 |
 |
Các chuyên mục |
|
Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm
Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal
Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat
Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục
Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói
Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí
Web links
Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo
Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng
Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP
|
|
|
|
Xem bài theo ngày |
|
| Tháng Sáu 2026 | | T2 | T3 | T4 | T5 | T6 | T7 | CN |
| 1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
| 8 |
9 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
| 15 |
16 |
17 |
18 |
19 |
20 |
21 |
| 22 |
23 |
24 |
25 |
26 |
27 |
28 |
| 29 |
30 |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Thống kê website |
|
 |
Trực tuyến: |
4 |
 |
Lượt truy cập: |
29328267 |
|
|
|
|
| |
|
 |
 |
|
|
|
Từ văn kiện tuyệt mật chống VN đến 600 ngày tăm tối của Mao
31.08.2014 12:27
Đời Mao, có 600 ngày phải chìm trong bóng tối bởi mắt bị mờ dần, rồi không nhìn thấy hẳn - bất hạnh đó đến liền ngay sau những ngày đầu Mao “đụng tới” Hoàng Sa
Mao Trạch Đông qua sách báo Trung Quốc ngày nayẢnh và chú thích của Tư liệu VNCH tháng 3.1974: Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HQ.16 từ Hoàng Sa trở về trong sự reo mừng của hàng ngàn người dân Việt Nam đang đón chờ  … Cuối tháng 1.1974, mắt Mao bỗng nhiên nhòa hẳn. Khoảng mươi mười lăm thước Mao thấy một người dường như “có hai ba”. Dụi mắt xong, lại thấy một người “có đến bốn năm”, rồi “sáu bảy” - tựa hồ “bóng người âm” vậy. Dần dà, Mao không thể tự xem sách báo, ngay cả khi đọc các văn kiện nếu phải viết lời phê thì “cũng phải nhờ người khác viết thay (…) cũng không thể thấy mặt những người quen thuộc xung quanh, thậm chí ngay cả người đi qua sát mặt, Chủ tịch cũng không nhìn rõ” (Trần Trường Giang, sđd ở Kỳ 8, tr. 325). Các chuyên gia nhãn khoa hàng đầu của Trung Quốc chẩn đoán và thông báo Mao bị “đục thủy tinh thể” cả hai mắt, buộc phải phẫu thuật. Nhưng chưa thể phẫu thuật ngay, vì dạng “mù mắt” của Mao phải đợi đến giai đoạn phát bệnh hoàn toàn mới can thiệp “bằng dao kéo” được. Nên, Mao phải “tiếp tục chờ đợi trong mấy trăm ngày dài u tối” nữa - Bệnh càng nặng, đến nỗi Mao “bị mù hoàn toàn, hai chân bị phù thủng, nếu không có người dìu thì không thể đi lại được” (Trần Trường Giang, sđd, tr. 332). Mao không cho nói với bất kỳ ai khác về chuyện Mao “không nhìn được” ngoài các nhân viên, thư ký, bác sĩ phải làm việc cạnh Mao hàng ngày, kể cả Bộ Chính trị cũng chỉ có Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình với vài ủy viên nữa biết. Tuy thị lực “gần như bằng 0”, nhưng đầu óc Mao vẫn rất tỉnh táo, sắc sảo, tay Mao vẫn nắm chặt quân đội. Bởi quân đội là điều kiện “ắt có” để khai sinh và bảo vệ chế độ của Mao - như Mao từng tuyên ngôn: “Chính quyền vươn lên từ nòng súng”! Ngón tay Mao độc quyền đặt lên cò súng “quốc gia”, bởi Mao không nhường cho ai vị trí Chủ tịch Quân ủy trung ương. Mao biết, nếu rời vị trí ấy Mao có thể đã bị Lâm Bưu thanh toán. Trong quá khứ, Lâm Bưu không thể ra tay được, do quyền điều động quân đội tập trung trong tay Mao, Bắc Kinh nghiêm ngặt tới mức “điều động một trung đội cũng phải được Mao phê chuẩn - Lâm Bưu là Phó Chủ tịch Quân ủy kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng cũng không được điều động một trung đội. Tổng tham mưu trưởng Hoàng Vĩnh Thắng trở xuống càng không có quyền ấy” - theo Tân Tử Lăng. Vậy nên, Lâm Bưu không thể dùng bộ binh đánh ngược Mao. Dầu Hoàng Vĩnh Thắng thuộc vây cánh Lâm, Thắng vẫn không dám phiêu lưu tự ý cầm quân qua cửa ngõ thành phố lấy nửa bước, đừng nói tới “vẫy tay vung đạn” vào Trung Nam Hải ! Lâm Bưu kế cùng, muốn qua Vương Phi (Phó Tổng tham mưu trưởng Không quân) để “tạm mượn” tiểu đoàn cảnh vệ trực thuộc Bộ Tư lệnh Không quân bất ngờ đánh vào Điếu Ngư Đài - theo dự kiến. Không may, giờ chót: lực lượng không quân thân Lâm Bưu bị Chu Ân Lai khống chế, vô hiệu hóa, cả nhà Lâm đành lao vào “đường bay tuyệt mệnh”!. Cũng ở vị trí Chủ tịch Quân ủy trung ương, Mao điều hơn 40 chiến hạm đến vùng biển Việt Nam làm “tấm lá chắn”cho quần đảo Hoàng Sa sau ngày đánh chiếm (chúng tôi sẽ trở lại “sự kiện Hoàng Sa” trong phần viết về quần đảo Trường Sa ở đoạn sau của loạt bài này). Trước ngày “bùng nổ Hoàng Sa”, Quân ủy trung ương của Mao soạn thảo một văn kiện tuyệt mật chống phá Việt Nam, lưu hành nội bộ, bị tiết lộ bởi gián điệp Trung Quốc Lê Xuân Thành (người Quảng Đông, được Bắc Kinh tung vào Việt Nam hoạt động và bị bắt tại Quảng Bình ngày 30.3.1973). Văn kiện có đoạn: “Nước ta và nhân dân Việt Nam có mối hận thù dân tộc hàng nghìn năm nay. Chúng ta không được coi họ là đồng chí chân chính của mình, đem tất cả vốn liếng của ta trao cho họ. Ngược lại chúng ta phải tìm mọi cách làm cho nước họ ở trong tình trạng không mạnh, không yếu mới có thể buộc họ ở trong tình trạng hiện nay. Về bề ngoài chúng ta đối xử với họ như đồng chí của mình, nhưng trên tinh thần ta phải chuẩn bị họ trở thành kẻ thù của chúng ta…” (theo văn kiện của Bộ Ngoại giao nước CHXHCNVN: “Sự thật về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong 30 năm qua” công bố 4.10.1979 - Phần thứ tư). Nhìn về quá khứ, quan hệ “bất bình đẳng” giữa Việt Nam - Trung Quốc đã xảy ra qua đàm phán Geneva 1954. Điều đó, bạn đọc có thể tìm hiểu sâu hơn qua bài viết của Thảo Nguyên“Cố TBT Lê Duẩn: Chúng ta không được phép sợ Trung Quốc" (Báo điện tử Một Thế Giới8.7.2014) - trích tham khảo một đoạn (do thư ký của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng là ông Việt Phương kể) : “Khi bàn thảo về Hiệp định Geneva, Bộ Chính trị của ta chỉ đồng ý lấy vĩ tuyến 16 là ranh giới cuối cùng của khu phi quân sự tạm thời giữa hai miền Nam - Bắc trong thời gian chờ tổng tuyển cử. Nhưng Trung Quốc với sự ảnh hưởng của mình, đã khăng khăng ép ta chọn vĩ tuyến 17. Khi chúng ta bàn bạc vấn đề này với Trung Quốc, họ đã nói: “Chúng tôi là tướng ngoài mặt trận. Các đồng chí hãy để cho chúng tôi tùy cơ ứng biến”. Khi nói như thế, người Trung Quốc đã tự cho mình quyền định đoạt số phận của người Việt Nam”. Tư tưởng “nước lớn” và “bành trướng” ngày càng bám rễ trong tư duy của Trung Nam Hải do Mao lèo lái ngay cả khi Mao bị bóng tối giam cầm. Bị mù, Mao vẫn bằng mọi cách trực tiếp xuất hiện trước lãnh đạo các quốc gia đến thăm Trung Quốc như Thủ tướng nước Anh Sir Edward Health (6.1974), Thủ tướng Vương Quốc Bỉ Leo Tindemans (19.4.1975), Thủ tướng Thái Lan Kukrit Pramoj (1.7.1975). Trong bóng tối, Mao sắp đặt cẩn thận và chu đáo chuẩn bị đón tổng thống Mỹ Gerald Rudolph Ford sẽ đến Bắc Kinh (12.1975) tiếp tục bàn thêm về thỏa hiệp Trung Mỹ - bao gồm việc Mỹ vẫn mở eo biển Đài Loan cho những “hạm đội Đông Hải” của Mao theo con đường nhanh nhất tràn xuống phía Nam? Chủ tịch Hồ Chí Minh với Diệp Kiếm Anh và Chu Ân LaiSinh viên Việt Nam tại Canada biểu tình trước tòa đại sứ Trung Cộng ở Ottawa ngày 4.2.1974 để phản đối Trung Cộng xâm lăng Hoàng Sa.  Đêm trước cuộc hải chiến 19.1.1974, Mao Trạch Đông ủy nhiệm Chu Ân Lai chủ trì hội nghị phổ biến quyết định đánh Hoàng Sa và thành lập Ban lãnh đạo tác chiến khẩn cấp do nguyên soái Diệp Kiếm Anh đứng đầu. Diệp Kiếm Anh là một trong 10 nguyên soái Trung Quốc được phong đợt đầu tiên năm 1955, lúc ông 58 tuổi. Ông gặp Hồ Chí Minh vào giai đoạn cả nước Trung Hoa sôi sục chống phát xít Nhật cuối thập niên 1930. Đầu năm 1939, Diệp Kiếm Anh được Đảng CSTQ cử dẫn đầu một đoàn cán bộ quân sự đến Hồ Nam (quê hương Mao Trạch Đông) để huấn luyện chiến tranh du kích - lúc ấy Hồ Chí Minh (người của Quốc tế Cộng sản) đóng vai một sĩ quan cấp bậc thiếu tá tham gia đoàn của Diệp Kiếm Anh (với bí danh Hồ Quang) để giảng dạy hai khóa liền từ tháng 2 đến cuối tháng 9 năm đó. Cuối đời, Diệp Kiếm Anh ngã bệnh (năm 1982, lúc 85 tuổi): “Trong thời gian chữa trị và điều dưỡng, ông thường kể cho các bác sĩ và y tá chuyện sau: Nhân kỷ niệm thành lập Quân đội Nhân dân VN, Diệp Kiếm Anh dẫn đầu đoàn đại biểu hữu nghị quân sự Trung Hoa sang thăm Việt Nam và đã tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ của nhân dân Việt Nam, một chiếc quạt Sương phi đời Minh của Trung Quốc”. Trên mặt chiếc quạt, ngoài bức quốc họa do Hoàng Vị - một họa sĩ nổi tiếng của Trung Quốc vẽ, Diệp Kiếm Anh còn “làm một bài thơ với tựa đề: Tặng quạt Sương phi cho Hồ Chủ tịch” (La Nguyên Sinh, sđd ở Kỳ 4, tr.17). Với Chu Ân Lai và Đặng Dĩnh Siêu vợ ông, Hồ Chí Minh là người anh, người nhà của gia đình. Bà Đặng Dĩnh Siêu từng tự tay mình đan một chiếc áo len để Hồ Chí Minh mặc đến khi bạc màu. Viết về quan hệ thân thiết đó, Trần Quân Ngọc qua cuốn “Những người bạn quốc tế của Bác Hồ”, NXB TP. HCM quý II-2000, dẫn hồi ký của Tiêu Tam (Cao Đàm ghi), bài trên Nhân dân nhật báo (Trung Quốc) số 18.5.1982, cho biết: Mùa hè năm 1922, Hồ Chí Minh đã gặp Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình, Lý Phú Xuân, Thái Hòa Sâm cùng một số thanh niên Trung Quốc khác tại Paris và giới thiệu Triệu Thế Viêm, Trần Diên Niên, Vương Nhược Phi, Tiêu Tam vào Đảng Cộng sản Pháp mùa thu năm ấy. Vài năm sau, Hồ Chí Minh và Chu Ân Lai lại hoạt động bên nhau tại Quảng Châu (1924-1927). Bấy giờ chính phủ Liên Xô cử Bôrôđin làm đại diện Quốc tế Cộng sản tại Trung Quốc (cố vấn cho Tôn Dật Tiên - người đứng đầu chính phủ Quảng Châu). Hồ Chí Minh (với bí danh Lý Thụy làm cố vấn riêng và phiên dịch cho Bôrôđin) phụ trách Cục Phương Nam thuộc Bộ Phương Đông của Quốc tế Cộng sản, được giao đảm trách phong trào nông dân của Trung Quốc, Đông Dương, Miến Điện, Nam Dương. Còn Chu Ân Lai giữ chức Chủ tịch Khu ủy Quảng Đông - Quảng Tây Đảng CS Trung Quốc, làm Chủ nhiệm Ban chính trị Trường Quân sự Hoàng Phố, đã nhiều lần mời Hồ Chí Minh tới thăm và nói chuyện với học viên của trường. Nhiều năm sau, hai người còn gặp ở “đất thánh cách mạng” Diên An (1938). Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời (1969), Chu Ân Lai thay mặt Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc sang Hà Nội dự lễ tang, đọc điếu văn trước linh cữu: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những lãnh tụ xuất sắc của thế giới thứ ba, của các dân tộc đói nghèo và khát khao nhân phẩm. Người đã dạy họ trước hết phải dựa vào sức mình là chính để tự giải phóng (…) cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta những hình ảnh phi thường”. Chu Ân Lai nhắc đến: - “Công lao của Người đối với Tổ quốc chúng tôi cũng to lớn và vô cùng hiển hách”. “Tổ quốc chúng tôi” chính là Trung Quốc - nơi Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Diệp Kiếm Anh và Đặng Tiểu Bình đã phát động và chỉ đạo cuộc chiến tranh xâm lược Hoàng Sa. Ban lãnh đạo tác chiến gồm 6 người: Diệp Kiếm Anh (Phó Chủ tịch Quân ủy trung ương - trưởng ban), Đặng Tiểu Bình, Vương Hồng Văn, Trương Xuân Kiều, Trần Tích Liên và Tô Chấn Hoa. Chu Ân Lai giữ vai trò chủ đạo, vạch kế hoạch - hoàn chỉnh phương án tác chiến và báo cáo diễn biến trận đánh lên Mao. Cũng chính Chu và Diệp Kiếm Anh liên danh đề nghị Mao phê chuẩn lệnh “nổ súng”. Mao phê “đồng ý” - tức đồng ý dùng vũ lực đánh chiếm Hoàng Sa - theo Tân Hoa xã 5.8.2012 và Nhân dân nhật báo 9.8.2012. Sau trận hải chiến 19.1, Trung Quốc chiếm quần đảo Hoàng Sa nhưng vẫn chưa đưa ra được chứng cứ lịch sử về “chủ quyền đã có (effet déclaratif)” . Ngược lại, VNCH qua tài liệu gần 100 trang (3.1974) nhanh chóng chứng minh quyền sở hữu của Việt Nam bằng những phân tích sử liệu ghi trong: Phủ biên tạp lục, Hoàng Việt địa dư chí, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Đại Nam nhất thống chí, Quốc triều chánh biên toát yếu, và nhiều tài liệu khác của người Hòa Lan về thời các chúa Nguyễn, hoặc của Jean Baptiste Chaigneau và giám mục Taberd. Đáng ghi nhận là tường trình ngày 16.2.1974 của một cựu quân nhân người Việt thuộc lực lượng không quân Pháp thời trước là ông Trần Văn Mạnh. Khi Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, ông Mạnh làm Trưởng ty khí tượng Tuy Hòa (Phú Yên) thuộc Bộ Giao thông Bưu điện của Chính phủ VNCH và gởi tường trình trên đến Văn phòng Tổng thống, Thủ tướng, Chủ tịch Tối cao Pháp viện và Tổng trưởng Bộ Ngoại giao ở Sài Gòn. Ông Mạnh từng sống khá lâu trên hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa, nên thông tin của ông đầy những “chi tiết sống”, giới thiệu bởi tài liệu VNCH (đã dẫn Kỳ 37): “Phía Đông Bắc đảo Hoàng Sa có vài ngôi mộ của lính thú dưới đời vua Gia Long đã chết và an táng tại đó. Phía Đông có một am thờ gọi là đền Bà (…). Phía Bắc cách độ một cây số nằm dưới mặt biển còn một pho tượng lớn bị gãy đầu (tượng đàn ông). Khi nước thủy triều xuống cạn thì pho tượng ấy được nhìn thấy rõ ràng. Còn tại đền thờ Bà thì có một pho tượng đá (đàn bà) đặt trên một bệ đá chạm trổ tinh vi từ xưa, có lần người Pháp muốn đem pho tượng này về Viện Bảo tàng Đà Nẵng nhưng oái oăm thay tượng tuy nhỏ mà 8 người lính Pháp vạm vỡ bưng lên không nổi để đem xuống tàu thủy và do sự tín ngưỡng lính Việt Nam yêu cầu để lại đền Bà cho đến ngày nay - 1974” (còn nữa)…  Cuộc mít tinh và biểu tình tuần hành tại quận Phú Mỹ ngày 11.2.1974 với 30.000 đồng bào tham dự, nhằm lên án Trung Cộng xâm chiếm Hoàng Sa. Bắc Kinh - Phnom Penh: “Hai phương trời cách biệt!“Hoàng thân Sihanouk và tổng thống Indonesia Sukarno Sihanouk bị Lon Nol và Sirik Matak lật đổ (1970), thất thế phải đáp xuống Bắc Kinh gặp Mao, Mao nói: “Ngài đáng trở thành một người cộng sản - kể từ nay xin ngài hãy cân nhắc việc trở thành một người cộng sản”! Là một ông hoàng bay bướm, thích ngao du, lẽ nào Sihanouk chịu khép mình vào “đảng Mao”. Ông đáp: - Thưa chủ tịch, tôi không hiểu chủ nghĩa cộng sản cũng như chủ nghĩa Mác - Lênin là gì. Tôi đã đọc “Sách đỏ” của chủ tịch, thế là đủ. 1. PHNOM PENH: THỦ ĐÔ CỦA NỮ THẦN CALYPSO VÀ CÁC VŨ NỮ APSARA: Mao chưa buông tha “kẻ ngoại đạo”, vẫn cố thuyết phục để Sihanouk đem sinh mạng chính trị của mình đổi lấy “một vé đến thiên đường”. Có điều, lòng ngưỡng mộ lý tưởng quân chủ trung lập (không cộng sản) đã bắt rễ quá sâu trong máu Sihanouk. Mao khó mà “nhuộm đỏ” những bức tường màu vàng rực ở cung điện hoàng gia Campuchia vốn là màu đặc trưng, quý phái và chói sáng trong ký ức Sihanouk từ ngày ông lên ngôi vua lần thứ nhất năm 1941, mới 18 tuổi (lúc Mao đang còn lận đận) – 14 năm sau, Sihanouk nhường ngôi cho thân phụ là hoàng thân Suramarit làm Quốc vương, còn ông làm thủ tướng (được bầu). Với vị thế chính trị đó, tháng 4.1955, trên diễn đàn Hội nghị thượng đỉnh các nước Á Phi không liên kết lần thứ nhất nhóm ở Bandung, Sihanouk tuyên bố nước “Campuchia trung lập”. Đến 1960, Quốc vương Suramarit băng hà, Sihanouk lên làm Quốc trưởng. Dưới quyền Sihanouk, những con đường chính trong thủ đô Phnom Penh trung lập mang tên một số lãnh tụ của các chế độ chính trị khác nhau trên thế giới như: đại lộ Charles de Gaulle (tổng thống Pháp), đại lộ Mao Trạch Đông, đại lộ Liên bang Xô-viết… Ông cho phép mở những hiệu sách bán tiểu thuyết trữ tình của Pháp, đĩa hát Mỹ và tác phẩm triết học phương Tây (Mao rất kỵ). Phnom Penh có những vũ trường đỏ đèn qua đêm. Có quán cà phê hảo hạng Apsara thấp thoáng những vũ nữ má hồng. Có quán rượu mang tên Calypso - nữ thần mây mưa lãng mạn trong trường ca Odyssée – đã yêu đơn phương Ulysse suốt 7 năm và hứa hẹn sẽ trao người mình yêu “một trái tim không bao giờ ngừng đập”. Buổi trưa, du khách có thể bất chợt bắt gặp giữa Phnom Penh cô bán sách nằm mơ màng bên những cuốn “Đứa con đi hoang trở về” của André Gide, hoặc gối đầu lên “Bạo chúa Caligula”và những “Con người phản kháng” của Albert Camus để ngủ. Bernard Krisher - một trong những trưởng văn phòng của tuần báo Newsweek tại châu Á - là nhà báo đầu tiên phỏng vấn hoàng đế Hirohito của Nhật – đến Phnom Penh mùa xuân 1965 dự dạ hội hoàng cung với “những người mẫu xinh đẹp lái những chiếc xe hơi đời mới nhất và sang trọng nhất giống như một buổi trình diễn thời trang ở Paris” và đọc thấy trong bản tin hàng ngày của hãng thông tấn Khmer lúc ấy đăng danh sách “hàng nhập khẩu ở nước ngoài với số lượng những cuộn phim Kodak và những chai rượu Perrier”. Bernard Krisher nhận xét: “Người Campuchia, dưới thời Sihanouk, được sống trong một tủ kính tuyệt vời - và không ai có thể ném đá vào cái tủ kính đó”. Mười năm sau, Khmer Đỏ thay vì ném đá, đã đặt bom giật nổ tung tất cả, muốn lật mặt đất Phnom Penh lên để moi tìm hạt giống “bảo hoàng” sót bên dưới, lạnh lùng theo kiểu hồng vệ binh của Mao từng đập phá lăng mộ Thành Cát Tư Hãn và Chu Nguyên Chương - hoàng đế khai sáng nhà Minh (Minh Thế Tổ). Một nhận xét khác: trong thời trị vì của Sihanouk, mặc dầu đâu đó vẫn tồn tại những xóm nghèo, song thủ đô Phnom Penh vẫn “giống như một thành phố êm đềm ở một tỉnh của Pháp (…) lối sống hòa nhã, tử tế. Phnom Penh đã tự xưng là hòn ngọc của Đông Nam Á, mặc dù Sài Gòn cũng đã ở ngôi vị như vậy. Tất cả đã qua đi, đã bị Khmer Đỏ xóa sạch” (Hun Sen - sđd. tr. 232). 2. BẮC KINH: THỦ ĐÔ VỚI ĐỢT “SÓNG THẦN MÀU ĐỎ”: Cùng thời điểm 1965 – 1969, khi thủ đô Phnom Penh mở cửa rộng thoáng, Bắc Kinh thế nào? Trần Trường Giang (sđd ở Kỳ 8, tr.46-47) thuật: Ngày 18.8.1966, lễ meeting Đại cách mạng văn hóa cử hành trọng thể tại thủ đô. Chu Ân Lai thông báo: trung ương quyết định, toàn bộ sinh viên trên cả nước và một bộ phận học sinh trung học làm đại biểu cho lực lượng hồng vệ binh, phân chia thành từng tốp, lần lượt đến Bắc Kinh để Mao chủ tịch tiếp kiến. Chỉ trong thời gian rất ngắn, hàng triệu thanh thiếu niên trên cả nước “đi bằng xe lửa, ô tô, đi bộ, trèo qua núi cao, vực sâu, lũ lượt kéo đến (…) bất luận đi bằng phương tiện gì, ăn ngủ ở nhà nghỉ hay khách sạn đều không phải trả tiền, thậm chí còn được phát tiền lộ phí, bởi họ là khách quý của Mao chủ tịch, được Mao chủ tịch mời đến”. Khoảng thời gian đó, đường phố thủ đô Bắc Kinh tràn ngập “toàn người là người, nhà nhà có khách, cửa hàng cửa hiệu đầy ắp khách (ăn không trả tiền)”. Từng đợt, từng đợt tiếp tục đến, đông quá không còn chỗ ở “họ kéo nhau ra công viên, ra các đường phố lớn dựng nhà bạt làm chỗ ăn ở tạm. Tổ chức đem bánh mì, bánh bao, trứng gà phát không tận tay. Cả thủ đô Bắc Kinh gồng mình lên đón tiếp họ”. Việc mua bán tắt nghẽn. Rồi sau đó? Họ cầm “Sách đỏ” của Mao hăng máu bước vào “thời của những kẻ giết người”. Tài liệu Tân Tử Lăng ghi: “chỉ riêng hạ tuần tháng 8.1966, nội thành Bắc Kinh đã có hàng ngàn người bị đập chết tươi - nhiều người khi ấy đã được chứng kiến những cuộc tắm máu, những kiểu giết người cực kỳ man rợ như thời Trung cổ”. Tập thể đao phủ gồm những hồng vệ binh trẻ tuổi dùng gậy gộc đao búa đánh vào đầu những người thuộc 4 đối tượng do Mao quy định: “địa chủ, phú nông, phản cách mạng và phái hữu đi theo con đường tư bản”. Máu chảy, Mao cấm quân đội và công an không can thiệp, ngăn cản, hoặc nổ súng vào hồng vệ binh, dẫu chỉ “bắn lên trời” để dọa ! Không khí thù hằn tràn ra khỏi thủ đô, bao trùm cả nước Trung Hoa rộng lớn, tỉnh Hồ Nam là một trong những điển hình: “Khắp nơi là những bố cáo giết người của tòa án tối cao bần nông và trung nông lớp dưới, những khẩu hiệu kêu gọi giết sạch 4 loại người (đã nêu trên). Trong 66 ngày từ 13.8 đến 17.10.1967 có 4.519 người thiệt mạng, trong đó gồm 4.193 người bị giết, 326 người bị buộc phải tự sát” - theo Tân Tử Lăng. 3. SIHANOUK: “TÔI LÀ NGƯỜI THEO ĐẠO PHẬT. HÃY THA LỖI CHO TÔI” Khác Mao, Sihanouk không thích bạo lực. Ông thích soạn nhạc, chơi saxophone sành sỏi và đạo diễn nhiều cuốn phim như “Hoa hồng Bokor” do chính Sihanouk thủ vai một đại tá người Nhật trong thế chiến thứ hai đã yêu thương một cô gái Campuchia xinh đẹp (do vợ ông, bà hoàng Monique đóng) – gởi gắm thông điệp: “tình không biên giới”. Gặp gỡ các lãnh tụ: De Gaulle, Nehru, Nasser, Khruschchev, Boumédienne, Sékou Touré… trong nhiều trường hợp Sihanouk vượt qua rào cản ngoại giao để thân mật hơn khi tiếp chuyện. Với tổng thống Achmed Sukarno (1901 - 1970) của Indonesia chẳng hạn. Sukarno là“một nhà ngôn ngữ học hoàn hảo” giỏi tiếng Hà Lan, nói thạo tiếng Pháp, tiếng Anh và tiếng Pali (ngôn ngữ cổ Ấn Độ). Còn Sihanouk giỏi tiếng Pháp, học tiếng La tinh và tiếng Hy Lạp cổ điển tại trường Trung học Lycée Chasseloup Laubat (nay là trường Lê Quý Đôn - TP. HCM). Họ, hai người, Sihanouk và Sukarno ngay lần gặp mặt đầu tiên đã tỏ vẻ tâm đắc, nói chuyện bằng tiếng Pháp không cần phiên dịch, nhanh chóng thành “đôi bạn chân tình” hiếm có trong giới những lãnh tụ. Sukarno chiêu đãi, hoàng thân Sihanouk cụng ly hát bài La vie en rose (Đời đẹp tựa bông hồng),J’attendrai (Anh sẽ đợi) và chia tay hát bài Sayonara (Chào tạm biệt) vượt qua nghi lễ quốc gia, đến gần với “tình nghệ sĩ”. Còn Mao? Mao thuyết giảng chủ nghĩa Mác – Lênin “mang màu sắc Trung Quốc”. Sihanouk cám ơn: - Tôi tán thành những lý tưởng của chủ tịch, nhưng tôi không biết gì về chủ nghĩa cộng sản. Tôi không thể trở thành một người cộng sản tốt được. Vì Sihanouk “không biết gì”, nên Mao hướng dẫn “đọc những luận văn tóm lược về chủ nghĩa cộng sản mà người ta nói là để làm cho chủ nghĩa Mác Lê-nin dễ hiểu hơn” - nói trắng ra, Mao muốn khuyên Sihanouk “học thuộc lòng” những sách nhập môn về lý thuyết cộng sản dành cho các đảng viên dự bị. Đến đó, Sihanouk thấy cần kết thúc: - “Thưa chủ tịch, rõ ràng là tôi không thể – tôi đã quá già để không thể thay đổi triết lý sống của mình. Tôi là người theo đạo Phật. Hãy tha lỗi cho tôi”. Nghe vậy “Mao Trạch Đông hoàn toàn thất vọng đối với tôi (Sihanouk)”, để không lâu sau Mao xoay sang “hết lòng ủng hộ chế độ Pol Pot”, sẵn sàng làm theo mật lệnh của Mao. Văn kiện của Bộ Ngoại giao Việt Nam 4.10.1979 nêu rõ: Trung Quốc đã “gạt Quốc trưởng Sihanouk và những người thân cận của ông ta, để xây dựng nên một chế độ phát xít diệt chủng (do Pol Pot đứng đầu) có một không hai trong lịch sử loài người và thông qua chế độ đó hoàn toàn kiểm soát nước Campuchia, biến Campuchia thành một nước chư hầu kiểu mới và căn cứ quân sự của họ để tiến đánh Việt Nam từ phía Tây Nam” (tài liệu đd Kỳ 43). Cuộc đối thoại giữa Mao và Sihanouk trên do chính Sihanouk kể, tóm lược từ Hồi ký Sihanouk– những lãnh tụ thế giới mà tôi từng biết, Trần Chí Hùng dịch, sđd Kỳ 44, tr. 151-152. (những câu trong ngoặc kép có nội dung liên quan trích từ nguyên văn bản dịch). Là người theo đạo Phật, Sihanouk rất khó xử khi một “người bạn lãnh tụ” nào đó mời ông tham gia những trò giải trí “sát sinh” như đi săn bắn hoặc câu cá. Một đoạn Hồi ký Sihanouk về mối quan hệ với nguyên soái Josip Broz Tito của Nam Tư nói rõ điều đó. Tito thân Sihanouk tới nỗi mỗi lần Sihanouk đến thăm, Tito tự tay lái xe đưa tới ngôi biệt thự nhỏ bằng gỗ trên đảo Wanga, lấy từ hầm rượu một chai vang trắng hảo hạng của Nam Tư sản xuất từ 1892 (năm sinh Tito) để mời và đích thân “làm món thịt quay kiểu Mỹ cho Monique vợ tôi và tôi, rồi tự tay pha cà phê Thổ Nhĩ Kỳ tỏa hương thơm ngào ngạt”. Nhưng “có một trò giải trí tôi không chấp nhận là săn bắn và tôi cũng không thích đi câu trong khi Tito lại rất thích cả hai, đặc biệt là đi săn” (sđd. tr. 165). Ở đoạn khác: “trong chuyến đi thăm Phnom Penh, Tito muốn tôi tổ chức một cuộc đi săn voi (…) làm sao tôi có thể biện hộ cho việc săn bắn những con dã thú trước 80.000 vị sư mà họ có thể “xé tôi ra từng mảnh” vì buộc tội tôi là một nguyên thủ quốc gia theo đạo Phật không được phép sát sinh” – đi săn voi, câu cá là phạm giới (sđd. tr. 171). Khi Sihanouk nói “tôi là người theo đạo Phật” Mao ít nhiều “bẽ mặt”, vì Mao đã ra lệnh đàn áp tàn nhẫn những người Phật tử sau ngày nắm chính quyền: “cộng sản thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1949 Phật giáo phải đương đầu với một chính sách duy vật, vô thần, xem tôn giáo là thuốc phiện, là công cụ của giai cấp thống trị - chính sách chung là bài trừ tôn giáo” (Trần Quang Thuận - Phật giáo Trung Quốc, NXB Tôn Giáo, Hà Nội quý IV - 2008, tr. 537). Trần Quang Thuận viết tiếp: “Cộng sản Trung Hoa tuyên bố chính sách tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng” để huyễn hoặc và che mắt công chúng, bởi: “tự do không tín ngưỡng”có nghĩa là cho phép những người vô thần “có quyền chống lại bất kỳ tín ngưỡng tôn giáo nào”(trong đó có Phật giáo và Công giáo). Ngày 4.8.1950, chưa đầy một năm thành lập nước CHND Trung Hoa, Mao Trạch Đông chính thức nêu quan điểm: “xem tu sĩ Phật giáo, đạo sĩ Lão giáo (…) là ký sinh trùng của xã hội, phương trượng trụ trì ở các đại tự là thành phần địa chủ sống bằng mồ hôi nước mắt của dân”,mở đường cho chiến dịch càn quét dã man chùa chiền, tự viện, sát phạt bắt bớ các vị cao tăng, hòa thượng, chư tăng ni và thiện nam tín nữ khắp Trung Quốc, với những cuộc đấu tố tra khảo đẫm máu giữa sân chùa, được giải mật và sẽ tường thuật chi tiết ở kỳ sau
Cuộc hành quyết man rợ trên núi Mộc Phong - Trung QuốcHoàng thân Sihanouk: “Mao Trạch Đông đã chọn cách ủng hộ chế độ mới của Khmer Đỏ để (Pol Pot )ganh đua (thực hiện) cuộc cách mạng văn hóa được vợ ông, bà Giang Thanh, cổ vũ đang tàn phá đất nước ông” (Hồi ký Sihanouk – sđd ở Kỳ 44) 
Hôm ấy nhằm 21 tháng bảy âm lịch, vùng núi Mộc Phong đã vào tiết Xử thử (dứt cơn nóng) cách đó một ngày. Còn gần hai tuần nữa mới đến tiết Bạch lộ (sa mù trắng) mà chim nhạn đen (huyền điểu) đã sớm bắt đầu họp đàn đông đúc, sum vầy, rủ nhau bay về núi – làm cô giáo Chu Quần thấy lẻ loi thêm. Vì chồng cô, anh Tưởng Hán Chính, thuộc đối tượng “xuất thân địa chủ” bị hồng vệ binh nông dân bắt đi mất, chưa về. Đêm ấy, đến lượt cô, vừa chợp mắt bỗng tiểu đoàn trưởng dân quân Tưởng Văn Minh xô cửa xông vào, bắt cô dẫn ra sân kho của đại đội sản xuất Hoành Lĩnh. Cô thấy chồng mình Tưởng Hán Chính cùng 13 người khác bị trói quặt tay ra sau lưng bằng những sợi dây thép, đứng thành một cụm giữa sân. Vây quanh họ có đám đông hồng vệ binh nông thôn, mặt mày sát khí, cầm sẵn mã tấu, cuốc xẻng trên tay. Bí thư chi bộ Đường Hưng Hạo ra lệnh: “Đi!” Chu Quần cùng chồng và những nạn nhân ghép vào “đối tượng thù địch của đảng và nhân dân” bị thúc ép đi nhanh lên núi Mộc Phong. Nửa đường, một đám cầm gậy tách ra chạy ngược về phía nhà Chu Quần bắt thêm ba đứa con nhỏ của vợ chồng cô lên theo. Tới nơi, dưới ánh đuốc lạnh lẽo, bí thư Đường Minh Hạo dõng dạc đọc “cáo trạng” lẫn bản “tuyên án” chỉ gọn lỏn trong một câu sấm sét: - “Chúng tao là Tòa án tối cao của bần nông, hôm nay tuyên án tử hình tất cả chúng mày!” Ai nấy phải đứng im, không được phép biện hộ một tiếng nào, nghe kêu tên người nào người đó phải bước tới, quỳ bên miệng hang sâu tối om, để các đao phủ áo đen “dùng xà beng quật vào sau não cho gục ngã, rồi đạp xuống hang” từng người một. Người thứ nhất, thứ hai, đến người thứ ba là chồng Chu Quần. Anh Tưởng Hán Chính bị đánh mạnh xà beng vào ót trong ánh mắt kinh hoàng của vợ anh và tiếng kêu ré thảm thiết của ba đứa con anh… Nạn nhân thứ tư là thầy thuốc Đông y Tưởng Văn Phàm. Phàm bình tĩnh đón nhận cái chết, ung dung đòi “một ngụm nước uống”. Chúng quát: “Làm gì có nước cho mày uống!”. Phàm là người duy nhất hôm ấy dám bắt bẻ: “Ngày xưa khi bị chặt đầu còn cho được ba cái bánh bao nóng để ăn!” – dứt lời, bị đạp ngay xuống hang. Tân Tử Lăng thuật tiếp (tài liệu đã dẫn ở Kỳ 2): “Người thứ 8 là Chu Quần. Ba đứa trẻ nhìn mẹ bị hại, khóc lóc thảm thiết. Không biết ngất đi trong bao lâu, Chu Quần bỗng nghe tiếng gọi mẹ văng vẳng bên tai. Tỉnh lại, chị thấy đứa con gái 8 tuổi nằm bên, thì ra mấy cháu cũng bị ném xuống hang theo mẹ. Nhờ đám xác người bị giết trước, hai mẹ con chị sống sót. Chị bảo con cởi trói cho mình. Hôm sau, những kẻ giết người phát hiện dưới hang còn người sống sót, liền ném đá xuống. Hai mẹ con từ tầng trên rơi xuống tầng dưới nơi có những góc chết. Chị phát hiện chồng và hai đứa con trai nằm ở đó. Cả nhà may mắn thoát chết, một cuộc đoàn tụ hiếm hoi và thảm thương trên đống xác người dưới hang sâu tối tăm”. Sợi dây thép trói tay anh Tưởng chặt quá như ăn dính vào thịt không làm sao cởi ra nổi. Đầu óc anh đâm ra hoảng loạn, không đứng yên được, cứ đi đi lại lại miệng nói lảm nhảm trên đống xác người. Cảnh thê lương dưới đáy hang như thế tiếp diễn suốt mấy ngày đêm không được rõ, cả ba đứa con của Chu Quần “lịm dần rồi tắt thở”. Anh Tưởng kêu khát nước “chị Chu lấy áo thấm vào vũng nước trộn máu, vắt ra cho chồng uống. Song anh không nuốt nổi, gục đầu xuống lìa đời. Sau nhờ hai học sinh đến cứu, chị thoát chết, và vụ giết người rùng rợn này mới có ngày được phơi trần”. Cuộc thảm sát ấy xảy ra đêm 26.8.1967 (21.7 Đinh Mùi). Nhắc đến các vụ hành quyết man rợ thời Mao là để đối chiếu thấy rõ thêm cách Pol Pot giết người tương tự theo “bài bản của Mao” và phương châm: “tiết kiệm đạn”, không dùng súng, chỉ lấy cuốc xẻng đập đầu, hoặc các vật cứng khác để hành hình, như trường hợp: “Phlek Chhat – một bác sĩ nội trú tại bệnh viện Preah Ket Mealea – đã bị bắt ở tỉnh Kompong Cham, bị nhét một ngọn đuốc đang cháy vào miệng và đã chết (…) Hàng trăm bác sĩ khác chẳng bao giờ gặp lại gia đình của họ sau khi bị bắt” (Hun Sen – sđd. tr. 250 - 251). Mọi thảm cảnh ở Campuchia xuất phát từ chỗ “Pol Pot thấy được nguồn cảm hứng đối với chủ nghĩa cộng sản theo kiểu Mao Trạch Đông và tìm cách tái tạo khuôn mẫu chủ nghĩa Mao ở Campuchia qua việc đấu tranh giai cấp và cải cách ruộng đất” (Hun Sen – sđd. tr. 52). Thảm kịch diễn ra ngay từ ngày đầu lúc Khmer Đỏ vừa tiến chiếm Phnôm Pênh vào 17.4.1975 và bùng to dữ dội sau ngày Pol Pot đến Trung Nam Hải “triều kiến” Mao Trạch Đông tháng 6.1975 (xem Kỳ 45): Khmer Đỏ “phá hủy nền kinh tế, đã đóng cửa các doanh nghiệp và các nhà máy, đã tàn sát có hệ thống những người trí thức Campuchia được phương Tây đào tạo, các bác sĩ, các giáo viên và các nhà khoa học bằng nhiệt huyết điên rồ của Khmer Đỏ là xây dựng một nước Campuchia mới, một quốc gia “không có bất cứ ảnh hưởng nào của phương Tây” và họ đã“nhiễm đầy các tư tưởng Mao Trạch Đông” để xây dựng một xã hội dựa vào nền nông nghiệp” – một nền nông nghiệp quá lạc hậu và mang đầy dấu vết “nguyên thủy”. Từ xuất phát điểm ấy, Pol Pot quay ra thù nghịch với hoạt động tài chính đương thời, đã “ghét tiền một cách cực đoan đến độ đánh sập tòa nhà Ngân hàng trung ương tại đại lộ Tou Samouth” (Hun Sen – sđd. tr. 233-234). Bà Saumura – bỏ công việc ở Paris để nhận làm Phó tổng giám đốc Ngân hàng Quốc Gia Campuchia – phê phán hành động đó của Pol Pot là đã “gây tổn thương lớn (…) khi Khmer Đỏ đánh sập hoàn toàn nhà ngân hàng này, Ngân hàng Trung ương, vì nó (dưới mắt Pol Pot) là biểu tượng của chủ nghĩa tư bản. Họ muốn cho thấy thái độ thù địch của họ chống lại thị trường tự do” (Hun Sen – sđd. tr. 234). Về giáo dục, Khmer Đỏ đóng cửa các trường học, hành quyết các nhà giáo, để rồi: “không sao có thể xây dựng lại một hệ thống giáo dục đúng nghĩa vì các giáo viên đã chết – toàn bộ những người làm nghề giáo đã bị giết bằng lưỡi lê” – Hun Sen, sđd. tr. 248. Hoàng Sa và những nhân chứng lên tiếng từ nước PhápTrạm chuyển phát tín hiện radio tại quần đảo Hoàng Sa, Việt Nam năm 1930  Sau ngày Mao Trạch Đông đưa quân ngang nhiên chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa đã có nhiều nhân chứng và trí thức ở Pháp lên tiếng khẳng định Hoàng Sa là của Việt Nam như GS Charles Rousseau - giảng dạy Luật quốc tế tại ĐH Luật Paris; trung tướng không quân Jean Dechaux; và người dựng bia chủ quyền Việt Nam ở Hoàng Sa năm 1938: André Faucheux… André Faucheux làm việc tại Việt Nam suốt 22 năm (1924-1946), là quan Chánh Lục lộ (Trưởng ty Công chánh) của tỉnh Quảng Nam và thị xã Tourane (Đà Nẵng) đã cùng một phái bộ của chính quyền bảo hộ Pháp đến “trồng bia chủ quyền của triều đình Huế” tại quần đảo Hoàng Sa năm 1938, kể: “Khi chúng tôi đến quần đảo này (…) thấy có một tượng Phật Quan Âm bằng đá cao lối 4 tấc, sau đó chúng tôi được biết tượng Phật Quan Âm này do các ngư phủ Việt Nam thường đến quần đảo để săn rùa dựng lên”. Và Faucheux quả quyết: “Chúng tôi không hề thấy một người Tàu nào trên quần đảo cả. Vả lại, sau khi trồng bia chủ quyền xong, tôi cũng không hề nghe có chính phủ Trung Hoa hoặc bất cứ chính phủ nào khác phản đối. Như thế tôi nghĩ Hoàng Sa phải là một phần đất của Việt Nam” (tài liệu VNCH đã dẫn, tr. 78). Vài tháng sau, ông Faucheux lại đến Hoàng Sa lần thứ hai để xây cất doanh trại cho một đơn vị vệ binh triều đình Huế trú đóng. Lần đó, ông cũng xác nhận “không thấy một người Tàu nào trên đảo cả”. Faucheux khẳng định như thế khi trả lời phỏng vấn do Trung tâm Thông tin Paris thuộc hệ thống thông tin quốc ngoại của VNCH thực hiện ngày 5.3.1974, lúc ấy ông 75 tuổi. Một nhân chứng khác: trung tướng Jean Dechaux, 70 tuổi. Vào tháng 10.1937, ông mang cấp bậc đại úy chỉ huy trưởng một tiểu phi đội (escadrille) thủy phi cơ đóng gần Sài Gòn, đã theo lệnh của Toàn quyền Đông Dương “lái một thủy phi cơ thực hiện phi vụ nhiếp ảnh các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa”. Ông phát biểu: trong suốt thời gian ông phục vụ tại Việt Nam (từ 1935-1939) và trong năm 1945 khi ông có dịp trở lại Việt Nam không hề nghe nói Trung Hoa lên tiếng phản đối hoặc đòi hỏi chi cả: “Lúc ấy không ai nghĩ rằng Trung Hoa có thể phản đối vì rõ ràng Hoàng Sa thuộc chủ quyền của triều đình Huế. Theo chỗ tôi biết thì ít ra từ hơn một trăm năm qua quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của triều đình Huế đặt dưới sự bảo hộ Pháp và kế đó là đương nhiên thuộc quyền của Việt Nam” (tlđd, tr.81). Pontoizeau là nhà nghiên cứu và nhà kinh doanh đến Việt Nam sinh sống trong 8 năm (từ 1945-1953) đã nghiên cứu tỉ mỉ về tài nguyên thiên nhiên của quần đảo Hoàng Sa. Ông cho biết: khi công việc kết thúc, ông rời Việt Nam đi Paris năm 1952 để chính thức gởi đơn đến Nha Hầm Mỏ (thuộc Bộ Kinh tế của chính phủ Pháp) xin phép khai thác ruộng muối, ngư sản và phosphat phân chim (guano) tại Hoàng Sa. Vì Hoàng Sa, cạnh hải sản dồi dào, còn có nhiều loại hải điểu “như chim yến, nhạn, vịt, hải âu… đã cho một nguồn lợi rất lớn về trứng chim và nhất là về phân chim - phân chim của hàng triệu con, tích tụ ngày một nhiều, tác dụng với san hô cho một loại phosphat rất có giá trị - đó là nguồn lợi chính yếu của quần đảo. Theo tài liệu của Tổng nha Khoáng chất và Công Kỹ nghệ thì số phosphat trên quần đảo như sau: Hoàng Sa: 562.000 - 960.000 tấn; Cam Tuyền: 675.000 - 1.440.000 tấn; Vĩnh Lạc: 787.000 - 1.200.000 tấn; Duy Mộng: 687.000 tấn. Số lượng phosphat tổng cộng có thể khai thác được trên toàn thể quần đảo mỗi năm là 12 triệu tấn (…) Hãng phân bón Việt Nam thành lập tại Sài Gòn với sự hợp tác của hãng Shinwat hoạt động từ tháng 4.1959 đã khai thác được 20.000 tấn rồi bỏ dở vì thời tiết và vận chuyển khó khăn” (tlđd tr. 13). Ông Pontoizeau cũng đã nhờ “một kỹ sư canh nông nghiên cứu việc trồng rau cải không cần đất (culture sans sol) để ông sẽ thực hiện tại Hoàng Sa, hầu cung cấp thực phẩm tươi cho công nhân làm việc tại đó”. Nhưng rất tiếc diễn biến thời sự và chiến cuộc vào đầu năm 1953 làm ông phải hủy bỏ kế hoạch nói trên. Trả lời phỏng vấn ngày 6.3.1974 của Trung tâm Thông tin Paris, ông nói: “Qua công cuộc nghiên cứu của tôi, tôi quả quyết rằng về mọi phương diện lịch sử, địa lý và pháp lý, quần đảo Hoàng Sa phải là một phần đất của Việt Nam (…). Trung Cộng chiếm Hoàng Sa không khác nào họ xâm chiếm đảo Corse của chúng tôi” (tlđd tr.79). Charles Rousseau - thành viên của Tòa án trọng tài quốc tế tại La Haye và là giám đốc Viện khảo cứu các vấn đề quốc tế tại Paris, đã nghiên cứu tường tận về lịch sử và khía cạnh pháp lý của quần đảo Hoàng Sa (và Trường Sa) và viết bài đăng trên tạp chí Revue General de Droit International (số 3, Paris 7.1972) đưa ra luận cứ về kế cận địa dư: “Trung Cộng cũng có thể đưa ra luận cứ này trong vụ Hoàng Sa, nhưng yếu tố kế cận địa dư chỉ có giá trị với điều kiện đi đôi với yếu tố chiếm hữu thật sự mà chỉ có Việt Nam (Cộng hòa) là hội đủ hai yếu tố đó” (tlđd tr.80). Mao Trạch Đông bất chấp pháp lý lẫn đạo lý để cất quân đánh chiếm Hoàng Sa bởi nhiều nguyên do, trong đó có vị trí đặc biệt về quân sự của quần đảo này trong khu vực - tài liệu VNCH có đoạn: “Từ năm 1939-1945, Nhật đã dùng làm căn cứ tàu ngầm và tàu phóng ngư lôi. Sau khi Nhật bại trận và rút quân ra khỏi toàn thể Đông Dương vào tháng 8.1945, vì nhận thấy rõ vị trí chiến lược của quần đảo Hoàng Sa nên Pháp đã gởi tàu Savorgnan de Brazza đến tái chiếm quần đảo vào tháng 5.1946. Trước đó, khi được giữ vai trò giải giới quân đội Nhật, Trung Hoa (Trung Hoa dân quốc thời Tưởng Giới Thạch - GH) đã mưu toan chiếm các quần đảo Hoàng Sa. Nhận được tin này, chính phủ Pháp tức tốc gửi tàu Le Tonkinois đến tái chiếm quần đảo Hoàng Sa và đụng độ với quân Trung Hoa ở đảo Phú Lâm. Vào năm 1956, Trung Cộng (CHND Trung Hoa thời Mao Trạch Đông - GH) đem quân chiếm đảo Phú Lâm và Lincoln thuộc quần đảo Hoàng Sa bằng cách cho quân lính giả dạng ngư phủ đổ bộ lên đảo xây cất cơ sở, thiết lập cầu tàu, doanh trại. Quần đảo Hoàng Sa nằm ngay trên hải đạo Sài Gòn - Hương Cảng, Hải Phòng - Manila nên kiểm soát được tất cả mọi sự lưu thông trên biển Đông (…) hơn nữa các đảo này có thể dùng làm căn cứ cho tàu ngầm, tiểu đỉnh, đặt các dàn hỏa tiễn, đặt rada… Tóm lại (…) quần đảo Hoàng Sa rất quan trọng về phương diện chiến lược cho các quốc gia quanh vùng biển (…) đặc biệt là Việt Nam” (tlđd tr.15) (còn nữa). Giao Hưởng Ảnh tài liệu và chú thích của Việt Nam Cộng hòa: Bia chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa  | Bia chủ quyền trên đảo Hoàng Sa do người Pháp trồng năm 1938 (xem nhân chứng André Faucheux trong bài). Hàng chữ ghi trên bia: République Francaise, Empire d’Annam, Archipel des Paracels, 1816 -1938 (1816 là năm vua Gia Long lên đảo cắm cờ chủ quyền và năm 1938 là năm bia được trồng). Bối cảnh trong hình là ngọn hải đăng. |
Ba người đàn bà Việt Nam ở Hoàng Sa  | Ba người đàn bà Việt Nam trên đảo Pattle (Hoàng Sa),hình chụp trước năm 1940 (Xuất xứ: Album của Colonel Pierre Bodin, Tuần báo Le Point số 36 ra ngày 4.3.1974) |
|
|
Những nội dung khác:
|
|
|
 |
|