Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Năm 2024
T2T3T4T5T6T7CN
    1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30 31    
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 3
 Lượt truy cập: 24985313

 
Tin tức - Sự kiện 20.05.2024 18:44
Vừa đặt chân đến nước tự do Hungary phái đoàn lao động CHXHCNVN bỏ ‘trốn thiên đường XHCN ngay từ sân bay Budapest’
21.09.2023 07:55

Đoàn lao động Việt được tuyển sang Hungary ‘trốn ngay từ sân bay Budapest’

Nguyễn Hoàng Linh, Gửi tới BBC từ Budapest, Hungary

Nơi ăn ở của công nhân châu Á, trong đó có lao động Việt

NGUỒN HÌNH ẢNH,NGUYEN HOANG LINH

Chụp lại hình ảnh,

Nơi ăn ở của công nhân châu Á, trong đó có lao động Việt tại nhà máy Hàn Quốc ở Monor, gần Budapest

"Chúng tôi đưa 30 công nhân từ Việt Nam tới, nhưng 28 người đã lên một chiếc xe buýt khác ở Budapest tới Đức và chúng tôi đã không gặp họ kể từ đó" - "thảm cảnh" khi nhận lao động Việt của Villeroy & Boch, một doanh nghiệp lớn của Đức có lịch sử từ 275 năm nay được báo Hungary đăng tải rộng rãi. Cơ sở tại Hungary là nhà máy lớn nhất trong số 13 phân xưởng của công ty Villeroy & Boch ở châu Âu.

Đây là một công ty gốm sứ có truyền thống của Đức có trụ sở tại Mettlach (bang Saarland, CHLB Đức). Chi nhánh ở TP. Hódmezővásárhely (Hungary) của doanh nghiệp này có 750 nhân công - và là một trong những nhà tuyển dụng lớn nhất ở đây. Nhưng theo giám đốc nhà máy, ông Hideg Gábor, việc giữ chân nhân viên vẫn là một thách thức.

Vị giám đốc cho trang telex.hu biết rằng trong những năm gần đây, cuộc khủng hoảng năng lượng đã đặt công ty vào thử thách lớn vì mức tiêu thụ năng lượng của họ, vốn chiếm 12-16% tổng chi phí, hiện đã tăng gần gấp đôi. Trong giai đoạn khó khăn nhất, giá xăng đã tăng từ bảy đến mười lần.

"Dưới ảnh hưởng của lạm phát, chúng tôi đã phải tăng hơn 10% lương cho người lao động để giữ chân họ", ông Hideg Gábor giải thích với báo chí Hungary.

Ông nói thêm rằng việc phải tăng lương này là kỳ lạ, ít nhất là theo góc nhìn từ phía Đức.

Nhà máy của hãng Villeroy & Boch ở Hungary

NGUỒN HÌNH ẢNH,NGUYEN HOANG LINH

Chụp lại hình ảnh,

Một tòa nhà là nơi ăn ở cho công nhân

Theo chúng tôi tìm hiểu, các dự án đầu tư mới được khởi động trong tương lai gần khiến Hungary cần khoảng 500.000 người lao động mới. Ngày càng có nhiều công ty tuyển dụng lao động từ các quốc gia thứ ba, trong đó có Đông Nam Á, gồm Việt Nam, để phục vụ nhu cầu nhân công bùng nổ với các đại dự án ở Hungary.

Hiện tại, nhà máy ở Vásárhely đang xem xét mức tăng lương hàng năm là 10% và thêm 6% lương bổ sung, nhưng Ban quản lý cho rằng ngay cả với mức tăng này, họ cũng không thể bù đắp được hoàn toàn mức lạm phát, mặc dù mức lương của nhà máy cao hơn 40% so với các công ty khác trong cùng khu vực.

Dù đã cố gắng tăng lương như vậy, nhưng nhà máy vẫn phải vật lộn với tình trạng thiếu lao động. Khoảng 60% nhân viên làm việc bảy ngày một tuần, phần lớn làm việc ba ca. Tỷ lệ bỏ việc thấp hơn mức trung bình của khu vực nhưng vẫn được các nhà quản lý đánh giá là cao.

Được biết lương tháng tối thiểu cho người lao động ở Hungary là tương đương 630 euro.

Notice in Vietnamese

NGUỒN HÌNH ẢNH,NGUYEN HOANG LINH

Chụp lại hình ảnh,

Một thông báo đã tại 'ký túc xá' của nhà máy Hàn Quốc tại Hungary đã được dịch sang tiếng Việt

Tuyển lao động châu Á nhưng sẽ 'tránh Việt Nam'

Theo Ban lãnh đạo, rất khó tìm được nhân viên mới và thay thế những người ra đi. Giám đốc Hideg Gábor cho biết họ bắt đầu tuyển dụng lao động nước ngoài từ ba năm trước, nhưng nỗ lực đầu tiên đã không thành công. Bởi vì họ quyết định đưa lao động từ Việt Nam, nhưng sau mới biết rằng hóa ra đây là một quyết định tồi tệ.

"Chúng tôi tuyển được 30 người từ Việt Nam. Khi họ đến bằng máy bay, chúng tôi đi xe buýt lên Budapest để đón họ. Họ ra khỏi sân bay, và 28 trong số 30 người ngay lập tức lên một xe buýt khác đưa họ đi thẳng sang Đức, nơi có một cộng đồng Việt Nam đông đảo."

"Không, chúng tôi không hề gặp họ. Vì họ đã có visa Schengen để làm việc ở Hungary, do đó họ có thể đi lại tự do nên chúng tôi không thể làm gì được," ông Hideg Gábor bày tỏ một cách chua chát với truyền thông Hungary.

Đó là lý do nhà máy không "dây dưa" với người Việt nữa mà thuê lao động Indonesia, không có trường hợp nào bỏ. Hiện nay 12% lực lượng lao động hiện tại của nhà máy đến từ Indonesia.

Notice sign in Vietnamese

NGUỒN HÌNH ẢNH,NGUYEN HOANG LINH

Chụp lại hình ảnh,

Biển thông báo bằng tiếng Việt tại nhà máy Hàn Quốc ở Monor, Hungary

Ngoài họ, còn có một số lao động đến từ Ukraine và Serbia. Lương của lao động nước ngoài ngang bằng với lương của công nhân Hungary.

"Chúng tôi không tuyển thêm ("lao động khách") vì chi phí cao hơn là thuê nhân công Hungary và rào cản ngôn ngữ khiến việc hợp tác trở nên rất khó khăn", ông Hideg Gábor cho hay.

Dầu sao đi nữa, trái với một bộ phận lao động Việt, nhân công Indonesia dường như không gây rắc rối gì cho công ty cũng như thành phố nơi họ làm việc, theo giám đốc Hideg Gábor. Tại khu vực nhà máy chỉ có lao động Indonesia, tất cả thông tin quan trọng và cần biết đều được viết bằng ngôn ngữ của họ, hoặc được dịch ra cho họ.

Công nhân Indonesia theo Hồi giáo, và có phòng cầu nguyện riêng tại nơi ở, còn công ty đã mở phòng cầu nguyện riêng tại phân xưởng.

Khi công nhân Hungary nghỉ giải lao trong ca làm việc để ăn, hút thuốc hoặc uống cà phê, lao động Indonesia vào phòng cầu nguyện và thực hành tập quán tôn giáo của họ ở đó.

Phỏng vấn đăng trên mạng telex.hu nói trên chỉ là một trong nhiều bài viết đăng trên các mặt báo Hungary về khó khăn của các doanh nghiệp Hung khi lựa chọn nguồn nhân công từ nước ngoài, trong đó có lao động Việt mà không ít người chỉ chọn nước Hung làm chặng "trung chuyển" để "một đi không trở lại" sang các quốc gia phát triển hơn.

Những năm gần đây, lao động Việt Nam sang Hungary ồ ạt, quảng cáo tuyển dụng lao động tràn ngập các trang, nhóm cộng đồng. Tuy nhiên, chất lượng, ý thức và văn hóa ứng xử của không ít lao động Việt Nam luôn là điều khiến nhiều đơn vị tuyển dụng Hungary phàn nàn, chưa kể "tệ nạn" một số lao động Việt "mất tích" ngay tại sân bay Budapest như vụ nói trên.

inside campus for foreign workers

NGUỒN HÌNH ẢNH,NGUYEN HOANG LINH

Chụp lại hình ảnh,

Bên trong nhà ký túc xá cho công nhân nước ngoài

Theo quan sát của người viết bài này thì một số người Việt Nam đã bỏ chạy ra ngoài chợ trời ở Hungary buôn bán, hoặc "đi chợ" kiếm thêm rồi mới tìm đường sang Đức.

Bên cạnh các ví dụ bỏ trốn tự phát trên, cũng đang có vài trăm công nhân VN là việc cho hãng Hàn Quốc ShinHeung.EU Kft ở Monor, cách Budapest chừng 30km. Trong một lần tới thăm khu vực này, tôi thấy các biển thông báo tiếng Hung, Việt và Hàn.

Họ làm việc trong ngành linh kiện ôtô với thu nhập thoạt đầu tương đối tốt so mức trung bình ở Hungary. Thế nhưng thời gian gần đây mức lương giảm nhiều khiến "lắm người bỏ đi lắm", "công ty cứ đón sang là đi hết", "đợt này cuối hè họ càng đi đông", lễ tiễn nhau diễn ra khá thường xuyên, "hôm qua họ cũng lên đây liên hoan và tiễn một số người đi", theo lời kể của một vài đồng hương tại đây với tôi.

Trên các trang mạng cộng đồng, luôn thấy các quảng cáo tuyển lao động từ Việt Nam sang Hungary, còn họ sang rồi ở lại làm hay đi Đức hoặc các nước phát triển khác là điều không ai để ý nữa. Thậm chí, có cả những quảng cáo của môi giới đưa họ sang... Mỹ hay Canada, không rõ bằng cách nào.

Với tình trạng lẫn lộn giữa đi xuất khẩu lao động để có thu nhập cao hơn và học được tay nghề hiện đại và nạn đi dân trái phép như thế này, hình ảnh người lao động Việt Nam chắc sẽ còn cần "cải thiện" rất nhiều ở các nước châu Âu.



Bốn nhà hoạt động VN tị nạn tại Mỹ, Đức sau thỏa thuận với chính quyền Biden

Tổng thống Mỹ Joe Biden gặp Chủ tịch nước Việt Nam Võ Văn Thưởng tại Phủ Chủ tịch ở Hà Nội ngày 11/9/2023

NGUỒN HÌNH ẢNH,REUTERS

Chụp lại hình ảnh,

Tổng thống Mỹ Joe Biden gặp Chủ tịch nước Việt Nam Võ Văn Thưởng tại Phủ Chủ tịch ở Hà Nội ngày 11/9/2023

Hai nhà hoạt động mà chính quyền Biden tin rằng đã bị chính quyền cộng sản Việt Nam bắt giam một cách sai trái đang được đưa đến Mỹ dưới một thỏa thuận đã được đàm phán trước chuyến thăm của tổng thống Mỹ tới Hà Nội, quan chức Mỹ nói với Reuters.

Một luật sư nhân quyền, người đã vận động để buộc cảnh sát phải chịu trách nhiệm trước các hành vi ngược đãi, một giáo dân Công giáo đã bị trục xuất khỏi quê nhà, gia đình họ đang rời Việt Nam sang Mỹ, một trong các quan chức Mỹ cho hay.

Tại Mỹ, các gia đình này dự kiến sẽ tìm diện định cư theo chương trình tị nạn 'Ưu tiên 1'. Các nhà hoạt động này không bị tù giam, nhưng bị cấm rời khỏi Việt Nam.

Chính phủ Việt Nam cũng đồng ý trả tự do cho hai nhà hoạt động đang bị giam giữ trước chuyến thăm của ông Biden tuần trước, một quan chức Mỹ cho hay, và đã ký một thỏa thuận riêng nhằm đạt được tiến bộ về các vấn đề như tự do tôn giáo, hoạt động của các tổ chức phi chính phủ (NGO) trong nước, điều kiện sống của các tù nhân và luật lao động, một trong các quan chức Mỹ cho hay.

Các chủ đề trong thỏa thuận riêng này, mà Reuters chưa đánh giá một cách độc lập, đã không được thông tin trước đó. Chúng được ký kết khi Việt Nam đồng ý nâng cấp mối quan hệ với Mỹ lên mức cao nhất cùng với Trung Quốc và Nga trong một chuyến thăm mà ông Biden đánh giá Việt Nam có triển vọng trở thành một trong những quốc gia đi đầu trong lĩnh vực công nghệ cao.

Các thỏa thuận này được đưa ra sau khi chính quyền Biden vấp phải những chỉ trích về chính sách ngoại giao của họ với Việt Nam, Ấn Độ và Ả Rập Saudi, những quốc gia mà chính phủ tước bỏ quyền tự do chính trị vốn được hưởng ở phương Tây, và về các thỏa thuận của Mỹ về trao đổi tù nhân với Iran.

Các nhà hoạt động Việt Nam nói trên bao gồm một học giả về luật chuyên về tôn giáo - người đã được trả tự do để sang Đức và một người nữa bị tù với tội trốn thuế liên quan đến tổ chức NGO của ông.

Giới chức không nói rõ danh tính của hai trong số bốn người này vì lý do nhạy cảm ngoại giao và an ninh, nhưng tên của của hai cựu tù nhân đã được biết. Luật sư Nguyễn Bắc Truyển xác nhận ông được trả tự do và đã sang Đức cùng vợ vào đầu tháng này. Việc trả tự do cho nhà báo Mai Phan Lợi cũng được xác nhận vào đầu tháng này.

'Các đại diện cho một nhóm lớn hơn nhiều'

Cộng đồng nhân quyền Việt Nam nhìn nhận tình trạng hiện nay đang diễn biến theo chiều hướng rất xấu.

Việt Nam đang giam giữ ít nhất 159 tù nhân chính trị và 22 người khác, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền cho biết đầu tháng này. Chính quyền Việt Nam đã bỏ tù 15 người với án tù dài hạn vào đầu năm nay mà không được xét xử công bằng, một nhóm vận động cho hay.

Việt Nam cũng soạn thảo các quy định mới nhằm hạn chế quyền tự do ngôn luận trực tuyến, cấm người dùng mạng xã hội đăng các nội dung liên quan đến tin tức nếu họ không phải là một nhà báo, theo những nguồn tin nắm rõ các quy định này.

"Thật phẫn nộ khi Tổng thống Biden chọn nâng cấp quan hệ ngoại giao với Việt Nam vào thời điểm mà nhà nước độc đảng này đang đàn áp tàn bạo các nhà hoạt động, bất đồng chính kiến và tổ chức xã hội dân sự," ông Ben Swanton, đồng giám đốc Dự án 88, một tổ chức vận động về quyền con người tại Việt Nam nói.

Việt Nam thường trả tự do cho các tù nhân trước các chuyến thăm cấp nguyên thủ quốc gia. Các quan chức chính quyền Biden đã thúc đẩy việc cấp thị thực xuất cảnh như một bước đàm phán cuối cùng về tuyên bố chung và hậu cần cho chuyến đi, theo một trong các quan chức Mỹ.

Những người này là 'đại diện cho một nhóm lớn hơn nhiều của những người mà chúng tôi tin rằng cần phải được trả tự do," một quan chức Mỹ cho hay.

"Mặc dù chúng tôi mong rằng đã có thể đón nhiều người hơn trước chuyến thăm của tổng thống, chúng tôi tin rằng mối quan hệ hợp tác ngày càng được tăng cường và củng cố này sẽ mang lại cho chúng tôi các phương tiện và quy trình mà chúng tôi cần để tiếp tục giải quyết các vấn đề này với những bạn Việt Nam."

Giới chức Mỹ nói họ hi vọng những cuộc đối thoại này sẽ được thực hiện trong cả cuộc đối thoại về nhân quyền hàng năm với Việt Nam - đôi khi bị một số nhà hoạt động nhân quyền và quan chức coi là không mang tính thực chất - cũng như trong các cuộc đàm phán vẫn đang tiếp diễn giữa Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken và người đồng cấp Việt Nam, Bùi Thanh Sơn.

Lịch Sử Người Việt Tỵ Nạn


Hai Cuộc Di Cư Vĩ Đại 1954 và 1975

67 năm (gần hai phần ba thế kỷ) qua, thế giới đã chứng kiến hai cuộc di cư của dân tộc Việt Nam trên diễn trình xây dựng một cuộc sống tự do, một chế độ dân chủ. Họ sẵn sàng liều mạng để bảo đảm một nếp sống tự do và tiến bộ cho con cháu. Sự quyết tâm bi thảm này đã đánh thức lương tâm nhân loại.

Mục tiêu di cư là tìm kiếm tự do và duy trì dân chủ và nhân quyền cho đất nước và dân tộc Việt Nam. Sự kiện này phù hợp với bước tiến bộ chung của nhân loại. Người Việt Nam bày tỏ quyết tâm từ chối chế độ cộng sản đã dựa vào âm mưu của nước ngoài để chiếm miền Bắc năm 1954 và miền Nam Việt Nam năm 1975.( xem thêm phần Chú Thích)

Cuộc Di Cư Vĩ Đại 1954

Cụ thể là sau sựthất bại quân sự của Pháp tại Điện Biên Phủ vào tháng 5 năm 1954,[ nhưng còn nhữngdữ kiện khác nữa, như nội tình chính trị Pháp, chính sách thuộc địa Pháp, áp lực quốc tế,..và lực lượng kháng chiến chống thực dân Pháp của Việt Minh(thời gian từ 1945- 1954, đã bị Cộng Sản Việt Nam bí mật trừ diệt dần các thành phần dân tộc khác mà tiếm danh)], hiệp định Geneve kết thúc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1946-1954) chia Việt Nam thành 2 phần đất ở vĩ tuyến 17: thành lập một nhà nước cộng sản ở miền Bắcgọi là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hay còn được gọi tắt là Bắc Việt Nam và một nhà nước riêng biệt ở phía Nam gọi là Việt Nam Cộng Hòahaycòn được gọi là Nam Việt Nam. Với việc thành lập chính phủ do đảng Cộng Sản Việt Nam(ĐCSVN) lãnh đạo, hơn một triệu người cư dân miền bắc đã di cư xuống miền nam trong những năm 1954–1956.Con số này bao gồm gần 800.000 người Công giáo,ước tính gồm khoảng 2/3 tổng dân số Công giáo ở miền bắc. Họ nhanh chóng hòa nhập với cuộc sống mới ở miền đất tự do tại miền Nam Việt Nam.( xem thêm Chú Thích)

Cuộc Di Cư Vĩ Đại 1975

Tháng 12 năm 1960, ĐCSVN chính thức thành lập một phong trào gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam, chủ động gây xung đột quân sự ở miền Nam Việt Nam. Các lực lượng chống cộngtại Nam Việt Nam, với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ và đồng minh, đã tìm cách ngăn chặn sự bành trướng của cộng sản do Liên Xô và Trung Quốc hậu thuẫn ở Đông Nam Á. Cuộc chiến ở Việt Nam đã dẫn đến làn sóng di tảnlớn nhất trong ba nước Đông Dương. Hầu hết việc di tản là trong nước, nhưng trong một số trường hợp, nó tràn qua biên giới, như trường hợp của ‘Delta Khmer’ chạy sang Campuchia để trốn khỏi cuộc giao tranh ở Việt Nam. Vào cuối thập niên 60, khi chiến tranh lên đến cao điểm, người ta ước tính khoảng một nửa trong số 20 triệu người dân miền Nam Việt Nam đã phải di tản trong nước. Hiệp định Hòa bình Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973 đã tạm thời chấm dứt xung đột ở Việt Nam và mở cửa cho vai trò lớn hơn của Cao ủy Liên Hiệp Quốc về Người Tỵ Nạn (tiếng anh là United Nations High Commissioner viết tắt làUNHCR). Cơ quan này đã khởi động một chương trình trợ giúp những người di tản ở Việt Nam và Lào.

Trong những ngày cuối cùng trước khi Sài Gòn thất thủ vào tháng 4 năm 1975, khoảng 140.000 người Việt Nam có liên hệ mật thiết với chính quyền miền Nam Việt Nam cũ đã được di tản khỏi Việt Nam và tái định cư tại Hoa Kỳ. Cuộc di tản do chính phủ Hoa Kỳ tổ chức được tiếp nối bằng một cuộc di tản nhỏ hơn của người Việt Nam, họ đã dùng thuyền để chạy sang các nước Đông Nam Á láng giềng. Đến cuối năm 1975, khoảng 5.000 người Việt Nam đã đến Thái Lan, 4.000 người đã đến Hồng Kông, 1.800 người đã đến Singapore và 1.250 người đã đến Philippines.( xem thêm Chú Thích) Phản ứng ban đầu của UNHCR coi những phong trào này như là hậu quả của chiến tranh hơn là sự khởi đầu của một cuộc khủng hoảng tỵ nạn mới.

Sự bất mãn với chế độ cộng sản mới tại miền nam Việt Namgia tăng, số dân bỏ trốn khỏi đất nước từ đấy cũng tăng theo. Tháng 7 năm 1976, chính quyền Hà Nội hủy bỏ danh nghĩa cái gọi là Chính phủ Cách mạng lâm thời Miền Nam Việt Nam được chính họ thành lập sau khi Sài Gòn thất thủ, tước bỏ quyền tự chủ còn lại và thống nhất đất nước dưới tên gọi là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Họ cũng bắt tay vào một chương trình tái định cư dân thành thịvề nông thôn, được gọi là ‘vùng kinh tế mới’. Hơn một triệu người bị đưa vào các “trại cải tạo”. Nhiều người đã chết trong khi hàng trăm nghìn người vẫn bị giam cầm trong khổ ải vào cuối những năm 1980 sang đầu thập niên 1990. Thời gian trôi qua, người ta cũng thấy rõ rằng sự nổi bật của cộng đồng người Việt gốc Hoa trong lãnh vực kinh tế tư nhân đã đi ngược lại với chủ trương xã hội chủ nghĩa của chính quyền Cộng Sản mới. Vào đầu năm 1978, các biện pháp chính thức đã được thực hiện để chiếm đoạt các cơ sở kinh doanh của các doanh nhân tư nhân, hầu hết trong số đó là người Việt gốc Hoa.

Thuyền Nhân

Năm 1977, khoảng 15.000 người Việt Nam đã ra khỏi nước và xin tỵ nạn tại các nước Đông Nam Á. Vào cuối năm 1978, số người chạy trốn bằng thuyền tăng gấp bốn lần; 70 phần trăm những người xin tỵ nạn này là người Việt gốc Hoa. Thêm nhiều người Việt gốc Hoa khác đã chạy sang Trung Quốc;họ chủ yếu đến từ miền Bắc Việt Nam, nơi họ đã sinh sống trong nhiều thập kỷ; và họ hầu hết là ngư dân nghèo, nghệ nhân và nông dân. Trung Quốc sau đó đã thành lập một dự án để giải quyết những người tỵ nạn bằng cách cho họ tái định cư tại các trang trại nhà nước ở miền nam Trung Quốc.

Vào cuối năm 1978, vấn đề tỵ nan này đã bắt đầu tăng đến mức báo động: có gần 62.000 ‘thuyền nhân’ Việt Nam đổ đến các trại tỵ nạn khắp Đông Nam Á. Hàng chục nghìn người đã vượt biên sang Thái Lan. Khi số lượng ‘thuyền nhân’tăng mạnh, thái độ khó chịu của dân và chính quyền địa phương của các quốc gia lánh giềng cũng tăng theo. Thêm vào đấy, tình trạng di dân cũng căng thẳng và phức tạp theo: Một số thuyền đến bờ biển của các quốc gia Đông Nam Á không chỉ là ghe đánh cá nhỏ bằng gỗ mà là tàu chở hàng bằng thép do các tổ chức buôn lậu trong khu vực, thuê và chở hơn 2.000 người một lúc. Ví dụ, vào tháng 11 năm 1978, một tàu chở hàng 1.500 tấn, tàu Hải Hồng, đãthả neo tại cảng Klang( Mã Lai Á, Malaysia) và yêu cầu được phép cho 2.500 người Việt Namxuốngbờ. Khi nhà chức tráchMã Lai yêu cầu tàu này phải quay đầu trở ra biển, đại diện UNHCR địa phương lập luận rằng những người Việt Nam trên tàu được coi là ‘mối quan tâm của Văn phòng UNHCR’. Lập trường này được củng cố bằng một bức điện tín từ trụ sở UNHCR cho thấy rằng “trong tương lai, trừ khi có những chỉ dẫn rõ ràng về điều ngược lại, các trường hợp tàu từ Việt Nam sang được coi là yếu tố cơ bản (prima facie of concern) mà UNHCR quan tâm”. Trong hơn một thập niên, những người Việt Nam đến trại do UNHCR quản lý đã được hưởng quy chế tỵ nạn sơ bộ và được trao cho cơ hội tái định cư ở nước ngoài. Vào đầu cuộc di cư của người Đông Dương vào năm 1975, không một quốc gia nào trong khu vực đã chính thức gia nhập Công ước Người tỵ nạn năm 1951 của Liên hiệp quốc hoặc Nghị định thư năm 1967. Không quốc gia nào tiếp nhận thuyền nhân Việt Nam và cho phép họ lưu trú vĩnh viễn;thậm chí một số quốc gia đã không cho phép tỵ nạn tạm thời. Thí dụ: Singapore từ chối tiếp nhận bất kỳ người tỵ nạn nào không được đảm bảo tái định cư trong vòng 90 ngày. Malaysia và Thái Lan thường đẩy thuyền ra xa bờ biển của họ. Khi số thuyền tỵ nạn Việt Nam tăng đột biến vào năm 1979, hơn 54.000 thuyền nhân chỉ trong tháng 6, việc ‘đẩy lui’ thuyền trở thành thông lệ , kết quả là hàng ngàn người Việt Nam có thể đã bỏ mạng trên biển. Vào giữa năm 1979, trong số hơn 550.000 người Đông Dương đã xin tỵ nạn ở Đông Nam Á kể từ năm 1975, khoảng 200.000 người được tái định cư và khoảng 350.000 người ở lại các nước tỵ nạn đầu tiên trong khu vực. Trong sáu tháng trước, cứ trung bình ba thuyền nhân đến trại tỵ nạn thì chỉ một người được nhận cho đi tái định cư. Vào cuối tháng 6 năm 1979, các quốc gia thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN,gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan) đưa ra cảnh báo rằng họ đã đạt đến giới hạn mức chịu đựng, và tuyên bố rằng họ sẽ không chấp nhận bất kỳ người mới đến nào. Việc đẩy thuyền ra xa bờ biển đang xảy ra ở tốc độ tối đa và nơi tỵ nạn đang ở trong tình trạng nguy hiểm.

Hội Nghị Quốc Tế Về Người Tỵ Nạn Và Thất Lạc Năm 1979 ở Đông Nam Á Tại Geneva

Do nguyên tắc tỵ nạn bị đe dọa trực tiếp, vào ngày 20 và 21 tháng 7 năm 1979, 65 chính phủ đã đáp lại lời mời của Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Tham dự hội nghị quốc tế về người tỵ nạn Đông Dương tại Geneva. Các cam kết quốc tế mà họ đã thực hiện được rất đáng kể:Cho tái định cư trên toàn thế giới tăng từ 125.000 lên 260.000.

Kết quả của hội nghị năm 1979, tình trạng khủng hoảng đã được ngăn chặn ngay lập tức. Trong khuôn khổ thỏa thuận ba bên giữa các quốc gia xuất xứ, quốc gia tỵ nạn đầu tiên và các quốc gia tái định cư, các quốc gia ASEAN hứa sẽ duy trì các cam kết cung cấp dịch vụ tỵ nạn tạm thời, miễn là Việt Nam nỗ lực ngăn chặn việc xuất cảnh trái phép và thúc đẩy các cuộc khởi hành có trật tự và các nước thứ ba đẩy nhanh tốc độ tái định cư. Indonesia và Philippines đã đồng ý thành lập các trung tâm đẩy nhanh việc giúp tái định cư người tỵ nạn nhanh chóng hơn và, ngoại trừ một số trường hợp ngoại lệ, việc ‘đẩy lùi’ thuyền đã được dừng lại. Tái định cư quốc tế với tốc độ khoảng 9.000 người mỗi tháng trong nửa đầu năm 1979 đã tăng lên khoảng 25.000 người mỗi tháng ở phần nửa cuối năm 1979. Từ tháng 7 năm 1979 đến tháng 7 năm 1982, hơn 20 quốc gia – dẫn đầu là Hoa Kỳ, Úc, Pháp và Canada – đã tái định cư tất cả là 623.800 người tỵ nạn Đông Dương. Từ năm 1980 đến 1986, khi lượng người đến tái định cư ngày càng giảm thì sự lạc quan của các quan chức tỵ nạn về việc giải quyết cuộc khủng hoảng khu vực ngày càng gia tăng.

Chương Trình Ra Đi Có Trật Tự

Về phần mình, Việt Nam bảo đảm sẽ nỗ lực hết sức để ngăn chặn các vụ khởi hành bất hợp pháp và thực hiện theo Biên bản Ghi nhớ đã ký với UNHCR vào tháng 5 năm 1979 về việc thành lập Chương trình Ra Đi Có Trật tự (ODP).Theo các điều khoản của thỏa thuận này,các nhà chức trách Việt Nam tiến hành cho phép xuất cảnh những người Việt Nam muốn rời khỏi đất nước để đoàn tụ gia đình và các lý do nhân đạo khác, trong khi UNHCR phối hợp với các nước tái định cư để xin thị thực nhập cảnh. Mặc dù chương trình bắt đầu chậm, nhưng sau dần đã tiến triển đều. Đến năm 1984,số người ra đi hàng năm theo chương trình này đã tăng lên 29.100, vượt quá tổng số thuyền nhân đến trong khu vực này là 24.865.

Chính phủ Hoa Kỳ cho phép người Việt Nam nhập cư vào Hoa Kỳ thông qua Chương trình Ra Đi Có Trật Tự ODP của UNHCR. Có ba hạng mục mà người Việt Nam có thể đủ điều kiện nhập cư vào Hoa Kỳ theo các chương trình này: đoàn tụ gia đình, cựu nhân viên Hoa Kỳ và cựu tù nhân cải tạo. Các cựu tù nhân trại cải tạo nhập cư vào Hoa Kỳ thông qua diện H0 của chương trình ODP. (Tham khảo 1)

Tiêu Chí Tiếp Cận Cho Tái Định Cư Nhân Đạo Hoặc ODP (tham khảo 2)

Tiêu chí Tiếp cận cho Tái định cư Nhân đạo hoặc ODP như sau:

Hạng mục H0 – Cựu tù nhân ở trại tập trung tù “cải tạo”:

  1. a) Người Việt Nam nộp đơn đã ở trại tập trung tù “cải tạo” từ ba năm trở lên do sự kết hợp chặt chẽ của họ với các cơ quan hoặc tổ chức của Hoa Kỳ để thực hiện các chương trình và /hoặc chính sách của Chính phủ Hoa Kỳ trước ngày 30 tháng 4 năm 1975;hoặc
  2. b) Đối với người Việt Nam:

– Những người đã trải qua ít nhất một năm trong trại tập trung tù “cải tạo” do mối quan hệ chặt chẽ với Chính phủ Hoa Kỳ trước ngày 30 tháng 4 năm 1975 

– Những người cũng đã được đào tạo trong bất kỳ khoảng thời gian nào tại Hoa Kỳ hoặc các vùng lãnh thổ của Hoa Kỳ, dưới sự bảo trợ của Chính phủ Hoa Kỳ trước ngày 30 tháng 4 năm 1975; hoặc

  1. c) Đối với người Việt Nam:

– Những người đã trải qua ít nhất một năm trong trại tập trung tù “cải tạo” do kết quả của mối quan hệ chặt chẽ của họ với Chính phủ Hoa Kỳ trước ngày 30 tháng 4 năm 1975 

– Những người đã trực tiếp làm việc cho Chính phủ Hoa Kỳ, một công ty Hoa Kỳ hoặc một tổ chức Hoa Kỳ trong thời gian ít nhất là một năm trước ngày 30 tháng 4 năm 1975; hoặc

  1. d) Những đương đơn góa chồng hoặc góa vợ mà người phối ngẫu đã bị đưa vào trại tập trung tù “cải tạo” vì có mối quan hệ chặt chẽ với Chính phủ Hoa Kỳ trước ngày 30 tháng 4 năm 1975 và đã chết khi đang ở trong trại tập trung tù “cải tạo” hoặc chết trong vòng một năm sau khi được thả khỏi trại.

Loại U-11 – Cựu Nhân Viên Chính Phủ Hoa Kỳ:

Nhân viên trực tiếp thuê của Chính phủ Hoa Kỳ tại Việt Nam, với thời gian tích lũy tổng cộng từ 5 năm trở lên đã được xác nhận là nhân viên của Chính phủ Hoa Kỳ trong khoảng thời gian từ ngày 1 tháng 1 năm 1963 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Loại V-11 – Cựu Nhân Viên Của Các Công Ty Hoặc Tổ Chức Tư Nhân Của Hoa Kỳ:

Nhân viên trực tiếp của các công ty tư nhân của Hoa Kỳ và/hoặc các tổ chức của Hoa Kỳ, với thời gian tích lũy tổng cộng là năm năm trở lên đã được xác minh việc làm trong khoảng thời gian từ ngày 1 tháng 1 năm 1963 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Các Thành Viên Gia Đình Hội Đủ Điều Kiện:

Người phối ngẫu của người nộp đơn được chấp thuận và con cái chưa kết hôn dưới 21 tuổi tại thời điểm nộp đơn có thể được đưa vào diện Tái Định Cư Nhân Đạo.

Chương trình ODP đã giúp hơn 500.000 người tỵ nạn Việt Nam nhập cư vào Hoa Kỳ trước khi kết thúc vào ngày 30 tháng 9 năm 1994. Vào tháng 11 năm 2005, Hoa Kỳ và Việt Nam đã ký một thỏa thuận để mở lại chương trìnhODP và gia hạn chính sách của McCain (cho phép trẻ em của cựu giáo dục tù nhân nhập trại với cha mẹ của họ). Việc gia hạn chương trình ODP kết thúc vào tháng 2 năm 2009, với Tu chính án McCain hết hạn vào tháng 9 năm 2009.

Năm 1987, Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua Đạo luật về Hồi Hương Con Lai (Amerasian Homecoming Act), cho phép những người con gốc Việt có cha là người Mỹ được nhập cư vào Hoa Kỳ. Đạo luật này cho phép ước tính khoảng 23-25.000 trẻ em thuộc chủng tộc hỗn hợp và 60-70.000 thân nhân của con lai được nhập cư vào Hoa Kỳ.

Sự Sụp Đổ Của Hiệp Định Quốc Tế Năm 1979

Phần lớn những năm của thập niên 1980, mặc dù lượng thuyền nhân trong khu vực giảm và các cam kết tái định cư vẫn được duy trì, những thuyền Việt Nam vẫn tiếp tục vượt biên và mất mát về nhân lực rất lớn. Người ta ước tính rằng khoảng 10% thuyền nhân bị mất tích trên biển, trở thành nạn nhân của các cuộc tấn công của hải tặc, chết đuối hoặc chết vì mất nước. Chương trình chống cướp biển và các nỗ lực cứu hộ trên biển đã thành công, nhưng thất bại nào cũng là một bi kịch.

Vào giữa năm 1987, lượng thuyền nhân Việt Nam bắt đầu tăng trở lại. Được khuyến khích bởi việc nới lỏng các hạn chế đi lại trong nước và triển vọng tái định cư ở các nước phương Tây, hàng nghìn người miền Nam Việt Nam đã khám phá một tuyến đường mới đưa họ qua Campuchia, sau đó chỉ một chuyến đi thuyền ngắn là đến bờ biển phía đông của Thái Lan. Vào thời điểm chuyển giao của năm đó, chính quyền Thái Lan bắt đầu ngăn chặn các thuyền và đẩy họ trở ra biển. Hàng chục nghìn người khác từ miền bắc Việt Nam đã đi một tuyến đường mới qua miền nam Trung Quốc đến Hồng Kông.Năm 1988, hơn 18.000 thuyền nhân đổ vào Hồng Kông. Đây là con số cao nhất kể từ cuộc khủng hoảng năm 1979, hầu hết họ đến từ miền Bắc Việt Nam, nhóm này tỏ ra không mấy quan tâm đến hầu hết các quốc gia định cư. Do đó, vào ngày 15 tháng 6 năm 1988, chính quyền Hồng Kông thông báo rằng bất kỳ người Việt Nam nào đến sau ngày đó sẽ bị đưa vào trại tạm giam để chờ một cuộc phỏng vấn ‘sàng lọc’ xác định tình trạng của họ. Vào tháng 5 năm 1989, các nhà chức trách Malaysia một lần nữa bắt đầu chuyển hướng các chuyến tàu đến Indonesia sang những nước khác, như họ đã làm trước đó một thập kỷ.

Vào cuối những năm 1980, sự kiện quốc tế sẵn sàng tái định cư cho tất cả những người Việt Nam xin tỵ nạn đang trở nên suy yếu dần, và số lượng tái định cư hầu như không theo kịp với tỷ lệ người đến tỵ nạn ở các quốc gia đầu tiên mà họ xin tỵ nạn. Hầu như tất cả những ai quan tâm đến cuộc khủng hoảng tỵ nạn ở Đông Dương đều hiểu rõ rằng sự đồng thuận quốc tế,cũng như trong khu vực, vốn đạt được vào năm 1979 đã sụp đổ. Một giải pháp mới nhằm bảo tồn vấn đề tỵ nạn nhưng tách rời mối liên hệ của nó với việc đảm bảo tái định cư cần thiết ở các quốc gia khác.

Hội nghị Geneva năm 1989 và Kế hoạch Hành động Toàn diện Comprehensive Plan (CPA)

Vào ngày 13 và 14 tháng 6 năm 1989, 10 năm sau hội nghị người tỵ nạn Đông Dương lần thứ nhất, một cuộc họp khác được tổ chức tại Geneva. Nhân dịp này, 70 chính phủ có mặt đã thông qua một phương thức mới, được gọi là Kế hoạch Hành động Toàn diện, Comprehensive Plan(CPA). CPA thể hiện một nỗ lực lớn nhằm giải quyết vấn đề người tỵ nạn Việt Nam. Đây là một trong những ví dụ đầu tiên phát xuất từ những quốc gia xuất xứ đóng vai trò quan trọng cùng với các quốc gia khác trong và ngoài khu vực, giúp giải quyết cuộc khủng hoảng lớn về người tỵ nạn. CPA có năm mục tiêu chính: Thứ nhất, giảm các vụ ra đi bí mật thông qua các biện pháp chính thức chống lại những người tổ chức ra đi bằng thuyền và thông qua các chiến dịch thông tin đại chúng, thúc đẩy gia tăng cơ hội di cư hợp pháp theo Chương trình Ra Đi Có trật tự; Thứ hai, cung cấp quyền tỵ nạn tạm thời cho tất cả những người tỵ nạn cho đến khi tình trạng của họ được thiết lập và tìm được một giải pháp lâu dài; Thứ ba, xác định tình trạng tỵ nạn của tất cả những người xin tỵ nạn sao cho phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế; Thứ tư, tái định cư ở các nước thứ ba cho những người được đã công nhận là tỵ nạn, cũng như tất cả những người Việt Nam đã ở trong các trại trước ngày giới hạn; & Thứ năm, trao trả những người bị phát hiện không phải là người tỵ nạn, để tái hòa nhập họ ở quê nhà. Nhiệm vụ thực hiện CPA thuộc về UNHCR, với sự hỗ trợ tài chính từ cộng đồng các nhà tài trợ. Một Ủy ban chỉ đạo được thành lập, do UNHCR chủ trì và bao gồm đại diện của tất cả các chính phủ thực hiện cam kết theo CPA, cho dù là tỵ nạn, tái định cư hay hồi hương. Trong khi những cam kết năm 1979 về quyền tỵ nạn là tổng quát, thì những cam kết mới được đưa ra một thập kỷ sau đó cụ thể hơn. Họ tuyên bố: “Những người xin tỵ nạn sẽ được cấp quy chế xin tỵ nạn tạm thời, những người này sẽ được đối xử giống nhau, bất kể họ đến bằng cách nào, cho đến khi quá trình xác định tình trạng hoàn tất.” Những cam kết này đã được thực hiện trên hầu hết các khu vực, mặc dù có những ngoại lệ.Thí dụ cụ thể: Thái Lan đã ngừng các biện pháp thúc đẩy của mình, nhưng Singapore không còn cho phép các trường hợp cứu hộ trên biển hoặc những người đến trực tiếp được lên bờ. Malaysia, trong suốt những năm 1989–90, chính quyền địa phương đã có lệnh chuyển hướng các chuyến tàu thuyền trở lại vùng biển quốc tế. Thông qua tác động tổng hợp của các biện pháp nhằm không khuyến khích di dân bất hợp pháp, bao gồm việc chấm dứt hỗ trợ hồi hương cho những người mới nhập cư sau tháng 9 năm 1991; và các chiến dịch truyền thông của UNHCR ở Việt Nam về sự kiện này. CPA cuối cùng đã chấm dứt dòng người xin tỵ nạn Việt Nam. Năm 1989, khoảng 70.000 người Việt Nam xin tỵ nạn ở Đông Nam Á. Năm 1992, chỉ còn có 41 người Việt Nam.

Ngày Giới Hạn Sàng Lọc Người Tỵ Nạn Và Hồi Hương

CPA là sự kiện bắt đầu cho sự áp dụng những biện pháp giới hạn mới của lịch sử tỵ nạn dân Đông Nam Á. Những người bỏ nước ra đi trước ngày này sẽ tự động được chấp nhận tái định cư ở nước ngoài, còi ai đến sau đó phải bị sàng lọc trước để xác định tình trạng di dân của họ: Đối với Hồng Kông, mức giới hạn là ngày 15 tháng 6 năm 1988. Đối với Indonesia, Malaysia, Philippines và Thái Lan, thì giới hạn là ngày 14 tháng 3 năm 1989. Nếu thành công của hội nghị năm 1979 phụ thuộc vào sự cam kết của các nước cho tái định cư, thì thành công của CPA lại phụ thuộc vào sự cam kết của các quốc gia mà người tỵ nạn đầu tiên đến và các quốc gia gốc của di dân. Vào tháng 12 năm 1988, bảy tháng trước hội nghị Geneva, UNHCR và Việt Nam đã ký Biên bản ghi nhớ (Memorandum of Understanding), theo đó Việt Nam sẽ cho phép công dân tự nguyện trở về nước mà không bị phạt vì đã bỏ đi; biện pháp này mở rộng và đẩy nhanh chương trình ODP, và cho phép UNHCR giám sát những người trở về và tạo điều kiện cho việc tái hòa nhập.

Vào thời điểm diễn ra hội nghị CPA năm 1989, có tổng cộng 50.670 người tỵ nạn Việt Nam trước thời hạn đã ở trong các trại Đông Nam Á. Trong số này, gần một phần tư đã bị ít nhất một quốc gia cho tái định cư từ chối và một phần tư khác là các trường hợp ưu tiên thấp theo các tiêu chí tái định cư ngày càng xiết chặt hạn chế. Đến cuối năm 1991, hầu như tất cả những người này đã được tái định cư. Trong số những người Việt Nam bị hoãn, có tổng cộng khoảng 32.300 người được công nhận là người tỵ nạn và tái định cư, so với 83.300 người bị từ chối đơn xin và phải hồi hương về Việt Nam. Nhìn chung, trong 8 năm của CPA, hơn 530.000 người Việt Nam và Lào đã được tái định cư ở các nước khác. Không quốc gia nào đồng ý thực hiện các thủ tục xác định tình trạng tỵ nạn là thành viên của Công ước Người tỵ nạn năm 1951, ngoại trừ Philippines; và không quốc gia nào có kinh nghiệm lập pháp hoặc hành chính trước đây trong việc xác định tình trạng người tỵ nạn.Tuy nhiên,tất cả năm nơi tỵ nạn chính-Hồng Kông, Indonesia, Malaysia, Philippines và Thái Lan – đã thông qua các thủ tục cho phép người xin tỵ nạn tiếp cận với UNHCR, được vào một cuộc phỏng vấn xác định tình trạng tỵ nạn đầy đủ,được hưởng dịch vụ của một thông dịch viên và được cứu xét bởi một cơ quan thứ hai. Ngoài ra, ở Hồng Kông, người nộp đơn xin tỵ nạn có quyền đến tòa án để được thẩm định về tư pháp. Nhìn chung, khoảng 28% người Việt Nam đã thành công khi nộp đơn xin quy chế tỵ nạn theo quy trình CPA. Hồng Kông, nơi phỏng vấn số lượng người nộp đơn cao nhất (60.275), cũng có tỷ lệ chấp thuận thấp nhất (18.8%). Việc UNHCR có thẩm quyền công nhận những người tỵ nạn dưới sự ủy thác của mình đã cung cấp một mạng lưới an toàn để đảm bảo rằng không có ai hợp lệ nộp đơn xin mà bị từ chối và phải bắt buộc hồi hương.

Để đạt được sự đồng thuận về việc hồi hương, các chính phủ là thành viên của CPA đã đồng ý vào năm 1989 rằng “trước hết, mọi nỗ lực sẽ được thực hiện để khuyến khích những người bị từ chối tự nguyện trở về nước. Nếu sau một thời gian hợp lý, rõ ràng là việc hồi hương tự nguyện không đạt được tiến bộ đầy đủ để đạt mục tiêu mong muốn, các phương án thay thế sẽ được công nhận là có thể được chấp nhận theo thông lệ quốc tế là được tái xét”. Mặc dù không ai trực tiếp đề cập đến, nhưng hầu hết mọi người đều gián tiếp thừa nhận vào thời điểm đó rằng điều này có nghĩa là bị hồi hương không tự nguyện. Hồng Kông đã bắt đầu sàng lọc lượng người đến sớm hơn một năm so với phần còn lại của khu vực; và đến tháng 3 năm 1989, họ đã tổ chức đợt hồi hương tự nguyện đầu tiên về lại Việt Nam trong hơn một thập kỷ. Tuy nhiên,trong những tháng kế tiếp, chính phủ sở tại cho biết rằng không có đủ số lượng tự nguyện hồi hương và họ sử dụng các biện pháp khắc nghiệt hơn. Vào ngày 12 tháng 12 năm 1989, trong bóng tối,hơn 100 cảnh sát Hồng Kông đã áp giải một nhóm 51 đàn ông,phụ nữ và trẻ em Việt Nam lên một chiếc máy bay đang chờ sẵn và đưa họ về Hà Nội. Sau đó,các cuộc biểu tình quốc tế đã thuyết phục Hồng Kông trì hoãn thêm việc hồi hương không tự nguyện. Trong một diễn biến mới, Vương quốc Anh, Hồng Kông và Việt Nam đã ký một thỏa thuận vào tháng 10 năm 1991 để thực hiện ‘Chương trình trao trả có trật tự’.Các nước ASEAN nhận tỵ nạn cuối cùng đã ký các thỏa thuận về Chương trình trao trả có trật tự của riêng họ; theo đó UNHCR đồng ý trang trải chi phí vận chuyển và cung cấp một số hỗ trợ hậu cần, đồng thời nhấn mạnh rằng họ sẽ không tham gia vào các phong trào có liên quan đến vũ lực. Cuối cùng,sự phân biệt giữa trở về tự nguyện và không tự nguyện đã trở nên phức tạp một cách không rõ rệt,tình cảnh đã căng thẳng gia tăng trong các trại tỵ nạn của người Việt Nam và bạo lực bùng phát thường xuyên ở các trại tỵ nạn tại Hồng Kông. Từ năm 1992, tốc độ buộc hồi hương tăng nhanh và UNHCR giao nhiệm vụ điều phối hỗ trợ việc tái hòa nhập và giám sát những người Việt Nam cuối cùng đã phải hồi hướng theo thỏa thuận của CPA.

Trong thời gian 8 năm của CPA,hơn 109.000 người Việt Nam đã hồi hương.Để hỗ trợ cho họ tái hòa nhập, UNHCR cung cấp cho mỗi người trở về khoản trợ cấp tiền mặt từ US $ 240 đến US $ 360, được Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội của chính phủ sở tại trả từng phần. UNHCR cũng đã chi hơn 6 triệu đô la Mỹ cho 300 dự án vi mô trên khắp lãnh thổ, tập trung vào lãnh vực giáo dục và cơ sở hạ tầng cộng đồng. Trong lĩnh vực việc làm và phát triển việc làm, UNHCR đã trông vào Chương trình Quốc tế của Cộng đồng Châu u, chương trình này cũng đã thực hiện hơn 56.000 khoản cho vay từ 300 đến 20.000 đô la Mỹ cho những người đã hồi hương. Các khoản vay này đã tạo điều kiện rất nhiều cho sự phát triển các doanh nghiệp nhỏ và 88% đã được hoàn trả. Mặc dù 80% những người hồi hương đa số chính yếu đến tám tỉnh ven biển, họ đã hồi hương về tất cả 53 tỉnh của Việt Nam, từ Bắc vào Nam. Để trách nhiệm giám sát của UNHCR trở nên thách thức hơn nữa, ước tính khoảng 25% những người trở về đã di chuyển ít nhất một lần sau khi từ các trại trở về, hầu hết họ đến các thành phố và thị trấn để tìm việc làm.

Vào tháng 6 năm 1996 UNHCR chấm dứt hỗ trợ, đóng cửa các trại tỵ nạn ở Indonesia, Malaysia, Philippines và Thái Lan. Trại Hong Kong đã bị đóng cửa vào năm 1997.

Hoa Kỳ cuối cùng đã tái định cư tổng cộng hơn một triệu người Việt Nam.

Người Việt Tỵ Nạn Tại Hoa Kỳ

Từ năm 1975, Hoa Kỳ đã mở cửa tiếp nhận đến hơn một triệu người Việt Nam. Mặc dù số lượng lớn nhất hiện nay sống ở California, những người này đã đến mọi tiểu bang và hầu hết mọi thành phố lớn của Hoa Kỳ.

Người Việt Nam đến đây theo nhiều đợt. Hơn 175.000 người tỵ nạn Việt Nam đã sang được Hoa Kỳ trong hai năm đầu tiên sau khi Sài Gòn sụp đổ năm 1975. Phần lớn họ đã đến trong vòng vài tuần và được tạm trú trong bốn trại tỵ nạn ở các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ được liệt kê như sau:

  • 1) Trại Pendleton ở California
  • 2) Fort Chaffee ở Arkansas
  • 3) Căn cứ không quân Eglin ở Florida
  • 4) Fort Indiantown Gap ở Pennsylvania.

Các tổ chức tư nhân và tôn giáo được giao trách nhiệm tái định cư cho người Việt tại các thành phố và thị trấn trên khắp Hoa Kỳ. Họ sắp xếp nhà ở và các lớp học tiếng Anh, tìm trường học cho trẻ em và giúp người lớn tìm việc làm.

Người Mỹ đã có phản ứng tích cực với làn sóng người Việt đầu tiên này. Họ phần lớn vì cảm thấy có lỗi về sự can dự của Hoa Kỳ vào Việt Nam, nên họ hoan nghênh cơ hội giúp đỡ những người tỵ nạn. Các nhà thờ và các nhóm cộng đồng trên khắp Hoa Kỳ đã đóng vai trò là những nhà tài trợ địa phương giúp người tỵ nạn hòa nhập vào cộng đồng của họ. Nhóm người tỵ nạn đầu tiên này đạt được kết quả tốt đáng kể ở Hoa Kỳ. Hầu hết họ đến từ tầng lớp trung lưu thành thị ở miền Nam Việt Nam với trình độ đại học và trung học.

Mặc dù đã đến tái định cư vào thời điểm Hoa Kỳ suy thoái kinh tế nghiêm trọng, nhưng đến năm 1982, tỷ lệ việc làm của tỵ nạn gốc vẫn cao hơn so với dân số Hoa Kỳ nói chung.Cộng đồng người Việt tỵ nạn ngày càng đông ở California, Texas và Washington, DC. Không lâu sau đó, các doanh nghiệp Việt Nam đã phục vụ cho các cộng đồng mới. Làn sóng thứ hai của người tỵ nạn Việt Nam bắt đầu đến Hoa Kỳ vào năm 1978. Đây là những ‘thuyền nhân’, những người ra đi trốn sự đàn áp chính trị ngày càng gia tăng ở Việt Nam, đặc biệt là lớp người Việt gốc Hoa. Mặc dù khó lường được con số chính xác, nhưng tổng số thuyền nhân Việt Nam nhập cảnh từ năm 1978 đến 1997 được ước tính là hơn 400.000 người.

Thuyền nhân không được chuẩn bị đầy đủ cho cuộc sống ở Hoa Kỳ. Nhìn chung, bản thân họ được giáo dục kém hơn và xuất thân từ nông thôn nhiều hơn những người tỵ nạn đến năm 1975, họ ít nói thạo tiếng Anh hơn. Nhiều người đã trải qua những cuộc đàn áp ở Việt Nam, bị chấn thương tâm lý trên biển cả và chịu những điều kiện khắc nghiệt trong các trại tỵ nạn ở các nước Đông Nam Á, nơi đã miễn cưỡng chấp nhận sự hiện diện tạm thời của họ.

Vào thời điểm nhóm người Việt( bộ nhân và thuyền nhân) này đến, nhiều người Mỹ ngày một càng mệt mỏi vì những đợt người tỵ nạn. Tình cảm chống người nhập cư được thúc đẩy bởi nền kinh tế suy giảm đã dẫn đến các cuộc tấn công vào người Việt Nam trong một số cộng đồng trên đất Mỹ. Sự hỗ trợ của chính phủ Hoa Kỳ đối với chương trình tỵ nạn cũng bắt đầu đang suy yếu dần. Năm 1982, nền kinh tế Mỹ đang ở trong tình trạng tồi tệ hơn so với năm 1975, chính phủ Hoa Kỳ đã giảm sự hỗ trợ những người tỵ nạn mới đến,thi hành một số biện pháp nhằm đưa người tỵ nạn vào làm việc càng sớm càng tốt. Nhiều thuyền nhân cuối cùng phải nhận làm những công việc trả lương thấp, thường không có cơ hội học tiếng Anh hoặc làm quen với môi trường mới của xã hội Mỹ. Tuy nhiên, theo một nghiên cứu được ủy quyền của chính phủ Hoa Kỳ năm 1985 về khả năng tự túc của những người tỵ nạn Đông Nam Á, thì trong vòng ba năm sau khi họ đến, tình trạng kinh tế của họ tương đương với các nhóm thiểu số khác của Hoa Kỳ.

Chương trình ODP, được thành lập vào năm 1979, đã tạo điều kiện cho người Việt Nam di cư trực tiếp từ Việt Nam sang Hoa Kỳ. Ban đầu chương trình này có ý định làm lợi cho thân nhân của lớp những người Việt tỵ nạn đã ở Hoa Kỳ và những người Nam Việt Nam có quan hệ với chính phủ Hoa Kỳ. Chính phủ Hoa Kỳ sau đó đã mở rộng Chương Trình Khởi hành Có Trật Tự cho con lai (con Việt Nam của quân nhân Hoa Kỳ), cựu tù nhân chính trị và những người bị giam trong trại cải tạo. Trong khoảng thời gian từ năm 1979 đến năm 1999, hơn 500.000 người Việt Nam đã nhập cảnh vào Hoa Kỳ theo chương trình này.

Những cựu tù nhân chính trị và những người bị giam trong trại cải tạo là những người thuộc thế hệ lớn tuổi đã đến Hoa Kỳ sau khi bị tổn thương bởi những kinh nghiệm quá khứ của họ ở Việt Nam, họ cảm thấy vô cùng khó khăn để bắt đầu một cuộc sống mới. Họ khó tìm việc hơn và loại công việc mà họ có thể tìm được thường không tương xứng với địa vị xã hội trước đây của họ. Nhìn chung, hàng triệu người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ thứ hai của người Mỹ gốc Việt, đã tái định cư tại Hoa Kỳ, họ thích nghi tốt. Ngày nay họ đã trở thành một phần thiết yếu của xã hội Hoa Kỳ.

Lời Kết

Mọi người nói gì hoặc nghĩ gì về trải nghiệm của người tỵ nạn Việt Nam?

Thế hệ tương lai nên học hỏi gì từ kinh nghiệm của các ‘thuyền nhân’ và ‘bộ nhân’?

Thế giới nghĩ gì về hai cuộc di cư lớn mà người Việt Nam đã phải trải qua vì chủ nghĩa cộng sản?

Cuộc di cư thứ hai là một quá khứ đau thương đối với hàng triệu người Việt Nam và là một lời nhắc nhở rằng chúng ta không nên lặp lại lịch sử đó! Chúng ta đừng quên những hy sinh to lớn mà thế hệ người tỵ nạn Việt Nam trước đó đã gánh chịu để mang lại đời sống tự do và dân chủ cho các thế hệ sau. Mục tiêu của Bảo tàng Di sản Việt Nam là giúp thu thập – lưu trữ lịch sử người Việt tỵ nạn và bảo tồn Di sản Thuyền nhân Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:

  • – Tài liệu tham khảo 1: Trung tâm VN và Bộ phận lưu trữ Sam Johnson Người Mỹ gốc Việt.
  • – Tài liệu tham khảo 2: Kho lưu trữ của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ – Thông báo chung của Hoa Kỳ – Việt Nam về chương trình định cư nhân đạo. Văn phòng Người phát ngôn ngày 15 tháng 11 năm 2005. Văn phòng Người phát ngôn ngày 15 tháng 11 năm 2005.(VN Hẻitage Múeum)



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 
CSBK Thừa lệnh Bắc Kinh CSHN đuổi hết người miền Nam phe thân Tây Phương quyết tâm phục lụy TQ để được vinh thân
Hỏa hoạn tại trung tâm thương mại có nhiều tiểu thương Việt Ba Lan phải chăng do ky thị?
Việt Nam thuộc nhóm 3 nước giam giữ nhiều người viết nhất thế giới
VN gia nhập BRICS trong năm nay
Nhận được tin vui viện trợ Mỹ được Hạ Viện chấp thuận, quân Ukraine tổng phản công đánh bom tàu ​​cứu hộ lâu đời của Nga ở Crimea
Bí mật 30-4 chưa bao giờ tiết lộ : Quân đội Mỹ và VNCH suýt bắn nhau tan nát vào giờ chót Vì Bị Bỏ Rơi
Viết về ngày Quốc Hận, 30-4-1975
Không khiếp nhược như CSVN,Philippines 'thách' Trung Quốc ra tòa quốc tế
Ukraine trước nguy cơ bị đảng Cộng Hòa của Trump bỏ rơi như VNCH thời TT Ford!
Nhiều nước thế giới cấm công dân miền Bắc CHXHCNVN nhập cảnh!
Tưởng niệm tháng tư 75
Nhân dân Pakistan chống Tàu cứu nước: Tấn công tự sát nhằm vào nhóm kỹ sư Trung Quốc, 6 người thiệt mạng
CSBK chứng tỏ tình yêu đối với Nga: đội mưa hiến máu cứu người - Phú Trọng tha thiết mời Putin thăm VN bảo đảm không bị bắt
Bấc Công Diệt Nam Cộng thu hết giang san vào tay BK độc quyền trị quốc bình thiên hạ
CHXHCNVN: Vô địch thế giới sinh viên đại học làm kinh tế: mãi dâm 4 lần được cho học

     Đọc nhiều nhất 
Không khiếp nhược như CSVN,Philippines 'thách' Trung Quốc ra tòa quốc tế [Đã đọc: 920 lần]
CSBK chứng tỏ tình yêu đối với Nga: đội mưa hiến máu cứu người - Phú Trọng tha thiết mời Putin thăm VN bảo đảm không bị bắt [Đã đọc: 895 lần]
Nhân dân Pakistan chống Tàu cứu nước: Tấn công tự sát nhằm vào nhóm kỹ sư Trung Quốc, 6 người thiệt mạng [Đã đọc: 811 lần]
Tưởng niệm tháng tư 75 [Đã đọc: 711 lần]
Nhiều nước thế giới cấm công dân miền Bắc CHXHCNVN nhập cảnh! [Đã đọc: 704 lần]
Viết về ngày Quốc Hận, 30-4-1975 [Đã đọc: 683 lần]
Ukraine trước nguy cơ bị đảng Cộng Hòa của Trump bỏ rơi như VNCH thời TT Ford! [Đã đọc: 678 lần]
Nhận được tin vui viện trợ Mỹ được Hạ Viện chấp thuận, quân Ukraine tổng phản công đánh bom tàu ​​cứu hộ lâu đời của Nga ở Crimea [Đã đọc: 463 lần]
Bí mật 30-4 chưa bao giờ tiết lộ : Quân đội Mỹ và VNCH suýt bắn nhau tan nát vào giờ chót Vì Bị Bỏ Rơi [Đã đọc: 384 lần]
Việt Nam thuộc nhóm 3 nước giam giữ nhiều người viết nhất thế giới [Đã đọc: 192 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.