Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Sáu 2026
T2T3T4T5T6T7CN
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30          
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 8
 Lượt truy cập: 29341975

 
Văn hóa - Giải trí 15.06.2026 20:57
Vết thương dân tộc do người CSVN gây ra không bao giờ lành: Không thể có hòa giải hòa hợp giữa ngưuời Việt tự do và CS
21.05.2015 13:04

Tương lai Việt Nam: Cờ đỏ hay Cờ vàng?

Lá cờ nào sẽ đại diện cho người Việt trong tương lai?

Ái nữ của đương kim thủ tướng Cộng sản đã có thể kết hôn với út nam của cựu quan chức Cộng hòa – vậy mà tại sao triển vọng hòa giải Quốc-Cộng vẫn còn mù mịt chưa thấy lối ra?

Vẻ vang hay chia rẽ?

Tròn 40 năm, vết thương trên thịt da đất nước gần như đã liền sẹo nhưng vết thương trong lòng người thì cứ tiếp tục khoét sâu.

Tính ra đã hơn một thế hệ, nhưng những người lạc quan nhất thì cũng bảo rằng cần ít nhất một, hai thế hệ nữa thì người Việt mới có thể hòa giải được.

Mà đó là những người lạc quan nhất. Người bi quan hơn thì cho rằng người Việt sẽ không bao giờ hòa giải được.

Xét trên ý nghĩa đó thì ngày 30/4 khó lòng là ‘trang sử vẻ vang nhất của dân tộc’ như chính quyền trong nước lâu nay vẫn nói.

Bởi lẽ sau ngày 30/4 sự chia rẽ Bắc, Nam không hề mất đi mà chỉ trở thành sự phân rẽ giữa chính quyền trong nước và cộng đồng hải ngoại.

Việt Nam Cộng hòa dù bị xóa sổ trên lãnh thổ Việt Nam nhưng lá cờ vàng vẫn tung bay và những hình ảnh, ký ức của chính thể này vẫn còn được gìn giữ ở mỗi nơi mà tôi ghé đến và mỗi người mà tôi hỏi chuyện ở miền Nam California, Hoa Kỳ.

Và trong lịch sử dân tộc thì có ngày nào gây chia rẽ như ‘trang sử vẻ vang’ đó? Trong lúc chính quyền trong nước giong cờ, gióng trống, phát pháo ăn mừng thì người Việt hải ngoại treo cờ rủ, buộc dải băng đen để tang cho ngày ‘Quốc hận’.

Ngày 30/4 vẫn mang tính chia rẽ sâu sắc trong lòng người Việt

“Một ngôi nhà tự phân rẽ thì không thể đứng vững,” vị Tổng thống thời nội chiến Abraham Lincoln từng nhắc nhở người dân Mỹ. Người Việt cũng thừa hiểu điều này. GS Lê Xuân Khoa, một trí thức hải ngoại mà tôi phỏng vấn, cũng nói: “Một dân tộc chia rẽ không thể nào là dân tộc mạnh.”

Mà vận mệnh dân tộc Việt nào phải đang yên lành? Những gì đang xảy ra trên Biển Đông cho thấy viễn cảnh nguy trong sớm tối.

Mặc dù cộng đồng người Việt hải ngoại chỉ có vài triệu người so với 90 triệu người trong nước nhưng lịch sử đã chứng minh chỉ cần người dân Việt tất cả đồng lòng mới có thể vượt qua những thời khắc khó khăn nhất.

Vì sao thù hận?

Những ai đã trải qua những cảnh này có thể nào quên?

Tất cả những người mà tôi tiếp xúc dù đều lo lắng về sự hung bạo của Trung Quốc trên Biển Đông nhưng họ vẫn ‘dứt khoát không hòa giải’. Một cựu thượng nghị sỹ Việt Nam Cộng hòa, ông Nguyễn Hữu Tiến, nói với tôi rằng ‘vết thương mà người Cộng sản đâm vào tim người Quốc gia đã quá sâu nên không hòa giải được’.

Cơ sự nào đã đẩy người Việt đến chỗ thù hận nhau như vậy? Lẽ nào phía Cờ vàng cố chấp cứ ôm mãi thù hận như chính quyền trong nước vẫn nói?

Nói thì dễ. Nhưng thử đặt trường hợp mình bị tan nhà nát cửa, bao tài sản mồ hôi nước mắt mất sạch sau một đêm, cha mẹ, anh em, vợ chồng người thì biệt tăm tích ở trại cải tạo, kẻ thì mất xác dưới đáy biển sâu, mồ mả ông cha người ta giẫm đạp, đó là chưa kể bị vùi dập và bị gạt ra bên lề xã hội – nỗi đau chồng chất nỗi đau kêu trời cũng không thấu thì liệu có thể lấy tay phủi một cái mà hết đau được không?

Người Việt vốn rất trọng tình. Phải lìa nơi chôn nhau cắt rốn, bỏ phần mộ tổ tiên, để người ruột thịt ở lại như vậy thì khác nào cứa đi một phần linh hồn của họ mà họ vẫn cố sống cố chết tìm đường ra biển khơi – thảm cảnh đó ai có thể quên được trong một sớm một chiều? null

Nhưng nào có ai đuổi mà họ đi? Chẳng lẽ tự dưng khơi khơi họ bỏ đi? Một luật gia có tên Trần Hưng nói với tôi cả gia đình ông trước đó đã chọn ở lại. Thực tế đã cho thấy hàng triệu người miền Nam đã ra trình diện đầy đủ chỉ chưa đầy một tháng - chứng tỏ họ ít nhiều đã sẵn sàng cho đời sống mới dù trong thế thiệt thòi của kẻ thua cuộc. Dẫu sao thì cũng đã hòa bình và dẫu sao những người cộng sản vẫn là máu mủ đồng bào.

Lịch sử đã cho thấy ngày 30/4 chấm dứt sự thống khổ của chiến tranh nhưng lại mở đầu những đau thương trong hòa bình. Chiến tranh dù chia rẽ người Việt hai bên chiến tuyến nhưng chính những gì xảy ra sau chiến tranh mới khiến hàng triệu người Việt bỏ nước ra đi.

Nói đi cũng phải nói lại. Để đến được ngày 30/4 những người cộng sản cũng chịu không biết bao nhiêu là mất mát, nỗi đau của họ cũng thấu trời xanh. Nhưng đạo lý người Việt vốn khoan dung, nhân hòa. Mình chịu đau khổ không có nghĩa là mình sẽ giẫm đạp những người đã ngã ngựa để họ cũng phải đau khổ như mình.

Chia rẽ do đâu?

Ngày 30/4 mở đầu hạnh phúc hay đau thương?

Tấm gương tổ tiên còn đó sao không nhớ? Đức Vua Trần Nhân Tông thắng giặc ngoại xâm rồi đốt hết thư tịch là bằng chứng cấu kết với giặc không truy cứu nữa.

Có lẽ trong mắt Ngài đó là những con dân nước Việt lầm lỡ. Còn dưới cái nhìn đã nhuốm màu giai cấp của những người Cộng sản, những người Quốc gia là những phần tử ‘phản động xấu xa’. Mà đã ‘xấu xa’ thì làm sao hòa giải? Chỉ có thể ‘cải tạo’ – từ ‘cải tạo’ từ trong trại cho đến ‘cải tạo công thương nghiệp’.

Tôi nghĩ người Việt nào cũng thừa hiểu rằng trong chiến cuộc thì hai bên buộc phải cầm súng bắn vào nhau nên không thể lấy cái lý bên kia ‘có tội ác với đồng bào’ nên bây giờ phải lãnh hậu quả. Ngẫm ra có người Việt nào đòi trả thù người Pháp, người Mỹ sau khi đánh nhau với họ đâu, huống hồ gì với cùng người Việt với nhau?

Cái nhìn nhuốm màu giai cấp đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt từ những ngày đầu của những người Cộng sản.

Còn nhớ vào lúc Chiến tranh Lạnh đang cao trào, khi mà trong lòng những người vừa tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lê nin đang hừng hực lòng căm thù ‘giai cấp bóc lột’ thì ‘đế quốc Mỹ’ nghiễm nhiên đặt mình vào trước mũi súng thù hận của họ.

Và đối với một dân tộc vừa đánh đuổi một đội quân nước ngoài thì sự hiện diện một đội quân nước ngoài khác cũng bắn giết người Việt là một điều hết sức nhạy cảm cho dù mục đích của người Mỹ có khác người Pháp như thế nào đi nữa.

Điều này tạo lợi thế tuyên truyền cho những người Cộng sản. Người Mỹ trở thành kẻ ‘xâm lược’ mà những người Cộng sản kêu gọi toàn dân đứng lên đánh đuổi, và những người Việt chiến đấu bên cạnh người Mỹ rơi vào tình thế trở thành những ‘kẻ tay sai’ hay ‘ngụy quân ngụy quyền’.

Thật ra, ngay từ đầu, những người cộng sản đã có sự kết hợp giữa ‘giải phóng dân tộc’ và ‘đấu tranh giai cấp’. Với cách nhìn đó, họ đã tiến hành thanh trừng những người mà họ cho là ‘thuộc giai cấp bóc lột’ mặc dù không ít địa chủ, hào phú cũng yêu nước và hết lòng tham gia vào cuộc kháng Pháp.

Đức Vua Trần Nhân Tông xưa kia nhìn dân tộc là một khối duy nhất còn Đảng Cộng sản chia người Việt ra thành những giai cấp hận thù lẫn nhau.

Ai có chính nghĩa?

Cầu Hiền Lương, sông Bến Hải từng là biểu tượng sự chia cắt đất nước

Đứng trên góc độ dân tộc, sự chia cắt là nỗi đau vô bờ bến nên nếu không thống nhất được bằng hòa bình thì tôi nghĩ những người cộng sản có quyền dùng vũ lực thống nhất đất nước.

Nhưng khi sự thống nhất đó còn có thêm ý nghĩa nhuộm đỏ đất nước thì người dân miền Nam có quyền chống lại sự áp đặt lên họ một chủ thuyết mà họ không chấp nhận.

Nếu miền Bắc nói họ ‘có chính nghĩa’ để người miền Nam tập kết ra Bắc thì miền Nam có thể nói ‘chính nghĩa của họ’ đã khiến đồng bào miền Bắc di cư vào Nam.

Nếu miền Bắc lên án miền Nam phạm nhiều tội ác với đồng bào thì miền Nam có thể chỉ vào cuộc thảm sát Mậu Thân năm 1968.

Nếu miền Bắc tố cáo miền Nam làm tay sai cho Mỹ thì miền Nam có thể chỉ trích miền Bắc luôn nghe lệnh của Xô-Trung

Nếu đồng bào miền Bắc đi chiến đấu với lòng yêu nước nồng nàn thì người dân miền Nam cũng lên đường với lý tưởng thiêng liêng.null

Nếu những bà mẹ miền Bắc đau mất con xé lòng xé ruột thì những người vợ miền Nam cũng khóc thương chồng đến cạn dòng nước mắt.

Nếu những chiến sỹ miền Bắc hiến dâng một phần thân thể thì những thanh niên miền Nam cũng đánh mất trọn tuổi thanh xuân.

Và nếu sự chia rẽ dân tộc đó là kết quả xuyên suốt của con đường đấu tranh giai cấp thì Đảng Cộng sản làm sao hòa giải được?

Hòa giải kẻ cả

Các lãnh đạo Việt Nam không muốn hòa giải với phía bên kia?

Và nếu ở đâu đó Đảng có nói về hòa giải thì phải là hòa giải của kẻ bề trên: những người phía bên kia phải luôn được cho là có ‘mặc cảm về quá khứ’.

Không rõ chính quyền đã biết những ai có ‘mặc cảm quá khứ’ nhưng tất cả những người phía Cờ vàng mà tôi tiếp xúc không ai có cái mặc cảm đó.

Cái hòa giải kẻ cả đó không những không thành thật mà còn mang tính chất tuyên truyền để tô vẽ cho chính quyền rằng họ thu phục được lòng người hải ngoại.

Sự tuyên truyền đó vừa khiên cưỡng vừa thiếu thuyết phục, chẳng hạn như trong chương trình Xuân quê hương vừa qua cho Việt kiều thắp hương cho liệt sỹ ở Đền Bến Dược mà lại bỏ qua Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa.

Nếu có thành ý hòa giải, ít nhất chính quyền phải tu bổ Nghĩa trang Biên Hòa vì dù sao đó cũng là nơi an nghỉ của hàng chục ngàn con người – mà đạo lý người Việt nghĩa tử là nghĩa tận. An ủi vong linh người đã khuất để yên lòng người còn sống và cũng để chứng tỏ rằng Đảng có lượng bao dung. Mà Đảng có bao dung thì người ta mới tin vào ý định hòa giải của Đảng.

Hào quang quá khứ không quan trọng hiện tại và tương lai đất nước?

Nếu có thành ý hòa giải, thì Đảng phải nhìn nhận những sai lầm của những chính sách sau năm 1975 và có lời xin lỗi. Biết sai và nhận sai thì có gì là sai? Còn nếu Đảng cứ mãi im lặng thì có nghĩa họ đương nhiên xem những chính sách kia là đúng. Bao oan khiên u uất không giải tỏa được chút nào thì làm sao mà hòa giải?

Nhưng nếu Đảng làm như vậy thì có làm tủi hổ vong linh những chiến sỹ của Đảng đã ngã xuống hay không? Người chiến sỹ thật lòng hy sinh vì nước sẽ không bao giờ muốn đất nước mình bị chia rẽ trước hiểm họa ngoại bang cả.

Vấn đề lớn nhất ở đây, theo tôi nghĩ, là làm như vậy khác nào đặt Đảng ở thế dưới của những người mà Đảng đã khinh miệt theo ý thức hệ. Còn nhớ cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt chỉ mới nói ‘triệu người vui, triệu người buồn’ mà đã bị các đồng chí của ông lên án gay gắt.

Tương lai về đâu?

Thế hệ trẻ sẽ quyết định như thế nào về tương lai đất nước?

Còn nếu Đảng không muốn hòa giải nhưng nếu họ làm cho đất nước được phú cường, người dân được hưởng đời sống an vui, hạnh phúc, chủ quyền quốc gia được giữ vững thì những hận thù còn sót lại trong lòng người hải ngoại cũng dần dần tự khắc tiêu tan.

Nhưng nếu việc này Đảng cũng không làm được thì tương lai đất nước sẽ về đâu?

Tương lai đó sẽ do những người sinh ra và lớn lên sau cuộc chiến quyết định.

Thế hệ này chưa từng biết đến Cờ vàng. Cho nên lá cờ này sẽ không thể quay lại với dân tộc. Đó là chưa nói nếu chọn Cờ vàng thì sẽ lặp lại cảnh áp đặt nửa này lên nửa kia của đất nước và làm đau lòng những người đã chiến đấu, hy sinh cho Cờ đỏ.

Thế hệ trẻ sinh ra và lớn lên trong lòng Cờ đỏ. Tuy nhiên, cái lý tưởng làm nên lá Cờ đỏ lại ngày càng xa lạ đối với họ. Ít nhất nhiều người trẻ hiện nay không xem ‘đế quốc Mỹ’ là kẻ thù mà là hình mẫu để vươn tới.

Tuy nhiên, dù tương lai đất nước không còn Cờ đỏ hay không có Cờ vàng nhưng lý tưởng của những người đã sống hết mình dưới hai lá cờ đó là thuần khiết, cao quý và đáng được tôn trọng vì họ tin là họ đã chiến đấu cho những điều tốt đẹp cho đất nước.

Và cho dù thuộc Cờ đỏ hay Cờ vàng, tất cả con dân đất Việt đều mong muốn đất nước hùng cường để chống lại sự bá quyền của Trung Quốc trên Biển Đông.

Ông Phạm Hòa, một cựu biệt kích của phía Cờ vàng, nói với tôi rằng hiện thực đất nước ‘không như Việt Nam Cộng hòa mong muốn mà cũng không như bộ đội miền Bắc mong muốn’.

Nếu tình hình đất nước vẫn không khá hơn, nếu cả hai phía đều chứng tỏ đã mất khả năng hòa giải thì vận mệnh dân tộc sẽ đặt vào tay thế hệ tương lai mà khi đó có khả năng cả Cờ vàng lẫn Cờ đỏ chỉ còn tồn tại trong lịch sử.

Quốc Gia và Cộng sản và chuyện hòa giải

Bảo Giang

I. Một định nghĩa:


Hoà giải là môt phương thức thuyết phục các đối tác chấm dứt các xung đột bằng cách đưa ra những điều kiện để trao đổi, được các bên đồng chấp thuận và triệt để tuân thủ những trách nhiệm ràng buộc về phía mình, ngõ hầu từ đó có thể đem lại sự yên ổn, phúc lợi chung cho các đối tác.


Lấy một thí dụ. Một ông chồng say mê cờ bạc rượu chè, hay bạo hành vợ con, tạo ra một cuộc sống khủng hoảng cho gia đình. Muốn có một cuộc hòa giải đúng nghĩa để tạo ra ổn định cho cuộc sống. Người chồng buộc phải cam kết từ bỏ thói hư cờ bạc, rượu chè và việc đánh đập vợ con, như là những điều kiện tiên quyết để cho vợ con ông ta chấp nhận bỏ qua những lỗi lầm trong qúa khứ, và đón ông trong cuộc sống bình thường, thay vì một cuộc đổ vỡ, ly tán. Lẽ dĩ nhiên, sẽ không thể có cuộc hòa giải bằng cách để ông chồng tự tuyên bố: Mọi người muốn sống yên ổn thì phải chấp nhận những áp đặt của tôi! Cũng thế, một tên trộm đột nhập gia cư, cướp của, gây án. Việc trước tiên là phải tống cổ nó ra khỏi nhà, chứ không phải là việc thỏa mãn yêu cầu cho nó ở lại, chiếm cứ căn nhà để giải quyết khủng hoảng.


II. Một nguyên tắc.


Hòa giải là phải có sự kiện chấp nhận lỗi lầm (nếu có), chấp nhận những điều kiện (tự nguyện hay không tự nguyện) được đưa ra trong hòa giải. Đồng thời, chấp nhận tuân thủ, thi hành những điều kiện này một cách nghiêm chỉnh, có kiểm soát. Nói cách khác, sẽ hhông có một cuộc hòa giải nào mà không có những điều kiện đi kèm. Có điều kiện chưa đủ, còn phải nghiêm chỉnh thực hành những điều kiện của hòa giải nữa.


Đó là tiến trình thường thấy của hòa giải. Nhưng ở Việt Nam, chuyện hòa giải, người ta đã nói đến hàng ngàn, hàng vạn lần. Nói từ khi chưa hết chiến tranh, và sau đó, đã 39 năm qua, câu chuyện vẫn không có đoạn kết. Bởi vì, mỗi người, từ vị trí lãnh đạo đất nưóc, đến anh phu xích lô, bà gánh hàng rong. Từ ông thủ lãnh một đảng phái, một tổ chức chính trị đến anh làm báo ở bên này, bên kia hoặc cô y tá, đều diễn đạt mỗi người một cách và mang hàm ý khác nhau. Hầu như chẳng có một chút nội dung nào khả dĩ giống nhau và cũng chẳng theo một nguyên tắc, tiến trình nào cả. Trái lại, ông nói gà bà nói vịt, đưa đến cái nhìn rất thành kiến, đầy nghi kỵ về chuyện hoà giải là:


a. Khi phía cộng sản đưa ra lời kêu gọi về hòa giải, hòa hợp dân tộc thì triệu người như một, bằng kinh nghiệm của cuộc sống, đều cho rằng đó là lời kêu gọi đầu hàng vô điều kiện gởi đến mọi phía, mọi người, (giống như trường hợp gã say rượu ở trên) để Cộng sản được tự tung, tự tác tước đoạt hết mọi quyền sinh, quyền sống. Quyết định và nắm giữ mọi tài nguyên và mọi phương tiện sản xuất của đất nước. Ngưởi dân chỉ là những tên nô lệ, phục vụ cho một đế chế bất lương, vô đạo.


b. Nếu có những lời tuyên bố, hay những bài viết, hoạt động, nói về việc đòi hòa giải, hòa hợp dân tộc, là y như rằng cứ 10 người thì có đến chín người tin rằng, đây là thành phần đi hàng hai hàng ba. Thành phần sẵn sàng đầu giặc (đi theo bọn cướp để được uống rượu ké) và lôi kéo ngưòi khác cùng đầu giặc để tìm lợi nhuận cho mình và cho phe nhóm của mình. 
Thành phần này hầu hết xuất hiện tại miền Nam Việt Nam (thành phần"phản chiến)trước năm 1975, và hiện nay thỉnh thoảng tái diễn tuồng ở hải ngoại.


c. Phần quốc dân, sau muôn vàn những bất hạnh và khổ đau, từ trong cuộc chiến đến sau cuộc chiến. Sau muôn vàn những kinh nghiệm, nên chẳng có ai tin vào giải pháp hòa giải hòa hợp của Cộng sản, hay của những cá nhân, tổ chức chính trị trên đưa ra. Với họ, triệu người như một đều cho rằng. Hoà hợp hòa giải với cộng sản là tự sát, là tự đi tìm lấy thuốc độc mà uống.


III. Định nghĩa về đối tác.


Cho đến 30-4-1975, hoặc gỉa, đến nay, mỗi khi nói đến từ Quốc Gia, cộng sản, người ta thường nghĩ ngay đến hai thế lực chính trị đối đầu nhau ở hai miền của đất nước. Nên khi nói đến chuyện hoà giải, người ta nghĩ ngay đến việc hoà giải giữa hai đối tác này. Điều này, không sai. Nhưng trên thực tế lại không đúng. Bởi lẽ, hai thực thể chính trị của hai miền này đối đầu nhau. Nhưng nó không có tính cách lâu dài, miên viễn, và dân chúng của mỗi phần của đất nước không thuộc hẳn về một phía nào. Trái lại, cuộc chia cắt chỉ mang tính thời gian. Nghĩa là, khi chấm dứt cuộc chiến. Hai thế lực chính trị này, có thể cùng tồn tại, hoặc một mất một còn. Nhưng cuộc hòa giải vẫn chưa hề có. Bởi lẽ, cuộc hòa giải đích thực không phải là cuộc hoà giải giữa hai tập thể chính trị đối đầu nhau. Nhưng là cuộc hòa giải giữa chính quyền với quốc dân đồng bào, không phần biệt người bên này hay bên kia, trong tinh thần nhân bản, tôn trọng lẫn nhau.


Tử sau 30-4-1975. Có thể nói, cuộc hòa đàm Balê là một bản vẽ trong cuộc hòa giải giữa hai thực thể chính trị tại Việt Nam để đưa đến chấm dứt chiến tranh. Tuy nhiên chiến tranh đã chấm dứt bằng cách, một bên phá bỏ những điều ước nghị hòa và chiếm lấy đối phương bằng bạo lực. Từ thời điểm này, thực thể chính trị phía Quốc Gia và lãnh thổ riêng biệt của họ coi như không còn. Những kẻ lũng đoạn thời cơ, từng rêu rao về hòa hợp hòa giải dân tộc ỏ miền nam trưóc kia, nay cũng không còn đất sống,. Một là hoàn toàn quy thuận theo thế lực mới. Hai là, bỏ của chạy lấy người, ra hải ngoại. Ba là tự giữ miệng, chờ chết. Thành phần này vốn dĩ trước đây cũng không có chỗ đứng. Họ chỉ làm vì lợi ích cá nhân, phe nhóm như là cái thùng rỗng hay theo chỉ đạo của CS? Họ không có tư cách và chẳng là đại diện cho ai và cũng chẳng ai nghe họ. Nay thì hoàn toàn bị triệt tiêu. Theo đó, từ sau 30-4-1975, chỉ có hai đối tác trong cuộc là tập thể cộng sản và Quốc Dân Việt Nam mà thôi.


1. Tập thể cộng sản, bao gồm tổ chức đảng cộng sản cũng như những ngưòi thuộc về họ trong guồng máy công quyền, công tư sở ở trong nước hay ở hải ngoại.


2. Quốc dân Việt Nam bao gồm những ngưòi dân yêu nước không chấp nhận cộng sản đang phải sống dưói chế độ cộng sản và những người Việt Nam đã vì cộng sản mà phải bỏ nước ra đi.


Với những người ra đi, dù họ còn hay không còn mang quốc tịch Việt Nam, nhưng vẫn còn những liên hệ mang huyết thống và những sinh hoạt Việt Nam. Hiện nay họ không có lãnh thổ, không có đại diện chính thức như trong guồng máy hành chánh, chính quyền, ngoài những tổ chức cộng đồng người Việt Tự Do tại hải ngoại mà họ sinh hoạt với. Với những người còn ở trong nước, về tỷ lệ, họ chiếm tới 80 - 90% dân số, nhưng không có tiếng nói. Họ không có người đại diện chính thức. Tuy nhiên, luôn có những người không khuất phục bạo quyền, luôn nói lên nguyện vọng chính đáng của họ. Đòi buộc nhà cầm quyền phải thỏa mãn cho những quyền lợi của công dân về các diện chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và tôn giáo, cũng như phải bảo vệ sự vẹn toàn của lãnh thổ. Theo đó, dù chưa được bầu chọn, họ vẫn khả dĩ là đại diện cho đối tác mang tên Quốc Dân Việt Nam vào lúc này. Ngoài ra, không ai là tiếng nói của họ.


IV. Việc hòa giải đơn phương.


Ai cũng biết, cuộc sống tiến bộ của đất nước luôn tùy thuộc vào sự hợp tác và hoạt động của hai đối tác Quốc Dân và Chính Quyền. Không một quốc gia nào khả dĩ tiến bộ và đem lại hạnh phúc cho người dân khi hai đối tác này luôn chống chọi nhau. Vì 
Vua quan coi ngưòi dân như cỏ rác, Nhân dân coi vua quan như kẻ thù” (Mạnh Tử). Điều ấy chứng tỏ rằng, đời sống của một chế độ, một đảng phái chính trị, một chính phủ, tùy thuộc vào thái độ hợp tác của người dân. Hiểu được nguyên tắc này, nên đời sống ở các nước tây phương luôn luôn có những cuộc hòa giải công khai giữa chính phủ (đảng cầm quyền) và người dân theo những chu kỳ nhất định. Đó là những cuộc bầu cử lãnh đạo quốc gia.


Thật vậy, những chương trình, kế hoạch phát triền đất nưóc từ những mặt về y tế, xã hội, văn hóa, quân sự, an ninh... đều được các đảng phài công khai đưa ra trình với quốc dân trong các cuộc bầu cử. Những sách lược này, dươi một góc nhìn nào đó, phải được coi là một phương thức (điều kiện), nhằm hòa giải, hay hóa giải những bất đồng, những đòi hỏi của ngừời dân trước những vần đề của đất nước. Theo đó, đảng phái, hay những người ra tranh cử vị trí nguyên thủ quốc gia nào đưa ra được những sách lược đáp ứng cho nhu cầu và giải quyết được những vấn đề của người dân mong muốn, họ sẽ được quốc dân chấp thuận, đưa họ vào vị thế lãnh đạo. Như thế, từ khởi đầu, đó là những chương trình là sách lược đơn phương của đảng phái, của người tranh cử, nó đã trở thành điều kiện, sẽ ràng buộc nhau (như bản văn hoà giải) giữa hai đối tác. Nó có hiệu lực thi hành khi thành sự. Theo tôi, đây là một phương cách hòa giải tốt đẹp nhất giữa hai đối tác quốc dân và chính phủ mới để đưa đất nước tiến vào vận hội mới. Ở đó, mỗi bên đều tiếp tục công việc của mình trong tinh thần tôn trọng lẫn nhau để phục vụ cho đất nước, hơn là chà đạp lên nhau để đưa đến thảm họa.


V. Chuyện của Việt Nam


Ai cũng biết. Hơn thế, tất cả những người cộng sản Việt Nam đều biết rất rõ ràng nguyên nhân đưa đến việc nền luân lý, đạo đức xã hội và văn hóa của Viêt Nam bị băng họai, nền kinh tế quốc dân bị tụt hậu, và đặc biệt, Việt Nam không có tương lai cho ngày mai không phải là do hậu qủa của chiến tranh. Nhưng chính là sự hiện diện của cộng sản và việc họ dùng bạo lực để lũng đoạn công quyền từ 1954 đến nay. Việc khẳng định không phải vì chiến tranh là rõ ràng. Vì ngay trong thời chiến, miền nam vẫn có cấp độ tiến bộ cao, và nền văn hóa đạo đức của dân tộc được bảo toàn và phát triền vững chãi, để ở dó người dân được hưởng những quyền căn bản của con người. Không có ai phải lo lắng đến cái ăn cái mặc bao giờ. Không ai phải đem nỗi lo lắng, sợ hãi vào trong giấc ngủ. Và Sài Gòn, thủ đô của miền Nam: Việt Nam Cộng Hòa khi đó, được ví như Hòn Ngọc Viễn Đông, mà các nước lân bang như Thái, Mã Lai, Indo, hay Singapore đều ước mơ có đưọc một Sài Gòn trong quê hương của họ.


Trong khi đó, toàn bộ ngưòi dân sống ở miền Bắc thì lâm vào cảnh sống cơ cực với chế độ tem phiếu. Ăn chỉ cầu no. Vào giấc ngủ không bao giờ hết lo lắng, sợ hãi. Phần người công chức cấp cao cỡ như trưởng phòng, thậm chí hàng thứ trưởng, mỗi khi được đề cử đi "công cán" ở hải ngoại thì phải đến "ban lễ tân" ở các bộ để ký mượn lấy một bộ quần áo veste để mà mặc cho nó có vẻ với người ta. Khi trở về thì phải đem đến trả lại, và phải báo cáo những lý do nếu nó bị rách hoặc hư hại. Đây là chuyện có thật, không ai bịp bợm ai được nữa. Tuy thế, cảnh sống của ngưòi dân miền Nam đã bị Cộng sản san gần bằng với cuộc sóng đói khổ của miền Bắc vào những năm 1954-1975.


Nếu nói rằng, miền Nam ngày xưa vì có viện trợ nhân đạo về kinh tế, văn hóa của Tây phương mà được như thế. Thực tế không ai chối cãi về điều này. Nhưng cái phần viện trợ ấy, (đa phần là cho chiến tranh) nếu đem so sánh với sự viện trợ của người Việt từ hải ngoại ngày nay đổ vào Việt Nam thì thật không đáng là một câu chuyện nhỏ. Không đáng kể là một, vài bát nước đổ vào trong một cái thau lớn. Bởi vì từ trong chiến tranh, chưa bao giờ miền Nam nhận được tổng hợp các số viện trợ lên đến một tỷ đô la cho một năm. Ngày nay hàng năm, Việt NamCS nhận được trên 10 tỷ dôla, mà cuộc sống của người dân lại vẫn trăm nghìn cay đắng là thế nào? Theo đó, 
sự khốn khổ của đất nước là do chính Cộng sản tạo ra, không phải vì chiến tranh.

Như thế, nếu trong những thời gian qua, chuyện hòa giải chỉ là câu chuyện của miếng dẻ rách để người ta nói đến cho vui, cho qua ngày thì lúc này đây. Hơn ai hết, chính nhà cầm quyền cộng sản đã biết rằng. Thời gian của hòa giải không còn nhiều. Nghĩa là, phải làm ngay hoặc là sẽ không bao giờ còn cơ hội. Bởi vì, khi nguy cơ bị Trung cộng đô hộ càng lớn, sức ép phải làm cuộc hòa giải nghiêm chỉnh với quốc dân để cứu nước càng cao. Khi hệ thống thông tin toàn cầu càng mở rộng, CS càng không còn khả năng che đậy và tuyên truyền theo ý muốn mình. Trái lại, tất cả những tham ô, dối trá, từ cá nhân đến tập thể cùng những tài liệu buôn dân bán nưóc của CS được đưa ra ánh sáng cũng là lúc cộng sản đang tự đào lỗ chôn minh. Khi sự sợ hãi không còn là con ngáo ộp để trấn áp ngưòi dân, sức mạnh bạo lực của cái mã tấu, cái liềm, đôi dép râu trở thành một trò hề vô nghĩa. Khi người dân cùng nắm tay nhau, cùng đứng dậy vì nền Độc Lập, Tự Do của đất nươc, quê hương ấy sẽ không còn bóng dáng búa liềm. Như thế, cộng sản một là phải hòa giải với quốc dân để còn có cơ hội tồn sinh. Hai là chờ cơn thịnh nộ của quốc dân đổ xuống. Đứng trước cuộc sụp đổ toàn diện như hiện nay, nhìều người thao thức vì sự ổn định đất nước đã đặt ra câu hỏi là: Liệu có thể có một cuộc hòa giải nghiêm chỉnh giữa Quốc Dân Việt Nam và cộng sản không? Nếu có, nó sẽ theo một tiến trình nào?


VI. Tiến trình của hòa giải.


Điều lo lắng lớn nhất của đảng cộng sản tại Việt Nam trong giải pháp hỏa giải, hòa hợp với Quốc Dân Việt Nam là sợ mất quyền lãnh đạo, không còn chỗ đứng trong xã hội, hoặc lo bị trả thù cá nhân, nên họ rất sợ hãi việc hòa giải với quốc dân. Tuy nhiên, phần lớn trong số ấy lại cho rằng: Tất cả những lo lắng ấy cộng lại không thể so sánh với việc nều họ không đơn phương làm cuộc hòa giải với dân tộc Việc Nam, họ cũng không thể giải trừ được cái lo lắng ấy. Tệ hơn thế, ngày tàn của CS sẽ đến và CS sẽ bị đào thải ra khỏi xã hội. Khi ấy, CS cũng không còn giữ được bất cứ một thứ gì. Theo đó, nếu họ biết làm một cuộc hòa giải nghiêm chỉnh và đơn phương với quốc dân Việt Nam thì vẫn tốt hơn. Khi đó, quyền lãnh đạo của họ cũng chưa chắc đã mất. Vị trí xã hội của họ chưa chắc đã đị đào thải. Đời sống an ninh của họ vẫn được luật pháp bảo vệ. Nhưng cuộc hòa giải ấy, nếu có, nó sẽ có khuynh hướng ra sao?


1. Theo lối mòn cũ.


Luận điệu của cs từ trước tới nay là gian dối chồng lên gian dối. Nó chỉ nhằm áp đặt lên trên người dân sự thống trị của cộng sản bằng bạo lực và bất lương, vô đạo. Nó tuyệt đối không thể là một tiền đề cho một cuộc hòa giải. Nó chắc chắn sẽ dẫn đến bạo động và triệt hạ, đào thải mọi sinh hoạt của cộng sản ra kỏi phần đất này. Thời gian, chắc chắn không thể nằm trong toan tính của cộng sản sẽ là 20, 50 hay 100 năm nữa. Nhưng nó là ý chỉ của toàn dân. Có thể xảy ra ngay trong ngày mai hay trong một tuần, một tháng tới. Nói cách khác, không thể có hòa giải theo lối mòn cũ.


2. Theo yêu cầu đổi mới khả thi của quốc dân.


Dĩ nhiên, những đòi hỏi, những điều kiện này không phải là tiếng nói sáo rỗng của những kẻ thời cơ, chụp giựt. Nhưng là tiếng nói bằng máu, bằng mô hôi, bằng nước mắt và bằng lao nhọc, tranh đấu kiên trì của người dân ở trong nước, mà một số các cá nhân, đoàn thể đã vượt qua cả song sắt nhà tù để làm nên, viết ra. Đó là những đòi hỏi chính đáng, không người nào có thể phản đối, chỉ trích. Hơn thế, còn là những điều khoản thích hợp, mở đường cho đất nước hướng tời tương lai.



B. Theo tinh thần trong văn thư của HĐGMVN.


Ai cũng biết, lá Thư không mang một hình thức chủ nghĩa với những hàng chữ dài vô cảm mang nhãn hiệu “ CHXHCNVN” đi kèm với khẩu hiệu rêu rao của nó. Nó không là hình thức Xin – Cho. Trái lại, lá thư ngắn gọn, trực diện. Viết những diều cần viết. Nói những diều cần nói. Tuy là ngắn, nhưng chứa đựng hầu như tất cả tâm nguyện, khát vọng, không phải chỉ của người viết, hay của hơn tám triệu thành viên trong tôn giáo mà họ là đại diện, nhưng có thể là của tất cả mọi ngưòi, không trừ ai. Người trong nước, kẻ hải ngoại, đều muốn nói lên một tiếng nói chung, quang minh chính trực như thế. Vì tất cả mọi người như là đã sẵn sàng xóa bỏ cái hàng chữ với bảng hiệu kia rồi. Lá Thư này giống như một Tuyên Ngôn Lịch Sử của thời đại. Lịch Sử là vì từ đây, nó đã chấm dứt một chặng đường dối trá và bất công. Rồi mở ra ra một hướng đi trong Sự Thật và Công Lý cho mọi người cùng nhắm tới. Đích của Lịch Sử này, sớm hay muộn cũng sẽ phải tới. Đến trong an bình, cởi mở, đồng thuận, hay tới trong máu và nước mắt thì bó buộc đích nhắm cũng phải đến. Trong thư gồm có những điểm chính yếu như:


1. Quyền con người :


Hiến pháp cần xác định rõ: mọi người đều tự do và bình đẳng về phẩm giá và quyền. Quyền con người là những quyền gắn liền với phẩm giá làm người, và vì thế, là những quyền phổ quát, bất khả xâm phạm, bất khả nhượng như quyền được sống, quyền tự do ngôn luận, quyền tự do tôn giáo.


2. Quyền làm chủ của nhân dân.


Hiến pháp cần làm nổi bật quyền làm chủ của nhân dân.. Xác dịnh chủ thể quyền bính chính trị là chính nhân dân và từ nhân dân. Hiến pháp cần công nhận quyền sở hữu đất đai của công dân và các tổ chức tư nhân. HP phải tôn trọng quyền tham gia hệ thống công quyền ở mọi cấp của mọi công dân, không phân biệt thành phần xã hội, sắc tộc, tôn giáo.


3. Thi hành quyền bính chính trị:


Hiến pháp phải xác định, quyền bính chính trị mà nhân dân trao cho nhà cầm quyền được phân chia thành quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trong đó không dành đặc quyền chính trị cho ga bất kỳ một đảng phái nào. Xác dịnh tính độc lập của các quyền lập pháp. Hành pháp và tư pháp. Cung cấp nền tảng pháp lý cho việc thi hành những quyền hạn này một cách độc lập và hiệu quả.”


Nếu trước đây, nhà nước CS đã từng làm ra những cái bánh vẽ, dựng lên những chiêu bài để lợi dụng và lừa đảo lòng yêu nước của quốc dân Việt Nam trong cuộc chiến “ chống Mỷ cứu nước” nhưng thực chất là để phục vụ cho chủ trương “ ta đánh Mỹ chiếm miền Nam là đánh cho Trung cộng, Liên Sô” (Lê Duẩn) để dìm đất nước vào cơn khủng hỏang chính trị, khủng hoảng tội ác, khủng hoảng kinh tế, văn hóa và xã hội trong mấy chục năm qua là một sai lầm nghiêm trọng; thì việc họ "sửa đổi" HP vào tháng 9-2013, phải được coi như là cơ hội cuối cùng để họ làm cuộc hòa giải nghiêm chỉnh với quốc dân Việt Nam. Bởi lẽ, đây là lần đầu tiên họ "hỏi ý kiến" ngưòi dân. Hỏi và nay đã có những bản văn như là những điều kiện nghiêm chỉnh góp ý.


Hơn thế, không phải một mà là ba. Ba bản văn góp ý từ ba tổ chức công dân riêng biệt, có thể họ chưa một lần gặp gỡ nhau. Nhưng cùng lúc đã nói lên được tất cả tâm nguyện của quốc dân vì tương lai của đất nước. Như thế, đây không phải là những chữ viết xuông, vô nghĩa. Trái lại, nó sẽ trở thành những Tuyên Ngôn Lịch Sử của đất nước. Lịch sử vì, thứ nhất, nó giúp cho chính cộng sản thoát khỏi việc bị đào thải ra khỏi mọi sinh hoạt của đất nước một cách vĩnh viễn. Nó giúp cho chính những ngưòi CS thoát ra khỏi mọi lo lắng về an ninh bản thân vì có luật pháp bảo vệ. Kế đến, nó giúp cho tất cả mọi tầng lờp của xã hội có cơ hội cùng góp tay vào việc xây dựng lại đất nước từ nghèo khó, tang thương, trong khủng hoảng niềm tin và đầy tội ác, để đưa đất nước vào một tiến trình hoà nhịp với những sinh hoạt của thế giới nhân bản, trong an bình, tự chủ. Ở đó, văn hóa nhân bản, đạo đức của xã hội, của tôn giáo, của dân tộc được bảo vệ và phát triển. Ở đó, nền Độc Lập và Hoà Bình của Việt Nam không thể bị xâm phạm. Ở đó, một thể chế Tự Do, Dân Chủ được thiết lập và được luật pháp bảo vệ.


Trường hợp những bản văn này không được cộng sản tôn trọng, tuân thủ thì tự nó, cũng trở thành những những chứng tich của Lịch Sử chứng minh về sự phi nhân của chủ nghĩa cộng sản. Từ đó, dù người dân sẽ phải đập đá, phá đường để khơi nguồn cho một cuộc vận động đổi mới, có thể trong máu và nước mắt, họ cũng vẫn đi. Bởi lẽ, những bản văn này cũng chính là Bản Tuyên Ngôn Lịch Sử khởi đầu cho cuộc sống của dân tộc Việt Nam trong ngày mai.


Bảo Giang


Bạo lực với các nhà hoạt động xã hội VN

Ông Đinh Quang Tuyến là nạn nhân mới nhất của tình trạng bạo lực với các nhà hoạt động

Làm cho mọi người dân 'biết được quyền của mình' chính là khởi đầu của việc làm giảm thiểu lạm dụng bạo lực nói chung trong xã hội, cũng như bạo lực, bạo hành nói riêng nhắm vào giới hoạt động dân chủ và xã hội ở Việt Nam, theo ý kiến của một khách mời tại cuộc Tọa đàm Bàn tròn thứ Năm tuần này của BBC.

Trao đổi với Bàn tròn hôm 21/5 với chủ đề "Tình trạng bạo lực với các nhà hoạt động dân sự" ở Việt Nam, nhà quan sát tình hình chính trị - xã hội Việt Nam, Tiến sỹ Nguyễn Quang A nói:

"Tôi nghĩ có một cách rất hiệu quả, tức là chúng ta làm cho mọi người dân biết được quyền của mình.

"Bởi vì như Luật sư Vũ Đức Khanh nói là người dân có rất nhiều quyền và nếu người ta hiểu ra được quyền của mình, người ta thực thi quyền đấy.

"Và quyền đấy là quyền của dân, không phải hỏi ai ban phát cho cả, cứ thế thực thi, và ngay trong việc thực thi đó, người ta sẽ mạnh dạn dần lên, sẽ bớt sợ dần đi.

"Và lúc đó tôi nghĩ những tiếng nói, kể cả những người làm chứng, kể cả những người đột nhiên thấy những trường hợp hành hung như thế, thì có thể giơ luôn điện thoại ra, có thể chụp một cái ảnh, có thể quay một video clip, hoặc là nhận diện những kẻ đấy.

"Và chỉ có như thế thì tình hình mới được cải thiện mà thôi," ông Nguyễn Quang Anói với Bàn tròn.

Nhà hoạt động Nguyễn Chí Tuyến, người bị hành hung hôm 11/5/2015 tại Hà Nội chia sẻ quan điểm về những gì mà ông cho là các biện pháp có thể giúp giảm thiểu bạo lực, lạm dụng bạo hành ở Việt Nam.

Ông Chí Tuyến nói:

"Chúng tôi là công dân và chúng tôi chỉ thực hiện các quyền dân sự, các quyền căn bản của con người là quyền phát biểu chính kiến của mình, quyền được tham gia hội họp để sinh hoạt trong những cái mà pháp luật cho phép, và Hiến pháp Việt Nam cũng quy định, cũng như các công ước quốc tế.

"Tôi nghĩ rằng những việc tôi làm và bày tỏ chính kiến của mình như thế không mang tính bạo lực hay là đe dọa một sự lật đổ đối với chính quyền Việt Nam, hay là... chúng tôi kêu gọi một lời gì đó để mang tính bạo loạn hay lật đổ gì cả.

"Mà tất cả hoạt động, lời nói của các anh chị em chúng tôi rất ôn hòa, trong khuôn khổ pháp luật cho phép, đấy là cách thức để chúng tôi bày tỏ quan điểm.

Ra khỏi Đảng

BBC mở bàn tròn trực tuyến phát trên YouTube từ 19:30-20:00 ngày 21/5 về tình trạng bạo lực xảy ra với các nhà hoạt động xã hội sau khi ít nhất ba người bị tấn công.

Các cây viết tự do Gió Lang Thang, tức Trịnh Anh Tuấn, Anh Chí, tức Nguyễn Chí Tuyến ở Hà Nội và Đinh Quang Tuyến ở thành phố Hồ Chí Minh đều bị tấn công gây thương tích nặng.

Trước sức ép của dư luận, công an Việt Nam dường như đã mở cuộc điều tra vụ tấn công anh Nguyễn Chí Tuyến.

Một số nhà ngoại giao từ các Đại sứ quán Hoa Kỳ, Đức và Australia đã tới thăm anh Tuyến sau khi anh bị hành hung.

Sau vụ các nhà hoạt động này bị tấn công, một số người cáo buộc lực lượng an ninh đứng đằng sau các hành động bạo lực đối với các cây viết tự do và nhà hoạt động xã hội.

Cách đây vài năm đã xảy ra vụ lực lượng an ninh bị cáo buộc " đạp vào mặt" người biểu tình chống Trung Quốc Nguyễn Chí Đức, khi đó là đảng viên cộng sản.

Mặc dù có hình ảnh ghi lại nhưng khi đó lực lượng công an cũng không tiến hành điều tra.

Ông Nguyễn Chí Đức sau này đã quyết định ra khỏi Đảng Cộng sản.

Bàn chuyện rời bỏ đảng 

06:00:pm 11/02/15

Nhân dịp kỷ niệm 85 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), chúng tôi thiết nghĩ những đảng viên CS còn có lương tri, còn có lòng yêu nước, thương dân, nên khách quan nhận định lại ĐCSVN mà mình đang có chân trong đó, thực ra nó như thế nào? Những việc nó đã làm trong suốt 85 năm qua như thế nào? Công và tội của nó đối với dân, với nước ra sao? Để từ đó xác định thái độ cần phải có đối với ĐCSVN mà mình đang có chân và đã từng phục vụ. Tất nhiên, chúng tôi không nói chuyện với đám nịnh thần, đám bồi bút cung đình, bọn dư luận viên… những kẻ chỉ biết cúc cung phục vụ cái ác vì chút bỗng lộc được bọn độc tài toàn trị thí cho.

Thiết nghĩ có mấy điều đáng suy nghĩ sau đây:

Điều thứ nhất.

Có thể nói không ngoa là rất hiếm có một đảng chính trị nào giống như ĐCSVN, coi khinh mạng con người hết sức rẻ rúng. Xin các bạn cứ ngẫm mà xem! Đọc các chuyện kể của những nhân vật đã từng ở trong ĐCS hay những người đã từng bị ĐCS đày đọa, rồi nhìn kỹ vào thực tế, thì thấy rằng, quả là ĐCSVN “giết người như ngóe”. Ai chống Đảng – Đảng diệt! Ai chưa chống Đảng, mà Đảng nghĩ là người đó có thể có ngày sẽ chống Đảng – Đảng cũng diệt! Những người có quan điểm khác với Đảng – nhất là người thuộc các đảng yêu nước không cộng sản – thì Đảng cho “đi mò tôm”, tức là bỏ rọ trôi sông. Ai bị Đảng nghi, ngay cả đối với đảng viên của đảng – chẳng cần chứng cớ gì hết, chẳng cần điều tra gì hết – Đảng “thịt”. Người nơi khác lơ ngơ đi lạc vào A-Tê-Ka (ATK, an toàn khu) của Đảng – Đảng “thịt” ngay, để giữ bí mật của Đảng. Người cảm tình với Đảng từ nơi xa lần mò tìm đến ATK của Đảng mà không có ai trong ATK chứng nhận – Đảng cũng “thịt”. Thậm chí, trong kháng chiến, người dân có mang vật gì trong người, chẳng hạn, chiếc khăn lau mặt, có ba màu: xanh, trắng, đỏ, Đảng nghi là gián điệp – Đảng “thủ tiêu”. Đã có biết bao nhiêu mạng người đã bỏ xác vì những lý do vớ vẩn như thế! Mà chỉ cần một cái hất đầu, một cái nháy mắt, một ngón tay đưa lên… của cán bộ thôi, chứ không cần phải có bất kỳ giấy tờ, quyết định, chữ ký lôi thôi gì cả – thế là một, hai hay nhiều mạng người “đi toong”! Chính cái đầu óc “coi mạng người như ngóe” đó, mà Đảng nhất quyết bác bỏ “nhân tính”, chỉ thừa nhận “giai cấp tính”, mà nghĩ cho cùng có khi đó lại là “thú tính”. Xin hãy nghĩ mà xem: cái lối giết người bị quy là “địa chủ” trong cải cách ruộng đất (CCRĐ), như chôn sống, hay chôn người đến cổ rồi cho trâu bừa qua nhiều lần cho đến chết, giam người ở chuồng trâu rồi bỏ đói cho chết; cái lối giết người Hoa trong chuyến ĐCSVN đuổi trên 300 nghìn người Hoa về nước, có nơi đã thu vàng bạc của người ta rồi, cho lên tàu xua về nước lại còn cho tàu đuổi theo xả súng giết chết hết hay đục thuyền cho đắm… đến nỗi xác người nằm san sát nhau lềnh bềnh trên sông như củi rều vậy. Như thế gọi là gì? “Giai cấp tính” ư? Rõ ràng là “thú tính”! Và cái lối tàn sát dân lành kiểu này có khác gì lối giết người của bọn phát-xít? Và như vậy, ĐCSVN có khác gì bọn khủng bố quốc tế thuộc các giáo phái cực đoan ngày nay?

Thế nhưng, hễ ai – các nhà trí thức, các đảng viên của Đảng – dám đề cao “nhân tính” thì Đảng liền phê cho là “mất lập trường”, là tư tưởng xét lại, là quan điểm tư sản, phản động, là không có “đảng tính”. Chính vì thế mới xảy biết bao nhiêu vụ oan khiên suốt trong 85 năm tồn tại của ĐCSVN. Nào là các vụ giết hàng trăm lãnh tụ và đảng viên các đảng yêu nước không cộng sản, như Việt Nam Quốc dân đảng, Đảng Đại Việt, v.v… những năm sau khi ĐCS cướp được chính quyền, để không còn ai có thể cạnh tranh quyền lực với Đảng nữa. Ngay cả đối với những người yêu nước cùng ý hệ với Đảng, nhưng khác về đường lối, như những người trotskistes Việt Nam đã từng một thời hợp tác tốt đẹp với những người CS ở miền Nam, ĐCSVN cũng không tha – phải giết hết! Vì sao? Vì hồi 1937-38, Nguyễn Ái Quốc từng hùa theo Stalin, lu loa chửi bới thậm tệ những người trotskistes là “một lũ bất lương, những con chó săn của chủ nghĩa phát-xít Nhật và chủ nghĩa phát-xít quốc tế”, “đàn chó trotskistes”, “những kẻ đầu trâu mặt ngựa”, “những đứa không còn phẩm giá con người, những tên sẵn sàng gây mọi tội ác”, “kẻ thù của nền dân chủ và tiến bộ”, “bọn phản bội và mật thám tồi tệ nhất”, v.v… Những câu, chữ này còn nằm trong ba bức thư Nguyễn Ái Quốc gửi cho Trung ương (TƯ) Đảng (xem Hồ Chí Minh Toàn tập, t.3, tr.97-100). Cho nên những ông Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Phan Văn Chánh, Trần Văn Thạch, Nguyễn Văn Sổ, Lê Ngọc, Lê Văn Hương, v.v… (hồi năm 1945-46), Nguyễn Văn Linh, Lưu Khánh Thịnh, Liu Jialang (hồi năm 1948) đã bị sát hại thê thảm! Ngay cả những đảng viên CSVN bị nghi ngờ, dù chẳng có chứng cớ gì hết cũng bị giết hại dễ như bỡn: như vụ giết oan mười mấy đảng viên CSVN người Hoa đã từng bị tù đày vì đấu tranh cách mạng Việt Nam (do Lý Ban “chỉ điểm”) và vụ giết oan mấy chục đảng viên CS người Việt (trong vụ H122 do Hoàng Quốc Việt phụ trách). Đó là chưa kể đến các vụ bắt bớ, đày đọa trong trại tù hàng chục nghìn người đã từng làm việc dưới chế độ cũ thời Pháp (có nhiều khi chẳng làm việc gì cho chế độ cũ, như các linh mục, các chánh trương, trùm đạo, các nhà sư Phật giáo…) sau khi ĐCS tiếp nhận miền Bắc (theo nghị quyết số 49/NQ/TVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước VNDCCH do Chủ tịch Trường Chinh ký ngày 20.6.1961), còn sau 30 tháng Tư năm 1975 là vụ đánh lừa gọi đi học ngắn ngày để bắt giam và đày đọa mấy chục năm ròng trong các trại tù trên hai trăm nghìn người đã từng phục vụ dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa (do lệnh gọi đi học của Ủy ban Quân quản). Trong cả hai vụ đó đã có hàng nhiều chục nghìn người phải bỏ xác trong các trại tập trung kiểu phát-xít, mệnh danh là “trại cải tạo”. Đó là chưa kể đến các vụ thảm sát chừng bốn nghìn người thường dân vô tội trong Tết Mậu Thân 1968, vụ bắn trọng pháo ngay trên đường người dân lành chạy lánh nạn ở Quảng Nam – Đà Nẵng hồi 1975… Chính vì phủ nhận “nhân tính”, nên trong kháng chiến đã từng xảy nhiều vụ tung lựu đạn vào xe đò hay đặt bom mìn trên đường ray để nổ tung các đoàn tàu chợ (chở hành khách) giết hại thường dân “vùng địch”.

Đặc biệt cần nói đến vụ cải cách ruộng đất (CCRĐ) ở miền Bắc trong những năm 1953-1956 đã tàn sát vô cùng man rợ trên 172 nghìn người dân vô tội, thậm chí giết cả những người đã từng ủng hộ tiền, vàng, thóc gạo, quần áo cho Đảng, đã từng che giấu, nuôi nấng cán bộ của Đảng và quân kháng chiến trong thời kỳ khó khăn nhất. Thậm chí, không ít cán bộ, đảng viên của Đảng từng chiến đấu cho Đảng đã bị vu oan và hành quyết trong CCRĐ. Tài liệu chính thức của ĐCS đã phải thừa nhận là trong số 172 nghìn người bị giết trong CCRĐ thì 70% là những người bị oan! Đây thực sự là một tội diệt chủng, một tội ác đối với nhân loại, một tội ác tày trời đối với Dân tộc và Tổ quốc Việt Nam. Tự cổ chí kim chưa từng xảy ra một tội ác như vậy trên Đất nước Việt Nam này! Tội ác đó không thể nào tha thứ được! Thế mà Hồ Chí Minh và Trường Chinh, những kẻ đã gây nên tội ác đó, vẫn ngụy biện tuyên bố “dù CCRĐ có sai lầm, nhưng thắng lợi vẫn là căn bản”.

Vẫn chưa hết, cuộc phiêu lưu của nhóm cầm quyền thân Mao là Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh, Tố Hữu… hồi đầu thập niên 60 thế kỷ trước, đã phát động cuộc chiến Bắc – Nam, thực chất là cuộc nội chiến, vô cùng tàn khốc trên mười mấy năm trời đã làm cho trên sáu triệu người dân Việt Nam phải bỏ mạng, đem đến cho cả hai miền biết bao đau thương, tang tóc, biết bao thiệt hại về nhân mạng, về của cải vật chất, về tinh thần, đạo đức và tình cảm. Đã thế, Tổng Bí thư (TBT) Lê Duẩn, một trong những kẻ khởi xướng cuộc nội chiến, cuối cùng lại nói: “Chúng ta chiến đấu là để cho Liên Xô, Trung quốc và các nước trong phe xã hội chủ nghĩa”. Một câu nói hết sức phũ phàng đối với biết bao hy sinh xương máu của nhân dân Việt Nam!

Việc phát động chiến tranh chứng tỏ nhóm chóp bu ĐCS thân Mao hồi đó coi thường sinh mạng người dân của cả hai miền, coi thường sinh mạng của hàng triệu binh lính, thanh niên xung phong và dân công. Thế nhưng, khi một số cán bộ – mấy ủy viên TƯ Đảng, nhiều cán bộ cao cấp, trung cấp, một số sĩ quan trong quân đội, gồm mấy vị tướng, nhiều sĩ quan cấp tá, ở trong nước và ngoài nước đã phản đối chiến tranh, phản đối đường lối thân Mao của bọn chóp bu CS, thì họ bị quy là “phần tử xét lại chống Đảng”, bị vu khống “làm gián điệp cho nước ngoài” và bị đàn áp ác liệt, bị tù ngục nhiều năm, thậm chí có những cán bộ đã bị chết trong tù.

Chính việc ĐCSVN phủ nhận “nhân tính” đã đem lại hậu quả nguy hại rất nghiêm trọng cho đạo đức xã hội, là ngày nay trong dân gian, người dân học đòi Đảng cũng coi thường tính mạng con người: cái thói độc ác ngày càng phổ biến, chỉ vì một việc cỏn con thôi, người ta sẵn sàng chém giết nhau. Một nhà báo trong nước đã phải kêu lên: “Chưa bao giờ các hành vi vô nhân tính, vô đạo đức trong các mối quan hệ xã hội, kể cả giữa những người thân trong gia đình lại xuất hiện với một tần xuất dày đặc trên báo chí như hiện nay.”

Điều thứ hai.

Từ khi ra đời cho đến nay, 85 năm ròng rã, ĐCSVN đã tỏ rõ là một đảng vô cùng gian dối, thường xuyên dối trá, lừa gạt, chẳng những đối với địch, mà cả đối với dân, cả đối với đảng viên của Đảng. Đảng luôn luôn nói dối trắng trợn, nói một đằng, làm một nẻo. Thí dụ thì nhiều vô kể. Chỉ xin đưa ra vài chuyện thôi. Cú lừa gạt đau đớn nhất là đối với “bạn đồng minh gần gũi, thân cận nhất” của Đảng (tầng lớp nông dân) là khẩu hiệu “người cày có ruộng”. Khi cần lôi kéo nông dân theo Đảng làm cách mạng, ĐCS tung ra khẩu hiệu đó lên, ra rả quanh năm suốt tháng; khi làm CCRĐ, ĐCS vẫn còn hò hét cái khẩu hiệu đó. Nhưng, khi CCRĐ vừa xong, nông dân chưa kịp thụ hưởng gì trên mảnh đất mới được chia, thì ĐCS đã vội lùa họ vào cái gọi là hợp tác xã bậc thấp, rồi nhanh chóng đưa lên bậc cao, lấy ruộng của nông dân cho ban quản trị, thực tế là ĐCS, quản lý; biến nông dân từ người chủ ruộng thành người “làm công ăn điểm” để rồi “Mỗi người làm việc bằng hai/Để cho chủ nhiệm mua đài sắm xe/Mỗi người làm việc bằng ba/Để cho chủ nhiệm xây nhà lát sân”, v.v… Vẫn chưa hết, đến năm 1980, sau khi ĐCS đã nắm quyền trên cả nước, Đảng liền thảo Hiến pháp (HP) của cái gọi là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN), đưa ra điều 19 HP chuyển quyền tư hữu đất đai (tức là toàn bộ thổ canh thổ cư, nói nôm na là ruộng đất) của nông dân và của nhân dân nói chung sang cái gọi là “sở hữu toàn dân”! Tuyên bổ đất đai là “sở hữu toàn dân”, có nghĩa là ĐCS đã “quốc hữu hóa” đất đai, hay nói chính xác hơn “đảng hữu hóa” ruộng đất của nông dân và nhân dân. Từ đây, quyền tư hữu ruộng đất của người dân hoàn toàn bị xóa bỏ, và ruộng đất bây giờ thực tế nằm trong tay sở hữu của ĐCS là đảng độc tôn thống trị đất nước. Từ đây, ĐCS thực tế đã tự biến mình thành một tên siêu đại địa chủ. Đến những lần sửa đổi HP 1992 và HP 2013, điều khoản về đất đai vẫn giữ nguyên nội dung giống như HP 1980, tức là tước đoạt quyền tư hữu ruộng đất của người dân, nhất là nông dân. Từ nay, nông dân chỉ được Nhà nước chuyên chính vô sản cho quyền sử dụng. Khi nào cần thì Nhà nước chuyên chính sẽ cưỡng chế tước đoạt lại! Và cái lối “quốc hữu hóa”, nói đúng hơn là “đảng hữu hóa” này chỉ có lợi cho đám quan lại CS cầm quyền ở các địa phương. Bọn này tha hồ áp bức nông dân, cưỡng chế cướp đoạt ruộng đất của nông dân, tự biến chúng thành những địa chủ mới, những cường hào đỏ, biến nông dân thành hàng triệu “dân oan” khốn khổ, hàng chục năm trời đi khiếu kiện khắp các cửa quan một cách vô vọng, chịu biết bao tủi nhục, bị đánh đập, thậm chí bị giết thê thảm. Đấy, sự lừa gạt bỉ ổi, khủng khiếp nhất đối với nông dân là như vậy. Cái vết thương đau đớn này trên cơ thể Dân tộc vẫn còn rướm máu mãi.

Một sự lừa gạt trắng trợn nữa là sau khi phát động cuộc nội chiến dưới chiêu bài “giải phóng miền Nam”, để kích động người dân tham gia cuộc chiến, những kẻ gây chiến phải ra sức nói dối, ra sức lừa gạt, nào là người dân ở miền Nam dưới ách Mỹ Diệm bị khốn khổ vô cùng, nào là chế độ miền Nam độc tài, gia đình trị ghê gớm, người dân không có chút tự do, xã hội thối nát, sa đọa, người ta còn dựng lên biết bao chuyện bẩn thỉu, như tổng thống Diệm ngủ cả với em dâu, vợ Ngô Đình Nhu, v.v. và v.v… Ngày nay, sự thật như thế nào thì chắc mọi người đã thấy rõ. Ngay trong ngày đầu tiên khi quân miền Bắc mới vào Sài Gòn, nhà văn Dương Thu Hương, lúc bấy giờ là thanh niên xung phong, thấy và hiểu được Sự Thật, và chị đã ngồi bên vệ đường khóc ròng!

Còn biết bao chuyện lừa dối, phỉnh gạt khác nữa không thể kể hết. Nào là “Nhà nước công nông”, “nông” thì đã rõ như cái thí dụ vừa kể trên, còn “công” thì đồng lương mà “Nhà nước công nông” trả cho công nhân, viên chức là “đồng lương bóc lột”, “đồng lương chết đói”, thực tế chỉ đủ ăn trong mười ngày. Nào là “chuyên chính vô sản”, thực tế có anh vô sản nào được xơ múi gì ở cái “chuyên chính” đó, chung quy chỉ là một lũ quan tham lại nhũng tham quyền cố vị, thậm chí những tay hoạn lợn, cai cao su, lưu manh đường phố… khoác cái áo “vô sản lưu manh” (từ ngữ của ông Marx) chễm chệ ngồi trong Bộ Chính trị (BCT), làm TBT ĐCSVN, làm Chủ tịch nước, làm bộ trưởng công an để nắm chặt “chuyên chính” mà đè đầu cưỡi cổ “thằng dân”. Nào là “dân làm chủ, cán bộ là đày tớ của dân” – điều này chẳng cần bình luận gì nữa, dân ta đã chế nhạo quá nhiều rồi. Nào là những hứa hẹn huy hoàng trong “Chương trình Việt Minh”: xóa bỏ mọi thứ thuế, tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do tín ngưỡng, dân chủ, tự do, hạnh phúc,… nhưng khi ĐCS nắm chính quyền rồi thì tất cả những thứ đó chỉ là những lời nói suông. Nhà báo Trần Đĩnh kể về “nghệ thuật” lừa đảo siêu đẳng của ủy viên BCT Tố Hữu trong việc mua ngôi nhà của bà Lợi Quyền, một nhà tư sản ở Hà Nội đã từng quyên góp nhiều vàng và nhà cửa cho ĐCS. Bà còn lại một ngôi nhà, Ban tuyên huấn TƯ muốn mua; người ta đặt giá thì chê đắt không mua. Đùng một hôm, xe tuyên huấn chở mấy bao tiền đến, đắt mấy cũng mua. Ba ngày sau, đổi tiền! Trần Đĩnh nhận xét rất hay: “Tố Hữu, nguyên Trưởng ban tuyên huấn TƯ đã hạ thời cơ tuyệt hảo chấm dứt cơ nghiệp đại gia tư sản Lợi Quyền có tiếng ở Hà Nội. Bằng giấy lộn. Ai cứ bảo nhà thơ trên gió trên mây.”

Việc ĐCSVN cho công an lập ra những tổ chức “kháng chiến” cuội, “phục quốc” cuội để đánh lừa thanh niên yêu nước ở miền Nam, làm cho hàng nghìn người mắc bẫy để tống họ vào tù. Đó cũng là một tội ác kinh tởm.

Trên đây là những chuyện đối nội, còn về đối ngoại thì không thiếu chuyện ĐCSVN gian dối, lừa gạt trắng trợn dư luận thế giới. Chuyện ông Hồ Chí Minh sang Pháp nói dối như thế nào, nhiều người đã biết. Chẳng hạn, có tờ bảo hỏi thẳng: ông có phải là cộng sản không? Ông Hồ chối đây đẩy: không. Trả lời câu hỏi của báo Journal de Genève, ông tuyên bố như đinh đóng cột: “Các bạn của chúng tôi không nên lo chủ nghĩa mác-xít sẽ du nhập vào đất nước chúng tôi”. Trên báo Le pays ông cũng đã nói: “Những lý thuyết mác-xít không thể áp dụng ở nước chúng tôi được”. Còn trong cuộc phỏng vấn ngày 25.6.1946, trả lời đảng viên Xã hội Pháp Daniel Guérin hỏi về cái chết của Tạ Thu Thâu, ông Hồ đã nói như sau: “Ce fut un patriote et nous le pleurons… Mais tous ceux qui ne suivent pas la ligne tracée par moi seront brisés”, tạm dịch: “(Tạ Thu Thâu) là một nhà ái quốc, chúng tôi đau buồn khi hay tin ông mất… Nhưng tất cả những ai không theo con đường tôi đã vạch đều sẽ bị tiêu diệt”. Ông Hồ giả dối làm ra vẻ đau buồn về cái chết của nhà ái quốc Tạ Thu Thâu, trong lúc đó chính ông ta biết quá rõ ai là người ra lệnh giết ông Thâu, và chắc chắn ông ta cũng không thể quên ba bức thư ông gửi cho TƯ những năm 1937–38 chửi bới thâm tệ những người trotskistes.

Việc ĐCSVN vi phạm Hiệp định Genève 1954, để lại vũ khí, cài lại cán bộ ở trong Nam, vi phạm Hiệp định ngừng bắn năm 1973, hay là những vi phạm thường xuyên các Công ước quốc tế về nhân quyền, về chống tra tấn, v.v. và v.v… càng nổi bật sự gian trá quen thuộc của tập đoàn cầm quyền ĐCSVN. Có thể họ biện bạch rằng đứng trên lập trường vô sản, đánh lừa quốc tế, tức là đánh lừa bọn đế quốc, là đúng đường lối giai cấp và chỉ có lợi cho ta thôi. Họ không hề nghĩ rằng làm như thế là có hại cho quốc thể, là tạo thêm nỗi quốc nhục cho Đất nước Việt Nam: đã mang danh tên ăn mày quốc tế vác bị đi xin khắp thế giới lại còn muốn quàng thêm cái danh xưng thằng bạc bịp quốc tế nữa thì thanh danh của Tổ quốc Việt Nam mãi mãi bị chôn vùi dưới ba thước đất, làm sao còn ngẩng mặt lên trước thế giới văn minh được?

Điều thứ ba.

ĐCSVN thực tế là một đảng độc tài toàn trị, phản dân chủ. Ngay từ sau khi cướp được chính quyền, để củng cố quyền lực độc tài toàn trị Đảng đã ra sức tiêu diệt mọi đảng phái yêu nước có thể tranh chấp quyền lực với ĐCS hoặc đánh quỵ mọi thành phần có tiềm năng chống đối để bảo đảm cái mà Lenin gọi là гегемония пролетариата, tiếng Pháp là hégémonie du prolétariat, tức là địa vị độc tôn của giai cấp vô sản, thực ra là của ĐCS (Hà Nội dịch là độc quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản). Để bảo đảm cái địa vị độc tôn đó thì trong tất cả các cơ quan nhà nước – lập pháp, hành pháp, tư pháp, trong tất cả các cơ quan chuyên môn, như bệnh viện, trường học, bảo tàng, nhà hát, rạp chiếu bóng, v.v…, trong tất cả các đoàn thể xã hội, trong tất cả các cơ quan truyền thông, tất cả các báo chí của Đảng… đều phải do các đảng viên CS nắm giữ địa vị chủ chốt. Dù rằng ở một số bộ và cơ quan nhà nước có thể có người ngoài đảng trên danh nghĩa là bộ trưởng, vụ trưởng, giám đốc, v.v… nhưng đảng viên CS hay đảng đoàn CS những nơi đó vẫn là người có thực quyền quyết định, còn các vị ngoài đảng chỉ “làm vì”. Đó là nguyên tắc bất di bất dịch của Đảng. Đối với các lực lượng có tiềm năng chống đối Đảng, tính ra chỉ còn giới trí thức và giai cấp tư sản thì ĐCS chủ trương phải “cải tạo” họ. Ở nông thôn, từng lớp phú nông đã bị đánh gục trong CCRĐ rồi, nên Đảng không lo. Học theo Trung Cộng, ĐCSVN chủ trương cải tạo trí thức bằng cách “chỉnh huấn”, rập khuôn theo bài bản “chỉnh phong” của Mao Trạch Đông. Trong “chỉnh huấn”, buộc những người trí thức phải tự bộc lộ, tự kiểm điểm, tự xỉ vả những thói hư tật xấu của mình, họ còn phải khai báo về xuất thân của mình, nếu thuộc về những giai cấp gọi là “đối tượng của cách mạng” như địa chủ, tư sản… thì họ phải tố cáo, xỉ vả và căm thù ngay cả bố mẹ, ông bà mình. Tất nhiên, đây là điều sỉ nhục lớn đối với người trí thức biết tự trọng, nhưng nếu anh ta chịu đựng được thì tỏ ra rằng anh ta đã khuất phục giai cấp vô sản, tức là ĐCS, và anh ta sẽ được Đảng sử dụng. Tuy vậy, Đảng vẫn không hoàn toàn tin anh ta, còn những điều anh ta đã bộc lộ với Đảng thì Đảng ghi vào hồ sơ lý lịch và theo dõi anh ta suốt đời. Hơn nữa, dù được Đảng sử dụng, nhưng bao giờ Đảng cũng kỳ thị, phân biệt đối xử với trí thức. Cái đó gọi là “chủ nghĩa thành phần”. Cái “chủ nghĩa” quái gở này áp dụng không chỉ cho cán bộ, nhân viên, sĩ quan và binh lính, mà cả cho học sinh, sinh viên, nhất là khi xét duyệt cho họ vào đại học hay đi nước ngoài. Cái “chủ nghĩa” này đã hủy diệt biết bao tài năng của tuổi trẻ! Giáo sư Tạ Quang Bửu bị thất sủng chính vì đã phản đối cái “chủ nghĩa” này.

Còn nếu người trí thức có thái độ ngang bướng, không phục tùng Đảng, hoặc lời ăn tiếng nói không vừa ý lãnh đạo thì Đảng sẽ mở trận đấu tranh không khoan nhượng. Đó là trường hợp đối với các văn nghệ sĩ, các giáo sư trong vụ án “Nhân Văn-Giai Phẩm” hồi giữa những năm 50 thế kỷ trước. Hậu quả của việc ĐCSVN đánh “Nhân Văn-Giai Phẩm” là cả một nền văn hóa, giáo dục, văn học, nghệ thuật miền Bắc bị lụn bại, méo mó, què quặt trong mấy chục năm ròng, và cả một lớp tinh hoa của dân tộc tiêu biểu cho trí tuệ và sức sáng tạo đã bị đánh gục, bị vùi dập, bị dìm xuống bùn đen trong nỗi sợ triền miên làm cho sự tiết tháo, nhân cách của giới trí thức miền Bắc Việt Nam bị sa sút nặng nề. Đó là một tội ác của ĐCSVN đối với trí tuệ của dân tộc.

Còn việc cải tạo công thương nghiệp, chủ yếu là để tước đoạt (từ ngữ của Marx) phương tiện sản xuất, cơ sở kinh doanh của giai cấp tư sản, lại là một đòn chí tử nữa ĐCS đã giáng xuống những mầm mống đang lên của nền kinh tế non yếu của Đất nước làm cho nó càng thêm suy bại.

Mặc dù ĐCS đã độc quyền thao túng bộ máy cai trị gồm cả chính quyền lẫn các tổ chức và đoàn thể xã hội, đã nắm chắc hệ thống chuyên chính vô sản, nhưng sau những sai lầm nghiêm trọng trong CCRĐ, sau những sai lầm và thất bại nặng nề về kinh tế, xã hội, đã làm cho đời sống người dân cực kỳ khó khăn, thua kém rất nhiều so với thời còn dưới chế độ cũ, thì uy tín của ĐCSVN ngày càng sa sút trầm trọng. Vì thế, tập đoàn cầm quyền CSVN thấy cần phải bắt chước ĐCSLX dưới thời trì trệ của TBT Brezhnev đã đưa điều 6 vào HP LX 1977, thì họ cũng đã đưa điều 4 vào HP CHXHCNVN 1980. Và sau này họ vẫn giữ nguyên cả trong HP 1992 và 2013. Đây là âm mưu dùng HP để thể chế hóa sự độc quyền cai trị và địa vị độc tôn của ĐCSVN, siết chặt hơn nữa chế độ độc tài toàn trị của một nhúm nhỏ mấy người trong BCT TƯ Đảng, nhằm chặn đứng con đường dân chủ hóa xã hội, con đường đa nguyên, đa đảng và tam quyền phân lập. Cho nên đòi hỏi của dân chúng, nhất là các nhà trí thức và các chiến sĩ dân chủ phải xóa bỏ điều 4 HP là điều rất hợp lý và rất chính đáng, vì điều 4 chi phối phần lớn những điều khác trong HP, chi phối toàn bộ sinh hoạt của xã hội Việt Nam. Gần đây, Khối 8406 vận động cuộc biểu tình trên mạng đòi xóa bỏ điều 4 HP cũng là một việc làm rất có ý nghĩa.

Cũng nên thấy rằng một khi ĐCS cầm quyền buộc phải ghi điều đó vào HP thì chứng tỏ là chế độ thống trị CS đã rệu rã, rung rinh và có cơ sụp đổ, vì thế tập đoàn thống trị phải dùng điều đó để siết chặt hơn nữa nền thống trị CS. Trước đây, khi mới cầm quyền, dân chúng còn hy vọng, còn tin tưởng vào ĐCS, họ không cần đưa điều đó vào HP mà vẫn chuyên chính được. Bây giờ, hy vọng và tin tưởng đã mất hết, nên điều đó là tối cần thiết cho kẻ thống trị. Cho nên TBT Nguyễn Phú Trọng và các ủy viên BCT khác đều nói: “Bỏ điều 4 HP là tự sát!”. Nhưng đó cũng chính là tiên triệu báo trước sự sụp đổ không xa của chế độ độc tài. Đấy, năm 1977, ĐCSLX đưa điều 6 vào HP thì 13 năm sau, Liên Xô sụp đổ và ĐCSLX tan tành! Vì thế, ngày nay, các quan chức CSVN phải tính chuyện đường dài, họ bắt chước các lãnh tụ CS họ Kim ở Bắc Triều Tiên, hay họ Castro ở Cuba, dần dần cài người thân trong gia đình vào bộ máy lãnh đạo từ tỉnh lên đến TƯ để dùng lối cha truyền con nối mà đảm bảo sự độc quyền thống trị của họ. Còn một cách nữa: chuyện mới xảy ra gần đây thôi. Theo báo Nhân Dân ngày 29.1.2015, tại hội nghị cán bộ do Ban Tổ chức TƯ triệu tập ngày 27.1.2015, ông Tô Huy Rứa, ủy viên BCT, trưởng Ban Tổ chức TƯ đã cho biết cuộc họp Ban Chấp hành TƯ lần thứ 10 vừa qua đã thông qua danh sách gồm 290 ủy viên TƯ chính thức và dự khuyết cho Đại hội XII, và danh sách 22 ủy viên BCT và ủy viên Ban Bí thư (BBT) cho khóa XII. Đây quả là một “sáng kiến tân kỳ”, chưa từng thấy của ĐCSVN: bất chấp Điều lệ Đảng, toàn bộ nhân sự của ĐCSVN khóa XII sắp tới đã được hội nghị TƯ Đảng lần thứ 10 khóa XI, gồm 197 ủy viên TƯ chính thức và dự khuyết khóa XI quyết định xong xuôi. Toàn bộ danh sách các vị ủy viên trong BCT và trong BBT khóa XII cũng quyết định xong. Như thế là hội nghị TƯ lần thứ 10 đã làm thay cho toàn bộ quá trình đại hội từ cơ sở đến Đại hội toàn quốc lần thứ XII cả trong việc ứng cử, lựa chọn, bầu cử các cấp ủy từ dưới lên trên cho đến Ban Chấp hành TƯ, BCT và BBT khóa XII. Tập đoàn thống trị hiện nay cố đấm ăn xôi, quyết bảo đảm cho kỳ được là tập đoàn cầm quyền sắp tới phải theo ý chí của họ. Quả là một sự độc tài, chuyên quyền trắng trợn không thể tưởng tượng nổi.

Điều thứ tư.

Hãy nhìn lại trong 85 năm qua, ĐCSVN đã làm được gì cho dân, cho nước.

ĐCSVN rất thích kể công về thời trước. Mà nhiều khi cái “công” đó chưa hẳn là công thật. Đảng thường tự hào là Đảng đã cướp được chính quyền từ tay Nhật, Pháp, về sau gọi đó là Cách mạng tháng Tám. Nhưng lịch sử chứng minh rõ ràng đó là sự dối trá: Việt Minh (tức là ĐCS) đã cướp chính quyền không phải từ tay Nhật, Pháp, mà là từ tay Chính phủ Trần Trọng Kim. Chính phủ Trần Trọng Kim là ai? Thực ra, họ không phải là “chính phủ bù nhìn” cho Nhật như Việt Minh và tờ Cờ Giải Phóng của ĐCS đã vu cáo họ, mà là một chính phủ do vua Bảo Đại lập ra sau khi Nhật đảo chính Pháp (9.3.1945) gồm nhiều trí thức yêu nước nổi tiếng trong cả nước, chẳng những họ có trí tuệ, có tư tưởng, mà còn có đức hạnh đứng ra gánh vác việc nước vì mục đích giành độc lập thật sự cho Việt Nam. Vì điều kiện phức tạp hồi bấy giờ, Chính phủ đó chỉ tồn tại trong bốn tháng thôi. Nhưng trong thời gian ngắn ngủi đó họ đã làm được nhiều việc lớn: đã cố thu hồi đất Nam Kỳ và các nhượng địa đã dành cho Pháp, như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng nhằm giữ được toàn vẹn lãnh thổ; đã tổ chức việc cứu đói cho dân miền Bắc; đã Việt hóa nền giáo dục, và việc này đã có ảnh hưởng lâu dài cho cả những thời kỳ và nhiều thế hệ sau này; đã cải tổ thuế má, tư pháp; đã vận động và tổ chức thanh niên, sinh viên (tổ chức Thanh niên Tiền tiến) đưa thanh nên vào sinh hoạt chính trị, xã hội… Đại diện của Chính phủ Trần Trọng Kim đã năm lần gặp đại diện của Việt Minh (ĐCS) để bày tỏ lòng mong mỏi hợp tác với Việt Minh để cùng lo việc nước, nhưng đại diện của Việt Minh đã khước từ vì chủ trương của ĐCS là: ĐCS phải là đảng cầm quyền, duy nhất cầm quyền.

ĐCS thường kể công và tự hào đã lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi. Nhưng cũng có lắm ý kiến bác lại rằng: nếu ĐCS có chính sách mềm dẻo hơn thì chưa chắc đã cần phải đổ máu kháng chiến chống Pháp trong gần 10 năm. Nếu cứ tiếp tục đứng trong Khối Liên hiệp Pháp (theo Hiệp định sơ bộ – 6.3.1946) mà đấu tranh thì cuối cùng Pháp cũng phải trả lại độc lập cho ta, giống như các nước thuộc địa khác đã được Pháp trả lại độc lập, chẳng phải tốn máu xương mà còn được độc lập sớm hơn ta nhiều. Đấy, cái “công” đó cũng chưa hẳn là công thật. ĐCS còn tự hào đã lãnh đạo chiến tranh chống Mỹ giải phóng miền Nam. Nhưng cuộc chiến Bắc – Nam, thực chất là cuộc nội chiến, mà những người lãnh đạo thân Mao hồi đó, như Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh, Tố Hữu… đã phát động, do sự xúi giục và mưu đồ của Mao Trạch Đông: “Thiên hạ đại loạn, Trung Quốc được nhờ”. ĐCSVN phải chịu trách nhiệm trước Dân tộc về cái tội đã phát động cuộc nội chiến này gây ra biết bao đau thương, tang tóc, tốn biết bao máu xương của Dân tộc: trên sáu triệu người đã bỏ mạng. Cái “công” này không phải là công mà chính là tội, tội ác.

Về đối ngoại, từ chỗ suy tôn “Mao Trạch Đông là Lenin của thời đại ba dòng thác cách mạng Á-Phi-La”, chửi Liên Xô là “xét lại hiện đại”, rồi lại kình địch với Trung Quốc, chửi Mao, tiến hành chiến tranh với Campuchia Pol Pot, chiếm đóng Campuchia; Lê Duẩn và ĐCSVN lại quay ngoắt chạy theo LX, tuyên bố coi LX là Tổ quốc thứ hai (nhưng, thực ra trong nội bộ CSVN vẫn coi LX là “xét lại hiện đại”) cốt để xin viện trợ nhằm tiếp tục chiến tranh, rồi ký kết Hiệp ước Tương Trợ với LX. Đến khi bị Trung Cộng tung 300 nghìn quân đánh một trận trên suốt đường biên giới phía Bắc, ĐCS lại chửi Trung Quốc là kẻ thù truyền kiếp, ghi hẳn điều đó vào HP. Còn khi Liên Xô và các chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Mông Cổ sụp đổ, ĐCSVN bơ vơ, bị cô lập hoàn toàn, thì nhóm chóp bu CSVN là Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng lại muối mặt bay đến Thành Đô (3-4.9.1990) hạ mình khuất phục Trung Cộng, chui đầu vào dây thòng lọng của Trung Cộng. Sau đó, CSVN lại tự nguyện quàng thêm vào đầu “vòng kim cô” “mười hai chữ vàng” của Giang Trạch Dân ban, mở đầu cho thời kỳ Bắc thuộc mới. Sở dĩ nhóm chóp bu của ĐCSVN phải quy phục như vậy là vì muốn cứu cái chế độ độc tài toàn trị của chúng, cứu cái địa vị thống trị của chúng trên đầu trên cổ người dân. Từ đó đến nay, nhóm cầm đầu ĐCSVN tiếp tục tự biến mình thành những tên “thái thú” nhượng đất, nhượng biển cho TQ; mặc cho Trung Cộng làm mưa là gió trên Biển Đông, cấm đoán, săn đuổi, đánh chìm tàu thuyền của ngư dân, bắn giết ngư dân; mặc cho Trung Cộng làm sân bay, củng cố công sự trên các đảo Việt Nam đã bị chúng chiếm; mặc cho chúng làm thêm những đảo nhân tạo… Còn trên đất liền thì sao? Bất chấp sự phản đối của các nhà trí thức và nhân dân, ĐCSVN cho Trung Quốc khai thác bô-xít ở Tây Nguyên, nơi xung yếu nhất của Tổ quốc, trên diện tích hàng chục nghìn hec-ta rừng, với hai nhà máy Tân Rai, tỉnh Lâm Đồng và Nhân Cơ, tỉnh Đak-Nông, với hàng nghìn công nhân, lao động Trung Quốc đang chiếm cứ ở đó. Gần 80% các công trình quan trọng trên cả nước Việt Nam đều do Trung Quốc trúng thầu xây dựng. Các tỉnh miền biên giới đã cho Trung Quốc thuê trên 300 nghìn hec-ta rừng đầu nguồn của 18 tỉnh phía Bắc trong 50 năm. Trung Quốc được phép lập nhiều khu dân cư nhiều nơi trên đất Việt Nam. Nền kinh tế Việt Nam bị Trung Quốc lũng đoạn nặng nề. Văn hóa Trung Quốc cũng xâm nhập sâu vào Việt Nam. Viện Khổng tử cũng đã khai trương tại Đại học Việt Nam. Một điều đáng chú ý nữa là gần đây một đoàn cán bộ cao trung cấp của Đảng đã đưa sang đào tạo ở Trung Quốc. Đó là chưa nói tới việc Trung Cộng còn tác động đến quyết định chọn lựa các nhân vật quan trọng trong cơ cấu Việt Nam mà nhiều người đã biết. Như vậy là với đường lối đối ngoại hiện nay, rõ ràng là nhóm cầm quyền trong ĐCSVN đã phản bội lại quyền lợi của Đất nước và Dân tộc Việt Nam.

Về đối nội cần nói rõ rằng, trong lúc khuất phục Trung Cộng thì nhóm cấm quyền ĐCSVN lại ra sức đàn áp những người yêu nước Việt Nam đứng lên đấu tranh đòi Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam; đàn áp các cuộc biểu tình tố cáo và phản đối những vi phạm bờ cõi và biển đảo Việt Nam, phản đối việc đưa giàn khoan dầu vào lãnh hải Việt Nam. Thậm chí việc đồng bào kính viếng các tử sĩ Việt Nam trong cuộc chiến Việt Trung 1979 cũng bị cấm cản, xua đuổi. Bộ mặt phản nước hại dân của nhóm cấm quyền ĐCSVN ngày càng rõ rệt.
Về đối nội, trong 40 năm kể từ khi cuộc chiến tranh Bắc – Nam chấm dứt, một thời gian dài với đường lối phiêu lưu, duy ý chí của tập đoàn Lê Duẩn, Đất nước đã phải trải qua những năm tháng vô cùng khốn khổ, dù Lê Duẩn luôn luôn huênh hoang hứa hẹn mọi điều tốt đẹp. Đến thời “đổi mới” có dễ chịu hơn một chút, kinh tế bắt đầu phát triển, nhưng ban lãnh đạo ĐCSVN vẫn bảo thủ, cứ khư khư giữ chặt địa vị của mình, chỉ đổi mới về kinh tế, mà nhất định không đổi mới về chính trị. Hơn nữa, đổi mới kinh tế mà Đảng lại cứ kiên trì cái phương châm trái khoáy: “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, cho nên dù có nhưng tiến bộ về kinh tế nhưng đà phát triển không mạnh làm cho sụ tụt hậu so với các nước láng giềng trong khu vực, như Singapore,Thái Lan, Indonesia, Malaysia, v.v… ngày càng lớn. Phải nói rằng ở Việt Nam chưa bao giờ nạn tham nhũng, cửa quyền trầm trọng và tràn lan như bây giờ. Từ trên xuống dưới hiện tượng tham nhũng rất phổ biến, nó làm cho nền kinh tế phải gánh chịu những thiệt hại nặng nề, đồng thời làm cho cuộc sống người dân càng thêm khó khăn. Đám cầm quyền luôn miệng nói tham nhũng đã trở thành quốc nạn, làm ra vẻ hò hét chống tham nhũng, dọa sẽ “hốt, hốt hết”, nhưng tham nhũng vẫn không hết mà càng nặng nề thêm. Vì sao? Vì cái chế độ cực quyền toàn trị không cho người dân cất tiếng nói, không cho báo chí được tự do ngôn luận, cho nên cái gọi là quyền lực thứ tư không thể nào phát huy tác dụng. Hơn nữa, dưới chế độ độc tài đảng trị, không có tam quyền phân lập, không có tư pháp độc lập nên không thể trừng phạt được những cán bộ đảng viên tham nhũng nắm giữ các địa vị cao. Biết bao nhiêu vụ bị tố cáo đều đã “chìm xuồng”, mà có nhiều trường hợp các nhà báo dũng cảm tố cáo thì lại vô tù.

Dưới chế độ toàn trị của ĐCS, quyền công dân cũng như quyền con người không hề được tôn trọng, người dân không cảm thấy mình là người chủ của Đất nước, trong lúc đó ĐCS lại o bế công an, cảnh sát, lại sử dụng bọn côn đồ trong việc đàn áp dân lành, biến công an, cảnh sát thành những kiêu binh, tha hồ nhũng nhiễu, hành hạ, đánh đập, tra tấn, thậm chí đánh chết người dân. Số người bị công an đánh chết, bị tật nguyền không phải là ít. Trong khi đó, tệ nạn xã hội, rượu chè, cờ bạc, xì ke ma túy, đĩ điếm lan rộng, chẳng những ở thành thị mà tràn lan đến cả vùng nông thôn. Đạo đức xã hội ngày càng băng hoại đến nỗi tiến sĩ Hà Sĩ Phu đã phải kêu lên: “Hãy nhìn vào thực tiễn xã hội: Có bao giờ người Việt Nam lại thờ ơ trước nguy cơ vong quốc, nguy cơ bị đồng hóa như bây giờ? Có bao giờ sự thờ ơ trước đau khổ của đồng loại, sự đâm chém, băm chặt nhau dễ dàng như cơm bữa, sự nhố nhăng mất gốc, sự phô bày thú tính, sự vênh váo rởm đời, sự hành hạ người yêu nước một cách ngang nhiên, sự nịnh bợ kẻ nội xâm và ngoại xâm… lại được tôn vinh trước thanh thiên bạch nhật như bây giờ? Có bao giờ sự thành thật thua sự giả dối, người lương thiện lại sợ kẻ gian manh, người yêu nước lại bị lép vế, bậc thức giả lại bị cười khinh, công lý lại bị nhạo báng một cách thảm hại như bây giờ?” Đấy, kết quả nhãn tiền của “đạo đức cộng sản” và việc “xây dựng con người mới, xã hội chủ nghĩa” của Hồ Chí Minh và ĐCSVN như thế đó.

Điểm thứ năm.

ĐCSVN là một đảng rất bảo thủ, thủ cựu, muôn năm vẫn nhìn thế giới, nhìn Đất nước và Dân tộc qua cái lăng kính Marx-Lenin quá cũ kỹ và lệch lạc. Chủ nghĩa Marx-Lenin mà loài người đã vứt vào sọt rác hàng mấy chục năm rồi, dân ở các nước vốn là nôi của chủ nghĩa đó đã vĩnh biệt nó từ lâu rồi, thế mà cho đến ngày nay, từ đại hội Đảng kỳ này qua kỳ khác vẫn lặp đi lặp lại mãi “phải kiên trì chủ nghĩa Marx-Lenin”. Nghe quá nhàm tai đến nỗi dân phải kêu lên “mãi mãi cái loa rè”, “già rồi đâm lú”. Buồn cười nhất là dưới thời TBT Đỗ Mười, ông ta vẫn nhai đi nhai lại “hai phe, bốn mâu thuẫn”, cái công thức từ đời xửa đời xưa CS dùng để nhận định tình hình thế giới. Nhóm cầm quyền trong Đảng cứ khư khư ôm cái cũ, không dám, và cũng không đủ trí tuệ, để nhận ra cái mới, cái năng động của mầm non, cái tương lai, để dám đi những bước sáng tạo. Cái thói quen của họ là bắt chước “hai ông anh”, cứ LX, TQ làm gì thì rập khuôn làm theo. Ban lãnh đạo, nhất là BCT, BBT già cả không có sức sống của tuổi trẻ để vươn tới trí tuệ, văn minh và tiến bộ, nên ĐCS mãi mãi lạc hậu, dù họ vênh vang tự cho mình là “đỉnh cao của trí tuệ loài người”. Nhìn vào thực tế thì thấy rõ ĐCSVN chống lại văn minh và tiến bộ, chống lại chế độ dân chủ đích thực. Thế mà có ai đề xuất cái mới thì BCT đã vội kêu lên “đổi mới, nhưng không được đổi mầu”. Đã thế, nội bộ ban lãnh đạo chóp bu luôn luôn gầm ghè lục đục nhau, cấu xé nhau, và mỗi người đều lợi dụng chức, quyền để trục lợi và tham nhũng!

Chỉ nêu lên năm điểm như thế thôi cũng đủ để mỗi người đảng viên còn có tấm lòng trong sáng vì nước vì dân, có tinh thần tự trọng hãy tự mình lựa chọn: ánh sáng hay bóng đêm, đức hạnh hay tội ác, dân chủ hay độc tài, văn minh, tiến bộ hay dã man, lạc hậu, vì Tổ quốc và Dân tộc hay vì một đảng, thậm chí một nhúm độc tài… Mỗi người sẽ tự hỏi và tự quyết định: có nên tiếp tục ở trong cái ĐCS này nữa không hay rời bỏ nó? Cái đảng khủng bố, gây chiến. Cái đảng phạm tội diệt chủng, phạm tội ác với loài người và với Dân tộc. Cái đảng gian dối, lừa gạt, lật lọng. Cái đảng trong 85 năm qua đã gieo rắc bao đau thương, tang tóc, khổ cực, tủi nhục cho mấy chục triệu con người. Cái đảng đang tham quyền cố vị, bám vào quyền lực để thống trị Dân tộc và Đất nước. Cái đảng đang thuần phục và rước kẻ thù vào nhà.

Ngày nay, ĐCSVN đang là khối u ác tính bám vào cơ thể Dân tộc, cơ thể Đất nước. Nếu không dũng cảm làm một cuộc phẫu thuật để vứt bỏ khối u đó đi mà để nó di căn thì Dân tộc và Đất nước chắc chắn sẽ mất vào tay Trung Cộng đầy tham vọng bành trướng. Lẽ nào người đảng viên còn có tấm lòng trong sáng yêu nước thương dân, có tinh thần tự trọng mà không dám rời bỏ cái đảng tội ác đã phản lại cuộc cách mạng ĐCS từng rêu rao và hứa hẹn?

Chính lúc này là lúc phải quyết định! Rời bỏ cái đảng mang tội ác với dân, với nước này sớm được ngày nào càng tốt ngày đó. Đừng có hy vọng là những kiến nghị hay ho, những đề nghị sáng suốt, những yêu cầu thiết tha của các trí thức, các cán bộ, đảng viên, các lão thành cách mạng, cũng như của nhân dân có thể chuyển hóa được được những cái đầu đã bê-tông hóa của đám cầm quyền vì cái đít của chúng quen ngồi ghế cao bao giờ cũng thích leo cao hơn nữa và bám chắc hơn nữa vào cái ghế của chúng. Đừng có hy vọng đại hội Đảng kỳ tới sẽ có thay đổi gì tốt đâu. Câu nói dân gian khi xem tuồng chèo: “Vô ra vẫn thằng cha lúc nãy!” Đại hội Đảng cũng chỉ là một lớp tuồng chèo, “vô ra vẫn thằng cha lúc nãy” thôi.

Chúng tôi rất thông cảm có nhiều bạn đang phân vân, ngập ngừng, do dự. Đó là điều rất tự nhiên trước một quyết định quan trọng. Nhưng khi đã dám quyết định bước ra khỏi cái đảng độc tài, dối trá, tham nhũng này rồi, thì các bạn sẽ thấy tâm hồn nhẹ nhõm, thoải mái lạ thường. “Vòng kim cô” trên đầu bạn sẽ biến mất lúc nào không hay. Việc đó sẽ mở ra một chân trời mới để bạn có thể cống hiến sức lực và trí tuệ của mình cho những công việc có ích cho Tổ quốc và Dân tộc. Tin chắc rằng những người dũng cảm, như các anh Nguyễn Chí Đức, Phạm Đình Trọng và nhiều người khác… đã ra khỏi ĐCSVN cảm thấy thấy nhẹ nhàng, rất thoải mái, vì bây giờ các anh đã thực sự là những con người tự do.

6.2.2015
© Nguyễn Minh Cần
© Đàn Chim Việt

  Kinh Nghiệm Hòa Giải Quốc Cộng
  

Kinh Nghiệm Hòa Giải Quốc Cộng


Vào cuối tháng Tư vừa qua, trong và ngoài nước xuất hiện một số bài báo đề cập đến vấn đề hòa giải quốc cộng sau khi chiến tranh đã kết thúc 40 năm. Chuyện nầy chẳng có gì mới mẻ, cũng đã từng diễn ra năm 1945. Vì vậy, xin hãy cùng nhau ôn lại chuyện hòa giải quốc cộng 70 năm trước để rút kinh nghiệm cho tương lai.

Cách đây 70 năm, mặt trận Việt Minh (VM) thuộc đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD) cướp được chính quyền. (Nhóm chữ “cướp chính quyền” là chữ do cộng sản đưa ra.) Ngày 2-9-1945, Hồ Chí Minh, lãnh tụ của đảng CSĐD, tuyên bố độc lập và ra mắt chính phủ lâm thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Gần 10 ngày sau, Trung ương đảng CSĐD họp tại Hà Nội ngày 11-9-1945 đưa ra nguyên tắc căn bản là đảng CSĐD nắm độc quyền điều khiển mặt trận VM và một mình thực hiện cách mạng. (Philippe Devillers, Histoire du Viêt-Nam de 1940 à 1952, Editions Du Seuil, Paris 1952, tr. 143.) Đảng CSĐD nắm độc quyền VM, mà VM đang nắm chính quyền, cai trị đất nước; nghĩa là đảng CSĐD độc quyền cai trị đất nước.

Dầu Hồ Chí Minh, VM và đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD) quyết ra tay nhanh chóng để tạo ra tình trạng chính trị đã rồi, nhưng các cường quốc không thừa nhận chính phủ Hồ Chí Minh và vẫn thi hành giải pháp do tối hậu thư Potsdam đưa ra ngày 26-7-1945, theo đó việc giải giới quân đội Nhật tại Đông Dương ở bắc vĩ tuyến 16 do quân đội Trung Hoa (Quốc Dân Đảng) phụ trách và ở nam vĩ tuyến 16 do quân Anh phụ trách. Giải pháp nầy không đề cập đến việc sau khi quân đội Nhật bị giải giới, ai sẽ cai trị Đông Dương, tạo ra một khoảng trống chính trị và hành chánh ở Đông Dương.

VIỆT MINH CỘNG SẢN GẶP KHÓ KHĂN

Khoảng 200,000 quân Trung Hoa do các tướng Lư Hán và Tiêu Văn lãnh đạo tiến vào Hà Nội từ giữa tháng 9-1945. Cũng trong thời gian nầy, quân Anh đến Sài Gòn do tướng Douglas Gracey chỉ huy. Nhờ sự giúp đỡ của người Anh, vào đầu tháng 10-1945, quân Pháp do tướng Leclerc cầm đầu đổ bộ khá đông ở Nam Kỳ và uy hiếp các lực lượng VM.

Tại miền Nam, VM rất lúng túng trước việc quân Pháp càng ngày càng mở rộng vùng kiểm soát, dồn VM vào thế co cụm và lẫn tránh vào các vùng bưng biền. Tại miền Bắc, Hồ Chí Minh và mặt trận VM cũng khó khăn không kém, gặp ba áp lực cùng một lúc. Đó là: 1) Theo tối hậu thư Potsdam, 200,000 quân Trung Hoa vào Việt Nam giữa tháng 9-1945. 2) Các lãnh tụ Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội (Việt Cách) và Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ) từ Trung Hoa trở về Việt Nam sau thế chiến thứ hai, quyết liệt chống đối Hồ Chí Minh và mặt trận VM. 3) Sau khi tái chiếm miền Nam, người Pháp tiến quân từ nam ra bắc, dự tính tái chiếm toàn bộ Đông Dương. Lúc đó, VM chỉ có khoảng từ 2,000 đến 5,000 đảng viên cộng sản. (Philippe Devillers, sđd. tr. 182.)

Khi mới nổi lên cướp chính quyền, Hồ Chí Minh và VM cộng sản đã giết nhiều người không theo VM như đảng viên các đảng phái ở Hà Nội, nhóm bảo hoàng ở Huế, nhóm Đệ tứ quốc tế ở Sài Gòn… Nay vì khó khăn mới, Hồ Chí Minh và VM thực hiện một kế hoạch hai mặt. Bề ngoài, VM tỏ ra hòa hoãn, nói chuyện với tất cả các phe phái, kêu gọi lòng yêu nước, đoàn kết và liên hiệp để cùng nhau chống ngoại xâm. Bề trong, VM thực hiện các cuộc khủng bố ngầm, thủ tiêu lẻ tẻ những địch thủ chính trị và đe dọa những ai không theo VM.

Khi cùng với Tiêu Văn, từ Quảng Châu về Việt Nam, Nguyễn Hải Thần, lãnh tụ Việt Cách, liên lạc và hội họp với Jean Sainteny, đại diện Pháp ở Bắc Kỳ ngày 12-10 và 15-10-1945 tại Hà Nội, để thảo luận về tương lai chính trị Bắc Kỳ. Thấy thế, ngày 23-10-1945, Hồ Chí Minh liền mời Nguyễn Hải Thần họp tay đôi giữa hai bên, và ký thỏa thuận hợp tác giữa VM và Việt Cách.

Để gây lòng tin nơi các đảng phái theo chủ nghĩa dân tộc, nhất là các tướng lãnh Trung Hoa Quốc Dân Đảng đang có mặt ở Hà Nội, Hồ Chí Minh tuyên bố giải tán đảng CSĐD ngày 11-11-1945 và thành lập Hội Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mã Khắc Tư [Mác-xít] do Trường Chinh (Đặng Xuân Khu) làm tổng thư ký. Tuy vậy, theo lời Hồ Chí Minh “dù là bí mật, đảng [CSĐD] vẫn lãnh đạo chính quyền và nhân dân.” (Hồ Chí Minh toàn tập, [tập 6], xuất bản lần thứ hai, Hà Nội: Nxb. Chính Trị Quốc Gia, 2000, tr. 161.)

Trong khi đó, ngày 6-11-1945, Vũ Hồng Khanh, lãnh tụ VNQDĐ về lại Hà Nội. Ngày 8-11-1945 Nguyễn Hải Thần đòi thành lập một chính phủ liên hiệp. Đòi hỏi nầy phù hợp với ý muốn của các tướng lãnh Trung Hoa vì trước khi Lư Hán qua Việt Nam, Hoa Kỳ gây ảnh hưởng để Tưởng Giới Thạch bắt tay với Mao Trạch Đông. (T.E. Vadney, The World Since 1945, London: Penguin Books, 1987, tr. 121.) Ngày 14-8-1945, chính phủ Tưởng Giới Thạch ký hiệp ước thân hữu với Liên Xô. (Trevor N. Dupuy, Curt Johnson và David L. Bongard, The Harper Encyclopedia of Military History, New York: HarperCollins, 1993, tr. 1423.) Do đó, chính phủ và các tướng lãnh Trung Hoa, vừa ủng hộ các nhà lãnh đạo Việt Nam theo chủ nghĩa dân tộc, vừa muốn Việt Nam theo công thức quốc cộng liên hiệp như Trung Hoa, nên họ áp lực cả hai phía ngồi lại với nhau. Các tướng lãnh Trung Hoa còn muốn giải quyết cho xong vấn đề Việt Nam để rút quân về ứng phó với tình hình Trung Hoa.

Lúc đó, ở Việt Nam lãnh tụ các đảng phái theo chủ nghĩa dân tộc và các nhà trí thức yêu nước không phải là không biết về lai lịch Hồ Chí Minh, và cũng không phải không có những nghi ngờ đối với VM cộng sản. Tuy nhiên, các đảng phái quốc gia ở thế chẳng đặng đừng, phải gia nhập chính phủ liên hiệp, vì đã chậm chân để cho VM chiếm được chính quyền trước; nay muốn tranh đấu giành lại chính quyền khỏi tay VM, thì phải chấp nhận ngồi lại tranh đấu chính trị.

CHÍNH PHỦ LIÊN HIỆP


Ngày 23-12-1945, đại diện của VM, Việt Cách và VNQDĐ cùng họp tại số 40 đại lộ Gia Long (Hà Nội), dưới sự chủ tọa của tướng Tiêu Văn, ký thỏa thuận gọi là HỢP TÁC TINH THÀNH, gồm 18 điểm, đại khái là: Từ ngày 1-1-1946, một chính phủ liên hiệp sẽ được thành lập do Hồ Chí Minh làm chủ tịch, Nguyễn Hải Thần làm phó chủ tịch. Nội các gồm VM (2 ghế), Việt Cách (2 ghế), QDĐ (2 ghế), Dân Chủ (2 ghế), độc lập (2 ghế). Quốc hội sẽ được tổ chức bầu cử ngày 6-1-1946. QDĐ giữ 50 ghế, Việt Cách 20 ghế. Các đảng cam kết không gây hấn với nhau. (Chính Đạo, Việt Nam niên biểu, tập A, Houston: Nxb. Văn Hóa: 1996, tr. 293.)

Ngày 26-12-1945, báo chí Hà Nội đăng thông cáo chung của Hồ Chí Minh, Nguyễn Hải Thần và Vũ Hồng Khanh, nguyên văn như sau:

Ngày 24-12-1945, chúng tôi là Hồ Chí Minh, Nguyễn Hải Thần và Vũ Hồng Khanh thay mặt cho Việt Minh, Quốc Dân Đảng và Cách mệnh Đồng Minh Hội, cùng ký tên công nhận những điều ước sau đây:

1. Độc lập trên hết, đoàn kết trên hết. Căn cứ vào thái độ thân ái, tinh thành, cùng nhau thảo luận để giải quyết hết thẩy những vấn đề khó khăn trước mắt. Ai dùng ngang vũ lực gây nên những cuộc nội loạn sẽ bị quốc dân ruồng bỏ.

2. Kể từ ngày 25-12-1945, đôi bên phải ủng hộ một cách thiết thực cuộc tổng tuyển cử, quốc hội và kháng chiến.

3. Bắt đầu từ ngày 25-12-1945, đôi bên đều đình chỉ hết thẩy những việc công kích nhau bằng ngôn luận và bằng hành động.

Ký tên: Hồ Chí Minh, Nguyễn Hải Thần và Vũ Hồng Khanh. (Chính Đạo, sđd. tr. 294.)

Từ đó, CHÍNH PHỦ LIÊN HIỆP ra đời tại Hà Nội ngày 1-1-1946, do Hồ Chí Minh làm chủ tịch, Nguyễn Hải Thần phó chủ tịch, với đa số đảng viên cộng sản, thân cộng sản (cộng sản trá hình) và một số đảng viên các đảng phái khác làm bộ trưởng. Đồng thời một Hội đồng Quốc phòng được lập ra do Võ Nguyên Giáp làm chủ tịch và Vũ Hồng Khanh giữ chức phó chủ tịch. (Đây là chính phủ liên hiệp quốc cộng đầu tiên sau năm 1945.)

Theo thỏa thuận “hợp tác tinh thành”, cuộc bầu cử quốc hội đầu tiên ở Việt Nam được tổ chức ngày 6-1-1946 trên toàn quốc, gồm tổng cộng 333 ghế. Hồ Chí Minh đắc cử ở Hà Nội. Cựu hoàng Bảo Đại không ký đơn ứng cử, mà vẫn đắc cử ở Thanh Hóa. (Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, California: Nxb. Xuân Thu, 1990, tr. 222.)

Tuy quốc hội lập hiến đã được bầu xong, nhưng các đảng phái không cộng sản tiếp tục phản đối mạnh, vì trong cuộc bầu cử nầy, số người đắc cử không ngoài các lãnh tụ VM, những người thân VM, hoặc những người do VM chọn, như trường hợp cựu hoàng Bảo Đại. Lúc đó, VM buộc phải mở rộng quốc hội, thêm 70 đại biểu cho Việt Cách và QDĐ từ nước ngoài trở về, không thông qua bầu cử, như đã quy định trong cuộc họp ngày 23-12-1945. Như thế, tổng số đại biểu lên đến 403 người.

Sau đây là lời sử gia Trần Trọng Kim mô tả cuộc bầu cử: “Khi ấy tôi đã về ở Hà Nội rồi, thấy cuộc tuyển cử rất kỳ cục. Mỗi chỗ để bỏ phiếu, có một người của Việt Minh trông coi, họ gọi hết cả đàn ông, đàn bà đến bỏ phiếu, ai không biết chữ thì họ viết thay cho. Việt Minh đưa ra những bản kê tên những người họ đã định trước, rồi đọc những tên ấy lên và hỏi anh hay chị bầu cho ai? Người nào vô ý bầu cho một người nào khác, thì họ quát lên; “Sao không bầu cho những người này? Có phải phản đối không?” Người kia sợ mất vía nói: “Anh bảo tôi bầu cho ai, tôi xin bầu người ấy.” Cách cưỡng bách ra mặt như thế, lẽ dĩ nhiên những người Việt Minh đưa ra được đến tám chín mươi phần trăm số người đi bầu.” (Lệ Thần Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Sài Gòn: Nxb. Vĩnh Sơn, 1969, tr. 103.)

Quốc hội lập hiến họp kỳ thứ nhứt ngày 2-3-1946, cử ra CHÍNH PHỦ LIÊN HIỆP KHÁNG CHIẾN, do cựu hoàng Bảo Đại, nay là công dân Vĩnh Thụy làm cố vấn tối cao, và các chức vụ quan trọng là Hồ Chí Minh (chủ tịch), Nguyễn Hải Thần (phó chủ tịch), Huỳnh Thúc Kháng (bộ trưởng Nội vụ), Nguyễn Tường Tam (bộ trưởng Ngoại giao), Phan Anh (bộ trưởng Quốc phòng). Đa số còn lại là bộ trưởng VM (cộng sản) và một số ít các đảng phái khác. Quân sự ủy viên hội vẫn là hai nhân vật chính là Võ Nguyên Giáp và Vũ Hồng Khanh. (Đây là chính phủ liên hiệp quốc cộng lần thứ hai sau 1945.)

Sử gia Trần Trọng Kim kể về hoạt động của chính phủ liên hiệp: “Khi tôi còn ở Hà Nội, cụ Huỳnh Thúc Kháng ra nhận chức bộ trưởng bộ nội vụ, có đến thăm tôi. Ngồi nói chuyện, tôi hỏi: “Cụ nay đứng đầu một bộ rất quan trọng trong chính phủ, chắc là bận việc lắm”. Cụ Huỳnh nói: “Bây giờ việc gì cũng do địa phương tự trị cả, thành ra không có việc gì mấy, và khi có việc gì, thì họ làm sẵn xong cả rồi, tôi chỉ có vài chữ ký mà thôi”. Những khi có hội đồng chính phủ thì bàn định những gì? “Cũng chưa thấy có việc gì, thường thì họ đem những việc họ đã làm, rồi nói cho chúng tôi biết”. Xem như thế thì các ông bộ trưởng chỉ đứng để làm vị mà thôi, chứ không có quyết định gì cả. Có người hỏi ông Nguyễn Tường Tam rằng: “Khi ông nhận chức bộ trưởng bộ ngoại giao, ông thấy có việc gì quan trọng lắm không?” Ông trả lời: “Tất cả giấy má trong bộ ngoại giao của cụ Hồ giao lại cho tôi, tôi chỉ thấy có ba lá đơn của mấy người sĩ quan Tàu nhờ tìm cho mấy cái nhà, và tìm cái ví đựng tiền bị kẻ cắp lấy mất”. Câu chuyện có thể là ông Tam nói khôi hài, nhưng đủ rõ việc các ông bộ trưởng không có gì. Tôi đem câu chuyện đó nói ra đây để chứng thực là các bộ trưởng chỉ giữ hư vị chứ không có thực quyền. Cái thực quyền trong chính phủ lúc ấy là ở mấy người như ông Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp và ở tổng bộ cộng sản điều khiển hết cả.” (Lệ Thần Trần Trọng Kim, sđd. tr. 110.)

Cần chú ý là lúc đó VM đang gặp khó khăn: Khoảng 200,000 quân QDĐ Trung Hoa chưa về nước sau lễ đầu hàng của quân đội Nhật ngày 28-9-1945. Quân đội Pháp chiếm được toàn bộ Nam Kỳ đang từ Nam Kỳ tiến ra Trung Kỳ và đe dọa Bắc Kỳ. Vì vậy, Hồ Chí Minh và VM mới nhượng bộ các đảng phái theo chủ nghĩa dân tộc, tổ chức bầu cử quốc hội, soạn thảo hiến pháp, để tạm ổn việc nội bộ nhằm rảnh tay giải quyết công việc ngoại giao.

KẾT QUẢ

Nhờ kế hoạch “hợp tác tinh thành” và liên hiệp với các đảng phái đối lập, Hồ Chí Minh và VM tạm ổn định tình hình nội bộ, quay qua vận động ngoại giao, ký với đại diện Pháp thỏa ước Sơ bộ ngày 6-3-1946 tại Hà Nội, rồi Tạm ước (Modus Vivendi) ngày 14-9-1946 tại Paris, hợp thức hóa việc Pháp trở lại Đông Dương và tái thiết lập lại toàn bộ các cơ sở Pháp tại Việt Nam.

Trong khi tạm ổn về ngoại giao, VM quay qua tấn công các thành phần đối lập. Nguyễn Hải Thần âm thầm bỏ qua Trung Hoa. (Hoàng Cơ Thụy, Việt sử khảo luận, cuốn 4, Paris: Nxb. Nam Á, 2002, tr. 2092.) Huỳnh Thúc Kháng được cử lên thay làm phó chủ tịch nước.

Hồ Chí Minh qua Pháp theo phái đoàn tham dự Hội nghị Fontainebleau, rời Hà Nội ngày 31-5-1946. Hồ Chí Minh cử Huỳnh Thúc Kháng làm quyền chủ tịch nước. Nhân cơ hội Hồ Chí Minh đang còn ở Pháp, tức không có mặt ở Việt Nam, VM cộng sản mở cuộc đại khủng bố các thành phần đối lập nhằm chứng tỏ rằng Hồ Chí Minh là kẻ ngoại phạm, không liên can trong các vụ nầy.

Để có lý do tấn công VNQDĐ, Võ Nguyên Giáp, chủ tịch Quân sự uỷ viên hội, lấy cớ rằng có tin mật báo đặc vụ QDĐ âm mưu sẽ tấn công và ám sát các nhân viên chính phủ trong dịp tham dự lễ duyệt binh do Pháp tổ chức tại Hà Nội nhân ngày quốc khánh Pháp (14-7-1946), nên ngày 13-7-1946, Võ Nguyên Giáp cho người lục soát trụ sở của VNQDĐ ở số 9 phố (đường) Ôn Như Hầu ở Hà Nội.

Trụ sở nầy vốn của quân đội Nhật Bản giao lại cho quân đội Trung Hoa; rồi được chuyển cho QDĐ sử dụng. Quốc Dân Đảng sử dụng số 9 phố Ôn Như Hầu làm trụ sở của ban Tuyên huấn Đệ thất khu Đảng bộ của VNQDĐ. Việt Minh dùng võ lực, bất ngờ tràn vào nhà, bắt tất cả những đảng viên QDĐ có mặt hôm đó tại trụ sở, tịch thâu một số giấy tờ quan trọng, trong đó theo lời VM, có “kế hoạch đảo chính” chính phủ Hồ Chí Minh. Việt Minh cho rằng đã tìm thấy trong khu vực nhà nầy một số xác người, và lập biên bản kết tội QDĐ tổ chức “hắc điếm” để bắt cóc, giết người, tống tiền, cướp của. (Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, tái bản kỳ 2, Sài Gòn, 1970, tt. 322-324.) Tiếp tục tại Hà Nội, tối hôm 20-10-1946, công an xung phong VM trang bị súng ống, tiến vào tòa soạn nhật báo Việt Nam, tại số 80 phố [đường] Quan Thánh (Grand Bouddha cũ), Hà Nội. Nhật báo nầy do VNQDĐ lập ra vào cuối năm 1945, và do nhà văn Khái Hưng phụ trách. Sau khi lục soát toàn bộ khu nhà, phá hoại máy móc, VM bắt khoảng 20 người có mặt trong tòa báo về ty công an ở đường Trần Hưng Đạo (Gambetta cũ).

Việt Minh lùng bắt đảng viên QDĐ và Việt Cách. Báo Cứu Quốc của VM ngày 1-11-1946 loan báo đã bắt hơn 300 người vào ngày 29-10-1946, đa số bị đưa đi an trí. Đại đa số những người bị VM đưa đi an trí, nếu không trốn thoát, đều bị VM thủ tiêu luôn, nhứt là khi chiến tranh Việt Pháp bùng nổ ngày 19-12-1946.

Trong khi đó, sau biến cố “Ôn Như Hầu” (13-7-1946), nhiều đảng viên QDĐ lui vào hoạt động bí mật và nhất là rút lên các chiến khu tiếp tục chiến đấu. Để tấn công QDĐ, Võ Nguyên Giáp dựa vào kết luận trong biên bản vụ Ôn Như Hầu do VM lập ra, cho rằng QDĐ tổ chức “hắc điếm”, để ra lệnh cho Vệ quốc đoàn VM tổng tấn công bảy chiến khu của QDĐ trên toàn quốc.

Trong các vụ tấn công QDĐ, nghiêm trọng nhứt là vụ “Cầu Chiêm Sơn” ở Quảng Nam vào cuối tháng 7-1946. Chiêm Sơn ở xã Phú Tân (nay là xã Điện Quang, Gò Nổi), huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Tàu hỏa chạy từ Đà Nẵng vào nam, qua cầu Kỳ Lam, vào cù lao Gò Nổi (tên chữ là Phù Kỳ, ở Điện Bàn), và rời Gò Nổi bằng cầu Chiêm Sơn, đi qua Trà Kiệu. Vào cuối tháng 7-1946, nhân một chuyến xe lửa chuyên chở võ khí vào nam, ngang qua cầu Chiêm Sơn, đoàn xe dừng lại vì có lửa đốt báo động nguy hiểm. Theo lời khai của tài xế lái tàu, ông ta phát hiện rằng có kẻ tháo bù-lon để làm sập cầu Chiêm Sơn (?). Việt Minh hô lên rằng QDĐ chủ mưu việc nầy, liền bắt Phan Bá Lân, bí thư kiêm phó chủ nhiệm tỉnh đảng bộ QDĐ Quảng Nam, và một số lãnh tụ QDĐ địa phương như Phan Ngô, Huỳnh Hòa, Phan Thiệp… Các ông bị tra tấn tàn bạo, nhưng chẳng có ai chịu nhận tội.

Tiếp đó, VM ra lệnh khủng bố, lùng bắt và thủ tiêu đảng viên QDĐ các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, và Bình Định, nhất là những tổ chức cơ sở QDĐ ở các huyện. Trong vụ nầy, QDĐ Quảng Nam bị thiệt hại nặng nhất. Việt Minh bắt đảng viên QDĐ bỏ vào bao bố, rồi thả trôi sông. Lúc đó, người dân đi qua cầu Câu Lâu (trên sông Thu Bồn) ở Điện Bàn, thấy nhiều bao bố nổi lềnh bềnh trên mặt nước.

Khi chiến tranh Việt Minh với Pháp bùng nổ tối 19-12-1945, VM lại lợi dụng tình trạng chiến tranh, tiếp tục tiêu diệt những thành phần đối lập như Trương Tử Anh, Lý Đông A, nhà văn Khái Hưng Trần Khánh Giư. Tại Nam Kỳ, VM bắt và đem đi mất tích ngày 16-4-1947 một nhân vật quan trọng là Đức Huỳnh Phú Sổ, người khai sáng đạo Phật Giáo Hòa Hảo.

Từ khi nắm quyền, với chủ trương “giết tiềm lực”, VM không phải chỉ giết hại những thành phần nổi tiếng ở thành phố, mà VM còn giết hại, thủ tiêu những người bất đồng chánh kiến ở tất cả các cấp, xuống tận các làng xã và vùng rừng núi xa xôi. Bất cứ ai, lỡ phát biểu một ý kiến bất đồng nhỏ, cũng bị giết. Tất cả đã gây nên tình trạng khủng bố rùng rợn chung trên toàn quốc trong giai đoạn nầy.

KẾT LUẬN

Những diễn tiến trong cuộc hòa giải và liên hiệp năm 1945 cho thấy các điểm sau đây: 1) Khi gặp thời, thế lực mạnh mẽ, thì CS độc quyền chính trị, độc quyền cai trị đất nước. (Nghị quyết ngày 11-9-1945 của Trung ương đảng CSĐD tại Hà Nội.) 2) Khi yếu thế, gặp trở ngại, khó khăn, CS kêu gọi lòng yêu nước, đoàn kết, hòa giải, liên hiệp với các đảng phái theo chủ nghĩa dân tộc, thậm chí còn giả vờ giải tán đảng CSĐD. (Hợp tác tinh thành và chính phủ liên hiệp.) 3) Sau khi hòa giải, liên hiệp để thoát khỏi hoạn nạn, nắm được quyền lực, thì CS quay lại độc quyền chính trị, thẳng tay tiêu diệt tất cả những ai bất đồng chính kiến, kể cả những người đã từng hòa hợp hòa giải với cộng sản. (Vụ án Ôn Như Hầu, vụ cầu Chiêm Sơn, các vụ thủ tiêu trên toàn quốc.) Như thế rõ ràng KINH NGHIỆM LỊCH SỬ NĂM 1945 CHO THẤY HÒA GIẢI VÀ LIÊN HIỆP VỚI CỘNG SẢN LÀ TỰ SÁT.

Vậy ngày nay, người Việt nghĩ sao về chuyện hòa giải hòa hợp lần nữa với cộng sản Việt Nam trong khi điều 4 Hiến pháp năm 1992 vẫn còn đó và chi phối toàn bộ sinh hoạt trong nước?

TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, 12-5-2015)

Chuyện Ba Sàm & Bản Cáo Trạng Của V.K.S.N.D

Blog RFA

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

20-05-2015

“Tôi thấy chính sách thông tin như hiện nay, ta chỉ từ thua đến thua”. Nguyễn Công Khế

Cái gì chớ sách sử là tui né, và né tới cùng. Đọc chán thấy mẹ!

Né của nào, Trời trao của đó. Khi khổng khi không (cái) chị Trương Anh Thụy, người phụ trách nhà xuất bản Cành Nam, gửi cho một thùng sách to đùng. Nó nặng đến độ mà con mẹ đưa thư phải ôm bằng cả hai tay, chân đá cửa rầm rầm, vừa đá vừa lầu bầu văng tục chửi thề tá lả.

Tôi thì hớn hở tưởng rằng (dám) có người gửi cho thùng rượu. Thiệt là tưởng bở, và tưởng năng thối!

Mở ra (ôi thôi) ngoài mấy cuốn Những Lời Trăng Trối, vừa tái bản, của Trần Đức Thảo là “nguyên” một bộ sách (Nhìn Lại Sử Việt) của Lê Mạnh Hùng. Cả bộ dám gần chục cuốn, cuốn nào cũng khoảng 500 – 300 trăm trang. Ngó mà thiếu điều muốn … xỉu!

Và hình như tôi cũng đã ngất đi một lúc khá lâu vì đang bị cúm nên hơi mệt. Mở mắt ra, người ngợm rã rời, chả thiết bò dậy nữa. Tôi bật TV nằm xem cho đến khi chán rồi vớ đại một cuốn đọc chơi, và tin chắc rằng – chỉ vài phút thôi – là mình sẽ tiếp tục ngủ luôn cho tới mốt.

Vậy mà tôi đọc một mạch gần hết tập IV, tập viết về “Nhà Nguyễn Gia Miêu: Từ Gia Long Đến Cách Mạng 19/8.” Theo lời giới thiệu của NXB thì bộ thông sử Việt Nam của Tiến Sĩ Lê Mạnh Hùng “vừa cập nhật vừa đạt những tiêu chuẩn gắt gao nhất của sử học hiện đại.”

Bà nội mẹ tui cũng không biết “tiêu chuẩn gắt gao nhất của sử học hiện đại” nó “gắt gao” ra sao (và “gắt” tới cỡ nào lận) nhưng viết sử mà thứ thường dân vớ vẩn như tui đọc cũng thấy hấp dẫn là “hay” quá xá rồi.

Ông Lê Mạnh Hùng không cường điệu, không khoe khoang kiến thức, rất ít tư kiến, và hoàn toàn không có cái vụ … bình lọan hay bình sảng! Lâu lâu, ổng mới bình thản “chêm” thêm một câu ngăn ngắn rất thâm trầm và rất đáng đồng tiền bát gạo.

Riêng ở chương 17, tiểu mục 17.2 – viết về “Các đảng phái chính trị tiền phong của giai đoạn mới (1923-1927) – Lê Mạnh Hùng ghi nhận một số những sự kiện rất thú vị, xin được tóm lược:

“Trong lúc những người lưu vong bên ngoài tìm một con đường mới cho cách mạng Việt Nam qua Tâm Tâm Xã thì bên trong nước cũng xuất hiện một số đảng phái chính trị xã hội trong nước.

Đảng chính trị đầu tiên là Đảng Lập Hiến của Bùi Quang Chiêu. Đảng này có thể được coi như là đại biểu của tầng lớp đại địa chủ Pháp hóa tại miền Nam. Mục tiêu chính của Đảng này không phải là giành độc lập cho Việt Nam mà có tính cách khiêm tốn hơn: đó là đấu tranh để chính quyền Pháp phải cải cách đường lối cai trị, ban hành một số quyền tự do dân chủ và đôi xử với người Việt ngang hàng như đối với người Pháp…

Sau Đảng Lập Hiến, một số đảng khác cũng xuất hiện. Khác với Đảng Lập Hiến, các đảng sau này phần lớn có mục tiêu đấu tranh giành độc lập cho đất nước chứ không phải chỉ đòi thêm quyền lợi cho người Việt…

Đảng đầu tiên thành lập có tính cách chính trị là Việt Nam Nghĩa Đoàn mà sáng lập viên bao gồm một số những người hoạt động tích cực lúc bấy giờ như Nguyễn Văn Phùng, Tôn Quang Phiệt, Đặng Thái Mai, Phạm Thiều, Nguyễn Quốc Túy, Trần Thiệu Ngũ, Nguyễn Văn Ngọc v.v…

Sau Việt Nam Nghĩa Đoàn là Hội Phục Việt được thành lập từ những người hoạt động cũ trong phong trào Duy Tân bị bắt và nhốt chung với nhau trong nhà tù Côn Đảo…

Cũng trong giai đoạn này tại Hà Nội, Nam Đồng Thư Xã xuất hiện. Được thành lập cuối năm 1925 bởi một nhóm giáo viên và tiểu thương trong đó quan trọng nhất là Phạm Tuấn Tài, Phạm Tuấn Lâm em của ông Phạm Hoàng Trân (tức Nhượng Tống), Nam Đồng Thư Xã có mục tiêu vừa thương mãi vừa chính trị…

Trong lúc Hội Phục Việt và Nam Đồng Thư Xã hoạt động ở Bắc và Trung Kỳ thì ở Nam Kỳ nhóm Jeune Annam hay đảng Thanh Niên được thành lập vào năm 1926. Khác với tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ nơi mà sự đàn áp của Pháp và Nam Triều gay gắt hơn, tại Nam Kỳ vì là một thuộc địa các quyền tự do có được bảo đảm hơn thành ra đảng thanh niên này có thể hoạt động một cách công khai mặc dầu không được chính quyền công nhận… (Lê Mạnh Hùng. Nhìn Lại Sử Việt. Vol. 4. Arlington, VA: Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ, 2013. 5 vols.).

Chèng ơi! Sao đất nước còn bị đô hộ mà hội đoàn, đảng phái xuất hiện công khai, và tùm lum (khắp nơi) vậy cà? Thảo nào mà ông Nguyễn Chí Thiện, đã có lúc, phải la làng:

Ôi, thằng Tây mà trước kia người dân không tiếc máu xương đánh đuổi
Nay họ xót xa luyến tiếc vô chừng
Nhờ vuốt nanh của lũ thú rừng
Mà bàn tay tên cai trị thực dân hóa ra êm ả!

Sống với “lũ thú rừng” thì miễn có vụ hội đoàn và đảng phái, đã đành, chỉ lập vài trang mạng thôi mà cũng đã phải đi tù cả nút. Ngày 6 tháng 2 năm 2015, Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao cho phổ biến bản Cáo Trạng quyết định truy tố ông Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy ra trước Tòa án NDTP Hà Nội theo khoản 2, Điều 258.

Bản cáo trạng này gồm 8 trang, với rất nhiều chi tiết thừa thãi nên đã được blogger Người Buôn Gió “cô đọng” như sau:

– 3 trang đầu miêu tả việc các đối tượng lập blog, lập trang mạng, đây là việc quá bình thường trong một đất nước đang có hàng chục triệu ngươi sử dụng mạng internet. Việc liệt kê quá trình lập blog, bảo mật, đăng ký sử dụng mạng, lập thư điện tử….bất kỳ ai lên mạng đều làm như vậy. Có gì mà phải vẽ ra đến 3 trang như ly kỳ, âm mưu toan tính, hiểm hóc ?

– 2 trang chỉ liệt kê tên của các bài viết, chỉ liệt kê đúng cái tiêu đề.

– 2 trang nêu lý lịch bị cáo.

– 1/2 trang kết luận.

– 1/ 4 trang của bản cáo trạng liệt kê lượng người đọc, còm men.

– Chỉ có 1/4 trang trong 8 trang cáo trạng có vẻ đúng nghĩa bản cáo trạng, nhưng đó là kết luận giám định của bộ thông tin và truyền thông khẳng định các bài viết mà hai bị cáo đưa lên là xuyên tạc đường lối của Đảng, bôi nhọ cá nhân, xâm phạm lợi ích cá nhân tổ chức… còn xâm phạm thế nào, thiệt hại ra sao, cá nhân nào bị thiệt hại… không thấy nói đến.

Cả cái bản cáo trạng lẫn kết luận hồ sơ của Bộ Công An, Viện Kiểm Sát tối cao mà chỉ kể lể dài dòng chuyện lý lịch, việc đăng ký sử dụng mạng, lập hòm thư rồi nêu tên các bài viết. Sau đó ngắn gọn nói rằng giám định Bộ Thông Tin Truyền Thông nói là có tội, thế là thành có tội mang ra xử. Không thấy phân tích chứng cứ, lập luận khoa học kết tội. Rặt áp đặt chủ quan, cảm tính. Một bản cáo trạng và kết luận hồ sơ như vậy thì cần gì hai cơ quan tố tụng lớn nhất đất nước phải dùng sạch bách thậm chí quá hạn điều tra mới viết ra được.

Và tại sao Bộ Công An có cơ quan an ninh văn hoá không giám định các bài viết mà để cho một cơ quan dân sự, không liên quan gì đến việc tố tụng đứng ra giám định và kết luận việc có tội hay không có tội.

Xét về mạnh cạnh tranh độc giả, thì chính các bị cáo là đối thủ cạnh tranh với bộ Thông Tin Truyền Thông trong việc chiếm lĩnh thị trường thông tin.

Vậy vụ án này thật khôi hài và bỉ ổi. Kẻ được nêu tên là bị hại thì chính là kẻ khởi tố, điều tra vụ án. Đối thủ cạnh tranh thị trường lại được mời làm giám định thiệt hại, kết luận có tội. Một vụ án được những kẻ tham gia tố tụng như vậy trông mong gì minh bạch.

Cá nhân tôi không mong gì chuyện “minh bạch” trong vụ án này, hoặc bất cứ một vụ án nào, ở nước C.H.X.H.C.N Việt Nam. Tôi cũng không có máu “khôi hài” nên không nhìn ra những khía cạnh “riễu cợt” trong bản cáo trạng thượng dẫn.

Tôi chỉ thấy cách luận tội của V.K.S.N.D (“xuyên tạc đường lối của Đảng, bôi nhọ cá nhân…làm ảnh hưởng đến lòng tin của quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ, Quốc hội, và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”) sao “cù nhầy” và “buồi dái”quá thôi. Coi: cả “tập đoàn lãnh đạo” hiện nay đều lấm lem bê bết từ đầu đến chân, có sót chỗ nào để mà “bôi nhọ” được nữa – mấy cha? Tương tự, còn có ai tin tưởng gì vào “Đảng, Chính phủ, Quốc hội, và Nhà nước…” đâu mà kết án con người ta “làm ảnh hưởng đến lòng tin của quần chúng” – hả Trời?

Vài tháng trước, trên trang thư tín của tuần báo Trẻ (phát hành từ Dallas, Texas – ngày 26 tháng 2 năm 2015) có vị độc giả phát biểu rằng: “CS chiếm miền Nam bằng cái miệng.” Ý tưởng này khiến tôi nhớ đến một cân nói của nhà báo Huy Đức: “Trong lịch sử Việt Nam, Hồ Chí Minh rõ ràng là một trong những nhà lập ngôn xuất sắc nhất.”

Quả tình, Bác và Đảng đã chiếm được cả nước – chứ không riêng chi miền Nam – bằng mồm chứ còn gì nữa. Nhưng thời thế đã khác rồi. Bây giờ mà vẫn còn hy vọng giữ được quyền bính cũng chỉ nhờ vào cái miệng (mình) và bịt miệng kẻ khác thì quả là một chuyện rất viển vông.

Thử nghe Thông Tấn Xã Việt Nam “khoe hàng” chút xíu nha:

“Website của TTXVN tại địa chỉ http://news.vnanet.vn là một trong những trang thông tin chính thức và là trang duy nhất ở trong nước cung cấp những thông tin mới nhất, tin cậy bằng bốn ngữ (Việt, Anh, Pháp, Tây Ban Nha) về tình hình Việt Nam và thế giới, là cầu nối để độc giả khắp nơi trên thế giới hiểu về Việt Nam và con người Việt Nam…

“Với 63 phân xã tại tất cả các tỉnh thành trong nước và 27 phân xã nước ngoài ở cả 5 châu lục, cùng nguồn thông tin trao đổi trực tuyến liên tục 24/24 giờ với 42 hãng thông tấn và tổ chức báo chí quốc tế là một ưu thế mà không một cơ quan báo chí nào của Việt Nam sánh được …”

“Ưu thế” tới cỡ đó mà T.T.X.V.N lại không có độc giả. Thiên hạ chỉ đua nhau vào xem Thông Tấn Xã Vỉa Hè thôi. Và đây có lẽ đây mới là nguyên do (đích thực) khiến cho Trương Duy Nhất, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Ngọc Già, Hồng Lê Thọ, Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Thị Minh Thuý … phải bị trừng trị – hay bị trả thù, theo như cách nhìn của Người Buôn Gió!

Sự kiện người dân tẩy chay mọi hình thức truyền thông của nhà nước không phải là lỗi (hoặc tội) của Ba Sàm và của giới T.T.X.V.H. Đây chỉ là hiện tượng (“vỡ trận”) tự nhiên, báo trước ngày tàn của chế độ thôi!




Blog RFA

Tuấn Khanh

20-05-2015

Thư từ Saigon, cho bạn

“Vũng lầy của chúng ta”

Bạn tôi,

Bạn có thấy mạng xã hội hôm nay giống như một đại dương? Tất cả những gì có khả năng trôi dạt và dễ bám đều ở trên bề mặt của của nó, và phần còn lại nằm trong thẳm sâu bao la, với vô vàn điều không thể tỏ bày.

Bạn và tôi cũng đang sống cùng dòng chảy timeline trên Facebook, mọi thứ ào ạt trồi lên như tư duy của thế giới sống chung quanh. Cái gì không bám lại được trong trí nhớ con người sẽ dạt đi, nhường chỗ cho những cái mới hơn ập đến, níu kéo, thu hút mắt nhìn.

Và có những thứ trên dòng thời gian đó đó trôi đi, khó lòng tìm lại được, dù chỉ là trong khoảng khắc. Một người bạn của chúng ta kể rằng cô ấy đã trượt dài trên màn hình để tìm lại một trích dẫn rất hay vừa thấy, nhưng không bao giờ gặp lại. Thời gian thật tàn nhẫn, và sự bàng quan của con người với mẫu trích dẫn đó cũng là nguyên nhân nhấn chìm nó vào lòng đại dương quên lãng. Ngập trong những thông tin nhộn nhịp của đời sống vô nghĩa, cô bạn ấy tuyệt vọng tìm kiếm như một kẻ bơi lặn quẩn quanh dưới đáy nước.

Trên timeline của Facebook tiếng Việt, dòng thời gian luôn níu kéo người ta với những chuỗi thông tin về người mẫu bán dâm, về đánh ghen, về cướp giật, ảnh lộ hàng… Thật đáng ngạc nhiên khi có những người mẫu, ca sĩ chỉ cần chụp một ảnh selfie, đã có hàng ngàn like và lời bình luận na ná nhau. Thậm chí, những người có tên tuổi cũng tìm cách lôi kéo khách đến nhìn bằng mọi kiểu viết, tội nghiệp như một cô gái điếm về già, hối hả của G.Marquez. Nếu Facebook là biển, thì bề mặt của nó luôn chở đầy những tạp chất gớm ghiếc và ô nhiễm của thời kỳ cố phát triển với xa hoa ngu ngốc. Timeline đó đủ để giới thiệu tính cách Việt và mối quan tâm của người Việt ở thế kỷ 21.

Trong vài năm gần đây, Facebook Việt đã khai sinh một xu hướng ngôn ngữ mạng rất mới. Một loại ngôn ngữ kêu vang với ảo từ và lừa mị. Người đọc chưa kịp biết về nội dung thì đã bị hối thúc đọc bởi những chữ nghĩa kiểu như “bàng hoàng”, “lặng người”, trắng muốt”, đê mê”… Người ta bơi trên internet cùng với những lổn ngổn tạp chất do chính mình thải ra và vui cười thỏa mãn, dĩ nhiên không quên like.

Vậy mà mới đây, bản tin về ngư dân Việt bị tàu Trung Quốc công khai đâm thẳng vào, phá nát, không màng tính mạng con người, lại chỉ trôi qua, rồi mất hút lặng lẽ như mẫu tin quý mà cô bạn tôi vật vã vì không còn thấy nữa. Bản tin trên báo Nhà nước có cái tựa mạnh mẽ chưa từng thấy “Đâm vỡ tàu cá,Trung Quốc cố ý giết ngư dân Việt Nam” đã lặng lẽ trôi qua, chìm dần dưới những câu chuyện về hotgirl chụp bán nude, về dàn siêu xe của đại gia. Cái sống cái chết được bày ra hiển hiện chân thực. Cái ác và âm mưu với quê hương mình cũng phô bày không ngại ngùng trước mắt, nhưng dường như vẫn không níu kéo được cái nhìn của con dân Việt hôm nay. Người Việt quan tâm nhau trong thế kỷ này thật lạ lùng. Khi có ngư dân không may bị chết vì bão trên biển, luôn có những chương trình từ thiện ồ ạt đổ về, tươi cười chụp ảnh ghi nhận. Nhưng khi người đi biển luôn bị cướp, bị hại, bị giết vì kẻ xâm lược thì những cái Like cũng không buồn ghé đến. Người ngư dân nếu chết, thì 2 lần bị nhấn chìm. Một lần ở biển sâu, một lần nữa giữa lòng nông cạn của đồng bào mình.

Những điều đó, những điều nguy nan và rất thật.

Carlos Ruiz Zafón, nhà văn Tây Ban Nha, có ghi rằng số phận đứng đâu đó bên ngoài đời bạn, nó không đi tìm bạn, mà chính bạn là người đi tìm nó. Xã hội Việt Nam hôm nay có những dòng người quen đi tìm số phận bằng phẳng và cầu an cho chính mình bằng cách lược bỏ những nỗi đau của đồng loại, dù nó hiển hiện ngay trước mắt mình. Một xu hướng tâm phần phân liệt tự chữa trị cho mình bằng cách giải phẫu tập thể khỏi những điều rất gần với mình. Thế nhưng bạn có bao giờ đứng ra xa và nhìn thấy rằng một xã hội như vậy, có phải không khác gì một bệnh viện khổng lồ với đầy những kẻ thương tật tinh thần?

Bản tin hoảng hốt về vấn nạn trên biển Đông, cho biết tàu đánh cá ĐNa 90152 TS có 10 ngư dân bị tàu sắt Trung Quốc cố tình đâm chìm để giết chết, trong đó có người chỉ vừa 20 tuổi. Và đây chỉ là hành động mới nhất trong một loạt âm mưu nhẫn tâm của Trung Quốc, thế nhưng sự phẫn uất từ người Việt hôm nay dường như còn ít hơn chuyện một cô gái đẹp té xe trên đường mà không có người đến đỡ giúp.

Những ngư dân Việt hôm nay cũng phải chọn một số phận là lênh đênh trên biển, giành giật ý thức chủ quyền với súng đạn và tàu lớn của Trung Quốc, cũng như chấp nhận số phận của họ bị thờ ơ từ đồng bào mình. Nếu có chết, số phận của họ là linh hồn lưu lạc dưới đáy biển sâu, nơi những nén hương thắp bên mộ gió sẽ không bao giờ với tới được.

Thật buồn, trong những ngày tháng an nguy của quê nhà, nếu chúng ta muốn tìm đến, chia sẻ nỗi đau đồng loại mình – chúng ta phải vất vả xô ra những thứ ô nhiễm trên bề mặt đại dương, vùng vẫy giữa những điều ngớ ngẩn của xã hội đang học đòi hưởng thụ – và lặn xuống để nhìn thấy. Bạn có cảm thấy như tôi, chúng ta đang vùng vẫy trong cuộc sống, mà như đang chìm dần trong vũng lầy ngu dại?

Đâm vỡ tàu cá,Trung Quốc cố ý giết ngư dân Việt Nam

(Tình hình Biển Đông - Vấn đề Biển Đông) - 10 ngư dân tàu ĐNa 90152 TS vừa bị tàu sắt Trung Quốc đâm chìm đã lên tiếng tố cáo Trung Quốc hung hãn cố ý giết ngư dân Việt Nam.



45 giây thoát chết kinh hoàng

Trong số 10 ngư dân trên tàu ĐNa 90152 TS bị tàu Trung Quốc đâm chìm, em Đặng Văn Bình là nhỏ tuổi nhất (sinh năm 1995) cùng với ngư dân Nguyễn Huỳnh Bá Biên thoát chết trong gang tấc khi chiếc tàu lật nghiêng rồi chìm xuống biển, nhưng nhờ có kinh nghiệm 3 năm đi biển nên đã lặn sâu xuống biển thoát ra khỏi khoan ca bin để nổi lên mặt nước, ngay sau đó được tàu của chúng ta cứu kịp.

Đâm vỡ tàu cá VN:Chỉ Trung Quốc mới tàn ác như vậy!

"Đây là lần đầu tiên em chứng kiến cảnh kinh hoàng như vậy. Lúc đó em đang chuẩn bị nấu cơm tối. Thấy chiếc tàu sắt to đùng của Trung Quốc ầm ầm lao tới tới rồi đâm mạnh vào đuôi tàu của em. Cú đâm quá mạnh làm tàu em mất hướng quay ngang. Tàu sắt Trung Quốc tiếp tục đâm một cú mạnh nữa làm tàu em lật nghiêng, nước vào ào ào, rồi sau đó chiếc tàu chìm luôn.

Lúc bị tàu Trung Quốc đâm, em và anh Biên đang ngồi trong khoan ca bin và khi tàu lật úp lại. Em và anh Biên cố lặn sâu xuống mặt đất để thoát ra khỏi khoang ca bin để trồi lên mặt nước thoát chết trong gang tấc. Rồi sau đó được các tàu cá của ngư dân mình đến cứu", em Bình kể lại.

Ngư dân Lê Văn Bình không hề sợ mà bỏ nghề biển.
Ngư dân Lê Văn Bình  sinh năm 1995, đã có kinh nghiệm 3 năm đánh bắt cá tại ngư trường Hoàng Sa của Việt Nam.

Đang được các đồng chí cảnh sát biển thăm hỏi, động viên, thuyền trưởng Đặng Văn Nhân vẫn chưa kết kinh hoàng kể lại giây phút bị tàu Trung Quốc quá hung hãn chạy tốc độ mạnh đâm trực diện vào tàu của mình: "Khoảng 16 giờ ngày 26/5, khi tàu tôi và một số tàu cá khác đang hoạt động cách giàn khoan Hải Dương – 981 khoảng 17 hải lý thì bị 4 tàu Trung Quốc tấn công. Thấy nguy hiểm, tôi cho tàu quay đầu và tăng tốc chạy, nhưng chạy được một đoạn thì thấy phía trước có 3 tàu Trung Quốc cản đường. Lúc này có một tàu Trung Quốc số hiệu 11209 vượt lên và đâm trực tiếp hất mũi tàu ĐNa 90152 TS tung lên cao".

Truyền trưởng Nhân bức xúc: "Cú đâm này khiến tàu ĐNa 90152 TS bị gãy bánh lái. Khi tàu ĐNa 90152 TS vừa trở lại vị trí thăng bằng thì tàu Trung Quốc số hiệu 11209 tiếp tục lao đâm vào mạn trái làm gãy be khiến tàu nghiêng rồi lật úp. Thấy nguy nên tôi cũng vội nhảy ra biển. Bọn tàu Trung Quốc quyết ép mình chết chìm. Bởi vì lần thứ nhất họ cố tình tông trực diện, mặc dù con tàu bị hư hỏng nặng, nhưng họ tăng tốc chạy và chạy tông mạnh lần thứ 2 từ phía sau. Biết con tàu sẽ chìm, tôi bảo anh em phải nhảy xuống biển bơi đi chứ không thì chết hết".

Trên tay phải và chân phải đang băng trắng vết thương bị tàu Trung Quốc đâm chìm bị thương, ngư dân Nguyễn Huỳnh Bá Biên kể lại phút tưởng là chết rồi: "Thấy tàu Trung Quốc lao tới, anh em biết sẽ gặp nguy hiểm nhưng em không chạy ra khỏi khoang ca bin. Khi tàu bị đâm phát đầu tiên thì 6 anh em lao xuống biển, trên tàu lúc này chỉ còn lại tôi và anh Nhân trên cabin, còn em Lê Văn Bình (1995) đang ở dưới khoang tàu.

Cú đâm lần 2 làm tàu bị nghiêng hẳn thì anh Nhân nhảy ra trước, tàu lập úp tôi và em Bình bị mắc kẹt trong cabin nên cố đập cửa bơi ra. Lúc này nhiều mảnh kính vỡ cắt vào chân tay khiến tôi bị thương. Tuy nhiên, nhờ tổ chức khai thác theo tổ, đội nên các tàu cá gần đó đã đến ứng cứu kịp thời, mọi người đều được cứu sống".

Ngư dân Nguyễn Huỳnh Bá Biên chờ vết thương lành tiếp tục xuống tàu vương khơi bám biển.
Ngư dân Nguyễn Huỳnh Bá Biên chờ vết thương lành tiếp tục xuống tàu ra khơi bám biển.

Anh Biên kể: "Khi tàu bị chìm sâu xuống biển, tôi và em Bình phải cố vùng vẫy lặn sâu thoát ra khỏi khoan ca bin trong vòng khoảng 45 giây là ra được rồi mới trồi lên mặt nước, vừa hết hơi luôn. Nếu trễ vài giây nữa là chết rồi! Tôi thấy kinh tởm tội ác của tàu Trung Quốc. Nhưng chúng tôi không sợ mà bỏ biển, vì biển Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam nên chúng tôi vẫn tiếp tục bám biển".

Trung Quốc cố tình tàn sát ngư dân Việt Nam

Có mặt tại bờ của Vũng neo đậu tàu thuyền An Hải, các ngư dân của huyện đảo Lý Sơn chuyên đánh bắt cá tại vùng biển Hoàng Sa của Việt Nam, tố cáo tội ác của nhà cầm quyền Trung Quốc khi cho tàu đâm chìm tàu đánh cá Việt Nam.

Một ngư dân kể lại: Ngày 7/5/2014, tàu cá của Quảng Ngãi số hiệu QNg 96416 TS cùng 16 ngư dân, đã bị tàu Trung Quốc số hiệu 1241 bắn đạn lửa; dùng vòi rồng phun nước; dùng búa, chai lọ, bu lông ném sang tàu; dùng câu liêm cắt đứt dây và hệ thống liên lạc, định vị. Sau đó, thêm 1 tàu ngư chính Trung Quốc không rõ số hiệu đã khống chế, đâm thẳng vào tàu gây vỡ mạn phải và toàn bộ kính ca bin, hỏng nhiều thiết bị và tài sản trên tàu. Thiệt hại ước tính gần 1 tỷ đồng.

Các ngư dân bàn tính chuyện tiếp tục bám biển.
Các ngư dân bàn tính chuyện tiếp tục bám biển.

Tiếp đó, ngày 16/5/2014, tàu cá của Quảng Ngãi mang số hiệu QNg 90205 TS trong khi đang hoạt động nghề cá bình thường tại khu vực có tọa độ 16o55’N-112o21’E, gần đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, đã bị tàu ngư chính Trung Quốc số hiệu 306 chạy đến khống chế.

Là ngư dân lớn tuổi nhất trên tàu ĐNa 90152 TS, hơn 30 năm đánh bắt cá tại vùng biển Hoàng Sa của Việt Nam, ông Nguyễn Văn Hòa, sinh năm 1960 ở phường Xuân Hà, quận Thanh Khê, TP.Đà Nẵng không ngán các tàu của Trung Quốc: "30 năm đi biển Hoàng Sa, tôi không sợ tàu của Trung Quốc lần nào hết. Trung Quốc quá hung hãn khi cho tàu sắt loại lớn đâm chìm tàu cá ĐNa 90152 TS, thấy tàu cá bị chìm nghiêng một bên mà tàu Trung Quốc tiếp tục tăng tốc lao vào đâm phát nữa làm tàu mình chìm úp luôn. Đây là tội ác không thể tha thứ được".

Các ngư dân trên tàu ĐNa 90152 TS được tàu vận tải của ta chở về đảo Lý Sơn an toàn.
Các ngư dân trên tàu ĐNa 90152 TS được tàu vận tải của ta chở về đảo Lý Sơn an toàn.

Có mặt cùng đoàn công tác đón các ngư dân trở về đất liền, Đại tá Trần Văn Dũng, Chính ủy Vùng Cảnh sát biển 2 nói về hành động ngang ngược, vô nhân đạo của Trung Quốc: "Vùng Cảnh sát biển 2 cực lực phản đối hành động ngang ngược, hung tàn của phía Trung Quốc khi cho tàu sắt đâm chìm tàu đánh cá ĐNa 90152 TS của ngư dân Đà Nẵng. Trên thế giới chỉ có Trung Quốc mới có hành động như vậy. Trung Quốc đã cố tình cho tàu sắt đâm chìm, rồi bỏ mặc ngư dân chơi vơi giữa biển khơi là hành động chủ ý của Trung Quốc tàn sát ngư dân chúng ta khi đang đánh bắt cá trên vùng biển Hoàng Sa của Việt Nam chúng ta", Đại tá Trần Văn Dũng bức xúc.

Đại tá Trần Văn Dũng động viên bà con ngư dân: Cảnh sát biển Việt Nam luôn sát cánh cùng ngư dân đánh bắt cá trên ngư trường của chúng ta. Bà con ngư dân yên tâm bám biển, không lo sợ gì hết, đã có lực lượng cảnh sát biển luôn sát cánh cùng ngư dân.

Đại tá Trần Văn Dũng, Chính ủy Vùng Cảnh sát biển 2 nói Trung Quốc cố ý tàn sát ngư dân Việt Nam trên biển của chúng ta.
Đại tá Trần Văn Dũng, Chính ủy Vùng Cảnh sát biển 2 nói Trung Quốc cố ý tàn sát ngư dân Việt Nam trên biển của chúng ta.

Bộ Tư lệnh Quân khu 5, Vùng Cảnh sát biển 2, Bộ Chỉ huy bộ đội biên phòng tỉnh Quảng Ngãi cùng các đoàn thể đã ra thăm hỏi, động viên, trao quà cho các ngư dân tàu ĐNa 90152 TS ngay chiều ngày 29/5 khi vừa cập bờ.

Hồng Sơn




 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:
Cải Tạo! [27.04.2025 10:06]




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
Tin tức thế giời mới nhât song ngữ Việt Anh để học sinh ngữ [Đã đọc: 364 lần]
Kiều bào phát triển quê hương [Đã đọc: 357 lần]
Làm Giàu Bằng Đầu Tư Chứng Khoán [Đã đọc: 349 lần]
Siêu đô thị Đà Nẵng mở rộng, siêu đầu tư địa ốc làm giàu [Đã đọc: 342 lần]
Một châu Âu đứng trước ngã ba lịch sử [Đã đọc: 329 lần]
Cách mạng chiếc đòn gánh của phụ nữ VN [Đã đọc: 291 lần]
“NHỮNG NGƯỜI CUỐI CÙNG CÒN GIỮ LẠI CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN”** [Đã đọc: 289 lần]
Nghệ Thuật Làm Giàu Của Người Việt Hải Ngoại - “The Art of Wealth for Overseas Vietnamese”. [Đã đọc: 280 lần]
Làm thế nào đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa từ Trung Cộng [Đã đọc: 279 lần]
Cuba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cuba nghỉ [Đã đọc: 271 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.