửa), tầm xa 90 – 120 km, tốc độ siêu âm. Tầm bắn tối đa 250km, tốc độ mach 3, trần bay cách mặt nước biển 20m, đầu nổ 320 kg.
Loại tàu này còn thích hợp với tên lửa hành trình đối hạm P-15 Termit “SS-N-2C” với 2 giàn phóng (tổng cộng có 4 tên lửa), tầm xa 80 km, tốc độ March 0.9.
Hệ thống radar gồm radar trinh sát bằng HF, UHF, radar nhận biết mục tiêu không-biển, radar điều khiển, kiểm soát xạ kích cho tên lửa. 2 hệ thống phóng mồi bẫy và mồi bẫy nhiệt PK-10 cỡ 120 mm hoặc PK – 16 dùng để chống radar và hệ thống trinh sát quang học của các hệ thống vũ khí của đối phương. Đạn mồi bẫy PK-16 cỡ 82mm, tầm hoạt động từ 200 mét đến 1800 mét.
Tàu tên lửa Tarantul có độ giãn nước là 550 tấn, trang bị máy chính 2 trục, động cơ tua-bin khí 32.000 bhp, 3 động cơ Diesel, công suất 500kW mỗi động cơ. Tàu có tầm hoạt động 2400 hải lý, hoạt động liên tục trong thời gian 10 ngày. Tốc độ 38 – 42 hải lý/ giờ.
Tàu còn trang bị các thiết bị điều hoà không khí, hệ thống thông gió tiên tiến nhất, bảo đảm cho tàu hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết.
Theo một số nguồn tin nước ngoài, 2 tàu Tarantul thế hệ mới cũng đã có mặt tại Việt Nam . Đây chính là 2 tàu đầu tiên thuộc Project 1241.8 “Thần Sấm”. Loại này có tầm hoạt động và hệ thống vũ khí tấn công hơn hẳn Tarantul 1. 2 chiếc này nằm trong hợp đồng mua 12 chiếc Taratul Project 1241.8 mà VN đã ký với Nga. Số còn lại sẽ do VN tự đóng theo công nghệ được chuyển giao .
Lực lượng tàu chiến của hải quân Trung Quốc
Tàu huấn luyện của Hải quân Trung Quốc gồm có tàu huấn luyện Trịnh Hòa số hiệu 81, tàu hộ vệ tên lửa Duy Phường Type 054A số hiệu 550 đã rời khỏi quân cảng lên đường, tiến hành huấn luyện “thực tập” ở biển xa, đồng thời đến thăm 4 nước gồm Ấn Độ, Myanmar, Indonesia và Việt Nam.

Đi theo biên đội này có 563 binh sĩ, trong đó có 171 binh sĩ là học viên đến từ Học viện tàu chiến Đại Liên, Đại học Kỹ thuật và Học viện kỹ thuật hàng không, có 15 học viên là nữ.
Theo giới thiệu của chỉ huy biên đội, trợ lý tham mưu trưởng hải quân Hàn Tiểu Hổ, hoạt động diễn tập và đi thăm biển xa lần này có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc tăng cường khả năng tổng hợp và phẩm chất “quốc tế hóa” cho học viên hải quân, tăng cường giao lưu với hải quân các nước đến thăm.
Được biết, nhiệm vụ lần này là lần đầu tiên tàu huấn luyện Trịnh Hòa lấy hình thức biên đội để huấn luyện thực tập biển xa kể từ khi biên chế tháng 4 năm 1987, cũng là lần đầu tiên tàu hộ vệ tên lửa Duy Phường đi thăm sau khi biên chế vào tháng 6 năm 2013.
Tàu hộ vệ tên lửa Duy Phương Type 054A
Phó tư lệnh Hải quân Trung Quốc Từ Hồng Mãnh, lãnh đạo cơ quan có liên quan của quân đội và địa phương cùng đại diện binh sĩ các đơn vị đã tham gia lễ đưa tiễn.
Theo các trang mạng Trung Quốc, tàu huấn luyện Trịnh Hòa thuộc lớp Đại Hưng, thủy thủ đoàn có 170 người, lượng giãn nước đầy hơn 6.000 tấn, dài 132,07 m, rộng 15,8 m, khả năng chạy liên tục 18.520 km, tốc độ tối đa 17 hải lý/giờ, mang theo 1 máy bay trực thăng Z-8.

Vũ khí trang bị gồm có 2 pháo nòng đôi 57 mm, 2 pháo nòng đôi 30 mm, 2 máy phóng tên lửa 5 ống; 1 radar cảnh báo sớm đối hải, tầng trời thấp; 1 radar ngắm pháo hình tròn.
Tàu hộ vệ Duy Phường là tàu lớp Giang khải II (Type 054A), lượng giãn nước đầy 4.000 – 4.400 tấn, dài 134,1 m, rộng 16 m, mớn nước 5 m, thủy thủ đoàn 190 người, 4 động cơ diesel 16PA6V280STC, tốc độ tối đa 27 hải lý/giờ, khả năng chạy liên tục 3.800 hải lý, trang bị 4 radar điều khiển hỏa lực và tìm kiếm.

Vũ khí trang bị gồm có 1 pháo nòng đơn 76 mm, 2 hệ thống phòng thủ tầm gần 30 mm 7 ống, 2 hệ thống tên lửa chống hạm YJ-83 4 nòng, 4 hệ thống tên lửa phòng không HQ-16, 2 máy phóng tên lửa săn ngầm 6 nòng Type 3200, 2 ống phóng ngư lôi Y-7, 1 máy bay trực thăng săn ngầm Z-9C hoặc Ka-28, 1 thiết bị định vị thủy âm MGK-335.
Giới quân sự TQ cố “lên gân”, viết bài nhằm đe Việt Nam phải “dè chừng”
Mạng quân sự Sina của TQ ngày 16/5 đã đăng một bài viết nhan đề "Phân tích: So sánh hải, không quân Trung-Việt cho thấy, Việt Nam còn lâu mới là đối thủ của Trung Quốc".
Theo bài báo, cùng với tình hình đối đầu trên biển giữa Trung-Việt gần đây ngày càng căng thẳng, khả năng xảy ra chiến tranh giữa hai nước đang tăng lên. Nếu giữa Việt Nam và TQ nổ ra chiến tranh, hải - không quân hai nước sẽ đóng vai trò chủ lực trong giao chiến, thế nên việc so sánh quân sự hải, không quân của hai nước là điều mà TQ coi là "rất có ý nghĩa".
Bài báo viết, Không quân Việt Nam hiện có 12 máy bay chiến đấu Su-27SK - không chiến tầm xa, và 24 máy bay chiến đấu Su-30MK2 – cho việc tấn công chính xác các mục tiêu trên biển (cùng của Nga), biên chế trong 3 trung đoàn bay. Trong tương lai, Không quân Việt Nam sẽ mua thêm nhiều máy bay chiến đấu, không loại trừ mua một lượng nhỏ máy bay chiến đấu tấn công Su-34 và nhập khẩu các máy bay tấn công hạng nhẹ F/A50 của Hàn Quốc để tiến hành phối hợp tác chiến cao - thấp.
Bài báo này phân tích, hai đầu Bắc-Nam của Việt Nam cách nhau 1.600 km, chỗ hẹp nhất có chiều sâu chỉ 50 km. Với “đặc điểm địa lý thiếu chiều sâu bảo vệ chiến lược" này, khả năng tự bảo vệ của Không quân Việt Nam khi khai chiến là "có vấn đề". Bài viết còn cố ý “răn đe”, Việt Nam chỉ dựa vào hơn 20 máy bay chiến đấu thế hệ thứ ba để thực hiện "ý đồ kiểm soát Biển Đông" rõ ràng là điều "không thể". Và, hiện nay, Việt Nam vẫn chỉ là một lực lượng không quân mang tính chiến thuật, lấy phòng không lãnh thổ với tính chất phòng ngự là chính.
Còn về hải quân, Hải quân Việt Nam hiện có hơn 120 tàu tác chiến các loại, gồm có tàu hộ vệ, tàu tên lửa và tàu ngầm thông thường. Chúng phần lớn là "đồ cũ" do Liên Xô viện trợ trước đây, do thiếu bảo dưỡng và cung ứng linh kiện, thực lực của hải quân Việt Nam thực sự khó mà so sánh với hải quân TQ - báo quân sự TQ tự tin bình luận.
Bài báo đã cố ý so sánh từng loại tàu của Hải quân Việt Nam với Hải quân TQ, cố nhấn mạnh về số lượng, trọng tải,… của TQ hơn hẳn, rồi so sánh các loại tên lửa, hay nhấn mạnh các tàu của Việt Nam thuộc thế hệ cũ, sản xuất trong nước, kể cả tàu ngầm lớp Kilo 636 và hệ thống phòng thủ bờ biển Bastion của Việt Nam, thuộc loại hiện đại nhất của Nga hiện thời họ “cũng chê” luôn.
Bài báo phân tích thêm rằng, đối với một lực lượng hải quân chưa từng trang bị, sử dụng tàu ngầm, nên việc sử dụng tàu ngầm trong lúc này có thể sẽ đối mặt với nhiều vấn đề phức tạp. Tác chiến tàu ngầm phụ thuộc rất lớn vào sự chi viện hệ thống từ bên ngoài. Việc bỏ ra 5 - 6 năm xây dựng một biên đội tàu ngầm là điều có thể, nhưng hình thành sức chiến đấu toàn diện e rằng sẽ khó hơn. Thậm chí trong một số trường hợp đặc biệt, tàu ngầm chưa đưa ra khỏi cảng đã bị bắn chìm.
Bài báo nọ kết lại, cho dù các máy bay chiến đấu và tàu chiến của Việt Nam được mua của Nga, được triển khai toàn bộ thì Hải quân Việt Nam cũng không thoát khỏi phạm trù “hải quân tác chiến-phòng thủ gần bờ”. Đây cũng là khó khăn của Hải quân Việt Nam, một lực lượng lấy tàu hộ vệ làm tàu chủ lực của biên đội tác chiến trên biển.