Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Sáu 2026
T2T3T4T5T6T7CN
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30          
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 3
 Lượt truy cập: 29290112

 
Góc thư giãn 09.06.2026 16:01
Chính phủ Việt Nam đừng bỏ qua Cơ Hội Trở Thành Đồng Minh Chiến Lược Của Hoa Kỳ
03.06.2014 11:32

Nguyễn Cao Quyền 
May 31, 2014
02014 MAR 14 Mcdonald 300
Trung Quốc từ ngàn xưa vẫn coi Việt Nam là một vùng phiên thuộc.Tư tưởng Đại Hán đó còn tồn tại đến ngày nay mặc dầu được che đậy dưới lời dụ dỗ “16 chữ vàng” gian xảo.

 Kể từ bước quy phục Thành Đô năm 1990, Cộng Sản Việt Nam (CSVN) đã phải ngậm đắng nuốt cay vì những hành động xâm chiếm lãnh thổ và lãnh hải của Bắc Kinh bằng cả sức mạnh mềm lẫn sức mạnh cứng. Sự lựa chọn sai lầm này đã làm cho dân tộc nghi kỵ về lòng yêu nước của những người tự cho là có độc quyền lãnh đạo.

Sự lầm lỡ đó đang đưa dân tộc đến bờ vực thẳm của đại họa tự tiêu vong. Vấn đề sinh tử bây giờ là phai nhận định rằng quyền lợi của Đảng và quyền lợi của dân tộc không là những quyền lợi song hành. Cho nên vào lúc này, cứu Đảng không phải là cứu dân tộc.
Ngày xưa, Việt Nam phải dựa vào Trung Quốc để tồn tại là vì ở thế bắt buộc, không có chọn lựa nào khác. Ngày nay, thời thế đã đổi thay, dân tộc có nhiều lựa chọn. Bản năng sinh tồn chỉ ra rằng phải liên kết với kẻ mạnh. Và liên kết với kẻ mạnh giờ đây là liên kết với Hoa Kỳ và từ giã hàng ngũ Xã Hội Chủ Nghĩa tàn rụi của Bắc Kinh. Phải từ giã là vì tình nghĩa đồng minh cộng sản đã thực sự chấm dứt. Còn lại chỉ là tham vọng nấp sau chủ nghĩa bá quyền.
Đầu tháng 5/2014, Trung Quốc đã mang giàn khoan dầu HD 981 xâm phạm hải phận của Việt Nam. Giàn khoan này được 134 chiếc tầu ngụy trang thành tầu đánh cá bảo vệ không cho tàu Cảnh Sát Biển Việt Nam đến gần làm nhiện vụ. Có tin nói rằng hai tầu Cảnh Sát Biển Việt Nam đã bị tầu Trung Quốc đâm chìm.
Dọc theo biên giới phía Bắc, Trung Quốc đã tập trung khoảng 300.000 quân với 1200 xe tăng và 3000 xe bọc thép để uy hiếp. Các trang mạng và báo chí Trung Quốc đã công khai viết những lời hăm dọa cho Việt Nam một bài học thứ hai. Rõ ràng là Bấc Kinh đang chuẩn bị tư tưởng cho một cuộc xâm lăng mới vào lãnh thổ Việt Nam.
Nhửng ai quan tâm đến số phận của dân tộc, chắc không thể ngồi yên trước các biến động nói trên. Những đoạn viết sau đây xin được góp thêm một vài ý kiến để luận bàn thời sự.
Một cái nhìn vào thế giới sau Chiến Tranh Lạnh
Từ sau Chiến Tranh Lạnh, quan tâm chính yếu của Hoa Kỳ là làm sao giữ được vị thế bá chủ lâu dài trên thế giới. Tĩnh trạng này sẽ trở thành sự thật nếu Koa Kỳ có thể đóng trụ được một cách thường xuyên trên lục địa Âu-Á (Eurasia) và đặc biệt là tại vùng Đông Á. Lịch sử đã chỉ ra rằng những lực lượng khuynh đảo thế giới thường chỉ xuất hiện tại lục địa lớn nhất hoàn cầu này. Do đó, Hoa Kỳ phải tìm cách không cho một lực lượng khuynh đảo nào xuất hiện tại đây.
Để được như vậy Hoa Kỳ đã áp dụng hai sách lược. Sách lược thứ nhất là tạo thế quân bình lực lượng trường cửu giữa Tây Bán Cầu và lục địa Âu–Á, và giữa các quốc gia của lục địa Âu-Á với nhau. Sau Thế Chiến II, sách lược này đem áp dụng tại Âu Châu và Đông Á, đã mang lại kết qủa là cả hai vùng đã phát triển trong hòa bình và thịnh vượng.
Sách lược thứ hai là chia sẻ trách nhiệm quản lý những công việc chung của thế giới với Trung Quốc và Nhật Bản. Sách lược này, áp dụng từ sau khi Chiến Tranh Lạnh chấm dứt, gần đây đã gặp trở ngại vì tham vọng “lưỡi bò” tại Biển Đông của Bắc Kinh.
Biển Đông có một vị trí thiết yếu trong chiến lược an ninh của Mỹ. An ninh Biển Đông hệ trọng không chỉ đối với Đông Nam Á mà đối với cả những đồng minh của Hoa Kỳ ở vùng Bắc Á. Từ 56% đến 60% hàng hóa chuyên chở bằng đường biển mỗi năm đều đi qua vùng này, trong đó 90% là dầu lửa cho Đài Loan, Hàn Quốc và Nhật Bản.
Nếu Trung Quốc không ý thức được trách nhiệm của mình mà cứ tiếp tục đe dọa gây hấn thì tình trạng mất an ninh tại vùng biển nói trên không thể nào chấp nhận được. Do đó Hoa Kỳ quyết định phải điều chỉnh chiến lược.
Trong ý hướng này Washington chú trọng đến khối ASEAN, và trong khối ASEAN đặc biệt quan tâm đến Việt Nam. Mỹ sẽ tìm hết cách để tạo khối ASEAN thành một lực lượng có khả năng giữ vững tình trạng “quân bình” tại vùng Á Châu-Thái Bình Dương và xem Việt Nam như cửa ngõ để quay lại vùng này.
2013 Dec 26 crop 300 BBB Axis of Convenience 2
Đề nghị trở thành đồng minh chiến lược của Hoa Kỳ.
Nhìn vào khu vực Biển Đông, Washington thấy phải kết thân với Việt Nam để thực hiện chiến lược mới của Mỹ, cũng như trong dĩ vãng họ đã kết thân với Trung Quốc để cô lập Liên Xô và làm cho đế quốc này sụp đổ.
Hoa Kỳ nhận xét thấy mỗi khi Hà Nội thay đổi định hướng đối ngoại thì toàn bộ hệ thống chính trị của vùng Á Châu-Thái Bình Dương cũng thay đổi. Chẳng hạn như, sau năm 1975 khi Hà Nội thân thiện với Moscow và chống Bắc Kinh thì Liên Xô đã nhận được một số điều kiện rất thuận lợi để thực hiện ý đồ thống trị vùng đất Đông Dương. Ngày nay, việc Hà Nội quy phục Bắc Kinh trở lại, đã giúp Trung Quốc gây áp lực càng ngày càng lớn đối với toàn vùng Đông Nam Á.
Trước áp lực của Bắc Kinh, tất cả các quốc gia trong vùng hiện đang cần sự giúp đỡ của Washington, và trong số các quốc gia này Việt Nam đứng đầu sổ. Đối với Việt Nam đây là một nguyện vọng thiết tha mong muốn trở thành sự thật. Rất may là vào lúc này quyền lợi của Việt Nam và Hoa Kỳ lại là những quyền lợi song hành.
Trên đất liền, khi Hoa Kỳ đòi Thái Lan cắt đứt mọi viện trợ cho Khmer Đỏ thì Bangkok rất phẫn nộ nhưng Hà Nội lại rất bằng lòng vì như thế vấn đề an ninh biên giới phía Tây của Việt Nam được bảo đảm hơn. Trên quần đảo Trường Sa, mặc dầu sung đột bằng hải lực chưa xảy ra, nhưng nếu để Việt Nam hoàn toàn lép vế trong tranh chấp thì như thế có nghĩa là Trung Quốc không còn gặp trở ngại nào nữa trong việc kiểm soát toàn bộ Biển Đông. Cho nên qua lời nói hay bằng hành động, Hoa Kỳ nhất thiết phải yểm trợ Việt Nam.
Để Hoa Kỳ có thể làm được việc này, Hà Nội phải mở cửa đón nhận đồng minh chiến lược. Sự hiện diện của Hoa Kỳ tại Á Châu-Thái Bình Dương chắc chắn sẽ làm tăng giá trị thương thuyết song phương hoặc đa phương của Hà Nội và ASEAN với Trung Quốc. Không những thế, sự hiện diện này còn khuyến khích Nhật Bản nỗ lực nhiều hơn trong việc kiểm soát và bảo vệ những hải lộ quan trọng trong vùng.
Washington đã yêu cầu hợp tác, không còn úp mở. Đại sứ Mỹ tại Việt Nam đã công khai trao trách nhiệm và hối thúc: “Tôi nghĩ rằng trước hết Việt Nam phải tự quyết định Việt Nam muốn gì, rồi cần làm gì. Vì việc trờ thành một nước có vai trò lãnh đạo toàn cầu không chỉ đem lại lợi ích mà còn mang lại trách nhiệm cho Việt Nam. Việt Nam phải quyết định là Việt Nam có muốn cái quyền lợi đó và cái trách nhiệm đó hay không.”
Hoa kỳ biết rõ là trong giới lãnh đạo tại Hà Nội, nhiều người vẫn còn sợ Mỹ lật đổ chế độ. Cho nên Washington đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần là họ hoàn toản công nhận chính phủ Việt Nam và sẽ phản đối bất cứ lực lượng nào muốn sử dụng vũ lực lật đổ chính phủ này. Để thuyết phục Việt Nam Hoa Kỳ còn đưa ra một món qùa mà Việt Nam không thể nào từ khước.
Đề nghị cho Việt Nam vũ khí nguyên tử.
Ai cũng biết là trong Chiến Tranh Lạnh nhờ có sức răn đe của bom nguyên tử mà chiến tranh nóng đã không xảy ra. Điển hình nhất là vụ phong tỏa Cuba của Hoa Kỳ năm 1962 buộc Liên Xô phải tháo gỡ những hỏa tiễn mang đầu đạn hạt nhân. Năm 1973 tại Trung Đông, chiến tranh giữa Do thái và Ai Cập cũng sớm kết thúc khi Ai Cập biết là Do Thái có bom nguyên tử nhưng chưa công bố. Vụ tranh chấp vùng Kashmir giữa Ấn Độ và Pakistan cũng không nổ lớn vì cả hai bên đều có vũ khí hạt nhân.
Điều mà ít người biết là gần đây sức răn đe của bom nguyên tử đã bị Trung Quốc dùng làm lợi khí hăm dọa (blackmail) Hoa Kỳ. Một blogger Trung Hoa tên Yang Heng Jun đã bỗng nhiên nổi tìếng vì bài viết “Tại sao Trung Quốc lại cần Bắc Triều Tiên”.
Yang Heng Jun tiết lộ rằng Trung Quốc đã phải chịu tốn kém nuôi dưỡng Bắc Triều Tiên trong một thời gian dài chỉ vì sợ phản ứng bất trắc của tên chủ tịch nửa điên nửa khùng Kim Chính Nhật với mấy trái bom nguyên tử của hắn. Mỗi lần Kim Chính Nhật nổi cơn điên hăm dọa cho Nam Hàn và Nhật Bản nếm bom nguyên tử thì một trăm ngàn quân Hoa Kỳ trú đóng tại các vùng lân cận lại hốt hoảng chuẩn bị tác chiến và mất ăn mất ngủ. Và mỗi lần như thế Bắc Kinh lại được Washington ve vãn để nhờ khuyên can Bình Nhưỡng đừng làm bậy. Lâu dần, trò chơi này đối với Trung Quốc trở thành thú vị vì nhờ nó mà Trung Quốc tạo được thêm nhiều uy tín trên bàn cờ chính trị thế giới. Cho nên Trung Quốc tiếp tục giữ nó làm lợi khí blackmail đối với Hoa Kỳ.
Bắc Kinh cũng chú ý đến một số cử chỉ và lời nói của Tổng Thống Mỹ Obama. Từ ngày lên nắm chính quyền, đi đâu Obama cũng cúi rạp người để chào các vị nguyên thủ quốc gia khác, một cử chỉ được đánh giá như đã phương hại đến danh dự của Hoa Kỳ trên vị thế bá chủ hoàn cầu. Đi đâu ông cũng xin lỗi về những cuộc chiến mà Hoa Kỳ đã tiến hành trong dĩ vãng và phủ nhận danh hiệu “đại cường quốc” của quốc gia ông.
Những biểu hiện nói trên cộng với tình trạng sa lầy trong chiến tranh Irak và món nợ mấy trăm tỷ Mỹ kim vì kinh tế suy thoái đã làm Bắc Kinh tin rằng Hoa Kỳ đang rất sợ chiến tranh. Đệ Thất Hạm Đội hùng mạnh thật nhưng hùng khí dân tộc không có trong lúc này. Vì thế Bắc Kinh đã triển khai một chiến lược thăm dò trên Biển Đông để đo lường phản ứng của Hoa Kỳ.
Một mặt, Bắc Kinh dùng Kim Chính Nhật dọa nạt khiến Hoa Kỳ và đồng minh hoảng sợ. Mặt khác, Bắc Kinh ngụy trang tàu chiến thành tàu buôn uy hiếp ngư dân Việt Nam, dùng các hạm đội mới thành lập đánh đắm các tàu nhỏ hơn của Phi Luật Tân, Mã Lai Á và Nam Dương, quấy nhiễu những tầu không vũ trang của Mỹ trên vùng biển quốc tế. Trước phản ứng yếu ớt của Washington, Bắc Kinh liền cho công bố bàn đồ “lưỡi bò” và chính thức tuyên bố Biển Đông là vùng “quyền lợi cốt lõi” của Trung Quốc.
Trước những hành động khiêu khích đó, Ngũ Giác Đài được lệnh nghiên cứu khả năng chiến tranh của Trung Quốc. Sau một năm nghiên cứu, báo cáo cho biết rằng, không lực Hoa Kỳ tại các căn cứ Guam và Okinawa vượt trội quá xa không lực của cả ba nước Nga, Trung Quốc và Bắc Triều Tiên gộp lại. Các không lực chậm tiến này hiện nay chưa có loại Radar B2 và các chiến đấu cơ tàng hình F15, F18 và F 22. Họ cũng không có những vũ khí dùng sức mạnh của các tia Laser và Microwave nhanh như ánh sáng để tiêu diệt trong nháy mắt hỏa tiễn của đối phương. Kết luận của báo cáo là: “Trung Quốc chưa thể tiến hành chiến tranh với Hoa kỳ”.
Căn cứ vào báo cáo nói trên, ngày 23/7/2010, ngoại trưởng Hillary Clinton đã đi Hà Nội phó hội và tại diễn đàn ARF những lời tuyên bố của bà đã mang lại niềm tin cho toàn khối ASEAN. Riêng đối với Việt Nam bà đã tặng một món qùa qúy giá mà những người cộng sản Việt Nam khó lòng từ khước: sự chuyển giao kỹ thuật nguyên tử.
Sự chuyển giao này đã được tướng cộng sản Nguyễn Chí Vịnh nhanh chóng ký kết với nhà ngoại giao Robert Scher của Mỹ vào ngày 3/8/2010. Thỏa ước được báo Wall Street công bố cho toàn thế giới biết không chậm trễ.
Đòn ngoại giao nói trên được coi như nòng cốt trong chiến sách “quân bình lực lượng” của Hoa Kỳ tại vùng Á Châu-Thái Bình Dương. Phải nhìn nhận là Hoa Kỳ đã đánh một đòn vô cùng ngoạn mục vì đối với Việt Nam thì chỉ bằng cách này Việt Nam mới có bình đẳng và hòa bình với Trung Quốc. Chỉ trở thành đồng minh chiến lược của Hoa Kỳ Việt Nam mới có khả năng tự vệ trước kẻ thù truyền kiếp từ phương Bắc. Đó là sự thật không thể chối cãi.
Những cơ hội liên kết với kẻ mạnh bị bỏ lỡ
Nếu Hồ Chí Minh không phải là cấp thừa hành ăn lương của Quốc Tễ Cộng Sản thì Việt Nam đã tránh được biết bao cảnh cốt nhục tương tàn gây nên hận thù truyền kiếp trong lòng dân tộc. Riêng Hồ đã bỏ lỡ hai cơ hội có thể tránh cho dân tộc những thảm cảnh chết chóc đau thương kéo dài nhiều thập kỷ.
Cơ hội thứ nhất xảy ra vào giai đoạn kết thúc Thế Chiến II. Vào dịp này, những người Mỹ OSS (Office Of Strategic Services) sang giúp Việt Minh đã đề nghị bỏ cở đỏ sao vàng nhưng bị Hồ Chí Minh từ chối. Nếu Hồ chấp thuận thì một Ủy Ban Uỷ Trị LHQ đã tạm thời quản lỹ đất nước giúp Việt Nam trở thành một quốc gia dân chủ và Pháp không có cơ hội quay trở lại Đông Dương.
Cơ hội thứ hai xảy ra vào năm 1956 nhân dịp Đại Hội 20 Đảng Cộng Sản Liên Xô họp vào tháng 2 năm đó. Thời gian này, Khruschev đưa ra chính sách “sống chung hòa bình” và đề nghị cả hai miền Nam Bắc Việt Nam cùng vào Liên Hiệp Quốc. Hồ Chí Minh một lần nữa lại cự tuyệt. Nếu không có sự cự tuyệt này thì cả hai miền Nam Bắc đã có cơ hội thi đua phát triển trong hòa bình để đi đến thống nhất.
Một cơ hội thứ ba lại xuất hiện sau khi Hồ qua đời vào năm 1969. Lần này thì cơ hội đã bị các người kế nghiệp bảo thủ của Hồ bỏ lỡ. Vào những tháng cuối năm 1989 khi “làn sóng dân chủ thứ ba” tàn phá các nước Đông Âu thì tại Việt Nam nhóm bảo thủ đứng đầu là Nguyễn Văn Linh cho đó là một hiện tượng tạm thời nên chủ trương hàn gắn lại tình đoàn kết đối với Trung Quốc để cứu sinh mạng của Đảng. Họ quay sang quy phục Trung Quốc ở Thành Đô năm 1990. Với bước quy phục này Đảng CSVN đã tự nguyện đem thân làm chư hầu cho Bắc Kinh như chúng ta đã thấy.
Giờ đây một cơ hội mới lại mở ra và Hoa Kỳ đã đề nghị chia sẻ trách nhiệm chiến lược với Việt Nam như trên đã trình bày. Dân tộc không muốn bỏ lỡ chuyến tầu lịch sử lần này. Trung Cộng đang dàn thế trận ở biên giới phía Bấc và đã công bố kế hoạch thôn tính nước ta trong một tháng. Đảng cần nhanh chóng lột xác để đồng hành với toàn dân hầu tạo sức mạnh vô địch như bao lần lịch sử đã chứng minh. Dân tộc đã trưởng thành và đang khao khát tự do, sẽ không chấp nhận để Đảng lừa dối thêm lần nữa. 
Nguyễn Cao Quyền
Tháng 5 năm 2014

Di Sản Tư Tưởng Chính Trị Hy Lạp-La Mã — “Phép Lạ Hy Lạp”: Bài Học Của Di Sản Tư Tưởng Chính Trị Hy Lạp Cho Người Việt Nam

2013 0CT 16 CROP 300 LOGO COQUILLAGE
Lịch Sử Tư Tưởng Chính Trị Thế Giới — Di Sản Tư Tưởng Chính Trị Hy Lạp-La Mã — “Phép Lạ Hy Lạp”: Bài Học Của Di Sản Tư Tưởng Chính Trị Hy Lạp Cho Người Việt Nam 
Thế kỷ thứ V trước CN, người ta hân hoan chào đón sự ra đời của Khổng Tử ở Trung Hoa, của Phật Thích Ca Mâu Ni ở Nepal, một nước láng giềng của Ấn Độ. Nhưng ở bán đảo Grecia, vùng có hai Biển Địa Trung Hải và Egée, người ta ngây ngất với cái gọi là “Phép lạ Hy Lạp” đã hiện ra ở vùng này từ mấy thế kỷ trước.
Phép lạ ấy đã được bàn tới trong nhiều bài trước trong mục này, sẽ còn được sơ lược nhắc lại dưới đây, nhưng dưới góc độ một đóng góp cho người Việt Nam về kinh nghiệm tìm hiểu tư tưởng, kinh nghiệm chính trị.
Có thể nói tư tưởng chính trị Hy Lạp là một nguồn tư tưởng đã chói lọi từ thời Việt Nam còn mang tên gọi Hồng Bàng. Nhưng dường như cho đến nhiều ngàn năm sau, nguồn tư tưởng ấy vẫn còn xa lạ với người Việt Nam. Hay, nói một cách chính xác hơn, người Việt Nam chỉ có được những tiếp xúc trực tiếp, không phải với chính nó, mà với phó sản của nó là tư tưởng chính trị La Mã. Và, nếu cho rằng Việt Nam hiện nay đang thai nghén một hệ thống tư tưởng chính trị mới, mở đường vượt thoát khỏi cơn khủng hoảng toàn diện đang dẫn tới sự tan rã của cả một xã hội gần một trăm triệu người, thì “Phép lạ Hy Lạp” nên là một trong những ngọn đuốc chỉ đạo.
Những khuôn mặt hiền triết biểu tượng của “Phép lạ Hy Lạp”
Dưới mắt những người viết lịch sử triết học thì triết học phương Tây đã khởi đi từ thời thượng cổ ở Hy Lạp. Trí óc con người, bước đầu, đã dựa vào thần thánh, vào huyền nhiệm, để biết được những điều nó không biết hay chưa biết. Rồi dần dần, con người cảm thấy muốn thoát ra khỏi uy thế, ảnh hưởng của thần thánh, của huyền nhiệm. Nó muốn tự mình đặt lại các vấn đề của đời sống con người, dưới ánh sáng của lý trí, sáng tạo ra những suy nghĩ, sắp xếp thành hệ thống, về ý nghĩa của sự sống này, của con đường sống - đạo lý - cũng như về cách tổ chức cuộc sống chung, tức là về chính trị.
Lớp người có tài trí để làm công việc trên được gọi là “hiền triết”, người ưa thích tìm đến sự hiểu biết  (philia, sophiaái trí). Về điểm này, tưởng cũng nên nhấn mạnh trên ý kiến của Karl Jasper, một triết gia nổi tiếng người Đức, có ý nói rằng triết lý là lên đường, là đi trên đường, chú trọng đặt câu hỏi hơn là giải đáp.
Hậu thế, khi nhìn lại công trình suy nghĩ của các nhà hiền triết Hy Lạp từ thời thượng cổ , đã chia họ thành hai loại: những nhà hiền triết “trước Socrate” (présocratique) và những nhà hiền triết cùng thời và sau Socrate.
Cách chia loại này cho thấy ngay vị thế rất cao – nếu không nói là cao nhất – của Socrate. Phần dưới sẽ nói rõ, vì sao.
Câu hỏi cần được trả lời ngay là những nhà hiền triết gọi là trước Socrate là những ai, đặc điểm của họ ra sao, ảnh hưởng của họ đối với triết học từ thời Socrate như thế nào? Trong tình trạng thiếu sử liệu, bằng tác phẩm của chính những nhà hiền triết đó, người ta chỉ dựa được vào một số thông tin không đầy đủ, thường là qua thi ca, để nhận diện họ. Nói chung, họ đa số là những người chú trọng tìm hiểu về thiên nhiên, nhưng đồng thời họ cũng tiếp thu những kiến thức về toán học, địa dư, thiên văn học v.v…đến từ các vùng Tiểu Á, Cận Đông, rồi đem truyền bá cho người Hy Lạp. Một số danh tính đã được ghi lại như Pythagore (thiên văn học), Thalès(nước là nguồn của vạn vật, của sự sống), AnaximandreAnaximène (không khí là nguồn gốc của vạn vật),Héraclite (thần học, chiến tranh, lửa là đầu mối của mọi thứ, vạn vật biến chuyển không ngừng), Anaxagore(chỉ có cá nhân là đáng kể : trời đất là tổ quốc), Parménide, Zénon (biện chứng), Démocrite (phái hạt nhân, atomiste, xu hướng duy vật) v.v…
Bên cạnh những nhà hiền triết chuyên về thiên nhiên này, còn có những triết gia thuộc phái Hùng Biện(Sophiste, còn có tên gọi tiếng Việt khác nữa, phái Ngụy Biện) là những người coi việc bàn luận về những chuyện thiên văn địa lý cao xa là viển vông, vô ích. Họ chỉ chú trọng tìm cách giải quyết những vấn đề cụ thể xẩy ra trong đời sống hàng ngày trong Thành Quốc, giữa các Thành Quốc. Đối với họ, lời nói trong xã hội đáng kể hơn là tư tưởng phiêu diêu trong cõi trừu tượng. Do đó, họ cho rằng phải có thái độ xử thế thích hợp như “thận trọng” (không thái quá), “vừa phải” (biết mình, biết ta, biết ngưng khi cần ngưng), “thích thời” (biết nắm thời cơ) v.v…Tóm lại, phải có một triết lý sống thưc tiễn để chung sống với mọi người  trong Thành Quốc. Hai khuôn mặt chính của phái Hùng Biện là Protagoras và Gorgias.Và phái Hùng Biện đã làm cho Nhã Điển (Athènes) được tiếng là Thành Quốc của lý trí. Họ tự đặt cho mình biệt hiệu SophisteHùng Biện vì họ tự coi là những nhà trí thức mới, những người có hiểu biết, có lý luận về đủ mọi vấn đề. Hơn nữa, lấy triết học lám nghề sinh sống, họ mở ra những lớp giảng dạy, phải trả học phí về triết lý sống thực tiễn, bước đầu của tự do tư tưởng. Trong cuộc sống, có đúng, có sai, không ai ngăn cấm ai nói điều đúng, điều sai.Vì đúng là đúng mà sai là sai. Chắc bởi lý luận như vậy cho nên sự hùng biện này đã bị chỉ trích là ngụy biện.
Nhìn chung, những nhà hiền triết “trước Socrate” đã tạo ra cho Hy Lạp, hơn hai mươi lăm thế kỷ trước đây, một nếp sinh hoạt triết lý phong phú, có bề rộng, bề sâu, từ đó đã được đề ra một số nguyên tắc cơ bản về thiên nhiên, về cuộc sống của con người trong xã hội. Nhưng triết lý, như K.Jasper đã nói, trước hết là nêu lên những nghi vấn-thuật ngữ triết học gọi là cuộc tra vấn (questionnement) để đi tới những khám phá về sự thật. Những nhà hiền triết “trước Socrate” đã tạo ra cho Socrate và học trò của ông, như XenophonPlatonv.v…một đà tiến bộ mở đường cho văn minh của nhân loại. Socrate đã được coi là một dấu mốc quan trọng của hành trình văn minh này. Vì ông có một phong cách đặc biệt trong tư tưởng cũng như trong cuộc sống ngoài xã hội, vào thời điểm thế kỷ thứ V trước CN, xã hội này là Thành Quốc Nhã Điển. Phong cách của nhà hiền triết Socrate, như Ciceron nhận định, đã mang triết học từ trên trời xuống trái đất. Cũng là điều dễ hiểu khi người ta thấy Socrate và các học trò trực tiếp hay gián tiếp của ông, Platon và Aristote, được tôn vinh như ông, là biểu tượng của “Phép lạ Hy Lạp”.
Socrate và thông điệp “Hãy biết tự giác”
Có thể nói, tuy Socrate không có tác phẩm viết nhưng, qua các học trò của mình,  ông đã để lại cho hậu thế rất nhiều thông điệp. Và tất cả các thông điệp của Socrate có thể gói ghém trong một câu rất ngắn “Hãy tự giác” (Connais-toi toi-même). Hãy tự biết mình. Câu nói có vẻ rất đơn giản. Nhưng phải biết mình là biết những gì? Người ta sẽ không khỏi ngạc nhiên khi được giải nghĩa rằng, trong tất cả những cuộc đối thoại của ông với mọi người (ông dã đối thoại với rất nhiều người, trong nhiều trường hợp, kể cả ở trong đời thường) ông chỉ muốn biết có một điều là người ông đối thoại có biết gì về chính mình hay không. Những dịp này,ông thường khám phá ra rằng nhưng người ông đối thoại cứ tưởng là họ biết rõ về chính họ, tuy họ chẳng biết gì. Mặc dù vậy, họ lại – có thể là vì mê mờ – không biết là “thực sự họ không biết gì về chính họ cả”. Ngược lại, Socrate biết rõ Socrate không biết gì về chính mình cho nên Socrate phải tìm hiểu, phải nêu lên nghi vấn về mọi chuyện. Tức là, có vẻ nói như diễu cợt, “điều phải tìm biết là điều không biết gì”. Có thể là cách đối thoại này thoạt đầu dường như để nói những lời nhạo báng người đối thoại ngu dốt hay để khiêu khích người ấy. Nhưng về sau, nghĩ lại, người đối thoại với Socrate mới thấy Socrate có lý và ngay thẳng. Biết rằng mình không biết gì, Socrate muốn thành thật với chính mình đồng thời cũng muốn người đối thoại với mình dám nhìn nhận sự thật ấy.
Hậu quả của phong cách sống khác thường này của Socrate – điều mà chính Socrate cũng không ngờ – là một vụ án sẽ được mở ra để xét xử phạm nhân Socrate mà phán quyết sẽ là tử hình. Thái độ của Socrate – không nhận tội mà cũng không chối tội – bình thản thụ hình có thể giải thích như là một lối ứng xử phản ảnh triết lý sống “Hãy tự giác” của Socrate.
Tuy cuộc đời của Socrate đã phải kết liễu một cách bất ngờ và bất thường, nó đã để lại cho lịch sử triết học Hy Lạp  một khuôn mặt “quốc phụ”mở đường cho cổ đại bước qua tân đại. Đồng thời, Socrate cũng đã giúp cho Hy Lạp thử nghiệm mô hình “xã hôi mớ” (société ouverte), nói theo ngôn ngữ của Karl Popper.
altalt
Platon và Aristote: những người nối nghiệp Socrate
Platon và Aristote đều là những người nối nghiệp Socrate, nhưng mỗi người một cách. Platon trực tiếp theo học Socrate trong khi Aristote chỉ thực hiện những chủ trương của Soctrate thông qua học trò của Socrate là Platon. Vì Aristote ra đời sau khi Socrate đã lìa đời. Ngoài ra, cũng nên biết rằng Aristote là học trò, trước khi trở thành đồng nghiệp của Platon. Dù vậy, Aristote vẫn có nhiều điểm bất đồng ý kiến với Platon. Cho nên, Platon và Aristote đã không theo một đường lối hoạt động chung.
Nếu mục tiêu mà cả Platon lẫn Aristote đều theo đuổi là “Chí Thiện” cho con người, cho Thành Quốc thì mỗi người lại hiểu điều Chí Thiện đó theo một cach khác nhau. Đối với Platon, Chí Thiện là sự thể hiện cho con người và cho xã hội Ý Niệm Thiện tuyệt đối ở ngoài con người, trong thế giới siêu hình, nơi con người đã thăng hoa. Còn dưới nhãn quan của Aristote thì Chí Thiện phải hàm hữu nơi chính con người, ở ngay trong xã hội. Tức là Platon và Aristote đã đi từ hai ngả đường khác nhau để tiến về mục đích chung trong từ ngữ là Chí Thiện. Cả hai cuộc hành trình này đều đòi hỏi những kiến thức về hai thế giới hình nhi thượng, hình nhi hạ, những kiến thức triết lý, khoa học, họp thành một lý tưởng chính trị mà Socrate cổ võ. Sự dị biệt này đã mang lại cho “Phép lạ Hy Lạp” những nét đặc thù làm chất liệu xây dựng văn minh nhân loại trải qua các thời đại.
Bài học của di sản tư tưởng chính trị Hy Lạp cho người Việt Nam
Thời điểm xuất hiện của “Phép lạ Hy Lạp” là vào thế kỷ thứ V trước CN, tức là cuối thời Hồng Bàng ở Việt Nam. Chúng ta vẫn tự hào rẳng nước mình từng có trên bốn ngàn năm văn hiến. Di sản tinh thần mà người Việt thời xưa đã để lại cho con cháu, nếu đem so sánh với di sản tinh thần Hy Lạp, thì không thể không nhìn nhận rằng di sản Hồng Bàng rất “thanh bach”. Những huyền thoại ngọai sử, những văn liệu minh sử, đã không nói gì nhiều để giúp cho con cháu người Việt thời xưa, trong cuộc sống hiện nay, nhận diện được nếp sống của ông cha thời cổ. Có nên nêu lên một giả thuyết theo đó, trong hiện trạng, các ngành nhân loại học, khảo cổ học, dân tộc học, sử học của chúng ta vẫn còn đang dậm chân tại điểm khởi hành. Vì thế cho nên câu kết luận tạm thồi phải rút ra là, hoặc người xưa đã chẳng có gì nhiều để lại cho con cháu, hoặc có mà con cháu chẳng biết đường nào mà kiểm kê…
alt
Nếu mình đã thiếu hụt thì tại sao không học của người? Thiết tưởng không có bài học nào qúy báu hơn “Phép lạ Hy Lạp”. Người Việt Nam hãy bắt đầu học bài học đó bằng tiết mục mở lòng mà người dạy không là ai khác hơn Socrate. :”Hãy biết mình”. Hãy tự hỏi mình xem mình đã biết được gì về chính mình. Và mình có tưởng lầm về những gì mình cho là biết về chính mình hay không? Nếu không thấy rõ được điều sai lầm thì làm sao kiếm được đường sửa sai cho đúng?
Người Hy Lạp thời cổ, vào thời điểm những thế kỷ thứ IV, thứ V trước CN, đã vượt qua biên cương của cổ đại để bước qua tân đại như thế nào? Cuộc chia tay của họ với thần quyền, với huyền thoại đã được triển khai ra sao? Kinh nhiệm Hy Lạp có giá trị vượt thời gian,vượt không gian. Di sản tư tưởng Hy Lạp là một trong những nguồn gốc của văn minh phương Tây. đã đóng góp một cách đáng kể cho con người, cho các xã hội ở phương Tây tư đầu CN tới nay.
Người Viềt Nam hiện nay đang ở vào đoạn đường nào trên con đường tiến hóa mà người Hy Lạp đã trải qua? Và người Việt Nam thực sự có muốn lên đường, rời bỏ những chặng đường của “lạc hậu” để di chuyển tới những chặng đường của “văn minh” không? Nếu kết quả của cuộc tự tra vấn của người Việt Nam cho thấy hiển lộ nguyện vọng, ý chí muốn đi chuyến đi lịch sử như người Hy Lạp đã đi cách đây trên hai mươi lăm thế kỷ, thì “Phép lạ Hy Lạp” sẽ cung cấp yếu tố để thiết lập lộ trình, lộ đồ…
Dĩ nhiên, học bài học di sản tư tưởng Hy Lạp sẽ không phải là nhắm mắt rập khuôn Hy Lạp, bắt chước làm giống như người Hy Lạp đã làm cách đây hơn hai nghìn năm trăm năm. Thời thế, con người, xã hội đã thay đổi. Mô hình Thành Quốc đã bị thay thế bằng những mô hình quốc gia, liên bang. Nhưng những khái niệm về chính quyền, về công dân, về tự do, về công lý, về bình đẳng, về pháp luật, về tuyển cử v.v…mà Phép Lạ Hy Lạp đã sáng chế ra thời xưa, ngày nay vẫn còn giũ được thời gian tính, ít nữa là về hình thức. Tất nhiên về mặt nội dung đã phải có những sáng tạo mới, để giải quyết những nhu cầu mới. Lịch sử cho thấy khả năng thâu hóa của người Việt Nam rất cao. Nhưng để thâu hóa cần phải biết mình biết người. Học bài học “Phép lạ Hy Lạp” sẽ không phải là việc chuyển dịch máy móc tư tưởng, kỹ thuật, kinh nghiệm Hy Lạp từ cuộc sống những thế kỷ thứ IV, thứ V trước CN sang cuộc sống những năm 2000. Mà sẽ là việc thực hiện cái gọi là giao lưu văn hóa.
Trong mọi trường hợp, chưa biết người Việt Nam những năm đầu thập niên 2000 sẽ tiếp thu ra sao bài học “Phép lạ Hy Lạp”. Nhưng chắc chắn là người Việt Nam sẽ phải đặc biệt quan tâm về hai vấn đề rất cơ bản. Đó là, một mặt, phải biết pha chế như thế nào bài học Hy Lạp để sáng chế ra một học thuật chính trị mới, mau chóng hoàn thành tốt đẹp việc xây dựng một nước Việt Nam mới, độc lập, đích thực tự do, văn minh, tiến bộ.  Mặt khác, phải ngăn giữ được không để xảy ra chia rẽ, nghi kị trong nội bộ dân tộc, tránh làm tiêu trầm cả một nền văn minh sáng chói chỉ vì gập đại họa của cuộc bá chiến giữa hai Thành Quốc Athènes và Sparte, như ở Hy Lạp thời cổ.
Trần Thanh Hiệp, LS




 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
Kiều bào phát triển quê hương [Đã đọc: 313 lần]
Tin tức thế giời mới nhât song ngữ Việt Anh để học sinh ngữ [Đã đọc: 311 lần]
Một châu Âu đứng trước ngã ba lịch sử [Đã đọc: 292 lần]
Làm Giàu Bằng Đầu Tư Chứng Khoán [Đã đọc: 291 lần]
Siêu đô thị Đà Nẵng mở rộng, siêu đầu tư địa ốc làm giàu [Đã đọc: 281 lần]
Cách mạng chiếc đòn gánh của phụ nữ VN [Đã đọc: 252 lần]
“NHỮNG NGƯỜI CUỐI CÙNG CÒN GIỮ LẠI CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN”** [Đã đọc: 239 lần]
Làm thế nào đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa từ Trung Cộng [Đã đọc: 229 lần]
Cuba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cuba nghỉ [Đã đọc: 228 lần]
Nghệ Thuật Làm Giàu Của Người Việt Hải Ngoại - “The Art of Wealth for Overseas Vietnamese”. [Đã đọc: 226 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.