Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Sáu 2026
T2T3T4T5T6T7CN
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30          
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 5
 Lượt truy cập: 29339531

 
Khoa học kỹ thuật 15.06.2026 10:35
Cải tử hoàn sinh để thành bất tử: Y khoa mới có thể giúp người chết sống lại
09.11.2014 00:37

Một phương pháp hiện đại trong đó bao gồm việc thay máu của bệnh nhân bằng nước muối có thể đưa người đang ở bên bờ vực của cái chết quay trở lại.

  • 7 tháng 10 một 2014

"Khi thân nhiệt của bạn là 10 độ C, não ngưng hoạt động, tim ngưng đập, không còn máu, có lẽ mọi người đều đồng ý là bạn đã chết," ông Peter Rhee tại Đại học Arizona, Tucson, nói.

"Nhưng chúng tôi vẫn có thể đưa bạn quay trở lại".

Rhee hoàn toàn không thổi phồng. Cùng với cộng sự Samuel Tisherman, từ Đại học Mary Land, College Park, ông đã chứng minh rằng điều này là có thể, nếu cơ thể bị làm ngưng hoạt động tạm thời.

Toàn bộ quy trình này cho đến nay chỉ được thử trên động vật. Tuy nhiên đây là phương pháp y học hiện đại nhất từ trước đến nay, bao gồm việc rút toàn bộ máu ra khỏi cơ thể và giữ cơ thể ở nhiệt độ thấp hơn thân nhiệt bình thường 20 độ C.

Sau khi các vết thương đã được chữa trị, máu lại được bơm trở lại qua các mạch và cơ thể dần ấm lại.

"Sau khi máu được bơm vào, cơ thể sẽ hồng hào trở lại ngay lập tức," Rhee nói.

Tới một nhiệt độ nhất định, tim bắt đầu tự đập trở lại.

"Một điều khá thú vị là ở 30 độ C, trái tim bắt đầu đập trở lại lần đầu tiên ... Và nó trở nên ổn định sau khi thân nhiệt dần ấm hơn."

Điều đáng kinh ngạc hơn nữa là những động vật được thử nghiệm có rất ít triệu chứng bị rối loạn về sức khỏe sau khi tỉnh dậy.

"Chúng có thể loạng choạng một chút, nhưng lại quay trở lại các hoạt động bình thường ngay trong ngày hôm sau," ông Tisherman nói.

Tử thi sống trở lại

Tisherman đã thu hút nhiều sự quan tâm của báo chí quốc tế khi công bố trong năm nay rằng nhóm của ông đã sẵn sàng thử nghiệm lên cơ thể con người.

Các bệnh nhân đầu tiên sẽ là các đối tượng bị chấn thương nặng đến nỗi trái tim của họ đã ngừng đập, đồng nghĩa với việc phương pháp này là hy vọng cuối cùng của họ.

CNN đặt tên cho phương pháp này là "lừa phỉnh tử thần", trong lúc New York Times gọi đây là: "Giết một người để cứu lấy tính mạng anh ta".

Hành trình tìm kiếm phương pháp mang người chết trở lại của Tisherman bắt đầu khi ông còn ngồi ghế nhà trường, dưới sự giảng dạy của Peter Safa.

Vào những năm 1960, nghiên cứu của Safar đã tạo tiền đề cho phương pháp hô hấp nhân tạo - bao gồm việc dùng hai tay tạo áp lực lên ngực để giúp tim đập trở lại.

Công trình của Safar đã dần thay đổi cách con người nhìn nhận về cái chết.

"Chúng ta đều nghĩ rằng cái chết là một khoảnh khắc quyết định - sau khi chết, bạn không thể quay trở lại," Sam Parnia, từ Đại học Tiểu bang New York, nói.

"Điều này từng đúng trước đây. Nhưng từ khi phương pháp hô hấp nhân tạo ra đời, chúng ta bắt đầu hiểu rằng các tế bào trong cơ thể vẫn chưa hoàn toàn chết dù chúng ta đã qua đời nhiều tiếng trước."

"Ngay cả khi đã trở thành một tử thi. Bạn vẫn có thể quay trở lại".

Ranh giới giữa sự sống và cái chết đang ngày càng mờ nhạt

Ranh giới mờ nhạt

Tisherman giờ đây nghĩ rằng cái chết chỉ đơn thuần là khi các bác sỹ hết hy vọng hồi tỉnh bệnh nhân.

Tuy nhiên nhiều người vẫn có thể quay trở lại từ cái chết.

Hồi tháng 12 năm 2013, một báo cáo trên tạp chí nghiên cứu Resuscitation đã gây chấn động dư luận khi cho biết 50% các bác sỹ phẫu thuật đã chứng kiến 'hiện tượng Lazarus', khi trái tim của bệnh nhân bất ngờ đập trở lại dù các bác sỹ đã mất hết hy vọng.

Việc tạo áp lực buộc tim đập trở lại chỉ là một nửa nhiệm vụ của bác sỹ. Chính tình trạng thiếu oxy sau cơn tim là điều gây hại nghiêm trọng đến các cơ quan quan trọng trong cơ thể, nhất là bộ não.

"Cứ mỗi phút các bộ phận này không được tiếp cận với oxy, chúng bắt đầu chết đi". Tisherman cho biết.

Tuy nhiên ở một nhiệt độ thấp hơn, các tế bào bắt đầu hoạt động chậm lại, trao đổi chất ít đi và giúp làm giảm thiệt hại do thiếu oxy.

Điều này, khi kết hợp với các máy móc giúp tuần hoàn máu và bơm oxy vào máu trong lúc đợi tim phục hồi trở lại, sẽ giúp kéo dài thời gian từ lúc cơn tim xảy ra cho đến khi não chết đị.

Tuy nhiên phương pháp này lại rất khó áp dụng với những người mà cơn tim đi kèm với cách vết thương do chấn động mạnh, ví dụ như bị bắn hoặc tai nạn giao thông.

Chính vì lý do này mà Tisherman muốn hạ thân nhiệt xuống từ 10-15 độ C, giúp các bác sỹ có thêm hai tiếng hoặc nhiều hơn để phẫu thuật.

Điều kinh ngạc hơn cả là nhóm của ông đã rút hết máu ra khỏi cơ thể bệnh nhân và thay vào bằng nước muối.

Sau khi một người đã chết, quá trình trao đổi chất dừng lại, và các tế bào không còn cần máu để duy trì sự sống. Nước muối là giải pháp tốt nhất để giữ lạnh cho cơ thể bệnh nhân, Tisherman nói.

Gần 90% các động vật thí nghiệm đã phục hồi trở lại sau khi được bơm máu vào lại cơ thể.

Quan sát của nhóm Tisherman cũng cho thấy não của các mẫu thí nghiệm không hề bị tổn thương sau phẫu thuật.

Với dự án này, Tisherman hy vọng rằng lần đầu tiên trong lịch sử loài người, một người đã chết trước khi được đưa vào bệnh viện, có thể sống trở lại.

Bản gốc tiếng Anh của bài viết đã được đăng trên trang BBC Future.



Vì sao con người không trường sinh bất tử?

SKĐS - Vì sao có người sống thọ, có người không thọ? Tuổi thọ do yếu tố nào quyết định? Vì sao con người không thể trường sinh bất tử? Và còn nhiều câu hỏi về tuổi thọ của con người chưa có lời giải đáp thỏa đáng. Cho đến gần đây, các nhà khoa học đã khám phá ra một phần bí ẩn của tuổi thọ.

Vì sao con người không sống mãi?

Vì sao có người sống thọ, có người không thọ? Tuổi thọ do yếu tố nào quyết định? Vì sao con người không trường sinh bất tử? Và còn nhiều câu hỏi về tuổi thọ của con người chưa có lời giải đáp thỏa đáng. Cho đến gần đây, các nhà khoa học đã khám phá ra một phần bí ẩn của tuổi thọ. Mời Quý bạn đọc cùng tìm hiểu.

Con người không thể sống mãi vì tế bào chỉ phân chia 50 lần mà thôi

Các nhà khoa học phát hiện: trong cơ thể, quá trình lão hóa được kiểm soát không chỉ bởi các đồng hồ sinh học đặc biệt của toàn cơ thể mà còn rất nhiều “đồng hồ” đặt ở trong từng tế bào. Trước đây các nhà khoa học cho rằng, các tế bào trong cơ thể có số lần phân chia vô hạn. Nhưng công trình nghiên cứu của Hayflik ( Hoa Kỳ) đã chứng minh rằng chỉ có các tế bào ung thư mới phân chia vô hạn, còn tất cả các tế bào bình thường chỉ phân chia đến giới hạn 50 lần rồi ngừng phân chia và chết đi. Hayflik đã làm đông lạnh tế bào đã phân chia được 30 lần. Sau một thời gian lại hoạt hóa cho tế bào này phân chia tiếp. Thế nhưng nó vẫn nhớ là đã phân chia 30 lần trước khi đông lạnh rồi, bây giờ nó chỉ phân chia tiếp 20 lần nữa là đủ 50 lần phân chia rồi ngừng hẳn. Nhà khoa học còn phát hiện ra rằng: sự phân chia đầy đủ 50 lần chỉ có ở các tế bào từ bào thai, còn các tế bào ở người trưởng thành thì người càng già số lần phân chia của tế bào càng ít. Đây gọi là hiệu ứng Hayflik.

Sơ đồ hiệu ứng Hayflik
Sơ đồ hiệu ứng Hayflik

Nhưng tác giả của phát minh này cũng như nhiều nhà khoa học khác, không giải thích được nguyên nhân vì sao tế bào chỉ phân chia số lần hữu hạn là 50.

Tuổi thọ giảm vì phân tử ADN bị tiêu hao sau mỗi lần phân chia

Chuỗi xoắn kép phân tử ADN do Watson và Crick tìm ra là cơ sở di truyền của tế bào. Nhà khoa học Alexei Olovnikov (Liên Xô ) nêu giả thuyết là cứ mỗi lần phân chia của tế bào, phân tử ADN lại ngắn đi một ít. Cho đến khi sự rút ngắn này đụng đến một gen quan trọng cho sự sống thì tế bào sẽ chết. Ông giải thích hiện tượng này như sau: các phân tử ADN của mỗi tế bào khi phân chia thì hai sợi xoắn kép giãn ra, tách đôi để tạo ra chuỗi xoắn mới, với hai dãy enzym tích tụ từ quá trình này không đủ khả năng lặp lại toàn bộ cả hai sợi phân tử ADN. Hậu quả là một trong hai sợi xoắn kép bao giờ cũng bị ngắn hơn sợi kia. Cứ mỗi lần tách ra là phân tử ADN lại mất một ít thành phần của nó. Sự co ngắn của các phân tử ADN được Olovnikov gọi là sự “co mép lề” hay “cắt khúc cuối”.

Mô hình cấu trúc phân tử AND
Mô hình cấu trúc phân tử AND

Ông giải thích rằng: các chuỗi ADN con được tạo thành do di chuyển của men ADN - Polymeraza dọc theo chuỗi mẹ. Các trung tâm nhận biết và trung tâm xúc tác của men này nằm cách nhau. Khi trung tâm nhận biết (ví như đầu tàu hỏa) đi đến chuỗi ADN mẹ thì trung tâm xúc tác (ví như toa cuối đoàn tàu) ngừng ở cách đoạn cuối ADN một khoảng và khoảng còn lại đó không được sao chép. Một lý do nữa là ADN còn bị thu ngắn do việc tổng hợp các chuỗi sao chép được bắt đầu với những phân tử ARN (Axit Ribonucleic) ngắn. Sau khi tổng hợp xong, chuỗi sao chép ARN được loại ra, vì vậy bản sao thường ngắn hơn bản gốc.

Con người không thể trường sinh bất tử

Hiện tượng “co mép lề” ADN cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào lý giải được rõ ràng. Nhà khoa học Barbara Mc Clintock khi nghiên cứu về ngô đã thấy rằng nhiễm sắc thể trở nên không ổn định một cách lạ lùng khi chúng bị phân chia ra. Còn Herman Muller, cũng có nhận định tương tự Barbara khi nghiên cứu loài ruồi giấm. Ở các đầu mút của nhiễm sắc thể bình thường phải tồn tại một cấu trúc phân tử nào đó có tác dụng ổn định chúng. Herman Muller gọi chúng là “telomeres” (theo tiếng Hy Lạp telo có nghĩa là phần cuối). Chính telomeres nằm ở chuỗi tế bào sẽ chết. Nhưng chiều dài của telomeres có tỷ lệ với tuổi thọ hay không? Nhiều nghiên cứu trên thế giới đang tìm lời giải đáp.Với những kỹ thuật hiện đại, người ta đã có thể tách riêng các telomeres ra khỏi chuỗi ADN làm rõ sự rút ngắn telomeres, cũng như đo được nhịp điệu co ngắn của telomeres chia tế bào.

Mô hình tách riêng các telomeres ra khỏi chuỗi AND
Mô hình tách riêng các telomeres ra khỏi chuỗi AND

Người càng cao tuổi thì telomeres của họ càng ngắn. Theo một tính toán: telomeres của nguyên bào sợi là nơi sản sinh ra chất colagen, cứ mỗi năm mất khoảng 20 phân tử. Đến khi các telomeres trở nên quá ngắn thì các nhiễm sắc thể sẽ kém bền vững, chúng không thể bám vào được màng nhân tế bào, chúng bị dính vào nhau và có hình dạng kỳ dị. Kết quả là các tế bào không thể phân chia được nữa.

Các nhà nghiên cứu đang xem xét đánh giá kích thước của telomeres như một “thước đo”chuẩn xác tuổi thọ của tế bào. Nhà khoa học Calvin Harley còn cho rằng nếu khi sinh ra telomeres của một người nào đó ngắn hơn bình thường, thì các tế bào của người đó sẽ có tuổi thọ ngắn hơn một cách tương ứng.

Có lẽ các telomeres như một thứ bảo hiểm làm chậm hiệu ứng của thời gian đối với các nhiễm sắc thể. Hy vọng không lâu nữa khoa học sẽ tìm ra “thước đo cuộc đời” yếu tố quyết định tuổi thọ, để tìm ra phương pháp làm tăng tuổi thọ cho con người.

ThS. Phạm Vũ Hoàng

Những quan niệm khác nhau về sự bất tử của con người

PGS.TS. Nguyễn Tấn Hùng
Đại học Đà Nẵng

Mong ước về sự bất tử (immortality) của cá nhân là một hiện tượng tâm lý chung của nhân loại. Bất kỳ người nào, dù là duy tâm hay duy vật, hữu thần hay vô thần ít nhiều đều trăn trở, đều suy tư về vấn đề này. Đi tìm câu trả lời cho nó không chỉ có tôn giáo, triết học mà có cả những nhà khoa học có đầu óc vĩ đại nhất.

Cơ thể con người không bất tử; đó là một thực tế không ai có thể chối cãi được. Trước đây đã từng có nhiều người trong đó có những vị hoàng đế (như Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế …) đã uổng công vô ích trong việc tìm kiếm một loại thuốc trường sinh bất tử cho cơ thể của mình. Ngày nay, nếu có ai nói đến một phương thuốc như vậy thì chắc chắn sẽ bị coi là một kẻ lừa đảo hoặc là một người đầu óc có vấn đề. Vậy, vấn đề còn lại được đặt ra là: ý thức, tinh thần con người có bất tử hay không? đó là một câu hỏi muôn thuở. Ở đây có những cách giải đáp khác nhau, thậm chí đối lập nhau. Tùy theo cách trả lời cho vấn đề này mà mỗi người có những cách sống và hoạt động nhất định để đạt đến sự bất tử cho mình.

1. Quan điểm tôn giáo về sự bất tử của con người

Ngay từ thời cổ đại, Kinh Vêđa mà trực tiếp là Kinh Upanishad ở Ấn Độ đã lý giải vấn đề này như sau: Brahman (linh hồn vũ trụ) được coi là thần thánh sáng tạo tất cả. Atman (linh hồn của mỗi con người, mỗi cá thể súc vật, cây cỏ, v.v.), là một bộ phận của linh hồn vũ trụ, nên về nguyên tắc nó cũng bất tử như linh hồn vũ trụ. Khi cơ thể sinh vật chết đi, atman sẽ tách khỏi cơ thể và đầu thai sang một cơ thể khác mới sinh ra, tiếp tục cuộc sống ở một kiếp khác. Kiếp sau có thể là người, là súc vật hay cây cỏ. Linh hồn cứ đầu thai hết kiếp này sang kiếp khác trong một cái vòng tròn lẩn quẩn như vậy gọi là sự luân hồi (samsara: bánh xe quay tròn). Con người chịu hậu quả của hành vi của chính mình gọi là “nghiệp” (karma: hành động). Chính cái nghiệp của kiếp này quy định cuộc sống ở kiếp sau. Để giải thoát khỏi cái vòng luân hồi, nghiệp báo, con người phải dốc lòng tu luyện, từ bỏ ham muốn dục vọng để linh hồn được “siêu thoát”, tức thoát khỏi sự ràng buộc của cơ thể và trở về với linh hồn vũ trụ tối cao, đạt đến hạnh phúc và sự bất tử vĩnh hằng.

Phật giáo ra đời trong phong trào đấu tranh chống đạo Bàlamôn, chống lại sự phân biệt đẳng cấp, đòi bình đẳng xã hội, nên không thể không bác bỏ những luận điểm cơ bản của Kinh Vêđa và Kinh Upanishad (những bộ kinh này là cơ sở giáo lý của Đạo Balamôn, tiền thân của Ấn giáo ngày nay). Đạo Phật không thừa nhận linh hồn vũ trụ tối cao Brahman và linh hồn cá thể bất tử atmam. Theo Đạo Phật, cơ thể của chúng sinh được cấu tạo từ những yếu tố vật chất và tinh thần gọi là ngũ uẩn gồm sắc (tức vật chất gồm đất, nước, lửa, gió) và danh (gồm 4 yếu tố tinh thần: thụ, tưởng, hành, thức). Khi chết, những yếu tố này phân hủy, nên không còn cái atman bất tử. Tuy nhiên, Đạo Phật lại thừa nhận sự tái sinh ở kiếp sau và tiếp thu một số yếu tố của Đạo Bàlamôn, như sự luân hồi, nghiệp báo, sự tu luyện để đạt đến sựgiải thoát ở cõi vĩnh hằng. Dù sao Đạo Phật rốt cục cũng cho rằng khi con người tu luyện đắc đạo sẽ đạt tới sự giác ngộ và thoát khỏi luân hồi, nghiệp báo, lúc đó linh hồn cá thể sẽ hòa nhập vào cõi Niết bàn và trở thành bất tử, vĩnh cửu. Niết bàn là cái gì, cho đến nay cũng chưa ai biết được, có chăng cũng chỉ là sự tranh cãi về lý thuyết mà thôi.

Các tôn giáo như Kitô giáo (Christianity) do Jesus Christos sáng lập đầu Công nguyên và Hồi giáo (Islam) do Môhamet sáng lập vào thế kỷ VII đều tin vào sự bất tử của linh hồn con người. Theo Kitô giáo và Hồi giáo, khi chết cơ thể trở về đất bụi nhưng linh hồn vẫn tiếp tục tồn tại. Đến ngày cuối cùng, được gọi là Ngày tận thế (The End of the World) hay Ngày phán xử (The Day of Judgement), Thượng đế sẽ phán xét tất cả, cho những ai trong lúc sinh thời đã có lòng tin ở Thượng đế và làm nhiều điều tốt lành sẽ được phục sinh,nghĩa là được sống lại với cả thể xác và linh hồn giống như sự phục sinh của Kitô trước đây, và được lên Thiên đường. Những người khác sẽ bị đày xuống địa ngục vĩnh viễn.

Thiên đường được miêu tả trong Kinh Khải huyền, kinh cuối cùng trong toàn bộ Kinh Thánh của Kitô giáo là Thành phố Giê-ru-sa-lem tráng lệ ở trên trời, có 12 cửa thành, nền và tường thành xây toàn bằng vàng và đủ các loại ngọc quý. Những người được lên Thiên đường sẽ vô cùng hạnh phúc, sẽtrường sinh bất tử, không còn đau khổ, chết chóc. Chúa Giêxu đã mặc khải như sau:

“Tôi thấy Thành Thánh là Giê-ru-sa-lem mới, từ trên trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống, sẵn sàng như tân nương trang điểm để đón tân lang. Rồi tôi nghe phía ngai có tiếng to: Đây là nhà tạm Thiên Chúa ở cùng nhân loại! Người sẽ cư ngụ cùng với họ. Họ sẽ là dân của Người, còn chính Người sẽ là Thiên- Chúa- ở -cùng- họ. Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất.” (1)

Thiên đường cũng được mô tả một cách rất cụ thể cảm tính trong Kinh Côran: Đó là một nơi có mùa xuân bất tận, cây cối xanh tốt quanh năm với đủ các loại hoa quả, có các suối nước róc rách. Trên Thiên đường, của cải dồi dào, mọi người tha hồ hưởng vinh hoa phú quý; mỗi bửa ăn có hàng mấy trăm món ăn, thức uống, rượu vang; đặc biệt là có các trinh nữ mắt đen xinh đẹp làm vợ, các chàng trai trẻ làm nô tỳ.

Trong Kinh Kôran có đến 8 chỗ nói về các trinh nữ có mắt đen láy là phần thưởng cho những người Hồi giáo trên Thiên đường. Số lượng trinh nữ được Môhamet xác định là 72. Bin Laden từng hứa hẹn một thiên đường với các cô gái đồng trinh dành cho các phần tử khủng bố cảm tử của mình. Ngày 19 tháng 8 năm 2001, kênh truyền hình Mỹ CBS phát đi một cuộc nói chuyện với một chiến sĩ phong trào HAMAS là Muhammad Abu Wardeh, người đã tuyển mộ các phần tử khủng bố cho các vụ tấn công tự sát ở Israel. Abu Wardeh nói: “Nếu anh là một kẻ tử vì đạo, Thượng đế sẽ thưởng cho anh 70 cô gái đồng trinh, 70 người vợ và hạnh phúc vĩnh cửu”(2).

Như vậy, niềm tin của tín đồ Kitô giáo và Hồi giáo vào sự bất tử của cá nhân ở kiếp sau hoàn toàn chỉ dựa vào sự khẳng định trong các kinh sách nhưKinh thánh (The Holy Bible, gồm hai phần Cựu ước và Tân ước) của Kitô giáo và Kinh Côran (Q’uran) của Hồi giáo và những lời hứa hẹn của các giáo chủ; thật ra không có gì đảm bảo chắc chắn là có kiếp sau và Thiên đường. Nhà triết học Pháp Blaise Pascal (1623-1662) đã từng coi niềm tin vào Thượng đế như là một canh bạc, một sự cá cược, trong đó người tin chỉ có được chứ không có mất, còn người không tin chỉ có mất chứ không có được. Pascal lập luận: Nếu bạn tin vào Thượng đế và Thượng đế thật sự tồn tại thì bạn sẽ được cả một Thiên đường hạnh phúc, còn nếu Thượng đế không tồn tại thì bạn chẳng mất gì cả. Còn ngược lại, nếu bạn không tin vào Thượng đế và điều không tin của bạn là đúng thì bạn chẳng được gì cả, còn nếu điều này không đúng (nghĩa là có Thượng đế nhưng bạn lại không tin) thì bạn sẽ bị trừng phạt và đưa xuống điạ ngục vĩnh viễn.

Lập luận này của Pascal trước đây đã từng được coi là chân lý thì ngày nay đã bị những người vô thần phân tích và phê phán. Một là, có vô số thượng đế được tôn thờ bởi các tôn giáo và các dân tộc khác nhau, biết tin vào vị thượng đế nào cho đúng. Cho nên, nếu niềm tin của bạn mà không đúng, thì bạn cũng không được an toàn như Pascal khẳng định. Chẳng hạn, Kitô giáo tin ở “Chúa Ba ngôi” gồm Chúa Cha, Chúa con và Chúa thánh thần; nhưng Hồi giáo thì chỉ tin ở một vị Thượng đế duy nhất, không có con cái và còn khẳng định rằng nếu ai tin ở một vị chúa nào khác ngoài Chúa Trời (như tin Chúa Giêxu) thì sẽ bị đưa xuống địa ngục. Hai là, Pascal cho rằng nếu bạn tin Thượng đế nhưng Thượng đế không tồn tại thì bạn chẳng mất gì, đó là một lập luận sai. Vì niềm tin không đúng mà nhiều người thậm chí đã tự nguyện hoặc bị lừa bịp bởi các thế lực tôn giáo cực đoan đánh mất cả cuộc đời của mình và còn làm hại tính mạng của vô số người khác nữa.

2. Quan điểm khoa học và chủ nghĩa vô thần về sự bất tử của con người

Đối với các nhà khoa học, mặc dù họ rất mong muốn sự bất tử, nhưng lý trí khoa học không chứng minh được có sự bất tử theo quan điểm của các tôn giáo truyền thống nên họ không thể tin vào sự bất tử theo quan điểm của các tôn giáo.

Carl Sagan (1934-1996), nhà thiên văn học nổi tiếng Mỹ đã từng là giáo sư thiên văn học ở Đại học Harvard và Đại học Cornell ở Ithaca, New York viết:

“Nếu có bằng chứng tốt về cuộc sống ở kiếp sau được công bố, tôi sẽ là người sốt sắng trong việc xem xét vấn đề này; nhưng đó phải là những cứ liệu khoa học, không phải là chuyện huyền thoại ... Tôi nói, thà rằng sự thật cay nghiệt còn hơn sự tưởng tượng dùng để an ủi”... “Tôi cũng thích tin rằng sau khi tôi chết tôi sẽ sống lại, rằng một phần tư duy, tình cảm, ký ức của tôi sẽ tiếp tục tồn tại. Nhưng càng muốn tin vào điều đó, và mặc dù những truyền thống văn hóa lâu đời khắp thế giới khẳng định có kiếp sau, tôi càng không thấy có gì hơn rằng đó chỉ là điều suy nghĩ mong ước (a wishful thinking) mà thôi” (3).

Nhà bác học Albert Eintein (1879-1955) đã phê phán hạn chế của các quan điểm tôn giáo lấy sự mong muốn bất tử của cá nhân và sự hứa hẹn được ban thưởng ở kiếp sau làm động cơ đạo đức của cá nhân. Ông nói: “Tôi không tin vào sự bất tử của cá nhân. Tôi coi đạo đức chỉ liên quan đến con người mà thôi và không có một quyền lực siêu nhân nào ở đằng sau cả.” (4)

Einstein đã vạch ra sự phi lý trong quan niệm về sự ban thưởng hay trừng phạt của Thượng đế, vì điều này mâu thuẫn với quan niệm của tôn giáo về tính toàn năng của Thượng đế. Sự ban thưởng, trừng phạt chỉ chứng tỏ sự bất lực. Hơn nữa, dùng sự ban thưởng và trừng phạt để kích thích hành vi đạo đức chỉ dẫn đến sự ích kỷ của con người. Einstein viết:

“Tôi không thể hình dung một vị Thượng đế lại đi ban thưởng hay trừng phạt những sản vật của chính sự sáng tạo của mình”. Cũng theo Einstein, “Hành vi đạo đức của một người phải dựa một cách có hiệu quả trên tình cảm, giáo dục, quan hệ và nhu cầu xã hội; không cần có một cơ sở tôn giáo nào. Con người sẽ thật là tồi tệ nếu anh ta phải kiềm chế vì sợ bị trừng phạt hoặc hy vọng ở sự ban thưởng sau khi chết.” (5)

Về sự bất tử của cá nhân, Einstein bác bỏ các quan niệm tôn giáo và đưa ra quan niệm về “sự bất tử tương đối” (relative immmortality). Einstein nói:“Sự bất tử ư ? Có hai loại. Loại thứ nhất nằm trong trí tương tượng của con người và do vậy chỉ là một ảo tưởng. Có một sự bất tử tương đối đó là sự duy trì ký ức về một cá nhân qua một số thế hệ. Tuy nhiên, chỉ có một sự bất tử thật sự duy nhất, ở phạm vi vũ trụ, đó là sự bất tử của chính vũ trụ. Không có một sự bất tử nào khác”(6) .

Lý luận về sự bất tử tương đối của Albert Einstein được các nhà vô thần phát triển. Theo quan điểm vô thần, sự bất tử tương đối của cá nhân được thực hiện một cách hiện thực bằng những con đường như sau:

  • Thông qua con cháu của chúng ta. Về mặt sinh học, thế hệ sau thông qua sự di truyền mà kế thừa có chọn lọc và phát triển tất cả những gì mà cơ thể chúng ta đã đạt được. Về mặt ý thức, thế hệ sau sẽ kế thừa những tri thức khoa học, kinh nghiệm sống và chuẩn mực đạo đức, v.v., của thế hệ đi trước. Như vậy theo quan điểm duy vật, chỉ xét về mặt thể xác thôi thì cũng đã thấy chết không phải là hết. Loài người là một dây chuyền vô tận của vô số những thế hệ nối tiếp nhau, mỗi thế hệ là sự phủ định và kế thừa những thành quả phát triển của cơ thể và ý thức của tất cả những thế hệ đi trước. Thế hệ trước để lại mầm sống cho thế hệ sau; thế hệ sau là sự nối tiếp sự sống của thế hệ trước. Cho nên, việc chuẩn bị và chăm lo về mọi mặt cho thế hệ sau cũng chính là vì sự bất tử của con người.
  • Sự bất tử tương đối của cá nhân còn được thực hiện thông qua những việc làm tốt, những tấm gương hy sinh, bằng những sự nghiệp và công trình đóng góp vào sự giải phóng con người, vào sự phát triển văn hóa và văn minh nhân loại. Ở đây “có cái chết hóa thành bất tử”.
  • Sự bất tử tương đối của cá nhân còn thể hiện ở sự tồn tại lâu dài của một người đã chết trong ký ức của nhiều thế hệ mai sau. Một người chỉ thật sự chết khi hoàn toàn không còn tồn tại trong ký ức của người sống.

Lý luận về sự bất tử tương đối của cá nhân có một ý nghĩa đạo đức rất sâu sắc. Nó không chỉ bác bỏ ảo tưởng sự bất tử của cá nhân theo quan niệm tôn giáo mà khắc phục được quan niệm tầm thường coi cuộc sống của con người chỉ ngắn ngủi trong mấy chục năm và cái chết là sự chấm dứt hoàn toàn sự tồn tại của một cá nhân. Nó có vai trò thúc đẩy hành vi đạo đức của con người ở những khía cạnh sau đây:

  • Trách nhiệm, nghĩa vụ của con cháu, coi như sự báo hiếu đối với tổ tiên là chăm lo cho sự bất tử của các thế hệ đi trước bằng những việc làm thiết thực như việc bảo quản phần mộ người quá cố, những kỷ vật của người chết để lại; việc thờ cúng, tổ chức kỷ niệm ngày sinh, ngày giỗ của tổ tiên v.v., là những việc làm mang tính nhân đạo rất sâu sắc của nhiều dân tộc trên thế giới. Đối với những người đã hy sinh cho Tổ quốc trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, chúng ta có trách nhiệm làm cho công lao, chiến công của họ trở thành bất tử.
  • Chăm lo cho con cháu cũng là chăm lo cho sự bất tử của chính chúng ta. Do vậy, sự nghiệp trồng người, giáo dục con cháu trở thành những người kế tục sự nghiệp của các thế hệ đi trước cũng là một việc làm thiết thực không chỉ vì lợi ích chung mà còn vì lợi ích riêng của mỗi cá nhân. Ở đây có sự thống nhất giữa mục đích, lợi ích chung với mục đích, lợi ích riêng.
  • Mỗi cá nhân bằng lao động sáng tạo và sự hy sinh của mình đóng góp vào sự phát triển của cộng đồng và nhân loại sẽ để lại tiếng thơm trong lịch sử.

Tóm lại, mong muốn bất tử là tâm lý chung của mọi người, trên cơ sở đó các tôn giáo đưa ra những quan niệm có tính chất ảo tưởng về sự bất tử của cá nhân thông qua con đường tu luyện. Ngay nay, khoa học và triết học đã đem lại một cách giải thích đúng đắn vừa phù hợp với ước vọng của mỗi người, vừa có tính hiện thực và mang một ý nghĩa đạo đức rất cao so với quan niệm tôn giáo đã từng tồn tại trong lịch sử.


Tài liệu tham khảo

(1) Tòa Tổng Giám mục Thành phố Hồ Chí Minh, Kinh thánh trọn bộ Cựu ước và Tân ước, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1998, tr. 2306.
(2) Theo báo Gardien, thứ bảy, ngày 12 tháng 1 năm 2002
(3) Carl Sagan, The Demon-Haunted World (1996),
http://www.positiveatheism.org/hist/quotes/sagan.htm
(4)Albert Einstein the Human Side, Helen Dukas and Banesh Hoffman, eds., Princeton University Press, 1981, p. 39.
http://answers.yahoo.com/question/index?qid=20080308074844AA9yhPY
(5) Out of My Later YearsPhilosophical Library, New York, 1950.
http://www.positiveatheism.org/hist/quotes/einstein.htm
(6)Albert Einstein, quoted in Madalyn Murray O'Hair, All the Questions You Ever Wanted to Ask American Atheists (1982) vol. ii., p. 29
http://www.positiveatheism.org/hist/quotes/einstein.htm



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
Tin tức thế giời mới nhât song ngữ Việt Anh để học sinh ngữ [Đã đọc: 357 lần]
Kiều bào phát triển quê hương [Đã đọc: 352 lần]
Làm Giàu Bằng Đầu Tư Chứng Khoán [Đã đọc: 344 lần]
Siêu đô thị Đà Nẵng mở rộng, siêu đầu tư địa ốc làm giàu [Đã đọc: 338 lần]
Một châu Âu đứng trước ngã ba lịch sử [Đã đọc: 326 lần]
Cách mạng chiếc đòn gánh của phụ nữ VN [Đã đọc: 286 lần]
“NHỮNG NGƯỜI CUỐI CÙNG CÒN GIỮ LẠI CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN”** [Đã đọc: 282 lần]
Làm thế nào đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa từ Trung Cộng [Đã đọc: 275 lần]
Nghệ Thuật Làm Giàu Của Người Việt Hải Ngoại - “The Art of Wealth for Overseas Vietnamese”. [Đã đọc: 274 lần]
Cuba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cuba nghỉ [Đã đọc: 267 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.