Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Sáu 2026
T2T3T4T5T6T7CN
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30          
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 8
 Lượt truy cập: 29290154

 
Tin tức - Sự kiện 09.06.2026 16:09
Thoát Trung ha là chết! Muốn dân tộc vinh quang phải thoát ảnh hưỏng văn hóa TQ
28.06.2014 14:58

Thoát Trung Luận      Tác giả:  Giáp Văn Dương

Thời gian gần đây, khi thảo luận về những nguy cơ đối với nước ta trước sự trỗi dậy của Trung Quốc, về lựa chọn mô hình phát triển cho Việt Nam, về tình hình tranh chấp Biển Đông …, một số người thuộc giới trí thức trong và ngoài nước, dù chưa chính thức, cũng đã ít nhiều đi đến một nhận định chung: Cần thoát khỏi sự ảnh hưởng của Trung Quốc!

Người biểu tình hô khẩu trong cuộc biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội.

Tuy nhiên, nhận định này chưa bao giờ được viết ra một cách mạch lạc, có hệ thống, và dường như chỉ mới dừng ở mức trực giác. Vì thế, một bài luận nhằm phân tích rõ ràng về nhận định quan trọng này là cần thiết.
Tư tưởng thoát khỏi Trung Quốc thực ra không hề mới. Lịch sử nước ta có thể được diễn giải tương đối đầy đủ dưới góc nhìn thoát Trung. Phần lớn các cuộc khởi nghĩa, các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc ta đều mang trong mình một thông điệp nóng hổi: Thoát khỏi vòng kiềm tỏa của Trung Quốc!
Sự kiện dân tộc Việt Nam không bị đồng hóa và giành lại được độc lập sau gần một nghìn năm Bắc thuộc là một sự kiện hy hữu trên thế giới. Đó là kết quả của một quá trình thoát Trung bền bỉ kiên trì. Sau khi giành được độc lập, quá trình này được tiếp nối không chỉ ở các cuộc kháng chiến vệ quốc, mà còn ở các nỗ lực giữ gìn ngôn ngữ, văn hóa ở các triều đại sau này.
Khi còn nhỏ, tôi đã từng ngạc nhiên khi đọc bài hịch của vua Quang Trung khích lệ tướng sĩ trước khi ra trận: “Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để răng đen…”.  Tôi đã tự hỏi, vì sao nhà Vua không chọn những biểu tượng lớn lao hơn mà lại chọn những điều nhỏ nhặt như vậy để động viên quân sĩ? Nhưng càng ngày tôi càng thấm thía: Đó là lòng kiên định của tổ tiên nhằm thoát khỏi vòng kiềm tỏa của nền văn hóa Trung Hoa, ngay từ những việc nhỏ nhất.
Ý thức vùng thoát khỏi vòng kiềm tỏa này là thường trực. Tuy nhiều lúc bị chao đảo bởi sự tấn công mạnh mẽ đến từ phương Bắc, nhưng mỗi khi cần đến thì ý thức vùng thoát này lại bùng lên dữ dội. Nỗ lực xây dựng chữ viết riêng cho dân tộc như chữ Nôm của cha ông, và gần đây nhất là việc toàn dân đồng loạt chuyển sang sử dụng chữ quốc ngữ, là minh chứng rõ ràng cho sự vùng thoát khỏi vòng kiềm tỏa này.
Riêng với việc chuyển sang sử dụng chữ quốc ngữ, có thể nói, đây là một cuộc thoát Trung ngoạn mục. Thành quả của nó thật đáng nể: Số người biết đọc biết viết tăng lên gấp bội, số lượng văn bản sử dụng chữ quốc ngữ chỉ trong một thời gian ngắn đã tăng lên gấp nhiều lần so với số văn bản chữ Nho của toàn bộ lịch sử nước ta trước đó. Cũng chính nhờ chữ quốc ngữ mà về mặt hình thức, ngôn ngữ của chúng ta đã thoát khỏi vòng kiềm tỏa của tiếng Hán. Tỷ như đến giờ phút này, nước Việt ta vẫn dùng chữ Nho để viết và giao tiếp với thế giới, thì đối với họ, ta có khác nào một quận huyện của Trung Quốc? Ta sẽ gặp khó trong việc thuyết phục họ rằng, ta là một quốc gia độc lập, có ngôn ngữ và văn hóa riêng.
Tên gọi của nước ta cũng không phải là một sự ngẫu nhiên. Đằng sau mỗi cái tên đều là một lời nhắn nhủ hoặc một mong đợi sâu thẳm. Ông cha ta đã chọn hai chữ Việt Nam để đặt làm tên nước. Việt Nam có nghĩa là tiến về phương Nam. Điều này có nghĩa là gì? Chỉ có thể cắt nghĩa: Tiến về phương Nam để thoát khỏi vòng kiềm tỏa của người phương Bắc. Đó là di lệnh của tổ tiên cho các thế hệ con cháu người Việt Nam mình.
Như thế, tổ tiên chúng ta bằng kinh nghiệm và trực giác, thông qua cách chọn tên nước, đã di lệnh cho con cháu: Muốn tồn tại thì phải tiến về phương Nam, thoát khỏi vòng kiềm tỏa của người phương Bắc. Lịch sử mở nước của chúng ta trong thời cận đại có thể  được hiểu là gì khác hơn việc thực hiện di lệnh của tổ tiên mình?
Nhưng điều không may cho chúng ta là nền văn hóa Trung Hoa có sức ảnh hưởng quá lớn. Nó như một đại nam châm hút các dân tộc xung quanh về phía mình. Nên dù luôn có ý thức vùng thoát khỏi ảnh hưởng của người Trung Quốc, dù đã được cha ông di lệnh kỹ càng, thì lịch sử của Việt Nam luôn là sự giằng xé giữa hai luồng vận động: Vùng thoát khỏi Trung Quốc và chầu về Trung Quốc.
Sở dĩ có sự giằng xé này là vì, trong suốt thời phong kiến, do sự hạn chế của phương tiện giao thông, thế giới bên ngoài đối với nước ta dường như chỉ có một mình Trung Quốc. Khi người của ta chưa đủ đông, kinh tế của ta chưa đủ mạnh, văn hóa của ta chưa đủ trưởng thành, thì việc chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa cũng là điều dễ hiểu.
Nhưng ngày nay, thời thế đã đổi thay. Một em bé sinh ra ở một vùng quê hẻo lánh cũng có đủ thông tin để biết rằng, thế giới không chỉ có một mình Trung Quốc. Thế giới còn có nhiều nền văn hóa khác, mang nhiều giá trị tiến bộ hơn, đáng học hỏi hơn nền văn hóa Trung Hoa, đến mức bản thân người Trung Quốc cũng phải mau mau thay đổi để học hỏi những điều tiến bộ này. Trên thực tế, những vùng nào của Trung Quốc gỡ bỏ được một phần văn hóa Trung Hoa truyền thống để du nhập các giá trị văn hóa phương Tây như các Hồng Kông, Đài Loan… thì đều phát triển vượt bậc so với những phần còn lại của Trung Quốc lục địa.
Nhiều nước châu Á khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore cũng đã tìm cách thoát khỏi ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa thành công và trở thành những con rồng con hổ châu Á mới. Họ không chỉ giữ được độc lập, mà còn tiến nhanh thành một nước phát triển, được thế giới kính nể trọng vọng.
Hãy lấy trường hợp Nhật Bản làm ví dụ: Bằng cách thực hiện cuộc thoát Á nhập Âu từ nửa sau của thế kỷ 19, Nhật Bản đã tránh được ách nô lệ thực dân và phát triển thành cường quốc chỉ sau một thời gian ngắn. Thoát Á với Nhật Bản thời gian đó là gì, nếu không phải là thoát khỏi ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa? Vì vậy có thể nói, chìa khóa để Nhật Bản phát triển thành công là thoát khỏi vòng ảnh hưởng của Trung Quốc.
Vậy thì tại sao chúng ta lại không làm như họ? Tại sao ta lại không vùng thoát khỏi vòng kiềm tỏa của Trung Quốc để phát triển, khi gương thành công đã bày ra trước mắt cả trăm năm, khi di lệnh của tổ tiên vẫn còn bên tai văng vẳng?
Câu trả lời chỉ có thể là: Tư tưởng chầu về Trung Quốc đã trở thành một quán tính tâm lý, một vô thức xã hội hay một phản xạ có điều kiện. Tư tưởng này đã ăn sâu vào đời sống ở nhiều dạng nhiều mặt nên khó lòng dứt bỏ được. Với người dân thì đó là sự tiếp nhận văn hóa Trung Hoa một cách vô tư hào hứng qua phim ảnh, sách báo… đến mức trẻ em thuộc sử Tàu hơn sử Ta, quen với đồ chơi Tàu hơn đồ chơi Ta. Thương nhân ta thì chỉ chăm chắm nhập hàng Trung Quốc giá rẻ về bán cho dân, dù biết là hàng kém và có nhiều độc hại. Ở mức quốc gia thì đó là sự ràng buộc đến mức vô lý về ý thức hệ vào người Trung Quốc, dẫn đến thua thiệt và bất bình đẳng trong bang giao quốc tế.
Những việc này đều diễn ra một cách trơn tru tự động, đến mức không mấy ai tự hỏi: Vì sao mọi chuyện lại quá dễ dàng như vậy? Câu trả lời hẳn nhiên là tư tưởng chầu về Trung Quốc đã bén rễ sâu trong tiềm thức của xã hội ta như một chất gây nghiện, tuy độc hại nhưng rất khó từ bỏ. Vì nếu từ bỏ thì sẽ gây ra đau đớn và chống chếnh phần nào. Nhưng từ xưa đến nay, có chất gây nghiện nào có lợi?
Trong hoàn cảnh đó, chỉ còn một cách duy nhất là quán chiếu để nhìn sâu hiểu kỹ tác hại của việc chầu về Trung Quốc, để thấy được mối nguy lâu dài của nó đối với đất nước thì may ra mới có thể dứt bỏ được.
Trước hết là về văn hóa: Có so sánh ra bên ngoài mới thấy, bản sắc văn hóa của ta quá đỗi mong manh. Lý do chính là văn hóa của ta đã bị áp đảo bởi văn hóa Trung Hoa trong suốt nhiều thế kỷ, nay càng bị áp đảo mạnh hơn bởi tiến bộ của phương tiện truyền thông. Nhiều người khi còn sống thì một chữ tượng hình bẻ đôi không biết, nhưng khi chết thì lại được cúng tế bằng các bài văn khấn chữ Nho. Chuông, khánh trong chùa dù mới đúc, cũng hết thảy được khắc bằng thứ chữ của người Hán dù chẳng ai đọc được. Truyền thanh truyền hình, tuy sống bằng tiền thuế của dân Việt Nam ta, lại ngày đêm truyền bá văn hóa Trung Hoa đến tận hang cùng ngõ hẻm. Thời sự hơn nữa thì phim về tổ tông được quay bên Trung Quốc, Vạn Lý Trường Thành được mang về Đà Lạt... Ôi thôi, biết bao nhiêu mà kể!
Xin hỏi: Một dân tộc được định hình chính bởi cái gì? Có phải là bởi đất đai, tài nguyên của dân tộc đó hay không? Chắc hẳn là không. Người ta phân biệt dân tộc này với dân tộc khác bởi chính văn hóa của nó. Nay văn hóa của ta đang bị áp đảo mà dân ta lại vui vẻ cổ vũ chấp thuận, thì khác nào tay ta đã yếu, mắt ta đã chậm mà ta lại tự mua dây về bịt mắt trói tay mình?
Chính do sự áp đảo của văn hóa Trung Hoa nên những thói hư tật xấu của họ đã tìm được đất sống và tác oai tác quái ở ta. Nạn chuộng bằng cấp hư danh, tệ mua quan bán chức, thói tầm chương trích cú, ếch ngồi đáy giếng, ngông nghênh coi thường chân lý, bệnh phụ mẫu quan phương, chính trị thống soái …– những đặc trưng của văn hóa hủ nho Trung Quốc không hề giảm đi trên đất Việt Nam ta mà ngược lại, như rồng gặp nước, múa may phát triển tràn lan, biến hóa gây hại không biết bao nhiêu mà kể. Vì sao vậy? Vì không sáng tạo ra chỉ học đòi bắt chước, nên nhiều người mang lòng kính sợ, nhất nhất tuân theo không dám đổi thay, nên chỉ nhăm nhắm chầu về, nghiêm cẩn như học trò đối với ông thầy. 
Nay những thói hư tật xấu này đang tác oai tác quái làm suy đồi văn hóa và đạo đức của ta quá thể. Bệnh hình thức hư danh, tật khoe khoang thành tích, thói hành dân, nịnh trên lừa dưới, tệ chạy chức chạy quyền… đã thành phổ biến , nên không còn cách nào khác là phải dứt bỏ để học những giá trị tiến bộ của phương Tây như dân chủ, tự do, bình đẳng, bác ái, thực học thực nghiệp… thì mới có thể tiến kịp người.
Ta phải tự gỡ bỏ tấm khăn đang bịt mắt ta ra, phải vứt bỏ sợi dây đang trói buộc mình thì bàn tay khối óc mới được giải phóng, hoa thơm trái ngọt của sự sáng tạo mới được thành tựu. Còn như chỉ mê muội sùng kính những thứ người ta đã phải bỏ đi, thì mãi lếch thếch lôi thôi cũng là điều tất yếu!
Thứ hai là về kinh tế: Việt Nam ta đang bị áp đảo trong thương mại đối với người Trung Quốc. Nhập siêu từ họ lên đến 90% so với tổng nhập siêu của cả nước ta. Trong khi đó, xuất khẩu từ ta sang họ chỉ chiếm một phần rất nhỏ, lại chủ yếu là nguyên liệu thô và hàng nông sản, là những thứ mà giá trị chẳng được bao nhiêu. Vậy có thể nói, về kinh tế, chúng ta đang phụ thuộc vào họ một cách nặng nề. Nền kinh tế của ta đang ở mức chông chênh, có thể sụp đổ khi họ chủ tâm đóng cửa.
Nhưng điều đáng lo hơn cả là những người có thẩm quyền lại không thấy sự bất thường này. Những dự án lớn hầu hết đều rơi vào tay nhà thầu Trung Quốc. Tỷ như, 90% các dự án tổng thầu gần đây đã rơi vào tay họ. Chất lượng của những công trình này rất kém, vì một lẽ giản đơn: Trình độ về công nghệ của họ còn thấp, việc tôn trọng môi trường và văn hóa bản địa họ chẳng quan tâm. Hàng hóa xuất phát từ Trung Quốc luôn bị thế giới cảnh báo là độc hại và kém chất lượng. Chính họ đã gây ra nhiều vấn nạn về văn hóa và môi trường trong nước họ. Vậy thử hỏi, vẫn những con người đó sang nước ta thì làm sao có thể làm tốt cho được?
Đáng tiếc thay, tư duy chộp giật, “sống chết mặc bay tiền thày bỏ túi” của nhiều người có trách nhiệm đã dung túng tình trạng này, gây hại lâu dài cho nền kinh tế. Việc này ta phải trách ta trước hết, vì nếu ta không tiếp tay thì làm sao họ có thể tác oai tác quái. Tiếp tay cho họ hại mình, thời buổi cạnh tranh, hỏi có khác nào mua dây để tự trói chân mình. Mà đã mua dây để tự trói chân mình thì làm sao có thể đi nhanh đi xa cho được?
Chính vì thế, bên cạnh việc vùng thoát khỏi vòng kiềm tỏa về văn hóa, chúng ta cần tìm cách thoát khỏi vòng kiềm tỏa về kinh tế. Nhà nước cần có chính sách giảm thiểu nhập siêu từ Trung Quốc, khuyến khích người trong nước sản xuất kinh doanh. Người Việt phải xây dựng được một nền kinh tế độc lập so với người Trung Quốc, phải mở được những lối đi riêng, tạo dựng được những mô hình phát triển khác hẳn so với họ. Phải phấn đấu trở thành hội điểm đầu tư và thương mại toàn cầu. Việc này nói thì dễ mà làm thì rất khó. Nhưng không vì thế mà không gắng sức, vì tương lai dân tộc phụ thuộc phần nhiều vào chính chỗ này.
Thứ ba là về chính trị: Nước ta đang có một sự ràng buộc kỳ quặc về ý thức hệ đối với người phương Bắc. Họ làm gì thì sớm muộn ta cũng làm theo như bị thôi miên. Rất nhiều khổ đau trong lịch sử của ta đã có nguồn gốc từ việc làm theo như họ.
Dân ta khác, phong hóa của ta khác, đất đai vị thế của ta khác, vậy hà cớ gì ta phải dập khuôn theo? Đành rằng, trước đây ta chỉ biết đến Trung Hoa nên triều chính phải rập khuôn bắt chước, tuy đáng trách những có thể cảm thông. Nhưng nay thế thời đã đổi, thế giới đã mở rộng muôn phương, mà sao ta vẫn nhăm nhắm hướng về phương Bắc? Bao phen cửa nát nhà tan, bị đè đầu cưỡi cổ, mà sao vẫn chưa hết tỉnh hết mê? Lẽ nào, luồng tư tưởng chầu về Trung Quốc, tưởng chừng sẽ nhạt đi khi thế giới được mở rộng ra, lại một lần nữa giở trò mánh khóe kéo chìm ta xuống đáy?
Vì sao vậy? Vì đâu vậy? Vì sự u mê đã đến mức thâm căn cố đế, hay vì đặc quyền đặc lợi của một nhóm người? Di lệnh của tổ tiên và những bài học lịch sử vì sao không còn tác dụng? Dù câu trả lời là thế nào đi chăng nữa thì trên thực tế, sự ràng buộc kỳ quặc về ý thức hệ này đã gây ra nhiều thua thiệt cho ta trong quốc tế bang giao, làm mất đi nhiều cơ hội làm ăn của ta với thế giới bên ngoài. Người ngã xuống vì biên cương hải đảo ta cũng chẳng dám vinh danh… Hỡi ôi!
Thời thế đã đổi thay. Thế giới ngày nay không chỉ có một mình Trung Quốc. Đoàn thuyền ra khơi phần đông đều đi theo một hướng, vậy lẽ gì ta phải tách nhóm đi riêng với kẻ vẫn bắt nạt mình? Sợi dây trói tay trói chân gỡ ra còn chưa được, vậy cớ gì ta lại mua dây để tròng đầu tròng cổ ta thêm?
Và cuối cùng là chủ quyền bị đe dọa: Khi chân tay ta bị trói, đầu cổ ta cũng chẳng được tự do, mắt ta cũng bị buộc nhìn về một hướng, thì thân thể ta làm sao mà vẹn toàn tự chủ? Sự trỗi dậy của người Trung Quốc tất yếu dẫn đến việc họ mở rộng biên giới quốc gia. Tranh chấp với xung quanh là điều khó tránh khỏi. Điều này họ đã công khai thừa nhận. Biển Đông đã nổi sóng. Giờ việc ta cần làm là hãy nhanh nhanh tự cởi trói cho mình, làm cho ta hùng mạnh thêm lên thì mới có thể giữ được vẹn toàn cương thổ.
Khi lực ta còn yếu thì mắt ta phải nhìn xa trông rộng, phải tìm cách kết thân với những kẻ có thế có quyền, có cùng lợi ích cùng mối lo âu để đồng tâm đối phó. Muốn vậy ta phải thiện chí thành tâm, đặt lợi ích quốc gia lên trên những tính toan nhỏ nhặt. Tình thế đã trở nên nguy ngập. Nước Việt ta đang đứng trước một lựa chọn lịch sử: Thoát Trung để phát triển hay cam tâm làm nô lệ một lần nữa?
Là người Việt, không ai muốn trở thành nô lệ ở bất cứ dạng nào. Điều này có nghĩa, lựa chọn duy nhất là vùng thoát khỏi vòng kiềm tỏa của người Trung Quốc để phát triển.
Vậy thì, hãy làm một cuộc thoát Trung toàn diện để hội nhập cùng thế giới và kiến tạo một kỷ nguyên phát triển mới!
Hãy tỉnh cơn mê, dứt cơn mộng mị! Hãy từ bỏ chất gây nghiện chầu về Trung Quốc! Hãy cởi bỏ tấm khăn bịt mắt! Hãy vứt sợi dây đang trói tay, trói chân, tròng cổ, tròng đầu!
Hãy trở về với di lệnh của tổ tiên: Thoát Trung hay là chết!

Phạm Toàn ghi chép

Làm sao để thoát Trung? là chủ đề thảo luận chiều thứ sáu 5 tháng 7 năm 2014, tại 53 Nguyễn Du, theo lịch thường xuyên do Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh và Nhà xuất bản Tri thức cùng đỡ đầu tổ chức, với nội dung là những vấn đề đáng được chú ý của đất nước.

Chủ đề thoát Trung hình như hơi bị “nhạy cảm” – mà chủ đề nào ở đất nước này chẳng nhạy cảm! – nên giáo sư Chu Hảo đã cẩn thận “bao vây” nội dung và thái độ bằng lời trích dẫn câu nói “gây cảm hứng” (Chu Hảo) của ông Thủ tướng đã dũng cảm và mạnh bạo giữa Hội nghị quốc tế từ chối những chuyện hữu nghị viển vông, lại còn căn dặn thêm bà con ta bằng một lô-xếch-xông những đức tính đủ cho bà con lên thẳng thiên đường (phe nào cũng được, đã đến đó thì còn làm gì có phân chia giai cấp nữa).

Bài diễn giảng của tiến sĩ Giáp Văn Dương được chuẩn bị cẩn thận. Nghĩa là nó có lập luận tương đối chặt chẽ, lại được gửi trước cho bà con đọc. Dẫu sao, với ba câu hỏi (1) Thoát đi đâu, (2) Thoát cái gì, và (3) Thoát để làm gì, thì hình như câu hỏi đầu tiên chưa được diễn giả trả lời kỹ. Thoát đi đâu? Quo Vadis? Câu hỏi đó khó nhất. Song, đổi lại, hình như diễn giả đã “tự thỏa thuận ngầm” về cái Quo Vadis, nên các nguyên lý và giải pháp “thoát” được diễn giả chuẩn bị cả bằng trí tuệ minh mẫn và tình cảm chân thành. Cử tọa thấy đáng nhớ một số giải pháp mang tính nguyên lý, ngoài những điều lâu nay nhiều diễn đàn đã nói, như “xây dựng nhà nước pháp quyền”, như “tam quyền phân lập”, như xây dựng “Hội đoàn dân sự” …  riêng người ghi chép cũng nhớ lõm bõm được mấy ý rất hayPhát triển thì mới thoát Trung được – Phải phát triển để bình ổn thay cho bình ổn để phát triển – Từng con người tìm đường làm hết sức mình với tư cách con người tự do, trách nhiệm… Những ý tưởng những lời lẽ và những dòng chữ của một ông giáo thời hiện đại.

Sau khi Giáp Văn Dương thuyết trình, mọi người được chút thì giờ hỏi ngắn, để dành thì giờ cho hai diễn giả tham luận. Người ghi chép nhớ được một câu hỏi ngắn và khá vui của luật sư Trần Vũ Hải: “Nếu tiến hành thực hiện những điều như diễn giả nêu ra, họ bắt cho thì sao?”. Cái ông luật sư thông minh và nghịch ngợm này thường vẫn chơi khó cho cả bạn lẫn bè và nhất là cho những đối thủ các cỡ… ai còn lạ!

Hai bản tham luận của nhà nghiên cứu độc lập Phạm Gia Minh, của giáo sư Trần Ngọc Vương dường như chưa lôi cuốn được cử tọa. Giọng đều đều của anh Phạm Gia Minh đọc tham luận gây ấn tượng hình như anh không muốn chú ý thuyết phục cử tọa. Giáo sư Trần Ngọc Vương thì hùng hồn hơn và có nhiều chi tiết thú vị về Minh Mạng và về xếp hạng nhất thế giới của Việt Nam tính theo mật độ đường bờ biển so với diện tích đất nước, nhưng cử tọa có cảm giác hình như anh muốn đổ tội cho việc không thoát Trung hoặc khó thoát Trung là do não trạng tồi tệ của người Việt mình. Một nhà nghiên cứu độc lập nữa, anh Đinh Hoàng Thắng, được đưa vào đội hình. Anh Thắng cũng chạy đua với giáo sư Vương về vẻ ngoài hùng biện, song cả ba bản tham luận sau báo cáo của Giáp Văn Dương chỉ cho thấy điều này: chủ đề Hội thảo thì cực kỳ quan trọng, nhưng việc chuẩn bị thì lại chưa kỹ. Có lẽ đó là lý do khiến cuộc thảo luận liền sau khi nghe các diễn giả chính bỗng trở nên náo nhiệt và hấp dẫn hơn… cho dù mỗi diễn giả chỉ có thời hạn ba phút và nội dung của từng diễn giả cũng chẳng được chuẩn bị kỹ hơn bao nhiêu.

Mở màn cho cuộc phát biểu thảo luận là bác Nguyễn Vi Khải, cựu chuyên viên trong Ban Cố vấn của Thủ tướng Phan Văn Khải (đã giải thể vào thời nội các Nguyễn Tấn Dũng). Anh Khải đã nói mà không cần đến micro, lại biết cách mở đầu câu chuyện, khiến bà con cử tọa khoái chí vỗ tay rầm rầm: “Tôi xin phát biểu với tư cách là người cách đây 73 năm đã sinh ra tại Thượng Hải”… Anh Khải nói đến việc cha mình bảo con phải về Việt Nam sống và làm việc… phải tự lực mà “thoát Trung” từ sáu bảy chục năm trước. Vì sao? Anh Khải tổng kết một điều cơ bản: Trung Quốc đầy rẫy những bí ẩn của một quốc gia đang thực sự thay đổi vô cùng ghê gớm. Vì thế, theo anh Khải, những cuộc thảo luận về thoát Trung không thể dừng lại nửa chừng, mà cần tiếp tục với chất lượng cao hơn nữa.

Tiếp theo Nguyễn Vi Khải, anh Nguyễn Quang A nói đến việc thoát hoàn cảnh đất nước nằm trong tay một nền chuyên chính theo lối toàn trị. Nguyễn Quang A nhấn mạnh: “Tôi không nói đến Đảng Cộng sản, tôi nói đến cách cai trị theo lối toàn trị, bởi vì đòi thay thế một chính quyền toàn trị này và thay bằng một chính quyền khác cũng toàn trị, thì chẳng có ý nghĩa gì”… Anh hóm hỉnh gợi ý chuyển địa điểm thảo luận chuyện thoát Trung – lát nữa bà con ta xem ảnh và sẽ đoán ra chuyện gì.

Luật sư Trần Vũ Hải lại đứng lên nói. Anh Hải nói về sự liên minh với Hoa Kỳ, với Nhật Bản và Ấn Độ để thoát Trung. Sự lập luận chặt chẽ của vị luật sư có tài liền bị một bạn trẻ (Huyền Trang, sinh viên năm thứ 3 Khoa Lịch sử, xem khẩu khí thì nghĩ rằng có lẽ là sinh viên Đại học Quốc gia, không phải của Đại học Sư phạm, phải không nhỉ, cô Nguyễn Thị Bình, cô Nhã Thuyên?) – bạn Huyền Trang lo lắng rằng “không có bạn nào là vĩnh viễn, cũng chẳng có kẻ thù nào là không thể thành bạn, không lẽ đất nước mình muốn thoát Trung lại chỉ có giải pháp là thay đổi liên minh thôi hay sao?”.

Cuộc thảo luận còn được tiếp nối bằng mấy diễn giả khác nữa. Anh Trần Định (báo ảnh, đã về hưu – tôi ngồi xa, mắt ngọp ngoẹp, chẳng biết có đúng là anh Định không) xúc động nói về ngư dân bị đánh đập, cướp bóc, tính mạng bị đe dọa… Một giáo sư (tôi quên tên) đứng lên chém gió và được giáo sư Chu Hảo nhắc nhở khéo về thời lượng được phép… và tiếp đó là giáo sư Phạm Khiêm Ích phân tích về lời nói đầu của một bản Hiến pháp ra đời sau khi đã dạy lại cho Đặng Tiểu Bình bài học… song hiến pháp đó lại quyết định và chính thức hóa cho nền chuyên chính vô sản… Một giáo sư vừa nho nhã lại vừa đanh thép dẫn ra những sự kiện cứ như là khách quan đã khiến cử tọa thấy vui vui – một niềm vui buồn bã, nhất là khi các cứ liệu lại liên quan chặt chẽ vô cùng với chuyện làm cách gì thoát Trung.

Làm cách gì thoát Trung? Đó là câu hỏi và cũng là hướng kết thúc cuộc Hội thảo hết sức thú vị – mọi người cùng nghĩ đến những giải pháp khoa học, có tính toán chu đáo, có tính khả thi, liên quan đến từng người trong từng ngành hoạt động, và đó chính là một định hướng thoát Trung.

Dưới đây là vài hình ảnh cuộc Hội thảo… Đông vui ra phết! Nhiều người ngồi bệt, nhiều người đứng. Nét mặt vô cùng chăm chú, hoàn toàn không có thế lực thù địch nào giật dây hết.

 PT1

PT2 

Chu Hảo, Phạm Gia Minh, Giáp Văn Dương, Trần Ngọc Vương

 PT3a

Tái bút – Tan cuộc Hội thảo, có người hỏi mình sao hôm nay không phát biểu. Mình nói: “Thế hệ tôi thoát Trung từ lâu rồi, và vì thoát Trung mà nhiều lần sầy vẩy đó. Khi nào rảnh sẽ kể. Bây giờ bận lắm…”.

Thoát Trung là thoát cái gì?

ANDT và con tru

Blog Hiệu Minh. Bác Ai Nghĩ Dùm Tôi phản biện lại bài viết của tác giả Giáp Văn Dương. Blog Cua xin đăng lại thành một entry để bạn đọc tiện phản hồi.

Chúng ta chia sẻ với nhau cho vui, còn người ta có nghe hay không là câu chuyện khác.

Chúc các bạn vui. Và cảm ơn bác Ai Nghĩ Dùm Tôi và anh Giáp Văn Dương.

Thoát Trung là thoát cái gì?

Tác giả: Ai Nghĩ Dùm Tôi.

Bài viết THÓAT TRUNG LUẬN của ông GVD khá hay, nhưng như nhiều bạn đọc đã phân tích, rất tiếc bài viết chỉ dừng lại ở việc nêu lên hiện tượng, thiếu mất khâu phân tích nguyên nhân và đề đạt giải pháp cho những vấn đề đã nêu. (không trách gì tác giả cả, đây là đặc điểm chung của những bài phân tích xã hội học hiện nay, ngại đụng chạm đến những vấn đề nhạy cảm). Nhiều dẫn chứng được nêu mang tính chất phiến diện, cảm tính, thiếu tính thuyết phục.

Tác giả muốn bao quát tất cả những vấn đề văn hoá, kinh tế, chính trị của VN đang phụ thuộc vào TQ, nên bài viết có chiều rộng nhưng thiếu mất chiều sâu. Tác giả cũng chưa đưa ra được đâu là những yếu tố chính khiến cho đất nước ta phải cứ mãi loay hoay trong vòng kiềm toả của TQ. Một phương trình phát triển mà ta nhồi vào trong đó quá nhiều tham số bất định, thì nó thành trò đánh bạc và rất khó tìm ra được đáp số.

Nếu ngày mai, dân chúng VN không xem phim tàu nữa thì nền văn hoá VN sẽ khác tàu chăng?. Không biết khi Nhật Bản và Hàn Quốc hoá rồng, họ có thực hiện việc bảo hộ mậu dịch, tẩy chay hàng hoá của TQ? Nước Mỹ hiện đang dùng hơn 80% hàng TQ, như thế họ có “Chẩu Trung” không?

Hãy nhìn vào một ví dụ thực tế hơn, những năm 60, Lý Quang Diệu tiếp nhận Singapore, với nền tảng 70% dân số gốc Hoa, 30% còn lại gồm đủ thứ tạp phí lù, gồm người hồi, ấn, indo … và cả kiều dân các loại. Về mặt bằng chung, chất lượng dân cư của Sing chẳng khác gì dân cư sống tại Tàu Khựa. Nhưng tại sao chỉ sau có 30 năm, giờ Singapore đã đạt đến tiêu chuẩn của một quốc gia hàng đầu thế giới, chất lượng chủng tộc cái giống dân sống ở Sing ấy, hơn gì cái đám người Hoa sống tại TQ?

Nếu vậy thì GVD nói: “Chính do sự áp đảo của văn hóa Trung Hoa nên những thói hư tật xấu của họ đã tìm được đất sống và tác oai tác quái ở ta. Nạn chuộng bằng cấp hư danh, tệ mua quan bán chức, thói tầm chương trích cú, ếch ngồi đáy giếng, ngông nghênh coi thường chân lý, bệnh phụ mẫu quan phương, chính trị thống soái” thì nên nhìn lại mình trước khi đổ lỗi cho người.

Vậy thì THOÁT TRUNG là cần thoát cái gì? Sự thật là trên hết, không nói ra thì ai cũng biết muốn THOÁT TRUNG thì việc quan trọng nhất là cải tổ mô hình chính trị.

Tự đức vào thế kỷ 19, chạy theo Trung quốc với chính sách bế quan tỏa cảng, cuối cùng mất nước. Việt nam đi theo chủ nghĩa cộng sản với siêu cường Liên xô vĩ đại dẫn dắt, cũng đi vào ngõ cụt. Tại sao không chọn con đường sáng sủa, mà chỉ chọn toàn con đường khó khăn, phiêu lưu, mạo hiểm.

Nhiều ý kiến cho rằng kinh tế TQ đang phát triển rất tốt. Vậy thì tại sao chúng ta không thể bắt chước TQ được?. Việt Nam đã và đang đi theo Trung quốc để đạt được những phát triển về kinh tế như đã thấy hiện nay, tuy nhiên, Việt Nam không phải là Trung quốc. Trung quốc là một quốc gia rộng lớn, đông dân – một thị trường lao động và tiêu thụ hấp dẫn cho bất cứ nhà đầu tư nào. TQ có một tư thế chính trị hoàn toàn khác với Việt Nam. Việt Nam phải chịu một sức ép khổng lồ mà Trung quốc không có, đó là chính bản thân quốc gia láng giềng Trung quốc.

Tuy nhiên, Thí nghiệm Trung quốc chưa đi hết chu kỳ của nó, chưa biết kết quả chờ đợi ở phía trước là cái gì. Hãy khoan vội tin vào. Nhiều ý kiến cho rằng nếu TQ không chuyển sang xã hội dân chủ thì sẽ không tránh sự đổ vở trong tương lai không xa.

Nhân đã nói đến mô hình, thì tại sao không chọn mô hình bền vững: dân chủ Anh 600 năm, dân chủ Mỹ, Pháp hơn 200 năm, dân chủ Nhật 150 năm. Rồi Đại hàn, Đài loan cũng 60, 70 năm nay.

Nếu cho rằng sự thành thật là trên hết, lý do chính để bám vào cái mô hình Trung quốc chẳng qua là vì lợi ích bảo vệ quyền lợi một nhóm nhỏ là ĐCSVN, chứ cũng chẳng phải hoàn toàn vì lợi ích quốc gia.

Sau những gì xảy ra ở Đông Âu, Liên Xô và các nước trong khối XHCN, rõ ràng rằng CNCS là một lý thuyết ảo tưởng, không (có thể là chưa) phù hợp với sự phát triển của xã hội loài người hiện nay. Vì thế, Các cụ “cao cao bên cửa sổ”  loay hoay thử nghiệm đẻ ra một lý thuyết chính trị cứu rỗi nào đó sao cho vừa phát triển xã hội vừa bảo vệ được quyền lợi độc tôn của mình.

Người ta bảo: nếu không có sức khoẻ thì phải khôn khéo mới được việc. Thực lực của xã hội VN dưới sự lãnh đạo của các cụ thì yếu như một đứa bé. Còn sự khôn khéo, trí tuệ, thì các cụ loay hoay mãi cũng không lấy đâu ra những bộ óc tiên tri vĩ đại (gốc Việt Nam) để nhìn ra một con đường khác hơn con đường đại lộ dân chủ mà cả thiên hạ đã đi một cách thành công hàng mấy trăm năm nay, xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, và văn minh nhưng vẫn giữ nguyên được quyền cai trị độc tôn của mình. Có nghĩa là, loay hoay tìm kiếm một giải pháp “Sói vẫn no, mà cừu vẫn còn nguyên vẹn”. Chuyện nghe tưởng như đùa!…

Các thành phần bảo thủ cực đoan trong đảng cho rằng, nếu muốn giữ quyền lực thống trị độc tôn, cách duy nhất là phải học theo cách của Trung Quốc hiện nay. Muốn ổn định chính trị phải nắm giữ quyền lực chính trị, đè bẹp những ai chống đối hay khác chính kiến. Mặc những chính kiến đó có lợi cho quyền lợi quốc gia nhưng nguy hiểm và đe doạ đến quyền lợi cai trị.

Giai cấp lãnh đạo VN có biết rằng ta cần phải học cách làm kinh tế của tây phương mới mong phát triển đất nước không? Các cụ không những biết mà còn biết rất rõ lắm chứ, nên lãnh đạo ta đã trả tiền thuê những nhóm nghiên cứu, những chuyên gia về kinh tế của đại học Harvard Mỹ giúp đở. Tuy nhiên, Các báo cáo về kinh tế của bọn này đã đưa ra một số giải pháp, trong đó có những giải pháp nghịch nhĩ lãnh đạo. Tây nó đồn rằng nhóm này “được” yêu cầu không được động đến một số thứ khi đề xuất trong các báo cáo. Đương nhiên là không thể có thứ phân tích, tích “phân”  như thế từ Harvard, vì thế mà bọn nó chán không làm nữa.

Vậy thì VN có thể THOÁT TRUNG không? Nước Anh để phát triển đến hàng đầu thế giới cần tới quá trình 300 năm. Nước Mỹ quật khởi sau đó chỉ cần tới 100 năm. Khi Nhật Bản vươn mình dậy từ đống đổ nát chiến tranh, nó mất 30 năm để đạt đến vị thế siêu cường kinh tế thứ hai trên thế giới. Đài Loan, Hàn Quốc, hoá rồng với thời gian còn ngắn hơn nhiều, chỉ ngót nghét 25 năm. Một nửa VN từ 1954-1975 cũng đã THOÁT TRUNG đã từng có “hòn ngọc viễn đông”. Không có điều gì là không thể, ngoại trừ việc tìm đúng giải pháp và con đường cho nó.

Vấn đề ở đây là ” làm thế nào ” thôi! Làm thế nào để THOÁT TRUNG là một vấn đề mới cần mổ xẻ. Tôi không dám cho rằng mình biết câu trả lời. Tuy nhiên những ý kiến sau đây chỉ là đóng góp cho một cuộc động não chung:
Hãy lấy Sing là ví dụ. Sing bây giờ trực thuộc TQ, nhưng người Sing họ vẫn cho rằng họ ở một tầm vóc cao hơn dân lục địa TQ, Để vươn lên thành một trong những cường quốc thế giới, Sing có ba yếu tố:

1. Một nền pháp trị chuẩn mực, cái Sing được thừa hưởng từ Anh.
2. Một đội ngũ lãnh tụ có tầm nhìn, có tâm và thực sự sống với động cơ cống hiến cho quốc gia.
3. Biết trân trọng và phát triển nguồn lực con người, ở đây là hệ thống giáo dục và đạo tạo đội ngũ trí thức và chuyên viên có trình độ và tay nghề cao.


Trần Đức Việt - Thoát khỏi tư duy lý luận Mác - Lênin và tư duy lý luận Trung Quốc là điều cần thiết

Bàn thêm sau khi đọc bài Thoát Trung luận của Giáp Văn DươngTôi đọc bàiThoát Trung Luậncủa ông Giáp Văn Dương với tinh thần đồng cảm sâu sắc. Và xin có lời bàn thêm...

Theo sách lịch sử chính thống của nhà nước Việt Nam thì vào đầu thế kỷ XX phong trào đấu tranh giành độc lập ở Việt Nam lâm vào tình trạng bế tắc về đường lối. Các lý luận theo tư duy phong kiến cùng với phong trào theo hướng này hoàn toàn thất bại. Con đường cứu nước kiểu dân chủ tư sản cũng thất bại, điển hình là cuộc khởi nghĩa của ông Nguyễn Thái Học bị dập tắt, các phong trào đấu tranh không tìm thấy đường ra. Chính lúc đó lãnh tụ của phong trào công nhân là Nguyễn Ái Quốc đã đem chủ nghĩa Mác-Lênin về Việt Nam. Sau này, khi trở thành Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa với tên gọi Hồ Chí Minh, ông có nói: Chủ nghĩa Mác-Lênin như cẩm nang thần kỳ, mỗi khi cách mạng gặp khó khăn là lại giúp những người cách mạng tìm thấy lối thoát. Những thành công, thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều được giải thích là do có Đảng lãnh đạo, do sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam.

Thử điểm lại chủ nghĩa Mác - Lênin đã nêu lên điểm gì mới so với các lý luận khác. Chủ nghĩa Mác - Lênin gồm 3 bộ phận cấu thành: triết học Mác-Lênin, Kinh tế chính trị Mác - Lênin và Chủ nghĩa xã hội khoa học.

Triết học Mác-Lênin thừa nhận vật chất có trước ý thức và quyết định ý thức (ngược lại với triết học Hê-ghen). Kinh tế chính trị Mác - Lênin giải thích sự giầu có của giai cấp tư sản là do bóc lột giai cấp công nhân. Để xóa bất công xã hội, chủ nghĩa Mác - Lênin tóm tắt trong một câu: xóa bỏ quyền tư hữu.Chủ nghĩa xã hội khoa học giải thích lịch sử bằng lý luận đấu tranh giai cấp, cho rằng giai cấp công nhân sẽ đào mồ chôn giai cấp tư sản. Vào thời của Mác, ông đưa ra một số luận điểm mà sau này Lênin bỏ đi. Ví dụ như Mác cho rằng chế độ cộng hòa đại nghị là hình thức nhà nước tốt nhất của dân chủ vô sản, Lênin đã xóa bỏ và kết luận: Nhà nước xô-viết công nông binh mới là hình thức nhà nước chuyên chính vô sản tốt nhất. Hoặc Mác cho rằng cách mạng vô sản chỉ thành công khi giai cấp công nhân chiếm đa số trong dân cư, khi phong trào công nhân cướp chính quyền cùng xảy ra ở nhiều nước, Lênin đã xóa bỏ và nêu lên luận điểm: Cách mạng vô sản sẽ thành công ở khâu yếu nhất trong dây chuyền tư bản chủ nghĩa thế giới, vào đầu thế kỷ XX nơi đó chính là nước Nga. Chủ nghĩa Mác-Lênin vào Trung Quốc bị biến dạng khá nhiều, nhưng nét cơ bản vẫn bảo tồn. Đó là việc xóa bỏ quyền tư hữu, xóa bỏ chế độ cộng hòa đại nghị, dùng chuyên chính vô sản tổ chức xã hội, tiến hành đấu tranh giai cấp quyết liệt. Lịch sử dân tộc Hán có nhiều cuộc đấu tranh nội bộ, đấu tranh cấp nhà nước (Trung Quốc thường chia làm nhiều nước nhỏ, chống lẫn nhau), đương nhiên là tích lũy nhiều kinh nghiệm đấu tranh cấp nhà nước. Lúc Mao Trạch Đông đưa ra "tư tưởng Mao Trạch Đông" (các nhà nghiên cứu phương Tây gọi là Maoism - chủ nghĩa Mao) thì những kinh nghiệm này được nghiên cứu, áp dụng vào hoàn cảnh mới. Hơn thế nữa, Mao muốn "tư tưởng" của mình là hình mẫu cho châu Á, nếu như chưa phải là cho toàn thế giới. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc hiện nay đã hấp thu tất cả những gì trong "tư tưởng Mao Trạch Đông" có thể giúp ích cho họ bành trướng "tư duy Trung Quốc" ra toàn thế giới và điều này họ đang thực hiện với tiềm lực kinh tế ngày càng lớn.

Trở lại với Việt Nam, rất tiếc là các nhà lãnh đạo nhiều thời đã không có tư duy độc lập, không có những lý luận "đặc sắc Việt Nam". Ngay trong thời kỳ thịnh trị nhất của phong kiến Việt Nam như triều đại Lý, Trần, Lê, tất cả đều giống như một bản sao của Trung Quốc. Sách vở toàn là Bắc sử, Kinh Dịch, Tứ thư, Ngũ kinh... Đến thời nhà Nguyễn, được tiếp xúc với văn minh phương Tây rồi mà vua Tự Đức vẫn "tự hào" là Việt Nam "đúng" với đạo Khổng - Mạnh hơn Trung Quốc(?). Lịch sử nhiều khi rất trái khoáy, hiện nay một số nhà lãnh đạo Việt Nam vẫn đang "tự hào" là Việt Nam mới đúng với chủ nghĩa Mác-Lênin, trong khi toàn thế giới đã vứt bỏ lý luận này. Hình như người Việt rất giỏi môn vơ lý luận người khác về làm của mình và khi lý luận này trở nên lạc hậu với cuộc sống thì người Việt vẫn "kiên định" với lý luận vơ được để "tự hào", để "tiếp tục xây dựng truyền thống" và "phát triển trong hoàn cảnh mới". Khi dạo qua các cửa hàng sách, tôi thấy vô số sách viết về Kinh Dịch, Tử vi đẩu số, Tử bình... được xuất bản, tập nọ nối tiếp tập kia. Cầm thử vài quyển lên xem mới thấy nản. Nhiều vấn đề trong sách đã bị người Trung Quốc vứt bỏ từ lâu, từ thời nhà Thanh, khi vua Càn Long tập hợp tư liệu xuất bản Tứ khố toàn thư mà bây giờ nhiều "nhà nghiên cứu" nước ta vẫn nêu lên như chân lý không thể bác bỏ. So sánh cách làm của Trung Quốc với Việt Nam thì càng rõ chúng ta lạc hậu đến mức nào. Trung Quốc có cả một nhóm các nhà khoa học tập trung nghiên cứu kho tàng văn hóa thần bí của họ, xuất bản thành sách. Việt Nam không có một tổ chức chính danh nào nghiên cứu vấn đề tương tự, đưa ra những kết luận có tính khoa học cao (Ngược lại, càng ngày các nhà khoa học Việt Nam càng trở nên mê tín). Đối với những vấn đề của xã hội hiện đại, Việt Nam không có một nghiên cứu cho ra hồn. Vẫn loanh quanh trong vũng lầy của chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa Mao, ẩn dưới nhãn mác "tư tưởng Hồ Chí Minh". Trong một lần nói chuyện với các giáo sư, tiến sĩ, các "trí thức XHCN Việt Nam", ông Nguyễn Phú Trọng, khi đó là Chủ tịch Hội đồng lý luận Trung ương cho biết: Nhà nước đã bỏ ra 9 tỉ đồng đặt hàng cho các nhà khoa học xã hội nghiên cứu vấn đề của xã hội Việt Nam. Nhưng kết quả là gì? Cũng có tổng kết, cũng có giải thưởng nọ kia nhưng các bức xúc của xã hội vẫn còn nguyên đó. Chẳng hạn một đề tài về đổi mới ở Việt Nam các tác giả đưa ra mấy kịch bản sau: đổi mới thành công, nước ta thoát khỏi lạc hậu; đổi mới không thành công, nước ta rơi vào khủng hoảng gay gắt; nước ta bị nước ngoài lợi dụng vấn đề dân tộc ở Tây Nguyên để can thiệp và mất chủ quyền... Kịch bản là vậy nhưng phương pháp nào để có thể vừa đổi mới thành công, vừa giữ vững chủ quyền thì không khẳng định được. Có lẽ chẳng cần đến trình độ giáo sư tiến sĩ, chẳng cần nghiên cứu gì cũng có thể đưa ra mấy kịch bản kiểu trên.

Tại sao các nhà khoa học nước ta bế tắc như vậy nhỉ? Tôi nghĩ có thể là do hoàn cảnh xã hội không công nhận quyền tư hữu, dẫn đến không có cơ sở đề xây dựng tư duy độc lập, dù cố gắng thế nào thì cũng không vượt khỏi giới hạn của tư duy lý luận Mác-Lênin và tư duy Trung Quốc đè nặng lên xã hội Việt Nam mấy chục năm nay. Có lẽ các nhà khoa học xã hội Việt Nam cũng cần phải có một tiếng súng Đoàn Văn Vươn thức tỉnh họ.


Giải tán đảng cộng sản để thoát Trung cộng (Phần II) - Cái giá phải trả cho sự mờ ám và dối trá của Hồ Chí Minh


SBTN SPECIAL: Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P1)

SBTN SPECIAL: Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P2)

SBTN SPECIAL: Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P3)



Nguoiduatin (Danlambao) - Đã hơn một tháng, Tàu cộng cắm dàn khoan xâm lược vào lãnh hải VIỆT NAM. Thái độ giữ nước của cầm quyền cộng sản chẳng những không làm người dân an lòng trông đợi vào "Sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của đảng cộng sản" bằng những lời rêu rao của người phát ngôn thuộc bộ ngoại giao cộng sản, mà tạo ra sự bất an và căm phẫn trong lòng người VN, cả trong và ngoài nước. 

Khoảng một tháng, sau sự việc Phật Tử Lê Thị Tuyết Mai ((67 tuổi, ngụ tại 253/1 đường Bùi Đình Túy, phường 24, quận Bình Thạnh. Sài Gòn) tự thiêu để phản đối dàn khoan HD 981 của Tàu cộng, được tuyên giáo cộng sản định hướng dư luận, bà Mai tự thiêu trước Dinh Độc Lập vì bế tắc cuộc sống (!?), nay đến ông Hoàng Thu, cựu sĩ quan QLVNCH tự thiêu ngay tại nước Mỹ cũng cùng chí hướng phản đối dàn khoan xâm lược HD 981 của Tàu cộng, phải rút khỏi lãnh hải VN. 

Và để lên tiếng trước khi tuyên giáo cộng sản dùng những cái lổ phun chữ "bẻ lái" cựu sĩ quan pháo binh QLVNCH Hoàng Thu tự thiêu vì bệnh tật hoặc "bế tắc" cuộc sống tại Mỹ.(?)

Gia đình ông Hoàng Thu đã kịp thời lên tiếng "Buổi sáng xảy ra sự việc, ông đã nói lời từ giã với bà vợ, sau đó mọi người trong gia đình không biết gì thêm. Người con gái ghi nhận gần đây khi xem tin tức về Biển Đông, ông tỏ ra rất tức giận." Và ông Hoàng Thu dù cao tuổi, sức khỏe vẫn khá tốt cũng như rất tỉnh táo khi chào từ biệt vợ con "Bà ở lại trông chừng mấy đứa nhỏ. Tôi đi nghe". Ông bình thản bước sang thế giới bên kia với thông điệp rất rõ ràng "Hai Yang 981 phải rời khỏi hải phận VN - Anh hùng tử chí hùng bất tử!" 

VNCH đã mất nước 39 năm, thế mà vẫn còn đó những cựu quân nhân chấp nhận hy sinh để chứng minh sự bất khuất trước giặc ngoại xâm Tàu cộng và cả giặc nội xâm Việt cộng như chính Lê Duẫn thú nhận khi xua quân xâm lược Miền Nam VNCH "Ta đánh đây là đánh cho Liên sô và TQ". Nếu lòng yêu nước chính nghĩa đứng dưới lá cờ vàng truyền thống của dân tộc VN qua hàng ngàn năm lịch sử, tạo ra những người can đảm bất kể tuổi tác, sẵn sàng Vị Quốc Vong Thân, thì đảng cộng sản với chủ thuyết hoang tưởng và phi nghĩa tạo ra những kẻ hèn nhát trước giặc ngoại xâm, nhưng rất "anh hùng" đàn áp người dân tay không tất sắt, khi họ biểu tình chống Tàu cộng xâm lược. Đó là thứ "Anh hùng đầy trước ngõ...*" Mà cộng sản thường rêu rao khi cướp được Miền Nam. (Đừng nghe những gì cộng sản nói - Hãy nhìn những gì cộng sản làm. Cố TT VNCH Nguyễn văn Thiệu).

Lời nói của thủ tướng cộng sản Nguyễn Tấn Dũng, có thể kiện Trung cộng ra LHQ cũng chẳng khác gì lời hứa "lớn họng" chống tham nhũng của ông ở nhiệm kỳ một. Và ông PTT cộng sản Phạm Bình Minh yêu cầu Trung cộng rút dàn khoan, cũng như "ánh mắt mang hình viên đạn" của Phạm Bình Minh khi gặp tên giặc Tàu Dương Khiết Trì, suy cho cùng chỉ là hàng nhái "trích xuất" từ cái băng nhão nhoẹt của tuyên giáo cộng sản. Nhục nhã hơn nữa, báo chí Tàu cộng còn chỉ đích danh đảng cộng sản tại VN là "Đứa con hoang đàng". Thật ra, Tàu cộng miệt thị Việt cộng cũng đúng mà cũng sai. 

Đúng: Việt cộng là đứa con hoang của QTCS, đứng đầu là Hồ Chí Minh (Staline từng gọi HCM là con người ở hang), chỉ muốn dẫn dắt dân tộc VN đến thế giới đại đồng hoang tưởng, mà cái gốc CNCS đã là cặn bã, tội ác chống loài người, kết quả HCM đã giết hàng triệu người VN trong 24 năm hắn cầm quyền**. Và để cho công bằng thì cũng không nên quên tên tội đồ dân tộc Võ Nguyên Giáp chỉ đứng sau Hồ Chí Minh.

Sai: vì Tàu cộng tuy khéo léo mượn chữ "Đứa con hoang đàng" trong Thánh Kinh Công Giáođể miệt thị đàn em, vừa làm méo mó hình ảnh Tôn giáo với bản chất vô thần của chúng. Bởi câu chuyện "Đứa con hoang đàng" kết thúc có hậu, người con hoang đàng trở về với đại gia đình ruột thịt của ông. 

Với đảng cộng sản, chúng chỉ muốn trở về "đất mẹ" của chúng ở bên Tàu qua Hiệp ước Thành Đô 1990 dù có thể chúng cũng là người VN. Lời của thi nô Tố Hữu vẫn còn di họa đến tận ngày nay "Bên đây biên giới là nhà - Bên kia biên giới cũng là quê hương" hay của Chế Lan Viên "Bác Mao chẳng ở đâu xa - Bác Hồ ta đó chính là bác Mao", Tổ quốc của HCM/CS không phải là VIỆT NAM mà là QTCS như chính hắn thú nhận, hoặc như câu nói đưa đẩy của vợ Lê Duẫn "Nhờ TQ giữ hộ giùm Hoàng Sa của VNCH 1974", có bao giờ đảng cộng sản muốn trở về với dân tộc VN đâu, mà gọi chúng là "Đứa con hoang đàng"? Nếu còn chút tình, là người VN với nhau, cùng máu đỏ da vàng, gọi cho đúng bản chất sự việc, thì đảng cộng sản tại VN là "nghịch tử" của dân tộc, đứa con hoang đàng nhất trong dòng sử Việt, tính từ Hồ Chí Minh. Và nghiệt ngã hơn nữa, khốn nạn cho dân tộc VN hơn nữa, nếu cái xác trong lăng (dù xác thật hay giả) là hình tượng của tên giặc Tàu Hồ Tập Chương. 

Trở lại với dàn khoan Tàu cộng xâm lược. Việt cộng chỉ mới lên tiếng có thể kiện Tàu cộng ra LHQ, chỉ mới dừng lại ở lời nói thôi, bởi chúng chưa chắc dám thực hiện, thì Tàu cộng đã hành động kiện Việt cộng ta tòa án quốc tế. Nước nào sẽ bênh vực Việt Nam trước sự xâm lược trắng trợn của Tàu cộng? Xin thưa là, chưa thấy nước nào thật sự bênh vực VN, khi cầm quyền cộng sản còn độc tài toàn trị, và bằng chứng duy nhất tương đối có giá trị lúc này đối với Tàu cộng, không có gì khác ngoài công hàm Phạm Văn Đồng. Tính cho đến giờ phút này, VN chỉ nhận được lời khuyên nơi cộng đồng quốc tế là hãy kềm chế có tính cách ngoại giao, và Mỹ thí cho 18 triệu đô la để "tăng cường" CSB cộng sản có sức chịu đựng tàu của Trung cộng đâm ngang hông. Suy cho cùng, chỉ là sự tranh chấp giữa hai đảng cộng sản, Tàu cộng và Việt cộng, các nước có muốn can thiệp vào biển đông cũng chỉ vì lợi ích của nước họ, đảng cộng sản có kêu gọi quốc tế lên tiếng ủng hộ là bằng thừa. Chính tuyên bố của tên bộ trưởng quốc phòng cộng sản Phùng Quang Thanh đã đóng mọi cánh cửa can thiệp của QT để có thể ủng hộ VN là"VN không hợp tác với bất kỳ nước nào để chống lại nước thứ ba". Có thể xem lời nói của tướng cộng sản Phùng Quang Thanh không khác gì một tên thái thú Tàu chính hiệu.

Đảng cộng sản có "lớn họng" phủ nhận công hàm Phạm Văn Đồng, hay như ông giáo sư "viện minh triết HCM" nói thẳng đó là hành động phản quốc. Điều đó là đúng, nhưng chưa đủ. Sẽ là không công bằng khi kết tội Phạm Văn Đồng phản quốc (?) mà bỏ qua chính phạm Hồ Chí Minh, người đã chỉ đạo Phạm Văn Đồng ký công hàm bán nước ngày 14 Tháng 09 Năm 1958 thừa nhận Hoàng Sa - Trường Sa là của giặc Tàu theo bản tuyên bố về lãnh hải của cộng sản Bắc Kinh. Trong các chính thể dân chủ thật sự, việc thủ tướng hay tổng thống qua mặt Quốc Hội là chuyện động trời, sẽ phải đối mặt với búa rìu dư luận và cả sự phẫn nộ của người dân. Ai trả tiền thì người đó có quyền, chẳng có thể chế nào có thể vận hành nếu không có tiền thuế của dân. Điều khác biệt là trong các chế độ cộng sản, không riêng gì VN, chỉ trích nhà nước là trọng tội, ngay cả khi có bằng chứng cộng sản bán nước, may mắn sống sót thì cũng nhiều năm tù khổ sai như Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, tệ hơn như thầy giáo Đinh Đăng Định biết trước mình có thể sẽ chết vì thủ đoạn hèn hạ của đảng cộng sản. Đầu độc Tù Nhân Lương Tâm, hành hạ tra tấn dưới mọi hình thức cả tinh thần và thể chất. Tội ác Hồ Chí Minh và đảng cộng sản được thể hiện rất rõ qua hàng loạt bài viết của tác giả Đặng Chí Hùng "Những sự thật không thể chối bỏ - Những sự thật cần phải biết" cho thấy đảng cộng sản không đủ tư cách lãnh đạo cũng như không có lý do để giành độc quyền lãnh đạo, đảng cộng sản phải trao trả quyền tự quyết vận mệnh đất nước, dân tộc về tay Nhân Dân, phải giải tán đảng cộng sản để thoát Trung cộng, mới có thể lấy lại những phần lãnh thổ và lãnh hải bị Tàu cộng cướp đoạt với sự tiếp tay của Hồ Chí Minh cộng sản. Ngày nào đảng cộng sản còn tồn tại, ngày đó VN còn nghèo đói tụt hậu, và nguy hiểm hơn là mất nước và diệt vong.

Ps: 

Với tư cách thường dân, nhân chứng sống qua hai chế độ VNCH và VC, không phải cựu quân nhân QLVNCH, phản hồi bài viết của tác giả Sương Đêm trên báo lề đảng. 

Trích: "LUẬN ĐIỆU TRÁO TRỞ CỦA DÂN LÀM BÁO":

Năm 1930, Đảng Cộng Sản Việt Nam được thành lập và đã lãnh đạo nhân dân ta đi hết thắng lợi này tới thắng lợi khác. Đánh đuổi thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn đất nước, đem lại cuộc sống ấm no và hạnh phúc cho nhân dân.

Còn VNCH là gì? Đó là loại bù nhìn, là tay sai của Mỹ, được Mỹ lập nên ở Miền nam Việt Nam trong những năm 1955-1975. Các quan chức cấp cao Việt Nam Cộng hòa cũng đã công nhận sự lệ thuộc của họ vào Hoa Kỳ. Nguyễn Văn Thiệu- Tổng thống Việt Nam Cộng hòa đã từng phát biểu: “Nếu Mỹ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau 3 giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi dinh Độc Lập!” Việt Nam Cộng Hòa đã thay Mỹ tiến hành không biết bao nhiêu tội ác đối với nhân dân Miền Nam Việt Nam thời kì đó. Chúng ta có thể hình dung tội ác của Việt Nam Cộng Hòa bằng “nhà tù nhiều hơn trường học”, “giết bất kì thứ gì chuyển động”, “lê la máy chém”... những tội ác ấy, chắc hẳn dân tộc Việt Nam sẽ không bao giờ quên!" 

Ngưng trích.

Trước tiên xin trả lời cho tác giả Sương Đêm về việc "HCM cộng sản có công dẫn đắt dân tộc đi từ hết thắng lợi này đến thắng lợi khác..." Và rằng có công đánh đuổi thực dân Pháp v.v... 

Lịch sử chứng minh Hồ Chí Minh chẳng những không chống Pháp mà còn trải thảm rước Pháp trở lại Đông Dương (1), và để dấu cái đuôi cộng sản, cũng như phản ứng của các đảng phái đối lập, khi HCM/CS chưa đủ sức tiêu diệt họ, các đảng phái đối lập không cộng sản bị tận diệt ngay sau khi HCM/CS cướp chính phủ Trần Trọng Kim. HCM/CS đã dựng lên ngày 19 tháng 05 là sinh nhật HCM để treo cờ rước Pháp trở lại VN, sau khi Mỹ từ chối lời đề nghị viện trợ vì biết rõ HCM là tên cộng sản. (2) kết luận, HCM/CS không dẫn dắt dân tộc đến thắng lợi mà đẩy cả dân tộc sập hầm tai vạ cộng sản. (3) Hàng trăm ngàn dân lành chết thảm trong cải cách ruộng đất (CCRĐ) cũng bởi sự cuồng tín và sự tham tàn của HCM vì CNCS. Hai bức thư HCM gởi Staline xin chỉ thị giết dân cũng như xin vũ khí của Nga để tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Miền nam VN được cục lưu trữ quốc gia Nga công bố là bằng chứng tội ác diệt chủng của HCM/CS không thể chối cãi (4).

Tác giả Sương Đêm viết rằng VNCH là tay sai "Đế quốc Mỹ"? Lối tuyên truyền theo kiểu ngậm máu phun VNCH, thường dân chúng tôi không lạ, nhất là từ khi có Internet. Đảng viên cộng sản nên chịu khó đọc HCM toàn tập, tập II, sách do tuyên giáo ấn hành, trong đó có đoạn viết HCM làm công ăn lương của QTCS, và như thượng dẫn, hai bức thư HCM gởi Staline... Xác nhận HCM chính là tay sai QTCS, cụ thể là Nga - Tàu, và đảng cộng sản chưa bao giờ có thể tự đứng vững trên chính đôi chân của chính nó, dù thời chiến hay thời bình nếu không có đàn anh cộng sản chống lưng, điển hình như kinh tế VN hiện tại hoàn toàn lệ thuộc vào Tàu cộng, một trong những lý do đảng cộng sản tại VN "Thà mất nước hơn mất đảng". Thể hiện tính vong bản cùng cực của chúng, như Trường Chinh đấu tố giết chính cha mẹ ruột của hắn chỉ vì tinh thần QTCS. 

Về việc phục hồi chính thể VNCH. Tại sao không? Nếu VNCH đủ tư cách và uy tín trên trường quốc tế tố cáo hành vi xâm lược của Tàu cộng, đòi lại Hoàng Sa - Trường Sa của VN với đầy đủ chứng cứ pháp lý theo công pháp quốc tế và phân định rạch ròi thù và bạn, không như đảng cộng sản bị Tàu xâm lược thậm chí nhục mạ, mà mồm đảng cộng sản vẫn tung hê 16 chữ vàng, bốn tốt hoang tưởng, hay ít ra cũng nên phục hồi chính sách giáo dục nhân bản và khai phóng của VNCH, gìn giữ truyền thống văn hóa của người VN vẫn tốt hơn ngàn lần tuổi trẻ chỉ biết duy nhất mỗi thứ lịch sử đảng, cùng hình tượng giả trá HCM. Để đánh giá một đất nước có tiến bộ bộ hay không, hãy nhìn vào dân trí và đời sống của toàn dân trong đất nước đó. Hơn 3/4 thế kỷ HCM và đảng cộng sản xây dựng XHCN, có khi nào tự hỏi: Thời nào Dân Việt Sướng Nhất? 

Kẻ viết bài này viết những điều mắt thấy tai nghe, không bị ai nhồi sọ hay viết theo cảm tính "Yêu nên tốt ghét nên xấu", sự thật phải luôn được tôn trọng, viết phải đi đôi với dẫn chứng, không thể viết như tác giả Sương Đêm rằng "Tội ác VNCH" mà không một dòng dẫn chứng "Tội ác VNCH" thể hiện tại đâu, lúc nào trong thời chiến? Với tư cách là nhân chứng sống sót, tồn tại qua hai chế độ VNCH và cộng sản xin khẳng định ngắn gọn: TIN CỘNG SẢN LÀ TỰ SÁT. Các kiến nghị + yêu cầu với đảng cộng sản là vô nghĩa, chỉ là sự giả trá kệch cởm của những người tự cho mình là trí thức mà không biết nhục là gì.

Hình phạt cho tên cộng sản nói láo là khi nó đưa tay lên thề rằng nó nói láo, người ta cũng không tin mặc dù nó nói thật.


_______________________________________________

Tài Liệu tham khảo

- Hồ Chí Minh - Một gián điệp hoàn hảo. Kỳ I. 

- Hồ Chí Minh - Một gián điệp hoàn hảo Kỳ II. 

- Pháp Tái Chiếm Đông Dương. Tác giả Bút Sử.

- Nguyễn Ái Quốc chống Pháp tại Pháp. Pháp nào?

- Lá Thư Ngày 28/2/1946 của Hồ Chí Minh Gửi TT Truman.

- HCM/CS Một Chuỗi Dài Làm Tay Sai kể từ 19.8.1945.

- Hai bức thư Hồ Chí Minh gởi Stalin xin Chỉ thị để giết dân Việt Nam trong chiến dịch "Cải Cách Ruộng Đất" và xin vũ khí Nga để giết dân Việt. 

- Bản gốc. Nguồn tài liệu: Cục lưu trử quốc gia Nga:

- Võ Nguyên Giáp:Tội Đồ Dân Tộc sau Hồ Chí Minh. Tác giả Bút Sử

- Stalin - Hồ, 50 Năm: Lịch Sử Tái Diễn? Tác giả Minh Võ. 

- Cho Tao Chửi Mầy Một Tiếng. Tác giả Trạch Gầm. (Bài viết của tác giả Nguyễn Đạt Thịnh)

- Hồ Chí Minh một trong những tên đồ tể của nhân loại. dailymail.co.uk/home/moslive/article-2091670/Hitler-Stalin-The-murderous-regimes-world.html

- Vô số sách báo tại Việt Nam trong nhiều năm qua không ngớt ca ngợi Hồ Chí Minh như là một anh hùng dân tộc, yêu tổ quốc, thương đồng bào... Nhưng sự thật thì như thế nào? Hồ Chí Minh chạy về tổ quốc Liên Sô. 



Giải pháp tối ưu để đánh đuổi giặc Tàu.


Le Nguyen (Danlambao) -  Tội ác xảy ra trước mắt hàng ngày của đảng cộng sản đối với người dân Việt Nam và tội bán nước của đảng cộng sản Việt Nam ngày càng lộ rõ không còn cách chi bưng bít, không còn cách chi để đổ cho người dân thiếu thông tin hiểu mơ hồ, hiểu lệch lạc về hành động của tập đoàn tay sai bán nước đảng cộng sản Việt Nam “hèn với giặc ác với dân”. Hành động bán nước rõ ràng gần đây nhất là phản ứng của lãnh đạo cao cấp đảng Việt cộng đối với việc Tàu Cộng ngang nhiên đưa giàn khoan HD - 981 vào lãnh hải Việt Nam như chỗ không người mà không có bất cứ tên lãnh đạo Việt Cộng nào phát ngôn có khí phách, tỏ rõ cho kẻ thù xâm lược biết Việt Nam là một nước độc lập có chủ quyền, ngoại trừ phát ngôn của ông thủ tuớng Nguyễn Tấn Dũng tương đối gọi là khác biệt so với số đông lãnh đạo cao cấp ngậm miệng làm lãnh đạo và một số lãnh đạo cấp trung, cấp thấp tỏ thái độ le liếm, bưng bô lộ liễu cho Tàu Cộng:

“... Việt Nam luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển và nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó...”

Tuy thế phát ngôn của ông Nguyễn Tấn Dũng cũng chỉ dừng lại ở chỗ phát ngôn - một phát ngôn bịp bợm, mị dân như các lãnh đạo cộng sản đã từng theo lệnh Nga – Tàu lừa gạt nhân dân lao vào cuộc chiến “đánh Mỹ đến người việt Nam cuối cùng!” Chỉ cần tinh ý sẽ thấy, phát ngôn của ông thủ tướng Dũng chỉ nhằm mục đích xoa dịu phẫn nộ của người dân Việt Nam đối với hành động xâm lược ngang ngược trắng trợn của Tàu Cộng và thái độ hèn nhát, nhu nhược của lãnh đạo đảng cộng sản Việt nam đối với giặc bành trướng phương bắc.

Phát ngôn bịp bợm, mị dân của ông Nguyễn Tấn Dũng không chỉ một lần mà rất nhiều lần. Ở trong nước lẫn ngoài nước, từ chuyện ông hô hào kiên quyết ngăn chận, đẩy lùi tệ nạn quan liêu tham nhũng, lãng phí và chuyện sai phạm trong việc cưỡng chế ao đầm nuôi trồng thủy sản của ông Đoàn Văn Vươn, ông ta bảo chính quyền Tiên Lãng ngụy biện, sai lầm, vô cảm quanh co khi phải đối diện với sự thật... Đến chuyện ông kêu gọi nhà nước độc tài quân phiệt Miến Điện thực thi dân chủ trên diễn đàn Đông Nam Á và chuyện ông đọc diễn văn trên diễn đàn Liên Hiệp Quốc với lời lẽ ra vẻ rất hồn nhiên hiền hòa: “…Sinh mạng con người dù màu da nào cũng quý như nhau… dù ở ngay khu Manhattan này hay ở nơi hẻo lánh nào trên trái đất… dù còn một biểu hiện mỏng manh của sự sống cũng phải tận tâm cứu người…” và tất cả các phát ngôn của ông Dũng vừa kể cũng chỉ là phát ngôn...

Lần này, liên quan đến việc Tàu Cộng đưa giàn khoan có lực lượng quân sự hỗ trợ xâm chiếm vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam, ông Nguyễn tấn Dũng lại đăng đàn tuyên bố: “...Nhất định không chấp nhận đánh đổi chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng để đổi lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lê thuộc nào đó...” và phát ngôn bịp bợm, mị dân lần này của ông Nguyễn Tấn Dũng được củng cố qua việc ông không có hành động nào cụ thể, đi tiếp theo sau lời phát ngôn tưởng như là có “lửa” ở Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới về Đông Á ở Philippines.

Đã bịp bợm, mị dân ông thủ tướng Dũng còn chỉ đạo côn an, côn đồ trấn áp thô bạo những người yêu nước xuống đường biểu tình bày tỏ thái độ với hành động xâm lăng trắng trợn của Tàu Cộng, cũng như ông ta ngó lơ cho bọn tuyên giáo lếu láo, núp bóng hội cựu chiến binh tổ chức, phát động cuộc thi viết “Xuân 1975 Bản Hùng Ca Toàn Thắng”(?) Rất ngu dốt tức cười, là nỗi nhục nhã không biết thuở nào nguôi bởi trong lúc cả thế giới ai cũng biết “chống Mỹ cứu nước” đích thực chỉ là “ta đánh Mỹ đây là đánh cho Liên Xô – Trung Quốc!”. Với lại ngay thời điểm này Việt Nam rất cần hậu thuẫn của quốc tế, nhất là siêu cường Mỹ - một thế lực có khả năng ngăn chận tham vọng bành trướng của nhà nước bá quyền Đại Hán, cụ thể là cuộc xâm lăng của giàn khoan HD – 981 cũng không phải là giàn khoan duy nhất đã, đang trong vùng đặc quyền kinh tế ở biển đông của Việt Nam!

Hiện nay ai cũng biết ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là một trong những lãnh đạo nắm quyền sinh sát trong nội bộ đảng cộng sản Việt Nam. Dù mang tên Dũng nhưng ông ta không có cái dũng của người lãnh đạo, lại học đòi thói hư tật xấu “nói một đường làm một nẻo” của các lãnh tụ cộng sản thời mông muội, ngu dốt và độc ác. Ông Dũng cũng không thoát ra được cái bóng tay sai, bán nước của đám lãnh tụ cộng sản đời đầu lẫn đời giữa, bọn làm nhục quốc thể Việt Nam không có lãnh đạo nào trong hơn bốn nghìn năm lịch sử làm giỏi hơn!

Thế cho nên ông Nguyễn Tấn Dũng cùng với đảng của ông ta không biết gì là sỉ diện cá nhân lẫn quốc thể, nên cả hai ông đứng đầu đảng Nguyễn Phú Trọng và đứng đầu nhà nước Nguyễn Tấn Dũng phải khấu đầu trước ủy viên quốc vụ viện Dương Khiết Trì - một quan chức Tàu Cộng, không đồng cấp, nhận “thánh chỉ” của thiên triều chỉ đạo “cống nạp” biển đảo dưới danh nghĩa chỉ đạo hợp tác song phương Việt – Tàu, giải quyết tranh chấp về chủ quyền biển đông (?) 

Qua các diễn tiến từ sự kiện HD – 981 đến việc ông tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng... tiếp đón ông ủy viên quốc vụ viện Dương Khiết Trì nhận chỉ đạo hợp tác song phương giải quyết tranh chấp chủ quyền biển đông, không khó để cho chúng ta thấy quan hệ Việt – Tàu hiện rõ lên vai vế đàn anh, đàn em của băng đảng lưu manh xã hội đen được các quan chức trung, cao cấp lẫn các tên bưng bô le liếm với các con chữ, lời nói đại loại như:“...quan hệ gia đình (Phùng Quang Thanh)... lình xình giữa hai nước anh em xã hội chủ nghĩa ai hưởng lợi? (Nguyễn Bắc Việt)... Việt Nam phải mang ơn Trung Quốc... Không được mất chủ quyền, quyền chủ quyền nhưng phải ưu tiên tối thượng là giữ cho được môi trường hòa bình (Trần Đăng Thanh)...”

Cung cách ứng xử “man rợ” tỏ vẻ ta đây là “đàn anh” thậm chí là “bố - con” trong các nghi thức quan hệ ngoại giao của các nước xã hội chủ nghĩa từ xưa đến nay. Chính điều đó đã khiến cho các lãnh đạo cộng sản Việt Nam rất ngạc nhiên khi tiếp cận nghi thức trọng thị, đối đãi ân cần, thân thiện của các nguyên thủ quốc gia dân chủ, văn minh tiên tiến khiến cho Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Phú Trọng ngộ nhận, tự sướng nên về nước hí hửng chém gió, khoe khoang là được đặt ngồi ngang hàng với nguyên thủ siêu cường Mỹ, đốp chát phân hóa nội bộ Mỹ... vị thế Việt Nam ngày càng được nâng cao... mình như thế nào người ta mới mời mình chứ!

Ngày nay thế giới mở của thời đại toàn cầu hóa, các nước tổ chức cai trị, điều hành quốc gia hiệu quả, tốt xấu, hay dở không còn là vấn đề để tranh luận hay bàn cãi và dã tâm xâm lược của nhà nước Tàu Cộng trỗi dậy để trở thành đế quốc, thực dân kiểu mới hung hăng đang dần lộ mặt, không còn là việc thiếu thông tin, hiểu lệch lạc về “đàn anh Tàu Cộng” 16 vàng, 4 tốt với “đàn em Việt Cộng” hèn với giặc ác với dân.

Thời đại bây giờ là thời đại a còng (@) không phải là thời loa đài của thời đại Hồ Chí Minh bị hào quang của lý tưởng cộng sản Mác, Lê, Mao tròng vào đầu làm cho lú lẩn mụ mị không phân biệt được lẽ phải trái, đúng sai. Thời nay không ít các lãnh đạo cộng sản đương thời biết những thay đổi tốt đẹp của thế giới dân chủ văn minh, của các nước tư bản giẫy chết người dân của họ ấm no, tự do, hạnh phúc ra làm sao? Nhất là ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, người lãnh đạo cộng sản có các đứa con theo học các trường đại học danh giá của các nước tư bản, hẳn nhiên không khó để cho mọi người nhận ra sự lựa chọn của ông ta?

Ai cũng biết ông thủ tường Nguyễn Tấn Dũng không phải là người lãnh đạo duy nhất và ông Dũng cũng không phải là người đảng viên cộng sản có chức quyền duy nhất đưa con đi “tị nạn giáo dục” cũng là tiếp cập các hệ thống giáo dục hàng đầu của thế giới - một hình thức gián tiếp từ chối, rũ bỏ nền giáo dục vô bổ của hệ thống giáo dục xã hội chủ nghĩa! Thế thì tại sao ông Nguyễn Tấn Dũng và các quan chức đảng viên đảng cộng sản có tư tưởng tạm gọi là “tiến bộ” như ông ta lại hèn nhược ôm chân Tàu, dù thừa biết dã tâm xâm lược của giặc tàu, biết mô hình Tàu không phải là con đường dẫn đến độc lập tự do, ấm no hạnh phúc của đất nước dân tộc Việt Nam?

Nói đến lãnh đạo đảng cộng sản đương quyền, không kể các tên tay sai bán nước bị đặc tình Tàu cộng cài cấm trong nội bộ đảng cộng sản Việt Nam. Chúng ta chỉ nói đến các tên lãnh đạo ngoan ngoãn tuân theo mệnh lệnh của Tàu Cộng, một thiểu số lãnh đạo không hoặc chưa lãnh lương hoạt động cho giặc Tàu như tên tình báo trăm tên, trăm mặt Hồ Chí Minh nhận tiền hoạt động, làm tay sai cho quốc tế cộng sản đệ tam?

Nhìn chung nguyên nhân thì có nhiều nhưng nguyên chính là cộng đảng Tàu đã khống chế, trói tay cộng đảng Việt hoàn toàn. Nguyên nhân khác là thiểu số lãnh đạo đảng cộng đương quyền hèn nhát tham sống sợ chết nên ngậm miệng làm lãnh đạo bù nhìn bỏ mặc cho bọn tay sai, bán nước cho Tàu thao túng, từng bước thực hiện theo kịch bản, âm mưu cho giặc Tàu thôn tính Việt Nam. Âm mưu xâm lăng của Tàu cộng có sự tiếp tay của nội ứng Việt Cộng ngày càng lộ rõ đến độ ngạo mạn không cần dè dặt hay che dấu là nỗi nhục, còn nỗi nhục nào hơn?

Về ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng không đủ cơ sở lẫn bằng chứng đủ để kết luận ông ta là tay sai cho Tàu hay chống Tàu? Qua phát ngôn và hành động của ông Nguyễn Tấn Dũng trong sự kiện Tàu Cộng đưa giàn khoan HD – 981 cấm mốc chủ quyền trên biển đông. Dù phát ngôn của ông Dũng có mạnh mẽ, có khá hơn các lãnh đạo cao cấp của đảng cộng sản, làm nức lòng một số người yêu nước đặt niềm tin vào ông Dũng đứng lên đưa cao ngọn cờ chống Tàu nhưng không ai thấy ông Dũng thể hiện hành động cụ thể nào tiếp theo sau lời nói: “...Nhất định không chấp nhận đánh đổi chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng để đổi lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lê thuộc nào đó...” 

Liên kết các phát ngôn, hành động của ông Nguyễn Tấn Dũng kể từ khi được đảng cộng sản “cơ cấu” chức thủ tướng, chỉ ra cho chúng ta thấy lời nói của ông Dũng không đi đôi với việc làm nên ông ta không phải là nhân vật đáng tin cậy để ngưới dân Việt Nam đứng dưới bóng cờ giữ nước chống Tàu với ông ta. Nhất là ông Dũng vẫn trung thành với đảng cộng sản, với tư tưởng đảng độc quyền lãnh đạo, với chế độ độc tài cộng sản do ông lãnh đạo duy nhất đúng, mà cộng đảng Việt là tay sai Việt gian, là đàn em của cộng đảng Tàu thì chống Tàu quả là hoang tưởng, viển vông!

Muốn chống Tàu, muốn bảo vệ độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, dù có Nguyễn tấn Dũng hay không có Nguyễn Tấn Dũng không phải là vấn đề cần thiết phải thảo luận. Vấn đề của những người yêu nước vì tương lai Việt nam cần phải bàn, phải tính toán ở đây là làm thế nào, làm sao để loại trừ độc quyền lãnh đạo của cộng đảng Việt gian để thực hiện đa đảng và thay đổi chế độ độc tài toàn trị cộng sản bằng chính thể dân chủ. Vì đó chính là con đường, là giải pháp tối ưu để đánh đuổi giặc Tàu, bảo vệ độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và thể chế chính trị dân chủ đa đảng chính là con đường dẫn đến tương lai tươi sáng của đất nước, dân tộc Việt Nam.





Họ đang làm gì trên Biển đông?


Nguyễn Trung Tôn (Danlambao) - Từ năm 1990, sau khi những căng thẳng ở vùng biên giới Việt – Trung lắng xuống, mối quan hệ Việt Nam – Trung Hoa dần dần trở nên khăng khít. Tuy vậy người dân Việt Nam chưa bao giờ quên nỗi nhục 1000 năm nô lệ giặc Tàu. Không ai lại không biết tham vọng bành trướng của Trung Cộng.

Đối với người dân Việt Nam thì Trung Quốc luôn là kẻ thù truyền kíp của dân tộc mình. Nhưng đối với Đảng Cộng Sản thì hoàn toàn khác hẳn. Từ sau năm 1990 khi mà các nước Cộng Sản tại Đông Âu tan rã. Đảng Cộng Sản Việt Nam muốn tôn tại và duy trì quyền cai trị dân tộc, họ buộc lòng phải hoàn toàn dựa hẳn vào Trung Quốc. Bởi vậy kể từ khi ấy vấn đề chủ quyền đối với các lãnh đạo Việt Cộng không còn là quan trọng. Họ sẵn sàng cắt nhượng biên giới, đất đai lãnh thổ để đổi lấy tình hiếu hảo, nỗ lực cùng Tàu Cộng xây dựng nên mối quan hệ 16 chữ vàng và 4 tốt. Như vậy những tham vọng của Tàu Cộng đã từng bước được đáp ứng. Tàu Cộng thừa biết, họ chỉ có thể khống chế được Việt Nam khi và chỉ khi Việt Cộng còn nắm quyền. Tàu Cộng không nóng vội công khai đưa ra những bằng chứng mà Việt Cộng đã công nhận chủ quyền của Tàu Cộng về hai quần đảo Hoàng - Trường Sa. Tàu Cộng thừa biết, nếu ngay lập tức họ cướp lấy Trường Sa thì cái ghế lãnh đạo của Đảng Cộng sản tại Việt Nam sẽ bị nhân dân tước bỏ. Vậy nên họ cứ gậm nhấm dần dần. Đặc biệt từ đầu tháng 5 năm 2014 tới nay, sự kiện giàn khoan HD - 981 của Trung Quốc đã hạ đặt trên vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, làm nóng lên dư luận trong quần chúng nhân dân. Sau sự kiện đó dư luận đã nghe những lời phát biểu có vẻ rất hùng hồn của ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Nhiều người tin rằng Thủ tướng Việt nam có thái độ cứng rằn về tình hình Biển Đông.

Ngược lại với Thủ Tướng Dũng thì từ các ông Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ Tịch Nước, Chủ tịch Quốc hội, cho tới ông Bộ Trưởng Bộ quốc phòng lại bầy tỏ thái độ “chấp nhận cam chịu”. Người dân thì bừng bừng khí thế chống Tàu, người người, nhà nhà sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh để bảo vệ Tổ quốc, Họ kéo nhau xuống đường phản đối sự xâm lăng của Trung Cộng. Tuy nhiên sau phát biểu hùng hồn của mình thì ông Thủ Tướng lại cho ra chỉ thị“nghiêm cấm biểu tình trái pháp luật”( Trên thực tế thì Việt nam chưa có luật Biểu tình…). Không chỉ trên giấy tờ mà chính phủ còn yêu cầu các nhà mạng phải liên tục nhắn tin vào thuê bao di động của người dân để ngăn cản những cuộc xuống đường, dùng công an, côn đồ để đàn áp, bắt bớ công dân yêu nước. Trên Biển đông tình hình dường như vẫn căng thẳng. Đảng đã đẩy những ngư dân yêu nước ra khơi để trở thành nạn nhân của “xung đột”, lực lượng Kiểm ngư và Cảnh sát biển Việt nam, trở thành công cụ để cả hai Đảng Cộng sản Việt và Trung diễn trò. Nhiều người dân vẫn hi vọng vào giải pháp “ngoại giao mền dẻo” của Lãnh đạo Việt cộng có hiệu quả, thậm chí nhiều người vẫn nuôi hi vọng rằng Hoa Kỳ sẽ can thiệp vào vụ việc này để bênh vực Việt Nam. Sau hàng loạt những diễn biến vừa qua về tình hình Biển đông và những ứng xử của lãnh đạo hai Đảng Cộng Sản Việt – Trung. Cá nhận tôi có vài nhận định sau:

1. Tàu cộng không dại gì lại đẩy Việt cộng về phía các Quốc gia dân chủ phương Tây, mà đặc biệt là Hoa kỳ, lại càng không dại gì để Việt cộng đánh mất ghế lãnh đạo. Nếu làm như vậy thì Trung cộng sẽ không còn cơ hội thực hiện tham vọng độc chiếm Biển đông.

2. Việt cộng không dại gì để mất lòng đàn anh Trung cộng, vì nếu mất lòng Trung cộng thì Việt cộng sẽ mất đi chỗ dựa cuối cùng để duy trị sự cai trị của họ đối với người dân Việt Nam.

Vậy điều gì khiến Thủ tưởng Dũng có thể mạnh miệng tuyên bố “không đánh đổi chủ quyền, để lấy tình hữu nghị viễn vông”?

Tại sao Việt cộng vẫn đưa lực lượng Cảnh sát biển, kiểm ngư và ngư dân ra khu vực gian khoan HD – 981 của Trung Quốc?

Câu trả lời của tôi là:

1. Để lấy được lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, giới lãnh đạo không thể im lặng hoàn toàn. Việc Thủ tướng nói là để đánh lừa dư luận, khiến dư luận tin rằng Thủ tướng và chính phủ rất quyết tâm bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ. Nhưng chắc chúng ta chưa quên bức hình Thủ tướng ngồi dưới tấm bản đồ hình lưỡi bò của Trung quốc treo ngay trong phòng làm việc của ông, được phổ biến rộng rãi trên một chương trình thời sự hồi tháng 3 năm 2014.

2. Những hoạt động yếu ớt của lực lượng Kiểm Ngư, Cảnh sát biển và ngư dân Việt nam trên khu vực giàn khoan, nhằm 2 mục đích. Đánh lừa dư luận, thể hiện với nhân dân về “quyết tâm bảo vệ chủ quyền” của Lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam. Nhưng mục đích chính là thông qua đó quảng bá sức mạnh của Trung quốc. Trên trương trình thời sự đưa những hình ảnh tàu Trung Quốc đâm vào tàu Việt Nam, dùng vòi rồng bơm nước làm nhiều người bị thương hay việc Tàu Trung Quốc đâm chìm tàu ngư dân Việt Nam, bề ngoài là tố cáo Trung Quốc gây hấn, nhưng bên trong thì Đảng đang âm thầm chỉ cho người dân thấy rằng Việt Nam không thể đủ sức để chống lại sức mạnh của Trung quốc.

Những ngày qua, tại các địa phương, xã phường đã có các buổi họp để nói về tình hình Biển đông và mối quan hệ Việt – Trung. Hầu như nội dung của những buổi họp này là: Trung quốc là đàn anh, có sức mạnh cả về kính tế lẫn quân sự. Việt Nam không thể đương đầu bằng vũ lực, lại cũng không thể để nhân dân xuống đường biểu tình vì làm như vậy Trung Quốc sẽ gây sức ép về kinh tế, khiến Việt Nam rơi vào khủng hoảng. Mặc dù không được tham gia những buổi họp này, nhưng qua quan sát trong quần chúng nhân dân, tôi có thể nhận ra những ảnh hưởng của nó vô cùng nguy hiểm. Nó làm cho nhiều người dân rời vào hoang mang, khiếp sợ, không còn tinh thần chống Trung cộng. Nhiều người đã tặc lưỡi nói liều rằng: “Thôi! Mình không chống lại Trung quốc được đâu. Nó chiếm Biển đông thì để nó chiếm, mất Hoàng sa rồi, bây giờ có mất thêm Trường sa cũng chẳng sao, Việt nam vẫn còn đất liền mà!”.

Như vậy từ năm 1990 tới nay, thông qua Đảng cộng sản Việt nam, Cộng sản Trung Quốc đang từng bước “Thuần hóa” tư tưởng của người dân Việt Nam. Qua đó không chỉ Hoàng Sa, Trường Sa mà cứ đà này thì chỉ trong vòng 10 năm nữa, nếu nhân dân Việt Nam không nhận diện rõ ràng về sự hiện diện của kẻ cướp nước và bè lũ bán nước Cộng sản, thì Việt Nam sẽ hoàn toàn trở thành một tỉnh của Trung Quốc là điều không tránh khỏi.

Tình hình vô cùng cấp bách, những người con Việt Nam còn có lương tri và tình thần dân tộc, không thể mãi ngồi im được nữa, hãy dẹp bỏ những bất đồng quan điểm cá nhân. Cùng nhau hiệp lại thành lập lực lượng cứu nguy Tổ Quốc. Không thể trông chờ gì vào sự thay đổi của Cộng sản Việt Nam được. Hãy nhìn hình ảnh cô đơn của đại biểu Quốc Hội Trương Trọng Nghĩa trong phiên họp Quốc hội vừa qua thì chúng ta biết người dân cần phải làm gì để bào vệ sự toàn vẹn lãnh thổ rồi!

Thanh hóa ngày 25/06/2014
Nguyễn Trung Tôn


Phỏng Vấn Đoàn Viết Hoạt 
Nhiều nhà quan sát tình hình Việt Nam hồi gần đây cho rằng việc Trung Quốc đặt giàn khoan gần quần đảo Hoàng Sa đã làm tan vỡ ảo tưởng của một số người có lẽ không nhiều ở Việt Nam về mối quan hệ “bốn tốt” với nước láng giềng khổng lồ ở phương bắc. Sự tan vỡ đó xảy ra đồng thời với sự hình thành của một cuộc vận động tư tưởng trong giới trí thức Việt Nam nhằm thoát khỏi sự lệ thuộc của Trung Quốc trong các lãnh vực văn hóa, chính trị và kinh tế. Ban Việt Ngữ đài VOA đã tiếp xúc với Giáo sư Đoàn Viết Hoạt, cựu Phó Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, để tìm hiểu thêm về diễn tiến đáng chú ý này. Mời quí thính giả theo dõi cuộc phỏng vấn do Duy Ái thực hiện sau đây.
VOA: Thưa giáo sư Đoàn Viết Hoạt, trước hết chúng tôi xin cám ơn ông đã có nhã ý dành thời giờ cho chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn này. Và câu hỏi thứ nhất chúng tôi xin hỏi là nội dung chính của chủ trương Thoát Trung là gì.
Đoàn Viết Hoạt: Đây là vấn đề thời sự và đang được cả trong nước lẫn hải ngoại cũng như quốc tế quan tâm. Xét trên vấn đề thời sự như vậy, vấn đề Thoát Trung nó khá rõ về nội dung. Tức là, hiện nay chúng ta thấy quan hệ giữa Đảng Cộng Sản Việt Nam với Đảng Cộng Sản Trung Quốc rất là chặt chẽ; nhất là từ khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã quyết định gắn chặt với Đảng Cộng Sản Trung Quốc.
Thành ra, Thoát Trung đầu tiên là thoát ra khỏi cái sự gắn chặt đó. Cái mà bình dân người ta gọi là “cái vòng kim cô Thành Đô.” Tôi nghĩ đấy là cái quan trọng nhất, và làm sao Thoát Trung thì là vấn đề khác, nhưng Thoát Trung đầu tiên là phải có tư tưởng độc lập và tìm cách ra khỏi những trói buộc mà chính Đảng Cộng Sàn Việt Nam đã tự đặt mình vào sự trói buộc đó với Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Như vậy là thoát về đường lối, chính sách và về tư tưởng. Và điều đó đặt đến rất nhiều về những nội dung cụ thể về luật pháp, hành chánh và những vấn đề khác, nhất là vấn đề kinh tế.
VOA: Thưa giáo sư, chắc ông cũng biết là trong bài viết “Thoát Trung Luận” của ông Giáp Văn Dương, ông ấy đã kết thúc bài viết bằng khẩu hiệu “Thoát Trung hay là chết”. Nhưng, trong một bài viết “phản biện” bài viết đó của ông Dương, Bác sĩ Phạm Hồng Sơn, một nhà tranh đấu dân chủ ở Hà Nội, có nói rằng “nếu nhìn ở phạm vi ngay trước mắt thì Việt Nam cần phải xa rời Trung Quốc để hướng đến và thắt chặt với phương Tây, nhưng nếu nhìn ở phạm vi dài hạn thì vấn đề không phải là “Thoát Trung” hay không “Thoát Trung” mà vấn đề là đất nước phải có sự sáng suốt, tỉnh táo để nhận ra được cần phải du nhập cái gì, tránh cái gì...Mà để có sự sáng suốt, tỉnh táo đó thì dân chúng và đặc biệt là giới trí thức phải có suy nghĩ độc lập, khoa học và có khả năng ảnh hưởng, tham gia vào các quyết định liên quan đến mọi vấn đề của quốc gia, xã hội. Khi đó mọi vấn đề “thoát” hay “nhập” với bất cứ cái gì không còn là vấn đề khó khăn, mông lung hay bế tắc nữa.” Ngoài ra, một nhà sử học có uy tín ở Việt Nam, ông Dương Trung Quốc, mới đây cũng nói với báo chí trong nước là Việt Nam “không cần thiết phải ‘thoát Trung’, mà phải biết cách để sống cạnh Trung Hoa như thế nào.” Ông nghĩ sao về các nhận định đó?
Đoàn Viết Hoạt: Tôi có đọc cả ba bài này. Tôi chia sẻ cái nhìn của anh Phạm Hồng Sơn cũng như là của ông Dương Trung Quốc. Tôi cũng nghĩ rằng ông Giáp Văn Dương muốn đề cập đến vấn đề một cách thời sự trước mắt, còn hai vị kia, nhất là Bác sĩ Phạm Hồng Sơn, nói đến cái vấn đề căn bản hơn. Tôi nghĩ rằng cũng cần phải chia sẻ với rất nhiều người, đặc biệt là giới trí thức và những người làm chính trị, về nền tảng lâu dài cho sự độc lập của Việt Nam. Thoát Trung chỉ là một dịp để chúng ta thấy sự lệ thuộc của Việt Nam nói chung vào nước ngoài – trước đây là Pháp, Mỹ rồi đến Liên Xô và giờ đây đến Trung Hoa. Thành ra, những vị có suy nghĩ lâu dài, muốn tìm ra một giải pháp bền vững cho nền độc lập của Việt Nam thì cần phải suy nghĩ xa hơn một chút về Thoát Trung.
Thật sự là đúng như Bác sĩ Phạm Hồng Sơn đã nói, không phải chỉ vấn đề Thoát Trung mà chúng ta phải thoát ra khỏi tất cả những sự lệ thuộc vào nước ngoài, nhất là vấn đề về tư tưởng và đường lối. Thành ra việc Thoát Trung hiện nay đòi hỏi một cái lớn, đó là Thoát Cộng; và đòi hỏi một cái lớn hơn nữa là chấp nhận một hệ thống xã hội, chính trị như thế nào để chúng ta có thể thật sự độc lập và phát huy sức mạnh của người dân. Đây là vấn đề mà tôi nghĩ là các vị như ông Phạm Hồng Sơn hay ông Dương Trung Quốc muốn đề cập tới.   
VOA: Thưa giáo sư, qua những gì mà giáo sư vừa nói, chúng tôi nhận thấy dường như “Thoát Trung” chỉ là một cái tên mới của những nỗ lực hiện đại hóa hay Tây hóa mà sĩ phu Việt Nam đã thực hiện hay hô hào từ rất lâu. Xin ông cho biết cuộc vận động Thoát Trung hiện nay có gì khác với những nỗ lực của trí thức Việt Nam từ Nguyễn Lộ Trạch, Nguyễn Trường Tộ cho tới Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Lý Đông A … để hiện đại hóa Việt Nam? Và phải chăng cuộc chiến đấu của Việt Nam Cộng Hòa chống lại quân đội Bắc Việt cũng chính là một nỗ lực Thoát Trung?
Đoàn Viết Hoạt: Nếu chúng ta đặt vấn đề Thoát Trung không thì nó có thể là khác. Nhưng nếu ta nhìn như là thoát ra khỏi tất cả những ảnh hưởng ngoại lai, những gì đến với đất nước chúng ta bằng hình thức áp đặt, hay bị lệ thuộc, thì chúng ta thấy rằng nó là một cuộc đấu tranh lâu dài của dân tộc và của đất nước, có lẽ là cả trăm năm nay rồi. Đặc biệt là từ khi bắt đầu tiếp cận với Tây Phương qua việc người Pháp đến và đô hộ nước ta. Cuộc đấu tranh đã bắt đầu từ đó, và nó tìm cách bắt đầu phục hồi niềm tin vào dân tộc và tìm ra con đường phát triển dân tộc mà không phải lệ thuộc ảnh hưởng quốc tế hay ngoại lai hay siêu cường nào, kể cả Á Đông lẫn Âu Mỹ. Con đường đó bắt đầu từ trăm năm nay và vẫn chưa hoàn tất.
Thoát Trung, theo tôi, là giai đoạn cuối cùng trong tiến trình này và chúng ta phải tìm cho được lời giải đáp căn bản. Những người đi trước chúng ta mà tôi đặc biệt chú ý tới là Lý Đông A, bởi vì ông đã nêu ra vấn đề đối với Tàu này từ năm 1943 và ông đã cảnh giác chúng ta về “Đại Họa Hán” sẽ đến trong những thập niên mà chúng ta đang thấy bây giờ, và ông cho đó là cái “đại địch cuối cùng” mà chúng ta phải thoát khỏi thì may ra mới vươn mình lên được. Nhưng mà có lẽ ông còn nói hơn nữa là tinh thần độc lập mà ông gọi là “độc lập siêu nhiên”, tức là thoát ra khỏi mọi cái ảnh hưởng. Không có nghĩa là chúng ta cô lập, bởi vì thời đại hiện nay chúng ta không thể cô lập được, nên phải độc lập cùng với các dân tộc khác trong khu vực và trên toàn thế giới. Nhưng mà mình phải phát huy bản sắc của mình. Nếu không thì mình Thoát Trung nhưng lại lệ thuộc vào Mỹ chẳng hạn; cũng như trước đây lệ thuộc vào Liên Xô ở Miền Bắc và Miền Nam lệ thuộc vào ảnh hưởng của Mỹ. Chúng ta cần phải thoát khỏi những cái đó để vươn mình lên, đồng thời tổng hợp được tất cả những tinh hoa để giúp cho đất nước phát triển. Tôi nghĩ đó là vấn đề căn bản mà nếu có thời giờ chúng ta có thể đề cập thêm.
VOA: Giáo sư vừa nói tới lời cảnh cáo ông Lý Đông A đưa ra năm 1943 về “hiểm họa nòi Hán”. Xin giáo sư nói rõ thêm.
Đoàn Viết Hoạt: Lý Đông A là người có thể nói là người chưa được nhiều người biết đến. Đặc biệt là vì những tài liệu của ông bị cấm đoán trong tất cả các chế độ, nhất là chế độ độc tài và đặc biệt là chế độ Cộng Sản. Chưa kể rằng bản thân ông cũng như nhiều nhà yêu nước khác như Trương Tử Anh hay Huỳnh Phú Sổ đã bị Cộng Sản giết hoặc thủ tiêu. Những người nào đọc tài liệu của ông Lý Đông A sẽ biết ông đã nói từ năm 1943 về tình hình thế giới hậu Đệ Nhị Thế Chiến. Ông đã tiên liệu Nhật và Đức sẽ thua trong vòng 45, 46. Và ông nói rằng sau đó, hiểm họa hiện nay của Anh, Mỹ là Nhật, Đức, nhưng hiểm họa, “đối địch”, sau đó là nước Nga và sau nước Nga là nước Tàu. Và ông nói rất rõ trong những tài liệu đó và mong rằng quí vị tìm đọc cái đó. Nhưng mà riêng về Việt Nam thì ông nói điều mà ông gọi là “đại địch tối hậu”, tức là cuối cùng, là Tàu; Ông viết khá dài về hiểm họa đó và ông nói rằng nó đang bộc lộ bằng chính những tuyên bố của Tưởng Giới Thạch tại hội nghị quốc liên khi Thế Chiến Thứ Hai chưa thật sự chấm dứt. Tưởng Giới Thạch đã đòi lại những vùng đất mà Trung Hoa cho rằng trước đây thuộc họ. Ông Lý gọi đó là “chủ nghĩa Đại Hán mới” và chúng ta cần phải cảnh giác. Rõ ràng là bây giờ chủ nghĩa này đang trở lại.
Việt Nam cần 'thoát Trung' hay không
Danh mụcTảiVOA: Giáo sư nghĩ như thế nào về cuộc chiến đấu của Việt Nam Cộng Hòa chống lại quân đội Bắc Việt trước đây? Phải chăng đó cũng là một nỗ lực Thoát Trung, thoát khỏi sự kềm kẹp hay sự xâm lăng của Trung Quốc?
Đoàn Viết Hoạt: Tất nhiên, trước hết là sự xâm lăng của Bắc Việt. Bởi vì Hiệp định Geneve chia đôi đất nước không cho phép việc xâm chiếm Miền Nam bằng quân sự. Do đó, quyền bảo vệ và tự vệ là đương nhiên. Đặc biệt là Việt Nam Cộng Hòa là nước đã bắt đầu phát triển chế độ tự do và chế độ dân chủ. Cho nên nó hoàn toàn ngược lại chế độ Miền Bắc. Đó là điểm thứ nhất. Điểm thứ hai là vì nó nằm trong cuộc chiến tranh Lạnh giữa hai ý thức hệ tư bản với cộng sản quốc tế. Thứ ba là rõ ràng lúc đó Trung Quốc hậu thuẫn cho Miền Bắc, cùng với Liên Xô, để phát triển chủ nghĩa Cộng sản cũng như ảnh hưởng của Trung Quốc. Như chúng ta biết, Trung Quốc có mục tiêu riêng của họ là phát triển tiếp cái Đại Hán của họ. Và vì vậy, quả nhiên là cuộc chiến đấu của Việt Nam Cộng Hòa có nhiều mục tiêu: thứ nhất là bảo vệ tự do dân chủ, thứ hai là chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng Sản và thứ ba là chống lại sự bành trướng của Trung Quốc.  
VOA: Cám ơn giáo sư rất nhiều. Chúng tôi rất mong có dịp hầu chuyện thêm với giáo sư về “Thoát Trung.”
Đoàn Viết Hoạt: Cám ơn anh.

Trung Quốc: Giết người, moi tim man rợ vì một tô mỳ

Tất cả những hành động man rợ này bắt đầu từ những tranh cãi quanh một tô mỳ.


Tờ Daily Star dẫn tin từ báo chí Trung Quốc cho biết, một số nhân chứng kể rằng hung thủ Bo Tuan (29 tuổi) đã bất ngờ tấn công Yul Liao (48 tuổi) sau khi nạn nhân từ chối cho anh ta ăn chung bát mỳ.

Hiện trường khủng khiếp của vụ án, tô mỳ vẫn còn dang dở 

"Cảnh tượng thật đẫm máu và kinh hoàng, tôi không thể xóa nổi các hình ảnh đó khỏi tâm trí mình" - một nhân chứng nói.

"Anh ta phanh ngực nạn nhân ra như một bao gạo vậy rồi lôi con tim ra trước mắt chúng tôi. Tôi thề là nó vẫn còn đang đập. Vài người đã ngất xỉu. Tôi ước mình cũng có thể ngất như họ. Tôi không thể ngừng việc nhìn thấy những hình ảnh đó, kể cả khi đã nhắm mắt.

Sau khi gây ra vụ tấn công ghê rợn, Tuan đã đứng trên xác nạn nhân rồi cắn quả tim vài lần. Gã không hề có ý định trốn khỏi hiện trường đẫm máu.

Gã lập tức bị bắt khi cảnh sát tới hiện trường vụ phạm tội, nằm trên một con phố ở Tùy Châu, Hồ Bắc.

Tuan đã được cảnh sát mô tả là một gã tâm thần. Tuy nhiên giải thích này vẫn không khiến dân địa phương yên lòng. Họ đã yêu cầu tăng cường sự bảo vệ trong khu vực để ngăn các vụ việc tương tự xảy ra.

Họ cũng nói rằng phải mất tới 40 phút cảnh sát mới đến hiện trường và trong khoảng thời gian đó, Tuan hoàn toàn có thể tấn công người khác.

Tàu Trung Quốc dùng hết tốc lực định đâm chìm tàu Việt Nam

29/06/2014 15:41 (GMT + 7)
TTO - Sáng 29-6, các công nhân của nhà máy đóng tàu X50 (phường Thọ Quang, quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng) đã tiến hành sửa chữa kiểm ngư 951 bị Trung Quốc đâm tơi tả vừa cập cảng đêm 28-6.

>>  Tàu kiểm ngư 951 bị đâm tơi tả, Trung Quốc vẫn tiếp tục uy hiếp
>> Kêu gọi báo chí Trung Quốc "hiểu đúng tình hình"

< iframe height="275" src="http://tv.tuoitre.vn/embed/10325" frameborder="0" width="490" allowfullscreen="" style="outline: none; width: 461px; height: 271px;">< /iframe>
Xem video clip tàu kiểm ngư 951 bị tàu Trung Quốc tấn công ngày 23-6

KN 951 là tàu vừa bị hàng loạt tàu Trung Quốc đâm tơi tả khi làm nhiệm vụ ngăn Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam vào ngày 23-6.

Nhiều công nhân đã tỏ ra bất ngờ bởi họ không thể hình dung được con tàu hàng trăm tấn lại bẹp dúm toàn bộ phần mạn tàu, đuôi tàu bị biến dạng hoàn toàn như thế này.

Những khối sắt nhăn nhúm, mạn tàu bị xé toạc, phòng ốc bị biến dạng chính là những bằng chứng tố cáo sự dã man của các tàu Trung Quốc.

“Để gây nên vết rách trên vỏ tàu dày như thế này rõ ràng tàu Trung Quốc đã dùng hết tốc lực với ý định đâm chìm. Ngoài ra, vị trí đâm và biến dạng là gần phòng y tế và buồng chứa CO2. Nếu cú đâm trúng vào 8 bình khí CO2 trên tàu thì chắc chắn con tàu sẽ nổ tung như một quả bom”- anh Tùng nói.

Anh Toàn, một công nhân tại hiện trường cho biết toàn bộ phần lan can bên trái tàu đều bị hư hỏng và có một vết thủng rộng 25cm dài gần một mét.

“Để gây nên vết rách trên vỏ tàu dày như thế này rõ ràng tàu Trung Quốc đã dùng hết tốc lực với ý định đâm chìm. Ngoài ra, vị trí đâm và biến dạng là gần phòng y tế và buồng chứa CO2. Nếu cú đâm trúng vào 8 bình khí CO2trên tàu thì chắc chắn con tàu sẽ nổ tung như một quả bom”- anh Tùng nói.

Sáng 29-6, các kiểm ngư viên đã tháo bỏ toàn bộ hệ thống dây nhợ vốn dùng để níu giữ con tàu sau cú đâm va. Các công nhân của nhà máy đóng tàu X50 đã dùng xe cẩu để tháo bỏ hoàn toàn phần lan can đồng thời cắt toàn bộ phần mạn tàu bị đâm méo mó để hàn lại.

Cũng trong buổi sáng, đại diện báo Tuổi Trẻ đã quyết định trao tặng danh hiệu “Bạn đồng hành quanh tôi” cùng phần thưởng cho tập thể tàu KN 951. Đồng thời trao, báo Tuổi Trẻcũng trao 26 sổ tiết kiệm cho 26 kiểm ngư viên trên tàu với trị giá 10 triệu đồng/sổ.

Công nhân tiến hành sửa chữa tàu KN 951

Công nhân của nhà máy đóng tàu X50 tháo bỏ phần mái che bị hỏng do tàu Trung Quốc đâm.

Cú đâm chí mạng khiến tàu KN951 bị thủng một đường lớn.

Lan can tàu KN951 hư hỏng được tháo rời để thay thế.

Các kiểm ngư viên tàu KN951 tranh thủ đọc báo, nắm thông tin sau 55 ngày lênh đênh trên biển.

Ký ức về trận chiến Gạc Ma năm 1988

Sáng 14/3/1988, trung úy Trần Văn Phương cùng các chiến sĩ đứng thành vòng tròn quanh lá cờ Tổ quốc giữa đảo Gạc Ma (Trường Sa). Tàu Trung Quốc tiến gần, những tên lính cầm AK ào lên đảo, nã đạn. 
Gặp mặt cựu binh trong trận chiến ở Trường Sa 1988Tưởng niệm liệt sĩ hy sinh trên biển

Theo thượng tá Hoàng Hoan, Chỉ huy phó chính trị Trung đoàn Công binh 83 giai đoạn 1988-1997, cuối năm 1987 Trung Quốc đơn phương đưa tàu chiến hoạt động ở vùng biển Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Bộ Quốc phòng Việt Nam chỉ đạo Bộ Tư lệnh Hải quân tăng cường khả năng bảo vệ quần đảo Trường Sa, bao gồm việc củng cố, xây dựng thêm các hạng mục công trình chiến đấu, sinh hoạt cho bộ đội.

Tàu HQ 604 khi nhận lệnh ra Gạc Ma. Ảnh tư liệu Lữ đoàn 125
Tàu HQ 604 khi nhận lệnh ra Gạc Ma. Ảnh tư liệu Lữ đoàn 125

Sau Tết Nguyên đán, các chiến sĩ Trung đoàn công binh 83 (Quân chủng Hải quân) nhận lệnh từ Sơn Trà (Đà Nẵng) vào Cam Ranh (Khánh Hòa) cùng với lực lượng bảo vệ đảo của Lữ đoàn 146 (Vùng 4 Hải quân) ra Trường Sa cắm mốc chủ quyền và xây dựng đảo chìm ở Trường Sa theo chiến dịch CQ-88.

20h ngày 11/3/1988, tàu 604 của thuyền trưởng Vũ Phi Trừ nhổ neo từ Cam Ranh chở theo lính công binh của Trung đoàn 83 và lực lượng giữ đảo của lữ đoàn 146 ra xây dựng cụm đảo Gạc Ma, Cô Lin (thuộc cụm đảo Sinh Tồn) - cách đất liền khoảng 500 km. Đảo chìm Gạc Ma lúc đó chỉ là những bãi san hô nổi lên giữa biển, có tên trong Bản đồ Việt Nam.

2h sáng ngày 12/3, nhận thấy nhiều diễn biến bất thường, Tư lệnh quân chủng điều thêm tàu HQ 605 cùng HQ 604 tăng cường xây dựng đảo Gạc Ma và Len Đao. Tàu 505 đang làm nhiệm vụ trực tại Trường Sa nhận lệnh chuyển đến Cô Lin.

Sau hai ngày đêm, HQ 604 và HQ 605 có mặt tại Gạc Ma vào chiều tối 13/3. Đêm đó, Sở chỉ huy Quân chủng lệnh cho bộ phận giữ đảo quyết tâm phải giữ vững các mục tiêu đã xác định là Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma. "Xuồng vận tải chở vật liệu xây dựng được chuyển xuống đảo. Một nhóm chiến sĩ gồm trung úy Trần Văn Phương và 4 đồng chí khác nhận lệnh vào đảo cắm cờ Tổ quốc khẳng định chủ quyền", ông Hoàng Hoan nhớ lại.

Lội xuống nước chừng 5 phút, các chiến sĩ tiếp cận bãi san hô đang lộ dần khi thủy triều rút. Phía xa, 3 tàu Trung Quốc bắt đầu di chuyển đội hình áp sát đảo. Binh nhất Nguyễn Văn Lanh mặc chiếc quần đùi đỏ cùng nhiều chiến sĩ khác bơi vào bãi Gạc Ma theo lệnh của chỉ huy cụm đảo Trần Đức Thông. Các chuyến vật liệu được hối hả chuyển lên đảo.

Đại úy Lanh (bên trái) ôn lại ký ức trận chiến Gạc Ma với ông Hoàng Hoan. Ảnh: Nguyễn Đông
Anh Lanh (bên trái) ôn lại ký ức trận chiến Gạc Ma với ông Hoàng Hoan. Ảnh: Nguyễn Đông

6h30 ngày 14/3, tàu Trung Quốc thả xuồng máy chuyển từng tốp lính lên Gạc Ma. "Tôi đếm có 49 lính Trung Quốc mang AK và một tên chỉ huy dáng người cao to mang súng ngắn. Chúng bao vây theo thế vòng cung men theo bãi san hô, những chỗ vòng vây gần nhất, hai bên cách nhau chỉ chừng một mét. Các chiến sĩ hải quân Việt Nam đứng thành vòng tròn quanh lá cờ Tổ quốc", trung sĩ Lê Hữu Thảo nhớ lại.

Sau một hồi giằng cờ và uy hiếp tinh thần, tên sĩ quan chỉ huy lính Trung Quốc bắn súng chỉ thiên phát lệnh rồi chĩa thẳng vào bụng trung úy Phương, bóp cò. Anh Phương ngã xuống, tay vẫn giữ chặt cán cờ tổ quốc. Một tên khác xông lên chĩa thẳng súng vào đầu trung úy Phương nhả đạn.

3 tàu chiến Trung Quốc tăng tốc áp sát đảo, cách tàu HQ 604 chừng 300 mét. Giữa vòng vây quân thù, binh nhất Nguyễn Văn Lanh vừa đỡ lá cờ trên tay trung úy Phương vừa đá văng khẩu súng trên tay tên sĩ quan Trung Quốc. Một tên lính gần đó đâm lưỡi lê vào binh nhất Lanh. Anh gục xuống nhưng tay vẫn ghì chặt cán cờ. Liền sau đó, tiếng đạn nổ chát chúa, lính Trung Quốc dùng AK bắn xối xả vào các chiến sĩ trên đảo. 

Cùng lúc, tàu chiến Trung Quốc nã pháo vào tàu HQ 604 tại Gạc Ma, tàu HQ 505 phía đảo Cô Lin cách đó 5 km và HQ 605 phía đảo Len Đao cách 12 km. Vì ở gần, HQ 604 hứng trọn làn đạn 12 ly 7, thuyền tưởng tàu HQ 604 Vũ Phi Trừ vừa chỉ huy chiến sĩ xuống các xuồng dùng súng chiến đấu tự vệ, vừa băng bó cho đồng đội bị thương. Thuyền trưởng Trừ đứng ở mũi tàu dùng AK và B40 đánh trả kẻ địch.

Khi thấy HQ 604, rồi HQ 605 chìm hẳn, thuyền trưởng tàu HQ 505 Vũ Huy Lễ quyết định lao thẳng con tàu bị bắn cháy phần đuôi lên bãi cạn Cô Lin, cắm cờ chủ quyền. "Ba tàu của ta lúc đó tạo thành hình tam giác trên biển. Anh em muốn quay lại Gạc Ma nhưng không thể vì tàu HQ 505 khi đó bị hư hỏng nặng", đại tá Lễ kể. Ông lệnh hạ xuồng máy ra cứu hộ đồng đội ở tàu 605 và 604.

Trời sáng, lính Trung Quốc rút khỏi Gạc Ma. Trung sĩ Thảo bơi ngược lại đảo tìm xác đồng đội và cấp cứu chiến sĩ bị thương, xé áo nút lại chiếc xuồng vận tải bị đạn địch bắn thủng, dùng báng súng làm chèo chở thi thể trung úy Phương và thương binh Lanh về hướng tàu HQ 505.

Tàu HQ 931 đưa các thương binh và chiến sĩ trong trận Gạc Ma về đất liền. Ảnh tư liệu
Tàu HQ 931 đưa các thương binh và chiến sĩ trong trận Gạc Ma về đất liền.Ảnh tư liệu

12h trưa 14/3, máy bay của Việt Nam bay trên bầu trời Gạc Ma. Chiếc xuồng của anh Thảo vừa nhích từng mét nước, vừa cứu thêm những đồng đội đang đuối sức trên biển. Đầu giờ chiều, xuồng của HQ 505 đến nơi ứng cứu đưa các chiến sĩ về tàu, sau đó về đảo Sinh Tồn. Binh nhất Lanh được chuyển bằng trực thăng vào đất liền cấp cứu và may mắn giữ được tính mạng.

Trong trận chiến rạng sáng 14/3, 64 chiến sĩ trên tàu HQ 604 đã hy sinh, 9 người bị Trung Quốc bắt giữ đưa về Quảng Đông. Từ năm 1988 đến nay, Trung Quốc đã xâm chiếm Gạc Ma. Việt Nam bảo vệ được Cô Lin và Len Đao.

Nhớ về ngày 14/3/1988, ông Lê Văn Xuân (bố liệt sĩ Lê Văn Xanh, Đà Nẵng) kể, đứng dưới loa phóng thanh, nghe tin con hy sinh, ông chết lặng. “Về nhà, tôi lấy hết can đảm nói với vợ con: 'Xanh đã hiến trọn tuổi thanh xuân của mình quyết giữ chủ quyền, đó là niềm tự hào của gia đình mình", mắt người cha già ngấn lệ.

Hằng năm, những chuyến tàu vẫn đều đặn chở đoàn công tác từ đất liền ra Trường Sa. Mỗi lần đi qua Gạc Ma, những người con đất Việt không quên thả vòng hoa tưởng niệm. "Các anh đã dâng hiến tuổi 20 cho Tổ quốc, nhân dân cả nước sẽ đời đời ghi nhớ công ơn của các anh", thượng tá Nguyễn Văn Thư, phó chính ủy Lữ đoàn 146, vùng 4 Hải quân nói.

Nguyễn Đông

Đại diện báo Tuổi Trẻ trao danh hiệu “Bạn đồng hành quanh tôi” và sổ tiết kiệm cho tàu KN951.  TRƯỜNG TRUNG - ĐĂNG NAM




 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:
Chúc Mừng Năm Mới 2026 [01.01.2026 19:26]




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
Kiều bào phát triển quê hương [Đã đọc: 313 lần]
Tin tức thế giời mới nhât song ngữ Việt Anh để học sinh ngữ [Đã đọc: 311 lần]
Một châu Âu đứng trước ngã ba lịch sử [Đã đọc: 292 lần]
Làm Giàu Bằng Đầu Tư Chứng Khoán [Đã đọc: 291 lần]
Siêu đô thị Đà Nẵng mở rộng, siêu đầu tư địa ốc làm giàu [Đã đọc: 281 lần]
Cách mạng chiếc đòn gánh của phụ nữ VN [Đã đọc: 252 lần]
“NHỮNG NGƯỜI CUỐI CÙNG CÒN GIỮ LẠI CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN”** [Đã đọc: 239 lần]
Làm thế nào đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa từ Trung Cộng [Đã đọc: 229 lần]
Cuba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cuba nghỉ [Đã đọc: 228 lần]
Nghệ Thuật Làm Giàu Của Người Việt Hải Ngoại - “The Art of Wealth for Overseas Vietnamese”. [Đã đọc: 226 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.