Song tất cả những gì mà Đảng Cộng sản thể hiện vai trò “lãnh đạo toàn diện” trong ít nhất một phần tư thế kỷ qua đã khiến cho tôi, cũng như nhiều đảng viên khác, đi từ thất vọng đến tuyệt vọng về lý trí lẫn tình cảm.
Kết quả của cơ chế “lãnh đạo toàn diện” của Đảng Cộng sản, mà thực chất là tư tưởng một đảng cố hữu, chính là nguồn cơn sâu xa và nguồn dẫn trực tiếp khiến cho xã hội Việt Nam rơi vào tình trạng không thể khác hơn là thảm cảnh như ngày hôm nay.
Nhà báo Phạm Chí Dũng, cây bút bình luận sắc bén đồng thời là tiến sĩ kinh tế, hôm nay 05/11/2013 vừa viết lá tâm thư chính thức từ bỏ đảng Cộng sản Việt Nam. Thụy My xin giới thiệu với bạn đọc ở đây :
Phạm Chí Dũng
XXXXXXXXXX
Hưởng ứng sâu rộng phong trào “Từ bỏ Đảng CS”: Thông báo công khai từ bỏ Đảng
Tôi không tin Đảng sẽ dẫn dắt dân tộc cập được bến bờ vinh quang bằng các cương lĩnh kiểu như cương lĩnh 1991, hiến pháp 2013. Bởi đó là những cương lĩnh u ám, những hiến pháp tiểu xảo.
Với thỏa ước Thành Đô 9/1990, Đảng đã đánh mất cơ hội ngàn vàng trong sự nghiệp bảo toàn chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ khi sống cạnh một nước lớn có tiền sử hàng ngàn năm áp chế dân tộc Việt.
Thay vì theo đường quan mà cộng đồng thế giới văn minh đã khai phóng để đi, Đảng lại liên tục quàng vào bụi rậm. Câu châm biếm “Đảng tiên phong đi trước, nhân dân tiếp bước theo sau, dân hỏi Đảng đi đâu, Đảng lầu bầu: đang định hướng” là hình ảnh vừa bi vừa hài, nhưng mà thực và sống.
THÔNG BÁO CÔNG KHAI TỪ BỎ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Thành phố Hồ Chí Minh ngày 6 tháng 12 năm 2013
Hưởng ứng lời tuyên bố từ bỏ Đảng của Luật gia Lê Hiếu Đằng và nhà báo, TS Phạm Chí Dũng, tôi, Nguyễn Đắc Diên, Bác sĩ Nha khoa, đảng viên, số hiệu thẻ đảng 3444669,THÔNG BÁO CÔNG KHAI từ bỏ Đảng Cộng sản Việt nam.
Xuất thân trong một gia đình có truyền thống chống các kiểu thực dân và áp bức, sau 1954 tuy sống ở đô thị miền Nam nhưng gia đình tôi là cơ sở CM nội thành, đã được tặng thưởng Huân Chương Kháng Chiến Hạng Nhất theo QĐ số 801/HĐNN, có Giấy Chứng Nhận Người Có Công Với Cách Mạng. Thế nên đã một thời, tôi cũng từng tràn đầy nhiệt huyết với khát vọng đồng hành cùng Đảng xây dựng một đất nước công bằng dân chủ và văn minh.
Song tất cả những gì mà Đảng Cộng sản đã thể hiện từ ngày Bắc Nam thống nhất khiến tôi đi từ thất vọng đến thất vọng khác.
Tôi không tin Đảng sẽ dẫn dắt dân tộc cập được bến bờ vinh quang bằng các cương lĩnh kiểu như cương lĩnh 1991, hiến pháp 2013. Bởi đó là những cương lĩnh u ám, những hiến pháp tiểu xảo.
Với thỏa ước Thành Đô 9/1990, Đảng đã đánh mất cơ hội ngàn vàng trong sự nghiệp bảo toàn chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ khi sống cạnh một nước lớn có tiền sử hàng ngàn năm áp chế dân tộc Việt.
Thay vì theo đường quan mà cộng đồng thế giới văn minh đã khai phóng để đi, Đảng lại liên tục quàng vào bụi rậm. Câu châm biếm “Đảng tiên phong đi trước, nhân dân tiếp bước theo sau, dân hỏi Đảng đi đâu, Đảng lầu bầu: đang định hướng” là hình ảnh vừa bi vừa hài, nhưng mà thực và sống.
Khi vào Đảng tôi đã từng thề, rằng tuyệt đối trung thành với Đảng. Nay, tôi thà phản bội lời thề trung thành với Đảng còn hơn phải theo Đảng mà phản bội lại quyền lợi dân tộc, dân sinh, dân chủ, dân quyền mà lẽ ra dân tộc tôi phải được hưởng từ 38 năm về trước.
Nhưng rồi có thể một ngày nào đó, khi Đảng thực sự hoàn lương, tôi lại phấn đấu xin vào Đảng.
Bs. Nguyễn Đắc Diên
ĐT: 0914002424
Email: dien1789@yahoo.com
Bỏ đảng hay xóa đảng
Ngô Nhân Dụng
Lev Tolstoi mở đầu cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Anna Karenina với một câu vẫn được các người yêu văn chương nhắc lại hơn một thế kỷ qua: “Các gia đình hạnh phúc đều giống nhau, mỗi gia đình bất hạnh thì bất hạnh theo cách riêng.” Các chế độ cộng sản chiếm được chính quyền cùng một cách, nhưng khi suy tàn thì mỗi đảng tan rã theo một cách khác nhau.
Các đảng cộng sản lên nắm quyền đều dùng bạo động và thủ đoạn bất chấp đạo lý, trong khi các đối thủ của họ đều còn sống trong những quy tắc luân lý quen thuộc của cả xã hội. Giữa một đám nhiều người đang tranh đấu với nhau, kẻ nào xảo quyệt và tàn bạo nhất sẽ tiêu diệt những người thành thật và lương thiện, những người bị gọi là “ngây thơ”. Hoặc Mao nêu khẩu hiệu: “Súng đẻ ra quyền.” Lenin nói, “Chiến tranh là bà mụ đỡ cho cách mạng.”
Nhưng khi các chế độ cộng sản ở Liên Xô và Ðông Âu sụp đổ thì mỗi nơi tan hàng theo một kiểu riêng. Ðảng Cộng Sản Ba Lan tự chuyển giao chức thủ tướng cho một luật sư của Công Ðoàn Ðoàn Kết sau khi cả bộ chính trị hoàn toàn bế tắc trong cảnh kinh tế suy sụp. Cộng sản Ðông Ðức chịu thua để bức tường Berlin bị phá sập sau khi dân chúng hàng loạt kéo nhau vượt biên qua phía Tây; dân thành phố Leipzig từ nhà thờ đi ra diễn hành trong im lặng liên tiếp; cảnh sát công an ở, Dresden từ chối không bắn vào những đồng bào đi biểu tình. Cộng sản Tiệp Khắc phải nhượng bộ ý nguyện của người dân, sau các cuộc biểu tình thủ đô. Hungary đã bắt đầu thay đổi từ thời năm 1980, đợi đến năm 1989 chế độ sụp đổ một cách ôn hòa. Cộng sản Rumania hoàn toàn nhắm mắt bịt tai, cưỡng lại đến cùng; đưa tới cái chết thảm khốc của vợ chồng Nicolae Ceau escu, nhà lãnh tụ sau cùng. Tại Bulgaria, vừa nghe tin tường Berlin sập Bộ Chính Trị bèn họp nhau cách chức Tổng Bí Thư Todor Zhivkov, cầm quyền suốt 35 năm, rồi giải tán đảng, sửa hiến pháp, tổ chức bầu cử để vẫn được nắm chính quyền. Cộng Sản Nga tự ý bắt đầu thay đổi từ thời Gorbachev để tự cứu vãn, hy vọng nhờ thế đảng sẽ cai trị lâu dài hơn. Nhưng cuối cùng không tự cứu nổi, vì đã hết thuốc chữa. Một yếu tố quyết định tình trạng sụp đổ của các chế độ cộng sản trên là trình độ nhận thức của người dân trong các nước đó được nung nấu đến mức chín mùi. Khi chế độ sụp đổ, mọi người đều thở phào nhẹ nhõm, kể cả các đảng viên. Không một chi bộ đảng nào đưa một ngón tay ra để cứu đảng.
Ðảng Cộng Sản Việt Nam sẽ tan rã như thế nào? Cần nêu lên câu hỏi này, càng sớm càng tốt. Thứ nhất, vì điều đó chắc chắn xảy ra. Tình trạng nội bộ của họ đang tan rữa, ung thối, không thấy cách cứu chữa. Trong khi đó trình độ nhận thức của người dân Việt Nam đang dâng cao. Một cô sinh viên ngoài 20 tuổi Nguyễn Phương Uyên, đứng trước tòa án giữa đám công an chìm nổi vẫn thảnh nhiên nói: “Tôi chống đảng chứ không chống nước Việt Nam”.
Thứ hai, cần nhìn thấy trước cảnh đảng Cộng Sản tan rã để người Việt cùng nhau chuẩn bị sẵn sàng việc xây dựng chế độ dân chủ tự do sắp tới. Phải chuẩn bị sớm, nếu không sẽ lúng túng trong thời gian chuyển tiếp, càng kéo dài quá lâu càng tai hại cho tương lai dân tộc. Kinh nghiệm ở Ðông Âu và tại các nước thuộc Liên Bang Xô Viết cũ cho thấy: Thay đổi nhanh chóng thì trong 20 năm kinh tế phồn thịnh, xã hội ổn định xong rồi; còn nếu để thời kỳ chuyển tiếp kéo dài thì 30 năm sau vẫn lúng túng. Bây giờ, việc xóa bỏ chế độ cộng sản không phải là điều khó nữa, vì trước sau chính họ sẽ tan rã. Nhưng công việc xây dựng lại nền tảng mới cho đất nước sau đó sẽ khó gấp bội. Khó nhất là vì cả nền móng xã hội đã bị phá hư nát từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới. Cho nên người Việt Nam cần thảo luận với nhau ngay từ bây giờ những chuẩn bị tương lai, khi đảng Cộng Sản vẫn chưa tan hàng.
Dù đảng Cộng Sản sẽ đến ngày tan rã, nhưng chắc sẽ tan hàng theo một cách khác với các chế độ Ðông Âu hay Nga. Người Việt Nam sống trong một nền văn hóa khác các nước Âu Châu mà lại giống với dân các nước ở Á Ðông. Các nước Nam Hàn, Ðài Loan đã từng chuyển từ các chế độ độc tài sang dân chủ sau những cuộc biểu tình của sinh viên và công nhân, nhiều lần bị đàn áp đẫm máu nhưng cuối cùng vẫn thắng lợi. Nhưng Việt Nam cũng khác với hai nước này; vì chính quyền nước họ không chịu nhục khi bị ngoại bang khống chế, như ảnh hưởng của Trung Cộng đang đè nặng trên nước ta. Gần đây nhiều người đã coi Miến Ðiện như một tấm gương mà Việt Nam có thể noi theo. Nhưng nếp sống của người Miến Ðiện cũng ôn hòa hơn người Việt, mà chế độ độc tài ở đó không tàn ác và gian dối tinh vi như các chế độ cộng sản trên thế giới. Những lãnh tụ độc tài ở cả ba nước Nam Hàn, Ðài Loan và Miến Ðiện đều được giáo dục và sống theo đạo lý cổ truyền của dân tộc họ, không ai nhắm mắt theo một “tín ngưỡng” mới như các lãnh tụ cộng sản ở Châu Âu hay Châu Á. Cho nên, khó tưởng tượng Cộng sản nước ta sẽ tan theo “kịch bản” nào khi biến chuyển xảy ra, mà cũng không nên phí thời giờ ngồi tưởng tượng.
Chính trong đảng Cộng sản hiện nay cũng nhiều người nói đến một cuộc “thay máu” cho đảng, để tự cứu vãn. Nhưng một đảng đang nắm quyền với những nhóm trong nội bộ đang hưởng đủ thứ lợi lộc nhờ khai thác quyền hành thì rất khó thay máu. Nhiều đảng viên muốn thay đổi không được, đã âm thầm ngưng hoạt động hoặc rút ra khỏi đảng. Một số người còn làm đơn xin ra đảng, như vào năm 2009, nhà văn Phạm Ðình Trọng xin ra đảng, rồi sau đó bị đảng tuyên án khai trừ để triệt hết các quyền lợi của đảng viên mà ông đại tá này được hưởng. Năm nay ông Lê Hiếu Ðằng đã “tính sổ đời mình” từ lúc gia nhập đảng Cộng sản cho tới những ngày nằm trong bệnh viện có thời giờ suy nghĩ lại. Ngày 4 Tháng Mười Hai 2013 khi anh Lê Hiếu Ðằng tuyên bố rời đảng, thành lập đảng mới. Lời tuyên bố công khai bỏ đảng của Lê Hiếu Ðằng có thể tạo nên một làn sóng bỏ đảng trong thời gian tới. Sau ông Ðằng tới lượt Bác Sĩ Nguyễn Ðắc Diên. Nhà báo Phạm Chí Dũng đã nối gót hai người này. Phạm Chí Dũng đã từng đậu tiến sĩ, từng là nhân viên ngành an ninh, đã công bố việc từ bỏ đảng của mình để gây tiếng vang, và anh đã thành công. Khi đảng ủy Viện Nghiên Cứu Phát Triển họp yêu cầu anh xét lại, Phạm Chí Dũng từ chối. Ðến khi họ bỏ phiếu có 60% đảng viên dự phiên họp không đồng ý khai trừ, cho thấy họ hiểu hành động của anh có lý do chính đáng; nhưng cuối cùng nhóm lãnh đạo vẫn tuyên bố khai trừ.
Hiện tượng trên cho thấy đảng cộng sản thực sự đang tan rã, không cách nào tránh được. theo Phạm Chí Dũng, hiện nay trong ba triệu đảng viên cộng sản có chừng 30% còn gắn bó với đảng vì các quyền lợi họ đang hưởng nhờ nắm các chức vụ. Ngoài ra, một nửa là những người không dám bỏ đảng nhưng chỉ xu thời, gió chiều nào xoay chiều đó. Nếu một biến cố lớn xảy ra, họ sẽ tự tan hàng mà không nuối tiếc. Một số nhỏ đảng viên cũng muốn đảng Cộng sản trả lại quyền tự do cho người dân, chấp nhận các đảng chính trị khác, bỏ độc quyền cai quản đất nước. Những họ có khả năng làm cho đảng Cộng sản tự thay đổi để dân Việt Nam được sống trong dân chủ tự do hay không?
Những người này có thể học kinh nghiệm của Mikhail Sergeyevich Gorbachev, tổng bí thư sau cùng của Cộng Sản Liên Xô. Trong một cuộc phỏng vấn bởi phóng viên Jonathan Steele, báo The Guardian, Anh Quốc hai năm trước đây, Gorbachev nói điều ông hối hận nhất là vào những năm 1990, 91 ông vẫn cố gắng cải tổ cơ cấu chế độ, nấn ná quá lâu nhưng vô ích. Ông nói, đáng lẽ phải nhất quyết từ chức vào Tháng Tư năm 1991, rồi cùng một số người trong Trung Ương Ðảng thành lập một đảng chính trị mới.
Vào Mùa Xuân năm đó, trong nội bộ đảng Cộng Sản Liên Xô cũng có hai khuynh hướng, nhóm bảo thủ muốn ngưng ngay các chính sách đổi mới, nhóm cấp tiến muốn bước vào đường dân chủ hóa. Trong một cuộc họp của Trung Ương Ðảng, phe bảo thủ yêu cầu tuyên bố tình trạng khẩn cấp, chấm dứt chính sách cởi mở, kiểm duyệt báo chí gắt gao hơn, Gorbachev đã phản ứng lại rất mạnh, ông nói: “Tôi đã mỵ dân quá đủ rồi. Tôi sẽ từ chức.”
Trong cuộc phỏng vấn với báo The Guardian Gorbachev kể lại rằng, “Bộ Chính Trị triệu tập một phiên họp trong 3 giờ đồng hồ mà không có tôi. Ba giờ đồng hồ sau họ đến mời tôi trở lại và yêu cầu tôi rút lại quyết định từ chức.” Sau đó Gorbachev bèn rút lại quyết định từ chức và cũng không có ai muốn đưa vấn đề này ra biểu quyết. Bây giờ ông hối hận, đáng lẽ ông phải cương quyết rút lui để thành lập một đảng mới, với chủ trương tự do dân chủ. Vì trong thời gian đó đã có hàng trăm ủy viên Trung Ương Ðảng đang bàn nhau, đồng ý tách ra lập một đảng mới rồi. “Nhưng lúc đó tôi lại cảm thấy mình không có quyền ‘từ bỏ đảng,’” ông thú nhận. “Bây giờ thì tôi nghĩ là đáng lẽ tôi phải lợi dụng ngay cơ hội đó để thành lập một đảng mới và phải kiên quyết từ bỏ đảng Cộng sản bằng được.”
Trong thời gian Gorbachev đang phân vân giữa hai con đường như trên, đảng Cộng Sản Việt Nam cũng bỏ mất một cơ hội khi họ gạt bỏ các đề nghị cải cách của Trần Xuân Bách, người rút ra bài học Ðông Âu sớm nhất. Họ đã theo Nguyễn Văn Linh, quay đầu xin Trung Cộng che chở, để cùng tiếp tục “tiến lên Chủ Nghĩa Xã Hội”. Hậu quả là mối nhục Thành Ðô sẽ ghi mãi trong lịch sử.
Hiện nay trong đảng Cộng sản cũng không có người nào có tư thế và khả năng như Gorbachev. Chỉ có những đảng viên như Lê Hiếu Ðằng mới can đảm tuyên bố công khai từ bỏ đảng, và thành lập đảng mới. Khi số người can đảm như Lê Hiếu Ðằng, Phạm Chí Dũng, Phạm Ðình Trọng, vân vân, đông đúc hơn, họ sẽ không chỉ từ bỏ đảng một mình mà còn góp công xóa bỏ ách độc tài đang đè lên đầu lên cổ đồng bào.
Tháng Bảy năm 2012, mục này đã kêu gọi các đảng viên cộng sản hãy tạo một phong trào từ bỏ đảng. Khi rất nhiều đảng viên công khai bỏ đảng, guồng máy trừng phạt và trả thù sẽ hết hiệu lực. Các đảng viên khác sẽ hết sợ. Khi số đảng viên công khai bỏ đảng lên cao, đến lượt dân chúng được giải phóng về tâm lý. Người dân bị xử oan ức không còn sợ nữa, giới thanh niên, phụ nữ, trí thức, các người lãnh đạo tôn giáo, người lao động sẽ cùng mạnh dạn đứng lên đòi các quyền tự do căn bản của mình. Một phong trào phản kháng bất bạo động như thế chắc chắn sẽ làm cho guồng máy cường quyền phải chịu thua
Về việc từ bỏ Đảng và cái gọi là “lý tưởng cộng sản”l

Tại sao vẫn còn nhiều người chưa bỏ Đảng? Trong bài báo “Bỏ Đảng là một cú sốc rất lớn” trên BBC, anh Nguyễn Lân Thắng đã giải thích rằng, ngoài lý do “bảo vệ sổ hưu” như ông Đại Tá kiêm Phó Giáo sư Trần Đăng Thanh đã nêu ra, còn có 3 lý do khác nữa: 1/ Rất khó vượt qua mình; 2/ Chịu một mặc cảm tâm lý “xấu hổ” khi nhìn lại quá khứ hợp tác và phục vụ cho Đảng; 3/ Sợ ảnh hưởng đến công việc của con cái.
Thử phân tích 3 lý do này:
1/ Rất khó vượt qua mình.
Anh Nguyễn Lân Thắng nói: “... tôi nghĩ một phần sâu thẳm hơn ở sâu thẳm những người đảng viên kỳ cựu là họ rất khó vượt qua mình. Bởi vì cả cuộc đời của họ, họ hy sinh cho lý tưởng cộng sản, họ hy sinh thực sự cả sinh mạng của mình cho Đảng Cộng Sản.”
Thế nhưng, cái “lý tưởng cộng sản” mà họ đã “hy sinh cả cuộc đời” để theo đuổi và bảo vệ ấy là gì vậy? Cái “lý tưởng cộng sản” ấy có dính líu gì đến sự trường tồn của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân Việt Nam hay không?
Người đọc không thấy anh Nguyễn Lân Thắng giải thích về những điều này. Người đọc chỉ thấy anh nói rằng “họ hy sinh thực sự cả sinh mạng của mình cho Đảng Cộng Sản”. Như vậy, phải chăng cái “lý tưởng cộng sản” ấy và cái Đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ là một?
Nếu cái “lý tưởng cộng sản” ấy và cái Đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ là một, thì bây giờ khi cái Đảng Cộng Sản Việt Nam đã thối nát và bất nhân đến tận cùng và đã trút lên đầu nhân dân Việt Nam vô tận những khổ nạn, thì cái “lý tưởng cộng sản” ấy có còn đáng để họ tiếp tục “hy sinh cả sinh mạng” để bảo vệ nó nữa hay không? Và tại sao họ lại “rất khó vượt qua mình” để từ bỏ cái Đảng ấy? Hay là họ xem cái Đảng ấy lớn hơn tất cả những khổ nạn mà dân tộc Việt Nam đã, đang và sẽ phải chịu đựng?
2/ Chịu một mặc cảm tâm lý “xấu hổ” khi nhìn lại quá khứ hợp tác và phục vụ cho Đảng.
À, thì ra cái lý do thứ hai này giải thích cho cái việc “rất khó vượt qua mình”! Nghĩa là những đảng viên kỳ cựu này cũng đã nhận ra rằng Đảng Cộng Sản Việt Nam (cái mà họ đã xem là “lý tưởng” của họ) bây giờ đã thối nát và bất nhân đến tận cùng, nhưng họ vẫn không từ bỏ được nó, vì họ “xấu hổ khi nhìn lại quá khứ hợp tác và phục vụ” cho nó.
Anh Nguyễn Lân Thắng giải thích thêm: “Thế nhưng bây giờ nếu họ tuyên bố một cách công khai, chính thức việc ra khỏi Đảng là một cú sốc rất lớn và thực sự là họ cũng rất là xấu hổ, bởi vì họ phải thừa nhận những sai lầm của mình.”
Như thế, họ không thể từ bỏ Đảng chỉ vì họ không muốn cảm thấy “xấu hổ” khi phải “thừa nhận những sai lầm của mình”! Vậy thì quá hiển nhiên là họ xem sự tự ái của cá nhân họ còn lớn hơn tất cả những khổ nạn mà dân tộc Việt Nam phải chịu đựng. Mặc cho dân tộc đã, đang và sẽ tiếp tục đổ bao nhiêu máu và nước mắt để chịu đựng sự cai trị của một cái Đảng tận cùng thối nát và bất nhân, họ vẫn khư khư bám vào cái Đảng đó, để khỏi cảm thấy “xấu hổ”!
3/ Sợ ảnh hưởng đến công việc của con cái.
Anh Nguyễn Lân Thắng còn giải thích thêm: “Bởi vì có những người ngoài chuyện cá nhân, họ còn vướng víu rất nhiều vào vấn đề con cái họ còn ở trong hệ thống nhà nước, Và cái việc bố mẹ mà làm thì họ rất sợ ảnh hưởng đến công việc của con cái.”
Lý do này lại càng tệ hại hơn nữa. Như thế thì họ (những người đã “hy sinh cho lý tưởng cộng sản” và đã “hy sinh thực sự cả sinh mạng của mình cho Đảng Cộng Sản”) giờ đây xem công việc làm ăn của con cái mình còn lớn hơn cả tương lai của dân tộc Việt Nam. Vì “sợ ảnh hưởng đến công việc của con cái”, họ vẫn bám khư khư vào một cái Đảng mà chính họ đã thấy rõ sự thối nát và bất nhân tận cùng của nó. Còn nghịch lý hơn nữa: cái “lý tưởng cộng sản” ấy nghe nói là cao vĩ lắm, giải phóng cả thế giới cơ, khiến họ sẵn sàng “hy sinh cả sinh mạng” cơ, nhưng hoá ra nó cũng không lớn bằng công việc làm ăn của con cái!

Tóm lại, cả 3 lý do trên đây đều đặt tâm lý cá nhân cũng như lợi ích cá nhân cao hơn quyền lợi và tương lai của dân tộc; và trong cả 3 lý do trên đây, chẳng có lý do nào chứng tỏ bất cứ một “lý tưởng” gì cao đẹp cả.
Sau khi giải thích vì sao nhiều đảng viên vẫn chưa chịu từ bỏ Đảng Cộng Sản Việt Nam, anh Nguyễn Lân Thắng nói thêm: “Tôi nghĩ Đảng chưa bao giờ ở tình thế hiểm nghèo như thế này bởi những người trí thức tương đối có tiếng tăm, tương đối có uy tín ở trong xã hội, mà bây giờ họ tuyên bố ly khai khỏi Đảng, một cách chính thức, đây là một tổn thất vô cùng lớn về mặt tính chính danh của Đảng, lúc này uy tín của Đảng không còn gì nữa, thực sự không còn gì nữa. Hành động của ông Lê Hiếu Đằng và ông Phạm Chí Dũng có thể cũng dẫn đến một phong trào ly khai khỏi Đảng một cách ồ ạt, diễn ra với một số lượng lớn, và lúc đó sự cầm quyền của Đảng sẽ bị lung lay một cách rất dữ dội.”
Thật vậy, nếu hàng loạt những đảng viên kỳ cựu có danh tiếng mà công khai từ bỏ Đảng, thì điều này sẽ dẫn đến một phong trào ly khai khỏi Đảng một cách ồ ạt, khiến Đảng sẽ khó mà tránh khỏi sự sụp đổ. Một khi Đảng sụp đổ thì dân tộc Việt Nam mới có thể bắt đầu hồi sinh để xây dựng một tương lai tươi đẹp.
Như thế, những ai chỉ vì 3 lý do nêu trên mà vẫn cố tình tiếp tục bám lấy cái Đảng tận cùng thối nát và bất nhân ấy, mong cho nó trường tồn, thì thật khó lòng để nhận sự thông cảm từ hàng triệu nạn nhân của cái Đảng ấy.
Anh Nguyễn Lân Thắng nói: “Những người còn chưa thể công khai tuyên bố ly khai đảng cộng sản cần nhận được sự cảm thông của cộng đồng và xã hội”, và “tôi nghĩ việc đánh giá người ta có dám tuyên bố ly khai ra khỏi Đảng một cách công khai hay không thì mình cần phải có một cái nhìn khách quan và nhân văn”, và “cộng đồng và xã hội cần phải có sự ‘thông cảm chứ không nên chỉ trích những người Đảng viên mà người ta chưa dám ra’.”
Anh Nguyễn Lân Thắng nói như thế thì bất cập. Anh quên đặt vấn đề ngược lại. Anh cho rằng những đảng viên ấy cần sự cảm thông từ hàng triệu nạn nhân của Đảng, nhưng anh quên hỏi rằng chính họ có chịu cảm thông với những nỗi đau khổ tột cùng của hàng triệu nạn nhân của Đảng hay không? Một bên là một số người cần sự cảm thông cho những lý do mang tính tâm lý mặc cảm cá nhân và quyền lợi cá nhân của mình. Một bên là hàng triệu người cần sự cảm thông cho nỗi đau khổ tột cùng mà mình đã phải trả bằng máu và nước mắt. Bên nào lớn hơn?
Nếu cái “lý tưởng” của những người theo Đảng Cộng Sản ấy thực sự có quan tâm đến dân tộc, thì họ phải cảm thông với nỗi đau khổ của đồng bào, và họ phải dứt khoát từ bỏ Đảng, chứ không thể tiếp tục bám lấy nó vì những lý do mang tính tâm lý mặc cảm cá nhân và quyền lợi cá nhân của mình. Nếu trước kia họ đã thực sự dám “hy sinh cả sinh mạng” để theo Đảng, thì tại sao bây giờ, khi họ đã thấy sự thối nát và bất nhân tột cùng của Đảng, họ lại không dám “hy sinh” những mặc cảm và quyền lợi cá nhân để từ bỏ Đảng?
Anh Nguyễn Lân Thắng đã dấn thân vào sự tranh đấu cho lẽ phải, và đúng như anh tự nói về mình: “Thế nhưng những công việc mà tôi làm nó cũng xuất phát từ tiếng gọi của lương tâm và tôi cứ làm thôi, còn sự bất trắc có thể đến với tôi bất kỳ lúc nào. Và tôi đã chuẩn bị tinh thần để đón những điều xấu nhất có thể xảy ra.”
Vì tiếng gọi của lương tâm, anh đã dấn thân vào sự tranh đấu cho lẽ phải, và chấp nhận mọi bất trắc. Thật vậy. Và nếu thế thì chính anh cũng thấy rằng những người không chịu từ bỏ Đảng là những người không làm theo tiếng gọi của lương tâm, hay là có lẽ trong chính bản thân họ không có tiếng gọi của lương tâm. Cho nên, nếu anh kêu gọi “cộng đồng và xã hội cần phải có sự ‘thông cảm chứ không nên chỉ trích những người Đảng viên mà người ta chưa dám ra’“ thì lời kêu gọi của anh là bất cập và không công bình.
Tôi cho rằng những người ấy, nếu cái “lý tưởng” ngày xưa của họ có chút gì ý nghĩa, thì họ cần phải lắng nghe tiếng gọi của lương tâm, và thực sự làm theo tiếng gọi của lương tâm, tức là gạt bỏ những mặc cảm và quyền lợi cá nhân, để bước ra khỏi Đảng và đi về với dân tộc. Làm được như thế, họ không cần phải mong chờ sự cảm thông của ai cả, và không sợ ai chỉ trích cả.
Hoàng Ngọc-Tuấn, Sydney, Australia
Lời Kêu Gọi ” PHONG TRÀO BỎ ĐẢNG “
Nhưng hiện tượng này có thể tới bây giờ chưa? Và nếu chưa, thì bao giờ?
Một ngày sau khi Luật gia Lê Hiếu Đằng tuyên bố rời bỏ Đảng CSVN, Tiến sĩ Phạm Chí Dũng cũng tuyên bố tương tự.
Có một điều chúng ta biết rằng, đã có nhiều người rời bỏ đảng CSVN một cách lặng lẽ, từ lâu rồi.
Nhưng việc hai nhà tư tưởng này, những người đã từng viết các bài viết phân tích về nhu cầu dân chủ hóa đất nươc, là một vết rạn nứt lớn trên bức trường thành của CSVN. Vấn đề là, bao giờ thành trì CSVN sẽ sụp đổ?
Tiến sĩ Phạm Chí Dũng trả lời trên đaì RFA về việc ông rời bỏ Đảng CSVN, nói rằng ôngs uy nghĩ việc này lâu rồi, và Việt Nam có thể đi theo Myanmar (Miến Điện) để chính phủ tự đề ra lộ trình dân chủ hóa một cách hòa bình:
“Gia Minh (RFA): Như ông nói cái việc này cũng đã được ấp ủ suy nghĩ từ lâu nay và cần phải có một cơ chế mới thay thế cho cái cũ. Theo ông thì cơ chế như thế nào có thể đáp ứng được cho tình hình hiện nay mà mọi người cần nên theo ạ?
Ông Phạm Chí Dũng (từ Sài Gòn): Dứt khoát là phải có đối trọng về mặt chính trị. Có điều là đối trọng như thế nào, đó là cơ chế hoàn toàn sương mù trong thời điểm hiện nay tại Việt Nam. Cho đến lúc này thì nhà nước Việt Nam mới đặt ra vấn đề nhà nước pháp quyền nhưng vẫn chưa thừa nhận chuyện tam quyền phân lập. Không tam quyền phân lập thì làm sao có được nhà nước pháp quyền. Thực ra chỉ là trò chơi chữ để người ta kéo dài thời gian. Kéo dài thời gian thì được lợi cho ai? Chẳng được lợi cho ai cả, lẫn nhà nước và người dân. Tất cả đều khủng hoảng từ xã hội đến kinh tế trong những năm sắp tới. Tất cả đều bị kéo theo. Vì vậy vấn đề là cần phải hành động ngay, cần phải giải quyết ngay. Rất may mắn là Việt Nam đã có một tiền lệ đó là kịch bản Myanmar.
Vấn đề đặt ra là Myanmar có thuận tiện, thuận lợi và những ứng lợi nào đối với Việt Nam trong thời gian tới. Chính lãnh đạo nhà nước Việt Nam cần rút ra điều đó vì kết quả của Myanmar đã thấy rõ rằng chính quyền tổng thống Thein Sein gần như không mất gì cả. Họ giữ nguyên được quyền lực, quyền lợi và những chiến công mà không gặp phải sự phản đối của cộng đồng Myamar ở nước ngoài.
Họ chỉ cần thêm một chút dân chủ và nhân quyền cho người dân mà thôi. Những người lãnh đạo Việt Nam nên nhìn đó để có được phương án và giải pháp tối ưu cho Việt Nam trong thời gian sắp tới. Còn lại như thế nào thì tùy thuộc vào bản lĩnh và trí khôn của họ. Tuy nhiên tôi e rằng trong hoàn cảnh này thì khó có thể có được sự sáng tạo đột biến nào trong giới lãnh đạo chính trị của Việt Nam...”(hết trích)
Tuy nhiên, bao giờ có ánh sáng dân chủ?
TS Phạm Chí Dũng nói trên RFA: “Nếu những cơn sóng nhỏ kết tụ lại với nhau thì có thể dẫn đến một cơn sóng lớn và nó sẽ tốt hơn cho xã hội dân chủ của Việt Nam trong tương lai. Theo tôi thì ít nhất là hai năm nữa mới có thể nhìn ra được ánh sáng.”
Hai năm? Cần tới 2 năm?
Lúc đó, sẽ có thêm nhiều tù nhân lương tâm chết trong trại giam. Ai sẽ chịu trách nhiệm về những cái chết này, trong khi lẽ ra họ từ bây giờ đã xứng đáng được đưa ra thế giới để vinh danh như những Lech Walesa, như những Nelson Mandela...
Và một ngày sau khi Tiến sĩ Phạm Chí Dũng tuyên bố bỏ Đảng, Bác sĩ Nha khoa Nguyễn Đắc Diên cũng thông báo trên trang Bauxiet VN qua bản văn tưạ đề “Thông Báo Công Khai Từ Bỏ Đảng,” trong đó, Bác sĩ Nha khia Nguyễn Đắc Diên viết:
“Xuất thân trong một gia đình có truyền thống chống các kiểu thực dân và áp bức, sau 1954 tuy sống ở đô thị miền Nam nhưng gia đình tôi là cơ sở CM nội thành, đã được tặng thưởng Huân Chương Kháng Chiến Hạng Nhất theo QĐ số 801/HĐNN, có Giấy Chứng Nhận Người Có Công Với Cách Mạng. Thế nên đã một thời, tôi cũng từng tràn đầy nhiệt huyết với khát vọng đồng hành cùng Đảng xây dựng một đất nước công bằng dân chủ và văn minh.
Song tất cả những gì mà Đảng Cộng sản đã thể hiện từ ngày Bắc Nam thống nhất khiến tôi đi từ thất vọng đến thất vọng khác.
Tôi không tin Đảng sẽ dẫn dắt dân tộc cập được bến bờ vinh quang bằng các cương lĩnh kiểu như cương lĩnh 1991, hiến pháp 2013. Bởi đó là những cương lĩnh u ám, những hiến pháp tiểu xảo.
Với thỏa ước Thành Đô 9/1990, Đảng đã đánh mất cơ hội ngàn vàng trong sự nghiệp bảo toàn chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ khi sống cạnh một nước lớn có tiền sử hàng ngàn năm áp chế dân tộc Việt...”(hết trích)
Tuy nhiên, bản tin BBC đã ghi lời phỏng vấn một chuyên gia, cho thấy một khía cạnh mới, rằng Đảng CSVN là phi pháp.
BBC viết:
“Tiến sỹ Lê Đăng Doanh, nguyên thành viên Ban Tư vấn của Thủ tướng Chính phủ nói:
"Cho đến nay vẫn chưa có luật về thành lập và đăng ký các đảng, còn Đảng viên Đảng CSVN muốn rời khỏi đảng thì đó là quyền mà trong điều lệ Đảng CSVN cũng đã cho phép, cho nên cái điều ấy là điều bình thường. Còn việc họ có lập được đảng hay không thì đấy lại là một vấn đề khác...
Tuy nhiên, theo Tiến sỹ Doanh, chính Đảng Cộng sản đã được thành lập mà chưa hề đăng ký ở đâu cả.
Ông nhấn mạnh: "Việt nam chưa có luật về đảng và bản thân Đảng Cộng sản Việt Nam cũng không hề có đăng ký, và cũng chưa hề có một cái luật về Đảng Cộng sản Việt Nam."...”(hết trích)
Cũng có một thực tế: Chế độ CSVN dựa vào bạo lực công an và quân đội, bao giờ làn sóng bỏ đảng lan rộng được trong 2 lực lượng này, lúc đó mới có thể chuyển hướng VN nhanh chóng được.
Hãy nhớ, cáng để trễ bước đi dân chủ, sẽ có thêm nhiều tù nhân lương tâm ngã bệnh, và có thể sẽ mất mạng trong tù. Đó là điều tiếc nhất, vì họ vẫn luôn luôn là những đứa con ưu tú của dân tộc.
Trong những luồng dư luận khác nhau đó, có luồng mập mờ, chẳng biết có cố ý không, tạo ra hào quang giả xung quanh mấy viên tướng xấu số đó; làm như họ là yêu nước hoặc cấp tiến; làm như họ là những cánh tay đắc lực của nhân vật Võ nguyên Giáp - kẻ mà đã có tác giả viết sách cố bôi vẽ như là người duy nhất hiện nay có thể lái con tàu Việt Nam vượt qua được “tam giác quỷ” vậy !
Bộ máy tuyên truyền kiểu “rỉ tai” của công ty Đỗ Mười-Lê đức Anh-Võ văn Kiệt cũng nhanh nhạy, vội vận hành cả ở trong và ngoài Việt Nam để hướng sự chú ý của dư luận vào mấy cái chết tào lao ấy mà quên mất hướng đấu tranh chính của dư luận hiện nay là đòi hỏi tập đoàn cộng sản tiếm quyền ở Việt Nam phải trả tự do cho các ông Nguyễn đan Quế, Nguyễn Mộng Giao, Nguyễn Hộ và tất cả các tù chính trị khác; phải trả lại quyền làm chủ đất nước cho toàn dân, nghĩa là hủy bỏ chế độ độc đảng trị của cộng sản, phải có chính sách rõ ràng nhằm bảo vệ tài nguyên và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam v.v... Nhất là dư luận cả ở trong và ngoài Việt Nam càng cần vạch rõ bộ mặt gian manh, lòe bịp của tập đoàn cộng sản tiếm quyền ở Việt Nam trong lúc ra nghị quyết “Về đại đoàn kết dân tộc và tăng cường mặt trận dân tộc thống nhất” thì đã bắt giam ông Nguyễn Hộ, một cựu đảng viên cộng sản lão thành vì đã “dám” có ý kiến về việc chung của đất nước !!!
Vậy sự thực về cái chết của mấy viên tướng ấy là thế nào ?
VẪN LÀ TUỒNG CHÈO CỘNG SẢN
Chế độ cộng sản thì ở nước nào cũng vậy, việc thanh toán nhau theo kiểu ma-phi-a là chuyện thông thường. Từ Nga, Tàu, Cu-ba cho đến Bắc-hàn đều là như vậy. Việt Nam cũng không qua qui luật đó. Tập đoàn cộng sản Hồ chí Minh ngay từ lúc chưa tiếm được quyền thống trị cho đến lúc làm được cuộc đảo chính “nhẹ nhàng” để xóa bỏ chính phủ Liên hiệp chống Pháp ở Việt Nam, thực hiện độc tài đảng trị của cộng sản, bao giờ cũng coi chân lý “chính quyền được đẻ từ họng súng” là bất di bất dịch và “đảng cộng sản phải độc quyền lãnh đạo và quản lý lực lượng vũ trang”. Đấy chính là bi kịch của các viên tướng cộng sản ở Việt Nam.
Người đầu tiên bị làm vật hy sinh là Phùng chí Kiên. Bởi vì Phùng chí Kiên nguyên là thiếu tướng của hồng quân Nga-xô, được bổ xung vào ban chấp hành trung ương đảng cộng sản Đông dương và đặc trách lực lượng quân sự. Kẻ nào tố cáo để lính của thực dân Pháp phục kích bắn chết Phùng chí Kiên vào giữa năm 1944 ở Việt Bắc có thể cũng là kẻ chỉ điểm cho Pháp bắn chết trung tướng Nguyễn Bình ở miền Nam Việt Nam sau này.
Vì Phùng chí Kiên chết nên lực lượng vũ trang của tập đoàn Hồ chí Minh mới được trao cho Võ nguyên Giáp và Chu văn Tấn phụ trách. Để sau này trung đội trưởng Võ nguyên Giáp và chính trị viên trung đội Chu văn Tấn được Hồ chí Minh phong cho kẻ là đại tướng tổng tư lệnh, kẻ là thượng tướng. Nghiễm nhiên qua hai nhân vật này mà Hồ chí Minh đã củng cố được quyền lực cá nhân một cách trọn vẹn. Cho nên dù Trung cộng có cho Nguyễn Sơn là một đại tướng của hồng quân Trung hoa trở về thì Hồ chí Minh vẫn chỉ gắn cho lon trung tướng, đứng sau cả Chu văn Tấn lẫn Võ nguyên Giáp và cử vào khu 4 (cũ) cho cách xa với biên giới Việt Nam.
Bước vào chiến dịch Điện biên phủ 1954, để tranh thủ sự ủng hộ hết mình của Trung cộng và cũng để ngăn ngừa dần uy tính và quyền lực của Võ nguyên Giáp, Hồ chí Minh đã lôi Nguyễn chí Thanh từ khu Năm ra, cho đeo lon đại tướng, giữ chức chủ nhiệm tổng cục chính trị kiêm phó bí thư quân ủy trung ương, phụ trách cả về tổ chức trong quân đội. Để một đại tướng đi học trường Tây thuộc địa (Albert Sarraut), có cử nhân luật đứng chung mâm cỗ với một đại tướng xuất thân cố nông và thiếu học lại còn ghét nhau như chó với mèo, cho nên Hồ chí Minh không còn sợ quân đội làm phản.
Sau chiến thắng Điện-biên phủ 1954, uy tín của đại tướng Võ nguyên Giáp lên như cồn ở cả trong nước và ngoài nước. Bởi vì lúc đó ít ai biết rằng Điện-biên phủ của Võ nguyên Giáp có mặt các cố vấn Trung cộng là tướng La quy Ba về tổ chức và đại tướng Trần Canh cùng nguyên soái Vi quốc Thanh chỉ đạo về chiến dịch và tác chiến. Vì thế, thông qua bàn tay của của đại tướng cố nông Nguyễn chí Thanh, Hồ chí Minh đã tỉa bớt vây cánh của Võ nguyên Giáp. Đó là việc các đại tá Lê Minh Nghĩa, chánh văn phòng bộ quốc phòng; đại tá Đỗ đức Kiên, cục trưởng tác chiến; đại tá Lê trọng Nghĩa, cục trưởng quân báo... bị bắt. Trước đó là việc đề cử Văn tiến Dũng vào ghế tổng tham mưu trưởng thay chỗ của Hoàng văn Thái, một trung tướng được coi là thân cận nhất của Võ nguyên Giáp, và ghế chủ nhiệm tổng cục hậu cần thì vào tay thiếu tướng Nguyễn thanh Bình, cháu rể của Lê đức Thọ (sau này Nguyễn thanh Bình, dưới thời Nguyễn văn Linh, leo lên ghế ủy viên bộ chính trị, phụ trách thường trực ban bí thư).
Cần nhớ rằng, từ lúc đảo chính lật đổ chính phủ Liên hiệp Hồ chí Minh đã quân phiệt hóa chính phủ của ông ta. Cụ thể là : đại tướng Võ nguyên Giáp là phó thủ tướng kiêm bộ trưởng quốc phòng; đại tá Phạm Hùng, phó thủ tướng phụ trách tài mậu; đại tá Hà kế Tấn, bộ trưởng bộ thủy lợi; thiếu tướng Phan trọng Tuệ, bộ trưởng bộ giao thông và bưu điện; thiếu tướng Ngô minh Loan, bộ trưởng bộ công nghiệp nhẹ; thiếu tướng Lê Liêm, thứ trưởng thứ nhất kiêm bí thư đảng đoàn bộ văn hóa (bộ trưởng Hoàng minh Giám chỉ là bù nhìn); thiếu tướng Đỗ Mười, phó thủ tướng; các trung tướng Phạm Kiệt và thiếu tướng Viễn Chi, đại tá Nguyễn công Tài giữ ghế thứ trưởng bộ công an; thiếu tướng Dương quốc Chính, bộ trưởng bộ nội vụ (còn có tên là thiếu tướng Lê hiến Mai, phó chủ nhiệm tổng cục chính trị); trung tướng Hoàng văn Thái và đại tá Nguyễn văn Quạn giữ các ghế chủ nhiệm và phó chủ nhiệm ủy ban thể dục thể thao trung ương; thiếu tướng Trần đại Nghĩa, phó chủ nhiệm ủy ban khoa học nhà nước; thượng tướng Chu văn Tấn, phó chủ tịch quốc hội; trung tướng Trần tử Bình, đại sứ đặc mệnh toàn quyền tại Trung cộng; thiếu tướng Thiết Hùng, đại sứ đặc mệnh toàn quyền tại Bắc Hàn; thiếu tướng Trần Sâm, bộ trưởng bộ vật tư v.v... Và, ngay cái gọi là hội đoàn quan trọng cũng do quân đội nắm giữ như đại tá Nguyễn đình Thi, tổng thư ký hội liên hiệp văn học nghệ thuật; đại tá Đỗ Nhuận, tổng thư ký hội âm nhạc; trung tá Hà minh Tuân, giám đốc Nhà xuất bản văn học. Ngay cả Vũ Kỳ, thư ký riêng của Hồ chí Minh cũng là thiếu tướng. Sự thật là thế đấy, nhưng cả trong nước lẫn ngoài nước ít ai quan tâm đến tính chất quân phiệt của chính quyền Hồ chí Minh từ đó cho đến tận bây giờ.
Lính và công an là công cụ chuyên chính của tập đoàn cộng sản tiếm quyền, là chỗ dựa để họ có thể tồn tại. Cho nên cả Nga-xô và Trung-cộng đều muốn vươn tay nắm lấy lực lượng vũ trang của chư hầu. Đó là việc thiếu tướng hồng quân Nga-xô Phùng chí Kiên được cho về Việt Nam cũng như tướng Trung cộng Nguyễn Sơn vậy. Ở trong nước thì từ Hồ chí Minh cho đến Lê Duẩn, rồi Nguyễn văn Linh và nay là Đỗ Mười, tất cả đều cố nắm lấy binh lính và công an, càng độc quyền bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Đấy chính là nguyên nhân khiến cho dưới chế độ cộng sản một số nhân vật trong lực lượng vũ trang được nhảy vượt cấp nhanh như tên lửa, kiểu như Võ nguyên Giáp, Nguyễn chí Thanh, Lê đức Anh, Lê khả Phiêu v.v... và số khác thì bị chết không kèn không trống như Đặng kim Giang, Chu văn Tấn, Nguyễn văn Vịnh v.v... hoặc chết một cách mờ ám như Phùng chí Kiên, Nguyễn Bình, Nguyễn chí Thanh, Hoàng văn Thái, Lê trọng Tấn v.v...
SỰ ĐỘC TÀI CỦA HAI CHÀNG HỌ LÊ
Có một số người ly khai đảng cộng sản Việt Nam đã viết sách phê phán những sai lầm của tập đoàn cầm quyền chóp bu của đảng cộng sản nhưng vẫn tránh né kẻ phạm tội lớn nhất là Hồ chí Minh. Thậm chí qua cách mô tả của những vị ấy thì Hồ chí Minh cũng bất lực trước sự “tả khuynh” của tay chân như Lê Duẩn, Trường Chinh, Lê đức Thọ v.v... Thậm chí trong cuộc họp của trung ương đảng Hồ chí Minh còn bị thiểu số tán thành như về biểu quyết Nghị quyết 9 (khóa 3) chẳng hạn. Có thể các vị đó đã mô tả đúng sự thật của hiện tượng và qua hiện tượng đó mà đồng nhất với bản chất của sự việc. Mà cũng có thể vì còn nằm trong sự quản lý của cộng sản nên “tạm thời” nhắm mắt làm ngơ một số sự việc cụ thể để núp dưới cái thây ma của Hồ chí Minh mà “đấu tranh” với đệ tử của ông ta. Nhưng thật là khó hiểu khi có vị úp mở đề nghị “không nhắc đến những người đã quá cố vì họ không có khả năng tự bảo vệ nếu họ bị lên án”(!) Kiểu lý luận này có lẽ nên đốt hết các sách nói về từ Tần thủy Hoàng đến Hitler, Staline và ở Việt Nam thì đừng “nhắc đến” Lê chiêu Thống, Nguyễn Ánh và Hồ chí Minh v.v... Vậy mà vị đó hay khoe kiến thức, “nhắc đến” đủ cả Marx, cả v.v..!!!
Chỉ cần một sự thông minh bình thường, một sự can đảm vừa đủ và chịu khó quan sát thì sẽ thấy Hồ chí Minh chính là một thứ Staline ở Việt Nam. Cái trò khóc trong “sai lầm” của cải cách ruộng đất rồi tự “giáng chức” của mình chẳng khác nào kiểu Tào Tháo tự cắt râu để trừng phạt việc để ngựa dẫm vào lúa của dân. Cả cái bộ xậu chóp bu của cộng đảng khi đứng trước Hồ chí Minh đều ngoan như cừu non trước sói dữ. Có hai người duy nhất là Hồ chí Minh không gọi bằng chú và xưng là bác, đó là ông già Tôn đức Thắng, lớn hơn Hồ chí Minh hai tuổi và người thứ hai là Lý Ban, ủy viên dự khuyết trung ương của đảng cộng sản Việt Nam nhưng lại là ủy viên trung ương chính thức của Trung cộng. Vì thực chất Lý Ban là phái viên của Mao bên cạnh Hồ. Cho nên Hồ chí Minh gọi Lý Ban là tiên sinh. Còn tất cả đều bị gọi là “chú” và tự xưng là “bác” hoặc “bác Hồ”. Với nhân dân thì dù từ đứa trẻ sơ sinh cho tới cụ già bằng tuổi anh cả của mình, Hồ chí Minh đều xưng là bác và ngang ngược đến mức các bài viết công khai đều ký tên là “Bác Hồ” (nếu ai đó cố quên thì hãy xem lại báo Nhân dân lúc Hồ còn sống thử xem, hay là điều này cũng không nên “nhắc đến”?). Khái niệm “Bác” của Hồ chí Minh chính là đồng nghĩa với “Trẫm” hoặc “Cô” của các vua ngày xưa vậy!
Với những người cách mạng chân chính, muốn có sự công bằng ở nông thôn Việt Nam thì “cải cách ruộng đất” là cần thiết và cách thức đã tiến hành cải cách ruộng đất là sai lầm. Nhưng, với Hồ chí Minh thì “cải cách ruộng đất” là cái bánh vẽ còn cách thức tiến hành cải cách ruộng đất là thủ đoạn để củng cố quyền lực cá nhân; hạn chế uy tín và anh hưởng của một số nhân vật cộng sản như Trường Chinh, Hoàng quốc Việt; vùi dập các đảng phái, các tôn giáo, các nhân sỹ trí thức yêu nước khác nhằm vô hiệu hóa quốc hội khóa 1, trấn áp các thành viên chính phủ Liên hiệp không là cộng sản để làm đảo chính nhẹ nhàng chuyển giao quyền lực của một chính quyền liên hiệp đa đảng vào tay cộng sản độc đảng trị.. Và, Hồ chí Minh đã nắm trong tay quyền lực tuyệt đối : chủ tịch đảng cộng, chủ tịch nước, chủ tịch hội đồng quốc phòng và thủ tướng chính phủ !!! Đó là một sự thật cần phải “nhắc đến”. Cho nên nếu quả thực Hồ chí Minh thực tâm nhận thâý cách thức tiến hành cải cách ruộng đất sai lầm thì chẳng cần chảy nước mắt cá sấu và tự cách chức (mà vẫn cứ là nhân vật số 1 tuyệt đối, vì Hồ không làm chủ tịch đảng cộng, lùi xuống làm tổng bí thư đảng cộng, nhưng có ai khác ngồi vào cái ghế chủ tịch đảng cộng đâu; Hồ vẫn là chủ tịch nước, chủ tịch hội đồng quốc phòng và thủ tướng chính phủ). Mà, cùng với việc sửa sai ở nông thôn cũng như hạ chức một số nhân vật như Trường Chinh (thôi chức tổng bí thư đảng cộng nhưng vẫn là ủy viên bộ chính trị và chủ tịch quốc hội); Hoàng quốc Việt (từ dự khuyết bộ chính trị xuống ủy viên trung ương đảng cộng); Hồ viết Thắng (thôi là ủy viên trung ương đảng cộng); Nguyễn đức Tâm (thôi là ủy viên dự khuyết trung ương) v.v... thì phải chí ít cũng giữ nguyên chức cho các vị đã có công phát hiện ra sai lầm trong tiến hành cải cách ruộng đất như bộ trưởng tư pháp Vũ đình Hòe; luật sư Nguyễn Mạnh Tường, chủ tịch hội luật gia, ủy viên trung ương Mặt trận Liên Việt; thứ trưởng bộ Văn hóa Đỗ đức Dục và v.v... chứ có đâu lại thải hồi luật sư Nguyễn mạnh Tường, cất chức thứ trưởng của ông Đỗ đức Dục, xóa bỏ bộ tư pháp và huyền chức bộ trưởng của ông Vũ đình Hòe, cũng như ra lệnh không cho các đảng Dân chủ và Xã hội được kết nạp đảng viên mới. Đã thế lại còn thành lập một chi bộ cộng sản ngay trong lòng các đảng Dân chủ và Xã hội để lãnh đạo... “đảng bạn”!!! Trong khi đó Hoàng quốc Việt giữ chức chủ tịch Tổng công đoàn kiêm chủ tịch Mặt trận Liên Việt; Hồ viết Thắng sau đó giữ chức bộ trưởng bộ lương thực và thực phẩm (thay Ngô minh Loan) rồi lại sang làm bí thư đảng đoàn của ủy ban Khoa học và Kỹ thuật; còn Nguyễn đức Tâm từ chức tổng cục trưởng tổng cục thống kê chuyển ra lên chức bí thư tỉnh ủy Quảng Ninh để đến khóa 6 cộng đảng leo lên ủy viên bộ chính trị, ủy viên ban bí thư, phụ trách trưởng ban tổ chức trung ương (giữ cái ghế của Lê đức Thọ) và nay già khọm mà vẫn được là cố vấn cho ban chấp hành đảng cộng nữa kia. Đây cũng là một sự thật rành rành dù mù mà không điếc thì cũng nghe loa phát thanh ông ổng cả ngày hay điếc mà không mù thì sách báo nào cũng nói đến, viết đến những điều đó. Vậy có nên “nhắc đến” không, hay vì Hồ chết không thể tự bào chữa thì nên quên đi cho có vẻ công bằng và quân... tử ?(!)
Hồ chí Minh là kẻ đem mầm bệnh AIDS cộng sản vào Việt Nam. Cũng chính Hồ chí Minh là kẻ nghĩ ra và tổ chức cuộc đảo chính của cộng đảng lật đổ chính phủ Liên hiệp, vô hiệu hóa quốc hội khóa 1, phản bội lại nguyện vọng của toàn dân Việt Nam, phản bội các đảng phái quốc gia, các tổ chức tôn giáo, các nhân sỹ trí thức yêu nước để tiếm quyền thống trị ở Việt Nam, dựng nên một mô hình chính quyền độc tài toàn chế, hiếu chiến, khát máu mà lịch sử Việt Nam chưa từng có.
Khi Hồ chết, đã để lại cẩm nang cai trị độc tài cho hai anh chàng họ Lê. Đó là Lê Duẩn và Lê đức Thọ. Hai người này đều do Hồ chí Minh “giới thiệu”, Lê Duẩn thì giữ ghế bí thư thứ nhất đảng cộng hộ Hồ vì Hồ “quá bận” nên trở lại làm chủ tịch đảng; còn Lê đức Thọ thì từ cái ghế phó ban tổ chức trung ương (dưới Lê văn Lương, là người thân cận của nhóm Trương Chinh, Hoàng quốc Việt) nhảy lên ghế trưởng ban tổ chức trung ương, làm xếp của Lê văn Lương; chẳng qua bầu bán gì. Đã thế Lê Duẩn lại còn được Hồ chỉ định giữ thêm ghế bí thư quân ủy trung ương với hai phó bí thư là Võ nguyên Giáp và Nguyễn chí Thanh, nghĩa là Võ nnguyên Giáp “tự dưng” từ ghế bí thư quân ủy tụt xuống phó bí thư cho ngang với Nguyễn chí Thanh, tuy rằng vẫn còn là bộ trưởng quốc phòng và đại tướng tổng tư lệnh. Cho nên ai đó không muốn “nhắc đến” sự thật trên mới ngộ nhận cho rằng Hồ ưu ái định đưa Võ nguyên Giáp lên ghế tổng bí thư cộng đảng vì thấy Võ nguyên Giáp có uy tín lớn, đã thay mặt đảng trấn an được lòng dân sau “sai lầm” của cải cách ruộng đất. Sự thực là vì thấy Võ nguyên Giáp có uy tín cao nên Hồ chí Minh mới để Lê Duẩn vào ghế bí thư thứ nhất và cho chiếm luôn ghế bí thư quân ủy của Võ nguyên Giáp. Đưa Võ nguyên Giáp ra thay mặt đảng xin lỗi về “sai lầm” cải cách ruộng đất là Hồ chí Minh muốn kiểm tra lại mức độ uy tín của Võ nguyên Giáp với nhân dân như thế nào để quyết định có lợi nhất cho sự độc tài của bản thân. Lê Duẩn được Hồ chí Minh lựa chọn vì : 1) bản thân Lê Duẩn không có uy tín lớn trong đảng cộng như Trường Chinh, Lê văn Lương, Hoàng quốc Việt, nhất là chẳng có tí công lao nào trong cái gọi là cách mạng tháng tám (vì Lê Duẩn lúc đó vẫn còn bị tù ở Côn đảo); 2) ngay từ dưới thời Nguyễn văn Cừ làm tổng bí thư cộng đảng thì trong báo nội bộ, Lê Duẩn là người đầu tiên đã viết bài ca ngợi Hồ chí Minh, trước cả Trường Chinh, Võ nguyên Giáp và nhà thơ “ống đu đủ” Tố Hữu.
Đặt Lê Duẩn vào chức vụ quan trọng nhất của đảng và của quân ủy, Hồ chí Minh biết rằng Lê Duẩn thiếu chân rết làm chỗ dựa, vì thế đã đưa Lê đức Thọ vào ghế trưởng ban tổ chức trung ương để tạo dựng vây cánh cho Lê Duẩn. Bởi vì Lê đức Thọ là người có công “phát hiện” ra Lê Duẩn bị xếp bất hợp lý ở chức trưởng phòng dân quân Nam bộ, đã giới thiệu và ủng hộ Lê Duẩn vào ghế bí thư trung ương cục miền Nam. Về tình cảm thì còn đi xa hơn nữa. Đó là nữ “thư ký riêng” của Lê đức Thọ được giới thiệu sang làm thư ký cho Lê Duẩn và sau đó thành bà vợ hai của Lê Duẩn. Còn cô gái miền Nam xinh đẹp được tổ chức giới thiệu làm thư ký cho Lê Duẩn thì Lê đức Thọ nhận về “đào tạo lại” và lấy làm vợ hai của mình. Cả hai đều “đạo đức cách mạng sáng ngời”, đều nói thì “giải phóng phụ nữ, một vợ một chồng” nhưng bản thân lại theo chế độ đa thê, nghĩa là nói một đằng làm một nẻo hệt như Hồ chí Minh vậy. Đây cũng là một sự thật rành rành, rất nên “nhắc đến”.
Vị viết sách “khuyên” rằng không nên “nhắc đến” người đã chết lại còn tài đến mức đoán được ý nghĩ của Hồ trong thâm cung cân nhắc, nặng về phía Lê Duẩn hơn Võ nguyên Giáp vì tuy rất yêu Võ nguyên Giáp nhưng Lê Duẩn lại có “thâm niên” ở tù ! Nếu quả là có sự lựa chọn mà tiêu chuẩn phải ỡ tù nhiều năm và được Hồ yêu thì tại sao không lựa Phạm văn Đồng ? Ai cũng biết Phạm văn Đồng ở đủ các nhà tù, kể cả Côn đảo, lâu không kém gì Lê Duẩn, lại còn bị lao teo một bên phổi (hơn Lê Duẩn rồi đấy), lại cũng là ủy viên bộ chính trị, lại là phó của Hồ trong cái ghế phó thủ tướng kiêm bộ trưởng ngoại giao, lại là người đi theo Hồ suốt nhiều năm tháng khi Hồ bôn ba bên Tàu (hơn cả Lê Duẩn và Võ nguyên Giáp) và được Hồ yêu “công khai” đến mức ai đã ở Bắc Việt Nam từ 1954-1969 đều biết.
Dám nhìn thẳng vào cuộc đời hoạt động của Hồ chí Minh sẽ thấy rằng Hồ bao giờ cũng nghĩ và làm thế nào để đưa lợi ích cho bản thân trước hết, hoàn toàn gạt chuyện tình cảm ra ngoài. Một thí dụ rõ nhất là việc Hồ chỉ điểm cho thực dân Pháp bắt cụ Phan bội Châu. Hồ đã tạo ra nhóm Lê Duẩn, Lê đức Thọ chính là để quân bình với lực lượng Trường Chinh, Lê văn Lương, Hoàng quốc Việt trong đảng và với Võ nguyên Giáp trong quân đội. Hai phe tự kiềm chế nhau khiến Hồ xử dụng cả hai phe lúc hơi “tả”, lúc hơi “hữu” để giữ yên cái ghế độc tài của Hồ, né mọi toan tính của cả Kremlin lẫn Bắc-kinh làm ảnh hưởng đến quyền lực của Hồ.
Từ khi được Hồ chí Minh cất nhắc, hai anh chàng họ Lê ra sức củng cố lực lượng, cả trong Nam, cả ngoài Bắc. Quân đội, công an và cơ quan tuyên huấn được quan tâm đến nhiều và trước nhất. Mua chuộc một số chân tay của Trường Chinh như Tố Hữu, Hoàng Tùng. Hoán chỗ một số khác như chuyển thiếu tướng Ngô minh Loan, đang là thứ trưởng bộ công an, sang bộ công nghiệp nhẹ; đưa tướng Trần Độ (nguyên là bảo vệ của Trường Chinh) vào Nam; đưa trung tướng Trần tử Bình sang làm đại sứ tại Tàu cộng, thiếu tướng Thiết Hùng sang làm đại sứ Bắc Cao-ly. Các tướng Vương thừa Vũ, Trần quý Hai cho ngồi chơi xơi nước; trung tướng Đặng kim Giang cho vào tù; quản thúc trung tướng Nguyễn văn Vịnh trong tòa biệt thự ở đường Cao bá Quát (Hà-nội) v.v... Các đệ tử ruột của Võ nguyên Giáp cũng bị cho đi Nam như trung tướng Hoàng văn Thái, các thiếu tướng Lê trọng Tấn, Vũ Lăng v.v... Lôi kéo được nhóm như thượng tướng tổng tham mưu trưởng Văn tiến Dũng; trung tướng Song Hào (chủ nhiệm tổng cục chính trị sau Nguyễn chí Thanh); thiếu tướng Lê hiến Mai, phó chủ nhiệm tổng cục chính trị; Phùng thế Tài, tổng tham mưu phó kiêm tư lệnh phòng không không quân và v.v... Dùng Trần hữu Dực, ủy viên trung ương đảng làm phó thủ tướng kiêm trưởng ban nội chính để kèm Trần quốc Hoàn là bộ trưởng công an, ủy viên dự khuyết bộ chính trị. Đỗ Mười được nâng lên ghế phó thủ tướng, còn cái ghế bộ trưởng nội thương được trao cho cháu rể Lê đức Thọ là Nguyễn thanh Bình (sau sang nắm bộ thủy lợi). Tướng Đinh đức Thiện, em ruột của Lê đức Thọ, được trao ghế chủ nhiệm tổng cục hậu cần. Khu tự trị Việt Bắc tuy trong tay các đàn em của Trường Chinh là thượng tướng Chu văn Tấn và thiếu tướng Bằng Giang, nhưng trái tim của khu tự trị Việt Bắc là khu gang thép Thái Nguyên lại do tướng Đinh đức Thiện làm bí thư đảng ủy ! Tuy chỉ đeo lon đại tá, nhưng Phạm Hùng được đưa vào bộ chính trị và ngồi bên cả đại tướng Võ nguyên Giáp, đồng thời giữ ghế phó thủ tướng phụ trách tài mậu (tài chính và mậu dịch). Quảng Ninh là một tỉnh biên giới với Trung cộng, lại là vùng than đá, mảnh đất tập trung của “giai cấp công nhân” đột nhiên được đón nhận một cán bộ miền Nam tập kết còn nằm trong ẩn số là Nguyễn thọ Chân ra làm bí thư tỉnh ủy, thay cho Hoàng Chính, một đệ tử ruột của Trường Chinh, bị kéo về trung ương ngồi đánh... cờ tướng cả ngày. Sau đó Nguyễn thọ Chân được đưa qua Nga-xô làm đại sứ đặc mệnh toàn quyền thì tay đao phủ của cải cách ruộng đất, đã bỏ Trường Chinh thờ hai chàng họ Lê, là Nguyễn đức Tâm, được cho giữ chức bí thư tỉnh ủy !
Cái mầm độc tài Hồ chí Minh bén rễ, nảy cành; cái mầm bệnh Aids cộng sản do Hồ chí Minh lây truyền, đã làm mất khả năng đề kháng trên mọi bình diện, những gì là truyền thống Việt Nam, được bắt đầu và phát triển như sơ lược tóm tắt ở trên. Đấy là những sự thật rành rành mà ai cũng có thể đọc được trong các sách báo của cộng sản ở Việt Nam “sản xuất”, chắc chắn là đã có tô hồng và bóp méo rồi đấy. Nếu nghe theo “nhà cách mạng cơ hội” mà không “nhắc đến” thì chẳng cứ lứa tuổi thanh niên của người Việt Nam ở hải ngoại mà ngay cả ở trong nước cũng sẽ chẳng biết đến những sự thật đã là nguyên nhân khiến Việt Nam nghèo khổ như ngày nay và v.v... Không “nhắc đến” những sự thật đó, có lợi cho ai, có hại cho ai ? Mọi người có thể thấy rõ diện mạo của cái vị tự phong đủ mọi thứ cho mình.
Tổ tiên chúng ta đã dạy phải “ôn cố tri tân”. Nếu bỏ quên những bài học lịch sử mà không “nhắc đến” thì chắc chắn thế hệ thứ ba của người Việt Nam chúng ta hiện nay và cả thế hệ thứ tư nữa, cũng sẽ lại tiếp tục rơi vào tay các loại cạm bẫy của cộng sản, chỉ vì đi theo tấm bảng chỉ đường của các loại cò mồi, cơ hội, hoạt đầu chính trị đang ra sức vo ve như ruồi nhặng, trước bộ xương gầy còm cõi của Việt Nam, đang bị tụi mại bản đỏ Đỗ Mười - Lê đức Anh - Võ văn Kiệt câu kết với các ngoại bang xanh, đỏ để bòn tỉa và hút máu.
CÓ CHẾT NHƯNG KHÔNG BÍ ẨN
Đảng cộng sản Việt nam vẽ ra cho mình mấy ngày thành lập. Lúc thì ngày 6-1, lúc thì 3-2.
Hồ chí Minh vẽ ra mấy di chúc để tiện dùng cho các đệ tử, tùy thời, tùy lúc.
Bộ chính trị cộng sản vẽ cho Hồ mấy ngày chết. Lúc thì ngày 3-9, bây giờ lại là 2-9. Và v.v..., hàng vạn thứ vẽ !!!
Cộng sản là thế đấy. Cái gì cũng mập mờ và bí ẩn. Nhưng thực ra thì tất cả đều tào lao, cũng như cái chết của các tướng Hoàng văn Thái, Lê trọng Tấn, Đinh đức Thiện và Phan Bình vậy.
Đại tướng Hoàng văn Thái là sui gia với đại tướng Võ nguyên Giáp. Quen biết nhau từ khi Võ nguyên Giáp được Hồ chí Minh giới thiệu vào học ở trường quân sự Hoàng Phố (bên tàu) và cho đến ngày Võ nguyên Giáp được trao quyền tư lệnh quân đội thì chính đại tướng Võ nguyên Giáp đã lựa chọn và giới thiệu với Hồ chí Minh để cho Hoàng văn Thái giữ chức tổng tham mưu trưởng. Lúc đó vì cần có sự thống nhất và đoàn kết trong bộ tư lệnh và tham mưu nên Hồ chí Minh chấp nhận để hiệu quả đánh đấm của quân lính được cao nhất. Xung quanh tướng Giáp lúc đó, ngoài Hoàng văn Thái, giữ ghế tổng tham mưu trưởng, còn có các cấp tá xuất thân học sinh, sinh viên như Đỗ đức Kiên, Lê minh Nghĩa, Vũ Lăng, Lê trọng Nghĩa v.v... các tướng thao lược như Thiết Hùng, Vương thừa Vũ v.v... và cả cục trưởng cục tác chiến Trần văn Quang rất cần cù, tận tuỵ (người dính đến báo cáo về tù nhân Mỹ ở Việt Nam sau 1975).
Sau chiền thắng quân lính thực dân Pháp 1954 ở Điện-biên phủ, tiếng tăm của Võ nguyên Giáp lừng lẫy cả ở trong và ngoài Việt Nam. Cho nên Hồ chí Minh đã nghĩ đến việc khống chế viên đại tướng tổng tư lệnh, có tầm thước của Napoléon và cũng rất “mê” Napoléon này, bằng cách tỉa chân tay. Vì thế, ngay 1957, chẳng có lỗi lầm gì mà Hoàng văn Thái (lúc đó là trung tướng) bị giáng chức từ tổng tham mưu trưởng xuống tổng tham mưu phó và Văn tiến Dũng đang là đại đoàn trưởng đại đoàn đồng bằng được đặt lên ghế tổng tham mưu trưởng, đeo lon thượng tướng. Vợ Văn tiến Dũng là Đặng thị Kỳ được ngồi ở ban tổ chức trung ương, dưới trướng Lê đức Thọ.
Những việc công khai đều được đăng trong tiểu sử của Hoàng văn Thái, ngày bị chết, ở hầu hết các báo hàng ngày của cộng sản Việt Nam. Còn những điều riêng tư thì chỉ số ít có dịp “quan sát” mới thấy. Đó là Hoàng văn Thái chẳng hề có tinh thần cởi mở hoặc vì dân, vì nước chút nào. Mà tất cả đều vì cái ghế ngồi của bản thân. Từ sự ngậm miệng ăn tiền, luôn luôn ngoan ngoãn theo cái gậy chỉ huy của cấp trên cho đến quan tâm cả đến những gì mà cấp trên thích thú. Thí dụ : thời gian vào Nam chỉ huy quân lính, Hoàng văn Thái được nghe phổ biến về sự “thống nhất đặc biệt” của ba nước Đông dương cả chính trị, quân sự lẫn kinh tế v.v... Nào là trại bò giống ở Ba Vì (Hà-tây) có nhiệm vụ cung cấp tinh trùng viên để cải tạo toàn thể đàn bò của Việt-Miên-Lào; nào là hết bí thư trung ương đảng cộng Hoành Anh rồi lại ủy viên trung ương đảng cộng Võ thúc Đồng thay nhau lãnh đạo ủy ban nông nghiệp trung ương cùng với bộ trưởng đặc trách kỹ thuật nông nghiệp Nghiêm xuân Yêm và Viện trưởng khoa học nông nghiệp Bùi huy Đáp, có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch trông ngô ở cao nguyên Bô-lô-ven (cứ làm như đấy là đất của cộng sản Việt Nam) v.v... Cả bộ xậu trong bộ chính trị cộng đảng cho đến các nhân vật nòng cốt từ miền Nam ra họp đều thi nhau đi thăm trại bò giống. Hoàng văn Thái cũng thế, có thể cưỡi trực thăng lên Ba-vì, cả ngày âu yếm ngắm những con bò đực nặng gần một tấn, được ăn ở sung sướng gấp ngàn lần cán bộ công nhân viên của trại. Thế nhưng lại không thể có một phút nào rảnh rỗi để thăm hỏi những thương bệnh binh từ Nam chuyển tải ra, mặc dù xương máu của những người đó đã đánh bóng những ngôi sao cấp tướng của Hoàng văn Thái. Cũng giống Võ nguyên Giáp, lúc nào cũng bộ đồ cấp tướng màu cỏ úa sẫm, nếp là thẳng tắp, giày da đen bóng đến có thể soi gương, bộ mặt phì nộn trông hoàn toàn xa lạ với mặt xanh bủng, gầy ốm của binh lính dưới quyền. Hoàng văn Thái có biệt tài là, khác với tướng lãnh khác, không hề lúc hứng chí “làm thơ” hoặc bàn về “văn học nghệ thuật” (như kiểu đại tá Đặng Tính). Hoàng văn Thái chỉ chuyên tâm về quân sự mà nếu có nói và viết thì cũng là những điều cấp trên đã bàn đến như thế, như thế v.v... Chưa bao giờ Hoàng văn Thái dám thắc mắc về những “bão táùp” xảy ra trên đất nước, như tướng Vương thừa Vũ thắc mắc về cách thức tiến hành cải cách ruộng đất; như tướng Đặng kim Giang về vấn đề dân chủ; như trung tướng Nguyễn văn Vịnh về chính sách ở miền Nam hoặc như tướng Tô Ký về việc hành quyết một số tân binh gọi là “vô kỷ luật” v.v... Lúc nào cũng âm thầm, không chơi trội. Đó là đặc tính của Hoàng văn Thái cũng như một đặc tính nữa là rất “cảnh giác cách mạng” cũng như tuy to béo nặng nề mà lại nhanh hơn chuột lắt. Như trong bữa tiệc chiêu đãi cầu thủ bóng đá của các nước Việt Nam (phía Bắc), Bắc Cao-ly và Tàu cộng ở cửa hàng du lịch ở Hà-nội (nhà hàng Ritz cũ ở góc Hàng Khay - Bà Triệu), Hoàng văn Thái chủ trì buổi chiêu đãi với tư cách chủ nhiệm ủy ban thể dục thể thao trung ương. Tiệc đang rôm rả đột nhiên mất điện. Đèn chỉ bị tắt trong khoảng... hai phút thì sáng trở lại. Ấy thế mà khi đèn sáng lại, tất cả đều ngồi yên tại chỗ, kể cả các đại tá Nguyễn văn Quặn, phó chủ nhiệm ủy ban thể dục thể thao trung ương; đại tá Lê Hiền, tư lệnh đơn vị bảo vệ Hà-nội kiêm giám đốc Sở thể dục thể thao Hà-nội và trung tá Ngô Luân, tổng thư ký ủy ban thể dục thể thao trung ương, còn chỗ Hoàng văn Thái thì... bỏ trống. Mọi người ngạc nhiên trước sự biến mất của Hoàng văn Thái thì, bỗng thấy cái thân hình đẫy đà đó, đang núp từ xó cửa cuối phòng ăn, đi ra. Vẫn đường bệ và mặt không hề... biến sắc. Đúng là tướng có khác !
Ngoan ngoãn, an phận, ngậm miệng ăn tiền, cuối cùng thì Hoàng văn Thái cũng bò lên được tước hiệu đại tướng. Nhưng ngoan mà chẳng khôn nên Hoàng văn Thái vào lúc có thể ngồi vào cái ghế bộ trưởng quốc phòng của cộng sản thì lăn quay ra chết - mà theo thân nhân thì là bị mưu sát. Chẳng công bố thì ai cũng biết có bàn tay của Lê đức Thọ và Văn tiến Dũng. Thực ra Hoàng văn Thái chẳng phải là cái gai lớn hoặc ở tầm vóc để nhóm Lê đức Thọ lo ngại. mà vì “cảnh giác cách mạng”, đã gạt Võ nguyên Giáp khỏi chức bộ trưởng quốc phòng, lẽ nào lại để sui gia của tướng Giáp nắm được chức vụ cốt lõi của quân lính, cái bệ của quyền lực. Tốt nhất là cho đi theo họ Hồ để hầu hạ Marx và Lénine.
Đại tướng Lê trọng Tấn cũng vậy. Xuất thân từ thiếu sinh quân (enfant de troupe) của Pháp và đeo lon đội của lính thực dân Pháp ở Việt Nam, Lê trọng Tấn đã đi theo quân đội của chính phủ Liên hiệp kháng Pháp. Khi Hồ chí Minh làm đảo chính để cướp quyền của chính phủ Liên hiệp thì quân đội cách mạng Việt Nam bị biến thành công cụ chuyên chính của cộng sản, trong đó Lê trọng Tấn cũng như mọi người lính khác, trở thành công cụ của Hồ chí Minh và các kẻ kế nghiệp. Có giòng máu lính trong người, Lê trọng Tấn chỉ biết tuân theo thứ bực quân giai. Lê trọng Tấn là một người lính chuyên nghiệp, một thứ thiên lôi, chỉ đâu đánh đấy. Niềm vui lớn lao là được chém giết và được cấp trên khen ngợi. Tất nhiên cũng là đảng viên cộng đảng, nhưng Lê trọng Tấn là mẫu “chuyên” chứ không “hồng”. Khác với cả Võ nguyên Giáp lẫn Hoàng văn Thái, không béo tốt, trắng trẻo của lính văn phòng, Lê trọng tấn trông khắc khổ, rắn rỏi, đúng là mẫu lính đánh đấm ngoài chiến trường. Đúng là một mẫu người máy... không tim. Một thí dụ : sau khi theo tinh thần hiệp định Genève 1954 về Việt Nam, tập đoàn cộng sản Hồ chí Minh được tạm quyền quản lý phía Bắc Việt Nam cho đến vĩ tuyến 17. Trong vùng của Hồ chí Minh kiểm soát, tai họa bi đát giáng xuống đầu người dân Việt Nam. Nào sóng thần ở Đồ Sơn cuốn cả xã ra biển. Nào vỡ đê Mai Lâm. Nào dịch rầy nâu, Nào bão. Nào hạn hán kéo dài. Nào dịch cúm, dịch sốt xuất huyết. nào dịch trâu bò lở mồm, long móng v.v... Cùng với những tai họa đó là những dịch “cách mạng” đủ kiểu của tập đoàn Hồ chí Minh nặn ra. Thôn quê, thành thị tiêu điều. Nhà tù mới mọc lên như nấm. Nhiều người bị tù mà chẳng được biết phạm tội gì với dân, với nước. Trong số đó có anh ruột của Lê trọng Tấn . Khi chị dâu và các cháu đến năn nỉ Lê trọng Tấn - lúc đó là một thiếu tướng cộng sản sáng giá - để can thiệp cho biết anh của Lê trọng Tấn đi tù vì tội gì và phải tù bao lâu thì được Lê trọng Tấn thản nhiên trả lời, đại ý :”Cách mạng đã bắt thì chắc chắn phải có tội. Còn được tù bao lâu là tùy thái độ học tập cải tạo ra sao, có thấy tội lỗi với “Đảng”, với “Bác” không, có ăn năn gột bỏ tội lỗi không, có đầu hàng giai cấp công nhân không và có chịu tiếp thu tư tưởng cách mạng của giai cấp công nhân không ?” Lê trọng Tấn là như thế đó và người anh ruột của Lê trọng Tấn đành nằm ở hết các trại tù Suối Hai cho đến Ấm Thượng để “ăn năn, gột bỏ tội lỗi” mà chẳng biết là tội gì, cho nên bị tù “không tội” ngót 10 năm trời. Với anh ruột còn như vậy nên tất nhiên xương máu lính dưới quyền chỉ là người dưng, nước lã thì còn có nghĩa lý gì. Lê trọng Tấn chỉ thích có chiến tranh để được... đánh nhau, dù là loại chiến tranh gì đi nữa.
Được thực dân Pháp đào tạo từ nhỏ trong kỷ luật lính... thực dân; được cộng sản truyền cho máu sát nhân; được qua Nga-xô học tập thêm về kiến thức chiến tranh hiện đại, Lê trọng Tấn là một mẫu lý tưởng của tướng cộng sản. Sau khi hoàn thành cuộc vũ trang xâm lược miền Nam Việt Nam và áp đặt thể chế chính trị cộng sản lên cả nước Việt Nam, theo lệnh của Kremlin, Lê trọng Tấn được cử sang Nga-xô báo cáo về diễn biến và kết quả của cái gọi là “chiến dịch Hồ chí Minh”. Báo cáo của Lê trọng Tấn được các quan chức ở Kremlin đánh giá rất cao cũng như họ nhìn nhận tài năng quân sự của Lê trọng Tấn. Đấy chính là cái mầm chết mờ ám của Lê trọng Tấn sau này, mặc dù Lê trọng Tấn được gắn lon đại tướng và chút xíu nữa thì ngồi ghế bộ trưởng quốc phòng của cộng sản Việt Nam, nếu không... chết ngang xương !!!
Sau khi Lê trọng Tấn chết được vài tháng thì đến lượt trung tướng Đinh đức Thiện, ủy viên trung ương đảng cộng, chủ nhiệm tổng cục hậu cần, phó tổng tham mưu trưởng kiêm bộ trưởng dầu khí cũng lăn quay ra chết.
Đinh đức Thiện tên họ thật là Phan đình Dinh, em ruột của Lê đức Thọ (Phan đình Khải) và là anh ruột của Mai chí Thọ (Phan đình Đống). Dư luận hành lang đồn rằng chính Đinh đức Thiện đã nắm giữ một số tù binh Mỹ để phục vụ trong công tác nghiên cứu về hậu cần cho binh lính cộng sản Việt nam.
Anh em nhà Lê đức Thọ, Đinh đức Thiện và Mai chí Thọ là điển hình của cộng sản Việt Nam về gia đình trị như kiểu anh em nhà Fidel Castro ở Cuba; cha con nhà Kim nhật Thành ở Bắc Cao-ly hay vợ chồng, con cái Lâm Bưu của Tàu cộng.
Lê đức Thọ nắm trong tay các chức vụ : ủy viên bộ chính trị kiêm ủy viên ban bí thư cộng đảng, ủy viên quân ủy trung ương, ủy viên hội đồng quốc phòng, trưởng ban tổ chức trung ương, phụ trách luôn cả về an ninh, tình báo. Là loại hoạt đầu chính trị vừa tàn bạo vừa tham quyền, không thủ đoạn nào mà không dám làm; tính tình điềm đạm. Hai con mắt sắc lạnh lùng và cười với hàm răng xin xít, những cái răng to như răng ngựa. Có lẽ Lê đức Thọ chỉ thực sự “sợ” có hai người là Hồ chí Minh và bà vợ hai xinh đẹp của Lê đức Thọ. Khi bà vợ hai này đẻ nằm ở bệnh viện C (Hà-nội), dù bận trăm công nghìn việc, Lê đức Thọ vẫn đều đặn ngày hai buổi vào bệnh viện thăm vợ, săn sóc trong hai bữa ăn chính.
Mai chí Thọ là em út trong gia đình Lê đức Thọ, được lôi từ cái ghế bí thư khu ủy khu 8 về lãnh đạo ngành công an ở khu vực miền Nam cùng với Lâm văn Thê, sau này ở phía Bắc bổ xung thêm Nguyễn công Tài. Mai chí Thọ trông tốt tướng hơn Lê đức Thọ và cuộc đời tình ái cũng rất hoang đàng, bắt bồ phần lớn trong giới nghệ sỹ cả kim cả cổ, tuy chính thức chỉ một vợ chứ không đa thê như Lê đức Thọ.
Tướng Đinh đức Thiện thì khác cả anh là Lê đức Thọ và em là Mai chí Thọ. Đây là viên tướng chửi tục, nói nhảm nhất trong binh lính của Hồ chí Minh. Nếu Lê đức Thọ và Mai chí Thọ có tác phong quan cách như mẫu Võ nguyên Giáp, ăn nói bay bướm văn vẻ bao nhiêu, thì ngược lại, Đinh đức Thiện thô lỗ, cục cằn; về ăn mặc, đi đứng thì đúng là mẫu của viên đại tướng Nguyễn chí Thanh, nghĩa là giản dị xuề xòa. Đinh đức Thiện bắt chước tướng Nguyễn chí Thanh cả thói quen giải quyết công việc, tính xục xạo xuống từng đơn vị. Như có lần tướng Đinh đức Thiện đi kiểm tra đột ngột một số binh trạm, kho tàng ở vùng Quảng Trị,đến một binh trạm thì viên thương úy phụ trách binh trạm đi sang một đơn vị nữ thanh niên xung phong chơi, ở nhà chỉ có một thượng sỹ trực. Đinh đức Thiện hỏi tình hình và viên thượng sỹ báo cáo rành mạch các số liệu của binh trạm. Vừa lúc đó viên thượng úy đi chơi về. Đinh đức Thiện đã nhân danh tổng tham mưu phó lột lon của viên thượng úy gắn cho viên thượng sỹ - nhảy một lúc bốn cấp -, và lấy lon của viên thượng sỹ gắn cho viên thượng úy - giáng bốn cấp. Câu chuyện này được truyền nhanh như điện vào suốt các binh trạm hậu cần từ Bắc đến Nam, đã khiến các hạ sỹ quan cố gắng nắm vững tình hình binh trạm, hy vọng có ngày gặp Đinh đức Thiện để nhảy cấp. Còn các chỉ huy binh trạm thì ít ai dám rời binh trạm, tất cả đều sợ viên tướng mắt ốc nhồi râu quai nón này.
Vận dụng “tư tưởng Hồ chí Minh” - đương nhiên được Hồ cho phép - tướng Đinh đức Thiện đã có “sáng kiến” cất dấu vũ khí, xăng dầu, quân nhu v.v... vào đền chùa, nhà thờ, bệnh viện, trường học, khu chung cư của nhân dân. Như thế, nếu Mỹ tiến công vào đó thì dân sẽ bị chết theo và phía cộng sản Hà-nội tha hồ tố cáo Mỹ ném bom bắn phá giết hại dân lành, trẻ em; phá hoại bệnh viện, trường học đền chùa, nhà thờ v.v... Thí dụ như vụ ném bom vào bệnh viện Bạch Mai, vào trường mẫu giáo ở Trạm Chôi (Hà-nội) v.v... vì thật ra những chỗ đó đã được Đinh đức Thiện để lẫn vũ khí, quân nhu. Bệnh viện Bạch Mai bị sập một bộ phận, nhiều người bị chết, trong đó có chị ruột của giáo sư khoa sử trường đại học tổng hợp Hà-nội, là Trần quốc Vượng, một bồi bút hoạt đầu của cộng sản, đã bị Dương thu Hương chửi khéo trong “Anh hùng tỉnh lẻ”. Còn ở trường mẫu giáo ở Trạm Chôi thì cả các cháu bé lẫn cô dạy trẻ, lẫn mẹ các cháu đi thăm con sơ tán bị chết gần hai chục mạng, trong đó có em nhỏ vẫn hát trên đài (ở phiá Bắc trước 1975) bài :
“Bé bé bằng bông
Hai má hồng hồng
Bé đi sơ tán
Bế em đi cùng...”
Phóng viên nước ngoài đã đến quay phim, chụp ảnh những nơi đó và cả trong và ngoài nước Việt Nam đều chửi Mỹ, nhưng người ta đã quên chửi tướng Đinh đức Thiện và các cấp lãnh đạo của hắn.
Đinh đức Thiện là viên tướng ít về thăm vợ con. Những người không biết chuyện thì khen tướng Thiện mẫn cán, lo việc quân quên việc nhà. Sự thật không phải vậy. Nguyên nhân là do tính thô bạo, cục cằn nên có lần Đinh đức Thiện đã đánh đứa con trai duy nhất của mình đến mức bị mù một mắt, điếc một bên tai và trở thành điên điên, khùng khùng. Từ đó Đinh đức Thiện rất hãn hữu mới về nhà vì không dám nhìn đứa con tàn phế do chính mình gây ra.
Thô bạo, cục cằn nhưng Đinh đức Thiện cũng rất ma giáo và biết lợi dụng người khác khá tài tình. Thí dụ, sau 30-4-75, chính Đinh đức Thiện đã biết gọi tiến sỹ Nguyễn văn Hảo làm cố vấn kinh tế cho mình. Trong ban cố vấn còn cả Chung đức Mai. Và, tướng Thiện đã bày trò mở lớp nghiên cứu chính trị cho trí thức miền Nam, có khả đủ các khuôn mặt sắc nước của miền Nam cũ, như phó thủ tướng Nguyễn văn Hảo, thẩm phán tối cao pháp viện Trần thúc Linh, chuẩn tướng Nguyễn hữu Hạnh, dân biểu Ngô công Đức, Lý quý Chung, Kiều mộng Thu (về sau là nhân tình của Xích Điểu - tức Trần minh Tước, từng là tổng thư ký Hội nhà báo của cộng sản Hà-nội), Chung đức Mai v.v..., làm như trí thức miền Nam sắp có chỗ đứng “khả ái” trong xã hội cộng sản ! Có biết đâu, đó là bài bản đầu tiên mà Đinh đức Thiện biểu diễn để xem những trí thức đó “thức” hay “ngủ”, giữa lúc cộng sản còn chưa hoàn toàn làm chủ được về trị an. Cái lớp học mà một bên học sinh là các trí thức có hạng và “giáo sư” chính là me-xừ Vũ Khiêu, mới học hết cấp hai phổ thông trung học; nguyên là giáo viên tiểu học của trường miền núi Lạng Sơn (trước 1945). Sau 1945 vớ được cái ghế chủ nhiệm Việt Minh của thị xã Lạng Sơn, và đến phong trào Nhân văn - Giai phẩm (sau 1954) nhờ vào làm tà-lọt năng nổ ở cửa Tố Hữu nên được lôi cổ lên cái ghế Viện trưởng Viện mỹ học Marx-Lénine !!! Vậy mà cũng phải thảo luận, viết thu hoạch tự xỉ vả bản thân và xỉ vả lẫn nhau. Một số bản thu hoạch đầy ăn năn hối lỗi (đã chậm chấp nhận thân phận nô lệ cho cộng sản) được trích đăng trên báo Đại đoàn kết (Sài-gòn), như bài của thẩm phán Trần thúc Linh, Kiều mộng Thu, Lý quý Chung. Lớp học kết thúc, Đinh đức Thiện cho ra đời cái Hội trí thức yêu nước mà chủ tịch là vị tiến sỹ quê ở Sa-đéc, viết báo khoe thành phần lý lịch rằng bố đẻ làm nghề quét rác ở chợ thị xã Sa-đéc !!! Ô hô ! Thương hại quá thay cho ông tiến sỹ Lê văn Thới !!!
Đinh đức Thiện nổi tiếng nói tục và ngang bướng (chắc ỷ anh em, họ hàng làm lớn) đến độ có lần cùng đi công tác chung với Tố Hữu, ủy viên bộ chính trị kiêm bí thư trung ương cộng đảng phụ trách trưởng ban tuyên huấn trung ương, tướng Thiện vẫn chửi lính, nói tục, khiến Tố Hữu quê với thuộc hạ. Tố Hữu lựa lời nói với tướng Thiện :”Bao giờ anh mới bớt nói tục hả anh Thiện ?”. Tướng Thiện cười vào mặt Tố Hữu mà rằng :”Bao giờ anh thôi làm thơ thì tôi bớt nói tục.” Tố Hữu bẻ mặt, đánh bài lờ. Và để chứng minh tính cách độc đáo của mình, khi trở về qua Nam Hà, gặp một cuộc họp báo của tỉnh, tướng Thiện cười khà khà :
- Tụi mày chỉ dám đăng thơ của anh Tố Hữu, còn thơ của tao có báo nào dám đăng không ?
Rồi tướng Thiện đọc luôn :
“Thế gian nhất đẹp là l...
Nhất ngon là muối, nhất khôn là tiền.”
Và thấy cái ảnh của lão nghệ sỹ nhiếp ảnh Võ an Ninh chụp các nữ xã viên đang hái chè trên đồi chè Đào Giã (Phú thọ), tướng Thiện đề nghị nên chú thích vào tấm ảnh đó như sau :
“Em đi lên núi hái chè
Gặp thằng bỏ mẹ nó đè em ra
Nó bóp rồi nó lại xoa
Ngoảnh đi ngoảnh lại nó đút cái mả cha nó vào !”
Tất nhiên cả hội nghị cười hề hề, kể cả Lê Điền, bí thư tỉnh ủy Nam-hà, người đang chủ trì cuộc họp báo.
“Nhất khôn là tiền”, quả thật đó là sự mơ ước của tất cả những tụi cộng sản chóp bu từ thời kỳ đó, cho đến sau này là các Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Võ văn Kiệt v.v... Đương nhiên trong đó có ba anh em nhà Lê đức Thọ, Mai chí Thọ và Đinh đức Thiện.
Thời gian ở Sài-gòn sau 30-4-75, tướng Thiện đã thường xuyên đến tòa biệt thự của ông Đức Âm, ở đường Gia-long để “chiêm ngưỡng” kho tàng đồ cổ ở đó. Và, cuối cùng thì gần như trọn vẹn đồ cổ của nhà Đức Âm, chủ Đại Nam ngân hàng, lọt hết vào tay Đinh đức Thiện !
Mặc thì xuề xòa, nhưng tướng Thiện ăn và chơi lại hết sức xa hoa, đúng kiểu của Hồ chí Minh. Vốn tính thích đi săn, nên tướng ra Thiện ra lệnh cho tổng cục hậu cần cộng quân sản xuất những loại đạn đặc biệt cho khẩu súng săn đặc biệt để đi săn ngỗng trời, vịt trời trên sông Hồng. Tướng Thiện hay đi săn với tướng Phan trọng Tuệ, bộ trưởng giao thông và bưu điện. Nhà riêng trần thiết như cung điện của vua. Ăn thì ngọc dương, yến sào, bào ngư, gan gà thiến; rượu thì uống rượu ngâm nhung, sâm, cắc kè, rắn hổ v.v... hoặc huyết chim sẻ.
Sau cái chết của đại tướng Lê trọng Tấn ít tháng thì tướng Đinh đức Thiện đột ngột lăn ra chết. Tin chính thống thì nói tướng Thiện ngộ nạn khi đi săn. Nghĩa là bị một viên đạn bắn vào đầu. Cách giải thích đó nghe có vẻ hợp lý vì tướng Thiện là người hay đi săn. Nhưng nó không đầy đủ ở chỗ ai bắn tướng Thiện ? Hay tự tướng Thiện bắn vào đầu mình ? Với cây súng săn dài gần hai mét đó sao ?
Ngót nghét bốn chục năm lăn lộn ngoài chiến trường mà không bị thương vì bom đạn, thế mà cuối đời, trung tướng Đinh đức Thiện, bộ trưởng bộ dầu khí kiêm tổng tham mưu phó cộng quân; kiêm chủ nhiệm tổng cục hậu cần công quân; là ủy viên dự khuyết trung ương cộng đảng từ khóa 3 và đến khóa 4 là ủy viên trung ương chính thức trong số 101 ủy viên chính thức của ban chấp hành trung ương cộng đảng, lại chết vì đạn bắn... vịt trời.
Đúng là quả báo nhãn tiền. Bởi cái sự thật mà cộng đảng Việt Nam cố tình che dấu về cái chết của Đinh đức Thiện cuối cùng cũng lộ ra ngoài. Kẻ bắn chết tướng Thiện chính là đứa con trai duy nhất của tướng Thiện. Đứa con bị tướng Thiện đánh mù mắt, hỏng một tai và trở thành khùng khùng đó đột nhiên lên cơn điên, xách khẩu súng săn mà Đinh đức Thiện đang chuẩn bị đi săn vịt trời, bắn vào đầu Đinh đức Thiện, viên tướng thân cận của họ Hồ, cò bề dày tội ác với nhân dân và đất nước Việt Nam. Thiện mà ác nên phải chết thảm khốc như vậy, lẽ trời thật là công bằng.
Trời công bằng đến mức cha con thiếu tướng Phan Bình cũng bị đạn của “đồng chí” mình hạ sát.
Phan Bình là một viên tướng nắm về tình báo quân đội của cộng sản Việt Nam. Nói một cách khác thì Phan Bình dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Lê đức Thọ.
Từ sau 1975, Lê đức Thọ càng quan tâm đến quân đội nhiều hơn. Từ việc đưa tên đao phủ tàn sát giáo dân ở Ba làng an là Đồng sỹ Nguyên vào bộ chính trị giữ ghế phó thủ tướng đến việc cho Lê đức Anh thoát ra ẩn số để nay leo lên đến chức chủ tịch nước, Lê đức Thọ lo củng cố bộ máy tình báo quân đội, dùng làm công cụ giám sát Miên, Lào cũng như mở rộng sự hoạt động ra các nước láng giềng, bởi Lê đức Thọ không hoàn toàn tin tưởng vào cơ quan an ninh của ngành công an là nơi còn nặng dấu ấn Trần quốc Hoàn và phe cánh Trường Chinh. Chẳng thế mà vụ tên Tàu Hồng-kông in bạc giả ở Sài-gòn bỏ trốn mà an ninh của ngành công an bất lực. Sau phải nhờ đến tình báo quân đội của Phan Bình và Bạch Vân mới tóm được cổ tên in bạc giả đang trên đường lẩn trốn ở đất Miên.
Cũng sau 1975, các vụ âm mưu binh biến của đại tá Huỳnh văn Nghệ cho đến các vụ lớn nhỏ khác, hầu hết do tình báo quân đội phát hiện cho Lê đức Thọ. Việc Văn tiến Dũng ngồi ghế bộ trưởng quốc phòng để bà vợ Đặng thị Kỳ công khai khánh thành các dịch vụ buôn lậu trong quân đội đã tạo ra một loạt các nhà tư sản quân sự đỏ, cho đến việc “cái bí mật về 16 tấn vàng” mà Nguyễn văn Hảo, phó thủ tướng chính quyền Nguyễn văn Thiệu, khoe là đã giữ lại được cho ngân khố “quốc gia” (của cộng sản) cũng như việc mua bán máy bay của Tổng cục hàng không khiến cho viên tướng giữ ghế Tổng cục trưởng bị bắt giam không thời hạn, cho đến những cái chết của các đại tướng Hoàng văn Thái và Lê trọng Tấn, kể cả cái chết đột ngột của Phạm Hùng lúc đang giữ chức thủ tướng mà trong dân gian đã thắc mắc rằng :
“Nghe tin đồng chí Phạm Hùng
Chết ngã lăn đùng, chưa rõ nguyên nhân”.
Chắc chắn đều có bàn tay của Lê đức Thọ. Như thế có nghĩa là bàn tay Lê đức Thọ đã ra lệnh cho bộ hạ thi hành. Là một tướng tình báo quân đội, dưới quyền trực tiếp của Lê đức Thọ, tướng Phan Bình có thể thi hành lệnh của Lê đức Thọ mà cũng có thể là người biết về những “bí ẩn” đó. Đấy là nguyên nhân dẫn đến cái chết của cha con tướng Phan Bình.
Những chuyện nêu trên một lần nữa thức tỉnh toàn dân Việt Nam (và thế giới) rằng mô hình cộng sản ở Việt Nam là như thế nào. Thân phận người dân đã đành, đến như thân phận của lính và công an, là công cụ chuyên chính của tập đoàn cộng sản chóp bu tiếm quyền, cũng chỉ là những con tốt đen sẵn sàng bị thí bỏ vì một nước cờ nào đó của tụi tiếm quyền.
Những kẻ đã chết, dù bị “đồng chí mình” làm thịt hay bị con đẻ bắn chết, đều chưa xứng tội ác của họ đối với nhân dân Việt Nam. Họ là những tên đao phủ tự nguyện, đã giết hại biết bao thanh niên ưu tú của cả hai miền của Việt Nam. Trong họ, chưa một ai là viên tướng chân chính, vì cả bọn đều lợi dụng tình nghĩa đồng bào để đánh lừa những người đối lập, đẩy vào ngục tù một cách hèn hạ. Những tướng lãnh của từ Trần Hưng Đạo, Lê Lợi đến Quang trung cũng không tàn bạo với quân xâm lược phương Bắc bại trận mà đều hành xử đúng tinh thần thượng võ và nhân đạo.
Kẻ chết cũng đã chết rồi, nhưng kẻ sống vẫn còn đang gây tội. “Nhắc đến” kẻ đã chết để cùng nhau tỉnh táo đừng để “kẻ sống” lừa phỉnh, chia rẽ mà làm suy yếu lực lượng dân chủ, tự do ở cả trong và ngoài Việt nam.
Việt Thường
Đảng viên nghĩ gì về chuyện liên minh?
Họa mất nước nhãn tiền
Chấp nhận liên minh người cộng sản phải chấp nhận một tình thế mới, họ có thể mất quyền lợi cá nhân lẫn vị trí trong chiếc ghế quyền lực nhưng bù lại đất nước sẽ thoát ra khỏi vòng kềm tỏa nặng nề của Trung Quốc với họa mất nước nhãn tiền.
Trước việc Trung Quốc xây dựng một loạt các căn cứ quân sự trên các dãy đão tại Trường Sa mặc dù nhà nước chưa có một tuyên bố gì khác hơn so với trước đây nhưng trên báo chí chính thống nhiều ý kiến của các đảng viên cao cấp cho thấy sự uất ức lẫn lo ngại cho tình hình an ninh đất nước đang là mối lo hàng đầu hiện nay.
Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, đại biểu Quốc hội liên tiếp nhiều nhiệm kỳ đã tuyên bố rằng hành động xây dựng của Trung Quốc còn nguy hiểm hơn dàn khoan HD-981 trước đây. Nó cho thấy quyết tâm dùng sức mạnh quân sự để khống chế Việt Nam, khẳng định đường lưỡi bò phi pháp của họ. Trước nguy cơ này, trí thức, đảng viên không thể im lặng theo nhà nước mà không ít người trong đảng cho rằng liên minh với các nước, đặc biệt là Mỹ, sẽ kéo Việt Nam ra khỏi tầm tay Trung Quốc và đây là cơ hội khó kiếm lần thứ hai.
Trong giai đoạn này tôi thấy Hoa Kỳ họ sẵn sàng chìa tay ra để nắm lấy bàn tay Việt Nam để cùng với Việt Nam giữ lấy Biển Đông. Việc giữ Biển Đông không chỉ vì quyền lợi của Việt Nam mà còn vì quyền lợi Hoa Kỳ.
-TS Nguyễn Thanh Giang
TS Nguyễn Thanh Giang, một nhà bất đồng chính kiến kiên trì trong hàng chục năm qua cho biết nhận xét của ông:
“Trong giai đoạn này tôi thấy Hoa Kỳ họ sẵn sàng chìa tay ra để nắm lấy bàn tay Việt Nam để cùng với Việt Nam giữ lấy Biển Đông. Việc giữ Biển Đông không chỉ vì quyền lợi của Việt Nam mà còn vì quyền lợi Hoa kỳ. Việc ngăn chặn âm mưu bành trướng Đại Hán cũng là quyền lợi không chỉ là của toàn nhân loại mà là quyền lợi cũng sát sườn của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ phải ngăn chặn cho được sức vươn lên cạnh tranh không lành mạnh của Trung Quốc.
Với một điều kiện thuận lợi như vậy Đảng Cộng sản Việt Nam cần và phải xúc tiến nhanh việc liên minh liên kết với Hoa Kỳ. Liên minh với Hoa Kỳ hay bất cứ nước nào trên thế giới không phải để chống Trung Quốc mà để giữ gìn lãnh hải lãnh thổ của mình. Đấy là liên minh chính đáng cần phải tuyên bố và thực hiện. Tiếc rằng cho đến bây giờ cái chủ trương đúng đó không được thực thi và Việt Nam vẫn giữ một khoảng cách khá xa đối với Hoa Kỳ đồng thời lại vẫn hô những khẩu hiệu hoàn toàn vô nghĩa lý là 16 chữ vàng 4 tốt. Điều này lệ thuộc vào ý thức hệ đã trở nên lạc hậu phi thực tế.”
Vai trò của Đảng sẽ ra sao?
Trở ngại quan trọng nhất là yếu tố ý thức hệ mà đảng cộng sản hai nước liên quan quá chặt chẽ với nhau đã khiến cho Ban chấp hành Đảng cộng sản Việt Nam không đủ quyết tâm tách rời ra khỏi quỹ đạo của nó mặc dù cả hai bên đều biết rằng chủ nghĩa xã hội nay chỉ còn là cái vỏ bọc đã lỗi thời, lạc hậu. Trung Quốc chạy theo mục tiêu bá quyền nước lớn và Việt Nam nằm trên con đường xâm lấn của Bắc Kinh. Chỉ có hai cách tránh họa xâm lăng của Trung Quốc, một là thỏa hiệp nhắm mắt chờ đợi một biến cố nào đó xảy ra, cam chịu mọi sự ép bức trong đó mất dần chủ quyền Biển đảo, một phần xương thịt quan trọng của đất nước.

Thứ hai, từ bỏ chủ nghĩa xã hội, dứt khoát chặt đứt 16 chữ 4 tốt quay hẳn về phía khác và chấp nhận liên minh với các nước để tạo ra vòng đai bảo vệ lấy mình bằng sức mạnh liên minh. Để từ đó yên tâm xây dựng thể chế chính trị nào phù hợp với ý nguyện toàn dân vì một đất nước thật sự phú cường thịnh vượng.
Rào cản lớn nhất cho vấn đề liên minh vẫn từ cấp cao nhất trong Bộ chính trị. Quyết sách liên minh mặc dù là lợi ích to lớn cho đất nước nhưng khi quyết định chọn lựa phương cách này thì Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ ngay lập tức đối diện với thử thách là liệu vai trò của Đảng sẽ ra sao khi liên minh hình thành với hàng tá điều mà Đảng phải từ bỏ.
Ông Lê Công Giàu, một đảng viên kỳ cựu, nguyên Phó Bí thư thành đoàn thành phố Hồ Chí Minh cho biết nhận định của ông trong tình hình hiện nay:
“Hiện nay tình hình Việt Nam đang đòi hỏi sự đổi mới, một sự đổi mới cơ bản chứ không phải từng chút hay từng phần, tất nhiên là phải có thời gian. Bây giớ số trí thức trong đảng suy nghĩ của họ là không phải bám vào những học thuyết, những lý thuyết không còn phù hợp. Người ta căn cứ trên thực tế những việc gì làm có lợi cho đất nước thì người ta sẵn sàng chấp nhận. Không như cách đây vài chục năm tình hình nó khác, suy nghĩ nó khác còn bây giờ người ta sẵn sàng từ bỏ những cái cũ để đi theo cái mới. Tất nhiên hợp tác phải thật sự đem lại lợi ích cho đất nước vì chúng ta biết rằng bất cứ nước nào thì họ cũng sẽ tính tới quyền lợi của họ trước do đó những cái hợp tác, quan hệ nào mà thật sự đem lại lợi ích cho đất nước thì tôi nghĩ họ sẵn sàng, ngay bản thân tôi cũng sẵn sàng.”
Ông Lê Công Giàu xác định một số lớn nhân sĩ trí thức, ngay cả đảng viên cũng đều muốn thay đổi theo hướng liên minh, vì vậy họ chấp nhận không cần quyền lợi vì sự an nguy của dân tộc là trên hết, ông Giàu cho biết:
“Đối với người dân, đối với những anh em trí thức qua nói chuyện thì tôi hiểu anh em rằng tình hình bây giờ nó đã thay đổi nhiều lắm rồi, thế giới bây giờ nó khác với cách đây vài chục năm cho nên bây giờ mọi suy nghĩ, mọi hành động người ta căn cứ vào trong những tình hình mới. Đối với anh em trí thức ở Việt Nam họ nghĩ rằng là trong tình hình hiện nay cái gì có lợi cho đất nước thì đều nên làm.
Trong xu thế hiện nay Trung Quốc đang gây khó khăn như thế không thể nào hợp tác hay nghiêng về phía Trung Quốc được mà phải đi với những nước cùng có hướng không để cho Trung Quốc chi phối, có những hành động có hại cho tình hình chung của từng nước cũng như cả thế giới. Hiện nay những suy nghĩ như vậy đang rất phổ biến, người ta căn cứ vào những hành động có lợi cho đất nước thì người ta sẵn sàng ủng hộ.”
Theo tôi nghĩ thì chắc là thế nào cũng có sự biến động phải thay đổi chứ không thể cứ y như cũ được là vì tôi nói thật người cộng sản cũng hết sức cơ hội chứ không phải là cái anh trung thành.
-Ông Trần Đĩnh
TS Nguyễn Thanh Giang cho rằng quyết định tham gia vào một liên minh để giữ gìn bờ cõi là tất yếu và không thể từ khước dù bất cứ lý do gì:
“Tiếng gọi thiên liêng của tổ quốc, tiếng gọi thiêng liêng của dân tộc là phải nhanh chóng thiết lập mối liên minh liên kết với những lực lượng tiến bộ trên thế giới, đặc biệt là đối với Hoa Kỳ để giữ lấy chủ quyền, giữ lấy lãnh hải lãnh thổ của dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam phải làm cho được nếu không thì Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ phải có tội lớn đối với đất nước và dân tộc này. Cho nên nếu mà vì liên minh liên kết với Hoa Kỳ mà đảng có thiệt thòi quyền lợi này quyền lợi khác thì tôi khuyên đảng và dặc biệt là ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng phải biết hy sinh một phần quyền lợi của mình để giữ lấy giang sơn tổ quốc. Giữ lấy quyền lợi của đất nước của dân tộc.”
Ông Trần Đĩnh, một đảng viên lâu đời và là người chấp bút cho việc viết tiểu sử chủ tịch Hồ Chí Minh, tác giả của quyển Đèn Cù mô tả những câu chuyện thâm cung bí sử của Đảng Cộng sản Việt Nam cho rằng người cộng sản không phải lúc nào cũng trung thành với ý tưởng hay chủ thuyết mà họ đưa ra. Sau bao nhiêu năm sống chung nhà văn Trần Đĩnh cho rằng người cộng sản sẽ chấp nhận một trào lưu khác mà theo ông đó là chủ nghĩa cơ hội:
“Theo tôi nghĩ thì chắc là thế nào cũng có sự biến động phải thay đổi chứ không thể cứ y như cũ được là vì tôi nói thật người cộng sản cũng hết sức cơ hội chứ không phải là cái anh trung thành. Ta cứ xem lịch sử đảng thì thấy nay theo người này mai theo người kia là bình thường. Theo tôi đến chỗ bế tắc thì người ta rất dễ đi đến chỗ phải tính lại chứ không phải cứ tập trung bảo thủ đến cùng.
Lịch sử đã chứng tỏ rằng cộng sản lúc cần đến thì rất dễ thay đổi. Đang là đầu tàu cách mạng người ta có thể đánh đầu tàu cách mạng được th2i bây giờ đi với Mỹ với phương Tây theo tôi không có gì ghê gớm cả. tại vì thế này đảng không còn nguyên vẹn một khối nữa, nó có những biến hóa làm cho họ phải suy nghĩ lại, họ không còn là một khối thống nhất, chưa bao giờ có chuyện nội bộ mâu thuẫn đánh nhau như vậy.”
Biến cố chính trị lớn nhất trong năm có lẽ là chuyến đi Hoa Kỳ sắp tới của Tổng bí Thư Nguyễn Phú Trọng. Mặc dù chuyến đi này chỉ là hình thức ngoại giao nhưng qua nó giới quan sát dễ dàng suy luận rằng ông Trọng dù sao cũng đang chấp nhận một vai trò khác trong cuộc chiến âm thầm với Trung Quốc mà ông luôn được xem là tiên phong trong việc giữ gìn mối hữu nghị.
Khi được hỏi liệu ông TBT có nhân cơ hội này mà xoay trục về hướng khác hay không, ông Trần Đĩnh người nhiều năm sống và nghiên cứu về Trung Quốc cho biết cảm nghĩ của ông:
“Theo tôi nghĩ rất có khả năng là vì Trung Quốc đang rất căng với Hoa kỳ mà lại đồng ý đi thì theo tôi đấy là tín hiệu ông ấy muốn tỏ rằng ông ấy không phải như ngưới ta nói chỉ kiên trì muôn đi với Trung Quốc còn ông ấy thật tình như thế nào thì không biết.
Trung Quốc nó có cái chữ “hình thế bức nhân” trong chính trị. Hình thế là cái situation, cái tình hình. Bức nhân là nó bắt buộc con người không thể không làm.”
Nhân sĩ trí thức cho rằng cái “không thể không làm” đó sẽ là khởi điểm cho một quyết định có tính cách xoay đổi cả một chính sách. Đây là cơ hội vô cùng to lớn nếu TBT Nguyễn Phú Trọng nắm lấy và khai thác. Nó cũng sẽ thay đổi tất cả mọi ác cảm dành cho ông qua thành kiến cho rằng ông quá thân với Trung Quốc đến nỗi vuột cả cơ hội lớn của dân tộc.






Các chuyên mục 







