 |
 |
Các chuyên mục |
|
Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm
Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal
Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat
Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục
Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói
Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí
Web links
Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo
Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng
Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP
|
|
|
|
Xem bài theo ngày |
|
| Tháng Sáu 2026 | | T2 | T3 | T4 | T5 | T6 | T7 | CN |
| 1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
| 8 |
9 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
| 15 |
16 |
17 |
18 |
19 |
20 |
21 |
| 22 |
23 |
24 |
25 |
26 |
27 |
28 |
| 29 |
30 |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Thống kê website |
|
 |
Trực tuyến: |
4 |
 |
Lượt truy cập: |
29341121 |
|
|
|
|
| |
|
 |
 |
|
|
|
Những đứa trẻ mồ côi di tản qua Bắc Mỹ 40 năm trước
08.04.2015 02:37
Chiến dịch không vận trẻ em Việt Nam sang Mỹ 40 năm trướcNgày 3/4/1975, khi cuộc chiến tranh ở Việt Nam đi đến hồi kết, Tổng thống Mỹ Gerald Ford tuyên bố phải đưa tất cả trẻ em Việt được xác định làm con nuôi rời khỏi Sài Gòn bằng máy bay ngay lập tức.
Cuộc gặp gỡ của cha Mỹ con Việt sau 40 năm Khi anh Vo Huu Nhan đang trên chiếc thuyền rau của mình trong một khu chợ nổi ở đồng bằng sông Cửu Long thì chuông điện thoại reo vang. Cuộc gọi từ Hoa Kỳ đã mang tới cho anh tin tức tuyệt vời - một cơ sở dữ liệu ADN đã giúp anh tìm được cha của mình. Anh Nhan, 46 tuổi, chỉ biết cha mình là một người lính Mỹ tên Bob với những thông tin vô cùng ít ỏi. "Tôi đã khóc", anh Nhân nhớ lại. "Tôi đã lạc mất người cha trong 40 năm qua, và bây giờ, cuối cùng tôi đã tìm được ông ấy".  
Anh Vo Huu Nhan tìm thấy cha sau 40 năm thất lạc. Nhưng hành trình của việc đoàn tụ không dễ dàng. Cha anh, ông Robert Thedford, một phó cảnh sát trưởng đã nghỉ hưu ở Texas bị bệnh rất nặng và họ đang ở cách xa nhau tới 14.000km. Khi những người lính Mỹ cuối cùng bỏ chạy khỏi Sài Gòn vào ngày 29 và 30/4/1975, họ đã để lại phía sau hậu quả của chiến tranh. Ở đó, những người phụ nữ không dám chắc chắn điều gì về tương lai cùng với hàng ngàn trẻ em là con lai, những đứa trẻ mang một nửa dòng máu Mỹ da đen hoặc nửa dòng máu Mỹ da trắng. Chúng là kết quả của những mối tình giữa lính Mỹ với các cô gái phục vụ trong quán bar, những người giúp việc, công nhân giặt là và các nhân viên trong căn cứ Mỹ. 40 năm sau, hàng trăm trong số những đứa trẻ đó giờ đã tuổi trung niên vẫn còn ở Việt Nam. Họ quá nghèo hoặc không có giấy tờ chứng minh đủ điều kiện cho chương trình tái định cư các con của lính Mỹ tại Mỹ theo luật Amerasian Homecoming năm 1987. Tuy nhiên, hiện tại, một nhóm con lai Mỹ đang có cơ hội cuối cùng để đoàn tụ với cha dựa trên cơ sở dữ liệu ADN. Thông thường những đứa con này có rất ít thông tin về người cha vì giấy tờ và hình ảnh bị cháy, thất lạc hoặc ký ức mờ nhạt. Vì vậy, các xét nghiệm ADN là tia hy vọng duy nhất của họ. Mùa xuân mới, hy vọng mới Mùa xuân ở TP.HCM, những cây mai nở rộ, biểu tượng của mùa xuân và Tết ở miền Nam. Dòng người qua lại tấp nập trên những con phố sầm uất. Còn rất ít dấu hiệu cho thấy từng có sự hiện diện của quân đội Mỹ ở đây. Nếu chăng, chỉ còn lại những chiếc máy bay trực thăng rỉ sét nằm trong sân bảo tàng. Trista Goldberg, 44 tuổi, một người dẫn chương trình truyền hình Pilates từ bang New Jersey, đã tự hào gọi mình là con lai Mỹ. Cô là người sáng lập tổ chức Đoàn tụ sau chiến tranh. Cô được nhận nuôi bởi một gia đình Mỹ từ năm 1974 và cô đã tìm thấy mẹ ruột của mình vào năm 2001. Hơn 3.000 trẻ mồ côi đã được sơ tán khỏi Việt Nam trong những ngày cuối cùng của chiến tranh. Cuộc sống của những đứa con lai còn ở lại Việt Nam đã thay đổi với Đạo luật Amerasian Homecoming khi cho phép 21.000 trẻ em và hơn 55.000 thành viên gia đình sang định cư tại Mỹ. Những đứa trẻ "bụi đời" bỗng nhiên trở thành "con vàng". Thời kỳ đó, một số người Việt giàu có đã trả tiền để mua con với hi vọng được sang Mỹ định cư. Tuy nhiên, sau đó họ lại bỏ rơi chúng khi đến Mỹ. Vì tình trạng gian lận như vậy, Mỹ đã thắt chặt thủ tục kiểm tra, và số lượng thị thực nhập cư ban hành đã giảm đáng kể. Chỉ có 13 trường hợp được thông qua vào năm ngoái. Anh Nhan và gia đình sống ở An Giang. Anh là một người đàn ông trầm tính, cha của năm đứa trẻ mới chỉ được học hết lớp ba. Mẹ anh cho biết anh là con trai của một người lính Mỹ khi anh khoảng 10 tuổi. "Tôi hỏi mẹ tại sao những đứa trẻ khác hay trêu chọc tôi vào mọi lúc, mọi nơi? Tôi rất khó chịu vì điều đó, đôi khi tôi muốn đánh lại chúng. Mẹ tôi ngập ngừng một lúc và nói với tôi rằng tôi là một đứa con lai. Lúc đó, trông bà rất buồn, nhưng ông bà ngoại của tôi nói rằng họ rất yêu tôi, không quan trọng việc tôi là con lai". Sau khi anh Nhan và những người khác lấy mẫu ADN, họ ngồi nán lại với nhau để xem liệu công nghệ mới này sẽ giúp họ có một cơ hội với giấc mơ Mỹ hay không. Tìm cách liên lạc  
Cha anh Nhan – ông Thedford Vào mùa thu, bà Louise, vợ ông Bob Thedford, đã đăng nhập tài khoản của mình vào cơ sở dữ liệu phả hệ ADN. Bà đã nhìn thấy một kết quả rất ngạc nhiên. Đó là thông tin mới cho chồng bà, ông có mối quan hệ cha con với một người tên Nhan ở Việt Nam. Bà Louise đã nghi ngờ từ lâu chồng bà có thể có một đứa con khi ông là một sĩ quan cảnh sát quân sự tại Việt Nam vào cuối thập niên 1960. Bởi vì ngay sau khi họ kết hôn, bà đã tìm thấy bức ảnh của một người phụ nữ Việt mà ông giấu bên trong chiếc ví. Tin này đã làm con gái ông bà Bob, Amanda Hazel, 35 tuổi, một phụ tá pháp lý từ Fort Worth bị sốc. "Thành thật mà nói, điều đầu tiên tôi nghĩ là, mẹ có chắc chắn đây không phải là một sự nhầm lẫn?”, Hazel nhớ lại. Nhưng những bức ảnh của anh Nhan được gửi đến một thời gian ngắn sau đó. Trông anh Nhan rất giống với ông nội quá cố của Hazel, ông Robert Thedford, một cựu chiến binh từng phục vụ trong Hải quân Mỹ chiến đấu trong Thế chiến II. Thedford, một cựu phó cảnh sát trưởng thường được gọi là "Red" vì mái tóc nâu của ông, đã gặp mẹ của Nhan khi ông đóng quân ở Quy Nhơn. Gia đình ông cho biết, ông rất hiếm khi nói về những chuyện thời chiến tranh. "Ông ấy không bao giờ ngồi than thở về nó", anh John Gaines, con trai của Thedford nhớ lại. "Khi tôi hỏi: Có phải cha đã từng bắn một ai đó?. Ông nói 'Đúng, nhưng con phải hiểu được những lý do đằng sau đó, nó là một phần của cuộc chiến tranh. Cha sẽ không ngồi đây và giải thích cho con hiểu điều gì đó là như thế nào". Trong khi Thedford dạy Hazel tập bơi và đi xe đạp ở ngoại ô Texas, anh Nhan đã lớn lên ở trang trại lợn của ông bà ngoại, tắm sông và bị bắt vì ăn cắp xoài. Có sự khác biệt trong cuộc sống của họ. Việc liên lạc giữa hai gia đình đã được thực hiện theo dự kiến, mặc dù anh Nhan không nói được tiếng Anh và anh không có máy tính. E-mail đã được trao đổi qua trung gian. Anh Nhan gửi quà cho cha là đôi dép anh tự làm và chiếc nón lá. Ông Thedfords đã gửi Nhan hóa đơn 50 đô la Mỹ và chiếc kính Texas Rangers. "Con có muốn gì thêm không?", ông Robert Thedford hỏi anh Nhan. Sau đó, qua cuộc gọi Skype đầy cảm xúc, cả hai người đàn ông đã khóc khi nhìn thấy nhau lần đầu tiên. "Ông ấy trông giống như tôi. Tôi cảm thấy như tôi và ông ấy đã kết nối với nhau ngay lập tức", anh Nhân chia sẻ sau cuộc gọi. Nhưng vào cuối tháng 8, ông Thedford, 67 tuổi, lại ngã bệnh một lần nữa. Trước đó ông đã được điều trị ung thư da. Căn bệnh ung thư đã lan rộng, ông phải tập trung vào việc điều trị. Chuyện về người con ở Việt Nam tạm thời gác lại. "Tôi có con trai ở Việt Nam"  
Chị Dang Thi Kim Ngan đang phiên dịch giúp anh Nhan khi nói chuyện với em gái Hazel. Thời gian gần đây, anh Nhan gọi Skype nói chuyện với Hazel từ nhà một người bạn ở TP.HCM. Anh Nhan hỏi thăm về tình hình của cha. "Ông ấy đang tiến triển tốt. Bây giờ, ông có thể tự ngồi trên một chiếc ghế. Các bác sĩ đang chăm sóc cho ông", Hazel chia sẻ, "Em cảm thấy thật tệ vì đã không liên lạc sớm hơn với anh. Bố mẹ luôn nghĩ về anh và nói về anh trong mọi lúc". Ông Thedford đã đưa bức ảnh của Nhan cho các y tá trong bệnh viện và nói: "Đây là con trai của tôi ở Việt Nam". Trước đó, anh Nhan nộp kết quả xét nghiệm ADN của anh đến Lãnh sự quán Hoa Kỳ tại TP.HCM vào tháng 12/2013. Nhưng anh đã không được bất cứ hồi âm nào. Hazel nói rằng gia đình cô sẽ làm tất cả để giúp Nhân định cư tại Mỹ, ngay cả khi cô ấy biết rằng quá trình làm thủ tục sẽ khó khăn. Chiến tranh gây ra những vết thương không bao giờ lành hẳn và hiện nay, câu chuyện về họ vẫn còn tiếp tục giống như ADN xoắn kép mang họ lại với nhau... Theo Tào Nga (Washingtonpost) (Khám P Ký ức về thảm kịch máy bay không vận trẻ em Việt Nam 40 năm trướcKhi chiếc máy bay vận tải C-5 Galaxy đâm vào một con đê và lao xuống đồng lúa ở Sài Gòn 40 năm trước, cơ phó Tilford Harp cùng hai đồng nghiệp đã nghĩ rằng tất cả sẽ chết.  | Chiếc máy bay C-5 vỡ thành 4 mảnh trên cánh đồng ở gần sân bay Tân Sơn Nhất. Ảnh: Peter Alanl Loyd |
Ông Harp,đại úy Keith Malonevà cơ trưởng, đại úyDennis Traynor,là những người ngồi trên khoang lái của chiếc C-5 chở hơn 300 người rời khỏi Sài Gòn ngày 4/4/1975. Tháng 4/1974, khi quân đội của miền bắc Việt Nam đang áp sát Sài Gòn, Tổng thống Mỹ Gerald Ford đã ra lệnh cho máy bay của Bộ Chỉ huy Không vận Quân sự đến một trong những sân bay cuối cùng ở Sài Gòn để di tản công dân và những người Việt thân Mỹ. Trong số đó có hàng nghìn trẻ được cho là trẻ mồ côi Việt Nam hoặc con lai, từ sơ sinh cho đến vài tuổi. Các em rời đất nước trên những chuyến bay thuộc "Chiến dịch Không vận Trẻ em". Tại Việt Nam, chiến dịch diễn ra từ ngày 4/4 đến 26/4, sử dụng 24 máy bay của quân đội Mỹ cùng một số phi cơ được các tổ chức từ thiện tư nhân thuê chở. Gần 3.000 trẻ em rời quê hương trong đợt không vận này. Chiều 4/4, chiếc C-5 mang số hiệu 68-0218 mà ông Harp làm cơ phó thực hiện chuyến không vận đầu tiên trong chiến dịch. Ông Harp, người đã có kinh nghiệm 1.200 giờ bay, mô tả căn cứ không quân Tân Sơn Nhất lúc đó hỗn loạn, khi chính phủ Việt Nam Cộng hòa sắp sụp đổ. Chiếc C-5 hạ cánh vào khoảng 15h, dỡ hàng hóa quân sự xuống và sẵn sàng để chở trẻ em, cũng như đón đội ngũ y tế từ căn cứ không quân Clark ở Philippines đến hỗ trợ các em nhỏ. Phi hành đoàn và các nhân viên y tế tạo đứng thành hàng dài, đưa từng em qua cửa, lên cầu thang và vào bên trong khoang binh sĩ. "Các thanh kê tay đã được tháo bỏ nên chúng tôi có thể đặt hai em trên một ghế, 6 em một hàng. Chúng tôi đã cố gắng để đưa gần hết các em nhỏ lên tầng trên và các em lớn tuổi hơn ở tầng dưới", y tá chuyến bay Regina Aune kể lại trong một cuộc phỏng vấn sau đó. Máy bay cất cánh với 229 trẻ em và 85 nhân viên y tế cùng tổ bay. Hầu hết trẻ em ở trong khoang binh sĩ, phần còn lại phải ngồi dưới khoang hàng hóa. Malone, một phi công vừa hoàn thành khóa huấn luyện lái C-5, được chỉ định tham gia chuyến bay để có cơ hội làm quen nhiều hơn với hoạt động của phi cơ. Vì thế, ông ngồi giữa Harp và Traynor. "Điều đó đã cứu mạng tôi, nếu không, tôi sẽ ngồi dưới khoang hàng hóa", Malone nói. Thảm họa  | Hiện trường tan hoang của vụ tai nạn. Ảnh: Peter Alanl Loyd |
Hơn 12 phút sau khi cất cánh, thảm họa ập đến khi ba ổ khóa giữ thang máy bay lại không được khóa, khiến nó trở nên lỏng lẻo. Điều này đã khiến cửa áp suất bị bung khỏi chiếc C-5 ở độ cao hơn 7.000 m. Dấu hiệu đầu tiên cho thấy sự cố là "một tiếng nổ lớn và buồng lái mờ đi", ông Malone kể. Mọi thứ trở nên tồi tệ hơn khi cửa áp suất va đập vào thân máy bay, phá vỡ nhiều bộ phận quan trọng. Khoang hàng hóa báo cáo rằng "cả phần sau của máy bay đã bị rời ra" và các dây cáp bị đứt lủng lẳng như mỳ Ý". "Chúng tôi chỉ có thể điều khiển máy bay được một phần", ông Harp nói. Khi đó họ đang ở phía trên Vũng Tàu. Traynor vật lộn để đưa máy bay quay đầu trở lại Sài Gòn và hạ độ cao từ từ trong khi Harp thu thập thông tin về tình trạng của C-5. Tuy nhiên, máy bay đã lao xuống nhanh chóng. Sau đó, họ cố gắng đưa máy bay lên cao và điều khiển được phi cơ quay đầu về Tân Sơn Nhất. Tuy nhiên, các phi công nhận ra là họ không thể chạm tới đường băng và cố gắng hạ cánh xuống một cánh đồng. Máy bay lao vào một đầm lầy cách đường băng hơn 3 km, rồi đâm vào đê, bật ngược lại lên không trung và băng qua sông Sài Gòn. Cuối cùng, nó đâm xuống mặt đất, trượt dài hơn 300 m, trước khi dừng lại ở một cánh đồng lúa và vỡ thành 4 mảnh: đuôi, khoang bay, khoang binh sĩ và cánh. "Chúng tôi mất toàn bộ điện. Khoang bay rất rất tối vì bùn bao phủ kính chắn gió và chúng tôi có thể cảm thấy mình đang trượt đi", ông Harp kể. Ông không nhận ra buồng lái đã bị lộn ngược cho đến khi mở dây an toàn và ngã ra ngoài. Những người sống sót trong khoang thoát ra ngoài qua cửa sổ phía phi công. Malone nhìn sang bên phải và chẳng thấy gì nhiều ngoại trừ xác máy bay đang bốc cháy. Ông đi quanh mũi chiếc C-5 và ngạc nhiên khi phát hiện ra khoang binh sĩ vẫn còn nguyên vẹn. Các phi công sau đó nhanh chóng giải cứu những người sống sót rải rác trong đống đổ nát. Các y tá như bà Aune, người bị gãy chân, loạng choạng bước ra từ khoang binh sĩ và bắt đầu bế những đứa trẻ giao cho họ. Aune trao tay những em bé cho đến khi bà gần như ngã khuỵu xuống. Y tá Harriet Goffinett, một tay không cử động được vì gãy xương, bế các em nhỏ trên hông.  | Những đứa trẻ may mắn sống sót trong tai nạn. Ảnh:Peter Alanl Loyd |
Trực thăng cứu hộ có mặt sau đó 5 phút. Bất chấp những nỗ lực của phi hành đoàn, 138 người, trong đó 76 trẻ em Việt Nam (có tài liệu nói 78 hoặc 79), đã thiệt mạng.176 người trong đó có 150 trẻ em mồ côi, may mắn sống sót. Sau vụ tai nạn, Không quân Mỹ vẫn tiếp tục chiến dịch không vận. Tổ bay và các nhân viên y tế được ca ngợi là những anh hùng vì vừa cứu máy bay vừa cứu các nạn nhân. Trong nhiều năm sau đó, C-5 bị hạn chế chở khách ở khoang hàng hóa. Các vị trí điều khiển chuyến bay và các đường ống thủy lực được thay đổi. Cả Harp và Malone sau đó cũng trở lại công việc của mình. Malone nghỉ hưu năm 1993 ở cấp trung tá. Harp nghỉ hưu khi đang là phó chỉ huy của một máy bay chở dầu KC-135. Anh Ngọc
Cậu bé Babylift đi tìm mẹ thất lạc 40 nămDavid R. Nguyen được mẹ gửi vào một trại trẻ khi mới lên hai tuổi và 40 năm qua lớn lên ở Mỹ mà không hay tin gì về bà.  | David trong trại trẻ năm 1974 và hiện nay. Ảnh: NVCC |
David tên thật là Nguyễn Trọng Dũng, là con nuôi trong một gia đình người Mỹ ở thành phố Boston, bang Massachusetts. Giống như nhiều đứa trẻ sang Mỹ trong chiến dịch Không vận Trẻ em tháng 4/1975, anh trải qua một thời thơ ấu khó khăn khi phải đối mặt với sự hiếu kỳ của mọi người xung quanh, chỉ vì vẻ bề ngoài khác với các thành viên trong gia đình. Trong lá thư gửi người mẹ đẻ đang đi tìm, anh kể rằng mình "luôn ghen tỵ với những đứa trẻ khác khi họ mang những bức ảnh lúc bé tới trường". "Tất cả những gì con có là tấm ảnh buồn bã của con tại trung tâm trẻ mồ côi với bảng tên trước mặt. Con giống như một tù nhân nhí, mặc những bộ đồ ngủ ngớ ngẩn", anh viết. Phải mất một thời gian dài, David mới có thể chấp nhận sự thật mình là con nuôi và là người Việt Nam. Cũng từ đó, nỗi khao khát được biết về gốc gác dâng lên trong anh. Chia sẻ với VnExpress, David cho hay anh bắt đầu đi tìm mẹ từ cách đây gần 10 năm. Theo thông tin trong Giấy Cam Kết Cho con, mẹ anh tên là Nguyễn Thị Ba, sinh năm 1941, quê ở Kien Hoa, được cho là Kiến Hòa, nay là tỉnh Bến Tre. Bà có thời gian sinh sống ở Sông Mao thuộc xã Hải Ninh, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận. Năm 1971, bà làm giúp việc ở Biên Hòa rồi chung sống với một người lính Hàn Quốc. Ngày 12/6/1972, David chào đời từ mối tình của hai người. Tuy nhiên, khi anh mới được 4 tháng tuổi thì cha anh về nước. Vì không có điều kiện nuôi con, tháng 7/1974, bà Ba gửi con trai vào tổ chức tiếp nhận và chăm sóc trẻ em Holt trên đường Hoàng Văn Thụ, quận Tân Bình, Sài Gòn. Đầu tháng 4/1975, anh Dũng nằm trong số gần 3.000 đứa trẻ rời Sài Gòn sang Mỹ trong chiến dịch không vận và bặt tin mẹ từ đó.  | Giấy cam kết trao con cho tổ chức Holt của bà Ba. Ảnh: NVCC |
David trải qua nhiều thăng trầm trong suốt hành trình đi tìm mẹ. Anh đã thử nhiều cách như đăng tin trên Internet, liên hệ với các cơ quan báo chí Việt Nam và nhờ tổ chức Holt giúp đỡ nhưng không đạt được kết quả gì. "Có nhiều lần tôi đã định dừng lại vì lo sợ. Tôi không dám chắc 100% mình đang tìm kiếm điều gì nữa", anh nói. "Tôi nghĩ những gì tôi muốn là đáp án cho những câu hỏi đã canh cánh suốt cuộc đời mình. Mẹ tôi là ai? Cha tôi là ai? Họ có đi tìm tôi không?". Khi đứa con đầu lòng chào đời, David đã khóc. Anh khóc không chỉ vì niềm vui được làm bố mà đó còn là vì lần đầu tiên trong đời, anh được nhìn thấy một người có chung huyết thống với mình. "Con đã ngắm con trai con và thấy thằng bé có đôi mắt, đôi môi và cái mũi của con. Và đó là một cảm giác tuyệt diệu", anh viết. Lúc đó, David cũng thấu hiểu được nỗi đau nếu cha mẹ phải lìa xa đứa con mà mình đứt ruột sinh ra. David không biết gì về cha mình ngoài những phỏng đoán. Gần đây, anh nghĩ rằng có thể ông vẫn còn sống và bắt đầu đi tìm. Sau nhiều nỗ lực thất bại trên hành trình tìm mẹ, David thừa nhận rằng càng nghĩ về bà, anh càng nhận ra điều quan trọng mà anh muốn chỉ đơn giản là báo cho bà biết rằng anh vẫn ổn. Anh hy vọng bà thanh thản khi quyết định trao anh cho trại trẻ. "Dù tình trạng của mẹ lúc đó như thế nào, thì mẹ cũng đã làm những gì mà mẹ thấy tốt nhất cho cả con và mẹ. Con không oán hận mẹ. Không giận mẹ đâu, mẹ ạ", David viết trong thư. "Con xem việc làm con nuôi như cơ hội thứ hai để sống một cuộc đời mà mẹ đã muốn con được sống từ khi sinh con ra. Con muốn nói với mẹ là con sống tốt, hy vọng 40 năm qua mẹ cũng được bình yên và không phải lo lắng cho con". Anh Ngọc“Bé gái” đến Úc trong hộp đựng giày khắc khoải tìm lại cội nguồn Việt
Được một gia đình Úc nhận nuôi khi còn đỏ hỏn, và nhỏ đến mức lọt thỏm trong một chiếc hộp đựng giày, chị Le Thi Ha, một trong những đứa trẻ từng được di tản khỏi Sài Gòn năm 1975 giờ đã 40 tuổi và đau đáu tìm lại gốc gác ở quê nhà.  Le Thi Ha, giờ đây mang tên Chantal Doecke, cùng các con. (Ảnh: adelaidenow)Ngày 5/4/1975, khi bà Gillian Diggins lần đầu gặp Le Thi Ha - cô con gái bà nhận nuôi - tại sân bay Adelaide, cô bé nhỏ đến độ trên vành tai, vai và lưng vẫn còn lông măng, một dấu hiệu cho thấy cô bé bị đẻ non nhiều ngày. Tại thời điểm đó, Ha cân nặng chỉ 2,25kg, và nhỏ đến mức được đặt lọt vào trong một chiếc hộp đựng giày, trên hành trình hơn 6.000 km từ miền Nam Việt Nam sang Úc. Le Thi Ha trong một bức ảnh cũ chụp năm 1975 (Ảnh: NVCC) “Chúng tôi khi đó nghe nói các trại trẻ mồ côi trộn Vegemite (một loại thực phẩm làm từ bã bia sau khi lên men) với nước để bón cho lũ trẻ ăn bởi họ không đủ tiền mua sữa bột, nhưng con bé vừa mới ra đời nên vẫn chưa kịp bị suy dinh dưỡng”, bà Diggins nhớ lại. “Con bé đúng là một giấc mơ. Sau này nó cũng phổng phao nhưng lúc đó vô cùng yếu ớt. Nó không hề khóc và xinh đẹp tuyệt vời. Tôi khi ấy không thể tin được mình lại có cô con gái nhỏ bé này”. Le Thi Ha, giờ đã là bà Chantal Doecke với 4 đứa con, ngày đó nằm trong số trẻ em bị bỏ rơi được di tản trong những ngày cuối cùng của chính quyền Sài Gòn. Chiến dịch "Không vận trẻ em" (Babylift), đã đưa được gần 3.000 trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ rời khỏi miền Nam Việt Nam tới các nước khác trong đó có Mỹ, Pháp, Canada và Úc trong thời gian từ 3/4 đến 26/4/1975. Le Thi Ha (trái) chụp ảnh cùng các anh chị em sau khi được nhận nuôi (Ảnh: NVCC) Giờ đây, 40 năm sau, Doecke đang muốn tìm lại gốc gác của mình, với manh mối duy nhất là tờ giấy khai sinh do chính quyền cũ cấp mà nay đã không còn hồ sơ lưu trữ. Tất cả những gì chị biết đó là mình bị bỏ lại tại bệnh viện Từ Dũ. “Mẹ đã sinh ra tôi và bỏ đi. Chắc chắn rằng bà biết không thể bỏ chạy với một đứa bé sơ sinh còn non yếu”, Doecke nói. “Tôi không tin rằng còn tồn tại bất kỳ thứ giấy tờ nào. Đáng buồn là nhiều trẻ được nhận nuôi như tôi đều có chung cảnh ngộ đó. Khi ấy không có thời gian để nghĩ đến các chi tiết, mà tất cả chỉ muốn “hãy đưa con tôi đi.” Tất cả hy vọng giờ đây được đặt vào một dự án xét nghiệm ADN mang tên Chiến dịch đoàn tụ, với mục tiêu giúp những em bé được đưa đi trong chiến dịch Babylift tìm lại gia đình ruột thịt của mình. Rất nhiều trẻ nhỏ đã được đưa khỏi miền Nam Việt Nam những ngày cuối chiến tranh (Ảnh: Internet) “Khi lớn lên, tôi biết rằng mình là con nuôi, nhưng không thực sự hiểu nhiều về điều này”, Doecke cho biết thêm. “Thậm chí khi đã ở tuổi vị thành niên, khi có ai đó hỏi liệu tôi có muốn tìm lại cha mẹ mình hay không, tôi cũng nói rằng tôi có một người cha và một người mẹ rồi”. Tuy nhiên, tất cả đã thay đổi khi Doecke 20 tuổi, và có đứa con đầu lòng. Khi cùng nhìn hình ảnh của mình và con qua gương, chị tự hỏi “trông con giống mình y hệt, vậy mình thì giống ai?” Suốt những năm tháng lớn lên tại Úc, Chantal đã tìm cách che giấu nguồn gốc châu Á của mình bằng cách nhuộm tóc, che phủ da bằng những hình xăm để tránh sự phân biệt và kỳ thị. Giấy khai sinh là manh mối duy nhất Le Thi Ha có để tìm lại gốc gác của mình (Ảnh: NVCC) “Bằng cách thay đổi diện mạo, tôi có thể giấu được vẻ ngoài châu Á khỏi những cái nhìn chằm chằm từ xung quanh”. Năm 2004, Le Thi Ha và mẹ nuôi cuối cùng cũng đến Sài Gòn mà nay đã là TP. Hồ Chí Minh, và không khỏi ngỡ ngàng bởi những cảm xúc bất chợt ùa về. “Đó đúng là một kỷ niệm đáng nhớ”, chi kể lại. “Đó đơn giản chỉ là một kỳ nghỉ và tôi không có bất kỳ tìm hiểu gì trước khi lên đường. Nó đã thôi thúc một cái gì đó bên trong tôi, một khát khao được trở lại nhiều lần nữa để biết được nhiều hơn”. 3 năm sau, Ha trở lại trong chuyến đi lần hai, và cùng mẹ nuôi tới thăm viện phụ sản Từ Dũ. “Mẹ đẻ của tôi hẳn phải có ít tiền nên mới bỏ tôi trong bệnh viện”, Ha nói. “Tôi là đứa trẻ duy nhất ở bệnh viện đó bị bỏ rơi vào thời điểm đó”. 
Chantal chụp ảnh cùng các anh chị em nuôi tại Adelaide. (Ảnh: adelaidenow) Các nhân viên bệnh viện ngày ấy cho biết có một y tá vẫn còn làm việc từng có mặt trong những ngày diễn ra chiến dịch Babylift, một người có thể nhớ lại điều gì đó. Nhưng vào ngày Ha đến thăm, người y tá này lại nghỉ làm trong khi Ha phải trở về Úc vào hôm sau. “Rất nhiều trẻ mồ côi được nhận nuôi sau chiến dịch Babylift cảm thấy oán giận, cho dù vào thời điểm đó không có nhiều lựa chọn”, bà mẹ có 4 con chia sẻ. “Tôi thì không oán giận gì. Tôi biết vì sao mẹ bỏ tôi lại - bà ấy không thể rời khỏi Sài Gòn với một đứa con mới sinh. Tôi muốn tìm lại ai đó, biết tôi trông giống ai. Tôi muốn tìm hiểu những gương mặt trong gia đình đó và tìm những nét tương đồng về tính cách”, Chantal chia sẻ. “Tôi cần biết nhiều điều. tất cả những người đến trong chiến dịch Babylift xem nhau như anh chị em. Nước Úc là nơi tôi đang sống nhưng giờ tôi cảm thấy nhà tôi là ở Việt Nam. Khi bước xuống máy bay tôi thấy những khuôn mặt châu Á, và không còn cảm thấy là kẻ lạc lõng nữa”. Là một đầu bếp chuyên nghiệp, Chantal hiện đang học làm y tá và bà đỡ, với giấc mơ được làm ở khu vực nông thôn, hoặc khi lũ trẻ đủ trưởng thành, chị sẽ làm việc đâu đó tại Việt Nam. “Lần cuối cùng ở Việt Nam tôi đã đi xem một chương trình ca nhạc”, Chantal nói. “Tôi ngồi đó với chị dâu và đột ngột có một luồng cảm xúc trào dâng khiến tôi bật khóc. Thật không kìm nén nổi. Nơi này rõ ràng đã khiến cảm xúc trong tôi trỗi dậy suốt những năm qua. Giờ tôi xem một cuốn phim tài liệu, hay một bộ phim, tôi vẫn rơi nước mắt. Khi đi quanh đất nước ấy, bạn vẫn sẽ thấy dấu vết của chiến tranh còn hằn lên những con người và mảnh đất nơi ấy”
Tin tức nguồn:http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=1127955#ixzz3Wxfehz5m doc tin tuc www.xaluan.comNhững đứa trẻ đi tìm cha mẹ 40 năm sau chiến dịch không vận40 năm trước, Chantal Doecke nằm trong một hộp giày đặt trên máy bay rời Sài Gòn. Đến bây giờ, khi đã làm mẹ, cô vẫn không biết người đã sinh ra mình là ai.  | Chantal Doecke thuở bé. Ảnh: ABC |
Chantal nằm trong số gần 300 trẻ em Việt Nam có mặt trên chuyến bay rời Sài Gòn sang Australia ngày 5/4/1975. "Tôi được đặt trong một chiếc hộp đựng giày, giống như hầu hết những đứa trẻ khác", Doecke nói. "Rõ ràng đó là một lựa chọn dễ dàng và an toàn". Được một đôi vợ chồng ở Australia nhận nuôi, Chantal cho hay cô chưa bao giờ suy nghĩ gì nhiều về gốc gác của mình, cho đến khi cô làm mẹ. "Tôi đứng trước gương và ôm con bé, tôi nhìn con bé và nhìn mình. Tôi nghĩ 'ồ, nó trông giống mình làm sao' ", Chantal kể. "Nhưng sau đó tôi tự hỏi thế mình giống ai. Điều đó bắt đầu khiến tôi bối rối". Chantal đã đi tìm bố mẹ đẻ của mình nhiều năm nay nhưng không thành. "Thậm chí đến nay, tôi đã 40 tuổi rồi và vẫn không ngừng cố gắng để thay đổi ngoại hình của mình", cô nói. "Không phải tôi xấu hổ là người Việt Nam hay trông tôi khác biệt với mọi người, tôi chỉ nghĩ đó là cá tính của mình".  | Chantal Doecke sẽ quay lại Việt Nam tháng này. Ảnh:ABC |
Trong những ngày cuối của cuộc chiến tranh Việt Nam năm 1975, Chiến dịch Không vận trẻ em của Mỹ đã đưa khoảng 3.000 trẻ em rời khỏi Sài Gòn. Các em được đưa đi từ các trại trẻ và bệnh viện, đến các nước trên khắp thế giới. Khoảng 300 em được các gia đình ở Australia nhận nuôi. Tháng này, Chantal dự định quay lại TP. Hồ Chí Minh để tham dự một cuộc họp mặt với những đứa trẻ đồng cảnh ngộ 40 năm trước. Nhiều người trong số đó từ lâu đã đi tìm gốc gác của mình. Một số người đã cung cấp mẫu ADN để nhờ giúp đỡ. Sue Yen Byland, ở thành phố Perth, Australia, cũng đã tìm kiếm bố mẹ ruột suốt 9 năm. Cô nói mẹ mình là người Việt, còn cha cô có thể là một cựu binh Mỹ. "Tôi cảm thấy mình đã nỗ lực hết sức để người sinh ra tôi biết rằng tôi đang tìm bà ấy", Byland nói. Cô cũng sẽ tham dự buổi họp mặt sắp tới ở TP.Hồ Chí Minh. Không phải ai cũng may mắn như Tricia Houston, một phụ nữ Mỹ. Qua mẫu DNA, cô biết rằng cha mẹ đẻ mình đều là người Việt Nam. Cô tìm thấy cha khi đọc được một câu chuyện trên Facebook. Một người đàn ông cho hay ông đã tìm kiếm con gái suốt 38 năm. "Người đàn ông đó trông thực sự rất buồn và có vẻ như ông ấy đã đi tìm con suốt cả cuộc đời mình", Houston nói.  | Tricia Houston. Ảnh:ABC |
Kết quả xét nghiệm ADN đã kết nối hai cha con. Houston dự định về Việt Nam tháng này để gặp cha lần đầu tiên. "Tôi hy vọng câu chuyện này sẽ tiếp thêm nguồn hy vọng cho mọi người rằng họ vẫn có thể tìm lại được gia đình ruột thịt của mình", cô nói. Tại Mỹ, một cơ sở dữ liệu ADN có thể giúp nhiều người con nuôi tìm thấy cha mẹ ruột. Hàng nghìn người cũng đã tìm thấy bà con thân thích. Tuy nhiên, cơ sở dữ liệu ADN này không có ở Australia. Anh Ngọc
Cậu bé mồ côi gặp lại cha đẻ sau 30 năm chiến dịch không vậnSuốt 30 năm kể từ ngày đến Canada trong chiến dịch không vận trẻ em năm 1975, Thanh Campbell vẫn tưởng rằng mình là trẻ mồ côi, cho đến khi một người đàn ông tự nhận là cha anh xuất hiện.  | Một vài trong 55 trẻ em Việt Nam đến Toronto, Canada, tháng 4/1975. Tình nguyện viên Jane Casey, người đồng hành cùng các em trong chuyến đi cho hay "chúng có vẻ như rất hoảng sợ". Ảnh:The Star |
Một buổi chiều gần đây, Thanh Campbell, 41 tuổi, chào đón mọi người đến chi nhánh của Thư viện Công cộng Hamilton và bật laptop để trình chiếu câu chuyện của anh lên màn hình. Thanh thường xuyên có các buổi giáo dục cộng đồng như thế. Căn phòng trở nên nhỏ bé hơn khi Thanh mời mọi người giới thiệu về bản thân họ, sau đó bảo họ phát âm tên của anh: "Won Thanh Campbell Soup". Cảnh tượng chẳng khác gì khi còn bé, lúc anh giới thiệu tên mình trước những người bạn cùng lớp đang tròn xoe mắt. Trong những ngày cuối của cuộc chiến tranh Việt Nam năm 1975, chính phủ Mỹ tiến hành chiến dịch không vận để đưa khoảng 3.000 trẻ em rời khỏi Sài Gòn. Họ tập hợp các em được cho là trẻ mồ côi, mất cha mẹ do chiến tranh hoặc con của quân nhân Mỹ, rồi đưa đến các nước khắp thế giới, trong đó có Canada. Vài tuần sau đó, một đơn kiện đã được nộp lên tòa án Mỹ, thay mặt cho những em có cha mẹ còn sống. Dù vụ kiện bị bác bỏ vì thiếu bằng chứng, nó vẫn khiến giới chức Mỹ rà soát lại các hồ sơ. Họ phát hiện ra 233 trong số 1.667 em được đưa sang Mỹ không có đủ giấy tờ. Giới chức ở bang ontario, Canada, nơi Thanh sinh sống, cũng khẳng định rằng những trẻ em được đưa đến đây hoàn toàn là trẻ mồ côi. Thực tế, Thanh không nằm trong số đó.  | Thanh Campbell và bức ảnh năm 1975, khi anh là trẻ mồ côi mang số 32 trên chuyến bay sang Canada. Ảnh:The Star |
Tháng 4/1975, anh được mục sư William Campbell và vợ là Maureen, ở thành phố Cambridge, bang ontario, nhận nuôi. Ông William, người vừa qua đời tháng trước, luôn tự hào về 6 đứa con của mình, trong đó có một nửa là con nuôi. Thanh kể với mọi người rằng anh chưa bao giờ cảm thấy mình là người châu Á. Khi gia đình đến thăm khu người Hoa, anh muốn về nhà. Khi một gia đình người Việt Nam đến Cambridge sinh sống, mẹ đưa anh đến nhà họ nhưng anh cũng không thích học tiếng Việt. Thanh "quá Canada". Mọi thứ sẽ như thế cho đến khi Thanh có một buổi nói chuyện ở nhà thờ năm 2004, nơi anh gặp Trent Kilner, một trong những trẻ em của chiến dịch không vận năm 1975. Hai người đàn ông và một số con nuôi khác đã tổ chức cuộc họp mặt vào năm 2006, rồi tìm ra 42 người trong số những trẻ em trên chuyến bay đến Toronto năm xưa. Họ chia sẻ những câu chuyện về cuộc đời mình với báo chí và chuyện của Thanh cũng được đăng tải ở Việt Nam. Ông Nguyen Minh Thanh đọc được nó trong một bữa sáng tháng 7/2006. Ban đầu, ông chỉ nghĩ đó là một câu chuyện hay rồi quên luôn. Tuy nhiên, đến nửa đêm, ông bật dậy. Người đàn ông trong bài báo có tên giống với đứa con trai mà ông thất lạc năm 1975. Ngay sau đó, Thanh Campbell nhận được một email từ người tự nhận là anh trai của anh. "Thanh Campbell thân mến!", lá thư bắt đầu. "Gia đình tôi có một người tên Nguyen Ngoc Minh Thanh giống anh. Chúng tôi thất lạc cậu ấy từ năm 1975. Cậu ấy rời khỏi Việt Nam theo dự án không vận trẻ em. Đến bây giờ, 30 năm sau, cha tôi vẫn luôn đi tìm tung tích con trai. Cha tôi rất vui khi đọc được bài viết trên báo Tuổi trẻ. Chờ tin anh, Nguyen Ngoc Minh Thao". Thanh không chắc anh nên làm gì. Anh nghĩ về ba cậu con trai của mình. Nếu một trong số chúng mất tích, anh cũng muốn biết chúng ở đâu. Tháng 4/1975, cha của Thanh là một quan chức cấp cao trong quân đội Việt Nam Cộng hòa. Thanh được chăm sóc trong trại trẻ mồ côi liên kết với trường nội trú. Khi cuộc chiến giải phóng miền Nam Việt Nam đang đi vào giai đoạn ác liệt, đó là một nơi an toàn. Cha anh vẫn đến thăm con vào dịp cuối tuần cho đến khi binh lính đi khắp các làng để tập hợp trẻ mồ côi đưa sang Mỹ. Hai người anh trai của Thanh đã bất lực đứng nhìn chiếc jeep chở em mình ra đi. Sau khi chiến tranh kết thúc, cha anh quay lại để tìm con nhưng Thanh đã không còn ở đó.  | Thanh Campbell, cha nuôi William Campbell và cha đẻ gặp nhau tại TP. Hồ Chí Minh năm 2009. Ảnh:The Star |
Trong cuộc điện thoại đầu tiên với con trai thông qua một phiên dịch, ông Thanh vô cùng phấn khởi. Ông muốn nói với Thanh ba điều, đó là anh chưa bao giờ bị bỏ rơi, cha mẹ yêu anh và họ đã đi tìm anh suốt 30 năm. "Điều đó ngay lập tức chạm đến trái tim của một đứa trẻ mồ côi", Thanh nói. Năm 2009, khi Thanh quay lại Việt Nam, cha nuôi của anh cũng hào hứng đi cùng. Tại sân bay Tân Sơn Nhất, đứa con trai thất lạc bấy lâu ôm chầm lấy người cha Việt đã sinh ra và từng nuôi nấng mình. "Mọi người đã khóc khi thấy cảnh đó", Thanh kể. "Tôi không khóc, tôi chỉ tự hỏi sao chuyện này lại có thể xảy ra. Tôi đã không đi tìm họ. Nếu cha mẹ (nuôi) thay đổi tên tôi, chắc sẽ không có cuộc gặp này". Trong cuốn sách "Trẻ mồ côi số 32", Thanh mô tả về cuộc gặp với một "phụ nữ già dễ thương" ở Việt Nam, người chỉ vào mũi của bà, cười và chỉ lại vào mũi của anh. Đó là dì của Thanh, người nhận ra "chiếc mũi gia đình" trên báo khi nhìn thấy ảnh anh. Trước khi rời Việt Nam, hai người anh trai đã hẹn Thanh ra một quán cafe và nói lời xin lỗi. "Tôi nói 'các anh lúc đó mới chỉ 4 tuổi và 6 tuổi. Các anh có thể làm gì chứ? Các anh sẽ chạy đến đá vào chân họ à?". Anh Ngọc (TheoThe Star)
Cuộc đoàn tụ xúc động trên đất Việt của cô bé mồ côiDân tríJulie Davis, người đã có mặt trên một chuyến bay di tản từ Sài Gòn, Việt Nam tới Seattle, Mỹ trong "chiến dịch không vận" năm 1975, đã chia sẻ câu chuyện xúc động về chuyến đi tìm về nguồn cội của cô vào năm 2003. >> Ký ức về "chiến dịch không vận trẻ em" cách đây 40 nămJulie Davis (phải) đã gặp lại bà sơ Emilienne (trái) trong chuyến trở lại Việt Nam năm 2003. (Ảnh:Kuow/Julie Davis) Theo trangKuow, Julie mới 1 tuổi khi chiếc Boeing 747 đưa cô và hàng trăm đứa trẻ khác rời khỏi Sài Gòn. Họ đã tới Seattle, Houston và Minneapolis. 30 năm sau đó, Julie đã trở lại Việt Nam để tìm trại trẻ mồ côi, nơi cô từng sống sau khi chào đời. Julie tới thành phố biển Quy Nhơn, nơi có Viện mồ côi Ghềnh Ráng năm nào. Bề ngoài của tòa nhà hầu như không thay đổi, nhưng trại trẻ giờ đây không còn. Julie đã nghĩ rằng đó là cái kết cho chuyến trở về Việt Nam. Những đứa trẻ mồ côi tại trại Ghềnh Ráng. (Ảnh:Kuow/Julie Davis) Nhưng người hướng dẫn viên nhiệt tình của Julie đã kiên nhẫn hỏi mọi người về một bà sơ có tên là Emilienne. Julie biết tới Sơ Emilienne thông qua các tài liệu do tổ chức nhận con nuôi cung cấp. Nếu không có Emilienne chăm sóc, Julie có thể đã không còn sống để có mặt trên chuyến bay rời Sài Gòn. Nhưng trước khi trở lại Việt Nam, Julie không nghĩ sẽ tìm thấy Emilienne, vì cho rằng bà có thể đã chết hoặc rời đi nhiều năm trước. Cuối cùng, người hướng dẫn viên đã đưa Julie tới một tu viện nơi Sơ Emilienne từng sống. Khi một phụ nữ Việt dáng người nhỏ nhắn xuất hiện, hướng dẫn viên giới thiệu tên khai sinh của Julie là Nguyen Thi Thanh Truc. Ngay lập tức, bà nhận ra Julie là ai. Quá xúc động, bà ôm lấy Julie như thể cô là con bà vậy. Bà nắm lấy tay Julie không buông. Những ký ức của năm 1975 hiện lên trong bà như thể mọi chuyện vừa mới xảy ra hôm qua. Theo lời kể của Sơ Emilienne, Julie được đưa tới trại mồ côi từ bệnh viện. Khi đó, cô bé vẫn còn nguyên dây rốn, và mẹ của cô rất yếu. Sơ cắt dây rốn cho cô bé và đặt cho cô họ Nguyễn. Sơ cho biết rằng kể từ năm 1975, có tới 4 hoặc 5 người từng sống tại trại trẻ mồ côi Ghềnh Ráng đã trở lại tìm bà. Nhưng trong nhiều năm, bà đã tự hỏi tại sao Julie không quay trở lại. Bà từng nghĩ rằng có thể Julie sẽ không bao giờ quay lại. Một bức ảnh tư liệu về trại mồ côi Ghềnh Ráng, nơi Julie từng sống khi mới chào đời. (Ảnh:Kuow/Julie Davis) Tòa nhà không thay đổi nhiều khi Julie trở lại đây vào năm 2003. (Ảnh:Kuow/Julie Davis) "Tôi tự hỏi điều gì đã xảy ra với cô, cô đang làm gì? Cô có ổn không và có gia đình riêng chưa?", Sơ kể lại. Sơ Emilienne mong muốn một ngày nào đó bà sẽ được sống với Julie tại tu viện. Bà nói sẽ giúp Julie tìm việc làm. Julie cảm thấy ấm lòng khi nghe lời tâm sự này. Sơ Emilienne tỏ ra xúc động hơn Julie nhiều bởi có thể bà có quá nhiều điều để nhớ. Sơ khi ấy đã trưởng thành và đó cũng là một thời kỳ bi tráng trong lịch sử Việt Nam. Phải tạm biệt tất cả những đứa trẻ tại trại mồ côi và trải qua những nỗi đau của chiến tranh hẳn không phải điều dễ dàng với bà. Khi chia tay những đứa trẻ mồ côi, Sơ Emilienne đã bật khóc và nói rằng bà không thể rời đi. Bà nói còn quá nhiều những đứa trẻ ốm yếu bị bỏ lại - những đứa trẻ không đủ sức khỏe để trải qua một chuyến bay dài. Sơ không thể bỏ rơi chúng. Julie cảm thấy cô mang ơn Sơ Emilienne rất nhiều. Sơ đã dũng cảm và tận tụy, kêu gọi các tổ chức và chính quyền địa phương trợ giúp những đứa trẻ mồi côi. "Sơ đã thực sự vạch ra đường đời của chúng tôi và cho chúng tôi một cơ hội. Bà đã sẵn sàng hi sinh cơ hội đó của mình", Julie nói. Julie và Sơ Emilenne đã trao đổi địa chỉ email và hứa viết thư. Sơ cũng mong được xem ảnh của Julie thời niên thiếu. Sau bao năm xa cách, Julie muốn tin rằng cô đã có thể thu hẹp khoảng cách về cuộc sống và văn hóa giữa hai nước. Khi tạm biệt Sơ Emilenne, Julie đã không giấu được nỗi buồn, vì cô biết có thể còn lâu mới có thể quay trở lại, không biết khi nào. Julie cho hay cuộc hành trình trở lại Việt Nam đã khiến cô nghĩ tới việc làm thế nào để nuôi dạy con gái và cô muốn sống cuộc đời còn lại ra sao. Chuyến đi đã thay đổi suy nghĩ của cô về bản thân và quá khứ. Julie, hiện đang sống tại Minneapolis (Mỹ), chụp ảnh cùng con gái. (Ảnh:Kuow/Julie Davis) Trong nhiều năm, Julie đã sống trong mặc cảm. Cô từng mặc cảm khi là một người gốc Việt, mặc cảm vì là một đứa trẻ môi được nhận làm con nuôi. Nhưng chuyến trở lại Việt Nam và cuộc gặp gỡ với Emilienne đã thay đổi suy nghĩ của Julie về chuyện nhận con nuôi và cả chuyện là một người Việt Nam. "Tôi trở lại Việt Nam để khép lại một chương trong cuộc đời và không nhận ra rằng một chương mới sẽ bắt đầu. Tôi không biết tương lai của tôi với Việt Nam ra sao, nhưng tôi biết trải nghiệm này giúp tôi luôn nhớ rằng tôi là một người Mỹ, được nhận làm con nuôi, và quan trọng nhất là tôi là một người Việt Nam", Julie tâm sự. An Bình Hành trình tìm mẹ của nhà báo gốc Việt sau cuộc không vận trẻ em"Giây phút này trả lời câu hỏi lớn nhất của đời tôi, và đặt ra hàng nghìn câu hỏi mới", Catherine Turner, một em bé trong chiến dịch không vận Babylift, nay trở thành nữ nhà báo người Australia, nói về khoảnh khắc gặp mẹ ruột sau 30 năm xa cách. Chiến dịch Không vận Trẻ em (Babylift) là một trong những sự kiện được quan tâm lớn của chiến tranh Việt Nam, có ảnh hưởng lâu dài trong nhiều năm. Thế giới có thể sẽ không chứng kiến điều tương tự một lần nữa. Cuối cuộc chiến tranh năm 1975, Mỹ đưa khoảng 3.000 trẻ em Việt Nam ra khỏi Sài Gòn để làm con nuôi ở các nước phương Tây. Nhà báo CatherineTurner thuộc kênh truyền hình Al-Jazeera nằm trong những đứa trẻ đó. Côthực hiện một phim tài liệu "Rất gần mà rất xa" (So Close, So Far Away), kể về cuộc đời mình từ khi được đưa lên máy bay ngày 5/4/1975, đến lúc trưởng thành và trở về Việt Nam tìm được mẹ đẻ. Trong phim, Turner nói về ký ức của một đứa thiếu niên gốc Á lớn lên trong một gia đình Australia da trắng, về những tác động tâm lý của chiến dịch Baby Lift, qua con mắt của người trong cuộc. < iframe width="480" height="270" src="http://vnexpress.net/parser_v3.php?id=53055&t=2&ft=video&si=1000000&ap=1&ishome=0" frameborder="0" allowfullscreen="" style="margin: 0px; padding: 0px; position: absolute; top: 0px; left: 0px; width: 470.40625px; height: 264.59375px;">< /iframe> Nữ nhà báo sinh năm 1974 tại Việt Nam với cái tên Huỳnh Thị Cẩm Tú, sang Australia khi mới 5 tháng tuổi trong chiến dịch không vận và được cha mẹ nuôi đặt tên mới là Catherine Turner. < iframe width="480" height="270" src="http://vnexpress.net/parser_v3.php?id=53057&t=2&ft=video&si=1000000&ap=1&ishome=0" frameborder="0" allowfullscreen="" style="margin: 0px; padding: 0px; position: absolute; top: 0px; left: 0px; width: 470.40625px; height: 264.59375px;">< /iframe> Thời niên thiếu, dù được gia đình nhận nuôi yêu thương, cô vẫn trải qua những khó khăn khi là người châu Á trong cộng đồng gốc Âu ở thị trấn nhỏ bang New South Wales. Khi xem lại những bức ảnh hồi bé, cô nhớ lại hình ảnh lạc lõng giữa các bạn da trắng ở trường, trong các bữa tiệc. Cath Turner lần giở những trang nhật ký cô bắt đầu viết khi 12 tuổi, trong đó đề cập đến những lời lẽ châm chọc của các bạn ở trường. "Thật bất công, cứ như thể thế giới chỉ có mỗi Australia, và ai đó không sinh ra là người da trắng bị coi như một kẻ lập dị. Mình nhìn chăm chú những cô gái xung quanh và thấy họ xinh đẹp làm sao. Chúa ơi, mình muốn đánh đổi tất cả để thành người Da Trắng, Da Trắng, Da Trắng", Cath đọc những dòng nhật ký cô ghi lại khi còn đi học. Cath cho biết cuốn nhật ký gợi cho cô nhớ đến quãng thời gian cô căm ghét bản thân, chán ghét màu da nâu, đôi mắt đen Á đông của mình đến nhường nào. Trong hành trình giữa ba nước Mỹ, Australia, Việt Nam, Cath gặp những người tham gia chiến dịch Babylift, như giám đốc trại trẻ mồ côi nơi cô ở tại Sài Gòn và Frank Snepp, lãnh đạo phân tích tình báo thuộc Cục Tình báo Trung ương Mỹ, làm việc tại Đại sứ quán ở Sài Gòn. Trong cuộc phỏng vấn, ông Snepp tiết lộ sự thật gây sốc khiến nhà báo bật khóc, "không biết phải tức giận hay đau khổ" khi ông này nói rằng chiến dịch không vận trẻ em là một cách để chính phủ Mỹ khi đó đạt mục đích chính trị. Tháng 4/1975, khi chiến dịch bắt đầu, nó nhận được sự ủng hộ rộng rãi của công chúng Mỹ, nhưng sau đó những hoài nghi và chỉ trích bắt đầu nổi lên, và vẫn là chủ đề gây tranh cãi. Tìm về nguồn cội Cũng trong chương trình, Cath kể về cuộc đoàn tụ xúc động với mẹ ruột sau một thời gian tìm kiếm. Mong mỏi tìm câu trả lời về nguồn cội, ở tuổi 27, cô lần đầu về Việt Nam để tìm mẹ vào năm 2001. Tuy Cath có giấy khai sinh và đã đến đồn công an, hỏi han nhiều người, chuyến đi ba tuần không mang lại kết quả. Khoảng một năm sau, Cath về Việt Nam cùng cha mẹ nuôi người Australia trong một chuyến du lịch, không ngờ chuyến thăm lại là dịp cô đoàn tụ với người mẹ ruột. Một người bạn phiên dịch đã giúp cô tìm mẹ nhờ tên, ngày sinh, số chứng minh thư bà để lại khi đưa con vào trại trẻ mồ côi, cũng như tên và ngày sinh của Huỳnh Thị Cẩm Tú. Và khoảnh khắc Cath chờ đợi suốt 30 năm đã diễn ra. Khi đó, cô cùng cha mẹ nuôi ngồi chờ mẹ ruột đến nhận tại đồn công an. < iframe width="480" height="270" src="http://vnexpress.net/parser_v3.php?id=53056&t=2&ft=video&si=1000000&ap=1&ishome=0" frameborder="0" allowfullscreen="" style="margin: 0px; padding: 0px; position: absolute; top: 0px; left: 0px; width: 470.40625px; height: 264.59375px;">< /iframe> Cath là kết quả của một mối tình dang dở. Do sức khỏe yếu và không đủ khả năng kinh tế, mẹ cô gửi con vào trại trẻ mồ côi và đồng ý cho cô làm con nuôi nếu có người đủ điều kiện tài chính nhận. Ngày 1/5/1975, bà quay lại trại trẻ để tìm con nhưng nơi này đã trở thành đống hoang tàn, đổ nát. Người phụ nữ đau buồn, tưởng Cath đã chết mà không hay biết cô đã rời Việt Nam tới Australia trong chiến dịch Không vận Trẻ em. Trong phim tài liệu, nhà báo kênh Aljazeera còn gặp gỡ Mỹ Hưng, người cũng được đưa tới Australia trong chiến dịch không vận, và phỏng vấn một bà mẹ hối hận vì đã gửi con vào trại trẻ mồ côi, để cho con đi làm con nuôi. "Càng nói chuyện với nhiều người, chúng tôi càng nhận ra chiến dịch Babylift thực sự có những ảnh hưởng tầng tầng lớp lớp và sâu rộng đến mức nào", Cath Turner viết khi giới thiệu về bộ phim tài liệu. Cô cho rằng không có giải pháp hay hồi kết nào ngay trước mắt với hầu hết những người chịu ảnh hưởng. "Những giấy tờ và văn bản còn lại rất ít, cộng với làn khói mù của chiến tranh khiến việc tìm ra câu trả lời nhiều người đang mong muốn là điều bất khả thi", cô cho biết. Hàng nghìn trẻ em trong chiến dịch không vận không có cách nào để tìm được dòng dõi hay danh tính thực sự của mình. Một số không muốn biết, trong khi số khác tìm cách "điền vào chỗ trống" trong tuyệt vọng. Giống như Cath, nhiều trẻ em trong chiến dịch Baby Lift đã tìm lại được cha mẹ ruột của mình và có những cuộc đoàn tụ cảm động. Nhưng vẫn còn hàng nghìn cha mẹ người Việt không biết điều gì đã xảy ra với con trai, con gái họ. Họ có thể sẽ không bao giờ biết. Họ chỉ hy vọng con cái họ vẫn sống và hạnh phúc. Và mơ về một ngày đoàn tụ. Trọng Giáp (theo Al-Jazeera) Những “em bé” babylift tại Canada khắc khoải tìm lại nguồn cội ViệtTrẻ em (babylift) khi còn rất nhỏ, nhiều em bé Việt đã được nuôi nấng trưởng thành và có cuộc sống sung túc. Tuy vậy, nỗi khắc khoải tìm lại cội nguồn nơi quê nhà vẫn khiến họ đau đáu khôn nguôi.Nằm trong số gần 3000 trẻ được di tản khỏi miền Nam Việt Nam trong những ngày cuối cùng trước khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ, Ayesha Bharmal hiện vẫn mang trên mình những vết sẹo từ khi còn nhỏ, mà theo một số người từng nhìn thấy thì có vẻ chúng bị gây ra bởi vết dao cắt. Thi Diep Nguyen là một trong những trẻ nhỏ người Việt bị bỏ rơi tới Canada năm 1975 (Ảnh: Canadian Press) Nhịp cầu kết nối tìm lại người thân
Theo đề nghị của bạn đọc, báoDân Trí sẽ làm cầu nối để đăng tải thông tin nhằm giúp những người con Việt Nam trong “chiến dịch không vận trẻ em” năm 1975 tìm lại thân nhân. Độc giả trong và ngoài nước quan tâm, có những thông tin hay câu chuyện về chiến dịch này, hãy chia sẻ với chúng tôi. Thư xin gửi về địa chỉthegioi@dantri.com.vn. Chân thành cảm ơn! (Thư có thể viết bằng tiếng Việt hoặc tiếng Anh). | Nhưng bản thân chị không chút mảy may có suy nghĩ tiêu cực nào, mà chỉ muốn nói về chiến dịch giải cứu, đã giúp mình cùng hàng chục đứa trẻ khác tới Canada để làm con nuôi.“Tôi biết có những câu chuyện rùng rợn về cách những đứa trẻ bị hủy hoại…thật đáng sợ”, Bharmal nói, và đoán rằng mình là con của một binh sỹ Mỹ da màu và một phụ nữ Việt. “Tôi cảm thấy rất biết ơn”, chị nói về chiến dịch babylift, được Tổng thống Mỹ khi đó là Gerald Ford ra lệnh triển khai trong những ngày đầu tháng 4/1975. Hàng chục chuyến bay đã mang theo những đứa trẻ mồ côi, những đứa con lai tới những ngôi nhà mới ở Mỹ, Canada, châu Âu và Úc. Trong số này có 2 chuyến bay tới Canada, một hạ cánh tại Montreal, chiếc còn lại đáp xuống Toronto. Tổng cộng có khoảng hơn 100 trẻ em đã đến Canada, thuộc đủ lứa tuổi, từ vài tháng tới 9 tuổi, Thanh Campbell, một trẻ em tị nạn khác giống như Bharmal và là tác giả cuốn “Trẻ mồ côi 32” cho biết. Dù vậy, không phải mọi chuyến bay trong chiến dịch di tản đều tới đích an toàn. Một trong những chuyến bay đầu tiên của Mỹ đã bị rơi không lâu sau khi cất cánh, khiến 135 người trên khoang, trong đó có 93 trong tổng số 247 trẻ mồ côi thiệt mạng. Trở lại phòng khách của Bharmal, chị tự xem mình là may mắn khi lên được chuyến bay đưa mình tới Hồng Kông, và sau đó là hành trình dài tới Vancouver, và cuối cùng là Toronto. Một bức ảnh cũ của Bharmal (Ảnh: Canadian Press) Ngồi trên ghế sofa bên cạnh bố và mẹ nuôi là Shiraz và Nurjehan Bharmal, Ayesha lật từng trang album ảnh, ghi lại những khoảnh khắc suốt 41 năm qua. Chỉ vào một bức ảnh cũ, ông Nurjehan nói: “Con bé khi đó rất nhỏ, đến độ bạn có thể thấy chân tay nó mỏng manh ra sao. Nó chỉ nặng đâu đó 5-6 kg, nhưng chỉ một thời gian ngắn sau nó đã lớn phổng”. Ông bà Bharmal cho biết trên trong hồ sơ của con gái mình là Thi Diep Nguyen, và họ nói rằng cô bé khi đó được cho là 20 tháng tuổi, nhưng ông bà không tin. Thích con có một cái tên của người theo đạo Hồi, ông bà đã đặt tên cô con gái là Ayesha Fatima Bharmal. Trẻ babylift và nỗi khổ bị kỳ thị Trong khi đó, David Jonathan Truong Hobson cho biết anh đã gặp không ít khó khăn khi phải thích nghi với cuộc sống tại ontario, khi là “đưa trẻ châu Á duy nhất” trong vùng. Đã nhiều lần Hobson bị chế nhạo và bắt nạt. Năm học lớp 10, anh đã nổi loạn bằng cách từ chối đứng lên hát quốc ca Canada. Hobson cho biết mình cảm thấy bị Canada chối bỏ, nhưng cũng đồng thời không có nhiều ý niệm về việc phải làm gì để tìm lại gốc gác. “Cả đời mình tôi luôn nghĩ mình là người da trắng. Lúc duy nhất tôi có thể thấy mình là người châu Á là khi tôi soi gương”, Hobson chia sẻ. Mãi đến năm 1992, khi anh tới Vancouver để học đại học, anh mới phát hiện ra những người Canada gốc châu Á khác trông giống mình. Dù vậy vẫn còn những câu hỏi về nguồn gốc của Hobsons. Một tài liệu nói rằng anh có tên Vantot Guise Nguyen, và được sinh đâu đó trong khoảng1971, 1972 hoặc 1975. Mãi đến năm 9 tuổi, Hobsons mới chính thức có được ngày sinh, khi bố mẹ đưa tới Ottawa để làm hộ chiếu. Cha của anh đã quyết định chọn ngày 24/5/1974, một phần theo ước đoán của bác sỹ, một phần để bày tỏ sự biết ơn Nữ hoàng Victoria. Những câu chuyện tương tự không phải hiếm, Campbell, một “em bé” babylift khác đã dành nhiều thời gian và công sức để kết nối với những người đồng cảnh ngộ, cho biết. Mặc dù mỗi em bé khi đó đều được đưa đi cùng giấy tờ tùy thân, nhiều tài liệu đơn giản chỉ được tập hợp vội vã cho đủ yêu cầu mà không chắc là giấy tờ thật, Campbell nói. Campbell tình cờ phát hiện một người bạn babylift của mình năm 2003, khi kể về cuộc đời mình tại một nhà thờ ở ontario. Một gia đình tại đó đã giúp kết nối Campbell với một trẻ mồ côi người Việt mà họ biết, có tên Trent Kilner. Nhiều em nhỏ tại sân bay Tân Sơn Nhất ngày 17/4/1975, chuẩn bị cho chuyến bay di tản thứ hai trong chiến dịch babylift (Ảnh: Internet) Kể từ đó đến nay, Campbell cho biết đã tìm thấy 47 trong số 57 trẻ mồ côi có mặt trên chuyến bay của mình. Nhiều người vẫn đang sống tại ontario, nhưng không ít đã di tản đi khắp nơi. “Họ là những người gần gũi nhất theo ý nghĩa một gia đình mà tôi từng nghĩ có thể tìm thấy”, Campbell nói. “Khi tìm thấy Trent cảm giác thật tuyệt vời. Với tôi đó là lần đầu tiên tôi gặp một ai đó thực sự hiểu việc tới Canada là thế nào với chúng tôi… Không thực sự phù hợp trong thế giới mới, và cũng không phù hợp với cộng đồng châu Á bởi chúng tôi đã đánh mất văn hóa của mình. Chúng tôi mất đi ngôn ngữ của mình nên thực sự không phù hợp với bất kỳ cộng đồng nào. Nhưng chúng tôi biết chúng tôi hợp với nhau”. Kilner sau đó đã kết hôn với một trẻ mồ côi đồng cảnh ngộ khác, chị Lia Pouli, người cũng đã rời Sài Gòn những ngày tháng 4/1975 trên cùng chuyến bay. Họ gặp nhau năm 2005 và bắt đầu hẹn hò vài tháng sau đó. Đến năm 2008, hai người kết hôn và nay đã có 3 con. Trong khi một số người tiếp tục với cuộc sống mới, Campbell không ngừng nỗ lực để tìm lại nguồn gốc của mình, và phát hiện ra sự thật rằng bố mẹ đẻ chưa từng có ý định bỏ rơi anh. Mà thực chất, anh bị đưa đi di tản do nhầm lẫn. Do cha mẹ Campbell làm việc cho quân đội Mỹ, hàng ngày, họ gửi anh cùng hai người anh em khác vào cho các nữ tu tại một nhà thờ trông nom. Nhưng đến một ngày, khi họ trở về thì được thông báo con mình “đã sang Mỹ”. Campbell cũng biết rằng, mẹ mình đã qua đời trong vòng tay cha năm 1987, với những lời cuối cùng là hãy tìm lại Campbell. “Những lời cuối cùng của bà nói với cha tôi là “hãy tiếp tục tìm kiếm Thanh. Tiếp tục tìm kiếm con chúng ta. Đừng từ bỏ, đừng từ bỏ”. Năm 2006, thông tin về một cuộc họp mặt của những trẻ mồ côi Việt Nam trong chiến tranh tại ontario đã lan truyền về đến Việt Nam. Một người nhận là em trai của Campbell đã liên hệ với anh, và nói rằng cha của người này tin hai người có mối liên hệ với nhau. Kết quả kiểm tra ADN tháng 1/2007 đã xác nhận điều này. “Tôi đã không nói lên lời”, Campbell nói. “Lúc đó tôi bàng hoàng, làm sao điều này có thể xảy ra?” Đó là câu chuyện đem lại hy vọng cho những đứa trẻ mồ côi khác đang tự hỏi liệu họ có gia đình nào đó ở Việt Nam. Campbell hiện đang thuyết phục những đứa trẻ babylift giống mình làm một cuộc hành hương về Việt Nam vào năm 2025, dịp kỷ niệm 50 năm chiến dịch đã thay đổi cả cuộc đời họ. Campbell biết một tổ chức tại Mỹ đã lên kế hoạch cho một chuyến đi như vậy trong năm nay, nhưng chỉ có vài người Canada tham gia. “Chúng tôi đã lỡ chuyến tàu trong dịp này. Nhưng đến dịp lần thứ 50, chúng tôi sẽ không để nó đi mất. Chúng tôi sẽ làm mọi thứ có thể để đưa nhiều người sang Việt Nam, và khả năng là rất cao”, Campbell tin tưởng. Thanh Tùng Theo Canadian Press Mong ước gặp lại cha của những đứa con lai sau chiến tranhTrải qua thời thơ ấu khó khăn, những đứa trẻ là kết quả của cuộc tình giữa phụ nữ Việt và lính Mỹ khao khát ngày nào đó gặp lại cha mình.  | Nguyen Thanh An và vợ, chị Le Thi My Thuy. Ảnh: The Washington Post. |
Khi Nguyen Thanh An gặp vợ tương lai, Le Thi My Thuy, lần đầu tiên cách đây 15 năm, anh biết ngay cô cũng là "con lai", giống mình. Cả hai cùng có tuổi thơ khó khăn vì nguồn gốc của mình. Thanh An và My Thuy bắt đầu hẹn hò, và có một con trai rồi mới kết hôn năm 2007. "Có rất nhiều điều để nhắc tới. Chúng tôi chia sẻ quá khứ giống nhau, cảm giác giống nhau", anh Thanh An, 45 tuổi, nói. Hiện người đàn ông này là thợ cơ khí ở tỉnh Bình Dương. Sau ngày 30/4/1975, An được cho đi làm con nuôi. Mẹ Thanh An sau đấy qua đời, còn những thành viên khác trong gia đình rời Việt Nam. Thanh An chia sẻ bố mẹ nuôi của anh không tốt. Cuối cùng họ bán Thanh An cho một nhà khác. Nhưng Thanh An cũng rời bỏ gia đình đó và trải qua phần lớn quãng thời gian đầu đời trong trại trẻ mồ côi và trên đường phố. Thanh An và My Thuy gần như chẳng biết gì về cha mình, dù cả hai tin chắc rằng họ là con của lính Mỹ từng ở Việt Nam suốt thời kỳ chiến tranh. Tuy nhiên, họ không có nhiều bằng chứng. My Thuy mang ra giấy tờ xin thị thực Mỹ màu vàng bị từ chối năm 1996 với dòng chữ nguệch ngoạc: "Không có bằng chứng cha là người Mỹ". Vợ chồng Thanh An hiện sống cùng con trai trong căn hộ tập thể ở khu công nghiệp cách TP HCM khoảng 2 tiếng đi xe. My Thuy mở một cửa hàng tạp hóa nhỏ buôn bán ngay trước nhà. Vợ chồng cô mỗi tháng kiếm được khoảng 140 USD. "Cuộc sống vẫn chật vật nhưng không khó khăn như trước đây. Chúng tôi nghèo nhưng vợ chồng tôi luôn chia sẻ khó khăn cùng nhau", My Thuy nói.  | Dù có cuộc sống hạnh phúc với chồng và hai con gái nhưng chị Thuy vẫn mong mỏi được gặp cha mình. Ảnh: The Washington Post. |
Chung cảnh ngộ, Nguyen Thi Thuy, hiện 42 tuổi, cũng lớn lên với tuổi thơ bị bạn bè trêu chọc. Ngày còn nhỏ, Thuy chăn trâu trên cánh đồng của gia đình bố mẹ nuôi. Với cô, những con vật này là bạn. Thuy chia sẻ từng bị bạn cùng lớp và hàng xóm ở Củ Chi bắt nạt hay chòng ghẹo vì nguồn gốc con lai của mình. Một ngày nọ, đám đông đi theo Thuy, gọi cô là "Mỹ đen", rồi ném đá và dùng que đánh. Sau chiến tranh, mẹ Thuy đem cô cho nhà khác làm con nuôi. Thuy kể gia đình bố mẹ nuôi bắt cô làm lụng quần quật trên cánh đồng. Thuy thích đi học và cố gắng theo đến lớp 12 nhưng buộc phải nghỉ ở nhà vì không có tiền mua đồng phục. Sau đó, cô đi học may rồi mở cửa hàng riêng. Thuy kết hôn với một người đàn ông yêu thương mình. Theo Thuy, chồng cô không quan tâm tới việc vợ là con lai. Hai người có hai con gái, hiện 12 và 14 tuổi. Năm 18 tuổi, Thuy từng đi tìm mẹ đẻ và thấy bà ở một thị trấn cách chỗ cô ở một tiếng đi xe. Mẹ cô tỏ vẻ không vui trong ngày gặp lại con. Bà đã xây dựng gia đình và có thêm năm đứa con khác. Bà lạnh nhạt với Thuy vì sợ sự có mặt của cô sẽ gây phiến phức cho gia đình hiện tại. Kể từ đó, giữa hai mẹ con có khoảng cách. Mẹ cô đưa ra những cái tên khác nhau của người lính được cho là cha của con gái bà, làm phức tạp quá trình tìm kiếm của Thuy. Thuy hy vọng ADN sẽ giúp cô tìm cha, thông qua tổ chức Chiến dịch Đoàn tụ của Trista Goldberg, 44 tuổi, cũng là con lai ở bang New Jersey, Mỹ. Năm 2003, Goldberg tới TP.HCM, gặp gỡ 80 con lai Á Mỹ để tập hợp các mẫu ADN. Bà hy vọng phương pháp này có thể giúp khoảng 400 con lai đang chờ xác nhận để xin thị thực Mỹ. Thuy tâm sự suy nghĩ một ngày nào đó sẽ tìm thấy cha là động lực duy nhất giúp cô vượt qua những khó khăn trong cuộc sống nhiều năm qua. "Lúc chăn trâu một mình giữa cánh đồng vắng, tôi nhìn lên trời và nghĩ: 'cha chắc ở một nơi xa xôi nào đó. Tôi không biết ông có đi tìm tôi không", Thuy nói.  | Nguyen Thanh Trung từng phải bỏ học vì bị bạn bè gọi là "đế quốc Mỹ". Ảnh: The Washington Post. |
Với Nguyen Thanh Trung, 46 tuổi, những gì ông biết về cha mình chỉ là cái tên "Sandy", một binh lính thuộc sư đoàn bộ binh 25 đóng tại căn cứ Củ Chi. Giống như nhiều người mẹ có con lai, mẹ Trung đốt sạch những lá thư cùng ảnh của cha ông sau chiến tranh vì sợ phiền toái. Bà gửi Trung cho cha đỡ đầu nuôi nấng. Trung lớn lên với tuổi thơ bị các bạn cùng lớp chế nhạo. Trung bỏ học sau vài năm đến trường. Vào những năm 1990, nhiều người thuộc diện con lai nộp đơn tham gia chương trình tái định cư cho những đứa trẻ sinh ra ở Việt Nam là con của lính Mỹ. Ông hỏi mẹ về nguồn gốc của mình và được bà kể rằng người lính đó biết bà mang thai lúc rời khỏi Việt Nam và nói sẽ gặp lại bà vào một ngày nào đó. Mẹ Trung đã chờ đợi suốt 20 năm. "Tôi muốn nhập cư nhưng chẳng có giấy tờ gì", Trung nói. "Cơ hội duy nhất của tôi là kết quả ADN". Nếu tìm thấy cha, Trung bảo chỉ muốn hỏi một câu với ông ấy "tại sao lại bỏ con lại?". May mắn hơn cả, Tran Thị Huong, 45 tuổi, đã tìm thấy cha và hiện ông vẫn sống ở Mỹ. Tên là Tran Thi Huong nhưng người phụ nữ này thường gọi mình là Sandy. Đó là cái tên mà người cha Mỹ đặt cho cô trước khi trung sĩ này rời khỏi căn cứ Cam Ranh năm 1969. Cha của Sandy được cho là rất vui mừng trước sự ra đời của con, thậm chí ông còn chụp một bức ảnh đặc biệt với con gái. Nhưng sau đó, ông ra đi mà không lời từ biệt. Bức ảnh ấy là tất cả những gì còn lại về mối tình của cha mẹ Sandy. Năm ngoái, Anh Tran, một nhà tổ chức sự kiện ở thành phố Philadelphia, Mỹ, đồng thời là họ hàng với Sandy bắt đầu lên đường tìm cha cho cô. Anh Tran biết tên của người lính đó nhưng biết rất ít thông tin về ông. Với sự giúp đỡ của một nhóm tình nguyện kết nối các cựu binh và con cái họ, Fatherfounded.org, người này đã tìm ra cha Sandy sau ba tháng. Ông hiện sống ở thành phố Cleveland, bang Ohio. Các cô con gái Mỹ của cựu binh này xác nhận người đàn ông trong ảnh là cha họ và hoan nghênh chị gái cùng cha khác mẹ ở Việt Nam. Tuy nhiên, cựu binh già và cộc cằn cho đến nay ít nhắc tới đứa con gái ở Việt Nam và vẫn chưa liên lạc với cô. Những câu chuyện như thế không hiếm với nhiều người con lai. Theo ước tính, chỉ có khoảng 3 % con lai tới Mỹ đoàn tụ cùng cha mình. Nhiều ông bố không muốn được tìm thấy hoặc chỉ muốn quên đi quãng thời gian chiến tranh. Hàng sáng, Sandy, hiện 45 tuổi, dậy sớm ra biển thu gom ốc. Cô chế biến chúng tại một cửa hàng nhỏ trước nhà ở thành phố Cam Ranh. Những người bạn của cô thường tới đây tụ tập chuyện trò và nếm thử các món đặc biệt của Sandy. Sandy vẫn rất gần gũi với mẹ và bà cũng sống gần nhà con gái. Sandy biết người họ hàng đã tìm thấy cha giúp mình nhưng cuộc sống của cô hầu như không thay đổi kể từ sau đó. "Tôi thực sự muốn gặp lại cha. Có lẽ họ sẽ đến gặp tôi?", Sandy khẽ nói.  | Sandy của hiện tại cùng mẹ (ảnh phải) và cùng cha ngày nhỏ (ảnh trái). Ảnh: The Washington Post. |
Bình Minh (Theo Washington Post) Khoảng trống ký ức của những đứa trẻ babylift tại AnhDân trí Nicolaus Cleeve được đưa đến Anh trong chiến dịch babylift (không vận trẻ em) năm 1975 khi mới 6 tháng tuổi. Hàng năm, vào ngày sinh mà bố mẹ nuôi chọn cho anh, Nic thường thả một bó hoa lớn xuống biển như một cách để kết nối với cội nguồn của mình nơi phương xa. >> Triển lãm chiến dịch “Không vận trẻ em” tại Mỹ >> Những “em bé” babylift tại Canada khắc khoải tìm lại nguồn cội Việt Anh Nicolaus Cleeve là một trong 99 đứa trẻ mồ côi được di tản khỏi Sài Gòn. (Ảnh: Mirror)
Giờ đây, khi đã 40 tuổi, anh Nicolaus Cleeve luôn cho rằng mình kỷ niệm sai ngày sinh nhật. Tuy nhiên, người cha của hai đứa con này lại không có sự lựa chọn nào khác.
Giống như hầu hết những đứa trẻ khác trong “Chiến dịch không vận trẻ em”, quá khứ của anh đã bị xóa sạch sau ngày hôm đó. Nicolaus không hề biết gì về cha mẹ, về cái tên họ đặt cho anh, thậm chí cả ngày sinh của mình. Anh chỉ biết rằng anh được di tản khỏi miền Nam Việt Nam trong những ngày cuối cùng trước khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ.
Nhịp cầu kết nối tìm lại người thân Theo đề nghị của bạn đọc, báoDân Trí sẽ làm cầu nối để đăng tải thông tin nhằm giúp những người con Việt Nam trong “chiến dịch không vận trẻ em” năm 1975 tìm lại thân nhân. Độc giả trong và ngoài nước quan tâm, có những thông tin hay câu chuyện về chiến dịch này, hãy chia sẻ với chúng tôi. Thư xin gửi về địa chỉthegioi@dantri.com.vn. Chân thành cảm ơn! (Thư có thể viết bằng tiếng Việt hoặc tiếng Anh). |
Anh được một cặp vợ chồng người Anh nhận nuôi lúc 6 tháng tuổi, chỉ trong một đêm tên của anh từ Ngoc Trang được đổi thành Nic. Ngày 11/10 ấy được xem như là ngày "sinh nhật" của anh.
Mỗi năm, anh thường tưởng nhớ người mẹ ruột mà anh không bao giờ biết bằng cách mua một bó hoa thật lớn, rồi thả chúng xuống biển. Đó dường như là cách duy nhất để anh có thể kết nối với cội nguồn của mình nơi phương xa.
“Mỗi dịp sinh nhật là lúc tôi khắc khoải nhất về những gì đã xảy ra. Ngày sinh của tôi được chọn khi tôi được khoảng 6 tháng tuổi nhưng tôi biết nó không chính xác. Tôi cứ luôn suy nghĩ về mối quan hệ của mình với Việt Nam, tại sao mình lại mồ côi hay tại sao điều này lại xảy ra. Mỗi khi mua hoa tưởng niệm người mẹ ruột mình, tôi thường thả chúng trôi trên vùng biển ở Southend nơi tôi sống như một lời cảm ơn tới bà”, anh nói.
Dù từng đến Việt Nam hai lần nhưng Nic vẫn chưa thể tìm lại cha mẹ đẻ của mình. Anh luôn biết mình là một trẻ mồ côi nhưng lại không có bất kỳ tài liệu nào giúp anh tìm lại cội nguồn của mình.
"Trong chuyến đi trở lại Việt Nam, chúng tôi đã phát hiện ra rằng là nằm trong diện di tản, tức là chúng tôi phải mồ côi. Tôi chưa bao giờ có giấy khai sinh, còn tên tôi lúc đó là do trại trẻ mồ côi đặt cho vì vậy tôi không hề biết mình đến từ đâu", anh kể lại.
Những buổi họp mặt hàng năm
Khoảng 2.000 trẻ mồ côi đã được trực thăng di tản nhanh chóng từ ngày 6/4 năm 1975 khi Tổng thống Mỹ Gerald Ford yêu cầu phải đưa tất cả trẻ em Việt mồ côi rời khỏi Sài Gòn trong Chiến dịch “không vận trẻ em”. Nhiều đứa trẻ đã được đưa tới Mỹ, Úc và Canada an toàn khi cuộc chiến tranh kéo dài suốt hai thập niên lên tới đỉnh điểm.
Những trẻ em được không vận đến Anh năm 1975 thường liên lạc với nhau. Hằng năm, những đứa trẻ này sẽ cùng nhau ăn mừng ngày họ đã được đưa đến nơi an toàn và để tưởng nhớ nơi họ ra đi. Đó là một mối liên kết chặt chẽ, tạo ra những tình bạn bền chặt hay thậm chí những mối quan hệ lãng mạn.
Trong khi Nic cảm thấy hài lòng với cuộc sống mới bên cha mẹ nuôi thì có những người khác phải vật lộn để đối phó với việc bị tách khỏi lối sống của họ và khi những buổi họp nhóm của những đứa trẻ gốc Việt kết thúc.
"Cha mẹ tôi đã không bao giờ giữ bí mật về việc nhận nuôi tôi, họ luôn có cái nhìn tích cực về nhận con nuôi. Tôi không bao giờ thắc mắc tại sao trông mình lại khác với mọi người. Cả khi nhìn vào gương, tôi không nghĩ rằng trông mình khác lạ.
Những nhận thức đầu tiên của tôi về điều tuyệt vời này là khi tôi tới những buổi tụ họp hàng năm. Một nhóm khoảng 40 đứa trẻ được nhận nuôi và cha mẹ của chúng sẽ tụ họp khắp nơi trên đất nước vào những ngày cuối tuần. Những buổi tụ họp đó thật tuyệt vời, khi tôi lên 10 không còn những buổi họp ấy nữa. Khi chúng tôi lớn lên một chút, chúng tôi đã sắp xếp thời gian để có thể gặp mặt nhau, nhưng số lượng thành viên dần ít đi”, Nic kể lại.
Khoảng trống ký ức không thể lấp đầy
Peter Shepton cùng con trai Theo. (Ảnh: Mirror)
Đối với Peter Shepton, một người bạn của Nic cũng trong “Chiến dịch không vận trẻ em”, khoảng thời gian thơ ấu dường như là một khoảng trống ký ức mà dường như anh không bao giờ lấp đầy được.
Peter là một nhân viên IT, đã có một đứa con trai hai tuổi. Anh được nhận nuôi bởi một mục sư và vợ của ông và lớn lên ở vùng nông thôn nước Anh. Dù sinh sống ở vùng chợ huyện Chipping Norton, Hạt Oxon nhưng anh luôn mong muốn tìm thấy bố mẹ ruột của mình.
"Phần nào đó trong tôi luôn tự hỏi hỏi, “Tôi là ai? Cha mẹ ruột của tôi là ai? Đây là điều tôi không bao giờ có thể trả lời”, ông chia sẻ.
Những ảnh hưởng đối với Peter càng phức tạp hơn khi cha của anh được cho là một người lính chiến đấu ở Việt Nam.
"Tôi mang trong mình một nửa người Mỹ gốc Phi và một nửa Việt và theo lý thuyết thì cha tôi là một người lính. Tôi đã tìm đến ngôi làng nơi tôi được mang đi và tìm thấy một người phụ nữ có con với một lính Mỹ trong những năm 1970. Tuy nhiên, kết quả xét nghiệm ADN lại không trùng khớp. Tôi cảm thấy hơi thất vọng”, anh nói.
Nguyễn Hiếu Theo Mirror |
|
Những nội dung khác:
|
|
|
 |
|