Ái nữ của đương kim thủ tướng Cộng sản đã có thể kết hôn với út nam của cựu quan chức Cộng hòa – vậy mà tại sao triển vọng hòa giải Quốc-Cộng vẫn còn mù mịt chưa thấy lối ra?
Vẻ vang hay chia rẽ?
Tròn 40 năm, vết thương trên thịt da đất nước gần như đã liền sẹo nhưng vết thương trong lòng người thì cứ tiếp tục khoét sâu.
Tính ra đã hơn một thế hệ, nhưng những người lạc quan nhất thì cũng bảo rằng cần ít nhất một, hai thế hệ nữa thì người Việt mới có thể hòa giải được.
Mà đó là những người lạc quan nhất. Người bi quan hơn thì cho rằng người Việt sẽ không bao giờ hòa giải được.
Xét trên ý nghĩa đó thì ngày 30/4 khó lòng là ‘trang sử vẻ vang nhất của dân tộc’ như chính quyền trong nước lâu nay vẫn nói.
Bởi lẽ sau ngày 30/4 sự chia rẽ Bắc, Nam không hề mất đi mà chỉ trở thành sự phân rẽ giữa chính quyền trong nước và cộng đồng hải ngoại.
Việt Nam Cộng hòa dù bị xóa sổ trên lãnh thổ Việt Nam nhưng lá cờ vàng vẫn tung bay và những hình ảnh, ký ức của chính thể này vẫn còn được gìn giữ ở mỗi nơi mà tôi ghé đến và mỗi người mà tôi hỏi chuyện ở miền Nam California, Hoa Kỳ.
Và trong lịch sử dân tộc thì có ngày nào gây chia rẽ như ‘trang sử vẻ vang’ đó? Trong lúc chính quyền trong nước giong cờ, gióng trống, phát pháo ăn mừng thì người Việt hải ngoại treo cờ rủ, buộc dải băng đen để tang cho ngày ‘Quốc hận’.

“Một ngôi nhà tự phân rẽ thì không thể đứng vững,” vị Tổng thống thời nội chiến Abraham Lincoln từng nhắc nhở người dân Mỹ. Người Việt cũng thừa hiểu điều này. GS Lê Xuân Khoa, một trí thức hải ngoại mà tôi phỏng vấn, cũng nói: “Một dân tộc chia rẽ không thể nào là dân tộc mạnh.”
Mà vận mệnh dân tộc Việt nào phải đang yên lành? Những gì đang xảy ra trên Biển Đông cho thấy viễn cảnh nguy trong sớm tối.
Mặc dù cộng đồng người Việt hải ngoại chỉ có vài triệu người so với 90 triệu người trong nước nhưng lịch sử đã chứng minh chỉ cần người dân Việt tất cả đồng lòng mới có thể vượt qua những thời khắc khó khăn nhất.
Vì sao thù hận?

Tất cả những người mà tôi tiếp xúc dù đều lo lắng về sự hung bạo của Trung Quốc trên Biển Đông nhưng họ vẫn ‘dứt khoát không hòa giải’. Một cựu thượng nghị sỹ Việt Nam Cộng hòa, ông Nguyễn Hữu Tiến, nói với tôi rằng ‘vết thương mà người Cộng sản đâm vào tim người Quốc gia đã quá sâu nên không hòa giải được’.
Cơ sự nào đã đẩy người Việt đến chỗ thù hận nhau như vậy? Lẽ nào phía Cờ vàng cố chấp cứ ôm mãi thù hận như chính quyền trong nước vẫn nói?
Nói thì dễ. Nhưng thử đặt trường hợp mình bị tan nhà nát cửa, bao tài sản mồ hôi nước mắt mất sạch sau một đêm, cha mẹ, anh em, vợ chồng người thì biệt tăm tích ở trại cải tạo, kẻ thì mất xác dưới đáy biển sâu, mồ mả ông cha người ta giẫm đạp, đó là chưa kể bị vùi dập và bị gạt ra bên lề xã hội – nỗi đau chồng chất nỗi đau kêu trời cũng không thấu thì liệu có thể lấy tay phủi một cái mà hết đau được không?
Người Việt vốn rất trọng tình. Phải lìa nơi chôn nhau cắt rốn, bỏ phần mộ tổ tiên, để người ruột thịt ở lại như vậy thì khác nào cứa đi một phần linh hồn của họ mà họ vẫn cố sống cố chết tìm đường ra biển khơi – thảm cảnh đó ai có thể quên được trong một sớm một chiều? null
Nhưng nào có ai đuổi mà họ đi? Chẳng lẽ tự dưng khơi khơi họ bỏ đi? Một luật gia có tên Trần Hưng nói với tôi cả gia đình ông trước đó đã chọn ở lại. Thực tế đã cho thấy hàng triệu người miền Nam đã ra trình diện đầy đủ chỉ chưa đầy một tháng - chứng tỏ họ ít nhiều đã sẵn sàng cho đời sống mới dù trong thế thiệt thòi của kẻ thua cuộc. Dẫu sao thì cũng đã hòa bình và dẫu sao những người cộng sản vẫn là máu mủ đồng bào.
Lịch sử đã cho thấy ngày 30/4 chấm dứt sự thống khổ của chiến tranh nhưng lại mở đầu những đau thương trong hòa bình. Chiến tranh dù chia rẽ người Việt hai bên chiến tuyến nhưng chính những gì xảy ra sau chiến tranh mới khiến hàng triệu người Việt bỏ nước ra đi.
Nói đi cũng phải nói lại. Để đến được ngày 30/4 những người cộng sản cũng chịu không biết bao nhiêu là mất mát, nỗi đau của họ cũng thấu trời xanh. Nhưng đạo lý người Việt vốn khoan dung, nhân hòa. Mình chịu đau khổ không có nghĩa là mình sẽ giẫm đạp những người đã ngã ngựa để họ cũng phải đau khổ như mình.
Chia rẽ do đâu?

Tấm gương tổ tiên còn đó sao không nhớ? Đức Vua Trần Nhân Tông thắng giặc ngoại xâm rồi đốt hết thư tịch là bằng chứng cấu kết với giặc không truy cứu nữa.
Có lẽ trong mắt Ngài đó là những con dân nước Việt lầm lỡ. Còn dưới cái nhìn đã nhuốm màu giai cấp của những người Cộng sản, những người Quốc gia là những phần tử ‘phản động xấu xa’. Mà đã ‘xấu xa’ thì làm sao hòa giải? Chỉ có thể ‘cải tạo’ – từ ‘cải tạo’ từ trong trại cho đến ‘cải tạo công thương nghiệp’.
Tôi nghĩ người Việt nào cũng thừa hiểu rằng trong chiến cuộc thì hai bên buộc phải cầm súng bắn vào nhau nên không thể lấy cái lý bên kia ‘có tội ác với đồng bào’ nên bây giờ phải lãnh hậu quả. Ngẫm ra có người Việt nào đòi trả thù người Pháp, người Mỹ sau khi đánh nhau với họ đâu, huống hồ gì với cùng người Việt với nhau?
Cái nhìn nhuốm màu giai cấp đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt từ những ngày đầu của những người Cộng sản.
Còn nhớ vào lúc Chiến tranh Lạnh đang cao trào, khi mà trong lòng những người vừa tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lê nin đang hừng hực lòng căm thù ‘giai cấp bóc lột’ thì ‘đế quốc Mỹ’ nghiễm nhiên đặt mình vào trước mũi súng thù hận của họ.
Và đối với một dân tộc vừa đánh đuổi một đội quân nước ngoài thì sự hiện diện một đội quân nước ngoài khác cũng bắn giết người Việt là một điều hết sức nhạy cảm cho dù mục đích của người Mỹ có khác người Pháp như thế nào đi nữa.
Điều này tạo lợi thế tuyên truyền cho những người Cộng sản. Người Mỹ trở thành kẻ ‘xâm lược’ mà những người Cộng sản kêu gọi toàn dân đứng lên đánh đuổi, và những người Việt chiến đấu bên cạnh người Mỹ rơi vào tình thế trở thành những ‘kẻ tay sai’ hay ‘ngụy quân ngụy quyền’.
Thật ra, ngay từ đầu, những người cộng sản đã có sự kết hợp giữa ‘giải phóng dân tộc’ và ‘đấu tranh giai cấp’. Với cách nhìn đó, họ đã tiến hành thanh trừng những người mà họ cho là ‘thuộc giai cấp bóc lột’ mặc dù không ít địa chủ, hào phú cũng yêu nước và hết lòng tham gia vào cuộc kháng Pháp.
Đức Vua Trần Nhân Tông xưa kia nhìn dân tộc là một khối duy nhất còn Đảng Cộng sản chia người Việt ra thành những giai cấp hận thù lẫn nhau.
Ai có chính nghĩa?

Đứng trên góc độ dân tộc, sự chia cắt là nỗi đau vô bờ bến nên nếu không thống nhất được bằng hòa bình thì tôi nghĩ những người cộng sản có quyền dùng vũ lực thống nhất đất nước.
Nhưng khi sự thống nhất đó còn có thêm ý nghĩa nhuộm đỏ đất nước thì người dân miền Nam có quyền chống lại sự áp đặt lên họ một chủ thuyết mà họ không chấp nhận.
Nếu miền Bắc nói họ ‘có chính nghĩa’ để người miền Nam tập kết ra Bắc thì miền Nam có thể nói ‘chính nghĩa của họ’ đã khiến đồng bào miền Bắc di cư vào Nam.
Nếu miền Bắc lên án miền Nam phạm nhiều tội ác với đồng bào thì miền Nam có thể chỉ vào cuộc thảm sát Mậu Thân năm 1968.
Nếu miền Bắc tố cáo miền Nam làm tay sai cho Mỹ thì miền Nam có thể chỉ trích miền Bắc luôn nghe lệnh của Xô-Trung
Nếu đồng bào miền Bắc đi chiến đấu với lòng yêu nước nồng nàn thì người dân miền Nam cũng lên đường với lý tưởng thiêng liêng.null
Nếu những bà mẹ miền Bắc đau mất con xé lòng xé ruột thì những người vợ miền Nam cũng khóc thương chồng đến cạn dòng nước mắt.
Nếu những chiến sỹ miền Bắc hiến dâng một phần thân thể thì những thanh niên miền Nam cũng đánh mất trọn tuổi thanh xuân.
Và nếu sự chia rẽ dân tộc đó là kết quả xuyên suốt của con đường đấu tranh giai cấp thì Đảng Cộng sản làm sao hòa giải được?
Hòa giải kẻ cả

Và nếu ở đâu đó Đảng có nói về hòa giải thì phải là hòa giải của kẻ bề trên: những người phía bên kia phải luôn được cho là có ‘mặc cảm về quá khứ’.
Không rõ chính quyền đã biết những ai có ‘mặc cảm quá khứ’ nhưng tất cả những người phía Cờ vàng mà tôi tiếp xúc không ai có cái mặc cảm đó.
Cái hòa giải kẻ cả đó không những không thành thật mà còn mang tính chất tuyên truyền để tô vẽ cho chính quyền rằng họ thu phục được lòng người hải ngoại.
Sự tuyên truyền đó vừa khiên cưỡng vừa thiếu thuyết phục, chẳng hạn như trong chương trình Xuân quê hương vừa qua cho Việt kiều thắp hương cho liệt sỹ ở Đền Bến Dược mà lại bỏ qua Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa.
Nếu có thành ý hòa giải, ít nhất chính quyền phải tu bổ Nghĩa trang Biên Hòa vì dù sao đó cũng là nơi an nghỉ của hàng chục ngàn con người – mà đạo lý người Việt nghĩa tử là nghĩa tận. An ủi vong linh người đã khuất để yên lòng người còn sống và cũng để chứng tỏ rằng Đảng có lượng bao dung. Mà Đảng có bao dung thì người ta mới tin vào ý định hòa giải của Đảng.

Nếu có thành ý hòa giải, thì Đảng phải nhìn nhận những sai lầm của những chính sách sau năm 1975 và có lời xin lỗi. Biết sai và nhận sai thì có gì là sai? Còn nếu Đảng cứ mãi im lặng thì có nghĩa họ đương nhiên xem những chính sách kia là đúng. Bao oan khiên u uất không giải tỏa được chút nào thì làm sao mà hòa giải?
Nhưng nếu Đảng làm như vậy thì có làm tủi hổ vong linh những chiến sỹ của Đảng đã ngã xuống hay không? Người chiến sỹ thật lòng hy sinh vì nước sẽ không bao giờ muốn đất nước mình bị chia rẽ trước hiểm họa ngoại bang cả.
Vấn đề lớn nhất ở đây, theo tôi nghĩ, là làm như vậy khác nào đặt Đảng ở thế dưới của những người mà Đảng đã khinh miệt theo ý thức hệ. Còn nhớ cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt chỉ mới nói ‘triệu người vui, triệu người buồn’ mà đã bị các đồng chí của ông lên án gay gắt.
Tương lai về đâu?

Còn nếu Đảng không muốn hòa giải nhưng nếu họ làm cho đất nước được phú cường, người dân được hưởng đời sống an vui, hạnh phúc, chủ quyền quốc gia được giữ vững thì những hận thù còn sót lại trong lòng người hải ngoại cũng dần dần tự khắc tiêu tan.
Nhưng nếu việc này Đảng cũng không làm được thì tương lai đất nước sẽ về đâu?
Tương lai đó sẽ do những người sinh ra và lớn lên sau cuộc chiến quyết định.
Thế hệ này chưa từng biết đến Cờ vàng. Cho nên lá cờ này sẽ không thể quay lại với dân tộc. Đó là chưa nói nếu chọn Cờ vàng thì sẽ lặp lại cảnh áp đặt nửa này lên nửa kia của đất nước và làm đau lòng những người đã chiến đấu, hy sinh cho Cờ đỏ.
Thế hệ trẻ sinh ra và lớn lên trong lòng Cờ đỏ. Tuy nhiên, cái lý tưởng làm nên lá Cờ đỏ lại ngày càng xa lạ đối với họ. Ít nhất nhiều người trẻ hiện nay không xem ‘đế quốc Mỹ’ là kẻ thù mà là hình mẫu để vươn tới.
Tuy nhiên, dù tương lai đất nước không còn Cờ đỏ hay không có Cờ vàng nhưng lý tưởng của những người đã sống hết mình dưới hai lá cờ đó là thuần khiết, cao quý và đáng được tôn trọng vì họ tin là họ đã chiến đấu cho những điều tốt đẹp cho đất nước.
Và cho dù thuộc Cờ đỏ hay Cờ vàng, tất cả con dân đất Việt đều mong muốn đất nước hùng cường để chống lại sự bá quyền của Trung Quốc trên Biển Đông.
Ông Phạm Hòa, một cựu biệt kích của phía Cờ vàng, nói với tôi rằng hiện thực đất nước ‘không như Việt Nam Cộng hòa mong muốn mà cũng không như bộ đội miền Bắc mong muốn’.
Nếu tình hình đất nước vẫn không khá hơn, nếu cả hai phía đều chứng tỏ đã mất khả năng hòa giải thì vận mệnh dân tộc sẽ đặt vào tay thế hệ tương lai mà khi đó có khả năng cả Cờ vàng lẫn Cờ đỏ chỉ còn tồn tại trong lịch sử.
Quốc Gia và Cộng sản và chuyện hòa giải
Bảo Giang
I. Một định nghĩa:
Hoà giải là môt phương thức thuyết phục các đối tác chấm dứt các xung đột bằng cách đưa ra những điều kiện để trao đổi, được các bên đồng chấp thuận và triệt để tuân thủ những trách nhiệm ràng buộc về phía mình, ngõ hầu từ đó có thể đem lại sự yên ổn, phúc lợi chung cho các đối tác.
Lấy một thí dụ. Một ông chồng say mê cờ bạc rượu chè, hay bạo hành vợ con, tạo ra một cuộc sống khủng hoảng cho gia đình. Muốn có một cuộc hòa giải đúng nghĩa để tạo ra ổn định cho cuộc sống. Người chồng buộc phải cam kết từ bỏ thói hư cờ bạc, rượu chè và việc đánh đập vợ con, như là những điều kiện tiên quyết để cho vợ con ông ta chấp nhận bỏ qua những lỗi lầm trong qúa khứ, và đón ông trong cuộc sống bình thường, thay vì một cuộc đổ vỡ, ly tán. Lẽ dĩ nhiên, sẽ không thể có cuộc hòa giải bằng cách để ông chồng tự tuyên bố: Mọi người muốn sống yên ổn thì phải chấp nhận những áp đặt của tôi! Cũng thế, một tên trộm đột nhập gia cư, cướp của, gây án. Việc trước tiên là phải tống cổ nó ra khỏi nhà, chứ không phải là việc thỏa mãn yêu cầu cho nó ở lại, chiếm cứ căn nhà để giải quyết khủng hoảng.
II. Một nguyên tắc.
Hòa giải là phải có sự kiện chấp nhận lỗi lầm (nếu có), chấp nhận những điều kiện (tự nguyện hay không tự nguyện) được đưa ra trong hòa giải. Đồng thời, chấp nhận tuân thủ, thi hành những điều kiện này một cách nghiêm chỉnh, có kiểm soát. Nói cách khác, sẽ hhông có một cuộc hòa giải nào mà không có những điều kiện đi kèm. Có điều kiện chưa đủ, còn phải nghiêm chỉnh thực hành những điều kiện của hòa giải nữa.
Đó là tiến trình thường thấy của hòa giải. Nhưng ở Việt Nam, chuyện hòa giải, người ta đã nói đến hàng ngàn, hàng vạn lần. Nói từ khi chưa hết chiến tranh, và sau đó, đã 39 năm qua, câu chuyện vẫn không có đoạn kết. Bởi vì, mỗi người, từ vị trí lãnh đạo đất nưóc, đến anh phu xích lô, bà gánh hàng rong. Từ ông thủ lãnh một đảng phái, một tổ chức chính trị đến anh làm báo ở bên này, bên kia hoặc cô y tá, đều diễn đạt mỗi người một cách và mang hàm ý khác nhau. Hầu như chẳng có một chút nội dung nào khả dĩ giống nhau và cũng chẳng theo một nguyên tắc, tiến trình nào cả. Trái lại, ông nói gà bà nói vịt, đưa đến cái nhìn rất thành kiến, đầy nghi kỵ về chuyện hoà giải là:
a. Khi phía cộng sản đưa ra lời kêu gọi về hòa giải, hòa hợp dân tộc thì triệu người như một, bằng kinh nghiệm của cuộc sống, đều cho rằng đó là lời kêu gọi đầu hàng vô điều kiện gởi đến mọi phía, mọi người, (giống như trường hợp gã say rượu ở trên) để Cộng sản được tự tung, tự tác tước đoạt hết mọi quyền sinh, quyền sống. Quyết định và nắm giữ mọi tài nguyên và mọi phương tiện sản xuất của đất nước. Ngưởi dân chỉ là những tên nô lệ, phục vụ cho một đế chế bất lương, vô đạo.
b. Nếu có những lời tuyên bố, hay những bài viết, hoạt động, nói về việc đòi hòa giải, hòa hợp dân tộc, là y như rằng cứ 10 người thì có đến chín người tin rằng, đây là thành phần đi hàng hai hàng ba. Thành phần sẵn sàng đầu giặc (đi theo bọn cướp để được uống rượu ké) và lôi kéo ngưòi khác cùng đầu giặc để tìm lợi nhuận cho mình và cho phe nhóm của mình. Thành phần này hầu hết xuất hiện tại miền Nam Việt Nam (thành phần"phản chiến)trước năm 1975, và hiện nay thỉnh thoảng tái diễn tuồng ở hải ngoại.
c. Phần quốc dân, sau muôn vàn những bất hạnh và khổ đau, từ trong cuộc chiến đến sau cuộc chiến. Sau muôn vàn những kinh nghiệm, nên chẳng có ai tin vào giải pháp hòa giải hòa hợp của Cộng sản, hay của những cá nhân, tổ chức chính trị trên đưa ra. Với họ, triệu người như một đều cho rằng. Hoà hợp hòa giải với cộng sản là tự sát, là tự đi tìm lấy thuốc độc mà uống.
III. Định nghĩa về đối tác.
Cho đến 30-4-1975, hoặc gỉa, đến nay, mỗi khi nói đến từ Quốc Gia, cộng sản, người ta thường nghĩ ngay đến hai thế lực chính trị đối đầu nhau ở hai miền của đất nước. Nên khi nói đến chuyện hoà giải, người ta nghĩ ngay đến việc hoà giải giữa hai đối tác này. Điều này, không sai. Nhưng trên thực tế lại không đúng. Bởi lẽ, hai thực thể chính trị của hai miền này đối đầu nhau. Nhưng nó không có tính cách lâu dài, miên viễn, và dân chúng của mỗi phần của đất nước không thuộc hẳn về một phía nào. Trái lại, cuộc chia cắt chỉ mang tính thời gian. Nghĩa là, khi chấm dứt cuộc chiến. Hai thế lực chính trị này, có thể cùng tồn tại, hoặc một mất một còn. Nhưng cuộc hòa giải vẫn chưa hề có. Bởi lẽ, cuộc hòa giải đích thực không phải là cuộc hoà giải giữa hai tập thể chính trị đối đầu nhau. Nhưng là cuộc hòa giải giữa chính quyền với quốc dân đồng bào, không phần biệt người bên này hay bên kia, trong tinh thần nhân bản, tôn trọng lẫn nhau.
Tử sau 30-4-1975. Có thể nói, cuộc hòa đàm Balê là một bản vẽ trong cuộc hòa giải giữa hai thực thể chính trị tại Việt Nam để đưa đến chấm dứt chiến tranh. Tuy nhiên chiến tranh đã chấm dứt bằng cách, một bên phá bỏ những điều ước nghị hòa và chiếm lấy đối phương bằng bạo lực. Từ thời điểm này, thực thể chính trị phía Quốc Gia và lãnh thổ riêng biệt của họ coi như không còn. Những kẻ lũng đoạn thời cơ, từng rêu rao về hòa hợp hòa giải dân tộc ỏ miền nam trưóc kia, nay cũng không còn đất sống,. Một là hoàn toàn quy thuận theo thế lực mới. Hai là, bỏ của chạy lấy người, ra hải ngoại. Ba là tự giữ miệng, chờ chết. Thành phần này vốn dĩ trước đây cũng không có chỗ đứng. Họ chỉ làm vì lợi ích cá nhân, phe nhóm như là cái thùng rỗng hay theo chỉ đạo của CS? Họ không có tư cách và chẳng là đại diện cho ai và cũng chẳng ai nghe họ. Nay thì hoàn toàn bị triệt tiêu. Theo đó, từ sau 30-4-1975, chỉ có hai đối tác trong cuộc là tập thể cộng sản và Quốc Dân Việt Nam mà thôi.
1. Tập thể cộng sản, bao gồm tổ chức đảng cộng sản cũng như những ngưòi thuộc về họ trong guồng máy công quyền, công tư sở ở trong nước hay ở hải ngoại.
2. Quốc dân Việt Nam bao gồm những ngưòi dân yêu nước không chấp nhận cộng sản đang phải sống dưói chế độ cộng sản và những người Việt Nam đã vì cộng sản mà phải bỏ nước ra đi.
Với những người ra đi, dù họ còn hay không còn mang quốc tịch Việt Nam, nhưng vẫn còn những liên hệ mang huyết thống và những sinh hoạt Việt Nam. Hiện nay họ không có lãnh thổ, không có đại diện chính thức như trong guồng máy hành chánh, chính quyền, ngoài những tổ chức cộng đồng người Việt Tự Do tại hải ngoại mà họ sinh hoạt với. Với những người còn ở trong nước, về tỷ lệ, họ chiếm tới 80 - 90% dân số, nhưng không có tiếng nói. Họ không có người đại diện chính thức. Tuy nhiên, luôn có những người không khuất phục bạo quyền, luôn nói lên nguyện vọng chính đáng của họ. Đòi buộc nhà cầm quyền phải thỏa mãn cho những quyền lợi của công dân về các diện chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và tôn giáo, cũng như phải bảo vệ sự vẹn toàn của lãnh thổ. Theo đó, dù chưa được bầu chọn, họ vẫn khả dĩ là đại diện cho đối tác mang tên Quốc Dân Việt Nam vào lúc này. Ngoài ra, không ai là tiếng nói của họ.
IV. Việc hòa giải đơn phương.
Ai cũng biết, cuộc sống tiến bộ của đất nước luôn tùy thuộc vào sự hợp tác và hoạt động của hai đối tác Quốc Dân và Chính Quyền. Không một quốc gia nào khả dĩ tiến bộ và đem lại hạnh phúc cho người dân khi hai đối tác này luôn chống chọi nhau. Vì “Vua quan coi ngưòi dân như cỏ rác, Nhân dân coi vua quan như kẻ thù” (Mạnh Tử). Điều ấy chứng tỏ rằng, đời sống của một chế độ, một đảng phái chính trị, một chính phủ, tùy thuộc vào thái độ hợp tác của người dân. Hiểu được nguyên tắc này, nên đời sống ở các nước tây phương luôn luôn có những cuộc hòa giải công khai giữa chính phủ (đảng cầm quyền) và người dân theo những chu kỳ nhất định. Đó là những cuộc bầu cử lãnh đạo quốc gia.
Thật vậy, những chương trình, kế hoạch phát triền đất nưóc từ những mặt về y tế, xã hội, văn hóa, quân sự, an ninh... đều được các đảng phài công khai đưa ra trình với quốc dân trong các cuộc bầu cử. Những sách lược này, dươi một góc nhìn nào đó, phải được coi là một phương thức (điều kiện), nhằm hòa giải, hay hóa giải những bất đồng, những đòi hỏi của ngừời dân trước những vần đề của đất nước. Theo đó, đảng phái, hay những người ra tranh cử vị trí nguyên thủ quốc gia nào đưa ra được những sách lược đáp ứng cho nhu cầu và giải quyết được những vấn đề của người dân mong muốn, họ sẽ được quốc dân chấp thuận, đưa họ vào vị thế lãnh đạo. Như thế, từ khởi đầu, đó là những chương trình là sách lược đơn phương của đảng phái, của người tranh cử, nó đã trở thành điều kiện, sẽ ràng buộc nhau (như bản văn hoà giải) giữa hai đối tác. Nó có hiệu lực thi hành khi thành sự. Theo tôi, đây là một phương cách hòa giải tốt đẹp nhất giữa hai đối tác quốc dân và chính phủ mới để đưa đất nước tiến vào vận hội mới. Ở đó, mỗi bên đều tiếp tục công việc của mình trong tinh thần tôn trọng lẫn nhau để phục vụ cho đất nước, hơn là chà đạp lên nhau để đưa đến thảm họa.
V. Chuyện của Việt Nam
Ai cũng biết. Hơn thế, tất cả những người cộng sản Việt Nam đều biết rất rõ ràng nguyên nhân đưa đến việc nền luân lý, đạo đức xã hội và văn hóa của Viêt Nam bị băng họai, nền kinh tế quốc dân bị tụt hậu, và đặc biệt, Việt Nam không có tương lai cho ngày mai không phải là do hậu qủa của chiến tranh. Nhưng chính là sự hiện diện của cộng sản và việc họ dùng bạo lực để lũng đoạn công quyền từ 1954 đến nay. Việc khẳng định không phải vì chiến tranh là rõ ràng. Vì ngay trong thời chiến, miền nam vẫn có cấp độ tiến bộ cao, và nền văn hóa đạo đức của dân tộc được bảo toàn và phát triền vững chãi, để ở dó người dân được hưởng những quyền căn bản của con người. Không có ai phải lo lắng đến cái ăn cái mặc bao giờ. Không ai phải đem nỗi lo lắng, sợ hãi vào trong giấc ngủ. Và Sài Gòn, thủ đô của miền Nam: Việt Nam Cộng Hòa khi đó, được ví như Hòn Ngọc Viễn Đông, mà các nước lân bang như Thái, Mã Lai, Indo, hay Singapore đều ước mơ có đưọc một Sài Gòn trong quê hương của họ.
Trong khi đó, toàn bộ ngưòi dân sống ở miền Bắc thì lâm vào cảnh sống cơ cực với chế độ tem phiếu. Ăn chỉ cầu no. Vào giấc ngủ không bao giờ hết lo lắng, sợ hãi. Phần người công chức cấp cao cỡ như trưởng phòng, thậm chí hàng thứ trưởng, mỗi khi được đề cử đi "công cán" ở hải ngoại thì phải đến "ban lễ tân" ở các bộ để ký mượn lấy một bộ quần áo veste để mà mặc cho nó có vẻ với người ta. Khi trở về thì phải đem đến trả lại, và phải báo cáo những lý do nếu nó bị rách hoặc hư hại. Đây là chuyện có thật, không ai bịp bợm ai được nữa. Tuy thế, cảnh sống của ngưòi dân miền Nam đã bị Cộng sản san gần bằng với cuộc sóng đói khổ của miền Bắc vào những năm 1954-1975.
Nếu nói rằng, miền Nam ngày xưa vì có viện trợ nhân đạo về kinh tế, văn hóa của Tây phương mà được như thế. Thực tế không ai chối cãi về điều này. Nhưng cái phần viện trợ ấy, (đa phần là cho chiến tranh) nếu đem so sánh với sự viện trợ của người Việt từ hải ngoại ngày nay đổ vào Việt Nam thì thật không đáng là một câu chuyện nhỏ. Không đáng kể là một, vài bát nước đổ vào trong một cái thau lớn. Bởi vì từ trong chiến tranh, chưa bao giờ miền Nam nhận được tổng hợp các số viện trợ lên đến một tỷ đô la cho một năm. Ngày nay hàng năm, Việt NamCS nhận được trên 10 tỷ dôla, mà cuộc sống của người dân lại vẫn trăm nghìn cay đắng là thế nào? Theo đó, sự khốn khổ của đất nước là do chính Cộng sản tạo ra, không phải vì chiến tranh.
Như thế, nếu trong những thời gian qua, chuyện hòa giải chỉ là câu chuyện của miếng dẻ rách để người ta nói đến cho vui, cho qua ngày thì lúc này đây. Hơn ai hết, chính nhà cầm quyền cộng sản đã biết rằng. Thời gian của hòa giải không còn nhiều. Nghĩa là, phải làm ngay hoặc là sẽ không bao giờ còn cơ hội. Bởi vì, khi nguy cơ bị Trung cộng đô hộ càng lớn, sức ép phải làm cuộc hòa giải nghiêm chỉnh với quốc dân để cứu nước càng cao. Khi hệ thống thông tin toàn cầu càng mở rộng, CS càng không còn khả năng che đậy và tuyên truyền theo ý muốn mình. Trái lại, tất cả những tham ô, dối trá, từ cá nhân đến tập thể cùng những tài liệu buôn dân bán nưóc của CS được đưa ra ánh sáng cũng là lúc cộng sản đang tự đào lỗ chôn minh. Khi sự sợ hãi không còn là con ngáo ộp để trấn áp ngưòi dân, sức mạnh bạo lực của cái mã tấu, cái liềm, đôi dép râu trở thành một trò hề vô nghĩa. Khi người dân cùng nắm tay nhau, cùng đứng dậy vì nền Độc Lập, Tự Do của đất nươc, quê hương ấy sẽ không còn bóng dáng búa liềm. Như thế, cộng sản một là phải hòa giải với quốc dân để còn có cơ hội tồn sinh. Hai là chờ cơn thịnh nộ của quốc dân đổ xuống. Đứng trước cuộc sụp đổ toàn diện như hiện nay, nhìều người thao thức vì sự ổn định đất nước đã đặt ra câu hỏi là: Liệu có thể có một cuộc hòa giải nghiêm chỉnh giữa Quốc Dân Việt Nam và cộng sản không? Nếu có, nó sẽ theo một tiến trình nào?
VI. Tiến trình của hòa giải.
Điều lo lắng lớn nhất của đảng cộng sản tại Việt Nam trong giải pháp hỏa giải, hòa hợp với Quốc Dân Việt Nam là sợ mất quyền lãnh đạo, không còn chỗ đứng trong xã hội, hoặc lo bị trả thù cá nhân, nên họ rất sợ hãi việc hòa giải với quốc dân. Tuy nhiên, phần lớn trong số ấy lại cho rằng: Tất cả những lo lắng ấy cộng lại không thể so sánh với việc nều họ không đơn phương làm cuộc hòa giải với dân tộc Việc Nam, họ cũng không thể giải trừ được cái lo lắng ấy. Tệ hơn thế, ngày tàn của CS sẽ đến và CS sẽ bị đào thải ra khỏi xã hội. Khi ấy, CS cũng không còn giữ được bất cứ một thứ gì. Theo đó, nếu họ biết làm một cuộc hòa giải nghiêm chỉnh và đơn phương với quốc dân Việt Nam thì vẫn tốt hơn. Khi đó, quyền lãnh đạo của họ cũng chưa chắc đã mất. Vị trí xã hội của họ chưa chắc đã đị đào thải. Đời sống an ninh của họ vẫn được luật pháp bảo vệ. Nhưng cuộc hòa giải ấy, nếu có, nó sẽ có khuynh hướng ra sao?
1. Theo lối mòn cũ.
Luận điệu của cs từ trước tới nay là gian dối chồng lên gian dối. Nó chỉ nhằm áp đặt lên trên người dân sự thống trị của cộng sản bằng bạo lực và bất lương, vô đạo. Nó tuyệt đối không thể là một tiền đề cho một cuộc hòa giải. Nó chắc chắn sẽ dẫn đến bạo động và triệt hạ, đào thải mọi sinh hoạt của cộng sản ra kỏi phần đất này. Thời gian, chắc chắn không thể nằm trong toan tính của cộng sản sẽ là 20, 50 hay 100 năm nữa. Nhưng nó là ý chỉ của toàn dân. Có thể xảy ra ngay trong ngày mai hay trong một tuần, một tháng tới. Nói cách khác, không thể có hòa giải theo lối mòn cũ.
2. Theo yêu cầu đổi mới khả thi của quốc dân.
Dĩ nhiên, những đòi hỏi, những điều kiện này không phải là tiếng nói sáo rỗng của những kẻ thời cơ, chụp giựt. Nhưng là tiếng nói bằng máu, bằng mô hôi, bằng nước mắt và bằng lao nhọc, tranh đấu kiên trì của người dân ở trong nước, mà một số các cá nhân, đoàn thể đã vượt qua cả song sắt nhà tù để làm nên, viết ra. Đó là những đòi hỏi chính đáng, không người nào có thể phản đối, chỉ trích. Hơn thế, còn là những điều khoản thích hợp, mở đường cho đất nước hướng tời tương lai.
B. Theo tinh thần trong văn thư của HĐGMVN.
Ai cũng biết, lá Thư không mang một hình thức chủ nghĩa với những hàng chữ dài vô cảm mang nhãn hiệu “ CHXHCNVN” đi kèm với khẩu hiệu rêu rao của nó. Nó không là hình thức Xin – Cho. Trái lại, lá thư ngắn gọn, trực diện. Viết những diều cần viết. Nói những diều cần nói. Tuy là ngắn, nhưng chứa đựng hầu như tất cả tâm nguyện, khát vọng, không phải chỉ của người viết, hay của hơn tám triệu thành viên trong tôn giáo mà họ là đại diện, nhưng có thể là của tất cả mọi ngưòi, không trừ ai. Người trong nước, kẻ hải ngoại, đều muốn nói lên một tiếng nói chung, quang minh chính trực như thế. Vì tất cả mọi người như là đã sẵn sàng xóa bỏ cái hàng chữ với bảng hiệu kia rồi. Lá Thư này giống như một Tuyên Ngôn Lịch Sử của thời đại. Lịch Sử là vì từ đây, nó đã chấm dứt một chặng đường dối trá và bất công. Rồi mở ra ra một hướng đi trong Sự Thật và Công Lý cho mọi người cùng nhắm tới. Đích của Lịch Sử này, sớm hay muộn cũng sẽ phải tới. Đến trong an bình, cởi mở, đồng thuận, hay tới trong máu và nước mắt thì bó buộc đích nhắm cũng phải đến. Trong thư gồm có những điểm chính yếu như:
1. Quyền con người :
Hiến pháp cần xác định rõ: mọi người đều tự do và bình đẳng về phẩm giá và quyền. Quyền con người là những quyền gắn liền với phẩm giá làm người, và vì thế, là những quyền phổ quát, bất khả xâm phạm, bất khả nhượng như quyền được sống, quyền tự do ngôn luận, quyền tự do tôn giáo.
2. Quyền làm chủ của nhân dân.
Hiến pháp cần làm nổi bật quyền làm chủ của nhân dân.. Xác dịnh chủ thể quyền bính chính trị là chính nhân dân và từ nhân dân. Hiến pháp cần công nhận quyền sở hữu đất đai của công dân và các tổ chức tư nhân. HP phải tôn trọng quyền tham gia hệ thống công quyền ở mọi cấp của mọi công dân, không phân biệt thành phần xã hội, sắc tộc, tôn giáo.
3. Thi hành quyền bính chính trị:
Hiến pháp phải xác định, quyền bính chính trị mà nhân dân trao cho nhà cầm quyền được phân chia thành quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trong đó không dành đặc quyền chính trị cho ga bất kỳ một đảng phái nào. Xác dịnh tính độc lập của các quyền lập pháp. Hành pháp và tư pháp. Cung cấp nền tảng pháp lý cho việc thi hành những quyền hạn này một cách độc lập và hiệu quả.”
Nếu trước đây, nhà nước CS đã từng làm ra những cái bánh vẽ, dựng lên những chiêu bài để lợi dụng và lừa đảo lòng yêu nước của quốc dân Việt Nam trong cuộc chiến “ chống Mỷ cứu nước” nhưng thực chất là để phục vụ cho chủ trương “ ta đánh Mỹ chiếm miền Nam là đánh cho Trung cộng, Liên Sô” (Lê Duẩn) để dìm đất nước vào cơn khủng hỏang chính trị, khủng hoảng tội ác, khủng hoảng kinh tế, văn hóa và xã hội trong mấy chục năm qua là một sai lầm nghiêm trọng; thì việc họ "sửa đổi" HP vào tháng 9-2013, phải được coi như là cơ hội cuối cùng để họ làm cuộc hòa giải nghiêm chỉnh với quốc dân Việt Nam. Bởi lẽ, đây là lần đầu tiên họ "hỏi ý kiến" ngưòi dân. Hỏi và nay đã có những bản văn như là những điều kiện nghiêm chỉnh góp ý.
Hơn thế, không phải một mà là ba. Ba bản văn góp ý từ ba tổ chức công dân riêng biệt, có thể họ chưa một lần gặp gỡ nhau. Nhưng cùng lúc đã nói lên được tất cả tâm nguyện của quốc dân vì tương lai của đất nước. Như thế, đây không phải là những chữ viết xuông, vô nghĩa. Trái lại, nó sẽ trở thành những Tuyên Ngôn Lịch Sử của đất nước. Lịch sử vì, thứ nhất, nó giúp cho chính cộng sản thoát khỏi việc bị đào thải ra khỏi mọi sinh hoạt của đất nước một cách vĩnh viễn. Nó giúp cho chính những ngưòi CS thoát ra khỏi mọi lo lắng về an ninh bản thân vì có luật pháp bảo vệ. Kế đến, nó giúp cho tất cả mọi tầng lờp của xã hội có cơ hội cùng góp tay vào việc xây dựng lại đất nước từ nghèo khó, tang thương, trong khủng hoảng niềm tin và đầy tội ác, để đưa đất nước vào một tiến trình hoà nhịp với những sinh hoạt của thế giới nhân bản, trong an bình, tự chủ. Ở đó, văn hóa nhân bản, đạo đức của xã hội, của tôn giáo, của dân tộc được bảo vệ và phát triển. Ở đó, nền Độc Lập và Hoà Bình của Việt Nam không thể bị xâm phạm. Ở đó, một thể chế Tự Do, Dân Chủ được thiết lập và được luật pháp bảo vệ.
Trường hợp những bản văn này không được cộng sản tôn trọng, tuân thủ thì tự nó, cũng trở thành những những chứng tich của Lịch Sử chứng minh về sự phi nhân của chủ nghĩa cộng sản. Từ đó, dù người dân sẽ phải đập đá, phá đường để khơi nguồn cho một cuộc vận động đổi mới, có thể trong máu và nước mắt, họ cũng vẫn đi. Bởi lẽ, những bản văn này cũng chính là Bản Tuyên Ngôn Lịch Sử khởi đầu cho cuộc sống của dân tộc Việt Nam trong ngày mai.
Bảo Giang
Bạo lực với các nhà hoạt động xã hội VN

Làm cho mọi người dân 'biết được quyền của mình' chính là khởi đầu của việc làm giảm thiểu lạm dụng bạo lực nói chung trong xã hội, cũng như bạo lực, bạo hành nói riêng nhắm vào giới hoạt động dân chủ và xã hội ở Việt Nam, theo ý kiến của một khách mời tại cuộc Tọa đàm Bàn tròn thứ Năm tuần này của BBC.
Trao đổi với Bàn tròn hôm 21/5 với chủ đề "Tình trạng bạo lực với các nhà hoạt động dân sự" ở Việt Nam, nhà quan sát tình hình chính trị - xã hội Việt Nam, Tiến sỹ Nguyễn Quang A nói:
"Tôi nghĩ có một cách rất hiệu quả, tức là chúng ta làm cho mọi người dân biết được quyền của mình.
"Bởi vì như Luật sư Vũ Đức Khanh nói là người dân có rất nhiều quyền và nếu người ta hiểu ra được quyền của mình, người ta thực thi quyền đấy.
"Và quyền đấy là quyền của dân, không phải hỏi ai ban phát cho cả, cứ thế thực thi, và ngay trong việc thực thi đó, người ta sẽ mạnh dạn dần lên, sẽ bớt sợ dần đi.
"Và lúc đó tôi nghĩ những tiếng nói, kể cả những người làm chứng, kể cả những người đột nhiên thấy những trường hợp hành hung như thế, thì có thể giơ luôn điện thoại ra, có thể chụp một cái ảnh, có thể quay một video clip, hoặc là nhận diện những kẻ đấy.
"Và chỉ có như thế thì tình hình mới được cải thiện mà thôi," ông Nguyễn Quang Anói với Bàn tròn.
Nhà hoạt động Nguyễn Chí Tuyến, người bị hành hung hôm 11/5/2015 tại Hà Nội chia sẻ quan điểm về những gì mà ông cho là các biện pháp có thể giúp giảm thiểu bạo lực, lạm dụng bạo hành ở Việt Nam.
Ông Chí Tuyến nói:
"Chúng tôi là công dân và chúng tôi chỉ thực hiện các quyền dân sự, các quyền căn bản của con người là quyền phát biểu chính kiến của mình, quyền được tham gia hội họp để sinh hoạt trong những cái mà pháp luật cho phép, và Hiến pháp Việt Nam cũng quy định, cũng như các công ước quốc tế.
"Tôi nghĩ rằng những việc tôi làm và bày tỏ chính kiến của mình như thế không mang tính bạo lực hay là đe dọa một sự lật đổ đối với chính quyền Việt Nam, hay là... chúng tôi kêu gọi một lời gì đó để mang tính bạo loạn hay lật đổ gì cả.
"Mà tất cả hoạt động, lời nói của các anh chị em chúng tôi rất ôn hòa, trong khuôn khổ pháp luật cho phép, đấy là cách thức để chúng tôi bày tỏ quan điểm.
Ra khỏi Đảng
BBC mở bàn tròn trực tuyến phát trên YouTube từ 19:30-20:00 ngày 21/5 về tình trạng bạo lực xảy ra với các nhà hoạt động xã hội sau khi ít nhất ba người bị tấn công.
Các cây viết tự do Gió Lang Thang, tức Trịnh Anh Tuấn, Anh Chí, tức Nguyễn Chí Tuyến ở Hà Nội và Đinh Quang Tuyến ở thành phố Hồ Chí Minh đều bị tấn công gây thương tích nặng.
Trước sức ép của dư luận, công an Việt Nam dường như đã mở cuộc điều tra vụ tấn công anh Nguyễn Chí Tuyến.
Một số nhà ngoại giao từ các Đại sứ quán Hoa Kỳ, Đức và Australia đã tới thăm anh Tuyến sau khi anh bị hành hung.
Sau vụ các nhà hoạt động này bị tấn công, một số người cáo buộc lực lượng an ninh đứng đằng sau các hành động bạo lực đối với các cây viết tự do và nhà hoạt động xã hội.
Cách đây vài năm đã xảy ra vụ lực lượng an ninh bị cáo buộc " đạp vào mặt" người biểu tình chống Trung Quốc Nguyễn Chí Đức, khi đó là đảng viên cộng sản.
Mặc dù có hình ảnh ghi lại nhưng khi đó lực lượng công an cũng không tiến hành điều tra.
Ông Nguyễn Chí Đức sau này đã quyết định ra khỏi Đảng Cộng sản.
Kinh Nghiệm Hòa Giải Quốc Cộng
Kinh Nghiệm Hòa Giải Quốc Cộng
Vào cuối tháng Tư vừa qua, trong và ngoài nước xuất hiện một số bài báo đề cập đến vấn đề hòa giải quốc cộng sau khi chiến tranh đã kết thúc 40 năm. Chuyện nầy chẳng có gì mới mẻ, cũng đã từng diễn ra năm 1945. Vì vậy, xin hãy cùng nhau ôn lại chuyện hòa giải quốc cộng 70 năm trước để rút kinh nghiệm cho tương lai.
Cách đây 70 năm, mặt trận Việt Minh (VM) thuộc đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD) cướp được chính quyền. (Nhóm chữ “cướp chính quyền” là chữ do cộng sản đưa ra.) Ngày 2-9-1945, Hồ Chí Minh, lãnh tụ của đảng CSĐD, tuyên bố độc lập và ra mắt chính phủ lâm thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Gần 10 ngày sau, Trung ương đảng CSĐD họp tại Hà Nội ngày 11-9-1945 đưa ra nguyên tắc căn bản là đảng CSĐD nắm độc quyền điều khiển mặt trận VM và một mình thực hiện cách mạng. (Philippe Devillers, Histoire du Viêt-Nam de 1940 à 1952, Editions Du Seuil, Paris 1952, tr. 143.) Đảng CSĐD nắm độc quyền VM, mà VM đang nắm chính quyền, cai trị đất nước; nghĩa là đảng CSĐD độc quyền cai trị đất nước.
Dầu Hồ Chí Minh, VM và đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD) quyết ra tay nhanh chóng để tạo ra tình trạng chính trị đã rồi, nhưng các cường quốc không thừa nhận chính phủ Hồ Chí Minh và vẫn thi hành giải pháp do tối hậu thư Potsdam đưa ra ngày 26-7-1945, theo đó việc giải giới quân đội Nhật tại Đông Dương ở bắc vĩ tuyến 16 do quân đội Trung Hoa (Quốc Dân Đảng) phụ trách và ở nam vĩ tuyến 16 do quân Anh phụ trách. Giải pháp nầy không đề cập đến việc sau khi quân đội Nhật bị giải giới, ai sẽ cai trị Đông Dương, tạo ra một khoảng trống chính trị và hành chánh ở Đông Dương.
VIỆT MINH CỘNG SẢN GẶP KHÓ KHĂN
Khoảng 200,000 quân Trung Hoa do các tướng Lư Hán và Tiêu Văn lãnh đạo tiến vào Hà Nội từ giữa tháng 9-1945. Cũng trong thời gian nầy, quân Anh đến Sài Gòn do tướng Douglas Gracey chỉ huy. Nhờ sự giúp đỡ của người Anh, vào đầu tháng 10-1945, quân Pháp do tướng Leclerc cầm đầu đổ bộ khá đông ở Nam Kỳ và uy hiếp các lực lượng VM.
Tại miền Nam, VM rất lúng túng trước việc quân Pháp càng ngày càng mở rộng vùng kiểm soát, dồn VM vào thế co cụm và lẫn tránh vào các vùng bưng biền. Tại miền Bắc, Hồ Chí Minh và mặt trận VM cũng khó khăn không kém, gặp ba áp lực cùng một lúc. Đó là: 1) Theo tối hậu thư Potsdam, 200,000 quân Trung Hoa vào Việt Nam giữa tháng 9-1945. 2) Các lãnh tụ Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội (Việt Cách) và Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ) từ Trung Hoa trở về Việt Nam sau thế chiến thứ hai, quyết liệt chống đối Hồ Chí Minh và mặt trận VM. 3) Sau khi tái chiếm miền Nam, người Pháp tiến quân từ nam ra bắc, dự tính tái chiếm toàn bộ Đông Dương. Lúc đó, VM chỉ có khoảng từ 2,000 đến 5,000 đảng viên cộng sản. (Philippe Devillers, sđd. tr. 182.)
Khi mới nổi lên cướp chính quyền, Hồ Chí Minh và VM cộng sản đã giết nhiều người không theo VM như đảng viên các đảng phái ở Hà Nội, nhóm bảo hoàng ở Huế, nhóm Đệ tứ quốc tế ở Sài Gòn… Nay vì khó khăn mới, Hồ Chí Minh và VM thực hiện một kế hoạch hai mặt. Bề ngoài, VM tỏ ra hòa hoãn, nói chuyện với tất cả các phe phái, kêu gọi lòng yêu nước, đoàn kết và liên hiệp để cùng nhau chống ngoại xâm. Bề trong, VM thực hiện các cuộc khủng bố ngầm, thủ tiêu lẻ tẻ những địch thủ chính trị và đe dọa những ai không theo VM.
Khi cùng với Tiêu Văn, từ Quảng Châu về Việt Nam, Nguyễn Hải Thần, lãnh tụ Việt Cách, liên lạc và hội họp với Jean Sainteny, đại diện Pháp ở Bắc Kỳ ngày 12-10 và 15-10-1945 tại Hà Nội, để thảo luận về tương lai chính trị Bắc Kỳ. Thấy thế, ngày 23-10-1945, Hồ Chí Minh liền mời Nguyễn Hải Thần họp tay đôi giữa hai bên, và ký thỏa thuận hợp tác giữa VM và Việt Cách.
Để gây lòng tin nơi các đảng phái theo chủ nghĩa dân tộc, nhất là các tướng lãnh Trung Hoa Quốc Dân Đảng đang có mặt ở Hà Nội, Hồ Chí Minh tuyên bố giải tán đảng CSĐD ngày 11-11-1945 và thành lập Hội Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mã Khắc Tư [Mác-xít] do Trường Chinh (Đặng Xuân Khu) làm tổng thư ký. Tuy vậy, theo lời Hồ Chí Minh “dù là bí mật, đảng [CSĐD] vẫn lãnh đạo chính quyền và nhân dân.” (Hồ Chí Minh toàn tập, [tập 6], xuất bản lần thứ hai, Hà Nội: Nxb. Chính Trị Quốc Gia, 2000, tr. 161.)
Trong khi đó, ngày 6-11-1945, Vũ Hồng Khanh, lãnh tụ VNQDĐ về lại Hà Nội. Ngày 8-11-1945 Nguyễn Hải Thần đòi thành lập một chính phủ liên hiệp. Đòi hỏi nầy phù hợp với ý muốn của các tướng lãnh Trung Hoa vì trước khi Lư Hán qua Việt Nam, Hoa Kỳ gây ảnh hưởng để Tưởng Giới Thạch bắt tay với Mao Trạch Đông. (T.E. Vadney, The World Since 1945, London: Penguin Books, 1987, tr. 121.) Ngày 14-8-1945, chính phủ Tưởng Giới Thạch ký hiệp ước thân hữu với Liên Xô. (Trevor N. Dupuy, Curt Johnson và David L. Bongard, The Harper Encyclopedia of Military History, New York: HarperCollins, 1993, tr. 1423.) Do đó, chính phủ và các tướng lãnh Trung Hoa, vừa ủng hộ các nhà lãnh đạo Việt Nam theo chủ nghĩa dân tộc, vừa muốn Việt Nam theo công thức quốc cộng liên hiệp như Trung Hoa, nên họ áp lực cả hai phía ngồi lại với nhau. Các tướng lãnh Trung Hoa còn muốn giải quyết cho xong vấn đề Việt Nam để rút quân về ứng phó với tình hình Trung Hoa.
Lúc đó, ở Việt Nam lãnh tụ các đảng phái theo chủ nghĩa dân tộc và các nhà trí thức yêu nước không phải là không biết về lai lịch Hồ Chí Minh, và cũng không phải không có những nghi ngờ đối với VM cộng sản. Tuy nhiên, các đảng phái quốc gia ở thế chẳng đặng đừng, phải gia nhập chính phủ liên hiệp, vì đã chậm chân để cho VM chiếm được chính quyền trước; nay muốn tranh đấu giành lại chính quyền khỏi tay VM, thì phải chấp nhận ngồi lại tranh đấu chính trị.
CHÍNH PHỦ LIÊN HIỆP
Ngày 23-12-1945, đại diện của VM, Việt Cách và VNQDĐ cùng họp tại số 40 đại lộ Gia Long (Hà Nội), dưới sự chủ tọa của tướng Tiêu Văn, ký thỏa thuận gọi là HỢP TÁC TINH THÀNH, gồm 18 điểm, đại khái là: Từ ngày 1-1-1946, một chính phủ liên hiệp sẽ được thành lập do Hồ Chí Minh làm chủ tịch, Nguyễn Hải Thần làm phó chủ tịch. Nội các gồm VM (2 ghế), Việt Cách (2 ghế), QDĐ (2 ghế), Dân Chủ (2 ghế), độc lập (2 ghế). Quốc hội sẽ được tổ chức bầu cử ngày 6-1-1946. QDĐ giữ 50 ghế, Việt Cách 20 ghế. Các đảng cam kết không gây hấn với nhau. (Chính Đạo, Việt Nam niên biểu, tập A, Houston: Nxb. Văn Hóa: 1996, tr. 293.)
Ngày 26-12-1945, báo chí Hà Nội đăng thông cáo chung của Hồ Chí Minh, Nguyễn Hải Thần và Vũ Hồng Khanh, nguyên văn như sau:
Ngày 24-12-1945, chúng tôi là Hồ Chí Minh, Nguyễn Hải Thần và Vũ Hồng Khanh thay mặt cho Việt Minh, Quốc Dân Đảng và Cách mệnh Đồng Minh Hội, cùng ký tên công nhận những điều ước sau đây:
1. Độc lập trên hết, đoàn kết trên hết. Căn cứ vào thái độ thân ái, tinh thành, cùng nhau thảo luận để giải quyết hết thẩy những vấn đề khó khăn trước mắt. Ai dùng ngang vũ lực gây nên những cuộc nội loạn sẽ bị quốc dân ruồng bỏ.
2. Kể từ ngày 25-12-1945, đôi bên phải ủng hộ một cách thiết thực cuộc tổng tuyển cử, quốc hội và kháng chiến.
3. Bắt đầu từ ngày 25-12-1945, đôi bên đều đình chỉ hết thẩy những việc công kích nhau bằng ngôn luận và bằng hành động.
Ký tên: Hồ Chí Minh, Nguyễn Hải Thần và Vũ Hồng Khanh. (Chính Đạo, sđd. tr. 294.)
Từ đó, CHÍNH PHỦ LIÊN HIỆP ra đời tại Hà Nội ngày 1-1-1946, do Hồ Chí Minh làm chủ tịch, Nguyễn Hải Thần phó chủ tịch, với đa số đảng viên cộng sản, thân cộng sản (cộng sản trá hình) và một số đảng viên các đảng phái khác làm bộ trưởng. Đồng thời một Hội đồng Quốc phòng được lập ra do Võ Nguyên Giáp làm chủ tịch và Vũ Hồng Khanh giữ chức phó chủ tịch. (Đây là chính phủ liên hiệp quốc cộng đầu tiên sau năm 1945.)
Theo thỏa thuận “hợp tác tinh thành”, cuộc bầu cử quốc hội đầu tiên ở Việt Nam được tổ chức ngày 6-1-1946 trên toàn quốc, gồm tổng cộng 333 ghế. Hồ Chí Minh đắc cử ở Hà Nội. Cựu hoàng Bảo Đại không ký đơn ứng cử, mà vẫn đắc cử ở Thanh Hóa. (Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, California: Nxb. Xuân Thu, 1990, tr. 222.)
Tuy quốc hội lập hiến đã được bầu xong, nhưng các đảng phái không cộng sản tiếp tục phản đối mạnh, vì trong cuộc bầu cử nầy, số người đắc cử không ngoài các lãnh tụ VM, những người thân VM, hoặc những người do VM chọn, như trường hợp cựu hoàng Bảo Đại. Lúc đó, VM buộc phải mở rộng quốc hội, thêm 70 đại biểu cho Việt Cách và QDĐ từ nước ngoài trở về, không thông qua bầu cử, như đã quy định trong cuộc họp ngày 23-12-1945. Như thế, tổng số đại biểu lên đến 403 người.
Sau đây là lời sử gia Trần Trọng Kim mô tả cuộc bầu cử: “Khi ấy tôi đã về ở Hà Nội rồi, thấy cuộc tuyển cử rất kỳ cục. Mỗi chỗ để bỏ phiếu, có một người của Việt Minh trông coi, họ gọi hết cả đàn ông, đàn bà đến bỏ phiếu, ai không biết chữ thì họ viết thay cho. Việt Minh đưa ra những bản kê tên những người họ đã định trước, rồi đọc những tên ấy lên và hỏi anh hay chị bầu cho ai? Người nào vô ý bầu cho một người nào khác, thì họ quát lên; “Sao không bầu cho những người này? Có phải phản đối không?” Người kia sợ mất vía nói: “Anh bảo tôi bầu cho ai, tôi xin bầu người ấy.” Cách cưỡng bách ra mặt như thế, lẽ dĩ nhiên những người Việt Minh đưa ra được đến tám chín mươi phần trăm số người đi bầu.” (Lệ Thần Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Sài Gòn: Nxb. Vĩnh Sơn, 1969, tr. 103.)
Quốc hội lập hiến họp kỳ thứ nhứt ngày 2-3-1946, cử ra CHÍNH PHỦ LIÊN HIỆP KHÁNG CHIẾN, do cựu hoàng Bảo Đại, nay là công dân Vĩnh Thụy làm cố vấn tối cao, và các chức vụ quan trọng là Hồ Chí Minh (chủ tịch), Nguyễn Hải Thần (phó chủ tịch), Huỳnh Thúc Kháng (bộ trưởng Nội vụ), Nguyễn Tường Tam (bộ trưởng Ngoại giao), Phan Anh (bộ trưởng Quốc phòng). Đa số còn lại là bộ trưởng VM (cộng sản) và một số ít các đảng phái khác. Quân sự ủy viên hội vẫn là hai nhân vật chính là Võ Nguyên Giáp và Vũ Hồng Khanh. (Đây là chính phủ liên hiệp quốc cộng lần thứ hai sau 1945.)
Sử gia Trần Trọng Kim kể về hoạt động của chính phủ liên hiệp: “Khi tôi còn ở Hà Nội, cụ Huỳnh Thúc Kháng ra nhận chức bộ trưởng bộ nội vụ, có đến thăm tôi. Ngồi nói chuyện, tôi hỏi: “Cụ nay đứng đầu một bộ rất quan trọng trong chính phủ, chắc là bận việc lắm”. Cụ Huỳnh nói: “Bây giờ việc gì cũng do địa phương tự trị cả, thành ra không có việc gì mấy, và khi có việc gì, thì họ làm sẵn xong cả rồi, tôi chỉ có vài chữ ký mà thôi”. Những khi có hội đồng chính phủ thì bàn định những gì? “Cũng chưa thấy có việc gì, thường thì họ đem những việc họ đã làm, rồi nói cho chúng tôi biết”. Xem như thế thì các ông bộ trưởng chỉ đứng để làm vị mà thôi, chứ không có quyết định gì cả. Có người hỏi ông Nguyễn Tường Tam rằng: “Khi ông nhận chức bộ trưởng bộ ngoại giao, ông thấy có việc gì quan trọng lắm không?” Ông trả lời: “Tất cả giấy má trong bộ ngoại giao của cụ Hồ giao lại cho tôi, tôi chỉ thấy có ba lá đơn của mấy người sĩ quan Tàu nhờ tìm cho mấy cái nhà, và tìm cái ví đựng tiền bị kẻ cắp lấy mất”. Câu chuyện có thể là ông Tam nói khôi hài, nhưng đủ rõ việc các ông bộ trưởng không có gì. Tôi đem câu chuyện đó nói ra đây để chứng thực là các bộ trưởng chỉ giữ hư vị chứ không có thực quyền. Cái thực quyền trong chính phủ lúc ấy là ở mấy người như ông Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp và ở tổng bộ cộng sản điều khiển hết cả.” (Lệ Thần Trần Trọng Kim, sđd. tr. 110.)
Cần chú ý là lúc đó VM đang gặp khó khăn: Khoảng 200,000 quân QDĐ Trung Hoa chưa về nước sau lễ đầu hàng của quân đội Nhật ngày 28-9-1945. Quân đội Pháp chiếm được toàn bộ Nam Kỳ đang từ Nam Kỳ tiến ra Trung Kỳ và đe dọa Bắc Kỳ. Vì vậy, Hồ Chí Minh và VM mới nhượng bộ các đảng phái theo chủ nghĩa dân tộc, tổ chức bầu cử quốc hội, soạn thảo hiến pháp, để tạm ổn việc nội bộ nhằm rảnh tay giải quyết công việc ngoại giao.
KẾT QUẢ
Nhờ kế hoạch “hợp tác tinh thành” và liên hiệp với các đảng phái đối lập, Hồ Chí Minh và VM tạm ổn định tình hình nội bộ, quay qua vận động ngoại giao, ký với đại diện Pháp thỏa ước Sơ bộ ngày 6-3-1946 tại Hà Nội, rồi Tạm ước (Modus Vivendi) ngày 14-9-1946 tại Paris, hợp thức hóa việc Pháp trở lại Đông Dương và tái thiết lập lại toàn bộ các cơ sở Pháp tại Việt Nam.
Trong khi tạm ổn về ngoại giao, VM quay qua tấn công các thành phần đối lập. Nguyễn Hải Thần âm thầm bỏ qua Trung Hoa. (Hoàng Cơ Thụy, Việt sử khảo luận, cuốn 4, Paris: Nxb. Nam Á, 2002, tr. 2092.) Huỳnh Thúc Kháng được cử lên thay làm phó chủ tịch nước.
Hồ Chí Minh qua Pháp theo phái đoàn tham dự Hội nghị Fontainebleau, rời Hà Nội ngày 31-5-1946. Hồ Chí Minh cử Huỳnh Thúc Kháng làm quyền chủ tịch nước. Nhân cơ hội Hồ Chí Minh đang còn ở Pháp, tức không có mặt ở Việt Nam, VM cộng sản mở cuộc đại khủng bố các thành phần đối lập nhằm chứng tỏ rằng Hồ Chí Minh là kẻ ngoại phạm, không liên can trong các vụ nầy.
Để có lý do tấn công VNQDĐ, Võ Nguyên Giáp, chủ tịch Quân sự uỷ viên hội, lấy cớ rằng có tin mật báo đặc vụ QDĐ âm mưu sẽ tấn công và ám sát các nhân viên chính phủ trong dịp tham dự lễ duyệt binh do Pháp tổ chức tại Hà Nội nhân ngày quốc khánh Pháp (14-7-1946), nên ngày 13-7-1946, Võ Nguyên Giáp cho người lục soát trụ sở của VNQDĐ ở số 9 phố (đường) Ôn Như Hầu ở Hà Nội.
Trụ sở nầy vốn của quân đội Nhật Bản giao lại cho quân đội Trung Hoa; rồi được chuyển cho QDĐ sử dụng. Quốc Dân Đảng sử dụng số 9 phố Ôn Như Hầu làm trụ sở của ban Tuyên huấn Đệ thất khu Đảng bộ của VNQDĐ. Việt Minh dùng võ lực, bất ngờ tràn vào nhà, bắt tất cả những đảng viên QDĐ có mặt hôm đó tại trụ sở, tịch thâu một số giấy tờ quan trọng, trong đó theo lời VM, có “kế hoạch đảo chính” chính phủ Hồ Chí Minh. Việt Minh cho rằng đã tìm thấy trong khu vực nhà nầy một số xác người, và lập biên bản kết tội QDĐ tổ chức “hắc điếm” để bắt cóc, giết người, tống tiền, cướp của. (Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, tái bản kỳ 2, Sài Gòn, 1970, tt. 322-324.) Tiếp tục tại Hà Nội, tối hôm 20-10-1946, công an xung phong VM trang bị súng ống, tiến vào tòa soạn nhật báo Việt Nam, tại số 80 phố [đường] Quan Thánh (Grand Bouddha cũ), Hà Nội. Nhật báo nầy do VNQDĐ lập ra vào cuối năm 1945, và do nhà văn Khái Hưng phụ trách. Sau khi lục soát toàn bộ khu nhà, phá hoại máy móc, VM bắt khoảng 20 người có mặt trong tòa báo về ty công an ở đường Trần Hưng Đạo (Gambetta cũ).
Việt Minh lùng bắt đảng viên QDĐ và Việt Cách. Báo Cứu Quốc của VM ngày 1-11-1946 loan báo đã bắt hơn 300 người vào ngày 29-10-1946, đa số bị đưa đi an trí. Đại đa số những người bị VM đưa đi an trí, nếu không trốn thoát, đều bị VM thủ tiêu luôn, nhứt là khi chiến tranh Việt Pháp bùng nổ ngày 19-12-1946.
Trong khi đó, sau biến cố “Ôn Như Hầu” (13-7-1946), nhiều đảng viên QDĐ lui vào hoạt động bí mật và nhất là rút lên các chiến khu tiếp tục chiến đấu. Để tấn công QDĐ, Võ Nguyên Giáp dựa vào kết luận trong biên bản vụ Ôn Như Hầu do VM lập ra, cho rằng QDĐ tổ chức “hắc điếm”, để ra lệnh cho Vệ quốc đoàn VM tổng tấn công bảy chiến khu của QDĐ trên toàn quốc.
Trong các vụ tấn công QDĐ, nghiêm trọng nhứt là vụ “Cầu Chiêm Sơn” ở Quảng Nam vào cuối tháng 7-1946. Chiêm Sơn ở xã Phú Tân (nay là xã Điện Quang, Gò Nổi), huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Tàu hỏa chạy từ Đà Nẵng vào nam, qua cầu Kỳ Lam, vào cù lao Gò Nổi (tên chữ là Phù Kỳ, ở Điện Bàn), và rời Gò Nổi bằng cầu Chiêm Sơn, đi qua Trà Kiệu. Vào cuối tháng 7-1946, nhân một chuyến xe lửa chuyên chở võ khí vào nam, ngang qua cầu Chiêm Sơn, đoàn xe dừng lại vì có lửa đốt báo động nguy hiểm. Theo lời khai của tài xế lái tàu, ông ta phát hiện rằng có kẻ tháo bù-lon để làm sập cầu Chiêm Sơn (?). Việt Minh hô lên rằng QDĐ chủ mưu việc nầy, liền bắt Phan Bá Lân, bí thư kiêm phó chủ nhiệm tỉnh đảng bộ QDĐ Quảng Nam, và một số lãnh tụ QDĐ địa phương như Phan Ngô, Huỳnh Hòa, Phan Thiệp… Các ông bị tra tấn tàn bạo, nhưng chẳng có ai chịu nhận tội.
Tiếp đó, VM ra lệnh khủng bố, lùng bắt và thủ tiêu đảng viên QDĐ các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, và Bình Định, nhất là những tổ chức cơ sở QDĐ ở các huyện. Trong vụ nầy, QDĐ Quảng Nam bị thiệt hại nặng nhất. Việt Minh bắt đảng viên QDĐ bỏ vào bao bố, rồi thả trôi sông. Lúc đó, người dân đi qua cầu Câu Lâu (trên sông Thu Bồn) ở Điện Bàn, thấy nhiều bao bố nổi lềnh bềnh trên mặt nước.
Khi chiến tranh Việt Minh với Pháp bùng nổ tối 19-12-1945, VM lại lợi dụng tình trạng chiến tranh, tiếp tục tiêu diệt những thành phần đối lập như Trương Tử Anh, Lý Đông A, nhà văn Khái Hưng Trần Khánh Giư. Tại Nam Kỳ, VM bắt và đem đi mất tích ngày 16-4-1947 một nhân vật quan trọng là Đức Huỳnh Phú Sổ, người khai sáng đạo Phật Giáo Hòa Hảo.
Từ khi nắm quyền, với chủ trương “giết tiềm lực”, VM không phải chỉ giết hại những thành phần nổi tiếng ở thành phố, mà VM còn giết hại, thủ tiêu những người bất đồng chánh kiến ở tất cả các cấp, xuống tận các làng xã và vùng rừng núi xa xôi. Bất cứ ai, lỡ phát biểu một ý kiến bất đồng nhỏ, cũng bị giết. Tất cả đã gây nên tình trạng khủng bố rùng rợn chung trên toàn quốc trong giai đoạn nầy.
KẾT LUẬN
Những diễn tiến trong cuộc hòa giải và liên hiệp năm 1945 cho thấy các điểm sau đây: 1) Khi gặp thời, thế lực mạnh mẽ, thì CS độc quyền chính trị, độc quyền cai trị đất nước. (Nghị quyết ngày 11-9-1945 của Trung ương đảng CSĐD tại Hà Nội.) 2) Khi yếu thế, gặp trở ngại, khó khăn, CS kêu gọi lòng yêu nước, đoàn kết, hòa giải, liên hiệp với các đảng phái theo chủ nghĩa dân tộc, thậm chí còn giả vờ giải tán đảng CSĐD. (Hợp tác tinh thành và chính phủ liên hiệp.) 3) Sau khi hòa giải, liên hiệp để thoát khỏi hoạn nạn, nắm được quyền lực, thì CS quay lại độc quyền chính trị, thẳng tay tiêu diệt tất cả những ai bất đồng chính kiến, kể cả những người đã từng hòa hợp hòa giải với cộng sản. (Vụ án Ôn Như Hầu, vụ cầu Chiêm Sơn, các vụ thủ tiêu trên toàn quốc.) Như thế rõ ràng KINH NGHIỆM LỊCH SỬ NĂM 1945 CHO THẤY HÒA GIẢI VÀ LIÊN HIỆP VỚI CỘNG SẢN LÀ TỰ SÁT.
Vậy ngày nay, người Việt nghĩ sao về chuyện hòa giải hòa hợp lần nữa với cộng sản Việt Nam trong khi điều 4 Hiến pháp năm 1992 vẫn còn đó và chi phối toàn bộ sinh hoạt trong nước?
TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, 12-5-2015)

Các chuyên mục 






