 |
 |
Các chuyên mục |
|
Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm
Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal
Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat
Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục
Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói
Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí
Web links
Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo
Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng
Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP
|
|
|
|
Xem bài theo ngày |
|
| Tháng Sáu 2026 | | T2 | T3 | T4 | T5 | T6 | T7 | CN |
| 1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
| 8 |
9 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
| 15 |
16 |
17 |
18 |
19 |
20 |
21 |
| 22 |
23 |
24 |
25 |
26 |
27 |
28 |
| 29 |
30 |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Thống kê website |
|
 |
Trực tuyến: |
10 |
 |
Lượt truy cập: |
29290151 |
|
|
|
|
| |
|
 |
 |
|
|
|
Đảng CSVN sập bẫy dân vào vòng nô lệ kinh tế TQ như thế nào?
27.06.2014 03:13
Vì sao kinh tế Việt Nam quá khó để thoát Trung?Thụy My« Thoát Trung », đó là cụm từ mới xuất hiện rất nhiều trên mặt báo chính thống cũng như trên các mạng xã hội Việt Nam trong thời gian gần đây,
đặt ra một vấn đề lớn mà lâu nay hầu như nan giải. Không chỉ chính trị bị ảnh hưởng nặng nề từ « Thiên triều », mà nền kinh tế đang lệ thuộc chặt chẽ vào Trung Quốc, cũng hết sức chật vật khi muốn thoát khỏi vòng kiềm tỏa của người láng giềng khổng lồ tham lam, nhiều thủ đoạn ở phương Bắc.RFI Việt ngữ đã đặt vấn đề này với nhà bình luận đồng thời là tiến sĩ kinh tế Phạm Chí Dũng ở Saigon. RFI : Vào những ngày này người dân Việt Nam đang sống trong khung cảnh các giàn khoan Trung Quốc vẫn đều đặn tiến chiếm vùng lãnh hải của mình. Nhưng dư luận trong nước cũng đang dậy lên những tiền đề cho một phong trào “Thoát Trung”. Anh có chia sẻ với ý tưởng này không? Nhà bình luận Phạm Chí Dũng : Không phải chờ đến bây giờ khi các tàu Trung Quốc đâm nát tàu kiểm ngư Việt Nam, mà cách đây ba năm khi “người anh em láng giềng” này lần đầu tiên dám cắt cáp tàu Bình Minh, ý tưởng đầu tiên về phong trào “Thoát Trung” đã hình thành trong một bộ phận giới trí thức Việt Nam. Tuy nhiên lúc đó chỉ là một bộ phận nhỏ thôi. Hơn nữa, có muốn trở nên "bộ phận lớn" cũng chưa thể được vì khi đó Nhà nước Việt Nam còn say sưa trấn áp, đàn áp các cuộc biểu tình ôn hòa phản đối Trung Quốc. Nhưng còn bây giờ thì tình hình đã trở nên bĩ cực hơn nhiều. Dù cho chính quyền vẫn chưa bớt ham muốn việc phong tỏa biểu tình chống Trung Quốc, nhưng một khi quân đội Việt Nam bị đặt vào thế sẵn sàng chiến đấu thì không có lý gì để phong trào “Thoát Trung” không trỗi dậy. Vào tháng 6/2014, lần đầu tiên một cuộc hội thảo về “Thoát Trung” đã được một số trí thức độc lập cộng với một nhóm trí thức thuộc trường phái “phản biện trung thành” tổ chức ở Hà Nội. Đã có một số bài tham luận được nêu ra. Nhưng nhìn chung, dư luận người nghe vẫn chưa thỏa mãn trước những luận đề có vẻ còn khá trừu tượng. Dư luận đặt thẳng câu hỏi là nói tới “Thoát Trung” thì phải nói cho rõ là thoát cái gì và làm thế nào để thoát, chứ tình thế hiểm nghèo hiện thời không còn cho phép việc nói chung chung nữa. Riêng tôi cho rằng vấn đề thoát Trung, xét về mặt thượng tầng là thoát khỏi ý thức hệ của Bắc Kinh vốn đã chi phối quá nhiều đối với giới lãnh đạo bảo thủ ở Hà Nội, một ý thức hệ mà cho tới nay đã chứng tỏ sự nguy hiểm đến mức kéo lùi tiến trình vận động xã hội và xu thế dân chủ về lại những năm 60-70 của thế kỷ XX. Đây chính là thoát khỏi phương diện bị ràng buộc về tư tưởng chính trị và thể chế chính trị. RFI : Nhưng các biểu hiện của chính thể ở Hà Nội cho thấy vẫn còn khá gắn bó với Trung Quốc? PCD : Đây cũng là một câu hỏi, mà trên hết có thể coi là một tinh thần phẫn nộ, được rất nhiều người trong giới cách mạng lão thành, trí thức, nhân dân và cả một phần cán bộ đương chức đang xoáy vào Bộ Chính trị của Đảng. Đó là tại sao khi Trung Quốc đã công khai khiêu khích và không giấu diếm ý đồ thôn tính Việt Nam trong những năm tới, toàn bộ Ban chấp hành Trung ương, Quốc hội và Chính phủ vẫn bình chân như vại? Thậm chí trong kỳ họp đang diễn ra, Quốc hội còn không dám ban hành một nghị quyết riêng về Biển Đông, và cho tới giờ này cũng chưa thấy bóng dáng hồ sơ kiện cáo Trung Quốc ra tòa án quốc tế… Vào lúc cuộc chiến biên giới phía Bắc xảy ra vào năm 1979, người ta còn có thể hiểu được là sự xoắn quyện về ý thức hệ khi đó vẫn đang ở mức cao độ, và một cuộc chiến với cả trăm ngàn người thiệt mạng của hai bên thật ra không có ý nghĩa lớn lao so với việc sau đó hai chế độ vẫn phải tiếp tục dựa vào nhau để “chống lại chủ nghĩa đế quốc”. Thế nhưng hơn ba chục năm sau thì không ít người trong nội bộ đảng đã hầu như thất vọng với lý thuyết “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” ở Việt Nam hay “chủ nghĩa xã hội hài hòa” ở Trung Quốc. Quá nhiều đổ bể tâm trạng khi phải đối chiếu giữa một bên là hàng ngàn trang giáo điều về hệ tư tưởng cộng sản, còn bên kia là một thứ chủ nghĩa tư bản dã man đang chế ngự với cường độ ghê gớm ở cả hai quốc gia Trung Quốc và Việt Nam. Mà như vậy thì làm sao có thể còn nói đến chuyện ý thức hệ là tấm gương phản chiếu cho cả hai chế độ Bắc Kinh và Hà Nội? Hay có thể hiểu là cơ chế cộng sinh ý thức hệ chỉ là một lý do đầy tính ngụy biện? Nhưng nếu không phải là sự phụ thuộc lẫn nhau vào ý thức hệ thì vào cái gì? Phải chăng đó là sự lệ thuộc hay phụ thuộc quá lớn vào “tình hữu nghị giữa hai dân tộc”? Hay bị câu nệ vào một mối quan hệ văn hóa truyền thống giữa hai đất nước có rất nhiều đặc điểm giống nhau? Hay còn gì khác nữa?... RFI : Theo anh thì còn lý do gì khác? PCD : Nếu quan sát những gì đã diễn ra giữa hai đảng cộng sản Việt Nam và Trung Quốc từ ít nhất 40 năm qua, thì có thể kết luận không ngần ngại là gần như mọi mối quan hệ chính trị đều xuất phát từ lợi ích kinh tế và đều dựa vào lợi ích kinh tế để cùng tồn tại. Chúng ta đang đi đến điểm cốt lõi của vấn đề: kinh tế quyết định chính trị. Các tập đoàn chính trị Việt Nam không thể “làm khó” Trung Quốc một khi họ bị phụ thuộc quá nhiều vào những lợi ích kinh tế béo bở, bất chấp việc nền kinh tế nước nhà gần như chẳng được lợi lộc gì trong quan hệ giao thương với Trung Quốc trong ít nhất từ năm 2001 đến nay. Mà như vậy, muốn thoát Trung về chính trị trước mắt và thoát Trung về văn hóa trong lâu dài, thì trước hết và điều kiện cần là phải thoát Trung về kinh tế. RFI : Kinh tế Việt Nam đang phụ thuộc vào Trung Quốc đến mức nào? PCD : Gần đây giới chuyên gia nhà nước mới dần hé lộ về thực trạng kinh tế Việt Nam phải nhập siêu đến mức nào từ Trung Quốc. Nếu lấy mốc từ năm 2001 theo một thống kê của Việt Nam, thì từ năm đó đến nay, Việt Nam nhập siêu từ Trung Quốc với quy mô không ngừng tăng qua các năm với tốc độ chóng mặt, từ 200 triệu đô la Mỹ năm 2001 lên gần 24 tỉ đô la Mỹ năm 2013, tức tăng đến 120 lần. Cần lưu ý là tổng nhập siêu của Việt Nam từ các nước khác, sau khi đạt đỉnh 18 tỉ đô la Mỹ vào năm 2008, bắt đầu xu thế giảm xuống từ năm 2009 đến nay, thậm chí năm 2012 và 2013 Việt Nam còn chuyển sang xuất siêu. Trong khi đó, nhập siêu từ Trung Quốc thì không hề giảm mà vẫn tiếp tục tăng mạnh, từ 11 tỉ đô la Mỹ năm 2009 lên 24 tỉ đô la Mỹ năm 2013. Hậu quả cho đến giờ này là trong 110 nhóm hàng nhập từ Trung Quốc với giá trị lên đến 37 tỉ USD vào năm 2013, có rất nhiều sản phẩm là linh kiện đầu vào cho sản xuất, trang thiết bị cho dự án đầu tư đang triển khai của Việt Nam. Dù con số đó chỉ bằng 1% tổng xuất khẩu của Trung Quốc nhưng lại tương đương đến 28% tổng nhập khẩu của Việt Nam. Tình huống có thể xảy đến là nếu Trung Quốc đột ngột ngừng xuất khẩu sang Việt Nam thì sẽ gây ra tác động dây chuyền không nhỏ đối với nền kinh tế Việt Nam. Một số doanh nghiệp dệt may còn tiết lộ là họ chỉ có thể cầm cự được vài ba tháng nếu thiếu nguồn nguyên liệu của Trung Quốc. Nói ra điều này thật đau lòng và còn có vẻ quá bất lợi vì rõ ràng đó là thế quá yếu của kinh tế Việt Nam, song đã đến lúc không thể không nói thẳng, nếu thực sự muốn thoát Trung về kinh tế. RFI : Có lẽ phải có những nguyên nhân đủ lớn khiến cho lượng nhập siêu từ Trung Quốc lại tăng mạnh đến vậy? PCD : Đương nhiên câu chuyện Việt – Trung không bao giờ thiếu nguyên nhân. Nếu chúng ta tổng hợp ý kiến của khá nhiều chuyên gia thì có một số nguyên nhân chính như sau : Thứ nhất, hàng Trung Quốc từ máy móc thiết bị đến nguyên phụ liệu hay hàng tiêu dùng hầu hết đều có giá rất rẻ, do chi phí nhân công của Trung Quốc vào loại thấp nhất thế giới. Cùng lúc đó và khác nhiều với Việt Nam, Trung Quốc vẫn duy trì phần nào chính sách hỗ trợ xuất khẩu, mà một trong những bằng chứng là hàng xuất khẩu của Trung Quốc sang các thị trường Mỹ và Tây Âu rất ít khi bị kiện cáo như giới xuất khẩu tôm và cá ba sa Việt Nam từng bị. Với ưu thế giá rẻ, hàng tiêu dùng Trung Quốc được nhiều người tiêu dùng Việt Nam, đặc biệt người thu nhập thấp chấp nhận. Nguyên phụ liệu từ Trung Quốc được nhập khẩu nhiều cũng do giá rẻ, nhất là khi Việt Nam chưa có ngành công nghiệp phụ trợ đủ mạnh để cung cấp nguyên phụ liệu cho các ngành gia công xuất khẩu. Máy móc thiết bị giá rẻ của Trung Quốc được nhiều doanh nghiệp Việt Nam lựa chọn, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa do khả năng tài chính hạn chế của họ. Riêng câu chuyện này thì chỉ có thể nói là mình nên tự trách mình, vì suốt từ năm 2007 khi Việt Nam tham gia vào WTO đến nay, phần lớn doanh nghiệp đã không cải thiện đáng kể năng lực cạnh tranh của họ. Một nguyên nhân khác là trong cơ cấu sản phẩm trong thương mại Việt -Trung, Việt Nam có đến trên 70% tổng kim ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc. Chủ yếu là khoáng sản, nông lâm thủy sản thô, sơ chế với giá trị gia tăng thấp, giá cả lại bấp bênh và thường có xu hướng giảm, giá so sánh tương đối thấp so với các sản phẩm chế biến - chế tạo. Trong khi đó các sản phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc chủ yếu là thành phẩm hóa chất, sản phẩm chế tác cơ bản, máy móc thiết bị, có giá trị gia tăng cao, chiếm trên 80% tổng nhập khẩu từ Trung Quốc. Hiển nhiên tương quan lực lượng như vậy cho thấy Trung Quốc có lợi nhiều hơn hẳn so với Việt Nam. Một ví dụ điển hình là cùng mặt hàng nông sản, Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc một đơn vị thì nhập khẩu từ quốc gia này đến 10 đơn vị mặt hàng nông sản cùng loại. Không thể nói khác là tỉ lệ 1/10 và phương thức nhập khẩu kiểu đó đã làm cho Việt Nam trở thành nơi cung ứng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến của Trung Quốc. Chẳng hạn như dệt may của Việt Nam, tuy là ngành giải quyết nhiều lao động, nhưng thực chất là may gia công, là nơi tiêu thụ nguyên liệu cho Trung Quốc. Do đó ngày càng phụ thuộc đến mức nếu không có nguyên liệu Trung Quốc, nhiều người lo ngại ngành may mặc Việt Nam sẽ tiêu điều. May mặc lại là ngành xuất khẩu mũi nhọn của Việt Nam, mỗi năm xuất khẩu 18-20 tỉ USD, nhưng hơn 70% nguyên phụ liệu của may mặc phải nhập từ Trung Quốc và số lợi nhuận này do Trung Quốc hưởng trọn. Vì thế giới doanh nghiệp dệt may đã phải thống thiết rằng những nguyên liệu này không đòi hỏi công nghệ cao gì cả, nhưng tại sao Việt Nam không làm được mà lại bỏ ngỏ cho Trung Quốc? Một nguyên nhân nữa chính là một thực tế rất trần trụi: mặc dù đã giao thương từ rất nhiều năm qua, nhưng Việt Nam hầu như không có hàng rào kỹ thuật đối với hàng nhập khẩu Trung Quốc - từ yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với thực phẩm, đến các tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn sử dụng đối với máy móc, thiết bị, đồ gia dụng. Thế là cơn lũ hàng hóa của Trung Quốc bất kể chất lượng, phẩm cấp thế nào vẫn tràn vào Việt Nam. Còn với Trung Quốc thì ngược lại hoàn toàn. Ngoài hàng rào kỹ thuật, Trung Quốc còn yêu cầu hàng Việt Nam sang Trung Quốc buộc phải qua một số cửa khẩu do Trung Quốc chỉ định. Như hải sản chỉ được đi qua Móng Cái, cao su chỉ được đi qua Móng Cái, Lục Lầm, hoa quả tươi chỉ được qua Lào Cai, Lạng Sơn… Với Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN - Trung Quốc và Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc (ASEAN+3), trong khi Việt Nam chưa tận dụng được bao nhiêu thì Trung Quốc triệt để khai thác lợi thế. Chẳng hạn 10 năm sau khi Hiệp định ASEAN+3 có hiệu lực (2000-2010), xuất khẩu của Trung Quốc sang Việt Nam tăng 25 lần, trong khi xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc chỉ tăng 5 lần. Hậu quả cho tới nay là nếu theo con đường chính ngạch, hàng hóa Việt Nam mới chỉ thâm nhập vào các tỉnh ven biên giới như Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông mà chưa thể thâm nhập sâu vào nội địa Trung Quốc. Điều này cũng trực tiếp làm suy giảm lợi ích từ hoạt động thương mại của Việt Nam. Còn nếu hàng hóa Việt Nam xuất theo con đường tiểu ngạch thì còn bi kịch hơn nữa, bởi khá nhiều sản phẩm sơ chế là do thương nhân Trung Quốc thu mua tận gốc với giá rẻ. Vài năm qua đã chứng kiến không biết bao nhiêu trường hợp nông dân Việt Nam bán ngọn chặt gốc và sau đó là phá sản vì bị thương lái Trung Quốc “xù” hợp đồng. Cần chú ý là thương mại tiểu ngạch chiếm một tỉ trọng đáng kể trong thương mại với Trung Quốc, không chỉ tác động đến nguồn thuế thu, gây khó khăn cho việc quản lý chất lượng hàng nhập khẩu mà còn tác động tiêu cực đến các nhà xuất khẩu của Việt Nam. RFI : Dư luận gần đây cũng đặt lại câu hỏi về hiện tượng doanh nghiệp Trung Quốc gần như thống trị công tác đấu thầu trong một số lĩnh vực quan yếu của Việt Nam. Thực trạng này có làm hoạt động nhập khẩu của Việt Nam trở nên tiêu cực? PCD : Chứng minh rõ ràng nhất, tuy có thể chưa đầy đủ, là dựa vào một khảo sát của Viện Nghiên cứu Cơ khí ở Việt Nam. Trong suốt giai đoạn 2003-2013, Trung Quốc đã thống trị nhóm sản phẩm ở 4 trong 5 ngành chính là thủy điện, nhiệt điện, xi măng, bauxite, và sàng tuyển than tại Việt Nam. Hệ quả là mỗi năm, Việt Nam phải nai lưng nhập khẩu đến 10 tỉ đô la Mỹ cho nhóm sản phẩm máy và thiết bị đồng bộ, trong khi tỉ lệ nội địa hóa là cực kỳ thấp. Chẳng hạn như các dự án ximăng áp dụng cơ chế EPC (tức nhà thầu thực hiện toàn bộ công việc từ thiết kế, cung cấp máy móc, thiết bị đến thi công xây dựng, vận hành chạy thử rồi bàn giao). Đây chính là những dự án do Trung Quốc làm tổng thầu có tỉ lệ nội địa hóa 0%. Trong khi theo Viện Nghiên cứu Cơ khí thì về mặt kỹ thuật, người Việt Nam có thể thiết kế, chế tạo trong nước tới 40% giá trị thiết bị của các nhà máy này. Hay với ngành công nghiệp nhiệt điện đốt than, trong 20 dự án đã và đang đầu tư, có tới 15 dự án do nhà thầu Trung Quốc làm tổng thầu EPC cũng với tỉ lệ nội địa hóa 0%. Hoặc hai dự án công nghiệp nhôm và bauxite hiện nay đều do Trung Quốc làm tổng thầu EPC với tỉ lệ nội địa hóa chỉ vỏn vẹn 2%. Viện Nghiên cứu Cơ khí trích dẫn Công ty Hatch của Úc cho rằng, Việt Nam có đủ năng lực thiết kế, chế tạo trong nước để đáp ứng 50% thiết bị trong ngành này. Hiện tại, cả nước có ba nhà máy tuyển than, thì cả ba nhà máy này đều do nhà thầu Trung Quốc làm tổng thầu EPC, dù Việt Nam có thể hoàn toàn nội địa hóa được 50-70% giá trị thiết bị… RFI : Làm sao mà tổng thầu EPC rơi vào tay người Trung Quốc quá nhiều như thế? PCD : Lý giải về câu chuyện khó nói này, có thể thấy là nhiều dự án vốn đầu tư phải vay từ Trung Quốc, từ đó tạo ưu thế cho Trung Quốc đặt ra các điều kiện như phải mua thiết bị từ chính thị trường của họ. Thậm chí tôi cho rằng nếu phía Trung Quốc không “chủ động gợi ý” thì một số doanh nghiệp Việt Nam cũng quá hiểu là doanh nghiệp Trung Quốc có chế độ bao thư phong bì thuộc loại nặng nhất thế giới. Về mặt kỹ thuật, Luật Đấu thầu Việt Nam chỉ ưu tiên giá rẻ mà không chú ý đến nguồn gốc xuất xứ, không ưu tiên đúng mức tỉ lệ nội địa hóa, do vậy hầu hết các dự án rơi vào tay các nhà thầu Trung Quốc. Khi đó, các nhà máy chế tạo của Việt Nam hầu như không có cơ hội tham gia như nhà thầu phụ. Tình cảnh đáng nói là hiện nay Trung Quốc là nhà thầu lớn nhất của Việt Nam. Các gói thầu EPC do Trung Quốc thắng trong suốt 10 năm qua đã góp phần làm gia tăng nhanh chóng nhập siêu từ Trung Quốc. RFI : Các cơ quan hữu quan của Việt Nam có giải pháp nào để khắc phục cả một “thập kỷ mất mát” ấy? PCD : Thực ra người dân Việt Nam đã nghe quá nhiều giải pháp của quan chức Việt Nam. Còn bây giờ thì một lần nữa, giới quan chức này lại nêu ra quan điểm là đã đến lúc phải đa dạng thị trường, thúc đẩy sản xuất trong nước và cải cách ngành thương mại. Có lẽ bây giờ họ mới nhận ra rằng công nghiệp phụ trợ “của chúng ta” còn kém, thành ra phải nhập nhiều linh kiện, máy móc từ Trung Quốc, nên phải đẩy mạnh sản xuất linh kiện trong nước. Một quan chức còn hứa hẹn là nếu làm đúng như vậy, tối thiểu trong 2-3 năm, còn tối đa là 5 năm là có thể giảm phụ thuộc Trung Quốc về kinh tế. Một quan điểm “hướng Tây” thì cho rằng cần “xoay trục” sang phát triển công nghiệp phụ trợ từ sự hỗ trợ của Nhật Bản, Hàn Quốc... Theo tôi, đáng lẽ vấn đề này đã phải thực hiện từ hàng chục năm trước, còn bây giờ thì đã quá muộn vì cái gọi là “công nghiệp phụ trợ” của Việt Nam đã phụ thuộc quá sâu vào Trung Quốc. RFI : Trong một chỉ thị vào tháng 6/2014, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu đa dạng hóa các thị trường xuất, nhập khẩu thay vì lệ thuộc vào một nền kinh tế cụ thể. Đó là nền kinh tế nào vậy? PCD : Làm sao có thể nghĩ gì khác hơn ngoài Trung Quốc? RFI : Bộ trưởng Giao thông Vận tải Đinh La Thăng cũng tuyên bố “sẽ không lệ thuộc vào nhà thầu Trung Quốc”. Nhưng thực tế cho thấy, số lượng nhà thầu Trung Quốc trúng thầu vẫn rất lớn ? PCD : Có một thực tế : lĩnh vực xây dựng là không gian thông thoáng cho các cuộc đấu thầu mang tiếng là nhiều khuất tất, qua đó các doanh nghiệp Trung Quốc trúng thầu hơn 90% các công trình trọng điểm quốc gia trên các lĩnh vực xây dựng, năng lượng. Từ ngữ “lại quả” được du nhập vào Việt Nam chính là có nguồn gốc từ Trung Quốc. Lại quả đến độ bất chấp nhiều công trình của Trung Quốc luôn bị đội vốn, kéo dài thời gian và công nghệ lạc hậu, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn nhắm mắt chấp nhận. Chỉ đến gần đây một chuyên gia phản biện mới hơi can đảm khi ẩn dụ trên mặt báo nhà nước:“Việc đánh giá thực trạng thương mại Việt – Trung theo tôi không quan trọng bằng việc nhìn thẳng vào thực tế ai được lợi từ các hoạt động kinh tế”. RFI : Theo anh thì ai được lợi? PCD : Chúng ta hãy lấy một trong những ví dụ tiêu biểu nhất và liên đới đậm đà nhất với Trung Quốc là trường hợp Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN). Mới đây, một tờ báo của Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam có tên là Đất Việt, và cũng là một trong những xung kích phản biện trong hệ thống truyền thông nhà nước, đã cùng với GS TS Đặng Đình Đào – nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Phát triển, Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội – hé lộ một “bí mật quốc gia”: từ nhiều năm qua, EVN đã mua điện từ các doanh nghiệp Trung Quốc với giá gấp đến ba lần mức thông thường của doanh nghiệp Việt Nam. Thậm chí, EVN mua điện của Trung Quốc với giá cao cả ở thời điểm nguồn cung cấp trong nước dồi dào, vin vào lý do vì hợp đồng mua điện với Trung Quốc được ký từ năm 2005 và chính thức mua điện từ 2009. Thái độ kinh doanh bất chấp này đã bất chấp một thực tế là trong thời gian gần đây, nguồn điện trong nước được tăng cường nhiều hơn. Nhiều nhà máy điện ngoài EVN chưa huy động hết công suất, có thời điểm điện dư thừa, giá lại rẻ hơn nhiều giá điện Trung Quốc bán cho Việt Nam. Nhưng bởi lối hành xử đầy ngờ vực, EVN đã cố tâm mua điện trong nước với giá chỉ bằng 1/3 giá mua điện của Trung Quốc, kèm theo các điều kiện rất khắt khe, cho dù nhiều doanh nghiệp sản xuất điện của Việt Nam sẵn sàng chịu lỗ để hòa lưới điện. Trong khi đó theo Viện Nghiên cứu Cơ khí, Việt Nam đủ năng lực làm tổng thầu, tỉ lệ nội địa hóa thành công đạt 30% về thủy điện. Minh chứng là đến nay, Việt Nam hoàn toàn có thể làm chủ thiết kế, chế tạo thiết bị cơ khí thủ công cho 30 nhà máy thủy điện bao gồm Sơn La, Lai Châu với tỉ lệ nội địa hóa đến 90%. Song rất tiếc là tất cả cố gắng của doanh nghiệp Việt Nam đã bị một nhóm lợi ích và có thể cả một nhóm làm chính sách nào đó chặn đứng. Cuối cùng vẫn chẳng ai giải tỏa được mối nghi ngờ về sự hiện diện quá lớn của Trung Quốc trong ngành điện Việt Nam. Hoặc lý giải chuyện thiết bị Trung Quốc vốn bị coi là chất lượng kém, bãi rác công nghệ của thế giới nhưng vẫn tràn vào Việt Nam… RFI : Vậy cuối cùng phải làm gì để thoát Trung? PCD : Tôi lại xin nhường lời cho Ông Đặng Đình Đào – nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Phát triển. Vị chuyên gia này đã nói thẳng là với tình trạng độc quyền như EVN hiện nay và thiếu minh bạch trong kinh doanh trên thị trường điện ở Việt Nam, trách nhiệm trong việc này trước hết là do chính cơ chế quản lý kiểu bộ chủ quản lâu nay không được thay đổi. Tiếp đó là các cơ quan quản lý nhà nước trong ngành điện, mà cụ thể là Bộ Công thương và cả EVN trong tổ chức và quản lý điện Việt Nam. Mấu chốt của vấn đề phải là nhanh chóng xóa bỏ tình trạng độc quyền của EVN, chấm dứt tình trạng một tay nắm cả mua bán, phân phối, điều độ… Cứ cho là Chính phủ Việt Nam có một phần thật tâm muốn giảm sự lệ thuộc kinh tế vào Trung Quốc, nhưng khuất tất lớn nhất là họ còn bị ràng buộc quá nhiều bởi các nhóm lợi ích như EVN. Còn những nhóm lợi ích này lại bị quy chiếu bởi Trung Quốc, từ những ích lợi hết sức mờ ám đến chủ nghĩa độc quyền và chủ nghĩa cực quyền. Do vậy chẳng có gì khó hiểu khi đã chưa hề, và có lẽ sẽ chẳng có nổi một động tác kiên quyết nào để đáp trả lại sự gây hấn của Trung Quốc ở Biển Đông. Cuối cùng, chúng ta thấy rằng muốn chống ngoại xâm thì có lẽ việc đầu tiên phải là chống nội xâm. Không thể thoát Trung nếu không giải quyết bài toán thanh loại những kẻ “cõng rắn cắn gà nhà”. RFI : Xin chân thành cảm ơn nhà bình luận Phạm Chí Dũng ở Saigon đã vui lòng dành thì giờ trả lời phỏng vấn của RFI Việt ngữ về vấn đề vì sao kinh tế Việt Nam quá khó khăn khi muốn thoát khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc. Phó Thủ tướng gốc Hoa Hoàng Trung Hải lại âm mưu biến Vũng Áng và cảng Sơn Dương thành đặc khu của Trung Quốc
Lê Anh Hùng - Trong một bài viết trước đây, tác giả bài này đã chỉ rõ PTT Tàu Hoàng Trung Hải chính là người đã “dâng” cho Trung Quốc 33km2 đất (bằng 1,2 lần diện tích Macao) trong khu kinh tế Vũng Áng và cảng nước sâu Sơn Dương, núp dưới chiêu bài cấp đất dự án cho tập đoàn Formosa Đài Loan.
Mới đây, tập đoàn Formosa lại gửi công văn cho đích danh Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải, trong đó họ đưa ra đề xuất thành lập đặc khu kinh tế gang thép Vũng Áng (bao gồm cả cảng nước sâu Sơn Dương) trực thuộc Văn phòng Chính phủ, tức là thuộc quyền chỉ đạo, giám sát của chính ngài PTT Tàu “phụ trách kinh tế” này.
TBKTSG online | 25.6.2015 -- Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (Formosa Hà Tĩnh) vừa có những yêu cầu gởi lên Chính phủ vượt quá khuôn khổ luật pháp và chính sách ưu đãi hiện hành mà bình thường có lẽ không doanh nghiệp nào nghĩ tới.
Đó là đề xuất thành lập đặc khu kinh tế gang thép Vũng Áng và trong đặc khu thành lập ban quản lí, trực thuộc Văn phòng Chính phủ, theo tin từ báo Hải quan. Trong công văn số 1406022/CV-FHS gởi Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải, Formosa đưa ra đề xuất thành lập đặc khu kinh tế gang thép Vũng Áng nhằm xây dựng cảng nước sâu Sơn Dương và đầu tư các ngành công nghiệp liên quan như gang thép, điện....
Với đặc khu này, Formosa đề xuất một loạt biện pháp ưu đãi như được Chính phủ thiết lập cơ chế bảo hộ ngành thép, được Chính phủ ưu đãi cân đối ngoại tệ trong phạm vi hạng mục kinh doanh, được vay vốn từ các tổ chức tài chính nước ngoài, được miễn thu thuế khấu trừ tại nguồn..., miễn thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu...
Cũng theo báo Hải quan, một trong những đề xuất mang tính ưu đãi như thế là “đề nghị được cắt đất để bán lâu dài cho nhân viên” mà Formosa dự kiến số lượng nhân viên cao nhất đạt15.000 người, nếu tính cả thân nhân của họ là khoảng 60.000 người như một thị trấn gần đặc khu.
Dự án Khu liên hợp gang thép Formosa đang được triển khai xây dựng và dự kiến bắt đầu vận hành giai đoạn 1 vào năm 2015 với tổng công suất khoảng 22,5 triệu tấn thép/năm.
Công văn này đã mở đường cho người Trung Quốc tràn vào chiếm cứ Vũng Áng, Kỳ Anh.
Ngày 23.5.2014, xử lý kiến nghị của Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (FHS) qua Công văn số 1405069/CV-FHS, PTT Tàu Hoàng Trung Hải đã chỉ đạo:
"Về vấn đề thành lập Khu kinh tế đặc thù riêng cho dự án FHS, giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan và UBND tỉnh Hà Tĩnh nghiên cứu, xử lý và trả lời Công ty."
Đặc biệt, công văn đóng dấu hoả tốc của Văn phòng Chính phủ này lại được ban hành chỉ 2 ngày sau khi FHS phát công văn đề nghị. Điều này cho thấy sự quan tâm vô cùng đặc biệt mà ngài Phó Thủ tướng Tàu khựa dành cho dự án Formosa. (Ngày 21.5, đích thân ngài PTT đã dẫn đầu đoàn công tác của chính phủ đến Vũng Áng thăm và chỉ đạo khắc phục hậu quả cho Cty Formosa sau vụ bạo động hôm 14.5, vụ việc mà hầu như ai cũng thấy là có sự giật dây và nhắm mắt làm ngơ của chính quyền. Lưu ý: Công văn đề xuất thành lập đặc khu trực thuộc Văn phòng Chính phủ của FHS là Công văn số 1406022/CV-FHS, phát hành sau Công văn 1405069/CV-FHS.)

Đề nghị thành lập đặc khu này là diễn biến mới nhất trong âm mưu nham hiểm của Trung Nam Hải mà nhiều người đã lên tiếng cảnh báo từ lâu: biến khu vực này thành một căn cứ quân sự hết sức lợi hại, sẵn sàng chia cắt Việt Nam trên bộ (ngay dưới chân dãy Hoành Sơn) và trên biển (từ cảng Sơn Dương, một cảng kín sóng gió và đạt độ sâu đến trên -16m cùng với vùng nước rộng rãi, Trung Quốc sẽ dễ dàng kiểm soát được đường biển từ Nam Bộ và Trung Bộ tiếp tế cho miền Bắc Việt Nam).
HÃY CHẶN NGAY BÀN TAY TỘI ÁC CỦA PTT HÁN TẶC HOÀNG TRUNG HẢI ĐỂ CỨU LẤY ĐẤT NƯỚC NÀY!!!
Mời quý độc giả xem thêm loạt bài vạch trần bộ mặt thật của ngài PTT Tàu Hoàng Trung Hải trên website của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA):
Lê Anh Hùng
Đảng rối loạn, Quốc hội loạn ngôn
Phạm Trần (Danlambao) - Bộ Chính trị đảng Cộng sản Việt Nam đã bị “rối lọan thần kinh” và Quốc hội mắc chứng “loạn ngôn” trước xâm lược Biển Đông của Trung Cộng.
Tình trạng này đã xảy ra trong ngày họp cuối cùng 24/06/2014 của Kỳ họp 7 Quốc hội Khóa XIII khi cơ chế có quyền cao nhất nước chỉ “đẻ” ra được một Thông cáo để “khẳng định việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam là vi phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam.” Thông cáo cũng nhắc lại chuyện “biết rồi khổ lắm nói mãi” rằng: “Hành động của Trung Cộng là “vi phạm luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982; vi phạm Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC); trái với thỏa thuận cấp cao giữa hai Đảng, Nhà nước Việt Nam-Trung Quốc. Tình hình biển Đông căng thẳng. Hòa bình và an ninh đang bị đe dọa.”
Tuy nhiên, Quốc hội của “đảng cử dân bầu” này chỉ dám: “Yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan Hải Dương 981 ra khỏi vùng biển của Việt Nam”, thay vì phải cương quyết và dứt khoát “đòi hỏi” Trung Cộng phải “rút ngay lập tức” dàn khoan và các tầu bảo vệ ra khỏi vùng biển của Việt Nam.
Trước ngày bế mạc, đã có một số Đại biểu yêu cầu Quốc hội công bố một Nghị quyết để khẳng định sự “đồng thuận và chính thức” của những người thay mặt cho 90 triệu dân lên án hành động xâm lăng của Trung Cộng.
Quốc hội đã bỏ ngoài tai yêu cầu chính đáng này để không ra Nghị quyết và cũng không ra nổi một Tuyên bố khiến dư luận trong nước thất vọng.
Tuy nhiên, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc lại biện minh tại cuộc họp báo (24/06/014) rằng: “Thông cáo này được xem như Tuyên bố của Quốc hội thể hiện quan điểm, thái độ trước hành động sai trái của Trung Quốc”. (Thời báo Kinh tế Việt Nam, 24/6/2014 )
Ông Phúc còn nói với báo chí: “Dù là tuyên bố hay nghị quyết thì nội dung bên trong đều thể hiện rất rõ sự phản đối của Quốc hội Việt Nam với sự vi phạm của Trung Quốc.”
Ông còn tự biên tự diễn thêm: “Dư luận cử tri cho rằng, Thông cáo số 2 của Quốc hội đã góp phần giải tỏa, an lòng nhân dân trước hành vi vi phạm luật pháp quốc tế của Trung Quốc; đồng thời, góp phần thể hiện ý chí quyết tâm, tạo niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước.”
Sự thật ở đâu?
Trước hết, ở Việt Nam không có Viện thăm dò dư luận độc lập, dù của tư nhân hay nhà nước mà chỉ có báo đài chịu sự kiểm soát của Ban Tuyên giáo Trung ương hay cán bộ đảng được chỉ định làm việc này để to son điểm phấn cho chủ trương và chính sách của nhà nước.
Vì vậy, đối với bản Thông cáo số 2 về tình hình Biển Đông, dù có ba đầu sáu tay, ông Phúc cũng “không thể nào” có được kết quả của “dư luận cử tri” trong thời gian ông họp báo, “ngay sau khi Quốc hội bế mạc”, hôm 24/06/2014.
Vậy Chủ tịch Nguyễn Sinh Hùng đã nói gì ?
Ông Hùng nói: “Quốc hội khẳng định hành động của Trung Quốc vi phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam; vi phạm luật pháp quốc tế, trước hết là Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC); vi phạm Thỏa thuận cấp cao giữa Việt Nam và Trung Quốc về nguyên tắc chỉ đạo giải quyết vấn đề trên Biển Đông; làm tổn hại sâu sắc đến tình hữu nghị, đoàn kết, láng giềng của nhân dân 2 nước Việt Nam – Trung Quốc.”
Quan điểm của ông Hùng không mới vì ông chỉ lập lại gần như nguyên văn Điểm 2 của Thông cáo số 1 của Quốc hội ra ngày 21/05/2014, sau khi nghe Chính phủ báo cáo về tình hình Biển Đông và thảo luận tại phiên họp tổ (họp kín giữa các đòan Đại biểu của địa phương), thay vì thảo luận công khai tại hội trường.
Điểm này viết: “(2). QH khẳng định việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam là vi phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam; vi phạm luật pháp quốc tế nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982; vi phạm Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC); trái với thỏa thuận cấp cao giữa hai Đảng, Nhà nước Việt Nam - Trung Quốc. Tình hình biển Đông căng thẳng. Hòa bình và an ninh đang bị đe dọa.”
Tuy nhiên cần phải minh bạch về tư cách “đại diện” của ông Nguyên Sinh Hùng khi ông nói:“Quốc hội khẳng định…”, do đó không thể đồng thời “thể hiện quan điểm của Việt Nam về biển Đông” như lối nói “lạm dụng danh nghĩa” của Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc.
Theo hệ thống lãnh đạo Nhà nước thì chỉ có ông Trương Tấn Sang, Chủ tịch, mới có tư cách thay mặt cho Nhà nước Cộng hòa Xã hội Việt Nam.
Nhiệm vụ này đã quy định trong Điều 86 của Hiến pháp mới (2013): “Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại.”
Tuyên bố chống thông cáo
Như vậy rõ ràng ông Phúc đã “rất mù mờ” về sự khác biệt ý nghĩa giữa “Nghị Quyết” với “Tuyên bố” và giữa “Tuyên bố” với “Thông cáo” là điều dễ hiểu.
Theo Đại từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin năm 1998 thì:
-Nghị quyết là “văn bản quyết định về những vấn đề cơ bản sau khi được hội nghị bàn bạc và nhất trì thông qua.”
-Tuyên bố có ý nghĩa “trịnh trọng và chính thức nói cho mọi người biết.” (Tỷ dụ như: Bản tuyên bố của Bộ, Chính phủ v.v..).
-Thông cáo: “Văn bản do các tổ chức, cơ quan nhà nước ban bố để cho mọi người biết tình hình, sự việc có tầm quan trọng nào.”
Như vậy rõ ràng Thông cáo của Quốc hội, dù nói về lập trường của Quốc hội với hành động sai trái của Trung Cộng ở Biển Đông không thể “được xem như Tuyên bố của Quốc hội” vì không “trịnh trọng và chính thức”.
Vậy tại sao Quốc hội đã tìm mọi cách để né tránh đưa ra Nghị quyết hay Tuyên bố ?
Ai cũng biết, từ khi Trung Cộng đặt giàn khoan Hải dương 981 vào sâu trong vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam ngày 02/05/2014, Bộ chính trị 16 người, nhóm quyết định toàn diện đường lối và chính sách của đảng và chính phủ CSVN chưa hề “chính thức” lên tiếng về hành động xâm phạm chủ quyền Việt Nam của Trung Cộng.
Nhóm “độc tài 16” này, đứng đầu bởi Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, người bị nhiều cựu viên chức cao cấp trong Đảng, kể cả nguyên Đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh, Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, cáo buộc “thân Trung Cộng ra mặt”, cũng chưa dám quyết định kiện Trung Cộng ra tòa án Quốc tế dù Bắc Kinh đã ngang ngược xâm lăng biển của Việt Nam, sau khi đem quân chiếm Hoàng Sa năm 1974 và đánh chiếm đá Gạc Ma và 7 đảo khác trong quần đảo Trường Sa năm 1988.
“Nhóm 16 người” cũng không có bất cứ động thái nào, sau khi Trung Cộng biến các khu đá, đảo chiếm bất hợp pháp ở Trường Sa thành các căn cứ quân sự và xây đảo nhân tạo để kiểm soát an ninh và “hợp thức hóa chủ quyền” của đường lưỡi Bò tự chế chiếm ¾ của tổng diện tích khoảng 3.5 triệu cây số vuông Biển Đông.
Vì vậy, không ai ngạc nhiên khi thấy Thông cáo ngày 24/06/2014 của Quốc hội viết rằng:“Quốc hội tin tưởng và nhất trí cao với chủ trương của Đảng, Nhà nước đã lãnh đạo quân dân ta có nhiều biện pháp kiên quyết trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ trên cơ sở luật pháp quốc tế. Đồng thời kiên trì đấu tranh, gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; kiên trì bảo vệ, giữ vững quan hệ hữu nghị truyền thống giữa nhân dân hai nước Việt Nam-Trung Quốc.”
Tất nhiên, cũng ít ai ngạc nhiên khi nghe người phát ngôn Hoa Xuân Oánh của Trung Cộng cho biết: “Cục Hàng hải Trung Quốc đã công bố toạ độ cụ thể, mời phóng viên nhẫn nại tra rà trên bản đồ sẽ rõ ngay, không cần thiết suy đoán và liên tưởng thái quá đối với hoạt động bình thường”, khi được hỏi về quyết định mới đây của Bắc Kinh cho lệnh di chuyển thêm nhiều giàn khoan dầu xuống Biển Đông.
Theo trang web Cục Hàng hải Trung Quốc thì từ ngày 13/6 đến ngày 12/8, các giàn khoan “Nam Hải 5”, “Nam Hải 2” và “Nam Hải 4” sẽ tiến hành tác nghiệp trên vùng biển liên quan ở Nam Hải (Biển Đông). Giàn khoan “Nam Hải 9” đã di chuyển đến khu vực tiếp ranh phân định Vịnh Bắc Bộ, đối diện với hai tỉng Qủang Bình và Hà Tĩnh của Việt Nam.
Ngòai ra, các Chính phủ ở Châu Á cũng đang theo dõi tin Trung Cộng đang đóng thêm 3 giàn khoan lớn Hải Dương - 982, 943 và 944 với tổng trị giá lên tới 1 tỉ Dollars) để đưa vào hoạt động ở Biển Đông trong một tương lai không xa.
Song song với hành động chiếm biển công khai, Ủy viên Quốc vụ viện Trung Cộng Dương Khiết Trì còn khẳng định Trung Cộng “cương quyết bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ”.
Ông nói: “Chúng tôi sẽ không bao giờ đổi chác các lợi ích cốt lõi của mình, hoặc ngậm trái đắng làm suy yếu chủ quyền, an ninh và lợi ích phát triển.”
Chủ tịch Nhà nước, Tổng Bí thư đảng Cộng sản Trung Cộng Tập Cận Bình cũng từng tuyên bố ngày 28/01/2013: “Không một quốc gia nào có thể nuôi hy vọng Trung Quốc sẽ thương lượng các lợi ích quốc gia cốt lõi của mình, cũng không nên nuôi hy vọng rằng Trung Quốc có thể chấp nhận quả đắng trong việc làm tổn hại lợi ích chủ quyền, an ninh và phát triển của Trung Quốc”. (Báo điện tử Biển Đông, 6/3/013)
Dương Khiết Trì đã lập lại lập trường “không thay đổi” của Bắc Kinh từ thời Lãnh tụ Đặng Tiểu Bình còn sống, sau chuyến sang Hà Nội ngày 18/06/2014 để thảo luận vụ giàn khoan Hải dương 981 với 3 viên chức lãnh đạo CSVN gồm Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Phó Thủ tướng, Bộ trường Ngoại giao Phạm Bình Minh.
Trong cuộc tiếp xúc với ông Minh, Dương Khiết Trì đã nói như ra lệnh cho Việt Nam: “Đối với vấn đề trên biển hiện nay, hai bên cần phải xuất phát từ đại cục gìn giữ quan hệ giữa hai Đảng và hai nước, tránh mở rộng, làm phức tạp và quốc tế hoá vấn đề liên quan.”
Họ Dương còn đòi Việt Nam phải: “Đình chỉ quấy nhiễu đối với sự tác nghiệp của Trung Quốc, đình chỉ thổi phồng bất đồng, gây ra tranh chấp mới, xử lý và khắc phục tốt hậu quả vụ bạo lực đánh đập, cướp bóc và thiêu đốt xảy ra tại Việt Nam cách đây không lâu, đồng thời bảo đảm an toàn cho các cơ quan, doanh nghiệp và nhân viên Trung Quốc tại Việt Nam. Mong Việt Nam xuất phát từ đại cục, cùng với Trung Quốc hành động theo một hướng, thúc đẩy quan hệ Trung-Việt khắc phục khó khăn, tiếp tục phát triển lên phía trước theo quỹ đạo đúng đắn.”
Như vậy thì bản Thông cáo số 2 của Quốc Hội Việt Nam chỉ có nội dung kiểu “quân tử Tầu” nhưng lại “không dám sờ đến chân lông của Trung Cộng” thì liệu có “đánh thức được con tim chai đá và lươn lẹo” của Lãnh đạo Trung Cộng không, hay đã rối loạn thần kinh mà mất khôn ?
(06/014)
Duy nhất “quái dị”: Chỉ có ở CSVN
Hoàng Thanh Trúc (Danlambao) - “Lừa đảo, ăn cắp, bỏ nhiệm sở vượt biên trốn chạy, trong nước truy tầm, Interpol truy nã nhưng vẫn được “nhà nước” trả lương khiếm diện (vắng mặt) hàng tháng đầy đủ, thậm chí còn lên lương và sau khi bị bắt ra toà nhận án tử hình, cơ quan nhà nước vẫn không dám công bố cho nghỉ việc”!?.
Thật là “quái dị” (Lạ lùng , chưa từng thấy – Tự Điển.com)
Duy nhất trên thế giới, phải khẳng định là như vậy, rất đáng được đưa vào sách kỷ lục Guinness quốc tế về một kiểu “trả lương” hoang dã kỳ quặc vô lý không thể nào có ở bất cứ nơi đâu trên hành tinh này, trừ chế độ độc tài lạc hậu CSVN.
Nguyên tắc phổ quát trong chi trả tiền lương: Tiền lương là mọi khoản thù lao mà một người làm công ăn lương nhận được, nó phải cụ thể tương ứng với giá trị có được từ việc làm của chính người đó chứng minh.
Thì trong sự việc này nhà nước đảng CSVN lại dùng trực tiếp một phần khoản tiền chắt chiu của người dân đóng thuế để trả lương cho một kẻ tội phạm (đảng viên CS) đã không hoàn thành trách nhiệm, từ chối công việc lại “ăn cắp” tước đoạt mồ hôi nước mắt của những người đóng thuế, qua sự kiện mới đây phơi bày: “Dương Chí Dũng (nguyên Cục trưởng Hàng hải, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Vinalines bị án tử hình về tội tham ô) vẫn được nhận lương trong lúc vượt biên trốn chạy và suốt cả thời gian 2 năm bị bắt câu lưu ngồi trong tù, nhưng khôi hài nhất là Bộ Giao thông Vận tải cách đây ít ngày mới có quyết định buộc thôi việc, hai năm sau ngày Dương chí Dũng bị khởi tố nhận án tử .”(*) Nó nghịch thường tới độ dù là lãnh đạo đơn vị chủ quản cấp trên của Dương chí Dũng nhưng ông Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Đinh La Thăng cũng phải thốt lên với báo chí rằng: "Thật là “vô duyên” khi buộc thôi việc một tội phạm đã bị tuyên án tử hình?”, vì như thế là hình thức rất méo mó. Bởi vậy ông không thể giấu thái độ bất bình khi cách đây mấy ngày cấp dưới trình cho ông ký văn bản quyết định buộc thôi việc Dương Chí Dũng. Thật “vô lý” - Đó là lời kết luận của ông Đinh La Thăng khi phải ký cái văn bản “kỳ cục” này. (**)
Trước sự kiện “không giống ai” ấy, Đại biểu QH Nguyễn Sỹ Cương, nguyên Chánh Thanh tra Bộ Nội vụ nhà nước CS/XHCN/VN Uỷ viên Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội, xác nhận với báo chí:Pháp luật hiện hành không có quy định về thời điểm xử lý kỷ luật, buộc thôi việc đối với cán bộ khi vi phạm pháp luật.!? (cán bộ đề cập ở đây là các viên chức đảng CSVN )
Từ nội dung xác nhận điển hình ấy nói lên đây là một trong vô vàn hành vi (có nên gọi là “mọi rợ”?) của “nhà nước đảng CSVN” công khai ngồi trên Hiến Pháp vi phạm Pháp Luật khi dùng mồ hôi nước mắt nhân dân và quyền lực độc tôn “Ta là Pháp Luật” để làm đòn bẩy bảo vệ, nuôi dưỡng, đánh đổi lòng trung thành của các đảng viên thuộc cấp với cái đảng CS chết tiệt này! Bởi vì bất cứ ai ngoài xã hội cũng hiểu được, khi mà trong hàng trăm ngàn nhà máy công ty xí nghiệp lớn nhỏ, nước ngoài, hay quốc doanh trên cả nước, một công nhân chỉ vắng mặt không lý do, không báo trước, vài ba ngày là có thể bị trừ lương buộc thôi việc ngay lập tức, nhưng với Dương chí Dũng thì khác. Sau khi cùng đồng bọn dưới quyền “ăn cắp” và gây thất thoát thiệt hại rất lớn tài sản của nhân dân tại Vinalines rồi tự động bỏ nhiệm sở vượt biên giới “đào tẩu”, Dương chí Dũng vẫn được Cục Hàng Hải VN - kế toán tài chính lên lịch chi trả lương định kỳ hàng tháng như đặt tiền vào cái ghế trống không người của Dương chí Dũng tại văn phòng Cục Hàng Hải mà không đoái hoài đến quyết định của chính Bộ Giao thông vận tải ngày 18/5/2012 tạm đình chỉ công tác với ông Dương Chí Dũng để phục vụ công tác điều tra và lệnh truy nã trong nước và nước ngoài với Dương Chí Dũng từ ngày 19/5/2012 của Cơ quan điều tra Bộ Công an.
Thật là nực cười, sau khi “ăn cắp” trên đường trốn chạy mỗi bước chân của Dương chí Dũng nó vẫn “đẻ” ra tiền và cả khi bị bắt dẫn độ về nước khoác áo tù nằm trong phòng giam “tử tội” nhưng như trong giấc mơ, Dương chí Dũng hàng ngày vẫn được “nhà nước đảng ta” chi trả lương bằng tiền mồ hôi nước mắt của nhân dân!? Thậm chí, theo quy định, mức chi đặc thù cho cán bộ, công chức, viên chức tại Cục Hàng hải Việt Nam từ tháng 9/2013, cựu Cục trưởng Dương Chí Dũng có thể cũng được tăng lương theo mức chung tại cơ quan này đối với cán bộ, công chức, viên chức do Nhà nước quy định (lương ngạch, bậc và các loại phụ cấp). Từ đây, như nói trên, chúng ta thấy chỉ có tuyệt đối bộ phận người dân mới phải trả giá tức thời khi vướng vào vòng pháp lý, chứ : “Pháp luật hiện hành không có quy định về thời điểm xử lý kỷ luật, buộc thôi việc đối với cán bộ CSVN khi vi phạm pháp luật” !?. – Thật là một trò hề của cái chiêu bài mà CSVN luôn đánh bóng rêu rao: “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”!?
Mâu thuẫn và vô lý không thể nào biện minh được khi theo nhận định của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Bộ Công an "đây là vụ án gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng cho nhà nước, có tính chất phức tạp, gây nhức nhối trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng đến uy tín của chính phủ Việt Nam".
Và Theo báo Công an nhân dân, ngày 21 tháng 6 năm 2012, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an cho biết đã đề nghị truy nã quốc tế ông Dũng và được Ban Tổng thư ký tổ chức Interpol đồng ý. Bộ Công an đề nghị nơi nào bắt được ông Dũng, thông báo ngay cho Interpol Hà Nội và Ban Tổng thư ký của tổ chức Interpol.
Một tội phạm tưởng chừng “treo cổ” vẫn chưa hết tội là thế nhưng “vẫn được trả lương đầy đủ trong lúc vượt biên trốn chạy và suốt cả thời gian 2 năm bị bắt câu lưu ngồi trong tù”. Thế gian không ai, không nhà nước, không chính quyền nào có can đảm làm được việc này – Trừ chế độ CSVN.
______________________________________
Mỹ lại tố cáo Trung Quốc gây bất ổn ở Biển Đông Phó tổng thống Mỹ Joe Biden (T) và Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long trong cuộc họp báo ngày 26/07/2013. REUTERS/Tim Chong Các hành động hung hăng của Trung Quốc tại Biển Đông tiếp tục bị giới lãnh đạo Mỹ lên án. Vào hôm qua, 25/06/2014, trong hai sự kiện riêng biệt, Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden và Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ đặc trách châu Á –Thái Bình Dương Daniel Russel lại tố cáo những hành vi có nguy cơ gây bất ổn của Trung Quốc trong khu vực. Theo hãng tin Pháp AFP, trong cuộc hội đàm với khách mời là Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long, Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden đề cập đến điều được ông gọi là « hành vi gây bất ổn » của Trung Quốc tại Biển Đông. Trong một thông cáo, Nhà Trắng cho biết là « hai lãnh đạo đã thảo luận về những mối quan ngại chung liên quan tới kiểu hành vi gây bất ổn tại Biển Đông và nhắc lại quan tâm chung của hai nước đến (việc tôn trọng luật pháp quốc tế, quyền tự do hàng hải và giải pháp hòa bình cho những vụ tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải ». Hãng tin Pháp nhắc lại : Trung Quốc đòi hỏi chủ quyền trên hầu như toàn bộ Biển Đông, kể cả tại vùng biển gần bờ biển các nước láng giềng. Trong thời gian gần đây, Bắc Kinh càng lúc càng quyết đoán hơn trong việc áp đặt yêu sách chủ quyền của ho. Trước tình hình đó, Washington cho biết là họ không thiên vị bên nào trong vấn đề tranh chấp, nhưng nhấn mạnh rằng Bắc Kinh phải tuân thủ « luật đi dường » và thảo luận vấn đề này trong các diễn đàn khu vực với các đồng minh của Mỹ. Yêu cầu này của Mỹ đã khiến Trung Quốc bực tức. Cho dù vậy, vào hôm qua, tại phiên điều trần trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ, Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ phụ trách khu vực Đông Á Thái Bình Dương Daniel Russel đã không ngần ngại tố cáo những « cố gắng mang tính cưỡng bức của Trung Quốc nhằm áp đặt và xác lập các yêu sách chủ quyền của họ tại các vùng biển tranh chấp ». Theo ông Russel, các hành động đơn phương này vừa làm gia tăng căng thẳng, vừa phá hoại vị thế của Trung Quốc trên trường quốc tế. Nóng sáng 27/6: Gài bẫy bất thành, tàu TQ lao thẳng vào tàu lớn nhất VN | | Sau khi đâm tàu kiểm ngư 951 ở mạn phải, tàu Hữu Liên 9 tiếp tục ghìm chặt, không cho tàu 951 quay trở được để cho tàu kéo 285 lấy đà lao vào, phía xa tàu hải tuần 11 dùng vòi rồng phun nước uy hiếp - Ảnh: Văn Vững/TTO | Lúc 8h30, tàu CSB 8003 phát hiện một máy bay quân sự của Trung Quốc bay trên đầu đội hình các tàu Việt Nam ở độ cao trên 1.000m. Liên tục trong thời gian gần đây, các máy bay quân sự của Trung Quốc luôn bay ở độ cao trên 1.000m với ý đồ không để các tàu thực thi pháp luật Việt Nam phát hiện ra hoạt động của họ.Phân tích tình hình trên thực địa, thuyền trưởng tàu CSB 8003 - đại úy Nguyễn Văn Hưng - cho biết: “Các tàu Trung -Quốc chia thành 2 tốp ở hai bên, để trống ở giữa. Mỗi bên có từ 7 - 8 tàu, dàn đội hình theo kiểu vòng cung với ý đồ “dụ” cho tàu của ta tiến gần vào là họ ập vào từ hai bên, vây ép, kẹp chặt trong thế gọng kìm”.
Video vụ giàn khoan qua cái nhìn của nhà báo Pháp:
Với sự nhanh nhạy và kinh nghiệm, sau nhiều ngày đối diện với đủ trò của các tàu Trung Quốc, các tàu thực thi pháp luật Việt Nam đã phán đoán, phân tích đúng ý đồ này của Trung Quốc.Thế nên, sau một thời gian dài thấy các tàu thực thi pháp luật Việt Nam không tiến không lui, Trung Quốc đã không đủ kiên nhẫn “dụ” tàu chúng ta tiến vào gần, liền triển khai 3 tàu Hải cảnh chạy với tốc độ cao lao thẳng về phía tàu CSB 8003 - là tàu lớn nhất trong tốp tàu thực thi pháp luật Việt Nam ở phía Nam Tây Nam giàn khoan.Khi 3 tàu này của Trung Quốc cách tàu CSB 8003 khoảng 2 hải lý (tương đương 3,6km) thì tàu CSB 8003 nhận được lệnh cơ động ra xa, chủ động tránh bị đâm va. Giàn khoan Nam Hải 9 đang ở ngoài cửa vịnh Bắc Bộ
Thông báo trên trang web của Cục Hải sự Trung Quốc cho biết, giàn khoan Nam Hải 9 của nước này đã vào vị trí và bắt đầu triển khai hoạt động khoan từ ngày 24/6. Dự kiến, Nam Hải 9 sẽ kết thúc hoạt động khoan vào ngày 20/8.
Nam Hải 9 là một trong 4 giàn khoan của Trung Quốc được triển khai ở Biển Đông, sau khi Bắc Kinh ngang ngược hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam.  | | Giàn khoan Nam Hải 9 của Trung Quốc |
Đáng chú ý, khu vực hoạt động của giàn khoan Nam Hải 9 thuộc vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ chưa được phân định giữa Việt Nam và Trung Quốc và chỉ cách bờ biển Việt Nam có 160km. Đặc biệt, động thái khiêu khích này của Bắc Kinh diễn ra trong thời gian Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc phụ trách đối ngoại Dương Khiết Trì đang ở Việt Nam và có cuộc hội đàm với nhiều lãnh đạo Việt Nam như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh…
Sau khi ra thông báo di chuyển giàn khoan Nam Hải 9, ngày 24/6/2014, Cục Hải sự Trung Quốc tiếp tục đăng Thông báo hàng hải số 14050 thông báo tàu khảo sát thăm dò vật lý địa cầu Hai Yang Shi You 719 sẽ hoạt động ở Biển Đông từ ngày 23/6 đến 20/8/2014.
“Phát biểu trong cuộc họp báo Bộ Ngoại giao Việt Nam ngày 26/6/2014, Người phát ngôn Lê Hải Bình nêu rõ: Khu vực mà giàn khoan Nam Hải 9 và tàu khảo sát thăm dò vật lý địa cầu 719 hoạt động thuộc vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ chưa được phân định giữa Việt Nam và Trung Quốc. Theo luật pháp và thực tiễn quốc tế, không bên nào được đơn phương hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí ở vùng biển chồng lấn chưa được phân định”.
Người phát ngôn Lê Hải Bình nhấn mạnh: “Đáng chú ý là hành động này của Trung Quốc diễn ra ngay sau khi Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Dương Khiết Trì sang Việt Nam, khiến dư luận quốc tế và Việt Nam hết sức lo ngại. Việt Nam yêu cầu Trung Quốc không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, tạo không khí thuận lợi cho tiến trình đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ giữa hai nước”.
Tại buổi họp báo quốc tế về tình hình biển Đông diễn ra tại Hà Nội chiều 26/6, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam ông Lê Hải Bình đã cho biết: "Khu vực mà giàn khoan Nam Hải 9 và tàu khảo sát thăm dò vật lý địa cầu Hai Yang Shi You 791 hoạt động thuộc vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ chưa được phân định giữa Việt Nam và Trung Quốc. Theo luật pháp và thực tiễn quốc tế, không bên nào được đơn phương hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí ở vùng biển chồng lấn chưa được phân định. | | Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình | Đáng chú ý, hành động này của phía Trung Quốc ngay sau khi ủy viên quốc vụ Trung Quốc Dương Khiết Trì sang Việt Nam, khiến dư luận quốc tế và Việt Nam hết sức lo ngại. Việt Nam yêu cầu Trung Quốc không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, tạo không khí thuận lợi cho tiến trình đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ giữa hai nước".Trong cuộc họp báo, ông Lê Hải Bình cũng nhấn mạnh: "Việc Trung Quốc đưa giàn khoan và mang nhiều máy bay tàu quân sự ra Biển Đông đã chứng minh hoạt động này có ảnh hưởng đến an toàn an ninh hàng hải Biển Đông và khu vực. Trước vụ việc này, các nước trong khu vực đều yêu cầu các bên hành động kiềm chế để không gây ảnh hưởng đến an toàn an ninh hàng hải của khu vực". Tàu Việt Nam tấn công tàu Trung Quốc là thông tin bịa đặtTheo Dân Việt, trả lời câu hỏi của báo giới trong buổi họp báo do Bộ Ngoại giao tổ chức chiều 26/6, ông Hà Lê – Phó Cục trưởng Cục Kiểm ngư Việt Nam khẳng định: Bộ Ngoại giao của Trung Quốc đã bịa đặt về việc tàu Việt Nam tấn công tàu Trung Quốc. | | Tàu Trung Quốc (tàu lớn bên phải) phun vòi rồng, tấn công tàu nhỏ hơn của Việt Nam | Cụ thể, trả lời câu hỏi về việc người phát ngôn của Trung Quốc vừa qua đã khẳng định tàu Việt Nam quấy rối tàu Trung Quốc, Phó Cục trưởng Cục Kiểm ngư Hà Lê khẳng định: Chúng tôi cực lực phản đối và bác bỏ thông tin mà Bộ Ngoại giao Trung Quốc nêu ra tại cuộc họp báo ngày 24/6. Đây là thông tin hoàn toàn bịa đặt, các tàu cá và tàu thực thi pháp luật của Việt Nam hoàn toàn hoạt động trong vùng biển Việt Nam và phù hợp với luật pháp quốc tế. Cùng với việc trình chiếu clip khẳng định thông tin trên, ông Hà Lê diễn giải: Tàu kiểm ngư 951 của Việt Nam đã bị 4 tàu của Trung Quốc chủ động bao vây để cho tàu kéo đâm va, gây hư hỏng nặng nề. Điều này thể hiện hành vi có tổ chức và tính toán trước từ phía Trung Quốc nhằm gây thiệt hại cho tàu 951. Sự kiềm chế của Việt Nam có giới hạnTrả lời câu hỏi trước những hành động hung hăng của Trung Quốc, liệu sự kiềm chế của phía Việt Nam đã tới tận cùng giới hạn hay chưa, ông Ngô Ngọc Thu - Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Cảnh sát biển Việt Nam nói: Chúng tôi đã kiên trì và kiềm chế nhưng sẽ có giới hạn nhất định.
Chủ trương của nhà nước Việt Nam là mong muốn giải quyết xung đột bằng biện pháp hòa bình. Lực lượng Cảnh sát biển và Kiểm ngư đang hoạt động trên biển mặc dù bị tấn công bởi tàu Trung Quốc nhưng vẫn kiên trì các biện pháp hòa bình theo chủ trương của Nhà nước. | {POLL_261(Theo bạn, Việt Nam nên làm gì với giàn khoan trái phép Trung Quốc)} | “Các bước đi tiếp theo của lực lượng chức năng sẽ phải tuân theo chủ trương của Nhà nước. Như các bạn đã biết, khi chủ quyền và lợi ích quốc gia bị xâm hại, Việt Nam sẽ có biện pháp phù hợp để bảo vệ chủ quyền”, ông Thu khẳng định. Trung Quốc kiếm chuyện ở ngoài cửa vịnh Bắc bộTT - “Không thể giải quyết vấn đề nếu chỉ có thiện chí và quyết tâm từ một bên” - người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Hải Bình khẳng định tại cuộc họp báo thường kỳ chiều 25-6 ở Hà Nội.

Tàu Trung Quốc đâm húc vào tàu kiểm ngư 951 của Việt Nam - Ảnh: My Lăng Điều này được chứng minh bằng nhiều thước phim ghi nhận các hành động vũ lực mà Trung Quốc đơn phương sử dụng với các tàu Việt Nam trên biển Đông những ngày qua. Đã gần hai tháng trôi qua kể từ khi đưa giàn khoan Hải Dương 981 hạ đặt trái phép trong vùng biển Việt Nam, Trung Quốc vẫn không có dấu hiệu gì cho thấy họ tôn trọng luật pháp hay dư luận quốc tế, thậm chí còn gia tăng các hành động hung hãn, ngang ngược cả về phạm vi và mức độ. Gia tăng các hành vi vi phạm Biện pháp hòa bình: ưu tiên số 1 của Việt Nam Phóng viên của Hãng tin AP nhắc lại câu nói của ông Ngô Ngọc Thu tại cuộc họp báo quốc tế đầu tiên ngày 7-5, trong đó ông Thu cho biết “mọi kiềm chế đều có giới hạn”, và đặt câu hỏi liệu sự kiềm chế của Việt Nam tới giới hạn chưa. Trả lời câu hỏi này, ông Thu nhắc lại chủ trương của Nhà nước Việt Nam mong muốn giải quyết mọi vấn đề về chủ quyền bằng biện pháp hòa bình. Ông Thu nói: “Đây là ưu tiên số một của Việt Nam. Do đó lực lượng cảnh sát biển, kiểm ngư của Việt Nam dù bị tàu Trung Quốc đâm va, cản trở, chúng tôi vẫn kiên trì kiềm chế để giữ môi trường hòa bình, ổn định nhằm thực hiện chủ trương của Nhà nước Việt Nam là giải quyết bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Còn các bước đi của Nhà nước Việt Nam thì các bạn đã biết: khi chủ quyền và lợi ích quốc gia bị xâm hại, Việt Nam sẽ thực thi mọi biện pháp có thể để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của Việt Nam. Là lực lượng công vụ của Nhà nước, chúng tôi sẽ thực hiện mọi chủ trương mà Nhà nước yêu cầu”. Tại cuộc họp báo, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Hải Bình cho biết không những không hạ nhiệt căng thẳng ở khu vực quanh giàn khoan Hải Dương 981, trong những ngày qua Trung Quốc thậm chí còn gia tăng các hành vi vi phạm thông lệ và luật pháp quốc tế ở khu vực ngoài cửa vịnh Bắc bộ. Cụ thể lúc 13g ngày 21-6, cơ quan chức năng Việt Nam phát hiện Trung Quốc đã đưa giàn khoan Nam Hải 09 đến tọa độ 17014,1’ vĩ Bắc - 109031’ kinh Đông như thông báo của Cục Hải sự Trung Quốc. Sau đó ngày 24-6, cũng cơ quan này của Trung Quốc thông báo tàu khảo sát thăm dò vật lý địa cầu Hai Yang Shi You 719 sẽ hoạt động ở biển Đông từ ngày 23-6 đến 20-8. Cả hai vị trí này đều thuộc vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc bộ chưa được hai nước phân định xong. “Theo luật pháp và thực tiễn quốc tế, không bên nào được đơn phương hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí ở vùng biển chồng lấn chưa được phân định - ông Bình nói - Đáng chú ý, hành động này của Trung Quốc diễn ra ngay sau khi ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Dương Khiết Trì sang Việt Nam, khiến dư luận quốc tế và Việt Nam hết sức lo ngại”. Song song với các hành động trên biển, phía Trung Quốc liên tục có những động thái đi ngược với luật pháp quốc tế và Tuyên bố về ứng xử của các bên ở biển Đông. Đó là việc phát hành bản đồ địa hình Trung Quốc và bản đồ nước CHND Trung Hoa khổ dọc, trong đó thể hiện “đường lưỡi bò” gồm 10 đoạn gần như bao trùm toàn bộ biển Đông. Liên quan đến việc này, ông Bình khẳng định việc phát hành bản đồ đó là hành vi vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế và yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc đã bị nhiều nước phản đối, đồng thời Việt Nam kiên quyết phản đối hành động này của Trung Quốc. Ngoài ra, Trung Quốc còn đưa hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vào hệ thống đăng ký quyền sử dụng đất mới của Trung Quốc, khởi công xây dựng dự án trường học và hoàn thiện dự án nhà ở công cộng trên đảo Phú Lâm (thuộc Hoàng Sa), tiếp tục mở rộng và thay đổi nguyên trạng trái phép trên một số điểm tại quần đảo Trường Sa của Việt Nam mà Trung Quốc sử dụng vũ lực để chiếm đóng trái phép vào tháng 3-1988. 
Hình ảnh cho thấy tàu Hữu Liên 09 ghìm chặt không cho tàu kiểm ngư 951 quay trở, để tàu kéo 285 đâm mạnh vào chính giữa tàu kiểm ngư 951 - Ảnh: Văn Vững Thủ đoạn mới của Trung Quốc trên thực địa Sau khi xảy ra vụ việc nghiêm trọng sáng 23-6 khi một số tàu Trung Quốc vây ép và đâm húc, gây thiệt hại nặng cho tàu kiểm ngư 951 của Việt Nam ở vị trí cách xa giàn khoan Hải Dương 981 đến hơn 11 hải lý, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã cho rằng tàu Việt Nam quấy rối, chủ động đâm va vào tàu Trung Quốc. Trước câu hỏi của Tuổi Trẻ đề nghị bình luận về thông tin trên, ông Hà Lê, phó cục trưởng Cục Kiểm ngư, đã cho trình chiếu các thước phim mà lực lượng chức năng Việt Nam ghi nhận được, cho thấy các bằng chứng rõ ràng về việc bốn tàu của Trung Quốc đã chủ động bao vây, đâm va, gây hư hỏng nặng tàu kiểm ngư 951. Các bằng chứng xác thực bằng hình ảnh được giới thiệu cho báo chí quốc tế, trong nước và giới ngoại giao ở Hà Nội tại cuộc họp báo còn cho thấy tàu kéo Hữu Liên 09 của Trung Quốc đã dùng tốc độ cao đâm vào tàu Việt Nam, không cho tàu vòng tránh. “Hành động này rất manh động, nguy hiểm, có tính toán để gây thiệt hại” - ông Hà Lê nói. Bình luận về phương thức hoạt động của các tàu Trung Quốc, ông Ngô Ngọc Thu - phó tư lệnh, tham mưu trưởng cảnh sát biển - cho biết bên cạnh việc duy trì các vòng bảo vệ gồm tàu quân sự như tàu hộ vệ tên lửa, tàu tên lửa tuần tiễu tấn công nhanh... và tàu dân sự như hải cảnh, hải giám, tàu cá... trong khoảng 10 ngày qua, Trung Quốc đã áp dụng thủ đoạn mới là tích cực dùng tàu kéo để kèm chặt hai mạn, tạo điều kiện cho tàu khác đâm tàu Việt Nam. “Trước đây họ dùng tàu hải cảnh đâm tàu Việt Nam thì tàu Trung Quốc cũng bị móp méo. Nay họ dùng tàu kéo sẽ không gây hư hại cho tàu của họ” - ông Thu giải thích. Ngoài ra, ông Thu cho biết Trung Quốc tiếp tục sử dụng máy bay, trong đó có máy bay trinh sát, tiêm kích, trực thăng, sử dụng độ cao khoảng 300m để uy hiếp tàu Việt Nam. Ngoài ra, tàu cá Trung Quốc tiếp tục ngăn cản việc đánh cá của ngư dân Việt Nam trong vùng đánh cá truyền thống cách giàn khoan Hải Dương 981 khoảng 30 hải lý, buộc ngư dân Việt Nam phải rời ngư trường. Các hình ảnh ghi nhận được từ thực địa mà Bộ Ngoại giao Việt Nam giới thiệu tại cuộc họp báo cũng dễ dàng bẻ gãy luận điệu của Bộ Ngoại giao Trung Quốc khi phía Trung Quốc cho rằng họ không dùng tàu quân sự bảo vệ giàn khoan. Các cơ quan chức năng đã chụp được hình ảnh, đăng ký được tọa độ của các tàu quân sự Trung Quốc. “Trong thời buổi hiện nay, tàu thuyền trên biển có thể dễ dàng xác nhận vị trí. Vì vậy, việc đưa tàu chiến ra của Trung Quốc không giấu được ai... Trung Quốc nói không dùng tàu quân sự mà các tàu này chỉ đi qua là sai sự thật. Lời nói của họ không đi đôi với việc làm” - ông Thu bình luận. C.V.KÌNH - H.GIANG ------------------------------------ |
|
Những nội dung khác:
|
|
|
 |
|