Thật khác hẳn với những gì mà chúng ta đã đọc được trong hầu hết sách báo cộng sản hay tây phương phổ biến từ trước tới nay luôn đề cao tới tình đồng chí đồng rận, sông liền sông núi liền núi giữa hai nước Trung-Việt, mặt thật chỉ là những huyền thoại dõm lấy vải thưa che mắt thiên hạ mà thôi. Ðây là câu chuyện lịch sử bi thảm nhất mà thượng đế đã dành cho số kiếp và thân phận dân tộc Việt, khi khiến cho nước ta phải có chung biên giới với Tàu đời đời luôn khắc sâu trong tim óc ‘ là nhất định phải biến VN thành một quận huyện như chúng đã từng làm không ngơi nghĩ từ mấy ngàn năm về trước.
Một bí mật khác cũng đã được báo chí phổ biến cho biết vào tháng 4-1972 khi Tổng thống Mỹ Nixon tới Bắc Kinh cầu thân với Tàu đỏ, đã bị Mao Trạch Ðông đem công hàm bán đảo, do Hồ Chí Minh và Phạm Văn Ðồng ký năm 1958 làm bằng chứng, để phản đối việc tàu Hoa Kỳ vi phạm lảnh hải quần đảo Hoàng Sa của chúng (?).Còn Kissinger thì xảo quyện hơn, khi viết hồi ký về chuyến đi đó, đã không hề thắc mắc hay nhắc tới một chữ về việc Trung Cộng đòi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng-Trường Sa, dù cả hai đều biết các quần đảo này của VNCH. Từ đó Nixon ra lệnh cho hạm đội 7 tại Thái Bình Dương phải ở ngoài xa hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đúng 12 hải lý như Trung Cộng đã quyết định.
Ngày 11-1-1973 Trung Cộng công khai tuyên bố chủ quyền trên toàn thể các đảo của VN trong biển Ðông. Ngày 26-12-1973 Bắc Kinh bắt đầu thương thuyết việc khai thác dầu-khí tại vịnh Bắc Việt với Ý Ðại Lợi. Tháng 1-1974 giặc Tàu xua hải lục không quân chiếm Hoàng Sa và dù Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã trực tiếp yêu cầu Bộ Quốc Phòng Mỹ giúp nhưng Mỹ lại ra lệnh Hạm Ðội 7 không can thiệp, kể cả cấm vớt các chiến sĩ hải quân VNCH lâm nan trong cuộc hải chiến trên, dù lúc đó hai bên vẫn còn là đồng minh đồng đội.
Xưa nay người Tàu luôn bị ám ảnh về sự lớn mạnh và hợp nhất của nước Việt ở nam phương. Sự thù hận càng thêm nung nấu và chất ngất, trước hai biến cố lịch sử : Tháng 7-1954 VN thoát khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp và 30-4-1975 CSVN cưởng chiếm được Miền Nam VN. Ðó cũng là lý do từ năm 1960, dù là đồng chí nhưng Tàu đỏ đã bố trí hơn 20000 quân dọc theo biên giới Hoa-Lào để canh chừng VC xé rào đi chếch hướng của một tên lính tiền phương đang làm nghĩa vụ XHCN.
Muôn đời Trung Hoa dù ở chế đo nào, phong kiến, quân chủ. dân quốc hay cộng sản.. thì lập trường trước sau cũng vẫn theo đuổi hai chiến lược cố hữu, dành cho sự ổn định và an ninh lảnh thổ của đất nước mình : ‘ Canh chừng bọn Man Di (Mãn, Mông, Hồi, Tạng, Cao Ly, Nga) ở phía Bắc và ra oai trừng phạt hay nuốt chửng các nước nhỏ ở nam phương (Ðại Việt, Lào, Chiêm Thành, Cao Mên, Thái Lan, Miến Ðiện) . Cuối năm 1949 Mao chiếm được Hoa lục, ngoài bộ mặt son phấn cách mạng vô sản đồng môn đồng chí hào nhoáng bên ngoài nhưng thực chất vẫn theo đuổi chính sách thực dân tự ngàn xưa, là phải tìm đủ mọi cách và cơ hội để Hán hóa và chiếm cho được VN, luôn được người Tàu bao đời coi như một đối thủ mạnh nhất trong vùng.
Ngược lại CSVN, ngay từ lúc còn trong trứng nước vào những năm đầu thập niên 30 của thế kỷ XX cho tới giờ thứ 25 hấp hối năm 2009, từ Hồ Chí Minh tới Nguyễn Tấn Dũng và hầu hết các chóp bu đảng, vẫn cứ đời đời biết ơn và luôn giữ sự thờ kính với Trung Cộng. Ðiều này cũng không có gì lạ vì hầu hết các cán bộ lớn nhỏ của cộng đảng VN trước khi sang Liên Xô học hỏi kỹ thuật bán nước giết dân tại Ðông Phương Bộ, đều đã trải qua thời gian huấn luyện quân sự và chính trị tại Hoa Lục. Nói cho tận cùng, Tàu đỏ đã nắm hết lý lịch của tập đoàn lảnh đạo CSVN từ HCM tới Nguyễn Tấn Dũng và lấy đó làm con bài lật ngữa trong canh bạc xì phé. Cho nên còn thằng nào trong đảng ta dám chống lại chúng đểạ thân bại danh liệt ?
Ngày nay nhờ sự bạch hoá của nhiều văn khố trên thế giới và nhất là sự tiết lộ của Tàu đỏ, cho thấy dã tâm của Trung Cộng qua cái gọi là ‘ đồng chí XHCN ‘ thực chất chỉ là lợi dụng xương máu của người VN qua bình phong ‘ sát cánh anh em chung ý thức hệ cộng sản ‘ , để bảo vệ dùm biên giới phía nam của chúng. Năm 1968 sử gia Pháp Francois Joyaux đã dựa vào tài liệu lưu trữ trong văn khố, kết luận sự có mặt lần đầu tiên của Mao tại hội nghị Geneve 1954, đã chứng tỏ sự quan tâm lớn lao tới tình hình Ðông Dương thời đó của Trung Cộng. Còn Paul Mus một học giả Pháp chuyên nghiên cứu về VN, vào năm 1965 đã viết ‘ Sở dĩ Mao nhượng bộ Pháp tại hội nghị Geneve 1954, mục đích cũng chỉ muốn ngăn chận sự thống nhất của VN cũng như không cho CSVN thống trị toàn thể bán đảo này ‘.
Do đó suốt thời gian Bắc Việt xâm lăng VNCH (1960-1975) Trung Cộng luôn luôn tìm đủ mọi cách để cắt nhỏ ba nước Việt, Miên và Lào thành các mảnh vụn. Mãi tới sau tháng 11-1963 khi người Mỹ đã giết được Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, để tự do lèo lái cuộc chiến VN theo ý mình, qua các cuộc dội bom Bắc Việt 1964, ào ạt đổ hơn nữa triệu quân vào năm 1965 giúp VNCH, cuối cùng bỏ chạy vào ngày 30-4-1975 .. Chính các biến cố trên khiéạn cho Trung Cộng lo sợ Mỹ sẽ chiếm Bắc Việt để làm bàn đạp giúp Ðài Loan (lúc đó là Ðồng Minh của Hoa Kỳ) để tấn công mặt nam tái chiếm nước Tàu. Ðây mới là lý do quan trọng nhất để Trung Cộng sẳn sàng hy sinh mọi thứ, chẳng những dồn hết nhân vật lực hổ trợ cho Hà Nội, mà còn ra lệnh cho các đàn em Lào và Cao Miên cho Hồ Chí Minh sử dụng hành lang của hai nước này tại biên giới để Bắc Việt làm đường mòn. chuyển quân trang quân dụng vào xâm lăng VNCH. Tóm lại đời đời Trung Cộng vẫn coi Việt Cộng như là một phương tiện không hơn không kém để đạt cứu cánh của riêng mình.
Mãi tới cuối thập niên 70 , quyền sinh sát toàn dân và non nước Việt vẫn nằm trong tay đảng CS, do một thiểu số ủy viên già nua thất học trong cái gọi là bộ chính trị VC được bầu bán từ năm 1960 gồm HCM, Duẩn, Giáp, Ðồng, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Văn Hoan, Lê Ðức Tho, Trường Chinh.. trong số này Hoàng Văn Hoan và Trường Chinh theo Tàu Ðỏ ra mặt. Sự tranh dành quyền lực đảng sau bức màn đỏ rất quyết liệt sắt máu, giữa hai phe Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ, Nguyễn Chí Thanh và Võ Nguyên Giáp, vì được bưng bít kỹ cho nên người ngoài ít ai biết được. Sinh thời HCM luôn coi trọng Giáp hơn Duẩn nên Dù Duẩn là bí thư thứ I của đảng nhưng vẫn là phó cho Giáp trong quân ủy.
Lúc đầu Duẩn vì có lập trường đối đầu với Giáp nên ngã theo Trung Cộng. Trong thời gian Khrushchev cầm quyền Liên Xô có chủ trương xét lại và chống đối Tàu đỏ, đồng thời ra mặt o bế Giáp đầu đảng phe thân Nga lúc đó, với mục đích chia rẽ nội bộ CSVN. Năm 1967 Khruchchev bị hạ bệ, Duẩn-Thọ vin vào thời cơ để tạo ra vụ án xét lại, loại bỏ gần hết phe đảng của Giáp. Riêng Giáp nhờ có HCM che chở nên được sống già vô tích sự tới ngày nay.
Từ sau tháng 5-1975 mặt nạ ‘ đánh Mỹ cứu nước ‘ của CSVN đã rớt, cũng là lúc kết thúc trò đu dây giữa Nga-Tàu để hưởng lợi. Liên minh Ðông Dương cũng không còn qua sự phá hoại của Trung Cộng, quan hệ Việt-Hoa rạn nứt từ những ân oán cũ mới. Cuối cùng Duẩn bỏ Tàu theo Nga gây nên cuộc chiến long trời lở đất tại biên giới Việt-Miên-Hoa từ năm 1978-1990.
Tháng 3-1985 Gorbachev làm tổng bí thư Liên Xô, phát động chính sách ‘ cởi mở (glasnov) và tái cấu trúc (perestroika) ‘ để cứu vản nền kinh tế của Nga đang trong cơn khủng hoảng vì phải cưu mang quá nhiều ngoại viện cho các nước chư hầu trong đócó CSVN. Ðồng thời, Gorbachev còn nối lại liên hệ với kẻ thù Hoa Kỳ và Trung Cộng. Trong bước đường cùng vì bị cả thế giới bỏ rơi ngoảnh mặt, tháng 8-1986 Hà Nội tuyên bố rút hết quân ra khỏi Kampuchia và muốn nối lại quan hệ ngoại giao với Bắc Kinh. Trường Chinh (tạm thay Lê Duẩn mới chết, làm quyền tổng bí thư) còn gửi điện văn chúc mừng quốc khánh của Tàu đỏ.
Tóm lại sự suy sụp của đế quốc Liên Xô vào năm 1986 cộng thêm cái chết của Lê Duẩn, đã đưa CSVN vào ngõ cụt về ý thực hệ, kinh tế gần như khánh tận, quân sự bị sa lầy tại Kampuchia.. Nên để cứu đảng, cứu thân, bọn chóp bu tại bắc bộ phủ mới được bầu trong đại hội đảng lần thứ VI (Linh, Hùng, Công, Mười, Kiệt..) qua cố vấn của Chinh, Ðồng, Thọ quyết tâm phấn đấu để sớm được trở lại làm đầy tớ cho Tàu. Trong lúc Trung Cộng vẫn công khai xua quân chiếm thêm nhiều đất đai của ta tại biên giới và các đảo thuộc quần đảo Trường Sa của VN vào ngày 16-3-1988 trước sự phản ứng lấy lệ gần như đầu hàng giặc của chóp bu CSVN.
Tháng 4-1989 Trung Cộng dùng xe tăng đại pháo tàn sát dã man sinh viên và dân chúng biểu tình đòi dân chủ tại quảng trường Thiên An Môn (Bắc Kinh). Từ cuối năm 1989-1990, Ðông Ðức, Ðông Âu và đế quốc Sô Viết tan rã, khối XHCN chỉ còn lại Tàu đỏ, Việt Cộng, Bắc Hàn và Cu Ba. Trước nổi chết gần kề, ngày 10-4-1990 bộ chính trị cộng đảng VN họp khẩn để ‘ nhất trí ‘ quyết tâm bằng mọi giá (kể cả bán nước, bán dân) được theo Tàu để bảo vệ XHCH. Và từ đó tới ngày nay (2-2009) , cái giá máu mà dân tộc VN phải đổ ra để CSVN trả nợ cho giặc Tàu là một phần lảnh thổ gồm đất đai, biển, đảo và sự Hán hóa dân tộc Việt của Trung Cộng.
Ðổ Mười, Lê Khả Phiêu, Võ Văn Kiệt, Lê Ðức Anh, Trần Ðức Lương, Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Phan Văn Khải, Nguyễn Tấn Dũng.. đang viết phần cuối trang sử nô lệ giặc Tàu mà Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Hoàng Văn Hoan.. đã đề ra từ năm 1930. VN sẽ trở thành một quận huyện của Trung Hoa như thời Bắc Thuộc. Tất cả đều là sự thật nhục nhã và đau lòng.
Tháng 1-1285 trước sự xâm lăng lần thứ 2 của Mông Cổ, Ðại Ðế Trần Nhân Tôn đã mời các vị bô lảo khắp nước về hội tại điện Diên Hồng (Thăng Long) để hỏi ý kiến nên ‘ hoà hay chiến ‘ với giặc.
- Trước nhục nước nên hoà hay nên chiến ?
- Thế nước yếu lấy gì lo chiến chinh ?
Tất cả đều trả lời ‘ quyết chiến cho dù phải hy sinh tài sản và tính mệnh ‘ để bảo vệ non nước Việt. Sau đó người cả nước đều dùng mực thích vào cánh tay hai chữ ‘ Sát Thát ‘.Nhờ vậy mà nước ta vào thời Trần đã 3 lần chiến thắng giặc Mông Cổ khi chúng sang xâm lăng Ðại việt.
Việt Cộng ngày nay mọi hành động đều lén lút tự chuyện, độc tài quyết đoán. Trong khi đó, trước nhục nước chỉ biết hèn hạ quì lụy cắt đất dâng biên đảo cho Tàu, lập nghĩa trang, xưng tụng đời đời nhớ ơn giặc cướp giết hại đồng bào trong trận chiến biên giới Hoa Việt lần thứ I vào ngày 17-2-1979. Một chế độ bạo ngược tham tàn có một không hai trong dòng Việt sử, thì sớm muộn gì CSVN cũng bị toàn dân giựt xập và tiêu diệt.
Sau ngày 30-4-1975, hằng năm CSVN đều tổ chức ăn mừng ‘ chiến thắng Tết Mậu Thân 1968 ‘ và ‘ đại thắng mùa xuân 1975 ‘ . Nhưng tuyệt đối không nhắc tới một chữ về những đau thương trầm thống mà giặc Tàu đã gây cho Nước Việt và Ðồng Bào Việt trong cuộc chiến biên giới Hoa-Việt khởi sự từ ngày 17-2-1979 và kéo dài tới đầu thập niên 1990 mới tạm dứt sau khi toàn bộ chóp bu VC đầu hàng Tàu đỏ.
Ðã vậy VC còn công khai khinh thường và hạ nhục cả nước, khi đảng cùng với Trung Cộng rầm rộ tổ chức ăn mừng đã hoàn thành việc cắm mốc biên giói Việt-Trung tại Ải Nam Quan vào ngày 24-2-2009. Biên bản do Nguyễn tấn Dũng ký vào cuối năm 2008 nhưng đã tuyệt tích vì bị đảng ém nhẹm nên người dân không biết đâu mà mò.
1- HỒ CHÍ MINH RƯỚC GIẶC TÀU VỀ DẦY MÃ TỔ HỒNG LẠC :
Vừa cướp được chính quyền vào tháng 9-1945, Hồ Chí Minh và đồng đảng đã thực hiện ngay bước đầu lừa đảo dân tộc và thế giới bằng xảo thuật đưa quân Pháp (mới vào Sài Gòn thay quân Anh-Ấn) ra Bắc thế chân quân Trung Hoa đang giải giới quân Nhật tại đây. Như Trường Chính lúc đó là nhân vật thứ 2 trong cộng đảng VN sau HCM đã viết ‘ Pháp ra Bắc thế quân Trung Hoa của tướng Lư Hán về nước là mối lợi lớn cho đảng ta, rãnh tay tiêu diệt các đảng phái và lực lượng quân sự của Người Việt Quốc Gia. Pháp ra Bắc tất nhiên phải ký kết và điều đình với đảng ta. Ðó là một công nhận và thắng lợi quốc tế. Pháp tới đây không sớm thì muộn cũng gây hấn và tấn chiếm lại miền Bắc. Ðây là cơ hội để đảng ta đoạt quyền lảnh đạo cả nước trong Mặt Trận Việt Minh chống Tây, mộr cách danh chánh ngôn thuận ‘.
Và mọi thu xếp được trôi chảy như kế hoạch của Hồ. Ngày 6-3-1946 Việt Minh và Pháp ký hiệp ước Sơ Bộ, theo đó Pháp thừa nhân nước VN Dân Chủ Cộng Hòa của Hồ và đảng CS. Ngày 18-3-1946 quân Pháp của tướng Leclerc vào Hà Nội với sự tiếp đón mừng rở thắng lợi của tập đoàn HCM trong bước đầu ‘ rước quân Pháp vào đất Bắc để dầy Mã Tổ Hồng Lac ‘.Một bi thảm của lịch sử trong giai đoạn này chứng tỏ tính ưu việt của đảng Hồ, chỉ biết ‘ khôn nhà dại chợ ‘ trong khi thẳng tay bắn giết người Việt QG và để mặc cho Pháp tiến chiếm hết miền Bắc. Cuối cùng ngày 19-12-1946 bùng nổ cuộc chiến Ðông Dương lần thứ I (1946-1954) . Ðây là một cuộc chiến mà theo nhận định của hầu hết các sử gia trên thế giới kể cả Pháp, đều cho là không cần thiết, trước phong trào giải phóng các dân tộc nhược tiểu, sau khi thế chiến II kết thúc (1939-1945) đang nở rộ khắp hoàn cầu. Tại Châu Á, các thuộc điạ của Anh, Hòa Lan, Hoa Kỳ như Ấn Ðộ, Miến Ðiện, Mã Lai, Singapore, Nam Dương, Phi Luật Tân.. không tốn một giọt máu hay viên đạn, cũng đã được độc lập.
+ Ðảng Hồ Rước Tàu Ðỏ Vào VN Trong Cuộc Chiến Ðông Dương Lần Thứ I :
Sau khi quan hệ ngoại giao Việt-Hoa trở nên xấu từ năm 1976, thi VC đã công bố cái gọi là ‘ Bạch Thư ‘ để gọi là ‘ vạch trần âm mưu bộ mặt phản động của bọn bành trướng Bắc Kinh ‘.VC viết rằng ‘ Tàu đỏ phải tham chiến tại VN vì mối nguy cơ ở mạn Nam do cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp gây ra’. Nhưng cuối cùng VC vẫn không bao giờ dám quên ơn của Trung Cộng đã cung cáp vũ khí và quân trang dụng cho Việt Minh đạt được chiến thắng tại Ðiện Biên Phủ vào năm 1954.
Ngay từ tháng giêng năm 1949, nhìn rõ được chiến thắng gần kề của Mao tại Hoa Lục, nên HCM đã triệu tập Hội nghị trung ương lần thứ 6, để chuẩn bị đón quân Trung Cộng sắp tới biên giới Hoa-Việt. Do đó không ai ngạc nhiên khi thấy Tàu đỏ là nước đầu công nhận chính phủ của đảng Hồ vào ngày 10-1-1950.
Rồi tức khắc Hồ bí mật sang Tàu cầu viện và được Mao thỏa mãn đủ mọi thứ theo đơn xin. Nên từ đó (1950) tới ngày nay, liên tiếp bao chục năm HCM cũng như đảng cộng, phải đời đời nhớ ơn Tàu đỏ, coi ngày 10-1 như là một trong những quốc lễ trọng đại, đánh dấu bước đầu tiên Hồ rước voi Tàu về dầy mã Việt.
Nhưng để nhận được viện trợ, HCM đã phải ký với TC một thỏa ước đầu tiên về quân sự, đổi lai Mao cho Hồ tức khắc không cần hoàn trả ‘ 150.000 vủ khí lấy được của Nhật và 10.000 súng carbin M-1 do Mỹ chế tạo. Tuy nhiên không có của nào là của cho không, nhất là với đàn anh Tàu đỏ, đòi hỏi HCM phải giúp Trung Cộng quét sạch biên giới Hoa Việt để tiêu trừ dùm Mao, số tàn quân của Tưởng Giới Thạch còn trong rừng nuí ‘ Thập Vạn Ðại Sơn ‘ thuộc tỉnh Quảng Tây. Ðây là lịnh truyền nên Hồ phải tức tốc điều động hơn 20.000 bộ đội Việt Minh sang hành quân giúp Tàu đỏ, được che đậy bằng hình thức ‘ huấn luyện quân sự ‘.
Ðồng thời Mao cử tướng Trần Canh cầm đầu một phái bộ quân sự Tàu đỏ đông đảo tới tổng hành dinh của Việt Minh tại Việt Bắc, để trực tiếp chỉ đạo guồng máy chiến tranh ‘ Việt-Pháp ‘.Sau đó có thêm Vi Quốc Thanh cầm đầu đoàn ‘ cố vấn quân sự ‘ và Lã Quý Ba cầm đầu đoàn ‘ cố vấn chính trị ‘ . Tóm lại qua sự hiện diện đông đảo của cố vấn Tàu và nhiều cán bộ VC từng hoạt động chung với Hồ tại miền Nam Hoa Lục trước đây nên rất thông thạo tiếng Tàu. Tất cả làm thành một mạn lưới chằng chịt ‘ theo Tàu ‘ trực tiếp lãnh đạo CSVN.
Do đó vào tháng 5-1950, HCM đã ra chỉ thị đặt Liên Khu Ủy Việt Bắc dưới quyền điều động của các cố vấn Trung Cộng. Thật ra không phải đợi tới khi Mao chiếm được Hoa Lục mới giúp đở VM mà là hai bên đã có quan hệ từ trước . Tháng 8-1946 Tàu đỏ cho cán bộ tuyên vận sang giúp Hồ làm công tác tuyên truyền trong giới Hoa kiều sinh sống tại VN. Năm 1947, Mao thành lập đội quân hơn 5000 người hoạt động tại biên giới Hoa Việt, giúp đào tạo cán bộ Việt Minh. Mao còn giúp Hồ mở một cơ sở thương mại tại Vọng Các (Thái Lan) đã đóng cửa năm 1950 khi chuyển về Rangoon (Miến Ðiện), để trực tiếp mua vũ khí Mỹ qua trung gian của Anh và Thái Lan. Số súng đạn này sau đóđược gửi bằng tàu thủy tới Bắc Việt. Ðây là nguồn vũ khí quan trọng mà Việt Minh đã sử sụng trong thời kỳ 1947-1950, trước khi Hồ chính thức sang cầu viện Trung Cộng.
Tháng 6-1950 qua lệnh truyền của toàn quyền Tàu đỏ là Vi Quốc Thanh, bộ đội Việt Minh dưới quyền Võ Nguyên Giáp mở chiến dịch biên giới Việt-Hoa, kéo dài từ đông sang tây hơn 300 km. Ðây là thâm ý của Trung Cộng lợi dụng chuyển vận quân dụng tiếp tế cho VM để bắt HCM bỏ ngỏ biên giới Hoa Việt khi quân Pháp rút khỏi Cao Bằng. Từ đó Tàu đỏ tự tung tự tác, lần hồi xua người vào VN và lấn đất, coi hai nước Hoa-Việt chỉ là một, dưới quyền lảnh đạo của Mao Trạch Ðông.
Trước thất bại nhanh chóng của quân Pháp ở Bắc Kỳ và sự bành trướng xuống Nam Phương một cách ồ ạt lộ liễu của Trung Cộng, bó buộc Mỹ phải nhảy vào vòng chiến bằng cách viện trợ quân sự cho Pháp và Chính phủ Bảo Ðại vào ngày 23-12-1950. Cuộc chiến VN giữa VM và Pháp, bắt đầu từ năm 1951 về sau có thêm TC, Liên Xô, Ðông Âu, Hoa Kỳ tham dự, đã trở thành sự đuơng đầu giữa hai khối Ðông-Tây, nên các sử gia mới gọi là cuộc chiến Ðông Dương lần thứ I (1946-1954).
Ðầu Hè 1951, TC lại ký thêm với HCM tại Nam Ninh (Quảng Tây) một thỏa ước mới về viện trợ quân sự. Và nơi này đã trở thành một căn cứ tiếp nhận quân viện lớn nhất của VM. Hàng hóa được chuyển bằng xe lửa và xe ô tô tới Việt Bắc liên tục ngày đêm không dứt. Nhưng từ năm 1952, hai bên TC và HCM bắt đầu ký cái gọi là Hiệp Ứớc Trao Ðổi Hàng Hóa. Theo đó TC cho VM súng đạn, quân trang dụng và HCM trả lại bằng Lâm Sản (các loại gổ quý) cùng các sản phẩm Nông Nghiệp kể cả thuốc phiện sản xuất tại Lào và Bắc Việt.
Từ năm 1953 TC và Việt Minh đã tiếp cận tại biên giới Việt Hoa từ Hải Ninh tới Thượng Lào. Do đó quân viện càng thêm dễ dàng, mỗi tháng VM nhận từ 3000 - 5000 tấn viện trợ, kể cả các loại súng đại bác và xe vận tải. Nhiều ngàn cố vấn và quân sĩ Hồng quân được gởi tới chiến đấu bên cạnh bộ đội VM gồm đủ quân binh chủng. Chính Hoàng Văn Hoan là người trực tiếp chịu trách nhiệm việc nhận lảnh tiếp liệu cũng như thương thuyết với TC về quân viện.
Ðầu tháng 12-1953 VM lập đảng ủy và bộ chỉ huy mặt trận Ðiện Biên Phủ do Võ Nguyên Giáp chỉ huy nhưng dưới quyền của Vi Quốc Thanh, cố vấn quân sự của TC. Ðây là một thung lũng ở phía tây Bắc Việt sát biên giới Lào, cách Hà Nội 300 km. Trận chiến tại đây đã chính thức bùng nổ vào ngày 13-3-1954. Theo kế hoạch VM sẽ tấn công Pháp vào ngày 25-1-1954 nhưng Vi Quốc Thanh nói Giáp đã có nhiều khuyết điểm khi bố trí trận địa nên bắt HCM ra lệnh đình chỉ cuộc tấn công. Kể từ đó binh quyền hoàn toàn nằm trong tay Thanh và TC đã thay đổi toàn bộ kế hoạch trước kia của Giáp. Tóm lại Tàu đỏ đã dùng chiến thuật đè người, sử dụng tới 50.000 quân tham chiến + 25.000 trừ bị, áo đảo 13.000 quân Pháp cố thủ trong căn cứ, thật sự chỉ có nữa quân số tác chiến được. Sau 55 ngày đêm giao tranh đẳm máu, đúng 17 giơ 30 ngày 7-5-1954 Ðiện Biên Phủ thất thủ, tướng De Castries và toàn bộ tham mưu đầu hàng, 13.000 quân lớp chết, số còn lại bị bắt làm tù binh.
Ngày 20-7-1954 hiệp định đình chiến Geneve được ký kết giữa Pháp và VM, có sự tham dự của Nga, Anh và TC. Riêng Hoa Kỳ không ký vào bản hiệp ước. Theo đó VN bị chia thành 2 miền Nam-Bắc lấy con sông Bến Hải (Quảng Trị) tại vĩ tuyến 17 làm giới tuyến. Ngày 10-10-1954 bộ đội VM tiếp thu Hà Nội, quân Pháp và các lực lượng thuộc Quân Ðội QGVN rút về Nam.
Sau khi VC cưởng chiếm được toàn thể Miền Nam VN vào ngày 30-4-1975 cũng là lúc tình đồng chí đồng rận giữa TC và VC rạn nứt không hàn gắn được. Thế là mọi chuyện được che dấu từ lâu, bị hai phía moi ra bôi bác cho thiên hạ biết. Nhờ vậy cả nước mới sáng mắt ra ‘ chính HCM và cộng đảng từ năm 1949 đã rước voi Tàu về dầy mã Việt ‘.
+ Hồ Lại Rước Tàu Ðỏ Vào VN Trong Cuộc Chiến Ðông Dương Lần thứ II (1960-1975) :
Sau ngày chia đôi VN tại vĩ tuyến 17 (20-7-1954), Mỹ thay Pháp đổ quân vào VN nói là để ngăn chặn Tàu đỏ đang tiến xuống phương Nam. Từ đó VNCH trở thành tiền đồn chống Cộng tại Ðông Nam Á. Ngày 8-9-1954 Mỹ thành lập tại Manila (Phi Luật Tân) Tổ chức Minh ước Liên Phòng Ðông Nam Á viết tắt là SEATO gồm Mỹ, Anh, Pháp, Úc, Tân Tây Lan, Hồi Quốc, Thái Lan và Phi Luật Tân, bao gồm VNCH, Lào và Kampuchia. Ngày 7-7-1954 nội các Ngô Ðình Diệm được thành lập. Ngày 23-10-1955 qua cuộc trưng cầu dân ý, Thủ tướng Diệm trở thành vị Tổng Thống đầu tiên của nền Ðệ I Cộng Hòa Miền Nam, thay thế Quốc trưởng Bảo Ðại bị truất quyền. Quân đội QGVN cũng chính thức trở thành QLVNCH trong sứ mệnh giải giới và tiểu trừ các lực lượng Bình Xuyên (Bảy Viển), Cao Ðài, Hòa Hảo và Việt Cộng.
Giai đoạn này, sỡ dĩ HCM phải đình hoản kế hoạch xâm lăng VNCH, chỉ vì miền Bắc đang biến loạn về vụ tàn sát đồng bào trong chiến dịch cải cách ruộng đất vào năm 1955-1956 với gần nữa triệu người dân vô tội, đều là các nạn nhân thảm tuyệt của các cuộc đấu tố trên. Trong khi đó tại miền Nam trong thời gian 1956-1959, Chánh phủ Ngô Ðình Diệm được đánh giá là thành công mọi mặt, kể cả vấn đề an ninh gần như khắp lảnh thổ VNCH.
Cuối năm 1958 Lê Duẩn từ Nam ra Bắc báo cáo tình hình nên HCM đã mở hội nghị TUÐ lần thứ 15 quyết tâm xăm lăng để cưởng chiếm miền Nam VN bằng vũ lực. Chiến cuộc Ðông Dương lần thứ 2 (1960-1975) được mở đầu bằng cái gọi là ‘ Ðồng Khởi ‘ tại Trà Bồng (Quảng Ngãi) và Mõ Cầy (Bến Tre). Ngày 6-1-1961 tổng bí thư Liên Xô Nikita Khrushchev phát pháo cuộc chiến tranh giải phóng toàn cầu, CSVN chính là tên lính xung kích mở màn cho cuộc chiến xâm lăng VNCH qua bình phong Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.
Và chiến tranh lan rộng, CS Bắc Việt tiến hành các hoạt động khủng bố giết hại đồng bào vô tội, mục đích bắt VNCH phải phản ứng, để vin vào đó chụp mũ Chính quyền Ngô Ðình Diệm không chịu thực thi tổng tuyển cử theo hiệp định Geneve 1954.. nên người miền Nam (MTGPMN) phải đứng lên chống lại. Rồi chế độ gia đình trị của nhà Ngô đã được Hà Nội lợi dụng để xuí gịuc một sốÔ trí thức Miền Nam vốn đã bất mản chế độ ngay từ trước, đứng lên phản đối, làm sụp đổ nền đệ I Cộng Hòa Miền Nam vào ngày 1-11-1963.
Ngày 8-3-1965 Lữ đoàn 9 TQLC là đơn vị bộ binh tác chiến đầu tiên của Mỹ, đổ bộ vào Ðà Nẳng và tăng lên tới 184.000 quân vào cuối năm 1965. Từ đó tới cuối năm 1969 có hơn nữa triệu quân Mỹ và Ðồng Minh tham chiến tại VN. Theo P.Lowe. Ed trong ‘ The Vietnam War ‘ và C.Jian viết ‘ China and the Vietnam Wars 1950-1975 ‘ được Trung Cộng phổ biến gần đây cho biết, cùng thời gian Mỹ đổ quân vào VNCH thì quân Tàu đỏ cũng dồn dập tuôn vào đất Bắc theo thỉnh cầu của Hồ Chí Minh với Mao Trạch Ðông ngày 16-5-1965. Và từ đó tới cuối năm 1968 đã có 7 sư đoàn công binh và 16 sư đoàn (63 trung đoàn) pháo binh phòng không Hồng quân, lo việc phòng thủ đất Bắc từ Thanh Hóa tơí biên giới Hoa-Việt. Quân TC còn đóng tại khu mỏ Quảng Ninh, vùng tự trị Bắc và Tây Bắc Việt cũng như tại Yên Sở phía nam Hà Nội.
Tóm lại từ giữa năm 1965 tới cuối năm 1968, TC đã gửi 320.000 bộ đội, công nhân và các chuyên viên kỹ thuật đủ mọi ngành tới quân viện cho Hà nội theo thỉnh cầu của HCM. Ðây không phải là một nghĩa vụ nhiệt thành sử dụng đấu tranh quân sự giúp Bắc Việt thống nhất hai miền Nam-Bắc VN. Thực chất là một sự lợi dụng máu xương người Việt của Tàu Ðỏ qua CS Bắc Việt được coi như là một phương tiện ‘ xác người ‘, để đẩy người Mỹ ra khỏi Lào và VNCH. Ý đồ trên đã do chính miệng Thủ tướng TC Chu Ân Lai tuyên bố với Tổng thống Ai Cập Gamal Addel Nasser vào tháng 6-1965 tại thủ đô Cairo của Ai Cập ‘ quân viện cho Hà Nội để ngăn ngừa Hoa Kỳ tấn công bằng nguyên tử vào Hoa lục..’’
Và để cho Mỹ càng lún sâu và đổ máu thêm nhiều tại chiến trường Ðông Dương, tạo an toàn vững chắc cho biên giới phía Nam Trung Hoa, Mao Trạch Ðông đã hào phóng cấp cho Hồ hơn 30.000 xe vận tải Molotova để chuyển vận hơn 10.000 tấn quân trạng dụng xuyên đường mòn trường Sơn Ðông và Tây tới chiến trưồng miền Nam. Ngoài ra Mao còn chỉ thị cho Sihanouk phải mở rộng các hải cảng của Kapuchia để tàu của Trung Cộng đổ vũ khí, thực phẩm, quân trang dụng tiếp tế cho VC.
Nhưng từ đầu năm 1968 tình đồng chí đồng rận giữa Tàu đỏ và Việt Cộng đã bắt đầu rạn nứt vì Hà Nội không muốn Bắc Kinh xen vào nội bộ hai nước Lào và Kampuchia, lúc đó gần như là chư hầu của VC. Còn Trung Cộng thì cấm CSVN liên hệ trực tiếp với Mỹ. Cũng vì vậy mà Mao đã ra lệnh triệt thoái hết Hồng quân về nước vào tháng 3-1969. Cùng là đại bịp được đào tạo chung lò XHCN nên Tàu đỏ đâu có lạ gì thói hư tật xấu của đồng bọn. Vì vậy ngay thời đó, Trung Cộng đã làm một con đường chiến lược từ Vân Nam tới Bắc Lào và để 20.000 quân chiếm đóng có nhiều đơn vị pháo binh phòng không yểm trợ.
Ðạo quân này ngoài danh nghĩa là phòng vệ biên giới phía Nam Trung Hoa đề phòng sự tấn công của Hoa Kỳ, mà có ý đồ chính là để quân bình cán cân lực lượng quân sự với CSVN ở Lào. Năm 1974, Chu Ân Lai đã nói thẳng với Kissinger rằng ‘ quân Trung Cộng hiện diện tại Lào với mục đích cầm chân CSVN thống trị toàn cõi Ðông Dương ‘.Nhưng Hà Nội đã phá vở kế hoạch trên của TC qua việc ám sát các lãnh tụ Pathet Lào thân Tàu đỏ. Và cũng nhờ biến cố Sihanouk bị đảo chánh năm 1970 tại Kampuchia, mà tình đồng chí đồng rận giữa ba đảng CS tại Ðông Dương được hợp tác lại cho tới tháng 5-1975 mới tan rã.
Và Nga đã không bỏ lỡ cơ hội nhảy vào trám chổ của TC, gia tăng quân viện giúp CS Bắc Việt tạo thêm áp lực mạnh về quân sự tại Nam VN, để chiếm ưu thế chính trị trên bàn hội nghị đang tiếp diễn và kết thúc tại Ba Lê vào tháng 1-1973 với kết quả ‘ Mỹ rút hết quân về nước để đổi lấy sự tái đắc cử Tổng thống kỳ 2 của Nixon. Quân CS Bắc Việt được Mỹ cho phép ở lại Nam VN để tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược’.
Lúc đó chiến thắng của QLVNCH gần kề thì người Mỹ vì quyền lợi riêng tư đã phá vở bằng những điều khoản vô lý ký kết với Bắc Việt trong cái được gọi là ‘ hiệp định ngưng bắn tai VN năm 1973 ‘.Cũng từ đó, VNCH tứ bề thọ địch với nội thù khắp mọi nơi kể cả chốn hậu phương. Tàu đỏ nhân cơ hội này, đã công khai bành trướng tham vọng chiếm đất đai của dân tộc Việt, mà khởi đầu là Quần Ðảo Hoàng Sa ngoài Ðông Hải vào ngày 19-1-1974. Hải Quân VNCH đã chiến đấu can trường gây rất nhiều tổn thất cho Tàu đỏ nhưng cuối cùng vì thân phận nghiệt ngã của nước nhược tiểu nên phải đành bỏ mất một phần quê hương cho giặc .
Rồi Tổng thống Nixon phải từ chức vào ngày 9-8-1974 vì vụ Watergate nhưng nội bộ nước Mỹ cũng vẫn nát bấy như tương Tàu vì sự mâu thuẩn càng lúc càng trầm trọng của cuộc chiến VN. Ngày 24-9-1974 lưởng viện quốc hội Mỷ biểu quyết ngân sách quân viện cho VNCH tài khóa năm 1975 chỉ còn 700 triệu Mỹ kim, khiến cho tiềm lực chiến đấu của Miên Nam VN bị hạn chế vì đa số phi cơ, tàu thuyền, trọng pháo trở thành bất khiển dụng vì thiếu cơ phận thay thế. Nên sự thất bại của VNCH vào trưa ngày 30-4-1975 trước cuộc xâm lược của Cộng Sản Ðệ Tam Quốc Tế không làm sao tránh được dù sớm hay muộn cũng thế thôi, vì đólà hệ quã được tích tụ bởi ba yếu tố : ‘ giai cấp lãnh đạo trung ương bất tài, thái độ lừng khừng vô trách nhiệm của người dân hậu phương và chính sách con buôn của đồng minh Mỹ ‘.
Sau này qua các tài liệu được giải mật, chúng ta mới thấy rõ chủ đích của Kissinger khi soạn thảo hiệp định tháng 1-1973. Như lời Chu Ấn Lai đã nói với đại sứ Pháp tại Bắc Kinh Etienne Manac ‘h vào đầu năm 1973 rằng ‘ hiệp định Paris tháng 1-1973 có mục đích chống lại bá quyền của CSVN tại Ðông Dương ‘.Chính TC đã đòi hỏi Kissinger phải tạo điều khoản 20 trong hiệp định, là phải rút hết quân ngoại quốc ra khỏi lảnh thổ Lào và Kampuchia. Trong lúc đó Mỹ lại nhượng bộ, để bộ đội Bắc Việt ở lại Nam VN.
Trung Cộng còn thọc gậy bánh xe gây chia rẽ nội bộ giữa Bắc Việt và cái gọi là Mặt Trận GPMN bằng cách trực tiếp viện trợ quân trang dụng và tiền cho Mặt Trận qua ngã Cao Mên vì từ đầu năm 1968, tình đồng chí giữa Tàu đỏ và Hà Nội đã rạn nứt. Và đó là lý do trong trận tổng công kích Tết Mậu Thân (1968), Bắc Bộ Phủ đã tìm đủ mọi cách nướng hết VC miền Nam và lùa chuột ra khỏi hang ổ, để Mỹ và QLVNCH tiêu diệt. Sau đó mới đem cán binh miền Bắc vào thay thế để nắm trọn quyền chủ động trong cuộc chiến xâm lược.
Cuối cùng sự kiện CSVN từ sau tháng 5-1975 qua Lê Duẩn, đã liên hệ chặt chẽ với Liên Xô lúc đó là kẻ thù không đội trời chung với Tàu đỏ, tạo ra mối đe dọa trực tiếp mà Bắc Kinh chưa hề nghĩ tới từ năm 1949-1975. Năm 1972 Mao nối được liên hệ ngoại giao với Hoa Kỳ, tạm thời bới được mối lo Mỹ lăm le nhảy vào Châu Á. Cuối năm 1978 trước khi xua quân xâm lược VN, Ðặng Tiểu Bình đã sang Hoa Thịnh Ðốn thỉnh ý ‘ thiên triều ‘ sau đó mới quyết định dep ‘ con chồn CSVN ‘ qua trận chiến biên giới Việt-Hoa ngày 17-2-1979, để bẻ bớt nanh vuốt của con gấu Nga luôn đe dọa biên giới phía đông-đông bắc của nước Tàu.
Trong giòng lịch sử dựng và giữ nước, dân tộc Việt chỉ được yên ổn khi Trung Hoa bị suy yếu vì nội loạn và sự đe dọa của các dân tộc ở phía Bắc. Hằng ngàn năm qua, tư tưởng bảo thủ của Tàu chẳng có gì thay đổi, nhất là trong giai đoạn hiện tại, nước Tàu đang hùng mạnh giàu có, nên luôn nuôi mộng ảo bá chủ thế giới, mà VN là nạn nhân đầu tiên bị xóa tên trên bản đồ thế giới khi chiến tranh bùng nổ.
2 ố Toàn Cảnh Bức Tranh Bán Nước Cho Giặc Tàu Của Cộng Ðảng VN Từ 1986-2009 :
Do những điều kiện nghiệt ngã về địa dư và lịch sử, mà bao đời VN vẫn coi việc chống giặc Tàu như một thứ tôn giáo trong nhân sinh quan của người Việt. Có thể nói nước Việt tồn tại bao nhiêu năm cũng là bấy nhiêu năm đấu tranh máu lệ với giặc Tàu để giành giựt sự sinh tồn. Chiến tranh đối với dân tộc Việt là cuộc đổ máu vì lý tưởng và bổn phận. Chiến tranh là cơ hội để tồn vong trước sự xâm lược của ngoại bang. Nên đối với giặc Tàu chỉ có chiến tranh ‘ ăn miếng trả miếng ‘ mới làm chúng chùm bước xâm lược VN như lịch sử đã minh chứng.
Ðại Ðế Quang Trung sau khi đánh đuổi mấy chục vạn quân Thanh ra khỏi bờ cõi Việt vào mùa xuân năm Ất Dậu (1789) đã viết thư gửi vua Càn Long với đại ý ‘ sử dụng binh đao vốn là điều bất đắc dĩ của thánh hiền ‘ cho thấy người Việt không phải là một dân tộc hiếu chiến hiếu sát. Vì vậy dù ‘ vẫn sẳn sàng đánh trả nhưng khi thắng trận đã muốn cầu hoà ‘ chứng tỏ tinh thần hiếu hiền tự chế của người Việt, thắng không vênh váo kiêu căng, còn bại không hèn hạ cúi đầu khuất phục trước kẻ thù.
Nhưng CSVN thì trái lại chỉ biết ‘ khôn nhà dại chợ ‘, chỉ biết giết hại đồng bào để tranh quyền đoạt lợi. Ðến khi non nước nguy biến trước sự xâm lược của ngoại bang, thì cả lũ lớn bé lại kéo sang Tàu, để dâng đất bán biển cho kẻ thù. Tất cả toàn cảnh bức tranh ‘ bán nước ‘ của bè nhóm lảnh đạo VC sau bức màn nhung đẳm máu, giờ đã được phơi bày trước sự khinh bĩ của cả thế giới và người dân trong ngoài nước. Sự kiện Lê Khả Phiêu khoe giàu sang tột đỉnh hay VC xây mồ yên mã đẹp và ca tụng công đức của giặc Tàu hoặc hành động điên rồ của Nguyễn tấn Dủng khi công khai cỏng giặc Tàu vào tận miền Nam Cao nguyên Trung Phần, đã minh chứng giờ thứ 25 của những con thú điên cố vùng vẫy gở gạc trước khi đền tội.
Sau khi Lê Duẩn chết, dù phe đảng của Lê Ðức Thọ đang mạnh nhung vì lúc đóđảng cần phải quay lại với Trung Cộng để sống còn. Bởi vậy Trường Chinh thuộc phe thân Tàu, được tạm thời làm tổng bí thư thay Duẩn vào ngày 14-7-1986 theo lệnh của Nga Sô.
Tháng 12-1986 đại hội VI được triệu tập, bầu Nguyễn Văn Linh (Mười Cúc) làm tổng bí thư, Phạm Hùng là thủ tướng (Kiệt thay khi Hùng chết năm 1987 sau đó là Ðổ Mười từ tháng 6-188) và Võ Chí Công chủ tịch nhà nước. Riêng Chinh, Ðồng và Lê Ðức Thọ đều về hưu nhưng vẫn giự chức ‘ cố vấn tối cao ‘ trong đảng và bộ chính trị, còn Lê Ðức Anh làm bộ trưởng quốc phòng. Năm 1989 TC tàn sát dã man sinh viên và đồng bào tại Thiên An Môn được coi như kim chỉ nam để đảng CSVN rập khuông theo đường lối cứng rắn và đàn áp chính trị.
Từ đây các chóp bu trong đảng quyết tâm bằng mọi cách kể cả ‘ nhường đất bán biển, chấp thuận Han hóa, mở khẩu xoá làn ranh biên giới cho giặc ‘ để được trở lại làm chư hầu cho Tàu đỏ. Và để chứng minh sự thành tâm sám hối, trong đại hội VI 1986 , đảng đã nghị quyết ‘ đổi mới tư duy ‘ là việc ra lệnh bỏ câu ‘ Trung Cộng là kẻ thù trực tiếp và là kẻ thù nguy hiểm nhất ‘ trong lời mở đầu của Ðiều Lệ Ðảng. Dịp này, các tên giáo gian và nằm vùng tại VNCH trước tháng 5-1975 như Phan Khắc từ, Thích Minh Châu, mụ Ngô Bá Thành được đảng cho vào làm nghị gật tại quốc hội bù nhìn. Còn Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn thị Ðịnh cũng được mang hàm phó chủ tịch nhà nước ngồi chơi xơi nước, không khác gì những hình nộm, mặt nạ hay các món trang sức rẽ mạt.
Ðại hội VI (1986-1991) ngoài thành tích đổi mới kinh tế theo định hướng XHCH để tạo thêm đặc quyền đặc lợi cho cán bộ, bộ đội, công an và tư bản đỏ làm giàu thêm nhờ than nhũng và ăn cắp của công. Tháng 7-1987 hội nghị trung ương đảng họp và ban hành nghị quyết số 2 cấm ‘ QUÂN ÐỘI NHÂN DÂN VN KHÔNG ÐƯỢC ÐỤNG CHẠM VỚI QUÂN TÀU ÐỎ ‘.Lệnh này được giữ kín mãi tới ngày 28-1-1990 báo Nhân Dân mới đăng tải.
Từ năm 1988, tình đồng chí giữa VC và Nga Sô, Ðông Âu càng trở nên khó khăn vì tiền viện trợ đã bị cắt giảm. Trong lúc cuộc đổi mới kinh tế mới vừa chập chững, mức sản xuạt lương thực trì trệ khiến nạn thất nghiệp càng gia tăng vì Hà Nội cắt giảm quân số. Thừa nước đục thả câu, Tàu đỏ đánh bồi thêm để cho VC phải quì gối cúi đầu xin xõ làm lãi đầy tớ cho chúng.Từ 14-16/3/1988 Tàu đỏ tấn chiếm đảo Fiery Cross trong quần đảo Trường Sa đang thuộc chủ quyền VN. Trận hải chiến đã khiến cho 77 bộ đội chết thảm, trước sự bất lực của đảng và không một lời phản ứng của Nga Sô cũng như LHQ.
Sau vụ thảm sát Thiên An Môn 1989, Tàu đỏ bị cả thế giới lên án nặng nề, do đó mới chịu quay lưng nhận lại thằng đầy tớ phản chủ lật lọng là CSVN. Tình hình khối XHCH càng biến động thảm thê vào những tháng cuối 1989-1990 qua sự tan rã của CS Ðông Âu, Ðông Ðức và đế quốc Sô Viết. Hầu hết những tên đầu sỏ khát máu độc tài bán nước hại dân như Honecker (Ðông Ðức), Husack (Tiệp Khắc), Ceauscescu (Lỗ Mả Ni) .. kẻ vs3o tù, người bị treo cổ đền tội.
Những biến cố chết người kể trên làm giao động hốt hoảng tới đứng tim bọn chóp bu lớn nhỏ trong đảng VC, nên đảng đã hop khẩn ngày 10-4-1990 với Nguyễn Văn Linh, Lê Ðức Anh, Ðào DuyTùng, Ðồng Sĩ Nguyên.. đều nhất trí kết tội Mỹ đã gây ra ‘ diễn biến Hòa bình ‘ làm sụp đổ Ðông Âu, Ðông Ðức và Sô Viết. Do đóđảng nghị quyết về nhu cầu cấp bách phải ‘ THEO TÀU ‘ để cứu nguy cho XHCN, bất chấp những lời khuyến cáo như ‘ TC chỉ lấy lợi ích của dân tộc mình là chính, chứ chẳng bao giờ thèm nghĩ tới tình đồng chí XHCN’. Bởi vậy dù VN có muốn hòa hoản thì chỉ là ảo tưởng mà thôi, đối với một láng giềng trước sau chỉ muốn tiêu diệt dân tộc Việt .
Tóm lại dù Tàu đỏ đã thẳng tay tàn sát cũng như tàn phá đất nước VN trong trận chiến biên giới Việt-Hoa ngày 17-2-1979 và liên tiếp những năm sau đó. Tại Biển Ðông, TC cướp chiếm Hoàng Sa và nhiều đảo khác thuộc quần đảo Trường Sa của VN qua trận hải chiến năm 1988. Nhưng mai mĩa thay khi Lê Ðức Anh được cử làm bộ trưởng quốc phòng tại tại hội VI, đã đem ‘ quân đội nhân dân VC ‘ đầu hàng Tàu đỏ, mặc dù lúc đó sự giao hảo giữa hai nước vẫn chưa thông. Anh còn bắt xuạt bản cuốn từ điển Việt-Hoa để bộ đội ‘ cu’ học .
Trong lúc Tàu đỏ gặp nhiều khó khăn quốc tế sau vụ tàn sát Thiên An Môn, các chóp bu VC đã không biết vin vào thời cơ này để lấy lại thế quân bình ngoại giao và uy tín của quốc gia. Trái lại bọn đầu lãnh già nua bảo thủ tại Bắc Bộ Phủ lúc đó như Linh, Mười, Anh.. chỉ biết cúi đầu tuân phục giặc để được chủ củ sớm cho làm đầy tớ trở lại. Vì thế vào ngày 29-8-1990 Linh và Mười, kể cả Phạm Văn Ðồng, đã ngoan ngoản từ Hà Nội sang Thành Ðô để gặp Giang Trạch Dân và Lý Bằng nhận lệnh của thiên triều. Rốt cục đại hội đảng CS lần thứ VI vào năm 1986, được đảng coi như là một cột mốc lịch sử của cuộc ‘ đổi mới ‘.Vì trong thời gian này, đảng đã mất cái nôi ‘ cách mạng tháng mưới (Nga) ‘ nhưng cũng may còn lại ánh sáng mặt trời của ‘ đông phương hồng (Tàu đỏ) ‘ là một trong bốn nước còn sót lại theo chủ nghĩa cộng sản. Ðó là lý do từ năm 1989 -2009, CSVN về đối ngoại coi TC như chủ mới thay Nga để nương dựa. Về trị nước, đảng lại góp nhặt tất cả những tàn dư vàng ngọc của Mao, Ðặng, Giang Trạch Dân qua những kinh nghiệp đàn áp chính trị nhưng cởi mở kinh tế để làm giàu đảng.
Và đó cũng là lý do trong đại hội đảng VII (1991-1996) đã bầu Ðổ Mười (tổng bí thư), Lê Ðức Anh (chủ tịch nhà nước), Võ Văn Kiệt (Thủ tướng) , Ðoàn Khuê (bộ trưởng quốc phòng).. toàn là thành phần chủ trương ‘ đầu hang giặc Tàu ‘.Thời gian này, CSVN đã rút quân khỏi Kampuchia về nước và cho giải ngũ gần nữa triệu người gây nên cảnh thất nghiệp. Thêm vào đó viện trợ của Nga Sô, Ðông Âu, Ðông Ðức cũng không còn kể cả chuyện ‘ xuất khẩu lao động ‘.Giai đoạn này Lê Ðức Anh đã cũng cố được phe nhóm trong đảng và bộ chính trị, đầy Giáp ra rìa và còn viết sách làm phim bôi bác, phổ biến rộng rãi trong quân đội. Cũng từ đại hội đảng 1991, quân đội VN dưới sự thao túng của Anh và Ðoàn Khuê (bộ trưởng quốc phòng) chỉ còn biết làm kinh tế và đàu hàng tùng phục Trung Cộng.
Dĩ nhiên Tàu đỏ đâu có bỏ lở cơ hội vàng ròng trước sự hèn nhát ‘ khôn nhà dại chợ ‘ của cái gọi là quân đội nhân dân, nên càng lúc càng lấn áp bắt chẹt VN, để lấn chiếm dần mòn lảnh thổ từ biên giới ra tận hải đảo, qua sự đồng thuận hồ hởi phấn khởi của đám việt gian ngụy quyền Hà Nội. Bức tranh bán nước cho Tàu do tập đoàn Anh, Mười chủ động, khởi đầu vào ngày 15-2-1992, TC công bố luật lãnh hải của chúng, bao gồm gần hết biển Ðông và răn đe sẽ sử dụng vũ lực kể cả bom nguyên tử nếu ai dám vi phạm chủ quyền (?)của chúng. Nói và làm ngay nên TC xua hải quân chiếm đảo Ba Ðầu trong quần đảo Trường Sa của VN, còn hổn xược cảnh cáo bọn chóp bu nếu ‘ lộn xộn ‘ sẽ không cho làm đầy tớ nữa.
Rồi để dằn mặt thêm bọn ‘ việt gian bán nước’, Giang Trạch Dân đã chơi xỏ Nguyễn Văn Linh khi sang chầu thiên triều tại Bắc Kinh vào ngày 8-5-1982, đã cùng với hảng thầu Crestone của Hoa Kỳ, để khai thác dầu khí trong vùng đảo Tu Chính đang tranh chấp giữa hai nước. Trước nhục nước, Linh đã hèn nhát cúi đầu mà còn đời đời cám ơn giặc. Tiếp theo ngày 27-5-1992 TC tự ý dời cột mốc biên giới tại Ải Nam Quan, sâu vào lảnh thổ VN hơn nữa cây số. Tháng 7-1992 TC chiếm đảo Ða Lạc thuộc quần đảo Trường Sa. Tóm lại chỉ trong năm 1992, TC đã dời 142 cõt trong tổng số 314 cộc, lấn sâu vào đất Việt hơn 500m.
Trước hành động xâm lăng ngang ngược của kẻ thù truyền kiếp Tàu đỏ, thay vì phải ngăn chống tới cùng nhưng đám chóp bu đảng già nua bảo thủ đang nắm quyền đã hèn hạ chấp nhận và tuyên bố ‘ vì Tàu đỏ là một nước XHCN nên đảng ta phải hy sinh vì tình đồng chí, cho dù có bán nước cho giặc ‘.Nhưng hành động cướp giựt công khai đất Việt của Tàu đỏ, đã làm cho các nước ASEAN lẫn Hoa Kỳ lên tiếng phản đối kịch liệt. Nhờ vậy mà Tàu đỏ chùm bước , rút giàn khoan về nước và thả hai thương thuyền của VN bị giam tại Hồng Kông.
Từ đại hội đảng VIII (1996-2001) CSVN rập theo khuôn mẫu của Tàu đỏ, do Ðổ Mười và Lê Ðức Anh chủ xướng và lựa chọn ba tên đầu sỏ trong đảng gồm Lê Khả Phiêu (tổng bí thu thế Ðổ Mười), Trần Ðức Lương (chủ tịch nhà nước thế Lê Ðức Anh) và Phan văn Khải (thủ tướng thay Võ Văn Kiệt) còn bộ ba Mười, Anh , Kiệt về hưu nhưng vẫn chức thái thượng hoàng. Nguyễn tấn Dũng cũng được bầu vào ủy viên bộ chính trị, phó thủ tướng đặc trách kinh tế kiêm thống đốc ngân hàng.
Tháng 2-1999 với tư cách tổng bí thư, Lê Khả Phiêu sang chầu thiên triều, nối lại tình đồng chí giữa hai đảng càng thêm thắm thiết. Tiếp theo Phạm Thế Duyệt, Nguyễn tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết, Lê Minh Hương, Nguyễn Ðức Bình, Nông Ðức Mạnh, Phan Văn Khải.. cũng sang Tàu để nhận chỉ thị. Ðầu tháng 12-1999 thủ tướng TC Chu Dung Cơ sang kinh lý VN. Ngày 30-12-1999 thỏa hiệp đưòng ranh biên giới Việt-Hoa được ký kết bởi Nguyễn Mạnh Cầm (VC) và Ðường Gia truyền (TC). Nhờ hành động nhượng bộ bán nước trong vụ này (trên bộ lẫn dưới biển), mà Lê Khả Phiêu đã trở thành một trong những tỷ phú đỏ VN như báo chí mới phanh phui vào tháng 2-2009.
Năm 1997 kể từ tháng 5-1975, Hoa Kỳ có toà đại sứ tại Hà Nội và nữ ngoại trường thời Tổng thống Bill Clinton là Madelein Albright sang thăm VN. Vì lý do này mà Tàu đỏ đã trả đủa VC bằng cách tự đem dàn khoan dầu Kantan III và hai chiếc tàu thăm dò số 206,208 tới lảnh hải của VN tại vịnh Bắc Việt để tìm dầu. Lần nữa, các nước ASEAN lại lên tiếng phản đối, nhất là tư lệnh lực lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương vào ngày 22-3-1997 tới thăm VN. Thấy vậy Tàu đó mới chịu kéo dàn khoan về nước. Tuy nhiên báo chí trong nước đã bị đảng ra lệnh cấm không đuợc đăng tin trên, vì sợ chạm tới tự ái của Tàu. Ðã thế bọn chóp bu đảng Ðổ Mười, Lê Khả Phiêu, Phạm Thế Duyệt.. còn ngăn cản không cho ký ‘ thỏa hiệp thương mại song phương Mỹ-Việt (BTA) ‘ vì lúc đó Tàu đỏ cũng đang chờ ký kết với Mỹ để được vao WTO năm 2001. Tóm lại suốt thời gian Phiêu làm tổng bí thư (1997-2001) đã cắt đất nhượng biển ký ban một phần lãnh thổ cho TC. Tháng 11-2000 Clinton sang thăm VN, đã bị Lê Khả Phiêu lên án chủ nghĩa đế quốc và khoe khoang thành tích bách chiến của XHCN với mục đích nịnh bợ Tàu đỏ.
Khắp nuớc đã có nhiều cuộc xuống đường của dân chúng như tại Thái Bình, Ðồng Nai, Cao nguyên Trung Phần.. phản đối và chống lại sự hà khắc, cướp bốc, tham nhũng kể cả hành động bán nước cho giặc Tàu của tập đoàn CSVN qua Lê Khả Phiêu, Ðổ Mười, Lê Ðức Anh, Trần Ðức Lương. Trong nội bộ đảng thì các phe nhóm của Mười-Anh và Phiêu cắn xé nhau dành chức tước trong kỳ đại hội đảng đảng IX (2001-2006) đang khai diễn.
Từ năm 1986-2001, sau khi đế quốc Nga Sô và khối Ðông Âu sụp đổ. Ðể sống còn, CSVN đã đầu hàng TC và rước các nước tư bản vào cứu nguy đảng bằng cách đem đất đai, tài nguyên và đồng bào VN thế chấp bán buôn qua cái gọi là đổi mới ‘ kinh tê thị trường ‘.Nhưng phải đợi cho tới khi Lê Khả Phiêu làm tổng bí thư đảng có Ðổ Mười và Lê Ðức Anh cố vấn, VN mới chính thức trở thành một quân huyện của Tàu đỏ, non sông bị cắt xén nhượng bán cho giặc, chẳng những tại biên giới mà còn mất nhiều trên vùng lảnh hải và nhiều đảo lớn nhỏ trong biển Ðông. Lê Khả Phiêu, Ðổ Mười, Lê Ðức Anh, Trần Ðức Lương, Nguyễn Minh Triết, Phan Văn Khải .. đã vì lợi mà nhắm mắt, phó mặc cho TC lần hồi Hán Hóa dân tộc VN qua sách báo, văn hóa, nghệ thuật.
Cuối cùng con rơi của Hồ Chí Minh qua sự cưởng dâm Nông Thị Xuân là Nông Ðức Mạnh (gốc Mán ở thượng du Bắc Việt) qua hậu thuẩn của Mười, Anh và chỉ của TC, nên được cho làm tổng bí thư. Còn Phan Văn Khải lưu nhiệm thủ tướng và Nguyễn Minh Triết (Tàu sinh tại Bình Dương) thế Lương làm chủ tịch nhà nước. Kỳ này những thành phần ‘ thân Tàu hay dể dạy ‘ như Nguyễn tấn Dũng, Lê Minh Hương, Nguyễn Phú Trong.. đều được ở lại bộ chính trị để tiếp tục tìm đủ mọi cách bán nước cho Tàu.
Ðại hội kỳ này vẫn độc tài độc đảng, vẫn thì hành nghị quyết 31/CP do Võ Văn Kiệt ký, cho phép việc muốn bỏ tù ai cứ bỏ tù khỏi cần xét xử , nhất là đối với những người trong nước đang đấu tranh đòi tự do dân chủ và nhân quyền cho VN như Hòa Thương Thích Quảng Ðộ, Linh Mục Nguyễn Văn Lý, các nhân sĩ Nguyễn Ðình Huy, Bùi Minh Quốc, Lê Chí Quang, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình..
Tháng 6-2005 Phan Văn Khải sang chầu Tổng thống W.Bush tại bạch cung để ký kết việc ban buôn giữa hai nước. Sau đóKhải tới Côn Minh để phúc trình với Ôn Gia Bảo kết quả thu lượm được trong chuyến đi vừa qua. Ðồng thời ký với TC và Phi Luật Tân hiệp ước ‘ cùng hợp tác khai thác dầu trong vùng lảnh hải chủ quyền của VN tại Trường Sa ‘.Có ký bán lảnh thổ nước Việt cho Tàu như vậy, không trách gì toàn bộ chóp bu lảnh đạo đảng CSVN ai cũng trở thành tỷ phú đỏ, trong đóđâu thiếu Phan Văn Khải đã làm thủ tướng VC hai nhiệm kỳ.
Tháng 12-2005 hoàng đế đỏ Giang Trạch Dân sang kinh lý Huyện VN đẻạ xoa dịu lòng căm phẩn của toàn dân nước Việt đang sôi sục trước sự chiếm dần lảnh thổ, lảnh hải VN của giặc Tàu và sát hại đồng bào đang hành nghề đánh cá trong hải phận nước mình vào tháng 8-2002 và ngày 9-1-2005. Ðó cũng là trò bịp lấy vải thưa che mắt thánh của Tàu đỏ vì nếu VC không chịu bán nước cho giặc, thì làm sao TC có được một phần lảnh thổ của VN như ngày nay ?
Ngày 26-4-2006 kết thúc cuộc bầu bán dại hội X (2006-2011) với kết quả : con rơi HCM là Nông Ðức Mạnh vẫn làm tổng bí thư, Nguyễn Minh Triết (Tàu Bình Dương) chủ tịch nước và Nguyễn Tấn Dũng xuất thân từ du kích Cà Mau làm thủ tướng, Nguyễn Phú Trọng chủ tịch quốc hội gật và Phạm Văn Trà bộ trưởng quốc phòng.
Theo các tài liệu hiện hành cho biết lý lịch của Nguyễn Tấn Dũng rất mù mờ nhất là về người cha vô danh nhưng là một cán bộ cao cấp của đảng, vào Nam hoạt động. Nhờ câu chuyện bịa này mà Dũng từ một du kích đuợc đi học quân y trở thành y tá và leo lên chức chính ủy cấp trung đoàn của VC tại tỉnh An Xuyên (Cà Mâu). Sau tháng 5-1975, Dũng leo lên chức tỉnh ủy Kiên Giang rồi thứ trưởng công an cho Bùi Thiện Ngộ (1995-1996). Chính Dũng đã gài bẩy để bắt nhóm phục quốc Trần Văn Bá và tổ chức cho người Tàu tại Rạch Giá ‘ vượt biên bán chính thức ‘ hốt vàng đô la làm giàu. Năm 1996 Dủng được vào bộ chính trị thay Nguyễn Hà Phan làm trưởng ban kinh tế.
Cũng theo sự tiết lộ từ sau bức màn máu, thì trước khi bầu bán đại hội X, chính thủ tướng Tàu đỏ là Ôn Gia Bảo đã sang VN chỉ thị cho đảng phải cho Dũng làm thủ tướng. Vì vậy chẳng ai ngạc nhiên về sự Dũng ‘ bán nước Việt ‘ cho giặc Tàu để đền ơn đáp nghĩa chủ. Do đó ngày 15-11-2006 Dũng sang Bắc Kinh chầu để nhận lệnh mở cửa cho Tàu vào VN qua hai ngỏ ‘ Côn Minh-Lào Kai-Hà Nội ‘ và ‘ Nam Ninh-Lạng Sơn-Hà Nội’ cùng toàn bộ bờ biển Bắc Việt. Cùng lúc Dũng gặp Ôn Gia Bảo, thì Nông Ðức Mạng cũng tới triều kiến hoàng đế Hồ Cẩm Ðào vào tháng 8-2006 để nâng quan hệ đồng chí giữa hai đảng thêm thắm nồng.
Tóm lại thành tích đáng bia xanh của Nguyễn Tấn Dũng qua thời gian làm thủ tướng VC từ 2006-2/2009 là phục vụ quyền lợi cho chủ là TC. Bằng chứng ‘ bán nước ‘ rõ ràng nhất của Dũng là ‘ Ký hoàn tất việc cấm mốc biên giới Việt-Trung ‘ vào ngày 31-12-2009, để nhượng bán cho giặc Tàu một phần lảnh thổ của đất nước, trong đó có nhiều vị trí chiến lược quan trọng cũng như các di tích ngàn đời của dân tộc như Ải Nam Quan, Núi Ðất, Thác Bản Giốc, Bãi Tục Lãm.. Ngoài ra còn có hải phận Vịnh Bắc Việt, các đảo lớn nhỏ trong hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Dũng và đồng bọn Mạnh, Triết, Trọng.. giống như Hồ Chí Minh, Phạm Văn Ðồng ngày trước, bất chấp sự ta thán, oán hờn, căm thù và sôi sục máu, trước nổi lầm than của đồng bào, nhục hèn bán nước cho giặc.
Còn điều gì gục mặt cúi đầu cho bằng nổi hận khi cả nước bất lực đứng nhìn CSVN và Giặc Tàu xâm lăng mở tiệc ăn mừng chiến thắng ‘ cắm mốc chiếm đất ‘ qua công lao của Lê Khả Phiêu và Nguyễn Tấn Dũng. Ðảng CSVN ngoài sự bất lực khi nắm quyền hành trong tay mà không bảo vệ nổi sự vẹn toàn lảnh thổ cho non nước. Ðã thế đảng còn hèn hạ tới mức cuối cùng khi lên tiếng ca tụng ‘ thành tích sát hại đồng bào Việt và tàn phá thành bình địa 6 tỉnh miền Thượng Du Bắc Việt trong trận chiến biên giới Viêt Hoa ngày 17-2-1979 của giặc Tàu ‘ .
Nhưng quan trọng nhất là sự kiện Dũng đã ký lệnh ‘ cấm báo chí trong nước không được bàn ra tán vào vụ Trung Cộng tới Quảng Ðức, Lâm Ðồng, Phước Long để khai thác quặng Bau-Xít ‘.Ngày 13-1-2009 Dũng đã ký thông báo số 17/TB-VPCP cho Tàu đỏ được thăm dò, khai thác bauxite dùng luyện alumin và nhôm. Ngay khi tin tức trên bị xì hợi ra ngoài, lập tức Dũng đã bị dư luận cả trong và ngoài nước cực lực lên án phản đối với hai lý do ‘ tổn hại môi trường, giết chết sông Ðồng Nai và trên hết rước giặc Tàu vào nội địa VN ‘.
Thế nhưng lẽ phải và quyền lực ở trên đầu súng. Nên chỉ khi nào đảng CSVN bị tiêu diệt, chừng đóđất nước mới có hy vọng đứng dậy chống Tàu để sống còn -/-
Xóm Cồn Hạ uy Di Ðầu tháng 3-2009
MƯỜNG GIANG
Lời thú tội kinh hoàng
của Đảng Cộng Sản Việt Nam
Trúc Giang
WEDNESDAY, 04 JUNE 2014 23:57

1* Mở bài
Ngày thứ bảy, 31 tháng 5, 2014 đài BBC đưa tin như sau:
“Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam nói quan hệ Việt-Trung vẫn "phát triển tốt đẹp" và so sánh xung đột hiện nay trên Biển Đông với 'mâu thuẫn gia đình'.

Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh.
Ông Thanh nói:"Trên thực tế, ngay ở trong quốc gia hay mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn, bất đồng, huống chi là các nước láng giềng với nhau còn tồn tại tranh chấp về biên giới, lãnh thổ hoặc va chạm là điều khó tránh khỏi." (Phùng Quang Thanh)
Ông Thanh ví cuộc tranh chấp như mâu thuẩn trong một gia đình rất đúng. Về mâu thuẩn gia đình thì Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và phái đoàn của đảng CSVN đã xin cho Việt Nam được làm một khu tự trị trực thuộc chính quyền Trung ương Bắc Kinh, và đã được “Phía Trung Quốc đồng ý và chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để đảng CSVN giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc “gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc”. (Hết trích)
Mâu thuẩn trong đại gia đình các dân tộc Trung Quốc là hiện thực, Tây Tạng và Tân Cương là một chứng minh cụ thể.
GS Carl Thayer cho biết: "Giới chức Việt Nam thường có thói quen nói chung chung và không đi vào cụ thể", do đó ta có thể nhận ra 'mâu thuẫn gia đình' nằm trong đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.
“Một thời kỳ Bắc thuộc rất nguy hiểm đã bắt đầu”. Đó là lời xác nhận của một cán bộ Việt Cộng cao cấp thuộc Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam, Nguyễn Cơ Thạch, Bộ trưởng Ngoại giao, đã tuyên bố sau Hội nghị Thành Đô, Tứ Xuyên năm 1990.
Bài nầy nêu những bằng chứng cụ thể để chứng minh hoạt động của hai bên Việt-Trung trong chương trình 30 năm về mọi mặt gọi là “đại cuộc”, và ngụy trang bằng cụm từ “16 chữ vàng”
Do kinh nghiệm ở hai khu tự trị Tây Tạng và Tân Cương, chính quyền trung ương ở Bắc Kinh đã kiềm chế CSVN bằng cách đã cấy sinh tử phù và đặt chiếc vòng kim cô lên đầu CSVN cho nên những tên Hán ngụy hiện nay như cá nằm trên thớt, vô phương cục cựa.
Giang Trạch Dân đã cho CSVN thời gian 30 năm để tiến hành sự kiện vĩ đại đối với Việt Nam cho nên gọi đó là “đại cuộc” và việc thực hiện chương trình 30 năm nằm trong khuôn khổ “16 chữ vàng”. Vì thế cứ mỗi lần có tranh chấp thì Bắc Kinh khuyên nhũ Việt Cộng hãy vì “đại cuộc”, và CSVN luôn luôn cam kết thực hiện 16 chữ vàng.
Tuyên bố của Phùng Quang Thanh thật đúng là lời thú tội kinh hoàng đối với người Việt trong nước.
Cho dù Wikileaks không tiết lộ, xem như không có biên bản đó, thì xuyên qua những hành động mà đảng CSVN đã thể hiện và nhiều người đã xác nhận đó là hành động bán nước.
2* Đảng Cộng Sản Việt Nam xin được làm một khu tự trị trực thuộc Bắc Kinh

Từ trái qua phải. Lý Bằng, Giang Trạch Dân (nắm tay Nguyễn Văn Linh), Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng (chắp tay).

Hàng trước từ trái sang: 1) Hoàng Bích Sơn, trưởng ban đối ngoại T.Ư., (3) PhVăn Đồng,(4) Nguyễn Văn Linh (bên phải Giang Trạch Dân),5) Giang Trạch Dân (áo xám đứng giữa), 6) Lý Bằng, 7) Đỗ Mười, 9) Hồng Hà (bìa phải).
Wikileaks xác định văn kiện đó là một trong 3,100 bức điện thư lưu trữ tại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tài liệu chi tiết như sau:
“Biên bản buổi họp kín giữa Nguyễn Văn Linh , Tổng Bí Thư đảng CSVN, Đỗ Mười, Chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng, đại diện phía Việt Nam, và Giang Trạch Dân, TBT/CSTQ, Lý Bằng, Thủ tướng, đã họp 2 ngày từ 3 và 4-9-1990, tại Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc ”.
“Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng Chủ Nghĩa Cộng Sản, đảng Cộng Sản và nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam sẽ cố hết sức mình để vun đắp tình hữu nghị lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp trong quá khứ. Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung Ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tân Cương, Tây Tạng, Quảng Tây”.
“Phía Trung Quốc đồng ý và chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để đảng CSVN “giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc”. (Hết trích)
3* Bí mật của chương trình 30 năm sát nhập Việt Nam vào Trung Cộng
Hội nghị tái lập bang giao giữa hai nước được tổ chức công khai vào hai ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990 tại Thành Đô, Tứ Xuyên, nhưng nội dung CSVN xin được sát nhập vào đại gia đình các dân tộc Trung Quốc là bí mật.
Cho mãi đến khi Wikileaks phổ biến tài liệu mật đó thì người Việt ở nước ngoài mới biết đến, nhưng đối với đa số người trong nước thì nó vẫn còn là một bí mật. Vì thế, để lừa bịp nhân dân Việt Nam, chương trình 30 năm mà hai đảng Cộng Sản nầy thực hiện được ngụy trang dưới những từ ngữ mỹ miều như “đại cuộc”, “phương châm 16 chữ vàng”, “hợp tác chiến lược toàn diện”, “Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác toàn diện”…
Những cụm từ nêu trên là cái nhãn hiệu che giấu chương trình 30 năm ở Thành Đô.
4* Sự ra đời của “16 chữ vàng”
4.1. Bước mở đầu
Tháng 11 năm 1991, sau hội nghị Thành Đô, lãnh đạo cao cấp hai đảng, hai nước liên tiếp thăm viếng lẫn nhau. Sự giao lưu, hợp tác giữa hai bên về các lãnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật, văn hoá… được mở rộng, nâng lên tầm cao là bước đầu của việc hội nhập.
Trung Cộng cho biết con đường hợp nhất của hai nước vô cùng thuận lợi vì đó là những đặc thù về địa lý tự nhiên, chế độ chính trị, văn hoá, xã hội và vận mệnh của hai dân tộc, của hai đảng được xem như một.
“Sơn thủy tương liên, Lý tưởng tương thông, Văn hóa tương đồng, Vận mệnh tương quan”
Việt Trung tuy hai mà một, tương nhập là lẻ tất yếu và hợp tình, hợp lý.4.2. Trung Cộng khởi tạo phương châm 16 chữ vàng

Tiếp tục thúc đẩy tiến trình bí mật 30 năm Thành Đô, Giang Trạch Dân đưa ra chiêu bài để ngụy trang là phương châm 16 chữ vàng. Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu nhất trí ngay và cam kết luôn luôn thực hiện với quyết tâm cao độ để hoàn thành “đại cuộc” đó.
Thế là phương châm 16 chữ vàng ra đời từ đó. Bản tuyên bố chung về 16 chữ vàng chính thức được Giang Trạch Dân và Lê Khả Phiêu ký vào tháng 2 năm 1999.
16 chữ vàng:
Láng giềng hữu nghị (mục lân hữu hảo), hợp tác toàn diện (Toàn diện hợp tác), ổn định lâu dài (Trường kỳ ổn định), hướng tới tương lai (Diện hướng vị lai).
Tháng 11 năm 2000 khi tân Tổng bí thư Nông Đức Mạnh sang diện kiến thì Giang Trạch Dân nhắc đến và nhấn mạnh, phương châm 16 chữ vàng là cái khung chỉ đạo căn bản và nhất quán để Việt Nam phát triển quan hệ với Bắc Kinh. Cũng giống như những người tiền nhiệm, Nông Đức Mạnh hạ quyết tâm thực hiện nội dung của 16 chữ vàng.
5* Thực hiện chương trình 30 năm trên cơ sở 16 chữ vàng
5.1. Nội dung chương trình
Chương trình 30 năm Thành Đô được các đời Tổng bí thư CSVN ký kết qua những bản tuyên bố chung về hợp tác toàn diện để Việt Nam hội đủ điều kiện sát nhập vào đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.
Hợp tác toàn diện về các mặt:
- Việc quản lý đảng, quản lý nhà nước thông qua những cuộc thăm viếng của các lãnh đạo cao cấp hai bên.
- Giao lưu về các mặt: chính trị, kinh tế thương mại, quân sự, văn hóa, hữu nghị nhân dân…từng bước nâng lên tầm cao mới sẵn sàng cho ý nguyện hội nhập theo tinh thần của hội nghị Thành Đô năm 1990.
5.2. Những bước cụ thể đã được thực hiện
5.2.1. Hợp tác toàn diện về việc quản lý đảng và quản lý nhà nước
Các lãnh đạo cao cấp của đảng và nhà nước hai bên liên tục có những cuộc viếng thăm quan trọng, không ngừng vun đắp quan hệ hợp tác toàn diện, từng bước nâng lên tầm cao mới để đáp ứng “nguyện vọng của nhân dân hai nước” là hội nhập vào đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.
1). Những lãnh đạo Trung Cộng sang thăm Việt Nam




Từ tháng 11 năm 1992 đến năm 2013 đã có 8 lãnh đạo cao cấp Trung Cộng đến thăm và làm việc với lãnh đạo đảng CSVN.
Thủ tướng Lý Bằng (tháng 11 năm 1992). Chủ tịch Quốc hội Kiều Thạch Đàng (tháng 11, 1994 và tháng 3, 2002). Chủ tịch nước Giang Trạch Dân (tháng 6, 1996). Thủ tướng Chu Dung Cơ (tháng 11, 1996). Thủ tướng Ôn Gia Bảo (tháng 12, 1996).
Từ 31-10 đến 2-11-2005 Hồ Cẩm Đào kinh lý Việt Nam. Đó là chuyến viếng thăm cao cấp nhất, đầy đủ cương vị: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quân ủy TW, là bước ngoặt quan trọng thúc đẩy Việt Nam hội nhập vào Trung Quốc.
Sau đó là viếng thăm của Tập Cận Bình và Thủ tướng Lý Quốc Cường. Ngoài ra còn có nhiều lãnh đạo cấp thấp tới lui rộn rịp.
2). Về phía lãnh đạo Việt Nam sang chầu thiên triều
Tất cả những Tổng bí thư, chủ tịch nước, Chủ tịch quốc hội và thủ tướng đều phải qua diện kiến lãnh đạo Trung Cộng. Tổng bí thư, chủ tịch nước đều phải ký những bản Tuyên bố chung xác định quyết tâm thúc đẩy, hợp tác toàn diện trên phương châm 16 chữ vàng và 4 tốt mà thực chất là hoàn tất chương trình 30 Thành Đô, sát nhập vào “đại gia đình các dân tộc Trung Quốc”.
Ngoài những bản tuyên bố chung, Việt Nam bị bắt buộc phải thành lập “Ủy Ban Chỉ Đạo Hợp Tác Toàn Diện” để làm việc một cách cụ thể với Ủy ban Hợp tác Toàn diện của Trung Cộng.

Phiên họp lần thứ tư, phiên họp lần thứ 5 Ủy ban Chỉ đạo Hợp Tác Toàn Diện .
Vì sao phải thành lập ủy ban chỉ đạo hợp tác toàn diện? Một quốc gia độc lập chỉ cần xác định chính sách ngoại giao là đủ. Khi cần thì ký những hiệp ước, những thỏa thuận riêng biệt cho mỗi vấn đề.
5.2.2. Hợp tác toàn diện về kinh tế với Bắc Kinh
1). Thiết lập những nguyên tắc luật pháp căn bản về kinh tế
Năm 2005, trong số 44 hiệp định và thỏa thuận về kinh tế và thương mại, Việt Nam và Trung Cộng đã có 20 văn bản thỏa thuận làm căn bản pháp lý trong quan hệ giữa Việt Nam với các địa phương bên Trung Cộng. Đó là: Hiệp định thương mại, Hiệp định mua bán vùng biên giới, Hiệp định thành lập Ủy Ban Việt-Trung về kinh tế và thương mại.
Hiệp định giao thông đường sắt cao tốc và đường bộ, đường hàng không để lưu thông hàng hóa giữa địa phương với trung ương Bắc Kinh.
Từ ngày 1-1-2004 Việt Nam và Trung Cộng thực hiện bãi bỏ thuế xuất, nhập khẩu. Các cặp cửa khẩu hai bên đã được khai thông tạo điều kiện cho hàng hoá lưu thông tự do, mở ra một thời kỳ giao lưu hàng hóa không biên giới giữa hai bên.
2). Kinh tế Việt Nam đã lệ thuộc vào chính quyền trung ương Bắc Kinh

Hợp tác toàn diện về kinh tế thương mại.
a. Về đầu tư xây dựng
Nhà thầu Trung Cộng hầu như thắng thầu hầu hết những công trình quan trọng với loại thầu trọn gói EPC, còn gọi là “hợp đồng trọn gói” hay “hợp đồng chìa khoá trao tay”.
EPC là Engineering , Procurement and Construction. (Thiết kế, mua sắn, xây dựng).
Hiện nay có 90% gói thầu EPC được giao cho Trung Cộng thực hiện, bao gồm những dự án lớn và quan trọng về năng lượng (nhà máy điện), kim loại, hoá chất…điều nầy cho biết Việt Nam đã lệ thuộc vào Trung Cộng rồi.
b. Trung Cộng chiếm lĩnh thị trường Việt Nam
Thương lái Trung Cộng xâm nhập vào các vùng sâu, dùng thủ thuật giá, mua những thứ như cây tràm cỗ ở Quảng Ngãi, và những thứ không biết để làm gì, nhưng đã để lại những tác hại vô cùng to lớn. Đó là đánh phá thị trường VN.
Nông sản, thực phẩm, hàng công nghiệp giá rẻ, mà không được kiểm soát về chất lượng, vệ sinh, an toàn, thậm chí có những mặt hàng Trung Cộng mà dán nhãn sản xuất ở VN. Nhiều trường hợp dán cờ Trung Cộng trên các sản phẩm bày bán ở các siêu thị VN.
Hàng hóa rẻ tiền của Trung Cộng chiếm lĩnh thị trường Việt Nam, giết chết các công ty trung bình và nhỏ trong nước, đưa đến công nhân thất nghiệp.
c. Nhập siêu của Việt Nam chứng tỏ lệ thuộc kinh tế
Năm 2013, Việt Nam nhập khẩu hàng hóa Trung Cộng (TC) 36tỷ 960 triệu USD, trong khi đó xuất khẩu chỉ có 13tỷ 960 triệu USD. Đó là nhập siêu. Sự chênh lệch về cán cân mậu dịch nầy khiến cho VN phụ thuộc vào TC.
TS Lê Đăng Doanh nêu nhận xét: “Mức nhập siêu to lớn nầy gây sức ép rất nặng khiến cho VN phụ thuộc vào TC: mất ngoại tệ, mất thị trường trong nước, công nhân mất việc. Khi người dân mua hàng hóa TC đồng nghĩa với việc trả lương cho công nhân nước nầy”.
5.2.3. Hợp tác toàn diện về văn hóa giáo dục
1). Việt Nam cam kết giáo dục nhân dân về 16 chữ vàng và 4 tốt
Ngày 21-2-2013, Nguyễn Thiện Nhân, ủy viên BCT dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao sang Bắc Kinh. Hai bên đã ký một thỏa thuận hợp tác toàn diện cho giai đoạn 5 năm từ 2014-2019.
Nguyễn Thiện Nhân, cựu Bộ trưởng Bộ Giáo dục, cam kết, với tư cách Chủ tịch Ủy ban Trung Ương Mặt Trận Tổ quốc VN (MT/TQ/VN), ông sẽ vận động quần chúng nhân dân thực hiện tốt 16 chữ vàng và 4 tốt để hoàn thành tốt thoả thuận của hai bên từ khi bình thường hóa năm 1990. Ông Nhân cho biết MT/TQ/VN sẽ triển khai chức năng và nhiệm vụ mới trong Hiến pháp 2013 là “giám sát phản biện xã hội” để tăng cường hiểu biết của nhân dân Việt Nam với nhân dân Trung Quốc.
Việt Nam sẽ thực hiện Cung Văn hoá Việt-Trung tại Hà Nội. Trong 15 năm, kể từ 2005 Việt Nam đã cử hơn 100 đoàn đại biểu văn hóa trên các lãnh vực: báo chí, âm nhạc, điện ảnh, kịch nghệ, truyền hình sang tham quan học hỏi và trình diễn ở Bắc Kinh.
2). Giáo dục thanh niên

Chủ tịch Ủy ban TƯ MTTQ Việt Nam và Bí thư Thứ nhất TƯ Đoàn Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Nguyễn Đắc Vinh giao lưu với các đại biểu thanh niên hai nước.

Hữu nghị giữa hai đoàn thanh niên khu tự trị VN & Trung Quốc.
Theo một hiệp định, mỗi năm Trung Cộng cấp 130 suất học bổng cho sinh viên VN, đồng thời VN chỉ cấp 15 học bổng cho sinh viên Trung Cộng, có nghĩa là Bắc Kinh đào tạn cán bộ tương lai cho họ.
Việt Nam đưa những đoàn thanh niên sang thăm viếng, hợp tác hữu nghị với thanh niên sắc tộc của các khu tự trị. Nổi bật nhất là Liên hoan thanh niên VN-TQ được tổ chức vào ngày 26-11-2013, 3,000 thanh niên do Nguyễn Thiện Nhân hướng dẫn tham dự liên hoan. Trong diễn văn, ông Nhân cho biết: “Đây là dịp để thế hệ trẻ hai nước kết chặt quan hệ hai đảng, hai nước, không ngừng đơm hoa kết trái, vun đắp tình hữu nghị của hai dân tộc”.
Định hướng dư luận, Lập Viện Khổng Tử, nằm trong hợp tác văn hoá giáo dục cho thanh niên.
16 chữ vàng và 4 tốt là chiêu bài ngụy trang cho chương trình 30 năm để VN hội nhập vào đại gia đình các dân tộc Trung Quốc, nói thẳng ra là chương trình bán nước của đảng CSVN.
5.2.4. Trung Cộng di dân vào Việt Nam
Bọn Tàu khựa vào Việt Nam không cần Visa nhập cảnh, nên tự do đi luông tuồng như đi vào Tây Tạng, Tân Cương, Mãn Châu, Nội Mông. Bọn họ đã có mặt trên khắp hang cùng ngỏ hẻm của đất nước Việt Nam. Trong 65 khu chế xuất, khu công nghiệp, không nơi nào vắng bóng người Hoa cả.
Chúng chiếm đóng các vị trí chiến lược, từ việc thuê đất 306,000 hecta trong 50 năm với giá rẻ mạt ở biên giới phía Bắc, từ Bauxit Tây Nguyên đến Cà Mau, có thể thành lập nhiều sư đoàn của đạo quân thứ năm với những công nhân, mà thực chất là binh sĩ, tình báo, đặc công. Họ nắm trong tay những bản đồ vị trí các nhà máy điện, nhà máy quốc phòng, cơ xưởng…
Những người di dân tạo lập thành những khu riêng biệt của người Hoa mà công an Việt Nam không được vào đó để kiểm soát.
1). Khu phố Tàu Bình Dương

Trung tâm thương mại Đông Đô Đại Phố (Chữ Tàu trên cổng vào).

Khu công nghệ cao Khu thể thao.
Tờ Việt Báo tại hải ngoại có bài viết tựa đề: “Cờ Trung Quốc treo rợp Bình Dương: Dân Việt có nguy cơ mất đất”
Theo bài báo thì “Cờ Trung Cộng treo tưng bừng tại Bỉnh Dương để mừng Quốc Khánh lần thứ 90 của Trung Cộng bởi vì người Hoa đang cư ngụ đông đảo ở Phố Tàu nơi đây.
Một bài viết có tựa đề “Phố người Hoa, Rừng người Hoa, sòng bạc người Hoa,…và người Hoa” còn đưa ra quan ngại rằng “trong một tương lai không xa, con cháu người VN sẽ không còn được sống trên quê hương mình”.
Bài báo viết tiếp:
“Sau Casino của người Hoa ở Đà Nẳng chỉ dành cho người nước ngoài, lại đến khu phố dành riêng cho người Hoa ở Bình Dương, nơi mà người Việt cũng không được bén mảng tới. Vậy trong tương lai, người Việt sẽ chỉ được sử dụng một phạm vi bao nhiêu bởi vì, biển, rừng, đô thị đều có bóng dáng của người Hoa.
Phố Tàu là khu vực riêng biệt của cộng đồng người Hoa, người Việt khó chen chân vào. Phố Tàu ở Bình Dương mang tên Trung Tâm Thương Mại Đông Đô Đại Phố, trong đó có một trường Đại học quốc tế Miền Đông, một bịnh viện 1,000 giường, một khu phức hợp: thể thao, hội nghị, tiệc cưới, một sân golf, các cửa hiệu thương mại và một khu giải trí.
Bọn Tàu khựa sinh hoạt theo phong tục tập quán của họ và luật pháp Việt Nam bị bỏ ra ngoài. Nhân viên công lực VN không được vào kiểm tra cần thiết để nắm quyền kiểm soát khu vực.
Ngay cả nghĩa địa người Hoa ở Việt Nam cũng là một khu vực riêng biệt bất khả xâm phạm. Vậy hỏi quyền lực quốc gia còn đâu nữa?
6* Những bản tuyên bố chung của lãnh đạo CSVN
6.1. Thỏa thuận 4 điểm của Tổng bí thư Nông Đức Mạnh
Ngày 22-8-2006, Nông Đức Mạnh sang Bắc Kinh thúc đẩy tăng cường quan hệ toàn diện và nhất trí với Hồ Cẩm Đào 4 khía cạnh:
Thứ nhất. Lãnh đạo cao cấp hai bên phải duy trì “quan hệ gần gũi” thông qua những cuộc viếng thăm cấp cao.
Thứ hai. Quan hệ kinh tế thương mại phải được nâng lên nấc thang cao mới, cụ thể hơn.
Thứ ba. Vấn đề lãnh thổ phải luôn luôn đạt được “sự đồng thuận”, bảo đảm ổn định lâu dài. (Nếu đồng thuận thì ổn định)
Thứ tư. Hai bên thống nhất về chính sách ngoại giao, quốc phòng để có nền tảng phát triển bền vững và hữu nghị.
Năm 2009, tỉnh Hải Nam và Việt Nam nhất trí hợp tác toàn diện về chiến lược quân sự.
(Tại sao một quốc gia lại phải hợp tác với một tỉnh của quốc gia khác?)
6.2. Bản tuyên bố chung của Nguyễn Phú Trọng và Hồ Cẩm Đào ngày 15-10-2011
1. Hai bên đã thông báo cho nhau về tình hình mỗi Đảng, mỗi nước.
2. Phía Việt Nam nhiệt liệt chúc mừng 90 năm thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc vui mừng trước những thành tựu mang tính lịch sử dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
3. Hai bên đã nhìn lại và tổng kết 20 năm kể từ khi bình thường hóa quan hệ (1990), khẳng định tình hữu nghị đời đời Việt-Trung là tài sản quý báu chung của hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước, cần được không ngừng củng cố, phát triển, truyền mãi cho các thế hệ mai sau.( Thôn tính tương lai)
6.3. Bản tuyên bố chung của Trương Tấn Sang
Trong bản tuyên bố chung ngày 21-6-2013 được ký bởi Trương Tấn Sang và Tập Cận Bình, có đoạn ghi như sau:
– Dân sự: Đào tạo nhân dân, văn hóa, giáo dục, y tế, sản xuất, chế biến. Khai thác lãnh thổ, lãnh hải, đất liền, biên giới, cửa khẩu, biển Đông, rừng núi, đầu tư, khoa học, công nghệ, kinh tế, thương mại, môi trường, nông nghiệp, ngư nghiệp, dầu khí, giao thông, vận tải và du lịch.
– Chính trị: Xây dựng nguồn máy đảng, và nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tham vấn chính phủ, ban tuyên giáo, ban đối ngoại trung ương, ban lý luận, đào tạo hữu nghị quân, dân, cán chính cao cấp.
– Quân sự: Quân đội, quốc phòng, khí tài, an ninh, ngoại giao.
Kế hoạch toàn diện qui định mỗi bộ phận đặt đường dây nóng tự quản và kết nối quản trị Bắc Kinh.
(Đường dây nóng tự quản với Bắc Kinh là nhận lịnh trực tiếp từ chính quyền trung ương ở Bắc Kinh)
Ngoài ra, đảng CS và nhà nước Việt Nam, ưu tiên để 4 tỉnh phía Nam Trung Quốc, như Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, Hải Nam được hưởng đặc quyền khai thác toàn diện trên 7 tỉnh biên giới của Việt Nam, như Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh. Người Trung Quốc được hưởng qui chế "bất xâm phạm" từ khi có mặt tại Việt Nam để thi hành công tác khai thác toàn diện trên lưng người Việt Nam.
“Hai bên nhất trí tăng cường hơn nữa sự hợp tác giữa các tỉnh, khu vực của hai nước, nhất là giữa 7 tỉnh của Việt Nam: Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, hợp tác toàn diện với 4 khu tự trị của Trung Quốc gồm có: Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Vân Nam”.
Trước hết Trung Cộng muốn Việt Nam hội nhập với 4 khu tự trị để trở thành 5 khu tự trị gồm có: Mãn, Tạng, Hồi, Mông và khu tự trị mới là Việt Nam. Và cờ Trung Cộng trở thành 6 ngôi sao mà VN đã dùng để chào mừng Tập Cận Bình vừa qua.
Thực tế là chỉ có 3 tỉnh của Trung Cộng mà đòi hợp tác toàn diện với 7 tỉnh Việt Nam, tạo điều kiện dễ dàng và hợp pháp cho thương lái, nhân viên Trung Cộng được đi khắp mọi nơi để nắm tình hình các mặt, biết rõ địa hình địa vật, đường đi lối về, tài nguyên, khoáng sản, đặc sản để khi cần thì xử dụng.
Trên Facebook, nhà bình luận Trần Trung Đạo nêu nhận xét như sau: “Đọc bản tuyên bố chung mới thấy số phận chùm gởi của CSVN phụ thuộc sâu xa vào cây cổ thụ già Cộng Sản Trung Quốc đến mức độ nào. Sự khiếp nhược và ươn hèn thể hiện rõ đến mức chỉ trong một văn bản 8 điểm mà có tổng cộng 29 lần “nhất trí”.
7* Cộng Sản Việt Nam bị cấy sinh tử phù
Trung Cộng đang nắm trong tay những con bài tẩy bằng văn bản chính thức đã được các lãnh đạo CSVN ký và cam kết thi hành. Công hàm bán nước Phạm Văn Đồng chỉ là con bài thứ nhất mà thôi. Những lá bài khác như biên bản bí mật ở Thành Đô năm 1990 và những bản tuyên bố chung đã được ký kết như đã nêu trên.
Thiên la địa võng đã bày ra để khống chế và trừng trị Hán ngụy Việt Nam nếu phản chủ. Các vị trí chiến lược chủ yếu như rừng đầu nguồn, Lào, Campuchia, Tây Nguyên, hệ thống giao thông cao tốc xuyên Việt…và những sư đoàn của đạo quân thứ năm dưới lớp áo công nhân, thương nhân…khiến cho số phận của lãnh đạo CSVN thê thảm như con cá nằm trên tấm thớt của Trung Cộng.
Khi Tập Cận Bình niệm thần chú thì bộ tứ “hùng dũng sang trọng” vừa ôm đầu vừa gật đầu lia lịa.
8* Vì sao Trung Cộng không muốn đưa nội vụ ra tòa án quốc tế?
Ngày 2-6-2014 báo South China Morning Post tường thuật rằng ngày 1-6-2014 Thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh cho biết Hà Nội vẫn chưa quyết định bao giờ sẽ yêu cầu toà án trọng tài quốc tế phân xử tranh chấp, nhưng nói đó là tùy thuộc vào hành động của Trung Quốc.
Trước đó, Nguyễn Tấn Dũng cũng cho biết là VN đã chuẩn bị bằng chứng cho hồ sơ pháp lý nầy, nhưng mọi việc sẽ do Bộ Chính Trị quyết định.
Ông Trần Công Trục, nguyên Trưởng Ban Biên giới Chính phủ lại lên tiếng là kiện chẳng ăn thua gì.
Có thể dùng câu “Đừng nghe những gì Cộng Sản nói, hãy nhìn kỹ những gì Cộng Sản làm” để biết bản chất của CSVN trong vấn đề nầy.
Vì sao Trung Cộng không muốn nội vụ được đưa ra toà án quốc tế?
Không phải TC sợ bị thua kiện, vì họ đã có khả năng vô hiệu hóa vụ kiện 100% bởi quyền phủ quyết ở HĐ/BA/LHQ, mà cũng không phải vì Trung Cộng sợ dư luận quốc tế, vì nếu sợ thì đã không làm ngang tàng như thế..
Điều mà Trung Cộng mong muốn là “những mâu thuẩn trong gia đình” phải để gia đình giải quyết. Tập quán Á Đông là nếu đưa chuyện nôi bộ gia đình ra ngoài thì chẳng khác gì “vạch áo cho người xem lưng”. Điều Trung Cộng muốn là Việt Nam phải là một trong đại gia đình các dân tộc Trung Quốc mà Nguyễn Văn Linh đã lặn lội từ Hà Nội đến Thành Đô để thỉnh cầu hồi năm 1990.
Đây là phép thử, xem CSVN có đủ can đảm để thoát ra đại gia đình các dân tộc TQ đó không?
Nếu quan sát kỹ những tuyên bố của Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Chí Vịnh và Trần Công Trục nêu trên, thì có thể đoán được lãnh đạo CSVN vẫn còn hèn nhát, vì không dám phản chủ, nên chỉ dám nói mà không dám làm. Hơn nữa Việt Cộng đã bị cấy sinh tử phù và niền chiếc vòng kim cô lên đầu rồi thì chẳng còn hành động can đảm nào nữa cả.
Hãy chờ xem!
9* Kết luận
Giả sử như Wikileaks không tiết lộ biên bản bí mật ở hội nghi Thành Đô năm 1990, hoặc xem như không có nó, thì những hành động của đảng CSVN cũng đã bị lên án là bán nước, hèn nhát vì đã đặt đất nước, dân tộc Việt Nam dưới tay bọn Trung Cộng. Sự thật hiển nhiên đó không thể vối cãi được.
Việt Nam đã lệ thuộc vào Trung Cộng từ lâu rồi. Ông Vương Gia Thụy, Trưởng ban Đối ngoại Trung Cộng, đã nêu những bằng chứng cho thấy Việt Nam đã được sát nhập vào Trung Cộng, như sau: “Việt Nam và Trung Quốc đã hợp tác chiến lược toàn diện. Cơ chế xã hội giống hệt nhau. Con đường phát triển tương tự như một. Quan hệ hai nhà nước ổn định và cùng một mục đích phát triển chấn hưng sự nghiệp Xã Hội Chủ Nghĩa”.
Đảng CSVN là tội đồ của dân tộc. Hãy đối chiếu với di chúc của vua Trần Nhân Tông thì thấy rõ ngay. Nhà vua di chúc: “Cái họa lâu đời của ta là họa Trung Hoa. Một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không để lọt vào tay kẻ khác. Ta để lời nhắn nhũ nầy như là một lời di chúc cho muôn đời con cháu về sau” (Vua Trần Nhân Tông)
“Các vua Hùng có công dựng nước. Đức Trần Hưng Đạo có công giữ nước để bác cháu ta tha hồ bán nước!”.
Trúc Giang
Minnesota ngày 4-6-2014
Cách thức đảng CSVN biến đất nước thành một tỉnh của Trung Quốc
Nguyễn Chính Kết - Qua những sự kiện đang xảy ra trước mắt tại Việt Nam, người dân tinh ý hẳn nhiên phải nghi ngờ hay ít ra phải đặt câu hỏi:
Phải chăng Việt Nam đang trên đường trở thành một tỉnh của Trung Quốc dưới sự điều động, tiếp tay của bộ chính trị đảng CSVN và với sự đồng lõa của Quốc hội và nhà nước CSVN?
Làm sao không nghi ngờ được khi mà suốt nửa thế kỷ nay, đảng CSVN đã liên tục có những hành động hết sức thuận lợi cho tham vọng bành trướng của Trung cộng về phía Việt Nam, nhưng lại vô cùng nguy hiểm cho tương lai dân tộc Việt?
Những hành động tiếp tay cho Trung cộng ấy, nhiều trang web lề dân đã đưa tin mà chúng ta có thể tổng hợp lại như sau:
- CSVN công nhận chủ quyền của Trung cộng trên quần đảo Hoàng Sa + Trường Sa qua công hàm bán nước mà Hồ Chí Minh ra lệnh cho Phạm Văn Đồng ký năm 1958.
- Vào thập niên 2000, Đảng CSVN đã lén lút ký mật ước nhượng hàng chục ngàn cây số vuông đất ở vùng biên giới phía Bắc và hàng trăm ngàn cây số vuông biển ở vịnh Bắc bộ cho Trung Quốc. Người dân nào tìm cách điều tra, tìm hiểu sự thật về hành động ám muội này của đảng, hoặc công bố sự thật này lên đều bị khủng bố hoặc bị đưa vào tù như trường hợp của Lê Chí Quang, Bùi Minh Quốc... Việc cố tình che giấu hành động này chứng tỏ đảng CSVN rất ý thức đó là một hành động phản quốc, bán nước, hại dân, nhưng họ vẫn quyết tâm “minh tri cố phạm”.
- Cũng trong thập niên 2000, CSVN cho Trung Quốc mở những đường hỏa xa vào Việt Nam. Đây cũng là một cách dọn đường hay chuẩn bị cho Trung Quốc xâm chiếm Việt Nam, để họ có sẵn phương tiện chuyên chở quân đội và vũ khí vào Việt Nam. Việc mở rộng Đường mòn Hồ Chí Minh với quy mô từ 2 đến 8 làn xe dọc theo biên giới phía Tây Việt Nam cũng rất thuận lợi cho các đoàn xe của Trung cộng tiến thẳng vào Tây Nguyên cũng như vào Sài Gòn.
- Năm 2007, CSVN cho Trung cộng vào Tây Nguyên để khai thác Bauxít bất chấp điều này tạo điều kiện rất thuận lợi cho Trung cộng đánh chiếm Việt Nam. Vì Tây Nguyên là một vị trí chiến lược rất quan trọng tại Việt Nam đúng như nhận định của Tướng Pháp De Lattre De Tassigny: “Ai làm chủ được vùng Tây Nguyên và Hạ Lào thì sẽ làm chủ được chiến trường Đông Dương”.
- Cho người Trung Quốc vào Việt Nam không cần visa khiến họ có thể dễ dàng xâm nhập vào toàn cõi Việt Nam để sinh sống, lập nghiệp, khiến hiện nay người Tầu đã lập nên những khu phố Tầu nhan nhản khắp Việt Nam như ở Bình Dương, Hải Phòng, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Hà Tĩnh, v.v... với những biển hiệu quảng cáo, thực đơn dày đặc tiếng Trung Quốc, với đầy những biểu hiện văn hóa Tầu... Những khu phố này dường như CSVN không kiểm soát được, hay nói đúng hơn là không dám kiểm soát. Có thể nói không ngoa đó là những khu tự trị của người Tầu tại Việt Nam.
- CSVN tạo điều kiện cho các công ty của Trung cộng trúng thầu thực hiện đa số những công trình xây dựng quy mô tại Việt Nam để qua đó Trung cộng có cớ đưa công nhân của họ sang làm việc và lập nghiệp tại Việt Nam. Trong khi rất nhiều người dân Việt không có công ăn việc làm thì những việc làm béo bở lại được dành phần cho người dân Trung cộng ngay trên đất nước của mình.
- CSVN mặc tình cho hàng ngàn tàu các loại của Trung Cộng được tự tung tự tác trong vùng biển thuộc chủ quyền của mình, tha hồ bắn giết các tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam mà hải quân Việt Nam không hề có mặt để bảo vệ, thậm chí bộ ngoại giao CSVN cũng không dám lên tiếng phản đối để bênh vực ngư dân của mình.
- Năm 2010, CSVN cho các doanh nghiệp Trung cộng thuê đất rừng đầu nguồn dài hạn(50 năm) để họ trồng rừng nguyên liệu với tổng diện tích lên đến hàng mấy trăm ngàn hécta.
- Khi Trung Quốc thành lập huyện Tam Sa, chính thức sát nhập hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào lãnh thổ Trung Quốc, đồng thời rất nhiều lần xâm phạm chủ quyền Việt Nam trên các vùng biển thuộc lãnh hải Việt Nam (như cắt cáp các tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam năm 2011-2012), đảng CSVN dường như hoàn toàn im lặng chấp nhận.
- Điều tệ nhất của CSVN trong việc tiếp tay Trung cộng là: Nếu hèn nhát không dám phản đối trước những hành động ngang ngược của Trung cộng xâm phạm trầm trọng chủ quyền của Việt Nam, thì đúng ra CSVN phải dựa vào thế của người dân và để cho người dân trong nước được tự do phản đối những hành động xâm phạm đó. Đằng này CSVN lại thẳng tay đàn áp và khủng bố một cách tàn bạo những người dân yêu nước có ý thức trách nhiệm trước hiểm họa ngoại xâm dám lên tiếng phản đối Trung cộng, đồng thời dùng bạo lực và những hành động hết mức bỉ ổi để dẹp tan những cuộc biểu tình của người dân phản đối việc xâm phạm lãnh thổ lãnh hải này của Trung cộng.
- Ngay cả việc biểu lộ lòng biết ơn đối với những chiến sĩ đã hy sinh để bảo vệ lãnh thổ và lãnh hải của Việt Nam trong các trận chiến ở Hoàng Sa - Trường Sa năm 1974 và 1988, ở các tỉnh biên giới phía Bắc năm 1979 mà đáng lẽ chính nhà nước CSVN phải đứng ra tổ chức, họ cũng không dám làm. Không dám biểu lộ lòng biết ơn ấy đã đành, CSVN còn quyết chí cấm đoán và phá đám khi người dân biểu lộ lòng biết ơn ấy.
- v.v... và v.v...
Trước những sự kiện ấy, người dân có thể suy đoán để quả quyết một cách có cơ sở rằng CSVN đang chuẩn bị những bước tiệm tiến để biến Việt Nam thành một tỉnh của Trung cộng. Vì sợ “dục tốc bất đạt”, CSVN cũng như Trung cộng không dám thực hiện ngay điều chúng muốn vì sợ người dân phẫn nộ, có thể tạo nên một cuộc cách mạng đẫm máu lật đổ chế độ. Vì thế chúng phải thực hiện việc này một cách tiệm tiến cho đến lúc sự việc đã rồi, không còn thay đổi được nữa.
Thiết tưởng người dân Việt trong và ngoài nước cần nhìn vào những sự kiện thực tế đang xảy ra để theo một trình tự hợp lý đoán ra bản chất sự việc mà CSVN đang cố ý che giấu. Một nguy cơ rất lớn cho cả dân tộc Việt Nam đang được hai đảng Cộng sản Trung Quốc và Việt Nam thực hiện một cách tiệm tiến. Do đó, mỗi người cần nhận chân nguy hiểm ấy sớm chừng nào hay chừng nấy để kịp thời hành động, chứ chờ mọi sự trở thành rõ ràng thì đã quá muộn.
Đọc tin tức về hành động của nhà cầm quyền Moscow đối với Ukraine trong vụ Crimea mà giật mình khi nghĩ đến trường hợp tương tự có thể xảy ra cho đất nước mình. Putin và quốc hội Nga lấy cớ bảo vệ dân Nga ở Crimea để đem quân sang Ukraine, bất chấp luật quốc tế mà Nga đã ký kết.
Nhìn vào thực tế đất nước mình, có thể nói: chưa bao giờ dân Trung cộng lại đông như hiện nay tại Việt Nam. Những khu phố Tầu đã và đang được mọc lên khắp nơi trong nước, mà nguy hiểm nhất là tại Tây Nguyên. Giả như tại Việt Nam bùng nổ một cuộc cách mạng tương tự như tại Ukraine và thành công buộc đảng CSVN phải từ bỏ quyền cai trị, làm sao Trung cộng lại không bắt chước Nga đem quân vào Việt Nam, lấy cớ bảo vệ dân Tầu rất đông đảo đang sinh sống tại Việt Nam? Với bản chất phản quốc của đảng CSVN, làm sao tránh được chuyện Bộ Chính trị đảng gọi điện cầu cứu Trung cộng đem quân qua để bảo vệ chế độ? Và đám dân đông đảo của Trung cộng đang hiện diện khắp nơi tại Việt Nam chẳng lẽ lại không tiếp tay cho đoàn quân xâm lược của Trung cộng vào lúc ấy?
Nội bộ của đảng CSVN cũng như Bộ Chính Trị đảng cũng đã có những Trọng Thủy sẵn sàng làm nội tuyến cho kẻ thù. Trong nước thì CSVN đã chuẩn bị sẵn một lực lượng đông đảo của kẻ thù mai phục khắp nơi, và CSVN cũng đã chuẩn bị sẵn những con đường rộng rãi để kẻ thù có thể tiến thẳng vào Hà Nội cũng như vào Sài Gòn. Tình thế quả thật rất nguy hiểm và hết sức bất lợi cho dân tộc.
Giữa lúc đất nước đang nguy hiểm tương tự như “ngàn cân treo sợi tóc” thì nhiều người Việt mang danh là chống Cộng chống Tầu lại quan tâm chống nhau nhiều hơn chống hai kẻ thù kia. Trong cuộc hành quân chống lại địch thủ mạnh hơn mình, thật không gì nguy hiểm và dại dột cho bằng quân mình lại bắn lẫn nhau. Thay vì hướng mũi súng về phía kẻ thù thì lại hướng về phía đồng đội, chỉ vì những đồng đội này không chịu bắn theo kiểu của mình, không mặc áo giống mình, không dùng cùng một loại súng với mình!
Trước tình trạng nguy hiểm như hiện nay, thiết tưởng mọi người dân Việt cần tập trung năng lực vào việc cứu nguy đất nước. Không nên để những việc nhỏ làm sao lãng công việc tối quan trọng này. Nguy hiểm do sự khác biệt nhau không là gì cả so với nguy hiểm của cả dân tộc đang trên bờ vực thẳm!