Theo một số người có mặt tại chỗ, nhà báo, blogger Trương Duy Nhất được thả vào lúc 8 giờ sáng nay, sau khi bị áp tải ra khỏi trại nhiều cây số. Ông Trương Duy Nhất đã cùng gia đình lên máy bay tại Vinh để trở về Đà Nẵng. Trả lời RFI, nhà báo Huy Đức cho biết ông Trương Huy Nhất không được khỏe, đặc biệt do chứng thoát vị đĩa đệm.
Nhà báo Trương Duy Nhất bất ngờ bị bắt cách nay hai năm. Sau gần một năm giam giữ, ông bị đưa ra xét xử ngày 04/03/2014, và bị kết án hai năm tù, theo điều 258 Bộ luật hình sự, điều luật bị giới bảo vệ nhân quyền lên án đã được chính quyền sử dụng phổ biến để đàn áp những người bất đồng chính kiến. Vụ án Trương Duy Nhất từng gây phẫn nộ trong dư luận. Chính quyền Mỹ và một số tổ chức bảo vệ nhân quyền đã nhiều lần yêu cầu chính quyền Việt Nam trả tự do cho ông.
Nhà báo Trương Duy Nhất vốn làm việc cho một số tờ báo chính thống, trước khi từ bỏ để tập trung viết báo độc lập. Ông Nhất bị bắt giữ cùng khoảng thời gian với nhà văn, blogger Phạm Viết Đào. Một số người cho rằng mục tiêu của việc chính quyền quyết định bắt giữ hai blogger nổi tiếng hàng đầu vào đầu mùa hè năm 2013, để triệt hạ các blogger đụng chạm đến các bí mật cung đình, nhằm điều khiển xu thế truyền thông độc lập đang dâng cao vào thời điểm đó.
Năm 2014, tổ chức Phóng viên Không biên giới RSF, có trụ sở tại Pháp, vinh danh blogger Trương Duy Nhất là một trong 100 « anh hùng thông tin » của thế giới.
Nước Anh bài trừ nạn nô lệ người Việt
Một địa điểm trồng cần sa. Ảnh minh họa.DRTuần này chính phủ Anh chính thức hoạt động với chương trình nghị sự do chính phủ đảng Bảo Thủ chuẩn bị cho Nữ hoàng đọc trước quốc hội, mà vấn đề di dân là mối quan tâm hàng đầu. Một trong số những vấn đề được báo chí dọn đường là nạn khai thác nô lệ trẻ em mà bài báo trên tờ Guardian chỉ thẳng ra là trẻ em Việt Nam, với mức độ là trung bình ngày nào cũng có một vụ trẻ vị thành niên người Việt được đưa vượt biên vào Anh để trồng cần sa, làm nails, hay tệ hơn là làm nô lệ tình dục. Bức tranh minh họa trên tuần san The Observer vẽ lá cờ đỏ sao vàng trên lưng một em bé mà con đường tương lai là khu vườn trồng cần sa, khiến người Việt ở Anh bàn tán xôn xao. Thông tín viên Lê Hải từ London có thêm chi tiết.
Lê Hải : Đây là lần thứ hai cái tên Việt Nam được gắn liền với tình trạng bóc lột nô lệ thời hiện đại. Cách đây hai năm một bài báo về chuyện tiệm nails Việt khai thác nô lệ đã khiến cộng đồng người Việt ở Anh chấn động. Các diễn đàn mạng nhanh chóng chỉ ra rằng đa số những câu chuyện đó là do người nhận là nạn nhân khai như vậy để được ở lại tị nạn. Trên nguyên tắc khi bị bắt trong khu trại cần sa, chỉ cần khai là trẻ em chưa đủ 18 tuổi thì thay vì bị coi là tội phạm có thể chuyển thành nạn nhân và được hưởng đầy đủ mọi chế độ từ nhà ở xã hội, tiền trợ cấp hàng tuần, cho đến học hành và giấy tờ tị nạn.
Báo cáo của tổ chức quốc tế chống nô lệ nói rằng 96% số người làm việc trong các trại cần sa là người Việt Nam, mà 81% trong số đó là trẻ em. Một tổ chức khác chuyên ngăn chặn việc đối xử ác độc với trẻ em nói rằng có đến 51% trẻ em khi được đưa về nơi nuôi dưỡng thì sau đó biến mất khiến cảnh sát phải lên danh sách tìm kiếm. Tuy nhiên, hiện cũng đang có xu hướng các gia đình khá giả ở Việt Nam gửi con còn nhỏ sang đây xin tị nạn vì nếu chi 30.000 bảng để vượt biên vẫn còn rẻ hơn là chi phí du học. Khi đến nơi các em vào thẳng các cơ quan xã hội để xin tị nạn thì chưa cần biết là lý do có được chấp thuận hay không, luật nhân đạo của Anh ít nhất là đến năm 18 tuổi hay thậm chí 21 tuổi sẽ không đưa ngược các em về Việt Nam. Ghép con số đó vào nhóm tội phạm trồng cần sa hay nhóm làm nails trốn thuế thì đều bất lợi cho hình ảnh của người Việt ở Anh. Đối với dư luận và giới chính trị gia nước Anh thì các con số mà tuần san The Observer đưa ra là đầy thuyết phục.
RFI : Như vậy thì chiến dịch diệt trừ tội phạm nhắm vào người Việt là vì dựa vào những lời khai sai, hay mang tính chính trị ?
Giới chuyên gia về tội phạm được phóng sự của tờ Observer trích lời ghi nhận người Việt đang nắm giữ ngành cần sa với doanh số trên dưới 1 tỷ bảng. Hiện con số người Việt ngồi tù theo thống kê gần đây nhất là 163 người, mà chia theo tỷ lệ số người Việt sống ở Anh thì xếp hàng đầu về tỷ lệ người ngồi tù trên con số người trong cộng đồng, cho nên có thể nói mức độ tội phạm có tổ chức trong cộng đồng người Việt là nguy hiểm nhất ở Anh, vì đa số các tội danh tập trung vào ngành cần sa. Nếu nối kết bằng cách nhìn sang các phiên tòa xử người Việt bán ma túy ở cộng hòa Séc, hay đường chuyển ma túy từ Việt Nam sang Úc, thì không cần phải là chuyên gia tội phạm học cũng lo sợ trước vấn đề này. Thêm vào đó, quốc hội Anh nhiệm kỳ trước vừa thông qua bộ luật về chống nô lệ thời hiện đại, và cục an ninh quốc gia cùng với cục biên phòng là hai đơn vị chịu trách nhiệm thi hành.
Chỉ cần lướt sơ trên mạng là đã thấy từ cả chục năm nay nhiều tổ chức dân sự đã chỉ vào tình trạng lao động ở Việt Nam và nhất là chuyện đưa phụ nữ sang Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan như là hang ổ của nạn buôn người và bóc lột nô lệ. Chỉ cần tìm chữ nô lệ trên mạng là sẽ ra vô số bài về tình cảnh người Việt phải lao động khổ sai như nô lệ, hay làm nô lệ tình dục ở đủ mọi quốc gia, từ Nga cho đến Trung Đông. Trong bối cảnh đó thì không có gì khó hiểu về việc tại sao Việt Nam được chọn như là một trong số các mục tiêu đầu tiên của cảnh sát Anh. Thực ra thì chiến dịch này đã bắt đầu từ ngay sau ngày quốc hội gia tăng quyền hạn cho bộ máy chính quyền, nhiều tiệm nails Việt bị kiểm tra, và các chuyến bay của Vietnam Airlines từ ngày chuyển sang hạ cánh ở sân bay Heathrow đã liên tục bị chặn xét ngay từ khi bước ra cửa máy bay để ngăn chặn trẻ em bị đưa sang Anh làm nô lệ, đặc biệt là các phụ nữ trẻ đẹp độc thân đi một mình.
RFI : Như vậy có thể hiểu rằng đây là một trong số những bước đầu tiên của chính phủ mới ở Anh muốn vuốt ve dư luận?
Lê Hải : Vấn nạn bóc lột lao động như nô lệ đã trở thành câu chuyện quốc tế mà ngay cả giáo hoàng Francis cũng lên án trong các bài giảng gần đây, và là điều mà cả các cơ quan nhà nước lẫn các tổ chức dân sự đều dễ dàng thực hiện. Mới gần đây chính quyền thành phố New York mở chiến dịch tuyên truyền để giúp người Việt đi làm thợ trong gần 1000 tiệm nail ở đây hiểu rõ hơn về quyền lợi của mình và điều kiện an toàn lao động. Tòa án ở Đức cũng đang xử một vụ đường dây trồng cần sa ở Dusseldorf mà bị cáo người Việt từ Hà Lan sang được cho là đã nhốt và đối xử với đồng hương như là nô lệ. Cho nên đây là xu thế chung ở các nước phát triển và có tư duy nhân bản. Riêng ở Anh thì việc diệt trừ nạn buôn người thời hiện đại còn gắn với một chiến dịch ngăn chặn di dân trái phép.
Mới gần đây bộ nội vụ Anh đã thay đổi hoàn toàn hệ thống cấp visa cho người nước ngoài và chi phí để xin visa mức tối thiểu lên tới 400 bàng, tức là trên 500 euro hay gần 15 triệu đồng tiền Việt. Một số trường hợp như là đoàn tụ gia đình mức phí có thể lên đến 2.000 bảng Anh. Tuy nhiên chính sách này có thể khiến dịch vụ đưa người vượt biên từ Pháp vào Anh lại tiếp tục phát triển vì mức phí đó cũng bằng chính giá tiền để các băng đảng ở Calais hay Dunkerque đưa người vượt biên chui vào công-ten-nơ trốn vào Anh, hay thậm chí dùng giấy tờ giả đi từ Ireland sang.
Cha của tù nhân lương tâm Trần Huỳnh Duy Thức: ‘Tôi rất tự hào về sự lựa chọn của con tôi’
Ngày 24 tháng 5 vừa qua là đúng 6 năm người tù nhân lương tâm Trần Huỳnh Duy Thức bị giam cầm sau khi bị kết án 16 năm kèm 5 năm quản chế. Bản án này được đưa ra với tội “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền” trong phiên toà diễn ra đúng duy nhất một ngày, ngày 20 tháng 1 năm 2010. Cát Linh có cuộc phỏng vấn với ông Trần Văn Huỳnh, thân sinh của anh Trần Huỳnh Duy Thức.
Cát Linh: Xin chào ông Trần Văn Huỳnh. Ngày 24 tháng 5 này là 6 năm anh Trần Huỳnh Duy Thức bị giam cầm. Gần đây ông có cơ hội để vào thăm anh Thức hay không? Anh Thức có bị đối xử khác gì so với những tù nhân khác hay không?
Trần Văn Huỳnh: Theo qui định mỗi tháng tôi và gia đình có thể đi thăm 1 lần. Hôm qua chúng tôi gồm 8 người đi thăm Thức. Thức bị giam ở trại giam Xuyên Mộc, nằm trên địa bàn của tỉnh Đồng Nai. Thức gọi là tù nhân chính trị, tù nhân lương tâm. Có 1 khu dành cho tù thượng phạm, và 1 khu dành cho tù nhân lương tâm.
Cát Linh: Xin ông cho biết tình hình sức khoẻ của anh Thức? Về tinh thần, niềm tin của anh Thức vẫn vững vàng trong những ngày bị giam cầm không thưa ông?
Trần Văn Huỳnh: Thậm chí là rất kiên định, Thức nói rằng là Thức đã lựa chọn con đường , gọi là “con đường Việt Nam” thì trước nói thế nào thì bây giờ vẫn không thay đổi, vẫn kiên định đi theo con đường đã chọn như đã viết trong cuốn sách “Con đường nào cho Việt Nam.” Thức vẫn nói rằng để có 1 nước Việt Nam dân chủ thật sự mà trên nền tảng là quyền con người phải được tôn trọng trên hết và trước hết. Đó là con đường mà Thức và những người bạn cùng chung bản án vẫn kiên định,đấu tranh cho dân chủ và quyền con người được lên ngọi 1 cách ôn hoà.
Cát Linh: Thưa ông Huỳnh, khi đến thăm anh Thức, ông và gia đình đã nói gì với anh ấy? trong thời gian đó thì có công an ngồi đó hay không và họ có những phản ứng thế nào khi diễn ra cuộc trao đổi giữa anh Trần Huỳnh Duy Thức và gia đình?
Trần Văn Huỳnh: Khi nói chuyện với gia đình thì luôn luôn có cán bộ quản giáo, ít nhất là 3 người cùng ngồi trên 1 cái bàn, họ ngồi 1 bên và gia đình ngồi 1 bên. Trước đây, mỗi lần nói chuyện gì ngoài chuyện gia đình thì họ luôn nhắc là không nên nói chuyện gì ngoài chuyện gia đình. Nhưng bây giờ trong những tháng vừa qua thì Thức đã nói chuyện về thời sự, nhựng sự kiện diễn ra như dàn khoan HD81, ITU132, chuyến viếng thăm của chính phủ Việt Nam sang các nước, chủ tịch nước sang Mỹ hoặc chuyến đi sắp đến của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Và nói 1 cách rất công khai, trước các quản giáo, họ không cản trở gì cả.
“Thức có nói thế này, nếu bản án được xét lại, được giải oan, được minh oan thì đó là một sự đột phá niềm tin cho trong nước lẫn ngoài nước. Nền tư pháp Việt Nam sẽ có một hình ảnh, uy tín cao hơn vì Trước giờ đã có quá nhiều án oan sai. Nếu có một quyết định sau khi tái thẩm, đòi được công lý thât sự thì đó là một sự đột phá niềm tin đối với nền tư pháp Việt Nam.”
Cát Linh: Xin được hỏi là riêng với ông thì ông có tin rằng sẽ có một quyết định tái thẩm và bản án oan sai này sẽ được thay đổi không ạ?
Trần Văn Huỳnh: Chính tôi cũng có gửi đơn với tư cách là thân sinh của Trần Huỳnh Duy Thức. Con làm việc này là theo luật thôi. Con tôi bị án oan sai mà. Tôi nghĩ nó vô tội. Tôi và gia đình tôi cũng kỳ vọng là nền tư pháp Việt Nam sẽ phải làm việc này. Có rất nhiều việc mà làm cho người ta mất niềm tin vì có nhiều vụ án oan sai. Không phải chỉ 1 vụ án mà thôi. Riêng tôi, gia đình tôi rất mong đợi có một cái nhìn, tái thẩm xem xét lại vụ án và Thức sẽ được minh oan, sẽ được trả lại tự do và chúng tôi đòi lại được chân lý cho con tôi, một nền chân lý thật sự của nền tư pháp thật sự là dân chủ. Để trả lời câu hỏi của quí đài, tôi cũng rất mong sẽ đạt được kết quả mà tôi mong muốn. Con tôi ở trong tù nhưng nó rất kiên định vì việc làm của nó, lẽ ra đây là một sự đóng góp ý kiến mà bất kỳ công dân nào cũng có quyền tham gia ý kiến đúng hay sai, theo luật và theo hiến pháp, kể cả công pháp quốc tế, tuyên ngôn nhân quyền, kể cả công ước vế chính trị, dân sự của liên hiệp quốc, bất cứ người dân nào cũng có quyền góp ý. Tấm lòng đó đối với đất nước thì bị gọi là âm mưu lật đổ chính quyền.
Cát Linh: Thưa ông ,ông vừa nhắc đến bản án oan sai mà anh Trần Huỳnh Duy Thức và ba người nữa là luật sư Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung và Lê Thăng Long đã phải chịu vào ngày 20 tháng 1 năm 2010. Một câu hỏi xin được đặt ra là trong ba người, anh Trần Huỳnh Duy Thức là người phải chịu bản án lâu nhất, nặng nhất, 16 năm kèm 5 năm quản chế, trong khi những người kia thì theo thứ tự lần lượt nhận các mức án 5 năm, 7 năm, và 5 năm kèm 3 năm quản chế. Và những người này đã được tha bỗng. là thân sinh của anh Trần Huỳnh Duy Thức, ông có suy nghĩ thế nào về bản án như thế thưa ông?
Trần Văn Huỳnh: Con tôi, Trần Huỳnh Duy Thức bị bản án dài nhất, 16 năm trong một phiên xử 1 ngày và nó có những vấn đề về bộ luật tố tụng hình sự. những chứng cứ đưa ra để áp dụng, ban đầu là điều 88 cho ra chống chính quyền, sau đó chuyển sang điều 79, là “có âm mưu nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.” Sự kết án như vậy đưa ra những chứng cứ thiếu tính hợp pháp thì lấy gì để có thể lật đổ 1 hệ thống chính trị có quân đội, có công an? Thức và các bạn lấy gì để lật đổ? Những điều Thức nói, viết trước khi bị bắt là 1 sự góp ý, cảnh báo những nguy cơ có thể xảy ra, những khủng hoảng về kinh tế, chính trị, xã hội có thể xảy ra. Đọc những điều đó, tôi nghĩ rằng con tôi và các bạn chỉ muốn góp ý với nhà nước để tìm ra những giải pháp tránh được những khủng hoảng đó, tránh những nguy cơ sẽ bị ngoại bang thôn tính trong bối cãnh toàn cầu hoá hiện nay. Việc làm đó lẽ ra không bị kết tội mà lại bị xem là một âm mưu lật đổ.
Cát Linh: Để kết thúc buổi phỏng vấn hôm nay, ở đây chỉ là một chữ nếu, nếu dưới sự tác động của các tổ chức nhân quyền quốc tế thế giới cũng như các nhà đấu tranh cho nhân quyền, dân chủ, anh Trần Huỳnh Duy Thức được xét xử lại bản án oan sai và được trả tự do, đứng trước mặt con của mình, câu đầu tiên ông sẽ nói là gì thưa ông?
Trần Văn Huỳnh: Tôi và gia đình tôi rất mong ngày gia đình đoàn tụ. Câu đầu tiên tôi sẽ nói là tôi rất tự hào về sự lựa chọn của con tôi, có một người con như con tôi. Tôi sẽ hỏi con tôi là tiếp tục con đường bằng cách nào? Tôi sẽ tiếp tục động viên khuyến khích con tôi tiếp tục con đường đã chọn.
Vì Ai VN Nên Nông Nỗi, tai tiếng xấu xí như vầy, hỡi Đảng Nhà Nước CSVN ơi!
Bọn xã hội đen có hậu thuẫn của cán bộ, đảng viên CS đưa người Việt dưới 18 tuổi hay khai gian dưới 18 tuổi tới Anh bất hợp pháp. Tại đây số thanh thiếu niên này được nước Anh với tinh thẩn bảo vệ trẻ vị thành niên chấp nhận cho ở lại Anh để được tị nạn, kể cả được hưởng đầy đủ mọi phúc lợi dành cho vị thành niên Anh từ nhà ở xã hội, tiền trợ cấp hàng tuần, cho đến học hành miễn phí và giấy tờ tị nạn. Nhưng một thời gian sau, đám tổ chức vượt áp bức, tổ chức cho trốn ra và đưa đi trồng cần sa lậu, làm nail trả công rẻ mạt, hay làm nô lệ tinh dục, để trả nợ vượt biên cho bọn tổ chức vượt biên này. Nếu bị bắt lại luật pháp Anh thấy vị thành niên nên coi là nạn nhân, chớ không phải tội phạm.
Báo chí quốc tế cho biết 96% số người làm việc trong các trại cần sa là người VN, trong đó 81% là trẻ em. 51% trẻ em khi được đưa về cơ sở xã hội nuôi dưỡng thì sau đó biến mất khiến cảnh sát phải lên danh sách tìm kiếm. Báo Observer cho biết người Việt đang nắm giữ ngành cần sa với doanh số trên dưới 1 tỷ bảng Anh mỗi năm.
Giống như các đại gia, đại cán CS ở Trung Quốc cho vợ con, qua Mỹ sanh con để được quốc tịch Mỹ. Đại gia, đại cán CS ở VNCS cũng chi tiền cho bọn tổ chức vượt biên lậu qua Anh xin tị nạn với giá 30.000 bảng Anh vẫn rẻ hơn chi phí du học. Luật của Anh nhân đạo không trục xuất các em vị thành niên 18 tuổi hay thậm chí 21 tuổi về VN. Chuyện làm hốt bạc triệu bảng Anh này đang thành phong trào ở VN.
Những nhà hình tội học ở Anh cho báo chí Anh biết mức độ tội phạm có tổ chức trong cộng đồng người Việt là nguy hiểm nhất ở Anh, vì đa số các tội danh tập trung vào ngành cần sa. Các phiên tòa xử người Việt bán ma túy ở cộng hòa Séc, hay chuyển ma túy từ Việt Nam sang Úc, rất nhiều. Số vụ đưa phụ nữ VN sang Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan cho thấy VN là hang ổ của nạn buôn người và bóc lột nô lệ. Chỉ cần bấm chữ nô lệ trên Google Seach là sẽ ra vô số bài về tình cảnh người Việt phải lao động khổ sai như nô lệ, hay làm nô lệ tình dục ở đủ mọi quốc gia, từ Nga cho đến Trung Đông.
Ở Nhựt, mới đây Trường Nhật ngữ thuộc Viện Nghiên cứu Tokyo thông báo nhiều sinh viên Việt Nam đang sinh sống tại Nhật bị bắt vì tội ăn cắp, bỏ trốn và không đến trường nên làm nhà trường rất lo lắng. Lâu nay không phải học sinh, sinh viên du học ăn cắp hàng hoá các siêu thị mà những phi công, tiếp viên Hàng Không VNCS là những con ông cháu cha cũng làm, bị Nhựt bắt trục xuất gởi về VN.
Ở Phi châu, nhân viên sứ quán buôn lậu ngà voi, sừng tê giác, trịch thượng trước toà Đại sứ VNCS ở Nam Phi. Truyền hình nước này loan tải cho cả nước và thế giới biết.
Còn trên mạng thì không biết bao nhiêu hình ảnh, lời lẽ bằng nhiều thứ tiếng đăng lên các trang mạng, nói lên thói quen, tật xấu của người Việt Nam đi du lịch ngoại quốc. Nào là ăn cắp, buôn lậu, giành lấy đồ ăn, lấy quá dư thừa trong những buổi tiệc buffet, hay nhà hàng all you can eat. Nào là hành động tranh giành, chen lấn hay đổ rác bừa nơi công cộng, đái bậy bên đường… làm xấu hổ người Việt.
Ở Nhật, Đài Loan, Đại Hàn chánh quyền đều đăng bảng coi chừng ăn cắp vặt của người, bằng tiếng Việt tức chú ý vào người Việt du lịch. Ở Lào sát VN, ở Nam Hàn xa hơn chánh quyền cũng đăng bảng bằng tiếng Việt coi chừng đi vệ sinh bừa bãi, vứt rác bừa bãi của người Việt ở Hàn Quốc.
Không phải người Việt trong chế độ CS bị CS biến thành người xấu xí. Mà CS cũng làm người Trung Hoa, hình ảnh nước Trung Hoa cả 6.000 năm văn hiến xấu xí đi dưới cái nhìn của người ngoại quốc. Chinh Phó Thủ Tướng TC Uông Dương cũng đã phải thừa nhận rằng những hành vi của du khách TQ đang làm hoen ố hình ảnh của người Trung Quốc. Báo Hoàn Cầu Thời Báo của TC phải kêu trời vì du khách TQ bôi bẩn bằng sơn xanh Đài Tưởng niệm Lincoln, Nhà thờ Quốc gia, tượng Joseph Henry của nước Mỹ ở Washington DC. Trước đó, việc một thiếu niên tên là Ding Jinhao viết bậy lên di tích 3.500 tuổi tại Ai Cập. Và một số du khách Trung Quốc ngâm chân trong đài phun nước trước cửa bảo tàng Louvre ở Paris. Du khách Trung Quốc cũng bị chính người Trung Quốc coi là 'quốc nhục' và người ngoại quốc cho là thiếu văn minh, cắt hàng, giành chỗ, ăn nói, hành động ở nơi công cộng, khạc nhổ khắp nơi và chen ngang khi xếp hàng.
Quá đủ để thấy CS đã làm xấu người Hoa và người Việt. Người Việt phải mang tiếng chung vì cái quốc nhục của VN do thời CSVN gây ra ở Bắc hơn hai phần ba thế kỷ, ở Nam hơn một phần ba thế kỷ. Văn hoá, đạo đức VN đã suy đồi trầm trọng trong thời CS. Đảng Nhà Nước CSVN đã du nhập chủ nghĩa CS ngoại lai vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo vào Việt Nam. CSVN đã áp đặt nền giáo dục CS phi nhân bản, phi dân tộc lên nhân dân VN. CSVN cào bằng văn hoá đạo dức của người Việt Quốc gia, nhồi nhét lối sống đấu tranh giai cấp, một mất một còn, ai thăng ai của biện chứng pháp CS, khiến con giết cha me7, trò đánh đập thầy, nữ sinh đánh nhau, bề hội đồng, lột quần, xé áo. Hậu quả là người sống trong chế độ CS tiêm nhiễm, tạo thành quốc nhục, tạo người VN thành nhưng người Việt “xấu xí” trong lẫn ngoài nước.
Những người có thiện chí, thiện ý muốn nói lên sự thật để Đảng Nhà Nước CS đang cầm quyền ở VN giúp sửa chữa, thì bị Đảng Nhà Nước “đì” tối đa. Tiêu biểu như, nhớ có lần, Đức Tổng Giám Mục Hà nội Ngô quang Kiệt nói với Chủ Tịch Uỷ Ban Hà nội, có câu mà ban Việt ngữ RFA dẫn lại, xin chép nguyên văn như sau: “Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam đi đâu cũng bị soi xét, chúng tôi buồn lắm chứ, chúng tôi mong muốn đất nước mình mạnh lên”. Và câu sau đó “Người Việt Nam chúng ta thì tôi cũng mong đất nước lớn mạnh lắm, và làm sao thật sự đoàn kết, thật sự tốt đẹp để cho đất nước chúng ta mạnh, đi đâu chúng ta cũng được kính trọng”. Thế là sau đó Đảng Nhà Nước CSVN vận động giáo quyền Vatican nặc lịnh từ dịch Đức Tổng Giám mục./.(Vi Anh)
Lê Tùng Châu dịch, May 4, 2015
Lời Người Dịch: Tôi tin số bạn đọc không "phục" bài viết này của Nick Davies là số nhiều. Và tôi cũng có trong số nhiều đó. Dù không đồng ý với ký giả kỳ cựu người Anh này vài điểm trong bài này nhưng xét toàn nội dung, bài viết đã cho độc giả người Việt thêm một cái nhìn khách quan của một người ngoại quốc am hiểu nội tình đất nước Việt Nam hiện tại. Đúng là chỉ Hiện Tại thôi chứ không phải Quá Khứ -hay như một yêu cầu cao hơn chính xác hơn chuyên nghiệp hơn- nghĩa là nhất thiết phải am hiểu diễn biến dọc một chuỗi dài 6, 7 chục năm qua để có thể nhận thức được nguyên do dẫn đến thảm cảnh kinh tế - văn hóa - chính trị Việt Nam bế tắc và vong bản như ngày hôm nay.
Đòi hỏi nơi một người ngoại quốc như thế thì quá sức họ và cũng không thực tế.
Đó phải là việc của chúng ta, những người Việt yêu quê hương, thao thức ngày đêm vận mệnh quê hương...phải làm, phải viết và phải nói cho công luận, cho các thế hệ di sau bị cộng sản đầu độc và cho toàn thể đồng bào Việt Nam ý thức nguy cơ tiêu vong của xứ sở nếu quyền chính vẫn còn tiếp tục nằm trong tay tập đoàn máu cộng sản ngu si độc ác và vô học Ba đình, Hà Nội.
Sau bài dịch này tôi sẽ có một bài viết chi tiết với tư liệu dẫn chứng công phu và quý hiếm...chỉ ra những chỗ kiến thức lịch sử thiếu sót nào của ký giả Nick Davies đã dẫn đến một vài nhận định, kết luận không đúng của ông về quá trình hình thành đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa, hoặc ở một chỗ khác non nớt và phiến diện khi ông nhắc tới nhà tù Côn Đảo....mong bạn đọc theo dõi.
Như thường lệ, các chú thích và ảnh dẫn chứng trong bài cũng như một vài dấu ngoặc [ ] là do người dịch
Lời Tòa Soạn The Guardian:Sau chiến thắng quân sự, mô hình xã hội chủ nghĩa của Việt Nam bắt đầu sụp đổ. Bị từ chối viện trợ tái thiết và bị cô lập bởi cấm vận thương mại mà dẫn đầu là Mỹ, đất nước này lao nhanh xuống hố bần cùng. Hiện nền kinh tế đang bung ra của nước này kèm theo biết bao bất công và tham nhũng.
![]() |
| Bài của Nick Davies trên The Guardian April 22, 2015 |
![]() |
| Nick Davies trong một một buổi nói chuyện với sinh viên tại City College Brighton and Hove, April 2011 |
Vào một sớm tháng Hai năm 1968 ở miền Trung Việt Nam trong thời điểm chiến cuộc leo thang khốc liệt, một tốp binh sĩ Nam Hàn mở cuộc hành quân tảo thanh, họ tiến vào một ngôi làng có tên gọi là Hà My, một quần thể dân cư với ruộng lúa và các mái nhà tranh thưa thớt, cách Đà Nẵng độ một giờ xe chạy. Họ là đơn vị có tên gọi là “Rồng Xanh” (Blue Dragon) vốn chiến đấu bên cạnh người Mỹ trong nỗ lực dập tắt các cuộc nổi dậy của cộng sản.
Trong nhiều tuần, họ đã dồn nông dân với các gia đình lại trong một khu định cư cưỡng bách mà người Mỹ gọi là "ấp chiến lược". Bằng cách đưa nông dân ra khỏi làng, họ hy vọng sẽ cắt đứt nguồn lương thực và nơi trú ẩn dành cho quân du kích cộng sản. Trong nhiều tuần tiếp, các nông dân và thân nhân đã vượt thoát ra, tìm đường trở về Hà My, phần vì không chịu nổi sự giam cầm của các ấp chiến lược, phần vì họ cần phải canh tác ruông nương. Lúc bấy giờ, đoàn quân “Rồng Xanh” cảm thấy hết chịu nổi. Trong vòng một giờ sau khi họ kéo đến Hà My, lính Nam Hàn lùa dân làng đang thức giấc chia thành các nhóm nhỏ và rồi tuần tự nổ súng. Một giờ sau, họ đã tàn sát cả thảy 135 người rồi nổi lửa đốt hết nhà cửa và xác chết, san bằng toàn bộ bãi chiến trường kia chung vào ngôi mộ tập thể. Nhiều năm qua, sự thật này cũng bị vùi chôn trong quên lãng như những gì chôn vùi trong ngôi mộ kia vậy.
Hiện nay có một đài tưởng niệm vụ thảm sát đó, hình thành 30 năm sau bởi toán lính “Rồng Xanh” khi xưa nay quay lại tự quyên tiền xây cất để bày tỏ niềm hối hận sâu xa. Nhưng có cái gì đó không ổn ở đây. Đài tưởng niệm đứng trang trọng, to lớn như một ngôi nhà, với mái lợp được trang trí công phu có thể che phủ cho hai ngôi mộ tập thể và một tấm bia đá lớn khắc tên của những người lớn và trẻ em đã chết. Nhưng không hề có một lời giải thích về những cái chết đó.
|
|
|
Dân làng nói rằng khi tượng đài được xây dựng lúc đầu, mặt sau của bia mộ có trình bày một bản tường trình sống động về những gì đã xảy ra ngày hôm đó. Thậm chí trên đó còn có một bản sao thủ bút của tuồng chữ viết một bài thơ bi tráng nhắc lại cảnh máu lửa, thây người cháy tan hoang và bị dập vùi trong đất:
"Đớn đau thay khi nhìn Mẹ Cha tan thây dưới lửa đạn...
Kinh hãi thay khi nhìn đàn trẻ và bé thơ gào khóc, tay chân chới với mà mồm vẫn còn ngậm chặt bầu vú người Mẹ đã chết ... "
Nhưng, dân làng nói rằng, một số nhà ngoại giao Nam Hàn đã đến thăm nơi này trước khi chính thức mở cửa đài tưởng niệm và tỏ ý không hài lòng về bài thơ; các quan chức Việt Nam thay vì tranh đấu với những phàn nàn đó thì lại ra lệnh phủ lên bài thơ kia một bức vẽ hoa sen.
Một nhà nhân chủng học Hàn Quốc, Heonik Kwon, người đã nghiên cứu Hà My vào thời điểm đó, ghi nhận, một dân làng nói rằng chối bỏ sự thật này thì cũng chẳng khác nào làm một vụ thảm sát thứ hai: "nó giết chết cái ký ức giết người".
Tại sao người Việt lại thỏa hiệp như thế? Tại sao người thắng cuộc chiến này lại để cho kẻ thua cuộc vẽ lại câu chuyện chiến tranh đó theo ý họ?
Dân làng cắt nghĩa: câu trả lời rất đơn giản rằng Nam Hàn đã trở thành một trong những nhà đầu tư ngoại quốc lớn nhất trong nền kinh tế của chính quyền này, và đã đề nghị nếu bài thơ kể vụ thảm sát được dẹp đi thì họ sẽ trả giá việc đó bằng cách xây cho địa phương một bệnh viện. Vì vậy, chính quyền Việt đã thoả thuận mà không chống cự.
Đó là tâm điểm những gì đã xảy ra ở Việt Nam kể từ khi chiến tranh kết thúc cách đây 40 năm, vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Bỏ ra một tháng đến thăm thú nơi đó vào đầu năm nay – tiếp xúc chuyện trò với nông dân, trí thức, chuyên gia, học giả và các cựu binh của cả hai bên – đã giúp tôi khám phá được rất nhiều điều dối trá cũng như những thỏa hiệp mà người Việt Nam đã bị cuốn vào bởi sự cám dỗ quá lớn của lợi tiền. Người Mỹ đã thành công khi rêu rao một phúc trình dối trá về động cơ tham chiến và quá trình tiến hành cuộc chiến của họ. Dù thua cuộc trong xung đột vũ trang, Mỹ và các đồng minh của họ đã quay lại với những vũ khí tài chính hùng hậu buộc Việt Nam phải chấp nhận một lộ trình mà Việt Nam không có quyền chọn lựa nào khác. Giờ đây những kẻ đứng đầu chính quyền Việt Nam đang thốt ra những lời nói dối vĩ đại hơn bao giờ hết.
Nguyen Hao Thu, 90 tuổi, đang sống trong một căn hộ sáng đẹp tại Hà Nội. Như một chú chim hót, bà nói huyên thuyên nhưng lưu loát bằng tiếng Pháp và cả với một thứ tiếng Anh hỏng, kể lại từ hồi còn trẻ, Bà đã thấy đất nước mình bị nghiền nát giữa hai kẻ thù hùng mạnh ra sao. Đầu tiên là người Pháp lúc cuối Đệ Nhị Thế Chiến đã từ chối không chịu buông tha xứ thuộc địa này. Năm 1946, lúc Bà 21 tuổi, Thu bỏ vào rừng gia nhập quân du kích, việc của bà là chuyên lấy axid trộn với Nitrat Natri và rượu để làm thuốc súng: "Tôi rất hạnh phúc trong rừng. Với bột chế bom, bạn có thể - bùm! – và thế là toại nguyện".
Và mong ước đó đâu chỉ là chủ nghĩa dân tộc, đánh đuổi ngoại xâm. Cái mà nó cốt nhắm tới là chủ nghĩa cộng sản và cách mạng. Thu nhớ lại thời ấu thơ, người Pháp đã bắt Cha cô đi, ông là một thầy giáo dạy mẫu giáo; cô thường mang thức ăn đến cho ông trong tù khi cô chỉ mới bảy tuổi. "Tôi ghét tất cả những ai đánh chiếm Việt Nam. Từ trong tâm trí tôi đã trở thành cộng sản" cô nói. Cô cho biết, gia đình cô thoải mái với giai tầng trung lưu, mà trong những năm 1930, nhà cô đã được dùng làm nơi họp kín của các đảng viên Cộng sản Việt Nam. Cô nhớ đã từng đọc Marx và Lenin, và khi cô 16 tuổi, người Pháp đã xử tử một người bạn của cô như thế nào. "Thật thế, tôi chính thị là một người cộng sản"
Lê Nam Phong, tuổi xấp xỉ với Thu. Lúc 17 tuổi ông đi lính để chống Pháp, năm 1945. Ông trải tiếp 30 năm trong chiến tranh, leo lên chức thiếu tướng trong quân đội Bắc Việt và một nhân tố chủ chốt trong đợt phá hủy máy quân sự Mỹ trong những giờ khắc cuối cùng. Vào một buổi tối ấm áp, vừa ngồi gọt xoài ngoài hiên nhà bề thế sung túc của mình, ông vừa nhớ lại động cơ tham gia cách mạng: "Chủ nghĩa xã hội? Vâng, dĩ nhiên rồi. Mục tiêu của mọi trận chiến là nhằm xây dựng một xã hội xã hội chủ nghĩa, để đạt được tự do, độc lập và hạnh phúc. Trong những ngày đầu chống Pháp và chống Mỹ, trong trí chúng tôi đã có cái xã hội mà chúng tôi muốn tạo ra - một xã hội người không bóc lột người, công bằng, độc lập, bình đẳng"
Đây chính là chỗ phá sản hoàn toàn trong thái độ và cách đánh giá của người Mỹ. Trong cái nhìn của Mỹ về các sự kiện đó cho rằng khi Pháp bị đánh bại vào năm 1954, quân đội Mỹ đã tham gia để bảo vệ phe quốc gia ở Nam Việt Nam khỏi nguy cơ bị cộng sản từ miền Bắc thôn tính. Thực tế là người Pháp đối xử thù địch với dân chúng trên toàn quốc, nên đã đẩy họ sa vào vòng tay đảng cộng sản của Hồ Chí Minh. Và, quan trọng hơn, lúc ấy cũng chẳng có hai quốc gia riêng biệt. Năm 1954, dù bị quân Việt Nam đánh bại [Điện Biên Phủ], Pháp và các đồng minh phương Tây vẫn còn duy trì quyền lực tại thành trì miền Nam. Tại hội nghị quốc tế Geneva [1954], tất cả các bên sau đó đã đồng ý chia đôi đất nước thành Nam Việt Nam và Bắc Việt Nam, tạm thời, theo đó vào tháng Bảy năm 1956 sẽ có một cuộc tổng tuyển cử bầu ra chính phủ mới cho một quốc gia thống nhất.
Tổng thống Mỹ, Dwight Eisenhower, sau đó thừa nhận rằng nếu diễn ra bầu cử thật, thì khoảng 80% dân Việt sẽ bầu cho Minh và xã hội xã hội chủ nghĩa mới lạ kia - và người Việt với chúng tôi cũng đã đồng tình nhìn nhận thế. Thế nhưng Mỹ không để điều đó xảy ra. Thay vào đó, họ dùng một giải pháp phái đến một chuyên viên CIA cự phách, Edward Lansdale, người đã tiến hành sử dụng một phép kết hợp khéo léo của mua chuộc và bạo lực để dàn xếp một chính phủ mới ở Sài Gòn, đứng đầu là một nhà chính trị Công giáo Ngô Đình Diệm có khuynh hướng độc đoán và gia đình trị, nhưng chống cộng và ủng hộ Mỹ. Trong tháng 10 năm 1955, Lansdale tổ chức gian lận cuộc bầu cử ở miền Nam để Diệm đắc cử Tổng Thống. Cuộc bầu cử toàn quốc bị hủy bỏ. Việc phân chia "tạm thời" bây giờ đã trở thành một thực tế biểu kiến kéo dài mà Việt Nam thực sự là hai quốc gia khác nhau, miền Nam là nạn nhân hứng chịu tham vọng xâm lược từ miền Bắc.
Lúc đầu, Mỹ, vốn là kẻ tài trợ cho cuộc chiến của Pháp, nay chấp nhận rót tiền cho quân đội của Nam Việt Nam, đồng thời gửi quân đội riêng của mình đến, che mắt dưới cái vỏ "cố vấn" – chỉ 16.300. Đến tháng ba năm 1965, họ đã gửi quân chính quy vào chiến đấu. Tại đỉnh cao của cuộc chiến, năm 1969, họ đã tung vào 550.000 quân Mỹ, cộng với 897.000 quân Nam Việt Nam và hàng ngàn quân đến từ Nam Hàn và các quốc gia đồng minh khác. Cho đến lúc chiến cuộc kết thúc, số người chết không tính xuể, có thể lên tới con số 3,8 triệu, theo một nghiên cứu của trường Y Khoa Harvard và Đại học Washington.
Phóng viên ngoại quốc người Anh James Cameron mô tả hành động của Mỹ là "một hành vi tội phạm mang tầm quốc tế, vừa kinh tởm vừa vô lý". Viết vào năm 1965, ông điểm lại dẫn lộ đưa đến chiến tranh:"Nó vụng về, tàn nhẫn, khinh suất và thiếu cân nhắc. Từng bước từng bước, phương Tây đã mắc sai lầm và loạng choạng rơi vào một tình thế tiến thoái lưỡng nan mà họ không sao hiểu thấu không sao thực sự nhận ra: ngay từ đầu, họ đã viện những cái cớ sáo rỗng".
Bạo lực trong những năm tháng dài vẫn còn hiện diện nơi những người thời đó từng thống khổ vì bị vây hãm nặng nề. Trong một căn nhà nhỏ ở Sài Gòn, như nhiều người Việt quen gọi là thành phố Hồ Chí Minh, một cựu du kích quân cộng sản nhớ lại các máy bay Mỹ dội bom ầm ầm xuống các lán trại của họ trong rừng, và ông và các đồng chí phải ẩn nấp trong các hố cá nhân đào nông ra sao: "Chúng tôi đã có một thứ rượu gạo rất mạnh đến nỗi anh mà uống vào, có khi sẽ phải ứa nước mắt đấy. Chúng tôi thường gọi nó là "nước mắt của quê hương". Nó giúp chúng tôi hết sợ"
Mỹ đã thả lượng chất nổ có sức công phá lớn xuống chiến trường Việt Nam nhiều hơn lượng mà đồng minh đã dùng trên Đức và Nhật Bản trong Đệ Nhị Thế Chiến. Họ còn thả napalm đặc, có đặc tính bám dính vào cơ thể nạn nhân và làm bỏng da; phốt pho trắng, có tính đốt cháy đến tận xương; bom phân mảnh, thứ bắn vòng bi và mảnh ra mọi hướng; và 73 triệu lít hóa chất độc hại, bao gồm 43 triệu lít chất độc da cam, đã giết chết thảm thực vật và gây bệnh tật cho bất cứ ai tiếp xúc với nó.
Tệ hơn, Mỹ còn ném bom Hà Nội - một thành phố thuần dân sự không có khả năng không lực để tự vệ. Một người đàn bà lúc đó mới lên tám nhớ là đã ngụy trang đơn sơ với một nhánh lá trên lưng để chống đỡ những đợt oanh tạc của phản lực cơ siêu thanh F-111 – một loại phi cơ oanh tạc bay với tốc độ gấp đôi tốc độ âm thanh. Một người đàn ông từng là lính pháo binh ở một khẩu đội pháo chống máy bay nói ông về nhà sau một đêm phòng thủ không kết quả để chứng kiến khu xóm ông ở đã bị san bằng: dấu hiệu duy nhất để ông nhận dạng đứa con trai là nhờ ở vết sẹo trên một cẳng chân đã bị đứt lìa.
Các cuộc tấn công của Mỹ trên bộ mới đúng là kinh khủng. Một nông dân kể lại, dạo cuối những năm 60, bà đang ngồi yên ở nhà sàn bằng đất nung, trong một ngôi làng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Mẹ kế của bà đang làm đồng gần đó, đã mắc sai lầm là bỏ chạy khi tiếng gầm inh tai như dội xuống đầu của máy bay trực thăng Mỹ: thế là một phi đạn rocket đã phóng trúng chẻ người bà vỡ ra từng mảnh văng vào một thân cây dừa. "Chúng tôi đã phải đi nhặt nhạnh những mảnh vụn đó lại trong đó có cả một hàm răng nữa". Trực thăng vũ trang cũng phải giết chết thêm ba anh em khác của bà nữa là ít, bà kể. Trong những năm sau đó, bà nói thêm, bà vẫn không ngủ được, và đầy kinh hãi khi nghe thấy bất kỳ âm thanh nào của máy bay trực thăng”.
Nhiều người Mỹ cứ tưởng rằng cuộc thảm sát khét tiếng dân làng Mỹ Lai mới là một sự kiện độc đáo hiếm hoi, nhưng ký giả Nick Turse đã tìm thấy một sự thật khác trong Cục lưu trữ quốc gia Hoa Kỳ vào tháng Sáu năm 2001. Ông sưu lục lại các tài liệu ghi nhận những phát hiện của một Đơn vị Đặc nhiệm bí mật Hoa Kỳ, Nhóm Công tác Tội ác Chiến tranh Việt Nam. Nó cho thấy quân đội đã chứng minh có tới hơn 300 chứng cứ khẳng định các vụ thảm sát, giết người, hãm hiếp và tra tấn bởi quân nhân Mỹ.
Turse đến thăm Việt Nam sau đó. Viết trong sách của mình “Giết Bất Cứ Gì Chuyển Động”, ông kể lại một lần cố tìm đến vị trí diễn ra vụ 20 phụ nữ và trẻ em bị sát hại trong một làng ở Tây Nguyên theo một tập tài liệu ông sưu lục có nói tới. Ông kể, khi được dân địa phương ấy dẫn đi, chỉ mới trong một vùng nhỏ hẹp thôi mà đã tình cờ gặp một đài tưởng niệm năm vụ thảm sát khác: "Tôi tưởng như mình đang tìm kiếm một cây kim trong một đống cỏ chứ đâu ngờ lại tìm được cả đống kim"
Ông kết luận, cùng với sự coi thường yếu tố chủng tộc qua biểu hiện màu da, cộng với áp lực chính thức nâng cao số lượng "giết chóc", cộng với việc chỉ định vùng “tự do bắn” ở thôn quê đã mặc nhiên đồng nghĩa với việc “giết hại thường dân lan rộng, thường xuyên và liên quan trực tiếp đến chính sách cố ý của Mỹ ".
Những người còn sống sót đôi khi bị bắt làm tù binh và bị cưỡng bách ngược đãi nặng nề. Năm 1970, một nhóm các dân biểu Hoa Kỳ đến thăm nhà tù Côn Đảo khét tiếng. Ở đó, họ tìm thấy nhiều đàn ông đàn bà bị xích trong "chuồng cọp", bị bỏ đói, bị đánh đập, tra tấn và bắt phải ăn côn trùng. Khi dư luận phản ứng vì biết được những sự thật này, nhà tù liền thôi không mở cửa nữa.
Khoảng một vài năm trước đây, các nhà báo trong nhóm những tờ báo lớn ở Sài Gòn thường ghé lại gọi cà phê từ một người phụ nữ đáng yêu, cô ngồi cả ngày trên vỉa hè trước văn phòng tòa báo. Hầu như chẳng mấy ai biết cô tên gì. Họ cứ gọi cô là “Cà phê Lady”. Cô cũng có câu chuyện nhỏ của riêng mình về chiến tranh mà hầu như chủ yếu là về những gì xảy ra từ khi hòa bình lập lại. Đây là nội tình khả dĩ diễn giải những dối trá của đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay.
Cô nhớ lại ngày giải phóng: niềm mừng vui vì chiến tranh đã hết; niềm tự hào tuyệt đối rằng phe cộng sản đã đánh bại đội quân lớn nhất trong lịch sử thế giới, và niềm kỳ vọng vào một cuộc sống tốt hơn. Cũng có nỗi hãi sợ nữa. Có những đồn đại về sự trả thù khốc liệt và cướp đoạt. “Cà phê Lady” lo lắng những kẻ phát rồ dễ dàng nhặt được những khảu súng nằm vương trên đường phố. Rồi cô thấy buồn vì chợt nhớ tới một cái cớ rất riêng.
Vài năm trước, cô làm nữ tiếp viên trên một căn cứ Mỹ tại ven biển Vũng Tàu, gần Sài Gòn, ở đó cô đã gặp một người lính tên là Ronald. Anh ở New York, bay qua Việt Nam và Campuchia trong những phái bộ giám sát. Họ đã phải lòng nhau. Chẳng bao lâu sau anh được cử về Mỹ, và viết thư cho cô ngay nói rằng anh sẽ bảo lãnh cho cô đoàn tụ với anh. Sau đó cô chẳng thấy thư từ gì nữa nên cô đoán rằng anh không có cơ hội về với cô nữa. Sợ giữ những lá thư của Ronald sẽ mang họa với chế độ mới, cô đành đem đốt hết và không còn nghe tin gì về anh nữa. Nhiều năm sau, khi đã 64 tuổi, tóc đã bắt đầu điểm bạc và lòng thôi dậy sóng, cô ngồi lặng lẽ bên ngoài một ngôi chùa Phật giáo mà gặm nhấm nỗi buồn.
“Cà phê Lady” chẳng đứng về bên nào trong cuộc tương tranh. Cô chỉ đơn giản là một người phụ nữ Việt yêu một người đàn ông Mỹ và mong cầu một cuộc sống đàng hoàng. Cô chẳng mấy lúc được dễ thở từ ngày giải phóng đến. Lúc đầu, cô tìm được việc làm ở một trong những hợp tác xã mới lập. Cô vùi đầu vào bàn máy may ở đó suốt 11 giờ mỗi ngày, thù lao chẳng nhiều hơn một tem phiếu khẩu phần lương thực với một lượng ít ỏi gạo kém phẩm chất, và thịt thì còn ít hơn nữa. Trong nhiều năm qua, cô phải ở chung trong ngôi nhà nhỏ với anh trai cô, người cũng lăn cả ngày trong một xưởng dệt khác. Trong vòng chục năm sau [1975] nền kinh tế trở nên lụn bại. "Cuộc sống quả là khó khăn ngay cả với những người bình thường" cô nói.
Mỹ rút đi bỏ lại một Việt Nam điêu tàn. Đường bộ, đường sắt, cầu cống, kênh mương đã bị bom đạn tàn phá. Đạn pháo và mìn chưa nổ còn rải rác khắp các vùng nông thôn, thường nằm chìm dưới nước trong những ruộng lúa nơi nông dân thường phải làm việc lao nhọc. Năm triệu ha rừng đã bị hủy sự sống bởi những trận oanh tạc và chất độc da cam. Chính phủ mới cho rằng, hai phần ba làng mạc ở miền Nam đã bị phá hủy. Tại Sài Gòn, những gì Mỹ để lại là hàng đàn trẻ mồ côi lang thang trên đường phố và nạn dịch ma túy. Trên toàn quốc, chính phủ mới ước tính phải đối phó với 10 triệu người tị nạn, 1 triệu góa phụ chiến tranh, 880.000 trẻ mồ côi, 362.000 thương binh, và 3 triệu người thất nghiệp.
Nền kinh tế đang rối loạn. Đến thời điểm ngày giải phóng, lạm phát đã lên đến 900%, và Việt Nam - một đất nước đầy ruộng lúa - đã phải nhập cảng gạo. Trong hòa đàm Paris, Hoa Kỳ đã đồng ý trả 3,5 tỷ đô la Mỹ viện trợ tái thiết để hàn gắn các cơ sở hạ tầng đã bị hư hoại. Không một xu nào được trả hết. Như cố ý xúc phạm thêm vào cảnh bần cùng, Mỹ lại khởi sự đòi chính phủ cộng sản phải trả hàng triệu đô la đã vay bởi chế độ Sài Gòn cũ, kẻ cựu thù của cộng sản. Trong khi Việt Nam khẩn thiết mong thế giới cung ứng thương mại và viện trợ hầu vực dậy nền kinh tế thì Mỹ đã làm hết sức mình để ngăn cản việc đó.
Ngay sau khi chiến tranh kết thúc, Mỹ đã áp đặt một lệnh cấm vận thương mại, cô lập cái xứ sở vừa bị chiến tranh tàn phá, khỏi những lĩnh vực xuất nhập cảng không chỉ với Mỹ, mà còn với các quốc gia khác chịu áp lực của Mỹ. Hơn nữa, Mỹ còn nương vào các hội đoàn đa phương bao gồm IMF, Ngân hàng Thế giới và Unesco để khước từ viện trợ cho Việt Nam. Mỹ thừa nhận rằng chất độc màu da cam có khả năng gây bệnh tật và dị tật bẩm sinh nghiêm trọng và đồng ý trả 2 tỷ đô la bồi thường - nhưng khoản ấy chỉ dành cho các cựu chiến binh của chính mình. Còn các nạn nhân Việt - hơn 2 triệu người – thì hoàn toàn không có gì.
Chẳng hiểu sao mà cái mô hình kinh tế như thế lại có thể sống còn trong thù địch vây quanh. Nhất định cái đề án xã hội chủ nghĩa của Việt Nam đang trên đà sụp đổ. Nó bê nguyên xi chính sách cứng nhắc của Liên Xô mà ép người nông dân canh tác phải chuyển giao vụ mùa họ thu hoạch được chỉ để đổi lấy cái tem phiếu lương thực. Khi không có động lực sản xuất, thì nguồn cung phá sản, lạm phát tăng trở lại với khuynh hướng đạt mức thời chiến, và đất nước một lần nữa đã phải nhập cảng gạo. Vào đầu năm 1980, những kẻ cầm quyền đã buộc phải cho phép những người nông dân bung ra bán sản phẩm dư thừa, tức cũng đồng nghĩa với việc tái sinh chủ nghĩa tư bản. Vào cuối những năm 80, đảng này đã chính thức áp dụng ý tưởng gọi là "một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa".
Sự chuyển đổi này cho phép các “Cà phê Lady” bỏ nhà máy dệt năm 1988 để trở thành một nhà kinh doanh. Mỗi sáng, cô dậy lúc 4 giờ sáng để chuẩn bị cà phê cho đúng giờ để qua thành phố. 5 giờ là cô đã ngồi trên ghế ngoài tòa báo. Quanh cô có biết bao thay đổi trong những năm 1990. Nhà đầu tư ngoại quốc được phép dự phần và các doanh nghiệp tư nhân được khuyến khích - thương mại tự do, thị trường tự do, người này sinh lợi thì người khác cũng được hưởng lây. Ở hậu trường, chính phủ đã gửi tín hiệu thỏa hiệp đến Washington. Chẳng còn đòi hỏi yêu cầu khoảng 3,5 tỷ đô la bồi thường chiến tranh hay bồi thường nạn nhân chất độc da cam. Thậm chí họ còn đồng ý trả nợ chiến phí của chế độ Sài Gòn cũ khoảng 146 triệu đô la. Năm 1994, Mỹ đã dịu dần và dỡ bỏ lệnh cấm vận thương mại đã bóp nghẹt Việt Nam trong gần 20 năm. Ngân hàng Thế giới, Quỹ tiền tệ thế giới IMF và các nhà tài trợ khác đã bắt đầu trợ giúp. Nền kinh tế bắt đầu tăng trưởng đến 8,4% một năm, và Việt Nam mau chóng trở thành một trong những nhà xuất cảng lúa gạo lớn nhất thế giới.
Có điều đáng nói là trong suốt những năm 1990, vẫn còn có những phe phái mạnh trong đảng cộng sản ra sức kìm giữ chủ nghĩa xã hội và chống lại xu hướng thời đại thiên về chủ nghĩa tư bản. Cho dù kinh tế rối loạn, họ đã thành công phần nào việc xóa đói giảm nghèo. Khi chiến tranh kết thúc, 70% người dân Việt Nam sống dưới mức thực sự nghèo. Đến năm 1992 là 58%. Năm 2000 là 32%. Đồng thời, chính phủ đã lập được một hệ thống trung học địa phương và tiểu học phổ cập; họ cũng đã dựng được một hạ tầng y tế chăm sóc sức khỏe miễn phí. Có lúc phe xã hội chủ nghĩa vẫn có đủ lực lấn át để chỉ đạo các phương tiện tư bản mới. Trong đoạn cuối năm 1990, Ngân hàng Thế giới đề ra các khoản vay bổ sung trị giá hàng trăm triệu đô la với điều kiện Việt Nam chịu sang nhượng công ty quốc doanh và cắt giảm thuế quan thương mại. Thương lượng nào cũng không thành.
Nhưng từ năm 2000, tốc độ thay đổi nhanh hơn và cán cân chính trị cũng đổi chiều. Bị áp lực liên tục bởi các chỉ trích của giới tài trợ quốc tế và các nhà đầu tư nước ngoài, Việt Nam chấp thuận bán lại công ty quốc doanh. Họ cũng nhắm tới một thỏa thuận thương mại với Mỹ mà đỉnh cao là vào năm 2006 khi Việt Nam được chuẩn thuận gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO đồng nghĩa với triển vọng thu được nhiều đầu tư và viện trợ nước ngoài hơn trước. Ba thập kỷ sau chiến thắng của cộng sản, Việt Nam phải hòa mình vào nền kinh tế tư bản toàn cầu. Cuối cùng phương tây đã thắng.
Trên vỉa hè Sài Gòn, “Cà phê Lady” đã chứng kiến hết những chuyển biến đang phô bày, thế nhưng cô chẳng thấy có gì thay đổi trong cuộc sống của cô. "Cũng cách mưu sinh đó, cũng ở căn phòng đó," cô nói. "Các cửa tiệm bày nhiều hàng hóa hơn, nhưng giá cả tăng không ngừng. Đất nước đã thay đổi, nhưng không phải dành cho những người như tôi. Nhiều người có các mối quan hệ quen biết nhiều thì trở nên giàu hơn". Trong bao nhiêu năm, cô vẫn kết chặt với cùng một thương hiệu cà phê do Việt Nam sản xuất, Trung Nguyên. Trong bấy nhiêu năm cô vẫn nghèo còn người chủ sở hữu của công ty [Trung Nguyên] thì cất cánh với xu hướng mới của doanh nghiệp tự do mà tài sản ước định khoảng 100 triệu USD.
Nguyễn Công Khế vốn đã yên vị trong một văn phòng trên thành phố. Ông ta làm biên tập báo Thanh Niên, là tòa báo mà vỉa hè phía trước là nơi “Cafe Lady” chăm chỉ buôn bán đã bao năm. Trong cương vị biên tập, Khế đã lật tung vài nhân vật có thế lực, phơi bày mối liên hệ giữa một băng nhóm phi pháp ở Sài Gòn với các quan chức nhà nước cấp cao, sau đó cho đăng báo chuyện bê bối gộc liên can tới người nhà của các quan chức thông đồng nhau để ăn cắp công quỹ. Khế đã làm một việc làm đầy rủi ro. Việt Nam áp dụng một hệ thống kiểm duyệt thô thiển mà chính thức, bằng cách gọi điện thoại cho các biên tập viên mỗi tuần - vào các ngày thứ Ba và thứ Năm tại Hà Nội ở Sài Gòn – ra lệnh làm ngơ hoặc che đậy những gì cần che giấu. Kết quả những công sức kia là Khế bị sa thải năm 2008.
Trong tháng mười một năm ngoái, Khế lại làm một mạo hiểm khác khi mượn đường tờ New York Times để kêu gọi chính quyền thực thi tự do báo chí. Chỉ ngồi trong văn phòng và điều hành một trang báo web, ông có thể hoạt động xa rộng hơn. Khi hiển danh mình trong lời kêu gọi này, ông tuyên bố điều mà người khác chỉ dám nói khi dấu mặt, đó là: tập đoàn lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam [ĐCS] đã phản nghịch lại sự nghiệp của họ.
"Khởi thủy, họ [ĐCS] làm cách mạng với ý tốt sao cho tạo lập được một chính quyền biết phát triển đất nước và đem lại giàu mạnh công bằng, nhưng rồi mọi thứ sai lạc hết. Những người tham gia cách mạng đã thề phải trong sạch – những người này cuối cùng đã phản bội lời thề và ý thức hệ".
Khế từng tham gia cách mạng. Là một sinh viên thời đầu thập niên 1970, ông bị lôi cuốn vào phong trào chống Mỹ và đã ngồi tù 3 năm. Là đảng viện [ĐCS] nhiều năm, ông vừa hiểu lý do vì sao giới chóp bu quyền bính phải vận dụng công cụ của chủ nghĩa tư bản để khởi động nền kinh tế, vừa thấy ra mặt tối của mãnh lực đồng tiền phóng túng mới, đó là tha hóa và bất công.
Bạn có thể nhận thấy điều đó trên đường phố. Dù cái quá khứ tối tăm mù mịt trước đó, giờ đây Sài Gòn đã bùng nổ thành một bầu khí sầm uất bán buôn. Nhưng dù sao đi nữa, như bao thành phố đang phát triển khác trên thế giới, Saigon vẫn kèm theo bao dấu hiệu đói nghèo từ mọi mặt. Đây là đường Đồng Khởi – như một ốc đảo trù phú vương giả trong lòng thành phố, nơi đây, giai tầng quyền thế mới có thể bỏ ra 500 đô la Mỹ để mua một T-shirt của Hermes, 15.000 cho một chiếc đồng hồ Versace, hoặc 65.000 cho một bữa tối riêng trong phòng với một bàn bốn ghế được nhồi lông ngỗng và bọc da bê trông như mạ vàng. Ở góc phố bên kia, khách sạn Continental bán các bữa ăn với giá tương đương với tiền lương một tuần của một công nhân, trong một nhà hàng gọi là Le Bourgeois, những thứ đó thật chẳng khác chi một cái tát ân huệ và mặt Hồ Chí Minh.
Khế cho rằng, cứ mỗi 10 đồng giao thầu cho bất kỳ dự án công nào, thì hết 7 đồng lọt vào túi riêng của ai đó. Thật thế không? Nếu vậy, 70% ngân sách nhà nước của Việt Nam đang bị đánh cắp? Đó sẽ là một hành vi ăn cắp có một tỷ lệ đáng kinh hoàng. Chúng tôi đã nói chuyện qua một người phiên dịch. Ông ấy gật đầu, lấy tay khoắng lên trời: "Giữa 50 và 70%".
Phúc trình của Tổ chức Minh bạch Quốc tế năm ngoái đã báo Việt Nam là một trong những nước tham nhũng nhất trên thế giới, còn tệ hơn 118 nước khác và chiếm số điểm 31/100 trong bản chỉ số điểm xếp hạng.
Không ai không biết rằng tham nhũng là có từ xưa. Một truyền thống lâu đời của các công chức ở Việt Nam là đem ảnh hưởng của họ và ưu thế gia tộc ra mà bán chác. Nhưng người ta cũng chỉ rõ dưới sự lãnh đạo hiện nay thì tham nhũng mới đạt đến một tầm mức kỷ lục mới. Ai cũng nói rằng tham nhũng lan tràn chính nhờ ở việc tư nhân hóa các công ty nhà nước lớn từ đó đã nẩy sinh cơ hội cho các quan chức cậy thế mạnh đã dễ dàng bổ nhiệm chính bản thân cũng như người nhà của họ vào chiếm những vị trí điều hành chủ chốt. Học giả người Anh Martin Gainsborough đã dành nhiều năm nghiên cứu thực địa ở Việt Nam cho công trình khảo cứu về phát triển ở Đông Nam Á của mình, đã viết: "Thay vì thúc đẩy “đổi mới”, các quan chức đã chạy theo những cám dỗ quá lớn của nạn mua quan bán chức tràn lan ... Càng nói “đổi mới” thực ra là càng nhiều phe nhóm đấu đá chính trị-kinh doanh hòng giành quyền kiểm soát tài chính và các nguồn lực khác mà thôi"
Khoảng ba tháng gần đây xuất hiện một trang web khác thường có tên là Chan Dung Quyen Luc ("Portrait of Power") đã công khai những cáo buộc chi tiết về tư cách đạo đức của đích danh những người trong thượng tầng quyền lực Việt Nam. Trang web còn trữ nhiều khẳng định với đầy đủ tài liệu kèm theo như các văn bản, các file âm thanh và cảnh quay video. Chưa có ai lên tiếng xác nhận gì về trang web này nhưng giới quan sát cho rằng đó là sản phẩm của một nhân vật có thế lực hàng đầu dùng thông tin nội bộ để đánh hạ đối thủ. Dù chỉ cung cấp ít nhiều dữ kiện nhưng sự việc này như khẳng định với công luận tình trạng biển thủ nhũng lạm trộm cắp khổng lồ còn đang nấp trong bóng tối.
Trang web tấn công một nhân vật chóp bu, nêu rõ rằng một cán bộ địa phương đã đem giao tận nhà ông ta một vali 1 triệu đô la Mỹ tiền mặt, đổi lại, ông đã lờ đi cho một công ty bất động sản vốn đã tham gia một "chương trình phát triển khổng lồ" khỏi phải nộp 150 triệu đô la tiền thuế. Công ty này còn biếu tặng ông ta và các quan chức địa phương nhiều biệt thự. Cũng trang web này đã điểm thẳng mặt hai nhân vật chóp bu khác, nêu rõ một người đã đình chỉ truy tố của một nhân viên ngân hàng tham nhũng, và hiện đang bị đầu độc, còn người kia đã điều chuyển 1 tỷ đô la Mỹ từ một công ty nhà nước vào tài khoản ngân hàng của em gái mình, người em gái này đang nắm quyền điều hành 20 doanh nghiệp khác. Nó cũng cáo buộc một nhân vật chóp bu quân đội mượn đường công ty của con trai mình để bán đất quân đội mà thu lợi cá nhân. Với trường hợp người này, trang web còn công khai trưng ra bức thư -từ nhân viên ngân hàng- đã khẳng định chính ông ta có chia phần trong một "đường dây tham nhũng cực kỳ quy mô", với các tài khoản ngân hàng trị giá tới hàng triệu đô la.
Đôi khi nhà nước cũng thừa nhận có tệ tham nhũng và có trấn áp. Trong phiên tòa cấp cao vào cuối năm ngoái, bốn giám đốc điều hành công ty nhà nước đã bị kết án tử hình vì tội hối lộ và gian lận; hai người khác bị kết án chung thân. Khế không tin rằng những phiên tòa này giải quyết được vấn nạn tham nhũng tràn lan. Anh nhún vai: "Chúng tôi đã trả giá bằng hàng triệu mạng sống cho độc lập và công bằng. Khi còn ở trong tù tôi tưởng tham nhũng sẽ bị quét sạch sau chiến tranh, nào ngờ điều đó đã không xảy ra. Vì đất nước phải tiếp tục phát triển nên chúng tôi không chống những ai làm giàu chân chính nhưng không thể nhắm mắt làm ngơ cho những kẻ trục lợi bất chính khiến dân chúng đã nghèo lại càng nghèo hơn"
Về chuyện đó, Khế nhấn mạnh với vẻ biểu cảm đau lòng. Dù vẫn còn đây những ghi nhận thành tựu trong phổ cập kinh tế tạm gọi là đồng đều, nhưng hiện Việt Nam không còn đứng về phía người nghèo như nó đã từng làm. Một báo cáo năm 2012 cho Ngân hàng Thế giới ghi nhận rằng "vấn nạn bất công đang tái xuất hiện trên chương trình nghị sự". Giữa năm 2004 và 2010, thu nhập của người nghèo nhất -chiếm 10% dân số- đã giảm đi một phần năm, trong khi những người giàu nhất – chiếm 5% ở Việt Nam- hiện chiếm gần một phần tư tổng lợi tức.
Trong khu vực kinh tế phi chính thức thì công nhân đừng mong được bảo hộ quyền lợi gì sất. Trong các khu công nghiệp, việc bảo hộ còn tệ hại hơn nhiều. Giáo sư Angie Tran Ngọc là một chuyên gia nghiên cứu về lao động ở Việt Nam, diễn giải trong sách Ties That Bind của bà rằng luật lao động của nước này - nơi từng nổi tiếng tiến bộ - đã trở nên lạc hậu, một phần là kết quả của vận động hành lang của các nhóm như Phòng Thương mại Hoa Kỳ. Các công đoàn do nhà nước bảo trợ đã chẳng làm nên tích sự gì, chưa bao giờ có một cái gì được gọi là đình công cả. Tran kết luận: "Tăng vốn vào Việt Nam bằng cách đầu tư nước ngoài và tư nhân hóa các doanh nghiệp quốc doanh đang biến nhà nước ngày càng chẳng còn chút gì là một chính quyền đại diện cho dân. Lắm khi một số cơ quan và các tổ chức nhà nước còn về bè với đám tư bản nữa"
Mỗi công nhân được bảo đảm với một mức lương tối thiểu. Ban đầu, vào năm 1990, việc này đã được thiết lập ở mức độ phù hợp "tiền lương đủ sống" - có nghĩa là nó có thể trang trải được cho một mức sống thiết yếu. Nhưng trong những năm qua, vì sợ mất đi nguồn vốn đầu tư nước ngoài, Chính phủ đã đồng ý thôi áp dụng chính sách đó, chủ hãng xưởng được phép cắt giảm lương, hạn định lương và cân đối lương công nhân theo với đà lạm phát; kết quả là vào tháng tư năm 2013, công đoàn của chính nhà nước đã phản đối rằng mức lương hiện nay của công nhân chỉ trang trải được có 50% chi phí thiết yếu cho đời sống. Với hầu hết công nhân ở thành phố, Liên đoàn cho biết, đã "nghèo khó và gầy còm đi tệ hại... Họ thuê những phòng ở tồi tàn rẻ mạt, và tiết giảm chi tiêu hàng ngày đến mức tối đa... khiến họ bị suy dinh dưỡng trầm trọng và nguy cơ sức khỏe bị đe dọa nặng nề"
Trong khi đó, y tế và giáo dục không còn miễn phí như trước. Báo cáo của Ngân hàng Thế giới lưu ý rằng "thu nhập đang bắt đầu chiếm vị thế quyết định ai là người có khả năng dùng những dịch vụ cơ bản", và rằng chính phủ đã chi đáng kể để xây thêm bệnh viện dành cho người có thu nhập khá và bỏ lơ không đoái hoài tới các trung tâm y tế công dành cho người nghèo.
Mà Việt Nam nào phải kẻ bất tài vô dụng. Phục hồi kỳ diệu từ chiến tranh, đặc biệt là xóa được đói giảm được nghèo trong khi các nước phát triển như Anh không làm được. Nhưng thực tế giờ đây thành tựu đó đã kết thúc với sự tồi tệ nhất của hai hệ thống: nhà nước xã hội chủ nghĩa độc tài và ý hệ tân tự do phóng túng; cả hai đã cấu kết với nhau cướp sạch túi tiền và quyền lợi của người dân Việt trong khi một nhúm nhỏ ở thượng tầng quyền lực tay vơ đầy túi, mồm tụng kinh cách mạng. Cuối cùng chỉ có dối trá là vĩ đại hơn cả. Thủ thắng trong chiến tranh nhưng bị đánh bại trong hòa bình, những lu loa của những nguyên thủ Việt Nam về con người xã hội chủ nghĩa như những trò tuyên truyền trơ trẽn. Một cựu du kích đã liều mạng tuyên bố: "Chúng là những tên tư bản đỏ"
Xin bạn đọc đối chiếu nguyên văn ở Nguồn: The Guardian April 22, 2015



[VN-SHARE-NEWS] Tin về tù nhân lương tâm Bùi Thị Minh Hằng
Tin về tù nhân lương tâm Bùi Thị Minh Hằng
27-05-2015
Hôm 26/05/2015, em trai tôi là Bùi Trung Nhân cùng chú Thịnh (nhân viên của văn phòng Công Lý- Hoà Bình) đi thăm mẹ tôi là bà Bùi Thị Minh Hằng tại trại giam Gia Trung- Gia Lai nhưng vẫn không được gặp mẹ tôi. Theo lời của giám thị trại giam cho biết, mẹ của tôi không đồng ý sử dụng quần áo có đóng dấu” Phạm Nhân” của trại giam nên vi phạm nội quy trại và vì thế không cho thăm gặp.
Khi em trai tôi hỏi về biên bản xử phạt việc mẹ tôi vi phạm (trong trường hợp bà Bùi Thị Minh Hằng vi phạm) và dựa trên thông tư nào thì giám thị trại giam Gia Trung- nơi đang giam giữ mẹ tôi không đưa ra được bất cứ văn bản thành văn nào và nói rằng” Không có”. Và giám thị trại giam cũng cho biết mẹ tôi đã dừng tuyệt thực và hiện tại đang ăn cháo, nhưng hiện tại gia đình chưa nhận được bất kỳ thông tin trực tiếp gì từ mẹ tôi ( hàng tháng mẹ tôi đều gọi điện về nhà, nhưng tháng này hiện chưa thấy bất cứ cuộc điện thoại nào của mẹ tôi) nên thông tin về việc mẹ tôi dừng tuyệt thực chưa được kiểm chứng rõ ràng. Và xin nói rõ thêm: vào ngày 21/04/2015 , bà Bùi Thị Minh Hằng đã liên lạc bằng điện thoại với em trai tôi là Bùi Trung Nhân để cho biết bà đã tuyệt thực từ ngày 02/04/2015 và đến nay chưa được nhận thêm thông tin trực tiếp từ bà.
Từ trước đó, mẹ tôi đã không ăn cơm từ trại giam, bà chỉ mua để ăn từ căng-tin trại giam ( nhưng hai lần liên tiếp gần đây, trại giam đã từ chối nhận đồ- thực phẩm và tiền tiếp tế mà gia đình gửi vào cho bà Hằng , hòng ngăn chặn nguồn tiếp tế duy nhất của bà.) Về việc quần áo gửi vào trại giam Gia Trung yêu cầu đóng dấu, em trai tôi có chất vấn:” Tại sao những quần áo mẹ tôi mang theo từ trại giam Đồng Tháp thì trại Gia Trung- Gia Lai không đóng dấu, nhưng những quần áo em trai tôi mua gửi vào thì trại giam thì bị yêu cầu đóng dấu?” Thì giám thị trại giam trả lời rằng” Vì bà Hằng không đồng ý mặc đồ có đóng dấu ” Phạm Nhân” của trại giam, nếu đóng dấu hết thì bà Hằng ở chuồng “
* Khi thông tin đến đây: Xin nhờ những người và tổ chức có chuyên môn góp ý giúp là: trại giam Gia Trung có vi phạm quy định không? Và nếu có, thì vi phạm như thế nào?
Cũng trong lần đi thăm này, tuy em trai tôi cùng chú Thịnh thay mặt cho gia đình tôi tuy đã không được gặp mặt mẹ tôi nhưng bên phía trại giam Gia Trung đã đồng ý nhận các thực phẩm, đồ dùng mà gia đình gửi vào cho mẹ tôi và kiểm tra kỹ lưỡng mọi thứ.
Một điều đặc biệt, vào sáng 25/05/2015, tại văn phòng Công Lý – Hoà Bình của nhà thờ Kỳ Đồng- Sài Gòn, Cô Phượng ( Người của Văn Phòng) đã nhận được một bức thư do bà Bùi Thị Minh Hằng viết và gửi ra từ trại giam, theo con dấu bưu điện thì ngày gửi bức thư đi từ Gia Lai là 22/05/2015 và ngày chuyển đến Sài Gòn là 24/05/2015 ( tức mất 2 ngày) , nhưng nội dung trong thư được bà Hằng viết từ ngay sau Tết Âm Lịch khi bà được gặp con gái bà ( tức chị gái tôi) từ miền Bắc vào thăm mẹ. ( vậy có nghĩa là khi bức thư này hoàn thành, đã kẹt lại trong trại giam Gia Trung khoảng thời gian là 3 tháng trước khi được chuyển đến bưu điện Gia Lai, tuy không biết rằng, lý do khách quan dẫn đến việc chậm trễ của lá thư là gì nhưng cũng là một điều khó hiểu- theo nhận định của những người đọc lá thư)
Nội dung trong thư, đại ý của mẹ tôi- tức bà Bùi Thị Minh Hằng, xin gửi lời cảm ơn đến tất cả mọi người thân trong và ngoài nước, bên cạnh đó bà cũng gửi lời cảm ơn chân thành đến những cá nhân và tổ chức trong nước cũng như quốc tế đã giúp đỡ kêu gọi cho trường hợp của bà nói riêng và trường hợp của nhiều người khác nói chung trong thời gian vừa qua. Bà cũng thổ lộ rằng:” Rất nhớ những bạn bè, chiến hữu gần xa. Cũng như không biết rằng liệu mọi người còn nhớ bà không? Bên cạnh đấy, Bùi Thị Minh Hằng xin gửi lời chúc Tết và một năm mới An Khang- Thịnh Vượng đến tất cả mọi người.
* Nội dung được đính kèm với những hình ảnh chụp lại trên đường đến Gia Lai và trại giam do em trai tôi và chú Thịnh đã ghi lại được trong lần đi thăm nuôi ngày 26/05/2015.
Nguồn : FB Huỳnh Công Thuận.
Long An: CA cướp đất, bỏ tù mẹ, khủng bố con đến mức điên loạn
![]() | |
Dù đã bị khủng bố đến mức điên loạn, chị Dương Thị Cẩm Mộng vẫn bị côn an cộng sản
|
![]() |
| Chị Dương Thị Cẩm Mộng là con gái lớn của bà Phùng Thị Ly, một dân oan kiên cường trong Phong Trào Liên Đới Dân Oan Tranh Đấu hiện đang bị chế độ CSVN bỏ tù. |
![]() |
| CA Long An phát lệnh truy nã khi chị Dương Thị Cẩm Mộng khi đang phải điều trị tâm thần |
| Bà Phùng Thị Ly, một dân oan kiên cường trong Phong Trào Liên Đới Dân Oan Tranh Đấu hiện đang bị chế độ CSVN bỏ tù. |

Các chuyên mục 

Blogger Trương Duy Nhất - DR











Bốn bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm tháng 01/2010. Từ phải sang trái: Lê Công Định, Lê Thăng Long, Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức - AFP /TTXVN