Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Sáu 2019
T2T3T4T5T6T7CN
          1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 9
 Lượt truy cập: 13229915

 
Bản sắc Việt 24.06.2019 05:26
SỐ PHẬN CỦA MỘT KẺ PHẢN BỘI.
22.03.2019 14:51

 Tục ngữ Việt Nam có câu:   
“Đời xưa quả báo thì chầy,            Đời nay quả báo một giây nhãn tiền”     
Luật nhân quả ứng thời bao ức kiếp.      Ác hay Lành duyên khởi lúc gieo nhân.          (Gieo gió gặt bão. Gieo nhân nào gặp quả ấy!) 
Mai Tú Ân 

Số phận của một kẻ phản bội

Image result for phi công nguyễn thành trung phản bội vnch

 VNCH đã đối xử rất nhân đạo với Đinh Khắc Chung tức Nguyễn Thành Trung ngay cả sau khi ông ta ném bom Dinh Độc Lập. Nhưng ông trời thì không nhân đạo như thế. Ông trời đã bắt Trung trả giá bằng luật nhân quả. 
Sau đây trả là phỏng vấn của Nguyễn Thành Trung sau khi ném bom Dinh Độc Lập: 
 
- "Trước khi ném bom dinh Độc Lập ngày 8.4.1975, lãnh đạo đề nghị đưa vợ con tôi ra vùng 'giải phóng' để tôi yên tâm làm nhiệm vụ. Nhưng lúc đó, tôi bị nghi kỵ nhiều, nguy cơ bị lộ rất cao nên chuyện đó là không thể. An ninh quân đội theo sát gia đình tôi từng giờ, nếu vợ con tôi vắng nhà không rõ lý do thì tôi sẽ bị bắt ngay tức khắc. Cũng có thể trên đường ra vùng giải phóng, vợ con tôi cũng sẽ bị bắt, tình thế đó sẽ nghiêm trọng hơn. Rất lo lắng cho tính mạng vợ con, nhưng việc mà tôi đã tính trước 10 năm đến thời điểm này là không thể dừng. Mặt khác, thời gian sống trong đội ngũ không lực Sài Gòn cho tôi một niềm tin rằng vợ tôi, một người phụ nữ không liên quan gì đến công việc của tôi, con tôi còn quá nhỏ (đứa lớn mới 5 tuổi, đứa nhỏ chưa tròn năm) sẽ không bị đối xử một cách tàn nhẫn. 
 
Thực tế diễn ra đúng như tôi dự đoán. Cánh an ninh không quân đưa xe đến nhà bắt vợ con tôi. Vợ tôi phản đối vì mình không biết gì về công việc của chồng. Họ từ tốn: “Thưa bà, chúng tôi không bắt bà (nếu bắt chúng tôi đã dùng còng số 8, trói bà chẳng hạn), chúng tôi tới đây mời bà vào phòng an ninh sư đoàn, với trách nhiệm bảo vệ sự an toàn tính mạng của bà và các con bà. Nếu bà có tài sản quý giá nào thì bà cứ mang theo”. Một tuần sau vợ và con tôi bị đưa từ Biên Hòa về số 4 Nguyễn Bỉnh Khiêm - Sài Gòn cho đến ngày 30.4.1975. Đương nhiên, họ vẫn điều tra vợ tôi về những gì liên quan đến tôi, nhưng không bị đối xử vô nhân đạo. Có thể đó là những người có học và biết cách ứng xử một cách văn hóa với người thân của kẻ thù. Trong thời gian vợ tôi bị giam ở số 4 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trung Tướng Tư Lệnh Không Quân Trần Văn Minh đến thăm với tư cách người chỉ huy có một người lính phản chiến. Ông ấy hỏi vợ tôi có cần bạn bè, người thân đến chuyện trò gì không hay cần mua sắm gì thì ông sẽ giúp đỡ." 
 
Luật Nhân Quả dành cho kẻ phản bội Nguyễn Thành Trung... 
 
Đã một năm rồi, Nguyễn Thành Danh, sinh năm 1977 con trai của phi công nổi tiếng Nguyễn Thành Trung đã treo cổ tự tử chết vì những lý do không ai biết. Thật đáng tiếc vì anh này cũng là một phi công, vừa lập gia đình và có một con nhỏ. 
 
"Lá vàng khóc hận lá xanh rời cành". 
 
Bầu trời trong xanh bỗng như sụp đổ. Đau lòng lắm khi tương lai của Nguyễn Thành Danh cũng sụp đổ. Nhưng tại sao anh lại bị ông Trời kêu tên khi tuổi đời còn quá trẻ. 
 
Than ôi. Chỉ vì cái tên anh đã gắn với cái tên mà không mấy người Việt Nam không biết. Anh chính là con trai của phi công Nguyễn Thành Trung. Chỉ vì cùng tên tuổi và cùng tình ruột thịt máu mủ với người cha độc ác trên mà ông Trời đã gọi tên? Người thì tin điều này, người thì không nhưng nếu nói về luật nhân quả thì trăm phần trăm đều tin rằng Nguyễn Thành Danh đang trả nợ cho cha anh, Nguyễn Thành Trung. Và việc anh treo cổ, tìm đến cái chết cũng chính là chịu không nổi áp lực khi nhìn thấy đống nợ cha mình để lại nó lớn đến nhường nào. 
 
Cha của anh, phi công Nguyễn Thành Trung, "Kẻ Phản Bội Thành Đạt" thì chẳng qua là một sĩ quan quân lực VNCH, phản chủ khi thấy con thuyền VNCH sắp đắm. Anh ta có thể lái máy bay bỏ trốn đi nhưng là một tay cơ hội sư tổ, anh ta đã lái máy bay ném bom vào Dinh Độc Lập để lấy điểm rồi bay sang đầu hàng quân miền Bắc. Cũng may mắn cho anh ta là quân đội miền Bắc đang cần một hướng dẫn viên lái máy bay A.37 ở phi trường Phan Rang đã bị chiếm. Rồi anh ta tham gia cuộc chơi của một kẻ phản bội tầm cỡ. Với tầm cỡ như thế thì anh ta xứng đáng được tặng thưởng nhưng không lẽ tặng thưởng anh hùng cho một tên phản chủ. Thế là các nhà tạo tác lịch sử Đảng vào cuộc và biến gia đình anh ta thành một thứ Cách Mạng (VC) ba đời. Còn anh ta thì thành một thứ tình báo chiến lược, cài cắm sang cả Mỹ... 
 
Nhưng rồi do một sự nhầm lẫn lịch sử, một sự trớ trêu của ông Tạo Hóa sáng nắng chiều mưa, hay một thời ngáo đá của cả họ nhà ông Trời mà Nguyễn Thành Trung đứng vững trước cú phản có một không hai đó và cứ phơi phới đi lên. Trong khi đáng ra anh ta phải chết vài lần, ở tù 1,000 năm và học tập cải tạo 10,000 năm thì mới xứng đáng với những gì anh ta đã làm. Trong thời gian hơn 40 năm thì anh ta đã được phong làm Anh Hùng, rồi lái máy bay chuyên cơ cho thủ tướng lúc đó là ông Phan Văn Khải, rồi tiếp đó là lái máy bay riêng cho tay tỷ phú Đoàn Nguyên Đức, Hoàng Anh Gia Lai mà chẳng hề gặp tai nạn nào như rơi máy bay chẳng hạn. Rồi cứ thế đi lên. Mấy chục năm nay ông ta đã sống sung sướng tột đỉnh như bay mãi trên bầu trời... 
 
Nhưng không lẽ không còn Trời, Đất hay đạo đức nữa hay sao mà ông ta cứ sống mãi trong một sự nghiệp không phải dành cho một kẻ phản bội được. Và đến tận bây giờ thì Luật pháp của trời đất đã được thực hiện qua cái chết của con trai ông ta. Và mới chỉ bắt đầu. 
 
Giờ đây thì Trời bắt ông ta phải sống để nhìn thấy tất cả những thứ ông gây dựng sụp đổ. Đầu tiên là đứa con trai yêu quí, và chắc chắn không phải tai họa cuối cùng đến với ông ta. Ông ta phải nhìn, ông phải sống để cho người dân chúng tôi nhìn thấy để biết rằng vẫn có thứ Luật còn cao hơn Luật Pháp. Đó là Luật Nhân Quả. 
 
Đời Cha ăn mặn đời con khát nước. Chính ông đã gây nên tội ác trong quá khứ thì giờ đây ông phải sống trong sự phán xét, sự khinh bỉ của người dân chúng tôi cho đến muôn đời. Nếu ai đó còn có chút suy nghĩ tích cực về phi công Nguyễn Thành Trung thì hãy nghĩ thêm về những người VNCH đã điêu đứng như thế nào khi bị ông Trung này phản bội. Đó là luật Nhân Quả, rõ ràng và không thể trốn đi đâu được. Người viết bài này (MTA) không liên quan đến VNCH mà cũng đau nhói, uất ức khi cứ vẩn vơ cái suy nghĩ rằng, một quốc gia đang sống chết trong cơn sụp đổ cuối cùng mà lại bị một thành viên ưu tú trong đó đạp đổ cho chết luôn. 
 
Đừng trách ai đao kiếm vô tình khi mình súc sanh! 
 
Bởi sự phản bội là không thể tha thứ, muôn đời không tha thứ.
 
Mai Tú Ân


Bài viết đặc biệt của một Phi công QLVNCH, xin cống hiến độc giả CLHN để rõ những dối trá, bịa đặt của tên CS nằm vùng Nguyễn Thành Trung. Bài viết của một người cùng ngành, cùng thời đã chỉ rõ và minh chứng tội ác, sự bịp bợm, những gian trá xảo quyệt của tên CS Nguyễn Thành Trung.

Nhận xét về những lời nói của tên phản quốc Nguyễn Thành Trung do phóng viên Báo Chính Luận phỏng vấn

F5 Long Ly 538

Tôi nhận được email của Thanh Huynh trong đó có đăng bài phỏng vấn Nguyễn Thành Trung do phóng viên báo Chính Luận (tại VN) thực hiện. Nhiều người đọc  bài phỏng vấn này thấy Nguyễn Thành Trung trả lời  rất bình thường, gọn ghẽ, mới đọc qua tưởng như Nguyễn Thành Trung cởi mở tâm tư chân thật của mình, của một người đã từng sống trong hai chế độ, của một tên cộng sản nằm vùng trong Không Quân Việt Nam Cộng Hòa.

TT.NVT.CS.noi

Chúng ta rất khâm phục và đồng ý với câu nói bất hủ của Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Đó là “Đừng nghe những gì cộng sản nói, hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm”.  Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu muốn nói đến  bản chất dối trá, lừa bịp, phản bội của cộng sản.Nguyễn Thành Trung  (N.T. Trung) là một tên cộng sản nên ông ta cũng có những bản chất dối trá như bất cứ tên cộng sản nào. Bài phỏng vấn N.T. Trung đã chứng tỏ điều đó, rất nhiều dối trá, láo khoét thậm chí còn bịa đặt từ không ra có mà có lẽ chỉ những người cùng ngành, cùng thời với NT Trung mới biết được.

Tôi sẽ phân tích một số những câu trả lời của NT Trung để thấy những điều nói dối, bịa đăt, dựng chuyện, phét lác của NT Trung trong cuộc phỏng vấn này.

NT Trung nói: “Đối với cá nhân tôi, ngày 8.4.1975 là một bước nghoặt lịch sử quan  trọng nhất trong cuộc đời. Lái chiếc máy bay F-5E ném hai trái bom xuống Dinh Độc lập, sau đó quay lại dùng súng phóng lựu vào kho xăng nhà bè là hành động mà tôi ấp ủ trong một quá trình dài, ngay từ thời trai trẻ  NTTrung nói dùng súng phóng lựu vào kho xăng Nhà Bè, máy bay F-5 không có súng phóng lựu. Còn ném bom Dinh Độc Lập  NT Trung đã ấp ủ từ thời trai trẻ điều này chứng tỏ NT Trung nói phét. Khi còn trẻ làm sao biết được sau này sẽ trở thành phi công? Khi vào Không Quân, ai biết mình sẽ lái loại phi cơ nào ?  Nếu như NTTrung lái L-19 hay trực thăng thì bom đâu mà ném xuống Dinh Dộc Lập.?Còn kế hoạch ném bom xuống Dinh Độc Lập là do bọn cộng sản  chỉ đạo, tuyệt mật, chẳng bao giờ cho NT Trung biết trước để rồi NT Trung ấp ủ từ thời trai trẻ. Còn NT Trung bị giam bay 6 tháng, nếu như thời gian giam bay kéo dài cho đến  sau ngày 30-4-1975  thì NT Trung làm gì có cơ hội ném bom như  đã ấp ủ từ thời trai trẻ. Ôi, quá phét lác.

NT Trung nói: ”Đối với tôi chấm dứt chiến tranh để người Việt Nam không còn đổ máu là một việc phải làm  Dĩ nhiên chẳng ai muốn  chiến tranh, nhưng ai đã tạo ra cuộc chiến tàn bạo, đẫm máu? Ai đem quân xâm lược Việt Nam Cộng Hòa? Điều mà cả thế giới và ai cũng biết thủ phạm là cộng sản Việt Nam.Trong chiến tranh tàn khốc nhưng không ai bỏ Nước ra đi, chấm dứt chiến tranh, hiểm họa ập đến, với những chính sách trả thù tàn bạo của CSVN đã làm cho dân chúng sợ hãi, hàng triệu người tìm đủ mọi cách chạy thoát khỏi Việt Nam, Hàng trăm ngàn Quân Dân Cán Chính VNCH bị tù trong các trại tập trung  được dựng vội vàng trên khắp mọi miền đất Nước. Đảng chủ trương đánh tư sản mại bản nhưng thực chất là cướp của giết người, vơ vét bỏ túi và cố tình đánh xập nền kinh tế tốt đẹp vững chắc của miền Nam Việt Nam để san bằng, đấu tranh giai cấp. Chấm dứt chiến tranh rồi mà khoảng nửa triệu người dân chết trên biển cả. người dân phải chịu những cảnh chia ly, tan nát gia đình, đó là chủ trương của Bộ Nội Vụ 2 tổ chức vượt biên để giết dân, tịch thu tài sản làm giàu hoặc bắt lại, cho người mối lái lấy tiền chuộc. Càng ngày cuộc sống ngày càng khốn khó, thậm chí chết đói. Như vậy NT Trung nói chấm dứt chiến tranh là việc phải làm để CSVN nhuộm đỏ toàn quốc, biến Việt Nam thành địa ngục trần gian ,người dân bị cướp mất quyền sống, mất tự do, mất quyền làm người, mất tài sản, điêu linh, khốn khó, lòng dân oán thù chế độ. NT Trung chắc thỏa mãn, hãnh diện  khi thấy miền Nam Việt Nam trước đây  tự do nay trở thành nô lệ, bần cùng.???

NT Trung nói “Tôi âm thầm hạ cánh ở cự ly gần 1.000 mét (trong khi F-5 phải đáp trên đường băng dài tối thiểu 3.000 mét ) đến độ hư hại hai máy bay và phải chịu kỷ luật hạ lương , giáng chức, suýt nữa là bị lộ ở sân bay Biên Hòa. Câu này chứng tỏ N.T Trung lại một lần nữa nói phét, nói láo. Đã biết rằng cần đường băng dài tối thiểu là 3.000 mét dài  mà cố đáp đứng lại gần 1.000 mét, đó là điều hoang tưởng. Phi cơ F-5 không bao giờ đáp trên phi đạo và đứng lại trong khảng 1.000 mét, , lý do khi đáp với tốc độ quá nhanh nên phải cần phi đạo 3.000 mét. Phi cơ F-5 đáp với tốc độ 155 Knots (một knot là một hải lý tương đương 1 Km 8 )như vậy vận tốc khi bánh chạm phi đạo là 279 Km, nếu hạ bánh mũi xuống rồi đạp thắng ngay bánh máy bay sẽ bị nổ vì sức ma sát quá mạnh, tai nạn xảy ra ngay. Còn dùng dù đuôi để đứng lại thì chỉ bung dù khi nào vận tốc phi cơ chạy trên phi đạo dưới 120 knots ( 216 Km). Nếu bung dù đuôi trên 120 Knots thì dù sẽ bị đứt. Do đó để giảm tốc độ từ 155 Knots xuống 120 knots ( 279 Km-216Km) cần ít nhất một đoạn phi đạo 1.500 đến 2000 mét.

NT Trung nói” đến độ hư hại hai máy bay và phải chịu kỷ luật hạ lương, giáng chức, suýt nữa bị lộ ở sân bay Biên Hòa”.  Điều này hoàn toàn bịa đặt. NT Trung không phải đáp làm hư hại máy bay mà làm rớt hai chiếc máy bay vì đụng nhau  khi bay huấn luyện. NT Trung không bị giáng chức, hạ lương mà chỉ bị phạt giam 6 tháng không được lái máy bay vì thiếu khả năng .Theo sự suy nghĩ và kinh nghiệm của tôi khi máy bay bay nhập vào thành hợp đoàn rất dễ dàng và rất it khi xảy ra tai nạn.Thiếu úy Nguyễn Thăng Long học bay phản lực cơ T-37 , T38 ở Hoa Kỳ và đã tốt nghiệp, do đó Long đã bay hợp đoàn khá vững rồi. Về Việt Nam học lái F-5 bay huấn luyện hợp đoàn với NT Trung, cất cánh lên,  NT Trung nói Nguyễn Thăng Long bay xáp vào hợp đoàn nhanh quá nên  đụng vào phi cơ của NT Trung??? Khi biết tin, tôi nghĩ nếu như đụng nhau như vậy thì NT Trung cũng không kịp nhảy dù, cả hai bị rơi . Thiếu úy Nguyễn Thăng Long chết tan xác, NT Trung nhảy dù được nên sống sót, đó là một câu hỏi lớn???? Theo sự suy nghĩ của tôi, lúc ấy - năm 1974 - tại phi trường Biên Hòa thường vẫn cất cánh ở phi đạo 30. Khi lên sẽ quẹo phải, trong lúc quẹo phải sẽ thay đổi tần số vô truyến để liên lạc với Đài Kiểm Báo Paris ở phi trường Tân Sân Nhất. Những phi công dày dạn kinh nghiệm, khi đổi tần số không cần nhìn vào máy vô tuyến trong phòng lái hoặc có đổi sẽ đổi từng số  một trong khi mắt vẫn nhìn theo chiếc số 1, không để mất dấu (NT Trung là Leader bay chiếc số 1, Nguyễn Thăng Long là Wing man bay chiếc số 2) Có lẽ Nguyễn Thăng Long còn quá mới nên khi đổi tần số, phải nhìn  vào trong phòng lái, NT Trung đang bay ở phía trước cúp tay ga, Nếu Long thấy máy bay của Trung bay chậm lại, Long sẽ cúp tay ga bay chậm lại vì số hai lúc nào cũng bay theo chiếc số 1. Còn như Long không thấy không biết cứ nhìn về phía  trước tìm chiếc số 1 trong khi NT Trung đã bay chậm lại,  chiếc số 1 không còn ở trước mặt mà đã bay tụt về phía  sau của chiếc số 2. Lúc đó, NT Trung bay sát vào sau đuôi và bắn đại bác vào phi cơ của NT Long rồi Trung nhảy dù phi tang.Thời điểm đó tôi đã nghĩ như thế nhưng vẫn không dám xác quyết vì chúng tôi tin nhau, chẳng bao giờ nghi ngờ. Sau khi  NT Trung ném bom Dinh Độc Lập, lúc ấy tôi mới nghĩ mình đúng vì NT Trung là một tên CS nằm vùng đã tìm cách giết Nguyễn Thăng Long và làm rớt hai máy bay F-5.

Trong thời gian giam bay, lại điều NT Trung về làm việc ở Phòng Hành Quân của Không Đoàn 63 Chiến Thuật (Không Đoàn 63 gồm có 5 phi đoàn F-5). Trong vị trí này, NT Trung  đã bí mật làm vô hiệu hóa phi trường Biên Hòa. Trong cuốn sách “ Đại Thắng Mùa Xuân” của Văn Tiến Dũng, một tên Đại Tướng cộng sản đã viết như sau, nguyên văn: “Đồng chí Nguyễn Thành Trung đã cố vấn cho Cách Mạng, muốn vô hiệu hóa phi trường Biên Hòa chỉ cần  một giờ pháo kíck một  lần”.  Khi Phòng Hành Quân Chiến Cuộc của Sư Đoàn 3 Không Quân chuyển lệnh hành quân xuống Không Đoàn 63 để Không Đoàn điều động máy bay cất cánh yểm trợ mặt trận, NT Trung biết vì làm việc ở phòng hành quân, sau đó bí mật liên lạc với việt cộng chuẩn bị pháo kích. Vào thời điểm đó, nhiều lần các phi cơ F-5 chạy ra phi đạo chuẩn bị cất cánh thì phi trường bị pháo kích, các phi cơ F-5 lại vội vàng chạy về ụ đậu vì phi trường bị đóng cửa, cho máy bay trực thăng đi lùng các ổ pháo kích, sau khi đã   giải tỏa, phi trường mở cửa trở lại để phi cơ lên xuống đi hành quân nhưng  chưa kịp cất cánh thì lại bị pháo nữa. Hậu quả thật tai hại, Không Đoàn 63 Chiến Thuật ở Biên Hòa, có gần 100 phi cơ F-5 nhưng đã không cất  cánh được nhiều để yểm trợ cho mặt trận đang lúc phải chiến đấu quyết liệt để chận đứng  đường tiến quân của cộng sản. Không hiểu sao an ninh Không Quân lúc đó điều tra, theo dõi NT Trung hay không mà  để cho hắn lộng hành như vậy?

Khi còn ở Việt Nam, vào dịp 30-4, công sản chiếu trên đài truyền hình phim tài liệu về NT Trung  sau khi ném bom vào Dinh Độc Lập, NT Trung đáp xuống phi trường Phước Long mà cộng sản mới chiếm được. Khi đáp xuống, phi cơ chạy trên phi đạo bụi tung bay mù mịt, nếu hôm đó dù đuôi của máy bay không bung thì NT Trung sẽ bị thương hoặc chết vì phi cơ đã chạy hết phi đạo mới đứng lại được. Khi NT Trung nhảy ra khỏi máy bay đã có sẵn một số việt cộng nhào ra bế NT Trung chạy vội vào rừng.

Nhà báo hỏi: Các đồng nghiệp của ông nói gì về hành động của ông? (ném bom Dinh Độc lập).

NT Trung trả lời: Ngay lúc đó tôi không biết họ nói gì nhưng sau này nhiều người cho tôi là hành động hơi dại dột, bởi trước mắt tôi là hợp đồng với phía Mỹ, sẵn sang bảo lãnh vợ con tôi sang sống ở Mỹ với điều kiện tốt đẹp nhất”.   NT Trung lai dối trá  dựng chuyện. Những phi công F-5 của Không Quân VNCH đại đa số đã bay qua Thái Lan, số kẹt lại rất ít và đã bị tống vào trai tập trung thì có ai mà tiếp xúc với Trung mà nói nhiều người nói ông ta hành động hơi dại dột? Còn nói có một hợp đồng với PHÍA MỸ. Hai chữ PHÍA Mỹ chứng tỏ NT Trung đứng về phía cộng sản, với tư cách là một tên cộng sản đứng ở phía khác, phía đối nghịch. Chúng ta trước đây  thường nói hợp tác với Mỹ, nhận viện trợ của Mỹ, chiến đấu bên cạnh người Mỹ chứ chẳng bao giờ nói Phía Mỹ, chỉ có những người xem Mỹ là “kẻ thù đời đời của nhân dân ta” mới nói như vậy. Đã xem Mỹ như kẻ thù thì lấy lý do gì mà Mỹ bảo lãnh vợ con sang sống ở Mỹ với điều kiện tốt nhất. Chính Phủ Mỹ chẳng “bảo Lãnh” cho ai mà chỉ có chấp thuận cho vào Nước Mỹ hay không mà thôi và có lẽ chỉ một NT Trung có hợp đồng với Mỹ, còn chúng ta chẳng có gì cả. Ôi càng nói dối, nói láo nhiều càng lòi cái ngu dốt của mình, của một tên cộng sản  là con cháu của những con Vượn đang nhảy nhót ở trong rừng.

N.T.Trung nói :”Trong thời gian vợ tôi bị giam ở số 4 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trung Tướng Không Quân Trần Văn Minh đến thăm với tư cách người chỉ huy có một người lính phản chiến. Ông ấy hỏi vợ tôi có cần bạn bè, người thân đến truyện trò gì không hay cần mua sắm gì thì ông sẽ giúp đỡNhững lời nói trên đây hoàn toàn bịa đặt.  N.T.Trung đâu biết ngay sau khi Dinh Độc Lập bị ném bom, Trung Tướng Trần Văn Minh đã phải lên đài phát thanh đọc bản minh xác  xác nhận việc ném bom này là của cá nhân chứ không phải chủ trương của Không Quân VNCH để tránh sự nghi ngờ của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và chính phủ là Không Quân chủ mưu. Hay nói cách khác, lúc đó Trung Tướng Trần Văn Minh như ngồi trên đống lửa, chưa biết được ý định của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu thì có khi nào dám đến  thăm vợ của N.T.Trung mà còn có ý tận tình giúp đỡ? Tầm vóc của một vị Tướng Tư Lệnh  chẳng bao giờ làm những việc nhỏ nhen như vậy. An Ninh Quân Đội lúc đó chắc chắn sẽ theo dõi từng bước, từng hành động của Tướng Trần Văn Minh. Lời nói trên của N.T.Trung rất thâm hiểm và có dụng ý để chúng ta, những người Quốc Gia hiểu lầm Trung Tướng T.V. Minh có liên quan đến vụ ném bom này hay cùng “đồng chí” với N T Trung  nên mới ngang nhiên đến thăm và an ủi, hứa giúp đỡ vợ của mình. Đây là bản chất của cộng sản, dối trá dựng truyện  cố ý bôi nhọ danh dự của người khác để trục lợi cho mình cho dù cuộc ném bom đã xảy ra cách nay 38 năm.

N.T.Trung nói khi bay thử F-5 của chúng ta để lại tại phi trường Biên Hòa :” Khi sửa xong, tôi là người bay thử. Phi công bay thử của người ta điều kiện bảo hiểm ngặt nghèo lắm, còn tôi thì như con thiêu thân. Gần 50 lần bay như thế, tôi luôn sẵn sang tình huống nhảy dù khẩn cấp bởi máy bay có thể hư bất cứ lúc nào. Mỗi lần bay nhiên liệu chỉ cung cấp đủ phân nửa cơ số….” Câu nói này chứng tỏ cộng sản vẫn không tin tưởng hoàn toàn N.T Trung nên khi bay thử chỉ đổ ít nhiên liệu, sợ biết đâu Trung đổi ý bay qua Thái lan tỵ nạn khi thấy những sinh hoạt của không quân việt cộng khác hẳn với VNCH mà N.T. Trung đã từng trải qua. Còn Trung huấn luyện cả một phi đội, bay thành thục F-5 để thành lập trung đoàn không quân 935. Sở dĩ Trung tập cho việt cộng lái máy bay F-5 là do một phi công F-5 của chúng ta trợ giúp.Người này ngày 29-4-1975 bay qua Thái Lan, nửa đường đổi ý bay về đáp xuống phi Trường Tân sân Nhất, không đi tỵ nạn. Chính vì vậy, sau này cộng sản mới đi tìm tại các trại cải tạo và đưa vào phi trường Biên Hòa tập cho N.T. Trung  lái ghế sau trên chiếc máy bay F-5B. Sau khi đáp được ghế sau, Trung huấn luyện cho cộng sản lái F-5 . Lúc đó cộng sản không cần nữa nên mới nói với người phi công của VNCH là chúng tôi không có quyền cho anh về, gần đây có trại cải tạo – Trại Suối Máu --  chúng tôi đưa anh ra đấy , trại sẽ cấp giấy cho anh về. Khi ra trại, chẳng thấy được về mà còn ở tù hơn 5 năm. Đúng là bị cộng sản lừa bịp trắng trợn. Tôi biết truyện này khi chuyển về trại Suối Máu tháng 9 năm 1977, anh Trần Lưu Ý kể cho tôi nghe và cho biết người phi công ấy cũng ở K3 nhưng mới chuyển trại.

Nhân đây tôi xin được viết ra ngoài lề một một vấn đề khác trước khi tiếp tục nhận xét về những lời nói láo khoét, bịa đặt của N.T Trung về vụ Hoàng Sa.

Năm 1990, lúc đó tôi ở Biên Hòa, thỉnh thoảng thấy máy bay Mig 21 cất cánh bay ồn ào trên bầu trời. Tình cờ đọc một bài phỏng vấn của báo Sài Gòn Giải Phóng trong đó nhà báo phỏng vấn những tên lái máy bay Mig21. Dĩ nhiên báo chí cộng sản chẳng bao giờ dám nói những cái xấu của cộng sản nhưng đây có lẽ là những sinh hoạt bình thường nên họ đã đăng công khai. Khi so sánh với những sinh hoạt  hay cuộc sống của những phi công VNCH mới thấy được sự dã man và tàn bạo mà những tên lái máy bay của cộng sản phải gánh chịu

Nhà báo hỏi một tên Trung Tá, 43 tuổi, chỉ huy phi đội  Mig 21 là anh có gia đình chưa?

 Ông này trả lời :- Tôi đã có gia đình và một đứa con.

-Thế vợ ông làm việc gì và ở đâu?

-Vợ  tôi là cô giáo cũng ở trong phi trường này trong một căn phòng nho nhỏ.

Nhà báo nói: Thế thì anh hạnh phúc quá, chẳng phải đi xa, gặp vợ con hàng ngày.

Tên Trung tá lắc đầu, vẻ mặt không vui nói: - Đâu có được như vậy, tôi chỉ được phép mỗi tuần vào tối thứ tư về với vợ con, còn lúc nào cũng phải ở trong này. !!!!!

Sau đó nhà báo phỏng vấn một tên lái máy bay Mig21 khác, 27 tuổi, cấp bậc Thượng Úy.

Anh có gia đình chưa?

-Tôi chưa có.

Sau khi hỏi thêm nhiều điều về lái máy bay, nhà báo hỏi : - Ước mơ lớn nhất của đời anh lúc này là cái gì?

Tên lái máy bay trả lời :- Ước mơ lớn nhất của đời tôi lúc này là được làm người  kéo màn của một gánh hát.!!!!

Nhà báo ngạc nhiên nói:- Tôi tưởng anh ước mơ sẽ được thăng cấp, trong tương lai được đi Liên Xô học loại máy bay tiềm kích khác, sao anh lại ước mơ quá tầm thường như vậy?

Thượng úy Mig21 trả lời: - Đó là ước mơ thật sự của đời tôi, vì khi giữ chân kéo màn của một gánh hát tôi mới có dịp để được thấy đàn bà con gái.!!!!

Trong cuốc sách Vùng Trời của CSVN diễn tả cảnh đi thăm chồng của những người vợ có chồng lái máy bay ở miền Bắc trước đây ( trước 30-4-1975). Những tên lái máy bay của CSVN dù đã có vợ nhưng vẫn không được về nhà chung sống với vợ. Mỗi năm, được một hay hai tuần cho vợ lên thăm, gặp chồng ở khu vãng lai và ở với nhau một thời gian ngắn ngủi ấy. Trên đường đến phi trường, mấy bà gồng gánh thức ăn và quần áo để lên thăm chồng, trên đường đi thấy vậy có người hỏi:

 - Mấy chị đi đâu mà gánh nhiều hàng thế?

 Mấy bà trả lời công khai chẳng một chút ngượng ngùng: Chúng tôi đi kiếm giống.

Qua những mẫu truyện trên đây chứng tỏ những người lái máy bay của CSVN đã bị  buộc sống trong đơn vị, không cho gặp gia đình, một cách đối xử không bình thường mà có thể gọi là một hình thức giam hãm kềm kẹp. Những người đó không có tự do và hạnh phúc. N.T. Trung cũng bị như thế, đang sống trong một chế độ dân chủ tự do, bị đảng tuyên truyền  lừa bịp nên tưởng cộng sản là thiên đàng, nay vào tròng cũng phải theo quy định khắt khe của không quân cộng sản, không được tự do sống với vợ con như trước. Một cuộc sống tự nhiên của con người đã bị đảng tước mất. Những con cưng của chế độ, lý lịch ba đời bần cố nông, đoàn viên, đảng viên, những phi công lái máy bay chiến đấu mà còn bị đối xử như vậy thì những người dân thường bị đối xử như nô lệ là điều chúng ta không có gì phải ngạc nhiên.Trong khi đó, những phi công của VNCH được tự do về với gia đình, được tự do kết bạn, dạo phố, ăn uống, vui chơi sau khi đã hoàn thành trách nhiệm của mình tại đơn vị.

N.T. Trung nói về vụ Hoàng Sa. “Đến giờ này tôi vẫn ân hận, tiếc là không được chết vì Hoàng Sa”. Câu này chứng tỏ N.T.Trung là một tên nói láo chuyên nghiệp vì Trung không bao giờ có mặt hay có tên bay trong cuộc hành quân đánh Trung cộng trên đảo Hoang Sa, lý do rất đơn giản là thời gian đó N.T Trung còn đang bị phạt cấm bay.

N.T Trung nói :”Ngày 19-1-1974, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu điều 5 phi đoàn F-5, bốn ở sân bay Biên Hòa, một ở sân bay Đà Nẵng, mỗi phi đoàn có 24 máy bay và 120 phi công ra Đà Nẵng chuẩn bị đi đánh lấy lại Hoàng sa. Mọi người rất phấn khởi, tụi tôi đi ra với tư thế là đi lấy lại một phần lãnh thổ đất Nước. Sĩ quan cấp tá ở các phi doàn 520-Nguyễn Văn Dũng, 536 Đàm Thượng Vũ, 540 Nguyễn Văn Thành, 544 Đặng Văn Quang,538 Nguyễn Văn Giàu đều đã lên kế hoạch tác chiến kỹ lưỡng. 150 phi công thuộc sáu phi đòan F-5 của Không Lực Việt Nam Cộng Hòa khi đó đều ký tên chung vào một lá đơn tình nguyện "Xin được chết vì Hoàng Sa”. Những điều N.T. Trung nói trên Hoàn Toàn Không Bao Giờ Có, hoàn toàn bịa đặt.

Ban đầu Trung nói 5 phi đoàn với 120 phi công đi đánh Hoàng Sa, sau đó lại nói 6 phi đoàn với 150 phi công. Đầu óc tên công sản nằm vùng này chắc chắn đã bị cộng sản đặc biệt nhồi sọ trong 38 năm qua, cố tẩy xóa những gì đã hấp thụ, đã biết khi sống trong một chế độ tự do của VNCH và thời gian du học ở Mỹ thay vào đó là học thuyết Mac – Lenin với với những tư tưởng đấu tranh giai cấp, độc tài, dối trá, lừa bịp, bịa đặt vu khống mà bất cứ tên cộng sản  nào cũng có nên đầu óc mới lú lẫn như vậy do đó dựng truyện không ăn khớp với nhau.Ngay cả tên của các sĩ quan cấp tá mà Trung nêu ra sai cả tên họ.

Sự thật chỉ có phi đoàn 538 được chỉ định đánh Hoàng Sa với  sự tăng cường một số máy bay của phi đoàn 536 ở Biên Hòa bay ra. Cuộc hành quân được chuẩn bị kỹ lưỡng, thuyết trình cách đánh và hệ thống cấp cứu cũng như mục đich của cuộc hành quân đặc biệt này. Khoảng 20 phi cơ F-5 sẽ ném bom xuống Hoàng Sa, đánh chìm tàu của Trung cộng và lính Trung cộng ở trên đảo. Một máy bay RF-5 cất cánh sau cùng để chụp hình  đảo Hoàng Sa sau khi bị ném bom và tôi dám khẳng định, trong cuộc hành quân này không có Nguyễn Thành Trung vì Trung không ở hai phi đoàn đó và đang bị giam bay nên nói về hành quân Hoàng Sa là Hoàn toàn bịa đặt.

Vấn đề ký vào lá đơn tình nguyện “Xin được chết vì Hoàng sa” cũng do đầu óc lú lẫn méo mó của N.T Trung mà ra. Chỉ có cộng sản mới bắt ký tên, Việt Nam Cộng Hòa không bao giờ có. Như chúng tôi, những phi công của phi đoàn 538 đồn trú tại Đà Nẵng là phi đoàn được lệnh chuẩn bị đi đánh Hoàng Sa cũng chẳng có ký một giấy tờ nào cả. Ký tên vào đơn tình nguyện là trò lưu manh của CSVN. Khi tôi ở trại Suối Máu, K5 đầu năm 1978, cộng sản đã bắt tất cả mọi người ký vào thư tình nguyện ở lại học tập vì nó cho là học tập chưa tốt nên chưa được về. Thực ra, cộng sản chuẩn bị trước để tránh sự xôn xao, dao động của người tù vì cộng sản đã công bố chính sách cải tạo 3 năm, nay đã gần 3 năm mà chưa có có hy vọng nào được về. Nếu không ký vào nó sẽ quy cho tội phản động và kiểm điểm. Chúng tôi đã biết còn lâu mới được về nên ký tên  cho xong việc mà thôi.

Cuối năm 1978, bộ đội coi tù bàn giao cho công an để chuẩn bị đi đánh Campuchia. Chúng điều một số tù lên văn phòng dọn dẹp, chúng tôi thấy 2 tờ kiểm điểm của hai tên bộ đội. Một tên về miền Bắc đi phép, khi trở lại mua thuốc phiện vào bán. Một tên khác cấp bậc đại úy, chính trị viên  không dám ký tên tình nguyện đi đánh Campuchia. Điều này chứng tỏ cộng sản  trước những cuộc hành quân hay những công tác nguy hiểm đếu bắt bộ đội ký tên vào thư tình nguyện. Ai ký thì đảng cho là tại người đó tình ngyện chứ đảng không ép buộc, còn không ký sẽ bị kiểm điểm, kỷ luật. Đúng là trò lưu manh mà N.T Tung đã ký nhiều rồi nên lú lẫn cứ tưởng các phi công F-5 đều ký vào đơn tình nguyện.!!!!

N.T Trung nói “Hằng ngày, máy bay RF-5 có nhiệm vụ bay và chụp ảnh các tọa độ  từ nhỏ nhất ở Hoàng sa, xem có thay đổi gì, tàu chiến Trung cộng di chuyển ra sao, bố trí các cụm phòng không như thế nào…đưa về chiếu cho tất cả phi công theo dõi, tụi tôi đếm từng tàu một, thậm chí đếm đếm được cả số ghi trên tàu, chia bản đồ ra làm bốn, mỗi góc tư giao cho một phi đoàn, phi đoàn thứ năm bảo vệ trên không. Họ có 43 tàu tất cả và quyết tâm của tụi tôi là đánh chìm tấ cả 43 tàu đó trong vài giờ “Đây cũng là  hòa toàn bịa đặt  vì khi thuyết trình về hành quân đánh Trung cộng ở đảo Hoàng Sa chúng tôi không có một không ảnh nào và cũng không có máy bay RF-5 nào ra chụp hình Hoàng Sa hằng ngày nên chúng tôi không biết có bao nhiêu tàu của Trung cộng  chung quanh  đảo Hoàng Sa. Đại  Tá Sư Đoàn Phó Sư Đoàn 1 Không Quân cho  biết trên đường bay đến Hoàng Sa, ngoài 100 dặm, thấy tàu nào đánh chìm tàu đó vì Hải Quân của chúng ta đã rút về và những tàu của các nước khác đã được chính phủ thông báo phải ra khỏi vùng biễn chung quanh Đảo Hoàng  Sa, còn lại là tàu của Trung Cộng.

N.T Trung nói :”Về Không Quân, vào thời đểm đó có nhiều lợi thế hơn Trung quốc . Bay từ Đà Nẵng ra Hoàng Sa bằng cự ly từ đảo Hải Nam ra. Uy thế của phi đội tụi tôi là máy bay bay ra, đánh nửa tiếng vẫn thừa dầu bay về , còn Trung quốc chỉ có Mig 21 bay ra đến Hoàng sa thì không đủ dầu bay về. Khí thế phi công lúc đó hừng hực, mấy anh chỉ huy trưởng từ Đại tá trở xuống đòi đi đánh trước. Tất cả háo hức chờ đến giờ G lá xuất kích. Nhưng giờ G ấy đã không đến.  Câu nói này chứng N.T Trung, một người ngoài cuộc, dối trá vẽ vời, tưởng tượng cuộc hành quân đánh Hoàng Sa để tô bóng mình lên nên có rất nhiều sự kiện không phù hợp với thực tế. Chúng tôi đã nghiên cứu đường bay, từ Đà Nẵng đến Hoáng Sa là 200 miles, còn từ Hải Nam đến Hoàng Sa chỉ 150miles như vậy máy bay Trung cộng lợi thế hơn .Máy bay F-5 bay với 3 bình xăng  phụ, hai trái bom, hai hỏa tiễn Sidewinders và 560 viên đạn đại bác 20 ly, bay đến Hoàng Sa ném bom rồi chỉ còn khoảng 10 phút không chiến là phải bay trở về ngay, nếu chần chừ sẽ không đủ xăng về đến  phi trường Đà Nẵng hay Phù Cát. Còn máy bay MIG 21 của Trung cộng bay ra đảo Hoàng Sa thì không đủ dầu về là sai hoàn toàn. Trong lúc đang chuẩn bị cuộc hành quân, Đài Kiểm Báo Panama ở trên núi Sơn Trà cho biết trên không phận Hoàng Sa luôn có hai chiếc máy bay Mig21 bay bao vùng.Hóa ra Trung này chỉ có nói phét, chẳng biết một tí gì về cuộc hành quân đặc biệt này, còn huyênh hoang bịa đặt mấy anh chỉ huy trưởng từ Đại tá trở xuống Đòi đi đánh trước. Thật là ngu đần khi nói như vậy, chẳng có vị cấp tá nào Đòi đi đánh trước cả bởi vì cuộc  hành quân này theo lệnh của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu là chỉ đánh một lần trả đũa và gây tiếng vang chứng tỏ VNCH không chấp nhận bất cứ Quốc Gia nào xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam trái phép và người chỉ huy cuộc hành quân này là Thiếu Tá Hồ Kim Giàu, Phi Đoàn Phó phi đoàn 538 (Thiếu Tá Phạm Đình Anh, Phi Đoàn Trưởng đang tu nghiệp F-5E ở Hoa Kỳ) và nguyên nhân, lý do nào mà cuộc hành quân này đã không thành, N.T. Trung cũng không biết. Sau khi thuyết trình, chúng tôi được lệnh chờ lệnh cất cánh nhưng mãi đến chiều mới được biết cuộc hành quân không thực hiện được vì Mỹ không cho đánh.

Tóm lại, những điều Trung nói liên quan đến Không Quân VNCH và máy bay F-5 đều là dối trá, bịa đặt, hoàn toàn sai, đó là bản chất của tên cộng sản N.T. Trung.  Câu nói của N.T Trung : “ Đến giờ này tôi vẫn ân hận, tiếc là không được chết vì Hoàng sa”  câu này mới đọc thấy N.T Trung có vẻ rất tha thiết  đảo Hoàng Sa, tưởng hắn yêu nước nhiều lắm nhưng thực tế ai là người bán Nước? Năm 1974 khi Trung cộng xâm chiếm Hoàng Sa, chính phủ VNCH đã ra bản tuyên bố tố cáo hành động xâm lược trái phép đảo Hoàng Sa  và chuẩn bị một cuộc hành quân ném bom vào tàu và lính Trung cộng trên đảo. Còn CS VN im lìm không lên tiếng, không phản đối  vì  ngày 14-9-1958 Phạm Văn Đồng đã dâng đảo này cho Trung cộng. N.T Trung chắc biết sự kiện đó, tại sao không dám lên tiếng phản  đối thái độ ươn hèn của CSVN hay rủ những phi công MIG 21  đi đánh Hoàng Sa để rồi có khi đạt được ý nguyện là  chết ở Hoàng sa thì vinh dự hơn, không còn ân hận, tiếc nuối nữa?.Nhưng N.T Trung đã không làm, không dám mà chỉ nói để lùa bip mọi người là tiếc không được chết vì Hoàng Sa.

Công tâm nhận xét, qua sự kiện đảo Hoàng Sa bị Trung cộng chiếm, VNCH phản ứng rất mạnh trong khi CSVN im lìm không dám lên tiếng dù chỉ là một lời phản đối. Sau này, CSVN còn bán đất, bán biển, dâng đất dâng biển cho Trung cộng điều này chứng tỏ hai con người Việt Nam ở hai chế độ, VNCH giữ Nước, CSVN bán Nước và N.T Trung 38 năm qua sống trong chế độ cộng sản, là đảng viên của một đảng bán nước mà chẳng thấy nhục nhã mà còn  tỏ vẻ ân hận vì không được chết vì Hoàng Sa. Tất cả những gì Trung nói đều dối trá, tính dối trá cố hữu của một tên cộng sản, không còn lừa được những người Việt Nam ở hải ngoại cũng như trong Nước.

Còn về lý lịch của NT Trung khoảng năm 2000, báo Sanjose Meccury phỏng vấn, hỏi tại sao NT Trung lại đi theo cộng sản, NT Trung trả lời: Ba tôi bị lính VNCH giết chết, kéo ra ngoài đường bêu xấu nên tôi bất mãn theo cộng sản. Câu trả lời này cũng hoàn toàn bịa đặt. Sự thật, ba NT Trung là một tên du kích ở Bến Tre, năm 1949 bị lính Pháp giết, lúc đó Trung mới hơn một tuổi, họ Đinh, một tên việt cộng khác lấy về nuôi đổi tên lại là Nguyễn Thành Trung. Năm 1949 chưa có lính VNCH, Trung nói vậy để người Mỹ khi đọc bài phỏng vấn sẽ hiểu lầm Lính VNCH của chúng ta thật tàn ác, vô nhân đạo. Tên việt cộng NT Trung đã dựng  lên những tình tiết không có thật để tuyên truyền bôi nhọ người lính VNCH. Chỉ có cộng sản mới dối trá, từ không ra có.!!!!

Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm đó là câu nói bất hủ, vô cùng chính xác về CSVN của Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu mà những người quốc gia cần ghi nhớ mãi mãi để không bị cộng sản dối trá, lừa bịp.

                                                                                                                                                                                                                                                                         F5 Long Ly 538.


Nguyễn Thành Trung Là Ai?Lê Phiếu - Phi công F5/KQ/QLVNCH 

Trong lúc cuộc chiến sắp kết thúc và miền Nam Tự Do, hòa toàn rơi vào tay CS Bắc Việt, thì một phi công F5 của Quân lực VNCH NguyễThành Trung (NTT) đã thả hai quả bom xuống Dinh Độc Lập và sau đó kéo theo những tay trở cờ theo gió như o­n, Aí, Sanh xử dụng phi cơ A37 từ Đà Nẵng không kích xuống phi trường Tân Sơn Nhất (TSN).
Sự kiện này cách đây đã gần 40 năm mà hầu như ai cũng chưa quên, và gần đây báo Thanh niên (trong nước) đã đưa ra một bài viết về sự tiết lộ một bí mật mà NTT đã dấu kín trong suốt 40 năm qua “kế hoạch các phi công F5 không kích nhấn chìm 40 tàu Trung Quốc tái chiếm Hoàng Sa” khiến các độc giả nhất là giới trẻ, thế hệ sau của cả hai miền với bầu nhiệt huyết, lòng yêu nước trung thực và truyền thống chống ngoại xâm của cha ông, nức lòng và nuối tiếc. Các cháu góp ý.. đọc xong các cháu xúc động muốn khóc và thầm oán trách Tổng Thống miền Nam Nguyễn Văn Thiệu lúc đó tại sao không “tiền trảm hậu tấu” bỏ dở kế hoạch nửa chừng, đừng tin vào Mỹ v.v.. Anh hùng phi công huyền thoại NTT còn kết thúc câu chuyện rất tâm lý “… đã để lại cái gánh nặng, nếu không thì thế hệ mai sau đỡ vất vả dường nào v.v..." các cháu đã khóc thật lòng vì quá cảm kích câu nói này. Chính tôi đây cũng muốn khóc vì mình cũng là người trong cuộc, hôm nay đang được các cháu chiêm ngưỡng, nhưng cách đây 39 năm, khi các chiến hữu lần lượt cất cánh, tôi đã tự nguyện từ trên chiếc F5 leo xuống và ở lại, vẫn bị người anh em bên thắng cuộc tù đày đi kinh tế mới khổ sai gần 20 năm… 
Tôi đã khóc không phải vì nuối tiếc cuộc đời mà chỉ tức tưởi không biết nói làm sao cho thế hệ con cháu ngày sau hiểu được dòng lịch sử nghiệt ngã hôm nay của dân tộc mà sự hủ lậu đã thắng nền văn minh, kẻ độc ác đã thắng nhân bản, khoan dung ..Qua bài viết về NTTcủa tờ báo Thanh niên, với tư cách một người đồng môn, đồng khóa 4/69 KQ và thời gian học bay A37 căn cứ England AFB, LA với NTT. Tôi xin góp ý vài nhận xét như sau:
Tôi đã đọc bài viết của Long Ly Hồng Tiễn 538 và gần đây tiếng nói của Th/Tá Hồ kim Giàu phi đoàn trưởng của tôi và chỉ huy trực tiếp kế hoạch không kích trả đũa (không nghe nói tái chiếm) rất chính xác trung thực, tôi còn nhớ anh em dấu cả vợ con người thân, ngồi bên nhau tâm tình tới hơn nửa đêm, Th/Tá Giàu còn nói nửa đùa nửa thật “chúng mình ăn tết trước” (ý nói, ra đi có thể không trở về). Ngay cả vị chỉ huy trực tiếp trận đánh mà kế hoạch cho biết chỉ trước một ngày, vậy mà NTT lúc đó mới Th/U đã nắm kế hoạch bí mật dấu kín suốt 40 năm?? Chỉ có Phi Đoàn Hồng Tiễn 538 đảm trách chọn 10 trong số 18 hoa tiêu cho cuộc không kích, NTT tăng lên năm phi đoàn, đương sự còn nói dối không ngượng miệng “các Đ/T, Tr/T tuyên bố "đánh VC chỉ để đánh chơi thôi ” NTT còn biết được như vậy, còn VC thì sao? Cùng người VN nhưng thà giết lầm hơn bỏ sót, chôn sống hằng ngàn người dân vô tội kể cả học sinh ở Huế. Trung Cộng cưỡng chiếm Hoàng Sa là do ai? Nước Việt Nam Theo đúng nghĩa chỉ tạm thời chia cắt, nhưng cả miền Bắc đứng đầu là Hồ Chí Minh lúc đó.. Trung Cộng đã là quan thầy. Với hai gọng kềm, vừa thù trong, vừa giặc ngoài cấu kết. Miền Nam có thể làm gì được? Nhưng cuộc hải chiến ngắn ngủi đẫm máu vẫn đã xảy ra ngày 19/1/1974 mặc dù không tương quan lực lượng đã làm rúng động lòng người. Th/Tá Ngụy Văn Thà và 70 chiến hữu của Hải Quân VNCH đã tử trận rất bi hùng. Biết sẽ chết vẫn chiến đấu tới cùng! Miền Bắc lúc bấy giờ im lặng nhưng cả miền Nam sôi sục.. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu có lẽ trong giây phút quá kích động đã quyết định trả đủa bằng một trận không kích mạo hiểm F5 (điều kiện và địa hình rất khó khăn chứ không phải như NTT nói phét 100% là thắng) không thành công thì cũng thành nhân, nhưng vào phút cuối, tôi tin rằng Tổng Thống đã hủy bỏ vì không muốn hy sinh thêm nữa xương máu của chiến hữu. Về mặt quốc tế, hình như Mỹ không thể tham dự hay hậu thuẫn trong trường hợp này chứ không phải không muốn can thiệp?
Qua hai bài viết, một là cuộc phỏng vấn của báo Thanh Niên với NTT về kế hoạch phản công của các phi công F5 lúc đó chỉ mới thiếu úy đã tiết lộ những bí mật mà anh hùng phi công huyền thoại NTT đã dấu kín trong suốt 40 năm qua… và bài thứ hai cuộc thảo luận với nhân vật sống Thiếu Tá Hổ Kim Giàu Phi Đoàn Trưởng Hồng Tiễn 538, trực tiếp chỉ huy phi vụ không kích đã lên phương án chu đáo, sẵn sàng cất cánh nếu vào phút cuối kế hoạch không hủy bỏ.. Tôi không thể hiểu nổi với dụng ý gì? Và NTT đã suy nghĩ thế nào? Ai đã đứng sau lưng? Hay đã đến lúc tuổi già lẩm cẩm? Mà đương sự dám dựng lên sự kiện với những chi tiếc láo khoét hết sức lố bịch..
Nguyễn thành Trung thật sự là ai? Một anh hùng phi công huyền thoại hay chỉ là nhân vật thức thời cơ hội? Lúc mới nhập ngũ tại TTHL Quang Trung ngày 1/6/69 Đại Đội 44, Tiểu Đoàn Nguyễn Huệ. Các bạn nào thuộc khóa 4/69KQ hẳn chưa quên danh hiệu “Trung gà tre” do cái dáng đi, kiểu cách ăn nói và khuôn mặt phảng phất nét gian manh của đương sự (ngay cả bây giờ khi ngồi gát chân trên ghế sofa). Hành động của NTT thả đại hai quả bom xuống Dinh Độc Lập đã tác hại cho ai và ảnh hưởng những gì trong lúc cuộc chiến sắp tàn mà phần thắng đã 100% nghiêng về CS miền Bắc? Sau đó còn kéo thêm một số trở cờ theo gió bay A37 dội bom phi cảng TSN trong lúc người dân đang đau khổ chạy loạn. Thử hỏi đó là hành động anh hùng, quân tử hay độc ác dã man? Có cần thiết hay không? Và phi vụ mà NTT đã phản nghịch dội bom Dinh Độc Lập hôm đó không phải chính thức của đương sự trực bay mà đây chỉ là tình cờ, Thiếu Úy Nguyễn Văn Lượm (hiện đang ở Seatlle,WA) từ Sài Gòn lên trể và NTT đã bay thế. Không có sự chuẩn bị trước nào cả, bởi vậy khi về đáp ở Phước Long ban đầu phi cơ vần bị bắn. Lúc còn ở trong trại tù tôi quên mất là năm nào, nhưng tôi đã tâm sự cùng một số bạn tù thân tín, rất tức giận khi học tập qua báo chí, đã bịa đặt ca ngợi anh hùng NTT đã dám đứng lên hát vang bài "Vùng Lên Nhân Dân…và Dậy Mà Đi..” trong thời gian du học ở Mỹ nhân dip vui Tết năm Tân Hợi (1971) mà lúc đó tôi cùng có mặt. Nếu đương sự là nội tuyến được đảng CS gài đặt thì trong suốt hơn ba năm kể từ lúc chính thức trở thành một phi công A37 rồi F5 đương sự đã gây đươc những tác hại gì cho Quân lực VNCH? Ở vào thời điểm 1972 trận chiến đang giai đoạn cao điếm khốc liệt, tiêu diệt được một phi công, nhất là đánh bom là cả một thành công và mơ ước lớn của CS Bắc Việt (một phần vì lòng căm thù) cũng như tổn thất nặng nề cho Quân Lực VNCH (đào tạo mất nhiều thời gian và rất tốn kém). CS Bắc Việt có thể cho đặt bom sát hại hằng chục nhân mạng vào mỗi sáng hoặc buổi họp hằng tuần. tất cả hoa tiêu có mặt đầy đủ mà NTTvới bộ đồ bay thực thụ rất dễ thực hiện? Hoặc phá hủy hằng loạt máy bay, cần gì hôm nay đương sự phải dối trá theo lối trẻ con “cố ý đáp mạnh cho hư” còn việc Long Ly cho rằng NTT cố ý bay tụt hậu, dùng đại bác bắn Ng Thăng Long rồi nhảy dù phi tang. Tôi, Phiếu 538 hoàn toàn không đồng ý với bạn, NTT không can đảm được như thế, hơn nữa đương sự có muốn thủ tiêu phải chờ cơ hội, cỡ như Tr/Tá Đàm Thượng Vũ hoặc Th/Tá Hồ Kim Giàu nhà mình, còn Ng Thăng Long mới ra trường, đang huấn luyện đâu có nhiều “nợ máu”. Thật ra đây là lỗi của NTT, thiếu kinh nghiệm, làm chết tan xác wingman của mình. Theo nguyên tắc bay hợp đoàn, hai đầu cánh phi cơ cách nhau không quá 1 mét. Và số 2 phải luôn thấp hơn khoảng hai tất. Đổi tầng số, leader phải chờ số hai click trước. Đằng này có lẽ cả hai cùng làm một lúc nên mới xảy ra sự cố. Khi đã va chạm vào nhau, số một ở vị trí phía trước còn có khoảng thời gian 10 giây để nhảy dù..nên NTT đã thóat chết, còn phi cơ của Ng Thăng Long bị chạm ở phần đầu nên vở tung tức khắc. Long Ly nói đúng, NTT tưởng rằng dân bay F5 chỉ còn độc nhất là mình nên đương sự đã nói láo trắng trợn. Đổi tai nạn do thiếu kinh nghiệm thành cố ý đáp đường băng ngắn. Đã làm hư hại hai phi cơ.
Dù cho rằng NTT là người do CS Bắc Việt đã gài đặt, thì trong thời gian72 -75, với nhiệm vụ một phi công A37. Đương sự phải thi hành bao nhiêu phi vụ, thực hiện bao nhiêu lần đánh bom để bảo toàn thân phận? Lẽ dĩ nhiên đương sự không thể đánh sai mục tiêu. Vì có máy ảnh chụp kết quả, L 19 chỉ dẫn. Quân bạn chứng kiến, leader hoặc wingman theo dõi từng pass một. Tóm lại NTT không thể không trút bom xuống đồng đội mình (VC). Thử hỏi NTT đã mang một sứ mệnh, trọng trách ghê gớm gì mà đồng đội phải hy sinh như thế để bảo toàn thân phận cho đương sự !??
Trong suốt gần 40 năm qua, báo chí thường nhắc đến NTT với danh xưng một anh hùng phi công huyền thoại, theo tôi nghỉ, dù ở chiếntuyến nào, chủ nghĩa CS hay Tư Bản, hành động của một cá nhân dám hy sinh cả tánh mạng, bất chấp mọi tai ương để mang lại đại nghĩa cho lý tưởng của mình đó mới được gọi là anh hùng, một thành quả, một ý chí, đòi hỏi sự tài ba, xuất chúng không ai làm được. Tự nó sẽ đi vào huyền thoại.. trong lòng mọi người…
Anh hùng Lý Tống, một phi công A37 của QLVNCH, vượt thoát lao tù CS, qua đến Mỹ bằng đường bộ, trở lại VN dùng phi cơ dân sự rải truyền đơn kêu gọi toàn dân đứng dậy đòi tự do, nhảy dù bi bắt bi gán tội không tặc, ở tù nhiều năm nhưng được cả thế giới ngưỡng mộ. ra tù trở về Mỹ lại mướn máy bay rãi truyền đơn thách thức cả nước CS Cuba. Lại tiếp tục dùng máy bay từ Thailand bay qua VN rãi truyền đơn lại ở tù. Đời người có được bao nhiêu cái thập niên mà Lý Tống đã đếm hơn hai cái trong các lao tù khắc nghiệt, bình tĩnh thong thả đếm như chiêm ngưỡng một thành quả, một cái giá đương nhiên mà anh phải trả. Biết đâu anh đang mỉm cười tự nhủ “không chết, vẫn còn hên”
Hành động phi thường của Lý Tống vẫn chưa dám đi vào huyền thoại, còn NTT vội vả trút bỏ hai trái bom để giết Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, trong lúc miền Nam đang dẫy chết, rồi ào ạt thả bom xuống phi cảng TSN bất chấp người dân đang đau khổ chạy trốn. Một hành động mà bất kỳ người phi công khu trục nào cũng làm được nếu mất nhân tính. Người phi công F5 phản bội Nguyễn Thành Trung, anh hùng ở chỗ nào? Huyền thoại ở đâu??
Lê Phiếu - Phi công F5/KQ/QLVNCH

Hãy đọc bài báo Pháp Luật của Việt Cộng nói về cuộc sống hiện nay lam lũ, nghèo đói, khổ sở của tên Phi Công A.37 Trần Văn o­n đã phản bội Tổ Quốc, phản bội QLVNCH để theo Cộng Sản VN cùng với Nguyễn Thành Trung dẫn máy bay về không kích bắn phá phi trường TSN đã được nhà nước CSVN ưu đãi như thế đấy. ĐÁNG ĐỜI tên Phản Bội !


Ông nông dân từng ném bom Tân Sơn Nhất


Giác ngộ cách mạng vỏn vẹn hai tuần, anh Trần Văn o­n là một trong năm phi công đảm nhận trận oanh tạc vào sân bay Tân Sơn Nhất cách đây 36 năm. Sau ngày giải phóng đất nước anh trở thành một nông dân thực thụ.


Một ngày cuối tháng 4-2011, chúng tôi về xã Vĩnh Hựu, huyện Gò Công Tây, Tiền Giang, tìm gặp anh Trần Văn o­n, người cầm lái một trong năm chiếc máy bay A-37 ném bom sân bay Tân Sơn Nhất ngày 28-4-1975.
Được chọn vào Phi đội Quyết Thắng
Cuối tháng 3-1975, ta giải phóng Đà Nẵng, ngày 16-4-1975 thì giải phóng Phan Rang. Trong những máy bay thu được ở Đà Nẵng và Phan Rang có sáu chiếc phản lực ném bom A-37 với đầy đủ đạn dược.
Với quyết tâm sớm chấm dứt chiến tranh, ngày 19-4-1975, Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh chỉ đạo Quân chủng Phòng không-Không quân tham gia chiến dịch, mở thêm mặt trận trên không. Bộ Tư lệnh Phòng không-Không quân quyết định sử dụng phương án dùng số máy bay thu được của Mỹ đánh bom vào Sài Gòn để gây bất ngờ.
Tuy nhiên, nhóm phi công lúc bấy giờ chỉ có Nguyễn Thành Trung từng lái máy bay Mỹ. Các phi công từ miền Bắc chỉ quen lái máy bay MiG của Liên Xô.




Trong nhóm hàng binh tại Đà Nẵng, Trung úy Trần Văn o­n tỏ thái độ giác ngộ cách mạng. Đó là một phi công A-37 được đào tạo bài bản ở Mỹ. Ngay trong đêm 19-4, Trần Văn o­n và một số thợ lái vừa ra trình diện bắt tay ngay vào việc sửa chữa chiếc máy bay A-37 mà ta thu được ở Đà Nẵng. Đến chiều ngày 20-4, chiếc A-37 đã nổ máy và có thể cất cánh. Ngày 21-4, Quân chủng Phòng không-Không quân quyết định chọn Trần Văn o­n cùng Nguyễn Thành Trung huấn luyện một số phi công vừa từ Hà Nội vào lái A-37.


Bước đầu các phi công lúng túng với kiểu máy bay hoàn toàn khác lạ. Trước đây, họ chủ yếu sử dụng máy bay tiêm kích chiến đấu trên không để đánh chặn. Lần này nhiệm vụ của họ là phải sử dụng thành thạo những “con chim sắt” A-37 mà trước đó còn là đối thủ của MiG trên bầu trời để làm nhiệm vụ oanh tạc mục tiêu. Những nút điều khiển bằng tiếng Anh trên chiếc A-37 được thay bằng tiếng Việt cắt dán lên. Chỉ sau hai ngày huấn luyện, các phi công lần lượt bay thử thành công.


Trận ném bom chiến lược


Trưa 27-4-1975, các phi công chuyển vào sân bay Phù Cát - Bình Định với nhiệm vụ hoàn toàn bí mật. Tại đây, phi đội chiến đấu được thành lập lấy tên “Phi đội Quyết Thắng”, gồm các phi công Nguyễn Thành Trung, Từ Để, Mai Xuân Vượng, Hán Văn Quảng và Trần Văn o­n. Phi đội nhận năm máy bay A-37, mỗi chiếc được lắp bốn quả bom 500 kg, hai quả bom phá 250 kg và bốn thùng dầu phụ chuẩn bị cho chuyến bay xa. Đúng 9 giờ 30 ngày 28-4-1975, cả phi đội rời sân bay Phù Cát hạ cánh xuống sân bay Thành Sơn (Phan Rang) sau 1 giờ bay để rút ngắn khoảng cách với Sài Gòn.


“Đến sân bay Thành Sơn chúng tôi mới nhận nhiệm vụ, mục tiêu tấn công là khu vực để máy bay chiến đấu, đường băng, kho bom đạn của không quân ngụy tại sân bay Tân Sơn Nhất. Phải ném bom chính xác vào mục tiêu, đảm bảo tuyệt đối an toàn cho nhân dân và hai đoàn đại biểu của ta trong ủy ban quân sự bốn bên đang ở trại David tại sân bay Tân Sơn Nhất. Nguyễn Thành Trung thay mặt phi đội hứa với Quân chủng sẽ thực hiện nghiêm mệnh lệnh, bảo đảm bí mật, bất ngờ, công kích mãnh liệt, chính xác, trở về an toàn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Đảng và nhân dân giao phó” - anh o­n hồi tưởng.


Cả phi đội thảo luận tác chiến, phân công vị trí bay trong đội hình, tổ chức hiệp đồng, dự kiến tình huống, cách xử trí. Đường bay được chọn là từ Thành Sơn hướng ra Vũng Tàu rồi vòng về Sài Gòn. “Trong quá trình bay, tất cả chúng tôi không được dùng bộ đàm buồng lái được trang bị sẵn trên máy bay mà phải dùng vô tuyến đối không vừa trang bị thêm để đảm bảo tuyệt đối bí mật” - anh o­n kể lại.




Đúng 16 giờ 30 ngày 28-4-1975, Phi đội Quyết Thắng xuất kích. Để tránh tiêu hao nhiên liệu, tốc độ bay khoảng 230 knot/giờ (tương đương 370 km/giờ, 1 knot = 1,6 km - PV). Đối với loại máy bay cường kích đây là tầm bay thấp để tránh rađa địch.


Chập choạng tối, cả phi đội đã đến Tân Sơn Nhất mà địch không hề hay biết. Từng dãy máy bay quân sự, dân sự, ôtô, nhà kho hiện rõ phía dưới. Nguyễn Thành Trung phát lệnh tấn công, cả phi đội lần lượt bổ nhào xuống nhằm vào khu đỗ máy bay quân sự, đường băng, kho xăng cắt bom. Hoàn thành nhiệm vụ, cả năm chiếc máy bay trở về sân bay Thành Sơn an toàn.


Phi công làm ruộng


Sau giải phóng, Trần Văn o­n tiếp tục tham gia chiến đấu trong chiến tranh biên giới Tây Nam. “Tôi có ba lần oanh tạc đảo Vai, mở đường cho bộ binh của ta chiếm lại đảo” - anh o­n kể. Sau chiến tranh biên giới, anh xin ra quân, lặng lẽ về xã Vĩnh Hựu, huyện Gò Công Tây, Tiền Giang, trở thành một nông dân thực thụ, tỉ mẩn cần cù chăm sóc vợ con.


Cuộc sống khó khăn, vợ anh nghỉ nghề giáo viên, ở nhà cùng anh cày cấy bốn công ruộng để nuôi sáu mặt con. Những ngày nông nhàn, anh o­n làm thuê đủ nghề để kiếm tiền. Hôm chúng tôi đến, vợ chồng anh o­n đang tất bật với đàn heo nái. Anh o­n cho biết mảnh ruộng nhỏ xíu anh đã chia một phần cho người con trai ra riêng. Lâu nay, anh phải chăn nuôi thêm mới đủ sức lo cho các con ăn học. Ngay trận dịch cúm gia cầm đầu tiên, cả nhà anh lao đao vì toàn bộ đàn gà bị tiêu hủy. Sau bận đó, vợ chồng anh chuyển sang nuôi heo. Giá cả thị trường lên xuống thất thường nhưng người chiến binh năm nào vẫn kiên trì bám trụ.


Dẫn chúng tôi đi thăm căn nhà cấp bốn nhỏ xíu, anh o­n khoe, đây là thành quả lao động suốt mấy chục năm qua của vợ chồng anh, còn “tài sản” lớn nhất bây giờ là các con. Sáu người con đều rất ngoan hiền, hiếu thảo và thương yêu nhau.


Mân mê chiếc A-37 mô hình bằng nhôm nhỏ xíu mà đồng đội tặng làm kỷ niệm, anh o­n kể về quãng đường “đăng lính” của anh ngày xưa. Học xong tú tài, lệnh tổng động viên năm 1968 buộc anh dẹp bỏ giấc mơ kỹ sư cơ khí chế tạo để cầm súng ra trận. “Những tháng ngày quân ngũ, rồi 18 tháng đào tạo lái máy bay ở Mỹ, quay về Việt Nam trong màu áo quân lực Việt Nam Cộng hòa, tôi quá sức chán chường khi phải tham gia cuộc chiến và chỉ mong nó kết thúc!” - anh o­n tâm sự. Chúng tôi hỏi khi cầm lái chiếc A-37 tham gia ném bom sân bay Tân Sơn Nhất trong lúc Sài Gòn chưa được giải phóng, ở vị trí bay cuối, anh có thể rời bỏ đội hình, anh có ý nghĩ quay về với chế độ cũ không. Anh trả lời rất nhanh “Không! Khi quyết định ra trình diện quân cách mạng và đề đạt nguyện vọng xin được tham gia chiến đấu là mong sớm chấm dứt cuộc chiến phi nghĩa!”.

Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất mà anh nhận vào đúng ngày 30-4-1975 được treo trang trọng giữa nhà, ghi: “Đồng chí Trần Văn o­n đã có thành tích xuất sắc trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu chống Mỹ cứu nước”. Đây là chứng vật chứng minh anh là người lính quân giải phóng. Nhưng sau hơn 36 năm với chiến tích oai hùng, từng tham gia trận ném bom lịch sử vào sân bay Tân Sơn Nhất và nhiều trận ném bom khác trên chiến trường biên giới Tây Nam, Trần Văn o­n vẫn chưa được công nhận là cựu chiến binh.


Và xin mời đọc lại "Trận Đánh Cuối Cùng" của dvah để biết rõ hơn về khả năng của bọn "giặc lái" Việt Cộng:



TRẬN ĐÁNH CUỐI CÙNG 

Đào Vũ Anh Hùng






Ngày 13-6-96, hãng thông tấn Reuter đánh đi một bản tin về Nguyễn Thành Trung, phi công A-37 của Không Lực VNCH đã lấy máy bay xạ kích dinh Độc Lập và hướng dẫn hai chiếc A-37 khác đánh phá phi trường Tân Sơn Nhất chiều ngày 24-4-75, ngày hấp hối của miền Nam Việt Nam.



Bản tin cho biết, Nguyễn Thành Trung, phi công chiến đấu của KLVNCH được huấn luyện tại Hoa Kỳ từ năm 69 tới 72, là hoa tiêu trưởng phi cơ của Hàng Không Việt Cộng, năm 1995, đã lái chiếc Boeing 767 chở tên chủ tịch nhà nước Lê Đức Anh qua New York dự ngày kỷ niệm thứ 50 của Liên Hiệp Quốc. Trả lời cuộc phỏng vấn của thông tín viên Reuter tại Tân Sơn Nhất, Nguyễn Thành Trung kiêu hãnh nói, “Năm ngoái tôi bay trở lại Hoa Kỳ, đến Nữu Ước bằng chiếc phi cơ này, đáp tại phi trường Kennedy với máy bay riêng của chúng tôi, mang huy hiệu và sơn cờ riêng của chúng tôi, đến thẳng đất Mỹ!” (Last year, I flew back to America , to New York , in this aircraft, with our logo, with our flag, to the American land, he says proudly - Reuter).



Nguyễn Thành Trung, tên Việt Cộng nằm vùng được địch gài trong hàng ngũ chúng ta. Trung đã góp phần gây hoang mang, làm sụp đổ tinh thần chiến đấu của quân dân miền Nam, gián tiếp đầy đọa, giết hại anh em đồng đội trong các trại tù cải tạo để đổi lấy vinh thân, được Việt cộng tưởng thưởng công lao phản nghịch đó bằng địa vị hôm nay. 



Cuộc oanh kích dinh Độc Lập và sau đó, phi trường Tân Sơn Nhất chiều 28-4-75 của năm chiếc phi cơ A-37, đã được Việt cộng tuyên dương như một chiến tích anh hùng. Hàng năm, đến ngày 30-4, báo chí của chúng đều nhắc đến cái gọi là ”thành tích lịch sử” của Phi Đội Quyết Thắng do Nguyễn Thành Trung dẫn đầu với một phi công A-37 khác của Không Lực VNCH là Trần Văn o­n, cùng bọn giặc lái Việt cộng Từ Đễ, Mai Vượng, Nguyễn Văn Lục, Hán Văn Quảng. o­n và Xanh là hai phi công VNCH, tù binh bị Việt cộng bắt ở Đà Nẵng, ép buộc phải thi hành công tác huấn luyện cấp tốc cho giặc lái MIG Việt cộng, để theo Nguyễn Thành Trung bay vào đánh Saigon.



Bài tường thuật đăng trên tờ Lao Động của Việt cộng xuất bản ngày 2-5-96 cho biết Phi Đội Quyết Thắng do Nguyễn Thành Trung bay ở vị trí số một, vừa là chỉ huy “Biên đội” (Phi đội), vừa là người dẫn đường. Bay số hai là Từ Đễ (con trai giáo sư Từ Giấy, Đại học Tổng Hợp Hà Nội), hiện đeo quân hàm Đại tá ở Bộ Tham Mưu Không Quân Cộng sản. Bay số ba là Nguyễn Văn Lục, Phó chỉ huy Biên đội. Số bốn là Hán Văn Quảng, hiện là Đại tá Sư trưởng Sư đoàn Không Quân của chúng. Máy bay số năm có hai người: Mai Vượng, quê ở Diễn Châu, Nghệ An (đã chết năm 1976) và Trung úy phi công “Ngụy” Trần Văn o­n.



Bọn giặc lái Việt cộng (Lục, Đễ, Quảng, Vượng) từ trước đến nay chỉ quen với máy bay MIG-17 của Nga, chưa từng biết tới A-37 của Mỹ bao giờ. Giặc lái Việt cộng vào Đà Nẵng từ ngày 22-4-75 để học lái A-37 cấp tốc trong vòng năm ngày. Nguyễn Văn Lục cho biết y chỉ bay tập được ba chuyến trong năm ngày đó. Lục nói, “Các bộ phận điều khiển của máy bay A-37 toàn là tiếng Anh, anh em chúng tôi nhờ người dịch ra tiếng Việt, rồi cắt giấy dán đè lên tiếng Anh để biết mà xử dụng…”



Tư Lệnh Không Quân Việt cộng thời đó là Lê Văn Tri, Thiếu tướng, đã trực tiếp giao nhiệm vụ cho bọn Lục. Y khoe, “Sau chiến thắng trở về, đồng chí Đinh Đức Thiện gặp chúng tôi, nói rất vui, “Chúng mày rất giỏi. Lính tao chuyển loại xe ô-tô cũng phải mất năm ngày, huống gì là máy bay của chúng mày... Giỏi, giỏi lắm!”…”



Cái “giỏi lắm” của bọn giặc lái Việt cộng Từ Đễ, Nguyễn Văn Lục, Hán Văn Quảng là cái giỏi… “nói phét”! Việt cộng tổ sư nói phét không biết ngượng là gì trong bất cứ ngành nghề, giai cấp nào của chúng. Tên tướng Không quân Việt cộng xuất thân từ giới lơ xe đò Đinh Đức Thiện khen ngợi bọn Lục “giỏi lắm” chỉ là thói quen “mèo khen mèo dài đuôi” của bọn “đỉnh cao trí tuệ” mà anh em tù cải tạo ai cũng biết. Việt cộng làm gì cũng tự cho là giỏi. Không thấy ai khen, chúng tự vỗ tay khen chính mình, khen líu lo nồng nhiệt không biết ngượng thì cái chuyện anh Thiện khen em Lục chẳng có gì là lạ!



Để biết rõ cái “giỏi lắm” của những chiến sĩ “người lái anh hùng” nhãn hiệu Vi-Xi thế nào, mời bạn đọc hãy cùng chúng tôi đọc truyện ngắn “Trận Đánh Cuối Cùng” của văn sĩ Hữu Mai viết ca tụng “anh hùng” Nguyễn Thành Trung và các đồng chí giặc lái Vi-Xi của y một cách trơ trẽn vô duyên trong tuyển tập “Văn 1957-1982” do Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số kỷ niệm lần thứ 25, xuất bản năm 82, để thấy trình độ nói phét của Vi-Xi nó “siêu” đến chừng nào mà cười đau khóc hận cho vận số hẩm hiu đất nước…



* *



Hữu Mai mở đầu “Trận Đánh Cuối Cùng” bằng câu “Một ngày thật dài…”. Y cho biết buổi sáng hôm đó còn ở Gia Lâm, có lệnh đi công tác ngay bằng chiếc IL-18. Đi người không và một giờ sau đáp phi trường Đà Nẵng. Hữu Mai viết theo thể văn tự thuật, dùng chữ “chúng tôi” nên người ta có thể hiểu y chính là một trong những tên giặc lái Vi-Xi được cử vào Nam làm cái “Mission Impossible” này và viết bài tường thuật. IL-18 là phi cơ vận tải như C-47 của Không Quân miền Nam . Y nói “lần này chúng tôi đi công tác người không” - chắc là cho nhẹ, để chuyến về còn chở theo chiến lợi phẩm “hia” được của miền Nam “phồn vinh giả tạo”. Có lẽ bọn y không mang theo cả vỏ cau khô đánh răng, khăn mặt hay cơm nắm muối vừng làm chi cho nặng. Hữu Mai chắc ăn, không cần bắt chước đàn anh Khổng Văn Tuyết ngày xưa… tay đôi không chiến với máy bay “Con Ma” (Phantom) hay “Thần Sấm” (Thunderbolt) của đế quốc Mỹ xâm lược. Anh hùng Khổng Văn Tuyết bay phi cơ MIG đem theo cơm nắm muối vừng, một ấm nước vối và cả cái điếu cầy lên trời, tắt máy phây phả nằm gác chân chữ ngũ mai phục trong mây, đợi từ sáng tới chiều cho khỏi tốn xăng, khi thấy phi cơ Mỹ tới là mở máy nhào xuống bắn hạ cái một…!



Bọn giặc lái Vi-Xi hạ cánh xuống phi trường Đà Nẵng sau một giờ bay. Sân bay Đà Nẵng “rộng và dài hun hút” được Hữu Mai mô tả là “siêu cấp”, hơn gấp bội phi trường Gia Lâm của miền Bắc anh hùng. Cái phi trường Gia Lâm của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc, theo lời cậu Trác “Thuốc Lào” phi công C-130 kẹt lại, đã từng bay chở cán bộ, bộ đội Vi-Xi từ Bắc vào Nam công tác và chở đồ thổ phỉ gồm cả kẽm gai, tôn gỗ và… ghế đá công viên từ Nam ra Bắc; sau còn được trưng dụng dạy bay và dạy Địa huấn cho bọn giặc lái Việt cộng trước khi “thầy” bị cho đi tù cải tạo. Hồi vượt biển qua Mỹ, cậu Trác đã kể lại với kẻ hèn này rằng:

- Phi trường Gia Lâm vắng như nghĩa địa bỏ hoang, cỏ tranh mọc cỡ đầu người… Tớ đáp xuống, thấy bộ đội lũ lượt từng đoàn vác liềm vào cắt cỏ tranh rồi gồng gánh đi ra… Sau đó lại một bầy dân chúng kéo vào mót những đám tranh còn sót lại! Phi trường này cũng như phi trường Bạch Mai không có đài Kiểm soát Không Lưu. Mỗi lần có máy bay ngoại quốc đến, chúng nó mướn một thằng Air Traffic Control người Nhật nói tiếng Anh vào hướng dẫn cho phi cơ đáp hoặc cất cánh xong rồi về.



Nên chi nhìn thấy phi trường “siêu cấp” Đà Nẵng, bọn pilot Việt cộng cứ nghệt mặt ra. Hữu Mai cho biết, “Ngay sau khi đáp xuống Đà Nẵng, có đồng chí Tham Mưu trưởng đứng đợi bên chiếc A-37 sơn màu vằn vện, hình thù dữ dội, giống như một con thú rừng chưa thuần hóa”. Đàn anh ra lệnh cho các đàn em tập buồng máy ngay, “chỉ có từ ba đến năm ngày chuẩn bị”. 



Màn tập tành “ba đến năm ngày” này quả là chuyện phong thần. Nhưng ai không làm được chứ Vi-Xi cái gì mà làm không được? Không làm được bằng chân tay, trí óc, các con làm bằng… mồm! Hữu Mai viết, “Nếu trước đây có ai nói như vậy thì đó là nói đùa. Trong chiến tranh, những lần chuyển loại máy bay gấp gáp nhất cũng phải mất ba tháng. Không thể đùa với máy bay. Ở trên không, không có điều kiện để rút kinh nghiệm cho những sai lầm…”



Nói vậy cho nổi bật cái khả năng thần thánh của con người cộng sản ”siêu cấp” và để bọn Ngụy nghe mà sợ chơi. Câu nói trên là áp dụng cho việc chuyển loại phi cơ cộng sản thôi đấy, mà cũng cần tới ba tháng là tối thiểu. Vậy mà các “đỉnh cao trí tuệ” chỉ cần từ ba tới năm ngày, nghe phát rét. Huống hồ bọn giặc lái Vi-Xi tiếng Anh tiếng U không biết một mẩu, ngoài ba tiếng “oẳn tù tì”…! Hữu Mai viết, “Mỗi feet bằng bao nhiêu đơn vị đo lường của ta nhỉ? Làm thế nào hiểu được hết những tiếng Anh trong buồng lái để khỏi phải nhớ các công-tắc, các đồng hồ bằng vị trí của chúng?...”



Cái này phải hỏi cậu Trác Thuốc Lào, tự nhà văn KQ Trác Vũ. Cậu Trác Thuốc Lào một lần chịu không nổi những quả… ngu của lũ giặc lái con cháu lão Hồ, đã buột miệng chửi thề, xém bị mất cái chỗ đội mũ vì lỡ “hỗn”, lỡ coi thường các đấng đỉnh cao trí tuệ. Cậu Trác kể:

- Phi công Việt cộng, chúng nó từng qua Nga học bay MIG. Nhiều đứa ở Nga đến 6, 7 năm mà khi về nước vưỡn đếch biết nói tiếng Nga La Tư mới tếu! Bọn chúng nó đi học, có thông dịch viên đi kèm theo để theo dõi, kiểm soát… Trong lớp thầy dạy gì, kệ bố thầy, chúng không cần nghe vì khi về phòng có thằng thông dịch lại… Tớ bỏ công dịch tất cả sách kỹ thuật tiếng Anh ra tiếng Việt, dạy chúng nó hoàn toàn bằng tiếng Việt. Thế mà mình đọc, chúng không hiểu. Đánh vần đi đánh vần lại từng chữ như dạy trẻ con i-tờ-rít, chúng nó vẫn không biết viết ra làm sao. Tớ lập đi lập lại, bọn chúng vẫn ngớ ra như chúa tàu nghe kèn, mặt đần độn trông phát giận… Một lần, nhịn không được, tớ buột miệng chửi thề, “ĐM, sao các anh ăn gì mà ngu quá vậy?” Mình quen mồm như trước đây đùa rỡn với bạn bè… Chúng nó sừng sộ hỏi tội làm tớ xanh mặt.



Kẻ hèn này hồi đó nghe cứ tưởng cậu Trác bôi bác Vi-Xi, không tin nổi, nghĩ rằng cậu phịa ra để tếu chơi. Lạ gì cái giống Không Quân, bạn bè gặp nhau, đúng tần số là tha hồ đấu hót vung vít, hư thực khó lường… nên bèn hỏi đểu một câu:

- Thế hả? Thì ra chúng nó là bọn ngu cả lũ. Nhưng “ngu” mà chúng nó bay MIG, dám chơi “dog fight” tay đôi với pilot Mỹ? Cậu Trác nói vậy thì chúng tôi biết vậy...



“Dog fight” có nghĩa là “không chiến”, là vác máy bay uýnh lộn trên mây, giữa từng trời. Cậu Trác Thuốc Lào được coi là một pilot vận tải hiền nhất nước Không quân, thật thà như đếm. Nghe kẻ hèn này nói câu móc lò, cậu chỉ cười cười, phô hai hàm răng đầy nhựa thuốc lào, kể tiếp:

- Đằng ấy tưởng chúng nó bay MIG thật đấy hả? Mình lầm hết. Mấy cậu Mẽo đồng minh mặc cảm, sợ quốc tế chê cười nên nhiệt liệt thổi phồng pilot Vi-Xi là ghê gớm để tăng giá trị của mình và để khỏi mang tiếng người nhớn bắt nạt ranh con. Chúng nó có đi Nga thật, học tới sáu, bẩy năm lận. Nhưng chúng chỉ lo buôn lậu “quần bò” đem về nước bán kiếm lời, bay với bổng mẹ gì. Toàn là bọn con ông cháu cha hay thành phần chăn trâu gánh nước có thành tích đấu tranh giai cấp tích cực, đấu cha, tố mẹ, dò la hàng xóm, được phong làm “anh hùng”, cho đi học lái nhưng chữ nghĩa đâu mà học?… Các cuộc không chiến với phi cơ Mỹ đều do pilot Bắc Hàn hay Trung cộng lái. Pilot Vi-Xi được cho đi theo, nhiều đứa thú thật với tớ chỉ là… “thợ vịn”! Ngoài Bắc chúng gọi bằng danh từ rất kêu, là “tháp tùng tử”!



“Người lái” kiêm nhà văn Hữu Mai, hôm đầu tiên khi từ Bắc vô Nam tay không (cầm bó rau), mô tả rằng bọn y đêm đó lo cóc ngủ nghê gì được. Phần vì cấp trên giao phó cho nhiệm vụ học bay A-37 chỉ trong vài ngày – với sức các cậu – “sỏi đá làm thành cơm” tương đối dễ ợt, chứ bay bổng loạng quạng là tan nát đời huê ngay. Cậu tả oán, lý do mất ngủ thứ hai là do… không khí. Mùi máy lạnh và vì cái nệm mút dầy êm quá, các cậu ngủ không quen… “Không khí hơi ngột ngạt. Chắc là còn phải một thời gian mới quen được với cái mùi nhân tạo của máy điều hòa nhiệt độ. Một mùi hăng hắc, nồng nồng. Mùi gì vậy?... Ngoài kia, ở thành phố đang tỏa một vùng ánh sáng xanh trong lên bầu trời đêm, chắc còn nhiều thứ chúng tôi còn phải lạ lắm!” 



Đúng dzậy! Các con sẽ còn thấy nhiều thứ “lọa” hơn nữa ở miền Nam . Cái mùi đó là mùi “hăm-bơ-gơ” của đế quốc, khi đã quen rồi, các con sẽ ghiền và khi ghiền tới độ nặng là các con sẽ chết không kịp ngáp đấy. Mất ngủ, suy nghĩ đến gần phát hoảng, Hữu Mai dẹp tự ái “đỉnh cao trí tuệ”, ao ước, “Giá có mấy anh nhân viên lái cũ của Ngụy ở gần đây để yêu cầu họ ghi lại cho những hàng chữ Anh ở trong buồng lái thì hay quá. Mỗi tối trước khi ngủ say sẽ in luôn nó vào trí nhớ…”



Mẹ kiếp, khi tỉnh học còn cóc vô, học theo lối “ngủ say” thì học với hành thế chó nào được? Mà chỉ có từ ba tới năm ngày để bay cho được chiếc A-37. Ngụy chúng nó trước khi học lái, phải tới Lackland trụ trì ít nhất vài tháng học Anh ngữ. Hữu Mai sau đó kể rằng y và đồng bọn được hai “nhân viên lái” mới được lựa chọn từ trại tập trung về kèm cho các cậu học Anh văn và học bay. “Cả hai đều gầy nhom. Người cao để râu tên là Xanh, người Quảng Bình, theo gia đình di cư vào Nam năm 1954. Người thấp nhỏ là o­n, quê ở Gò Công. Cả hai người đều ngạc nhiên khi thấy chúng tôi không hỏi đến vấn đề cơ bản, không hỏi về cách xử trí trong trường hợp máy móc hỏng hóc, mà hỏi ngay vào công-tắc điều khiển những đồng hồ bay…”



Cái này phải xét lại ạ. “Những vấn đề cơ bản” nghĩa là cần điều khiển phi cơ, là những nút bấm, nút bật để mở máy, để chỉnh động cơ, để điều khiển bánh đáp, góc dựng cánh lái đuôi, vv… các con không cần hỏi tới thì bay cái củ gì? Các con muốn chứng tỏ ta đã ránh nghề, đâu cần biết tới vài ba cái lẻ tẻ, hay hỏi những cái “cơ bản” sợ quê xệ với bọn giặc lái Ngụy? Bọn giặc lái Ngụy, phi công phản lực A-37 bị các con khi dễ, chê là “gầy nhom”, đâu phải vì miền Nam đói khổ, thiếu dinh dưỡng? Mà vì họ mới được móc từ trong “tù cộng sản” ra đấy!



Cậu Trác Thuốc Lào kể chuyện hồi đó trong chuyến bay chở đồ thổ phỉ ra Bắc, có một thằng đại tá Không quân Việt cộng đi theo, đòi lên phòng lái ngồi ghế copil thay thằng công an “bảo vệ” như thường lệ. Trên đường bay, trời êm ả, cậu Trác lên cơn ghiền, móc cái điếu cầy ra, rít một bi thuốc lào. Đang phê phê khoái tỉ thì anh đại tá Không quân Nhân dân tò mò hỏi chàng giặc lái miền Nam :

- Cái đồng hồ này là đồng hồ gì, có mỗi một cánh tay?

- Dạ, nó là cái đồng hồ “ây-đi-ép” (ADF), dùng để bay phi cụ khi trời xấu không thấy đường, từ điểm này tới vị trí khác. Có nó mới lấy đúng hướng được, không sợ phi cơ mất hướng, bay lạc…



ADF là “Automatic Directional Finding”. Tên Đại tá Vi-Xi nhìn cậu Trác Thuốc Lào với vẻ nghi hoặc kỳ cục:

- Anh nói thật chứ? Đề nghị anh giải thích thêm cho tôi được đả thông. Tôi không hiểu sao lại có thứ đồng hồ gì lạ như vậy?

Cậu Trác nhà ta cũng nhìn tên Đại tá bằng vẻ nghi hoặc kỳ cục không kém:

- Phi cơ có ba cái đồng hồ phi cụ căn bản là đồng hồ chỉ cao độ, vận tốc và đồng hồ chỉ hướng, hay la bàn. ADF là đồng hồ tìm hướng khác, dùng tần số đài phát tuyến cố định dưới đất. 



Khi thấy thằmg cha Đại tá hỏi, tớ tưởng nó muốn thử, muốn khảo sát trình độ và khả năng của mình, nên tớ ậm ừ không nói. Nhưng sau thấy nó có vẻ không biết thật ông ạ. Nó đưa tay sờ sờ cái đồng hồ, trầm ngâm nghĩ ngợi rồi hỏi nữa, “Anh nói bị mất hướng, dùng đồng hồ này lấy lại được đúng hướng à?”. Nó bảo tớ biểu diễn thử, lúc bấy giờ tớ mới tin là nó không biết thật! Tớ cho phi cơ vòng trái vòng phải, nhào lên chúi xuống, quẹo tới quẹo lui, tăng giảm cao độ lung tung xong mới đem về bình phi, lấy cao độ cũ và chỉnh mũi phi cơ bay theo đúng hướng cũ của đồng hồ ADF. Thằng Đại tá ngồi bên bị vertigo, mặt cứ thộn ra. Mãi nó mới hoàn hồn, tấm tắc:

- Hiện đại thật…! Đúng là Mỹ có khác!



Pilot C-130 Trác Thuốc Lào sau đó mới cảm thấy tự nhiên, thấy hân hoan vì mình “nhớn” hơn anh Đại tá Vi-Xi nhiều – ở tài bay và kiến thức phi hành. Trác Thuốc Lào từ hôm đó mới biết rõ:

- Mất miền Nam đau quá. Chúng nó ngu hơn chó chứ tài giỏi gì. Chúng chỉ giỏi lừa bịp và nói phét! Trình độ một thằng Đại tá, khả năng và kiến thức không bằng một Thiếu úy của mình. Tớ có hỏi nó, ở ngoài Bắc phi cơ của các ông không có đồng hồ giống như ADF của chúng tôi, làm sao mà bay từ tỉnh này tới tỉnh kia khi thời tiết xấu hay bay đêm được?



Xin bà con Không Quân lắng nghe câu trả lời của cậu Đại tá Không quân Hà Nội rất đáng đồng tiền bát gạo như thế này:

- Ngoài Bắc chúng tôi dứt khoát không bay đêm. Chúng tôi có khẩu hiệu “Tự Đi, Tự Đến, Tự Về”. Nghĩa là khi nhìn thấy rõ đường đất làng mạc bên dưới thì người lái cứ việc tự mình bay theo con đường lúc đi và khi về cũng bay theo đường cũ mà về, vừa an toàn mà vừa không cần có người dưới đất điều hành chỉ đạo đường bay như các anh!

- Hèn chi, cậu Trác nói, có lần tớ để cho một thằng giặc lái Vi-Xi lái từ Hà nội đi Tuyên Quang. Nó bay như thằng say rượu, bay rất thấp dưới mây và cứ lò dò bay theo đường lộ. Buổi chiều, theo lời dặn, bốn giờ rưỡi phải trở về Hà nội, tớ ra mở máy… Đang loay hoay check máy thì ba thằng Vi-Xi xách súng AK chĩa vào tớ quát tớ tắt máy đi xuống…



Lúc đó trời mưa lâm râm. Thằng cán bộ xếp xòng xừng sộ hỏi Trác:

- Đi đâu? Ai cho anh mở máy?

Trác phân bua:

- Cán bộ bảo bốn rưỡi về mà?

- Không về. Trời mưa. Ở lại đây tối nay.

- Nhưng mưa nhỏ… Mưa phùn bay đâu có sao?

Y trợn mắt nhìn Trác:

- Anh không biết bay trong mưa nguy hiểm sao? Tôi nói ở lại hôm nay!



Khả năng của cậu Đại tá Không quân ngành bay Việt cộng là như thế. Hữu Mai cấp bậc gì, y không giới thiệu, nhưng khả năng chắc cũng chẳng khá hơn đàn anh Đại tá với tiết lộ về khẩu hiệu “tự đi, tự đến, tự về” làm té ngửa bà con Không Quân Ngụy, thoạt nghe tưởng phi cơ được trang bị hệ thống ô-tô-pai-lốt “hiện đại”, tự nổ máy, tự cất cánh, tự bình phi, tự tìm lấy đường về căn cứ, tự hạ cánh, tự lồm cồm bò đi đổ xăng, và tự di chuyển vào bãi đậu…!



Đêm đầu tiên không ngủ. Đêm sau bớt lo vì đã có hai anh giặc lái Ngụy tên Xanh và o­n đến giúp nhưng cũng khó ngủ vì cái mùi “hăm-bơ-gơ” của đế quốc nó ám ảnh quá trời trời. Hữu Mai thuật lại rằng, Xanh và o­n đã rụt rè hỏi chúng tôi, “Chúng em muốn đề nghị các anh cho đi theo trong trận đánh được không? Chúng em sẽ không phụ lòng tin cậy của các anh…” Mẹ kiếp, toàn dân Không Quân chúng ta có ai tin được không, cái giọng “điếu đóm” sặc mùi Vi-Xi nghe hèn không tả được. Pilot Không Lực Việt Nam Cộng Hòa làm gì có thói quen xưng hô “anh, em” với cấp trên và cấp trên “mày, tao” với cấp dưới như anh tướng lơ xe Đinh Đức Thiện của quân đội Vi-Xi? Nhờ các cậu một tí. Viết gì thì viết nhưng cũng phải gần với sự thật người ta mới tin. Đem bôi bác địch kiểu đó chỉ làm cho địch nó cười!



Sau đó Hữu Mai tường thuật đến kế hoạch dùng phi cơ A-37 của VNCH để tấn công bất ngờ phi trường Tân Sơn Nhất nhằm gây chấn động tâm lý và hoang mang quần chúng, đẩy nhanh đà di tản của Mỹ. Y nói đến những mối lo, cốt tăng phần nghiêm trọng cho phi vụ “Biên đội không có máy bay tiêm kích đi kèm để bảo vệ. Nếu kẻ địch phát hiện máy bay lạ từ phía Bắc bay xuống, chắc chắn chúng sẽ dùng bọn F-5 để ngăn chặn…” Và “Làm thế nào để lọt qua mạng lưới ra-đa tối tân của địch trên suốt chặng đường dài từ nơi máy bay cất cánh đến Tân Sơn Nhất? Lần này lại không có đài dẫn đường, chúng tôi đều chưa thuộc địa hình, làm sao bay đến đúng mục tiêu?”



Hữu Mai còn nói đến nguy hiểm thời tiết, mưa bất ngờ và kể ra nào hệ thống cao xạ phòng không của cả hai phía nhắm bắn vì không biết phi cơ phe nào. Y kể ra một lô những trở ngại nhưng sau đó kết luận, “Mọi trở ngại đều được lần lượt giải quyết (?)”.



Vai trò của Nguyễn Thành Trung bấy giờ mới được nói đến, “Đồng chí Nguyễn Thành Trung bảo đảm sẽ đưa toàn Biên đội đến mục tiêu. Anh là người của ta hoạt động trong hàng ngũ Không Quân Ngụy, mới từ bên kia chiến tuyến trở về sau khi đã trút hai trái bom xuống dinh Độc Lập. Ta sẽ cố tránh các trận địa cao xạ cả của ta và của địch được chừng nào hay chừng ấy… Chúng tôi sẽ cố giáng cho kẻ địch một đòn thật bất ngờ…”



Nguyễn Thành Trung dẫn đầu Biên đội tới mục tiêu, với o­n được tham gia trận đánh. Trung là kẻ đã tích cực đóng góp ý kiến vào kế hoạch đánh Tân Sơn Nhất bởi tên phi công phản quốc này nằm vùng, nắm rất rõ tình hình và địa hình cùng các yếu tố quan trọng khác. Chúng dùng phi cơ A-37 phát xuất từ phi trường “siêu cấp” Phan Rang, sân bay Thành Sơn. Theo kế hoạch, Trung sẽ xuống đầu tiên “cắt” bốn lần bốn trái bom thành một vệt dài làm chuẩn cho những máy bay sau oanh kích.



Dù có khả năng siêu việt “tự đi, tự đến, tự về” nhưng bọn giặc lái Vi-Xi cũng thập phần vất vả từ Phan Rang bay vào vì… trời mưa! Để chứng tỏ trời mưa nguy hiểm đến độ phi công Ngụy cũng teo bu-di cho đỡ mất mặt bầu cua, Hữu Mai viết, “Sau này, đồng chí Nguyễn Thành Trung nói lại với chúng tôi, trên đường bay có lúc anh nẩy sinh ra ý nghĩ đưa Biên đội quay trở về vì thấy thời tiết quá xấu.” Y mô tả cảnh rùng rợn, khi chiếc A-37 dẫn đầu của Nguyễn Thành Trung chui vào mây, các anh con giặc lái Vi-Xi tí nữa thì… xón đái, thần kinh căng thẳng, bởi như anh Đại tá Vi-Xi đã nói, “Ngoài Bắc trời mưa, chúng tôi không bay!”



Cũng may cơn mưa nhẹ hều và cục mưa bé tí xíu nên chưa đầy ba mươi giây đồng hồ bọn không tặc Vi-Xi đã bay ra vùng trời sáng rỡ… “Chúng tôi đã ra khỏi mây. Không phải mất nhiều công tìm kiếm, lại nhìn thấy máy bay của Biên đội trưởng…”



Hú vía. Vừa thoát nạn là các con lại yên tâm nói phét ngay. Hữu Mai, có lẽ là tên giặc lái Mai Vượng viết thế này, “Chúng tôi nhìn xuống mặt đất. Phía trước không xa, hai dãy nhà thấp cao lố nhố nằm dọc theo một trục đường. Đúng là một thị trấn. Bà Rịa đây rồi! Người bỗng cảm thấy nhẹ nhõm hẳn. Đồng bào đi lại rất đông trên mặt đường. Đột nhiên những đám người đông đặc ấy vỡ ra, tóe sang hai bên đường và bỗng chốc quang hẳn đi. Chúng tôi hiểu ngay… Đồng bào tưởng nhầm chúng tôi là những máy bay từ Saigon đến oanh tạc. Lòng chúng tôi se lại với ý nghĩ có hàng ngàn cặp mắt đang ném về phía mình những cái nhìn căm ghét và sợ hãi…”



Nhờ cậu tí. Saigon ở hướng Nam của Bà Rịa, phi cơ các cậu bay từ hướng Bắc xuống, đồng bào “tưởng nhầm” thế quái nào được? Đoàn người suôi Nam để chạy các cậu đấy, sợ các cậu đấy, căm ghét các cậu đấy. Không Quân miền Nam, trong chiến tranh, đôi khi xảy ra chuyện “ném chuột vỡ đồ”, đồng bào có thể lâm vào cảnh tên bay đạn lạc nhưng con số thật ít nhưng không ai thù ghét Không Quân bằng thù ghét cái bọn đi đến đâu là đem tang tóc điêu linh đến đó như lũ cha con đồng chí của các cậu. Vụ chôn sống mười ngàn người hồi Tết Mậu Thân 68 ở Huế mới khiến đồng bào dẫm đạp lên nhau mà chạy, gây nên thảm trạng “Đại Lộ Kinh Hoàng” hồi mùa hè đỏ lửa 72 và cảnh di tản “Con Đường Máu” từ Pleiku về Tuy Hòa tháng 3, năm 1975…



Hữu Mai lòng thòng kể chi tiết “Trận Đánh Cuối Cùng” vào Tân Sơn Nhất với đầy đủ tính chất ly kỳ gay cấn và đầy phét lác kiểu Vẹm ăn không nói có cực kỳ trơ trẽn và nham nhở, ba xạo không thể tả. Chẳng hạn bay hành quân đột kích Tân Sơn Nhất “hoàn tòan bí mật và bất ngờ” nhưng lại dùng tần số hành quân của Không Quân VNCH để nói chuyện với nhau và nghe được “một giọng thất thanh, một giọng nói bằng tiếng Bắc”:

- Số Bốn đi đâu thế kia? Sao lại thế kia? Nhảy dù đi chứ?

Trái tim chúng tôi thắt lại. Có lẽ nào chưa kịp làm nhiệm vụ mà một người trong chúng tôi đã phải nhảy dù? Nhưng nhìn nhau, vẫn thấy đủ năm chiếc A-37 trên một đường bay ổn định.

Cái giọng Bắc ban nãy thét to:

- Cháy rồi…! Số Bốn nhảy dù đi!

Nhìn lại hai tên địch (?), chúng tôi chợt hiểu ra. Một chiếc AD-6 đang bùng cháy. Chắc nó trúng đạn của bộ đội ta tại nơi nó tới oanh kích, cố lê về đến đây, nhưng nó vẫn không thoát. Tên lái chiếc AD-6 này không nhảy dù. Chiếc máy bay lao xuống đất…



Bố khỉ. Cứ như trong xi-nê-ma! Phải có những chi tiết gay cấn ấy mới nổi bật chiến công vĩ đại của bọn Hữu Mai. Rồi cảnh đánh phá Tân Sơn Nhất cũng được mô tả y hệt cảnh những người hùng trong phim “Bla Bla Black Ship” vừa bay bỏ bom, bắn cà nông, vừa cười vui vẻ ra cái điều ngon lành dũng cảm. Nguyễn Thành Trung đánh trước, bom không ra, làm vòng tiếp. Đại đội phó Từ Đễ theo sau Trung, nhắm hangar A-37 nhưng bom rơi mẹ nó sát chiếc C-130 vừa hạ cánh ở tuốt luốt bên này bãi đậu Whiskey Five (W-5). Rồi Đại đội trưởng Lục thả bốn trái nhưng lóng ngóng chỉ rơi có hai. Sau đó là Vượng và o­n, nhắm vào hangar A-37 nhưng đều trật lất!



Hữu Mai viết, “Những việc trên đã diễn ra hết sức nhanh chóng.” Chúng ta hãy đọc tiếp những đoạn văn dưới đây để xét giá trị toàn bộ bài viết “Trận Đánh Cuối Cùng”…



Đến lúc đó mới nghe thấy tên trực ở sân bay bắt đầu kêu lên:

- Tân Sơn Nhất bị pháo kích…!

Một tên khác, nghe giọng nói có vẻ là một tên chỉ huy, lập lại:

- Tân Sơn Nhất bị pháo kích! Rồi hắn hỏi tiếp – A-37 của Phi Đoàn nào, xin cho biết tên?

Giữa lúc đó, Biên đội trưởng đã lao xuống sân bay lần thứ hai. Nhưng rồi thấy anh kéo lên, tiếp tục lượn vòng. Những trái bom vẫn chưa chịu ra.

Đại Tá Đinh Văn Đệ - NHỮNG KẺ ĂN CƠM QUỐC GIA THỜ MA CỘNG SẢN NGÀY ẤY, BAY GIỜ RA SAO?

 Đại Tá Đinh Văn Đệ

Một trong những lý do quốc gia Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ chính là đã có quá nhiều con o­ng chui vào tay áo và một trong số đó là Đinh Văn Đệ nguyên Tỉnh Trưởng Tỉnh Bình Thuận.
Sinh năm 1924, vào năm 1963 Đệ đã là Trung Tá Thị Trưởng Đà Lạt rồi được bổ nhiệm làm Tỉnh Trưởng Tuyên Đức.
Sau đảo chánh, hắn được thăng Đại Tá và thuyên chuyển về làm Tỉnh Trưởng Bình Thuận.
Chính trong thời gian này, Đệ lọt vào tầm ngắm của Việt Cộng và chúng cử tên Chín Mẫn (bí danh) tiếp cận, lôi kéo, dụ dỗ nhân vật mà theo bọn chúng là "có khả năng chui sâu, leo cao".
Năm 1969, lúc Đệ đã chấp nhận làm một điệp viên nằm vùng cho Việt Cộng thì hắn trúng cử Dân Biểu Hạ Nghị Viện và được bầu giữ chức Chủ Tịch Ủy Ban Quốc Phòng Hạ Viện (than ôi !)
Với chức vụ như thế, hắn có quyền đòi hỏi những Tướng lãnh và giới chức quân sự cung cấp những bí mật quân sự - quốc phòng, những kế hoạch chiến lược - chiến thuật cho hắn biết. Tất cả tin tức quan trọng được cung cấp, Đệ đều báo cho tên trùm tình báo Việt Cộng Cao Đăng Chiếm trong Cục R.
Vài "chiến công" của Đệ: Sau khi Tỉnh Phước Long thất thủ vào năm 1974, Việt Cộng muốn biết QL VNCH có điều động quân đội tái chiếm hay không. Tên Đệ đã dò hỏi nhiều người có trách nhiệm và đây là báo cáo của hắn: "Không có chuyện tái chiếm Phước Long vì QL VNCH không còn đủ quân để làm việc đó. Nhưng một Chuẩn Tướng đã cho tôi biết vài ngày nữa Không Quân sẽ dội bom Lộc Ninh". Từ nguồn tin của Đệ, Việt Cộng đã nhanh chân chạy ra khỏi nội thị Lộc Ninh, tránh được trận không kích sau đó 3 ngày.
Lúc miền Nam nguy ngập, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu thành lập phái đoàn đi Hoa Kỳ vận động viện trợ và với cương vị đang nắm giữ, Đệ phải có tên trong danh sách phái đoàn.
Bề ngoài hắn tỏ vẻ sốt sắng vì công việc nhưng lại bí mật "than thở có dụng ý" với các quan chức Hoa Kỳ rằng quân đội đã sa sút tinh thần không muốn chiến đấu nữa, miền Nam không còn hy vọng cứu vãn!

Kết quả như ta đã biết, Hoa Kỳ từ chối nguồn quân viện, đưa VNCH vào tình thế không còn bất cứ tia hy vọng nào và đành ngậm ngùi buông súng trong Tháng Tư Đen...
ST FB

Bài viết của Trúc Giang
Trong cuộc chiến tranh bảo vệ tự do dân chủ của Việt Nam Cộng Hoà, cái nhức nhối nhất là chỗ nào cũng có bọn VC nằm vùng, chúng tràn lan trong các tổ chức chính quyền, các cơ quan truyền thông, văn nghệ, tôn giáo, sinh viên học sinh… 
Trong các tổ chức chính quyền, từ Bộ Quốc Phòng, Bộ Tổng Tham Mưu, Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo, Tổng Nha Cảnh Sát, Quốc Hội, và ngay cả trong Dinh Độc Lập cũng có VC nằm vùng. Bọn nầy ẩn nấp dưới hàng trăm hàng ngàn bộ mặt, muôn hình vạn trạng, đánh phá miền Nam, từ công khai hợp pháp, đến bí mật dưới muôn ngàn hình thức. Độc hại nhất là bọn ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng Sản. 
Ngày nay, trong cuộc đấu tranh cho một nước Việt Nam tự do, dân chủ của các cộng đồng tỵ nạn Cộng Sản hải ngoại, cũng không tránh khỏi bọn nầy. Ở thế kỷ 21, kỹ thuật đánh phá tinh vi hơn, nhất là lợi dụng các thứ tự do, công khai và hợp pháp để đánh phá. 
Phạm vi hoạt động của Việt Cộng 
Thời nào cũng vậy, bài bản của phạm vi hoạt động cũng giống nhau. Đó ví như một vòng tròn có ba phần: 
Phần trung tâm, là do cán bộ đảng viên thực hiện. 
Phần thứ hai của vòng tròn, nối tiếp bên ngoài trung tâm, là những tổ chức được thành lập, do liên minh, liên kết, trong đó cán bộ đảng viên nắm phần lãnh đạo, chỉ huy, và đa số các thành phần quần chúng tham gia là không Cộng Sản. Đó là những “Mặt Trận”, như Mặt Trận Việt Minh, Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, Mặt Trận Tổ Quốc… 
Phần ngoài cùng của vòng tròn, là những tổ chức quần chúng không cộng sản, nhưng thân cộng, bị VC len lỏi bên trong, giật dây, tác động. Đó là những “Phong Trào”, như: 
Phong trào hoà bình (chống chiến tranh, phản chiến), Phong trào chống tham nhũng, Phong trào Nhân dân cứu đói, Phong trào bảo vệ phụ nữ, Phong trào bảo vệ văn hoá dân tộc, Phong trào đòi thi hành Hiệp định Paris, Lực lượng quốc gia tiến bộ, Thành phần thứ ba… 
2* Những tên Việt Cộng nằm vùng 
2.1. Nhà văn nhà báo Việt Cộng nằm vùng 
Cuối năm 1957, dưới thời tỉnh trưởng Nguyễn Trân, một mẻ lưới của cảnh sát Định Tường tung ra, bắt giữ những ký giả đem về giam tại Mỷ Tho, gồm có những người nằm vùng trong những tờ báo như sau: 
Triệu Công Minh (báo Tiếng Dội), Lương Ngọc (Trời Nam), Nam Thanh (Lẻ Sống), Đồng Văn Nam, Phương Ngọc, Phan Ba (Buổi Sáng), Nguyễn Bảo Hoá (Ánh Sáng), vợ Nguyễn Bảo Hoá là dược sĩ Mã Thị Chu (Tiếng Chuông), LS Nguyễn Văn Diệp, đạo diễn Lê Dân, Mai Thế Đông (giám đốc cải lương). 
Nguyễn Trân tổ chức tranh luận công khai tại rạp hát Viễn Trường, Mỷ Tho, nếu nhận CNCS là sai và ăn năn hối cải thì được thả ra. Sau khi được thả, toàn bộ dông tuốt vô bưng, xem như Nguyễn Trân thả cọp về rừng. 
2.2. Truy lùng Việt Cộng 
Sau cuộc truy lùng trong các báo nêu trên, chính quyền bắt giam hàng loạt cán bộ nằm vùng cấp thành ủy, như GS Nguyễn Văn Chì, Lê Văn Chí, Trần Văn Hanh, Nguyễn Trường Cữu, Cổ Tấn Lương, Bùi Đức Thịnh, bà Bình Minh, đa số là giáo sư tư thục. 
2.3. Việt Cộng nằm vùng, nhà văn Vũ Hạnh 
Vũ Hạnh tên thật là Nguyễn Đức Dũng sinh năm 1926 tại Quảng Nam. Cán bộ văn hoá khu ủy Sài Gòn-Gia Định, hoạt động công khai đơn tuyến ở nội thành Sài Gòn. 
Nhà văn Vũ Hạnh tại hội trường A trường Đại học An Giang đêm 17/03/2006. 
Trước 1975, Vũ Hạnh bị bắt 5 lần, nhưng lần nào cũng có người bảo lãnh cho ra. Người bảo lãnh Vũ Hạnh sau cùng, là LM Thanh Lãng, Chủ tịch Hội Văn Bút. 
Sau ngày 30-4-1975, Vũ Hạnh giữ chức Chủ tịch Hội Nhà Văn TP/SG. Vũ Hạnh mang súng kè kè bên hông, thì bị thi sĩ Hoàng Anh Tuấn, nửa đùa nửa thật bảo: “Anh em văn nghệ sĩ chỉ quen càm bút chư có biết chơi súng đau”. 
Nhưng mấy tháng sau, ông lắc đầu nói nhỏ “Totalement décu” (hoàn toàn bị lừa). Với chức vụ Chủ tịch Hội Nhà Văn, chẳng có quyền hành và quyền lợi gì, coi bộ đời sống thời bao cấp gặp nhiều khó khăn. Ít lâu sau, nghe nói có một nhà giàu cộng tác để Vũ Hạnh mở ra một gánh hát cải lương, nhưng sau đó dẹp tiệm. Vũ Hạnh lại tìm người có vốn mở xưởng làm xà bong, nhưng cũng không khá vì thiếu nguyên liệu. 
Ít lâu sau nữa, một trong những người bạn cho biết, Vũ Hạnh đang tìm đường dây cho con vượt biên, nhưng bạn bè chả ai dám giúp đở vì sợ cái bản chất phản bội của tên nằm vùng. 
2.4. Những tờ báo của Việt Cộng và có Việt Cộng nằm vùng 
2.4.1. Tờ Tin Văn 
Báo nhà nước đưa tin như sau: 
“Đầu năm 1966, đảng ủy giao cho cán bộ Vũ Hạnh đang hoạt động trong “vùng bị tạm chiếm”, ngụy trang dưới chiêu bài “bảo vệ văn hoá”, xin phép cho ra tờ Tin Văn, chủ trương chống văn hoá đồi trụy, chống văn hoá ngoại lai đầu độc thanh niên. 
Tờ báo được các cán bộ ta chỉ đạo, đứng đầu là đồng chí Trần Bạch Đằng, Ủy viên thường trực Thành Ủy SG-GĐ, lãnh đạo tuyên huấn, mặt trận, trí vận, Hoa vận, và thanh niên (bao gồm sinh viên và học sinh). 
Chủ nhiệm tờ Tin Văn là Nguyễn Mạnh Lương. Một số nhà văn cộng tác như Lữ Phương, Hồng Cúc, Nguyễn Hữu Ba, Vũ Hạnh. Toà soạn đặt trong một ngôi chùa”. 
Sau 1975, Vũ Hạnh viết như sau: “Tuần báo Tin Văn, với những bài phê bình vạch mặt những tên xung kích chống cách mạng, qua các tác phẩm đồi trụy, phản động, đã tạo ra một phong trào quần chúng sôi nổi. Ngụy quyền hoang mang nên tìm cách phản kích. Chúng trắng trợn cho tên Chu Tử, tay sai của Sở Công An và Phủ Đặc Ủy TW Tình Báo ngụy, bắt đầu một chiến dịch đả kích tôi, tố cáo tôi là “VC nằm vùng”, và liên tiếp trong nhiều số báo như vậy, y đã “vu khống tôi” cốt làm cho những người tham gia phong trào sợ hãi. Lúc đó, đảng ủy văn hoá và thường vụ khu ủy, động viên, chăm sóc và giúp đở tôi về vật chất lẫn tinh thần, thông qua vợ tôi. Mở đường dây liên lạc mới, tôi trực tiếp nhận sự chỉ đạo của đảng.” (Trích từ Vũ Hạnh: Trui rèn trong lửa đỏ, trang 179). 
Tên VC láu cá nầy là “VC chính cống”, thật sự nằm vùng, mà nhảy lên như đỉa phải vôi, khi bị Chu Tử vạch mặt là “VC nằm vùng”, rồi lại nói là “bị vu khống”. Bọn nằm vùng luôn luôn có phản ứng như thế! 
2.4.2. Hai tờ báo có Việt Cộng nằm vùng 
1. Tờ Đại Dân Tộc 
Chủ nhiệm: Võ Long Triều 
Tổng thư ký: Hồ Ngọc Nhuận 
VC nằm vùng là: Hồ Ngọc Nhuận và Huỳnh Bá Thành (hoạ sĩ Ớt) 
2. Tờ Điện Tín 
Chủ bút Hồ Ngọc Nhuận 
Chủ nhiệm: cựu đại tá, cựu nghị sĩ Hồng Sơn Đông 
Chủ bút: Hồ Ngọc Nhuận 
2 VC nằm vùng là: Hồ Ngọc Nhuận và Huỳnh Bá Thành (họa sĩ Ớt) 
2.4.3. Nói về tờ Tin Sáng 

Báo Tin Sáng có 3 thời kỳ: 
1. Tin Sáng cũ trước năm 1973 
2. Tin Sáng lậu từ 1973 đến 1975 
3. Tin Sáng bộ mới từ ngày 10-8-1975 đến 1-7-1981 
Tin Sáng cũ trước 1973. Toà sọan ở số 124 đường Lê Lai, Q.1. do nhóm dân biểu đối lập, thân cộng và VC nằm vùng, như: Ngô Công Đức, Hồ Ngọc Nhuận, Lý Chánh Trung, Dương Văn Ba, có cán bộ VC nằm vùng nhưng giữ chức vụ khiêm tốn. 
Trên tờ báo có 50 bài viết của LM Nguyễn Ngọc Lan, chửi Mỹ, chửi VNCH và chống chiến tranh. Tin Sáng là nơi kích động các cuộc biểu tình của nhóm SV/VC nằm vùng Huỳnh Tấn Mẫm. Tòa soạn bị đốt và có truyền đơn “Đồng bào quyết đập chết những tên VC nằm vùng Ngô Công Đức và Hồ Ngọc Nhuận. Quần chúng rất phẩn nộ trước hành động đâm sau lưng chiến của dân biểu tay sai VC Ngô Công Đức và Hồ Ngọc Nhuận”. 
Tin Sáng sau 1975. 
Trần Văn Giàu nhận xét: “Các anh làm báo CS hơn CS”. Alain Ruscio ghi lại trong cuốn Vivre au Vietnam như sau: “Không ai nói ngọt hơn Lý Chánh Trung được. Mặc dù trong thâm tâm họ biết là họ đang nói dối, đang đóng kịch. Nhưng điều quan trọng là lời nói đã phát ra thì không thu lại được”. Đó là những tiếng chửi rất nặng nề của trí thức đối với trí thức. Không biết bọn nằm vùng nầy có hiểu và cảm thấy nhục nhã hay không? 

Ngô Công Đức cũng đã sáng mắt ra, trước khi chết cũng để lại chúc thơ bộc bạch phân trần đôi điều, nhưng quá muộn. Nói chung, những tên VC nằm vùng đã mở mắt ra, và té ngửa hết, nhưng đã muộn cho một cuộc đời. 
Tại sao Tin Sáng sống được 5 năm dưới chế độ Cộng Sản? 
Thứ nhất, báo Tin Sáng nịnh bợ VC hơn báo VC. 
Thứ hai, Võ Văn Kiệt nhận thấy người dân miền Nam còn căm thù VC. Từ đổi tiền, đuổi đi kinh tế mới, cải tạo thương nghiệp, xếp hàng mua gạo, ăn độn, chồng, con, cha mẹ của đa số bị tù cải tạo. Người dân chưa thấy cái “ưu việt” của XHCN như tuyên truyền. Trong khi đó, báo Sài Gòn GP thì còn non trẻ, chờ cho đến khi thành lập tờ Thanh Niên, nói theo giọng điệu o bế người dân, trình diễn màn lừa bịp, là “nói thẳng, nói thật”…, vì thế Võ Văn Kiệt chưa khai tử báo Tin Sáng, để cho sống 5 năm trong tình trạng trái ngược, là mỗi khi số lượng phát hành gia tăng lên cao, thì ban biên tập lại hồi hộp chờ ngày giờ kết liểu cuộc đời nịnh bợ. 
2.5. Trí thức thân cộng và bọn “ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng Sản” 
Ở miền Trung thì nổi bật những tên Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Ngô Kha, Trần Quang Vọng,Trần Hữu Lực, Trần Duy Phiên, Lê Văn Ngăn, Trần Vàng Sao, Võ Quê… 
Hoàng Phủ Ngọc Tường phải sống những ngày khổ nhục, oán hận, khi thấy người đồng chí trẻ của y là Bửu Chỉ đang ngủ với vợ của y là nữ đồng chí, nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ. 
Ở miền Nam, thì có Tôn Nữ Thị Ninh, LS Trần Ngọc Liễng, GS Lý Chánh Trung, LS Ngô Bá Thành. Những LM Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Phan Khắc Từ, các thượng tọa Thích Trí Quang, Nhất Hạnh. 
2.6. Thành phần thứ ba và Mặt Trận Nhân Dân Cứu Đói 
“Theo chỉ đạo của ta, một lực lượng chính trị mới ra đời, đó là “Thành phần thứ ba” gồm trí thức, nhân sĩ, binh sĩ, dân biểu, báo chí, tu sĩ, công thương gia, cựu tướng lãnh, có khuynh hướng chống Thiệu, đòi hoà bình, nổi bật nhất là các nhân vật như LS Trần Ngọc Liễng, Ngô Bá Thành, KS Dương Văn Đại, DB Hồ Ngọc Nhuận, Lý Quý Chung, Kiều Mộng Thu, Nguyễn Văn Hàm, Lý Chánh Trung, LM Phan Khắc Từ, Thích Pháp Lan, ni sư Huỳnh Liên và nhà báo Nam Đình”. Tướng Dương Văn Minh đại diện cho thành phần nầy ra đảm nhiệm chức Tổng thống. 
Ni sư Huỳnh Liên, tịnh xá Ngọc Phương biểu tình chống chính quyền Sài Gòn năm 1973 
Mặt Trận Nhân Dân Cứu Đói 
Ra đời tháng 9 năm 1974 do Đại đức Thích Hiển Pháp làm Chủ tịch. Dân biểu Nguyễn Văn Hàm làm Tổng Thư ký. Các nghệ sĩ Kim Cương, Thanh Nga tích cực tham dự. Ni sư Huỳnh Liên, LM. Phan Khắc Từ, các DB Kiều Mộng Thu, Hồ Ngọc Nhuận, GS Lý Chánh Trung, LS Ngô Bá Thành… 
“Ta đưa một số cán bộ đứng tên vào mặt trận: Ngọc Trảng, Ba Thép, Xuân Thượng, với khẩu hiệu “Lá lành đùm lá rách” ẩn chứa nội dung tố cáo chế độ. Hình thức biểu tình rất sáng tạo, biểu tình có ca hát “Dậy mà đi”. Biểu tình “xa luân chiến”, không lớn mà liên miên từ ngày nầy qua đêm khác, đêm nầy qua đêm nọ như bánh xe quay, làm cho cảnh sát ngụy mất ăn mất ngủ”. Phong trào thì công khai, nhưng ra báo thì bí mật. Công khai thì có Kiều Mộng Thu trong báo Đại Dân Tộc, ở tờ Điện tín thì có Lý Chánh Trung. Về phía bí mật, Cứu Đói in 10,000 bản phổ biến trong quần chúng. 
Mặt Trận Nhân Dân Cứu Đói lập khối Dân Tộc Xã Hội ở Hạ Viện để đấu tranh nghị trường. 
Tổ chức “báo nói”, “văn nghệ chạy”, “biểu tình ngồi”, “phát chẩn”. 
Ni sư Huỳnh Liên sinh tại Mỷ Tho năm 1923, mất ngày 16-4-1987, tên thật là Nguyễn Thị Trừ, ni sư trưởng Tịnh xá Ngọc Phượng. Đại biểu QH Khoá VI. Phó Chủ tịch UB/MTTQ Sài Gòn, Ủy viên TW MTTQ/VN. 
Bọn cứu đói cứng họng, cảm thấy ô nhục khi nhân dân kêu đói, khi đồng bào ăn bo bo, ăn độn mà chúng lặn mất, im thin thít của thái độ hèn nhát, lưu manh. 
3* Dân biểu Việt Cộng nằm vùng và dân biểu thân cộng 
Trên tờ Tuổi Trẻ trong nước, bài viết đề ngày 31-7-2012 với tựa đề “Dân tin người thật tâm, thật tài”, nói đến 2 dân biểu VNCH là những “chứng nhân lịch sử” của 37 năm về trước. Đó là dân biểu Nguyễn Văn Hàm từng giữ cương vị Phó Chủ Tịch Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn, sau ngày 30-4-1975, và dân biểu Đinh Văn Đệ, từng làm Chánh Văn Phòng Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH. 
DB Nguyễn Văn Hàm 
3.1. Dân biểu Nguyễn Văn Hàm 
Nguyễn Văn Hàm khoe thành tích như sau: “Ở Sài Gòn có những cuộc biểu tình mà tôi và những người khác đã tổ chức rất công phu như “phong trào cứu đói”, “ký giả đi ăn mày”. Cũng có những cuộc biểu tình tự phát, không cần ai tổ chức cả. Quần chúng qui tụ quanh chúng tôi, gọi là “lực lượng thứ ba”. 
“Quê ở Mộ Đức, Quảng Ngãi, Nguyễn Văn Hàm làm thơ, viết báo, giảng dạy triết học, văn chương. Tham gia Quốc Hội Hạ Viện khoá 2 (1971), là một dân biểu đối lập, thủ lĩnh phong trào quần chúng Phật giáo”. 
Sau 1975, đương sự làm Phó Chủ tịch Hội Đồng Nhân Dân, bên cạnh Ủy Ban Nhân Dân. Hội đồng chả có quyền hạn gì cả, rồi hắn bị đá ra. Vợ và con vượt biên qua Úc. Có đứa con gái đang sống ở Minnesota, nhưng không nhìn cha. 
3.2. Dân biểu Đinh Văn Đệ 
Sau năm 1975, nhiều người “bức xúc” khi thấy cựu dân biểu Đinh Văn Đệ ra vào làm việc trong Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Sài Gòn. Võ văn Kiệt cho biết : Hắn là người Cộng Sản mà không có đảng” (Il est Communist sans party) 
Đinh Văn Đệ 
3.2.1. Đinh Văn Đệ là lính VNCVH 
Tờ báo viết: “Ông Đinh Văn Đệ bị động viên đi lính rồi trở thành trung tá Chánh văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH (1954-1961). Làm Tỉnh trưởng Tuyên Đức kiêm Thị trưởng Đà Lạt (1963). Tỉnh trưởng Bình Thuận (1964-1967). 
Năm 1967, ra ứng cử dân biểu Quốc hội. Giữ chức Chủ tịch Ủy Ban Quốc Phòng Hạ Viện. Tổng thống Thiệu cử ông làm “trưởng phái đoàn” sang Mỹ xin viện trợ khẩn cấp. Kết quả chuyến đi, ông Đệ được Mặt Trận Giải Phóng Dân Tộc Miền Nam tặng thưởng Huân Chương Chiến Công hạng nhất.” 
Đinh Văn Đệ phát biểu: “Tôi được giáo dục từ nhỏ, mang sẵn trong lòng tình yêu nước thực sự, yêu con người thực sự, không phân biệt tôn giáo, không phân biệt chính thể. Bị động viên, tôi đành phải đi lính, và luôn luôn giữ cái tâm lành, trung thực, ngay thẳng. Bao nhiêu năm đeo lon, đeo súng, tôi không một lần sát sanh. Bây giờ xuất gia, theo đạo Cao Đài”. 
Đinh Văn Đệ sinh năm 1924, mồ côi cha lúc 15 tuổi. Nhà nghèo, học hết Trung học đệ nhất cấp rồi ra đi dạy học, theo đạo Cao Đài. 
3.2.2. Người có công xây dựng gián điệp U 4 
Năm 1969, danh sách điệp viên của tình báo chiến lược Việt Cộng có thêm một tên mới, Đinh Văn Đệ, bí số U 4. 
Người có công đầu, móc nối, tác động, xây dựng U 4, là Đinh Văn Út, chú của Đinh Văn Đệ. Út có bí danh là Chín Mẫn, sinh năm 1919 tại Châu Đốc. Chín Mẫn thuộc phòng tình báo T4 của Thành Ủy Sài Gòn Gia Định, thuộc Trung Ương Cục miền Nam, còn gọi là Cục R, B2 và “Ông Cụ”. T4 do Mười Hương phụ trách. 
Năm 1969, Đinh Văn Đệ cung cấp tài liệu kinh tế hậu chiến của VNCH, chính Đệ lấy xe riêng đưa người và tài liệu đến nơi an toàn. Cũng năm nầy, Đệ thoả thuận và tiếp nhận toàn bộ qui ước liên lạc, mực mật, giấy viết mực mật, thuốc hiện mực mật, vật ngụy trang, mật khẩu giao liên… nói chung, Đinh Văn Đệ, Chủ tịch Ủy Ban Quốc Phòng Hạ Viện Quốc Hội VNCH, đã chính thức trở thành một gián điệp của Việt Cộng, mang bí số U 4 trực thuộc phòng Tình báo mật danh J.22 của Cục R (còn gọi là B2). Em của Đinh Văn Đệ là Đinh Văn Huệ, trước làm chính trị viên tiểu đoàn giao thông vũ trang thuộc J. 22 
Đinh Văn Đệ 
Đinh Văn Đệ kể những chiến công như sau. 

1). Kế hoạch oanh kích Lộc Ninh 
“Sau khi ta (VC) giải phóng Phước Long ngày 6-1-1975, đồng chí Phạm Hùng muốn biết địch (VNCH) có ý định tái chiếm Phước Long hay không? Tôi được giao phó nhiệm vụ trả lời câu hỏi nầy. 
Trước hết, tôi điện qua Phủ Thủ Tướng, mời Tổng trưởng Quốc Phòng ra điều trần trước Hạ Viện, tại sao thất thủ Phước Long? Trách nhiệm của ai? 
Tại buổi điều trần, Tổng trưởng QP đổ mồ hôi hột, bối rối vì bị chất vấn sôi nổi, tới tấp. Tôi binh vực và đề nghị, mỗi lần điều trần như thế nầy vất vả lắm, vậy Bộ QP cấp cho tôi cái giấy được tự do ra vào các nơi liên hệ, để hỏi trực tiếp các cấp chỉ huy phần hành. Thế rồi, với tờ giấy trong tay, tôi đến Phòng Hành Quân, thì gặp ngay người quen biết cũ, là một chuẩn tướng, ông ta nói: “Đại ca đừng lo. Ai lại dại gì kéo quân đi lấy lại nơi mà mình phòng thủ đã bị thất bại. Tôi sẽ trả thù bằng cách dội bom cho nát Lộc Ninh”. 
Tôi báo cáo tin đó. Vài hôm sau, địch (VNCH) đã ném bom Lộc Ninh, nhưng quân ta tránh được thiệt hại. 
2). Trung Ương Cục ở đâu? 
Trung Ương Cục Miền Nam (TWCMN) hay Cục R, B2, “Ông Cụ”, là cơ quan đại diện cho Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng, để chỉ đạo chiến trường miền Nam. Ban Anh ninh TWCMN do thiếu tướng Cao Đăng Chiếm phụ trách từ năm 74 đến 75. 
Ban An Ninh T4 thuộc về Thành Ủy Sài Gòn Gia Định do Mười Hương phụ trách. 
TWCMN hỏi tôi là địch (VNCH) có biết Cục R ở đâu không? 
Tôi gọi điện qua Bộ QP/VNCH xin 3 chiếc trực thăng, cho tôi là Chủ tịch Ủy Ban QP/HV, cho Trung tướng Tôn Thất Đính, nghị sĩ, Chủ tịch UB/QP Thượng Viện và cho Trung tướng Trần Văn Đôn, Phó Thủ tướng, mỗi người một chiếc trực thăng, thành lập một phái đoàn đi ủy lạo binh sĩ đang cố thủ tại Pleiku, Đà Nẳng và Bến Cát (SĐ 5 đóng ở Bình Dương). Đi đến đâu tôi cũng hỏi các cấp chỉ huy “Địch nó biết rõ vị trí của ta, vậy ta có biết Cục R ở đâu không? Tôi đúc kết các câu trả lời và báo cáo về Cục R. 
3). Xin viện trợ để cắt viện trợ 
“Tôi tham gia phái đoàn sang Mỹ để xin viện trợ khẩn cấp, vì Thiệu ngoan cố, cố chống giữ. Phái đoàn chia nhau đi “vận động hành lang” với các cơ quan và chính khách Mỹ. Trước khi đi, tôi suy nghĩ, làm thế nào để vận động xin viện trợ mà kết quả là bị cắt viện trợ. Khi sang Mỹ, mỗi dân biểu, nghị sĩ đều có nhân viên của toà đại sứ đi kèm, nếu sơ hở là bị lộ ngay. 
Với cái chiêu “nói vậy mà không phải vậy”, làm cho các đại biểu trong đoàn thấy tôi là người tận tâm, tha thiết nhất trong việc xin viện trợ để cứu chế độ Sài Gòn. 
Với mục đích làm cho Mỹ nản chí và bỏ cuộc, tôi đưa ra hình ảnh của người lính VNCH không còn muốn chiến đấu, đã bỏ chạy bằng cách níu càng trực thăng, trốn ra khỏi chiến trường, thì người Mỹ hiểu ngay là họ phải làm gì. 
Khi tiếp phái đoàn, Tổng thống G. Ford cho biết: “Thôi các bạn cứ yên tâm ra về, tôi sẽ cử một viên tướng qua thị sát tình hình rồi sẽ có quyết định sau”. Nghe vậy, tôi hiểu là Mỹ đã bỏ cuộc”. 
Theo chỉ thị của trên, Đinh Văn Đệ đã đưa một gián điệp mang bí danh “Số 6” vừa tốt nghiệp cao học nước ngoài vào làm việc trong Ủy Ban QP của Hạ Viện QH/VNCH. 
Đinh Văn Đệ qua cái nhìn họa sĩ Ớt vào thời điểm trước năm 1975 
Năm 1972, tình báo Hà Nội đã nhận đầy đủ chi tiết về hệ thống tổ chức, về quân số ở các quân khu, về ngân khoản QP/VNCH, thậm chí còn nhận những khoản viện trợ không công khai cho VNCH, ẩn dưới chương trình PL (Program Law), thương mại hoá, tức không viện trợ bằng tiền, mà bằng hàng hoá, để VNCH bán lấy tiền dùng cho quân sự. 
Sau khi 2 giao liên Ngô Viết Triều và Nguyễn Thị Thành bị bắt, cuối năm 1971, Đinh Văn Đệ được chuyển sang hoạt động đơn tuyến, nhận lịnh trực tiếp của Cục R thông qua một nữ tình báo giao liên. 
     Đinh Văn Đệ 
Đinh Văn Đệ hiện sống ở Sài Gòn vẫn khỏe mạnh và nổi tiếng là một Thiên Vương Tinh đức cao trọng vọng của đạo Cao Đài. 

Có một điều Đinh Văn Đệ dấu đầu lòi đuôi là “tôi luôn luôn có cái tâm lành, trung thực và ngay thẳng”. Một tên gián điệp phản quốc, sống dối trá, hành động phản bội mà còn cái gì gọi là tâm lành, trung thực, ngay thẳng cho được? 
4. Sinh viên nằm vùng 
4.1. Danh sách 16 sinh viên bị chính quyền VNCH bắt giữ 
Huỳnh Tấn Mẫm, Dương Văn Đầy, Lê Thành Yến, Phùng Hữu Trân, Trần Khiêm, Đỗ Hữu Ứng, Lê Anh, Võ Ba, Đỗ Hữu Bút, Hồ Nghĩa, Cao Thị Quế Hương, Trương Hồng Liên, Trương Thị Kim Liên, Võ Thị Tố Nga. 
4.2. Danh sách sinh viên thoát ly ra căn cứ Bắc Lộ 7, Campuchia 
Phan Công Trình, Nguyễn Đình Mai,Tôn Thất Lập, Trần Long Ân, Nguyễn Văn Sanh, Lê Thành Yến, Trương Quốc Khánh, Huỳnh Ngọc Hải, Huỳnh Quang Thư, Dương Văn Đầy, Trần Ngọc Hảo, Hai Nam, Năm Sao, Trần Thị Ngọc Dung, Hà Văn Hùng, Trương Quốc Khoách. 
4.3. Sinh viên Việt Cộng nằm vùng Huỳnh Tấn Mẫm 
4.3.1. Huỳnh Tấn Mẫm 
Huỳnh Tấn Mẫm tên thật là Trần Văn Thật, sinh năm 1943 tại Sài Gòn. Trước 1975 là một đảng viên cộng sản nằm vùng, hoạt động công khai ở Sài Gòn. Sau 1975, học tiếp y khoa, ra bác sĩ. Sang học Liên Xô về Triết học Mác Lênin. 
Trở về VN được cử làm Tổng Biên Tập báo Thanh Niên. Là thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc và hội viên Hội Liên Hiệp Thanh Niên. 
Với những chức vụ như thế, Huỳnh Tấn Mẫm (HTM) trở thành một cán bộ thuộc hàng cao cấp, có tiếng tâm của Sài Gòn. 

Huỳnh Tấn Mẫm 
4.3.2. Huỳnh Tấn Mẫm mở mắt nhưng quá trễ 
Con đường hoạn lộ của HTM bị nhiều trắc trở, vì thực tế sau 1975 cho thấy, cái quan điểm tự do dân chủ kiểu “tư sản” của miền Nam không còn được áp dụng trong chế độ chuyên chế XHCN. Ngoài HTM ra, các sinh viên VC khác cũng đều vở mộng, cho nên đã thể hiện những hành động bị cho là “chệch hướng”, không được lòng đảng vì khác đường lối, nên bị hạ tầng công tác, loại trừ. 

Đã vậy, vợ của cán bộ cao cấp lại làm chủ hụi và giựt hụi. Vợ ra toà lãnh án đã đành, Huỳnh Tấn Mẫm còn bị kêu ra toà làm chứng chống lại vợ, nên mất uy tín. 
Thế là một cuộc đảo chánh trong nội bộ, đã khai trừ HTM ra khỏi tờ báo Thanh Niên năm 1990. Được chuyển về Hội Hồng Thập Tự, làm bác sĩ phụ trách phòng mạch miễn phí, thế là hết cơ hội chấm mút, thu hoạch như các đồng chí khác trên đường hữu sản hoá cán bộ trong thời đổi mới, mở cửa. 
Mở phòng mạch ngoài giờ, chuyên chăm sóc da mặt, nặn mụn cho phụ nữ, nhưng chẳng có ai chiếu cố tới, vì bác sĩ cách mạng, có một thời không được bịnh nhân tin tưởng bằng “bác sĩ ngụy”. Riêng cá nhân HTM, trước kia chỉ lo biểu tình, đấu tranh, chạy trốn và ở tù, thì còn ngày giờ đâu mà học với hành. Hơn nữa, đảng cần “hồng” hơn “chuyên”, chỉ cần có quan điểm lập trường 101% cộng sản là một bác sĩ tốt rồi. Phòng mạch ế. Bị gán là bác sĩ chính trị, mà thứ chính trị của CNCS đã bị ném vào sọt rác từ lâu rồi. Người ta nhận xét: “bác sĩ nửa vời, chính trị nửa vời, cuộc đời cũng nửa vời, gia đình tan nát, sự nghiệp tiêu tan. Hình ảnh “anh hùng” vang bóng một thời, làm rung chuyển chế độ miền Nam đã chấm dứt trong cay đắng, chán chường, tiêu cực, mệt mõi”. 
Kể ra ông trời cũng có con mắt. 
5. Thành Đoàn Cộng Sản Sài Gòn Gia Định lộng hành 
Thành Đoàn là tên gọi tắt của Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh đang hoạt động trong nội thành Sài Gòn. 
5.1. Thành Đoàn Cộng Sản giết sinh viên Lê Khắc Sinh Nhật 
Ngày 28-6-1971, Biệt Động Thành bắn chết sinh viên Lê Khắc Sinh Nhật ngay tại hành lang trường Luật Sài Gòn. 
Ban ám sát Thành Đoàn cử 2 tên tới Đại Học Luật Khoa, số 4 đường Duy Tân, nhận là người nhà muốn gặp Lê Khắc Sinh Nhật có việc cần. Lúc đó, sắp tới mùa thi cuối năm, Nhật đang hướng dẫn sinh viên năm thứ nhất về cách thức thi cử tại một giảng đường. Nhật vừa ra tới hành lang, thì một tên móc súng bắn liền 3 phát vào ngực. Hắn phóng lên một chiếc Honda nổ máy chờ sẵn. Hắn ném lại một quả lựu đạn nhưng may mắn, lựu đạn không nổ. Cảnh sát gác bên ngoài bắn 3 phát chỉ thiên. Nhạc sĩ Vũ Thành An sáng tác một bài hát tưởng niệm Lê Khắc Sinh Nhật. 
Lý do giết SV Lê Khắc Sinh Nhật 
Thành Đoàn CS giết SV Lê Khắc Sinh Nhật (LKSN) vì 2 lý do: 
Một là răn đe các sinh viên thuần túy, có tinh thần quốc gia 
Hai là để trả mối hận bị đánh bại trong 2 cuộc bầu cử, mà Liên danh của LKSN đã thắng Liên danh SV Việt Cộng Trịnh Đình Ban, trong cuộc bầu cử Ban Đại Diện SV trường Luật niên khoá 1970-1971. Và đã thắng Liên danh SV/VC trong tay Thành Đoàn trong cuộc bầu cử Ban Đại Diện Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn, tại Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp (Nông Lâm Súc) ngày 20-6-1971. Trong cuộc bầu cử nầy, khi thấy kết quả nghiêng về phía Liên danh LKSN do SV Lý Bửu Lâm đứng đầu, thì bọn SV/VC giở ngay bản chất côn đồ, nhảy lên bục “đá thùng phiếu để hủy bỏ kết quả bầu cử” và ấu đả, hỗn chiến xảy ra” (Trích trong “Trui rèn trong lửa đỏ” trang 21 của thiếu tướng Trần Bạch Đằng) 
Bị thất bại trong cuộc bầu cử, Thành Đoàn CS cay cú, đưa ra 2 quyết định: 
Một là, sát hại SV Lê Khắc Sinh Nhật 
Hai là, chỉ thị cho SV Huỳnh Tấn Mẫm, tập họp một số SV tại Tổng Vụ Thanh Niên Phật Tử, số 294 Công Lý, vào ngày 28-7-1971 để bầu ra một tổ chức ma, chưa bao giờ có, đó là “Tổng Hội Sinh Viên VN” do Huỳnh Tấn Mẫm làm Chủ tịch. Tổ chức nầy không đại diện cho ai cả, ngoài đám SV/VC và một số ít bị lừa. 
Quyết định hạ sát SV Lê Khắc Sinh Nhật là một hành động tội ác của Thành Đoàn CS/SG. 
5.2. Thành đoàn CS/SG giết GS Nguyễn Văn Bông 
Ngày 10-11-1971, SV/VC Vũ Quang Hùng (bí danh Ba Diệp, năm thứ 3 Khoa học) và tên Lê Văn Châu, dùng chất nổ ám sát chết GS Nguyễn Văn Bông, Viện trưởng Quốc Gia Hành Chánh, tại ngã tư Cao Thắng - Phan Thanh Giản. Hai tên Hùng và Châu thuộc Trinh sát võ trang bí số S1, hoạt động nội thành SG-GĐ, thuộc Ban An ninh T4 của Thành Ủy SG-GĐ (trong mật khu). Cả hai bị bắt, đày đi Côn Đảo. 
Sau ngày 30-4-1975, Vũ Quang Hùng viết : “Tôi ám sát người sắp làm thủ tướng” và rất hảnh diện về thành tích đó. Tên Hùng giải thích lý do giết GS Nguyễn Văn Bông như sau: “Tin tình báo cho biết, GS Nguyễn Văn Bông sẽ làm thủ tướng vì chính quyền ngụy muốn chuyển từ quân sự sang dân sự. GS Bông là một trí thức rất có uy tín mà lên làm Thủ tướng, thì cách mạng sẽ khó khăn hơn. Để giữ bí mật, tôi đặt tên mục tiêu phải giết với bí số G.33”. 
Đến tháng 4 năm 2000, trong lễ kỷ niện 25 năm ngày “chiến thắng 30 tháng 4”, nhà báo chuyên về tình báo Nam Thi của báo Thanh Niên, cũng kể lại “thành tích” nầy, trong đó có sự trợ giúp đắc lực của SV kiến trúc Nguyễn Hữu Thái, người đã theo tướng Dương Văn Minh đến đài phát thanh để tuyên bố đầu hàng trong ngày 30-4-1975. Chính SV Nguyễn Hữu Thái làm “xướng ngôn viên bất đắt dĩ”, đã giới thiệu tướng DVM đọc tuyên bố. Sau đó, Nguyễn Hữu Thái xuất cảnh sang Canada theo diện đoàn tụ gia đình. 
Phu nhân của GS Bông có lẻ đã biết tên tòng phạm nầy. 
Trong phỏng vấn của đài RFA, ký giả Mạc Lâm ghi lại như sau: “Đã hơn 40 năm, những nạn nhân như bà Lê Thị Thu Vân, tức bà Jackie Bông, phu nhân của cố giáo sư lừng danh Nguyễn Văn Bông, bị tên SV Vũ Quang Hùng ám sát, tuy không bao giờ quên nổi biến cố bi thương, bổng ập xuống cuộc đời bà và các con nhỏ dại của bà năm xưa. Nhưng bà đã lấy tâm Phật mà “cầu nguyện cho ông ấy (tức tên Vũ Quang Hùng, kẻ đã giết chồng bà) và mong nhà cầm quyền Hà Nội “mở mắt ra”, “mở tấm lòng ra”. (RFA ngày 5-5-2011) 
Ngoài việc ám sát GS Nguyễn Văn Bông, Thành Đoàn còn ném lựu đạn M-26 vào xe của BS Lê Minh Trí, Tổng trưởng GD&TN ngày 6-1-1969. 
Hai tháng sau, đến lượt BS Trần Anh, Tân Viện Trưởng Viện Đại Học Sài Gòn, bị bắn chết trước cổng trường Chu Văn An, bên cạnh Đại học xá Minh Mạng, ngang nhà thờ Ngã Sáu, Chợ Lớn. BS Trần Anh đang đi bộ từ Bộ Y Tế trên đường về nhà ở bên cạnh Đại học xá Minh Mạng. 
6* Phan Nhật Nam tố cáo Việt Cộng nằm Vùng 
6.1. Thiếu tá “VC Killer” Thái Quang Chức 
Trong bài viết tựa đề “Những tên Việt Cộng nằm vùng”, một thiếu tá Hải quân có danh hiệu là “VC Killer” mang tên Thái Quang Chức, em của tướng Thái Quang Hoàng. 
Năm 1957, thanh niên Thái Quang Chức lội qua sông Bến Hải vượt tuyến vào Nam. Tốt nghiệp trường Bộ Binh Thủ Đức, về làm việc tại Bộ Tư Lịnh Hải Quân Vùng 4, Sông Ngòi, Mỷ Tho. 
Năm 1970, mang lon thiếu tá, nổi tiếng là “VC Killer”, vì sau cuộc hành quân, xác VC được kéo chạy trên sông để biểu dương ý chí chống Cộng.
Trong những ngày sau cùng của tháng 4 năm 1975, tướng Thái Quang Hoàng cho người em xuống Mỷ Tho gọi Chức về để cùng gia đình di tản, đương sự quyết định ở lại để góp phần xây dựng quê hương. 
Trình diện học tập cải tạo, Chức được đưa đến trại Hoàng Liên Sơn. 
Hai năm sau, năm 1977, một người mặc thường phục đến bộ chỉ huy đoàn 776, đưa thiếu tá “VC Killer” ra khỏi trại, về làm nhiệm vụ mới. 
6.2. Trung úy Trần Trung Phương, tiểu đoàn 3 Nhảy dù, VC nằm vùng 
Do được giới thiệu, tác giả đến một đường dây chạy giấy xuất cảnh. Đến một cơ sở không có bảng hiệu, nhân viên thường phục tiếp đón với thái độ “chúng tôi đã biết rõ tất cả”, “chào anh Nam, anh có mạnh không?”. Anh ta nói: “Tôi biết anh nhiều lắm”, rồi mở tủ hồ sơ lấy ra cho coi Chứng Chỉ Nhảy Dù do Trung Tâm Huấn Luyện Sư Đoàn Dù cấp, có ký tên đóng dấu của trung tá Trần Văn Vinh. 
Anh ta tự giới thiệu: “Trung úy Trần Trung Phương, gốc Đại Đội 33, tiểu đoàn 3 Dù, đơn vị cuối cùng là “Biệt Đội Quân Báo Điện Tử Sư đoàn. Là nhân viên Đặc vụ Sở Phản Gián Bộ Nội Vụ (Cộng Sản). 
Điều kiện đưa ra, tôi có thể làm hồ sơ cho anh ra khỏi VN tối đa là 8 tháng. Gia đình anh tại Mỹ phải trả cho người của chúng bên đó 2,000 đô là, và kèm thao một số điều kiện… 
“Lẽ tất nhiên, tôi không chấp nhận điều kiện của Phương, từ 2,000 đô la đến “những điều kiện khác…”. 
Sau đó, năm 1993, để giúp một người quen cần phải xuất cảnh để giải quyết những khó khăn, tôi tìm đến Trần Trung Phương ở một địa chỉ mới, là một văn phòng ở khách sạn đường Nguyễn Văn Trỗi, nhân viên văn phòng cho biết, ông Phương đang Hoa Kỳ, ở vùng Westminster, Cali. 
Trong cuộc hành quân Lam Sơn 719, Hạ Lào, những bãi đáp đổ quân, những vị trí tấn công, toạ độ dội bom B-52 của SĐ Dù, đã bị quân báo VC giải mã từ cơ quan đầu mối, tối cao, là Biệt Đội Điện Tử và Phòng Hành Quân SĐ. 
Ngày 30-4-1975, viên hạ sĩ quan ở đơn vị đó mà tôi biết, đã dẫn trung tá Nguyễn Văn Tư, Chỉ huy trưởng Tổng Hành Dinh SĐ Dù, qua Camp Davis để giao nộp hồ sơ trận địa của đơn vị mà hạ sĩ quan nầy đã lưu giữ từ hơn 10 năm trước đó. 
Phan Nhật Nam: “Tôi có bổn phận chỉ đích danh những cá nhân tác hại, điển hình như Trần Trung Phương, Thái Quang Chức, những hạ sĩ quan và những công an VC, đã đi theo diện ghép với những gia đình HO và ODP hiện tràn lan khắp các cộng đồng người Việt hải ngoại”. 
Ngoài những tên VC nằm vùng mà ông Phan Nhật Nam nêu trên, còn có 1 tên vô cùng lợi hại, đó là một thượng sĩ. 
“Giữa tháng 4, 1975, Bộ Chính Trị nêu vấn đề, nếu chúng ta đánh lớn, liệu Mỹ có nhảy vào cứu nguy hay không? 
Giải đáp câu hỏi nầy là công lao của đồng chí Nguyễn Văn Minh, là thượng sĩ giữ hồ sơ tuyệt mật của Cao Văn Viên. Lúc đó, thư của TT/HK gởi cho Thiệu: “Cuộc chiến tranh VN coi như đã chấm dứt đối với Mỹ, chi viện 700 triệu đô la, còn mọi việc khác thì tùy theo quý ngài định liệu”. Bản sao bức thư được gởi cho Cao Văn Viên. Đồng chí Minh lập tức chép lại, gởi ra bộ chỉ huy miền. Nhờ tài liệu nầy mà BCT nắm được điểm yếu của địch, nên nêu phương châm tấn công “Thần tốc - Táo bạo - Chắc thắng”. 
7* “Những bí ẩn của báo Người Việt” 
Đó là cái tựa của bài viết trên tờ SGN ngày 28-7-2012. 
Căn cứ vào 2 trang web Tân Đại Dương và trang tài liệu 401k-plans, để xác định “Nguoi Viet Daily News không phải là một công ty,, “Corporation Nguoi Viet Inc.” như đã công bố trên báo chí. Tác giả bài viết đặt câu hỏi: “Ai là chủ thực sự của báo Người Việt?” 
Đây là một câu hỏi cần được phải trả lời để đánh tan những nghi ngờ gần như xác định về báo Người Việt, đang sôi nổi trong những ngày gần đây. Đương nhiên là báo NV có quyền không trả lời, tuy nhiên, nếu không trả lời rõ ràng và hợp lý thì dễ biến sự nghi ngờ trở thành xác định. 
Hôm nọ, xem ông Ngô Kỷ liệt kê “thành tích” của báo Người Việt trên You Tube, thì quả thật, báo Người Việt rất đúng, chẳng sai tí nào đối với những tố cáo của các đoàn thể vừa qua. Hết phương chối cãi. Những lời lẻ binh vực xem như ngụy biện, không thuyết phục. 
8* Kết 
Đem tình trạng “Việt Cộng nằm vùng ở miền Nam trước năm 1975”, đặt vào tình trạng của phong trào đấu tranh cho một nước VN tự do, dân chủ, nhân quyền hiện tại, thì mới thấy rõ bài bản, âm mưu và kỹ thuật đánh phá của VC trong nước. Thời nào cũng vậy, ở đâu cũng có bọn lưu manh nằm vùng cả. Bản chất của bọn nằm vùng là gian manh, xảo trá và phản bội, tôi ác của bọn chúng là đã góp phần đưa dân tộc VN vào chế độ độc tài Cộng Sản hiện nay. 
Trăm năm bia đá cũng mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ, đừng có tưởng chết là hết. 

Trúc Giang

Phạm Quang Minh bị Anh tước quốc tịch và VN không nhận

Vụ Shamima Begum bị Anh tước quốc tịch vì đi theo Nhà nước Hồi Giáo ISIS vào năm 2015 đang là một chủ để gây ra nhiều bàn cãi ở Anh hiện nay.

Minh PhamBản quyền hình ảnhSHARESCAN@CRM.DOJ.GOV
Image captionPhạm Quang Minh, đã theo đạo Hồi, lấy tên là Amin và cưới vợ người gốc Bangladesh

Sinh ra ở London, Shamima Begum có cha mẹ gốc Bangladesh, bị Bộ Nội vụ Anh tước quốc tịch đầu 2019 để cô ta không thể từ Syria trở về.

Đây không phải lần đầu tiên chính phủ Anh tước quốc tịch công dân mình vì lý do gia nhập một tổ chức khủng bố.

Shamima Begum: Cuộc sống của cặp đôi IS ở Syria

Anh Quốc và vụ tước quốc tịch 'cô dâu IS'

Người Tân Cương bị tịch thu hộ chiếu

Hộ chiếu VN có vấn đề với dòng chữ 'full name'?

Năm 2011, vụ việc tương tự đã xảy ra ở Anh, đặc biệt hơn khi đối tượng là một người gốc Việt.

Phạm Quang Minh và tuổi thơ ở Anh Quốc

Sinh ra ở Việt Nam, Phạm Quang Minh chỉ mới một tháng tuổi trước khi cùng ra gia đình rời sang Hong Kong vào năm 1983.

Sáu năm sau, gia đình Minh xin tỵ nạn ở Anh và năm 1995, Minh chính thức được cấp quốc tịch Anh.

Cuộc sống của Phạm Quang Minh ở Anh trên thực tế cũng nhiều khó khăn.

Trong bức thư gửi thẩm phán Mỹ, Minh chia sẻ về cuộc sống khó khăn của một đứa trẻ nhập cư xa quê hương, với khả năng ngoại ngữ hạn chế.

''Là một trẻ châu Á thấp bé, tôi thường xuyên bị bắt nạt ở trường," Minh viết.

''Và tôi và cha mẹ chẳng thể làm gì, vì chúng tôi đâu biết tiếng.''

Tuy nhiên, Phạm Quang Minh đã tìm được đam mê của mình trong môn hội họa.

Sau khi hoàn tất Level A ở trường Cao Đẳng Lewisham (London), Minh tiếp tục theo học để lấy chứng chỉ mới ở Cao Đẳng Thiết kế Ravensbournes vào năm 2004.

Đây cũng là năm mà Minh cải đạo sang Hồi Giáo, qua giới thiệu của người bạn Morocco cùng lớp.

Minh thường xuyên có mặt ở các đền thờ của người Hồi Giáo khắp nước Anh. Đặc biệt Minh thay đổi sau chuyến đi Bangladesh và Ấn Độ năm 2006.

Sau khi trở về Anh, cuộc sống của Phạm Quang Minh diễn ra bình thường.

Anh ta làm công việc thiết kế đồ họa và cưới một cô gái gốc Bangladesh vào đầu năm 2010.

Trung thành với Al Qaeda

Theo điều tra của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ, vào cuối năm 2010, Phạm Quang Minh đến Yemen, nguyện trung thành với tổ chức khủng bố Al Qaeda, A.Q.A.P và làm việc ở tạp chí tuyên truyền của tổ chức, Inspire.

Cũng ở Yemen Minh được đào tạo cách chế tạo bom và sử dụng vũ khí.

Tháng 7 năm 2011, Phạm Quang Minh trở về Anh, và bị bắt ở sân bay Heathrow khi phát hiện có sở hữu vũ khí đạn dược, cùng với một số dụng cụ làm bom trong người.

Theo BBC News, một người là Ahmed Abdulkadir Warsame mô tả gặp Minh, lấy tên Hồi Giáo là Amin, trong điểm trú ẩn của AQAP ở Yemen năm 2011.

Amin, theo lời kể, luôn mang trong mình một khẩu AK và sẵn sàng trở thành "người tử đạo".

Tháng 12, Bộ Nội vụ Anh thông báo tước quyền công dân của Minh mà các văn bản của Anh gọi là Mr Pham.

Trường hợp của Phạm Quang Minh được cho là bất thường, vì đa số các ra các lệnh tước quyền công dân khác chỉ đưa ra khi đối tượng đang cư trú ở nước ngoài, ngăn chặn họ trở về Anh.

Chính quyền Hoa Kỳ yêu cầu Anh Quốc dẫn độ Minh sang Mỹ, với các tội danh liên quan đến khủng bố, bao gồm âm mưu đánh bom sân bay Heathrow, London.

Năm 2014, Minh kháng cáo lệnh dẫn độ của Mỹ lên toà Anh nhưng không thành và sang năm 2015, Phạm Quang Minh chính thức bị dẫn độ sang Hoa Kỳ và nhận án tù, và hiện bị giam ở New York.

Câu chuyện 'quốc tịch Việt Nam'

Trở lại tháng 12 năm 2011, Bộ Nội vụ, với bộ trưởng lúc đó là bà Therasa May, thông báo tước quyền công dân của Phạm Quang Minh, với các cáo buộc của bên an ninh rằng người này có liên kết với một số phần tử cực đoan Hồi Giáo, và lên âm mưu đánh bom sân bay Heathrow.

Tuy nhiên, điều này gặp nhiều trở ngại.

Đạo luật Quốc tịch Anh năm 1981 viết rõ Bộ Nội vụ Anh có quyền tước quốc tịch nhưng cũng phải để người bị tước quốc tịch quyền kháng cáo qua hệ thống tư pháp là các tòa án Anh.

Để tước quốc tịch một người, Bộ Nội vụ cần đảm bảo chắc chắn rằng người đó sẽ không rơi vào tình trạng ''vô tổ quốc'' (stateless) sau đó.

Năm 1961, Anh đã ký vào Công ước về tình trạng không tổ quốc năm 1961. Theo đó, các quốc gia tham gia không thể tước quốc tịch của một công dân nếu như không thể đảm bảo họ sẽ còn một quốc tịch khác.

Theo lập luận của bà Theresa May, Phạm Quang Minh sau khi bị tước quốc tịch vẫn sẽ còn quốc tịch Việt Nam của mình.

Năm 2012, vụ việc được đưa ra tòa án Anh với một bên là Phạm Quang Minh, một bên là Cục Di trú, Bộ Nội vụ.

Phạm Quang Minh đã sử dụng quyền kháng cáo trên cở sở pháp lý tại các toà án ở Anh để bảo vệ quốc tịch Anh của mình.

Căn cứ pháp lý của Minh nêu anh ta đã kết hôn với một người phụ nữ là công dân Anh và họ đã có con.

Phạm Quang Minh cho rằng quyết định của Bộ Nội vụ vi phạm Công ước châu Âu về quyền con người.

YemenBản quyền hình ảnhAFP
Image captionNgười dân Yemen đọc báo có hình lãnh tụ Al Qaeda, Osama bin Laden năm 2011. Hình chỉ có tính minh họa

Ngoài ra, nguyên đơn cho biết mình đã rời Việt Nam khi còn rất nhỏ, và chưa bao giờ cầm trên tay cuốn hộ chiếu Việt Nam.

Vì vậy, Minh phủ nhận mình có quốc tịch Việt Nam.

Trong phiên toà kháng cáo đầu tiên năm 2013 của Cục Di trú, Đại sứ Đặc mệnh của CHXHCN Việt Nam ở Vương Quốc Anh lúc bấy giờ, là ông Nguyễn Quý Bình đã phát biểu nêu ra quan điểm của Việt Nam về vụ việc. Bên đại diện cho Bộ Nội vụ Anh là tiến sĩ Nguyễn Thị Láng.

Theo Luật Quốc tịch năm 1988 của Việt Nam, công dân Việt Nam chỉ có một và duy nhất một quốc tịch, đó là Việt Nam.

Do đó, Phạm Quang Minh đã mất quốc tịch Việt Nam của mình khi trở thành công dân Anh vào năm 1993, lập luận của phía chính phủ Việt Nam nêu ra như vậy.

Không bằng lòng, Bộ Nội vụ quyết định kháng cáo với Toà Phúc thẩm.

Phiên xử nổi tiếng với hội đồng thẩm phán của Supreme Court gồm Lord Neuberger (chủ tọa), Lady Hale (nữ phó chủ tọa), Lord Mance, Lord Wilson, Lord Sumption, Lord Reed và Lord Carnwath vào hôm 18 và 19 tháng 11 năm 2014 đã ra ra bản án hôm 25 tháng 3 năm 2015.

Bộ Nội vụ Anh cho rằng Việt Nam không thể đưa ra các cơ sở thuyết phục để không công nhận quốc tịch của Phạm Quang Minh.

Sắc lệnh 53, năm 1945 của VNCDCH (sau là CHXHCN Việt Nam) ghi rằng, bất cứ người nào sinh ra ở Việt Nam đều có quốc tịch Việt Nam. Phạm Quang Minh sinh ra ở Việt Nam năm 1983, vậy nghiễm nhiên anh ta là công dân Việt nam.

Cũng như đã nói ở trên, Luật Quốc tịch sửa đổi năm 1988 ghi nhận rằng người Việt Nam chỉ có một quốc tịch duy nhất, là Việt Nam.

Tuy nhiên, nghị định 37, năm 1990 về Luật Quốc tịch có điều khoản bao gồm:

''Những công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch khác (do chưa mất quốc tịch Việt Nam mà đã vào quốc tịch khác hoặc do xung đột giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài sinh ra), khi ở nước ngoài được Nhà nước Việt Nam bảo hộ phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế, khi ở Việt Nam được đối xử như mọi công dân Việt Nam."

Phạm Quang Minh khi nhập quốc tịch Anh năm 1995 đã không xin thôi quốc tịch Việt Nam của mình, như điều lệ trong Luật Quốc tịch 1988.

Để từ bỏ quốc tịch gốc, người này phải tuân theo các thủ tục do các đạo luật Việt Nam đặt ra và bảo đảm sự đồng ý của chính phủ Việt Nam, phía Anh nói.

Ngoài ra, theo các Luật Quốc tịch từ năm 1988 đến lần bổ sung mới nhất, 2009, không có điều luật nào bao gồm điều khoản rằng người Việt Nam khi nhập quốc tịch khác sẽ tự động mất quốc tịch Việt Nam.

Do vậy, việc tước quốc tịch hay không là do chính phủ Việt Nam lựa chọn, trong đó người có quyết định là chủ tịch nước, chứ không phải là điều tự nhiên xảy ra trong hệ thống pháp lý.

Ông Nguyễn Quý Bình cũng thừa nhận điều này. Đáng lưu ý, ông là một trong những người góp phần vào sửa đổi Luật Quốc tịch năm 1988, theo các tài liệu mà Anh Quốc công bố trên mạng.

Phán quyết của Lord Jackson

Anh QuốcBản quyền hình ảnhJACK TAYLOR
Image captionVụ quốc tịch của Mr Minh Pham được đưa lên toà án Anh

Trong phúc trình của thẩm phán Lord Jackson ở phiên tòa đầu tiên có ghi:

''Việt Nam vận hành theo cách của chính quyền cộng sản, trong đó bên hành pháp kiểm soát các toà án chứ không phải ngược lại."

''Phạm Quang Minh vẫn giữ quốc tịch Việt Nam của mình sau tất cả các sự kiện của những năm 1980 và 1990. Luật Quốc tịch Việt Nam 2008 không thay đổi tư cách pháp lý của anh ta. Theo tôi, cho dù chính phủ Việt Nam có thể tự tiện đưa ra những điều luật riêng của mình, thì nó không mang ý nghĩa cấu thành hiệu lực và hoạt động của luật pháp quốc gia đó thể theo nội dung của điều 1.1 của Công ước 1954 về người vô tổ quốc.''

''Tôi hiểu rằng (ở Việt Nam) bên hành pháp kiểm soát tòa án và rằng các tòa án sẽ không bãi bỏ các hành vi trái pháp luật của hành pháp. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là những hành vi đó không vi phạm pháp luật.''

''Chính phủ Việt Nam giờ quyết định không coi Phạm Quang Minh là công dân Việt Nam nữa. Họ đi đến quyết định này mà không cần thông qua bất kỳ thủ tục từ bỏ, tước quyền hoặc hủy bỏ quốc tịch Việt Nam như được quy định trong Luật 2008,'' thẩm phán Jackson kết luận.

Cuối cùng, phiên kháng cáo với hội đồng thẩm phán đông đảo đã đồng ý rằng việc Bộ Nội vụ Anh tước quốc tịch Anh của Phạm Quang Minh là đúng.

Đây là lần thứ nhì ở Anh, một vụ tước quốc tịch người Anh sinh ra ở nước khác được đưa lên Tòa Tối cao.

Lần trước là vụ Hilal al-Jedda, người sinh ra ở Iraq nhưng đã thành công dân Anh và cũng bị chính Bộ trưởng Nội vụ Theresa May tước quốc tịch năm 2013.

Án tù nhiều năm

Tháng 2 năm 2015, Phạm Quang Minh chính thức bị dẫn độ sang Hoa Kỳ.

Trong phiên xét xử, Minh thừa nhận anh ta đã phạm một "sai lầm khủng khiếp" và gửi bức thư cho thẩm phán nói đã từ bỏ mọi hành vi khủng bố và tư tưởng cực đoan.

Các công tố viên Hoa Kỳ bác bỏ lời nhận tội của Minh, và yêu cầu ra bản án đặc biệt nghiêm khắc.

Rơm rớm nước mắt, Phạm Quang Minh cho rằng bản án dài và khắc nghiệt sẽ khiến anh ta phải xa gia đình trong nhiều năm.

"Tôi chưa bao giờ gây ra hành động bạo lực nào," Minh nói.

"Nhưng tôi đã phạm một sai lầm khủng khiếp. Tôi rất hối hận."

Cuối tháng 5 năm 2016, Phạm Quang Minh, người mà Anh Quốc và Việt Nam đều không muốn nhận là công dân của mình, bị kết án tới 40 năm tù giam.



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 
Quân Đội Hoa Kỳ Có Thêm 2 Nữ Chuẩn Tướng giai nhân Người Mỹ Gốc Việt
VC đồng nghĩa VG: Việt gian thượng tá Bùi Tiến Lợi
Tại sao thời nhà Hồ đặt quốc hiệu Đại Ngu cho nhân dân VN?
Lơi dụng sự khiếp sợ TQ của chình quyền CSVN, nhiều gian thương gốc Hoa buôn lậu, bán hàng giả không sợ CA
Hong Kong: Hai triệu người tham gia biểu tình ngày 16/6/2019
VC tàn sát lẫn nhau: Thiếu úy tham mưu biên phòng gốc Hoa bắn đại úy phó đồn và 2 người khác , tử thủ chống lai bộ đội rồi tự sát
Công an, cảnh sát chỉ hiếp dân nhưng khiếp sợ côn đò được TQ sử dụng để khống chế CSVN
Tàu đánh cá VN cứu ngư dân Philippines bị tàu TQ cố ý đâm chìm bỏ chạỵ
Mỹ thay đổi chiến thuật, sử dụng tuần duyên đối phó Trung Quốc ở biển Đông VN chống TQ chiếm biển
SOS! Kẻ trộm bị nữ gia chủ cuồng dâm cưỡng hiếp!
Đảng CS Trung Quốc sắp bị diệt ong kéo theo đảng CSVN
Việt Nam trúng cử Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ
Đường dây bán dâm của các mỹ nhân da trắng nhắm huợng khách cán bộ và đại da đỏ do tú cô Nga cầm đầu ở Sài Gòn6 triệu nhất phát bị điều tra thêm
Nỗi hận đau nước Việt – Mối căm hờn dân tộc
Thương chiến với Mỹ khiến TQ "mất hết bằng hữu", khơi dậy làn sóng thù địch ở Washington

     Đọc nhiều nhất 
Tâm thư kêu gọi giúp đở gia đình em Đức gặp tại nạn tại Quảng Nam [Đã đọc: 521 lần]
THÁNG TƯ KHÔNG ÁNH MẶT TRỜI [Đã đọc: 456 lần]
Gần chết vẫn còn lừa bịp nhân dân! Trọng hấp hối mà thông báo đang khỏe mạnh! [Đã đọc: 449 lần]
Việt Nam chế tạo tổ hợp pháo - hỏa tiển phòng không: Hỏa lực mạnh! [Đã đọc: 426 lần]
Thời XHCN, VN sắp thành Hợp Chủng Quốc- Phong trào phụ nữ Việt lấy Tây đen [Đã đọc: 417 lần]
Nhàm chán CS dân theo tà đạo: Thời đại HCM phụ nữ cũng trở thành kẻ sát nhân máu lạnh! Giế tngười đổ bê tông phi tang chưa từng có trong lịch sử VN [Đã đọc: 417 lần]
Thị trấn VN tại Mỹ: Ông thị trưởng chủ PhinDeli sẽ làm du lịch tại thị trấn nhỏ nhất nước Mỹ [Đã đọc: 412 lần]
Tưởng niệm 30-04: Giaỉ phóng kinh hoàng tại miền Nam [Đã đọc: 409 lần]
Sự thật làm mất chức, phó bí thư tỉnh Hà Tỉnh loan tin TBT Trọng đã ngỏm bị cách chức [Đã đọc: 407 lần]
Chiến tranh thương mại: Bắc Kinh kích động dân chúng chống Mỹ cứu nước [Đã đọc: 393 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.