 |
 |
Các chuyên mục |
|
Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm
Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal
Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat
Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục
Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói
Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí
Web links
Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo
Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng
Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP
|
|
|
|
Xem bài theo ngày |
|
| Tháng Sáu 2026 | | T2 | T3 | T4 | T5 | T6 | T7 | CN |
| 1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
| 8 |
9 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
| 15 |
16 |
17 |
18 |
19 |
20 |
21 |
| 22 |
23 |
24 |
25 |
26 |
27 |
28 |
| 29 |
30 |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Thống kê website |
|
 |
Trực tuyến: |
6 |
 |
Lượt truy cập: |
29327751 |
|
|
|
|
| |
|
 |
 |
|
|
|
Quân đội VN ‘mãi nhớ ơn TQ’
06.07.2014 16:33
 Quân đội Việt Nam có hoạt động mừng ngày thành lập quân đội Trung Quốc Quân đội Việt Nam đã có một buổi họp mặt kỷ niệm ngày thành lập Giải phóng quân Trung Quốc (PLA) chỉ vài ngày trước khi PLA chính thức kỷ niệm 85 năm ngày thành lập quân đội anh hùng vĩ đại nhất thế giới.
Theo đó, Bộ Quốc phòng đã triệu tập hàng trăm các sỹ quan thuộc các cơ quan của Bộ, các binh chủng và các quân khu đã từng được phía Trung Quốc đào tạo qua các thế hệ cho cuộc gặp gỡ mang tính kỷ niệm này hôm thứ Bảy.Chủ trì buổi gặp mặt là Đại tướng Phùng Quang Thanh, người đứng đầu Bộ Quốc phòng Việt Nam và Thượng tướng Ngô Xuân Lịch, chủ nhiệm Tổng cục chính trị của quân đội đồng thời là ủy viên trung Đảng. Ngoài ra buổi họp mặt còn có sự tham dự của ít nhất ba ủy viên trung Đảng khác, bao gồm hai thứ trưởng là Thượng tướng Nguyễn Thành Cung và Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh và Trung tướng Mai Quang Phấn, người phó của ông Lịch tại Tổng cục chính trị. ‘Thể hiện lòng biết ơn’Mục đích của cuộc hội ngộ này, theo Thông tấn xã Việt Nam, là ‘dịp thể hiện lòng biết ơn’ sự giúp đỡ của Trung Quốc đã ‘đào tạo cán bộ’ cho quân đội Việt Nam, đồng thời ‘biểu dương’ các sỹ quan từng được Trung Quốc đào tạo đã có đóng góp ‘chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược’. “Chúng tôi luôn trân trọng, ghi nhớ và mãi biết ơn sự giúp đỡ chí tình, chí nghĩa, to lớn có hiệu quả mà Đảng, Chính phủ, nhân dân và Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã dành cho Việt Nam,” Đại tướng Phùng Quang Thanh phát biểu tại buổi họp mặt cũng có sự tham dự của đại biện lâm thời Trung Quốc Khương Tái Đông và tùy viên quân sự của nước này. Cuộc gặp mặt này diễn ra trong bối cảnh Trung Quốc liên tục leo thang các hành động đòi hỏi chủ quyền của họ trên các vùng đảo có tranh chấp với Việt Nam trên Biển Đông trong khi giới chức Việt Nam có các hoạt động nhắc nhở công chúng trong nước về 'tình hữu nghị Việt-Trung'. Thay mặt quân đội Việt Nam, ông Thanh gửi tới Quân ủy Trung ương và toàn bộ Giải phóng quân Trung Quốc ‘lời chúc mừng tốt đẹp nhất’ nhân ngày thành lập. Chỉ cách đây vài ngày, Quân ủy Trung ương Trung Quốc đã ra quyết định thành lập đơn vị trú đóng của ‘thành phố Tam Sa’ trên đảo Vĩnh Hưng mà phía Việt Nam gọi là đảo Phú Lâm. Bộ Ngoại giao Việt Nam ngay sau đó đã lên án động thái này của Quân ủy Trung ương Trung Quốc là xâm phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa.  Việt Nam gần đây có nhiều sự kiện ca ngợi tình hữu nghị với Trung Quốc Báo Quân đội nhân dân, cơ quan ngôn luận của quân đội Việt Nam, đã có bài tường thuật chi tiết về ‘tình cảm biết ơn’ của quân đội Việt Nam đối với Trung Quốc trong buổi gặp mặt này với tiêu đề ‘Khắc ghi tấm lòng nhường cơm sẻ áo’. Trong diễn từ khai mạc, Trung tướng Mai Quang Phấn được dẫn lời khẳng định sự giúp đỡ của Trung Quốc đã đem lại ‘kết quả to lớn cho Việt Nam’. Ông Phấn ca ngợi các sỹ quan được đào tạo tại Trung Quốc đã ‘vận dụng sâu sắc’ những điều được chỉ dạy để góp phần ‘xuất sắc’ trong ‘công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa’. Theo ông Phấn thì hàng ngàn cán bộ, sỹ quan quân đội của Việt Nam đã được Trung Quốc ‘tận tình giúp đỡ’ trong nhiều chuyên ngành khác nhau. “Cuộc gặp mặt không chỉ là dịp để bày tỏ lòng biết ơn sự giúp đỡ quý báu....đây còn là hoạt động thiết thực góp phần tăng cường hơn nữa mối quan hệ hữu nghị hợp tác, đối tác chiến lược toàn diện giữa hai Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân hai nước ngày càng bền chặt,” ông phát biểu. Thách thức chungTrong khi đó, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh nêu rõ ‘các thế lực thù địch’ là thách thức chung của Đảng, chính quyền và quân đội hai nước Trung – Việt. Theo ông thì các thế lực này ‘vẫn tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động diễn biến hòa bình; lợi dụng các hoạt động dân chủ, nhân quyền, tôn giáo nhằm xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, chia rẽ quan hệ hữu nghị Việt – Trung’. Do đó, ông kêu gọi quân đội hai nước ‘tăng cường tình đoàn kết, hợp tác chặt chẽ và bảo vệ thành quả cách mạng của mỗi nước’. Về phần quân đội Việt Nam, ông khẳng định ‘đặc biệt coi trọng’ quan hệ với Giải phóng quân Trung Quốc – coi đây là ‘chủ trương nhất quán’ và là ‘ưu tiên hàng đầu’.  Người dân Việt Nam đang phẫn nộ với 'thành phố Tam Sa' của Trung Quốc Đại biện lâm thời Trung Quốc Khương Tái Đông được dẫn lời nói tại buổi gặp mặt rằng ‘quan hệ hai nước đang có bước phát triển tốt đẹp’. Ông nhắc lại quan hệ giữa hai nước là ‘núi liền núi, sông liền sông’ và ‘vừa là đồng chí vừa là anh em’. “Việc quan hệ quốc phòng giữa hai bên phát triển vững vàng đã góp phần quan trọng vào sự phát triển quan hệ hai nước Trung-Việt,” ông nói. Ý đồ thật sự?Trao đổi với BBC, ông Dương Danh Dy, vốn từng là đại diện ngoại giao của Việt Nam tại Quảng Châu, mô tả sự giúp đỡ của Trung Quốc đối với Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống Mỹ là ‘nhiệt tình’, ‘đến nơi đến chốn’ và ‘không hề giấu giếm thứ gì cả’. Do đó, ông nói việc quân đội Việt Nam khẳng định lòng biết ơn đối với Trung Quốc là ‘đúng’ và ‘Việt Nam không bao giờ quên ơn’. Ông dẫn chứng với việc Trung Quốc đem qua ngay cho phía Việt Nam vũ khí chống tăng B40 mà họ mới làm được và vẫn chưa trang bị cho quân đội của họ sau khi xe tăng Mỹ giết chết rất nhiều người của quân đội Bắc Việt. “Nhiều dũng sỹ diệt xe tăng của Việt Nam là nhờ B40 của Trung Quốc,” ông nói. "Sự giúp đỡ bao giờ cũng là sự giúp đỡ lẫn nhau. Những bài học, vũ khi của Trung Quốc giúp Việt Nam rất quý, thế nhưng những bài học của Việt Nam trên thực tế chiến trưòng chắc chắn cũng mang lại rất nhiều ích lợi cho Trung Quốc, nhất là khi họ không phải đổ máu." Ông Dy cũng lưu ý rằng sự giúp đỡ ‘hăng hái’ chủ yếu là ở các ‘cán bộ cấp thấp ở dưới’ không biết gì về ‘ý đồ thật sự’ của giới lãnh đạo chóp bu của Trung Quốc đối với Việt Nam. Theo ông thì giới lãnh đạo Trung Quốc mà ông nêu đích danh là Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình không tốt đẹp gì với Việt Nam và có ý đồ lợi dụng cuộc chiến của Việt Nam để mặc cả với Pháp và Mỹ. Khi được hỏi liệu Trung Quốc có giúp đỡ Việt Nam đào tạo sỹ quan một cách thật lòng trong bối cảnh có tranh chấp trên Biển Đông hay không, ông Dy cho biết ‘Trung Quốc đã cảnh giác với Việt Nam từ lâu lắm rồi’. Ông chỉ trích việc Bộ Quốc phòng tổ chức kỷ niệm long trọng ngày thành lập quân đội Trung Quốc trong bối cảnh hiện nay là ‘rất dở’, ‘không có ích gì cho mối quan hệu hữu nghị giữa hai nước’ và ‘gây phản cảm cho người dân’. Đời Đời Nhớ Ơn quân cướp nước?22 February, 2009 at 5:10 pm | Posted in Uncategorized | Leave a comment
Vòng hoa của Ủy ban Nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ Quốc Xã Ðề Thám – Ðời Ðời Nhớ Ơn Các Liệt Sĩ Trung Quốc.” Ngô Nhân Dụng http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=91063&z=7 Tôi đi thăm La Phù Sơn ở tỉnh Quảng Đông vào đầu Tháng Hai 2009. Trong sân trước Xung Hư Cổ Quán, một ngôi đền theo Đạo giáo rất đông đảo khách thập phương, với những lư thắp nhang khổng lồ nghi ngút khói, một người Trung Hoa tò mò hỏi chúng tôi người nước nào. Khi biết chúng tôi là người Việt Nam, anh ta đã lớn tiếng nói, như giải thích cho những người Trung Hoa đứng chung quanh cùng nghe. Tôi nghe lõm bõm, nhưng biết anh muốn nói rằng họ nên “hữu hảo” với ông già người Việt này. Vì các nước Miến Điện, Cao Ly, và Việt Nam cùng với Trung Quốc, bốn nước thực ra chỉ là một nước mà thôi, tất cả cũng như là đồng bào! Anh có giáng điệu mạnh bạo, quả quyết khi đưa tay giảng cho những người đang xúm lại lắng nghe. Nhưng khi nhìn tôi anh có đôi mắt sắc khiến tôi cảm thấy rờn rợn.
Đúng là vào đời Đường thì nước ta, Hàn quốc, Tây Tạng, có lúc đã được nhập vào nước Trung Hoa hàng mấy thế kỷ. Nếu không có Dương Diên Nghệ, Ngô Quyền, nếu không có Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, thì có thể biên giới Trung Quốc bây giờ lan tới tận Pleiku và Hà Tiên hoặc Siêm Rệp! Người Quảng Đông đã từng lập vương quốc Nam Việt khi văn hóa của họ còn khác hẳn người Hán, nhưng bây giờ họ hãnh diện là con dân của Trung Quốc. Nước Đại Lý cũng là một quốc gia hùng cường, độc lập, cho tới thế kỷ 12 bị quân Mông Cổ xâm chiếm, từ đó người Bạch trở thành người Tầu. Nhưng rất khó giải thích cho người Trung Hoa hiểu rằng dân Việt Nam đã độc lập từ thế kỷ thứ 10, và nhóm người Việt này không bao giờ muốn được thành đồng bào của hơn một tỷ người Trung Quốc cả.
Mười năm trước, tôi đã có lúc thấy cảm giác rợn người giống như vậy, trong một chuyến đi thăm Quế Lâm. Một cô hướng dẫn địa phương đón chào nhóm du khách chúng tôi cũng hỏi mọi người từ nước nào tới. Sau khi cho biết cả đoàn gốc đều là người Việt Nam, mắt cô sáng lên. “Việt Nam?” Cô phát âm theo tiếng Việt chứ không gọi là “Duế Nàn” theo tiếng Tầu. Xác nhận rồi, cô bèn nhoẻn miệng cười rất tươi và cất tiếng hát, bằng tiếng Việt: “Việt Nam, Trung Hoa, núi liền núi, sông liền sông!” Giọng ca cô rất tốt và hát đúng giai điệu, phát âm tiếng Việt rõ từng chữ!
Nghe câu hát đầy thiện cảm của cô gái xinh đẹp và thân thiện đó, tôi cảm thấy ớn lạnh dọc đường xương sống. Nghe hãi thật. Núi liền núi, sông liền sông, đi mấy bước là tới! Chắc tôi thuộc loại người dễ xúc động quá nên mới có phản ứng như vậy. Nhưng có lẽ nhiều người Việt cũng sẽ cảm thấy thế sau mấy ngày đi qua các thành phố ở nước Trung Hoa thấy họ đầy những người là người, người đi nờm nợp, người bước ào ào, chen chân nhau trên lề đường, lách tránh nhau trên xa lộ, đông quá, bao nhiêu là biển người. Nhất là sau khi đã thấy hoạt động của muôn ngàn người Trung Hoa làm việc, buôn bán, rán dầu cháo quẩy, đẩy xe, rao hàng, mặc cả, tiêu thụ, ăn uống trong nhà hàng, cười nói oang oang, ca hát, nhẩy múa, tập Thái Cực quyền khắp các chỗ đất trống ngoài công viên, bên bờ hồ, ngay ngã tư đường, khắp nơi. Ai cũng phải cảm thấy nước họ lớn quá, dân họ mạnh quá, và đông người quá, cảm thấy điều đó ngay trong da trong thịt, thấy khó thở! Nghĩ đến nước Việt Nam mình thì thấy dân mình thì ít, lại nghèo, kinh tế còn chậm tiến hơn họ rất nhiều. Khi tai nghe một người Trung Quốc hát câu “núi liền núi, sông liền sông” đúng giọng y như người Việt, thấy hãi quá! Giá như có thêm núi, thêm sông ngăn cách xa hơn một chút, thì chắc yên tâm hơn!
Tôi đoán nếu có người Việt Nam nào sang Campuchia mà hát một bài đại ý, “Việt Nam, Cam Bốt, núi liền núi, sông liền sông” thì nhiều người Campuchia nghe cũng sẽ cảm thấy rợn tóc gáy, tự hỏi những người Việt này có “ý đồ” gì!
Khi Hồ Chí Minh còn sống, đảng Cộng Sản Việt Nam thân thiện với Cộng Sản Trung Hoa cho nên đã có những bài hát ca ngợi mối tình “trước là đồng chí, sau là anh em” giữa hai đảng. Hai đảng thân thiện rồi kéo cả nước Việt Nam vào làm anh em hữu hảo với Trung Quốc luôn, ảnh hưởng di truyền đến bây giờ.
Trong bài hát của Đỗ Nhuận có những câu thân thiện, nghe còn rợn người hơn nữa: Bên sông tắm cùng một dòng – Tôi nhìn sang đấy, anh nhìn sang đây – Sớm sớm chung nghe tiếng gà gáy cùng. Á a! Chung một ý, chung một lòng – Đường ta đi rực mầu cờ cách mạng. Á a, nhân dân ta ca muôn năm: Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông!”
Thử tưởng tượng người dân Việt ở Thanh Hóa hay Pleiku mà hát Á a như điệu Hồ Quảng, rồi nghĩ mình có ngày “tắm cùng một dòng sông” và “sớm sớm chung nghe tiếng gà gáy” cùng với các đồng chí Trung Quốc ở Quảng Đông, thì cũng hãi thật! Nếu tránh được thì ai cũng cố tránh! Bây giờ đảng Cộng Sản Trung Quốc dù không theo chủ nghĩa nào nữa thì chắc họ cũng không bỏ ý muốn “núi liền núi, sông liền sông!”
Xin nói rõ là trong lòng tôi không nuôi mối thù oán nào đối với người Trung Hoa. Trái lại, đi thăm đất nước họ nhiều lần, chỉ vì tôi rất yêu văn hóa Trung Hoa, từ ông Khổng Tử đến các ông Đỗ Phủ, Lý Bạch, Tô Đông Pha, cũng như các cô Chiêu Quân, Thúy Kiều. Trong chuyến đi vừa rồi tôi đã “gặp lại” Tô Đông Pha ở Tây Hồ thành phố Huệ Châu, lại gặp tại cây cầu Hội Tiên Kiều bên cạnh hồ Bạch Liên ở La Phù Sơn. Cả trong đường hầm với những hang động đào xuyên ngọn núi này, nơi các sư tổ đời xưa luyện công phu và thiền quán, cũng có tượng Tô Đông Pha nữa! Mỗi lần, lại thấy như gặp cố nhân từ nhiều kiếp trước!
Nhưng người Việt Nam quý mến văn hóa Trung Hoa đến đâu cũng không quên được là phải giữ mình, giữ nước mình, không nên bất cẩn; nếu không dân mình sẽ thành dân Trung Quốc hết. Và khi được nhận chìm trong cái nước vĩ đại đó, cả dân tộc mình sẽ thành một nhóm thiểu số, một nhóm rất nhỏ, giống như người Hồi, người Bạch, người Choang, người Tây Tạng vậy.
Nhiều người Việt Nam thán phục nền văn minh Trung Hoa, chúng ta đã học hỏi được rất nhiều và sẽ còn học thêm nhiều nữa. Nhưng trên mặt chính trị, ngoại giao, thì không người Việt Nam nào không dè dặt, lo ngại khi nghĩ đến chuyện phải đối đầu với quốc gia vĩ đại này.
Một điều nguy hiểm là chính quyền nước đó hiện giờ là một nhà nước độc tài, họ không chịu trách nhiệm với dân chúng. Họ có thể hy sinh dân họ, vì những lý do không ý nghĩa, không bổ ích, mà không lo sẽ bị dân bỏ phiếu bất tín nhiệm. Thí dụ như cuộc chiến tranh Trung Việt năm 1979. Đặng Tiểu Bình xua quân sang đánh Việt Nam, san thành bình địa những thành thị, những xóm làng, nhiều lần giết tập thể hàng trăm thường dân, chỉ vì muốn dậy cho đảng Cộng Sản Việt Nam một bài học về tội vong ân. Cuộc chiến kéo dài hai, ba tuần làm chết hàng chục ngàn người mỗi bên, cuối cùng không ích lợi gì cho nước Trung Hoa cả. Nhưng không một người Trung Hoa nào dám tỏ ra bất đồng ý kiến với nhà lãnh tụ cộng sản.
Đứng ở địa vị người dân Trung Hoa thì nếu nước họ không do một đảng độc tài cai trị, nếu họ có quốc hội độc lập để kiểm soát Hành pháp, nếu có báo chí tự do phê phán nhà nước, thì chắc bao nhiêu binh lính của họ không phải bỏ mạng ở Việt Nam vào năm 1979, những cai chết vô ích. Cái hại của những chế độ độc tài là như thế. Cho nên trong lịch sử không thấy những nước theo chế độ dân chủ tự do lại gây chiến với nhau. Khi người dân được quyền phán xét và quyết định thì bao giờ dân cũng tìm cách tránh chiến tranh.
Cái hại của chế độ độc tài ở Việt Nam cũng giống hệt như ở Trung Quốc. Tại sao Đặng Tiểu Bình muốn dậy Cộng Sản Việt Nam một bài học? Vì Lê Duẩn đã vong ân đối với Cộng Sản Trung Quốc thật. Sau bao nhiêu năm được Bắc Kinh viện trợ từ cây đinh, từ sợi chỉ đến nắm cơm xấy nuôi quân để xâm chiếm miền Nam Việt Nam, Lê Duẩn đã quay ngược lại, suy tôn Liên Xô là tổ quốc thứ hai, đoạn giao đến mức ghi vào hiến pháp gọi Trung Quốc là một kẻ thù truyền kiếp! Đó là nguyên nhân chính gây ra tất cả những xung đột giữa hai nước sau đó, kể cả cuộc xâm lăng năm 1979.
Nếu Việt Nam được sống trong một chế độ tự do dân chủ thì người dân không bao giờ cho phép chính quyền có những chính sách ngoại giao dại dột như vậy. Gây thù hận và làm mất thể diện một quốc gia lớn láng giềng là điều không thể tưởng tượng nổi. Một chính quyền độc tài đảng trị, khi họ chỉ cần theo ý đảng không cần hỏi đến ý dân, mới có những quyết định điên rồ, để đưa tới một cuộc chiến tranh tàn hại như cuộc chiến Việt Hoa vào tháng Hai năm 1979.
Một điều đáng kinh ngạc là cũng chính đảng Cộng Sản Việt Nam đó, bây giờ lại đổi thái độ quay ngược chiều, không những kết thân với Trun g Quốc mà còn hoàn toàn thần phục, quỵ lụy đến mức lố bịch đối với nước đàn anh cộng sản. Có chứng cớ hiển nhiên.
Ngày hôm qua trên Nhật báo Người Việt đã đăng tin về cảnh những người Việt được dẫn đi thăm nghĩa trang “Long Châu, Thủy Khẩu Trung-Việt Liệt Sĩ Mộ Viên,” nơi chôn những người lính Trung Quốc và những người lính Việt Nam. Nghĩa trang đó gần biên giới, thế nào cũng có những người lính Trung Quốc chết sau khi đánh Việt Nam năm 1979 và những lần đụng độ sau đó vì tranh chấp biên giới.
Chúng ta kính trọng những tử sĩ hy sinh vì quốc gia của họ, người Việt hay người Trung Quốc cũng thế. Dù họ làm theo lệnh chế độ nào chỉ huy, họ đều xứng đáng được tưởng niệm và ai điếu. Những ai đến biên thùy Pháp Đức, đi thăm nghĩa trang chôn tử sĩ của hai đạo quân thù nghịch qua bao trận chiến tranh, đều có thể đến nghiêng mình trước những người lính đã hy sinh cho tổ quốc của họ.
Nhưng người Việt Nam khi đến thắp hương trên mộ những tử sĩ của quân đội Trung Quốc có thấy mình phải tỏ lòng “biết ơn” các chiến sĩ Hồng quân Trung Hoa đã sang đánh nước mình hay không? Chắc chắn là không.
Nhất là những người dân xã Đề Thám, thuộc thị xã Cao Bằng. Hai thị xã Cao Bằng, Lạng Sơn đã bị quân đội Trung Quốc “làm cỏ” trong hai tuần lễ xâm lăng. Đài phát thanh BBC mới kể chuyện bà Hoàng Thị Lịch, năm nay 72 tuổi, đã chạy trốn khỏi nhà ở Huyện Hòa An, Cao Bằng khi quân Trung Quốc đánh, trước đây 30 năm. Bà cho biết, 18 ngày sau khi quân Trung Quốc phải rút về, họ đi qua vùng bà ở, và họ đã bắt 43 thường dân, gồm những đàn bà, trẻ con, người già không chạy được, đem chém giết hết. Ngày hôm qua Nhật báo Người Việt đã in bức hình tấm bảng ghi lại cuộc thảm sát này, chôn dưới chân một bụi tre ở xã Hưng Đạo, huyện Hòa An. Trong tấm bảng ghi nguyên văn là “Quân Trung Quốc xâm lược dùng cọc tre, búa bổ củi, đập chết 43 phụ nữ và trẻ em, quăng xuống giếng nước.” Cảnh tàn sát thường dân không phải chỉ xẩy ra ở xã Hưng Đạo, huyện Hòa An. Nơi nào quân Trung Quốc đi qua trong cuộc xâm lăng năm 1979 đều có thể diễn ra những cảnh như vậy.
Bên cạnh hình ảnh tấm bảng đó, hôm qua báo Người Việt in hình ảnh một vòng hoa, với hàng chữ viết: “Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ Quốc Xã Đề Thám – Đời Đời Nhớ Ơn các Liệt Sĩ Trung Quốc.”
Không tưởng tượng nổi! Nếu vì phép lịch sự khi viếng mộ, người ta có thể viết hai chữ “Kính Viếng” hoặc “Thương Xót” những người đã chết, dù họ từng là kẻ thù của dân tộc mình. Nhưng tại sao phải nói “Đời Đời Nhớ Ơn?” Ơn gì? Trong số các “liệt sĩ Trung Quốc” ở các nghĩa trang gần biên giới đó, có bao nhiêu người đã chết vì xâm lăng nước ta ngày 17 tháng Hai năm 1979? Ơn họ cướp nước, ơn đốt nhà, ơn phá cầu, phá đường, ơn tàn sát những thường dân vô tội hay sao?
Chúng ta biết rằng chính quyền một xã như xã Đề Thám không bao giờ dám quyết định viết “Đời Đời Nhớ Ơn” những người lính Trung Hoa đã sang giết dân mình. Họ phải được lệnh của cấp trên. Hoặc ít nhất họ đã hỏi ý cấp trên trước khi đặt vòng hoa, và được khuyến khích viết những hàng chữ “Nhớ Ơn” như thế. Cấp trên nào? Cấp huyện? Cấp tỉnh? Không chắc những người ở những cấp này dám quyết định bắt dân chúng Việt Nam “Đời Đời Nhớ Ơn” những người lính đã đánh nước mình. Chỉ có những người chỉ huy trên cao nhất, là Bộ Chính trị đảng Cộng Sản Việt Nam mới có quyền quyết định những điều quan trong như vậy.
Họ quyết định như vậy để làm gì? Có phải cũng vì những lý do giống như khi họ cho các công ty Trung Quốc vào khai thác bauxite ở Việt Nam, mặc dù các chuyên gia người Việt đã yêu cầu ngưng để nghiên cứu lại ảnh hưởng trên môi trường, hay không?
Nhưng khi bán tài nguyên quốc gia cho nước ngoài một cách mù quáng thì cũng chỉ làm thiệt hại của cải vật chất mà thôi. Còn khi bắt người dân Việt Nam phải “Đời Đời Nhớ Ơn” những người lính Trung Quốc đã sang nước mình tàn sát người mình, thì đó là một hành đồng làm nhục cả một dân tộc, một mối nhục ngàn đời khó rửa sạch.
Giới lãnh đạo Cộng Sản Trung Quốc có muốn người Việt mình phải cúi đầu chịu một mối nhục tập thể hay sao? Nếu là những người có học, chắc họ không làm việc đó. Hay là chính những người cầm đầu đảng Cộng Sản Việt Nam tự nguyện làm công việc nhục nhã này? Chỉ những người vô học mới có những hành động quỵ lụy ngu dốt như vậy.
Khi các ông Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng đi Trung Quốc, không biết các ông ấy đã được giới lãnh đạo Bắc Kinh hứa hẹn những gì mà họ nhẫn tâm bắt dân Việt Nam phải “Đời Đời Nhớ Ơn” đám quân xâm lược giết thường dân vô tội đó? Họ có được tặng những biệt thự ở gần Trung Nam Hải để về nghỉ hưu (khi cần sống lưu vong) hay không? Bắc Kinh có yêu cầu Bộ Chính trị đảng Cộng Sản Việt Nam lập đền thờ để ghi công ơn của Toa Đô, Liễu Thăng, nữa hay không? Những ông đó cũng là những “liệt sĩ Trung Quốc” vào thế kỷ 13 và 15, họ cũng bị tử vong trong các hoàn cảnh giống như những “liệt sĩ Trung Quốc” đánh nước ta năm 1979 vậy!
Một chính quyền do dân bầu cử tự do không bao giờ dám làm những việc nhẫn tâm làm nhục dân nước mình đến mức bắt dân phải Đời Đời Nhớ Ơn quân xâm lược. Chính quyền nào làm như vậy sẽ bị dân bỏ phiếu đuổi đi ngay. Vì không một dân tộc nào lại chấp nhận sống nhục nhã. Toàn quốc đại hội: Nhớ ơn Trung Quốc?Tâm sự cùng ngài Phó Thủ Tướng tốt nghiệp 3 trường Đại Học quốc tế.
Hoàng Thanh Trúc (Danlambao) - Tại Thủ Đô Hà Nội, dưới sự chủ trì của ông Nguyễn Thiện Nhân, Phó Thủ Tướng, người từng là học viên của 3 trường Đại Học nước ngoài (Đại Học Magdeburg - Đức, Đại học Oregon và Harvard - Hoa Kỳ. Theo Wikipedia). Ông đại diện “nhà nước và đảng ta” tổ chức trọng thể một đại hội được khai mạc có cái tên và tiêu đề "ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC - Hội Hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc". Có nghĩa khắp các tỉnh thành trong toàn nước Việt Nam nơi nào cũng có cái hội “Yêu Nước Trung Quốc” cử “đại biểu” về tham dự (?!)
Tuy nhiên, chính xác phải gọi nó là Hội "Nhớ ơn Trung Quốc", vì ông Phó Thủ Tướng ngay trong diễn văn khai mạc tuyên bố: “Hội hữu nghị Việt Nam-Trung Quốc sẽ tổ chức các hoạt động tri ân các cá nhân, tổ chức và địa phương Trung Quốc, xuyên suốt trong 5 năm, sau đại hội này…”
Ông Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân chủ trì Đại hội Trời ạ! Ơn nghĩa nào mà cao như núi Thái Sơn như thế? Để cho khỏi mang tiếng là “vong ân bội nghĩa”, trong quang minh chính đại – Chúng ta – Đồng bào nhân dân trong và ngoài nước thử kiểm kê lại những ơn nghĩa lớn lao nào từ Trung Quốc mà “nhà nước đảng ta” và cá nhân ông Nguyễn Thiện Nhân phải “gánh” còn nặng hơn cả công ơn của Vua Hùng mà toàn dân Việt Nam là con cháu, nhưng chưa hề có cái hội nghị nào để gọi là “Đại Hội đại biểu toàn quốc nhớ ơn Vua Hùng”.
CÓ PHẢI LÀ CÔNG ƠN?
Tính từ Trận Điện Biên Phủ 1954 – khi mà quân đội Pháp, một đạo quân “tư bản” nước ngoài án binh gần như là “cắm chốt” tại Điện Biên Phủ, giữa biên giới hai quốc gia Cộng Sản là Bắc Việt Nam và Trung Quốc thì việc nó đe doạ cho chế độ CS XHCN của cả hai là hiển nhiên, thì quét nó đi là nhiệm vụ hỗ tương mà TQ phải trợ giúp CSVN là tất yếu, nếu không muốn nói “bắt buộc”. Gần 10.000 binh sĩ nhân dân VN hy sinh, vũ khí súng đạn không thể quý hơn sinh mạng con người, biên giới không còn bị đe doạ, Trung Quốc phải biết ơn nhân dân VN mới đúng với đạo lý của con người, CSVN không thể viện dẫn nhờ đó mà nhân dân VN mới đánh thắng thực dân Pháp dành được độc lập, mang ơn TQ là một sự ngộ nhận.
Sau thế chiến II từ 1945, xu thế văn minh thời đại, tất cả các “thuộc địa” của thực dân đế quốc trên toàn thế giới đều được trả lại Độc Lập Tự Do mà không cần đến súng đạn xương máu như Việt Nam đã làm – Có nghĩa thời điểm ấy Độc Lập như ánh bình minh nó cứ tự vươn lên mà không cần phải lệ thuộc bất cứ tiếng “gà gáy” nào, điểm lại các quốc gia quanh khu vực và Á Châu, chứng minh hùng hồn cho điều đó.
“Nhà nước, đảng ta” ngàn lần tri ân cảm tạ Trung Quốc. Cũng thời gian này (1953-1956) nhờ sự anh minh sáng suốt chỉ đạo của cố chủ tịch CSTQ “Mao Xếnh Xáng” mà “Bác và đảng ta” qua CCRĐ đã chọn lựa “được” 172.000 lương dân vô tội, đưa oan hồn xuống âm phủ trước dành sẵn cho “Bác ta” để hôm nay có mà phục dịch Bác cho tươm tất dưới suối vàng.
Hỗ trợ đánh chiếm miền Nam VN – Nằm trong mưu đồ nhuộm đỏ Đông Nam và Châu Á của quốc tế CS, nói chung, Trung Quốc, nói riêng thì CS Nga và Trung Quốc chi viện quân sự cho CSVN như một “tay sai” đắc lực, lấy máu xương đồng bào làm “đối trọng” như điều kiện đổi lại, để phục vụ cho chủ nghĩa độc tài CS, không phải cho độc lập tự do, dân chủ, ấm no, hạnh phúc của Nhân Dân VN thì sao gọi là ơn nghĩa để bắt cả dân tộc “tri ân” bên cạnh nỗi đau hy sinh cốt nhục tương tàn hơn 3 triệu con người?
Có vô lý và buồn cười lắm không? Khi “Bác ta và ông Phạm Văn Đồng” cùng có một tư duy “Tri ân” Trung Quốc vì đã hữu hảo cho phép nhà nước CSVN xác nhận quần đảo Hoàng Sa và các vùng biển phụ cận nằm trong lãnh hải của TQ trên công hàm năm 1958?
Và năm 1974 cũng “tri ân” luôn bằng im lặng như nhớ ơn TQ vì đã chiếm lấy Hoàng Sa mà quản lý luôn chứ không nên để anh em ruột thịt của mình là Quân lực VNCH miền Nam VN làm chủ.
Năm 1978 – Khơmer đỏ Campuchia, một đứa con lai CS, khát máu diệt chủng do Trung Quốc sinh ra nuôi dưỡng, vượt biên giới Tây Nam vào VN giết hại vô số đồng bào, quân VN phải vượt biên đánh đuổi ngược lại để diệt trừ. Nhà nước và đảng CSVN rất “tri ân nhớ ơn”, nhờ Trung Quốc chi viện súng đạn kịp thời cho Khờmer đỏ mà quân đội NDVN lập được nhiều nghĩa trang “dã chiến” khỏi phải mang thi hài về nước, mà chôn cất tại chỗ trên nước “bạn” gần 25.000 con em binh lính mình xa nhà, chiến đấu với Khờmer đỏ đã nằm xuống.
Năm 1979 – Nhà nước và đảng CSVN cũng “tri ân và nhớ ơn” Trung Quốc rất nhiều vì nhờ TQ phát động cuộc chiến tranh Biên giới phía Bắc mà CS giảm được “miệng ăn” gần 100.000 binh lính và người dân vô tội đã nằm xuống trên toàn tuyến biên giới, đồng thời cũng “sâu sắc biết ơn” vì nhờ binh lính TQ di chuyển cột mốc biên giới vào sâu trong lãnh thổ nước mình, nhường hàng ngàn km2 cho TQ làm chủ để khỏi tốn người vất vả trông coi.
Năm 1988 – “Nhà nước đảng ta” chân tình ghi ơn Trung Quốc đã thay mặt QĐ/NDVN cho “giải ngũ” sớm 64 “đồng chí” hải quân nước mình và quản lý giùm bãi đá Colin, Len Đao và Gạc Ma trong quần đảo Trường Sa.
Và cũng không quên “tri ân" Trung Quốc nhiều năm liền, vẫn tiếp tục như hiện nay, rất nhiệt tình “dạy dỗ” ngư dân Việt Nam phải biết lễ độ tôn trọng chủ quyền của TQ trên toàn vùng biển đông là như thế nào và thu gom không biết bao nhiêu tàu thuyền máy móc ngư cụ của ngư dân VN về đảo Phú Lâm, Hoàng Sa “trông coi” mà đòi tiền “chuộc” nhẹ hều.
Chắc “nhà nước ta” cũng nhớ ơn TQ vô cùng vì mới nhất ngày 15/7 tin từ Hoàn Cầu thời báo cho hay TQ có kế hoạch xây dựng Sở Công an và trại tạm giam trên đảo Phú Lâm, thuộc Hoàng Sa của VN đang bị Trung Quốc chiếm đóng, (được Đài truyền hình Thâm Quyến ngang nhiên thông báo trong một phóng sự phát hồi cuối tuần). Để giam giữ những người bị TQ bắt trên biển Đông - khỏi nói cũng biết là ngư dân VN rồi.
Đặc biệt nhà nước và đảng ta “rất biết ơn” Trung Quốc về sự quan tâm đến chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải của VN, sợ nước ngoài đến khai thác trái phép, mới đây ngày 23/06/2012 thay mặt “nhà nước ta” TQ gọi thầu quốc tế đến khai thác dầu khí trên 9 lô nằm sâu trong lãnh hải đặc quyền kinh tế 200 hải lý của VN mà Trung Quốc (không biết có nhầm không) nói là của Trung Quốc.
Và vượt lên trên tầm cao của tất cả sự “tri ân” là “nhà nước và đảng ta” hân hoan phấn khởi vô cùng ghi nhận “ơn nghĩa to lớn” của Trung Quốc khi cho “nhà nước, đảng ta” được phép lấy cái “ngôi sao” duy nhất trên quốc kỳ của CH/XHCN/VN Việt Nam gắn vào cho đủ 6 sao trên quốc kỳ TQ như biểu tượng TQ-VN, thắm tình hữu nghị tương lai sẽ là Độc Lập “hai trong một”, khắp thế giới không ai sáng suốt, hãnh diện sáng tạo bằng.
Chắc cũng còn nhiều nữa những “Tri Ân” khó nói rất riêng tư giữa hai đảng cộng sản VN và TQ mà vì “yêu nước là yêu CS/XHCN” nên nhân dân VN phải “tri ân” giùm luôn cho “nhà nước đảng ta”.
Thưa ngài Phó Thủ Tướng – Quả là “ơn nghĩa” vĩ đại, quá lớn lao, để phải đích thân ngài đứng ra chỉ đạo khởi động đền đáp, nhiệt tình, cho sự “tri ân” ấy – Một sự tri ân mà trong tương lai gần hoặc không xa lắm, lịch sử 4000 năm Văn Hiến của dân tộc Việt sẽ ghi chú vào ngày 10/7/2012 tại Thủ Đô Việt Nam một “vĩ nhân” họ Nguyễn tốt nghiệp 3 trường Đại Học tăm tiếng nước ngoài, vinh danh một tiền lệ chưa từng có trong lịch sử Âu Lạc là tôn vinh tri ân “... các cá nhân, tổ chức và địa phương Trung Quốc, xuyên suốt trong 5 năm ” (lời trong diễn văn của ngài). Những người và tổ chức nước ngoài ấy đã cướp đoạt đất đai biển đảo của tiền nhân của Ngài, sát hại hằng trăm ngàn anh hùng liệt sĩ, lương dân vô tội trên chính đất đai cương thổ của dân tộc Việt Nam.
Và cũng đang mưu đồ cướp đoạt “ngư trường truyền thống” sinh tử, bất khả chia lìa từ ngàn đời của toàn dân ta.
Tới đây – Thưa Ngài Phó Thủ Tướng – Nếu ngài có đọc, có thể đôi khi Ngài sẽ tự an ủi mình: “Thời thế, thế thời phải thế”.
Tuy nhiên với sở học hơn người của ngài không khó lắm để ngài nghiệm ra: “Thời thế” là khách quan, “thế thời” là chủ quan – Thời thế thường tạo ra anh hùng, quân tử, thế thời hay sinh sản hèn mọn, tiểu nhân.
Riêng với nhiều đồng bào chúng ta, họ sẽ nghĩ: Khi mà hiện nay ngoài Biển Đông, Trung Quốc đang “hành hạ” ngư dân đồng bào Việt Nam ta đủ điều thì trong đất liền Ngài chủ trì một cái đại hội “Tri Ân Trung Quốc” nó sẽ y hệt như là: “Đồng chí bạn vàng 4 tốt nó đang vả vào mặt mình đau điếng mà mình thì xoa gò má phấn khởi hoan hô: rất tri ân mày”!
Lê Dủ Chân (DanLamBao) - “Lịch sử dân tộc Việt Nam có trên 22 thế kỷ bang giao với Tàu. Trong 2200 năm đó dân tộc Việt Nam đã nhận được ơn nghĩa gì của Tàu ngoài máu đổ thành sông, xương trắng núi đồng và 1000 năm làm nô lệ! Thế mà ngày hôm nay trước âm mưu xâm lược trắng trợn và những hành động ngang ngược phá sạch, giết sạch, chiếm sạch của tập đoàn lãnh đạo Bắc Kinh, đảng cộng sản Việt Nam vẫn một lòng một dạ “đời đời nhớ ơn Trung Quốc”. Trong giấc mộng bá chủ thế giới của những người lãnh đạo Trung Quốc, nếu họ xem Liên Xô và Mỹ là những đối tượng chủ yếu cần phải chiến thắng thì Việt Nam là nước đầu tiên họ cần phải thu phục. Từ Việt Nam họ sẽ có Đông Dương, kiểm soát đông nam châu Á, kềm kẹp các nước Nhật Bản, Ấn Độ làm chủ châu Á sau đó tranh hùng với Mỹ và Liên Sô để bá chủ thế giới. Tại Hội nghị ban chấp hành trung ương đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1956, Mao Trạch Đông đã nói: “Chúng ta phải trở thành quốc gia hàng đầu về phát triển văn hóa, khoa học kỹ thuật và công nghiệp… Không thể chấp nhận rằng sau một vài chục năm, chúng ta vẫn chưa trở thành cường quốc số một trên thế giới.” Sau đó, tháng 9 năm 1959, tại Hội nghị của quân ủy trung ương, Mao Trạch Đông lại nói: “Chúng ta phải chinh phục trái đất. Đó là mục tiêu của chúng ta” Đến tháng 8 năm 1965 trong cuộc họp của Bộ Chính Trị ban chấp hành trung ương đảng cộng sản Trung Quốc, Mao Trạch Đông khẳng định: “Chúng ta phải giành cho được Đông Nam châu Á, bao gồm cả miền nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malaysia và Singapore… Một vùng như đông nam châu Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản… xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy…” Và trong văn kiện chỉ đạo cho gián điệp Trung Quốc hoạt động tại Việt Nam năm 1973 có đoạn ghi rõ rằng: “… Nước ta và nhân dân Việt Nam có mối hằn thù dân tộc hàng nghìn năm nay. Chúng ta không được coi họ là đồng chí chân chính của mình, đem tất cả vốn liếng của ta trao cho họ. Ngược lại, chúng ta phải tìm mọi cách làm cho nước họ ở trong tình trạng không mạnh, không yếu mới có thể buộc họ ở trong tình trạng hiện nay. Về bề ngoài chúng ta đối xử với họ như đồng chí của mình, nhưng trên tinh thần ta phải chuẩn bị họ trở thành kẻ thù của chúng ta…” (Trích lời khai của Lê Xuân Thành sinh ngày 20-3-1949 tại tỉnh Quảng Đông Trung Quốc, gián điệp Trung Quốc bị bắt ngày 30-3-1973 tại xã Ngư Thủy, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình). Tư tưởng chủ đạo này khẳng định tất cả mọi chi viện giúp đỡ của Trung Quốc cho đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam xuyên suốt 70 năm qua hoàn toàn không vô tư, xuất phát từ tình láng giềng hữu nghị, tình đồng chí anh em, mà đó một công cụ để phục vụ cho giấc mộng bá chủ thế giới của tập đoàn lãnh đạo Bắc Kinh. Trong thời kỳ Việt Nam kháng chiến chống Pháp, cũng như trong 20 năm nội chiến huynh đệ tương tàn, Trung Quốc là nước viện trợ vũ khí, trang bị quân sự nhiều nhất cho đảng cộng sản Việt Nam. Sự trợ giúp này này tuyệt đối không phải vì nền độc lập, thống nhất lãnh thổ, tự do no ấm cho tổ quốc và nhân dân Việt Nam mà chính vì những lý do và âm mưu sâu độc sau: - Sự an nguy của chính bản thân Trung Quốc: Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng có chung biên giới về phía nam, nếu Việt Nam và Đông Dương sau khi được độc lập theo thể chế tự do dân chủ thì phía nam của Trung Quốc sẽ bị thế giới tự do uy hiếp sát nách. Đây cũng là lý do khiến Trung Quốc tham chiến tại Triều Tiên để giúp Bắc Hàn. Bắc Việt Nam và Bắc Hàn là những lãnh thổ trái độn cần thiết phải có đối với nền an ninh của Trung Quốc trong hoàn cảnh lúc đó. - Tạo thanh thế trên chính trường quốc tế: Như chúng ta đã biết từ năm 1950 về trước, sau hơn 23 năm nội chiến Quốc-Cọng (1927-1950), 8 năm bị Nhật Bản xâm lược (1937-1945) Trung Quốc dưới mắt của cộng đồng các quốc gia trên thế giới chỉ là một nước chậm tiến, nghèo, lạc hậu. Đó là thời mà ngay trên đất nước của họ có những tấm bản đề “cấm chó và người Trung Quốc.” Nếu không có chiến tranh Việt Nam, chiến tranh Đông Dương và chiến tranh Triều Tiên, Trung Quốc làm sao có tiếng nói quyết định tại hội nghị Bàn Môn Điếm ở Triều Tiên (1953), hội nghị Genève ở Thụy Sĩ (1954), hội nghị Paris ở Pháp (1973), gia nhập vào Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc (1971) và vị thế ngày hôm nay. Những diễn biến lịch sử này đã xác định Trung Quốc, thông qua bọn tay sai, chính là kẻ đã lợi dụng xương máu của nhân dân Việt Nam, Lào, Campuchia và Triều Tiên mặc cả với Pháp, Mỹ và Liên Xô để trục lợi về mình. - Kềm kẹp Việt Nam trong quỷ đạo của mình: Xuyên suốt 2200 năm lịch sử ban giao hai nước Việt-Trung, chưa có thời đại nào nước Việt Nam bị kềm chế, kiểm soát chặt chẽ bởi nhà cầm quyền Trung Quốc như dưới thời đại do Hồ Chí Minh và đảng cộng sản nắm quyền. Vào thời phong kiến mặc dầu Việt Nam là một nước nhỏ và yếu nhưng vua nước Việt chưa bao giờ sang Bắc Kinh để bệ kiến các hoàng đế Trung Hoa. Trong khi đó chỉ có 4 năm từ năm 1950 đến năm 1954, Hồ Chí Minh chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ cộng Hòa đã có 4 lần sang Bắc Kinh để hội kiến với lãnh tụ nước Cọng Hòa Nhân Dân Trung Hoa vào các năm 1950, 1951, 1952, 1954. Kế tục sự nghiệp ô nhục này, tập đoàn lãnh đạo đảng, nhà nước cộng sản Việt Nam từ Lê Duẫn đến Nguyễn Phú Trọng đều phải qua Trung Quốc nhận chỉ thị và cam kết lòng trung thành với Bắc Kinh ít nhất một lần trong nhiệm kỳ của mình. Trong chiến tranh chống Pháp (1940 -1954) và trong chiến tranh xâm lược miền nam Việt Nam (1955 -1975) dưới sự kềm kẹp của Bắc Kinh nhà cầm quyền cộng sản Bắc Việt hầu như đã hoàn toàn mất chủ động trong ban giao quốc tế cũng như trong chính sách nội trị của mình. Từ bộ áo đại cán mặt trên người đến cơ cấu tổ chức đảng, tổ chức nhà nước, từ những phong trào chính trị như rèn cán chỉnh quân, cải cách ruộng đất, đến việc ký kết các hiệp định, hiệp thương có ảnh hưởng đến quốc gia dân tộc như hội nghị Genève ở Thụy Sĩ (1954), hội Nghị Paris ở Pháp (1973)… nhất nhất đều được thực hiện dưới sự chỉ đạo của Trung Quốc. - Xâm lược lược Việt Nam: Sau khi Liên Sô và các nước trong phe Xã Hội Chủ Nghĩa tại Đông Âu sụp đổ, nhất là sau khi chiến tranh biên giới Việt Trung kết thúc, thái độ phục tùng của tập đoàn lãnh đạo Việt Nam đối với Bắc Kinh càng ngày càng sâu đậm. Đây cũng là thời kỳ để Bắc Kinh thu về cả vốn lẫn lời những gì họ đã bỏ ra trong chiến tranh Việt Nam. Với công hàm Phạm Văn Đồng (1958) Trung Quốc có được biển đông và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Với hội nghị Thành Đô (1990) và phương châm 16 chữ vàng, tinh thần 4 tốt (1999) Trung Quốc đã khai thông con đường nam tiến không tốn một giọt nước bọt. Với hiệp ước Biên Giới Việt Hoa (1999), hiệp định Phân Định Vịnh Bắc Bộ (2000) Trung Quốc đã có được cả ngàn cây số trên biên giới phía Nam với những di tích và danh lam thắng cảnh lịch sử không hao một giọt mồ hôi. Với dự án khai thác bauxite Tây Nguyên (2001), hợp đồng cho thuê rừng đầu nguồn của 10 tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam, Trung Quốc đã nghiễm nhiên trở thành chủ nhân ông của những cao điểm chiến lược để khống chế Việt Nam và Đông Dương. Và gần đây nhất với hành động đàn áp, bỏ tù người dân biểu tình chống xâm lược Trung Quốc, với bản tuyên bố chung 8 điểm “quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Trung Quốc – Việt Nam” ký kết ngày 21/06/2013 giữa Tập Cận Bình tổng bí thư đảng cộng sản Trung Quốc và Trương Tấn Sang chủ tịch nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, ban lãnh đạo Trung Quốc chắc hẳn biết rằng giấc mộng xâm chiếm Việt Nam của Mao Trạnh Đông không còn bao lâu nữa sẽ thành sự thật. Để đền đáp “công ơn” hiểm độc trên của Trung Quốc, Phùng Quang Thanh đại tướng ủy viên BCT / TW đảng, bộ trưởng bộ quốc phòng thay mặt đảng, quân đội Nhân Dân Việt Nam khẳng định tại buổi họp mặt kỷ niệm ngày thành lập Giải Phóng Quân Trung Quốc tại Bộ Quốc Phòng Việt Nam ngày 28/7/2012 như sau: “… Chúng tôi luôn trân trọng, ghi nhớ và mãi biết ơn sự giúp đỡ chí tình, chí nghĩa, to lớn có hiệu quả mà đảng, Chính phủ, nhân dân và Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã dành cho Việt Nam…” Thay mặt cho nhà nước Cọng Hòa Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Nguyễn Thiện Nhân phó Thủ Tướng chính phủ, trong lần chủ trì “Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc – Hội Hữu nghị Việt Nam – Trung Quốc” tại Hà Nội ngày 10/07/2012 đã chỉ thị: “Hội hữu nghị Việt Nam -Trung Quốc sẽ tổ chức các hoạt động tri ân các cá nhân, tổ chức và địa phương Trung Quốc, xuyên suốt trong 5 năm, sau đại hội này…” Tiêu biểu cho tư tưởng chiến lược của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, Trần Đăng Thanh đại tá phó giáo sư – tiến sĩ, nhà giáo ưu tú, thuộc học viện Chính trị Quốc Gia Bộ Quốc Phòng trong một buổi giảng bài tại Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Tây ngày 19/12/2012 đã phân tích: “… Trong 4 năm kháng chiến chống Pháp, 21 năm chống Mỹ, nhân dân Trung Quốc, nhà nước Trung Quốc đã từng nhường cơm xẻ áo dành cho chúng ta từ hạt gạo, từ khẩu súng, từ đôi dép để chúng ta giành thắng lợi trong kháng chiến chống Pháp và thắng Mỹ. Như vậy ta không quên họ đã từng xâm lược chúng ta nhưng ta cũng không được quên họ đã từng nhường cơm xẻ áo cho chúng ta. Ta không thể là người vong ơn bội nghĩa, đấy là đối với Trung Quốc hai điều không được quên…” Không riêng gì đảng, nhà nước cộng sản Việt Nam mang ơn Trung Quốc, trong quần chúng nhân dân đây đó cũng đã có một số không nhỏ bị đầu độc bởi tư tưởng “ơn nghĩa Bắc Triều” như những phát biểu tiêu biểu sau: “… Tấm gương khiêm tốn lễ độ và yêu thương của Bác Hồ với các đồng chí Trung Quốc phải được truyền rộng khắp đất nước ta để toàn dân học tập và tuân thủ. Tấm gương này sẽ xóa tan mọi hiềm khích giữa hai bên để Việt Nam chóng trở về với Trung Quốc và thực sự thành một chi bộ tốt của Đệ Tam Quốc Tế, bên cạnh người anh cả Trung Quốc. Nhà thơ Chế Lan Viên đã tỏ rõ chân lý của trí tuệ sáng ngời khi ông giáng bút: “Bác Mao không ở đâu xa Bác Hồ ta đó chính là Bác Mao”. … Chúng ta sẽ cùng nhau hãnh diện là người Trung Quốc, chia xẻ nền văn hóa Trung Quốc và sát cánh tranh đấu cho chế độ vô sản chuyên chính. Tương lai của Việt Nam là tương lai của Trung Quốc, hay ngược lại… Tóm lại, Việt Nam thực sự là Trung Quốc về mọi mặt: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục… ” Trích bài viết “Bác Hồ và Trung Quốc” của Nguyễn Tất Trung một cán bộ hưu trí đang sống tại Sài Gòn. ( xoathantuong2.tripod.com/ntt_bacho.htm -). Hoặc: “… oán hận với Tàu, tôi vẫn nhớ nhưng cũng có lúc này lúc khác tôi cũng không quên những sự giúp đỡ của Tàu và Liên Xô trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ, tôi cũng không thể phủ nhận điều đó, cũng không nên qua cầu rút ván…” Trích “comment” của “đại ca xứ Quảng” trên Dân Làm Báo ngày 12/06/2013. Lịch sử dân tộc Việt Nam có trên 22 thế kỷ ban giao với Tàu. Trong 2200 năm đó dân tộc Việt Nam đã nhận được ơn nghĩa gì của Tàu ngoài máu đổ thành sông, xương trắng núi đồng và 1000 năm làm nô lệ!. Thế mà ngày hôm nay trước âm mưu xâm lược trắng trợn và những hành động ngang ngược phá sạch, giết sạch, chiếm sạch của tập đoàn lãnh đạo Bắc Kinh, đảng cộng sản Việt Nam vẫn một lòng một dạ “đời đời nhớ ơn Trung Quốc”. Trước họa xâm lăng của kẻ thù phương bắc, tổ quốc Việt Nam, dân tộc Việt Nam sẽ đi về đâu khi những kẻ nhận giặc làm cha, mang ơn kẻ thù còn làm chủ đất nước, còn ngồi trên đầu trên cổ nhân dân. Việt Nam "đời đời nhớ ơn các liệt sĩ Trung Quốc"Nghĩa trang liệt sĩ Trung Quốc trên đất Việt Nam...
Mời quý vị xem các văn bản và những tấm ảnh dưới đây để thấy được mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc trên tinh thần "Mười sáu chữ vàng" và "Bốn tốt" ngày khăng khít:
Đảng ủy, HĐND,UBND, UBMT TQ..."Đời đời nhớ ơn các liệt sĩ Trung Quốc"
Các dòng chữ Hán trên đài liệt sĩ: "Việt Nam nhân dân ký công", nghĩa là "Nhân dân Việt Nam ghi công" Các dòng chữ Hán trên đài liệt sĩ: "Việt Nam nhân dân ký công", nghĩa là "Nhân dân Việt Nam ghi công"
Thái Văn
Xây dựng tượng đài và mợ bia tưởng niệm quân đội TQ âm lăng VN năm 1979"ĐỜI ĐỜI NHỚ ƠN CÁC LIỆT SĨ TRUNG QUỐC". Tập đoàn phản động phạm tội phản bội Tổ quốc (phạm vào Điều 78 Bộ Luật Hình Sự) nhưng chưa tên nào bị xử lý đang thể hiện tấm lòng "Đời đời nhớ ơn các liệt sĩ Trung Quốc" đã tử vong trong chiến tranh xâm lược biên giới năm 1978 - 1988, mai táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ Long Châu (Thủy Khẩu), giáp tỉnh Cao Bằng.
Không còn từ ngữ nào để bình luận thêm ngoài mấy chữ "Đại đại đại ô nhục"!
Chú ý đọc hàng chữ in lớn ở trên để biết chủ nhân của vòng hoa "biết ơn" này
 Chúng tôi chân thành xin lỗi các đồng chí xâm lược đã bị ông cha chúng tôi lỡ bắn chết |
|
Những nội dung khác:
|
|
|
 |
|