Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Sáu 2026
T2T3T4T5T6T7CN
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30          
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 12
 Lượt truy cập: 29328302

 
Bản sắc Việt 13.06.2026 08:41
Người Quảng Nam khí phách
29.08.2014 20:03

Phan Khôi, nhà báo khí phách
Hoàng Yên Lưu
 
 Trong lịch sử Báo chí Việt Nam, kể từ nhóm học giả người Việt chủ trương những tờ báo đầu tiên như Gia định báo (1865), Thông loại khóa trình (1888), Nông cổ mín đàm (1901)… như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn văn Giàu, Diệp văn Cương, Trần Chánh Chiếu và Nguyễn Chánh Sắt… cho đến nay, kể cả Phạm Quỳnh và Nguyễn văn Vĩnh, khó tìm ra cây viết nào trên trường ngôn luận đóng góp nhiều bài vở, thời gian và tâm huyết cho báo chí như Phan Khôi (1887-1959).


Phan Khôi cũng là người viết cho nhiều tờ báo khác nhau ở cả ba miền đất nước dưới nhiều bút hiệu khác nhau như Chương Dân, Khải Minh, Tân Việt và Tú sơn… về đủ loại đề mục, từ xã hội, lịch sử, văn học tới thi ca.

- Ở Hà nội là các tờ Đăng cổ tùng báo (phát hành 1907), Nam phong tạp chí (phát hành 1917), Thực nghiệp dân báo (1920), Hữu Thanh (1921), Phụ nữ thời đàm (phát hành 1930), sau đó có lúc Phan Khôi được mời làm chủ bút.

- Ở Sài gòn, Phan Khôi viết cho Lục Tỉnh tân văn (khoảng 1919) sau đó lại bỏ ra Bắc.

Trong khoảng từ 1930 tới 1933, ông trở lại miền Nam, cộng tác với các tờ Đông pháp thời báo, Thần chung, Trung lập, Phụ nữ tân văn.
Từ 1935 tới 1936, ông viết cho báo ở Huế là Tràng an và cho ra tờ Sông hương. Ông cũng cộng tác với báo viết bằng tiếng Trung hoa (tờ Quần Báo) ở Chợ lớn.

Những bài báo thông thường chỉ có giá trị trong một giai đoạn. Nhưng tác phẩm báo chí của Phan Khôi, cũng như của Phạm Quỳnh, có nhiều bài đến nay vẫn còn giá trị, nhất là loạt bài về chữ Quốc ngữ, về quan điểm tân tiến về Nho giáo, về lịch sử cận đại, và về cải cách thi ca.

Cuộc đời của Phan Khôi, kể từ khi gia nhập làng báo (tờ Nam phong) vào một năm trước 1919 cho tới khi ông bị bẻ bút sau vụ Nhân văn-Giai phẩm vào năm 1958, trong bốn mươi năm ông sống nhờ ngòi bút, cống hiến tâm huyết cho độc giả và cuối đời chịu búa rìu dư luận nghiệt ngã nhất, chết trong thầm lặng cũng vì báo, cũng vì mục tiêu chân lý.

Đọc lại những bài báo Phan Khôi đã viết, độc giả dễ dàng nhận thấy ngòi bút của ông rất sắc sảo.

Ngòi bút của Phan Khôi bén nhậy hiểu theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Ông đã dùng nó như lưỡi gươm để phụng sự lý tưởng tự do và duy tân vì ý thức được khéo dùng nó thì nó mạnh hơn đao kiếm đúng như một tư tưởng Tây phương đã nói: “The pen is mightier than the sword” .

Trên luận đàn, Phan Khôi đã gây ra nhiều cuộc bút chiến nổi tiếng khiến cho những học giả đương thời như Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh phảỉ nể phục trước lý luận vững chắc, đầy sức thuyết phục như bài tranh luận về tác phẩm Nho giáo của họ Trần và bài Cảnh cáo các nhà học phiệt gợi lại vụ án văn chương Truyện Kiều tranh cãi giữa Phạm Quỳnh của Nam Phong và Ngô Đức Kế của Hữu Thanh.

Còn khi chủ trương tờ Sông hương vào năm 1936 ở Huế, Phan Khôi tranh luận với linh mục Sảng đình Nguyễn văn Thích về giá trị đạo đức của cuốn Làm đĩ (Vũ Trọng Phụng) mà báo của Phan Khôi cho đăng tải thì gặp sự phản đối của người chủ trương tờ Vì Chúa.

Phan Khôi cũng bút chiến với Lê Dư, Nguyễn Trọng Thuật về Quốc học, với Hải Triều về duy tâm, duy vật và với Trần Huy Liệu và Huỳnh Thúc Kháng về lịch sử cận đại.

Gọi ông là nhà báo “giang hồ khí phách” không ngoa. Nhớ thuở còn tờ Phong hóa của nhóm TLVĐ, cây bút Hoàng đạo đã giễu cợt cuộc đời lênh đênh trên biển văn mặc của Phan Khôi như sau:
“Cung thiên di của ông gặp Vũ tinh nên ông nay đây mai đó như con vịt trời, gặp Cự môn vì thế khẩu thiệt đảo điên, nay cãi lý luận với ông Trần Trọng Kim, mai cãi luân lý với ông Nguyễn Khắc Hiếu.”

Cũng vì lòng chính trực, cũng vì phụng sự thiên chức của một cây viết có khí phách tôn trọng sự thực nên Phan Khôi đã đứng ra thay mặt giới cầm bút tiến bộ ở miền Bắc sau hiệp định Genève trở về Hà nội lên tiếng đòi tự do cho văn nghệ. Từ đó ông bị công kích tới mức bị bôi nhọ và bị cấm cầm bút cho tới khi tạ thế vào 1959.

Đến nay “tuyên ngôn” của ông vì chân lý, vì tự do cho báo chí trong một đoạn văn ông viết trong Giai phẩm mùa thu (1956) vẫn được thế hệ sau trân trọng nhắc tới.

Đây có thể là khát vọng và di chúc của Phan Khôi trong những năm hoạt động trên trường ngôn luận:
“Sau khi về Hà Nội không lâu, giữa một cuộc tọa đàm ở trụ sở Hội Văn nghệ, một cán bộ cao cấp lấy tư cách cá nhân đề ra cái vấn đề “tự do của văn nghệ sĩ”. Cái vấn đề ấy được giải thích là: Có một số văn nghệ sĩ nào đó đòi tự do hay là có ý đòi tự do, mà tự do một cách bừa bãi, đến nỗi “ví như một kẻ kia đi trên đường phố, thấy có người ôm cái cặp da đẹp, giật ngang lấy đi, rồi nói rằng đó là tự do của mình vì mình thích cái cặp da”. Do đó, kết luận là: phải có lãnh đạo, văn nghệ sĩ phải ở dưới quyền lãnh đạo.

Tôi thấy vấn đề đặt như thế không đúng. Sự thực trước mắt chúng ta không hề có như thế.

Bao nhiêu văn nghệ sĩ từng theo kháng chiến, không luận ở Việt Bắc, ở Nam bộ, ở Khu V, đều đã ở trong Hội Văn nghệ, đều đã bằng lòng chịu lãnh đạo rồi, nếu họ không bằng lòng chịu lãnh đạo thì họ đã không ở trong Hội Văn nghệ. Còn những văn nghệ sĩ ở vùng mới giải phóng, họ còn ở lại đây tức là họ rắp tâm chịu lãnh đạo, nếu không thì họ đã đi vào Nam. Tóm lại, văn nghệ sĩ hiện nay có mặt ở miền Bắc không ai đòi tự do bừa bãi hết, không ai định “đánh giật cặp da” hết, tôi không biết vì sao lại đặt ra vấn đề ấy.

Quả thật như vậy, văn nghệ sĩ của chúng ta chẳng những đáng yêu mà lại đáng thương nữa. Họ biết trước kia họ đã đi sai đường, họ ngoan ngoãn chịu lãnh đạo. Mồ ma Tô Ngọc Vân, anh là một họa sĩ cụp vẽ mỹ nhân, năm 1948, anh còn vẽ bức tranh màu đề là “Hà Nội đứng lên”, trình bày một người thiếu phụ tuyệt đẹp đứng hiên ngang trong đống lửa, chung quanh là những cái bếp đổ vì bom đạn.

Thế mà sau đó anh chừa hẳn cái vai cụp ấy. Ở Triển lãm Hội họa năm 1952, trong một bức tranh không có thể không có phụ nữ, thì anh vẽ một đám bà già và gái bé. Còn Thế Lữ, có lần tôi hỏi tại sao anh không làm thơ như trước kia. Anh trả lời rằng đợi đến bao giờ anh “chỉnh” lại được tâm hồn, cảm thông được với quần chúng cần lao, bấy giờ anh sẽ làm. Thứ văn nghệ sĩ như thế, mà nói họ đòi tự do, dù chưa phải là tự do bừa bãi, cũng đã oan họ lắm rồi, oan mà không có chỗ kêu.

Có lẽ bởi nhìn thấy ở một khía cạnh nào rồi nhận định hẳn như thế, nên từ đó lãnh đạo gắt hơn, kỳ tiêu diệt thứ tự do ấy của văn nghệ sĩ. Nhưng, sự thực, thứ tự do ấy vốn không có thể bị tiêu diệt, mà cái cá tính của văn nghệ sĩ, cái nghệ thuật tính của văn nghệ, nhân đó, tuy chưa bị tiêu diệt, chứ cũng đã bị thương.

Chưa nói đến cá tính và nghệ thuật tính. Ngay đến ý kiến, ngôn luận của quần chúng văn nghệ dù rất bình thường, không có gì hại, cũng bị kìm hãm. Tôi là một người đã chịu cái điều khó chịu ấy, tôi nói ra đây tưởng không có ai ác đến nỗi bảo tôi là dựng đứng hay xuyên tạc như bên địch.”

Tiếc thay lời trình bày nguyện vọng chân chính của văn nghệ sĩ lại bị từ chối bằng bạo lực và trừng phạt.

Tại sao Phan Khôi được độc giả đón nhận nồng nhiệt? Trả lời câu hỏi này, xin dẫn ý kiến của nhà phê bình Thiếu sơn Lê Sĩ Quý.

Thiếu Sơn kể lại khi họ Phan cộng tác với tờ Phụ nữ tân văn ở Sài gòn, bà Nguyễn Đức Nhuận chủ bút tờ báo này đã trả lương cho ông rất cao: “Khoảng 1930 một bài văn được trả 5 đồng tiền nhuận bút là hậu lắm rồi. Vậy mà Phụ nữ tân văn dám trả 25 đồng một bài cho ông Phan. Một tháng 4 bài 100 đồng tức là hơn lương cao cấp ở Huyện, Phủ. Như vậy đâu phải văn chương hạ giới rẻ như bèo.

Phải nói là mắc như vàng mới đúng. Nhưng cũng phải nói thêm là chỉ văn chương Phan Khôi mới được giá như thế và chỉ có ông bà Nguyễn Đức Nhuận mới dám trả tới giá đó má thôi. Hầu hết độc giả bỏ 15 xu mua PNTV đều chỉ muốn coi bài của Phan Khôi hay Chương Dân, những bài viết gẫy gọn, sáng sủa, đanh thép với những đề tài mới mẻ, những lý luận thần tình làm cho người đọc say mê mà thống khoái. Cái đặc biệt của Phan Khôi là chống công thức (non-conformiste).”

Thành công của Phan Khôi trên luận đàn được đương thời và hậu thế đánh giá rất cao.

Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan gọi ông là “Một tay kiện tướng” và “Ngự sử văn đàn”, thi sĩ Vũ Hoàng Chương thì công nhận “đại danh ông tú Phan Khôi như sấm dậy vang tai” và Giáo sư Thanh Lãng nhận xét Phan Khôi là “một khuôn mặt đẹp đẽ nhất thời đại”. Và còn khá nhiều mỹ từ khác nhằm chiêu tuyết cho một Phan Khôi bị nhóm hãnh tiến ở Hà nội vào 1956 như Nguyễn Công Hoan, Phùng Bảo Thạch và kể cả Thế Lữ và Tế Hanh, xúm nhau “hạ bệ” sau vụ Nhân văn-Giai phẩm.

 Hoàng Yên Lưu

Quốc Lộ 1, từ tháng 7, 1954

Viên Linh


Khoảng tháng 6 và tháng 7 năm 1954, mẹ tôi lo ngại sẽ có nổ súng ở Hà Nội nên ngay khi niên học vừa dứt, bà bảo con phải tạm rời thủ đô về quê nhà ở Ðồng Văn một thời gian xem sao. Ðây là một thị trấn cách Hà Nội 47 cây số về phía Bắc, cách Phủ Lý 11 cây số về phía Nam, tính theo cột mốc trên Quốc Lộ 1. Thị trấn Ðồng Văn một nửa là làng, nằm ở phía trái con đường cái quan, một nửa là dãy phố chính, phố trên gồm nhà ga và bến xe hàng, có cả nhà hát cô đầu, phố dưới tọa lạc ngôi chùa Ðổng Kính vượt cao trên một ngọn đồi cây cối um tùm, có cây đại già cỗi đến hơn ba trăm năm do hai công chúa nhà Lê gieo trồng lúc khánh thành chùa, năm 1665.



Nhà thờ Phát Diệm tại Hà Nam, nơi các cơ quan chính quyền địa phương rút đi từ ngày 23 tháng 6, 1954. Ðồng bào Công Giáo Phát Diệm là những người đi bộ cả trăm cây số trên Quốc Lộ 1 và hướng ra hải cảng Hải Phòng để đón tầu di cư vào Nam sau Hiệp Ðịnh Geneve. (Hình của Quang Văn trong "Việt Nam Di Tích và Thắng Cảnh")


Gia đình chúng tôi có một ngôi nhà ở trong làng, nơi ông nội là Cụ Tú Ðồng Văn ngồi dạy học chữ Nho, và một ngôi nhà ờ ngoài phố, nơi mẹ tôi làm đại lý muối cho cơ sở sản xuất muối tại bãi bể Vạn Lý. Tôi lớn lên nửa quê nửa tỉnh, mười ba tuổi có chiếc xe đạp peugeot dura nên hầu như ít khi ở nhà. Năm trước sau niên học ở Chu Văn An thì đi học tư khóa hè ở trường Dũng Lạc, mùa hè 1954 về quê tôi phải đi học khóa hè ở mãi trung học Phủ Lý, từ nhà tới trường mất 20 phút đạp xe nếu con đường cái quan không bị xẻ ra từng mảnh, vừa như những cái hố để tránh phi cơ oanh tạc, thực tế là không cho xe hơi chạy tự do như lúc thời bình. Mặt đường đá xanh lởm chởm, vòng bánh xe đạp lỡ lăn qua hòn đá, có thể ngã quật xuống mặt đường, nguy hơn nữa là ngã nhào xuống hố tăng-xê. Hố đào ở cả hai phía ngược xuôi của quốc lộ, gọi là đường đào chữ chi - một chữ Nho có dạng tương tự chữ Z của chữ Latin - xe lớn như xe vận tải nhà binh phải lăn bánh vòng vèo gấp khúc mà chạy, không thể nào chạy thẳng.

Chính trên con đường cái quan ấy, bọn thiếu niên thị trấn Ðồng Văn đã sống một mùa hè 1954 say mê, nhất là trong những đêm trăng. Ðêm vừa xuống, dưới ánh trăng trong, trên khúc đường gần chùa Ðổng Kính, cả chục đứa trẻ chia làm hai phe chơi trận giả, một bên là lính lê dương, giặc Pháp, một bên là người yêu nước can trường. Cuộc chơi ghi dấu nhiều hào hứng trong tôi, bốn chục năm trước đã sống lại trong một bài thơ nhân vì tác giả khi đóng vai Vệ Quốc Quân bảo vệ non sông tình cờ gặp lại cô bạn nữ cứu thương đêm tập trận, lúc nàng băng bó vết thương cho chàng:


Viên Linh:


Y chăn trâu đến năm mười tuổi
Thả diều trên cánh đồng làng
Chẳng bao giờ là con địa chủ
Cũng mò cua bắt ốc - nướng ăn
Cũng nghe lời xui của lũ mục đồng
Ðập chết vịt nhà nhổ lông quét bùn
Vùi tro làm vịt hầm
Hể hả chuyền nhau xé ăn cùng chai rượu lậu
Mua từ hàng chú khách trên ga

Giữa những hoàng hôn
Thày y
Tom chát trong nhà cô đầu phố Thượng.
Y biết chơi trận giả
Làm Việt Minh một tối, tối khác làm Tây
Ðánh vùi ven dốc chùa nhà
Ðôi khi xưng đầu tét trán
Nhưng một đêm trăng nọ
Nhảy tòm xuống hố cá nhân
Lỡ ôm nhằm cô nàng đeo băng hồng thập tự

Y biết thế nào là chuyện yêu đương
Vào năm mười ba mười bốn
Với người thôn nữ mười lăm.

Có gặp lại em cách đây một độ
Em nuôi cút lời, làm patin lỗ
Nhìn nhau than thở liên hồi
Háy nhau lúc chia tay
Mấy vợ mà sao ốm dữ.

Em ơi y làm thơ viết truyện
Lại còn làm báo văn chương...
(Lời Nôm Gửi Em Hoa)

Khoảng Tháng Bảy, không biết từ đâu ra, nhiều đứa không phải là học sinh trường làng, mặt mũi khác lạ, nhập bọn với chúng tôi bằng cách cứ tự động nắm lấy tay nhau, cười với nhau, và một mặt chơi trận giả, mặt khác dạy cả bọn nhảy nông-tác-vũ. Như cái tên, đó là “điệu nhảy làm ruộng.” Nông tác vũ rất khích động, đặc biệt khi nhảy phải giậm chân xuống mặt đất thật mạnh. Nhảy làm sao phải nghe tiếng thình thịch thật hung, chính những tiếng giậm chân ấy làm cho máu trong người nóng bừng, và cả bọn say sưa hát những lời không biết ai dạy từ bao giờ: bài hát dĩ nhiên ca ngợi những người không những của nước mình, mà còn ca ngợi lãnh tụ các nước anh em như Mao Trạch Ðông, Kim Nhật Thành, Malenkov, Stalin, Engel, Lenine... Bọn thiếu niên không hiểu rằng chúng được cổ võ nhảy múa suốt đêm trên quốc lộ, càng về khuya càng tốt, là có mục đích canh chừng, ngăn trở và mỉa mai những người bỏ làng di cư vô Nam, nhất là đồng bào Công Giáo các tỉnh Bùi Chu, Phát Diệm, Nam Ðịnh, Thái Bình, càng ngày đi càng đông, đúng ra là càng đêm con số càng nhiều: gồng gánh mọi thứ, đội trên đầu và mang trên vai, nhiều người gánh cả con nít, chúng ngồi hay nằm trong lòng hai cái thúng do người lớn gánh. Họ lầm lũi đi, không nói không cười, không trả lời ai, họ đi bộ vài trăm cây số từ quê xa để đi về phía hải cảng Hải Phòng, để lên tầu vô Nam. Họ biết trước đất nước sắp chia hai, nếu ở lại, họ sẽ là mục tiêu cho các cuộc đấu tố, hành hình, bị đánh chết tại chỗ trong các kế hoạch cải cách ruộng đất, diệt tư sản, là nạn nhân không cách nào thoát khỏi của phong trào “đào tận gốc, trốc tận rễ” các thành phần “trí phú địa hào” của Việt Minh Cộng sản. [Trí thức, nhà giàu, địa chủ, cường quyền, phải tiêu diệt tới ba đời.]

“Nhìn các người đi bộ dọc đường với thúng mủng trên đầu và con trẻ chạy bên cạnh hay cõng trên lưng, Mai [một nhân vật] tự hỏi phải chăng họ sẽ đi bộ suốt cho đến cảng [Hải Phòng]? Trong đời cô, Mai chưa bao giờ thấy nhiều người ta như thế. Ở Hải Phòng ai cũng muốn đi Nam, mặc dù họ chẳng có một ý niệm gì về nó. Ða số là dân quê, vì phần lớn dân khá giả ở thành phố đã đi bằng máy bay rồi.” (Hoàng Thị, Lũy Tre Xưa, truyện ký, NXB Người Dân, Calif.)

“Chị duy trì ý định là cả nhà phải đi Nam.

-Thưa Mợ, với thành phần của mình, mình không thể ở lại đây... Mình không còn lựa chọn nào nữa, mà phải đi. Mợ đã nghe tất cả về việc đấu tố địa chủ ở Khu Tư rồi.

-Mình có làm gì ác đâu. Mình đối đãi tốt với tá điền, thì làm sao họ lại tố cáo mình? Hơn nữa có cả trăm ngàn địa chủ, họ có giết hết được không?

-Họ sẽ giết. Con chắc họ sẽ giết, Mợ ơi!

Chị trả lời, có lẽ chị nghĩ đến những gì đã xảy ra ở bên Nga, bên Tàu, sau khi “cách mạng” của họ thành công.” (sách đã dẫn).


Tố Hữu:

Bần cố nông như lông với cánh
Cánh không lông dù mạnh khó bay
Nông dân có đảng phóng tay
Ðấu cho văng máu tan thây kẻ thù
...
Còn hẹn với anh Hồng Quân yêu quý:
Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ
Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong
Cho Ðảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng
Thờ Mao chủ tịch, thờ Sít-ta-lin bất diệt.

(Trích từ Trần Thanh Nguyên, Tố Hữu và các nhà văn thơ vô sản, NXB Mùa Lúa Mới, Trung Việt, 7, 1955, trang 10)


Xuân Diệu:

Anh em ơi, quyết chung lưng
Ðấu tranh tiêu diệt tàn hung tử thù
Ðịa hào đối lập ra tro
Lưng chừng phản động đến giờ tan xương
Thắp đuốc cho sáng khắp đường
Thắp đuốc cho sáng đình làng đêm nay
Lôi cổ bọn nó ra đây
Bắt quỳ gục xuống đọa đày chết thôi.[...]
Muốn sống cho khỏi sống thừa
Mau mau giảm tứ giảm tô rõ ràng
Nhược bằng bay cứ khăng khăng
Bày choa quyết đấu cho tan chúng mày
Bày choa thắp đuốc đêm nay
Ðấu cho nát mặt vỡ mày chúng ra.
(sđd, trang 16)


Lưu Trọng Lư:

Bồ tôi nặng gánh ra đi
Dân công tiền tuyến, hướng về đồng xanh
Xã nhà phát động đấu tranh
Giật giành quyền lợi rành rành cho dân
Quân phú địa trăm phần ngoan cố
Cố bần nông quật ngã đè lên [...]
Ðấu cho tan nát mặt lì
Ðấu cho mất xác, của về tay ta!
Phản động ta đánh ra ma
Ðánh luôn phú địa gian ngoa gục đầu.
Tháng ngày thù hận vùi sâu
Nợ máu phải trả lút đầu mới thôi!

Từ những bài văn vần phát động cuộc đấu tố địa chủ, chính Tố Hữu và Xuân Diệu đã trực tiếp tham dự những cuộc phát động “tiêu diệt kẻ tử thù” điển hình. Năm 1954, Tố Hữu ra lệnh tập trung văn nghệ sĩ tại Thái Nguyên, trịnh trọng tuyên bố qua máy phóng thanh “tất cả mọi con đường đều dẫn tới cộng sản chủ nghĩa,” “tiến lên, tiêu diệt bọn địa chủ và tiêu diệt bọn trí thức lưng chừng. Tất cả cho Ðảng!”

Mặt khác, Xuân Diệu cũng trực tiếp tham dự trận đấu tố và xử tử bà quả phụ Cát Hanh Long ở Ðồng Bẩm, Thái Nguyên, trận đấu tố mở màn cho cả phong trào giết địa chủ, “ít nhất mỗi làng phải giết 10 người như lệnh của Bắc Kinh, nhưng Hà Nội đã năn nỉ hạ con số xuống một nửa,” như những tin tức hồi đó, tuy rằng không có văn bản chứng từ nào. (1)

Ở Phủ Lý, tôi ngồi trong lớp đệ lục, thầy dạy Quốc Văn là thầy Chu Thiên. (2) Hình ảnh còn nhớ tới bây giờ là một người đàn ông hom hem, mặc quần áo kaki bạc màu, áo cũng như quần, đều một màu vàng nhạt, bạc thếch, thầy đứng tựa lưng vào tường, lẫn vào màu vôi vàng nhạt cũng bạc thếch của ngôi trường đâu chỉ có hai hay ba căn. Chỉ trong khoảng vài tuần, tôi thương thầy. Và cứ từ thân xác mình suy ra, tôi đoán chừng thầy nặng khoảng 40 cân. Biết ông thầy gày yếu, nhưng tôi không suy nghĩ gì, cũng chẳng tìm hiểu làm gì, cho đến một hôm thầy Chu Thiên tới gần tôi trong giờ chuyển lớp chuyển môn. Thầy hỏi, “Em có thể chở thầy lên Hà Nội không. Hay chỉ cần chở thầy lên Ðồng Văn cũng được. Thầy cũng có thể chỉ đến Ðồng Văn, rồi tìm cách đi Chợ Ðại hay Cống Thần, rồi đi Hà Nội sau.” Khi thầy ngồi lên cái khung ngang của chiếc xe đạp rồi, tôi đạp xe đi, mỗi tay một bên ghi-đông, mà không thấy thầy chạm vào tay tôi.

Tôi không còn nhớ những chuyện gì đã nói, song nhớ rất rõ thầy hỏi về gia cảnh của học trò. Tôi kể thành thật, kể hết, không giấu giếm gì. Tôi cũng cho thầy biết - vì thầy hỏi - về họ hàng chú bác, tất cả ở Hà Nội.

-Bao giờ em vào Nam? Mẹ em có tính đi Nam không? Chú bác họ hàng ở Hà Nội chắc là đi Nam cả?

-Vâng.

Khi chia tay, thầy nhìn sâu vào mắt tôi:

-Về nói với mẹ em coi chừng kẻo trễ.

Ðó là tất cả những gì tôi nhớ về thầy khi còn niên thiếu; sau này mới đọc và tìm hiểu thêm về ông thầy nhà văn nổi tiếng.

(Viết ngày 9 tháng 7, 2014)


Chú thích:

(1) Tài liệu về Tố Hữu và Xuân Diệu trong bài này phần lớn lấy từ cuốn sách của Trần Thanh Nguyên, do nhóm Mùa Lúa Mới của Ðỗ Tấn xuất bản vào tháng 7, 1955 tại Trung Việt. Trần Thanh Nguyên là một nhà thơ chưa đầy 30 tuổi khi vượt sông Bến Hải vào Nam năm 1955. Anh theo cộng sản trên 10 năm, sinh hoạt các đại hội văn nghệ lớn nhỏ ở Việt Bắc và Thanh Nghệ Tĩnh trước khi bừng tỉnh.

(2) Chu Thiên (1913-1992), tác giả các cuốn Bút Nghiên, nhà nho nổi tiếng từ thời tiền chiến.



Vì sao 20 năm mới công bố ngày mất Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh mất ngày 2/9/1969, nhưng do trùng ngày Quốc khánh nên Bộ Chính trị lúc bấy giờ thông báo là ngày 3/9. Hai mươi năm sau, toàn văn di chúc và ngày mất của Bác mới được công bố.

Ngay sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, di chúc của Bác đã được công bố, trở thành nguồn cổ vũ to lớn với toàn Đảng, toàn dân và toàn quân tiến lên giành thắng lợi trong sự nghiệp giải phóng và thống nhất đất nước. Song do hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ nên có một số điều chưa được công bố.

Dịp kỷ niệm 20 năm ngày mất và chuẩn bị 100 năm ngày sinh vị lãnh tụ vĩ đại, Bộ Chính trị, Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VI thấy trách nhiệm phải thông báo về ngày mất và di chúc của Người. Thông tin được công bố trong thông báo của Bộ Chính trị số 151 ngày 19/8/1989.

Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đi trong sự tiếc thương của cả dân tộc. Ảnh tư liệu.

Di chúc công bố được chỉnh sửa

Năm 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh tự tay đánh máy bản di chúc gồm 3 trang, ở cuối đề ngày 15/5/1965. Đây là bản di chúc hoàn chỉnh, có chữ ký của lãnh tụ và góc trái có chữ ký người chứng kiến là Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban chấp hành trung ương Đảng lúc bấy giờ.

Năm 1968, Bác viết tay bổ sung thêm 6 trang. Trong đó, Người viết lại đoạn mở đầu, đoạn nói về việc riêng đã viết trong bản 1965 và thêm một số đoạn. Đó là những đoạn nói về công việc cần làm sau cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước như: chỉnh đốn lại Đảng, chăm sóc đời sống của các tầng lớp nhân dân, miễn thuế một năm cho các hợp tác xã nông nghiệp, xây dựng lại thành phố, làng mạc, khôi phục và phát triển kinh tế, văn hoá, củng cố quốc phòng, chuẩn bị thống nhất đất nước.

Đoạn viết về chỉnh đốn lại Đảng và chăm sóc thương binh, Bác gạch chéo. Đoạn nói về xây dựng lại đất nước, phát triển kinh tế, văn hoá, chuẩn bị thống nhất đất nước được gạch dọc bên trái ngoài lề.

Ngày 10/5/1969, Bác viết lại toàn bộ đoạn mở đầu di chúc gồm một trang viết tay.

Hội nghị bất thường của Ban chấp hành trung ương Đảng (khoá 3) chiều 3/9/1969 đã giao Bộ Chính trị trách nhiệm công bố di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bản công bố chính thức chủ yếu dựa vào bản 1965, trong đó một số đoạn được bổ sung hoặc thay thế bằng những đoạn tương ứng viết năm 1968 và 1969. Cụ thể, cơ cấu của bản di chúc đã công bố chính thức như sau:

Đoạn mở đầu lấy nguyên văn bản 1969 thay cho đoạn mở đầu bản 1965. Bút tích của Bác về đoạn này đã được chụp lại và công bố đầy đủ năm 1969.

Phần giữa, từ đoạn nói về Đảng đến hết đoạn nói về phong trào cộng sản thế giới giữ nguyên văn bản 1965.

Phòng nghỉ của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại khu K 9 (Đá Chông, Ba Vì, Hà Nội). Ảnh: Giang Huy.

Đoạn viết về việc riêng, năm 1965, Người dặn dò việc hoả táng, để lại một phần tro xương cho miền Nam. Năm 1968, Bác viết lại đoạn này, dặn để tro vào 3 hộp sành, cho Bắc - Trung - Nam mỗi miền một hộp. Ngoài ra, Bác còn viết bổ sung một đoạn nói về cuộc đời bản thân: "Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa".

Bản di chúc đã công bố lấy nguyên văn lời Bác viết về việc riêng năm 1968, trừ đoạn nói về hoả táng.

Bản di chúc công bố có một câu sửa lại. Bản năm 1965 Bác viết: “cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể kéo dài mấy năm nữa”, bản công bố chính thức sửa lại là “cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài”.

Bộ Chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng khẳng định bản di chúc đã công bố đảm bảo trung thành với bản gốc. Việc chọn bản năm 1965 để công bố là đúng đắn vì đây là bản duy nhất được viết hoàn chỉnh, có chữ ký của Bác, bên cạnh có chữ ký chứng kiến của Bí thư thứ nhất là ông Lê Duẩn. 

Lấy đoạn mở đầu 1969 thay cho đoạn mở đầu 1965, theo Bộ Chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng là hợp lý vì Bác qua đời năm 1969 và nội dung bản viết năm 1969 cũng phong phú hơn. Đoạn viết về việc riêng, bổ sung phần 1968 vào bản 1965 là rất cần thiết nhằm phản ánh cuộc đời đẹp đẽ, trong sáng, vì dân, vì nước của Bác.

"Sở dĩ trước đây chưa công bố đoạn Chủ tịch Hồ Chí Minh viết về yêu cầu hoả táng là thể theo nguyện vọng và tình cảm của nhân dân, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá 3) thấy cần thiết phải giữ gìn lâu dài thi hài của Bác để sau này đồng bào cả nước, nhất là đồng bào miền Nam, bạn bè quốc tế có điều kiện tới thăm viếng, thể hiện tình cảm sâu đậm với Bác. Điều này đã xin phép Bác nên được làm khác với lời Bác dặn", bản thông báo năm 1989 nêu rõ.

Việc chưa công bố một số đoạn viết thêm năm 1968 về những việc cần làm sau cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước được Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá 3) giải thích: Năm 1969, khi Bác qua đời, cuộc kháng chiến còn gay go, ác liệt, Việt Nam chưa giành được thắng lợi cuối cùng, nên việc công bố lúc bấy giờ là chưa thích hợp.

Mặt khác, một số câu Bác viết rồi lại xoá, như đang cân nhắc, chưa xong hẳn, chưa nói rõ ý như thế nào. Khi Người mất, cuộc chiến còn khó khăn và ác liệt, vì vậy, Bộ Chính trị đã quyết định sửa mấy chữ trong câu "cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể kéo dài mấy năm nữa" thành "cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài".

Việc miễn thuế nông nghiệp một năm cho các hợp tác xã chưa có điều kiện thực hiện. Năm 1989 tình hình kinh tế xã hội Việt Nam còn nhiều khó khăn, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VI) thấy cần có kế hoạch thực hiện mong muốn của Hồ Chủ tịch nên đã giao  Hội đồng Bộ trưởng trình Quốc hội thực hiện.

Ngày Bác mất trùng ngày vui dân tộc

Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời lúc 9h47 ngày 2/9/1969, ngày Quốc khánh của Việt Nam. Vì trùng với ngày vui lớn của dân tộc, Bộ Chính trị ban chấp hành trung ương Đảng khoá 3 đã quyết định công bố lùi lại một ngày, là 3/9/1969.

"Bộ Chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng khoá 6 cho rằng nay cần công bố lại đúng ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời", thông báo số 151 của Bộ Chính trị ngày 19/8/1989 nêu rõ. 

Hoàng Thùy
CS Bắc Kỳđại xảo quyệt

...Nói trắng ra tụi nó còn tàn độc và thâm hiểm hơn nhiều vì chúng dùng quyền của chúng ngụy tạo lịch sử, bơm đầy gian dối vào sách giáo khoa, chúng nhồi sọ, đóng gói biết bao điều tàn tệ, man trá, phi lí vào đầu hàng triệu hàng triệu đứa trẻ, từ thế hệ này sang thế hệ khác... để rồi lớp trẻ VN sau 1975 không khác gì những con cừu ngây ngô bảo sao nghe vậy, cho gì ăn nấy, chỉ biết ấm ức cúi đầu thinh lặng, vô cảm vô tình với quyền lợi dân tộc, quyền lợi đất nước...
 
 
......Lê Văn Tám, anh là minh chứng hùng hồn nhất cho sự man trá của chế độ này. Nếu anh có “linh thiêng”, hãy “châm ngọn lửa” dũng cảm vào các thế hệ trẻ, hãy giúp họ nhận ra đâu là sự thật, hãy giúp họ cởi bỏ lốt cừu, lên tiếng và hành động để xứng đáng là thế hệ tiên phong trong công cuộc “giải phóng” đất nước....
 

Viết về một "nhân vật lịch sử" mà lúc thì 13 tuổi, lúc thì 16 tuổi; Khi thì làm nổ kho xăng, khi thì làm nổ kho đạn (mà chết thì chết một lần!). Chỉ có các ông (vc) là tự nổ như kho đạn nhưng thiếu kiến thức khoa học. Đã đến lúc phải trả lại sự chân thật, nhất là đừng lưà lọc tuổi thơ trong sách giáo khoa , bỏ cái tên Lê văn Tám đã đặt cho các con đường, công viên, trường học. Chưa hết, còn cái tên cường điệu "Đuốc Sống" đã đặt cho các trường học càng nên dẹp. Một thế giới tuổi thơ đẹp đẽ, lại mang tên  " Đuốc Sống " rùng rợn(?), thiếu gì cái tên khuyến học hay hồn hậu, thanh bình để đặt tên trường. Xin mời đọc.DgN

image
"Giáo sư Phan Huy Lê còn cho biết, tiết lộ ra chuyện này là để trả món nợ với ông Trần Huy Liệu. Sau Cách mạng Tháng 8-1945, ông Trần Huy Liệu đã tự viết về nhân vật Lê Văn Tám, một thiếu nhi tự tẩm xăng vào người và chạy vào đốt kho xăng giặc Pháp ở Thị Nghè. Ông Liệu đã nói với ông Lê rằng: “Sau này khi đất nước yên ổn, các anh là nhà sử học, các anh nên nói lại giùm tôi, lỡ khi đó tôi không còn nữa”. Những năm sau năm 1945, ông Liệu đã giữ chức Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam và đã mất năm 1969. Giáo sư Lê cũng đề cập đến chi tiết phi lý trong chuyện này là: “Cậu bé Lê Văn Tám, sau khi tẩm xăng vào người và tự châm lửa đốt, vẫn còn khả năng chạy từ ngoài vào kho xăng với quãng đường 50 mét. Tôi đã hỏi một số bác sĩ và họ cho rằng với sức nóng của lửa xăng, một em bé không thể chạy xa như vậy”.
(Theo NV Tran Trong Tan)


Lê Văn Tám - “I nớp u”
Loan Nguyen
Anh yêu thương! Tính đến ngày em hết là “con lừa” thì em đã yêu anh ngót nghét được 20 năm có lẽ..., em bắt đầu yêu anh kể từ ngày em nhập học lớp 1, em bị nhét vào ngôi trường mang tên Lê Văn Tám, và thế là cái tên anh lúc nào cũng nằm chình ình ngay trên ngực áo em, phập phồng theo nhịp thở của trái tim em, sáng nào tung tăng đến trường em cũng hát vang toáng cả con đường như con điên bài hát về anh mà em đã bị bắt học thuộc, và điều đặc biệt là em đã được vinh dự chọn đi thi kể chuyện về “Lê Văn Tám - người anh hùng tí hon giả tưởng của chế độ”...em đã rinh 1 cái giải cộng với phần thưởng lớn lao bao gồm 1 tấm giấy khen, 1 bịch kẹo và 1 cuốn sổ. Ôi chao ơi cái đám bạn em “lồng lộn” lên vì ghen tức với em, cả lũ chúng nó cũng đều rất yêu anh nhưng chưa có đứa nào được vinh dự học thuộc lòng và kể vanh vách chiến công của anh trước “Trại súc vật” toàn tai to mặt lớn...trong cái đại hội gì đó em quên mẹ nó rồi. Em đành an ủi chúng nó bằng cách chia kẹo và cả lũ giơ tay “thề quyết tâm” sẽ noi gương anh là bọn lừa chúng em sẽ sẵng sàng là “ngọn đuốc sống” thiêu cháy tất cả những gì Đảng và NN cho là “phản động”...
Anh yêu! Em những tưởng tình yêu em dành cho anh sẽ theo em mãi mãi đến suốt đời suốt kiếp nhưng không ngờ tình chúng ta ngang trái quá. Em đã đau đớn vật vã, khóc lóc suýt đâm đầu vào xe bus tự tử mấy lần khi cái thằng “in tẹt nét” nó dám bảo là anh không có thật, anh là do một bọn chính trị khốn nạn vẽ vời xây dựng lên. Nó và một số người có tên tuổi như GS Phan Huy Lê khẳng định cái hình tượng chúng em yêu dấu là hình ảnh giả tưởng “láo toét, bịa đặt” do ông Trần Huy Liệu bị ép viết theo yêu cầu của chế độ. Em đau đớn đến bầm tím ruột gan, sao lại có sự thật phũ phàng đến thế? Sao tình yêu quê hương, đất nước, yêu anh hùng của em và các thế hệ chung “chuồng lừa” lại có thể bị “chà đạp” đến như vậy? Tụi em đã được “nhồi sọ” là phải yêu anh đến chết bỏ thì làm sao mà chúng em không đau đớn, vật vã cho được khi phát hiện ra Honey của em chỉ là sản phẩm của một sự tuyên truyền, dối trá, lừa lọc...
Anh yêu thương! Dù sao em cũng đã lỡ yêu anh, vì yêu anh nên em phải nói cho cái bọn khốn nạn tạo dựng nên anh biết rằng: dù anh là ai? Anh là thật hay là giả thì tụi nó cũng là lũ vô lương tâm và bỉ ổi khi dùng thủ đoạn chính trị, dùng hình tượng “trẻ em” để tuyên truyền kích động trẻ em “tự sát”. Bọn chúng chẳng khác gì các bọn khủng bố trên Thế Giới bắt trẻ em ôm bom tự sát, lợi dụng trẻ em cho những mưu đồ chính trị... Nói trắng ra tụi nó còn tàn độc và thâm hiểm hơn nhiều vì chúng dùng quyền của chúng ngụy tạo lịch sử, bơm đầy gian dối vào sách giáo khoa, chúng nhồi sọ, đóng gói biết bao điều tàn tệ, man trá, phi lí vào đầu hàng triệu hàng triệu đứa trẻ, từ thế hệ này sang thế hệ khác... để rồi lớp trẻ VN sau 1975 không khác gì những con cừu ngây ngô bảo sao nghe vậy, cho gì ăn nấy, chỉ biết ấm ức cúi đầu thinh lặng, vô cảm vô tình với quyền lợi dân tộc, quyền lợi đất nước...Chúng đã sử dụng thuốc độc tiêm vacxin cho tụi em từ lúc mới học mẫu giáo cho đến lớp Đại học, chúng em đã miễn nhiễm với các từ “tự do, dân chủ, hạnh phúc”, chúng em chỉ biết có mỗi “độc lập” và hả hê với vinh quang “chiến thắng quân thù” của đất nước VN. Chúng tạo dựng dây chuyền sản xuất và thải ra hàng loạt các thế hệ có mắt, có tai, có tim, có óc... cũng như mù, câm, điếc vì mắt chỉ thấy có mỗi Đảng CSVN quang vinh, tai chỉ nghe những được những thông tin gian dối 1 chiều bị bóp méo, óc chỉ luẩn quẩn nghĩ đến cơm ngày 3 bữa, tim luôn phập phồng nơm nớp lo sợ, hèn kém chưa bao giờ dám lên tiếng đòi hỏi quyền lợi chung và đấu tranh vì chính nghĩa... Ôi, chúng đã thành công và hả hê trước “sự im lặng của bầy cừu”...!
Lê Văn Tám, anh là minh chứng hùng hồn nhất cho sự man trá của chế độ này. Nếu anh có “linh thiêng”, hãy “châm ngọn lửa” dũng cảm vào các thế hệ trẻ, hãy giúp họ nhận ra đâu là sự thật, hãy giúp họ cởi bỏ lốt cừu, lên tiếng và hành động để xứng đáng là thế hệ tiên phong trong công cuộc “giải phóng” đất nước.

Nguồn: FB Loan Nguyen

 

Chuyện bây giờ mới kể: Bức tượng “Thương Tiếc”


Nguyễn Ngọc Chính
Bức tượng “Thương Tiếc”, nặng 10 tấn, cao hơn 6m,
được đặt tại cổng vào Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa

Khi cuộc chiến leo thang khốc liệt, năm 1966 Nghĩa trang Quân đội tại Hạnh Thông Tây, Gò Vấp, bắt đầu không còn đủ đất để các tử sĩ VNCH yên nghỉ. Chính phủ nền Đệ nhị Cộng hòa của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phải tính đến việc thành lập một nghĩa trang mới và địa điểm được lựa chọn nằm dọc theo phía tay trái của xa lộ Biên Hòa (nay là xa lộ Hà Nội) nếu từ hướng Sài Gòn đi Biên Hòa.

Kiến trúc sư kiêm điêu khắc gia, Đại úy Nguyễn Thanh Thu, được lệnh của Tổng thống Thiệu lên đường đi Phi Luật Tân để nghiên cứu mô hình xây dựng Nghĩa trang Quân đội Hoa Kỳ tại Manila (American Cemetery in Manila), được coi là một nghĩa trang đẹp nhất Á châu.

Nghĩa trang Quân đội Hoa Kỳ tại Manila
(Hình tác giả chụp tại thủ đô Manila, năm 2003,https://www.flickr.com/photos/nguyen_ngoc_chinh/837204065/in/photolist-2gYTAR-2gYTze) 

Năm 2003, tôi đã có dịp đến Phi Luật Tân và viếng Nghĩa trang Hoa Kỳ tại thủ đô Manilla [1]. Nghĩa trang có tênAmerican Cemetery, đây là nơi chôn cất thi hài quân nhân Mỹ và đồng minh đã nằm xuống trong cuộc chiến ở Thái Bình Dương vào thời thế chiến thứ hai.

Nghĩa trang mằn trên một khu đất rộng 615,000 mét vuông, trồng cỏ xanh rì vây quanh là những hàng cây rợp bóng mát. 17,206 ngôi mộ chiến sĩ được đánh dấu bằng các thập tự giá và xếp hàng thẳng tắp như một đội quân thầm lặng. Điểm xuyết cho nghĩa trang là một vài tượng đài kỷ niệm ghi những dòng chữ tưởng nhớ công ơn những vị anh hùng “vị quốc vong thân”.

 Nghĩa trang Quân đội Hoa Kỳ tại Manila
(Hình tác giả chụp tại thủ đô Manila, năm 2003)

Sau chuyến đi tham khảo tại Phi Luật Tân, Đại úy Thu sẽ phải trình đề án lên Tổng thống Thiệu để giao cho công binh xây dựng một nghĩa trang mới mang tên Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa. Ông còn gợi ý phải có một tác phẩm điêu khắc tại cổng vào nghĩa trang để nói lên sự tri ân của mọi người tại hậu phương trước những tử sĩ được chôn cất tại đây.

Đại úy Nguyễn Thanh Thu xin 1 tuần để suy nghĩ về dự án và trước khi ra về anh còn được Tổng thống Thiệu nhắc nhở bằng những lời rất thân tình: “Anh cần chú ý đến ý nghĩa của nghĩa trang phải xoay quanh “cục nhưn” là bức tượng… Tôi đặt nhiều hy vọng vào anh…”.

Tất cả mọi chuyện chỉ bắt đầu một cách giản dị như vậy. Tuy nhiên, đối với nhà điêu khắc Nguyễn Thanh Thu đó là thời gian anh trăn trở nhiều nhất với những ý tưởng của một nghệ sĩ sáng tạo cho một công trình mang tầm vóc quốc gia nói lên lòng tri ân của mọi người đối với những chiến sĩ đã bỏ mình ngoài chiến trường.

Trong suốt một tuần lễ, hầu như ngày nào anh cũng có mặt tại nghĩa trang Hạnh Thông Tây để chứng kiến những cảnh tang tóc, đau thương của vợ con tử sĩ. Nhà chứa xác đầy nghẹt, những chiếc hòm chưa chôn còn mịt mù nhang khói tại những khu phải căng lều bạt chờ chôn… trong khi trực thăng vẫn hàng ngày tiếp tục chở xác về nghĩa trang.

Ngày cuối cùng của một tuần tìm ý tưởng là vào một buổi trưa Thứ Sáu trên đường từ Nghĩa trang Hạnh Thông Tây anh Thu ghé vào một quán nước gọi ly đá chanh. Và đây chính là giờ phút “định mệnh” khi anh nhìn thấy một người lính thuộc binh chủng Nhảy dù ngồi trước những chai bia và hai cái ly…

Anh lính ngồi nói chuyện với cái ly thứ hai trước sự ngạc nhiên của chủ quán lẫn khách uống nước. Hình như anh lính là người vừa thăm bạn được chôn cất tại Nghĩa trang Hạnh Thông Tây. Một ly anh cúng bạn và một ly anh uống. Anh ngồi vừa uống vừa nói chuyện với chiếc ly!

Cảm động trước hình ảnh một người lính khổ sở khi phải mất bạn, anh Thu cầm ly nước chanh bước qua bàn lảm quen. Anh lính ngước lên nhìn anh Thu với vẻ khó chịu vì sự riêng tư của mình bị người lạ làm phiền và tiếp tục trở về với ly bia “cúng” bạn.

Anh Thu cũng bị lúng túng vì thái độ “bất hợp tác” của anh lính nhảy dù. Mấy cô bán hàng lại cười khúc khích, có lẽ các cô nghĩ nãy giờ có một người “điên” ngồi uống bia nói chuyện với cái ly và bây giờ lại thêm người “điên” nữa lân la đến làm quen.

Người lính tiếp tục gục đầu ngồi độc thoại, phớt lờ những lời xã giao làm quen của anh Thu. Dường như anh tưởng bị quân cảnh hỏi giấy nên lẳng lặng móc bóp giấy tờ cho anh Thu mà không hề ngước mắt nhìn và tiếp tục uống!

Anh Thu cầm bóp trở về bàn mình và ghi lại tên anh lính: Võ Văn Hai, cấp bậc Hạ sĩ, binh chủng Nhảy dù, cả tên tiểu đoàn lẫn KBC (Địa chỉ Khu Bưu Chính của quân lực VNCH). Khi anh Thu trả lại giấy tờ, Hạ sĩ Võ Văn Hai nhét vào túi với vẻ bất cần, cũng không thèm ngước mặt nhìn lên.

Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu

Khuya Thứ Sáu anh Thu mới bắt đầu vẽ để sáng Thứ Bảy trình Tổng thống. Từ 8g tối đến 6g sáng anh phác thảo được 7 bản vẽ trong tiếng súng và bom thỉnh thoảng vọng về Sài Gòn. Những ý nghĩ ở một hậu phương yên bình trong khi những người lính ngày cũng như đêm xả thân ngoài chiến trường khiến anh Thu dồn hết tâm trí vào những nét vẽ của anh.

Anh Thu hôm đó chỉ ngủ 2 tiếng thì bị đánh thức bởi tiếng chó sủa, thì ra theo lời của vợ anh: “Có người đến nhà mời anh đi trình dự án!”. Họ đến sớm để mời anh đi ăn sáng trước khi gặp Tổng thống Thiệu. Lần trước đây anh gặp Tổng thống để bàn về dự án tại Bộ Tổng tham mưu nhưng lần trình dự án lại là tại dinh Gia Long.  

Lịch gặp Tổng thống vào lúc 9  giờ sáng nhưng vì Tổng thống còn đang tiếp khách nên anh Thu trong lúc đi lại trên hành lang dinh Gia Long bỗng nảy ra câu hỏi “Tại sao lại không vẽ Võ Văn Hai?”. Nghĩ là làm ngay. Anh tưởng tượng một bố cục dựa trên hình ảnh Hạ sĩ Hai ngồi nhớ bạn tại quán nước.

Anh trở ngay vào phòng Đại tá Cầm, tùy viên của Tướng Thiệu, chụp một cây bút nguyên tử, lấy trong giỏ rác một bao thuốc lá và rút mảnh giấy bọc bao thuốc trở ra hành lang ngồi vẽ lại hình ảnh Hạ sĩ Hai.

Một lần nữa, “định mệnh” lại ra tay: trong 7 bản vẽ mang theo, anh Thu thấy bản cuối cùng, một “tốc họa” trên bao thuốc lá tại dinh Gia Long, là bản anh ưng ý nhất. Đến khi vào gặp Tổng thống, anh trải 7 bản vẽ lên sàn nhà trước bàn làm việc, bản vẽ cuối cùng trên bao thuốc lá anh vẫn còn cầm trên tay.

Tổng thống Thiệu sau khi đi tới, đi lui ngắm 7 bản vẽ, ông nói: “Anh là “cha đẻ” của dự án này nên theo ý anh, bức nào làm anh hài lòng nhất”. Phải nói, anh Thu là người thật thà, chất phác, anh thẳng thắn trình bày:

“Thưa Tổng thống, nếu Tổng thống cho tôi chọn lại thì bản vẽ mới đây tôi vừa nghĩ ra và vẽ vội trên bao thuốc lá lại là bản vẽ tôi ưng ý nhất… nhưng tôi sợ mình quá vô lễ để đưa ra tại đây”. 
Tổng thống Thiệu vui vẻ và đồng ý xem “tốc họa” trên bao thuốc lá. Ông cầm bản phác thảo Hạ sĩ Võ Văn Hai về ngồi trên ghế ngắm nghía, một lúc sau ông nói: “Anh Thu à, người nghệ sĩ hay lãng mạn lắm mà chiến sĩ của mình thực tế hơn, họ cần một cái tên cho đề tài, anh cho tôi biết đề tài của bức hình là gì đây?”.

Anh Thu lần lượt đề nghị các tên: (1) Khóc bạn, (2) Tình đồng đội, (3) Nhớ nhung, (4) Thương tiếc và (5) Tiếc thương. Cuối cùng Tổng thống chọn tên “Thương Tiếc” cho bức phác họa Hạ sĩ Võ Văn Hai ngồi nhớ bạn. Tổng thống còn nhắc nhở phải làm sao nói lên được ý nghĩa vừa thương tiếc bạn bè nằm xuống nhưng cũng phải thể hiện tinh thần chiến đấu của người lính VNCH lúc nào cũng vững tay súng.

Bất ngờ, Tổng thống yêu cầu anh vẽ một bản thứ hai lớn hơn, vẽ tại chỗ, ngay ở dinh Gia Long. Thế là với dụng cụ giấy vẽ, bảng đen và các loại màu được cung cấp ngay theo yêu cầu, anh Thu bắt đầu… “ra tay” trước mặt Tổng thống Thiệu và một số sĩ quan thân cận của ông.

Anh Thu có thêm yêu cầu cần một người ngồi làm mẫu… và trong số các sĩ quan hiện diện, chính Đại tá Cầm “xung phong” làm… người mẫu! Thực ra thì hình ảnh Đại tá Cầm mặc quân phục chỉnh tề, “ủi hồ láng cóng”, không thích hợp với hình ảnh người lính thật sự nhưng đó chỉ là một hình ảnh gợi ý để sáng tác cấp tốc.

Anh Thu còn xin thêm thêm 1 khẩu súng trường cho Đại tá Cầm để trên đùi, đó là khẩu Garant M1 đang được quân đội sử dụng trên chiến trường… Anh cũng đề nghị trong lúc anh vẽ, tất cả mọi người miễn đặt câu hỏi, vì nếu như thế anh sẽ mất sự tập trung trong sáng tác và sẽ thất lễ nếu anh không dừng vẽ để trả lời. 

Khó khăn của anh Thu là phải hoàn thành tác phẩm trong một thời gian gấp rút, anh tâm sự: “Lúc bấy giờ, không biết có một điều xui khiến vô hình nào đó mà tôi xuất thần phóng bút vẽ lại Hạ sĩ Hai… Không biết là tôi vẽ hay là ai nữa!”.

Nguyễn Thanh Thu

Sau khi Tổng thống Thiệu ký tên vào bức “tốc họa”, anh Thu chỉ có 3 tháng để hoàn tất công trình tượng đài trước ngày 1/11/1967, ngày Quốc khánh của VNCH. Vấn đề trước mắt là đi tìm “người mẫu” Võ Văn Hai trong quán nước ngày trước tại Gò Vấp. Anh đã tìm đến đơn vị của Hạ sĩ Hai và gặp vị Thiếu tá phụ trách đơn vị.

Thoạt đầu khi nghe anh Thu trình bày vấn đề, vị Thiếu tá có vẻ băn khoăn, suy tính… nhưng khi thấy tận mắt bức họa có chữ ký của Tổng thống Thiệu, ông lại hãnh diện khi có người lính thuộc đơn vị nhảy dù của mình được chọn làm biểu tượng cho người lính VNCH tại nghĩa trang…

Vị Thiếu tá còn ra lệnh cho tập họp đại đội với súng ống đầy đủ để anh Thu chọn “người mẫu”, vì theo ông, trong đơn vị có nhiều người cao to tới 1,7 hoặc 1,8 mét, còn Hạ sĩ Hai chỉ cao chừng thước 1,6… Chính ông Thiếu Tá cũng chọn được 4 người lính lực lưỡng trong hàng đầu còn anh Thu thì chỉ réo tên Võ Văn Hai ở gần cuối hàng quân.

Anh Thu được giao 5 người lính nhảy dù để làm mẫu cho bức tượng Thương Tiếc trong vòng 3 tháng. Anh cũng nói riêng với các “người mẫu”, sự thật anh chỉ cần Hạ sĩ Hai, nhưng tất cả đều được nghỉ phép 3 tháng tại Sài Gòn với điều kiện chỉ được mặc quần áo dân sự để không bị quân cảnh làm khó dễ.

Anh Thu bên bản sao bức tượng “Thương Tiếc”

Chính hình ảnh Võ Văn Hai ngồi tiếc thương bạn trong quán nước đã ám ảnh anh Thu để sáng tạo ra bức tượng “Thuơng Tiếc” ngồi trước cửa Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa. Ngày ngày, anh Hai trong bộ quần áo dân sự đạp xe lên nhà anh Thu, tại đây anh thay bộ quân phục, với ba lô, súng đạn đầy đủ để ngồi làm mẫu.

Một hôm, khi bức tượng gần hoàn chỉnh chỉ còn thiếu chi tiết khuôn mặt, anh Thu đã cố tình để cho người lính ngồi một mình trong phòng, còn anh kín đáo quan sát qua bông gió trên tường. Đây là dụng ý của nhà điêu khắc muốn để anh ngồi một mình nhớ đến người bạn đã qua đời.

Anh Thu có thể thấy từng đường nét diễn biến trên khuôn mặt lúc anh lính ngồi buồn một mình và nhà điêu khắc đã phác họa lại trên giấy khuôn mặt anh. Phần mình, Hạ sĩ Võ Văn Hai lại sợ đã làm chuyện gì khiến Đại úy Nguyễn Thanh Thu phiền lòng nên cho anh về sớm mà không biết ông đã bí mật quan sát!

Khuôn mặt người lính “Thương Tiếc” bạn được tái hiện qua bức tượng trong cuộc phỏng vấn

Khoảng 3 giờ sáng anh Thu thức dậy để bắt đầu giai đoạn hoàn chỉnh cuối cùng của bức tượng: nét mặt của người lính. Anh dùng đèn cầy để lấy ánh sáng chiếu vào nhiều góc cạnh, qua đó anh có thể sửa lại nét mặt người lính theo những gì anh phác họa.

Loại ánh sáng nhân tạo qua ánh đèn cầy có tác dụng điều chỉnh các góc cạnh của tác phẩm theo hướng người nghệ sĩ di chuyển từ nhiều phía. Anh Thu hoàn toàn bị cuốn hút vào những cảm xúc trên khuôn mặt người lính. Đó là những giây phút chỉ mình anh và nhân vật của bức tượng trong ánh sáng mờ ảo của cây đèn cầy.   

Sau một giấc ngủ ngắn, anh tỉnh dậy sáng hôm sau để quan sát và so sánh công trình của mình đêm qua dưới ánh đèn cầy với ánh sáng ban ngày. Anh mừng vì khuôn mặt của người lính giữa ánh sáng tự nhiên ban ngày và ánh sáng nhân tạo từ đèn cầy vẫn hiện lên một nét buồn ray rứt.

Như vậy là điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu có thể hài lòng với công trình nghệ thuật kéo dài 3 tháng của mình. Và chúng ta được chứng kiến pho tượng “Thương Tiếc” ngồi trước cổng vào Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa từ năm 1967 cho đến sau ngày 30/4/1975.

Bức tượng “Thương Tiếc” được đắp lại cho cuộc phỏng vấn

***

Chuyện bây giờ mới kể về bức tượng “Thương Tiếc” được viết lại theo nội dung cuộc phỏng vấn của Lê Xuân Trường với nhà điêu khắc Nguyễn Thanh Thu qua một video clip dài 36,57 phút vừa xuất hiện trên Youtube, bạn đọc có thể theo dõi qua địa chỉ:


Cuộc phỏng vấn của Nguyễn Xuân Trường với điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu

Trong clip này, ở phần cuối dài hơn 5 phút, có đề cập đến thời gian đi học tập cải tạo của Đại úy Nguyễn Thanh Thu. Anh tâm sự cuộc đời của mình dính liền với tác phẩm Thương Tiếc, từ “danh vọng” đến “thê thảm”. Tại trại cải tạo trong thời gian bị “biệt giam” 22 tháng trong “thùng conex” [2] với lời buộc tội: “Tướng lãnh, sĩ quan xong giặc rồi là hết, còn anh vẫn lưu lại tư tưởng phản động qua tác phẩm….”.

Cán bộ trong trại chắc cũng chưa từng thấy bức tượng “Thương Tiếc” mà chỉ nghe đồn qua người Sài Gòn vì bức tượng đã bị giật sập và nấu thành kim loại sau năm 1975. Khi ở trong trại được khoảng 8 tháng, có lần “quản giáo” trong trại đề nghị anh Thu khai chỉ đóng vai phụ giúp trong việc tạc tượng còn tác giả đã ra nước ngoài!

Anh Thu đã trả lời một cách khẳng khái rằng anh đã “làm” thì anh “chịu”, tàu chìm thì anh chìm theo, máy bay rớt thì anh rớt theo, tượng chết thì anh chết theo… chứ không thể nào khác được. Anh Thu đã phải trả giá về sự “ngoan cố” của mình, nhưng một “phép lạ” đã xảy ra trên đường ra pháp trường sử bắn…

Nguyễn Thanh Thu diễn tả lại cảnh vì sao anh bị… điếc

Người xem video clip này dễ dàng nhận thấy giữa người phỏng vấn Lê Xuân Trường và người được phỏng vấn, anh Nguyễn Thanh Thu, đôi lúc không có sự “ăn ý” trong đối thoại. Chỉ ở đoạn cuối mới có câu trả lời tại sao anh Thu đã bị “điếc” trong thời gian đi cải tạo khiến cho những đối thoại trong cuộc phỏng vấn không được “trơn tru” như bình thường.

Nguyên do tại sao xin bạn đọc theo dõi phần cuối câu chuyện bây giờ mới kể trên video clip đã dẫn.

Bức tượng Thương Tiếc sau 30/4/1975

***

Chú thích:

[1] Xem thêm bài viết “Phi Luật Tân thời hậu SARS” tại:

[2] Thùng Conex: loại thùng bằng sắt để chứa hàng hóa trong quân đội Mỹ ngày xưa, có kích thước khoảng 3 mét mỗi chiều. Ngày nay thường thấy loại thùng này lớn hơn được chuyên chở trên các xe container.

[3] Xem thêm bài viết “Nghĩa tử là nghĩa tận: Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa” tại:

Vài Điển Hình Dối Trá Của Cộng Sản – Le Nguyen

 

Cộng sản có nhiều tật xấu, ác – trong đó có tật nói dối lem lẻm, dối không biết ngượng mồm là “đỉnh cao trí tuệ” của cộng sản Việt Nam. Dối trá của cộng sản có nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan và dối trá là dối trá không một ai bận tâm đến chủ quan hay khách quan vì dối trá là mặt tiêu cực chỉ gây hại cho cuộc sống con người. Đặc điểm của dối trá cộng sản là dù bị lật tẩy vẫn cố cãi chày cãi cối, cãi lấy được… cãi trơ trẻn đến độ người hiểu biết trung bình vô tình nghe thắy cũng cảm thấy xấu hổ, nhưng với những tên cán bộ, quan chức Việt Cộng đa phần nếu không nói là hầu hết không còn biết nhục nhã, xấu hổ khi nói láo bị lật mặt, chúng vẫn cứ lỳ, cứ trơ mặt ra không biết mắc cỡ là gì?

Cố tật nói láo với bản chất độc ác của cộng sản có hằng hà sa số như bát quái trận đồ, khó có bút mực nào tả siết, vì cộng sản cứ truyền đời dối trá từ thế hệ cộng sản này sang đến thế hệ cộng sản khác nên không thể ngăn chận hay loại trừ. Do đó những bài viết, những tài liệu ghi lại dối trá của cộng sản chưa thống kê đầy đủ, chưa khô mực thì dối trá cộng sản tràn tới từ trong hiện thực đời sống hợp cùng với rừng tin tức, sách vở định hướng dư luận theo chỉ đạo của tuyên giáo trung ương đảng cộng sản, muôn hình vạn trạng không sao kể siết.

Đặc biệt dối trá của cộng sản từ cộng sản lãnh đạo đến cộng sản thừa hành thường có cùng một bài bản khi bị vạch mặt dối trá, là cãi trước cái đã…kế đến là chối tội, cuối cùng là khi dối trá bị bắt gặp quả tang với bằng chứng hiển nhiên không thể phủ nhận thì chúng chuyển qua đổ thừa cho đủ thứ nguyên nhân trên trời dưới biển… Cho dù lời lẽ đổ thừa không đủ cơ sở lý luận hợp lý hay lý luận rất trẻ con nhưng chúng cũng không ngần ngại “cãi – chối tội – đổ thừa” cho hành vi dối trá của chúng.

Không ai lạ với bản chất dối trá mang dấu ấn thuộc bản quyền, độc quyền cộng sản và dối trá cộng sản khó có “đối thủ” cạnh tranh nói láo với những tên cộng sản Việt Nam. Nếu có ai đó vui miệng khen tài nói láo của cộng sản thì chúng lại nhảy dựng lên bảo là xuyên tạc, nói xấu, chống phá…với hàng hàng lớp lớp ngôn ngữ cộng sản xung phong ra trận tràn ngập cứ điểm “tự do ngôn luận” được bảo đảm trong hàng rào xã hội chủ nghĩa. Từ gốc độ đó chỉ ra dối trá cộng sản là “vô địch” dối trá, “thiên tài” dối trá mang tính đặc thù gắn nhãn mác cộng sản Việt Nam.

Thực tế chỉ ra kho tàng dối trá cộng sản do tuyên giáo cộng sản biên soạn, tàng trữ ngày càng đầy thêm và nó được cán bộ tuyên giáo cấy vào đầu các con cộng sản nên một sớm, một chiều rất khó để tẩy xóa, gột rửa. Do đó dối trá cộng sản thuộc về quá khứ xa lẫn quá khứ gần, cho dù ai đó có thiện chí, kiên nhẫn cách mấy cũng khó mở mắt cho những kẻ mù đảng tin tưởng vào những điều dối trá giàu tính hư cấu, tưởng tượng của những cuốn tiểu thuyết lãng mạn cách mạng, những bộ phim truyện thần thoại đậm chất đảng tính này.

Nền tảng lý luận của bộ phim thần thoại “bác”, của bộ tiểu thuyết “đảng” đã biến những tên cán cộng trở thành những tên nói dối lem lẻm, dối không biết ngượng mồm. Thậm chí chúng tưởng những điều dối trá của bác đảng là thật và sẳn sàng phùng mang, trợn mắt chửi bới, gán ghép “thế lực thù địch, phản động, nói xấu, chống phá…” cho bất cứ ai vạch trần sự dối trá của bác đảng, của nhà nước cộng sản Việt Nam.

Những tên cộng sản dối lem lẻm, dối không biết ngượng mồm từ vô danh đến hữu danh, từ tên cán bộ cắc ké đến tên cán bộ lãnh đạo trung, cao cấp của đảng cộng sản không người dân nào là không biết và nếu không trưng dẫn bằng chứng hiển nhiên không thể chối cãi cũng khó cãi lại chúng.

Điển hình của một số vụ việc “ cãi – chối tội – đổ thừa” của một số lãnh đạo cộng sản dối trá bị lật mặt nạ trong thời đại tin học có những vụ điển hình như sau:

“Điển hình dối trá “một” là clip thu hình đảng viên Nguyễn Chí Đức bị “đồng chí” đại úy công an Phạm Hải Minh đạp vào mặt trong cuộc xuống đường biểu tình chống quân xâm lược Tàu Cộng trước mắt hàng trăm cặp mắt người dân ở thủ đô Hà Nội. Thế mà ông trung tướng Nguyễn Đức Nhanh Giám đốc Công an Hà Nội – trả lời báo chí dù thừa nhận sự thật không thể chối cãi về hình ảnh cảnh sát khiêng, đạp vào mặt một người đàn ông biểu tình tự phát lên xe bus là phản cảm.

Thế nhưng ông Nhanh không quên cố tật dối trá đã nói thêm rằng: “…clip phát tán từ nguồn ở nước ngoài nên hiện chưa xác định được người đưa hình ảnh lên mạng. Chúng tôi cũng không thể xác định được clip có bị cắt ghép chỉnh sửa gì hay không?…”

Điển hình dối trá “hai” là clip thu hình hai phóng viên đài VOV bị đánh đập thô bạo trước mắt hàng ngàn người dân trong vụ cưỡng chế, thu hồi đất ở Văn Giang. Vậy mà ông Nguyễn Khắc Hào phó chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên thản nhiên báo cáo “láo” với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong Hội nghị trực tuyến là lực lượng cưỡng chế đã thực hiện tốt các phương án đề ra, đảm bảo an toàn không ai bị thương. Ông Hào còn mạnh miệng khẳng định video clip ghi lại hình ảnh nhiều người bị công an sắc phục và nhân viên thường phục đánh hội đồng là dàn dựng giả mạo để vu khống bôi nhọ chính quyền.

Điển hình dối trá “ba” là clip Ngư dân bị côn an, dân phòng cướp tôm mang về… uống rượu đã khiến dư luận bày tỏ phản ứng gay gắt trước hành vi cướp cạn giữa ban ngày của lực lượng công an, dân phòng đối với ngư dân Thanh Hóa. Thế mà ông chánh Văn phòng Công an tỉnh Thanh Hóa, đại tá Trần Văn Thực trong cuộc trả lời báo đài nhà nước đã bạo mồm, bạo miệng tuyên bố nội dung đoạn clip là những hình ảnh ghép, không có thật nhưng ông ta không thể chỉ ra được chỗ nào là ghép.”

Ba dối trá trơ trẻn phát ói điển hình của quan chức lãnh đạo cộng sản vừa nêu chỉ là chuyện nhỏ so với những dối trá kinh hoành khác của dối trá cộng sản. Chẳng hạn như việc công an đánh chết người dân trong đồn khi tạm giam, tạm giữ đều được báo cáo “láo” là do tự tử và nhìn thương tích trên thân thể dẫn đến cái chết của bị hại, đến đứa con nít cũng có thể biết được chết là do tra tấn, nhục hình nhưng những kẻ gây tội ác giết người không có ai chịu trách nhiệm, không ai bị làm sao cả.

Thậm chí những kẻ gây tội giết người bị thân nhân người bị hại có đủ đầu mối, bằng chứng để những kẻ gây ra tội phải trả giá cho tội ác của chúng gây ra. Thế nhưng những cá nhân, cơ quan điều tra có trách nhiệm truy tố nghi phạm ra tòa để trả lời những việc của chúng làm, lại đưa ra kết luận dối trá lộ liễu là không đủ yếu tố buộc tội như trường hợp của Nguyễn Công Nhật bị đánh chết ở trại tạm giam tỉnh Bình Dương, vợ bị đòi tiền hối lộ, bị gạ tình có thu âm vẫn không đủ yếu tố buộc tội?

Đáng kinh tởm nhất cho những dối trá đặc biệt nghiêm trọng này là không có những kẻ trực tiếp lẫn gián tiếp gây tội ác giết người bị trả giá, bị trừng trị thích đáng. Những kẻ giết người dã man, lem lẻm chối tội loại này đa số đều nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật vì theo cơ quan “điều tra” là không đủ yếu tố buộc tội để truy tố ra tòa. Hài hước hơn là nếu như đủ bằng chứng phạm tội không thể chối cãi thì những tên côn an phạm tội được bao che, đưa vào khung hình phạt nhẹ nhất có thể, mang nặng tính hài hước hơn là “xử đúng người đúng tội…vi phạm tới đâu xử tới đó…không bao che…” như các quan chức cộng sản quen mồm nói láo, không người dân nào là không biết! Cụ thể là trường hợp tòa xử án tốp sĩ quan công an tra tấn tàn độc làm chết nạn nhân Ngô Thanh Kiều ở tỉnh Phú Yên.

Ngoài ra “dối trá cộng sản” còn biến tướng để trở nên quái đản, kinh dị hơn hẳn những bộ phim do con người giàu óc tưởng tượng làm ra. Cụ thể như quan niệm đạo đức được cộng sản nâng lên tầm “đạo đức cách mạng” không giống như nền tảng đạo đức truyền thống của loài người hiểu và kinh qua. Đạo đức cách mạng cộng sản đồng nghĩa với giết người cướp của, giết càng nhiều người, càng độc ác càng dễ trở thành vĩ nhân, dễ được tôn lên thành thánh để được cường quyền dựng tượng, lập đền cưỡng ép người dân bái lạy thờ phượng. Trong thời đại tin học ngày nay, rất ít người không biết đạo đức cộng sản, thánh cộng sản tên nào tay cũng nhuộm đầy máu đồng bào, đồng loại và những ông thánh cộng sản, mỗi ông ít nhất cũng từ vài trăm ngàn, vài triệu cho đến vài chục triệu mạng người như Lenin, Stalin, Mao, Kim, Hồ…là những ông thánh được dựng tượng thờ phượng mang tính đặc thù cộng sản như vừa bàn đến!

Thực ra cộng sản cũng không dám lộ liễu đi quá xa quan niệm truyền thống chung về đạo đức, về thánh nhân được đúc tượng, tạc tượng, dựng tượng cho loài người thờ phượng noi gương, làm hình mẫu sống cho hậu thế học tập, làm theo. Điểm khác biệt về đạo đúc, về thánh nhân là cộng sản với công cụ tuyên truyền dối trá, công cụ bạo lực khủng bố của nòng súng, nhà tù kể cả ám sát thủ tiêu, giết người bịt miệng, biến đen thành trắng, sửa đổi sự thật lịch sử, thêu dệt hào quang lãnh tụ, tẩy xóa tội ác của các tên bạo chúa, độc ác gian manh cộng sản để biến thành thánh cộng sản với công đức cao dầy, tài năng xuất chúng, xuất quỷ nhật thần có một không hai trong tiến trình hình thành, tổ chức và phát triển xã hội loài người.

Những chiêu trò dối trá, dối lem lẻm, dối không biết run sợ, dối không biết ngượng mồm, biến không thành có, biến cái vô đạo đức thành đạo đức, biến ác quỷ thành thánh nhân của cộng sản đã bị lật tẩy trong thời đại tin học nhưng dối trá cộng sản vẫn chưa được ngăn chận và đẩy lùi.

Ngay cả những người sống trong lòng cộng sản, sống trong chiếc nôi cộng sản, lớn lên trưởng thành, thành danh và nắm giữ những chức vụ, quyền lực quan trọng trong hệ thống tổ chức cộng sản, có đủ kinh nghiệm lẫn trung thực để nói về bản chất dối trá cộng sản, thừa nhận dối trá cộng sản như ông nguyên tổng bí thư đảng cộng sản Liên Xô, Gorbachev kết luận “…Tội đã hiến dâng nữa cuộc đời cho lý tưởng cộng sản. Hôm nay tôi đau buồn nói rằng đảng cộng sản chỉ có tuyên truyền và dối trá…” hay nhà văn Nguyễn Khải, đaị tá quân đội nhân dân kết luận cộng sản chi tiết hơn “…Nói dối lem lém, nói dối lì lợm, nói không biết xấu hổ, không biết run sợ vì người nghe không có thói quen hỏi lại, không có thói quen lưu giữ các lời giải thích và lời hứa để kiểm tra…”

Qua trích dẫn lời nói cũng như trưng dẫn vài ba sự việc cụ thể liên quan đến dối trá của các lãnh đạo trung, cao cấp cộng sản còn sống hoặc đã chết, cựu lãnh đạo lẫn đương quyền lãnh đạo, đủ chứng thực bản chất dối trá cộng sản mang tính «di truyền» là có thật, không thể biện hộ hay chối cãi. Tất cả trích dẫn lẫn dẫn chứng đều lấy từ nguồn của các quan chức cộng sản mà không sử dụng nguồn của các cá nhân «phản động», tổ chức «thù địch» để đảng, nhà nước cộng sản có cơ sở đổ thừa là bịa đặt, xuyên tạc, nói xấu, chống phá…

Từ nền tảng dối trá cùng với nhiều tật xấu khác, đảng cộng sản Việt Nam cướp chính quyền, giành độc quyền lãnh đạo nhà nước – xã hội đã gây ra tai họa làm băng họại xã hội, đạo đức suy đồi, đất nước tan hoang và với nền tảng xấu ác, độc quyền lãnh đạo, đảng cộng sản đã dìm dân nước xuống đáy đói nghèo, lạc hậu, chậm tiến không lối thoát. Do đó để đất nước cất cánh bay lên ngang tầm các nước trong khu vực, bắt kịp các nước văn minh tiên tiến hòa nhập vào giòng sống nhân loại, không còn cách nào khác là phải xóa bỏ độc tài toàn trị, loại bỏ độc quyền lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam bởi vì như cựu tổng thống Nga Boris Yeltsin, nguyên lãnh đạo cao cấp cộng sản Nga tuyên bố «… Cộng sản chỉ có thay thế chứ không thể cải sửa được… » và cộng sản cai trị đất nước trên nền tảng dối trá, với những quan chức dối trá độc quyền quyền lực nhà nước thì không thể thực hiện được mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh!

 
__._,_.___
Học Trò Á Châu Trên Đất Mỹ
Trần Văn Giang
“If you think education is expensive, try ignorance.” Derek Bok.

Gần đây có nhiều bài báo in cũng như điện báo (Anh ngữ), có ghi lại những diễn tiến chính trị khởi xướng bởi đại biểu của các giống dân thiểu số với chủ đích giới hạn tỉ số số học sinh Á châu đồng thời yêu cầu, đề nghị thiết lập các “quota” (tỉ số ấn định trước) cho các giống dân thiểu số đặc biệt là học sinh Mỹ gốc da đen và Châu Mỹ La tinh (Hispanic) được nhận vào các trường đại học lớn, nổi tiếng trên đất Mỹ. Họ chưng ra bằng chứng là vì, tại các trường học nổi tiếng, tỉ số học sinh Mỹ gốc Á châu quá cao so với số học sinh thuộc các giống dân khác (Chẳng hạn, nhìn vào chương trình 4-năm của một số trường lớn trong năm 2010 như UC Berkly 42%, UCLA 38%, UC San Diego 44%... là dân Mỹ gốc Á châu).

Đã có rất nhiều tranh luận xoay quanh các vấn đề bình đẳng, cơ hội, di truyền, văn hóa, kinh tế… gây ra sự chênh lệch về sỉ số học trò Á châu trong các trường tốt trên đất Mỹ.

Nhận xét chung cho là gia đình người Á châu coi trọng vấn đề giáo dục con cái. Bố mẹ người Á châu không hề coi trường học như là nơi giữ trẻ để họ còn có thời giờ để làm chuyện khác. Tôi có nhận xét qua kinh nghiệm nuôi con của chính gia đình tôi: Hình như bố mẹ học trò Á châu thường là người bố và mẹ duy nhất trong các giống dân, mỗi ngày, ngồi xuống bàn học cùng với con cái sau giờ tan trường để giúp con cái học và làm các bài tập đem từ trường học về. Họ luôn luôn muốn biết chắc chắn là con cái phải đi học đúng giờ, làm xong các bài tập và theo dõi, để tâm vào sự dạy dỗ của Thầy Cô. Bố mẹ người Á châu cũng là người duy nhất không quản chi phí tốn kém cho con đi học thêm các chương trình giáo dục khác sau giờ tan học như âm nhạc, võ thuật, bơi lội, học hè, học luyện thi SAT, MCAD… Trong lớp của con tôi trong một trường huấn luyện bơi lội (swimming school) do người Mỹ làm chủ ở Orange County, có 8 học trò thì 7 đứa trẻ là người Việt Nam và duy nhất một học trò ngưởi Mỹ trắng. Ông chủ trường học (bơi lội) nói với tôi là:

“Chỉ có Bố mẹ người Á châu (Việt Nam nói riêng) mới sẵn lòng trả tiền và bỏ thời giờ đi theo con cái họ đến lớp học như vầy…”

Đó là lý do tại sao học trò Á châu đi học có điểm cao trong lớp. Công thức để học giỏi kể ra cũng dễ hiểu: Sự tận tâm, quyết tâm làm việc của từng người trong gia đình và cha mẹ sẵn sàng hy sinh các thú vui riêng cho tương lai của con cái. Phần thưởng không thể đến nếu mình chẳng làm gì cả. Làm việc tận lực, chịu khó, chịu tốn kém mọi mặt để đạt được những gì mình mơ ước chứ không phải chỉ đứng xếp hàng là có người hay cơ quan nào đó đưa quà tận tay cho mình.

Bây giờ cũng đang có sự kêu gọi định đặt một “quota” (Một con số hay tỉ số ấn định trước) cho dân thiểu số không phải người Á châu vào các trường đại học. Tôi thấy vần đề “quota” không thể là lời giải cho vấn đề mất quân bình, hay bất công xã hội. Thứ nhất, đặt “quota” cho sỉ số học trò Mỹ gốc da đen, hoặc La tinh, vào các đại học tốt thì sẽ làm cho trường đại học tốt không còn được gọi là “tốt” nữa vỉ cái “low standard” mà học trò học kém đem vào trường; Thứ hai, giả thử cũng đặt “quota” cho học trò Á châu phải được tuyển chọn vào các đội banh chuyên nghiệp như NBA, hay NFL thay vì tuyển chọn dựa trên khả năng ghi điểm (scoring) của cầu thủ thì giá trị của các đội banh chuyên nghiệp này sẽ như thế nào? Có ai phản đối hay không? Hỏi là trả lời. Vấn đề “quota” hiển nhiên không công bằng và không thực tế, không cần thiết phải bàn thêm.

Vấn đề đặt ra bây giờ là: Ai (hay cơ quan nào) là người có lỗi trong cái sỉ số bất quân bình trong các trường đại học tốt hiện nay? Rõ ràng không phải là trường học. Trường tốt dĩ nhiên phải có chương trình tuyển chọn gắt gao (“high standard, high scores”) của họ. Nếu một học trò bị từ chối không cho nhập học, theo tôi, đó không phải là lỗi của nhà trường. Sự học hỏi cho ra trò, đạt điểm cao đòi hỏi sự tận tâm và chăm chỉ. Gia đình của những ứng viên (applicants) không hề muốn con cái họ (ứng viên) làm việc chăm chỉ nhưng lại sẵn sàng lên tiếng than phiền về sự bất công thì ngay từ sự than phiền này chúng ta thấy đã có sự thiếu công bình rồi…

Đất nước Hoa kỳ sẽ đi về đâu nếu cái gọi là “quota” được chấp thuận? Đồng ý là các đường lối cải thiện xã hội xưa nay vẫn chủ trương “nâng đỡ” các học sinh thuộc gia đình nghèo (underprivileged) để tạo sự công bằng xã hội nhưng không có nghĩa là cứ tự nhiên chấp nhận hàng loạt các học trò ngu đần, lười biếng vào các trường tốt bởi vì họ là học trò thiểu số. Chủ trương đặt “quota” này sẽ có hậu quả / phản ứng “ngược.” Tại các trường tốt, học trò Mỹ gốc da đen và La tinh sẽ tiếp tục học kém, không thể nào tranh đua kịp học trò gốc Á châu; trong khi “trường tốt” sẽ không còn là trường tốt nếu “standard” trở thành thấp kém. Mọi người chúng ta, ở nơi đâu? làm chuyên gì? Cũng cần phải cố gắng vươn lên để thành công. Những sự lười biếng và ganh tị không giúp ích được gì cho sự phát triển.

Ngoài ra, tôi cũng nhận thấy học trò Mỹ gốc Á châu không nhất thiết thông minh hơn học trò Mỹ da đen, hay La tinh, hay da trắngTrẻ con Á châu chú tâm học hành và chăm chỉ hơn bởi vì cha mẹ Á châu không đồng ý hay chấp nhận với các duyên cớ do trẻ con nêu ra để làm cho việc học hành bị đình trệ. Học trò Mỹ gốc Á châu không phải tìm ở đâu xa, chúng chỉ việc nhìn vào ngay chính bố mẹ chúng là đã thấy những gương công dân tốt (role models); trong khi trẻ con da đen hay La tinh phải nhìn vào những anh chàng băng đảng cướp bóc tàn bạo, những ca sĩ vô học đeo vô số vòng vàng dây chuyền, hay cầu thủ thể thao nghiện ngập có hợp đồng bạc triệu là người gương mẫu… Đã đến lúc phải cần có sự thay đổi về sự nhận thức gọi là “tiêu chuân / gương mẫu;” y như TT Obama vẫn thường nói (“Time for change”). Nói thì dễ nhưng thực hành là chuyện khác.

Theo học một trường học tốt đồng nghĩa với sẽ có việc làm tốt và tương lai tươi sáng. Các chỗ ngồi trong các trường học tốt luôn luôn có sẵn; nhưng các ứng viên cần có một cách gì chứng tỏ mình xứng đứng được nhà trường nhận vào; chứ không phải chẳng cần làm gì nhiều (thí dụ như chỉ cần có một giấy giới thiệu của một mục sư nào đó chẳng hạn), đứng chờ một lúc sẽ có người đem đến đưa cho mình… Trường học và cả bố mẹ nữa không gặp khó khăn gì khi nói với con cái là chúng có thể lớn lên và trở thành Tổng thống Hoa kỳ; nhưng mà hình như ít bố mẹ (ngoại trừ Á châu) luôn luôn căn dặn con cái là việc đầu tiên phải tìm mọi cơ hội để đạt lấy một giáo dục cơ bản để làm hành trang; phải học và làm việc chăm chỉ thì mới có thể biến mong ước thành sự thật được. Tôi phải lấy làm ngạc nhiên, khi mới qua Mỹ, nhìn thấy là học trò ở Mỹ ăn mừng tốt nghiệp, học xong bậc trung học; và còn ngạc nhiên hơn khi thấy thằng con trai bé tí phải mua thuê áo mão để mặc vào trong lễ “tốt nghiệp” trường mẫu giáo ?!
Rất tiếc phải nói là hệ thống “an sinh xã hội” cho không (Welfare) đã làm tàn lụi, hủy hoại đời sống cũng như ý chí thăng tiến của bao nhiêu dân thiểu số Mỹ da đen và La tinh. Sự tận tụy chăm chỉ cất tiếng cao hơn lời nói. Dân Á châu nói chung tận tụy hơn là nói than thở suông vô nghĩa vì biết rõ là sẽ không có ai quởn để nghe họ phàn nàn… Tiếng nói chính trị của dân Á châu dầu sao cũng còn quá nhỏ bé!

Nhìn qua lịch sử di dân đến đến đất Mỹ của các giống dân thiểu số. Từ khi bắt đầu, sự nhọc nhằn, khó khăn nói chung rất gần với nhau: Dân da đen là những món hàng rẻ mạt qua sự trao đổi nô lệ từ Phi châu của các con buôn nô lệ người da trắng; Dân Nam Mỹ La tinh đi bộ bằng chân, đã vượt leo qua hàng rào, chèo lội qua sông qua bờ biển, lạc lõng giữa sa mạc nóng cháy; Dân tầu được tuyển mộ làm lao công giá rẻ mạt để xây dựng đường sắt, cầu cống, hầm mỏ; Dân Việt hy sinh bỏ hết tài sản ruộng vườn, vượt biên, vượt biển tị nạn cộng sản trong đói khát, chết chóc… Sau đó, tại đất Mỹ, chỉ một vài chục năm, hay một hai thế hệ sau, sự cách biệt về kinh tế cũng như xã hội của di dân Á châu và các giống dân thiểu số khác đã sống lâu năm trên đất Mỹ thấy có cách xa rõ ràng. Tại sao? Chỉ vì mỗi giống dân đến Mỹ dù đều là tay không nhưng họ mang trong người những di sản văn hóa khác nhau. Dân da đen và Nam Mỹ La tinh chỉ than thở, tìm cách chống đối cái hệ thống chính quyền cai trị của Mỹ nhưng lại không làm gì cho bản thân để thăng tiến. Trong khi dân Á châu cứ âm thầm im lặng làm việc, học hỏi và thành công?!Tài tử Mỹ da đen nổi tiếng (đã từng đoạt giải Oscar năm 2004) là ông Morgan Freeman trong một buổi phỏng vấn năm 2005 của Chương trình “60 Minutes” của hệ thống CBS đã mạnh dạn nhận xét về văn hóa của dân da đen trên đất Mỹ, nghe qua thấy lạ, chua chát, nhưng nghĩ lại rất có lý như sau:

“Cho đến ngày dân Mỹ da đen dẹp bỏ cái tháng gọi là “Black History Month” (tháng Hai mỗi năm) thì dân Mỹ da đen mới mở mắt ra và khá hơn… Người Mỹ trắng họ đâu có “White History Month”…”

Morgan Freeman giải nghĩa, thứ nhất, là lịch sử dân da đen trên đất Mỹ không phải chỉ có 1 tháng. Lịch sử dân Mỹ đa đen phải là một phần của lịch sử Hoa Kỳ, không thể tách riêng ra; và thứ hai, cứ nhìn vào một tháng này, dân Mỹ da đen thấy mình bây giờ không còn là nô lệ nữa, họ thấy mình đã tự do, hạnh phúc, chẳng cần phải làm thêm gì cả vì chương trình “welfare” đã có sẵn; chỉ việc nộp đơn xin là nhận được một số tiền tạm đủ sống, không cần phấn đấu…

Về phần dân Mỹ La tinh đến được đất Mỹ thì kể như họ đã thành công, đã đạt được mục đích tối hậu, đã hạnh phúc, đã đi gần đến thiên đàng, cũng tà tà thoải mái ăn nhậu vui chơi… không cần phải cố gắng học hành thêm làm gì cho mất công?! Tận hưởng cho xong ngày hôm nay đã vì “mình chỉ sống có một lần!”

Trong khi đó, dân Mỹ gốc Á châu thì ngược lại, họ xem việc đến được đất Mỹ hôm nay chỉ là bước đầu tiên của cuộc hành trình dài chứ không phải là đã đi xong hết con đường… Họ tin là trên đất lạ này, chỉ có giáo dục mới thay đổi được tương lai của họ và con cháu họ. Sự khác biệt về tâm thức đã đưa các giống dân thiểu số đến các thành đạt khác nhau là như vậy.

Trần Văn Giang

Những tờ báo cũ miền Nam
Viên Linh

Có một hôm đang làm việc tại tòa soạn trong khu báo chí ở Little Saigon, một người đàn ông bước vào hỏi tên tôi, và vào đề ngay: “Nghe nói ông muốn mua sách báo cũ miền Nam, tôi có nguyên bộ tạp chí Văn, không thiếu số nào vì tất cả đã đóng gáy mạ chữ vàng, ông có muốn mua không?” Câu trả lời là có, và kinh nghiệm dạy rằng cần phải để xem người bán muốn bán đến độ nào, người bán là dân trong nghề văn nghề báo hay dân mại bản.



Một vài hình ảnh về sách báo cũ trước 1975, nay được tìm mua và được bán ra với giá cao.


Tôi từng chưng hửng khi cách đó khoảng năm năm, một người ở Houston liên lạc về chuyện báo cũ, chủ đề là bộ Bách Khoa, và nói giá một cách rất hăng hái: phải 15,000 Mỹ kim mới bán. Bách Khoa có hai đời chủ nhiệm, sống được khoảng 18 năm, từ 1957 tới 1963 tên Bách Khoa, chủ nhiệm Huỳnh Văn Lang, thư ký tòa soạn Lê Ngộ Châu, từ 1964 tới 1975 phải đổi tên là Bách Khoa thời đại, vì ông Huỳnh là người của chế độ cũ, mà chế độ đó vừa bị lật đổ hồi 1 tháng 11 năm trước, nên ông Châu lên làm chủ nhiệm, sống thêm 11 năm nữa. Báo ra hai kỳ một tháng, nếu không “sốt tê” (nhảy) một số nào, số chót phải là 432, nhưng chắc chắn không tới con số bụ bẫm toàn vẹn đó, thiếu hụt đâu khoảng vài ba chục số. Thời Việt Nam Cộng Hòa, các tạp chí bán ra khoảng thập niên 60 trung bình, đổ đồng là 30 đồng một số, đầu thập niên 70 giá lên đến 200 đồng một số, đại khái so với Mỹ kim mỗi số báo chỉ giá vài chục xu, mà đòi bán 15,000 Mk bộ Bách Khoa khoảng 400 số, thì quá đáng, cho dù đã đóng bìa cứng mạ chữ vàng đi nữa. Bách Khoa như cái tên, bài viết có từ khoa học quân sự kinh tế chính trị đến văn học nghệ thuật, mình chuyên về có một môn, mua tờ báo có tới 5 môn, là mình không dùng tới 4 môn kia, phí quá.

Nhưng đó là một vụ lẻ loi. Người đàn ông tới tòa soạn tờ báo kiếm tôi muốn bán bộ tạp chí Văn 245 số đã đóng thành 42 tập. Ðương nhiên là tạp chí Văn đối với người viết văn đáng quí hơn là tạp chí Bách Khoa. Người bán không chịu ra giá. Hỏi nhiều lần anh cũng không nói. Người bán không nói giá, người mua không biết đâu mà tính, nhưng cứ khả năng mình, tôi nói sẽ biếu anh nguyên bộ Khởi Hành trị giá lúc ấy khoảng 300 Mỹ kim, cộng thêm 1500 Mỹ kim tiền mặt, anh nhìn tôi lặng lẽ đi ra. Khoảng vài chục thước, anh quay lại nói: “Tôi nợ credit card sát ván rồi, nên mới phải bán bộ báo Văn.” Hỏi anh bộ báo của chính anh mua rồi mang từ Việt Nam qua hay của ai, anh nói khi còn ở Việt Nam, anh chỉ mua tiểu thuyết đọc, chứ không mua tạp chí. 
Nhưng một hôm vào cái ngõ ở khu Tân Ðịnh, thấy một ông mập mạp cởi trần đang ngồi bán mấy thứ lặt vặt trước nhà, anh hỏi mua sách, thì ông nói có bộ báo Văn, có mua thì ông bán. Ông mang ra cho xem mới thấy ở gáy tập báo nào cũng có tên chủ nhân mạ chữ vàng in nổi trên cái bìa simili màu xanh xám: Trần Phong Giao. Tôi im lặng nhưng lòng trĩu nặng, đó là thư ký tòa soạn tạp chí Văn, đó là bạn tôi, đó là người mang hết tinh hoa kiến thức của mình gầy dựng nên tờ báo văn chương có nhiều năm bán chạy nhất ở miền Nam. Năm 1975 từ Virginia tôi gửi thư về địa chỉ ở Tân Ðịnh cho bạn, nhưng thư bị trả về, bên ngoài phong bì có nét bút gạch chéo sỗ sàng, và mấy chữ “không có ở đây.” Người bán sách cũ nói thêm anh không định mua bộ báo, chỉ khi biết người đó là Trần Phong Giao, người làm ra bộ báo, anh mới mua, để giúp ông, vì đoán chừng ông đang cùng quẫn ở thành phố bị giặc đỏ hoành hành. Anh chỉ thích mua tiểu thuyết, không thích báo bao nhiêu.

Suy nghĩ tới lui: nợ credit card hết mức rồi thì chắc là 5,000 Mk, bỏ ra số tiền ấy để mua bộ báo cũ, nhà thơ nghèo không kham nổi. Người bán sách báo cũ nghĩ sao, cho tôi số điện thoại và số nhà ở Los Angeles rồi mới quay đi. Hẳn anh hy vọng biết đâu tôi có thể đổi ý. Quả là cách đây vài ba năm tôi có kiếm anh, vì có một hai bạn đọc tri âm muốn mua bộ báo đó tặng lại tôi, song anh không còn ở chỗ cũ.

Trong vài chục năm nay mua sách báo cũ, thư viện của tôi đã không còn chỗ chứa, nay đang phải làm danh sách để bán bớt đi một nửa, khoảng gần một ngàn cuốn. Sách chồng chất quá cao, lên tới sát trần nhà, kê thêm tủ để chứa sách thành ra lối ra vào không đủ tiêu chuẩn 36” bề rộng, nhân viên chữa lửa đã từng cho chủ nhân cái hạn hai tuần để kê lại. Thế mà gần đây có chàng còn muốn bán rẻ cho tôi 20 cuốn báo Sáng Tạo (không đủ bộ 31 cuốn) đòi có 20 Mk một tờ. Bộ Thời Tập 23 cuốn có đủ, giá mua 500 Mk. Bộ Nghệ Thuật Mai Thảo chủ nhiệm, Viên Linh thư ký tòa soạn, 57 cuốn thiếu 5 cuốn, 500 Mk cộng thêm 25 Mk tiền gửi đi sau khi báo được mang từ Tuy Hòa qua San José, từ San José mang xuống Westminster. Bộ Khởi Hành xuất bản trong nước, 156 số từ 1969 tới 1973 ở Sài Gòn, là bộ báo cũ người viết bài này quí nhất, chủ nhiệm Anh Việt Trần Văn Trọng, nhạc sĩ đại tá chủ tịch Hội Văn Nghệ Sĩ Quân Ðội, thư ký tòa soạn Viên Linh, tờ báo tôi được trao toàn quyền thực hiện, suốt bốn năm tờ báo hiện diện người chủ nhiệm ít nói, nghiêm nghị mà cởi mở, không bao giờ đến tòa soạn.

Nếu phải mua lại bộ báo quí giá ấy, không biết làm sao người ta có thể kham nổi. Nó quí vì nhiều lý do, tờ báo đã khám phá ra nhiều tài năng mới, sau này nổi tiếng, tờ báo đã được sự cộng tác của hầu hết các tác giả danh tiếng nhất Việt Nam, mà sau một năm có mặt, đã in tên tất cả các tác giả ra ngoài bìa. Chủ nhân bộ báo anh L. Ð. đã tặng không cho tôi với lời thư giản dị: như là báo tôi làm ra, thì anh tặng lại tôi bản chính, chỉ cần gửi lại cho anh một bản photocopy là được rồi. Ðiều ấy đã đáng ca ngợi, nhưng điều đáng kính phục nhất là khi biết tôi đang tục bản tờ báo cũ ở California, thì tờ Khởi Hành bộ cũ của gia đình anh, anh mua từng số khi phục vụ trong quân ngũ, lúc ở Tây Ninh khi ở Sài Gòn, còn để trong thùng sắt, cái thùng còn chôn trong vườn nhà. Khi anh chị qua được Hoa Kỳ, mẹ anh vẫn ở trong ngôi nhà đó.

Cách đây khoảng mười lăm năm, lúc tình hình còn khó khăn, Chị L. Ð. đã về Sài Gòn, và mang hơn một trăm số báo đó bằng máy bay qua Hoa Kỳ, để rồi anh chị đóng thùng, gửi qua bưu điện cho tôi. Không bao giờ tôi có thể quên gia đình anh chị, nhất là mẹ anh đã tích cực bảo tồn các di sản văn hóa của người quốc gia, dù vẫn sống trong gông cùm cộng sản. Khi những dòng này được viết ra, người trong nước vừa lập ra một hội nhà văn mới, mà ngay lá thư thông báo đã dùng mấy tiếng “văn học đô thị miền Nam” để ngụ ý đó là “văn học miền Nam.” Ðiều đó ngay lập tức vô hình trung đã cảnh báo rằng văn học của miền Nam, sách báo cũ của miền Nam, là di sản càng ngày càng quí, đến nay họ vẫn sợ hay đã quá quen phải tránh nói đến nó, chưa dám nhắc đến nó một cách bình thường. Người ta quí sách cũ không hẳn vì nó hiếm, nó ít ra đã ghi dấu và mang trong lòng những tờ giấy mong manh những thần thức tinh hoa của một thời đại đã mất.

(Viết ngày 6 tháng 8, 2014)


Hố  Chôn Người Ám Ảnh

Trần Đức Thạch

(Cựu chiến binh QĐND/XHCNVN bị lãnh đạo VC bỏ tù 3 năm)

 

Tháng 04/1975, đơn vị  chúng tôi (Sư đoàn 341 thường gọi là đoàn Sông Lam A) phối hợp với sư đoàn khác đánh vào căn cứ phòng ngự Xuân Lộc. Trận chiến quyết liệt kéo dài 12 ngày đêm. Tiểu đoàn 8 chúng tôi do hành quân bị lạc nên được giao nhiệm vụ chốt chặn, nhằm không cho các đơn vị quân lực Việt Nam cộng hoà tiếp viện cũng như rút lui. Phải công nhận là sư đoàn 18 của phía đối phương họ đánh trả rất ngoan cường. Tôi tận mắt chứng kiến hai người lính sư đoàn 18 đã trả lời kêu gọi đầu hàng của chúng tôi bằng những loạt súng AR15.

Sau đó họ ôm nhau tự sát bằng một quả lựu đạn đặt kẹp giữa hai người. Một tiếng nổ nhoáng lửa, xác họ  tung toé giữa vườn cam sau ấp Bàu Cá. Hình ảnh bi hùng ấy đã gây ấn tượng mạnh cho tôi. Tinh thần của người lính đích thực là vậy. Vị tướng nào có những người lính như thế, dù bại trận cũng có quyền tự hào về họ. Họ đã thể hiện khí phách của người trai nơi chiến trận. Giả thiết nếu phía bên kia chiến thắng chắc chắn họ sẽ được truy tôn là những người anh hùng lưu danh muôn thủa. Nhưng vận nước đã đi theo một hướng khác. Họ đành phải chấp nhận tan vào cõi hư vô như hơn 50 thuỷ binh quân lực Việt Nam Cộng Hoà bỏ mình ngoài biển để bảo vệ Hoàng Sa.

 

... Nghe tiếng súng nổ ran, tôi cắt rừng chạy đến nơi có tiếng súng. Đấy là ấp Tân Lập thuộc huyện Cao Su tỉnh Đồng Nai bây giờ. Ấp nằm giữa cánh rừng cao su cổ thụ. Đạn súng đại liên của các anh bộ đội cụ Hồ vãi ra như mưa. Là phân đội trưởng trinh sát, tôi dễ dàng nhận ra tiếng nổ từng loại vũ khí bằng kỹ năng nghiệp vụ. Chuyện gì thế này? Tôi căng mắt quan sát. Địch đâu chẳng thấy, chỉ thấy những người dân lành bị bắn đổ vật xuống như ngả rạ. Máu trào lai láng, tiếng kêu khóc như ri. Lợi dụng vật che đỡ, tôi ngược làn đạn tiến gần tới ổ súng đang khạc lửa.

- Đừng bắn nữa! Tôi đây! Thạch trinh sát tiểu đoàn 8 đây!

Nghe tiếng tôi, họng súng khạc thêm mấy viên đạn nữa mới chịu ngừng. 

Tôi quát:

- Địch đâu mà các ông bắn dữ thế? Tý nữa thì thịt cả mình.

Mấy ông lính trẻ tròn mắt nhìn tôi ngơ ngác. Họ trả lời tôi:

- Anh ơi! đây là lệnh.

- Lệnh gì mà lệnh, các ông mù à? Toàn dân lành đang chết chất đống kia kìa!

- Anh không biết đấy thôi. Cấp trên lệnh cho bọn em “giết lầm hơn bỏ sót”. Bọn em được phổ biến là dân ở đây ác ôn lắm!

- Tôi mới từ đằng kia lại, không có địch đâu. Các ông không được bắn nữa để tôi kiểm tra tình hình thế nào. Có gì tôi chịu trách nhiệm!

Thấy tôi cương quyết, đám lính trẻ nghe theo. Tôi quay lại phía hàng trăm người bị giết và bị thương. Họ chồng đống lên nhau máu me đầm đìa, máu chảy thành suối. Một cụ già bị bắn nát bàn tay đang vật vã kêu lên đau đớn. Tôi vực cụ vào bóng mát rồi giật cuốn băng cá nhân duy nhất bên mình băng tạm cho cụ. Lát sau tôi quay lại thì cụ đã tắt thở vì máu ra quá nhiều. Một chỗ thấy 5 người con gái và 5 người con trai bị bắn chết châu đầu vào nhau. Tôi hỏi người lính trẻ đi theo bên cạnh:

- Ai bắn đấy?

- Đại đội phó Hường đấy anh ạ!

- Lại nữa, tôi ngó vào cửa một gia đình, cả nhà đang ăn cơm, anh bộ đội cụ Hồ nào đó đã thả vào mâm một quả lựu đạn, cả nhà chết rã rượi trong cảnh cơm trộn máu. Tôi bị sốc thực sự. Hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ “Đi dân nhớ ở dân thương” mà thế này ư? Cứ bảo là Mỹ ngụy ác ôn chứ hành động dã man này của chúng ta nên gọi là gì? Tâm trạng tôi lúc đó như có bão xoáy. Mặc dù vậy, tôi vẫn nhận ra ngay những việc cần làm. Tôi tập trung những người sống sót lại. Bảo chị em phụ nữ và trẻ con ra rừng tổ chức ăn uống nghỉ tạm. Cốt là không cho mọi người chứng kiến lâu cảnh rùng rợn này. Đàn ông từ 18 đến 45 tuổi có nhiệm vụ ra sau ấp đào cho tôi một cái hố. Trong ấp ai có xe ô tô, xe lam, máy cày phải huy động hết để chở người bị thương đi viện. Mọi người đồng thanh:

- Xe thì có nhưng dọc đường sợ bị bộ đội giải phóng bắn lắm!

- Không lo, có tôi đi cùng!

Tôi giao cho Nghê, một du kích dẫn đường vừa có bố bị bộ đội cụ Hồ sát hại:

- Việc lỡ như thế rồi, chú nén đau thương lại giúp anh. Thu hồi căn cước tư trang của những người đã chết sau này còn có việc cần đến.

Thế là suốt chiều hôm đó, tôi lấy một miếng vải đỏ cột lên cánh tay trái. Lăm lăm khẩu AK ngồi trên chiếc xe dẫn đầu đoàn lần lượt chở hết người bị thương ra bệnh viện Suối Tre. Tối hôm ấy, tôi cho chuyển hết xác người chết ra cái hố đã đào. Không còn cách nào khác là phải chôn chung. Trưa ngày hôm sau người ta mới dám lấp. Đây là ngôi mộ tập thể mà trong hoàn cảnh ấy tôi buộc lòng phải xử lý như vậy. Trời nắng gắt, để bà con phơi thây mãi không được. Một nấm mồ chung hàng trăm người lẫn lộn, không hương khói, không gì hết. Tôi cho dọn vệ sinh sạch sẽ những chỗ mọi người bị tàn sát. Xong, mới dám cho đám phụ nữ và trẻ con ở ngoài rừng về. Tôi vượt mặt cả cấp trên để làm việc theo tiếng gọi lương tâm của mình. Bằng mọi nỗ lực có thể để cứu giúp đồng bào. Tưởng thế là tốt, sau này nghĩ lại mới thầy hành động của mình giống như sự phi tang tội ác cho những anh bộ đội cụ Hồ. Thú thật lúc ấy tôi vẫn còn một phần ngu tín. Cũng muốn bảo vệ danh dự cho đội quân lính cụ Hồ luôn luôn được ca ngợi là tốt đẹp. Tuy vậy tôi bắt đầu nghi ngờ: “Tại sao người ta giết người la liệt rồi bỏ mặc? Chẳng lẽ họ mất hết nhân tính rồi sao?”

Công việc xong tôi gặp Nghê để chia buồn. Tôi không tránh khỏi cảm giác tội lỗi. Nghê đã đưa xác bố về chôn tạm ở nhà bếp. Tội nghiệp Nghê quá. Lặn lội đi theo cách mạng, ngày Nghê dẫn bộ đội về giải phóng ấp lại là ngày bộ đội cụ Hồ giết chết bố Nghê. Nghê “mừng chưa kịp no” đã phải chịu thảm cảnh trớ trêu đau đớn. Nghê buồn rầu nói với tôi:

- Hôm qua nghe lời anh. Em thu được hai nón đồng hồ, tư trang và căn cước của những người bị giết. Sau đó có một anh bộ đội bảo đưa cho anh ấy quản lý. Em giao lại hết cho anh ấy để lo việc chôn ba.

- Em bị thằng cha nào đó lừa rồi. Thôi quên chuyện đó đi em ạ. Anh thành thật chia buồn với em. Chiến tranh thường mang đến những điều không may tột cùng đau đớn mà chúng ta không thể lường trước được. Anh cũng đang cảm thấy có lỗi trong chuyện này.

*

Đã mấy chục năm qua, khi hàng năm, khắp nơi tưng bừng kỷ niệm chiến thắng 30/4 thì tôi lại bị ám ảnh nhớ về hàng trăm dân lành bị tàn sát ở ấp Tân Lập. Cái hố chôn người bây giờ ra sao? Người ta sẽ xử lý nó như thế nào hay để nguyên vậy? Tôi muốn được quay lại đó để thắp nén hương nói lời tạ tội. Vô hình dung việc làm tốt đẹp của tôi đã giúp cho người ta bưng bít tội ác. Không! Người dân ấp Tân Lập sẽ khắc vào xương tuỷ câu chuyện này. Nỗi đau đớn oan khiên lúc đấy chưa thể phải nhoà được. Còn những người tham gia cuộc tàn sát ấy nữa có lẽ họ cũng vô cùng dằn vặt khi nhận những tấm huân huy chương do Đảng và Nhà nước trao tặng sau này chiến thắng. Ý nghĩ ấy giúp tôi dũng cảm kể lại câu chuyện bi thương này. 

                                                                                   *

Sau ngày 30/04/1975 tôi có chụp một kiểu ảnh đang cởi áo, lột sao dang dở. Tôi đem tặng cho một thằng bạn đồng hương chí cốt. Hắn run người, mặt tái mét:

- Tao không dám nhận đâu, họ phát hiện ra tấm ảnh này quy cho phản động là chết cả nút. 

Bạn tôi sợ là đúng. Vì cậu ta là đảng viên. Nhưng điều bạn ấy không hiểu là tôi làm vậy vì cảm thấy hổ thẹn và nhục nhã cho anh bộ đội cụ Hồ khi nghĩ tới vụ thảm sát ở ấp Tân Lập...

Thời gian trôi, tôi từ một chàng lính trẻ măng ngày nào bây giờ đã là một ông già với mái đầu hoa râm đốm bạc. Vậy mà tôi chưa nói được câu chuyện lẽ ra phải nói . Đôi lúc tôi âm thầm kể lại cho một số bạn bè tin cậy. Nghe xong ai cũng khuyên “Nói ra làm gì, nguy hiểm lắm đấy”. Và quả thật, sống trong xã hội xã hội chủ nghĩa quái đản này, người ta quen thói bưng bít sự thật. Sự thật không có lợi cho Đảng, cho Nhà nước chớ dại mà nói ra, bị thủ tiêu hoặc vào tù là điều chắc.

Trần  Đức Thạch

Cựu phân đội trưởng trinh sát 

Tiểu đoàn 8 - Trung đoàn 266

Sư đoàn 341 - Quân đoàn 4

 
Người Pháp lưu giữ ảnh độc đáo về 'Hùm thiêng Yên Thế'

Chân dung cha con Hoàng Hoa Thám, nghĩa quân Yên Thế tập luyện... là những hình ảnh độc đáo, quý hiếm nằm trong bộ sưu tập bưu ảnh Đông Dương của một doanh nhân người Pháp.

Ông  Guy Lacombe là một doanh nhân người Pháp đã sống và làm việc ở Việt Nam hơn 14 năm. Ông say mê Văn hoá Việt Nam nên  sưu tầm được nhiều cổ vật giá trị. Trong ba năm, Guy Lacombe miệt mài sưu tầm bưu ảnh Đông Dương bằng cách mua bán và trao đổi trên mạng internet và hiện có khoảng 3000 bức bưu ảnh từ năm 1896 đến 1945 .
Doanh nhân người Pháp, Guy Lacombe đã sống và làm việc ở TP.Saigon hơn 14 năm. Ông say mê văn hoá Việt Nam và sưu tầm được nhiều cổ vật giá trị. Trong ba năm, ông miệt mài sưu tầm bưu ảnh Đông Dương bằng cách mua bán và trao đổi trên mạng và đã có khoảng 3.000 bức từ năm 1896 đến 1945 .
Ông Guy có nhiều bộ bưu ảnh độc đáo và quý hiếm được phân loại theo từng chủ đề khác nhau. Một trong số đó là bộ bưu ảnh về Nghĩa quân Yên Thế của Đề Thám và bộ bưu ảnh chính quyền Thực dân- phong kiến xử tử những người yêu nước sau khi cuộc khởi nghĩa của Hoàng Hoa Thám thất bại.
Bưu ảnh của Lacombe độc đáo và quý hiếm, phân loại theo từng chủ đề khác nhau. Một trong số đó là bộ bưu ảnh về 'Nghĩa quân Yên Thế của Hoàng Hoa Thám' cùng bộ bưu ảnh chính quyền thực dân - phong kiến xử tử những người yêu nước sau khi cuộc khởi nghĩa của Đề Thám thất bại.
Bức bưu ảnh thủ lĩnh nghĩa quân Hoàng Hoa Thám cùng các cháu tại Yên Thế.
Bức bưu ảnh thủ lĩnh nghĩa quân Hoàng Hoa Thám cùng các cháu tại Yên Thế. Ông sinh năm 1846, mất 1913. Cuộc đời người anh hùng rừng núi gắn với các cuộc khởi nghĩa, trong đó ngót 30 năm ông lãnh đạo Khởi nghĩa Yên Thế (1884-1913) - cuộc đối đầu vũ trang giữa những người nông dân ly tán tại vùng Yên Thế Thượng và sau đó là Thái Nguyên.
Nghĩa quân Yên Thế.
Nhóm nghĩa quân người Mán dưới quyền thủ lĩnh Phạm Quế Thắng ở Vũ Nhai.
Nghĩa quân Yên Thế.
Nghĩa quân Yên Thế trong cuộc Khởi nghĩa Yên Thế.
Một bức ảnh hiếm về 2 người con của Hoàng Hoa Thám, Cả Rinh và Cả Huỳnh.
Bức ảnh hiếm về hai người con nuôi của Hoàng Hoa Thám, Cả Rinh và Cả Huỳnh.
Đội trưởng Nghĩa quân và những người lính luyện tập bắn súng.
Đội trưởng nghĩa quân và những người lính luyện tập bắn súng. Trong gần 30 năm lãnh đạo, Đề Thám đã tổ chức đánh nhiều trận, tiêu biểu là Luộc Hạ, Cao Thượng (tháng 10/1890), thung lũng Hố Chuối (tháng 12/1890) và Đồng Hom (tháng 2/1892), trực tiếp đương đầu với các tướng lĩnh danh tiếng của quân đội Pháp.
Người Pháp lưu giữ ảnh độc về 'Hùm thiêng Yên Thế'
Ảnh người đứng đầu nghĩa quân người Mường ở Yên Bái.
Bưu ảnh hiếm chân dung Hoàng Hoa Thám.

Hoàng Hoa Thám, người được mệnh danh là "Hùm thiêng Yên Thế", nỗi khiếp đảm cho chính quyền thực dân, phong kiến. Đề Thám người tầm thước, vai rộng, ngực nở, tóc thường cắt ngắn hoặc cạo trọc, mắt một mí, dáng đi chậm, nói năng từ tốn, nhỏ nhẹ. Ông được mô tả là người có năng lực chiến đấu ít ai sánh kịp. Trong nhiều năm, quân Pháp đã tập trung lực lượng để đàn áp cuộc khởi nghĩa Yên Thế và sử dụng nhiều thủ đoạn, từ phủ dụ đến bao vây tàn sát. Tuy nhiên, với tài lãnh đạo, Đề Thám nhiều lần buộc quân Pháp phải nhượng bộ. Ông gây dựng được lực lượng lớn mạnh trong giai đoạn hòa hoãn hơn 10 năm. Một trong những sự kiện chấn động là vụ "Hà thành đầu độc" ngày 27/6/1908 trong trại lính pháo thủ tại Hà Nội. Đây là vụ mưu sát và binh biến trong hàng ngũ bồi bếp và binh lính người Việt Nam phục vụ cho quân Pháp nhằm đầu độc quân Pháp để chiếm Hà Nội. Binh biến thất bại, 24 người tham gia bị Pháp xử tử, 70 người bị xử tù chung thân.

Nghĩa quân Yên Thế.
Trong giai đoạn lớn mạnh nhất, Hoàng Hoa Thám còn xúc tiến xây dựng căn cứ kháng chiến, bí mật liên hệ với lực lượng yêu nước ở bên ngoài. Nhiều sĩ phu như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh... đã gặp gỡ Hoàng Hoa Thám và bàn kế hoạch phối hợp hành động, mở rộng hoạt động xuống đồng bằng. Sang năm 1909, cuộc khởi nghĩa suy yếu sau khi thực dân Pháp tung 15.000 quân chính quy tổng tấn công vào căn cứ Yên Thế. Trong ảnh là Quan Hầu, nghĩa quân lớn tuổi nhất cùng con rể của Đề Thám, Cả Huỳnh ra hàng.
Bức ảnh mô ta cảnh xử chém những người theo Nghĩa quân Yên Thế.
Bức ảnh mô tả cảnh xử chém những người theo nghĩa quân Yên Thế tại Quảng Yên (nay thuộc tỉnh Quảng Ninh) năm 1905. Khởi nghĩa Yên Thế chấm dứt vào năm 1913. Hoàng Hoa Thám được cho là mất cùng năm, song đến nay, nhiều giả thiết vẫn còn đặt ra quanh cái chết của ông. Phần mộ của ông cũng chưa được xác định.
__._,_.___
__._,_.___



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
Kiều bào phát triển quê hương [Đã đọc: 340 lần]
Tin tức thế giời mới nhât song ngữ Việt Anh để học sinh ngữ [Đã đọc: 336 lần]
Làm Giàu Bằng Đầu Tư Chứng Khoán [Đã đọc: 324 lần]
Siêu đô thị Đà Nẵng mở rộng, siêu đầu tư địa ốc làm giàu [Đã đọc: 322 lần]
Một châu Âu đứng trước ngã ba lịch sử [Đã đọc: 316 lần]
Cách mạng chiếc đòn gánh của phụ nữ VN [Đã đọc: 276 lần]
“NHỮNG NGƯỜI CUỐI CÙNG CÒN GIỮ LẠI CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN”** [Đã đọc: 268 lần]
Nghệ Thuật Làm Giàu Của Người Việt Hải Ngoại - “The Art of Wealth for Overseas Vietnamese”. [Đã đọc: 262 lần]
Làm thế nào đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa từ Trung Cộng [Đã đọc: 259 lần]
Cuba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cuba nghỉ [Đã đọc: 252 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.