Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Sáu 2026
T2T3T4T5T6T7CN
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30          
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 13
 Lượt truy cập: 29290275

 
Văn hóa - Giải trí 09.06.2026 16:22
Viếng khu phố Việt ở Quận 13
10.06.2014 22:48

Bài và hình: Trịnh Hảo Tâm

Khu thương mại của người Việt ở Paris nằm trong khu phố Á Châu mà người ta thường gọi là Phố Tàu tọa lạc trong Quận 13 phía Ðông Nam Paris là nơi có cộng đồng người Á Châu đông nhất ở Pháp.

Khu phố Á Châu này tập trung trong khu tam giác tạo bởi các con đường Rue de Tolbiac, Avenue d'Ivry và Rue Nationale với các siêu thị bán thực phẩm Á Châu, nhà hàng, tiệm thuốc bắc, đồ cổ, sách báo, phim ảnh, dĩa nhạc và các dịch vụ như du lịch, điện thoại, mắt kính, thuốc tây v.v... Khách hàng mua sắm nơi đây là người Hoa, Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan và một số người gốc Á trước kia sinh sống ở các đảo thuộc địa Pháp trong Thái Bình Dương như Polynesia, Guiana, Caledonia.



Các cao ốc gia cư trong khu phố Á Châu, Quận 13, Paris.

Cũng nhắc lại là khi đi đến vườn hoa Luxembourg chúng tôi tình cờ gặp một người Việt Nam, người ấy là Linh Mục Hồ Quang Lâm thuộc dòng Chúa Cứu Thế ở Sài Gòn sang Pháp tu học. Sau khi dạo chơi vườn Luxembourg là công viên đẹp nhất Paris, Linh Mục Lâm có nhã ý đưa chúng tôi đi ăn món Việt ở khu phố Á Châu thuộc Quận 13. Linh mục cho biết có một nhà hàng Buffet mới mở khá nổi tiếng trong cộng đồng Việt Nam ở đây nhưng chúng tôi vì đi Cruise mới về quá ngán các món Buffet nên tôi đề nghị đi ăn phở.

Rời vườn Luxembourg chúng tôi đi về hướng Ðông gần đền Panthéon, đến ga xe điện ngầm của công ty RER Line B rồi sẽ đổi sang đường Métro số 14 ở ga Châtelet để tới khu phố Tàu. Trên đường xe điện RER số hành khách đi cũng bình thường nhưng khi đến ga Châtelet đường 14 đi về hướng Olympiades là ga cuối gần Chợ Tàu xe nào cũng quá đông người nên chúng tôi không lên xe được. Có lẽ vì chiều Thứ Sáu người ta di chuyển quá đông, phải đợi thêm 2 chuyến mới lên xe được nhưng đứng như nêm cối. Ðến ga Lyon bỗng nhiên hành khách xuống gần hết, hóa ra người ta đổ về ga chánh Lyon để về các tỉnh miền Nam nước Pháp. Từ ga Lyon đi thêm 4 ga nữa là tới trạm cuối đường Olympiades xe trống chúng tôi có chỗ ngồi thoải mái. Vì là trạm cuối nên đến Olympiades mọi người đều ra hết và xe chắc là có hai đầu máy sẽ chạy chiều ngược lại nhưng phải đổi sang đường rầy khác nằm kế cận. Linh Mục Lâm cho biết tuyến Métro đường 14 là tuyến mới nhất của Paris, xe không có người lái mà tự vận hành bằng hệ thống vi tính.



Tiệm phở Mùi trong khu phố Việt.

Lên khỏi ga Olympiades là gặp đường Tolbiac đi về hướng Tây rồi rẽ trái sang đường Ivry sẽ gặp rất nhiều nhà hàng Việt và Tàu và tiệm phở Mùi cũng nằm trên con đường này. Chúng tôi vào tiệm phở Mùi để xem mùi vị phở có khác hơn trước không? Năm năm trước vào tháng 5 năm 2008 chúng tôi cũng đã ăn phở ở đây, hôm nay ghé lại tiệm phở vẫn vậy nghĩa là lò nấu phở, thùng nước lèo vẫn đặt ở phía trước cạnh quày tính tiền. Thực khách có thể chứng kiến ông thợ nấu sửa soạn tô phở như thế nào từ luộc bánh, sắp thịt cho đến múc nước lèo chan vào cho đến rải hành ngò trên tô phở có lẽ giống như các quán phở ở Hà Nội. Trong khi ở Bolsa công việc nấu phở luôn luôn ở nhà bếp phía sau, thực khách không bao giờ thấy được người nấu làm như thế nào. Cũng giống như Bolsa tô phở Paris cũng có “chất lượng” tô lớn, nước lèo ngọt, thịt nhiều, giá cả năm nay là 8 Euros trong khi lần trước chỉ có 7 Euros. Cha Lâm và tôi mỗi người làm một chai bia Saigon để nhớ lại hương vị bia 33 ngày nào. Nước Pháp đang tranh giải túc cầu mùa Hè nên từ ông chủ tiệm phở cho tới các nhân viên bồi bếp đang mải mê theo dõi bàn tán trận banh trên màn ảnh truyền hình.



Linh Mục Hồ Quang Lâm (trái) bắt tay một bạn trẻ trước chợ Tang Frères.

Vào chợ Tang Frères

Rời tiệm phở chúng tôi tiếp tục băng qua phía bên kia đường Ivry có bảng Tang Frères nơi đầu một con hẻm lớn để vào chợ thực phẩm Tang Frères là ngôi chợ Á Châu lớn nhất ở Pháp và có thể cả Châu Âu nữa. Chợ Á Châu ở Paris không có bãi đậu xe rộng thênh thang ở phía trước như ở Bolsa mà chợ nằm khuất sau những dãy phố lầu. Chợ cũng có nơi đậu xe nhưng là dưới tầng hầm phải đi ngả phía cuối chợ vào. Những ngày cuối tuần muốn vào đậu xe nơi đây xe phải sắp hàng thành một hàng dài nhiều khi ra tới cả ngoài đường.

Ði vào hẻm chợ Tang Frères thấy đồng hương Việt Nam tụ tập đứng chờ nhau trước cửa chợ nơi có mái hiên che nắng mưa và cũng có bày bán các cây hoa kiểng, cây ăn trái. Phía ngoài có một tiệm Fast Food BBQ bán vịt quay, heo quay, xá xíu v.v... chiều Thứ Sáu người mua cũng rất đông không khác gì Bolsa. Nơi đây có một thanh niên gặp cha Lâm rất là mừng rỡ thăm hỏi ríu rít, cha Lâm cho biết đó là một bổn đạo đi nhà thờ do cha làm lễ ở một nhà thờ phía Bắc Paris. Cha Lâm hỏi chúng tôi ngày mai Thứ Bảy nếu không có chương trình gì thì cha sẽ đến đón mời đến cộng đoàn do cha phụ trách. Rất tiếc ngày mai chúng tôi có hẹn với một người anh bà con vốn là sinh viên du học trước kia để đưa đi thăm thú Paris.



Chợ Trung Quốc chen chân trong khu phố Á Châu.

Chợ Tang Frères tuy chỉ có một tầng nhưng rộng lớn bán đủ loại thực phẩm Á Châu từ mì sợi, hoành thánh của người Tàu, bánh phở, bánh tráng, chả giò của người Việt cho đến mắm cá của người Miên, khô cá của người Lào. Nói chung mặt hàng nào cũng có như các chợ Việt Nam ở Little Saigon tuy nhiên giá cả cao hơn khoảng 30-40% nhưng so với vật giá Âu Châu như vậy rất rẻ so với các chợ địa phương. Ở Paris khu phố nào cũng có các tiệm thực phẩm nho nhỏ như một căn phố, chúng tôi thường vào mua bánh mì, thịt nguội, tôm luộc sẵn, cá hộp, rau cải, trái cây về phòng khách sạn ăn cho đỡ tốn tiền và thời giờ, vả lại đồ Tây không mấy hợp khẩu. Giá cả thực phẩm các tiệm này gần gấp đôi chợ Tang Frères.

Tang Frères có nghĩa là “anh em nhà họ Trần” do hai anh em người Hoa tên Bou Rattanavan (Trần Khắc Uy) và Bounmy Rattanavan (Trần Khắc Quang) thành lập và sở hữu công ty. Gia đình Rattanavan gốc người Phố Ninh, tỉnh Quảng Ðông, Trung Quốc. Sau nhiều năm sống tại Thái Lan và Lào, do những bất ổn tại Ðông Dương họ quyết định tới Paris vào thập niên 1970.

Năm 1976, số người tỵ nạn Ðông Dương đến Pháp khá đông, hai anh em thành lập công ty Tang Frères chuyên nhập cảng nông sản từ Ðông Nam Á phân phối khắp Âu Châu. Năm 1981, họ mở siêu thị đầu tiên tại Quận 13, 7 năm sau doanh thu của họ đạt tới con số 270 triệu franc, bước vào hàng ngũ các công ty lớn của Pháp. Liên tục công ty tăng trưởng khoảng 30% mỗi năm, đến năm 1990, gia đình Rattanavan sở hữu 6 siêu thị, doanh số lên tới 600 triệu franc trở thành công ty hàng đầu Châu Âu trong lĩnh vực kinh doanh thực phẩm Á Châu. Nếu ở Bolsa doanh thu như vậy được phong tước “doanh gia.”



Nhà sách Khai Trí là một trong vài tiệm sách Việt ở Paris.

Năm 2000, doanh thu vượt qua con số 1 tỷ franc và vào năm kế tiếp 2001 công ty không còn giới hạn trong nghề thực phẩm mà bước sang lãnh vực truyền thông với tên Tang Media phát sóng một đài truyền hình tiếng Trung Quốc cho cộng đồng Hoa Kiều ở Pháp gồm phim bộ, phim tài liệu, thể thao và có chi nhánh đặt tại Bắc Kinh. Từ năm 2002 công ty đầu tư vào những dự án quốc tế như xây dựng nhà máy sản xuất bia ở Ðường Sơn, Trung Quốc, khai thác một bến cảng công nghiệp ở Quảng Tây và tham gia cả vào lãnh vực dược phẩm. Ở khu phố Tàu Quận 13 này, công ty còn một cửa hàng khác nhỏ hơn trên đại lộ Choisy. Hàng tuần nguyên một chuyến bay Cargo chở hàng cho công ty từ Trung Quốc đến Paris.

Vào chợ xem qua cho biết chứ không mua gì, trái cây Á Châu cũng rất nhiều như sầu riêng tươi, mít, nhãn, xoài v.v... Cạnh tranh với chợ Tang Frères thấy có một ngôi chợ Trung Quốc nghe nói mới mở, trang hoàng lồng đèn đỏ, chữ mạ vàng nằm ở khu phố phía Bắc tuy nhiên cơ ngơi nhỏ hơn chợ Tang Frères.



Tiệm băng nhạc Việt trong khu thương mại Á Châu.

Rời chợ anh em họ Trần, chúng tôi trèo lên bậc thang xi măng để lên khu phố Việt trong một cao ốc buyn đinh hình như các tầng trên là khu căn hộ apartment. Hành lang thương xá hơi tối nhưng mát mẻ vì có máy lạnh, tập trung các tiệm ăn, nữ trang, quần áo, tranh ảnh, vật dụng trang trí, đồ kỷ niệm. Thấy có các cửa hàng như Thúy Nga, Làng Văn, Phở 34 Ngọc Phương, thẩm mỹ viện Crystal v.v... Xin lưu ý du khách ở xa đến là các cửa hàng này buổi trưa đóng cửa để nghỉ trưa từ 12 giờ đến 3, 4 giờ mới mở cửa lại và mỗi tuần ngày Thứ Hai đa số các cửa tiệm đều đóng cửa.

Sau thương xá bước xuống là một khoảng sân rộng bao quanh bằng những chung cư cao ốc hàng chục tầng lầu nghe nói được xây từ những năm 1960 cho những gia đình thu nhập thấp. Giữa khoảng sân này là những ngôi nhà có mái cong cong kiểu Á Ðông thấy có các nhà hàng như Phượng Hoàng, Quán Ngon, New Chiana Town, Lilly's Café và siêu thị Việt Nam. Ở một góc phố có cửa hiệu “Chiều Tím Paris” sau khung kính buông màn đỏ kín bưng không biết kinh doanh gì ngoài chữ “Diner Dansant-Karaoké.” Nếu là nhà hàng ăn thì không buông màn kín mít như vậy? Tôi đứng tìm hiểu thì có một bà sồn sồn son phấn áo đầm vừa bước ra, tôi hỏi nhà hàng bán thức ăn gì? Bà trả lời: “Tiệm nhảy đầm ông ơi, đi chơi từ sáng đến giờ, vui ghê nhưng mệt và đói bụng quá, phải kiếm gì ăn!”



Vũ trường Chiều Tím trong khu phố Việt ở Paris.

Hiện nay ở Paris không phải chỉ có khu phố Á Châu Quận 13 này mà còn có khu phố Tàu mới khác nữa ở Belleville về hướng Ðông Bắc Paris cũng đang phát triển và khu này có thêm thương mại của người Do Thái, Trung Ðông. Khu phố Á Châu Quận 13 vẫn là khu China Town lớn nhất với khoảng 150 nhà hàng ăn và các cửa hàng bán lẻ. Sau khi Việt Nam, Miên, Lào bị nhuộm đỏ năm 1975 làn sóng thuyền nhân người Việt và Hoa từ các nước Ðông Dương này sang Pháp định cư. Lúc đó khu Quận 13 Paris là khu lao động dân nghèo, chính quyền đang phá bỏ những khu nhà cũ kỹ thay thế bằng những cao ốc chung cư hàng chục tầng lầu. Vì giá rẻ so với những nơi khác nên nhiều thuyền nhân gốc Hoa, Việt vào mua những căn chung cư này và phát triển khu thương mại quanh đó bắt đầu vào năm 1982. Ngày nay đến khu phố Á Châu này thấy sừng sững trên cao nhiều buyn đinh chọc trời và những nhà hàng ăn thấp ở phía dưới. Tuy nhiên giữa các khu cao ốc, thương mại vẫn có những không gian màu xanh nho nhỏ trồng hoa kiểng và vườn chơi cho trẻ con, người lớn tuổi.

Hiện ở Pháp có khoảng 250,000 người Việt sinh sống, đông nhất là ở các thành phố lớn như Paris, Marseille và Lyon, ở mọi nơi đều có khu thương mại Việt Hoa nhưng khu Phố Á Châu Quận 13 vẫn là khu thương mại sầm uất và nhộn nhịp nhất xứ Pháp. Hàng năm có nhiều lễ hội văn hóa truyền thống nhưng được người Pháp chú ý và các báo Pháp đưa tin là cuộc diễn hành rực rỡ nhiều màu sắc trong ngày Tết Nguyên Ðán mặc dù thời tiết Paris lúc đó vẫn còn trong mùa Ðông giá lạnh.

(Người Việt)


PHỎNG VẤN “BÁC” HỒ
 
Ký giả VỊT TRỜI
 
LTS: Đây là loạt bài “Phỏng Vấn Các Nhân Vật Đông Tây Kim Cổ” viết theo lối fiction (giả tưởng) nhưng lại “gần như thật” vì tác giả y cứ vào tài liệu và quá trình hoạt động của các nhân vật được phỏng vấn.
Ký giả Vịt Trời mà một trong những bút hiệu khác của nhà văn Nguyễn Thiếu Nhẫn. Ông hiện là Cố vấn Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại và Chủ Tịch VBVNHN/Vùng Tây Bắc Hoa Kỳ.
*
Nhiều năm trước đây, lúc còn là ký giả của báo Nhân Dân, ký giả Vịt Trời có lần đã được theo Phó Tổng Biên tập Bùi Tín vào lăng “Bác” để phỏng vấn “Người”. Do đó, giữa “Bác” Hồ và ký giả Vịt Trời là sự quen biết lớn, đi lại thân tình. Cuộc đời dài 79 năm của “Bác” chứa đựng nhiều bí mật. Một số chi tiết về cuộc đời của “Bác” được các ngòi bút đàn anh của ký giả Vịt Trời viết thành truyện trinh thám, chuyện khoa học giả tưởng… rất ly kỳ, được phổ biến rộng rãi.
Cách đây 12 năm, ngày 19-5-2002, nhân sinh nhật lần thứ 102 của “Bác”, ký giả Vịt Trời đón xe Honda ôm đến quảng trường Ba Đình vào lăng viếng “Bác”, nhân tiện phỏng vấn “Người” ít câu theo yêu cầu của một số độc giả.
Lăng “Bác” được bảo vệ cẩn mật. Có hẳn một Bộ Tư lệnh bảo vệ lăng. Khi ký giả Vịt Trời còn cộng tác chung với đồng chí Bùi Tín tức ký giả Thành Tín ở báo Nhân Dân, Tư lệnh Quân khu Thủ đô là Thiếu Tướng Lư Giang và Tư lệnh bảo vệ lăng là đồng chí Võ Bẩm. Tấm giấy ra vào lăng do đồng chí Võ Bẩm cấp năm xưa vẫn còn trong túi. Ký giả Vịt Trời ung dung bước vào. Thấy hàng chữ đỏ KISS ME trên giấy ra vào lăng của ký giả Vịt Trời, đồng chí vệ binh khẩn trương đưa ký giả Vịt Trời vào lăng gặp “Bác”.
 
-Ký giả Vịt Trời (KGVT): Xin kính chào “Bác”! “Bác” có nhận ra cháu không?
 
-Bác Hồ: Chào chú! À, để xem… à, chú Vịt Trời! Chú ngồi xuống đây. Bác nhớ chú rồi, trước đây chú công tác ở báo Nhân Dân. Uống với Bác một cốc nước chè xanh, Bác sống đạm bạc chẳng có gì thết đãi chú!
 
-KGVT: Cảm ơn “Bác”! Chỗ “Bác” cháu thân tình, “Bác” cũng chả cần bày ra cái trò ma sống đạm bạc ấy làm quái gì. Bảo cô nào phục vụ “Bác” cho cháu xin bình trà Long Tĩnh với vài lát sâm già của Bắc Triều Tiên tặng. Đi đường xa mệt bỏ mẹ!
 
-Bác Hồ: Được! Để Bác gọi bọn nó. Này, chú đến đây thăm Bác hay có việc gì không?
 
-KGVT: Dạ thưa “Bác”, cuộc đời cách mạng của “Bác” người ta đã nói nhiều rồi. Nhưng chắc vẫn còn chưa nói hết. Hôm nay xin “Bác” cho biết thêm vài điều.
 
-Bác Hồ: Để Bác nói cho chú Vịt Trời nghe, mấy lần trước chú đến gặp Bác đều có người đi cùng. Thế nên Bác không có dịp tâm tình với chú. Nay có hai Bác cháu mình thôi, chú muốn biết thêm điều gì cứ hỏi!
-KGVT: Dạ, cháu xin cảm ơn “Bác”. Trước tiên cháu xin hỏi về tiểu sử của “Bác”. Theo như các tài liệu của Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương, thì “Bác” sinh ngày 19-5-1890, có phải không ạ?
 
-Bác Hồ: Tài liệu thì ghi thế, nhưng Bác nói thực với chú, chính Bác đây cũng không biết Bác sinh ngày nào nữa. Thế nên khi viết thư cho chính quyền Pháp ở Đông Dương, Bác dùng một ngày tháng năm sinh khác. Khi sang Pháp, làm đơn xin học để sau này làm công chức thuộc địa, Bác lại dùng một ngày tháng năm sinh khác.
 
-KGVT: Thưa “Bác”, thế thì cái ngày 19-5 do đâu mà có?
 
-Bác Hồ: Tình cờ thôi chú ạ! Chắc chú nhớ giữa tháng 8 năm 1945, Nhật đầu hàng Đồng Minh. Quân đội Quốc Dân Đảng Trung Hoa của Tưởng Giới Thạch vào tước khí giới quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc. Ở phía Nam có quân Anh, Ấn và quân đội Pháp được quân Anh cho nấp bóng. Mười tám vạn quân Quốc Dân Đảng do Lư Hán chỉ huy là mối đe dọa hết sức nguy hiểm, bởi vì phó tướng phụ trách về chính trị của Lư Hán là Tiêu Văn đã nhìn thấy Bác và các đồng chí xung quanh đều là Cộng sản, y cứ gườm gườm muốn ăn tươi nuốt sống bọn Bác.
 
-KGVT: Thưa “Bác”, vậy để tránh mối nguy đó, “Bác” và các đồng chí lãnh đạo đã làm gì?
 
-Bác Hồ: Bác phát động “Tuần lễ Vàng”, nói là để lấy vàng mua vũ khí đánh Pháp ở miền Nam, thật sự là để Bác hối lộ cho Lư Hán cùng hai phó tướng Tiêu Văn và Chu Phúc Thành để bọn chúng rút về cho sớm, nhường phần đất Bắc vĩ tuyến 16 cho quân Pháp vào tiếp thu.
 
-KGVT: Thưa “Bác”, thế thì ta đuổi sói đi lại rước hổ về nhà!
 
-Bác Hồ: Thì đành là thế, nhưng chú nên hiểu điều này, là tuy quân xâm lăng Pháp lúc nào cũng âm mưu thôn tính nước ta nhưng ít nguy hiểm cho Đảng Cộng sản Đông Dương, cho chính quyền Việt Minh hơn là quân Quốc Dân Đảng. Bác ký hiệp định sơ bộ 6-3-1946 đồng ý cho quân Pháp để bộ lên Hải Phòng, rồi tháng 5-1946 vào Hà Nội. Để tỏ tình thân hữu với quân xâm lăng Pháp, Bác ra lệnh phải treo cờ khắp Hà Nội.
 
-KGVT: Thưa “Bác”, thế quần chúng có phản ứng gì với việc treo cờ đón quân xâm lăng Pháp?
 
-Bác Hồ: Dĩ nhiên là quần chúng thắc mắc. Nhận thấy việc này có thể gây nên làn sóng phản đối việc làm của Bác và Chính phủ, Bác và các chú Tô, chú Văn, chú Khu, chú Giám mới phao tin lên chuyện treo cờ là để kỷ niệm sinh nhật của Bác 19-5. Từ đó về sau mới thành lệ. Nói cho chú biết thế thôi, chả phải bác sinh ngày ấy đâu.
 
-KGVT: Thưa “Bác”, tài liệu sách vở của Đảng và Nhà nước đều nói “Bác” xuất dương năm 1911 là để tìm đường cứu nước. Vậy sao khi sang Pháp, “Bác” lại xin vào học ở Trường Đào tạo Công chức Thuộc địa?
-Bác Hồ: Sau này mới phịa ra, chứ hồi năm 1911 Bác có biết gì đâu mà xuất dương tìm đường cứu nước! Mộng của Bác lúc ấy là về nước làm một công chức cho chính quyền thuộc địa, cơm no áo ấm, hãnh diện với làng nước. Không may, đơn ấy bị bác. Cũng nhờ mấy năm ở Pháp mà Bác có được một cái tên và chụp được mấy tấm ảnh mà sau này trong một thời gian dài đã góp phần tạo thêm uy tín cho Bác đấy, chú Vịt Trời ạ.
 
-KGVT: Thưa “Bác”, chuyện có vẻ hay nhỉ, xin “Bác” kể cho cháu nghe với!
 
-Bác Hồ: Hồi ấy ở Paris có tờ báo tiếng Pháp lấy tên là “Người cùng khổ” do nhà cách mạng Nguyễn Thế Truyền và luật sư Phan Văn Trường chủ trương. Hai người lấy chung bút hiệu là Nguyễn Ái Quốc. Bác cũng tập tễnh viết một bài văn ngắn đưa vào cho hai vị ấy chữa lại rồi đem đi đăng, vẫn ký Nguyễn Ái Quốc. Thấy cái tên hay, sau này Bác lấy làm tên Bác luôn. Chắc chú cũng có đọc những gì Bác viết, tiếng Việt Bác viết còn chả tới đâu, nói gì tiếng Pháp. Thế nhưng sau này các chú lại nhanh trí phịa ra là Bác làm báo tiếng Pháp ở Paris. Tài thế!
 
-KGVT: Thưa “Bác”, hôm nay cũng chẳng phải là phỏng vấn gì, chỉ là hai bác cháu mình tâm tình với nhau. “Bác” có gì hay hay trong đời cách mạng, xin “Bác” cứ kể để cháu nghe mà học hỏi. Chuyện gì cũng được “Bác” ạ!
 
-Bác Hồ: Bác có cái này, kể cho chú nghe để chúhọc khôn. Mình vẫn có thể tự đề cao mình! Mình viết sách kể lể những chi tiết về cuộc đời cách mạng của mình, dĩ nhiên là những chi tiết ấy bịa ra sao cho có lợi cho mình.
 
-KGVT: Thưa “Bác”, làm thế người ta cười mình chết!
 
-Bác Hồ: Chú dại lắm! Biết thế nào được mà cười! Thí dụ như Bác viết “Đời hoạt động của Bác Hồ” hoặc viết “Vừa đi đường vừa kể chuyện” lấy tên Trần Dân Tiên, T.Lan. Trần Dân Tiên là ai, bao nhiêu tuổi, tác giả một quyển sách viết về cuộc đời Chủ tịch của một nước, thế mà chả ai biết ông ấy là ai! Làm sao mà biết được, khà khà, chính là Bác đây!
 
-KGVT: Thưa “Bác”, “Bác” thật là cao kiến!
 
-Bác Hồ: Lại chả cao! Không cao kiến mà lại làm Chủ tịch nước!
 
-KGVT: Thưa “Bác”, “Bác” về nước lần đầu năm 1941.Cứ theo tài liệu, ‘Bác” sinh năm 1890, vậy năm ấy “Bác” 51 tuổi. Mấy ông mà cháu quen biết, có ông đã hơn 51 tuổi rồi mà đêm nào cũng hát karaoké, rồi lại nhảy đầm liên miên, anh anh em em với các cô tiếp viên ngọt xớt, thế năm 1941 “Bác” mới có 51 tuổi mà sách vở nào người ta cũng gọi “Bác” là ông Cụ, ông Cụ Ké. Như thế họ có xử ép “Bác” lắm không?
 
-Bác Hồ: Chú nói đến đâu, Bác lại giận cái lũ khốn ấy đến đấy!
 
-KGVT: Thưa “Bác”, ai lại cả gan làm “Bác” giận thế?
 
-Bác Hồ: Thật là Bác già mà còn dại chú ạ! Bác mắc lỡm cái đám tay chân của mình. Cái bọn ấy nó xúi dại Bác là cứ tuyên bố là Bác độc thân, để Bác có thêm uy tín này nọ để bịp người ta. Còn Bác thì lúc ấy nghe bọn nó nói cũng bùi tai nên nghe theo. Chứ năm ấy Bác mới ngoài năm mươi tuổi, cha già dân tộc, nghe thì hách thật, chứ thật ra nhiều đêm nó cũng… trằn trọc lắm chú ạ! Chú cũng biết Bác nào có bất lực gì cho cam! Bác cũng như mọi người thôi!
 
-KGVT: Thưa “Bác”, thế nhưng với quyền hành mà “Bác” có, “Bác” muốn chuyện gì thì không được, chứ chuyện “giải quyết” thì có khó gì?
 
-Bác Hồ: Vẫn biết thế chú Vịt Trời ạ. Thế nhưng cứ lén lén lút lút, mất cả thoải mái đi. Thà là nói huỵch tẹt ra một lần, chứ cứ nay khui ra chuyện này, mốt lòi ra chuyện nọ, Bác khổ tâm lắm chú ạ!
 
-KGVT: Thưa “Bác”, hồi sửa sai Cải cách Ruộng đất, “Bác” có khóc với đồng bào, xin nhận lỗi phải không ạ?
 
-Bác Hồ: Có! Nhưng mà chỗ Bác với chú, Bác nhắc chú nghe một chuyện hơi xưa một chút. Tào Tháo là người đa nghi, khi ngủ không muốn ai lại gần, sợ bị ám sát. Liền nói với tả hữu là mình có bệnh ngủ mê giết người, chớ nên lại gần kẽo mất mạng. Ngày kia Toà Tháo ngủ trưa, giả vờ làm rớt tấm chăn, tên quân hầu liền lại gần nhặt lên, đắp cho Tào Tháo. Tào Tháo liền lấy gươm chém chết tên quân hầu rồi ngủ lại như cũ. Tỉnh dậy, giả vờ khóc lóc thương tiếc tên quân hầu. Từ đấy về sau, khi Tào Tháo ngủ không ai dám lại gần. Bác học ở Tào Tháo cái cách khóc ấy đấy chú ạ! Thỉnh thoảng sau khi làm cái gì bậy, Bác lại khóc kiểu ấy. Thiên hạ chẳng biết đâu mà mò!
 
-KGVT: Thưa “Bác”, té ra “Bác” khóc kiểu ấy không phải có một lần duy nhất?
 
-Bác Hồ: Hồi tháng 3-1946, Bác đi ra vịnh Hạ Long, lên chiến hạm Pháp ký với Pháp một thỏa ước cho phép Pháp được đổ bộ lên miền Bắc để thay quân Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch mà “tiếp phòng” miền Bắc. Nhiều người cho rằng Bác làm như vậy là phản bội cuộc kháng chiến chống Pháp ở miền Nam đã bắt đầu ngày 23-9-1945, là bán nước. Nhưng chú nghĩ xem. Bác thì sợ quận Lư Hán hơn. Pháp vào, quân Quốc Dân Đảng rút đi, Bác mới rảnh tay tiêu diệt các đảng phái Quốc Gia. Lúc Bác đi ký hiệp ước về tới Hà Nội, có một cuộc biểu tình được tổ chức ở Nhà hát lớn. Bác đứng trên bao lơn Nhà hát lớn, Bác khóc hô hố, đấm ngực thề rằng: “Tôi, Hồ Chí Minh không bao giờ bán nưc!” Thế mà có khối người tin đấy chú ạ!
 
-KGVT: Thưa “Bác”, thế thì “Bác” đáng bậc thầy của Tào Tháo rồi.
 
-Bác Hồ: Chú giỏi lắm! Đời Bác đã nghe người ta nịnh nhiều rồi, nhưng chỉ có câu nịnh của chú là Bác thích nhất! Tào Tháo có khóc thì tên hầu cũng bị giết; còn Bác khóc thì Pháp đã đổ bộ lên miền Bắc, khóc lần nữa thì bao nhiêu vạn mạng người cũng đã chết trong Cải cách Ruộng đất. Nhưng không làm thế thì làm sao mà lấy không ruộng đất của dân có ruộng được!
 
-KGVT: Thưa “Bác” phải lắm ạ! Bác khóc lóc đâu ra đấy! Thưa “Bác” có những người xấu mồm họ nói hồi ở Trung Quốc, “Bác” chỉ điểm cho Tây bắt nhà cách mạng Phan Bội Châu?
 
-Bác Hồ: Chuyện cũ quá rồi chú ạ. Nhắc lại lỡ ra người ngoài nghe không tốt đâu. Để Bác kể chuyện này cho chú nghe, vui lắm! Chuyện Bác gạt được người ta mấy chục năm bằng một tấm hình.
 
-KGVT: Hình gì thế, thưa “Bác”?
 
-Bác Hồ: Hồi làm thợ chụp hình bên Tây, có một lần Bác đến nghe mấy ông Tây nói chuyện về chủ nghĩa Cộng Sản. Bác có đứng lên thắc mắc mấy câu, có chụp một tấm hình. Sau này tấm hình ấy được chú thích: Đồng chí Nguyễn Ái Quốc tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp tại Đại hội Tour năm 1920. Có thế mà gạt người ta cho đến gần đây mới bị lật tẩy.
 
-KGV: Lật tẩy làm sao, thưa “Bác”?
 
-Bác Hồ: Đảng Cộng sản Pháp cho biết trong Đại hội Tour chả có ma nào người Á châu tên Nguyễn Ái Quốc cả. Còn những người có mặt trong tấm hình ấy cũng chả hề có mặt tại Đại hội Tour.
 
-KGVT: Thưa “Bác”, lừa gạt người ta có gì vui đâu, mà cũng đâu có lợi ích gì?
 
-Bác Hồ: Lạ nhỉ! Chú không thấy chuyện lừa gạt nười khác là vui à? Có lợi lắm đấy. Chuyện Bác phịa ra Bác tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp tại Đại hội Tour tạo ra một huyền thoại làm tăng uy tín của Bác.
 
-KGVT: Thưa “Bác”, mấy lúc sau này, cháu nghe người ta nói nhiều chuyện về vợ con của “Bác”. Họ nói “Bác” có nhiều vợ lắm?
 
-Bác Hồ: Bác có chính thức lấy ai đâu mà gọi là nhiều vợ. Bác là đàn ông mà! Đi đây đi đó, Bác cũng có quen biết cô này, cô kia, sống chung với nhau một thời gian có gì là sai đâu?
 
-KGVT: Thưa “Bác”, cháu nói nói chuyện ấy sai bao giờ đâu. Cháu chỉ lạ là tại sao các đồng chí lãnh đạo lại giấu diếm chuyện ấy thôi!
 
-Bác Hồ: Thật là vẽ chuyện! Bác muốn làm người thì các chú ấy lại bắt Bác làm thầy tu! Này, chú có nghe bên Liên Xô lúcnày ra sao không?
 
-KGVT: Thì cũng nhì nhằng thôi, thưa “Bác”. Cháu nghe có người đòi kéo xác Lênin ra khỏi Lăng ở Quảng trường Đỏ, “Bác” ạ!
 
-Bác Hồ: Bác cũng đang lo chuyện ấy đấy. Kéo đi đâu thì kéo cho rồi. Để mãi ngứa ngáy quá.
 
-KGVT: Thưa “Bác”, bị kéo xác ra khỏi Lăng là một điều tệ hại. Sao“Bác” lại muốn thế?
 
-Bác Hồ: Chú nhìn xem Bác đây này, cái mặt xem tròn trịa hồng hào như thế. Chú nhớ tờ
tạp chí Time tháng 9-1969 không. Cái bìa in hình Bác chụp tháng 5-1969, cái mặt đâu có được như thế. Sau người ta bơm, người ta độn đủ thứ vào mới được như ngày nay. Mặt thì thế, chứ bên trong mốc hết rồi chú ạ, Ngứa ngáy lắm. Hồi đó Bác cũng dại, thấy cái Lăng của cụ Lênin ham quá. Bây giờ cả Cụ, cả Bác đều không biết sau này ra sao. Thật là vật đổi sao dời chú Vịt Trời ạ!
 
-KGVT: Thưa “Bác”, sau này cháu có nghe các đồng chí lãnh đạo Đảng hay nói ta lấy kim chỉ nam là Chủ nghĩa Mác – Lênin kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh. Vậy tư tưởng Hồ Chí Minh là cái gì vậy, thưa “Bác”?
 
-Bác Hồ: Lại mấy thằng vẽ chuyện. Nói nhỏ cho chú nghe cái này: Làm đếch gì có cái tư tưởng đó. Hồi Đại Hội Hai của Đảng ở Việt Bắc năm 1951, Bác lỡ miệng nói với Nguyễn Văn Trấn là Bác chẳng có tư tưởng nào cả ngoài tư tưởng chủ nghĩa Mác. Thì Bác có sao nói vậy, ai ngờ hắn để tâm nhớ, sau này viết trong quyển sách “Viết cho Mẹ và Quốc Hội”. Trong lúc người ta tuyên bố rầm rĩ về tư tưởng Hồ Chí Minh, tuy rằng có xạo thật, nhưng cũng làm vinh dự cho Bác, thế mà Nguyễn Văn Trấn nói thế thì có khác gì nói Đảng nói láo, nói Bác dốt đặc!
 
-KGVT: Thưa “Bác”, thế tại sao lại phải nói tới tư tưởng Hồ Chí Minh một cách trễ tràng như vậy?

-Bác Hồ: Trước đây chú không nghe nói tới tư tưởng Hồ Chí Minh, phải không? Chú thắc mắc tại sao bây giờ lại có chứ gì? Hồi Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, đảng ta đứng trước một cuộc khủng hoảng sâu sắc về tư tưởng ý thức hệ chủ nghĩa. Tuyên huấn Trung ương có sáng kiến tâp họp một số lời nói, bài viết, kể cả hành động của Bác để xây dựng riêng một hệ tư tưởng mới, mang tính dân tộc hơn để gần gũi hơn với quần chúng Việt Nam. Do đó mới nảy ra mấy chữ tư tưởng Hồ Chí Minh.
 
-KGVT: “Thưa “Bác”, thế thì có tư tưởng Hồ Chí Minh thật đấy chứ?
 
-Bác Hồ: Có quái gì! Tội nghiệp cho Tuyên huấn Trung ương và mấy chú lý thuyết gia khổ công tìm kiếm, hệ thống hóa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh! Cho mãi tới giờ chú có biết tư tưởng Hồ Chí Minh là gì không? Cóthấy không? Ra làm sao? Bác đây còn chưa biết là mình có cái tư tưởng đó nữa kìa. Nhưng tội nghiệp cho các chú ấy, sắp chết đuối thấy cái gì nổi trên mặt nước thì cứ vớ lấy. Thế thôi!
 
-KGVT: Thưa “Bác”, “Bác” và “Bác” Mao tuổi cũng suýt soát nhau, lãnh đạo hai nước ở cạnh nhau. Cháu xin hỏi thật “Bác”, công tâm mà nói thì giữa “Bác” và “Bác” Mao ai vĩ đại hơn?
 
-Bác Hồ: Chú nên nhớ một điều là nước Tàu rộng gấp 30 lần nước ta, dân số đông gấp 16 lần nước ta. Người ta nói Mao chủ tịch đã trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra cái chết của mấy chục triệu người trong kế hoạch “Bước nhảy vọt vĩ đại” và “Đại Cách mạng Văn hóa”, là lãnh tụ làm chết nhiều nhân mạng nhất từ cổ tới kim trong lịch sử nhân loại. Hừ, chưa chắc!
 
-KGVT: Chưa chắc điều gì, thưa “Bác”?
 
-Bác Hồ: Cứ lấy thành tích của Bác và Đảng Cộng sản Việt Nam nhân lên 16 lần rồi đem đặt vào nướcTàu. Chưa chắc ai đã hơn ai đấy chú ạ. Cải cách Ruộng đất chỉ phát động trên miền Bắc với 20 triệu dân, nước Tàu thời Mao Chủ tịch có 800 triệu. Nhân số người chết trong Cải cách Ruộng đất lên 40 lần đi. Trong mấy năm cải cách ngắn ngủi, ở một miền Bắc nhỏ bé như vậy mà Bác còn làm được như thế thì giao nước Tàu vào tay Bác xem! Chưa biết mèo nào cắn mĩu nào đấy chú!
 
-KGVT: Thưa “Bác”, lúc “Bác”còn sống, trong những cuộc mít-ting quần chúng phải tung hô: “Hồ Chủ tịch muôn năm!”, lúc ấy “Bác” nghĩ gì, cảm tưởng của “Bác” ra sao ạ?
 
-Bác Hồ: Thì cũng như mọi người phải tung hô “Hoàng thương vạn tuế” hồi xưa vậy”. Còn cảm tưởng của Bác thì cũng giống như các ông vua khi nghe thần dân tung hô “Hoàng thượng vạn tuế” vậy thôi.
 
-KGVT: Thưa “Bác”, hồi “Bác” mất, cháu thấy Chú Duẫn, Chú Khu, Chú Đồng, Chú Tố Hữu khóc lóc quá mức. Chắc các Chú ấy thương “Bác” lắm?
 
-Bác Hồ: Ối dào! Chú mà cũng tin bọn ấy nữa à?
 
-KGVT: Tin chứ “Bác”! Thưa “Bác”, còn một số đồng bào cũng khóc!
 
-Bác Hồ: Quần chúng mà được thông tin đầy đủ như ở miền Nam hoặc các nước tự do, Bác mất, người ta còn khóc gấp mười lần nữa đấy chú ạ! Chả phải khóc bao nhiêu ấy đâu!
 
-KGVT: Tại sao vậy, thưa “Bác”?
 
-Bác Hồ: Còn sao nữa! Quần chúng sẽ vừa khóc vừa nói với nhau: “Tức thật, mãi bây giờ mới chịu chết!” Họ khóc vì tiếc đấy chú ạ!
 
-KGVT: Thưa “Bác”, họ tiếc thương “Bác”?
 
-Bác Hồ: Khỉ! Chú lại nịnh Bác nữa rồi! Chắc lại định xin Bác chức gì đây? Kìa, chú Vịt Trời, chú làm gì mà hốt hoảng thế; chú trông thấy cái gì à?
 
-KGVT: Thưa “Bác” phải, mấy cái nấm mốc nó mọc đến cổ “Bác” rồi đấy “Bác” ạ!
 
-Bác Hồ: Bác biết rồi, chắc cũng chẳng còn bao lâu Bác cũng rời chỗ này. Cái thằng Boris Yeltsin nó mới đòi đuổi nhà cụ Lê ở Quảng trường Đỏ, nay mai thế nào lại chả tới lượt Bác! Mẹ! Đời nước lớn, nước ròng…
 
Ký giả VỊT TRỜI
tieng-dan-weekly.blogspot.com

Ý thức hệ độc hại’: 

Thủ tướng Canada tấn công chủ nghĩa cộng sản.

Colin Perker | Trà Mi lược dịch

alt

Stephen Harper mở cuộc tấn công toàn diện vào chủ nghĩa cộng sản tại cuộc gây quỹ ở Toronto.

alt

Thủ tướng Stephen Harper trong bữa tiệc gây quỹ xây đài tưởng niệm nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản (Toronto, o­nt., May 30, 2014.) Nguồn: THE CANADIAN PRESS/Darren Calabrese

Hôm thứ Sáu 30 tháng 5, năm 2014, tại Toronto, Thủ tướng Canada Stephen Harper đã nói chuyện với quan khách trong bữa tiệc gây quỹ dựng đài tưởng niệm nạn nhân chủ nghĩa cộng sản.

TORONTO – Thủ tướng Stephen Harper đã mở cuộc tấn công toàn diện tội ác của chủ nghĩa cộng sản tại một buổi quyên góp hôm thứ Sáu đẻ xây đài tưởng niệm nạn nhân cộng sản.

Trong một bài phát biểu dài trước bữa ăn tối, Thủ tướng Harper đã nhắm vào Tổng thống Nga Vladimir Putin và những tín đồ cũ của chủ nghĩa cộng sản.

“Trong thế kỷ 20, ý thức hệ độc hại và sự thực hành tàn nhẫn của chủ nghĩa cộng sản đã từ từ gây nhiễm độc khắp nơi trên thế giới, trên hầu hết các châu lục,” Harper nói.

“Kết quả là một thảm họa. Hơn 100 triệu người bị thảm sát – một con số gần như không thể hiểu nổi.”

Mục tiêu của buổi tiệc nhằm giúp gây quỹ cho tổ chức “Tribute to Liberty” để dựng một đài tưởng niệm vĩnh viễn tại Ottawa, thủ đô Canada, để tưởng nhớ “hàng trăm triệu” linh hồn nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản.

Trong năm 2010 , chính phủ của đảng Bảo thủ cho biết sẽ hỗ trợ chương trình dựng đài tưởng niệm này.

Các thế hệ công dân tương lai của Canada, Thủ tướng Harper nói, phải được nhắc nhở rằng họ có được đời sống hòa bình đã nhờ những cuộc đấu tranh và sự hy sinh của người trước.

Với ngôn nhữ giống như ở thời còn Chiến tranh Lạnh, Harper chỉ trích chủ nghĩa cộng sản là một ý thức hệ áp bức, thậm chí giết người.

“Tội ác xuất hiện dưới nhiều hình thức và chúng có thể tái sinh,” ông nói.

“Nhưng dù ở bất cứ hình dạng, nhãn hiệu nào – chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa Mác-Lênin, (tư tưởng Hồ Chí Minh? – TM) hay ngày hôm nay là chủ nghĩa khủng bố – tất cả đều có một điểm chung: sự hủy diệt, chấm dứt tự do của con người.”

“Chúng ta cảm nhận sâu sắc nỗi đau này vì gần như một phần tư người dân Canada hay cha mẹ của họ, đã một thời mắc phải xích xiềng của cộng sản và họ chắc chắn hiểu được sự hủy hoại của chủ nghĩa cộng sản.”

Thủ tướng Harper lặp lại việc ông ủng hộ Ukraine, và một lần nữa đả kích Putin, nói rằng tổng thống Nga đã “quen dần với những cuộc đối đầu” và “chủ nghĩa bành trướng và chủ nghĩa quân phiệt” của Nga đang đe dọa an ninh toàn cầu.

Canada, ông cho biết, đã là nơi ẩn náu cho những chạy trốn sự đàn áp (của cộng sản).

“Thay vì định mệnh nghiệt ngã trong chủ nghĩa cộng sản, họ tìm thấy cơ hội Canada.”

Harper cho biết Canada và phương Tây đóng vai trò ủng hộ tự do trong Chiến tranh Lạnh, và ông đã nhắc đến cựu Thủ tướng Brian Mulroney cùng với cựu Thủ tướng Anh Margaret Thatcher và cựu Tổng thống Mỹ Ronald Reagan.

Thủ tướng đã bày tỏ “sự hối tiếc lớn” rằng Canada đã không luôn luôn ứng xử xứng đáng với khát vọng cao cả của mình.

Một ban giám khảo sẽ lựa chọn mẫu thiết kế tượng đài hạng nhất trong vòng vài tháng tới.

© 2014 DCVOnline

MẤT NƯỚC LÀ CHẾT

Độc chiêu chống bán nước tại Sài Gòn


http://danlambaovn.blogspot.com/2014/06/oc-chieu-chong-ban-nuoc-tai-sai-gon.html

Sáng ngày 8/6/2014, trong lúc dân phòng đang sách nhiễu nhóm bạn trẻ nhặt rác tại công viên Tao Đàn (Sài Gòn) thì bất ngờ xuất hiện một người đàn ông quẩy gánh nước đến để mời mọi người uống miễn phí.

Đáng chú ý, người đàn ông gánh nước mang theo hai tấm biểu ngữ viết tay với nội dung: “Nước nhà không bán”  “Mất nước là chết”. Dường như những thông điệp trên đã khiến lực lượng an ninh thường phục thấy 'nhột' và hoảng sợ, nên đã ra lệnh cho dân phòng kéo đến sách nhiễu, lôi kéo và đòi 'hốt' người đàn ông này về trụ sở công an phường.

Sau một hồi giằng co quyết liệt và được sự hỗ trợ của nhiều bà con nhân dân, người đàn ông cuối cùng cũng đã mang được gánh nước sang bên kia đường để mời mọi người nghỉ mệt và uống nước miễn phí.

Đây quả là một hành động thông minh, táo bạo của người dân Sài Gòn trước những kẻ tay sai bán nước hèn với giặc, ác với dân. Đặc biệt, lối chơi chữ hết sức khôn khéo và sáng tạo của người đàn ông gánh nước trong video đã khiến chế độ công an trị trở thành trò cười đối với nhân dân cả nước.


Thư ngỏ về tình hình khẩn cấp của đất nước (cập nhật: 1030 người ký)

Kính gửi đồng bào Việt Nam ở trong nước và nước ngoài,

cùng toàn thể các đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam
Từ đầu tháng 5 năm 2014, Trung Quốc huy động nhiều loại tàu, đặc biệt là tàu vũ trang, tàu quân sự và cả máy bay yểm trợ cho việc đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 tại vị trí ở sâu trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, xâm hại tàu, thuyền của ngư dân và tàu công vụ của Việt Nam hoạt động ở vùng biển này. Đó là hành vi xâm lược bằng vũ lực, ngang nhiên vi phạm luật pháp và các cam kết quốc tế mà chính Trung Quốc đã ký kết, đánh dấu một bước leo thang mới rất nguy hiểm của thế lực bành trướng Trung Quốc trong mưu đồ lấn chiếm Biển Đông, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, uy hiếp chủ quyền của một số nước khác tiếp giáp Biển Đông và đe dọa trực tiếp hòa bình, an ninh, an toàn hàng hải trong khu vực. Hành động này, cùng với thái độ ngoan cố, xuyên tạc sự thật trước sự phản đối của dư luận quốc tế, đã phơi trần dã tâm bành trướng của nhà cầm quyền Trung Quốc, phản bội quan hệ hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt-Trung.
Tình thế hiểm nghèo khi chủ quyền quốc gia bị xâm phạm đòi hỏi phải phân tích, dự báo diễn biến và có đối sách chủ động ứng phó. Trách nhiệm này được đặt ra trước hết cho cơ quan lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), đảng đang cầm quyền. Mấy ngày sau khi Trung Quốc đặt giàn khoan, Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI của ĐCSVN đã họp trong 7 ngày (từ 8/5 đến 14/5 năm 2014) song không đáp ứng yêu cầu nêu trên. Phát biểu khai mạc và bế mạc của Tổng Bí thư Đảng CSVN cũng như thông báo của Hội nghị khi kết thúc đều không lên án, phân tích và đề ra đối sách chống lại mưu đồ và hành động xâm lược mới của thế lực bành trướng Trung Quốc. Như vậy, khi đất nước đối mặt với nguy cơ lớn, Ban Chấp hành Trung ương ĐCSVN, trước hết là Tổng Bí thư và Bộ Chính trị đã buông lơi trách nhiệm của mình đối với nước, với dân.
Trước dã tâm của nhà cầm quyền Trung Quốc, nhân dân muốn bày tỏ ý chí chống xâm lược, bảo vệ chủ quyền quốc gia, nhưng các cuộc biểu tình ôn hòa trong mấy năm qua đều bị nhà cầm quyền trấn áp. Sau “vụ giàn khoan,” các cuộc biểu tình yêu nước của dân vẫn không được chính quyền ủng hộ, mà còn dùng nhiều hình thức ngăn trở, phá đám nên không đạt quy mô và hiệu quả thể hiện đúng sự phẫn nộ và đoàn kết của 90 triệu dân Việt trước kẻ xâm lăng. Nghiêm trọng hơn nữa là sự mất cảnh giác và tình trạng đột ngột tê liệt đến khó hiểu của nhà cầm quyền và các lực lượng an ninh để cho những phần tử xấu chen vào các cuộc biểu tình kích động bạo động phá hoại ở một số nơi, gây thiệt hại cho một số doanh nghiệp nước ngoài, cho nền kinh tế và cho uy tín quốc gia. Dư luận chưa được biết chính xác ai đứng sau những vụ kích động có chủ đích này, song thấy rõ một điều là nhà cầm quyền Trung Quốc đã lập tức thổi phồng những cuộc bạo động này để làm mờ hành vi xâm lược ở Biển Đông và bôi xấu hình ảnh Việt Nam. Các cấp chính quyền nước ta trong khi trợ giúp các doanh nghiệp bị thiệt hại, trấn an các nhà đầu tư nước ngoài, lại lấy các sự cố đó làm cớ để ngăn chặn nhân dân tiếp tục biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược.
Tình thế hiểm nghèo của đất nước hiện nay vừa thách thức nghiêm trọng, vừa tạo cơ hội lớn cho dân tộc ta chấn hưng đất nước theo con đường dân tộc và dân chủ, trước hết là giải tỏa nhận thức mơ hồ về thế lực bành trướng Trung Quốc, thấy rõ sự xâm nhập, lũng đoạn bằng nhiều thủ đoạn tinh vi và thâm độc của thế lực này trên nhiều mặt mà nước ta phải phấn đấu để thoát khỏi sự phụ thuộc, xây dựng quan hệ láng giềng hòa bình, hữu nghị trên cơ sở tự chủ, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau.
Dư luận xã hội ghi nhận và ủng hộ những quan điểm và hành động tích cực trong thời gian gần đây của không ít người có trách nhiệm trong bộ máy cầm quyền ở các ngành, các cấp trước mưu đồ bành trướng của Trung Quốc. Trong những biểu hiện đó, nổi lên lời phát biểu của Thủ tướng tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN họp ngày 11-5, tại hội nghị Diễn đàn kinh tế thế giới khu vực Đông Á ngày 22-5, đặc biệt là lời khẳng định “Việt Nam nhất định không chịu đánh đổi chủ quyền thiêng liêng để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó”, thể hiện đúng ý chí của nhân dân ta.
Tình hình hiện nay đòi hỏi và tạo cơ sở cho các cán bộ, đảng viên trung thành với tâm nguyện vì dân vì nước cùng với nhân dân vạch rõ và đấu tranh không khoan nhượng chống lại những quan điểm và thái độ nhu nhược đối với kẻ xâm lược, dùng bạo lực, lừa mị đối với dân, lo mất chức quyền hơn mất nước của một số người lãnh đạo ở cơ quan Trung Ương và các cấp, đặc biệt là những kẻ có quan hệ mờ ám với nhà cầm quyền Trung Quốc. Những nhân tố tích cực trong giới cầm quyền cần thoát khỏi sự khống chế và kìm hãm lâu nay, gắn bó mật thiết với dân để cùng nhân dân thúc đẩy cải cách chính trị, chuyển đổi thể chế từ toàn trị sang dân chủ một cách ôn hòa, gắn với cải cách kinh tế, văn hóa, giáo dục, đưa đất nước ra khỏi cuộc khủng hoảng toàn diện và sâu sắc hiện nay, mở ra một trang mới trong lịch sử dân tộc. Chỉ có như vậy chúng ta mới tập hợp, đoàn kết được toàn dân tộc và thu hút được sự đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ của nhân loại tiến bộ để có đủ sức mạnh bảo vệ và phát triển đất nước.
Không một thủ đoạn lừa bịp, hăm dọa hay bạo lực nào từ bên ngoài có thể khuất phục được ý chí bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta!
Không một sự lừa mị, một hành động trấn áp nào có thể lung lạc được tinh thần yêu nước của nhân dân!
Chúng tôi tin tưởng rằng cuộc đấu tranh nêu trên của những đảng viên vì nước vì dân của Đảng CSVN sẽ được nhân dân nhiệt tình ủng hộ, góp sức. Mọi người Việt Nam hãy đồng lòng kiên quyết đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia bằng nhiều hình thức thể hiện rõ tính chính nghĩa và nhân văn, hết sức cảnh giác trước những thủ đoạn kích động của thế lực bành trướng Trung Quốc và tay sai, hết lòng cổ vũ, hỗ trợ các chiến sĩ bảo vệ biển đảo và ngư dân bám biển, đồng thời góp phần tích cực thúc đẩy cải cách chính trị, xây dựng nền dân chủ và pháp trị thực sự, đổi mới và phát triển kinh tế, văn hóa để bảo vệ chủ quyền, đưa đất nước thoát khỏi lệ thuộc và tụt hậu.
Chúng tôi mong nhận được sự đồng tình, hưởng ứng của đồng bào ở trong và ngoài nước cùng với nhiều đảng viên ĐCSVN, thể hiện trước hết bằng việc ký thư ngỏ này và vận động nhiều người khác tham gia.
Để ký tên xin ghi rõ: (1) họ tên; (2) nghề nghiệp; (3) địa chỉ cư trú (mức thành phố, tỉnh); (4) nước nơi đang cư trú; và gửi về địa chỉ thungovn2014@gmail.com


CHIẾN DỊCH DỰNG CỘT CỜ
TRONG VÙNG THỦ PHỦ GTA.


Để kỷ niệm 40 năm lá cờ Quốc Gia Việt Nam vẫn phất phới tung bay ở hải ngoại (1975 – 2015), Hội Ái Hữu Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức o­ntario phát động chiến dịch dựng cột cờ trong vùng thủ phủ GTA từ ngày 01/06 đến ngày 01/10/2014.


Cột cờ nhôm đường kính 2 inches, cao 14 feet, chôn dưới mặt đất 1 foot với xi măng.
Quý đồng hương muốn có cột cờ kỷ niệm, xin liên lạc: Phát (647) 979.5660; Nghiệp (647) 282.7504. Email: <thuductoronto@gmail.com>
Hội Ái Hữu Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức o­ntario.


Không thể “Thoát Trung” mà không “Thoát Cộng”!

Nhà báo Trần Quang Thành phỏng vấn Tiến sĩ Hà Sĩ Phu
Từ hơn một tháng nay, giàn khoan Trung Quốc thăm dò dầu khí chỉ cách bờ biển Việt Nam 120 hải lý, nằm sâu trong khu vực mà Việt Nam khẳng định là vùng đặc quyền kinh tế, tạo sự phẫn nộ và lo lắng cho người Việt khắp nơi.
Vào chiều ngày 05/06/2014, tại trụ sở Liên hiệp các hội Khoa học kĩ thuật Việt Nam, Hà Nội, đã diễn ra một cuộc hội thảo mang tên «Làm sao để thoát Trung?». Hội thảo do Quỹ Văn hóa Phan Chu Trinh tổ chức.
Về sự kiện này Tiến sĩ Hà Sĩ Phu trong cuộc phỏng vấn của nhà báo Trần Quang Thành đã bình luận như sau:
**************
Trần Quang Thành: Thưa Tiến sĩ Hà Sĩ Phu, mấy ngày hôm nay dư luận rất quan tâm đến một cuộc hội thảo tổ chức tại 53 Nguyễn Du Hà Nội về vấn đề làm sao để thoát Trung, riêng Tiến sĩ nghĩ thế nào về vấn đề này?
   Hà Sĩ Phu: Bây giờ thì thoát Trung trở thành ý nghĩ chung của nhiều người rồi.Thấy mình bị phụ thuộc vào Tàu nhiều quá, bọn nó đè nén mình, thậm chí sẽ là một cuộc Bắc thuộc kiểu mới. Nó đến nơi rồi, gần quá rồi, cho nên kể cả những người từ những phía khác nhau cũng gặp nhau ở chỗ “thoát Trung”!
Thế nhưng đi vào cụ thể cũng còn khác nhau rất nhiều đấy. Thứ nhất về nội dung thoát Trung là thoát những gì thì cũng dễ hiểu thôi, thoát Trung là phải thoát cả từ ngày xưa cơ, trước khi có Cộng sản mình cũng đã bị ảnh hưởng Trung Quốc rất nhiều, phong kiến ngày xưa cũng chịu ảnh hưởng Trung Quốc rất nặng chứ không phải chỉ từ chủ nghĩa cộng sản ta mới bị Trung Quốc đè nén như thế đâu. Điều đó là rất đúng. Thoát Trung là cả một vấn đề rất lớn, nó kéo dài rất nhiều thế kỷ rồi.
Nhưng thoát Trung liên quan đến thoát Cộng như thế nào thì tôi thấy trong cuộc hội thảo đó chưa được đặt ra một cách cụ thể rõ ràng, tuy cũng có người nhắc đến. Nhưng quan trọng là thế này, bây giờ muốn thoát Trung thì gặp trở ngại gì? Chính cái chủ nghĩa cộng sản, đảng cộng sản là yếu tố cản trở cái việc thoát Trung hiện nay, vì thế trước mắt không thể thoát Trung mà lại không tấn công vào cái yếu tố cộng sản được, vẫn còn thể chế cộng sản này mà muốn thoát Trung thì khó, cực kỳ khó. Ví dụ đơn giản thế này, muốn biểu tình chống Trung Quốc thôi, một việc quá nhỏ trong chuyện thoát Trung, mà cũng bị cấm. Nhân ngày kỷ niệm cuộc đàn áp Thiên An Môn, báo chí cũng muốn đưa một cái tin về sự kiện cách đây 25 năm rồi, ôn lại lịch sử Trung Quốc thôi, cũng phải rút bài xuống. Những việc nhỏ như thế cũng không làm được huống chi là một việc quá to lớn như việc thoát Trung? Tôi đồng ý thế này, thoát Trung là một vấn đề lớn kéo dài và liên quan rất nhiều, còn thoát Cộng chỉ liên quan đến một giai đoạn ngắn hơn, nhưng cái ngắn hơn này lại đang là trở ngại như cái núi Thái Sơn nó chặn cái đường thoát Trung, cho nên không thể thoát Trung mà lại không cần thoát Cộng! Tôi mới đọc bài của ông Ngô Nhân Dụng, tôi rất thích là sau khi đã giải thích nhiều ở phần trên rồi ông ấy mới kết luận rằng: vậy thời phải thanh toán chủ nghĩa cộng sản mới thoát Trung được. Tôi rất đồng ý với kết luận rất rõ ràng đó.
-       TQT: Thưa Tiến sĩ Hà Sĩ Phu,  ông đã khẳng định là “muốn thoát Trung trước hết phải thoát Cộng, vậy làm thế nào để thoát được Cộng?
-       HSP:Hiện nay đây mới là bài toán khó nhất đấy, nói thoát Trung thì rất dễ nhưng nói đến chuyện thoát Cộng thì lại rất rắc rối, ý kiến lại phân tán rất ghê. Trong cuộc hội thảo vừa rồi không phải là không có người nghĩ đến cái điều là muốn thoát Trung thì phải thoát Cộng bởi vì Cộng chính là một cái núi Thái sơn nó chặn đứng quá trình thoát Trung, không thể tiến hành cái gì hết. Nhưng mà nói hết sự thật ấy ra bây giờ là rất khó. Chuyện đấu tranh dân chủ trong nước chính là chuyện thoát Cộng đấy. Đấu tranh để giành lấy độc lập dân tộc, giành chính quyền thì đó là chống ngoại xâm, còn thoát Cộng chính là chống nội xâm. Đây là quan hệ giữa chống nội xâm và chống ngoại xâm.
Trước đây, khi Trung Quốc nó chưa thò cái nanh vuốt quá lộ liễu ra thì vấn đề dân chủ trong nước là rất khó, không biết làm thế nào, không biết phất cái lá cờ gì để tiến hành việc dân chủ trong nước được. Vì vừa thò ra cái tư tưởng phê phán Đảng, đòi thanh toán cái độc tài Đảng trị, thì bị đàn áp dễ như không. Thế nhưng bây giờ rất hay, Trung Cộng nó chơi những trò vỗ mặt mình, thế nên nhà nước này cũng không thể im tiếng như trước được nữa cho nên cũng phải đồng thuận với nhân dân lên án Trung Cộng. Thêm một lá cờ chống ngoại xâm thì cái chống nội xâm mới phát triển lên được. Cho nên cái anh Tàu nó lại giúp mình, mặc dù nó chơi đểu thế. Nó làm cho mình cũng dễ đấu tranh cho cái dân chủ. Tóm lại là thế này: quan hệ giữa thoát Cộng và thoát Trung chính là quan hệ giữa chống nội xâm và chống ngoại xâm đấy.
Thế thì làm cái gì trước và sẽ làm như thế nào? Tôi nghĩ hai cái đó nó nhịp nhàng, tức là không thể nói làm cái này xong rồi mới làm cái kia được. Tôi biết nhiều anh em ở hải ngoại cho rằng phải thanh toán xong cộng sản trong nước thì mới tính đến chuyện chống Tàu được, nhưng như vậy thì làm không nổi đâu. Vì thứ nhất không biết bao giờ mới thanh toán được cái nội xâm, nội gián, trong khi chưa chống được cái nội xâm ấy thì ngoại xâm đã tấn công ta rồi, trong nước chưa có dân chủ thì lãnh thổ Tổ quốc đã mất rồi! Thế thì không thể nói cái nào trước cái nào sau được đâu mà hai cái phải đồng thời, nhịp nhàng và  tùy theo tình hình. Nếu Trung Quốc  gây hấn thêm nữa, thì ngay cả Trường sa cũng đang bị đe dọa, lúc nào cũng có thể bên miệng hố chiến tranh. Theo ý kiến của anh Ngô Nhân Dụng cũng không cần phải lo âu quá mà cũng đừng có ảo tưởng quá. Nhưng tôi nghĩ cũng phải nhịp nhàng mà tùy theo tình hình, không thể nói dứt khoát phải thoát Cộng trước hay thoát Trung trước, hai việc đó phải làm đồng thời nhịp nhàng và tùy theo tình hình.
-       TQT: Trong cuộc chống Trung Quốc  xâm lược hiện nay nổi lên một nhân vật là ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, ông có nhiều tuyên bố mạnh mẽ về vấn đề chống Trung Quốc xâm lược. Ông nói tình hữu nghị không thể viển vông, ông còn nhắm vấn đề phải kiện Trung Quốc ra quốc tế. Nhưng cũng có một vị cách mạng lão thành là cụ Nguyễn Trọng Vĩnh nói không hiểu được lời ấy nói thật hay giả, Tiến sĩ Hà Sĩ Phu nghĩ thế nào?
   HSP: Cái này cũng không mới gì: Bác Tấn Dũng thì cũng nói nhiều điều hay rồi nhưng mà đúng là nói xong lại chưa làm được cái đó, dù rất có cảm tình với Thủ tướng thì cũng không thể bênh vực vì ông ấy nói mà không làm gì cả. Tôi nghĩ thế này, trong tình hình hiện nay cả giới lãnh đạo họ quá kém về mọi mặt, kém về dân chủ đã đành rồi mà còn kém cả vấn đề chống ngoại xâm. Họ rất là nhu nhược, rất là hèn. Thế thì ai nói ra điều gì tốt một tý ta vẫn phải túm lấy những câu đó để ta động viên đã. Tất nhiên phải phân biệt lời nói với con người. Lời nói đó hay thì ta cũng ghi nhận, động viên, rồi ta yêu cầu là nói rồi thì phải làm. Thái độ hơi cực đoan là sổ toẹt, tức là bất cứ câu nói nào hay dở cũng sổ toẹt hết. Đã đành sổ toẹt cũng có cơ sở bởi ông này nói hay nhiều quá nhưng chẳng làm gì. Có khi ông cũng nhằm giành ghế trong Đại hội Đảng sắp tới thôi. Thế nhưng cũng cứ động viên để gợi mở một khả năng khác, có khi vì đang bị cả một cái hệ thống o ép nên ông ấy cũng bó tay chưa làm được? Dù sao nói ra một lời tốt cũng hơn là hèn mạt hoặc im lặng không nói gì hết. Thế nhưng mình cũng không thể nhẹ dạ để bị lừa hết cái nọ đến cái kia. Cho nên phải nói như cụ Vĩnh (Nguyễn Trọng Vĩnh), nói thẳng cũng rất cần thiết. Cụ phê bình ông Nguyễn Tấn Dũng nói dối, phê bình luôn cả ông Phùng Quang Thanh với tư cách một ông tướng cha dạy một ông tướng con, tôi thấy những thái độ như thế là đều có ích cả.
-       TQT:Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì bảo là kiên quyết chống Trung Quốc xâm lược Việt Nam. Thế nhưng đại tướng Phùng Quang Thanh thì bảo cái việc giàn khoan chỉ là việc nhỏ thôi chứ tình hữu nghị Trung Quốc – Việt Nam vẫn rất là đẹp đẽ, vẫn là 16 chữ vàng. Vậy có phải là trống đánh xuôi kèn thổi ngược không?
-       HSP: Thì đúng quá,ở cái hội nghị Shangrila rất lạ là Thủ tướng thì coi như là quan văn nhưng vẫn nói mạnh, còn quan võ thì rất kém, phải nói là cái câu của ông Phùng Quang Thanh kém, kém nhất! Thứ nhất là muốn xem có kiện hay không lại phải chờ xem thái độ của họ thế nào đã. Thứ hai là vẫn còn ôm cái 16 chữ vàng là cái mà cả thiên hạ họ chửi hết cỡ rồi, nên thái độ ông Phùng Quang Thanh này là không chấp nhận được.
Tôi xin mở ngoặc nói thêm thế này, anh có đọc bài của ông Phạm Đình Trọng, là người đồng đội với ông Phùng Quang Thanh trước đây? Trong một trận đánh ông Phạm Đình Trọng mô tảPhùng Quang Thanh cũng là một chiến sỹ dũng cảm cho nên mới được lên chức, tức là người cũng yêu nước và dũng cảm, vốn không phải là người hèn, tôi thấy chuyện ấy rất hay. Cái hèn, cái tồi tệ của một người vốn hèn vốn tồi tệ thì thực ra không có gì đáng quan tâm. Nhưng cái hèn, cái tồi tệ của người trước đây vốn không hèn không tồi tệ mới nói lên rằng cái hèn cái tồi tệ này không phải là của cá nhân nữa mà của cả một hệ thống, đã nằm ở trong cơ chế đó thì cũng phải tồi tệ thôi. Cái tồi tệ của cơ chế đã đến mức độ làm cho những người vốn tử tế cũng không tử tế được nữa, trước đây không hèn giờ cũng không thể không hèn, chứng tỏ cái hèn mạt tồi tệ không còn là của cá nhân nữa mà nó là của cái hệ thống. Tướng Phùng Quang Thanh nếu không phải nằm trong cái hệ thống này, cái Bộ Chính trị này, chắc ông ấy cũng không đến nỗi hèn như thế.
-       TQT: Tiến sĩ Hà Sĩ Phu vừa nói vấn đề cải cách cơ chế thì thông điệp đầu năm 2014 của ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói rất mạnh vấn đề cải cách cơ chế, nhưng mà gần 6 tháng của năm 2014 đã trôi qua, Tiến sĩ thấy vấn đề cải cách cơ chế như thế nào?
-       HSP: Nghe cái vấn đề cải cách cơ chế của ổng thì cũng nhiều người bàn đấy. Có phải là cải cách cái “thể chế chính trị” không hay là cải cách thể chế một cách chung chung? Mà cải cách thể chế chính trị thật tức là phải cải cách hệ thống, là hệ thống Cộng sản, hệ thống Mác – Lê nin. Cải cách hệ thống thật sự thì phải bỏ cái chủ nghĩa Mác – Lê nin, bỏ được CS thì thành một nước dân chủ văn minh như các nước bình thường! Nhưng tôi nghĩ nói như thế thì ông Nguyễn Tấn Dũng cũng chưa thể làm được, không thể làm được, vì muốn làm được thì dũng khí cá nhân rồi phải có tổ chức, mà bao quanh Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hiện nay chả có một lực lượng nào có thể tin cậy được, hoặc cùng là một cánh tham nhũng, cũng phi dân chủ đàn áp biểu tình. Còn có một cánh không nhỏ đảng viên có tiến bộ, người ta gọi là cánh “cải lương”, cũng hy vọng vào ông ấy, nay cũng mất lòng tin với ông Dũng rồi nên không có lực lượng nào đáng tin cậy đứng đằng sau Thủ tướng cả, vậy thì cá nhân Thủ tướng dẫu có những thiện ý cũng không có cái bối cảnh để mà triển khai.
Nhưng quan trọng nhất là bên cạnh vẫn có một thằng Tàu rất to, ta công nhận là Tàu hiện nay cũng không phải là mạnh đâu, nó cũng đang có rất nhiều khó khăn nội bộ, nhưng sức mạnh của nó vẫn đủ để kiềm chế VN, bởi VN hiện nay đang nằm trong tay nó rồi mọi thứ nằm trong ống tay áo của nó rồi! Dù đồng ý rằng TRUNG QUỐC không hề mạnh như chúng ta tưởng nhưng trong tình trạng yếu nó vẫn đủ sức kiềm chế VN! Ví dụ ông Dũng đòi cải cách thể chế mà bỏ cái CNCS này đi để khỏi có tình trạng hai đảng làm việc với nhau để quyết định số phận đất nước thì Tàu nó sẽ hủy ngay cái “chỗ” (nhân vật) đó. Nếu ông Dũng muốn thành Putin, bỏ cái Trung Cộng đi mà đi với nhân dân thì mới có một Putin thật, mới thoát Trung hoàn toàn, nhưng ở VN trong những điều kiện cụ thể hiện nay thì làm sao làm được như vậy? Thế nên những câu “cải cách thể chế” của ông Dũng cũng không ra ngoài cái quy luật chung (của ông) là chỉ nói thế chứ không làm được.
-       TQT: như vậy Thủ tướng có thể thoát Trung được không để nhân dân đứng sau Thủ tướng thưa Tiến sĩ?
-       HSP: thì tôi vừa nói rồi, nếu quả thật Thủ tướng mà muốn thoát Trung thật, không có ôm ấp một cái hữu nghị viển vông, nhân dân sẽ đứng sau ông ngay. Nhưng mà ông cũng chỉ nói thế chứ làm thì không làm, ví dụ ông nói là chống Tàu thì tại sao những người biểu tình yêu nước thôi ông lại bắt, ông lại không cho biểu tình diễu hành? Hiện ông là Thủ tướng ông điều khiển chứ ai nữa, dù Tổng bí thư thì đang nắm bí thư tổng quân ủy, thì thôi ông Dũng chưa tác động được vào mạng quân đội, nhưng ông vẫn đang điều hành chính phủ…, nhưng vừa nói xong thì ông làm ngược lại, thế thì có ai tin nữa? Mặc dù chúng ta rất là rộng lòng, sẵn sàng chờ đón những thay đổi nên ai nói lời nói tốt thì ta cũng muốn động viên ngay, thế nhưng một lần bất tín vạn sự bất tin, bất quá tam thì đâu có tin được? Đến cụ Vĩnh cũng là người rất rộng lòng nhưng cũng không thể tin nổi.
-       TQT: Xin chân thành cảm ơn Tiến sỹ Hà Sĩ Phu đã có những ý kiến rất thẳng thắn và quan tâm đến tình hình đất nước.
T.Q.T. – H.S.P.

Người Việt Nam đã mất nước hay chưa?

Hoàng Mai

Theo cách hiểu thông thường, khi một quốc gia A xâm lược một quốc gia B là nhằm:
(1) Về lãnh thổ, lãnh hải: Nước A xâm chiếm lãnh thổ, nếu là láng giềng chung biên giới thì sát nhập nước B vào nước A. Với người Tàu thì họ gọi đó là “mở mang bờ cõi”, hoặc “thu hồi lãnh thổ”…
(2) Về thể chế chính trị: Nước A thiết lập nên một chế độ bù nhìn, tay sai, phụ thuộc… tại nước B, để sai khiến buộc B phải làm theo yêu cầu của A ( như được quyền khai thác nhân tài, vật lực, tài nguyên… của nước B đem về làm giàu cho nước A…).
- Hiện tại, Việt Nam đã ký hiệp ước phân định biên giới với China trên đất liền, sau khi đã nhượng bộ cho China khoảng 1.500 km2, tương đương với diện tích của tỉnh Thái Bình. Mặc dù vậy, với sự vụn vặt, như nắn chỉnh dòng sông để xói lở về phía Việt Nam, thì hàng ngày, hàng giờ, người Tàu vẫn lấn biên giới vào lãnh thổ Việt Nam. Chưa kể là khoảng 50 năm sau, một số diện tích giáp biên đã cho China thuê, có thể sẽ hoàn toàn thuộc về China.
Riêng về lãnh hải, mưu đồ của Băc Kinh là “đường lưỡi bò”, vì vậy, tùy theo từng giai đoạn thấy có lợi trong quan hệ Trung – Việt, Bắc Kinh sẽ lấn dần từng bước để khẳng định chủ quyền với mục đích cuối cùng là “đường lưỡi bò”, và hơn thế nữa.
Bản đồ sau đây mới thực sự là tham vọng cuối cùng của Bắc Kinh về lãnh thổ. Nguồn ảnh: sách Sự thật quan hệ Việt Nam & Trung Quốc trong 30 năm qua, NXB Sự thật 1979 (1).
Tham vọng về lãnh thổ của China: “Đường vẽ chấm là “biên giới” của Trung Quốc theo quan điểm bành trướng, những vùng đánh số là những lãnh thổ mà nhà cầm quyền Bắc Kinh cho là đã bị nước ngoài “chiếm mất” bao gồm: một phần lớn đất vùng Viễn Đông và Trung Á của Liên Xô (số 1, 17, 18), Át Xam (số 6), Xích Kim (số 4), Butan (số 5), Miến Điện (số 7), Nêpan (số 3), Thái Lan (số 10), Việt Nam (số 11), Lào, Campuchia…”.
- Với việc bắt giam những người yêu nước, cũng như đàn áp và cấm biểu tình chống China xâm lược trong các năm qua – một hành động mà lịch sử thế giới từ cổ đến kim, từ Đông sang Tây… chưa từng xảy ra. Điều này đủ để nói lên, thể chế chính trị hiện nay của Việt Nam là gì. Hẳn không cần phải phân tích thêm nữa.
Việt Nam hôm nay gần như đã là thuộc địa của China qua việc là nơi tiêu thụ hàng hóa của China, cung cấp cho China khoáng sản, tài nguyên với giá rẻ, 60% các mỏ khai thác khoáng sản ở miền Bắc là do người Tàu làm chủ đứng tên phía sau các công ty là doanh nghiệp Nhà nước của Việt Nam,  những vị trí trọng yếu về an ninh của đất nước bị người Tàu nắm giữ qua các công trình dự án…
Người Việt đã mất nước về tay Bắc Kinh hay chưa là theo cách nghĩ của mỗi người. Nhưng nhìn một cách tổng quát, có thể là chưa mất hết về lãnh thổ, nhưng đã trở thành một nước chư hầu, thuộc địa. Con người Việt tuy chưa bị đồng hóa, nhưng đã trở nên “mất gốc hoàn toàn” (2), theo như suy nghĩ của ông đại biểu Quốc hội và là nhà sử học Dương Trung Quốc.
*
Lịch sử Việt Nam thường nhắc đến hai nhân vật nổi cộm, tiêu biểu cho hành động bán nước của hai ông này, đó là Trần Ích Tắc (1254-1329) và Lê Chiêu Thống (1765-1793). Nhưng có thể nói: Hậu quả mà cả hai ông này để lại cho đất nước và hậu thế, còn thua xa so với những gì mà các thời kỳ lãnh đạo vừa qua để lại. Thực tiễn Việt Nam trong thế kỷ 20 đến nay chứng minh điều đó.
Trong bài viết “Thỏa thuận Thành Đô – bước lùi lịch sử thảm họa” (3), đăng trên Bauxite Việt Nam ngày 08.6.2014, tác giả Vương Trí Dũng viết:
“Lịch sử nhắc đến Nỏ thần và sơ đồ Loa thành mà Trọng Thủy có được. Lịch sử nhắc đến Hiệp ước cắt ba tỉnh miền Đông Nam kỳ cho Pháp. Lịch sử sẽ nhắc đến Thỏa thuận Thành Đô. Đó là điều chắc chắn”.
Hôm nay lịch sử đã nhắc đến “Công thư Phạm Văn Đồng”. Rồi đây, với những bằng chứng (bí mật) trong gần một thế kỷ qua về quan hệ giữa hai Đảng, hai nhà nước… chắc chắn Bắc Kinh sẽ còn đưa ra nhiều điều nữa. Đảng cộng sản Việt Nam, cho dù có muốn dấu đi cũng không thể được, vì phần chủ động thuộc về Bắc Kinh, nó phục vụ cho mưu đồ thôn tính Biển Đông của Bắc Kinh. 
Không ai trốn chạy được sự phán xét của lịch sử, khi đã đem tai họa về cho Đất Nước và hậu thế, đó là điều chắc chắn.
Việc những ai im lặng trước việc người Tàu đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974, việc để họ lần đầu tiên có mặt ở Trường Sa, và hôm nay chính họ đang là “chủ nhân ông” của Biển Đông, lịch sử đã, đang và sẽ yêu cầu trả lời, như đối với “Công thư Phạm Văn Đồng” và “Thỏa thuận Thành Đô” vậy.
Hàng đầu: Tổng bí thư Giang Trạch Dân cùng Thủ tướng Lý Bằng đứng giữa. Phía bên phải Tổng bí thư Giang Trạch Dân là Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và Cố vấn Phạm Văn Đồng (chắp tay). Phía bên trái Thủ tướng Lý Bằng là Thủ tướng Đỗ Mười, Chánh văn phòng trung ương Hồng Hà, Thứ trưởng Ngoại giao Đinh Nho Liêm. Ảnh do Tân Hoa xã đơn phương công bố, dù hai bên đã cam kết đây là cuộc họp tuyệt mật.
Không biết, đã có ai đại diện cho Đảng cộng sản Việt Nam, đến hỏi ông Đỗ Mười (hiện đang còn sống), xem ông có ân hận gì không, khi ông là người chủ chốt trong việc ký kết “Thỏa thuận Thành Đô”, để đưa Đất Nước đến thảm họa hôm nay?
Những người Việt Nam, khi đã biết về “Thỏa thuận Thành Đô”, thì họ nghĩ gì về ông Đỗ Mười?
Hẳn nhiên rằng, các ông thuộc “tứ trụ triều đình” và các vị còn lại trong Bộ Chính trị Đảng cộng sản Việt Nam, tự biết phải làm gì và đi theo con đường nào, để không chuốc lấy sự nhục nhã mà lịch sử sẽ dành cho các vị.
09.6.2014
H.M.

Thỏa thuận Thành Đô – bước lùi lịch sử thảm họa

Vương Trí Dũng

Phát triển quan hệ không thù địch, hơn thế nữa còn phải thân thiện với các nước láng giềng, là một chính sách đúng đắn của mọi nhà nước yêu chuộng hòa bình công lý. Chính sách láng giềng thân thiện lại cần được ưu tiên hơn, khi láng giềng là một cường quốc. Bởi vậy, năm 1990, các nhà lãnh đạo Việt Nam tiến hành chính sách bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc sau hơn một thập kỷ chiến tranh và xung đột biên giới là việc cần làm.
Thế nhưng cái cách mà Việt Nam tiến hành chính sách bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc thì thật không bình thường. Không chỉ như vậy, nội dung bình thường hóa quan hệ mà Việt nam cố gắng để đạt được, cụ thể hóa bằng Thỏa thuận Thành Đô (4/9/1990), là một nội dung bất lợi cho Việt Nam. Không chỉ bất lợi, mà ngày càng thêm thảm họa. Mức độ thảm họa tăng theo cấp số nhân cùng với thời gian mà chính những người tham gia đàm phán Thỏa thuận Thành Đô đã không lường trước được.
Hai mươi tư năm trôi qua kể từ ngày ký Thỏa thuận Thành Đô, hậu quả khôn lường của nó đối với Việt Nam nguy hiểm đến nỗi mà ai trong số họ còn sống, bề ngoài không dám thể hiện, hoặc cố viện dẫn hoàn cảnh để thanh minh bào chữa, nhưng trong sâu xa tâm khảm, đều cảm thấy hối tiếc.
BA SAI LẦM
1.   Sự hoảng hốt lịch sử
Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu đã làm cho một số lãnh đạo Việt Nam hoảng hốt. Lo sợ sự sụp đổ thể chế, lãnh đạo Việt Nam lúc bấy giờ đã đột ngột biến kẻ thù truyền kiếp – từng xâm lược Việt Nam năm 1979, liên tục đánh chiếm biên giới Việt Nam suốt trong thập kỷ 1980, và đã bị ghi vào Hiến pháp 1980 là kẻ thù – thành người “anh em” cùng phe xã hội chủ nghĩa. Đó là kết quả của Thỏa thuận Thành Đô ký ngày 4/9/1990 giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đại diện Việt Nam là Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười, có sự chứng kiến của Cố vấn Phạm Văn Đồng. Còn đại diện phía Trung Quốc là Tổng Bí thư Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng.
Việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc là việc cần làm. Nhưng quá hốt hoảng trước sự sụp đổ của phe xã hội chủ nghĩa, các nhà lãnh đạo Việt Nam đã vội vã ký một thỏa thuận bất lợi cho Việt Nam nhằm bảo vệ chế độ, bất lợi đến nỗi mà chính cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhiều lần biểu lộ sự băn khoăn.
2.   Ảo tưởng về chế độ
Sai lầm thứ hai là ảo tưởng về chế độ xã hội chủ nghĩa. Đáng lý ra sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và ở các nước Đông Âu phải là vấn đề lý luận nghiêm túc để các nhà lãnh đạo Việt Nam phân tích suy ngẫm. Rõ ràng chủ nghĩa xã hội đồng loạt sụp đổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu không phải do kẻ thù bên ngoài, mà do chính các nguyên nhân phát triển nội tại của mô hình chủ nghĩa xã hội. Qua thực tiễn tồn tại, không khó khăn để nhận ra rằng, mô hình chủ nghĩa xã hội chứa đựng những lỗi hệ thống mang tính nguyên tắc, quyết định sự sống còn của mô hình. Muốn sửa đổi các lỗi hệ thống đó thì phải thay đổi mô hình. Điều đó chứng tỏ các nhà lãnh đạo Việt Nam lúc bấy giờ, tuy dày dạn kinh nghiệm kháng chiến chống ngoại xâm – mà thắng lợi giành được là do lòng yêu nước nồng nàn của nhân dân quyết định – lại chưa để tâm cần thiết đến mặt nghiên cứu lý luận.
3.   Nhầm lẫn về Trung Quốc
Nhưng sai lầm đáng buồn hơn cả là nhận thức không nhất quán về Trung Quốc. Trung Quốc công khai tham vọng xâm chiếm Việt Nam. Trung Quốc gây ra cho Việt Nam những tổn thất to lớn trong Hiệp định Genève. Trung Quốc phá hoại cản trở Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ. Bất chấp bao nhiêu năm “cùng phe xã hội chủ nghĩa”, từng “anh em bè bạn”, nhưng năm 1979 Trung Quốc đã ngang ngược mang 60 vạn quân tấn công Việt Nam. Trong suốt 10 năm tiếp theo Trung Quốc liên tục tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược biên giới Việt Nam. Vô vàn cay đắng thâm thù từ Trung Quốc, làm sao mà các nhà lãnh đạo Việt Nam lúc bấy giờ, trong thời khắc sụp đổ phe xã hội chủ nghĩa, lại có thể cả tin rằng ý thức hệ xã hội chủ nghĩa là phép màu hoàn lương được dòng máu bá quyền Tần Thủy Hoàng – Mao Trạch Đông, để Việt Nam và Trung Quốc lại là “anh em”, cùng chống kẻ thù ý thức hệ?
BỐN HẬU QUẢ THẢM HỌA
I. Lệ thuộc về chính trị
Thỏa thuận Thành Đô gây ra những hậu quả thảm họa to lớn mà chính những người ký Thỏa thuận đã không ngờ tới. Từ Thỏa thuận Thành Đô, Việt Nam mỗi ngày càng lệ thuộc chính trị hơn vào Trung Quốc. Trung Quốc tiến hành một chính sách bắt Việt Nam dần phụ thuộc chính trị rất thâm hiểm, tập trung trên mấy phương diện sau.
1.   Gây ảnh hưởng về nhân sự lãnh đạo
Gây ảnh hưởng lên nhân sự lãnh đạo là nhân tố nguy hiểm số một trong chiến lược bắt Việt Nam lệ thuộc của Trung Quốc. Trung Quốc sẽ tìm mọi cách loại bỏ, vô hiệu hóa hay giảm ảnh hưởng của tất cả những ai không theo hoặc không ủng hộ Trung Quốc. Sự can thiệp vào công việc nhân sự lãnh đạo Việt Nam của Trung Quốc rất trực diện, thô bạo. Việc yêu cầu loại bỏ Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch ra khỏi Bộ Chính trị trong Hội nghị Thành Đô là một ví dụ kinh điển. Đến thời Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã không dám đưa ông Phạm Bình Minh (con trai của cố Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch) vào chức vụ Ngoại trưởng vì Trung Quốc không chấp nhận. Gần đây Lễ tang của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng bị cuộc viếng thăm của Thủ tướng Lý Khắc Cường phủ bóng tối.
2.   Gây ảnh hưởng về chính sách song phương và đối ngoại
Có được ảnh hưởng nhân sự, tổng hợp với các thế mạnh về kinh tế quốc phòng địa lý, và các mánh khóe thâm độc gian xảo, Trung Quốc gây áp lực lên các cuộc đàm phán song phương và chi phối lên quan hệ bang giao quốc tế của Việt Nam.
Việt Nam đã phải nhượng bộ cho Trung Quốc trong Hiệp định biên giới đất liền năm 1999, cũng như trong thỏa thuận phân chia đường biên giới trên biển năm 2000. Việt Nam không dám công khai ủng hộ Philippines kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế mặc dù Việt Nam được lợi từ vụ kiện này. Việt Nam không thân mật đến mức liên minh với các nước lớn bởi e dè Trung Quốc. Việt Nam tuyên bố không liên minh với ai để chống nước thứ ba thực chất là để thanh minh với Trung Quốc.
3.   Gây ảnh hưởng về kinh tế
Dùng ảnh hưởng về chính trị, dùng sức mạnh kinh tế, Trung Quốc quyết tâm giành thắng lợi trong đấu thầu các dự án kinh tế chủ chốt của Việt Nam và biến Việt Nam thành một thị trường tiêu thụ hàng hóa của Trung Quốc.
Khi đã có được ảnh hưởng kinh tế, tiến đến lũng đoạn nền kinh tế Việt Nam và gây áp lực lại về chính trị, bắt lệ thuộc về chính trị. Vòng xoay đó luân hồi kiềm tỏa Việt Nam, bắt Việt Nam không thể rời quỹ đạo xoay quanh Trung Quốc.
II. Lệ thuộc về kinh tế
Bị lệ thuộc chính trị, nền kinh tế Việt Nam bị phụ thuộc vào Trung Quốc toàn diện. Sự phụ thuộc toàn diện của nền kinh tế Việt Nam vào Trung Quốc thể hiện qua mấy điểm chủ chốt sau đây.
1. Việt Nam trở thành một thị trường tiêu thụ hàng hóa của Trung Quốc
Từ các thiết bị máy móc cho đến hàng tiêu dùng, khắp nơi đâu đâu cũng tràn ngập hàng Trung Quốc. Cay đắng hơn đến các mặt hàng nông sản đời sống thường ngày nhỏ nhặt như quả trứng, trái cam, củ tỏi… mà Việt Nam tự sản xuất được thì nay cũng bị hàng Trung Quốc lấn át.
Để biến Việt Nam thành một thị trường tiêu thụ hàng hóa mạnh hơn nữa, Trung Quốc thúc đẩy mở cửa biên giới để hàng Trung Quốc tràn vào Việt Nam, đồng thời khuyến khích cho phép buôn lậu qua biên giới những mặt hàng có lợi cho Trung Quốc. Đi xa hơn, Trung Quốc thiết lập mạng lưới đại lý phân phối hàng hóa và đưa cả người Trung Quốc sang sinh sống bán hàng tại Việt Nam.
Việt Nam thực sự đã trở thành một thị trường thuộc địa hàng hóa của Trung Quốc. Trong quan hệ buôn bán hai chiều, Việt Nam còn kém vị thế một tỉnh của Trung Quốc. Bởi lẽ một tỉnh của Trung Quốc còn bán được thiết bị máy móc cho tỉnh khác của Trung Quốc, còn Việt Nam thì chỉ thuàn túy mua, mà không bán lại được cho Trung Quốc máy móc thiết bị công nghệ.
2.   Trung Quốc thắng thầu hầu hết các dự án xương sống trụ cột của Việt Nam
Trong đấu thầu xây dựng các công trình kinh tế chủ chốt của Việt Nam, Trung Quốc là nước thắng thầu nhiều nhất. Trung Quốc tiến hành một chiến lược giản đơn với chủ trương chào thầu thấp để thắng thầu. Sau đó bằng mọi cách đội giá thầu lên, khiến cho chi phí xây dựng công trình đắt lên rất nhiều, đắt hơn cả giá chào thầu ban đầu của các đối tác khác.
Điều nguy hại hơn là, tuy giá thành rất đắt, nhưng Việt Nam lại bị phải sử dụng các thiết bị công nghệ lạc hậu, năng thuất thấp, chất lượng kém, độc hại cho con người và môi trường. Sản phẩm làm ra kém chất lượng, nhanh hư hỏng.
Tất cả các công trình mà nhà thầu Trung Quốc tham gia xây dựng, không có công trình nào có chất lượng đảm bảo như của các nước hàng đầu G7, và tai họa hơn là hiệu quả kinh tế rất thấp.
3.   Trung Quốc khai thác thu mua nhiều tài nguyên khoáng sản của Việt Nam
Với chính sách “Dùng của người, để dành của nhà” Trung Quốc đã tiến hành chính sách thu mua khai thác nguồn tài nguyên khoáng sản của các nước khi giá còn thấp, để dành tài nguyên khoáng sản của Trung Quốc cho tương lai. Trung Quốc đã tập trung vào các nước chậm phát triển ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ La tinh.
Việt Nam là nước láng giềng của Trung Quốc nên càng bị Trung Quốc tận thu hết công suất. Việt Nam không phải là nước có nhiều khoáng sản, nhưng tất cả những khoáng sản tiềm năng chủ chốt của Việt Nam đều bị Trung Quốc thâu tóm. Trung Quốc là khách hàng lớn của Việt Nam về than. Hai dự án lớn về bôxít ở Tây Nguyên cũng nhường thầu xây dựng trọn gói cho Trung Quốc, và sẽ bán nguyên liệu thô cho Trung Quốc. Dự án thép ở Vũng Áng cũng bị Trung Quốc mua lại. Riêng dầu khí ở Biển Đông, không hợp tác khai thác được,Trung Quốc trắng trợn mang giàn khoan dầu vào vùng biển Việt Nam để tự khai thác. Thâm hiểm ngang ngược đến thế là cùng.
4.   Trung Quốc đầu tư kinh doanh hầu khắp các huyện tỉnh thành Việt Nam
Công nghệ lạc hậu, ô nhiễm độc hại, chất lượng tồi, giá thành rẻ, Trung Quốc ồ ạt đầu tư khắp các huyện tỉnh thành của Việt Nam. Đi xa hơn Trung Quốc lập các công ty, cửa hàng đại lý thương mại khắp nơi nơi, tạo nên các làng phố người Hoa khắp cả nước Việt Nam. Bằng cách này Trung Quốc đã hình thành một mạng lưới kinh tế riêng của Trung Quốc trên lãnh thổ của Việt Nam, cả hàng hóa lẫn con người.
III. An ninh quốc gia bị đe dọa nghiêm trọng
Chưa bao giờ an ninh của Việt Nam bị Trung Quốc đe dọa như bậy giờ. Có thể lược nêu một số hiểm họa an ninh quốc gia sau đây.
1.   Đội quân người Hoa trên lãnh thổ Việt Nam
Trung Quốc đã rất thành công trong việc đưa người lao động đến khắp sơn cùng thủy tận của Việt Nam, lấy vợ đẻ con, lập nên nhan nhản các làng phố người Hoa. Đây là mối hiểm họa bậc nhất cho an ninh guốc gia.
2.   Mạng lưới gián điệp dày đặc
Với làng phố người Hoa khắp mọi nơi, với sự thâu tóm các công trình yết hầu kinh tế, mạng lưới gián điệp là ưu thế đặc biệt của Trung Quốc không chỉ trong chiến tranh mà trong mọi đối phó ứng xử với Việt Nam.
3.   Nguy cơ bị đánh sập nền kinh tế
Nền kinh tế Việt Nam bị phụ thuộc vào Trung Quốc. Các công trình do Trung Quốc đầu tư cũng như do Trung Quốc thắng thầu xây dựng đều tiềm ẩn những nguy cơ khôn lường. Nền kinh tế Việt Nam có nguy cơ bị tê liệt toàn bộ khi xung đột với Trung Quốc xẩy ra.
4.   Các cơ sở quốc phòng của Trung Quốc trên đất Việt Nam
Dưới danh nghĩa đầu tư, kinh doanh và nhà thầu, Trung Quốc có thể bí mật xây dựng những công trình quân sự, cài đặt những thiết bị phá hủy khắp mọi nơi trên đất Việt Nam. Các vật tư thiết bị Trung Quốc bán cho các công ty Mỹ đã từng bị Mỹ phát hiện về những chip gián điệp, thì tất cả những điều đã nêu là hoàn toàn thực tế.
Chẳng hạn, tử huyệt xung yếu như Đèo Ngang với chiều dài Đông Tây khoảng 50Km đã bị Trung Quốc án ngự bằng dự án cảng Vũng Áng trong 70 năm. Trước đây cố Tổng bí thư Lê Duẩn từng nhận định vùngThanh Nghệ Tĩnh là căn cứ địa khi Trung Quốc huy động 2 triệu quân tấn công Việt Nam từ phía Bắc. Nhưng bây giờ với cảng Vũng Áng và rừng phía Lào đã được Trung Quốc thuê lâu dài, thì việc chia cắt Việt Nam tại Đèo Ngang, nếu không đề phòng trước, đối với Trung Quốc có thể là dễ như “trở bàn tay”. Điều tương tự cũng có thể xẩy ra ở Tây Nguyên khi Trung Quốc tham gia khai thác bôxít và rừng Campuchia giáp biên giới Việt Nam đã được Trung Quốc thuê đến 99 năm.
Phải một lần nữa nhấn mạnh rằng, chưa bao giờ an ninh của Việt Nam lại mong manh đến vậy từ mối đe dọa Trung Quốc.
VI. Độc lập và toàn vẹn lãnh thổ bị xâm phạm
Bị lệ thuộc về chính trị và kinh tế thì độc lập Dân tộc bị đe dọa là điều đương nhiên. Không chỉ thế, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam đã bị xâm phạm. Thực tế cho thấy Việt Nam đã phải nhân nhượng cho Trung Quốc một phần lãnh thổ trên đất liền trong Hiệp ước biên giới Việt –Trung năm 1999. Trong Hiệp ước phân định ranh giới Vịnh Bắc Bộ năm 2000, Việt Nam cũng phải nhường lại cho Trung Quốc một phần lãnh hải so với Công ước Pháp –Thanh năm 1887.
Việc Trung Quốc đưa dàn khoan HD981 và tàu chiến vào sâu lãnh hải Việt Nam và đang xây sân bay ở đảo Gạc Ma cũng là hệ quả của Thỏa thuận Thành Đô. Dã tâm xâm lược Biển Đông của Trung Quốc là công khai ngang ngược trắng trợn. Phải khởi kiện Trung Quốc ngay ra Tòa án quốc tế, dựa vào sự ủng hộ quốc tế để vạch mặt và làm chùn bước chân xâm lược của Trung Quốc. Nếu không hành động cương quyết, lãnh hải sẽ bị Trung Quốc lấn chiếm thêm nữa.
Thỏa thuận Thành Đô, đúng như cố Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch đã nhận xét: Một thời kỳ Bắc Thuộc mới rất nguy hiểm.
NĂM BIỆN PHÁP GIẢI THOÁT
I. Từ bỏ Thỏa thuận Thành Đô
Lịch sử nhắc đến Nỏ thần và sơ đồ Loa thành mà Trọng Thủy có được. Lịch sử nhắc đến Hiệp ước cắt ba tỉnh miền Đông Nam kỳ cho Pháp. Lịch sử sẽ nhắc đến Thỏa thuận Thành Đô. Đó là điều chắc chắn.
Bởi vậy, muốn giảm bớt hậu quả tai hại của Thỏa thuận Thành Đô trước lịch sử, thì điều cần làm là từ bỏ Thỏa thuận Thành Đô. Thực ra vấn đề cứu vớt sai lầm cho những người đã ký Thỏa thuận Thành Đô chỉ là vấn đề thứ yếu. Điều quan trọng nhất chính là từ bỏ Thỏa thuận Thành Đô để cởi trói cho Dân tộc khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc. Thoát Trung là cơ hội lịch sử và là vấn đề hệ trọng nhất hiện nay, bởi nó liên quan đến độc lập của Dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc.
II. Xóa bỏ tư duy tương đồng thể chế
Hiện nay một số người Việt Nam, và ngay cả một số tướng lĩnh, vẫn cho rằng Việt Nam và Trung Quốc là cùng thể chế xã hội chủ nghĩa, cùng tương đồng ý thức hệ. Và bởi vậy Trung Quốc sẽ thân tình ưu ái với Việt Nam, Việt Nam với Trung Quốc là cùng một phe. Đây là một điều lầm tưởng vô cùng nguy hiểm.
Bản thân Trung Quốc đã tự xưng là chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc. Cái gọi là chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc hoàn toàn khác biệt với các nước khác. Chủ nghĩa Marx hay bất cứ học thuyết bất kỳ nào khác được lãnh đạo Trung Quốc vận dụng đều bị “Hán hóa” hoàn toàn. Chủ nghĩa Đại Hán là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong chính sách đối ngoại của lãnh đạo Trung Quốc, dù có được trá hình dưới bất cứ vỏ bọc nào.
Việc Việt Nam và Trung Quốc đều do độc đảng lãnh đạo không có nghĩa là Việt Nam và Trung Quốc là anh em, là cùng chung mục đích lý tưởng. Mục đích của Trung Quốc là bá chủ thế giới, bành trướng quyền lực và lãnh thổ, là chiếm được càng nhiều lãnh thổ của Việt Nam càng tốt, và bắt Việt Nam phải hoàn toàn lệ thuộc vào Trung Quốc. Mục đích này đã được Mao Trạch Đông trắng trợn công khai tuyên bố với cố Tổng bí thư Lê Duẩn, và được giới lãnh đạo Trung Quốc tiến hành không khoan nhượng ngày càng hung tợn hơn trong suốt mấy chục năm qua.
Không có tương đồng thể chế, không có tương đồng ý thức hệ, không phải cùng một phe. Việt Nam là miếng mồi của giới lãnh đạo Trung Quốc.
Lời phát biểu tại Philippines ngày 21/5/2014 của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng “Không chấp nhận đánh đổi chủ quyền lấy hữu nghị viển vông lệ thuộc nào đó” phải biến thành hành động. Một trong những hành động thực tế là xóa bỏ tư duy đồng thể chế cùng phe với Trung Quốc để thoát khỏi sự kiềm tỏa của Trung Quốc.
III. Đặt quyền lợi Dân tộc trên quyền lợi của thể chế
Ngay cả cố Tổng bí thư Lê Duẩn, người hiểu âm mưu xâm lược thâm độc của lãnh đạo Trung Quốc, buộc phải cương quyết chống lãnh đạo Trung Quốc, vẫn đã có lúc nghĩ rằng, khi chủ nghĩa xã hội thành công trên toàn thế giới, thì mối đe dọa từ Trung Quốc sẽ mất đi.
Chủ nghĩa xã hội sẽ không bao giờ thành công trên toàn thế giới. Chủ nghĩa xã hội, mặc dù trên lý thuyết chứa đựng những ý tưởng cao đẹp, nhưng trên thực tiễn tồn tại, là một mô hình què quặt không khoa học. Bởi vậy, vừa mới ra đời chưa lâu, chủ nghĩa xã hội đã bị tiến trình phát triển của xã hội loài người đào thải. Chủ nghĩa xã hội bị đào thải ngay ở nước Nga, nơi đã sinh ra mô hình chủ nghĩa xã hội, sau 74 năm. Chủ nghĩa xã hội bị đào thải ở Đông Âu sau 40 năm.
Đối với một nước, mô hình chủ nghĩa xã hội có tồn tại trong một thời gian nào đó, thì đấy chỉ là vấn đề tồn tại của một thể chế, một mô hình nhà nước. Một thể chế chỉ là một khoảng thời gian ngắn so với lịch sử phát triển của một Dân tộc. Thay đổi thể chế chỉ liên quan đến thay đổi chính sách, đường lối và quyền lợi của một bộ phận thuộc Dân tộc. Không nhóm người này lên cầm quyền thì sẽ có nhóm người khác lên nắm quyền. Nhưng tất cả họ đều thuộc một đất nước. Khi đề cập đến thể chế là nói đến vấn đề nội bộ. Còn khi nói đến độc lập Dân tộc, chủ quyền lãnh thổ là đề cập đến mối quan hệ với các nước khác. Bởi vậy không thể đặt quyền lợi của thể chế trên quyền lợi Dân tộc.
Từ đó suy ra: Bất cứ điều gì có lợi cho thể chế mà không có lợi cho Dân tộc thì dứt khoát không làm. Điều gì có lợi cho Dân tộc nhưng không có lợi cho thể chế thì cũng cứ làm.
Dân tộc trường tồn hơn thể chế. Nhắc đến Dân tộc trên bình diện quốc tế là đề cập đến vấn đề quan hệ Quốc gia. Bởi vậy, bất luận có chủ nghĩa xã hội hay không, mối đe dọa từ Trung Quốc không bao giờ triệt tiêu, chí ít là cho đến khi triệt tiêu phạm trù Dân tộc.
VI. Cách mạng thể chế
Chính Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nói đến phải Đổi mới thể chế trong thông điệp 2014. Đổi mới hoàn toàn thể chế tức là đã Cách mạng thể chế. Một thể chế mới văn minh dân chủ tiến bộ sẽ có nội dung hoàn toàn khác biệt với thể chế Trung Quốc hiện hành, và tự nó là một phép thoát Trung màu nhiệm hiệu quả nhất.
Việt Nam cần Đổi mới thể chế nhanh, vì bản thân nhân dân Trung Quốc cũng muốn Thay đổi thể chế, và dứt khoát nhân dân Trung Quốc sẽ làm được điều đó. Vấn đề chỉ ở thời gian. Việt Nam cần thoát Trung trước khi Trung “thoát Việt”.
V. Hòa nhập thế giới dân chủ văn minh
Xây dựng một nhà nước dân chủ văn minh, hòa nhập với thế giới dân chủ văn minh hiện đại là biện pháp tốt nhất để bảo đảm nền độc lập của Dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc.
Một mình một đường không giống ai, không phải là sáng tạo độc đáo, mà là tự tụt hậu yếu nghèo, tự cô lập chính mình. Mà đã nghèo khó thì sẽ bị ức hiếp phụ thuộc, sẽ mất đi độc lập Dân tộc và không có khả năng bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc.
Khăng khăng duy trì một thể chế lạc lõng để bảo toàn quyền lực, làm đất nước bị tụt hậu yếu nghèo, sẽ có tội trước Dân tộc, có lỗi với cháu con, và sẽ không tránh được sự phán xét khắc nghiệt của hậu thế.
Một nhà nước Việt Nam dân chủ văn minh sẽ cho phép xây dựng được một nước Việt Nam thực sự giàu có hùng cường – nhân tố quyết định sự thắng lợi trong nhiệm vụ bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc. Một nhà nước Việt Nam dân chủ văn minh sẽ huy động tổng hợp được sự đồng lòng nhất trí của toàn dân, tạo nên sức mạnh vô địch trước mọi kẻ thù.
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, nhưng hào kiệt đời nào cũng có, lời của Nguyễn Trãi trong Bình Ngô Đại Cáo còn sang sảng núi sông. Chắc chắn những Hào kiệt mới sẽ xuất hiện để từ bỏ Thỏa thuận Thành Đô, Cách mạnh thể chế, và đưa Đất nước hòa nhập với thế giới văn minh dân chủ hiện đại.
V. T. D.
Không phải dàn khoan. Gạc Ma mới là chuyện lớn!  Nguyễn Khắc Mai

altCả tháng nay, chúng ta tập trung vào vụ dàn khoan HD981. Dùng dư luận lên án, phản đối, dùng cảnh sát biển, kiểm ngư để ngăn cản… Trung Hoa cứ lì lợm, tăng thêm lực lượng, tăng cả thủ đoạn hành động, tăng cả đấu khẩu, bất chấp lý lẽ, mặc kệ thiên hạ chê cười. Vì sao?
Nay đang có thêm một hướng phán đoán mới, để trả lời câu hỏi vì lý do gì mà Trung Hoa đem giàn khoan vào vùng biển chủ quyền của Việt Nam. Vấn đề là Gạc Ma!
Có vẻ như “Tàu Khựa” đang dùng mẹo Tôn Tử, dương Đông kích Tây, đưa giàn khoan xuống để dư luận tập trung vào đây, còn chúng lại cấp tập, ráo riết đổ vật liệu, biến Gạc Ma thành một căn cứ, một sân bay quân sự.
Khi Gạc Ma đã trở thành một căn cứ không quân, bấy giờ mới là vấn đề. Chúng sẽ tuyên bố về một “Vùng phòng ngự không phận” trên Biển Đông, như chúng đã làm tại biển Hoa Đông. Còn Việt Nam sẽ nghẽn đường  ra Trường Sa. Bởi Gac Ma sẽ như một cứ điểm nằm ở yết hầu của con đường huyết mạch quan trọng ấy.
Từ năm 1988 sau khi Trung Hoa dùng vũ lực, tranh cướp Gạc Ma trên tay của Việt Nam, phía Việt Nam chỉ lên tiếng “bóng gió” rằng Việt Nam có đầy đủ chứng lý, Trường Sa là của Việt Nam. Tuồng như ban lãnh đạo Việt Nam âm thầm, mặc nhiên công nhận việc chiếm đóng Gạc Ma của Trung Hoa. Chưa hề có một tố cáo rành mạch, cương quyết việc chiếm đóng trái phép của phía Trung Hoa. Hơn nữa, hễ ai tưởng niệm những chiến sĩ hy sinh để bảo vệ Gạc Ma còn bị bắt bớ, cấm đoán, gây khó dễ.
Thâm độc và nguy hiểm đấy, hành động của Trung Hoa ở Gạc Ma.
Bộ Chính trị, Chính phủ, Nhà nước không thể tiếp tục lầm lỗi của mình, để phó mặc cho Trung Hoa làm gì thì làm ở Gạc Ma. Chính đây mới là chỗ để khởi kiện Trung Hoa ra Tòa án quốc tế. Hãy tập trung khởi kiện hành động dùng vũ lực quân sự để tranh chấp biển đảo với Việt Nam – một điều bị cấm trong công ước về Luật biển 1982 của Liên Hiệp Quốc. Rõ ràng đây là sự vi phạm trắng trợn về luật biển của phía Trung Hoa, một bên đã ký công ước!
Hãy ngăn cản không để cho Trung Hoa lộng hành, làm việc đã rồi ở Gạc Ma. Hãy chặn đứng hành động nham hiểm, thâm độc của Trung Hoa ở Gạc Ma.
Bỏ mặc, để Trung Hoa biến Gạc Ma thành căn cứ không quân của chúng là tội lỗi muôn đời không thể tha thứ!
Không được mắc mưu Trung Hoa đang dương Đông kích Tây!
N. K. M.

Bà Phạm Chi Lan: Việt Nam tự lệ thuộc Trung Quốc thế nào?

(Doanh nghiệp) – Tìm kiếm kênh mới, bỏ tư duy làm ăn kiểu dễ dãi và nâng giá trị, chất lượng sản phẩm mình có là cách để Việt Nam thoát Trung dễ dàng.
Chia sẻ với Đất Việt trước hàng loạt các ý kiến cho rằng nền kinh tế Việt Nam phải bước ra khỏi sự lệ thuộc đối với Trung Quốc, nhất là trong tình hình căng thẳng trên Biển Đông hiện nay, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nói thằng là: có nhiều kênh để làm ăn, tạo điều kiện để Việt Nam nâng giá chính mình.
Việt Nam tự đặt mình vào thế lệ thuộc
PV: Thưa bà, thời gian gần đây có nhiều ý kiến nhắc tới việc nền kinh tế của Việt Nam phải tìm cách để thoát khỏi sự lệ thuộc đối với Trung Quốc. Thế nhưng thời gian qua thực tế tỉ trọng vốn đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam thấp nhưng lại chiếm ở những ngành trọng điểm. Còn về xuất khẩu với các lĩnh vực Việt Nam hoàn toàn có thể chủ động nhưng vẫn bị lệ thuộc Trung Quốc (xuất khẩu gạo, nông sản…). Theo bà điều này có thể lý giải như thế nào?
Chuyên gia Phạm Chi Lan: - Tôi cũng đã nói trong một số trường hợp vừa qua chính mình đã tự đặt mình vào vị thế lệ thuộc khi mà các dự án phải dùng tổng thầu EPC đưa ra đấu thầu thì rút cục là hấu hết các dự án rơi vào tay Trung Quốc.
alt
Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan: Trong một số trường hợp vừa qua chính mình đã tự đặt mình vào vị thế lệ thuộc Trung Quốc
Tại sao vậy? Trước hết là chính quy định của mình trước đây là khi đấu thầu lại chú trọng yếu tố giá cả là số một. Do vậy khi người ta dùng xảo thuật chào với giá thấp nhưng mà không biết sẽ đảm bảo chất lượng như thế nào. Họ đã làm mù mờ các điều kiện kỹ thuật mà chỉ nhấn mạnh điều kiện về giá cả. Rồi chúng ta lao theo và quyết định đưa vào. Bằng cách đó chúng ta đã đưa tất cả những dự án này vào tay người Trung Quốc.
Bây giờ Nhà nước đã chỉnh lại. Luật đấu thầu sửa đổi trong đó tiêu chuẩn số một là phải đáp ứng về chất lượng. Cái đó quá quan trọng. Những công trình lớn hàng trăm triệu đô la thì yêu cầu số 1 phải là chất lượng chứ không phải là giá cả rẻ.
Chúng ta hãy nhìn trên thế giới, sẽ không có sản phẩm chất lượng cao mà giá rẻ đâu. Chúng ta đừng so sánh như vậy. Nếu mình đặt địa vị mình là người tiêu dùng cuối cùng thì cũng không ai đi mua hàng độc hại với giá rẻ trong khi chọn lựa ăn ít hơn nhưng dùng hàng chất lượng cao hơn.
Đối với nền kinh tế quốc gia cũng vậy. Trước đây mình có những chính sách không rõ ràng. Luật trước đây có những kẽ hở tạo điều kiện cho người dự thầu các dự án được chọn cuối cùng thì lấy tiêu chuẩn giá là số 1. Vì vậy các công ty của Trung Quốc nhiều khi thắng được các công ty của Pháp, Đức, Nhật Bản khi chọn làm tổng thầu cho Việt Nam.
Hai nữa là cơ chế giám sát. Thực sự nhà nước sau đó nhiều khi buông giám sát để cho chủ đầu tư làm là chính. Song nói thật nếu không có đủ cả trình độ lẫn đạo đức dễ bị bịt mắt nhận những sản phẩm tồi mà không biết đánh giá như thế nào.
Còn về vấn đề đạo đức cứ có một số tiền lại quả nào đó là cho qua hết cho những cái yếu, cái tồi (thậm chí vi phạm hợp đồng)… chọn cho lợi ích riêng của mình.
Phải thoát khỏi kiểu làm ăn dễ dãi
PV: Vậy theo bà vấn đề mấu chốt để thoát Trung là gì?
Chuyên gia Phạm Chi Lan: – Để thoát Trung trước hết tự bản thân mình phải xem lại mình điều chỉnh cách thức phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại của mình. Lâu nay phải nói rằng chiến lược của Việt Nam đi rất đúng đường. Chúng ta đàm phán tham gia vào WTO, gia nhập một sân chơi toàn cầu và một loạt các hiệp định với các đối tác quan trọng.
Hiện nay thì ai cũng biết Việt Nam đang đàm phán Hiệp định xuyên Thái Bình Dương (TPP) để tham gia vào khối kinh tế trong đó chỉ có 12 nước tham gia nhưng lại chiếm một lượng kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và đầu tư rất lớn. Đây là cơ hội rất lớn cho Việt Nam.
Chúng ta cũng đàm phán với Liên minh châu Âu hiệp định FTA gồm có 28 quốc gia. Hiệp định này có điều kiện tương tự như TPP nhưng cao cấp hơn, đòi hỏi chặt chẽ hơn, kể cả về cải cách thể chế nhưng tạo cơ hội cho Việt Nam nhiều mặt. Nó không đơn thuần là thị trường lớn hơn cho xuất nhập khẩu hoặc có nguồn đầu tư lớn hơn mà còn tự cải cách được mình về thể chế kinh tế, cách thức làm ăn để nâng chuẩn mình lên cùng với các nước tiên tiến trên thế giới.
Tôi nghĩ rằng có rất nhiều kênh khác nhau để Việt Nam có thể làm ăn. Vấn đề chính ở đây là tự Việt Nam phải thoát ra khỏi cách làm ăn quen kiểu dễ dãi với một đối tác dễ dãi như Trung Quốc. Bây giờ xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc khoảng 10% và nhập khẩu tới 30%. Về điều này hoàn toàn chúng ta có thể điều chỉnh được.
Nếu như xuất khẩu chúng ta có thể giảm dần việc xuất khẩu khoáng sản thô tiến tới tăng cường chế biến để xuất khẩu thì sẽ có giá trị hơn, tạo được công ăn việc làm ở trong nước.
Ngay cả đối với nông sản cũng vậy. Chúng ta kêu gọi mãi xuất khẩu nông sản có hàm lượng công nghệ cao hơn, chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm cao hơn thì chắc chắn chúng ta bán được với giá tốt hơn nhiều so với việc bán giá rẻ sang thị trường Trung Quốc.
Mặt khác nữa về thị trường xuất khẩu cũng có nhiều cái tôi cho rằng hơi cực đoan khi cứ hướng đến xuất khẩu trong khi thị trường trong nước vẫn còn rất rộng.
Ví dụ vải Bắc Giang, Hải Dương cứ lo liệu Trung Quốc năm nay có mua hay không trong khi cả thị trường miền Nam, miền Trung bao nhiêu người dân cũng có nhu cầu và có thể mua. Tại sao lại cứ lo bán sang biên giới hơn là trong nội địa.
Hay như dưa hấu miền Nam cũng vậy, chở lên biên giới để rồi người ta không mua khiến thối hỏng, trong khi dưa hấu ở Hà Nội và các tỉnh miền Bắc vẫn rất đắt. Những cái đó mình phải tự điều chỉnh thị trường nội địa.
Nhập khẩu cũng vậy. Về cơ bản chúng ta nhập khẩu rất nhiều sản phẩm trung gian, đứng về góc độ các nước đang phát triển thì đây mới là phần mang lại giá trị gia tăng cao. Nó là đầu vào cho các ngành kinh tế.
Nếu bây giờ chúng ta chuyển sang thực hiện tái cơ cấu một số ngành sản xuất, tập trung các ngành công nghiệp phụ trợ thì hoàn toàn có thể chuyển từ thế nhập khẩu thị trường bên ngoài thành những ngành sản xuất ở Việt Nam để cung ứng cho thị trường Việt Nam. Hoặc tìm kiếm nhập khẩu từ các nước khác. Các sản phẩm chúng ta đang nhập từ Trung Quốc thì Ấn Độ cũng có. Một số nước ASEAN khác cũng có cho nên không nhất thiết phải phụ thuộc Trung Quốc.
Về giá có thể sẽ đắt về ngắn hạn nhưng tôi nghĩ về trung hạn và dài hạn hoàn toàn có thể bù đắp được. Bởi vì hiện nay những cái chúng ta nhập khẩu từ Trung Quốc có những khi bị đội giá lên. Điển hình như các hợp đồng mà Trung Quốc thực hiện ở Việt Nam bị kéo dài thời gian, ban đầu bỏ thầu một nhưng trên thực tế đắt gấp hai gấp ba lần.
Rồi sự không minh bạch trong làm ăn, tham nhũng, đi đêm ở đó dẫn đến giá rẻ nhưng lại hóa cao và nền kinh tế phải trả giá mà chính những người nộp thuế đang phải gánh chịu.
Nếu chúng ta chuyển sang làm với các thị trường đàng hoàng hơn thì cắt được phần giá cao đó thì thừa đủ bù từ việc tìm kiếm nguồn công nghệ cao hơn, thiết bị đắt hơn.
Tôi nghĩ hiệu quả kinh tế thì đừng lo. Tôi trông chờ nhất ở cơ hội này để tạo cơ hội cho Việt Nam tự phát triển. Lý do là vì mấy năm vừa rồi ngành công nghiệp Việt Nam bị bế tắc, bão hòa khi các doanh nghiệp cảm thấy những sản phẩm mình vẫn làm nhưng thị trường tiêu thụ khó khăn – kể cả trong nước. Bây giờ phải đi vào những ngành mới. Đây là những ngành mà chúng ta cứ cắm cổ mua ở nước ngoài thì bây giờ là cơ hội cho các doanh nghiệp ở Việt Nam có thể phát triển ở nước mình.
Điều kiện cần là hệ thống chính sách phải có điều kiện mạnh mẽ, điều chỉnh việc phân bổ nguồn lực làm sao hướng về những ngành có khả năng tạo lợi nhuận cao. Cũng như hệ thống chính sách khuyến khích phải làm sao cắt bỏ dần những doanh nghiệp chạy theo hướng tìm kiếm đặc lợi bằng cách chuyển sang khuyến khích doanh nghiệp làm ra giá trị gia tăng cao, mang lại lợi ích cho nền kinh tế.
Nếu làm được thì chính các doanh nghiệp này sẽ tạo nên diện mạo khác cho nền kinh tế, giảm đi thế lệ thuộc vào Trung Quốc.
Xin trân trọng cảm ơn bà!
Bích Ngọc (thực hiện)


Tương lai nào cho một dân tộc dưới chính thể 

thân Tàu?
Nguyễn Trần Sâm

Trong những thế lực lớn có ảnh hưởng đến tương lai của các dân tộc trong thế giới ngày nay, Mỹ và Tàu Cộng là hai thế lực điển hình, đại diện cho hai mô hình xã hội và hai xu thế “phát triển”. Các quốc gia thân Mỹ và các quốc gia thân Tàu đi theo hai đường hướng khác nhau và có tốc độ “phát triển” cũng rất khác nhau.


Ví dụ điển hình nhất để so sánh xã hội thân Mỹ với xã hội thân Tàu là hai miền Cao Ly. Đây là hai quốc gia, phía nam được gọi là Đại Hàn Dân Quốc (Daehan Minguk), và phía bắc là Triều Tiên Dân Chủ Nhân Dân Cộng Hòa Quốc (theo đúng thứ tự như người Chosŏn đọc: Chosŏn Minjuŭi Inmin Konghwaguk). Chúng vốn là hai nửa của cùng một đất nước, bị tách ra do sự chiếm đóng của hai thế lực ngoại bang, phía bắc là quân Nga Xô rồi tiếp sau là Tàu Cộng, phía nam là quân Mỹ. Dù sau này các thế lực ngoại bang rút đi, nhưng hai chính thể đối kháng được các thế lực đó ủng hộ hoặc dung dưỡng ở hai miền đã đưa hai nửa dân tộc đi theo hai con đường hoàn toàn khác nhau. Hàn Quốc phát triển theo mô hình dân chủ đa đảng và đạt được những thành tựu vẻ vang, kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được nâng cao (bình quân thu nhập năm hiện nay là hơn 20 ngàn US$). Trong khi đó, chính quyền cộng sản ở Triều Tiên đã đẩy hơn 20 triệu nhân mạng vào một thứ địa ngục thuộc loại khủng khiếp nhất trong lịch sử loài người (con người phải nhai nuốt bất cứ thứ gì kể cả các loại cỏ dại, với hy vọng đủ sống vật vờ để làm cái công việc quan trọng nhất là ca ngợi công đức các “lãnh tụ vĩ đại” cha truyền con nối).

Việt Nam ta cũng đã từng bị chia làm hai miền bởi chính các thế lực đó, theo cách gần giống hệt Cao Ly. Chỉ khác là chính quyền phía bắc, với sự trợ giúp của Nga Xô và Tàu Cộng, đã tìm cách đánh chiếm (hay “giải phóng”) bằng được miền Nam, và đã thành công vào năm 1975. Đến khi đó thì dân hai miền có điều kiện để so sánh hai chế độ. Và phải nói rằng nếu vì một nguyên nhân nào đó mà chưa xảy ra cuộc “thống nhất” Bắc-Nam thì đến nay chắc miền Bắc cũng giống Triều Tiên của các đồng chí lãnh tụ vĩ đại họ Kim, còn miền Nam thì giống như Hàn Quốc.

Một trường hợp tương tự: Đông và Tây Đức. Phía đông bị chiếm đóng bởi một đội quân tuy không phải Tàu Cộng nhưng cũng là cộng sản (Liên Xô), phía tây bởi quân đồng minh mà chủ yếu là Mỹ. Đến đây thì sự so sánh có phần hơi khập khễnh. Với tiềm năng của một dân tộc văn minh, và do sự cai trị của Liên Xô cũng đỡ man rợ hơn của Trung Cộng, người Đông Đức đã xây dựng được một nền kinh tế và khoa học – công nghệ vượt trội hơn cả “thiên đường CS” Liên Xô. Tuy nhiên, so với Tây Đức, dân Đông Đức vẫn chỉ là dân nghèo và ít được hưởng những quyền tự do cơ bản (bây giờ, sau 25 năm thống nhất, mức sống hai miền đã khá cân bằng).

Hãy xem trong khối ASEAN. Myanmar đã từng thân Tàu, và nước này là quốc gia có mức thu nhập thấp gần nhất trong khối. Campuchia, đặc biệt thời Pol Pot, đã từng là đồ đệ của Tàu, học làm “cách mạng” theo hình mẫu “CM văn hóa vô sản” của lãnh tụ Mao. Cuộc sống ở đó ra sao thì ai cũng đã được biết. Hãy hình dung, nếu chính quyền theo Tàu của nước này vẫn tồn tại đến bây giờ thì sao? Trong khi đó, ở những nước thân Mỹ và phương Tây như Malaysia, Singapore, cuộc sống của người dân tại đó đang là niềm mơ ước của hàng triệu người Việt Nam. Thậm chí hàng vạn người Việt đang muốn nộp hàng chục triệu đồng để được sang các nước đó lao động phổ thông. Đó là một thực tế không thể bác bỏ, và không thể giải thích được bằng lý luận Marxist-Leninist.

Tất nhiên, chính quyền Mỹ không đổ tiền ra nuôi dân các nước thân Mỹ. Không những thế, trong quan hệ với các nước khác, Mỹ cũng có những toan tính riêng. Là con người, là một dân tộc, không thể ngồi trông chờ sự bố thí của một dân tộc khác. Không thể hy vọng chính phủ một nước giàu và mạnh làm hộ cách mạng dân chủ cho dân tộc mình. Tuy nhiên, chỉ riêng việc chính quyền một nước lạc hậu mở cửa đón nhận những thành tựu của văn minh phương Tây với nền pháp trị cũng đã mở ra những tiềm năng của chính dân tộc đó, làm nó phát triển theo quỹ đạo chung mà nhân loại tiến bộ đang đi.

Còn đối với các nước thân Tàu thì chỉ có một kịch bản. Với “giấc mơ Trung Hoa”, ngoài việc thôn tính dần tài nguyên, đất đai và biển đảo, chính quyền Đại Hán tìm mọi cách mua chuộc giới cầm quyền các nước này. Tiền và gái là hai chiêu mà mọi thế hệ vua chúa Trung Hoa, kể cả vua chúa “đỏ”, luôn dùng, và dùng với tay nghề bậc nhất thiên hạ. Khi đã mua được quá nửa trong số những nhân vật có thế lực nhất, những kẻ còn lại không chịu theo Tàu sẽ dần dần bị loại bằng đủ mọi cách. Những chuyến thăm “không chính thức” hay đi nghỉ tại những khách sạn kín cực kỳ xa hoa của các chính khách hàng đầu các nước theo gợi ý của Trung Nam Hải chính là để phục vụ mục đích đó. (Tất nhiên, đối với các chính khách ở các nước có những đảng đối lập mạnh thì việc mua chuộc như vậy khó khăn hơn rất nhiều so với cánh đến từ các thể chế độc đảng.)
Một khi đã mua được giới cầm quyền ở một nước, Trung Nam Hải sẽ tiếp tục nuôi dưỡng bọn này để cai trị dân tộc đó bằng bàn tay sắt. Mọi sự phản kháng đều sẽ bị đè bẹp. Những cuộc biểu tình phản đối Trung Cộng nói chung sẽ bị dập tắt. (Tuy nhiên, đôi khi chính người Tàu cũng có thể mua bọn côn đồ, yêu cầu chúng kích động biểu tình để chuyển hướng thành những cuộc bạo loạn, nhằm nhiều ý đồ khác nhau.)

Một trong những việc mà Bắc Kinh sẽ yêu cầu chính quyền thân Tàu phải làm là chống Mỹ và phương Tây nói chung. Dân và cả vua quan nước đó sẽ bị biến thành những tên lính xung kích trên “tuyến đầu chống Mỹ”, và sẽ được phỉnh nịnh như được “lịch sử chọn làm điểm tựa”. Bắc Việt, vốn cũng có quyết tâm lấy lại cả miền Nam, đã bị Tàu Cộng (và Nga Xô) lợi dụng để biến thành tên lính xung kích như vậy. Họ Kim ở Bình Nhưỡng đã được cho ăn để thực thi nhiệm vụ quấy rối Mỹ và Hàn Quốc. Mục đích cuối cùng của Tàu Cộng là tiêu diệt Hoa Kỳ, sau đó đến các cường quốc văn minh khác, đặng làm bá chủ toàn thế giới. Đó là nội dung chính của “giấc mơ Trung Hoa” mà họ Tập đã thay mặt cho các đời lãnh tụ Trung Quốc nói ra trước toàn thế giới. Và cố nhiên, tương lai dân tộc ở nước chư hầu của Trung Quốc là con đường hầm càng vào sâu càng đen tối.

Cho nên, cần thấu hiểu được cái tai họa khôn lường của việc làm chư hầu cho Tàu Cộng.

*   

Hãy nhìn lại Việt Nam ta. Trước 1986, nhà nước ta được xây dựng theo mô hình gần giống Trung Quốc của Mao, nghĩa là khá giống với Triều Tiên (tạm gọi là thái cực A). Không thị trường, đặc biệt là thị trường chứng khoán, vì nó được coi là một cái gì đó cực kỳ xấu xa tồi tệ mà chỉ chủ nghĩa tư bản ở giai đoạn “giãy chết” mới có. Quá trình “đổi mới” đã chấp nhận thị trường, kể cả thị trường chứng khoán. Dù cắm thêm cái đuôi “định hướng XHCN” thì việc chấp nhận kinh tế thị trường và tiến hành một vài cải cách nho nhỏ về chính trị và tư pháp vẫn là một bước đi rời khỏi thái cực A, hướng về phía thái cực Z, tức là mô hình các nước tư bản phát triển. Như vậy, nếu coi bước đi này là đúng thì phải thừa nhận rằng phía thái cực Z là phía văn minh, thái cực A là lạc hậu, phản động. Còn nếu không công nhận như vậy thì phải thừa nhận “đổi mới” là sai lầm, là có tội. Chỉ một bộ não chưa có hoạt động nhận thức, chưa tập tư duy, mới không rút ra được kết luận sơ đẳng như vậy.

Tuy nhiên, chút thành tựu mà dân tộc ta vừa có được sau gần 3 thập niên đổi mới ì ạch đang có nguy cơ bị xóa sổ! Vào những ngày này, mặc dù các phương tiện truyền thông đang hàng giờ nói về những hành động gây hấn của Tàu Cộng, mặc dù một vài quan chức quan trọng của chính phủ đã thể hiện thái độ kiên quyết phản đối Trung Quốc và mặc dù các chính phủ Nhật, Mỹ cũng lên tiếng về tự do hàng hải ở biển Đông, nhưng tất cả chỉ có vậy. Niềm hy vọng vào việc “thoát Hán” và những thay đổi của xã hội Việt Nam theo hướng dân chủ hóa tỏ ra có khả năng là hão huyền! Nguy cơ đó được thể hiện ở các hiện tượng sau.

Một là sự im lặng khó hiểu của hầu hết những nhân vật trong nhóm quyền lực hàng đầu (đặc biệt là những nhân vật xuất thân từ ngành tuyên huấn). Tai hại hơn nữa, những lời lẽ khẳng định việc kiên trì “tình hữu nghị” còn phát ra từ miệng người đứng đầu quân đội, lực lượng chịu trách nhiệm bảo vệ đất nước trước mọi sự đe dọa từ bên ngoài. Bài phát biểu của nhân vật này vừa qua tại Shangri-La chắc chắn phải được khá nhiều nhân vật có thế lực ủng hộ.

Hai là việc lợi dụng những sự lộn xộn trong biểu tình ở một số nơi để cấm đoán và dập tắt biểu tình chống Tàu Cộng, đe dọa đàn áp tàn bạo tất cả những người dám tự tổ chức biểu tình, và việc tiếp tục bắt bớ, hành hung những người nêu ý kiến “trái chiều” với nhà cầm quyền.

Ba là sự thất thế của một vài nhân vật quan trọng có tiếng nói mạnh mẽ lên án việc Tàu Cộng gây hấn. Lý do thất thế rất tiếc là liên quan đến những vụ tham nhũng vô độ, vượt mặt những nhân vật có vị thế cao hơn nhưng không trực tiếp quản lý ngân khố và tài sản quốc gia.

Bốn là việc cố tình trì hoãn quá trình pháp lý để khởi kiện Trung Quốc ra một tòa án quốc tế. Mặc dù nội dung và các bước đi đã được chuẩn bị xong từ lâu, nhưng những người chủ trương kiện TQ vẫn phải chờ một sự cho phép nào đó, và có vẻ như những nhân vật có quyền “cho phép” không hề muốn kiện vì sợ sứt mẻ “tình anh em” và vì nhiều lý do “tế nhị” khác nữa.

Suốt một tháng qua, mấy chục triệu con dân nước Việt đã chờ đợi một động thái dứt khoát của những người có quyền hành đối với việc gây hấn của tập đoàn Đại Hán. Thế nhưng, có vẻ như sự chờ đợi này sẽ không được đáp ứng. Có vẻ như nhà cầm quyền TQ đang nổi cơn điên vì đám người thân họ vẫn chưa trị được một vài nhân vật cứng đầu. Họ đang làm những động thái quyết liệt để ép nhóm người kia thực hiện những bước đi cuối cùng để VN hoặc quy phục TQ hoàn toàn, hoặc sẽ phải “hứng chịu sự trừng phạt” từ phía họ.

Nếu kịch bản thứ nhất xảy ra, nghĩa là nhóm quyền lực của VN không thể rời bỏ được “phương châm 16 chữ vàng”, thì một thời kỳ đen tối nhất đối với dân tộc Việt Nam đang chờ ở phía trước!

Tuy nhiên, tôi tin vào tính quy luật của tiến trình lịch sử. Vận mệnh dân tộc sẽ thay đổi, và đang có những dấu hiệu thay đổi. Những thế lực đưa đất nước vào tình trạng lệ thuộc Tàu Cộng sẽ đến lúc bị dân tộc loại bỏ. Những Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống dù có quỳ mọp dưới chân vua chúa “thiên triều” thì cũng không thể giữ được địa vị thống trị. Thậm chí, bọn họ phải sống những năm tháng cuối đời trong sự ô nhục tận cùng!

Muốn thoát khỏi sự ô nhục, chỉ có một con đường duy nhất là bỏ 
Hướng Dẫn Cách Bấm Huyệt Giúp Giảm Đau Vai Và Cổ .

giúp giảm đau nhức vai và cổ

Shoulder & Neck Acupressure Points for Relieving Stress

 Hán, quay lại với dân tộc!



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:
Cải Tạo! [27.04.2025 10:06]




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
Kiều bào phát triển quê hương [Đã đọc: 313 lần]
Tin tức thế giời mới nhât song ngữ Việt Anh để học sinh ngữ [Đã đọc: 311 lần]
Một châu Âu đứng trước ngã ba lịch sử [Đã đọc: 292 lần]
Làm Giàu Bằng Đầu Tư Chứng Khoán [Đã đọc: 291 lần]
Siêu đô thị Đà Nẵng mở rộng, siêu đầu tư địa ốc làm giàu [Đã đọc: 282 lần]
Cách mạng chiếc đòn gánh của phụ nữ VN [Đã đọc: 253 lần]
“NHỮNG NGƯỜI CUỐI CÙNG CÒN GIỮ LẠI CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN”** [Đã đọc: 240 lần]
Làm thế nào đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa từ Trung Cộng [Đã đọc: 230 lần]
Cuba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cuba nghỉ [Đã đọc: 230 lần]
Nghệ Thuật Làm Giàu Của Người Việt Hải Ngoại - “The Art of Wealth for Overseas Vietnamese”. [Đã đọc: 227 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.