Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Tám 2018
T2T3T4T5T6T7CN
    1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30 31    
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 6
 Lượt truy cập: 11005654

 
Tin tức - Sự kiện 17.08.2018 14:30
Hồi tưởng ngày giải phóng, nổi kinh hoàng của dân tộc VN
29.04.2018 08:51

Chẵng hạn nhà toán học Pythagore sinh năm 580 và mất năm 500 trước Công Nguyên, Tề Hoàn Công trị vì từ năm 685 đến năm 643 trước Công Nguyên… Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng xảy ra năm 42 sau Công Nguyên… Các văn bản bằng tiếng Anh thì dùng BC (before Christ) hoặc AD (Anno domini) để chỉ những sự kiện xảy ra trước hoặc sau Thiên Chúa giáng thế.

proxy?url=http%3A%2F%2F3.bp.blogspot.com%2F-gJAkEh6M6EU%2FVOHoRtUZCKI%2FAAAAAAAANRQ%2FWLGH9R7H_jA%2Fs1600%2FTi%25E1%25BA%25BFn%252BS%25E1%25BB%25B9%252BL%25C3%258A%252BHI%25E1%25BB%2582N%252BD%25C6%25AF%25C6%25A0NG.png&container=blogger&gadget=a&rewriteMime=image%2F*
Riêng người Việt nam chúng ta từ trong Nam ngoài chí Bắc từ sau 30 tháng tư năm 1975 lại có một mốc định thời gian mới: “hồi trước giải phóng” hay “hồi sau giải phóng”, tất nhiên người Việt mình nghe mãi rồi quen tai và không thấy gì phản cảm khi dùng hoặc nghe cụm từ này… Nhưng khi tôi vô tình dùng nó lúc nói chuyện với một đồng nghiệp người nước ngoài rằng “…after the liberation of the south…” thì ông ta sững sốt hỏi ngay rằng “… liberation from what?…” – Giải phóng khỏi cái gì? Thì tôi mới hốt hoảng với cách dùng cụm từ này để định mốc thời gian của người Việt… bởi đối với hầu hết người Việt, nhất là người miền Nam hoặc đối với cả đồng bào miền Bắc di cư vào Nam năm 1954 nữa, thì “giải phóng” là một nỗi ám ảnh trong cả đời người…

Video: “GIẢI PHÓNG” NỖI KINH HOÀNG CỦA NGƯỜI DÂN VIỆT NAM

Còn nhớ ngày 30 Tư năm 1975, lúc đó chúng tôi còn là sinh viên của đại học sư phạm Vinh đã hồ hởi, phấn khởi hò reo meeting nhiều đêm ngày để mừng Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, bởi chúng tôi tin rằng từ đây đồng bào Miền Nam ruột thịt của chúng tôi sẽ không còn đói rách lầm than và không còn sống trong cảnh “ngụy kềm, Mỹ hãm” nữa… Họ đã được đảng và Bác cùng nhân dân Miền Bắc chúng tôi giải phóng. Và những tháng tiếp theo đó chúng tôi được tận mắt nhìn thấy hàng đàn hàng lủ bọn ngụy quyền ác ôn bị sự trừng phạt của chính quyền cách mạng, của nhân dân miền Bắc và của chính chúng tôi… Số là mỗi tuần một lần. chúng tôi được chính quyền và ban giám hiệu nhà trường thông báo vào những ngày giờ có những ô tô của cục quân pháp chuyển tù cải tạo là những sỹ quan, ngụy quyền ác ôn của chính quyền Mỹ Thiệu đi ngang qua địa phương để đến các trại cải tạo ở mạn ngược. Cùng với đồng bào địa phương, mỗi sinh viên chúng tôi phải chuẩn bị đầy đủ cơ số đá trứng nhặt từ đường ray xe lửa để khi đoàn xe tù đi ngang qua là hô hào toàn dân trút những trận mưa đá lên đầu những tên ngụy quyền ác ôn này, bởi chúng có quá nhiều nợ máu với nhân dân, với đất nước… Và sau mỗi lần trừng trị bọn ngụy quyền ác ôn đó, chúng tôi đều có hội họp, báo công và được tuyên dương khen thửơng, được kết nạp vào đoàn, được vinh dự đứng vào hang ngũ của đảng vì đã đả thương được bao nhiêu sỹ quan ngụy quyền đó. Tất nhiên là cũng có nhiều buổi họp báo công, chúng tôi cũng bị phê bình kiểm điểm vì đã không có trường hợp thương vong nào được ghi nhận trong những vụ “tập kích” đó…

Kết thúc 4 năm đại học với vô số những cuộc tập kích để ném đá vào những xe chuyển tù, rồi chúng tôi cũng tốt nghiệp đại học, rồi được đảng và nhà nước chi viện vào miền Nam để mang ánh sáng văn hóa vào cho đồng bào miền Nam ruột thịt bao năm qua sống trong u tối lầm than vì cứ liên miên bị ngụy kềm, Mỹ hãm chứ đâu có được học hành gì…
Chúng tôi thực sự choáng ngợp khi xe qua khỏi vùng chiến sự Quảng Trị, đến Huế, đến Đà Nẵng.. rồi Nha Trang, Sài Gòn rồi về Miền Tây, đến thị trấn Cao Lãnh, đâu đâu cũng lầu đài phố xá chứ có tường đất mái tranh như ở thành phố Vinh chúng tôi đâu!
Nhận xong nhiệm sở từ ty giáo dục Đồng Tháp, chúng tôi được đưa về công tác tại trường trung học sư phạm Đồng Tháp ngay tại trung tâm của thị trấn Cao Lãnh, và tại đây, trong suốt nhiều năm liền chúng tôi được bố trí ở tại khách sạn Thiên Lợi mà chính quyền cách mạng đã tịch biên từ tên tư sản Thiên Lợi… Chúng tôi đi từ choáng ngợp này đến choáng ngợp khác, bởi đây là lần đầu tiên chúng tôi biết được thế nào là “Khách Sạn”, biết được thế nào là lavabo là hố xí tự hoại, bởi cả thành phố Vinh, cả tỉnh Nghệ An chúng tôi hay thậm chí cả miền Bắc XHCN lúc bấy giờ chỉ sử dụng hố xí lộ thiên, để còn dùng nguồn “phân Bắc” này để canh tác, để tăng gia sản xuất theo sáng kiến kinh nghiệm cấp nhà nước của đại tướng Nguyễn Chí Thanh mà được bác Hồ khen thưởng và có thơ ca ngợi rằng:
Hoan hô anh Nguyễn Chí Thanh
Anh về phân Bắc, phân xanh đầy nhà”…
Thậm chí ở xã Hưng Lĩnh, Hưng Nguyên quê tôi lúc bấy giờ còn có cả những vụ án các tập đoàn viên, các hợp tác xã viên can tội trộm cắp phân bắc từ các hố xí của láng giềng để nộp cho hợp tác xã… Tôi thấm thía hơn với những câu thơ ca ngợi miền Bắc đi lên XHCN của Tố Hữu mà ngoài sinh viên học sinh chúng tôi ra thì hầu như cả nhân dân miền Bắc lúc bấy giờ ai cũng thuộc nằm lòng:
Dọn tí phân rơi nhặt từng ngọn lá
Mỗi hòn than mẩu thóc cân ngô
Hai tay ta gom góp dựng cơ đồ…”
Tôi bắt đầu nghi ngờ với cụm từ “giải phóng miền nam” … Rồi những trận đổi tiền để đánh tư sản, rồi nhiều nhà cửa của đồng bào bị tịch biên, rồi hàng triệu đồng bào bắt đầu bỏ nước ra đi, nhiều giáo sinh của trường chúng tôi cũng vắng dần theo làn sóng đi tìm tự do đó… tôi bắt đầu hiểu đích thực ý nghĩa của cụm từ “giải phóng niền nam” và bắt đầu cảm thấy xấu hổ cho bao nhiêu năm sống trong niềm ảo vọng mù quáng của bản thân… mà dù ở chừng mực nào cũng được xem là thành phần trí thức trong xã hội…
Dần dần tôi hiểu sâu hơn cái sự mỉa mai chua chát của hai từ “GIẢI PHÓNG” đang được dùng trong kho tàng Tiếng Việt của nước nhà… “Giải phóng miền nam” thực sự có mang lại niềm vui, niềm hạnh phúc vô biên và cả sự thịnh vượng nữa với gia sản có thể đột ngột tăng lên cả 16 tấn vàng ròng… những tất nhiên chỉ cho một thiểu số trong xã hội, chỉ chừng 16 người trong tổng số non 50 triệu dân lúc bấy giờ thôi… Còn lại thì “giải phóng” đồng nghĩa với cảnh côi cút vì “sinh bắc tử nam” mất con, mất chồng, mất cha, mất anh mất em bởi họ đã vào chiến trường và không bao giờ trở về nữa… Giải phóng cũng có nghĩa là tù đày, là cải tạo nơi rừng thiêng nước độc, là mất vợ.. mất con, mất nhà cửa ruộng vườn, mất bao nhiêu người thân trên biển cả và mất hết tự do dân chủ nhân quyền và mất luôn cả tổ quốc! Rồi “giải phóng mặt bằng” cũng chỉ mang nguồn lợi lớn lao cho một nhóm quan phương, nhưng lại là nỗi ám ảnh nỗi hãi hùng của muôn dân, bởi sau “giải phóng mặt bằng” là hàng trăm đồng bào lại phải vô tù ra khám bởi tội “chống người thi hành công vụ”, bởi sau giải phóng mặt bằng là cái chết của thiếu niên Lê Xuân Dũng và Lê Hữu Nam, là thương tật của nông dân Lê Thị Thanh …
Chẳng biết người dân Việt nam từ nay còn dùng cụm từ “trước ngày giải phóng” hay “ sau ngày giải phóng” để định mốc thời gian nữa không… Riêng tôi, tôi cảm thấy quá căm thù nhân loại bởi đã bịa ra từ ngữ “giải phóng” và “giải phóng mặt bằng” mà chi để dân Việt chúng tôi vì nó mà phải khổ lụy đến dường này.
Tiến Sỹ Lê Hiển Dương – Cựu Hiệu Trưởng Đại Học Đồng Tháp

Đồng Tháp, VN  ngày 3/04

PHẢN HỒI BÀI VIẾT CỦA TS LÊ HIỂN DƯƠNG VỀ “GIẢI PHÓNG MIỀN NAM”

Kính chào ông Lê Hiển Dương – Tiến sĩ, 
Cựu Hiệu Trưởng Đại Học Đồng Tháp,
TS+LE+HIEN+DUONG.JPG
Thưa Ông, bài báo ngày đầu năm 2012 vô tình tôi được đọc là bài “GIẢI PHÓNG” Nỗi kinh hoàng của người dân Nam Việt, bài viết này là của Ông. Bài được đăng trên Hải ngoại phiếm đàm o­nline ngày 05/01/2012, cuối bài viết có ghi trọn vẹn tên tác giả cùng học vị và chức vụ. Học vị cùng chức vụ và nhất là qua bài viết của ông, cho tôi biết ông đã một thời là cán bộ giáo dục của nhà nước cộng sản hiện thời Việt Xã Nghĩa, còn tôi cũng xin vài dòng được nói về mình. Tôi một người tù mà các người cộng sản chiến thắng, gọi xách mé là sĩ quan Ngụy của 36 năm trước, trên bước đường tù biệt xứ đã hai lần, tôi đươc hân hạnh đi ngang qua thành phố Vinh của ông. Khi chúng tôi đọc xong bài của ông viết, tôi biết ông là người như thế nào, những gì ông suy nghĩ khiến chúng tôi mến ông, và thấy cần phải viết vài dòng xin được thưa chuyện cùng ông, những dòng chữ đậm là tôi xin phép ông được ghi lại những gì ông đã viết.

114_HaiPhong1954.jpg
Không giấu gì ông, ban đầu sau khi đọc xong bài ông viết, tôi định cho nó qua, nhưng câu kết của ông như níu tôi lại, khiến tôi thấy nên nói chuyên với ông thì quí hơn, vì mấy khi ta gặp được người như ông. Ông Dương ạ câu kết ông viết Chẳng biết người dân Việt nam từ nay còn dùng cụm từ “trước ngày giải phóng” hay “ sau ngày giải phóng” để định mốc thời gian nữa không… Riêng tôi, tôi cảm thấy quá căm thù nhân loại bởi đã bịa ra từ ngữ “giải phóng” mà chi để dân Việt chúng tôi vì nó mà phải khổ lụy đến dường này. Câu này làm tôi thấy chúng ta tuy là kẻ Nam người Bắc, nhưng vô tình lại chung phận là nạn nhân, nạn nhân của kẻ bợm, chúng sống bằng sự lừa lọc dối trá, sự trí trá đó khiến biết bao người “sinh bắc tử nam” mất con, mất chồng, mất cha, mất anh mất em bởi họ đã vào chiến trường và không bao giờ trở về nữa”.
Đó là phần không may cho dân miền Bắc, còn miền Nam như ông thấy đó và ông đã viết “là tù đày, là cải tạo nơi rừng thiêng nước độc, là mất vợ mất con, mất nhà cửa ruộng vườn, mất bao nhiêu người thân trên biển cả và mất hết tự do dân chủ nhân quyền và mất luôn cả tổ quốc!”. Để rồi những kẻ bợm CS đó chúng đoạt lấy tất cả, những gi của người dân hai miền Nam-Bắc nước ta, từ cơ bản quyền làm người đến của cải vật chất, chúng dìm đời sống người dân cả nước xuống tận bùn đen, còn sự tồn vong của đất nước thì đang trong tình trạng treo chỉ mành. Trong những cái chúng cướp đoạt của đất nước, có cả 16 tấn vàng là số vàng thuộc tài sản quốc gia, mà chính phủ VNCH để lại, chúng đã chia chác nhau số vàng này, và cái tận cùng bỉ ổi là chúng lại tuyên truyền là chính quyền miền nam đã lấy số vàng đó. Nhưng nay tất cả người dân VN đều biết như ông viết, kẻ lấy số vàng 16 tấn không ai khác hơn là 16 tên chóp bu bộ chính trị CSVN “Giải phóng miền nam” thực sự có mang lại niềm vui, niềm hạnh phúc vô biên và cả sự thịnh vượng nữa với gia sản có thể đột ngột tăng lên cả 16 tấn vàng ròng… nhưng tất nhiên chỉ cho một thiểu số trong xã hội, chỉ chừng 16 người trong tổng số non 50 triệu dân lúc bấy giờ thôi…”, Cám ơn ông thật nhiều Ông Lê Hiểu Dương ạ, sự thực cuối cùng vẫn là sự thực.

TGCT2.jpg
Sau ngày 30 tháng 04 năm 75, trước khi chúng tôi bị đưa ra miền bắc để lưu đày, các “ông cộng sản” đã nói với chúng tôi về thiên đường cộng sản xã hội chủ nghĩa miền bắc như sau: Miền Bắc XHCN không có người nghèo kẻ giàu, không có nhà cao tầng, và cũng không có nhà lá, tất cả đều nhà gạch giống như nhau, ý nói kiểu nhà cư xá hay chung cư,- Không có kẻ rách rưới, mà kẻ khác thì dư thừa tơ lụa, tất cả đều bận kaki Nam định thoải mái. Miền bắc XHCN vật chất thì nhiều vô kể, không thiếu một thứ gì, còn trong Nam toàn thể dân chúng, và ngay cả trong trại, tất cả mọi người phải sống trong khó khăn thiếu thốn, đó là do tàn dư của chế độ tư bản Mỹ Ngụy để lại, rồi đây miền Bắc sẽ chi viện cho miền Nam(?). Nghe nói vậy cũng có nhiều anh em tù tin, xã hội cộng sản mà, tất cả đều bình đẳng, cái ăn, cái mặc, cái ở đều như nhau, chủ thuyết của Mác Lê, chả mong muốn xây dựng một nhà nước, một xã hội theo mô hình như thế là gì (!).
uniform_left.jpg

Nhưng cũng như ông nói, ông nhận ra sự thật khi vào nam,“Chúng tôi đi từ choáng ngợp này đến choáng ngợp khác, bởi đây là lần đầu tiên chúng tôi biết được thế nào là lavabo là hố xí tự hoại, bởi cả thành phố Vinh, cả tỉnh Nghệ An chúng tôi hay thậm chí cả miền Bắc XHCN lúc bấy giờ chỉ sử dụng hố xí lộ thiên, để còn dùng nguồn “phân Bắc” này để canh tác, để tăng gia sản xuất theo sáng kiến kinh nghiệm cấp nhà nước của đại tướng Nguyễn Chí Thanh”. Thì sự thật phũ phàng cũng đến với chúng tôi, khi chúng tôi vượt qua cầu Hiền Lương, trên bước đường lưu đày lên mạn ngược, lần đó qua cầu Hiền Lương là vào khoảng 10 giờ sáng, đây đất Đồng Hới nào thấy đâu nhà gạch, Quảng Bình quê ta nào thấy đâu giàu đẹp. Cả một vùng xác xơ đều khắp với những mái tranh vách đất tiêu điều, dọc đường thỉnh thoảng một vài ngôi nhà xây, đấy là những nhà gạch duy nhất mà chúng tôi thấy, nhìn kiểu dáng kiến trúc cho thấy chúng đã có từ thời Pháp. Cái nhiều mà chúng tôi thấy được trên chuyến đi là khẩu hiệu, suốt chuyến đi hai bên đường không biết cơ man nào là khẩu hiệu, đều là khẩu hiệu màu đỏ máu, chữ vàng, to có nhỏ có, dài có ngắn có, ca ngợi hết lời tình hữu nghị Việt Hoa, như răng với môi, như anh với em, tình đồng chí đời đời bền vững. Ngoài ra cũng không ít những cái suy tôn họ Hồ, họ Mao, Các Mác, Lê Nin, tất cả các chữ dao to búa lớn như vĩ đại, vô địch, quang vinh.v.v…đều được đem ra dùng tối đa.

Starved_Vietnamese_man,_1966.JPEG

Cũng ngay trong lần đầu diện kiến dung nhan thiên đường cộng sản đó. Xe vừa vào tới Đồng Hới, thì đậu tập trung chờ lịnh bên đường, tình cờ giờ tan trường, những trẻ học trò tò mò đứng nhìn đoàn xe bít bùng. Học sinh là mầm non đất nước, tương lai của cả một dân tộc, mà dường như những đứa trẻ này, thiếu ăn như lủ tù chúng tôi hay sao?, mà nhìn chúng gầy và xanh quá, quần áo chúng luộm thuộm rách rưới. Vậy mà chúng lại đang sống trong cái thiên đường XHCN, do đảng cộng sản quang vinh tể trị… cái khăn quàng màu máu trên cổ chúng, nói thêm một điều nữa, Chúng là cháu ngoan họ Hồ. Chúng đang học tập và theo gương Bác vĩ đại của chúng, nhưng không hiểu lý do gì mà nhìn chúng thảm quá, như phường ốm đói. Đấy ông Dương thấy không, tôi có khác mấy chi ông khi ông đặt chân vào miền Nam như ông nói, “Chúng tôi thực sự choáng ngợp khi xe qua khỏi vùng chiến sự Quảng Trị, đến Huế, đến Đà Nẵng.. rồi Nha Trang, Sài Gòn rồi về Miền Tây, đến thị trấn Cao Lãnh, đâu đâu cũng lầu đài phố xá chứ có tường đất mái tranh như ở thành phố Vinh chúng tôi đâu!”.
Ông Lê Hiển Dương mến, quê ông là Vinh, quê ngoại tôi cũng là Vinh, nhưng tôi không sống ở đó, tôi chỉ được cái hân hạnh đi ngang qua thành phố Vinh hai lần, năm 1975 trong lúc chuyển tù từ nam ra bắc. Và năm 1981 sau khi TQ đánh vùng phía bắc sáu tỉnh biên giới, chúng tôi đựơc di dần vào trong, chuyến xuôi nam bất đắc dĩ, mà nhà nước cộng sản không muốn tí nào, tôi biết chắc như thế. Họ muốn chúng tôi phải vùi thân nơi núi rừng tây bắc họ mới vui, lý do gì thì ông thừa biết phải không ông Dương, những gì ông nói ra cho thấy ông rất thành thật, vì những gì ông làm cho chúng tôi tại Vinh. Thì tại các nơi khác người dân nơi ấy cũng làm theo một cách như ông, vì đó là chính sách chung của Đảng, ông ném đá thì họ cũng ném đá, thậm chí có người xấn xổ nhổ nước bọt vào chúng tôi. Thoạt đầu thì chúng tôi khó chịu vì sự lỗ mãng của họ, nhưng khi thấy những nụ cười đểu của bọn cán binh áp tải, thì chúng tôi nhận ra ngay đấy là những gì người dân bị “make up”, hoàn cảnh chúng tôi lúc đó, không khác gì cảnh trong những thước phim tài liệu “đấu tố” cải cách ruộng đất năm nào.

TGCT.jpg
Ông nói “những tháng tiếp theo đó, chúng tôi được tận mắt nhìn thấy hàng đàn hàng lủ bọn ngụy quyền ác ôn, bị sự trừng phạt của chính quyền cách mạng, của nhân dân miền Bắc và của chính chúng tôi… Số là mỗi tuần một lần, chúng tôi được chính quyền và ban giám hiệu nhà trường thông báo, vào những ngày giờ có những ô tô của cục quân pháp, chuyển tù cải tạo là những sỹ quan, ngụy quyền ác ôn của chính quyền Mỹ Thiệu đi ngang qua địa phương, để đến các trại cải tạo ở mạn ngược. Cùng với đồng bào địa phương, mỗi sinh viên chúng tôi phải chuẩn bị đầy đủ cơ số đá trứng nhặt từ đường ray xe lửa, để khi đoàn xe tù đi ngang qua, là hô hào toàn dân trút những trận mưa đá lên đầu những tên ngụy quyền ác ôn này, bởi chúng có quá nhiều nợ máu với nhân dân, với đất nước…Và sau mỗi lần trừng trị bọn ngụy quyền ác ôn đó, chúng tôi đều có hội họp, báo công và được tuyên dương khen thửơng, được kết nạp vào đoàn, được vinh dự đứng vào hang ngũ của đảng, vì đã đả thương được bao nhiêu sỹ quan ngụy quyền đó. Tất nhiên là cũng có nhiều buổi họp báo công, chúng tôi cũng bị phê bình kiểm điểm vì đã không có trường hợp thương vong nào được ghi nhận trong những vụ “tập kích” đó…”
TGCT1.jpg
Nay đã hơn ba mươi sáu năm, sau ngày oan nghiệt của vận nước, muốn hay không muốn chúng ta cũng phải thấy, Nam hay Bắc đều là nạn nhân của bọn cộng sản vong nô, chúng tôi không trách ông đâu Ông Dương ạ. Thứ nhất vì cái thành thật của ông làm chúng tôi mến, thứ đến là đã có người xin lỗi chúng tôi thay cho ông rồi, những người làm việc tạ lỗi với chúng tôi là những người nghèo bán hàng rong tại nhà ga thành phố Vinh của ông. Chúng tôi cảm được cái ray rứt trong lòng ông qua câu ông viết “Kết thúc 4 năm đại học với vô số những cuộc tập kích để ném đá vào những xe chuyển tù, rồi chúng tôi cũng tốt nghiệp đại học…”.Nên chúng tôi xin mạn phép gởi đến ông một đoạn ký sau đây để ông đọc, mà thấy được rằng cái thật luôn tỏa sáng và làm rung động lòng người, cũng tựa như cái thật của ông đã làm cho chúng tôi mếm.
XUÔI NAM….
…Ðoàn tàu vẫn tiếp tục lăn bánh, hướng về nam với rộn rã của tiếng bánh xe gõ nhịp trên đường ray, tấm bảng cắm bên đường cho thấy ga kế tiếp là nhà ga Vinh. Thành phố Vinh là quê ngoại của Mẹ tôi, thuở còn nhỏ Mẹ theo Ngoại nhiều lần về Vinh. Nhận xét về quê của mẹ sau bao nhiêu năm nhìn lại, trong lần ra bắc thăm nuôi tôi, Mẹ bùi ngùi nói không có gì thay đổi, tất cả vẫn như xưa, có chăng là mọi vật cũ đi theo thời gian mà thôi. Còn tôi tuy biết Vinh là quê ngoại, nhưng trong tôi, sau năm 75 trong chuyến lưu đày ra xứ bắc, tôi cũng đã qua đây vào một đêm, nhưng tình cảm lần đầu tiên đó, không phải thứ tình cảm bồi hồi nao nao, khi đi qua chốn mà mình biết đó là quê mẹ.

Ðêm đó qua đây lúc trời đã tối, nhà ga tỉnh lẻ, tôi nhìn qua vách xe, trong ánh sáng vàng đèn trứng vịt mù mờ, vài người bán hàng rong hỏi vọng vào trong xe, mời chúng tôi mua bánh. Vài anh tù vô tình trả lời họ, và thế là sau khi họ biết chúng tôi là tù miền nam, thì những viên đá nhặt từ đường ray ném tới tấp vào thùng xe, kèm theo lời chửi thô tục, nghe đâu có vài anh tù ở xe phía trước vì tò mò, thò đầu ra khỏi tấm bạt để nhìn cho rỏ, đã nhận ngay viên đá củ đậu vào đầu, máu ra ướt áo. Cán bộ sau đó qua sự việc này để mà lên lớp chúng tôi, anh ta nói do thấu triệt chính sách khoan hồng nhân đạo, mà đảng đã giáo dục, nên nhân dân chỉ ném đá mà thôi, nếu không có đảng dạy, thì nhân dân đã cắt cổ chúng tôi rồi(?).
Ðoàn xe từ từ vào ga, kinh nghiệm của lần ra, nay lần về phải cẩn trọng, chúng tôi không muốn ăn đá củ đậu. Chúng tôi giữ im lặng, không trả lời bất cứ tiếng mời mua hàng, hay tiếng gõ vào thành tàu của người mua đồ cũ… Bánh mật… mía… chuối… ai mua không?… Quần áo cũ… đồ cũ… ai bán không?… khung cảnh nhà ga ồn hẳn lên, với lời rao của kẻ mua người bán, và đặc biệt là trong toa càng lặng tiếng, thì người mua kẻ bán đứng dưới đường ray càng gào to.
Bổng quản chế áp tải tù, chúng được lịnh cho phép nghỉ giải lao, chúng í ới gọi nhau vào nhà ga để chè lá, thấy thế các người mua bán rong, vội ùa đến gần con tầu hơn, áp sát miệng vào khe hở thành toa mà rao to. Một anh mua đồ cũ, vô tình rao đúng chỗ của anh Khanh “mù” ngồi, anh Khanh xuất thân võ bị Ðàlạt và cận nặng, nên anh em thêm chữ mù sau tên anh mà gọi cho vui. Máu tếu nổi lên anh Khanh hỏi: -Có bộ đồ tù rách mua không?… Một bất ngờ và ngỡ ngàng đến với chúng tôi, thay vì là câu chửi thề, hay chuyện gì đó như ném đá, để đáp lại câu nói của anh Khanh như chúng tôi nghĩ, thì lại là tiếng reo vui thật to: -Tầu chở tù về Nam bà con ơi… sau đó qua các khe hở của vách tầu… chuối, mía được nhét vào cho chúng tôi, thật tôi không tin những gì tôi thấy. Bấy giờ buổi sáng trời vừa nắng lên khoảng chín giờ sáng, đâu phải đêm đen đâu mà không thấy những gì đang diễn ra trước mắt mình. Từ khe hở ngay chỗ tôi, tôi cũng được một cái bánh mật, bánh còn ấm nóng, đây là bánh của người dân quê xứ Nghệ, làm từ bột trộn với đường mật, gói lá chuối xong đem hấp hay luộc, đường mật mà trong nam ta gọi là đường chảy hay đường thùng.
Ăn bánh mật hơi giống như ăn bánh ếch trong nam, không ngon bằng bánh ếch, vì nó không có nhân. Nhưng quí vị ạ, miếng bánh mà tôi đưa vào miệng , tôi ngậm nó mà nghe ngọt tận tâm can, tôi không muốn nuốt vì sợ mất, mất những gì đang đến với tôi trong suy nghĩ, trong cảm xúc. Tới đây chắc quí vị nghĩ là tôi càn rở ăn nói lung tung chăng, không đâu, cảm xúc đang trào dâng trong tôi, thật ngọt ngào và ấm áp lắm. Ngày nào cộng sản tuyên truyền, gọi chúng tôi là lính đánh thuê, chúng tôi là dã thú, ăn gan uống máu người. Ðưa chúng tôi ra Bắc, chúng thật an tâm, chúng tôi mà trốn trại ư?, tai mắt nhân dân, sẽ giúp chúng bắt chúng tôi lại dễ dàng, nhưng sau đó chúng biết chúng lầm, dưới ánh mặt trời làm sao chúng che đậy mãi cái gian manh của chúng.
Và hôm nay theo thời gian, đã xóa sạch những gì cộng sản bôi bẩn chúng tôi. Từ ngay trong lòng người dân, người dân của phần đất Xô Viết Nghệ Tỉnh, mà cộng sản cai trị giáo dục họ từ những năm đầu họ Hồ du nhập chủ thuyết cộng sản vào Việt nam. Nay chúng tôi đã có chỗ, chổ chúng tôi là trong lòng những người dân nghèo bán rong, người mua đồ cũ, họ chia sẻ cho chúng tôi những gì họ có, trong nhà ga này, nhà ga Vinh, quê ngoại tôi, mà hơn năm năm về trước, họ ném vào chúng tôi bằng những viên đá xanh, to bằng nắm tay, mà họ nhặt từ đường ray. Những gì cộng sản tuyên truyền, nhồi sọ người dân quê Ngoại tôi, hay nói chung là cả miền Bắc, nay đã bị cái thật đánh gục.
Chuyến xuôi nam này, quả đúng với câu niềm vui nối tiếp niềm vui, hôm nay người dân ga Vinh họ chuyền qua khe hở vách toa tàu, những lóng mía, những quả chuối lẻ, cùng bánh mật, những thứ này là vốn liếng của kẻ nghèo, mua bán hàng rong trong sân ga. Bằng chính rổ cơm của gia đình, họ đãi chúng tôi, những người tù miền nam, mà chính quyền cộng sản gọi là Ngụy. Nguyên do đâu sự việc này xảy đến?. Lý do gì mà tình cảm, của những người nghèo cùng khổ này, dành cho chúng tôi?. Chúng tôi chưa từng gặp họ, họ ở lại Bắc, chúng tôi xuôi Nam, bao giờ biết găp lại?, rổ hàng của họ ít ỏi lắm, mỗi người chỉ dăm quả chuối, dăm lọn mía, ít bánh mật. Cái gì đã thôi thúc, khiến họ cho đi?, phải là một cái gì đó mãnh liệt lắm. Gần sáu năm trong nhà tù cộng sản tại miền bắc, trong khoảng thời gian này tôi đã nhìn thấy quá nhiều biến đổi từ mọi phía, mọi lãnh vực, từ người dân đến cán binh, cán bộ cộng sản. Những sắt máu giáo điều không còn giá trị đối với mọi người, những son những phấn tô lục chuốc hồng, cho chế độ XHCN đã lã chã rơi, lộ nguyên trạng những gì bọn chúng cố dấu. Một câu nói trong Kinh Thánh: “Những gì của César hãy trả lại cho César” thật đúng cho cả hai bên, cho chúng tôi và cho cả cộng sản.
Bọn cán bộ áp tải đã trở lại, con tàu kéo còi từ từ chuyển bánh, qua khe hở tôi dõi nhìn, những người mua bán hàng rong trong sân ga, cho đến mãi khi không còn nhìn thấy cả họ lẫn nhà ga. Trời vào trưa nắng thật đẹp, mây có che thì chỉ một lúc nào thôi, sau đó trời vẫn lại rực rỡ như xưa…
.

VIỆT NHÂN

Hoài niệm 30-4: “Tìm mãi yêu thương”

Nguyễn Thượng Long (Danlambao) - ...Lại một ngày 30-4 nữa sắp đến… xin các đỉnh cao trí tuệ đừng bắt dân tộc tôi phải tiếp tục lên đồng, phải tự sướng với những tín điều đã không còn sức thuyết phục nữa rằng, 30-4 là ngày “Đánh cho Mỹ cút - Đánh cho ngụy nhào”. Nên chăng hãy coi 30-4 là ngày để người Việt Nam ở cả bên thắng cuộc và bên thua cuộc cùng lắng lòng mình lại, để suy tư về những thảm kịch đã đến với mảnh đất đau thương này, đến với dân tộc bất hạnh này...


*

Có thể nói, bất khuất trước những bạo tàn là một trong những phẩm chất vốn có của dân tộc Việt Nam. Tương truyền từ ngàn xưa, trong đêm dài 1000 năm Bắc thuộc, người nước Nam ngoài việc phải lên rừng tìm ngà Voi xuống biển tìm châu báu để cống nạp cho mẫu quốc Trung Hoa, nước Nam ta nhức nhối trên thân mình là những cột đồng với lời nguyền ác độc “ĐỒNG TRỤ CHIẾT - GIAO CHỈ DIỆT”cùng những bùa chú các loại của người phương Bắc, nhằm trấn yểm long mạch đất nước này.

Theo truyền thuyết, đỉnh núi Lam Thành - 
nơi chôn “đồng trụ” của Mã Viện ở Hưng Nguyên

Là những thầy Địa Lý tài ba, họ quá tin vào những pháp thuật, những lời nguyền, bùa chú... sẽ làm nước Nam lụn bại, bị Hán hóa và đời đời là Quận Huyện của Bắc Quốc. Họ không biết chúng ta về phong thủy lại liền mạch cùng tổ sơn Himalaya ngút ngàn hùng vĩ, có Tả Thanh Long, Hữu Bạch Hổ cùng sự dồi dào yếu tố ĐỊA LINH - NHÂN KIỆT đã góp phần hóa giải thành công lời nguyền của Mã Viện ngay từ những năm đầu của thiên niên kỷ thứ nhất. Không có thời kỳ nào nước Nam bị khô kiệt nhân tài vì những bát quái trận đồ của phù thủy lừng danh Cao Biền (821-887). (Tìm đọc “Trận đồ bát quái của Cao Biền trên sông Tô Lịch” - “Thắng địa Thăng Long & Địa linh đất Việt” của Trần Văn Việt và Nguyễn Văn Túc).

Tôi tin là rồi những “16 chữ vàng” (Láng giềng hữu nghị - Hợp tác toàn diện - Ổn định lâu dài - Hướng tới tương lai),“4 Tốt” (Láng giềng tốt - Bạn bè tốt - Đồng chí tốt - Đối tác tốt)… một dạng “Bùa Chú” mới thời cộng sản của những Giang Trạch Dân, Lý Bằng, Hồ Cẩm Đào, Tập Cận Bình được những Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Nông Đức Mạnh, Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu, Nguyễn Phú Trọng... giúp sức đưa vào Việt Nam, rồi cũng sẽ chung số phận với những gì mà những Mã Viện, Cao Biền, Hoàng Phúc... đã từng thi thố từ hàng ngàn năm trước mà thôi. Trừ những đám Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc, Hoàng Văn Hoan, trừ những kẻ đang bán dần đất nước cho Tầu... truyền thống phải cảnh giác với người Tầu đã là thái độ thường trực của người Việt Nam yêu nước từ lâu rồi.

Nhưng... đất nước chúng ta lại đang thực sự lao đao vì một thứ cũng hoàn toàn ngoại lai do Hồ Chí Minh và những người cộng sản Việt Nam du nhập và khư khư lưu giữ suốt 88 năm nay. Đó là “Ý THỨC HỆ MÁC - LÊ”. Vì sao mà một dân tộc có truyền thống “Nhiễu điều phủ lấy giá gương / Người trong một nước phải thương nhau cùng” lại dễ dàng bị cuốn vào cơn gió chết chóc một cách dễ dàng như vậy:

“Giết giết nữa bàn tay không phút nghỉ
Cho ruộng đồng lúa tốt thuế mau xong
Cho đảng bền lâu cùng dập bước chung lòng
Thờ Mao Trạch Đông, thờ Stalin bất diệt”? (Tố Hữu) 

Dễ hiểu thôi, cố giáo sư Trần Quốc Vượng đã từng nói: “Hồ Chí Minh chở Chủ nghĩa Mác Lê vào Việt Nam trên cỗ xe Nho Giáo” nên về cơ bản, “Ý THỨC HỆ MÁC LÊ” cũng mang hồn cốt của Khổng Nho với biết bao hạn chế không khắc phục được. Nếu cơ sở tư tưởng của Khổng nho là “Tứ Thư - Ngũ Kinh” thì cơ sở tư tưởng của Mác Lê là “Tư Bản Luận”. Nếu chuẩn mực đạo đức của Khổng Nho là “Tam tòng tứ đức - Tam cương Ngũ thường”, là “Quân xử thần tử - Thần bất tử bất trung”, thì chuẩn mực của ý thức hệ Mác Lê là “Trung với nước - Hiếu với dân”, nay là “Trung với Đảng hiếu với dân”, là “Yêu nước là yêu CNXH”. Trong bài “Nỗi ám ảnh của quá khứ” giáo sư Trần Quốc Vượng nói rõ hơn: “Chủ nghĩa quốc tế của Mác Lê mà Nguyễn Ái Quốc và những người cộng sản mang về áp dụng vào một xã hội nông dân châu Á nghèo khổ, khác hẳn cơ địa xã hội tư sản Tây Âu, nơi hình thành chủ nghĩa Marxisme”. 

Những người cộng sản Việt Nam tiền bối cũng có căn cước là nông dân chính hiệu. Cho nên không có gì là lạ, ngay từ khi chưa cướp được chính quyền thì “TRÍ - PHÚ - ĐỊA - HÀO” là cái gai trong mắt họ cần phải “ĐÀO TẬN GỐC TRỐC TẬN RỄ”. Là những lãnh tụ nông dân nên phát súng đầu tiên của CCRĐ họ dành cho ân nhân của họ là bà Nguyễn Thị Năm chỉ vì bà là địa chủ. Là những lãnh tụ nông dân nên mới có chuyện “Tiếng đầu đời con gọi Stalin” và “Bên ni biên giới là nhà / Bên tê biên giới cũng là quê hương” (Tố Hữu). Là những lãnh tụ nông dân nên khi có chiến thắng 30-4-1975 họ mới bảo nhau: “Nhà Ngụy ta ở, vợ ngụy ta lấy, con ngụy ta sai…” (Nguyễn Hộ). Là những lãnh tụ nông dân nên mới có chuyện lùa nhân dân đi tìm thiên đường XHCN mà “Không biết đến hết thế kỷ này đã thành hiện thực chưa?” (Nguyễn Phú Trọng), và ròng rã 88 năm nay, với “Ý THỨC HỆ” đó, ĐCS đã đặt đất nước luôn ở vị trí cửa dưới, chầu rìa trong những cuộc chơi mà quyền định đoạt luôn luôn thuộc về các siêu cường.

Trong một thế giới đơn cực không còn đối trọng bởi Liên Xô và hệ thống XHCN đã tan rã ngót 30 năm rồi, thế giới đó đang lấp đầy là những tín điều thực dụng đến nghiệt ngã nhưng lại là chân lý: “Mọi lý thuyết đều là mầu xám - Còn cây đời mãi mãi xanh tươi”. Thế giới đó “Không có liên minh nào là vĩnh viễn - Không có kẻ thù nào là vĩnh viễn - Chỉ có lợi ích là vĩnh viễn”… thì ĐCS Việt Nam dường như vẫn chưa ra khỏi cơn hoang tưởng vào sự vô địch của “Ý THỨC HỆ MÁC LÊ”. Tại sao ĐCS lại coi thường người dân đến như vậy?

Thực ra ĐCS Việt Nam thừa biết là “Ý THỨC HỆ MÁC LÊ” đã hết sức sống rồi, nhưng nếu từ bỏ nó thì ĐCS không có lý do tồn tại. Người ta biết được điều này qua tuyên ngôn hết sức bá đạo của đảng trưởng Nguyễn Văn Linh ngày nào “Thà mất nước còn hơn là mất đảng”. Mất đảng tức là mât độc quyền cai trị dân tộc Việt Nam, là không còn cơ hội để vơ vét tham nhũng được nữa. Thế là người ta cấy vào “NỀN KINH TẾ THỊ TRƯƠNG”, biểu tượng của kinh tế TBCN một cái đuôi xấu xí “ĐỊNH HƯỚNG XHCN”. Vậy là đã có một cuộc hôn phối gượng ép giữa “CHỦ NGHĨA TƯ BẢN RỪNG RÚ” với “Ý THỨC HỆ MÁC LÊ PHIÊN BẢN STALIN - MAO”, hình thành nên một mô hình chính trị quái đản chưa từng thấy trong lịch sử loài người. Ở Việt Nam, “Cuộc Hôn Phối” bệnh hoạn này đã tạo ra một thứ “CỘT TRỤ” vô hình, nhưng nó phát tác lực “TRẤN YỂM” là vô cùng ghê gớm. 

Vì thứ “CỘT” đó mà nguyên khí dân tộc bị tiêu tán, nội lực dân tộc bị suy kiệt vì chia rẽ, vì hận thù. 

Vì thứ “CỘT” đó mà mọi giá trị trong xã hội Việt Nam bị đảo lộn nghiêm trọng. Vì thứ “CỘT” đó, Việt Nam sẽ không bao giờ có Đa Nguyên chính trị, không bao giờ có tam quyền phân lập, không bao giờ có bầu cử trực tiếp... và ĐCS mãi mãi có quyền hành xử và hiện diện như một lực lượng chiếm đóng. 

Vì thứ “CỘT” đó mà các lực lượng vũ trang Việt Nam trở thành lực lượng “Chỉ biết còn đảng còn mình”. Quân đội thì bỏ nhiệm vụ bảo vệ lãnh thổ để mải mê làm kinh tế. Công an thì hèn với giặc ác với dân, làm “Thanh Kiếm - Lá Chắn” cho đảng. 

Vì thứ “CỘT” đó mà xã hội Việt Nam xuất hiện ngày càng đông đảo tầng lớp “Tư Bản Đỏ”, bên cạnh đó là sự tàn tạ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường sống của ngót 100 triệu con người không còn trong lành. 

Vì thứ “CỘT” đó mà trí thức văn nghệ sĩ mất hết bản lĩnh trở thành những kẻ bưng bô tầm thường cho quyền lực để sinh nhai. 

Vì thứ “CỘT” đó mà Bệnh Viện - Nhà Trường biến thành thương trường, chợ búa. Nơi đó những thầy cô giáo xấu, những thầy thuốc bất lương tha hồ thi thố các chiêu trò ma giáo. 

Vì thứ “CỘT” đó mà công nhân thì bị giới chủ bóc lột tàn tệ, thất nghiệp lang thang sống kiếp làm thuê làm mướn khắp thế giới. 

Vì thứ “CỘT” đó nông dân thì bị mất đất đai vì lá bùa “Đất đai là sở hữu toàn dân do nhà nước thay mặt đứng ra quản lý” vẫn sừng sững án ngữ luật pháp hiện hành. 

Vì thứ “CỘT” đó mà kho tàng tiếng Việt đã xuất hiện những thuật ngữ vô cùng biểu cảm “Thuyền Nhân, “Dân Oan”. Những thuật ngữ này có tính tố cáo rất cao. 

Vì thứ “CỘT” đó mà người Trung Quốc tự do ra vào Việt Nam, ngày Việt Nam trở thành quận huyện của Trung Quốc đã cận kề. 

Chiến tranh đã lùi xa qua 43 năm mà hiện trạng của Việt Nam lúc này không làm ai hài lòng. Đất nước đã thống nhất nhưng chưa hề có Dân Chủ, chưa hề có Độc Lập, chưa hề có Tự Do, chưa hề có Hạnh Phúc... Tất cả là do sự kiên định cái mớ lý thuyết mầu xám đó. Vì khư khư cái thứ mà các dân tộc văn minh đã vứt bỏ mà nội lực dân tộc bị huỷ hoại, suy yếu vì bất đồng vì chia rẽ. Tương lai của dân tộc rồi sẽ ra sao? Ai là người có lỗi trước tiền nhân? Ai sẽ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử đây? 

Hình như sự kiên định “Ý THỨC HỆ MÁC LÊ” của ĐCS Việt Nam là dấu hiệu cho biết nghiệp báo vì những gì đã diễn ra trong quá khứ của dân tộc là nặng nề đến thế nào. Sẽ có điều gì khác không nếu sau hiệp nghị Giơnevơ 1954, phía Bắc vĩ tuyến 17 sẽ là những người dân miền Nam và nam vĩ tuyến 17 sẽ là những người dân miền Bắc? Người dân miền Nam mà sống với những người cộng sản ở miền Bắc, họ sẽ phải tiếp thu ý thức hệ của ĐCS. Đảng sẽ dúi vào tay họ khẩu AK47 được sản xuất từ Liên Xô. Người miền Bắc mà phải sống ở nam vĩ tuyến 17, trong tay họ sẽ là những khẩu AR15 được sản xuất ở Hoa Kỳ. Điều gì sẽ xảy ra đây? Lịch sử sẽ phải viết khác đi chăng? Chẳng thể có câu trả lời dứt khoát được. Nhưng một điều có thể chắc chắn là người miền Nam mà sống ở miền Bắc cũng sẽ biết thế nào là đấu tố trong cải cách ruộng đất, thế nào là: “Mang bục công an đặt giữa trái tim người / Bắt tình cảm ngược xuôi theo luật đi đường nhà nước” (Lê Đạt), sẽ phải thắt lưng buộc bụng, phải làm viêc bằng 2 để xây dựng chủ nghĩa xã hội, vẫn phải dốc sức để “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào” như lời kêu gọi của Hồ Chí Minh. Người miền Bắc sống ở miền Nam cũng làm sao mà thoái thác được nhiệm vụ là người lính ngăn chặn làn sóng “ĐỎ” đang lăm le tràn ngập khắp Châu Á. Và nếu như lịch sử lại có một kết cục ngược lại, ngày 30/4/1975 lại kết thúc chiến tranh ở Hà Nội thì liệu người dân ở đó có thoát được những cuộc tập trung cải tạo để tẩy não như những gì đã xẩy ra ở miền Nam sau 30-4-1975? Câu hỏi này cũng chẳng có câu trả lời khẳng định được. Nhưng chắc chắn sẽ xẩy ra cái điều mà nhà thơ Nguyễn Duy đã nói tới trong bài “Đá ơi” là: “Nghĩ cho cùng / Mọi cuộc chiến tranh / Phe nào thắng thì nhân dân đều bại”… Vậy là bi kịch vẫn đến với dân tộc chúng ta như một thứ tiền định. Chúng ta vẫn chỉ là những con tốt thí, những quân cờ trên bàn cờ “Ý THỨC HỆ” mà thôi.

Để có được mấy thứ này ông Phạm Duy phải nói: 
“Tôi chống gậy chứ đâu có chống cộng…”

Vào thời điểm tôi đang viết những dòng chữ này, các Fan hâm mộ các ca sĩ hải ngoại của cư dân nơi tôi ở đang vô cùng háo hức đón chờ thế hệ hậu duệ của những tài danh Chế Linh (Chế Phong), người hùng Biệt Động Quân Duy Khánh với quý tử Chế Phi cùng với những siêu sao cỡ Khánh Ly, Thanh Tuyền, Giao Linh, Tuấn Vũ, Tuấn Ngọc, Elvis Phương, Trường Vũ, Quang Lê, Hoài Linh, MC Nguyễn Cao Kỳ Duyên… đã “Nối vòng tay lớn” điều mà cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã ao ước ngay từ buổi trưa 30/ 4 của 43 năm về trước. Đây là một dẫn chứng sinh động cho điều mà ông Võ Văn Kiệt đã từng nói: “Có hàng trăm con đường yêu nước khác nhau. Tổ Quốc Việt Nam không của riêng một ai, một Đảng, một phe phái, hay một tôn giáo nào”. Những cuộc “Nối vòng tay lớn” tương tự đã, đang và có thể sẽ còn diễn ra dồn dập hơn nữa, liệu quá trình đó có làm lu mờ đi "vừng hào quang" của "chiến thắng" 30/4/1975? Tất nhiên là có. Khi phải hạ mình đón nhận những đồng tiền của bọn “Ngụy” bỏ nước ra đi vì bị họ đánh thắng... thì còn đâu vừng hào quang nào nữa. Hóa ra chúng ta đã “Dắt tay nhau đi dưới những tấm biển chỉ đường… không hề trí tuệ” (Xin lỗi Tiến sĩ Hà Sĩ Phu). Cái giá của cuộc tương tàn để có một xã hội như thế này... thật là thê thảm & vô nghĩa. Tôi nghĩ, nếu được làm lại thì những người Việt Nam yêu nước, thương nòi, có văn hoá, có nhân cách, có lòng tự trọng… sẽ hành xử khác những gì mà những người chiến thắng đã làm sau ngày 30-4-1975.

Lại một ngày 30-4 nữa sắp đến… xin các đỉnh cao trí tuệ đừng bắt dân tộc tôi phải tiếp tục lên đồng, phải tự sướng với những tín điều đã không còn sức thuyết phục nữa rằng, 30-4 là ngày “Đánh cho Mỹ cút - Đánh cho ngụy nhào”. Nên chăng hãy coi 30-4 là ngày để người Việt Nam ở cả bên thắng cuộc và bên thua cuộc cùng lắng lòng mình lại, để suy tư về những thảm kịch đã đến với mảnh đất đau thương này, đến với dân tộc bất hạnh này. Sau 43 năm sự kiện 30-4-1975, không một người dân trong nước nào nghĩ đến việc có ngày xuất hiện một nước Việt Nam thứ 2 ở hải ngoại. Nước Việt Nam đó có 4 triệu dân, cũng máu đỏ da vàng, cũng thờ cúng tổ tiên ông bà như người Việt Nam trong nước, cũng vững tin “Truyện Kiều còn tiếng ta còn - Tiếng ta còn nước Nam còn” (Phạm Quỳnh). Nước Việt Nam đó không tôn thờ “Ý THỨC HỆ MÁC – LÊ”, nhưng họ cũng xuống đường phản đối Trung Quốc mỗi khi nước này giở trò với cố hương của họ và từ nước Việt Nam đó mỗi năm có hơn 13 tỉ Mĩ kim kiều hối chảy về giúp cho CHXHCN Việt Nam bù đắp thâm hụt do tham nhũng tràn lan và nợ công cao ngút trời. 

Mọi năm… người ta vẫn coi 30-4 là ngày “Đánh cho Mỹ cút - Đánh cho ngụy nhào”. Đánh cho Mỹ cút cái gì mà ông lớn, ông nhỏ nào cũng đua nhau cho con cháu ôm tiền cướp được đi Mỹ để mua nhà, mua đất sẵn cho ngày tháo chạy. Đánh cho ngụy nhào cái gì mà lại hạ mình gọi “Những kẻ đĩ điếm lười lao động” là “Khúc ruột ngàn dặm”. Ngày nào mà những giáo điều quan trọng nhất của tà thuyết ngoại lai, như “Bạo lực cách mạng triệt để”, “Chuyên chính vô sản đến cùng”, “Chính quyền trên đầu mũi súng”... chưa được cởi bỏ thì những gì mà nhạc sĩ tài hoa Văn Cao viết trong ca khúc “Mùa Xuân Đầu Tiên” sau ngày 30-4-1975: “Từ nay người biết yêu người -Từ nay người biết thương người” vẫn chỉ là một mơ ước của một DÂN OAN nổi tiếng của chế độ mà thôi. 

17.04.2018


Ngậm miệng ăn tiền!

Điệp Mỹ Linh (Danlambao) - Được tin Hàng Không Mẫu Hạm USS Carl Vinson của Hải Quân Mỹ đến Đà Nẵng ngày March 5-2018, tôi cúi mặt, lặng yên, lòng dâng lên vời vợi một nỗi buồn! Lẽ nào đảng và người Cộng Sản Việt Nam (C.S.V.N.) gây ra cuộc chiến tương tàn, từ 1954 đến 1975, làm thiệt hại nhân mạng hơn 2 triệu thường dân – cả Nam lẫn Bắc Việt Nam; hơn 1 triệu quân của đảng C.S.V.N., bộ đội cụ Hồ; từ 200 ngàn cho đến 250 ngàn quân nhân miền Nam Việt Nam; chưa kể số thương vong của quân nhân Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi, Đại Hàn, cố vấn Trung Cộng, v.v… chỉ để đánh cho Mỹ cút; nay Mỹ trở lại!

Mỹ trở lại Việt Nam làm cho chàng-láng-giềng-tham-lam-tàn-ác-Trung-Cộng khó chịu bao nhiêu thì sự kiện Mỹ trở lại Việt Nam cũng làm cho tôi xót xa bấy nhiêu! 

Không xót xa sao được khi mà – sau khi Mỹ rút quân – đảng và người C. S. V. N. đã trút tất cả oán thù, uất hận trên hình tinh này xuống thân phận người miền Nam chúng tôi! 

Thời kháng chiến chống Tây, ông Hồ Chí Minh đã ra lệnh thủ tiêu các nhà cách mạng không cùng chí hướng với ông. Sau hiệp định đình chiến Genève, 1954, ông Hồ Chí Minh theo lệnh của Trung Cộng, hô hào đảng và người C.S.V.N. phải tận diệt người miền Nam chúng tôi – vì chúng tôi không theo Cộng Sản! 

Thế thì tại sao đảng và người C.S.V.N. lại thù hận chúng tôi? Chúng tôi không khởi động cuộc chiến 1954-1975. Chúng tôi không vượt sông Bến Hải ra Bắc để tấn công người C.S.V.N.. Chính người C.S.V.N. đã “xẻ Trường Sơn” khắc vào người “sinh Bắc tử Nam” để vào Nam khủng bố, bắn giết chúng tôi thì chúng tôi phải tự vệ. Dù chúng tôi chỉ tự vệ thì đảng và người C.S.V.N. cũng đừng nên hảo huyền mà tuyên truyền rằng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (V.N.C.H.) thua cuộc!

Khi trả lời phỏng vấn của phóng viên Huy Tâm – thuộc Hệ Thống Truyền Thông Việt Nam Hải Ngoại – Điệp Mỹ Linh đã xác định: “Người Lính và Quân Lực V.N.C.H. chưa bao giờ thua bộ đội Cộng Sản Bắc Việt tại chiến trường mà chính quyền miền Nam đã thua C.S.V.N. tại bàn hội nghị – vì sự tráo trở, gian manh, lật lọng của C.S.V.N.!

Tháng Ba 1975, lệnh rút quân khỏi Cao Nguyên, rồi lệnh rút quân khỏi Vùng I và Vùng II Chiến Thuật. 

Sáng 30-04-1975, ông Dương Văn Minh đầu hàng và ra lệnh người Lính V.N.C.H. buông súng! 

Vào thời điểm nghiệt ngã như vậy, người Lính V.N.C.H. làm được gì khi vũ khí và đạn dược không được tiếp tế – vì Mỹ đã rút quân từ năm 1973, trong khi bộ đội cụ Hồ, đảng C.S.V.N. thì vẫn nhận được sự viện trợ vũ khí, đạn dược từ Trung Cộng và Nga – mà lệnh đầu hàng lại đến từ vị chỉ huy tối cao, Tổng Tư Lệnh Dương Văn Minh? Sự thật là như vậy. Tài liệu và phim ảnh còn đó.

Tôi nhận thấy, vị thế của người Lính V.N.C.H. vào ngày 30 tháng 04 năm 1975 không khác chi vị thế của quân đội Nhật vào thời điểm sau khi chính phủ Nhật Bản ký văn kiện đầu hàng trên chiến hạm USS Missouri tại Tokyo Bay, vào mùa Hạ năm 1945!...” 

Trong cuộc chiến Mỹ-Nhật, vào thời đệ II Thế Chiến, Mỹ là kẻ chiến thắng thật sự; vì Mỹ chiến đấu đơn độc chứ Mỹ không hề nhờ cậy, lệ thuộc vào sự giúp đỡ của bất cứ một đồng minh nào cả. Thế mà, sống ngay trên đất nước Hoa Kỳ 43 năm, tôi chưa hề thấy chính phủ Mỹ, nhân dân Hoa Kỳ tổ chức kỷ niệm ngày Mỹ chiến thắng Nhật Bản! 

Vì Hoa Kỳ xử sự cao thượng như thế cho nên giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản mới có được sự giao hảo tốt đẹp, bền vững suốt nhiều thập niên qua.

Trong khi kẻ thắng trận có văn hóa, có đạo đức – như Hoa Kỳ – đối xử với người thua trận như thế thì đảng và người C.S.V.N., tự phong là kẻ “giải phóng” miền Nam, lại chỉ chờ đến Tết hoặc ngày 30 tháng Tư mỗi năm, tổ chức mừng chiến thắng rất linh đình, “hoành tráng” để “đâm” vào vết thương không bao giờ lành trong lòng người dân miền Nam và cũng để tự xoa dịu mặc cảm tự ty của chính người C.S.V.N., bộ đội cụ Hồ!

Ai muốn biết mặc cảm tự ty của người C.S.V.N., bộ đội cụ Hồ là gì và như thế nào, xin mời xem lại hình ảnh ngày 30-04-1975 – ngày “đàn bò về thành phố”. (1) 

Người miền Nam chúng tôi không cần đảng và người C.S.V.N. phải đối xử với chúng tôi một cách cao thượng như người Mỹ đối với người Nhật. Người miền Nam chúng tôi chỉ ước chi người C.S.V.N. bớt đi sự tàn ác, dã man – mà người C.S.V.N. đã hành xử đối với hơn 300 ngàn sĩ quan, công chức miền Nam trong các trại tù cải tạo, sau 30-04-1975 – thì ngày nay, thái độ của người Việt di tản đối với đảng và “nhà nước” C.S.V.N. có thể không như bây giờ.

Bây giờ người C.S.V.N. kêu gọi chúng tôi hãy khép lại quá khứ. Cái quá khứ tàn khốc do người C.S.V.N. gây nên, nếu chỉ xảy ra cho cá nhân chúng tôi thì chúng tôi có thể tự nhân danh chúng tôi để khép lại vết thương sâu thẳm đó. Đằng này, cái quá khứ khốc liệt, tàn ác của đảng và người C.S.V.N. lại trút lên số phận những người thân yêu của chúng tôi thì chúng tôi lấy danh nghĩa gì mà tha thứ cho đảng và người C.S.V.N.? Nếu chúng tôi quên đi tình ruột thịt mà tha thứ cho đảng và người C.S.V.N. thì chúng tôi cũng sẽ giống như người C.S.V.N. – nghĩa là chúng tôi sẽ không còn là những người có lương tri nữa!

Giả thử chúng tôi cao thượng, tạm thời khép lại quá khứ thù hận. Nhưng cứ đến ngày kỵ dỗ những người thân yêu trong gia đình chúng tôi thì đảng và người C.S.V.N. lại tổ chức ăn mừng, ca hát, nhảy múa, tuyên truyền, lên án, xuyên tạc, đổ tội những người thân yêu của chúng tôi thì cái quá khứ tàn ác, khốc liệt mà người Cộng Sản đã dành cho gia đình chúng tôi có thể xóa mờ được hay không?

Viết đến đây, tôi nhận được youtube về Hàng Không Mẫu Hạm Carl Vinson vừa đến Đà Nẵng. Mở youtube, nghe tiếng guitars dạo vài notes, tôi biết ngay Hải Quân Mỹ “chơi” trò tâm lý chiến. Khi nữ thủy thủ Emily Kerhaw hát đến câu: “…Ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà…anh em ta về… gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng…”, tôi tắt youtube!

Tôi tự hỏi, có cơn bão nào – dù là giông bão, bão cát – đem đến an bình cho vạn vật trên quả địa cầu này hay không? Dĩ nhiên là không! Anh chị em gặp nhau vui mừng mà như “bão cát quay cuồng” thì hãi hùng, kinh khiếp quá chứ tốt đẹp gì, hạnh phúc gì! Và sự hãi hùng, kinh khiếp quả thật đã đến với người miền Nam chúng tôi, sau khi bộ đội cụ Hồ, người C.S.V.N. cưỡng chiếm miền Nam! Thế thì nhạc phẩm Nối Vòng Tay Lớn là lời tiên tri hay là lời nguyền rủa của Trịnh Công Sơn dành cho người miền Nam? 

Tôi xót xa nhận ra rằng: Dù tiên tri hay nguyền rủa thì cũng chính sự tự do nhân bản của miền Nam đã giúp cho một nhạc sĩ thiên Cộng như Trịnh Công Sơn có đời sống an nhàn, khỏi phải đi lính như hầu hết thanh niên miền Nam, để Trịnh Công Sơn sáng tác những tác phẩm nói lên nỗi khao khát của anh ta.

Nỗi khao khát của Trịnh Công Sơn thể hiện rõ nét nhất trong bốn câu cuối của nhạc khúc Nối Vòng Tay Lớn: “…Từ Bắc vô Nam nối liền nắm tay. Ta đi từ đồng hoang vu vượt hết núi đồi. Vượt thác cheo leo, tay ta vượt đèo, từ quê nghèo lên phố lớn, nắm tay nối liền biển xanh sông gấm nối liền một vòng tử sinh.” 

Ngày 30-04-1975, nỗi khao khát của Trịnh Công Sơn trở thành hiện thực. Và – cũng chính trong ngày 30-04-1975 – Trịnh Công Sơn ôm đàn đến đài phát thanh ca vang: “…Vượt thác cheo leo…vượt đèo, từ quê nghèo lên phố lớn…” để chào mừng “bên thắng cuộc”. Nhưng, sau đó, không hiểu tại sao, Trịnh Công Sơn lại bị “bên thắng cuộc” đày đi kinh tế mới. Khi bị bệnh nặng, được “bên thắng cuộc” hứa cho đi ngoại quốc chữa bệnh, Trịnh Công Sơn từ chối – đây là lòng tự trọng cao cả cuối đời của một nghệ sĩ lạc lối!

Viết ngang đây, tôi lại nhận được youtube về bài Nối Vòng Tay Lớn được viết lời ca khác. Lời ca “mới” này thể hiện trọn vẹn hình ảnh của bộ đội cụ Hồ, người C.S.V.N. và hoàn cảnh của gia đình “Ngụy” quân, "Ngụy" quyền sau khi miền Nam bị bức tử: “Từ Bắc vô Nam đi bằng dép râu, hai tay cầm sợi giây gai để bắt con cầy…Thành phố tới thôn xa kêu gào, chẳng biết kiếm đâu ra hạc gạo, toàn là mì với bo bo…Từ Bắc vô Nam muôn người oán than, công an là bọn lưu manh khủng bố dân lành. Nhà nước tham ô, nhân dân đói nghèo. Làng thôn tràn lên phố lớn, dắt nhau ăn mày vì đâu nên nổi, cũng vì một bọn Cộng nô!”. (2)

Đây không phải là lần đầu tiên tôi nghe đảng và người C.S.V.N. bị người dân chế diễu một cách chính xác, cay đắng như vậy. Lúc còn bé, cùng gia đình ra “vùng giải phóng” để Ba tôi thực hiện ước nguyện chống Tây, tôi đã nghe trẻ em hát như thế này: “Tuốt gươm thiêng vung cho nước nhà, khiến ông bà mang gói tản cư. Hồ Chí Minh lai căn, Hồ Chí Minh! Làm cho máu thấm ướt nước Nam. Hồ Chí Minh lai căn, Hồ Chí Minh! Làm cho nước Việt Nam tan hoang!...” (3) Sau này, đủ hiểu biết, tôi hỏi Ba tôi, làm thế nào lũ trẻ em ngây thơ chất phác ngày đó lại có thể “tiên đoán” những điềm “ghê gớm” như vậy? Ba tôi cười hiền hòa, bảo, thành phần trí thức miền Nam thoát ly ra “vùng giải phóng” – sau khi nhận thức được sự trá hình của Việt Minh và ông Hồ Chí Minh – đã đổi lời ca như thế chứ trẻ em làm thế nào hiểu “lai căn, máu thấm nước Nam, nước Việt Nam tan hoang” là nghĩa gì mà tiên đoán!

Trong cuộc chiến 1954-1975, máu của gần 04 triệu người đã đổ trên Quê Hương Việt Nam; số lượng máu vỹ đại đó không “thấm ướt nước Nam” thì thấm vào nước nào? Việt Nam không “tan hoang” dưới gót dày của Trung Cộng thì Trung Cộng đang làm gì trên đất nước Việt Nam – từ Bắc chí Nam, từ cao nguyên xuống đồng bằng? Những cứ điểm biệt lập của Trung Cộng dùng vào mục đích gì? 

Ngoài việc làm tan hoang đất nước, đảng và người C.S.V.N. còn tạo ra nhiều điều tệ hại chứng tỏ sự hèn hạ, thiếu tư cách của những nhà lãnh đạo đảng. 

Sự hèn hạ to lớn nhất của đảng và người C.S.V.N. là: Chính người C.S.V.N., bộ đội cụ Hồ đã xâm phạm hiệp ước hưu chiến vào Tết Mậu Thân để tàn sát gần sáu ngàn thường dân ở Huế mà đảng và người C.S.V.N. không dám nhận lỗi, lại đổ tội cho Mỹ Ngụy! Không những thế, từ đó, năm nào đảng và người C.S.V.N. cũng chờ đến Tết để tổ chức tưng bừng “chiến thắng Mậu Thân”.

Chiến thắng cái nỗi gì mà – trong trận Tết Mậu Thân – khi thấy Thủy Quân Lục Chiến, Nhảy Dù, Biệt Động Quân của Quân Lực V.N.C.H. được tăng cường để tái chiếm các cứ điểm do bộ đội C.S.V.N chiếm cứ thì bộ đội C.S.V.N. “dông ba tê, chém vè” nhanh hơn… sóc!

Cái hèn thứ hai của ban lãnh đạo C.S.V.N. là: Khi Hàng Không Mẫu Hạm USS Carl Vinson đến Đà Nẵng, có đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông Daniel Kritenbrink và Đô Đốc Scott Swift – Tư Lệnh Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ – trên Hàng Không Mẫu Hạm thì toàn ban lãnh đạo của đảng và “nhà nước” C.S.V.N. “trốn mất biệt”; chỉ vì ban lãnh đạo, “nhà nước” C.S.V.N. không dám làm mếch lòng chàng-láng-giềng-tham-lam-tàn-ác-Trung- Cộng! Cái hèn này làm nhục Quốc thể!

Cái hèn thứ ba của ban lãnh dạo C.S.V.N. là, năm 2017, công ty khí đốt – Repsol – của Tây Ban Nha, đã ký hợp đồng với Việt Nam để thăm dò dầu khí; nhưng khi chàng-láng-giềng-tham-lam-tàn-ác-Trung-Cộng dọa Việt Nam rằng: Nếu Việt Nam để Repsol thăm dò dầu khí thì Trung Cộng sẽ đánh các căn cứ quân sự của Việt Nam tại Trường Sa. Thế là ban lãnh đạo C.S.V.N…. run, xóa hợp đồng với Repsol!

Cái hèn thứ tư của ban lãnh đạo C.S.V.N. là, vào những dịp lễ tưởng niệm, nếu biết được địa điểm dân chúng sẽ tề tựu để biểu tình phản đối Trung Cộng, đảng, “nhà nước” C.S.V.N. thì đảng và người C.S.V.N. ra lệnh cho dư-luận-viên đưa vợ, bồ nhí đến địa điểm đó, nhảy đầm để choáng chỗ!

Vào ngày Lễ Hoàng Sa năm nay, Trung Cộng đã thâm độc đưa đoàn biểu diễn nghệ thuật Nội Mông sang Việt Nam để rầm rộ trình diễn vào tối 19/01 tại thủ đô Hà Nội – như một hình thức ăn mừng chiến thắng Hoàng Sa năm 1974 – để người Việt Nam ham vui, quên đi ngày Trung Cộng chiếm Hoàng Sa! Khi bị dân chúng và dư luận lên án nặng nề, ban tổ chức đành phải hủy bỏ đêm trình diễn của Nội Mông.

Riêng dịp tưởng niệm 64 tử sĩ Gạc Ma, năm nay, một nhóm nhỏ gồm 20 nhà hoạt động có mặt ở khu vực tượng đài vào khoảng 9 sáng ngày 14/3/18 để tiến hành lễ tưởng niệm thì công an Cộng Sản xuất hiện, mời về đồn công an “làm việc”!

Từ sự hèn hạ của ban lãnh đạo C.S.V.N. tôi liên tưởng đến một tấm ảnh rất đẹp, rất ý nghĩa, chụp hôm đám tang của đại tá nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông. Ngay trước ngôi nhà của đại tá Nguyễn Văn Đông, rất nhiều người – có cả công an C.S.V.N. mặc sắc phục, đội mũ “kết” – đứng dọc hai bên đường. Khi quan tài của đại tá Nguyễn Văn Đông vừa được đưa ra khỏi nhà thì… thật bất ngờ, nhóm thường dân đứng bên phải của ngôi nhà vội đưa tay lên chào kính theo kiểu nhà binh! Sau này tôi mới biết nhóm thường dân chào kính cố đại tá Nguyễn Văn Đông là nhóm cựu Thiếu Sinh Quân.

Nhìn tấm ảnh nhóm cựu Thiếu Sinh Quân V.N.C.H. chào kính, tiễn đưa một sĩ quan cao cấp, một nhân tài của V.N.C.H., tự dưng nước mắt của tôi lăn dài! Tôi tự biết, tôi không khóc vì nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông qua đời; vì – dù rất thích và cũng đã từng đàn, từng hát nhạc của Ông – tôi chưa được hân hạnh gặp, quen với Ông. Tôi khóc vì tôi xúc động trước sự can đảm của nhóm Thiếu Sinh Quân đang sống trong lòng địch và đứng ngay trước mặt công an Cộng Sản mà nhóm Thiếu Sinh Quân này cũng vẫn không biết sợ, vẫn cứ chào kính một sĩ quan đàn anh. Tư cách, cử chỉ của nhóm Thiếu Sinh Quân hôm tang lễ của đại tá Nguyễn Văn Đông hơn hẳn tư cách của ban lãnh đạo C.S.V.N.; và cử chỉ của nhóm Thiếu Sinh Quân này cũng đã thể hiện rất rõ nét về tác phong của người Lính V.N.C.H. cũng như về đạo đức của nền giáo dục dưới chính thể V.N.C.H.!

Việt Nam là đất nước của người Việt Nam thì nhà cầm quyền của Việt Nam muốn mời ai, cho phép ai đến thăm là quyền của nhà cầm quyền Việt Nam; chàng-láng-giềng-tham-lam-tàn-ác-Trung-Cộng không có thẩm quyền gì để tỏ thái độ về chuyện riêng tư của nhà cầm quyền Việt Nam! Nhưng chợt nhớ ra lý do thầm kín khiến chàng-láng-giềng-tham-lam-tàn-ác-Trung-Cộng nổi giận khi thấy ban lãnh đạo đảng C.S.V.N. tỏ thái độ hòa nhã với Mỹ – “kẻ thù xưa” của đảng và người C.S.V.N. – tôi cay đắng nhận ra lý do toàn ban lãnh đạo của đảng và nhà nước C.S.V.N. “trốn mất biệt” là…đúng! 

Tôi gọi là “lý do thầm kín” nhưng thật ra lịch sử và thực tế đã hiển hiện rõ ràng, ai tinh ý cũng có thể thấy được.

Ngược dòng lịch sử, kể từ khi ông Hồ Chí Minh du nhập vào Việt Nam lý thuyết Cộng Sản thì đảng và người C.S.V.N. chỉ biết “tuân thủ” theo ý muốn của đàn anh Trung Cộng. Từ cải cách ruộng đất đến khởi động cuộc chiến 1954-1975 để anh em nhà Việt Nam giết nhau; rồi chiến thuật “biển người” để thiêu rụi người Việt càng nhanh càng tốt; rồi trại cải tạo để hủy diệt tinh hoa, nhân tài, trí thức người Việt; rồi cho Trung Cộng xuất cảng sang Việt Nam thực phẩm có chứa hóa chất độc hại, v.v…

Sau khi thiêu rụi gần 04 triệu người Việt trong cuộc chiến và đuổi ra biển cả triệu người Việt, Trung Cộng bắt đầu từng phần, từng phần, đặt nền móng ngay trong lòng Quê Hương Việt Nam.

Người Việt Nam đau đớn khi thấy Formosa xả chất thải độc hại ra biển, làm cá chết ngập bờ, ảnh hưởng nặng nề đến môi trường sống, thì ban lãnh đạo C.S.V.N. kéo nhau xuống biển Vũng Áng tắm… giàn cảnh để trấn an người Việt. Còn những địa điểm chiến thuật quân sự quan trọng của Việt Nam đã bị Trung Cộng đặt cứ điểm – mà Trung Cộng dựng bảng “cấm người Việt lai vãng” – thì ban lãnh đạo C.S.V.N. có dám đến hay không? Người Việt Nam nào có thể biết được bên trong những cứ điểm này Trung Cộng xây dựng bao nhiêu hầm bí mật, bao nhiêu hệ thống ra-đa tối tân để theo dõi mọi động tịnh quân sự của Việt Nam – trong đất liền, ngoài biển khơi, trên bầu trời? 

Chính những cứ điểm chiến lược này của Trung Cộng khiến cho ban lãnh đạo C.S.V.N. không dám “nhúc nhích” – vì ban lãnh đạo C.S.V.N. tự biết họ đã “rơi” vào âm mưu thâm độc của chàng-láng-giềng-tham-lam-tàn-ác-Trung-Cộng rồi! Nhưng đảng và người C.S.V.N. không thể nào thoát được nanh vuốt của Trung Cộng; vì những số tiền kếch xù và vàng ròng mà Trung Cộng đã trả cho ban lãnh đạo C.S.V.N. khi ký hợp đồng thuê đất – trên Quê Hương Việt Nam – ban lãnh đạo C.S.V.N. đã chia nhau cả rồi! Sau đó, các vị trong ban lãnh đạo C.S.V.N. mạnh ai nấy gửi con sang Mỹ và các quốc gia Tây phương du học, mua bất động sản ở ngoại quốc, gửi tiền, vàng vào ngân hàng thế giới, xây dinh thự cho “em chân dài”, xây nghĩa trang “hoành tráng”, v.v… Thế thì, giả dụ như Trung Cộng bảo: “Trả tiền và vàng lại cho tui, tui sẽ rút về Tàu” thì tiền, vàng ròng ở đâu mà ban lãnh đạo C.S.V.N. trả lại cho Trung Cộng? 

Ngoài số-tiền-không-thể-đếm-nổi và vàng-ròng-không-thể-cân-đo do Trung Cộng trả cho đảng và người C.S.V.N. để thuê đất của Việt Nam, đảng và người C.S.V.N. còn nợ Trung Cộng món tiền “khổng lồ” khác: Đó là số vũ khí, quân dụng – được Trung Cộng tính thành tiền, vàng – và số cố vấn, quân nhân mà Trung Cộng đã cung cấp cho C.S.V.N. từ trận Điện Biên Phủ và suốt cuộc chiến hơn 20 năm để người C.S.V.N. vào miền Nam tận diệt người đồng chủng!

Vì thế, ban lãnh đạo C.S.V.N. chỉ còn cách duy nhất – mà bao thập niên qua đảng và ban lãnh đạo C.S.V.N. vẫn âm thầm thi hành – là cúi đầu vâng lệnh quan thầy Trung Cộng!

Ban lãnh đạo C.S.V.N. đã “rơi” đúng vào vị thế mà Ông Bà mình thường bảo: “Ăn xôi chùa, ngậm miệng!” hay là “ngậm miệng ăn tiền!”

Dã tâm và sự hèn hạ của đảng và người C.S.V.N. khi đón tiếp Hàng Không Mẫu Hạm Carl Vinson làm cho tôi buồn và xấu hổ bao nhiêu thì khi nhìn những khuôn mặt vui tươi, hớn hở, thân thiện của người Việt và thủy thủ đoàn của Hàng Không Mẫu Hạm Carl Vinson, lòng tôi cũng cảm thấy nhẹ nhàng, an nhiên, thơ thới bấy nhiêu!

Suốt nhiều thập niên qua, bị đảng và người C.S.V.N. tuyên truyền, đầu độc rằng Mỹ là “đế quốc xâm lược”, nhưng cuối cùng – lần Tổng Thống Obama đến Việt Nam và bây giờ Hàng Không Mẫu Hạm USS Carl Vinson đến Đà Nẵng – người Việt Nam trong nước cũng nhận ra được, giữa Mỹ và Trung Cộng, ai mới là bạn và ai là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt Nam!



______________________________________

Chú thích:

1. Lời ca bài Du Mục của Trịnh Công Sơn.
3. Dường như tựa của ca khúc này là Tuốt Gươm Thiêng hay là H.C.M. Muôn Năm, tôi không nhớ rõ.



43 Năm Sau 30 Tháng Tư, Đất Nước Hiện Ra Sao? - Bùi Tín


Đây là câu hỏi rất quan trọng, mỗi công dân có trách nhiệm, từ quan chức đến phó thường dân, cần chung sức góp ý để đạt đồng thuận chung nhằm đưa đất nước khỏi bế tắc và lạc hậu hiển nhiên hiện nay.

Không một ai có trách nhiệm có thể cho rằng từ sau ngày 30/4 gọi là ngày «Giải phóng miền Nam Thống nhất Tổ quốc,» đất nước ta đã phát triển mạnh mẽ,
toàn dân đã được hưởng trọn vẹn độc lập, tự do dân chủ nhân quyền, bình đẳng và hạnh phúc.
Hơn lúc nào hết mỗi người Việt hãy nhìn thẳng vào những sự thật hiển nhiên. Càng là bộ máy lãnh đạo đảng lại càng phải nhìn nhận chính xác chân thật.

Điều cay đắng nhất là nền độc lâp dân tộc giành được từ tay phát xít Nhật và thực dân Pháp, với hàng triệu con em người Việt của các bên bị hy sinh đã bị ban lãnh đạo Cộng Sản thay thế bằng chế độ «Bắc thuộc mới» qua cuộc mật đàm Thành Đô tháng 9/1990. Từ đó đến nay đất nước bị gặm nhắm có hệ thống, từ đất liền, vùng biển, hải đảo, người Trung Quốc hầu như tự do nhập vào biên giới, mang Nhân dân tệ hình Mao cùng mọi thứ hàng hóa, hàng giả, hàng dỏm, hàng cấm, hàng độc hại tràn ngập đất nước ta. Chúng có mặt khắp nơi, trồng rừng quy mô lớn; khai thác nhiệt điện, thủy điện, các mỏ quặng bô-xít phân đạm, tàn phá môi trường ven biển, lập phố xá, cửa hàng cửa hiệu như ở quê hương chúng.

Không ít trong số ấy là tội phạm lưu manh bất lương đe dọa an ninh nhân dân ta. Bộ xậu lãnh đạo Việt Nam phải ngậm bồ hòn làm ngọt, coi bọn xâm lược láo xược hung hãn phương Bắc như bạn thân quý nhất, như ông chủ đáng kính sợ nhất. Nền độc lập dân tộc bị mất dần mòn là nguy cơ lớn nhất, là mối ô nhục lớn nhất của người Việt hiện nay, không một ai có thể cho qua.

Trong khi lãnh đạo đảng Cộng sản trở nên hèn với giặc ác với dân, đàn áp không chút ngần ngại các chiến sĩ yêu nước kiên cường bất khuất chống bành trướng như Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh… thì Đảng cũng đồng thời biến chất, càng chỉnh đốn lại càng đổ đốn, trở nên một kiểu mafia tội ác, tham nhũng tràn lan, đua nhau tàn phá chia chác mọi nguồn tài sản quốc gia, ăn cắp của nước của dân không chừa một thứ gì, từ nhà đất, ruộng vườn, rừng cây, lập nên những biệt thự, biệt phủ xa hoa giá trị hàng chục tỷ.

Theo đà suy thoái của đảng, bộ máy Nhà Nước trở thành bộ máy tội ác, các công ty, Tổng công ty Quốc doanh, các hệ thống ngân hàng bị tước đoạt, phá sản hàng loạt, với hàng chục vụ đại án, hàng trăm tên bị cáo bị điều tra xét xử, trong đó có cả ủy viên Bộ chính trị, ủy viên TƯ, bí thư thành ủy, tỉnh ủy, hàng loạt thiếu tướng, trung tướng, thượng tướng chống tội phạm tự chuyển biến thành tội phạm với những bản án biển thủ cực lớn hàng nghìn tỷ đồng.

Trong mấy chục năm suy thoái và tha hóa của Đảng và Nhà Nước, xã hội cũng bị ruỗng nát theo. Lực lượng an ninh lẽ ra là lá chắn bảo vệ dân, là thanh bảo kiếm trừng trị bọn gian ác lại trở thành thế lực đàn áp dân, đánh đập dân như gây thương tật cho cô Đoan Trang, gây nên hàng 30 người chết trong đồn công an trong năm qua.

Công an là bọn kiêu binh nêu gương xấu mọi nơi. Công an có ngân sách thuê bọn du côn mất dạy theo dõi từng bước các chiến sĩ dân chủ không cho ra khỏi nhà, đi họp, đi biểu tình, khen thưởng chúng nếu chúng ra tay đàn áp, cứ mỗi lần lập công ở Hà Nội, Sài gòn, Đà Nẵng chúng được thưởng 500.000 đồng, ở các quận huyện mỗi tên được 300.000 đồng. Đến nay sự chính đốn toàn ngành Công an đã quá ư chậm trễ.

Trong khi đó nền giáo dục bệ rạc, mất phương hướng, chạy theo mua bán bằng cấp, thầy cô giáo bắt học trò quỳ, phụ huynh học sinh là đảng viên xông vào nhà trường chửi bới cô giáo bắt quỳ đến mức gần xẩy thai!
Đạo đức học đường lao dốc khi sinh viên học sinh chửi bới đâm chém cô giáo.
Đạo đức gia đình thê thảm khi vợ chồng giết nhau, ông hiếp dâm cháu. Y đức
không còn lương tâm khi bộ y tế buông lỏng quản lý thuốc men cho hàng độc dược tràn lan, bệnh viện chen chúc 2, 3 người bệnh chung một giường.

Trên đây là bức tranh bi đát toàn cảnh đất nước ta 43 năm sau ngày “lịch sử 30/4”. Thành tích vĩ đại hay thất bại nặng nề?
Theo thống kê của Liên Hiệp Quốc, Việt Nam hiện nay vẫn còn lạc hậu về nhiều mặt, tự do ngôn luận, tự do báo chí đứng thứ 175 trên 186 nước. Tự do tôn giáo ở trong số 60 nước bị mất tự do nặng nề nhất. Thu nhập bất công còn rất xa mới được như các nước Bắc Âu, nơi hầu như không có nạn tham nhũng.

Không gì nhục bằng người Việt Nam có tỷ lệ phạm pháp cao nhất Đông Nam Á, ăn cắp vặt nhiều nhất ở các siêu thị Nhật Bản, Malaisia, Thái Lan, hộ chiếu ngoại giao Việt Nam bị kém giá trị nhất.

Về thu nhập bình quân đầu người, Việt Nam còn cách xa Thái Lan và Indonesia, phải 8 năm mới ngang Thái Lan, phải 12 năm mới ngang Indonesia hiện nay.
Nghĩ mà đau, nghĩ mà buồn, đất nước mình kỳ quá phải không anh? Bài thơ cô giáo Trần Thị Lam xoáy sâu vào tấm lòng quặn đau của mỗi công dân.
Nhà thơ Bùi Minh Quốc cũng rất đau đớn khi “nhìn tới đâu cũng phải kìm cơn mửa, Khi một thời bọn đểu đã lên ngôi”.
Tất cả mọi nguyên nhân đều từ do đảng mà ra?

Nguyên nhân của những nguyên nhân là đường lối chính trị sai lầm tận gốc; Là chủ nghĩa Mác - Lê đã bốc mùi, là chế độ toàn trị độc đảng theo luật rừng xanh, vô pháp, vô đạo, vô luân, là sự giả dối che dấu sự thật, lừa mỵ nhân dân, nói một đằng làm một nẻo.
Nếu Bộ chính trị hãy còn có lương tâm và đạo đức, nhân dịp này, hãy mở một cuộc hội họp dân tộc, lắng nghe những người bất đồng chính kiến trong các tổ chức xã hội dân sự trong và ngoài nước góp ý, phê bình, kiến nghị, đấu trí, đấu lòng yêu nước, thương dân lại để tìm ra con đường chính trị và các chính sách kinh tế, tài chính, văn hóa, quốc phòng, đối ngoại cho đất nước mình, cho nhân dân mình.

Cuộc họp dân tộc này sẽ quan trọng hơn cuộc họp TƯ7, càng quan trọng hơn một phiên họp Quốc hội, nó sẽ là đôi đũa thần tạo nên cuộc hòa giải hòa hợp dân tộc tối cần thiết, mở đường cho kỷ nguyên tự do dân chủ của dân tộc ta gắn bó với thời đại mới từ trong năm 2018 này.

Bùi Tín
voatiengviet.com

Toàn Bộ Lãnh Thổ Việt Nam Đã An Bày Trong Tay Trung Quốc - Phan Châu Thành (Danlambao)


Tôi có ông bạn học hiện làm cấp tướng trong hải quân VN, trong một buổi nhậu bạn bè với nhau cách đây gần năm ở HN, tôi hỏi hắn: 

“Nếu bây giờ TQ tấn công trên biển, quân của cậu chống được bao lâu?” Hắn cười: “Chắc là chưa đến ba ngày?!” 

Tôi ngạc nhiên: “Sao chết nhanh vậy?” Hắn lại cười: “Không phải chết, mà là chạy. Thời đại này ai dại gì chết cho ai?!” 

“Đấy là cậu nói về lính hay sĩ quan các cậu?” 

“Cả hai, nhưng sĩ quan chạy trước rồi lính mới chạy. Lính không dám chạy trước, chỉ trốn thôi. Sĩ quan mới chạy!”

Tôi thắc mắc: “Tại sao thế? Sĩ quan tinh thần cao hơn và phải làm gương cho lính cơ mà?” 

“Ừ, nhưng sĩ quan lại biết mình toàn nói dối và thấy cấp trên cũng toàn nói dối, và ai cũng biết chết thì mình chịu, thắng thì là chiến công của sếp, tội gì chết thế!” 

Chúng tôi cười xòa, coi đó là câu chuyện cười nói cho vui, vì ông bạn trong Bộ tổng tư lệnh ở HN, nó đâu có phải ra trận. Nhưng nó cũng không cần phải mua vui với tôi, nó nói có phần nhiều là thật. Thế nên tôi không quên được.

Một bữa khác cách nay khoảng nửa năm, trong chuyến xe đêm từ Sài gòn đi Nha Trang, tôi nằm cạnh anh lính trẻ trả phép ra Cam Ranh. Tôi hỏi chuyện ăn ở sinh hoạt của lính nghĩa vụ ngoài đó, cậu thật thà: 

“Cháu mới đi mấy tháng, nhờ có người quen chạy cho nên không phải đi vùng xa hay đảo, chỉ ra Cam Ranh thôi, được về phép đều đặn, nếu biết quà cáp cho sĩ quan còn được kéo dài phép…” 

“Thế sĩ quan có về phép thường xuyên không?” 

“Sĩ quan của bọn cháu toàn sĩ quan chuyên nghiệp, gia đình họ ở Cam Ranh và Nha Trang luôn, họ đâu cần về phép, và họ có thể về nhà bất cứ lúc nào họ muốn, họ sướng lắm!” 

Thế họ có ăn chung với các cháu không?” 

“Không, họ có tiêu chuẩn riêng cao gấp mấy lần lính bọn cháu! Họ ăn ở riêng.” 

“Thế tiêu chuẩn lính bọn cháu thế nào?” 

“Chúng cháu được 35 ngàn đồng ngày. Thế là cao đấy chú ạ, vì chúng cháu gần Ban chỉ huy Vùng. Mấy thằng bạn cháu đóng quân ở xa kêu khổ lắm, chỉ có 28 ngàn đồng ngày thôi…” 

“Sao lại 28 ngàn thôi?!” Tôi xót xa nhẩm tính: lính của mình (công nhân và kỹ sư của tôi) ở công trường cảng Vân Phong này được ăn 80 nghìn đồng/ngày mấy năm nay, vừa tăng lên 100 nghìn ngày do giá cả lên, mà tôi vẫn thương chúng khổ, gầy và đen, bắt chúng cố ăn, và lo chúng bỏ về Sài gòn, thế mà chiến sĩ của ta… 

Tôi lại đi lạc đề muốn nói rồi. Ý của tôi là, chỉ chuyện ăn ở thôi thì lính của ta cũng thiếu sức chiến đấu rồi, chưa nói đến tinh thần chiến đấu và niềm tin vào cấp trên.

Giờ nói về chủ đề chính, đó là bảo vệ lãnh thổ. Xin kể câu chuyện thứ ba. Cách đây mấy tháng, chúng tôi tổ chức một đoàn “du lịch- thám hiểm” ra điểm Cực Đông trên đất liền của đất nước với mục đích: sống 1 ngày gần với Hoàng Sa Trường sa nhất (về kinh tuyến).

Trên đường ra đó rất khó khăn, chúng tôi không ngờ cả một khu bán đảo rộng lớn bờ biển dài mấy chục cây số không có dân cư (đã bị đuổi đi hết) và chỉ có một đồn biên phòng gần ra đến Cực Đông đã bị bỏ hoang do chuyển vào gần quốc lộ 1 hơn, trong khi đường lớn do các “dự án lớn” của Vinalines làm đến nới cũng bỏ hoang không bóng người. Hỏi ra mới biết đó là tình trạng của hàng loạt đồn biên phòng ven biển và trên các đảo khu vực bắc và nam Vân Phong (thuộc Khánh Hòa và Tuy hòa): họ đã rút hết vào sống trong dân và để quản dân, không quản bở biển nữa. Hàng trăm cây số ven biển không có ai canh giữ, nhưng đã có sẵn đường lớn nhập vào quốc lộ 1… Ngày xưa họ ở đó là để bắt người vượt biên thôi… Biên phòng VN không quay súng ra biển mà quay súng vào dân!

Câu chuyện thứ tư. Đơn vị chúng tôi tham gia rất nhiều công trình lớn dọc biển miền Trung, lắp ráp các thiết bị kỹ thuật hiện đại (rất ít khi là đồ TQ). Từ Dung Quất đến Vũng Áng, Vân Phong… Nhưng ở đâu chúng tôi cũng thấy các đơn vị TQ đấu thầu và thắng thầu thi công phần các cầu cảng. Họ chỉ quan tâm và bỏ mọi giá để nhận phần việc đó dù rất nhiều đơn vị VN làm được, nhưng các nhà thầu VN phải lè lưỡi bỏ ra cho họ vì giá của họ quá thấp… Sau đó họ luôn quây kín cả một vùng biển và bờ biển lớn người khác không được vào để họ thi công trong suốt nhiêu năm trời. Và họ thường là đơn vị làm kéo dài các dự án lớn nhưng không ai làm gì được. Khui họ thi công xong chúng tôi mới lên lắp thiết bị và không ai biết bên dưới và bên trong những khối bê tông cầu cảng lớn đó có những gì. Chúng tôi thường đùa nhau: ngày đầu tiên TQ đánh VN họ sẽ cho nổ tung tất cả những cầu cảng trị giá vài chục đến vài trăm triệu đôla này (có thể cặp mạn những con tàu lớn đến 150.000-300.000dwt)… hoặc họ sẽ khống chế chúng để làm điểm đổ quân tuyệt vời cho họ, ở Dung Quất, Vân Phong, Vũng Áng và nhiều nơi nữa phía Bắc và Nam, nhất là Kiên Giang cũng sắn sàng…

Câu chuyên thứ năm. Tôi về quê ngoại Quảng Ninh, ra Hạ Long gặp mấy thằng bạn cũ, trong đó có thằng đại gia chuyên san đất lấp biển bán nền, giầu không để đâu hết tiền, luôn khoe có đội xe máy húc ủi đào đông như quân nguyên, đã phá không biết bao đồi núi, lấp biết bao bờ vịnh san hô và sú vẹt để bán trên giấy, từ Quảng yên đến Hải Hà… Gặp nó tôi bảo:

- “Tội phá hoại môi trường Vịnh Hạ Long và Bái Tử Long của mày phải đem ra bắn!”

- Nó cười khẩy: “Bắn tao hơi khó! Mày phải bắn hết các bí thư và chủ tịch, phó chủ tịch tỉnh và các huyện thị Quảng Ninh này đi đã!” Rồi nó quàng vai người ngồi cạnh: “A, cả thằng này nữa, giám đốc Sở tài nguyên Môi trường mà…” Tôi nhăn mặt nghĩ: Đúng thật, nếu muốn bảo vệ môi trường Vịnh Hạ Long và Bái Tử long mà tôi yêu quí, tôi sẽ phải bắn gần hết các bạn học cũ của mình, vì chúng nó làm quan chức kín cả cái tỉnh quê ngoại của tôi rồi…

Tôi phán tiếp: 

“Mày còn một tội lớn nữa! Mày đem xe máy lên Tiên Yên, Ba Chẽ (hai huyện núi biên giới) làm đường từ biên giới xuống cho bọn Ba Tàu sau này tấn công mình lần nữa. Lần trước nó tấn công không có đường xuống, tự vệ dân quan còn cản được. Lần này chỉ mấy giờ là xe nó chạy đến Hạ Long này, lại có cầu bãi chấy rồi, Công chúng mày to quá!” 

Thằng đại gia xẹp hẳn xuống lẩm bẩm: “Đéo mẹ bọn Tàu! Chúng nó còn không chịu trả tiền công cho tao nữa! Đau quá!” (Đó là nó chửi mấy công ty Đài loan thuê rừng 50 năm rồi thuế nó làm đương lên “trồng rừng”. Đường làm xong lên các đỉnh núi biên giới, không trả tiền và rừng tất nhiên cũng không…). 

Và câu chuyện cuối cùng. Tôi đưa con trai lên Tây Nguyên chơi, mới đây thôi, để nó biết Tây Nguyên là thế nào. Một số đoạn đi qua đường Hồ Chí Minh mới làm lớn mà vô cùng hoang vắng, thằng bé rất ngạc nhiên hỏi: “Bố, sao mình làm đường lớn đẹp dài mà không có người đi thì làm gì vậy?” Tôi thở dài chua chát “Bố chịu!” Chả lẽ nói ra ý nghĩ thật của mình: “Bố sợ rằng người ta làm đường để sau này TQ đánh VN sẽ dễ chiếm và không chế Tây Nguyên và rồi cả đất nước này?”

Sau chuyến đi Tây Nguyên về, tôi đùa với con trai: “Con ơi, hãy học tiếng Anh giỏi để du học rồi ở lại đó luôn, như chị con vậy đó. Bằng không, hãy học tiếng Tàu! Nước mình sắp thay quốc ngữ rồi!”

Vâng, ý của tôi là thế đó. Người Việt nam, chính quyền Việt Nam hiện nay đã chuẩn bị sẵn sàng địa thế và mọi cửa ngõ Lãnh thổ quốc gia để TQ tràn vào dễ dàng nhất. Tinh thần quân đội và sức chiến đấu thì rất bạc nhược rồi, cảnh giác thì… chĩa súng vào dân rồi. Các chiến sĩ Trung Hoa cứ yên tâm mà đến!

Đất nước này dường như đã có chỉ đạo bàn giao nhẹ nhàng để sát nhập vào TQ?

Chỉ còn một điều: Liệu dân Việt ta có chịu thế hay không?



danlambaovn.blogspot.com


Chê độ điên cuồng, kỷ niệm 30/4 'đang bớt đi phần hào nhoáng'

30/4Bản quyền hình ảnhHOANG DINH NAM/AFP/GETTY IMAGES
Image captionCó ý kiến mong mỏi 30/4 "sẽ được kỷ niệm chỉ như một ngày tái lập hòa bình"

BBC Tiếng Việt ghi nhận ý kiến xoay quanh việc chính quyền và truyền thông Việt Nam đánh dấu 43 năm ngày 30/4.

Vài hôm trước ngày 30/4, một số báo Việt Nam đồng loạt đăng "Bài viết của Chủ tịch nước Trần Đại Quang nhân ngày 30/4."

Trong bài này, Chủ tịch Quang đưa ra lời kêu gọi:

"Mỗi người Việt Nam chúng ta quyết đồng tâm nhất trí, phát huy cao độ truyền thống yêu nước, tinh thần quyết chiến, quyết thắng, khát vọng hòa bình, tiếp tục đổi mới, sáng tạo, ra sức thi đua lao động, sản xuất, học tập, công tác, chiến đấu, giành được nhiều thắng lợi mới to lớn hơn nữa trong sự nghiệp xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội."

Trần Đức Thảo nghĩ gì về đế quốc và 30/04?

Báo Sóng Thần chống tham nhũng trước 1975

'TT Thiệu: 'Tôi muốn làm tổng thống thời chiến'

Kuku, Indonesia: Chuyến đi 'chưa là lần cuối' của Carina

Cũng nhân 30/4, chính quyền TP. Hồ Chí Minh loan báo tổ chức bắn pháo hoa tại nóc hầm vượt sông Sài Gòn và Công viên văn hóa Đầm Sen. Đồng thời, Ủy ban Nhân dân TP. Hồ Chí Minh cũng tổ chức trang trí ánh sáng nghệ thuật đường phố tại các tuyến đường khu trung tâm.

'Phản tác dụng'

Hôm 30/4, trả lời BBC từ Sài Gòn, nhạc sĩ Tuấn Khanh nói:

"Tôi nghĩ thói quen rầm rộ của Nhà nước kỷ niệm chiến thắng 30/4 đang ngày càng bớt đi phần hào nhoáng. Cùng với tốc độ của việc phát triển thông tin tự do, những lời tuyên bố và niềm tự hào về cuộc chiến Nam-Bắc của nhà nước cũng trở nên kỳ quái hơn."

"Nói một cách khác, sự tuyên truyền, ca ngợi như vào thập niên trước, nay đã phải rất thận trọng vì bất kỳ một sự quá lố hay nhắc lại những thành tích khống nào về bắn máy bay, diệt địch... gì đó sẽ nhanh chóng thành những đề tài cười đùa trên mạng xã hội, và mọi thứ nhanh chóng trở nên phản tác dụng."

"Tôi nghĩ những nhà lãnh đạo hiện thời cũng biết và nhận ra điều bất cập này, nhưng về nguyên tắc của những người cộng sản, họ vẫn phải làm, thậm chí muối mặt mà làm trước khi tìm được chủ trương hay đường hướng mới."

"Tôi tin là chắc không lâu nữa, 30/4 sẽ được kỷ niệm, chỉ như một ngày tái lập hòa bình và thống nhất trên đất nước này. Có nghĩa là hình ảnh chiếc xe tăng và khái niệm giải phóng sẽ lỗi thời, nhường chỗ cho một khát vọng thay đổi và lòng nhân ái.

Việc đổi chỗ cho súng đạn bằng chim câu và hoa không khó, chỉ khó trong giai đoạn con người không hội đủ giá trị văn minh để nhận ra, rằng việc thích súng đạn và chiến thắng, không bao giờ là tử tế."

Bị chụp mũ đồi trụy, chưa hẳn đã xui xẻo'

'Lực lượng thứ Ba mong có hòa bình cho Việt Nam'

Bà Carina Hoàng, tác giả của tập sách ảnh Thuyền Nhân và là người tổ chức các chuyến đưa người tìm mộ thuyền nhân tại đảo Kuku của Indonesia, nơi từng có trại tỵ nạn vào thập niên 1980, nói với BBC:

"Bất cứ ai đã từng chứng kiến hoặc trải qua biến cố 1975 (ngoại trừ trẻ nhỏ) sẽ không bao giờ quên được trong quãng đời còn lại của mình."

"Đối với rất nhiều người dân miền Nam Việt Nam thì biến cố 1975 là nguồn cơn của rất nhiều sự mất mát, đau thương cho cả người ở lại và kẻ ra đi..."

Cũng trong hôm 30/4, trả lời BBC, một cựu tổng biên tập ở Sài Gòn đề nghị ẩn danh, nói: "Thực ra tôi không thấy có gì khác lắm về cách kỷ niệm ngày 30/4 năm nay so với mọi năm."

"Tôi thấy người ta cũng không nói thẳng vào ý nghĩa của ngày 30/4. Họ dùng thành tích tăng trưởng kinh tế ấn tượng rồi tự tổ chức những cuộc đi thăm như chuyến thăm Cuba của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Không thấy những hoạt động chính trị có người dân và có ý nghĩa đại chúng."

"Họ dùng những lễ hội tưng bừng như Festival Huế, pháo hoa Đà Nẵng để thu hút đám đông và sự tưng bừng nhưng hình như người dân không thấy các sự kiện này có liên hệ gì với ngày 30/4.

Nếu truyền thông về ngày 30/4 là "ngày thống nhất" thì lẽ ra bây giờ phải nhắc đến Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng có vẻ họ cũng né tránh?"

Cùng thời điểm, giáo sư Phạm Hồng Tung, chủ biên chương trình môn Lịch sử mới, Viện trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội được báo Zing dẫn lời:

"Nhân ngày 30/4, chúng ta phải giáo dục cho thế hệ trẻ tự hào về tầm vóc chiến thắng, và cần hơn cả là những kinh nghiệm lịch sử được rút ra. Chúng ta phải tôn vinh những người dân bình thường khi đã hiến cả ngôi nhà của mình để lót đường cho xe chạy, để có được đất nước thái bình thịnh trị ngày hôm nay.

Để từ đó những cán bộ tham nhũng, hại nước hại dân phải biết xấu hổ, còn nhân dân thì ủng hộ Đảng, nâng cao tinh thần chống tham nhũng, chống "nội xâm."

Hoài niệm 30/4: Kiếp Nạn Dân Tộc

Nguyễn Thượng Long (Danlambao) - Vào buổi trưa 30/4/1975, trong một căn gác nhỏ ở Đường Yêt Kiêu – Hà Nội, khi nghe tin các xe tăng của quân giải phóng đã húc đổ cổng sắt dinh Độc Lập, nhạc sĩ tài danh Văn Cao đã nghĩ đến viễn cảnh: “Từ nay người biết thương người / Từ nay người biết yêu người”. Không biết sau 43 năm ngày 30/4, ở bên kia thế giới, nhạc sĩ Văn Cao có day dứt điều gì không khi cảm hứng đó không hề trở thành hiện thực. Ông có bao giờ nghĩ, đằng sau vừng hào quang 30/4 rực mầu máu đó, ông và đồng bào của ông... hóa ra cũng chỉ là những con tốt tầm thường trong những ván bài mà cầm chịch là những cường quốc ngoại bang và “Một bên thắng, còn nhân dân đều bại” (ND).

Dễ hiểu thôi, dân tộc Việt Nam có truyền thống chống ngoại xâm, điều đó không cần bàn cãi, nhưng chúng ta cũng là dân tộc nhẹ dạ và cả tin đến nỗi “Trái Tim lầm lỡ để trên đầu” (Tố Hữu). “Bên thắng cuộc” thì quá tin vào “Tấm biển chỉ đường của trí tuệ” (HSP) và cộng sản Nga Tầu sẽ đưa mình tới thiên đường XHCN. “Bên thua cuộc” lại quá tin vào thế giới tự do với cường quốc số một Hoa Kỳ sẽ giúp mình không bị nhuộm “ĐỎ” và họ sẽ đưa quốc gia mình tới thịnh vượng. Chính vì sự cả tin đó, chúng ta cùng rơi vào thân phận là những quân cờ trên bàn cờ của các nước lớn lúc nào không biết. Thái độ nửa vời của các nước lớn Liên Xô - Mỹ - Trung Quốc trong những gì đã diễn ra suốt từ 8/1945 qua Hội nghị Giơ ne vơ 1954, qua Hội nghị Pari 1973, qua sự kiện Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa 1974, qua chiến tranh biên giới phía Bắc 2/1979, qua thảm sát Gạc Ma 1988 thậm chí là ngay cả lúc này dù Việt Nam công khai thực thi đường lối “đu dây” giữa các nước lớn để tồn tại thì thân phận chỉ là quân cờ trên bàn cờ quốc tê của chúng ta vẫn không có gì thay đổi.

Cái giá mà dân tộc Việt Nam phải trả cho sự cả tin là vô cùng thê thảm. Hãy xem cái bóng đen Trung Quốc đã phủ bóng lên đất nước này, dân tộc này ngay từ Hội Nghị Giơ ne vơ 1954 như thế nào: Hồi ký của nhà báo quốc tế U-Bơc sét trang 264 có đoạn viết: “...Ông Phạm Văn Đồng đã chấp nhận thỏa hiệp quan trọng do sức ép của Trung Quốc. Những thỏa hiệp đó Chu Ân Lai đạt được trong các cuộc gặp song phương với Măng đét Phrăng xơ (Thủ Tướng kiêm Bộ Trưởng ngoại giao Pháp – NTL). Vào ngày 10/7/1954 ông Phạm văn Đồng đã chấp nhận một đường ranh giới quân sự tạm thời dọc theo vĩ tuyến 16 (Thực tế lúc ký kết lại là vĩ tuyến 17 – NTL) chứ không phải là vĩ tuyến 13 như ông đã đề nghị. Ông cũng phải chấp nhận các cuộc bầu cử của mỗi miền sau 2 năm chứ không phải là 6 tháng và ông đã rút lui những đòi hỏi cho những người Khơ me ít xa rắc và Pa thét Lào cùng tham gia hội nghị.” (Nhà xuất bản Thông Tin lý luận – Hà Nội 1985).

Chu Ân Lai đến với Hội Nghị Giơ ne vơ 1954.

Vì áp lực của Chu Ân Lai, ông Đồng buộc phải chấp nhận những thua thiệt quá lớn. Bình luận về giây phút ông Đồng đặt bút ký hiệp định đình chiến Giơ ne vơ , U Bơc sét viết tiếp: “Ông Phạm Văn Đồng xúc động sâu sắc nói với chúng tôi: Tôi chẳng biết sẽ giải thích việc này như thế nào với các đồng chí đồng bào chúng tôi ở miền Nam” (Hết trích). Than ôi! Ký một văn bản quốc tế quan trọng liên quan đến vận mệnh của cả 3 nước Đông Dương mà ông Đồng phải than lên những lời như thế, hóa ra ông Đồng ký trước hết là vì Trung Quốc chứ đâu có phải ông Đồng ký vì 3 dân tộc Đông Dương.

Chịu áp lực của Trung Quốc đến như vậy mà sau Hiệp Định Giơ ne vơ, ĐCS Việt Nam vẫn tiến hành tiếp một cuộc chiến đẫm máu đồng bào kéo dài 20 năm (1955 – 1975) với niềm tin ngô nghê: “Bên ni biên giới là nhà / Bên tê biên giới cũng là quê hương” và “Trung Quốc là hậu phương rộng lớn của Việt Nam”. Còn lãnh đạo cộng sản Việt Nam vẫn cứ bắt nhân dân theo mình nghĩ: “Bác Mao chẳng ở đâu xa - Bác Hồ ta đó chính là Bác Mao”. Họ đâu có biết Mao chỉ muốn biến Bắc Việt Nam trở thành vùng đệm an toàn cho lãnh thổ Trung Quốc, nên Mao chủ trương đánh Mĩ là đánh đến người Việt Nam cuối cùng, nên khi chiến tranh phá hoại của Mỹ lan rộng ra miền Bắc Việt Nam... Mao làm nghĩa vụ cộng sản quốc tế với Việt Nam kiểu gì mà lại bóng gió bắn tin đến phía Mỹ: “Mi không đụng đến ta thì ta không đụng đến mi!”. Về phía Mĩ, giữa lúc các nỗ lực rút chân ra khỏi bãi lầy Việt Nam đang lâm vào bế tắc, thông điệp đó của Mao có khác gì chiếc phao được ném cho kẻ đang chới với giữa sóng dữ. Không bỏ lỡ thời cơ, hoạt động ngoại giao bóng bàn giữa Trung Quốc và Mỹ diễn ra sôi động đánh dấu giai đoạn tan băng trong quan hệ 2 nước. Và ngày 28/2/1972, Nixon và Mao ký Tuyên Bố chung Thượng Hải, Trung Quốc đã hiện nguyên hình là kẻ đâm sau lưng dân tộc Việt Nam, bán đứng dân tộc Việt Nam. Diễn biến này hình như vẫn chưa đủ độ cay đắng để ĐCS Việt Nam đang say máu sớm bừng tỉnh để cảnh giác trước kẻ hàng xóm tồi tệ của mình.

Nhiều năm liền hội đàm Ba Lê (1968 - 1973) chỉ là nơi để các chính trị gia đeo kính đen ngủ gật và đấu khẩu theo kiểu kéo cưa lừa xẻ. Với Tuyên bố chung Thượng Hải 1972 trong tay, tháng 12 năm đó Mỹ hoàn toàn yên tâm Trung Quốc sẽ không can thiệp khi Mĩ mở chiến dịch Linebacker II dùng siêu pháo đài bay B52 ném bom dã man vào Hà Nội, những mong đưa Bắc Việt trở về thời đồ đá và đem lại một kết thúc chiến tranh có lợi cho đồng minh VNCH. Không đầy một tháng sau trận bom dữ dội đó, ngày 27/1/1973, dưới sức ép của cả 3 siêu cường Mỹ - Nga - Trung Quốc, VNCH và VNDCCH buộc phải ký hiệp định Pari. Hà Nội thắng lớn vì không phải triệt thoái toàn bộ lực lượng vũ trang của mình ra khỏi phần đất phía nam vĩ tuyến 17. VNCH rơi vào tình thế bị bỏ rơi. Người Mỹ chính thức bước ra khỏi con đường hầm không lối thoát đang làm rúng động nước Mỹ. Luôn tự nhận mình là đỉnh cao trí tuệ mà những lãnh đạo cộng sản ngày đó lại không hề nhìn thấy một tình thế quá rõ là: Hệ thống XHCN đã bắt đầu khủng hoảng, mô hình xô viết đã bắt đầu rạn nứt. Liên Xô thực sự hụt hơi vì chậy đua vũ trang với Mỹ và oằn lưng vì gánh vác nghĩa vụ quốc tế trong đó có Việt Nam... thì cú bắt tay Mĩ - Trung Quốc đã đặt cách mạng Việt Nam vào thế Địa Lý - Chính Trị rất bất lợi. Mỹ không chỉ có lỗi bỏ rơi đồng minh chiến lược của mình là VNCH, vin vào lý do Phạm Văn Đồng đã ký công hàm 1958 Mỹ - Nga cùng ngoảnh mặt đi để mặc Trung Quốc tự do cưỡng chiếm Hoàng Sa phần lãnh thổ thiêng liêng của Việt Nam (1974) nên từ đó cho tới ngày 30/4/1975 chiến tranh Việt - Mỹ không còn là sự xung đột của ý thức hệ, nó chỉ còn là cuộc nội chiến tương tàn. Với lực lượng áp đảo, cùng khối lượng vũ khí chiến cụ đạn được vô cùng hùng hậu của Nga – Tầu, con Lạc cháu Hồng miền Bắc nhanh chóng hạ gục con Lạc cháu Hồng miền Nam lúc đã bị Mỹ bỏ rơi. Đất nước đã được thống nhất theo lời hiệu triệu hết sức ngớ ngẩn của đảng trưởng Lê Duẩn “Ta đánh là đánh cả cho Liên Xô và Trung Quốc”. Cuộc đánh đấm đó có phải là đánh giặc ngoại xâm như cha ông trên suốt chiều dài lịch sử đâu mà mãi mãi tự hào!

Hình ảnh một Đặng Tiểu Bình, 10 giờ sáng 29/1/1979 tại thảm cỏ trước Nhà Trắng, xúng xính trong bộ đồ của một cao bồi miền viễn tây, ông ta cao hứng luận bàn về “Mèo Trắng - Mèo Đen” và thẳng thừng đe dọa sẽ “Dậy cho bọn tiểu bá côn đồ Việt Nam một bài học!”. Vậy mà lời tuyên bố đầy tính xúc phạm đó của Đặng Tiểu Binh cũng chẳng làm ban lãnh đạo CS Việt Nam giật mình mà bừng tỉnh cơn mê: “Với đại thắng 30/4/1975, từ nay sẽ không còn kẻ nào dám xâm lược bờ cõi chúng ta nữa!”. Đâu có lâu la gì, hơn 2 tuần lề sau 17/2/1979 lời cảnh cáo của Đăng Tiểu Bình đã thành hiện thưc. Trong bối cảnh cả Nga cả Mỹ đều làm ngơ, cuộc chiến tranh biên giới được kích hoạt với 60 vạn lính sơn cước Trung Quốc đồng loạt tấn công trên toàn tuyến biên giới phía Bắc của Việt Nam Cuộc chiến tranh này mãi mãi là nỗi đau nhức nhối của người Việt Nam. Tháng 3/1988 Trung Quốc cưỡng chiếm đảo Gạc Ma của Việt Nam. Nghe nói ngày đó Bộ Trưởng quốc phòng Lê Đức Anh chỉ thị là không được đánh trả với cung cách không thể hèn hạ hơn: “Nếu họ tấn công chúng ta bằng súng đạn! Ta đáp trả họ bằng tình hữu nghị!” nên trận chiến đó chỉ là một cuộc thảm sát kinh hoàng, 64 chiến sĩ công binh Việt Nam bị lính Tầu bắn hạ như người ta bắn chim sẻ. Xác họ chìm sâu trong lòng đại dương. Ít lâu sau trong cơn hoảng loạn vì hệ thống cộng sản Đông Âu lần lượt xụp đổ, Liên Xô lúc đó đang hấp hối bên bờ vực thẳm tan rã, đất nước rơi vào thế cực kỳ nguy ngập “Chân không đến đất - Cật chẳng đến giời”. Với não trạng của những con tốt bị bỏ rơi cùng đường “Đi với Mỹ sẽ mất đảng - Đi với Trung Quốc sẽ mất nước”, nhưng “Thà mất nước còn hơn là mất đảng” (NVL)... ĐCS Việt Nam đã nhanh chóng chọn giải pháp quỳ gối trước Trung Quốc, kẻ thù truyền kiếp bằng thỏa ước Thành Đô 9/1990.

Có thể nói, cùng với công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng, thỏa hiệp Thành Đô 1990... là những dẫn chứng sinh động nhất cho tội lỗi tầy trời của ĐCS Việt Nam, khi họ tạo điều kiện thuận lợi để Trung Quốc mở ra “Một thời kỳ Bắc Thuộc mới” như lời cảnh báo của cố bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch. Từ đó đến nay, ĐCS Việt Nam vẫn mê lú, hy vọng Trung Quốc sẽ thay Liên Xô trong sứ mạng nhuộm đỏ cả hoàn cầu này, ĐCS Việt Nam sẽ được Trung Quốc cưu mang. Ban lãnh đạo Việt Nam cố tình bắt dân tộc phải lãng quên những đau đớn đã đến vì người Trung Quốc. Ai mà nhắc đến Hoàng Sa 1974, chiến tranh biên giới 1979, nhắc đến cuộc thảm sát Gạc Ma 1988 sẽ bị coi là những thế lực thù địch.

Là những người tôn thờ triết lý “Không có liên minh nào là vĩnh viễn, không có kẻ thù nào là vĩnh viễn, chỉ có lợi ích là vĩnh viễn” (The firt America) người Mỹ không thể cùng đứng mãi bên VNCH trong vũng lầy của một cuộc tương tàn giữa những người Việt Nam cùng huyết thống. Người Mĩ quyết định bỏ cuộc trong thế trận ngăn chặn thành công làn sóng “đỏ” không cho lan tràn xuống vùng Đông Nam Á và người Mỹ đã xâm nhập thành công vào Trung Quốc, một thị trường hơn 1 tỉ dân. Như thế, người Mỹ đâu có trắng tay sau chiến tranh Việt Nam. Nếu sau ngày 30/4/1975 người Mỹ không vì hối hận mà dang tay đón nhận làn sóng thuyền nhân bỏ xứ ra đi thì hình ảnh “Hiệp Sĩ Nhân Quyền Mĩ” chắc chắn sẽ hoen ố, sẽ chẳng ra gì trong con mắt của người Việt Nam. Tôi tin rằng đến nay nếu phải nhắc lại cuộc chiến tranh đó, nghĩ lại những gì đã xẩy ra trước và trong ngày 30/4/1975, người Mỹ chỉ coi đó là những kỷ niệm buồn cùng với những toan tính, những nước cờ thành công và cả không thành công của họ.

Người dân Đà Nẵng với tầu sân bay USS Carl Vinson tháng 3 – 2018.

Điều gọi là “Hội chứng Việt Nam vẫn còn là bóng ma ám ảnh nước Mỹ”, chỉ là sản phẩm của những kẻ hoang tưởng và tự sướng mà thôi. Thật khôi hài, đầu tháng 3 – 2018, tầu sân bay USS Carl Vinson với đoàn tầu hộ tống rất hùng hậu cùng 6000 lính Mỹ cập cáng Đà Nẵng trong bối cảnh toàn bộ dàn tứ trụ triều đình của Việt Nam tránh mặt hết, bỏ mặc khách cùng dân chúng Đã Nẵng hân hoan hát múa hòa giải “Nối vòng tay lớn” tới 5 ngày đêm liền. Thái độ lảng tránh cựu thù của BLĐ Việt Nam nói lên điều gì? Chiến thắng 30/4 hoành tráng đến thế kia mà! Sao bây giờ lãnh đạo ta lại sợ Mỹ sợ Ngụy đến thế hay sao? Sống trong thời đại @ một học sinh tiểu học nào lúc này cũng trả lời được: “ĐCS Việt Nam không sợ Mỹ, càng không sợ Ngụy. Họ chỉ sợ Hoàng Đế Tập Cận Bình mà thôi”.
Người Trung Quốc cũng đâu có thua thiệt gì khi họ chơi tới bến con bài Việt Nam đánh Mỹ. Cái lớn lao nhất mà họ đạt được là hơn 3 thập kỷ sau khi hòa hoãn được với Mỹ nhờ tuyên bố chung Thượng Hải 1972, Trung Quốc từ một nước đói nghèo đã trở thành cường quốc thứ 2 thế giới về kinh tế. Nếu đem những chiến lợi phẩm khác mà Trung Quốc thu được nhờ chiến tranh Việt Nam như Thác Bản Giốc, Ải Chi Lăng, Bãi Tục Lãm, Hoàng Sa, Gạc Ma - Trường Sa, Bauxite Tây Nguyên, Formosa, Lee and men, Vũng Áng, hàng triệu ha rừng thượng nguồn, hàng ngàn dự án ở Việt Nam mà Trung Quốc thắng thầu cùng vùng biển của Việt Nam bị Trung Quốc nắm giữ đem so với số súng đạn, dép râu, mũ cối, lương khô Tầu họ viện trợ cho Việt nam trong chiến tranh thì cú áp phe xương máu người Việt Nam này Trung Quốc lỗ hay lãi đây thưa các ông Nguyễn Văn Linh, Nông Đức Mạnh, Lê Khả Phiêu, Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nguyễn Phú Trọng - Những người rước “Thập Lục Kim Tự" và “Tứ Hảo” về để tiếp tục ám quẻ đất nước này?

Hôm nay, trong tay là Nghị quyết 36, ngày ngày tuyên giáo đảng cứ ra rả nói đến hòa hợp hòa giải, xóa bỏ hận thù, mơn trớn gọi những người năm xưa phải vượt biển tìm tự do là “Khúc ruột ngàn dặm”. Trong khi đó cứ mỗi ngày 30/4 hàng năm đến, là một lần họ xát muối vào nỗi đau của “Bên thua cuộc” qua việc bắt người dân cả nước hoan hỉ lên đồng coi ngày đó là ngày đánh dấu sự kiện “Đánh cho Mỹ cút - Ngụy nhào", cùng với việc tiếp tục bắt bớ, giam cầm những người dân trong nước dám đấu tranh đòi Tự Do - Dân Chủ - Nhân Quyền một cách ôn hòa. Cách hành xử phản cảm, khó coi như thế không biết sẽ còn tiếp diễn đến bao giờ. Theo tôi, ngày 30/4/1975 chỉ nên đơn giản hiểu là ngày “tiền đồn” của phe cộng sản đánh thắng “tiền đồn” của thế giới tự do và là ngày để người Việt Nam ở cả bên thắng cuộc và bên thua cuộc cùng lắng lại lòng mình trước những thảm kịch chỉ có lợi cho những kẻ ngoại bang, những siêu cường mà thôi. Như vậy, ngày 30/4 đâu có xứng đáng là biểu tượng của sự toàn bích. Cuộc thống nhất đất nước cưỡng bức ngày đó cũng làm xuất hiện những chia rẽ mới rất đáng tiếc đối với nhiều thế hệ người Việt Nam ở trong cũng như ngoài nước như điều mà ông Võ Văn Kiệt đã nói: “Triệu người vui – Triệu người buồn”.

Xin hỏi những người coi ngày 30/4/1975 là ngày quốc khánh cho nhà nước CHXHCNVN thống nhất: Quốc khánh rồi mà khi dàn khoan HD 981 bất ngờ nhẩy vào vùng biển chủ quyền của Việt Nam, Quốc vụ khanh Dương Khiết Trì dám cất lời kêu gọi xấc xược giữa Hà Nôi rằng: “Những đứa con hoang đàng hãy về với nước mẹ Trung Hoa vĩ đại!”

Đất nước đã thống nhất được 43 năm mà ngày 30/4 vẫn tiếp tục được coi là ngày “Quốc Khánh” đối với “Bên Thắng Cuôc” và là ngày “Quốc Hận” với “Bên Thua Cuộc” thì con đường để Việt Nam đi đến hòa hợp hòa giải là không dễ trở thành hiện thực. Ngày mà người Việt Nam ở trong nước cũng như ngoài nước có được một tiếng nói chung, một lộ trình chung, một đề án chung để Tổ Quốc Việt Nam hiện diện trong thế giới nhốn nháo này ở tư thế ngửng cao đầu, xứng tầm với những gì mà dân tộc lẽ ra phải được khẳng định từ lâu rồi, những gì mà Văn Cao ao ước: “Từ nay người biết yêu người / Từ nay người biết thương người” có lẽ vẫn còn xa vời lắm. Ngày dân tộc Việt Nam trả xong nghiệp báo còn xa. Chúng ta vẫn tiếp tục là những kẻ nhỡ chuyến tầu đi về phía Dân Chủ.

Cũng một kiếp người...

Thử hỏi trong lịch sử dân tộc, có giai đoạn nào, có thời kỳ nào và vì ai mà nguyên khí bị tha hóa, nội lực dân tộc bị huỷ hoại, suy yếu vì chia rẽ, vì ngờ vực lẫn nhau lại dai dẳng, bi thương, sâu sắc & nghiêm trọng đến như vậy. Tương lai của dân tộc rồi sẽ ra sao? Ai là người có lỗi trước tiền nhân? Ai sẽ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử đây?

Lời cuối :

Có thể lắm, khi đọc bài viết này, sẽ có người lên án tôi, chỉ vì tôi không suy nghĩ như họ. Tôi chủ trương không tranh biện. Tôi “không...” không phải là tôi không dám, là người luôn cổ xúy cho một đời sống chính trị Đa Nguyên, tôi tôn trọng mọi ý kiến dị biệt có văn hóa. Viết loạt bài về ngày 30/4 này, tôi chỉ có một tham vọng duy nhất là cung cấp cho người đọc một góc nhìn không giống ai khi nghĩ về những kiếp nạn mà dân tộc mình phải chịu đựng.

Theo tôi, đã đủ điều kiện để nói: Sau 88 năm ngày ĐCS Việt Nam ra đời, họ đã du nhập vào đất nước này ý thức hệ Mác - Lê, phiên bản của Stalin - Mao Trạch Đông..., cái thứ vô cùng xa lạ với truyền thống của dân tộc đó đã biến dân tộc Việt Nam vốn rất năng động, thông minh, quật cường trước cái ác thành một cộng đồng thoái hóa, bạc nhược, một đàn Cừu chỉ biết vâng lời. Chúng ta những hậu duệ của nòi giống Rồng Tiên đã bị các thứ ngoại lai đó biến mình thành những con tốt tầm thường trong những ván bài mà người Việt Nam luôn luôn là những người thủ bại. Tôi tin sẽ đến ngày dân tộc Việt Nam bừng tỉnh bước ra khỏi những u mê lạc lối và thế hệ người Việt Nam trong tương lai sẽ làm hồi sinh lại đất nước đau thương này. Họ sẽ không bao giờ vướng phải những sai lầm mà các bậc tiền bối của họ đã không dưới một lần mắc phải.

Ngày giỗ tổ Hùng Vương 4 - 2018


- Nguyên giáo viên dậy Địa Lý GD - ĐT Hoà Bình - Hà Tây
- Nơi ở :Văn la - Phú La - Hà Đông - Hà Nội.
- ĐT 0433521066 & 01652323836. Email: nguyenthuonglong571@gmail.com

Sài Gòn ngày 30/4 qua hồi ức sống động của nhà báo Anh

Dân trí Sáng 30/4/1975, người Sài Gòn hân hoan trong tiếng nhạc chiến thắng vang lên từ các loa phóng thanh khắp đường phố. Vui mừng nhưng cũng bối rối, nhiều người không biết phải làm gì, có tiếp tục đi làm hay ở nhà, liệu chợ có còn bán thực phẩm hay không...

Trên đây một phần trong những hồi ức sống động của phóng viên Martin Woollacott của tờ báo Anh The Guardian, người đã chứng kiến toàn bộ thời khắc cuối cùng khi người Mỹ tháo chạy và chính quyền ngụy đầu hàng tại Sài Gòn ngày 30/4/1975. Trong bài viết nhân dịp 40 năm sự kiện trọng đại này, ông Woollacott đã thuật lại những cảm xúc như mới vừa diễn ra hôm qua.

Một nhóm lính ngụy bị bộ đội Việt Nam áp giải trên đường ngày 30/4/1975 (Ảnh: AFP)
Một nhóm lính ngụy bị bộ đội Việt Nam áp giải trên đường ngày 30/4/1975 (Ảnh: AFP)

Theo đó, một ngày sau khi những người Bắc Việt Nam tiến vào Sài Gòn, thành phố bị đánh thức bởi bài ca chiến thắng. Trong suốt đêm trước đó, lính công binh của đoàn quân chiến thắng đã gắn lên hàng loạt loa phóng thanh. Và từ khoảng 5 giờ sáng, giai điệu giải phóng được phát lên không ngừng.

Đó là ngày 30/4/1975, và những ánh nắng ban mai mạnh mẽ chiếu sáng khắp những con phố hầu như vắng tanh của Sài Gòn, tại thời điểm mà thường ngày giao thông bắt đầu nhộn nhịp. Dù vậy, khi ấy không ai biết phải làm gì - liệu có đi làm hay không, liệu có thể mua thứ gì đó ở chợ không, và liệu có xăng dầu, hoặc những cuộc giao tranh mới nữa không.

Không chỉ có cuộc sống thường nhật của Sài Gòn bị đảo lộn. Vị trí của nó với tư cách thủ đô của Nam Việt Nam đã biến mất chỉ sau một đêm. Các binh sỹ, tướng lĩnh, chính trị gia và cả những viên chức đều đã biến mất. Tại thời điểm đó, họ đang đứng ngồi lố nhố trên boong của các tàu chiến trên Biển Đông, với những tấm chăn của hải quân Mỹ quàng trên vai.

Người Việt Nam đùa rằng quân giải phóng tiến Sài Gòn “mà không làm vỡ một cái đèn đường”. Điều đó không hề đúng, bởi thương vong là rất lớn với cả hai phía, nhưng giao tranh đã không nổ ra trong thành phố. Tại trung tâm, mối lo ngại lớn hơn chính là tình trạng cướp bóc và vô pháp luật.

“Phóng viên Stewart Dalby của tờ Financial Times và tôi đang đi dọc Tự Do (nay là đường Đồng Khởi), một trong những phố chính của Sài Gòn, thì một người đàn ông trông hung dữ với áo cởi buộc ngang lưng quần bước tới. Ông ta để tay lên thắt lưng để ra hiệu có súng, và sau đó thoải mái nhấc chiếc máy ảnh đắt tiền ra khỏi cổ Dalby”, ông Woollacott nhớ lại. “Những vụ việc như vậy đủ để khiến hầu hết mọi người tin rằng bộ đội giải phóng tiếp quản hoàn toàn thành phố này sớm ngày nào tốt ngày đó”.

Và vào ngày đầu tiên của kỷ nguyên mới, không còn người Mỹ nào tại tòa đại sứ trông như pháo đài trên đại lộ Thống Nhất (nay là đường Lê Duẩn), hoàn toàn trái ngược với cảnh sơ tán hỗn loạn một ngày trước đó, mà theo sau là cảnh cướp bóc.

Tại tòa thị chính lộng lẫy cũng không một bóng người. Không còn vị đại biểu nào tại nhà hát lớn kiểu Pháp, nơi quốc hội cũ từng nhóm họp. Và cũng không còn vị tổng thống nào tại dinh tổng thống. Nguyễn Văn Thiệu đã rời khỏi đất nước. Người kế nhiệm ông ta chỉ nắm nguyền một tuần trước khi bàn giao cho Dương Văn Minh.

Ông Minh đã nói với những sỹ quan đầu tiên của quân đội miền Bắc, những người vào dinh tổng thống rằng ông sẵn sàng bàn giao quyền lực. “Ông không thể bàn giao thứ mà ông không có”, các sỹ quan đáp lại trước khi dẫn giải ông ta đi. Ông Minh chỉ làm tổng thống có 2 ngày.

Một nhóm lính ngụy bị bộ đội Việt Nam áp giải trên đường ngày 30/4/1975 (Ảnh: AFP)
Giày và quân phục của binh sĩ chính quyền Sài Gòn bị bỏ lại trên đường (Ảnh:Internet)

Tại khắp các khu thảo cầm viên của thành phố, nơi người dân từng dạo bộ dịp cuối tuần với con cái, số tin đồn nhiều không kém số bước chân. “Người Pháp đang quay lại với 2 sư đoàn”, một người nói. “Người Mỹ sẽ sớm ném bom”, một người khác phao tin. “Sẽ có một chính phủ liên minh”, một người nữa nói.

Nhưng đến cuối những câu chuyện đó, tâm lý chung dường như là “chúng ta đều là người Việt Nam cả mà”, được nói ra với vẻ vừa như hy vọng, vừa như buông xuôi. Đó là suy nghĩ tự trấn an với nhiều người, nhưng không phải với các quan chức, hoặc những người có mối liên hệ với chính quyền cũ hoặc người Mỹ.

Họ sợ sự trả thù, hoặc ít nhất, bị chú ý do sự trung thành trước đây của mình. Một số người, theo chúng tôi, không đáng phải lo lắng đến vậy, nhưng bị cuốn theo sự điên loạn của thời khắc đó. Do vậy nhiều người tìm cách tháo chạy.

Các sỹ quan Mỹ chịu trách nhiệm điều phối việc di tản đã có những lựa chọn khó khăn. Để không làm suy yếu lực lượng bảo vệ miền Nam Việt Nam, họ phải hạn chế những đợt di tản sớm, nhưng cũng phải hứa hẹn ngày càng mạnh mẽ với những ai ở lại rằng “nếu mọi chuyện ổn cả” (chính quyền miền Nam Việt Nam còn tồn tại dưới một dạng nào đó), tất cả sẽ được đưa đi ở phút cuối.

Đó là lời hứa họ không thể giữ. “Tiếng la hét hoảng loạn trên điện đài của CIA vào ngày cuối vẫn còn giằng xé lương tâm tôi”, Frank Snepp, một trong những nhân viên của CIA tại Sài Gòn thuật lại nhiều năm sau chiến tranh.

Một ngày trước khi Sài Gòn thất thủ, từ nóc của Caravelle, một trong hai khách sạn hạng sang của thành phố, tôi và các phóng viên khác nhìn thấy một hàng người chờ đợi trong sự tuyệt vọng ngày một tăng tại một điểm sơ tán, và dần nhận ra rằng sẽ không còn chiếc trực thăng Mỹ nào quay lại.

Tại đại sứ quán Mỹ, sự tuyệt vọng là rõ hơn cả. Đám đông la hét ùa vào nơi này, van nài được vào trong, giữa lúc các binh sỹ kéo vào những ai có giấy giới thiệu phù hợp - một khuôn mặt phương Tây cũng có ích - còn đẩy ra những người còn lại. 

Xe tăng của quân giải phóng tại sân dinh Độc Lập ngày 30/4/1975 (Ảnh: AP)
Xe tăng của quân giải phóng tại sân dinh Độc Lập ngày 30/4/1975 (Ảnh: AP)

Ngày hôm sau, những chiếc xe tăng tiến vào đầu tiên. Những nòng pháo dài vươn ra hướng về trung tâm thành phố và dinh tổng thống. Chiến tranh luôn đi kèm với lộn xộn, và một số xe bị lạc đường. Chúng tôi thấy một xe lùi lại và chuyển hướng. Bánh xe nó nghiến kèn kẹt và sau đó tiến về phía một bệnh viện cũ kiểu Pháp, rõ ràng không phải một mục tiêu quân sự. Nhưng cũng rất nhanh sau đó, xe tăng đã đến cổng dinh tổng thống và chạy xuyên qua.

Những người lính mới, mà chúng tôi nhanh chóng học được cách gọi “bộ đội”, mặc bộ quân phục một màu xanh, hơi nhẹ nhàng và đội những chiếc mũ kiểu cũ. Trông họ thật nhẹ nhõm: chiến tranh đã qua, họ vẫn còn sống và đóng góp phần của mình vào một trang sử vĩ đại.

Vài ngày sau, một cuộc duyệt binh diễn ra và sau đó nhiều người rời Sài Gòn. Những người ở lại đều lịch thiệp và có chút gì miễn cưỡng. Họ xem những người nước ngoài da trắng đều là người Nga. Một số thì bất ngờ bởi sự phồn thịnh của Sài Gòn, hoặc thích thú với những chiếc đồng hồ, chỉ được phát cho các sỹ quan cấp tá trở lên, đặc biệt những chiếc có thể hiện ngày. Họ gọi những chiếc đó là “đồng hồ có cửa sổ”.

Nếu đi thành cặp, họ thường nắm tay nhau, một cử chỉ cảm động gây tò mò. Nhưng họ rõ ràng được huấn luyện bài bản đáng ngưỡng mộ. Khi một vài kẻ ngoan cố nổ súng về phía bộ đội miền Bắc gần công viên nằm giữa dinh tổng thống và nhà thờ lớn, các phóng viên ngay lập tức được thấy một màn dàn đội hình như múa ba lê.

Những binh sỹ đang nằm và hút thuốc chỉ một phút trước đó đột ngột nằm sấp xuống và bắn trả đầy khôn ngoan, trong khi các nhóm bên cánh áp sát những kẻ tấn công. Đó là lời nhắc nhở rằng thời chiến tranh giữa lực lượng du kích được trang bị thô sơ đối đầu với lực lượng quân chính quy đông đảo đã qua.

Các binh sỹ miền Bắc Việt Nam tiến vào Sài Gòn với tất cả những gì một đội quân hiện đại muốn có. Họ có nhiều vũ khí và pháo binh - tất cả mọi thứ trừ không quân. Nhưng đến thời điểm đó những người Nam Việt Nam cũng hầu như chẳng còn sức mạnh không quân nào.

Thanh Tùng
Theo Guardian

Sau 40 năm chiếm đoạt miền Nam và 70 năm gọi là Thống Nhất, một thời gian dài để người Việt hiểu rõ bản chất của chế độ cộng sản đang cầm quyền tại Việt Nam. 

Một thời gian dài quá đủ để người Việt trong và ngoài nước nhận diện chế độ nào mang lại lợi ích thiết thực cho toàn dân, cũng như đưa dân tộc tới phú cường.  “Ngày Quốc Hận 30-4” trở thành thời điểm thúc đẩy Nhân Quyền tại Việt Nam.  “Ngày Quốc Hận 30-4” cũng là thời điểm để chúng ta nhận định, so sánh hầu chọn lựa giữa hai thể chế: Tự Do Dân Chủ mang lại “Tôn trọng Nhân phẩm, no ấm” hay Cộng sản “Độc tài đàn áp, đói nghèo”.

Một câu hỏi đặt ra, với hiện trạng Việt Nam sau 40 năm gọi là “Thống Nhất đất nước – Giải phóng dân tộc”, không còn tiếng súng từ Nam ra Bắc: tại sao người dân vẫn chưa thoát khỏi đói nghèo, vẫn không có một đời sống ấm no hạnh phúc?

1“Giải phóng”: Cuộc chiến người Việt giết người Việt khiến đất nước tụt hậu

Trong chiến tranh Việt Nam, dù dưới bất cứ danh xưng nào: “Giải phóng dân tộc” hay chiến tranh “Ý Thức hệ”, dù là bên “Thắng cuộc” hay “Bị bức tử”, cũng chỉ là một cuộc chiến Người Việt giết Người Việt.  Đảng CSVN đạt thắng lợi nhưng phần thảm bại lại dành cho dân tộc Việt Nam.  Một cuộc chiến để lại nhiều đau thương, nhuộm đầy máu và nước mắt, nhưng tệ hại nhất là đã chia rẽ và gây hận thù dân tộc, khởi đầu từ chính sách “Bài Phong – Đả Thực” nối tiếp đến “Chống Mỹ cứu nước, Giải phóng dân tộc” và kết thúc bằng “Giải phóng Miền Nam” ngày 30-4-1975.  Một cuộc chiến kéo dài trong 30 năm, hao tổn nhiều sinh mạng nhưng không mang đến kết quả nào tốt đẹp cho dân tộc ngoại trừ đói nghèo và tụt hậu.

Nhìn sang các quốc gia có chung hoàn cảnh sau chiến tranh, như Nhật Bản và Đại Hàn, họ chỉ cần một thời gian ngắn 20 năm, đã từ một đất nước nghèo đói trở thành những con Rồng Á Châu, cả về hai phương diện, kinh tế và văn hóa giáo dục.  Người dân nước họ được thế giới kính nể.

Ngay cả Campuchia, một quốc gia nhỏ bé có diện tích 181.035 Km2 với dân số 15.485.910 người, đã một thời bị CSVN khống chế, nhưng tìm lại đời sống thực sự hòa bình từ năm 1999.  Campuchia ngày nay đã phát triển, GDP (PPP) là 49.960 Tỉ Mỹ kim.  Theo Hiến pháp Campuchia năm 1993, Vương quốc Campuchia theo thể chế Quân chủ Lập pháp.  Hệ thống quyền lực được phân định rõ giữa Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp.  Người dân Campuchia đã đứng dậy, đòi hỏi cuộc bầu cử phải được tiến hành một cách tự do và công bằng.  Họ đã thành công.

Nền kinh tế Campuchia đang trên đà phát triển.  Trong đó phải kể, gạo Campuchia đã đạt thương hiệu là gạo ngon nhất thế giới, hiện diện tại các quốc gia Mỹ, Nhật và Châu Âu.  Các xí nghiệp của Campuchia đã thỏa đáng công ăn việc làm cho người dân, ngay cả việc thu nhận các công nhân đến từ Việt Nam.  Campuchia đã sản xuất xe hơi nhỏ.  Trong khi Việt Nam là nước xuất cảng nhiều gạo, nhưng vẫn chưa có thương hiệu nổi danh trên thương trường thế giới, ngoại trừ Châu Á và Châu Phi.

Sau ngày chia đôi đất nước vào năm 1954, miền Bắc hưởng trọn tài sản của người dân bỏ nước xuất ngoại, hay của gần 1 triệu người di cư vào Nam, chưa kể chính sách “Cải cách Ruộng đất” cũng như “Cải tạo Công Thương nghiệp tư doanh”, tài sản không nhỏ của thành phần này đã nằm trong tay đảng.

Để so sánh về mặt phát triển kinh tế của 10 quốc gia Á Châu vào thời điểm năm 1960, được xác nhận theo thứ tự trong bảng xếp GDP tính bằng Mỹ kim như sau:

            Singapore (395$), Malaysia (299$), Philippine (275$), Việt Nam Cộng Hòa (miền Nam 223$),             South Korea (155), Thailand (101$), Trung quốc (92$), Ấn Độ (84$), Việt Nam Dân chủ Cộng         Hòa (miền Bắc 73$).  ò Hòa   HhH             HHH

            Như vậy, VNCH (miền Nam VN) đã ngang hàng với Phillipine, vượt qua South Korea, gấp 2 lần Thái Lan, gấp 2,4 lần Trung quốc, gấp 2,7 lần Ấn Độ và gấp 3 lần VNDCCH (miền Bắc VN).  Cũng như Đại Hàn và Nhật Bản, VNCH chỉ cần 20 năm đã nổi danh là “Hòn ngọc Viễn Đông”, cả về mặt kinh tế lẫn văn hóa giáo dục, mặc dù trong thời gian này, miền Nam luôn bị các lực lượng CS miền Bắc đánh phá.

Nhằm hỗ trợ kinh tế cho hai miền Nam-Bắc Việt Nam trong thời gian trên, ngân khoản viện trợ từ nước ngoài được tính theo Mỹ kim cho mỗi đầu người như sau: (*)

– Theo tác giả Douglas C. Dacy, những dữ kiện về Viện trợ kinh tế dành cho VNCH trong khoảng thời gian từ 1955-1975, ghi trong tác phẩm “Foreign Aid, war and economic development – South Vietnam 1955-1975”.  Để so sánh sự phát triển của hai miền Nam – Bắc Việt Nam, kể từ sau ngày chia đôi đất nước vào ngày 20-7-1954, chúng ta nêu ra dữ kiện của một vài năm tiêu biểu cho chương trình viện trợ này tính trên đầu người.

     *Tại Việt Nam Cộng Hòa (Miền Nam):

            Năm 1956:                  Mỗi người:      16,49 USD

            Năm 1957:                              –           21,58 USD

            Năm 1960:                              –           12,85 USD

            Năm 1961:                              –           10,46 USD

            Năm 1962:                              –           10,46 USD

            Năm 1963:                              –           12,79 USD

            …………                                            ……….

            Năm 1973:                              –           26,62 USD

            Năm 1974:                              –           31,99 USD

Với ngân khỏan viện trợ eo hẹp này sau thời gian di cư, chính quyền miền Nam phải lo định cư cho gần 1 triệu người cũng như xây dựng cơ sở hạ tầng bao gồm tu sửa các trục lộ giao thông bị hư hại vì chiến tranh, kiến thiết các xa lộ và ổn định đời sống người dân cũng như phát triển các cơ sở văn hóa, giáo dục. VNCH đã xây dựng nhà máy giấy Cogido An Hảo ở Biên Hòa vào năm1961, đáp ứng 40% nhu cầu trong nước.  Hai xưởng dệt Vinatexco và Vimytex với năng xuất 13,2 triệu mét vải mỗi năm.  Nhà máy thủy tinh Khánh hội có năng xuất 15.000 tấn/năm.  Hai nhà máy xi-măng Hà Tiên và Thủ Đức với năng xuất 540.000 tấn/năm.  Xây dựng đập Thủy diện Đa Nhim và nhiều cơ sở khác…  Chính quyền và nhân dân miền Nam đã quyết tâm thực hiện nhiều công trình làm nền tảng cho sự phát triển kinh tế sau này.

Tại miền Bắc, kể từ sau ngày chia đôi đất nước, nhân lực hùng hậu của tuổi trẻ thay vì cung ứng nhu cầu phát triển kinh tế hầu nâng cao đời sống người dân, đảng cộng sản đã thúc đẩy lực lượng này lao vào cuộc chiến đánh chiếm miền Nam.  Một cuộc chiến đã giết hại hàng triệu người từ Bắc vào Nam:

*Về phía VNCH:

            – Tử trận và mất tích:                 316.000 (Theo sử gia R. J. Rummel)

            – Bị thương:                            1.170.000

*Về phía VNDCCH:

            – Tử trận và mất tích:              1.100.000 (300.000 bộ đội còn mất tích)

            – Bị thương:                               600.000

* Thường dân: (theo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội)

            – Tổn thất nhân mạng:             4.000.000

            – Mang thương tật:                  2.000.000

            – Nhiễm hóa chất:                    2.000.000

Vì không có khả năng sản xuất, nên hầu hết các nhu cầu hàng ngày cả về mặt quân sự lẫn đời sống của người dân, đã phải nhận viện trợ từ các nước trong khối cộng sản nhất là Trung cộng.  Một món nợ này phải trả sau khi chấm dứt chiến tranh.

Những dữ kiện viện trợ tài chính từ nước ngoài cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của năm 2006 tính trên đầu người, theo trang mạng của “Asian Development Bank – www.adb.org” và báo cáo của Tòa Đại sứ Đức tại Hà Nội về năm 2006 được ghi nhận:

     *Tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (miền Bắc Việt Nam):

            Năm 2006:                  Mỗi người:      199,67 USD

(Ngân khoản viện trợ tái chính năm 2006 gồm có: 

            -Viện trợ của các nước ngoài:            3,7 Tỷ USD

            -Kiều hối:                                            4,7 Tỷ USD

            -Xuất cảng dầu thô:                            8,1 Tỷ USD

(* Nguồn: Nguyễn Hội- trang mạng Infor@ngodinhdiem.net)

     *Từ thời điểm 2013, sự phát triển của các quốc gia trong vùng không đồng đều, chẳng hạn Việt Nam ở mức độ 1.660 US$ trong lúc Singapore đang ở vị trí 50.889 US$.  Theo tiên đoán của IMF về sự phát triển GDP từ năm 2011 đế năm 2017, cũng xác định VIệt Nam sẽ không bao giờ đuổi kịp các quốc gia trong vùng, nếu vẫn tiếp tục tăng trưởng với cường độ hiện tại.  Chúng ta nhận ra, cơ chế của một chính thể đã ảnh hưởng rất nhiều tới sự phát triển của quốc gia đó.

Tại sao Việt Nam không phát triển

Sau khi xâm chiếm miền Nam vào ngày 30-4-1975, bằng bạo lực đảng đã chiếm đoạt tài sản của miền Nam, của công cũng như của tư nhân lên tới hàng trăm Tỷ Mỹ kim.   Qua các chính sách: cải tạo – đổi tiền – đánh tư sản – chiếm đoạt tài sản trong ngân hàng…  để cào bằng miền Nam, một hình thức cướp ngày, đã làm kinh tế miền Nam cạn kiệt.  Với tài sản khổng lồ chiếm được của miền Nam, thay vì để xây dựng kiến thiết đất nước tiến lên sau chiến tranh, đã chui vào túi các quan tham trong đảng, khiến đảng trở lên giầu nhưng người dân thì nghèo.  Đảng CS áp dụng chính sách “Bóp cổ, Túm dạ dầy” để không chế người dân.

Sau ngày mở cửa, nguồn tiền không hoàn trả từ cộng đồng người Việt hải ngoại gửi về hàng năm giúp thân nhân, đã thay đổi nếp sống người dân trong nước và vực dậy một quốc gia đang bên bờ vực thẳm.  Theo thống kê, tính từ ngày mở cửa tới năm 2013, kiều hối chuyển về Việt Nam lên tới 84 Tỷ Mỹ kim, không kể ngân khoản người Việt về thăm quê mang theo có thể lên gấp 2, 3 lần số kiều hối kể trên, một ngân khoản không kê khai trên giấy.  Riêng năm 2014, số kiều hối đạt mức 12 Tỷ Mỹ kim.

Nhìn vào những dữ kiện viện trợ tài chánh nêu trên của VNDCCH (sau này là XHCN), ngân khoản này ngày một gia tăng.  Nhưng tại sao Việt Nam vẫn tụt hậu, và đời sống kinh tế của người dân không được đảm bảo.  Có phải do thể chế chính trị hay nhân sự điều hành, hay cả hai?

Chúng ta tìm ra câu trả lời của một phần câu hỏi trên qua lời tường trình ngày 13-12 của ông Tổng Thanh tra chính phủ Huỳnh Phong Tranh, trong chương trình “Dân hỏi – Bộ Trưởng trả lời”.  Theo đó, “trong năm 2015, sau 40.000 cuộc thanh tra các cấp, ngành Thanh tra chính phủ đã phát hiện sai phạm làm thất thoát 212.000 tỷ đồng (tương đương 10 tỷ USD). 

Tổng thanh tra chính phủ chỉ đưa ra con số thất thoát trên chiếm khoảng 1/10 GDP của cả nước (120 tỷ USD), nhưng không nói rõ thành phần nào trong chính phủ đã gây ra tình trạng này.

Để sát với thực tế, Sử gia Dương Trung Quốc, nguyên Đại biểu quốc hội khóa X, XI, đã đưa ra con số chứng tỏ một trong những lý do khiến đất nước ta ngày càng nghèo, khi so sánh về dân số, diện tích và số nhân viên công chức của hai quốc gia – Hoa Kỳ và Việt Nam:

  • Hoa Kỳ:  dân số: 320 triệu người, diện tích: 9.826.630 Km2, công chức: 2.1 triệu người.
  • Việt Namdân số:   90 triệu người, diện tích:    210 Km2, công chức: 2.8 triệu người.

Theo các con số trên, Hoa Kỳ có diện tích lớn hơn Việt Nam gần 30 lần, dân số lớn gấp gần 4 lần, nhưng số công chức điều hành của Hoa Kỳ chỉ bằng ¾ Việt Nam.  Điều này cũng chứng tỏ: 160 người dân Hoa Kỳ nuôi một công chức, trong khi tại Việt Nam 40 người dân phải nuôi một công chức.  Điều này đã được ông Nguyễn Xuân Phúc, Phó Thủ tướng ghi nhận: “30% công chức Việt Nam chỉ hưởng lương mà không làm việc”.  Một đất nước có 22 Bộ nhưng có đến 135 Thứ trưởng, mà thực chất, bộ máy hành chính lớn nhưng không mang lại kết quả hữu dụng nào.

Một điều tệ hại hơn nữa khiến Việt Nam ngày càng tụt hậu, là ngoài bộ máy Nhà Nước có thêm bộ máy Đảng mà nhân số phục vụ ngày một phình lớn, cũng hưởng lương từ ngân sách quốc gia.

Ngoài ra, cần phải nhắc tới hệ thống móc ngoặc chằng chịt, mua quan bán chức, bao thư xuất hiện tại bất cứ nơi nào ngay cả tại bệnh viện, “thủ tục đầu tiên” đã trở thành một điều không thể thiếu trong sinh hoạt hàng ngày giữa dân và chính quyền.  Bệnh nhân nghèo nằm la liệt tại hành lang bệnh viện chờ chết vì không có bao thư.  Hoặc giả có tiền cũng 2,3 người chung một chiếc giường nhỏ hay trải chiếu nằm trên nền nhà, ngay cả dưới gầm giường, trong lúc tượng đài Hồ Chí Minh, giá hàng tỷ đồng được đua nhau xây dựng khắp nơi.  Một công trình mà các quan vừa được tiếng mà có miếng.

Thực phẩm độc hại tự do nhập vào miền Bắc qua cửa khẩu Lạng Sơn.  Mỗi ngày có hàng ngàn chiếc xe tải chở loại hàng độc hại này vào miền Bắc Việt Nam trước khi phân phối đi các tỉnh.  Những thực phẩm chờ phân hủy như heo chết, gà chết…cũng được các con buôn móc ngoặc nhập vào Việt Nam, sau khi tẩy rửa bằng hóa chất đã trở thành thực phẩm tươi tốt.  Mầm mống bệnh ung thư từ người già đến trẻ nhỏ gia tăng, khiến “bệnh viện ung bướu” không còn chỗ chứa.  Chợ bán hóa chất mang danh “Thần chết” đang có mặt tại nhiều thành phố.  TP. Hồ Chí Minh có chợ Kim Biên với đầy đủ mặt hàng hóa chất độc hại.   Đảng và Nhà nước CS Hà Nội biết rõ điều đó nhưng vẫn làm ngơ vì có “bao thư”, nhất là họ không xử dụng những thứ độc hại chết người này vì có dư tiền mua hàng nhập cảng, nên “sống chết mặc bay – tiền thầy bỏ túi”.  Đảng CS Hà Nội biết rõ tương lai dân tộc Việt sẽ đi về đâu, vẫn che mắt bịt tai.

Nạn trộm cướp gia tăng khắp nơi khiến người dân không cảm thấy an toàn mỗi khi ra đường.  Nhiều cảnh cướp giật gây tai nạn chết người xẩy ra trước mắt.  Cảnh sát giao thông đứng nhìn vì còn dành thì giờ kiếm mối vì “thủ tục đầu tiên” đang hoành hành tại đất nước này.  Đảng và “Nhà nước CS” phải biết rõ điều này nhưng vẫn không có hành động thiết thực nào để ngăn chặn, khiến du khách nhiều lần đưa tệ nạn này lên mặt báo trên thế giới.

Tệ nạn “buôn người” từ Bắc vào Nam ngày một gia tăng qua ngả hôn nhân “lấy chồng ngoại quốc” hay “xuất khẩu lao động”.  Phụ nữ Việt Nam trở thành món hàng rao bán tại nhiều nước Á Châu với giá rẻ mạt.  Người phụ nữ Việt biết như thế nhưng vẫn phải làm, vì đó là một lối thoát duy nhất cho bản thân và gia đình trước cảnh đói nghèo.  Ngay như Nguyễn Minh Triết, khi tới Hoa Kỳ vào cuối tháng 6/2007, đã mời gọi các nhà đầu tư Hoa Kỳ tới Việt Nam, vì đất nước của ông có nhiều gái đẹp.  Với hành động sỉ nhục phụ nữ này, khiến Triết dù mang danh Chủ tịch nước CHXHCNVN, đã trở thành kẻ rao hàng tệ hại nhất.  Như tin tức loan tải, một số phụ nữ Việt Nam khỏe mạnh đã trở thành “món hàng” cung cấp nội tạng tại Trung quốc.  CS Hà Nội biết điều này nhưng vẫn làm ngơ, mặc dù công an có mặt tại các hang cùng ngõ hẹp.

Các cuộc biểu tình chống lại đám cán bộ cướp đoạt tài sản, ruộng vườn của ngưới dân nghèo từ Bắc vào Nam đã bị chính quyền CS đàn áp tàn nhẫn.  Ngay cả các cuộc biểu tình của người dân yêu nước chống lại hành động Trung quốc chiếm đất, chiếm biển của Việt Nam, cũng bị công an đánh đập.  Người dân Việt trong và ngoài nước đã bất mãn về hành động của CS Hà Nội và nhận ra tập đoàn này chỉ là một loại Thái thú của Trung quốc.  Để hợp thức hóa các hành động đàn áp  của đám công an, Thông tư 01/2016 của Bộ Công an Việt Nam cho phép cảnh sát giao thông ‘trưng dụng các phương tiện tham gia lưu thông’ từ ngày 15-2.  Quy định này đã vi phạm và bất chấp quyền lợi của người dân đã ghi trong Hiến pháp.

Tôn giáo cũng chung cảnh ngộ, giáo dân bị đàn áp, đánh đập ngay cả vào ngày lễ hội.  Trước hành động này, ngày 30-4-2015, Ủy Hội Tự Do Tôn Giáo Quốc tế (USCIRF) tại Hoa Thịnh Đốn đã kêu gọi Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ xếp Việt Nam vào danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt (CPC).

Trước tình trạng đàn áp vi phạm Nhân quyền tại Việt Nam , Dân biểu Alan Lowenthal đã cùng với 34 vị Dân biểu Hoa Kỳ, gửi thư tới Tổng Thống Obama, kêu gọi Ông đặt Nhân quyền thành một vấn đề ưu tiên hàng đầu trong nghị trình cuộc họp Thượng đỉnh giữa Mỹ và 10 nước Á Châu tại California, Hoa Kỳ.

Tuổi trẻ Việt Nam hôm nay

1

Trước hành động đàn áp người biểu tình từ Bắc vào Nam, phản đối Trung quốc lấn chiếm hải đảo Hoàng Sa – Trường Sa  thuộc chủ quyền Việt Nam, tuổi trẻ yêu nước đã nhận ra bản chất tay sai của chế độ Hà Nội.  Đối với họ, CS thường rêu rao ngày 30-4-1975 là ngày đại thắng, nhưng thực chất chỉ là một vết nhơ, phản bội lịch sử và giống nòi.

Tuổi trẻ Việt Nam hôm nay đang nối gót những người đi trước, những người đã và đang bị cầm tù, bạc đãi trong nhà tù của đảng CSVN.  Những người đã đấu tranh ôn hòa vì an nguy của dân tộc, vì quyền sống của con người như: LM. Nguyễn Văn Lý, Trần Hunh2 Duy Thức, Bùi Thị Minh Hằng, Nguyễn Phương Uyên, Lê Chí Quang, Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Hùynh Thục Vi, Việt Khang…

Ngày 12-4-2015, anh Nguyễn Viết Dũng, biệt danh Dũng Phi Hổ (sinh ngày 19-6-1986) đã bị công an quận Hoàn Kiếm, Hà Nội bắt giữ.  Khi bị bắt anh Dũng đang mặc quân phục Việt Nam Cộng Hòa, cùng các bạn tuần hành phản đối dự án chặt 6.700 cây xanh lâu đời của thành phố Hà Nội.  Đây không phải lần đầu tiên anh bị bắt giữ, vì trước đây anh đã treo lá “Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ” trước nhà tại Nghệ An.  Anh Dũng ra tù ngày 13-4-2016 sau 12 tháng tù giam.   Khi ra tù anh vẫn mang phù hiệu Cờ Vàng trên ngực áo với hai chữ “Sát Cộng” xâm trên cánh tay.

Nhiều người đã viết bài ca tụng hành động của anh, nhưng cũng có người cho rằng hình xâm trên tay không còn là “tự do quan điểm” mà đã chuyển sang “tự do biểu đạt” và chịu ảnh hưởng của khoản 3 điều 19 của luật Nhân quyền Liên Hiệp Quốc.  Thực ra, hình chữ “sát cộng” xâm trên tay của những người từng là nạn nhân của chế độ cộng sản.  Hình ảnh của 100 triệu nạn nhân cộng sản, đã in đậm trong tâm tư những người yêu tự do trên thế giới.  Chúng ta yêu Hòa bình nhưng không thể làm ngơ trước hành động diệt chủng của cộng sản.  Sự hòa giải dân tộc không thể mang lại khi mà CS Hà Nội vẫn còn hiện diện trên quê hương chúng ta.  Đối với người tù cải tạo miền Nam, đối với người tỵ nạn CS trên thế giới, chữ “sát cộng” đã in đậm trong con tim của họ.  Dân tộc Việt chỉ có thể hòa giải, sống trong hòa bình khi không còn chế độ công sản.

Một hình ảnh đáng phục khác được nêu danh, anh Huỳnh Ngọc Thiên Tường, sinh ngày 22-12-1981, hiện làm việc và sống tại TP. HCM, đã bầy tỏ quan điểm của anh về đảng CSVN.  Nột tập đoàn gây ra tội ác với những tệ nạn xã hội như tham nhũng cửa quyền, nhất là tình trạng an ninh ngày càng trở lên tệ hại… Anh cho rằng đảng CSVN và nhà nước XHCNVN đã hiện nguyên hình là một “tập đoàn cướp” sau ngày 30-4-1975.

Lòng yêu chuộng vẻ đẹp và đầy ý nghĩa của lá Cờ Vàng đã xuất hiện trên tà áo dài trong ngày cưới của anh chị Phạm Thanh Nghiên (4 năm tù) và Huỳnh Anh Tú (14 năm tù).  Cuộc hôn nhân diễn ra tại Sài Gòn ngày 17-4-2016 đã thể hiện tình yêu thương sau 18 năm tù chung dưới chế độ CS độc tài, được điểm tô thêm do nhiệt tâm đấu tranh vì dân tộc.  Trong thành phần khách mời có 30 tù nhân Lương Tâm, mà con số năm tù cộng chung đã đạt tới 200 năm.

                                                                                    *

Dù dưới bất cứ mỹ từ nào mà đảng CSVN đưa ra để biện minh cho hành động “Giải phóng Miền Nam) ngày 30-4-1975, thực chất vẫn chỉ là hành động diệt chủng.

Ngày Quốc Hận 30-4 đã khơi dậy niềm đau của cả dân tộc, một vết thương không thể lành khi còn tập đoàn cộng sản độc tài đảng trị, cũng là thời điểm thúc đẩy ý chí đấu tranh cho quyền sống của người dân Việt.  Sau ngày 30-4-1975,  tuổi trẻ Việt Nam đã nhận ra hành động phản bội dân tộc của đảng CSVN, một tập đoàn mang thân phận tôi đòi cho kẻ thù phương Bắc.

Những tấm gương oanh liệt của người dân Ba Lan đã thành công khi họ quyết tâm từ bỏ chế độ CS độc tài để xây dựng dân chủ.  Chính nhờ sự quyết tâm dứt bỏ chủ nghĩa cộng sản, đã đưa đất nước Ba Lan bước vào thời kỳ hưng thịnh và phú cường, sau nhiều thập niên dưới ách cộng sản.   Người dân Campuchia đã đẩy những ám ảnh chết chóc của một thời diệt chủng vào dĩ vãng để hướng tới tương lai, khởi đầu một nền dân chủ, mặc dù nền dân chủ còn non trẻ và cần toàn dân góp bàn tay xây dựng.

Sau ngày 30-4-75, đất nước chúng ta mất dần biển đảo, do tập đoàn CS cầm quyền vì quyền lợi cá nhân đã nhượng bán cho kẻ thù Trung cộng.  Dưới chế độ cộng sản, chẳng còn bao lâu nữa đất nước chúng ta sẽ rơi vào vòng nô lệ.  Sự thịnh suy của Nước Việt là trách nhiệm của toàn dân Việt trong và ngoài nước, không thể trông đợi vào ngoại bang khi chúng ta không có hành động quyết tâm diệt trừ cộng sản.

Tuổi trẻ Việt Nam đã nhìn rõ mối an nguy của dân tộc trước họa ngoại xâm.  Chỉ có lòng quyết tâm vì dân tộc mới đưa đất nước thoát khỏi ách nô lệ, mới đưa quốc gia tới thịnh vượng phú cường.

Hãy đứng lên tuổi trẻ Việt Nam ơi!  Để Đất Nước Thoát Vòng Nô Lệ – Để Dân Tộc Tránh Được Họa Diệt Vong.

Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào

Tính từ 7/1954 (Hoà bình lập lại ở miền Bắc, đất nước ta bị chia cắt làm hai miền) khi đế quốc Mỹ - tên hung nô của thời đại - trực tiếp xâm lược Việt Nam đến này 27/1/1973 ký Hiệp định Pa-ri, thì Mỹ đã sa lầy ở Việt Nam là 18 năm 6 tháng. Trong thời gian này, Mỹ đã thay đổi 4 đời tổng thống với 5 nhiệm kỳ: Ai-xen-hao, Ken-nơ-đi, Giôn-xơn, Ních-xơn. Trong thời gian này, Mỹ đã huy động một lực lượng khổng lồ "binh hùng tướng mạnh" gồm quân đội Mỹ, nguỵ quân Sài gòn và nhiều nước chư hầu, với trang thiết bị vũ khí và các phương tiện chiến tranh hết sức hiện đại; nhưng liên tiếp bị quân và dân hai miền Nam -Bắc đánh bại.

Chiến tranh Việt Nam là nỗi "đau đầu" khủng khiếp của 4 tổng thống và là một "thảm hoạ cho nước Mỹ". Riêng đối với Ních-xơn, "ngài tổng thống diều hâu", ưa thích máu lửa và bom đạn, đã nhiều lần trực tiếp đến miền Nam Việt Nam chỉ thị cho quân Mỹ và bọn tay sai, thì báo chí Phương Tây nhận định: Ông ta đã "bị chiến tranh Việt Nam đánh gục!".

Sau Hiệp định Pa-ri 27/1/1973, Mỹ cút, nhưng nguỵ chưa nhào. Chúng vẫn được đế quốc Mỹ hà hơi tiếp sức, càng mở rộng chiến tranh, tàn sát đồng bào ta ở miền Nam và ra sức phá hoại miền Bắc. Quân và dân miền Nam được miền Bắc hết lòng chi viện, tiếp tục kiên cường tiến đánh nguỵ quân, nguỵ quyền, quyết tâm thực hiện bằng được ý nguyện của Bác Hồ và lý tưởng của Đảng: Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Để chuẩn bị cho những đòn quyết chiến, chiến lược, từ tháng 5 đến tháng 7/1973 , Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã tổ chức nhiều hội nghị phân tích, đánh giá tình hình trong và ngoài nước một cách sâu sắc, toàn diện; nhận định rõ âm mưu, thủ đoạn của Mỹ và tay sai; ra nghị quyết lãnh đạo nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, Đảng ta khẳng định: Con đường giành thắng lợi của cách mạng miền Nam là bằng bạo lực cách mạng. Do đó, phải nắm vững chiến lược tiến công, kiên quyết đấu tranh trên ba mặt trận: Quân sự, Chính trị, Ngoại giao, tiến lên giành toàn thắng. Từ đó, Bộ Tổng Tư lệnh và Bộ Tổng Tham mưu từng bước điều chỉnh, bổ sung vào kế hoạch tác chiến chiến lược giải phóng miền Nam.

Từ 18/12/1974 - 8/1/1975, Bộ Chính trị họp và hạ quyết tâm chiến lược: "Giải phóng miền Nam trong hai năm (1975-1976) và nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975". Sau hội nghị ấy, quân và dân miền Nam càng dồn dập tiến đánh nguỵ quân, nguỵ quyền, thu được nhiều chiến công, khiến cho bọn địch hốt hoảng, kinh hoàng. Thời cơ giải phóng hoàn toàn miền Nam đã đến, Bộ Chính trị quyết định Tổng tiến công,...

Mở đầu cuộc Tổng tiến công, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương sau khi nghiên cứu, đánh giá tình hình quân địch, đã quyết định chọn Tây Nguyên là hướng tiến công chính. Để bảo đảm đánh thắng ngay từ trận đầu, tạo thế, lực cho các trận tiếp theo, cùng với đòn tiến công quân sự, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương xác định: "Phát triển đấu tranh chính trị trong các thị xã, thành phố. Ra sức xây dựng cơ sở tự vệ bí mật, các tổ chức biệt động diệt ác ôn đầu sỏ, tạo thế làm chủ cơ sở". Chiến dịch Tây Nguyên đã thắng lợi vang dội. Chiến công nối tiếp chiến công, các lực lượng quân sự cách mạng và nhân dân các tỉnh Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Phan Thiết, Phan Rang, Đà Lạt, Nha Trang... đã nắm thời cơ nổi dậy giành chính quyền một cách nhanh chóng. Thế và lực của quân dân ta hoàn toàn áp đảo quân địch. Từ đây, Chiến dịch lịch sử Hồ Chí Minh ra đời và phát triển đến toàn thắng.

Những hình ảnh thành quả giải phóng miền Nam nghe theo lời hiệu triệu bác Hồ


THƠ CHÚC TẾT XUÂN MẬU THÂN - 1968 

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà,
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.
Tiến lên!
    Toàn thắng ắt về ta!

< iframe width="336" height="280" frameborder="0" marginwidth="0" marginheight="0" vspace="0" hspace="0" allowtransparency="true" scrolling="no" allowfullscreen="true" id="aswift_1" name="aswift_1" style="left: 0px; position: absolute; top: 0px; width: 336px; height: 280px;">< /iframe>

Chiến dịch lịch sử Hồ Chí Minh là trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân dân cả nước trong cuộc kháng chiến trường kỳ 21 năm (7/1954 - 4/1975) chống đế quốc Mỹ xâm lược và bọn tay sai. Thắng lợi hào hùng của Chiến dịch làm nức lòng nhân dân ta và bè bạn quốc tế. Đất nước ta không còn bóng quân xâm lược. Cách mạng Việt Nam đã giành được thắng lợi to lớn có ý nghĩa chiến lược thời đại. Đất nước thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng lớn mạnh và vững bước hội nhập quốc tế phát triển.

Phạm Như Hùng

Không độc ác ngu si tàn sát nhau như các lãnh đạo CSVN, lãnh đạo Hàn - Triều lần đầu gặp mặt, khẳng định 'trang sử mới bắt đầu'

Kim Jong-un lần đầu bước qua giới tuyến quân sự hai miền, bắt tay và bước vào phòng hội đàm cùng Tổng thống Hàn Quốc tại Panmunjom, bên trong Khu Phi quân sự liên Triều.

Lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un và Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in bắt tay tại đường ranh giới chia cắt hai miền. Ảnh: CNN.

Lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un và Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in bắt tay tại đường ranh giới chia cắt hai miền. Ảnh: CNN.

Đúng 9h30 giờ địa phương (7h30 giờ Hà Nội), Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in và lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un có mặt ở hai bên đường ranh giới trong Khu Phi quân sự liên Triều (DMZ), chuẩn bị bước vào hội nghị thượng đỉnh. Đây là lần đầu tiên trong 11 năm lãnh đạo hai miền gặp mặt.

Hội nghị này là kết quả của một nỗ lực ngoại giao giữa Mỹ - Hàn - Triều bắt đầu từ đầu năm nay. Trước khi cuộc gặp diễn ra, Triều Tiên cũng đã cho thấy một số dấu hiệu thiện chí xuống thang căng thẳng. Gần đây nhất, ông Kim tuyên bố dừng thử hạt nhân, tên lửa, một động thái mà Tổng thống Mỹ Donald Trump ca ngợi là "tốt cho thế giới".

Ông Kim và ông Moon bắt tay khi hai người đứng ở hai bên đường ranh giới, rồi ông Kim bước qua giới tuyến sang phía nam. Trong một động thái không nằm trong kế hoạch nhưng mang tính biểu tượng, Tổng thống Moon sau đó bước sang phía bắc cùng lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un rồi hai người cùng bước trở lại phía nam. Đây là lần đầu tiên sau 65 năm một lãnh đạo Triều Tiên đặt chân sang phía Hàn Quốc.

"Giới tuyến quân sự giờ đây là biểu tượng của hòa bình", ông Moon sau đó nói trong cuộc hội đàm với ông Kim.

Gương mặt cả hai lãnh đạo đều tươi cười. Ông Moon mặc vest trong khi ông Kim mặc chiếc áo mang phong cách Mao Trạch Đông quen thuộc. Hai người sau đó duyệt đội danh dự trong lễ khai mạc chính thức rồi cùng tiến tới Nhà Hòa bình bên phía nam, nơi hội nghị diễn ra.

"Một trang sử mới bắt đầu ngay bây giờ, tại điểm khởi đầu của lịch sử và kỷ nguyên hòa bình", ông Kim Jong-un viết trong sổ lưu niệm tại Nhà Hòa bình.

Lãnh đạo Hàn - Triều gặp nhau ở đường ranh giới
 
 
 

 Lãnh đạo Hàn - Triều gặp nhau ở đường ranh giới.

Sau khi chụp ảnh chung, Tổng thống Hàn Quốc và lãnh đạo Triều Tiên bước vào phòng họp. Các phóng viên bị hạn chế tiếp cận. Lãnh đạo hai miền dự kiến thảo luận về việc phi hạt nhân và hiệp ước hòa bình, chính thức chấm dứt chiến tranh trên bán đảo Triều Tiên.

Phát biểu tại phòng họp, ông Kim cho biết muốn có các phiên thảo luận "thẳng thắn" về những vấn đề hiện nay và mong muốn hội nghị sẽ "cho kết quả tốt đẹp", không lặp lại những sai lầm trong quá khứ.

"Tôi hy vọng sẽ viết nên một chương mới giữa chúng ta và đây là điểm đầu tiên. Chúng ta sẽ tạo ra một khởi đầu mới", lãnh đạo Triều Tiên nói. "Tôi hy vọng chúng ta sẽ không phụ những kỳ vọng mà các bên đặt lên chúng ta. Tôi hy vọng sẽ có những thỏa thuận đáp ứng được những kỳ vọng lớn lao ấy".

Đáp lại, Tổng thống Moon cho hay ông "mong cả thế giới sẽ chú ý tới mùa xuân đang bao trùm bán đảo Triều Tiên. "Việc ngài bước qua đường ranh giới là biểu tượng của hòa bình, không phải chia cắt", ông Moon nói. "Tôi cảm ơn ngài vì hành động dũng cảm đó. Các cuộc thảo luận và đàm phán của chúng ta hôm nay sẽ rất thẳng thắn".

Hai lãnh đạo bắt tay trong Nhà Hòa bình, nơi diễn ra hội nghị thượng đỉnh. Ảnh: Reuters.

Hai lãnh đạo bắt tay trong Nhà Hòa bình, nơi diễn ra hội nghị thượng đỉnh. Ảnh: Reuters.

Cuộc họp buổi sáng kết thúc lúc 12h địa phương (10h Hà Nội), hai phái đoàn nghỉ ăn trưa. Ông Kim Jong-un lên xe Mercedes-Benz để trở về lãnh thổ Triều Tiên. Nhiều vệ sĩ chạy bộ xung quanh để bảo vệ chiếc xe.

Hai lãnh đạo dự kiến gặp nhau vào buổi chiều và trồng một cây thông từ năm 1953, thời điểm hiệp định đình chiến giữa Hàn Quốc và Triều Tiên được ký kết.

Nhà Trắng hôm nay ra thông cáo chúc mừng cuộc gặp lịch sử giữa Tổng thống Hàn Quốc và lãnh đạo Triều Tiên, bày tỏ hy vọng "các cuộc đối thoại sẽ đạt được tiến triển, hướng tới tương lai hòa bình và thịnh vượng cho cả bán đảo Triều Tiên".

"Mỹ ủng hộ sự phối hợp chặt chẽ với đồng minh Hàn Quốc, đồng thời trông đợi những cuộc thảo luận nhằm chuẩn bị cho cuộc họp giữa Tổng thống Mỹ Donald Trump và ông Kim Jong-un trong thời gian tới", thông cáo cho biết.

Lãnh đạo Hàn Quốc và Triều Tiên trong phòng họp. Ảnh: Reuters.

Lãnh đạo Hàn Quốc và Triều Tiên trong phòng họp. Ảnh: Reuters.

Ông Kim trở lại đất Hàn Quốc, cùng trồng cây với ông Moon

Ông Kim trở lại đất Hàn Quốc, cùng trồng cây với ông Moon

(PLO)- Hai ông Moon, Kim cùng tham gia lễ trồng cây biểu tượng trước khi khôi phục đối thoại và dự tiệc tối cùng nhau.

Sau giờ trưa, 2 giờ 30 (giờ địa phương), lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un một lần nữa bước qua ranh giới liên Triều, trở lại đất Hàn Quốc tiếp tục cuộc gặp thượng đỉnh với lễ trồng cây chung cùng Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in.

Hai ông Moon và Kim đi cùng nhau đến địa điểm trồng ở đường phân giới quân sự liên Triều, vừa đi vừa liên tục trò chuyện. Theo thông tin Yonhap đưa mấy ngày trước thì hai lãnh đạo sẽ cùng trồng một cây thông như một biểu tượng hòa bình cho liên Triều, theo đề nghị của phía Hàn Quốc. Cây thông được chọn mọc từ năm 1953 – năm thỏa thuận đình chiến được ký.

Tuy nhiên theo nhà báo của Guardian tại hiện trường, dường như hai lãnh đạo không thật sự trồng cây mà chỉ bồi thêm đất vào gốc cây đã mọc sẵn từ năm 1953.

Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in (phải) bồi đất lấy từ núi Baekdu ở Triều Tiên, và lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un bồi đất lấy từ núi Halla ở Hàn Quốc vào cây thông mọc từ năm 1953 ở đường phân giới quân sự liên Triều chiều 27-4. Ảnh: REUTERS
Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in (phải) bồi đất lấy từ núi Baekdu ở Triều Tiên, và lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un bồi đất lấy từ núi Halla ở Hàn Quốc vào cây thông mọc từ năm 1953 ở đường phân giới quân sự liên Triều chiều 27-4. Ảnh: REUTERS

Đất được bồi được lấy từ núi Halla ở Hàn Quốc và từ núi Baekdu ở Triều Tiên - một động thái biểu tượng gắn kết hai miền. Ông Kim sẽ tưới cây bằng nước lấy từ sông Hàn ở Hàn Quốc và ông Moon sẽ tưới bằng nước lấy từ sông Đại Đồng ở Triều Tiên.

Tảng đá đặt trước cây mang dòng chữ: “Cây hòa bình và thịnh vượng” có chữ ký của hai ông Moon và Kim. Sự kiện trồng cây này cũng từng diễn ra trong cuộc gặp thượng đỉnh liên Triều lần thứ hai năm 2007, giữa Tổng thống Hàn Quốc Roh Moo-hyun và lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-il.

Người miền Bắc lên tiếng  

https://www.youtube.com/watch?v=IK4Z1tcO6k8
6 days ago - Uploaded by Vietnam Plus
Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ lên tiếng trước sự vu khốngđàn áp của nhà cầm quyền Việt Nam. Đừng quên đăng ký, like và share ...



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
Xuất khẩu giả tạo để lấy thành tích cho đảng: Việt Nam xuất khẩu trái cây sang Trung Quốc giùm cho Thái! [Đã đọc: 1049 lần]
Quá khiếp sợ Chính quyền CSVN ra lệnh Khách sạn Rex ‘che bản đồ Việt Nam cò Hoàng Sa, Trường Sa’ khi bí thư Sài Gòn tiếp lãnh đạo Trung Quốc [Đã đọc: 941 lần]
Kinh tế TQ sắp sụp đổ [Đã đọc: 940 lần]
Chế độ độc tài chắc chắn sụp đổ [Đã đọc: 747 lần]
Chinh phục thế giới thời đại HCM: Gái mại dâm Việt gia tăng hoạt động ra ngoại quốc [Đã đọc: 670 lần]
Không có chế độ độc tài nào dã man bằng CSVN: Blogger Mẹ Nấm lo ngại an nguy tính mạng của mình trong trại giam - Phim Mẹ Nấm chiếu tại Bongkok gây chấn động [Đã đọc: 637 lần]
Cách làm biểu ngữ bích chương nhanh và rẻ nhất cho chiến dịch biểu tình [Đã đọc: 606 lần]
Chào mừng các bạn đến VN, một tỉnh mới sáp nhập TQ nhờ công ơn bác Hồ và đảng CSVN [Đã đọc: 582 lần]
Tổng thống Trump lại gặp rắc rối vì gái đẹp tố cáo [Đã đọc: 558 lần]
Tại sao lại là Bình Thuận? Công an to mập gốc Hoa dã man đánh thiếu niên Nguyễn Minh Kha và nhiều đồng bào chí tử - Dân phóng hỏa đốt nhà công an ban đêm [Đã đọc: 528 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.