Được thành lập năm 2015, AEC sẽ cho phép lao động có tay nghề cao của 10 quốc gia thành viên ASEAN được di chuyển tự do hơn. Điều này tạo ra thách thức rất lớn cho Việt Nam khi trình độ lao động còn thấp.
|
Chất lượng lao động thấp, thiếu kỹ năng mềm khiến thu nhập cũng như năng suất của lao động Việt Nam thuộc vào loại thấp nhất khu vực. Ảnh: H.A. |
Theo ILO, chưa đến 20% lực lượng lao động của Việt Nam được đào tạo chuyên môn và những kỹ năng được trang bị thường không phù hợp với đòi hỏi của thị trường. Đồng bằng sông Cửu Long là khu vực có trình độ kỹ năng thấp nhất. Cứ 10 lao động tại đây thì chỉ một người được đào tạo.
Khảo sát về nhu cầu kỹ năng mới đây do ILO thực hiện với hơn 200 doanh nghiệp trong ngành du lịch ở miền Trung Việt Nam cũng cho thấy thực trạng tương tự. Toàn bộ chủ doanh nghiệp cho biết sinh viên tốt nghiệp các trường dạy nghề không đáp ứng yêu cầu công việc ở đơn vị của họ.
Hệ quả của thực trạng này là năng suất lao động của người Việt Nam rơi vào mức thấp nhất châu Á - Thái Bình Dương. Một nghiên cứu khác của ILO tính toán năng suất lao động của người Singapore năm 2013 cao gấp 15 lần năng suất lao động của người Việt Nam. Thậm chí, năng suất lao động của người Việt Nam cũng chỉ bằng 1/5 so với Malaysia và 2/5 so với Thái Lan - hai quốc gia thu nhập trung bình khác thuộc khối ASEAN.
“Nguồn lao động trẻ và dồi dào đã mở ra cho Việt Nam nhiều cơ hội, nhưng đáng tiếc là trình độ kỹ năng và chuyên môn thấp của người lao động lại cản trở Việt Nam nắm bắt những cơ hội không dễ dàng có được ấy”, ông Gyorgy Sziraczki, Giám đốc Văn phòng ILO tại Việt Nam nhận định.
Ông Cao Quang Đại, Vụ trưởng Kỹ năng nghề, Tổng cục Dạy nghề (Bộ Lao động Thương binh và Xã hội) lo ngại tỷ lệ thất nghiệp khi hội nhập có thể tăng lên. “Sự cạnh tranh về việc làm sẽ rất khốc liệt khi chúng ta gia nhập AEC. Nếu người lao động không nâng cao kỹ năng có thể mất việc ngay tại ‘sân nhà’. Đây là thách thức rất lớn với công tác dạy nghề hiện nay”, ông Đại nói.
Theo ông, điểm yếu của lao động Việt Nam là thiếu kỹ năng mềm như cách làm việc nhóm, giao tiếp, khả năng ngoại ngữ, kỹ năng tuân thủ quy trình lao động... Để phù hợp với hoàn cảnh hội nhập, người lao động cần ý thức phải luôn luôn học hỏi, cập nhật kỹ năng mới duy trì được việc làm bền vững.
Đây cũng là thách thức với lĩnh vực dạy nghề. Vì thế, trong thời gian tới Tổng cục Dạy nghề sẽ tập trung vào nâng cao chất lượng lao động, định hướng đến năm 2020 sẽ có những trường dạy nghề chất lượng cao, đạt đẳng cấp khu vực và thế giới.
Có cái nhìn khả quan hơn về cơ hội của Việt Nam khi gia nhập AEC, ông Phú Huỳnh, chuyên gia kinh tế lao động, Văn phòng ILO khu vực châu Á - Thái Bình Dương cho rằng, Việt Nam sẽ hưởng lợi từ việc hội nhập này. Đây cũng là cơ hội cho lao động Việt Nam có kỹ năng nghề cao, có khả năng ngôn ngữ tốt di chuyển sang các nước như Singapore, Malaysia, Thái Lan làm việc để có thu nhập cao hơn.
“AEC cho phép lao động có kỹ năng nghề cao di chuyển tự do hơn trong khu vực nhưng ở phạm vi rất hạn chế, tập trung vào 8 ngành như bác sĩ, y tá, kiến trúc sư, kỹ sư... Không kể du lịch thì 7 ngành còn lại chỉ chiếm 1% lực lượng lao động”, ông Huỳnh nói.
Dù vậy, theo ông khi hội nhập, nhu cầu lao động kỹ năng nghề gia tăng. Việt Nam cần tập trung nâng cao chất lượng của hệ thống giáo dục bậc trung học và kỹ thuật dạy nghề, đồng thời tăng cường trao đổi với khu vực tư nhân nhằm nắm bắt nhu cầu của họ.
Nam Phương
.....Nhưng sang thế kỷ này, nhờ khám phá khoa học, ta biết rằng, lịch sử đã diễn ra theo con đường ngược lại: tổ tiên ta từ xa xưa đi lên khai phá Trung Hoa và xây dựng trên toàn bộ Đông Á một nền văn hóa vĩ đại! Không những tiếng Việt, chữ Việt là chủ thể tạo nên tiếng nói và chữ viết Trung Hoa mà nền văn hóa Trung Hoa cũng được xây dựng trên nền tảng văn hóa Việt! Chính đó là cơ sở của ý tưởng từ lâu in sâu trong tâm cảm dân Việt: Trong khi các nhánh khác bị Hán hóa thì người Lạc Việt ở Việt Nam vẫn giữ được giang sơn, đất hương hỏa cuối cùng của tổ tiên.....
THỦY TỔ NGƯỜI VIỆT THỰC SỰ Ở ĐÂU?
Hà Văn Thùy

Từ lâu, tôi tâm niệm sẽ làm một khảo cứu nghiêm túc xác định nơi sinh thành của thủy tổ người Việt nhưng vì chưa đủ duyên nên chưa thành. Nay xin được trả món nợ.
Tìm ra chính xác tổ tiên người Việt là việc vô cùng khó vì thế mà suốt 2000 năm qua, dù bỏ bao công sức và tâm trí, chúng ta vẫn đi tìm trong vô vọng. Nhìn lại cuộc tìm kiếm trong quá khứ, ta thấy, cả người xưa, cả hôm nay chỉ có tư liệu từ thời điểm quá gần, khoảng 2000 năm trở lại. Với một ngưỡng thời gian như vậy, không cho phép có cái nhìn xa hơn!
Sự thực là, muốn biết tổ tiên 5000 năm trước là ai, chỉ có thể đi tới tận cùng lịch sử, để biết con người đầu tiên xuất hiện trên đất Việt là ai?
- Khởi đầu từ lịch sử
Rất nhiều người tin rằng nước Xích Quỷ của Kinh Dương Vương ra đời năm Nhâm Tuất 2879 TCN. Nhưng nếu hỏi: từ đâu có con số đó thì không ai trả lời được! Con số ấy tồn tại như một niềm tin, như cái mốc “quy ước” mà người Việt bám vào để tạo dựng cội nguồn. Dẫu biết rằng niềm tin không đủ làm nên lịch sử thì cũng không ai nỡ cật vấn cái niềm tin ấy! Bởi lẽ, sau cật vấn là sự sụp đổ! Rồi cả Đế Minh cháu ba đời Thần Nông nữa, lấy gì làm chắc? Mà sao người Trung Hoa cũng tự nhận là con cháu Thần Nông? Những hoài nghi ấy, nếu không hóa giải được thì mọi chuyện bàn về tổ tiên chỉ là câu chuyện phiếm! Vì vậy, muốn tìm chính xác tổ tiên, cần phải đi xa hơn cái cột mốc 2879. May mắn là sang thế kỷ này, khoa học thực sự giúp soi sáng cội nguồn.
Thưa rằng, không phải chỉ từ những mẩu xương và những hòn đá – hiện vật khảo cổ – mà chính từ vết tích được lưu giữ trong máu của toàn dân châu Á, một nhóm nhà khoa học gốc Hán của nhiều đại học nước Mỹ, vào năm 1998 phát hiện rằng: 70.000 năm trước, người tiền sử từ châu Phi theo ven biển Ấn Độ đặt chân tới nước ta. Sau khi chung sống 30.000 năm trên đất Việt Nam, người Việt đã đi lên khai phá Trung Hoa. Từ Hòa Bình, tổ tiên chúng ta mang chiếc rìu, chiếc việt đá mới lên nam Dương Tử và gọi mình bằng danh xưng đầy tự hào NGƯỜI VIỆT với tư cách chủ nhân chiếc việt đá mới, công cụ ưu việt của loài người thời đó (Việt bộ Qua -戈). 20.000 năm trước, tại Động Người Tiên tỉnh Giang Tây, tổ tiên chúng ta làm ra đồ gốm sớm nhất thế giới và 12400 năm cách nay trồng ra hạt lúa đầu tiên của loài người. Lúc này tổ tiên ta tự gọi mình là NGƯỜI VIỆT, chủ nhân cây lúa (Việt bộ Mễ -粤)! Rồi từ đây, người Việt mang cây lúa, cây kê, con gà, con chó làm nên văn hóa Giả Hồ 9000 năm trước, văn hóa Hà Mẫu Độ 7000 năm trước… Theo đà Bắc tiến, người Việt vượt Dương Tử lên lưu vực Hoàng Hà, xây dựng nền nông nghiệp trồng kê trên cao nguyên Hoàng Thổ. Tại đây, người Việt hòa huyết với người sống du mục trên đồng cỏ bờ Bắc, sinh ra chủng người Việt mới, sau này được khoa học gọi là chủng Mongoloid phương Nam, là chủ nhân văn hóa Ngưỡng Thiều suốt từ Thiểm Tây, Sơn Tây, Hà Nam, Hà Bắc. Một con sông dài 1500 km từ Thiểm Tây tới Hà Nam, đổ vào Dương Tử ở Vũ Hán, được đặt tên là sông Nguồn. Cùng với chi lưu của nó là Sông Đen, tạo nên đồng bằng Trong Nguồn, là trung tâm lớn của người Việt, nối với Thái Sơn. Đấy là nơi phát tích của người Việt hiện đại chủng Mongoloid phương Nam.
Vào khoảng 4000 năm TCN, người Việt chiếm hơn 60% nhân số thế giới và xây dựng ở Đông Á nền văn minh nông nghiệp rực rỡ. Để có được thành quả như vậy, dân cư trên Hoa lục phải chung lưng đấu cật trị thủy hai dòng sông lớn là Hoàng Hà và Dương Tử. Từ những dấu vết mong manh trong truyền thuyết, ta nhận ra, thời gian này người Việt luôn phải đối mặt với những cuộc xâm lăng của người du mục phương Bắc. Trong điều kiện như vậy, những thị tộc phải liên minh với nhau, vừa để trị thủy vừa chống trả quân xâm lăng. Cuộc liên minh dưới sự lãnh đạo của những thị tộc lớn mạnh do những vị anh hùng bán thần dẫn dắt. Một cách tự nhiên, nhà nước nguyên thủy ra đời. Đó là nhà nước phương Đông, khác với nhà nước theo định nghĩa kinh điển phương Tây, sản sinh từ chiếm hữu nô lệ và thặng dư lương thực. Điều kiện cho nhà nước nguyên thủy phương Đông ra đời càng thuận lợi hơn khi toàn bộ dân cư khu vực lúc đó cùng cội nguồn, văn hóa và tiếng nói. Kinh Dịch viết “Phục Hy thị một, Thần Nông thị xuất” có lẽ là mô tả thời kỳ này. Truyền thuyết cho hay, vua thần Phục Hy xuất hiện khoảng 4400 năm TCN. Tiếp theo là Thần Nông khoảng 3080 năm TCN. Truyền thuyết nói Đế Minh, cháu đời thứ ba của Thần Nông, chia đất, phong vương cho con là Đế Nghi và Kinh Dương Vương, lập nước Xích Quỷ năm 2879 TCN… Trong bối cảnh như vậy, ta thấy, dù không biết xuất xứ từ đâu nhưng cái mốc thời gian ra đời nước Xích Quỷ là hợp lý. Một câu hỏi cần được nêu ra: phải chăng có điều gì đó sâu thẳm trong ký ức mà tổ tiên ta ghi nhớ được một cách tường minh? Từ nhiều tư liệu, có thể suy ra, thời kỳ này trên lục địa Đông Á có ba nhà nước: Thần Nông Bắc của Đế Lai thuộc lưu vực Hoàng Hà, Thần Nông Nam (Xích Quỷ) thuộc lưu vực Dương Tử tới Việt Nam và quốc gia Ba Thục ở phía Tây, gồm vùng Ba Thục qua Thái Lan và Miến Điện.
Thời gian này, cuộc tranh chấp giữa hai bờ Hoàng Hà trở nên khốc liệt mà bằng chứng là trận Phản Tuyền. Truyền thuyết Trung Hoa nói Hoàng Đế và Viêm Đế là hai thị tộc anh em, lúc đầu Viêm Đế đứng chủ. Sau đó Hoàng Đế mạnh lên, đánh thắng Viêm Đế ở Phản Tuyền, chiếm ngôi thống soái. Viêm Đế chấp nhận vai trò phụ thuộc. Đây chỉ là uyển ngữ do người Hoa Hạ bày đặt để che lấp cuộc xâm lăng và đưa Hoàng Đế lên ngang hàng Viêm Đế! Thuyết này càng không đúng, vì Hoàng Đế xuất hiện năm 2698 TCN, sau Thần Nông Viêm Đế hơn 300 năm nên không thể có chuyện Hoàng Đế đánh nhau với Viêm Đế. Ta có thể hình dung, chỉ hình dung thôi vì không bao giờ tìm ra chứng cứ xác thực, rằng trước tình thế nguy cấp sau trận Phản Tuyền, Đế Lai liên minh với Lạc Long Quân cùng chống giặc. Nhưng tại trận Trác Lộc năm 2698 TCN, quân Việt thất bại. Đế Lai tử trận, (sau này vì căm hờn Đế Lai, người Hoa Hạ gọi ông là Si Vưu với nghĩa xấu), Lạc Long Quân dẫn đoàn quân dân vùng Núi Thái-Trong Nguồn dùng thuyền xuôi Hoàng Hà ra biển, đổ bộ vào Rào Rum-Ngàn Hống xứ Nghệ. Gợi cho tôi ý tưởng này là đoạn chép trong Ngọc phả Hùng Vương: “Đoàn người từ biển vào. Họ rất hiền lành tốt bụng, đã giúp dân nhiều việc tốt. Dân bầu người giỏi nhất trong số họ làm vua, hiệu là Hùng Vương, lúc đầu đóng đô ở Rào Rum-Ngàn Hống, sau chuyển lên vùng Ao Việt.” Chính cái niên đại xảy ra trận Trác Lộc 2698 TCN cũng giúp cho thời điểm năm 2879 lập nước Xích Quỷ trở nên khả tín. Nó cho thấy, một điều hợp lý là những quốc gia của người Việt đã có trước cuộc xâm lăng, vì chỉ như vậy mới phù hợp với lịch sử.
Về Việt Nam, người Núi Thái-Trong Nguồn hòa huyết với người Việt bản địa da đen Australoid, sinh ra người Mongoloid phương Nam Phùng Nguyên. Việc khảo cổ học phát hiện di cốt người Mongoloid phương Nam tại văn hóa Phùng Nguyên khoảng 4500 năm TCN là bằng chứng xác nhận cuộc di cư này.
Nếu những điều trình bày trên chưa hài lòng quý vị thì xin dùng chứng lý theo lối quy nạp sau:
Khoa học xác định mã di truyền của người Việt hôm nay thuộc chủng Mongoloid phương Nam. Vì vậy, nếu là thủy tổ của dân tộc Việt, các ngài Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân… cũng phải là người Mongoloid phương Nam. Khảo sát 70 sọ cổ phát hiện ở nước ta, cổ nhân chủng học cho biết: “Suốt Thời Đá Mới, chủng Australoid là dân cư duy nhất sống trên đất nước ta cũng như toàn Đông Nam Á. Sang Thời Kim khí, người Mongoloid phương Nam xuất hiện và trở thành chủ thể dân cư khu vực…” Như vậy, Lạc Long Quân không phải người bản địa mà là người từ nơi khác di cư tới. Lạc Long Quân là người từ xa tới thì cố nhiên, Kinh Dương Vương, Thần Nông rồi Phục Hy cũng không thể được sinh ra trên đất Việt!
Một câu hỏi: họ xuất xứ từ đâu? Như phân tích ở trên, người Mongoloid phương Nam xuất hiện tại văn hóa Ngưỡng Thiều. Lẽ đương nhiên, họ chỉ có thể từ đây xuống. Di ngôn của tổ tiên “Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước Trong Nguồn chảy ra,” giúp ta nhận biết, là từ Núi Thái-Trong Nguồn các vị di cư tới Việt Nam.
Như vậy, có hai giai đoạn hình thành người Việt: giai đoạn đầu, người Australoid từ Việt Nam đi lên khai phá Trung Hoa. Tại Núi Thái-Trong Nguồn, khoảng 7000 năm trước, người Việt hỗn hòa với người Mông Cổ phương Bắc, sinh ra chủng người Việt mới mang mã di truyền Mongoloid phương Nam, đó là tổ tiên của các vị Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông, Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân. Khoảng năm 2698 TCN, do thua trận Trác Lộc, người của Lạc Long Quân chạy xuống Việt Nam, lai giống với người Việt tại chỗ, sinh ra người văn hóa Phùng Nguyên, tổ tiên trực tiếp của chúng ta.
Vào nam Hoàng Hà, người Mông Cổ chiếm đất và dân Việt, lập vương triều Hoàng Đế. Họ hòa huyết với người Việt, sinh ra người Hoa Hạ, được coi là tổ tiên người Trung Hoa. Như vậy, người Hoa Hạ là con cháu của Hoàng Đế và cũng là con cháu của Viêm Đế.
Nhận được ưu thế từ hai nền văn minh, người Hoa Hạ trở nên lớp người ưu tú của các vương triều Hoàng Đế, góp phần quan trọng làm nên thời Hoàng Kim của văn hóa phương Đông. Nhưng sau thời Chiến quốc, với sự bành trướng của nhà Tần, nhà Hán người Việt thì người Hoa Hạ bị đồng hóa, tan biến trong cộng đồng Việt đông đảo. Hoa Hạ chỉ còn là một danh xưng, bị các vương triều Trung Hoa chiếm dụng làm phương tiện thống trị các tộc người khác. Người Hoa đổi đồng bằng Trong Nguồn thành Trung Nguyên. Sông nguồn thành sông Hòn, sông Hớn rồi thành Hán Thủy. Sông Đen thành Đan Giang. Do mất đất mất tên nên hơn 2000 năm nay, người Việt ngơ ngác không biết Trong Nguồn là đâu?!
- Quá trình hình thành di tích, tài liệu về cội nguồn tổ tiên trên đất Việt.
- Quá trình hình thành
Lớp di dân đầu tiên đổ bộ vào Rào Rum-Ngàn Hống. Theo đà xâm lăng của kẻ thù, nhiều thế hệ người Núi Thái-Trong Nguồn di cư tiếp, tiến vào những khoảng đất cao của đồng bằng sông Hồng vừa được tạo lập là Sơn Tây, Hà Đông, Bắc Ninh… Chạy giặc, bỏ quê hương tới nơi xa lạ là nỗi đau của người biệt xứ. Có thể, sau hàng vạn năm cách biệt, người Núi Thái-Trong Nguồn không thể ngờ rằng nơi dung dưỡng mình hôm nay lại là đất gốc của tổ tiên xưa. Vì vậy, mặc cảm mất nước luôn nặng nề, dai dẳng. Hướng về nguồn cội là nỗi khắc khoải khôn nguôi. Nỗi nhớ thương đã kết đọng thành câu caCông cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước Trong Nguồn chảy ra. Có lẽ câu ca lúc đầu chỉ là nỗi lòng của người dân mất nước vọng cố hương nhưng rồi nó thành tấm bia ghi nguồn cội để muôn đời con cháu tìm về. Không dừng lại đó, những người tâm huyết nhất, theo tục xưa, đắp những ngôi mộ gió để từ xa bái vọng tổ tiên Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông, Kinh Dương Vương… Đó là công việc mà ngày nay người dân đảo Lý Sơn vẫn làm để không quên người không trở về! Khi khá giả hơn, những ngôi đền thờ được dựng lên. Khi có chữ, những vị lão thành lục trong trí nhớ những gì “được nghe ông bà kể” về tổ tiên xưa, ghi thành tộc phả, ngọc phả. Sự thật được “thêm mắm dặm muối” cùng những yếu tố huyền ảo để thêm phần linh thiêng, cao cả và đáng tin. Đọc một số thần phả, ngọc phả do Đại học sĩ Nguyễn Bính chép, tôi bất giác nghĩ tới chuyện “chạy di tích” thời nay. Lâu ngày mới về quê, gặp dịp làng xã đình đám rước “Bằng công nhận di tích”. Thấy trên giấy vinh danh một vị còn văn tế ở đình tế vị thần khác, tôi hỏi ông chú họ, đầu trò câu chuyện này. Gạn hỏi mãi, ông thú thực: “Lúc đầu viết theo thần tích ông thánh trong đình. Nhưng mấy ông văn hóa tỉnh nói: “Tra mãi không thấy ông nào tên như vậy để làm giúp các bác. Chỉ có ông trạng X hơi gần với hồ sơ của các vị. Nếu đồng ý thì chúng tôi giúp.” Anh tính, mất bao nhiêu tiền rồi chả nhẽ xôi hỏng bỏng không, đành gật đầu chấp nhận cho họ làm!” Phải chăng, ngày trước, cũng nghe ông bà kể lại, rồi với thứ chữ Nho của thày đồ quê, các vị tiên chỉ trong làng mang đơn lên phủ cậy quan. Sau khi nhận đồng lớn đồng nhỏ vi thiềng, quan phủ đưa hồ sơ lên triều đình. Rồi dựa vào văn bản của địa phương, Đại học sĩ Nguyễn Bính sáng tác hàng loạt ngọc phả, như người vẽ truyền thần. Đó là cái chắc, chỉ có điều ngờ là không biết đại học sĩ có nhận tiền thù lao như hôm nay không?
Hàng trăm năm qua đi, đám hậu sinh chúng ta có tất cả: những ngôi mộ cổ, những ngôi đền với những pho tượng sơn son thiếp vàng linh thiêng mà cha ông từng đời đời tế tự. Những thần phả, ngọc phả chữ Nho với giấy bản xỉn màu thời gian, gáy mòn, góc vẹt, loáng thoáng lỗ mọt… Và hơn cả là tấm lòng chúng ta hướng về tổ tiên cộng với sự ganh đua của những họ tộc tranh nhau xem họ nào xuất hiện sớm nhất? Thế rồi, với tiền của bá tánh, tiền thuế dân nhận từ dự án, những nấm mộ, những ngôi đền được phục dựng khang trang hoành tráng, cùng với những hội thảo trưng ra vô vàn “bằng chứng lịch sử”…
- Đôi lời nhận định
Người viết bài này có lúc hăm hở theo dõi những “phát hiện mới” với hy vọng tìm được dấu vết khả tín của tổ tiên. Nhưng rồi sớm thất vọng! Cổ Lôi Ngọc Phả chỉ mới ra đời vài trăm năm ghi Phục Hy, Thần Nông vùng Phong Châu làm sao có thể phản bác Kinh Dịch 2500 năm trước viết “Phục Hy thị một, thần Nông thị xuất”? Mấy ngôi đền Phục Hy, Thần Nông… trên đất Phong Châu làm sao phủ định bài vị các ngài được thờ trên lăng mộ ở Thái Sơn? Làm sao có thể tin Phục Hy họ Nguyễn, trong khi cả truyền thuyết lẫn cổ thư đều ghi rõ: Phục Hy thị, Thần Nông thị, Hồng Bàng thị… “Thị” cũng là họ, nhưng đấy là họ theo mẹ của thời mẫu hệ. Qua mẫu hệ hàng nghìn năm mới sang phụ hệ, để “tính” – cách gọi họ theo dòng cha ra đời! Thời đó, con người chỉ được đánh dấu bằng một từ duy nhất chỉ tên hoặc thêm tước “đế” phía trước như Đế Minh, Đế Nghi… Vậy thì làm sao có ông Phục Hy tên là Nguyễn Thận? Làm sao tin những bức tượng sơn son thiếp vàng lòe loẹt trong đền là Phục Hy, Kinh Dương Vương khi trang phục trên người các ngài là của quan lại triều Minh, triều Thanh?! Vì sao sống cách nhau nhiều nghìn năm mà các vị tổ lại tụ họp trong khoảnh đất hẹp vậy? Vì sao, chỉ là tổ người Việt mà truyền thuyết về các vị lan ra rộng khắp từ Quảng Đông tới Ba Thục? Chỉ là tổ của người Việt với lãnh thổ từ Bắc Bộ tới miền Trung mà sao lại có đền thờ Kinh Dương Vương trên Ngũ Lĩnh? Nhiều, nhiều lắm những câu hỏi không thể trả lời!
Khi không trả lời được những thắc mắc trên, trong trí tôi nảy sinh câu hỏi: Vì sao lại có sự tình như vậy? Phải rất lâu sau, cùng với sự trưởng thành của nhận thức, tôi ngộ ra, những ngôi mộ được đắp, những ngôi đền được xây chỉ là việc thu nhỏ một lịch sử từng diễn ra trên địa bàn rộng lớn. Đó chỉ là sự sa bàn hóa một thực tế lịch sử vĩ đại! Tôi bỗng hiểu và thông cảm với tiền nhân. Từ ký ức và tâm nguyện của mình, các vị đã tạo những mộ gió, những ngôi đền bái vọng. Tấm lòng thành của bao kiếp người đã tạo nên một tín ngưỡng dân gian vô cùng nhân văn nhớ về nguồn cội, thờ kính tổ tiên… Nhưng rồi đám cháu con không hiểu cha ông, u mê biến tín ngưỡng dân gian trở thành chính sử, để tự sướng và lừa thiên hạ thì đã là tai họa!
Những người chủ trương việc này nghĩ rằng mình đã sáng suốt, khám phá lại lịch sử là vì dân tộc, vì kính ngưỡng tổ tiên. Không ai phủ nhận nhiệt huyết, tấm lòng của họ. Nhưng thực tế cuộc sống đã bày ra trước mắt: yêu nhau như thế bằng mười phụ nhau!
Trước hết, là xuyên tạc lịch sử:
Do chủ quan, do ít hiểu biết, họ không hiểu rằng, giang sơn xưa của tổ tiên Việt là khoảng trời, khoảng đất mênh mông toàn cõi Đông Á. Từng hàng chục nghìn năm thống lĩnh hai con sông Đông Á (Hoàng Hà, Dương Tử) và xây dựng trên đó nền văn hóa kỳ vĩ. Việc “quy tập,” co cụm tổ tiên về dải đất hẹp Phong Châu chính là phủ định cả cội nguồn lẫn giang sơn vĩ đại của giống nòi! Đó chính là cái tội chối bỏ lịch sử, cũng đồng thời chối bỏ nguồn cội!
Không chỉ vậy, khi làm việc này, họ tự tước đi của mình vũ khí mạnh mẽ chống lại những mưu toan xuyên tạc sử Việt. Họ từng biết, người Trung Hoa có cuốn sách “Thông sử thế giới vạn năm” hơn 5000 trang, phủ định toàn bộ lịch sử Việt Nam với những dòng ngạo mạn: “Khoảng 2000 năm TCN, bán đảo Đông Dương bước vào thời kỳ đồ Đá Mới… 1000 năm TCN, những bộ lạc cư trú quanh vùng sông Hồng Hà bắt đầu định cư..” Họ cũng biết, ông giáo sư người Mỹ Liam Kelley chống báng tới cùng sự hiện hữu của Kinh Dương Vương. Ông ta chỉ coi thủy tổ tộc Việt là do đám trí thức Hán hóa thời Trung đại dựa vào cổ thư Trung Hoa bịa tạc ra. Một trong những lý cứ khiến ông ta nghĩ vậy, chính là ở chỗ, truyền thuyết về Kinh Dương Vương phổ biến khắp Trung Hoa. Nếu cứ theo “sa bàn” như quý vị hoạch định hôm nay thì làm sao phản bác được vị giáo sư thông thái nọ? Nhưng nếu nắm được lịch sử trọn vẹn của tổ tiên thì ta có thể nói, chính chứng cứ ông học giả người Mỹ đưa ra đã chống lại ông ta! Đó là do, cộng đồng Việt vốn là khối thống nhất trên toàn Đông Á, cùng chung máu mủ, ngôn ngữ và văn hóa. Từ thời Chiến quốc, bị tan đàn xẻ nghé, người Việt mang theo truyền thuyết nguồn đi khắp nơi…
- Kết luận
Có một thời tăm tối, chúng ta được cổ thư Trung Hoa và những vị thầy Tây dạy rằng, người từ Trung Hoa xuống đồng hóa dân Annam mông muội. Dân Việt là lũ Tàu lai. Tất cả văn hóa Việt là sự bắt chước Trung Hoa chưa trọn vẹn. Người Việt không có chữ, phải mượn chữ Trung Hoa, tiếng Việt mượn 70% từ tiếng Hán… Hàng nghìn năm ta tin như thế!
Trong cái thời tăm tối ấy, chúng ta tìm mọi cách “thoát Trung” bằng việc viết ra lịch sử riêng của mình. Trong đó có những ý tưởng “quy tụ” tổ tiên về đất Phong Châu để tạo ra một cội nguồn, một lịch sử độc lập với phương Bắc. Ý tưởng như vậy được nuôi bởi bằng chứng là những ngôi mộ, ngôi đền, những cuốn ngọc phả… khiến không ít người tin vì có nguồn cội “thoát Trung”!
Nhưng sang thế kỷ này, nhờ khám phá khoa học, ta biết rằng, lịch sử đã diễn ra theo con đường ngược lại: tổ tiên ta từ xa xưa đi lên khai phá Trung Hoa và xây dựng trên toàn bộ Đông Á một nền văn hóa vĩ đại! Không những tiếng Việt, chữ Việt là chủ thể tạo nên tiếng nói và chữ viết Trung Hoa mà nền văn hóa Trung Hoa cũng được xây dựng trên nền tảng văn hóa Việt! Chính đó là cơ sở của ý tưởng từ lâu in sâu trong tâm cảm dân Việt: Trong khi các nhánh khác bị Hán hóa thì người Lạc Việt ở Việt Nam vẫn giữ được giang sơn, đất hương hỏa cuối cùng của tổ tiên.
Vì vậy, trong những “đồ án phục dựng lịch sử Việt” ra đời lâu nay thì việc sa bàn hóa, quy tập tổ tiên về đất Phong Châu là sai lầm tai hại nhất. Trong khi những phương án khác chỉ là những ý tưởng trên giấy thì “đồ án” này tác động sâu rộng không chỉ tới lịch sử, tâm linh mà tới cả cuộc sống dân tộc.
Theo thiển ý, nếu như có ngôi mộ nào sớm nhất của tổ tiên Mongoloid trên đất Việt thì chỉ có thể là mộ Lạc Long Quân ở Rào Rum-Ngàn Hống hay tại kinh đô Ao Việt!
Đáng buồn và đáng sợ là, những người “quy tập” tổ tiên về đất Phong Châu không ngờ rằng mình đang làm cái việc nguy hại tham bát bỏ mâm. Trong khi hất đi cái mâm thật, không chỉ đầy của cải quý giá mà còn có cả văn tự ghi quyền sở hữu giang sơn vĩ đại của tổ tiên xưa thì quý vị ôm lấy cái bát ảo! Cái mâm quẳng đi rồi, một khi cái bát được chứng minh là giả, không hiểu quý vị tính sao?!
Phó thử tướng trả lời :- Không đi sâu vào những lập luận trừu tượng, hãy nhìn vào lịch sử thì thấy nhiều khi Việt Nam đã bị đem ra để mặc cả. Cụ thể như các sự kiện diễn ra vào các năm 1954 (hiệp định Genève), 1972 (thông cáo Thượng Hải), 1974 (Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam)...
Vì vậy phải độc lập, tự chủ trước hết là “trong cái đầu”, biết chọn cách thông minh nhất để bảo vệ lợi ích của dân tộc mình. Không nên “dựa dẫm” mà nên biết cách “chọn lựa” cái lợi nhất cho mình. "
TT - Ông Vũ Khoan (nguyên phó thủ tướng) nhắc đi nhắc lại nhiều lần câu nói trên trong cuộc trò chuyện với Tuổi Trẻ nhân dịp kỷ niệm 69 năm Quốc khánh 2-9.
| Hàng ngàn bạn trẻ TP.HCM kết nối những cánh tay trong chương trình thực hiện MV Những trái tim Việt Nam hướng về biển Đông - Ảnh: T.T.D. |
“Bảo bối” vạn năng
* Vì sao ông muốn nhấn mạnh câu chuyện “hãy khơi dậy sức dân” nhân dịp này?
- Nhân các ngày lễ lớn, trong đó có Quốc khánh, điều quan trọng nhất là nhìn lại lịch sử để rút ra bài học, chứ không chỉ là tổ chức các hoạt động lễ lạt. Vậy bài học của Cách mạng Tháng Tám, của gần 30 năm đổi mới là gì?
Theo tôi, nói gọn lại, bài học cơ bản là có một đường lối lãnh đạo đúng và biết khơi dậy sức dân. Ngay trong bối cảnh hiện nay, dù là khắc phục khó khăn kinh tế hay bảo vệ chủ quyền, “bảo bối” vạn năng vẫn là dựa vào sức dân.
Nói về bài học gần 30 năm đổi mới thì dài, song điều cốt yếu là “để cho dân được tự do làm ăn”. Rất may là tư tưởng này ngày nay đã được ghi vào Hiến pháp 2013 với tinh thần mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm.
* Vừa qua có ý kiến so sánh sự phát triển của ta với Hàn Quốc. Cụ thể là “cách đây bốn, năm mươi năm, Việt Nam và Hàn Quốc có trình độ phát triển tương đương. Sau mấy mươi năm, rà lại tư liệu thấy Hàn Quốc hiện có khoảng 90.000 người sống tại Việt Nam và Việt Nam cũng có 90.000 người sống ở Hàn Quốc. Chỉ khác nhau ở chỗ hầu hết người Hàn Quốc tại Việt Nam làm ông chủ, làm quản lý, còn người Việt Nam ở Hàn Quốc chủ yếu làm thuê”. Ông nghĩ sao về sự so sánh này?
- Như người ta thường nói: mọi sự so sánh đều khập khiễng. Khi so sánh các sự việc, hiện tượng, chiều hướng thì nên có cái nhìn nhiều chiều.
Tôi từng tham gia việc thiết lập quan hệ ngoại giao với Hàn Quốc, sau đó là chủ tịch Phân ban hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc, có nhiều dịp đến Hàn Quốc nên biết tương đối rõ về đất nước này. Trước tiên, họ không phải trải qua chiến tranh dài như ta. Họ không bị cấm vận, cô lập và được Mỹ cũng như các nước phương Tây hỗ trợ rất nhiều về kinh tế.
Tôi đã đi trên nhiều con đường cao tốc ở Hàn Quốc và nhiều đoạn do nước ngoài giúp đỡ xây dựng. Khác với ta, họ không bị cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp đè nặng nhiều năm.
Hàn Quốc đã theo đuổi kinh tế thị trường và hội nhập sâu với quốc tế từ rất sớm. Riêng việc có điều kiện tiếp cận thị trường rộng lớn của Mỹ, Nhật, Tây Âu ngay từ đầu đã là lợi thế lớn.
Nói vậy không có nghĩa Hàn Quốc không có gì ta cần học ở họ và ta không có điều gì cần rút kinh nghiệm. Đã gần 40 năm từ ngày đất nước thống nhất và 30 năm từ khi đổi mới, rõ ràng kinh tế nước nhà và đời sống người dân đã khác xa nhiều, song sự tụt hậu so với nhiều nước cùng trình độ 30-40 năm trước không còn là “nguy cơ” mà là một thực tế đáng tiếc.
Bốn khâu đánh thức tiềm năng
Có những việc ta đã và đang làm không giống ai. Chẳng hạn cách tính GDP địa phương, tính nợ xấu, nợ công, chuẩn nghèo... Khi đã hội nhập rồi thì phải áp dụng chuẩn quốc tế, phấn đấu sánh vai cùng bè bạn năm châu, chứ không nên hạ chuẩn xuống rồi hài lòng với những gì mình có |
* Cần làm gì để đánh thức tiềm năng hay khơi dậy sức dân như ông vừa nêu?
- Thứ nhất, như tôi nói ở trên, phải tháo gỡ, dẹp bỏ những gì cản trở sức dân. Ví dụ ở chỗ này, chỗ kia còn phân biệt thành phần kinh tế, còn tình trạng độc quyền, thủ tục hành chính phiền hà, nhũng nhiễu. Thủ tục nộp thuế “ích nước lợi dân” mà như cực hình, mất tới khoảng 800 giờ/năm, trong khi các nước chỉ dưới 200 giờ thì thử hỏi làm sao dân giàu nước mạnh được.
Mới đây nghe nói sẽ thu gọn từ 51 ngành nghề cấm đầu tư, kinh doanh còn 8 ngành nghề. Chủ trương như vậy là tốt rồi. Nhưng chỉ sợ mấy trăm ngành nghề “có điều kiện” sẽ đẻ ra lắm thủ tục rắc rối...
Thứ hai là câu chuyện về nguồn nhân lực. Vào cuối những năm 1980, tới thăm Nhà máy gang thép Posco, tôi rất ấn tượng với khẩu hiệu của họ là “tài nguyên có hạn, nhưng trí tuệ con người vô hạn”.
Hàn Quốc đã rất chú trọng việc phát triển nguồn nhân lực. Không những về kiến thức mà cả về tố chất, kỹ năng lao động. Lao động cật lực, kỷ cương, chặt chẽ. Nhờ đó họ đã vươn lên tuyến đầu của nhiều lĩnh vực công nghệ cao.
Và nữa, họ rất tự trọng, chỉ dùng hàng Hàn Quốc, các biển hiệu quảng cáo đều dùng tiếng Hàn. Chỉ có đổi mới thật sự một cách toàn diện, cơ bản sự nghiệp giáo dục mới hi vọng bứt phá lên được.
Thứ ba là việc chọn trúng mô hình, cơ cấu kinh tế phù hợp với tiềm năng thực của mình, đáp ứng trúng nhu cầu trong và ngoài nước. Bây giờ nhìn lại thấy ta chưa có một ngành công nghiệp nào thật sự ra tấm ra món: luyện kim, cơ khí, đóng tàu, ôtô, điện tử... ngành nào cũng có “chiến lược” từ nhiều năm nay, nhưng kết quả triển khai thế nào đã rõ.
Nền kinh tế của ta vẫn gia công là chính. Kinh tế của ta vẫn là “hàng đóng bao chứ không phải hàng đóng gói”. Gạo, hạt tiêu, cà phê... ở thứ hạng cao của thế giới nhưng đều đóng “bao to” xuất khẩu, chứ chưa thành “gói nhỏ” được tinh chế, có thương hiệu, có hàm lượng trí tuệ, công nghệ cao trong đó.
Thứ tư, chúng ta hội nhập để mở rộng thị trường, tranh thủ đầu tư nước ngoài, nhưng chưa chuyển hóa ngoại lực thành nội lực thật sự.
Khoảng 60% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa là của doanh nghiệp FDI. Điều đó không xấu nhưng không thật tốt, giá như FDI 30%, doanh nghiệp trong nước 70% thì đẹp hơn. Có thể nói chúng ta chưa xây dựng được một nền kinh tế đứng vững trên đôi chân của mình.
Nếu chúng ta tìm được lời giải cho bốn vấn đề trên thì đất nước chắc sẽ khởi sắc nhanh.
| Người dân tự đầu tư các phòng nghiên cứu nhằm phục vụ nhu cầu có giống tốt trong nông nghiệp - Ảnh: M.Vinh |
* Loay hoay với định hướng phát triển, có người nói nên lấy nông nghiệp, có người lại đề nghị công nghệ thông tin. Ông có đề xuất gì không?
- Bây giờ ta ngồi đây và nói chọn cái gì sẽ là chủ quan, duy ý chí. Có lẽ nên tiếp cận từ cả hai đầu: “cầu” và “cung”. Trong kinh tế thị trường, việc đầu tiên là cần phân tích dự báo “cầu” trong nước và thế giới cả về lượng lẫn chất. Xem ra điều này chưa được chú trọng đúng mức.
Ví dụ, chiến lược công nghiệp ôtô mới đưa ra chưa làm rõ có kích cầu sử dụng ôtô không, và muốn kích cầu thì bằng biện pháp gì? Nếu không thì làm sao ngành công nghiệp ôtô phát triển được? Ta đang có những biện pháp hạn chế cầu chứ có kích cầu ôtô đâu. Đó là ở “đầu ra”, còn ở “đầu vào” thì rất cần nhận diện “tiềm năng thực”.
Tôi cứ băn khoăn tại sao trên thế giới chỉ có Mỹ, Nhật, Đức, Hàn Quốc trụ lại được ngành công nghiệp ôtô, ngay cả Pháp, Ý, Thụy Điển, Nga... xem ra đều đuối sức. Vậy ta có “sánh vai” nổi không?
* Một số chuyên gia cho rằng có thể lấy nông nghiệp trở thành nền tảng của nền kinh tế và đó chính là tương lai của Việt Nam. Quan điểm của ông như thế nào?
- Trong kết luận của Bộ Chính trị về đề án nông nghiệp, nông thôn, nông dân có nói rằng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là “nhiệm vụ hàng đầu” trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tôi thấy cách đặt vấn đề như vậy là hợp lý vì nước ta là nước nông nghiệp. Nông nghiệp là tiềm năng có thật, sờ thấy được, cân đong đo đếm được. Nhiều nước phát triển trên thế giới đã xây dựng được nền nông nghiệp hiện đại như một trong những trụ cột cho kinh tế của họ như Hà Lan, Israel, Thụy Sĩ, Úc, New Zealand...
Không nên quan niệm nông nghiệp chỉ là nơi trú bão, khi khó khăn, thất nghiệp thì lui về trú ngụ. Chúng ta hoàn toàn có thể đi lên bằng nông nghiệp, nhưng đó phải là một nền nông nghiệp hiện đại, sản xuất lớn, có những sản phẩm thương hiệu tầm cỡ quốc tế.
Chỉ có điều tôi chưa rõ chúng ta sẽ giải bài toán phát triển nông nghiệp như thế nào khi tỉ trọng đầu tư vào đây cứ giảm dần, ruộng đất bị thu hẹp dần do bị lấy làm đô thị...
Nhân đây tôi xin bày tỏ nỗi lo về khâu thực hiện. Từ lâu ta đặt giáo dục, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, song khi thực hiện lại không hẳn như vậy và kết quả thế nào ta có thể thấy được.
Định vị chỗ đứng trong thế giới bất định
* Chúng ta đang đứng trước bối cảnh không chỉ phải tập trung cho những nhiệm vụ bên trong, mà tình hình bên ngoài cũng đang đặt ra thách thức lớn, thưa ông?
- Thế giới đang ở thời đoạn xáo động lớn, thời đoạn chuyển tiếp sang một “cấu trúc” hay một “trật tự” mới với nhiều biến số. Và ở thời đoạn như vậy thường xảy ra nhiều náo loạn, bất định.
Đây chính là thách thức đối với mọi quốc gia, trong đó có ta và ta phải định vị cho được chỗ đứng của mình, xác định cách ứng xử thế nào để tự bảo vệ là cả một vấn đề.
* Có những nước chọn cách gia nhập các liên minh để được bảo vệ dưới cái “ô” của nước lớn. Ta với đường lối độc lập, tự chủ thì không có đồng minh, nhưng lúc này mở rộng và làm sâu sắc thêm mối quan hệ với bạn bè quốc tế là rất quan trọng?
- Khái niệm bạn bè là sự đồng cảm, là sự ủng hộ về tinh thần, về pháp lý. Còn khái niệm liên minh là thể chế ràng buộc nhau. Nếu chúng ta nhảy vào liên minh nào đó thì sẽ chịu nhiều ràng buộc, không còn sự cơ động, linh hoạt, nhiều khi phải tuân theo những điều không phù hợp với lợi ích của mình, thậm chí đi ngược lại lợi ích của mình.
Bài học Cách mạng Tháng Tám chỉ cho chúng ta rằng cần nhận biết, phân tích, dự báo chuẩn xác tình hình quốc tế, nhất là các nước lớn, từ đó tận dụng tối đa lợi ích, hóa giải khôn khéo thách thức có lợi nhất cho mình.
* Trong bối cảnh bên cạnh chúng ta là một Trung Quốc đang trỗi dậy và Hoa Kỳ - một cường quốc Thái Bình Dương - đang “xoay trục”, nếu ai đó băn khoăn nên hay không nên lựa chọn đứng về bên này, bên kia vì lợi ích của riêng mình trong mối quan hệ với các nước lớn, ông sẽ trả lời sao?
- Không đi sâu vào những lập luận trừu tượng, hãy nhìn vào lịch sử thì thấy nhiều khi Việt Nam đã bị đem ra để mặc cả. Cụ thể như các sự kiện diễn ra vào các năm 1954 (hiệp định Genève), 1972 (thông cáo Thượng Hải), 1974 (Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam)...
Vì vậy phải độc lập, tự chủ trước hết là “trong cái đầu”, biết chọn cách thông minh nhất để bảo vệ lợi ích của dân tộc mình. Không nên “dựa dẫm” mà nên biết cách “chọn lựa” cái lợi nhất cho mình.

Các chuyên mục 



