Phạm Trần (Danlambao)- Ban Tuyên giáo Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam đã phát động chiến dịch tô hồng điểm phấn cho “Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2015)”, nhưng lại không giấu được cái đuôi xâm lược miền Nam Việt Nam.
Bằng chứng này ghi trong Nghị quyết 15 xác định “mục tiêu, phương pháp cách mạng miền Nam” tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương (khóa II) lần thứ 15 (mở rộng) họp tại Hà Nội từ ngày 12 đến 22-1-1959.
Đề cương tuyên truyền ca ngợi Nghị quyết đã: “Xác định rõ mục tiêu, phương pháp cách mạng miền Nam, mối quan hệ chiến lược của cách mạng hai miền, giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới; phản ánh đúng nhu cầu của lịch sử, giải quyết kịp thời yêu cầu phát triển của cách mạng miền Nam; định hướng và động viên nhân dân miền Nam vùng lên đấu tranh, tạo ra phong trào Đồng khởi (1959-1960), xoay chuyển tình thế cách mạng miền Nam, làm tan rã hàng loạt bộ máy của ngụy quyền ở các thôn, xã.”
Nhưng đâu là lý do khiến miền Bắc Cộng sản (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) có quyết định phải thực hiện cuộc “cách mạng miền Nam”?
Nghị quyết 15 bịa chuyện: “Do lực lượng so sánh giữa ta và địch, nhân dân ta chỉ mới giải phóng được miền Bắc. Ở miền Nam chưa được giải phóng, đế quốc Mỹ đã lấn dần và hất cẳng thực dân Pháp, tập hợp các thế lực phản động, sử dụng chính quyền Ngô Đình Diệm làm công cụ để khôi phục và duy trì ách thống trị của đế quốc và phong kiến. Nhân dân miền Nam ngày càng lâm vào cảnh cùng khốn và mất hết quyền tự do. Vì vậy, nhân dân miền Nam còn phải tiếp tục làm cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đánh đổ ách thống trị đế quốc và phong kiến, chủ yếu là đánh đổ chế độ Mỹ-Diệm.”
Những người Việt Nam của miền Nam đã sống qua giai đoạn này và còn sống chắc phải bịt mũi trước luận điệu tuyên truyền giả dối này. Nhân dân miền Nam từ 1954 đến thời điểm ra đời của Nghị quyết 15 tháng 01 năm 1959, dù có bị hạn chế một số quyền do tình trạng an ninh, chưa bao giờ “lâm vào cảnh cùng khốn và mất hết quyền tự do” như đồng bào miền Bắc trong thời gian này.
Càng phỉ báng lịch sử hơn khi Nghị quyết viết rằng: “Do sự can thiệp của đế quốc Mỹ vào miền Nam, nước ta bị tạm thời chia làm hai miền: miền Bắc đã được giải phóng và độc lập hoàn toàn, còn miền Nam vẫn là một thuộc địa (kiểu mới) của đế quốc Mỹ... Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai chẳng những xâm chiếm miền Nam, ngăn cản sự phát triển của xã hội miền Nam, mà còn ráo riết chuẩn bị chiến tranh hòng xâm chiếm cả nước ta, phá hoại toàn bộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.”
Ai xâm chiếm ai thì phương châm đề ra trong Nghị quyết 15 "củng cố miền Bắc, chiếu cố miền Nam" đã lột mặt nạ ông Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam lúc bấy giờ.
Để biện minh cho hành động hiếu chiến, đẩy dân tộc hai miền Bắc-Nam vào nội chiến nồi da xáo thịt, Nghị quyết đã hô hào: “Tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đánh đổ chế độ đế quốc và nửa phong kiến ở miền Nam để thực hiện thống nhất nước nhà.”
Nhưng gây chiến với miền Nam để làm gì và cho ai thì Nghị quyết 15 đã để lộ chân tướng tay sai khi khẳng định rằng: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa ở Đông Nam Á.”
Nghị quyết viết: “Vấn đề thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước ta trước hết là vấn đề đấu tranh giữa dân tộc ta chống đế quốc Mỹ và bọn tay sai, đồng thời cũng là vấn đề đấu tranh giữa phe xã hội chủ nghĩa và phe đế quốc chủ nghĩa. Phe xã hội chủ nghĩa, đứng đầu là Liên Xô, càng tranh thủ giữ vững hòa bình được lâu dài thì càng có điều kiện thuận lợi để tăng cường mau chóng lực lượng của mình về mọi mặt trên toàn thế giới, càng làm suy yếu mau chóng thế lực của chủ nghĩa đế quốc. Chủ trương của Đảng ta giữ vững hoà bình ở Việt Nam, thực hiện thống nhất nước nhà bằng con đường hoà bình, chủ trương ấy gắn liền với chủ trương chung nói trên của phe xã hội chủ nghĩa.”
Nhưng miền Bắc không “thực hiện thống nhất nước nhà bằng con đường hoà bình” mà đã nhận lệnh và vũ khí, lương thực của Liên Xô-Trung Cộng để xâm lăng miền Nam Việt Nam.
Thực tế này đã phản ảnh trong câu nói lịch sử ô nhục của Tổng Bí thư Lê Duẩn:“Ta đánh Mỹ là đánh cả cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cho cả nhân loại, đánh cho cả bọn xét lại đang đâm vào lưng ta.”? (theo Vũ Thư Hiên, Đêm giữa ban ngày, Nxb. Văn Nghệ, 1997, tr. 422, phần chú thích).
Như vậy đã rõ ràng Ban Chấp hành Trung ương đảng CSVN khóa II, đứng đầu bởi Hồ Chí Minh thời bấy giờ đã ngụy tạo ra đủ điều để xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa.
Chẳng hạn như họ viết trong Nghị quyết 15 rằng: “Chính quyền Ngô Đình Diệm là chính quyền tay sai của đế quốc Mỹ, chế độ thực dân và nửa phong kiến ở miền Nam là một chế độ phản động, tàn bạo và đen tối... Chính quyền miền Nam hiện nay là một chính quyền phản bội lợi ích dân tộc; nó đại biểu cho lợi ích của đế quốc Mỹ, của bọn phong kiến và bọn tư sản mại bản thân Mỹ phản động nhất ở miền Nam... Thành phần cốt cán trong chính quyền đó gồm những phần tử phong kiến và tư sản mại bản phản động nhất và những phần tử lưu manh, côn đồ và phản bội, quyết tâm làm tay sai cho đế quốc Mỹ, do gia đình và phe cánh họ Ngô cầm đầu.”
Tưởng bằng đó lời bịa đặt chưa đủ, Nghị quyết 15 còn đặt điều vu khống thêm:“Chính quyền đó là một chính quyền độc tài hiếu chiến. Nó là công cụ xâm lược của đế quốc Mỹ, đế quốc cầm đầu các lực lượng hiếu chiến trên thế giới hiện nay; đồng thời, nó cũng mang nặng tính chất phục thù của giai cấp địa chủ đã bị đánh đổ ở miền Bắc nước ta. Do bản chất phi nghĩa, thế cô lập và chỗ yếu căn bản của nó, nó thực hiện một chế độ độc tài, hung bạo, dùng chính sách đàn áp bằng vũ lực, và dựa vào bộ máy cảnh sát mật thám để tồn tại.”
MẶT TRẬN TAY SAI
Đáng lẽ ra những chữ “độc tài, hung bạo, dùng chính sách đàn áp bằng vũ lực, và dựa vào bộ máy cảnh sát mật thám để tồn tại” phải dành cho đảng CSVN mới đúng với lịch sử.
Nhưng có bao giờ người Cộng sản Việt Nam dám nhìn thẳng vào mặt dân để thừa nhận họ đã nhân danh người dân miền Nam để giết hại đồng bào từ sau Hiệp định chia đôi đất nước 1954?
Bằng chứng là họ đã ghi vào Nghị quyết 15 việc thành lập một “Mặt trận riêng cho miền Nam” do họ chỉ huy để tiến hành cuộc chiến cho ngoại bang Nga-Tầu. Vì vậy mà cái gọi là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã được thành lập ngày 20 tháng 12 năm 1960 để sau đó bị bức tử không kèn không trống vào ngày 31 tháng 01 năm 1977, hai năm sau kết thúc chiến tranh ngày 30/04/1975.
Nghị quyết 15 biện bạch: “Củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước là nhiệm vụ chung của toàn Đảng và toàn dân ta. Nhưng vì nhiệm vụ cơ bản của mỗi miền khác nhau, cho nên nhiệm vụ, tính chất, thành phần Mặt trận ở mỗi miền có chỗ khác nhau. Vì vậy, cần có Mặt trận riêng cho miền Nam.
Cách mạng Việt Nam ở miền Nam hiện nay là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, cho nên Mặt trận ở miền Nam hiện nay có tính chất dân tộc dân chủ, nhằm tập hợp tất cả các lực lượng chống đế quốc và phong kiến. Thành phần của nó bao gồm bốn giai cấp trong nhân dân miền Nam (giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, giai cấp tiểu tư sản, giai cấp tư sản dân tộc) và những nhân sĩ yêu nước, lấy liên minh công nông làm cơ sở, và do Đảng ta lãnh đạo.”
Bàn tay chủ động gây ra cuộc chiến dài gần 21 năm ở miền Nam Việt Nam của đảng CSVN còn được xác nhận trong phần kết luận của Báo cáo Chính trị tại Hội nghị Trung ương 15.
Báo cáo viết: “Hội nghị Trung ương lần này quyết định đường lối đấu tranh thống nhất và đường lối cách mạng miền Nam, sẽ soi sáng phương hướng cho phong trào cách mạng miền Nam, tăng thêm tin tưởng và ý chí phấn đấu anh dũng của các đảng bộ miền Nam tiến lên làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình.
Toàn Đảng ta sẽ vô cùng phấn khởi, vì Hội nghị Trung ương mở rộng lần thứ 14 đã đề ra nhiệm vụ ba năm cho các đảng bộ miền Bắc, và Hội nghị Trung ương mở rộng lần này quyết định về đường lối đấu tranh thống nhất và đường lối cách mạng miền Nam.”
MÁU ĐỔ CHO AI?
Cuộc nội chiến Việt Nam mới do người Cộng sản Việt Nam gây ra cho nhân dân miền Nam bắt đầu từ đây.
Nhưng cho đến nay, sau 40 năm kết thúc chiến tranh, không có thống kê nào có thể xác nhận có bao nhiêu quân và dân người Việt của hai miền Nam-Bắc đã chết.
Tài liệu của Bách khoa toàn thư (mở) viết rằng: “Chiến tranh Việt Nam đã gây ra cái chết của từ 2 đến 5 triệu người Việt (tùy từng nguồn khác nhau). Trong số các nước đồng minh của Việt Nam Cộng hòa, người Mỹ có số thương vong cao nhất với hơn 58.000 người chết và hơn 305.000 người bị thương (trong đó 153.000 bị thương nặng hoặc tàn phế). Vào khoảng từ 4.400 đến 5.000 binh sĩ Hàn Quốc bị chết; Úc có khoảng 500 chết và hơn 3.000 bị thương; New Zealand 38 chết và 187 bị thương; Thái Lan 351 chết và bị thương; còn Philippines vẫn chưa có con số thống kê cụ thể.”
“Tổn thất trực tiếp và gián tiếp trong Chiến tranh Việt Nam được chia ra như sau:
Theo tài liệu của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (của CSVN) có: 1,1 triệu quân nhân chết; trong số đó có 300.000 quân nhân mất tích (chưa tìm được xác) ; 600.000 quân nhân bị thương hoặc bị bệnh.
Quân lực Việt Nam Cộng hòa: 300000-316.000 tử trận hoặc mất tích. 170.000 bị thương
Bấy nhiêu con người, nhưng đã có bao nhiêu ao máu để do lường cho tội ác của chiến tranh do đảng CSVN chủ động bắt nguồn từ Nghị quyết 15 năm 1959?
Tổn thất con người Việt Nam của cuộc nội chiến “ý thức hệ” Cộng sản cuồng tín và vô nghĩa này đã có bao giờ khuấy động được con tim chai đá và những khối óc mù lòa của lãnh đạo CSVN trước lịch sử?
Đấy là chưa kể đến tổn thất của Quân đội CSVN và thường dân trong 4 cuộc chiến sau ngày 30/04/1975: biên giới phía bắc Việt-Trung 2 lần (1979-1987); Tây Nam Việt-Kampuchea (1975 đến 1978) và Cuộc xâm chiếm Kampuchea của quân Việt Nam (từ 7/1/1979 đến 1989).
Trên 40,000 quân và dân 6 tỉnh biên giới đã thiệt mạng trong các cuộc tấn công của quân Trung Cộng vào Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh.
Riêng tổn thất xung đột với quân Khmer đỏ của Pol Pot từ 1975 đến 1989 được chia ra 2 giai đọan:
Giai đoạn 1, từ các cuộc đột kích tấn công qua biên giới của quân Khmer đỏ vào các vùng lãnh thổ Tây nam (Tây Ninh-Châu Đốc-An Giang-Hà Tiên-Phú Quốc) sau 30/04/1975 đến các cuộc giao tranh cấp sư đoàn trên lãnh thổ Việt Nam kết thúc tháng 12/1978.
Giai đọan 2, bắt đầu từ cuộc tấn công chiếm đóng Cao Miên của Việt Nam từ tháng 1/1979 đến năm 1989. Lý do Việt Nam phải rút quân theo đòi hỏi của Bắc Kinh để được tái lập quan hệ ngoại giao Việt-Trung sau 11 năm gián đoạn vì cuộc tấn công qua biên giới Việt Nam năm 1979 của 600,000 quân Trung Cộng.
Tuy nhiên cái giá máu xương người Việt mà đảng Cộng sản Việt Nam phải trả cho cuộc chiến với người láng giềng Khmer đỏ, một thời là đồng minh trong chiến tranh xâm lăng Việt Nam Cộng hòa, quá cao.
Tài liệu trên Bách khoa toàn thư (mở) ghi lại như sau:
- Từ 1977 tới trước tháng 12-1978: Khoảng 3.000 chết, 5.500 bị thương.
- Từ tháng 12-1978 tới tháng 1-1979: 8.000 chết hoặc bị thương.
- Toàn cuộc chiến (tới năm 1988, bao gồm cả thời kỳ chiếm đóng Campuchia): từ 10.000 tới 15.000 quân nhân chết và
30.000 bị thương.
Tính chung ước lượng có 55.300 người chết hoặc bị thương (kể cả dân thường) từ năm 1977 tới tháng 10-1989.
Tài liệu cũng ghi lại: Từ năm 1975 cho tới năm 1978, có tới 30 ngàn người Việt Nam bị Khmer Đỏ sát hại trong các cuộc tấn công dọc biên giới.
Việt Nam đã gửi 180.000 quân để hỗ trợ khoảng 20.000 quân KNUFNS (Kampuchean National United Front for National Salvation, Cộng hòa Nhân dân Kampuchia) để đánh tan quân Khmer đỏ của Pol Pot.
Nhưng thật oái oăm, Vương quốc Kampuchia ngày nay do nhà vua Norodom Sihamoni, con của cựu hoàng Norodom Sihanouk, trị vì nhưng quyền hành nằm trong tay Thủ tướng Hun Sen, một người không giấu diếm là “bạn thân thiết của Trung Quốc” và luôn luôn ủng hộ lập trường của Bắc Kinh trong tranh chấp biển đảo với Việt Nam!
MẮT MÙ LỊCH SỬ
Với bối cảnh lịch sử chiến tranh bắt nguồn từ Nghị quyết 15 của đảng CSVN, cả dân tộc Việt Nam ở hai miền đất nước Bắc-Nam đã chìm đắm trong máu lửa gần 21 năm.
Nhưng đau thương chồng hơn núi cao của dân tộc sau 40 năm vẫn chưa lành thì Đề Cương “kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2015)” của Ban Tuyên giáo Trung Ương lại chỉ muốn “bới đống tro tàn tìm máu đổ”!
Một trong những phô trương khơi dậy hận thù dân tộc của Đề cương viết rằng:“Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 đã giáng một đòn quyết định vào chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh và ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Paris, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta bước vào giai đoạn mới.
Giai đoạn từ cuối năm 1973 đến ngày 30/4/1975: Tạo thế và lực, tạo thời cơ, kiên quyết tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, kết thúc thắng lợi trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.”
Ai cũng biết, nhất là nguyên Tổng Bí thư đảng Lê Khả Phiêu và các Tư lệnh chiến trường Trị-Thiên của Quân đội nhân dân, có trên 5,000 thường dân vô tội đã bị lính Cộng sản giết hay hành quyết, kể cả chôn sống trong các hố tập thể từ đêm Giao thừa Tết Mậu thân (ngày 31 tháng 1 năm 1968).
Trong 28 ngày giao tranh trong thành phố, quân Cộng sản địa phương đã được lực lượng chính quy của miền Bắc yểm trợ ra sao và ai đã nhúng ta vào máu dân lành Huế thì hàng ngàn nhân chứng và thân quyến các nạn nhân đã kể hết với lịch sử. Chỉ có những kẻ không giám đối diện với sự thật đã được phơi bày mới tìm cách che đậy.
Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị Đinh Thế Huynh, khi xảy ra trận Mậu Thân mới có 15 tuổi (Ông sinh ngày 15 tháng 5 năm 1953 tại xã Xuân Kiên, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định) nên có lẽ ông không thấu được nỗi đau của dân xứ Huế khi bản Đề Cương ca ngợi “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968” là bước ngoặt mở đầu cho chiến thắng cuối cùng ngày 30/04/1975 của đảng CSVN.
Điều thứ hai Đề cương tuyên truyền nói không thật khi viết rằng: “khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường; chính trị - xã hội ổn định; độc lập chủ quyền quốc gia được giữ vững...”
Trước hết khi nói về “đại đoàn kết dân tộc” thì Ban Tuyên giáo Trung ương có biết nỗ lực “hòa hợp, hòa giải dân tộc” giữa người dân hai miền Nam-Bắc sau 40 năm vẫn chỉ bằng mặt mà chưa bằng lòng?
Trách nhiệm chưa hàn gắn được vết thương chiến tranh phải đến từ hai phía, nhưng đảng CSVN hãy sờ lên gáy xem đã đòan kết nhân dân được đến đâu hay chỉ gây chia rẽ, hận thù thêm bằng những chủ trương, chính sách kỳ thị, phân biệt “kẻ thắng người thua”?
Đảng cũng cần bình tĩnh dò xét xem những hành động bắt bớ tùy tiện, vi phạm nghiêm trọng các quyền căn bản của người dân, kể cả tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, tự do biểu tình, lập hội và tự do tôn giáo đã được thực thi đúng đắn như quy định trong Hiến pháp chưa?
Thứ hai, xã hội ổn định làm sao khi mỗi ngày Việt Nam có ít nhất 30 người chết vì tai nạn lưu thông và tình hình tội ác xã hội càng ngày càng nhiều, trẻ hóa và tinh vi, luân thường đạo lý bị đảo lộn?
Hãy đọc: “Theo nhiều nghiên cứu và thống kê của cơ quan chức năng, trong hơn 5 năm trở lại đây, mỗi năm nước ta có khoảng 10.000 vụ án, với hơn 15.000 đối tượng phạm tội ở lứa tuổi vị thành niên. Đây thật sự là con số đáng báo động về tình hình trẻ hóa tội phạm. Số vụ vi phạm pháp luật do tội phạm vị thành niên gây ra cũng ngày càng đa dạng, phức tạp và tinh vi, cũng như bộc lộ sự manh động và liều lĩnh. Không chỉ là những vụ trộm cắp, cướp giật, hành hung mà còn rất nhiều vụ án giết người cướp của, hoặc do thù hằn mâu thuẫn cá nhân. Thậm chí còn có cả những vụ án mà những “cậu nhóc” sử dụng công nghệ cao, mạng Internet, điện thoại di động để lừa đảo, tống tiền nhiều người.” (Trích báo Sài Gòn Giải Phóng ngày 30/01/2015)
Về chuyện Mại dâm ở Thanh phố Hồ Chí Minh thì Ban Tuyên giáo nên đọc báo Việt Nam Express viết ngày 15/9/2014: “Kết quả điều tra thống kê cho biết ở thành phố lớn nhất nước có khoảng 5.500 tiếp viên nữ bị nghi bán dâm tại cơ sở kinh doanh và 200 người bán dâm nơi công cộng.
Theo báo cáo tổng kết 10 năm thi hành pháp lệnh phòng, chống mại dâm năm 2003 của UBND TP HCM, trong những năm qua, tình hình tệ nạn mại dâm tại địa bàn có nhiều diễn biến phức tạp, biểu hiện dưới nhiều hình thức kinh doanh trá hình, thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, gây nhiều bức xúc trong cộng đồng dân cư.
Thành phố cho biết, hoạt động mại dâm diễn ra không chỉ bằng hành vi giao cấu giữa kẻ mua và người bán tại khách sạn hoặc một số nhà hàng, vũ trường, karaoke mà phổ biến là các hành vi khiêu dâm, kích dục tại các điểm kinh doanh cà phê, tiệm hớt tóc, gội đầu, xông hơi, cạo gió, giác hơi, spa...”
Gần đây, thành phố tiếp tục xuất hiện một số đường dây mại dâm "gái gọi hạng sang" với những người xưng danh là diễn viên, người mẫu tham gia bán dâm với giá hàng nghìn USD, đồng thời hoạt động mại dâm nam, mại dâm đồng tính nam, mại dâm có yếu tố nước ngoài và xuất cảnh ra nước ngoài bán dâm ngày càng gia tăng. Cá biệt, tại một số cơ sở spa có biểu hiện hoạt động mại dâm đồng tính của giới "gay".
Ngày 04-03-2013, mạng báo Zing.VN viết về tệ nạn này ở Hà Nội: “Tại Hà Nội, thời gian gần đây, thành phố đã rất mạnh tay xử lý các tụ điểm “nóng” về hoạt động mại dâm. Tuy nhiên, qua khảo sát ở nhiều tuyến đường, tình trạng gái đứng đường mời gọi khách làng chơi vẫn không giảm. Đoạn đường Phạm Văn Đồng qua xã Cổ Nhuế và xã Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm chỉ dài khoảng 1km nhưng có hàng chục tụ điểm mại dâm. Các cô gái công khai đứng xếp hàng trước cửa quán, tràn cả ra đường mời gọi, chèo kéo khách làng chơi. Cũng trên đường Phạm Văn Đồng, đoạn gần công viên Hòa Bình, cứ tối đến, gái mại dâm lại tụ tập ở bãi đất trống để chờ khách. Ở khu vực trung tâm thành phố Hà Nội, hoạt động mại dâm tại ngõ 107 Nguyễn Chí Thanh (quận Đống Đa) diễn ra rất tấp nập. Chỉ cần có khách gọi, tài xế xe ôm kiêm bảo kê sẽ kẹp 3 - 4 gái mại dâm, phóng với tốc độ kinh hoàng để đưa “hàng” đến các quán bar, karaoke, vũ trường, nhà nghỉ. Nhiều “phố vẫy” khác ở Hà Nội cũng hoạt động nhộn nhịp, công khai, gây nhức nhối dư luận những năm gần đây, như: đường Nguyễn Trãi gần chợ Phùng Khoang (huyện Từ Liêm), đường Giải Phóng gần bến xe Giáp Bát, khu vực Cố Thổ (xã Hòa Thạch, huyện Quốc Oai), xã Tây Mỗ (Từ Liêm)”
Về tình trạng nghiện ngập, một tài liệu phổ biến ngày 5/11/2014 viết: “Theo đánh giá của Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm tình hình sản xuất, mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy ở Việt Nam ngày càng diễn biến phức tạp, số vụ, số lượng, số loại ma túy bị cơ quan chức năng bắt giữ ngày càng tăng. Việc buôn bán ma túy ngày càng tăng kéo theo tình trạng gia tăng số lượng người sử dụng loại chất cấm này.
Đến cuối tháng 9/2014, cả nước có 204.377 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý (trên thực tế số người sử dụng ma túy còn lớn hơn rất nhiều). Kết quả thống kê cho thấy số người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý đã tăng gần 4 lần trong 20 năm kể từ năm 1994 đến nay (năm 1994 là 55.445 người, trung bình mỗi năm tăng khoảng 7.000 người). Những năm gần đây số người nghiện ma túy của Việt Nam luôn gia tăng, mức tăng trung bình mỗi năm khoảng 6% (Năm 2000, có khoảng 60.000 người nghiện thì năm 2014 có trên 200.000 người nghiện).
Người nghiện ma túy đã có ở 100% các tỉnh, thành phố, gần 90% quận, huyện và khoảng 70% số xã, phường, thị trấn. Người nghiện cũng đã xuất hiện ở mọi thành phần trong xã hội: học sinh, sinh viên, cán bộ công chức, viên chức, người lao động…
Trong số người nghiện ma túy: 96% là nam giới, 4% là nữ giới, 74% ở độ tuổi 18-35, có 1% dưới 18 tuổi. Người nghiện sử dụng heroin là 72% và có xu hướng giảm dần, tỷ lệ người sử dụng ma túy tổng hợp nhóm kích thích dạng Amphetamin (ATS) ngày càng gia tăng (2,5% năm 2005, 14,5% đến tháng 9/2014). Tại một số địa phương, tỷ lệ học viên trong Trung tâm Chữa bệnh- Giáo dục- Lao động xã hội (Trung tâm) đã từng sử dụng ma túy tổng hợp cao như: Đà Nẵng 74%, Tây Ninh 61%, Trà Vinh 49%.”
Với một xã hội đen tối như thế thì làm sao mà “ổn định” được? Đấy là chưa kể đến tình trạng suy đồi đạo đức trong giới trẻ và lãnh đạo đang ngày một lên cao trong nhiều lĩnh vực.
Quốc nạn tham nhũng, nặng nhất là tình trạng tham nhũng vặt thì đông hơn dịch cào cào châu chấu từ thành phố về nông thôn. Đảng đã thất bại. Chính Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nói ông cũng rất khó chịu khi thấy tham nhũng vặt lộng hành.
Ông nói với cử tri Hà Nội: “Cái gì cũng phải tiền, không tiền không trôi, như ngứa ghẻ phải gãi rất khó chịu.” (ViệtnamNet, 27/09/2013)
Cuối cùng là câu tuyên truyền “độc lập chủ quyền quốc gia được giữ vững” của Ban Tuyên giáo trong Đề cương kỷ niệm 40 năm ngày “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”.
Độc lập thì có những “chủ quyền quốc gia” ở Biển Đông bây giờ đang do Việt Nam hay Trung Quốc “quản lý giúp ” ở Quần đảo Hoàng Sa?
Một vùng biển lớn khác bao quanh 8 bãi đá, quan trọng nhất là Gạc Ma,của quần đảo Trường Sa bị Trung Cộng đánh chiếm ngày 14/03/1988, đã được Bắc Kinh tân tạo thành các căn cứ quân sự ở Trường Sa thì ai đang làm chủ ở đó?
Vậy ông Đinh Thế Huynh và cả Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có thể nói rõ hơn cho dân biết, thay vì chỉ biết tuyên truyền nhảm như viết trong Đề cương mà mang tội với lịch sử.
Nếu không thì dù có tô son điểm phấn bao nhiêu, ý nghĩa của “Kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước” cũng vô nghĩa.
40 NĂM NHÌN LẠI: CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐÃ RƠI MẶT NẠ
Chu Tất Tiến
24-1-2015
Thời gian 40 năm, đối với lịch sử 4000 năm của Việt Nam, chỉ là một con ốc nhỏ trong chiếc đồng hồ lịch sử gồm cả vạn con ốc và lò so khác. Nhưng đối với những người thuộc thế hệ trưởng thượng hiện đang sinh sống hoặc ở Việt Nam hoặc tại hải ngoại.
40 năm vừa qua đã là những nhân chứng cho một giai đoạn khốc liệt, đầy máu và nước mắt, những hận thù chất ngất, những tiếng khóc kín trời, và những biến đổi dồn dập khiến cho người công chính biến thành nô lệ, ngược lại, những kẻ ác không tim óc lên ngôi cửu ngũ. 40 năm vừa qua cũng là thời mà giang sơn hình chữ S đã bị xẻ thịt, banh da, thân thể cắt rời để dâng cho kẻ thù truyền kiếp Bắc Phương, kẻ thù mà Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, các đời vua Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, và Quang Trung Nguyễn Huệ đã từng đánh chạy tan tác như chồn, cáo.
Cũng 40 năm vừa qua, một chủ nghĩa khát máu từng làm chủ gần một phần ba thế giới, Chủ Nghĩa Cộng Sản, đã bị vỡ toang ra thành nhiều mảnh nhỏ. Riêng tại Việt Nam, chủ nghĩa này đã rơi mặt nạ, và hiện nguyên hình là một lý thuyết lừa gạt tinh vi, được điều hành bởi một nhóm người không tim không óc, giả nhân giả nghĩa. Nhóm người này, mệnh danh là Đảng Cộng Sản, đã tỏ ra hèn hạ đến tột cùng khi cúi dâng giải giang sơn xinh đẹp này cho kẻ thù, chấp nhận làm một thứ nô lệ cho Tầu Cộng, chỉ để yên lành mà hưởng lộc lấy từ máu xương của nhân dân. Vì thế, 40 năm vừa qua, cũng có thể coi là một dấu lành cho nhân loại, khi Đảng Cộng Sản đã rơi mặt nạ, khi con người đã nhận thức được tất cả những giả trá của cái gọi là Chủ Nghĩa Cộng Sản này, thì tương lai, dần dần chủ nghĩa này sẽ không còn đất mà tồn tại. Tại Việt Nam, sự nhận thức này đã được biểu thị qua 2 lăng kính chính: Lý Thuyết tan rã và Sự tranh dành quyền lực. Dĩ nhiên còn nhiều vấn đề nữa như việc hủy họa môi trường sống, cưỡng chế đất đai, chính sách ngu dân, văn hóa vô đạo đức, và thực phẩm nhiễm độc, và bệnh tật… Nhưng trong phạm vi bài viết này, chỉ có thể nêu lên hai vấn đề nổi cộm mà thôi.
1-Lý Thuyết tan rã:
Rất nhiều đảng viên Cộng Sản kỳ cựu, đã mở tung bức rào sắt kinh niên, mà phô bầy bộ mặt thật xấu xa của Hồ Chí Minh và toàn Đảng Cộng. Các nhân vật phản tỉnh này đã công khai tuyên bố bỏ đảng, từ các tướng lãnh cao cấp như Trần Độ, đến đảng viên 50 năm tuổi đảng, như cựu Đại Sứ Nguyễn Văn Trấn, Luật Gia Lê Hiếu Đằng, Tiến Sĩ Phạm Chí Dũng, Bác Sĩ Nguyễn Đắc Diên, Trần Xuân Bách, Bác Sĩ Dương quỳnh Hoa, Nguyễn Thái Sơn, Giám Đốc trường Đảng Vi Đức Hồi, Tiến Sĩ Đinh Đức Long, Trung Tá Trần Anh Kim, nhà báo Bùi Tín, đảng viên 55 tuổi đảng Tống Văn Công…Một số lớn tuy chưa chính thức bỏ đảng, nhưng “thoái đảng”, nghĩa là không sinh hoạt với đảng nữa như Nguyễn Hồng Bích, Nguyễn Chí Đức, Nguyễn Duy Ninh.. Trong thập niên trước đây, một nhóm người kháng chiến cũ đã tự lập ra Câu Lạc Bộ Những người Kháng Chiến Cũ đã được thành lập năm 1986 để nói lên tiếng nói riêng của mình, chỉ trích những sai lầm của Đảng gồm Nguyễn Hộ, Tạ Bá Tòng, Đỗ Trung Hiếu,Nguyên Phong Hồ Hiếu, Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Trần Nam Trung, Lê Đình Mạnh... Tuy Câu lạc Bộ này chỉ tồn tại có 2 năm, rồi bị cấm, nhưng tiếng nói của họ đã vang động đến một số lớn quần chúng miền Nam. Cũng trong một, hai thập niên vừa qua, một số nhà văn đã công khai lên tiếng bỏ đảng, hoặc viết bài chống lại đảng như Nhà Văn Đại Tá Phạm Đình Trọng, Trần Mạnh Hảo, Dương Thu Hương, Nguyễn Thiệp, Bùi Ngọc Tấn, Trần Đĩnh, Trần Khải Thanh Thủy, và Đặng Chí Hùng… Cùng với những cuốn tiểu thuyết, tự thuật nổi sóng này, hiện tượng “blogger” đã ào ạt phát triển với các tiếng nói chỉ trích chính quyền rất mạnh như Bauxite Việt Nam, Blog Huỳnh Ngọc Chênh, báo Dân Quyền của Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự, Anh Ba Sàm, Anh Ba Saigon, JB Nguyễn Hữu Vinh, Dân Làm Báo, Nguyễn Hưng Quốc, và nhiều “blog” khác. Cùng số phận với Câu Lạc Bộ Kháng Chiến, một số “blogger” đã bị bắt đi tù với những bản án rất nặng. Trong khi đó, một số cây viết sắc sảo khác không hề biết sợ như Huỳnh Thục Vy, Đại Úy Công An Tạ Phong Tần, Trần Khải Thanh Thủy đã gây chấn động tinh thần của dân Việt tại quê nhà hay tại hải ngoại, làm nhà cầm quyền đã phải ra tay trấn áp tàn nhẫn. Đặc biệt là một số lãnh đạo cao cấp cũng lên tiếng công khai chống lại Đảng. Phó Thủ Tướng Trần Phương nói: “Chúng ta tự lừa dối chúng ta và lừa dối người khác.”
Người lột mặt nạ đảng Cộng can đảm nhất và chi tiết nhất là bà Dương Thu Hương, Đại Biểu Quốc Hội, Phó Thống Đốc Ngân Hàng Nhà Nước đã công khai phát biểu tại Quốc Hội như sau:
“…Đi vào cụ thể thì tôi thấy rằng, thí dụ như trong cương lĩnh viết thì rất hay nhưng mà tôi nghĩ đưa rất nhiều cái khái niệm mà tôi chẳng hiểu được. Như cái khái niệm mà chúng ta vẫn cứ lúng ta lúng túng là ‘một nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa’. Mà cũng báo cáo với các anh là riêng ngân hàng thì không biết ‘định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa’, kinh tế thị trường có ‘định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa’ trong hoạt động ngân hàng, nó là cái gì ? Thì chúng tôi cũng khó có thể là cụ thể hóa ra được. Ngoài ra lại còn ‘phát triển công nghiệp hiện đại, trở thành một nước công nghiệp hiện đại theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa’. Thế không biết ‘công nghiệp hiện đại theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa’là cái gì? Thế công nghiệp của Xã Hội Chủ Nghĩa nó khác với công nghiệp tư bản à? Thế thì tại sao lại cứ có cái đuôi ‘theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa? Thế rồi ‘xây dựng một nền dân chủ Xã Hội Chủ Nghĩa’. Thì đúng ra ngày xưa học về Mác – Lênin có cái câu là ‘dân chủ của Chủ Nghĩa Xã Hội thì dân chủ gấp trăm lần các chế độ dân chủ khác…. Và tôi cũng đang muốn hỏi các anh, là hiện nay chúng ta còn giai cấp công nhân như ngày xưa không? Còn giai cấp vô sản như ngày xưa không? Hay là bây giờ tất cả các vị hữu sản hết rồi mà lại còn giàu có hơn cả những nhà tư bản mà nó phát triển hàng trăm năm nữa? Vậy tại sao chúng ta cứ phải có cái lý thuyết này?”
Bà Dương Thu Hương đã tả chân về cái gọi là “Xã Hội Xã Hội Chủ Nghĩa”:
“..Thực tế là tệ nạn xã hội tăng, an toàn xã hội không đảm bảo, văn hoá thì tôi nói thật là chưa lúc nào văn hoá Việt Nam đồi truỵ đến như thế. Bật TV ra, phim Việt Nam ngay cả quảng cáo cũng là mầu sắc sexy rất là mạnh. Tôi không hiểu là, nó chẳng có một cái thuần phong mỹ tục gì cả mà tôi xem tôi phát ngượng. Rồi ô nhiễm môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm…”
Về tính cách Dân Chủ trong Đảng và Quốc Hội:
“Tôi không biết dân chủ trong Đảng được mở rộng kiểu gì, nhưng mà tôi vẫn cảm nhận rằng là cái dân chủ trong đảng vẫn là mất dân chủ nhất so với Quốc hội. Và đấy, tôi nghĩ rằng mình là Đảng viên, mà mình cũng không được đi bầu Tổng bí thư của mình, chẳng được cái quyền gì cả ngoài cái quyền họp chi bộ hàng tháng để ngồi kể lể cho nhau nghe thôi… Thế rồi ‘xây dựng nhà nước pháp quyền, Quốc hội tiếp tục được kiện toàn về tổ chức’. Cái vấn đề này cũng là một đại sự. Tôi rất xấu hổ khi nói rằng Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất, có quyền gì đâu ạ mà bảo là cơ quan quyền lực cao nhất. Thế rồi Đại Biểu Quốc Hội và nếu là đảng viên thì lại không dám phát biểu cái gì theo chính kiến của mình mà lại phải giơ tay đúng với chủ trương của Đảng và Nhà nước. Cho nên nếu là một Đại Biểu Quốc Hội mà là vừa là đảng viên vừa là Đại Biểu Quốc Hội thì trong con người đó hoàn toàn mâu thuẫn, tức là không đảm bảo được quyền lợi của cử chi mà phải thực hiện vai trò đảng viên của mình và có thể lúc ấy là phải hy sinh cái quyền lợi của cử tri đi.”
Về sự bất công xã hội, bà nói:
“Đó là cái khoảng cách giữa người giàu và người nghèo ngày càng giãn rộng ra, ngày càng trầm trọng, chứ không phải là cái đó được thu hẹp lại. Cho nên, không phải là chênh lệch giữa các vùng các miền còn lớn đâu, mà trong này không hề nói tới khoảng cách chênh lệch giàu nghèo. Và bây giờ hình thành nên những nhà gọi là tư sản nhưng mà cộng sản, những nhà tư sản cộng sản: Tư sản đỏ. Còn dân nghèo thì, tôi cũng được vinh dự vào mấy năm Quốc hội được tiếp cận với nông dân, tôi thấy họ quá khổ luôn, họ quá bị áp bức bóc lột luôn. Hơi một tí bị tù, hơi một tí thì bị thế nọ thế kia và đất đai bị cướp đoạt luôn và cướp xong thì…
Để kết luận, bà nói:
“Tất nhiên chúng ta vẫn cảnh giác nhưng chưa thấy ai chống phá chúng ta những cái gì mà gọi là để cho đất nước này đổ cả. Mà tôi chỉ sợ cái lòng dân này làm cho chúng ta sụp đổ. Nó như là một toà nhà mà bị mối, mặt bên ngoài toà nhà vẫn rất đẹp nhưng mà nó bị mối hết rồi".
Đó là những sự thật xấu xa không thể chối cãi, do chính một Đảng Viên, một Đại Biểu Quốc Hội, một Phó Thống Đốc Ngân Hàng Nhân Dân phát biểu. Đây là những nhát dao chí tử đâm vào mớ lý thuyết hổ lốn, lừa gạt của những người mệnh danh là Cộng Sản.
Bên cạnh đó, đời tư của người lãnh tụ cao nhất của Đảng Cộng Sản Việt Nam, người từng được coi là Thần Thánh của miền Bắc, Hồ chí Minh, cũng trong thập niên vừa qua, đã bị lộ chân tướng là một tên hoang dâm vô độ, từng làm nhiều trẻ em mất trinh, lấy nhiều vợ, nhiều con rơi, lấy cả vợ đồng chí, nhất là khi ở trong rừng Bắc Việt, các bà vợ của các đồng chí cấp thấp vẫn phải đến lều của Hồ Chủ Tịch vĩ đại để dâng hiến thân thể cho lãnh tụ. Lý do tại sao Hồ Chủ Tịch lại thích vợ của đồng chí đã được giải thích bởi một trong những người thân tín nhất của Hồ Chí Minh: “liên hệ với những bà lớn tuổi, đã có chồng con thì không có hệ lụy gì như khi liên hệ với gái trinh.” Thực tế, Hồ chí Minh đã hãm hiếp hai chị em Nông Thị Xuân đến mang thai, và khi Nông thị Xuân cứ đòi Hồ Chí Minh cho ra công khai, thì Hồ Chí Minh đã sai Trần Hoàn là Bộ Trưởng Công An tiếp tục hiếp dâm rồi cho xe cán chết. Sau khi gia đình Nông Thị Xuân định tố cáo, thì Công An truy lùng giết sạch cả gia đình. Trong một lá thư mật được giữ kín tại văn phòng Chủ Tịch Quốc Hội, người ta đọc thấy như sau:
“Cao Bằng ngày 29 tháng 7 năm 1983.
Kính gởi Ông Nguyễn hữu Thọ Chủ tịch quốc hội nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Tôi là một thương binh đã 25 năm nay vô cùng đau khổ, không dám hé răng với ai. Không phải chỉ vì vết thương bom đạn, chiến tranh mà là một vết thương lòng vô cùng nhức nhối. Nay tôi sắp được từ giã cái xã hội vô cùng đen tối này đi sang thế giới khác, tôi phải chạy vạy rất khó khăn mới viết được bức thư này lên Chủ tịch, hy vọng ông còn lương tri, lương tâm đem ra ánh sáng một vụ bê bối vô cùng nghiêm trọng tàn ác, mà người vợ chưa cưới của tôi là một nạn nhân. Nay tôi hy vọng những tên hung thủ được lột mặt nạ trước công chúng, không để cho chúng ngồi trên đầu trên cổ nhân dân…
(Lời cô Vàng, người yêu của tác giả bức thư):
Cuối năm 1956 chị Xuân sinh được một cậu con traị Cụ Hồ đặt tên là Nguyễn Tất Trung. Em có nhiệm vụ bế cháu. Ông Bộ trưởng Công an có nhiệm vụ quản lý chị Xuân nên thường đến luôn. Nhưng một buổi tối vào khoảng mồng 6 hay mồng 7 tháng 2 năm 1957, ông Hoàn tới, ngồi nói chuyện vu vơ một tí rồi nắm tay chị Xuân, kéo vào một cái buồng xép, từ cầu thang đi lên, vật chị Xuân lên một cái giường nhỏ, định hãm hiếp. Chị Xuân bị nhét khăn vào miệng nhưng vẫn ú ớ la lên. Em hoảng sợ la tru tréo. Còn chị Nguyệt sợ quá, rúm người lại ngồi một góc tường. Nghe tiếng cửa sổ nhà dưới xô xầm vào tường, lão Hoàn bỏ chị Xuân ra, rút khẩu súng lục trong túi áo hoa lên nói to: “Chúng mày im mồm, không ông cho chết hết” rồi hầm hầm chạy xuống thang ra ô tô chuồn.
Chị Xuân thất thểu đi ra khóc nức nở, ôm choàng lấy em. Em hỏi nó nắm tay chị, sao chị không văng vào mặt nó để nó dắt đi? Chị Xuân vừa nức nở vừa nói: “Ðau khổ nhục nhả lắm. Chị phải nói hết để các em tha tội cho chị. Từ hôm chị mới về nhà này, có một bà già độ 60 tuổi ở một buồn dưới nhà, vợ một cán bộ Công an đã chết, lên thân mật nói chuyện với chị rằng: Sao cô ở đây một mình? Bạn đàn bà để tôi nói thật cho cô biết. Cái lão đem cô về đây là một tên côn đồ lưu manh, dâm ô tàn ác vô kể. Tôi xin kể một vài chuyện cho cô nghe. Ông Lương Khánh Thiện, một Uỷ viên Trung ương, bị đế quốc Pháp giết có con gái tên là Bình. Chị Ðường, vợ anh Thiện đem con gái gởi bác Hoàn nhờ bác tác thành cho. Lão Hoàn đã hiếp nó, nó chửa rồi chọn một tên lưu manh vào làm Công an để gả cô Bình làm vợ. Lão lại đem một cô gái có nhan sắc nhận là cháu, cũng hiếp cô gái này cho tới chửa, rồi giết chết quăng xác xuống hồ Ha Le để khỏi mang tiếng. Cán bộ Công an nhiều người biết chuyện của nó, nhưng không ai dám hở răng, vì sợ lão vu cho tội gì bắt giam rồi thủ tiêu.”
Nghe chuyện đó chị cũng khủng khiếp, nhưng lại nghĩ là nó đối với mọi người khác, còn đối với mình thì nó đâu dám. Nhưng chỉ được mấy hôm sau chị nghe tiếng giầy đi nhè nhẹ lên gác, chị chạy ra thì thấy nó đi lên nhếch mép cười một cách xõ lá. Nó chào chị rồi đi thẳng vào nhà, nó ôm ghì lấy chị vào lòng rồi hôn chị.
Chị xô nó ra nói:
“Không được hỗn, tôi là vợ ông chủ tịch nước”.
Nó cười một cách nhạo báng:
“Tôi biết bà to lắm nhưng sinh mệnh bà nằm trong tay tôi”.
Rồi nó lại nói: “Sinh mệnh tất cả dân tộc Việt nam, kể cả bố mẹ anh chị nhà bà cũng nằm trong tay tôi. Tôi muốn bắt ở tù, thủ tiêu đứa nào tuỳ ý. Và tôi nói cho bà biết cụ già nhà bà cũng không ngoài tay với của tôi”.
Rồi nó rút khẩu súng lục dí vào ngực chị.
Chị ngồi xụp xuống ghế nói:
“Anh cứ bắn đi”.
Nó cười khì khì :
"Tôi chưa dại gì bắn. Tôi tặng bà vật khác".
Nó dắt súng vào túi quần rồi rút ra một sợi dây dù to bằng chiếc đũa, đã thắt sẳn một cái thòng lọng. Nó quàng cái tròng vào cổ chị rồi kéo chị đi lại cái giường kia, đẩy chị nằm xuống, rồi đầu sợi giây nó buộc vào chân giường. Chị khiếp sợ run như cầy sấy.
Nó nói “Bây giờ bà muốn chết tôi cho bà chết“. Rồi nó lột hết quần áo chị…
Em thấy nguy hiểm vì tên Hoàn đã nổi tiếng ở Bộ Công an là một tên dâm bôn vô cùng tàn ác. Ðến độ một tuần sau, vào 7 giờ tối ngày 11 tháng 2 năm 1957, ngày em còn nhớ như đinh đóng cột. Một chiếc xe com măng ca thường đón chị Xuân lên gặp bác Hồ, anh Ninh xồm, người bảo vệ Trần Quốc Hoàn chuyển lên bảo vệ Bác, vào gặp chị Xuân nói lên gặp Bác. Chị Xuân mặc quần áo, xoa nước hoa rồi ra đi. Sáng hôm sau, 12 tháng 2, một nhân viên Công an Hà Nội đến báo tin chị Xuân gặp tai nạn ô tô chết rồi, hiện còn để ở nhà xác bệnh viện Phủ Doãn…” (Hết lời cô Vàng).
Tôi chỉ được gặp Vàng em tôi có một tháng, đến ngày mồng 2 tháng 11 năm 1957 cô Vàng đi về thăm ông cậu Hoàng văn Ðệ. Hung thủ đi theo rồi giết chết em tôi quăng xác xuống sông Bằng Giang đến ngày mồng 5 tháng 11 mới nổi lên ở cầu Hoàng Bồ. Tôi được tin sửng sốt chạy về cầu Hoàng Bồ thì thi hài đã được kiểm nghiệm và chôn cất rồi. Nghe dư luận xôn xao bị đánh vở sọ, đồng hồ vẫn còn nguyên và người nhà đã nhận về chôn cất. Tôi đâm bổ về Hà Nội liên lạc được với một cậu bạn cùng học làm việc ở Toà án Hà Nội. Tôi kể vụ án em tôi bị giết thì bạn tôi sao cho tôi một bản Công Văn Viện Kiểm sát hỏi toà án về vụ em tôi và cô Xuân bị giết. Tôi xin sao bản văn đó trình ông để tiện việc điều trạ Vụ này nhiều người bị giết. Cô Xuân, vợ cụ Hồ Chí Min h, cô Vàng, vợ chưa cưới của tôi, cô Nguyệt, còn nhiều người ở Trường y tá Thái Nguyên nghe chuyện Vàng kể đi nói chuyện lại cũng bị giết lây…”
Lá thư bí mật này bất ngờ được tung ra, cùng với một loạt bí mật thâm cung được một số đảng viên kỳ cựu tiết lộ đã làm cho dân chúng thấy rõ bộ mặt giảo hoạt của một lãnh tụ, mà thập niên sau này, lại được cho là không phải Nguyễn Ái Quốc, mà là một tên Tầu giả dạng. Theo nguồn tin đó thì Nguyễn Ái Quốc đã chết từ 1930 sau khi bị bệnh sởi. Điều này có nhiều tính chất khả thi vì một số hình ảnh chụp Nguyễn Ái Quốc trong thời gian ở Pháp có tai nhỏ hơn tai của Hồ Chí Minh sau này rất nhiều. Người so sánh những tấm hình này cho rằng, người ta có thể giả dạng mắt, môi, mũi, má nhưng không thể giả được lỗ tai! Điều này có rất nhiều cơ sở khiến cho nguồn tin này được dư luận chấp nhận ngay mà Đảng Cộng chưa có một lời nào phản bác.
2-Sự tranh dành quyền lực.
Trong tất cả mọi văn kiện liên quan đến Đảng Cộng Sản Việt Nam, tình đồng chí được đề cao như kim chỉ nam cho các sinh hoạt của đảng. Thực tế, các đồng chí lãnh tụ luôn tìm cách hãm hại nhau để tranh dành quyền lực vì từ quyền lực vĩ đại sinh ra quyền lợi vô biên. Từ sau khi Hồ Chí Minh lập ra chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ngày 2 tháng 9 năm 1945, có rất nhiều các vụ thủ tiêu lẫn nhau một cách thầm kín, nên không thể có một danh sách nào chính xác ghi đầy đủ tên những đồng chí bị giết, nhưng người ta có thể nhẩm tính ra hàng trăm ngàn vụ. Điển hình là trong cuộc Đấu Tố cải cách ruộng đất, một số lớn bộ đội có gia đình gốc là tư sản cũng bị giết cùng với địa chủ. Sau khi máu đã đổ đầy đường, nhân dân ta thán, khóc than vang trời, thì Hồ Chí Minh lại giả bộ khóc lóc, xin lỗi nhân dân, và chuộc lỗi bằng cách giết luôn các cán bộ chỉ huy vụ cải cách ruộng đất để bịt miệng. Số người chết trong cả hai đợt lên tới cả trăm ngàn người.
Dần dần các cuộc thanh trừng lan đến các lãnh tụ cấp cao. Cái chết nổi tiếng nhất là cái chết của Trung Tướng Nguyễn Bình, nguyên Tư lệnh Khu Chiến Đông Triều, Phó Chủ Tịch Kháng Chiến Nam Bộ. Vì xung đột nguyên tắc, Nguyễn Bình được lệnh ra Bắc nhận nhiệm vụ, ông bị các đồng chí phục kích bắn chết trên đất Cam bốt.
Sau đó, một cái chết thứ hai làm xôn xao dư luận quốc tế là Đại Sứ Đinh Bá Thi, sau khi bị Mỹ tố cáo là làm gián điệp cho miền Bắc. Bị lộ bí mật, miền Bắc sai giết luôn để ngừa hậu hoạn. Rồi sau đó, nhiều cái chết bí ẩn đã gây thắc mắc cho dư luận quốc tế.
1) Đại Biểu Quốc Hội Dương Bạch Mai, người từng du học Pháp và Liên Xô, chết 1964, khi uống ly bia giữa 2 phiên họp Quốc Hội, vì phản đối kiểu trại lính Trung Cộng.
2) Đại Tướng Nguyễn Chí Thanh, Ủy Viên Bộ Chính Trị, Bí Thư Trung Ương Cục Miền Nam, kiêm Chính Ủy Quân Giải Phóng Miền Nam, ói ra máu, chết năm 1967.
3) Đại Tướng Chu Văn Tấn, người từng cõng Hồ Chí Minh tại hang Pắc Bó, nguyên Bộ Trưởng Quốc Phòng chết năm 1984.
4) Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Hoàng Văn Thái đang chuẩn bị thay thế Văn Tiến Dũng thì chết đột ngột năm 1986.
5) Đại Tướng Lê Trọng Tấn, Viện Trưởng Học Viện Quân Sự Cao Cấp, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Nhân Dân, Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng, Phó Tư Lệnh Quân Giải Phóng Miền Nam, chết bất ngờ năm 1986.
6) Thượng tướng Trần Văn Trà, Tổng Tư Lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh cưỡng chiếm miền Nam chết bất ngờ trong thang máy.
7) Thượng Tướng Đinh Đức Thiện, Chủ Nhiệm Tổng Cục Hậu Cần, Phó Tư Lệnh Chiến Dịch Hồ Chí Minh, Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng, Bộ Trưởng Bộ Giao Thông Vận Tải, tên thật là Phan Đình Dinh, em ruột của Lê Đức Thọ, được báo là khi chùi súng săn bị “lạc đạn” chết năm 1987
8) Trung Tướng Phan Bình, Cục Trưởng Cục Quân Báo, bị bắn vào đầu năm 1987.
9) Thủ Tướng Phạm Hùng chết đột ngột năm 1987 khi đang làm Thủ Tướng
10)Thượng Tướng Công An Thi văn Tám cũng đột tử năm 2008.
12) Nguyễn Hữu Thắng, Cục trưởng Đường sắt, đột ngột chết trong năm nay.
13) Tướng Công An Phạm Quý Ngọ, đang bị điều tra về tham nhũng, đột tử năm 2014.
Ngoài ra, môt vụ nổ máy bay thập niên 1990, làm chết 13 người gồm Tham Mưu Trưởng, Tham Mưu Phó và toàn bộ tham mưu, cũng là một vụ thủ tiêu tàn nhẫn. Thân nhân của những người chết này không được phép làm tang lễ rầm rộ, mặc dù tất cả đều là tướng lãnh cao cấp.
Nhưng trên hết, cái chết của lãnh tụ vĩ đại Hồ Chí Minh, gần đây đã bị bật mí là bị thuốc độc của Lê Duẫn vì chính Lê Duẫn là người kiểm tra từng môn thuốc và thức ăn cho Hồ Chủ Tịch. Những ngày chót của Hồ Chí Minh, không ai được ra vào thăm hỏi, vì Hồ Chí Minh đã bị phe đảng Lê Duẫn bao vây. Điều quan trọng hơn nữa là chúc thư của Hồ Chí Minh đã bị phe Lê Duẫn sửa, mãi hơn hai chục năm sau, mới bị bật mí.
Riêng Võ Nguyên Giáp, người đầu tiên làm Trung Đội Trưởng toán bộ đội đầu tiên của Cộng Sản Việt Nam, đã 2 lần suýt bị đầu độc chết, nhờ may mắn mà thoát, nhưng rồi cũng bị tước mất hết quyền bính, và để làm nhục Võ Nguyên Giáp, phe Lê Duẩn đã cử Giáp làm tướng lãnh lo đặt vòng tránh thai. Từ đó, mới có câu đồng dao rằng:
Ngày xưa, đại tướng công đồn
Ngày nay, đại tướng công l. chị em.
Vai trò người hùng Võ nguyên Giáp càng ngày càng xuống dốc, khi thập niên 2000, Tầu Cộng cho phổ biến những chi tiết mật, chứng tỏ là các trận Na Sản, Điện Biên Phủ đều do tướng Tầu chỉ huy, Giáp chỉ biết thi hành mà thôi.
3-Đảng Cộng Sản đã là đầy tớ của Tầu Cộng từ năm 1924.
Cuốn hồi ký “Ghi chép về việc đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp” do Nhà Xuất Bản Lịch Sử Đảng Cộng Sản Trung Quốc, Bắc Kinh ấn hành năm 2002 và được dịch bởi Trần Hữu Nghĩa và Dương Danh Dy, gồm có những bài tường thuật của La Quý Ba, Trương Quảng Hoa, Độc Kim Ba, Vu Hóa Thầm, Trần Canh, Như Phụng Nhất, là những nhân vật lừng lẫy trong trung ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc, đã ghi lại việc họ Hồ sang Tầu từ năm 1924 để xin làm đệ tử của Tầu Cộng. Sau đó, năm 1930, Hồ chí Minh mới thành lập đảng Cộng Sản Đông Dương tại Hồng Kong. Năm 1938, Hồ chí Minh, lại xin làm Cố Vấn cho Lực Lượng Quân Đội Cộng Sản Trung Quốc (Advisor to the Chinese Communist armed forces). Tháng 10 năm 1940, dưới sự giúp đỡ của Tầu Cộng, Hồ đến Quế Lâm, thành lập văn phòng Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội, sau này đổi là Việt Minh, hoạt động dưới sự chỉ đạo của Trung Cộng.
Tháng 1 năm 1950, Hồ Chí Minh cùng Trần Đăng Ninh, Hoàng văn Hoan lại sang cầu viện Tầu Cộng và được diện kiến Lưu Thiếu Kỳ tại Trung Nam Hải. Trong buổi họp này, phía Trung Cộng đưa Chu Đức, Đồng Tất Vũ, Lưu Bá Thừa, Nhiếp Vinh Trần, Lý Duy Hán tiếp phái đoàn bán nước họ Hồ. Tuy nhiên, vì lúc đó, Hồ chưa có thực lực nào ngoài Lực Lượng Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân dưới sự điều động của Võ Nguyên Giáp điều động từ năm 1944, cho nên phía Trung Cộng có vẻ không mặn mà lắm với lời hứa bán nước này.
Sau đó, Hồ Chí Minh năn nỉ Mao Trạch Đông cho tháp tùng sang Liên Xô cầu viện. Tuy chuyến đi này không thành công, nhưng nhận thấy vẻ trung thành của Hồ, nên khi về đến Trung Nam Hải, Mao Trạch Đông và Lưu Thiếu Kỳ quyết định giúp Hồ Chí Minh bằng một phái đoàn Cố Vấn tối cao, mà Hồ Chí Minh buộc đàn em gọi là “Các đồng chí Cố Vấn Vĩ Đại Trung Quốc.” Phái đoàn cố vấn vĩ đại này do Vi Quốc Thanh, nguyên Phó Tư Lệnh Lực Lượng Công An Trung Cộng làm trưởng đoàn. Trung Cộng đã viện trợ đợt đầu tiên 150,000 khẩu súng, hơn 3,000 khẩu pháo, và đạn dược, xe cộ, quần áo, lương thực, đồ dùng hàng ngày như bát ăn cơm tráng men, khăn bông.
Từ đó, thực tế, đảng Cộng Sản Việt Nam (tuy đổi tên nhiều lần) đã là một thứ đầy tớ, nô lệ cho chủ Trung Cộng. Như thế, việc đảng Cộng Sản Việt Nam ngày hôm nay cam tâm dâng đất và nước cho Tầu cộng cũng chỉ là hệ quả tất yếu của việc Hồ Chí Minh xin làm đệ tử của Tầu Cộng từ những năm 1924, chứ không phải bắt nguồn mới thập niên này.
Ngày hôm nay, nhìn lại thời gian 40 năm qua, với bao vật đổi, sao dời, lịch sử Việt Nam đang mở sang những trang đen tối, người Việt Nam đều uất nghẹn, nước mắt lưng tròng, mong được mang kiếm về nước, tiêu diệt đảng Cộng Sản hầu cho dân Việt lại hạnh phúc bên bờ đại dương yêu dấu.
Kết cục cuộc chiến Việt Nam và những quyết định từ Hà Nội
Giáo sư sử học Nguyễn Thị Liên Hằng thuộc trường đại học Kentucky và cuốn ‘Hanoi’s War’ tạm dịch là ‘Cuộc Chiến Hà Nội’, được xuất bản vào năm 2012.
RFA files
Cuộc chiến Việt Nam đã kết thúc 40 năm qua nhưng rất nhiều điều về cuộc chiến vẫn còn tiếp tục là chủ đề gây chú ý tại Mỹ. Các sử gia Mỹ đã dành nhiều thời gian nghiên cứu và viết về cuộc chiến này để tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến kết cục của cuộc chiến. Giáo sư sử học Nguyễn Thị Liên Hằng thuộc trường đại học Kentucky là người có những nhận định khá khác biệt so với những sử gia Mỹ khác về những nguyên nhân dẫn đến kết cục của cuộc chiến. Điều này đã được bà đề cập trong cuốn ‘Hanoi’s War’ tạm dịch là ‘Cuộc Chiến Hà Nội’, được xuất bản vào năm 2012. Việt Hà phỏng vấn giáo sư Nguyễn Thị Liên Hằng về những phân tích của bà về cuộc chiến.
Việt Hà: Thưa bà, vào tháng 3 năm 1965, Hoa Kỳ quyết định gửi quân vào Việt Nam, theo bà thì những nguyên nhân nào từ phía Hà Nội đã có ảnh hưởng đến quyết định này của Mỹ?
Prof. Nguyễn Thị Liên Hằng: Câu hỏi về quyết định của chính phủ Johnson khi gửi quân sang Việt nam là một câu hỏi rất quan trọng. Lập luận của tôi là cả hai chính phủ bao gồm chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa (Bắc Việt Nam) và chính phủ Mỹ đều có lý do để tham chiến. Theo nghiên cứu của tôi thì Đảng cộng sản Việt Nam lúc đó, còn được gọi là Đảng Lao Động Việt Nam, dưới thời Lê Duẩn, đã đưa ra quyết định tiến hành một cuộc chiến ở quy mô lớn từ năm 1962, 1963. Lê Duẩn muốn tăng cường những nỗ lực cho cuộc chiến ở miền Nam và ông ta chỉ đợi cho đến khi có thời cơ tốt để tiến hành. Điều này đã không xảy ra cho đến tận cuối năm 1963 tại hội nghị trung ương 9. Với lý do đó, ông ta đã có quyết định bắt đầu một cuộc chiến quy mô lớn và Hoa Kỳ theo nhiều cách cũng đã quyết định tiến hành cuộc chiến dưới thời của Tổng thống Lydon Johnson (LBJ) trong thời gian 1964.
Tôi cho rằng Lê Duẩn đã làm mọi chuyện trở nên dễ dàng hơn cho phía Mỹ can thiệp sớm hơn. Cả Hà Nội và Washington đều phải chịu trách nhiệm về cuộc chiến
Prof. Nguyễn Thị Liên Hằng
Cho nên theo tôi, họ đều có lý do riêng của họ. Nó không phải là nếu Lê Duẩn không leo thang cuộc chiến thì Hoa Kỳ cũng không tham chiến, Hoa Kỳ cũng đã có lý do riêng để tham chiến….Tất nhiên quyết định của Lê Duẩn đã cho LBJ lý do để can thiệp, nhưng ông ấy cũng có lý do nội địa ở nước Mỹ để tham chiến. Nếu không phải là Lê Duẩn mà là một người khác lãnh đạo ở Bắc Việt Nam thì LBJ sẽ làm gì? Chúng ta không biết được câu trả lời rõ ràng cho điểm này. Nhưng tôi cho rằng Lê Duẩn đã làm mọi chuyện trở nên dễ dàng hơn cho phía Mỹ can thiệp sớm hơn. Cả Hà Nội và Washington đều phải chịu trách nhiệm về cuộc chiến.
Việt Hà: Khi Mỹ gửi quân vào Việt Nam, Mỹ cũng thực hiện một loạt các chiến dịch quân sự. Một số sử gia quân sự Mỹ cho rằng các chiến dịch quân sự này đã thất bại nhưng trong cuốn Cuộc Chiến Hà Nội của bà thì tôi thấy rằng các chiến dịch quân sự của Hà Nội từ năm 1964, 1968 đến 1972 đều đã thất bại. Vậy tại sao Lê Duẩn vẫn khiến phía Mỹ phải ngồi vào vòng đàm phán và cuối cùng giành thắng lợi?
Prof. Nguyễn Thị Liên Hằng: câu hỏi này liên quan đến bản chất của cuộc chiến tại Việt Nam. Phía Mỹ đã không có một định nghĩa rõ ràng về chiến thắng. Họ không có ý định lật đổ Lê Duẩn hay Đảng ở Hà Nội, mà chỉ là muốn duy trì một chính phủ phi cộng sản ở Sài Gòn. Vì Johnson không tuyên bố cuộc chiến, bởi vì lúc đó Johnson đang có hai chiến dịch là chiến dịch chống đói nghèo ở trong nước Mỹ và thứ hai là cuộc chiến ở Việt Nam. Nếu ông ta không chiến thắng ở cuộc chiến này (Việt nam) thì dân chúng Mỹ sẽ mệt mỏi bởi vì họ phải gửi quân lính sang Việt Nam. Cho nên theo tôi đây là một phần lý do cho thấy mặc dù Lê Duẩn đã thất bại trong việc lật đổ chính phủ Sài Gòn nhưng ông ta vẫn chiến thắng hay khiến phía Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán. Đó là phần mà mọi người biết được khi đọc cuốn ‘Cuộc Chiến Hà Nội’ (Hanoi’s war). Nhưng người Mỹ đã không biết là Hà Nội cũng mắc rất nhiều sai lầm, và những mục tiêu quân sự mà Hà Nội đề ra đã không đạt được.
Trong khi đó, chúng ta nghe từ phía Mỹ là Hà nội đã thắng này thắng kia và không có những động thái sai, nhưng trên thực tế thì họ có sai lầm. Đó là điểm chính của cuốn sách của tôi. Nó cho thấy là Lê Duẩn đã có một kế hoạch quân sự đầy tham vọng là tổng tiến công và nổi dậy. Ông ta tin là mỗi lần ông ta thực hiện tổng tiến công và nổi dậy thì Thiệu sẽ bị sụp đổ nhưng điều này đã không xảy ra. Tuy vậy, Lê Duẩn nắm quyền kiểm soát chắc dư luận ở Hà Nội. Thực tế là cũng không có dư luận ở Hà Nội, vì Đảng Lao Động đảm bảo là người dân không được phép viết và chỉ trích cuộc chiến. Mỗi lần Lê Duẩn sai thì không một ai ở Hà Nội có thể lên tiếng vì Lê Duẩn có thể vô hiệu hóa được Võ Nguyên Giáp và Hồ Chí Minh và những người lãnh đạo khác ở Hà Nội. Lê Duẩn có thể giảm thiểu được những đe dọa cho mình. Trong khi đó thì ở Mỹ mọi điều không phải như vậy.
Chúng ta nghe từ phía Mỹ là Hà nội đã thắng này thắng kia và không có những động thái sai, nhưng trên thực tế thì họ có sai lầm...Lê Duẩn đã có một kế hoạch quân sự đầy tham vọng là tổng tiến công và nổi dậy. Ông ta tin là mỗi lần ông ta thực hiện tổng tiến công và nổi dậy thì Thiệu sẽ bị sụp đổ nhưng điều này đã không xảy ra
Prof. Nguyễn Thị Liên Hằng
Việt Hà: Xin bà cho biết là mối quan hệ giữa Việt Nam với Liên Xô và Trung Quốc vào lúc đó có ảnh hưởng thế nào tới quyết định đưa quân vào Việt Nam của Mỹ?
Prof. Nguyễn Thị Liên Hằng: tôi nghĩ là quan hệ giữa Bắc Việt nam với Trung Quốc và Liên Xô vào giai đoạn đầu những năm 60 là một quan hệ rất gần. Hoa Kỳ thì không muốn khiêu khích Trung Quốc để khiến nước này tham chiến, cho nên họ không gửi quân vào phía bắc vĩ tuyến 17 và họ cũng không ném bom biên giới giữa Trung Quốc và Việt nam ở phía Bắc ngay khi chiến dịch Rolling Thunder bắt đầu. Họ lo ngại là Trung Quốc sẽ can thiệp. Mặc dù Hà Nội không thân thiết lắm với Liên Xô vào lúc đầu cuộc chiến nhưng đến năm 1968 thì Liên Xô đã vượt qua Trung Quốc trong những trợ giúp cho Việt Nam. Cho nên quan hệ giữa các nước cộng sản này rất gần. Điều này có ảnh hưởng đến cách mà Washington tiến hành cuộc chiến với điều quan trọng nhất là họ lo ngại sự can thiệp của Trung Quốc cho mãi đến khi Nixon thực sự lên nắm quyền. Vào cuối những năm 60 thì họ biết rõ là Trung Quốc sẽ không can thiệp nhưng đó là nỗi lo sợ của họ vào lúc đầu cuộc chiến.
Việt Hà: xin bà giải thích bối cảnh tại sao sau năm 1968, Hoa Kỳ lại có những thay đổi về chính sách khi quyết định nhượng bộ ngồi xuống đàm phán với Hà Nội?
Prof. Nguyễn Thị Liên Hằng: đã có sự phản bội lại miền Nam Việt Nam, sự phản bội đối với Việt Nam cộng hòa. Theo tôi điều này có liên quan đến sự thay đổi của chiến tranh lạnh và tình hình ở Việt Nam. Tôi nghĩ Nixon, đặc biệt là Kissinger muốn giữ uy thế của nước Mỹ trong chiến tranh lạnh. Cho nên điều mà Kissinger muốn làm là đàm phán để Mỹ thoát khỏi cuộc chiến và chỉ đợi trong vài năm Sài Gòn sẽ sụp đổ và đến lúc ấy thì đó không phải lỗi của Mỹ. Cho nên ông ta đã làm vậy. Thứ nhất là người Mỹ đã không kết nối được thực tế cuộc chiến đang diễn ra ở chiến trường và thứ hai là do sự thay đổi trong quan hệ giữa Mỹ, Trung Quốc và Liên Xô. Cho nên việc có tồn tại hay không một chính phủ phi cộng sản ở Sài Gòn không còn quá quan trọng đối với Mỹ, đặc biệt sau khi Hoa Kỳ và Trung Quốc bắt đầu nói chuyện lại với nhau.
Ngay kể cả khi Nixon không muốn bỏ rơi Việt Nam và ông ta đã cố gắng sử dụng không quân để tàn phá Hà Nội trong thời kỳ ông làm Tổng thống, nhưng theo tôi sự tồn tại của một chính phủ phi cộng sản ở Sài Gòn đã không còn quan trọng với Mỹ kể từ sau năm 1968, 1969, và càng rõ ràng hơn vào đầu những năm 1970 so với thời kỳ của Tổng thống Lyndon Johnson.
Việc có tồn tại hay không một chính phủ phi cộng sản ở Sài Gòn không còn quá quan trọng đối với Mỹ, đặc biệt sau khi Hoa Kỳ và Trung Quốc bắt đầu nói chuyện lại với nhau
Prof. Nguyễn Thị Liên Hằng
Việt Hà: Theo bà nếu như những người đưa ra chính sách ở Mỹ biết được những gì đang diễn ra ở Hà Nội thì liệu phía Mỹ có thể kết thúc được cuộc chiến sớm hơn không?
Prof. Nguyễn Thị Liên Hằng: Trong các tài liệu lưu trữ mà tôi được nghiên cứu ở Mỹ, bao gồm của Bộ Ngoại Giao, của CIA, tôi thấy phía Mỹ đã không biết được điều gì đang diễn ra ở Hà Nội. Có một số những chuyên gia tình báo dường như là đã có những ý tưởng về những tranh luận đang diễn ra trong nội bộ Đảng Lao Động ở Hà Nội nhưng dường như không ai đọc các báo cáo của họ. Tôi nghi ngờ là ngay kể cả khi một nhân viên nào đó ở Bộ Ngoại Giao hay CIA có được thông tin đúng thì báo cáo của họ cũng khó đến được bàn Tổng Thống, vì theo tôi, cuối cùng Hoa Kỳ vẫn tin là họ sẽ chiến thắng dù điều gì đang diễn ra ở Hà Nội đi chăng nữa. Hoa Kỳ sẽ chiến thắng bởi lực lượng hùng hậu, vì vậy họ cũng không cần lợi dụng sự chia rẽ trong Đảng Lao động.
Vì điều quan trọng hơn cả là sức mạnh của Hoa Kỳ chứ không phải là kẻ thù yếu thế nào. Đã luôn có một sự tin tưởng ở Mỹ là nước Mỹ sẽ thắng, nhất là trong thời kỳ chiến tranh lạnh, tức là Hoa Kỳ chưa từng thua một trận chiến nào. Họ cứ tham chiến và thắng. Cho nên họ không cần quan tâm đến những chia rẽ về chính trị ở Hà Nội. Tất nhiên là Hà Nội cũng gây khó khăn cho người bên ngoài muốn nhìn thấy sự chia rẽ này. Nhưng tôi có cảm giác là Hoa Kỳ chưa bao giờ cố gắng tận dụng sự chia rẽ này ở Hà Nội vì họ quá tin tưởng là họ sẽ chiến thắng bởi sức mạnh quân sự.
Việt Hà: xin cảm ơn bà đã dành cho chúng tôi buổi phỏng vấn.
HCM : TỘI ĐỒ DIỆT CHỦNG VÀ BÁN NƯỚC - Đinh Lâm Thanh
Nói đến tội đồ Hồ Chí Minh (HCM) thì phải đề cập đến hai vấn đề diệt chủng và bán nước. Đây mới chính là điểm tối quan trọng và cần thiết để đánh sập toàn bộ ảo tưởng thần tượng HCM trước tuyên truyền xảo quyệt của cộng sản. Hơn nữa, đây cũng là một vấn đề lớn cần vạch trần và phổ biến thật rộng rãi tội ác HCM nhằm mở mắt cho những ai còn mê muội, kiến thức hiểu biết nông cạn cũng như nhầm lẫn giữa hai điều trái ngược huyền thoại cha già dân tộc với thực tế tội đồ dân tộc.
Trước đây nhiều người cầm viết đã vạch trần thật chi tiết về con người HCM như đạo thơ đạo văn, xảo trá, đa thê, chơi chạy, giết vợ, quỵt tình v.v. Nhưng theo tôi, đây là chuyện nhỏ, những tội nầy có thể xếp vào những tật xấu thường tình của một người đàn ông lắm quyền và nhiều tiền nhưng lại thiếu hẳn căn bản giáo dục cũng như đạo đức. Nếu chỉ vạch trần những tội nhỏ nầy thì không đủ sức để thuyết phục người trong nước đạp đổ cái thần tượng vĩ đại HCM mà đảng cộng sản đã nhào nặn và nhồi sọ vào trí óc họ từ trên nửa thế kỷ nay.
Tại hải ngoại, một số lớn nhà tranh đấu đã viết và thực hiện nhiều bộ phim video kết tội HCM một cách tổng quát, nhưng ít nhấn mạnh cũng như chưa lột trần tận gốc rễ hai vấn đề tối quan trọng là tội diệt chủng và tội bán nước. Bài viết nầy không ngoài mục đích đóng góp thêm phần nào hồ sơ tội ác và con người thật của HCM.
Như chúng ta đã biết đảng Việt gian cộng sản đã dựng lên thần tượng HCM nhằm đầu độc người dân dưới chế độ và buộc họ phải tôn thờ tên nầy như một Thượng Đế. Điều nầy không lạ, chủ trương vô tôn giáo của cộng sản không thuyết phục được người dân hữu thần thì chúng phải tạo ra một thần tượng khác nhằm thay thế hình ảnh Trời, Chúa, Phật, Tổ Tiên… trong mỗi con người Việt Nam. Do đó đảng cộng sản đã tráo trở cũng như thổi phồng tên tội đồ HCM thành cha già dân tộc muôn đời kinh yêu và sống mãi trong sự nghiệp quần chúng.
Tôi cho rằng Nguyễn Tất Thành (HCM) không phải là một người có tinh thần yêu nước khi HCM xuất ngoại làm bồi trên một tàu buôn để qua Pháp theo như tuyên truyền của Việt gian cộng sản. Thật ra trong thâm tâm HCM bấy giờ muốn làm quan dưới trướng của thực dân Pháp. Do đó, ngay khi vừa đến Marseille, HCM nạp đơn xin vào học trường bảo hộ (trường đào tạo quan thực dân của Pháp) với một ước mơ sau nầy trở về nước, dựa vào thế lực ngoại bang hưởng vinh quang phú quý. Như vậy vai trò HCM chẳng khác gì là làm chó săn cho thực dân Tây đàn áp các phong trào toàn dân chống Pháp thời đó ! Nếu đơn xin học được chấp nhận, tốt nghiện trở về, HCM sẽ là một quan đầu tỉnh của chính phủ bảo hộ, dĩ nhiên phải tuân hành lệnh Tây bóc lột và đàn áp người dân theo lệnh của chủ. Nhưng đơn xin theo học bị chính phủ Pháp bác bỏ, HCM phải lang thang đói rách một thời gian và cuối cùng thì sống bám vào váy của một con đầm già để rồi rơi vào tay bọn cộng sản quốc tế cũng như trở thành tên cộng sản đầu tiên của Việt Nam !
Nói về nguồn gốc con người HCM, mãi cho đến giờ nầy vẫn còn nhiều nghi vấn. Từ một tên thiếu tá Chệt được Tàu cộng đánh tráo thành nhân vật HCM và đưa về Việt Nam thành lập và lãnh đạo đảng cộng sản. Tất cả sự nghiệp chính trị đều là bá láp, lòng yêu nước mập mờ và cuộc đời tình ái với những trò chơi chạy của cha già dân tộc đều được đảng bưng bít. Nhưng buồn cho người trong nước đang sống dưới chế độ cộng sản thì bắt buộc phải nghe cũng như phải thuộc nằm lòng từ dòng họ gia phả, tinh thần yêu nước đến sự hy sinh cuộc đời cho quốc gia dân tộc của HCM qua nhiều huyền thoại tráo trở và thêu dệt hoang tưởng. Đây là một trò lừa bịp trắng trợn mà đảng cộng sản tạo ra nhằm đầu độc từ thế hệ nầy qua thế hệ khác. Nhưng đối với hải ngoại, và dưới mắt người Việt tự do, con người thật HCM đã bị vạch trần : cha già dân tộc chỉ là một thằng điếm chính trị và là một tên tội đồ dân tộc không hơn không kém !
Theo giới truyền thông, chân tướng HCM đã bị Tàu cộng bạch hóa một cách công khai. Theo báo Chương Sơn (冈山), xuất bản tại nội địa Tàu cộng, trích nguyên văn : HCM chính là Thiếu Tá Hồ Quang Phục phục vụ trong Quân Đội Nhân Dân Giải Phóng Trung Quốc tại quân khu Quảng Châu, Vũ Hán. Cũng trong tài liệu “Giặc Hán đốt phá Nhà Nam”, dày 141 trang khổ lớn, tác giả Huỳnh Tâm cũng là người Trung Quốc, xác định Hồ Chí Minh chính là tên Hồ Quang Phục nầy. Tài liệu ghi rõ. “Theo hồ sơ của nhà tù Hương Cảng, Nguyễn Tất Thành (HCM) đang lâm nguy bởi bị nhiều bệnh do trác tráng, say đắm phong trần làm cơ thể hao mòn, mang bệnh truyền nhiễm cấp độ cao, hết thuốc trị liệu. Nguyễn Tất Thành có thể chết bất cứ giờ nào, và nghiêm trọng hơn nữa, ông ta mắc phải nghiện ngập với “Nàng tiên nâu”. Như vậy HCM (Nguyễn Tất Thành) thật đã chết và Tàu cộng dàn dựng một người mới cho mưu đồ của chúng. Các cán bộ sống cạnh HCM chắc chắn biết rõ điều nầy, nhưng chúng vẫn chấp nhận con bài thế người của quan thầy Tàu cộng để tiếp tục lừa bịp dân tộc Việt Nam cho mưu đồ của chúng. Nếu đúng vậy thì đây là tội tày trời của tập đoàn Việt gian cộng sản, cần phải ghi lại cho lịch sử ngàn đời mai sau.
Tập đoàn Việt gian bán nước cũng thừa biết rằng lý thuyết cộng sản chẳng những đã lỗi thời mà còn đi ngược với đà tiến hoá nhân loại, phản khoa học và nhất là không còn lừa dối được ai. Nhưng chúng phải bám chặt lấy vì đây chính là con đường độc nhất để tự bảo vệ ngai vàng của chúng. Cả thế giới đã liệng cái lý thuyết lừa bịp khốn nạn nầy vào sọt rác qua nhiều sự kiện lịch sử chứng minh bởi các xứ Liên Sô và Đông Âu cũ trong thế kỷ vừa qua. Đến giờ phút nầy chỉ còn 4 nước bám theo chế độ cộng sản : Tàu, Cuba, Bắc Hàn và Việt Nam. Bọn chúng vẫn ngoan cố dùng nhà tù súng đạn để níu kéo sự sống còn cho chế độ. Đối với Việt Nam ngày nay, người dân đã sáng mắt phần nào và âm mưu lừa bịp của tập đoàn cộng sản cũng không còn che giấu được ai, do đó chúng phải tiếp tục đánh bóng thêm nữa cho tên tội đồ HCM. Nhưng càng cố gắng thì càng làm cho người dân thêm lợm giọng vì những chuyện bỉ ổi của cha già dân tộc đã bị cả thế giới vạch trần.
Căn cứ tài liệu trích dẫn trên, nếu đúng sự thật thì cha già dân tộc chính là một tên Chệt đỏ được cải trang thành Nguyễn Tất Thành (HCM). Như vậy, đảng cộng sản Việt Nam được thành lập và lãnh đạo bởi một tên Chệt do Tàu cộng giật dây thì làm sao tránh khỏi hậu quả do tên Tàu đỏ nầy thực hiện nhằm đưa cả dân tộc Việt Nam vào con đường tự hủy diệt, và tiếp theo, để biến thành một tiểu quốc nô lệ cho bọn Chệt. Các trùm Việt gian cộng sản từ xưa đến nay đều biết vấn đề nầy nhưng chúng vẫn câm họng và cúi đầu chấp nhận thì cái tội tày trời nầy, đảng cộng sản phải chịu trách nhiệm với tổ quốc và dân tộc.
Phạm vi bài viết nầy không đề cập đến đạo đức và cuộc đời tình ái vụng trộm của cha già dân tộc mà chỉ đề cập đến hai tội diệt chủng và bán nước của HCM.
1. Tội ác diệt chủng :
Sau ngày cướp được chính quyền năm 1945, HCM đã cho thành lập các tòa án nhân dân trên cả Miền Bắc nhằm đấu tố địa chủ. Đây là một hình thức giết người cướp của mà HCM nhắm vào giới trung lưu và giàu có tại Miền Bắc. Qua việc đấu tố nầy, HCM đã giết trên một triệu người Miền Bắc trong âm mưu xóa bỏ thành phần tư bản, cướp đất đai của cải người dân. Chưa hết, với mưu đồ cướp Miền Nam Việt Nam, HCM đã đem con bỏ chợ thành phần thiếu niên tuổi đời từ 12, nghĩa là lúc ngón tay đứa trẻ vừa biết bóp cò, vai phải mang được vài quả đạng súng cối, vai trái đeo nổi khẩu AK và ký khoai sắn phải thì phải vượt Trường Sơn chết thay cho tập đoàn đảng đang hưởng thụ trong bóng mát. Những thủ đoạn thâm độc mà HCM và đồng bọn còn áp dụng là chiến thuật dùng bao tử để cai trị người dân bằng hình thức phân phối tem phiếu thực phẩm. Gia đình nào muốn được nhà nước bán cho vài ký gồm gạo, khoai, ngô sắn hàng tháng thì bắt buộc con cháu trong gia đình phải lên đường xuôi Nam đánh Ngụy đuổi Mỹ. Kết quả qua cuộc chiến xâm lăng, Hà Nội đã thí hơn một triệu thiếu niên từ 12 đến 15 tuổi cho chiến trường trong Nam. Chủ trương sắt máu dã man của cha già dân tộc là phải đánh Miền Nam đến giọt máu cuối cùng bằng bất cứ mọi giá được nhồi vào đầu óc từ những đứa trẻ sơ sinh đến các cụ già sắp xuống lỗ. Với âm mưu thâm độc nầy, Hà Nội xem tính mạng con người là phương tiện phải hy sinh để đạt lấy chiến thắng. Các hình ảnh thường thấy trong các trận đụng độ với QLVNCH, cấp chỉ huy cột chân người lính bộ đội vào xe tăng, vào súng lớn để tài xế, xạ thủ không còn cách nào bỏ xe vất súng chạy thoát khi đang đối đầu với quân đội Miền Nam. Hơn nữa, trong các lần xua quân dứt điểm đồn bót, đám trẻ con đói cơm nầy muốn được miếng ăn bỏ vô miệng thì phải liều chết xông vào chiếm cho bằng được các mục tiêu trú đóng của quân Miền Nam cũng như Đồng Minh. Điều nầy được chứng minh bởi các tù binh cộng sản Bắc Việt do QLVNCH bắt được trong các trận đụng độ. Chúng còn quá trẻ, có đứa chỉ mới 11-12 tuổi, bị cấp trên bỏ đói lâu ngày thì chúng phải bắt buộc liều chết tấn công để kiếm thức ăn trong các nơi đóng quân đồn trú của QLVNCH và Đồng Minh !
Vậy, với mưu đồ xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa, cộng sản Hà Nội đã vay mượn hàng trăm hàng ngàn tỷ ngoại tệ của Nga Tàu dưới hình thức viện trợ súng đạn rồi xua đám con nít miệng còn hôi sữa lên đường thí mạng tại các chiến trường Miền Nam. Kết quả cuộc nội chiến nồi da xáo thịt Bắc Nam do Hà Nội chủ động, HCM đã nướng trên hai triệu người Miền Bắc, trong đó gồm nạn nhân các cuộc đấu tố với một triệu người dân vô tội và trên một triệu trẻ con miệng còn hôi sữa được ca tụng là anh hùng sinh Bắc tử Nam ! (Người trong nước đã nghe được câu nầy từ chính miệng vợ Lê Duẫn trả lời với nhà báo Xuân Hồng đài BBC vào tối ngày 23 tháng 12 năm 2008).
Ngoài ra, chính tên HCM, trong đêm giao thừa đã đọc thư chúc Tết trên các đài phát thanh làm ám hiệu ra lệnh cho quân chính quy cũng như đám cộng sản nằm vùng nổi dậy trong biến cố năm Mậu Thân 1968. Trong những trận đánh tại các làng xóm hay ngay giữa thành phố và thủ đô, cộng sản đã lùa người dân vô tội Miền Nam đi trước để làm bia đở đạn cho chúng khi trực diện tấn công với QLVNCH cũng như lúc bại trận tháo chạy vào bưng. Cần phải nói thêm, trong mấy tuần lễ chiếm một nửa thành phố Huế, Hà Nội đã ra lệnh cho bọn nằm vùng trói tay chân, chặt đầu, chôn sống trên năm ngàn (5000) nạn nhân vô tội gồm đàn bà con nít, nhà giáo, sinh viên, học sinh v.v. Cũng trong biến cố Mậu Thân nầy cả trăm ngàn gia đình người dân Miền Nam từ Bến Hải vô tận Cà Mau phải sống trong cảnh màn trời chiếu đất vì bom đạn của quân cộng sản.
Sau ngày chiếm xong Sàigòn, Hà Nội đã trả thù dân Miền Nam bằng hình thức cướp lấy tiền của nhà cửa và đẩy thành phần giàu có cũng như liên hệ với chính quyền cũ lên các vùng kinh tế mới. Quan trọng hơn hết, chúng ra lệnh tập trung đưa đi tù vô hạn định đối với toàn bộ các cấp chỉ huy lớn nhỏ thuộc quân dân cán chính của chế độ cũ.
Tổng kết, với mưu đồ xâm chiếm Miền Nam, HCM và đảng cộng sản đã sát hại tổng cộng khoảng trên bốn triệu người cả Bắc lẫn Nam. Không thể nắm được con số thật chính xác, chỉ tính đổ đồng trên hai triệu người Miền Bắc gồm trẻ con, bộ đội và dân bị đấu tố và cũng khoảng hai triệu người Miền Nam chết trong trận chiến, trên đường đi tìm tự do và trong các trại tù của Việt cộng. Điều quan trọng cần phải tố cáo với quốc tế ở đây, số tử vong trong cuộc chiến không chỉ gồm những người cầm súng mà trong đó phải nhấn mạnh đến đại đa số là lính bộ đội sữa từ 11-15 tuổi, thanh niên thiếu nữ, đàn bà, trẻ con và thường dân vô tội tính cả Bắc lẫn Nam. Đây là cái giá phải trả cho một cuộc xâm lăng cướp nước điên cuồng của HCM. Và đây cũng chính là tội diệt chủng của HCM cũng như đồng bọn đối với đất nước và dân tộc Việt Nam.
2. Tội bán nước và rước giặc Tàu vào đô hộ :
Lần bán nước thứ nhất do chính HCM ra lệnh cho Phạm Văn Đồng ký văn bản ngoại giao trao quyền xử dụng vùng lãnh hải cho Tàu, trong đó có hai quần đảo quan trọng là Hoàng Sa và Trường Sa để đổi lấy súng đạn đưa vào Miền Nam giết hại đồng bào ruột thịt mặc dù hai quần đảo nầy vào thời điểm đó đều thuộc quyền sở hữu của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa.
Trích dẫn : Công hàm do Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng gửi cho Thủ tướng Quốc vụ viện Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Chu Ân Lai vào ngày 14 tháng 9 năm 1958. Công hàm này được gửi sang Trung Quốc bằng điện báo, sau đó sáng ngày 21 tháng 9 năm 1958, Đại sứ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Trung Quốc Nguyễn Khang đã trình công hàm này cho Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Cơ Bàng Phi. Trong công hàm này Thủ tướng Phạm Văn Đồng thông báo cho Thủ tướng Chu Ân Lai biết Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa "tán thành" và "tôn trọng" "bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc." (Wikipedia)
Tiếp đến hai tên Lê Khả Phiêu và Trần Đức Lương bán các vùng đất-biển giáp ranh giới Tàu cộng. Lần nầy Lê Khả Phiêu nhận từ tay bọn Tàu đỏ hai (2) tỷ dollars. Số tiền hai tỷ bán giang sơn tổ quốc cho kẻ thù được chúng chia cho các tay đầu sỏ trong bộ chính trị.
Trích : Ngày 26 tháng 12 năm 2000 vào lúc 2 giờ trưa, Lý Bằng được cận vệ đưa tới gặp Trần Đức Lương ở Quảng Trường Nhân Dân. Lý Bằng cho Lương biết là số tiền 2 tỉ dollar để mua 16,000 sq km vùng vịnh Beibu của Việt Nam là hợp lý. Trần Đức Lương cám ơn DCSTQ về số tiền nầy. Số tiền 2 tỉ đồng nầy được Lương đem về để làm bớt sự phẩn nộ của Khải, Kiệt và những nhân vật khác trong quốc hội CSVN. Ông Lý Bằng nhắc lại chuyện Trung Quốc đã bán vũ khí và hổ trợ cho đảng CSVN trong thời gian chiến tranh và số nợ trên Trung Quốc dùng để trao đổi mua lại vùng đất Bắc Sapa của Việt Nam, Ải Nam Quan, Bản Dốc, Cao Bằng……
Ngày 26 tháng 2 năm 2001 Nguyễn Mạnh Cầm bay sang Trung Quốc để gặp ông Qian Qichen tại đảo Hải Nam. Nguyễn Mạnh Cầm cám ơn Trung Quốc đã mua vùng Vịnh Bắc Việt của Việt Nam (Beibu Bay) với giá 2 tỉ US Dollars
Và tiếp theo, qua hội nghị Thành Đô, tập đoàn cộng sản đã xác nhận việc bán nước thêm một lần nữa. Hội nghị thượng đỉnh Việt-Trung (trong hai ngày 3-4 Tháng 9, 1990) tại Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên (Trung Quốc) giữa lãnh đạo cao cấp nhất hai Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam - Trung cộng. Tuy bên ngoài công bố để bình thường hóa quan hệ giữa hai nước, nhưng sự thật qua hội nghị nầy, Tàu cộng muốn Việt Nam phải xác nhận lại thêm một lần nữa bằng văn bản việc bán đất bán biển cho quan thầy và chấp nhận sự hiện diện vô điều kiện của dân Tàu cộng trên lãnh thổ Việt Nam. Mặt trái của hội nghị Thành Đô chính là việc xác định vào thời điểm năm 2020, Việt Nam sẽ trở thành một tỉnh nhỏ của Tàu cộng. Ngoài ra, nếu nghiên cứu thật kỷ từng điểm một trong biên bản hội nghị, chúng ta mới thấy vai trò HCM lúc còn sống, tên tội đồ nầy đã thi hành nhiều kế hoạch bán nước và cam kết cúi đầu làm nô lệ với mẫu quốc Tàu cộng.
Trích : Giang Trạch Dân cần một bản văn kiện đàm phán bí mật, đề nghị Nguyễn Văn Linh cùng ký vào "Kỷ yếu", Trung Cộng đã có chủ ý bày ra một âm mưu sâu xa, Nguyễn Văn Linh không nề hà việc bán nước này, ông rất vui vẻ xắn tay áo đóng ký, từ đó Thành Đô Tứ Xuyên chính thức chào đời bản lịch sử "Kỷ yếu Thành Đô 1990", nội dung chuyên chở toàn bộ lộ trình Việt Nam đi về hướng bành trướng Đại lục. (Wikipedia)
Trích : Tháng 11 năm 1991, Tổng Bí thư Đỗ Mười và Thủ tướng Võ Văn Kiệt chiếu theo trát lệnh triều đình của Giang Trạch Dân, đến Bắc Kinh báo cáo tình hình giải quyết biên giới giữa hai nước. Đồng lúc, công bố bình thường hóa "Quan hệ song phương Việt-Trung". Thỏa thuận tạm thời về việc xử lý các vấn đề biên giới. Còn gọi là "Hiệp định tạm thời". Hai bên quyết định thực hiện phân định biên giới mới. Theo nội dung Hiệp định chung Trung Quốc và Việt Nam có chung đường biên giới đất liền dài 1300 km như trước năm 1962, Hồ Chí Minh đã từng dâng cho Trung Quốc 459,561 km biên giới và vùng đảo Bạch Long Vĩ để đổi lấy vũ khí, ngày nay Nguyễn Văn Linh nối gót theo lời "Bác" để "đảng tồn tại". (Wikipedia)
Hai lần bán nước chính thức cho Tàu cộng trước kia là giai đoạn đầu của HCM và đồng bọn. Công việc tiếp theo còn quan trọng hơn nữa, chính Hà Nội trải thảm rước kẻ thù truyền kiếp của dân tộc vào đô hộ thêm một lần nữa. Diễn tiến chứng minh việc xâm chiếm của Tàu cộng bằng sự đồng tình của Việt gian cộng sản qua phương thức da beo và vết dầu loang. Từ việc cho phép Tàu cộng vào khai thác bauxit tại Cao Nguyên đến các quận huyện địa phương âm thầm biến thành các khu vực riêng của Chệt với tổ chức hành chánh và thương mãi rập theo khuôn mẫu Tàu để chuyển dần quyền tự trị vào tay bọn chúng. Điều nầy chứng tỏ chương trình đồng hóa, xóa bỏ nước Việt Nam trong âm mưu của Tàu cộng đã biến thành sự thật và tiến hành một bước khá dài, để cuối cùng có thể chấm dứt trong vài ba năm tới. Vậy phải ghi nhớ rằng, nếu đảng Việt gian cộng sản vẫn còn đó thì chỉ trong vòng 5 năm nữa (2020) Việt Nam chính thức trở thành một tỉnh nhỏ của Tàu cộng và các thành phần trong bộ chính trị sẽ thay phiên nhau giữ chúc vụ thái thú, có bổn phận bóc lột người dân Việt Nam nhằm phục vụ đắc lực cho kẻ thù Bắc Kinh.
Sau khi vạch trần hai tội ác của HCM và đồng bọn Việt gian cộng sản, xin tạm có hai kết luận :
1. Những ai còn mơ tưởng vấn đề hòa giải hòa hợp với cộng sản, nếu không đui mù thì cũng là thành phần mang tội với quốc gia dân tộc vì đã tiếp tay Việt gian cộng sản bán nước và cúi đầu chấp nhận làm nô lệ kẻ thù không đội trời chung.
2. Bất cứ người nào, dù thuộc thành phần phản tỉnh bị (hoặc được) Hà Nội cho ra nước ngoài, hoặc những người tỵ nạn cộng sản (hay tỵ nạn kinh tế) định cư tại hải ngoại mà đầu óc vẫn còn hoài vọng, ngưỡng mộ tên tội đồ HCM, cũng như không bao giờ dám đề cập đến việc giải thể chế độ cộng sản Hà Nội, thì đều là một bọn cộng sản trá hình mà thôi.
Để kết thúc bài viết, xin vắn tắt : bóp méo sự thật và thêu dệt hàng trăm huyền thoại đánh bóng HCM chính là một trò xảo quyệt của tập đoàn cộng sản nhằm đánh lừa dân tộc Việt Nam và luôn cả thế giới. Nhưng dưới ánh sáng mặt trời, cái kim dù giấu kỷ trong túi thì một ngày nào đó cũng lòi ta ! Vậy chừng nào cái thây ma thần tượng cha già dân tộc HCM tại Ba Đình bị người dân đồng loạt xuống đường đập nát, lúc đó đất nước Việt Nam mới thật sự hòa bình độc lập tự do và toàn dân sẽ được cơm no ấm áo…