Tháng kiện TQ bằng cách phục hồi VNCH
01.06.2014 02:19
Sau hai vòng đàm phán không chính thức với mục đích nếu không đạt được Hiệp ước Liên minh Quân sự với Hoa Kỳ thì ít ra cũng được phép mua vũ khí từ Mỹ, Đại diện CSVN đành về nước tay không với gói quà 18 triệu đô viện trợ cho Cảnh sát Biển.
Hôm trước khi ra sân bay về nước, Đại diện CSVN có ngõ lời mời người đối tác phía Mỹ một buổi cơm tối thân mật tại một nhà hàng Tàu trong vùng Virginia. Nhà hàng này nổi tiếng với món Vịt Bắc Kinh và có rất nhiều Tổng thống Mỹ ghé qua ăn và chụp hình lưu niệm. Vừa bước vô cửa người đại điện Mỹ nói chào một cách dí dỏm: - Ông cũng khéo chọn lựa chứ? Mỹ gặp Việt trong nhà hàng Trung Quốc?
Đại diện CSVN cười và giải thích: - Nhà hàng này có chủ là người Đài Loan. Cứ xem như kẻ thù của kẻ thù là bạn.
Đại diện Mỹ buột miệng ra một câu tiếng Việt: - Thế ra là nhà hàng của “Thế lực THÙ (của) ĐỊCH” à?
Đại diện CSVN phá lên cười: - Gớm. Ông cũng rành tiếng Việt đấy chứ?
- Tôi học tiếng Việt ở Mỹ, học tiếng lóng tiếng láy ở Sài Gòn khi còn làm tùy viên văn hóa bên đó trước năm 1975. Sau này vẫn theo dõi thời sự và trao đổi trên Facebook. Chúng ta có thể thảo luận bằng tiếng Việt để khỏi mất thì giờ. Ông muốn gặp tôi lần cuối chắc là có câu hỏi gì cho tôi?
Đại diện CSVN vào thẳng vấn đề: - Hai vòng đàm phán qua ông đã kết luận chúng tôi không thể có Liên minh Quân sự với Mỹ vì Trung Quốc sẽ cản trở. Chúng tôi không có đủ ngân sách để mua vũ khí tự túc. Xem ra giải pháp quân sự lúc này với Trung Quốc không khả thi. Thế thì giải pháp pháp lý, ông nghĩ có khả thi hay không? Ý tôi muốn nói rằng đưa Trung Quốc ra Tòa án Quốc tế để kiện như Philipines đang làm thì có khả thi không?
- Cơ hội rất ít, thưa ông. Và các ông nên cân nhắc cẩn thận về các bằng chứng trình trước tòa. Vì nếu tòa phán quyết các ông THUA thì con đường tương lại còn gian nan hơn nữa. Phán quyết mới nhất của tòa cấp quốc tế xem ra là bản án tử hình cho các ông tại Biển Đông. Khi ấy các ông bị đẩy ra bên lề mọi tranh chấp sau này của các nước trong vùng đối với Biển Đông.
- Nhưng nếu chúng tôi liên kết kiện với Phi hay các nước khác?
- Tôi cũng nhận thấy các ông đang có hướng này. Khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ghé thăm Phi hôm qua. Nhưng khả năng Phi liên kết với ông trong vụ kiện rất thấp vì khi Phi kiện các ông không ủng hộ. Bây giờ các ông tham gia với BẰNG CHỨNG BẤT LỢI hơn thì dĩ nhiên Phi khó chấp nhận.
- Chúng tôi có đầy đủ các bằng chứng THUẬN LỢI từ thời Thực dân Pháp đến Việt Nam Cộng Hòa rằng Việt Nam có đã xác định chủ quyền trên hai quần đảo này liên tục cả trăm năm cơ mà. Sao ông lại nói BẤT LỢI?
- Các ông đang trưng dẫn bằng chứng của những chế độ đã qua mà không hề có bằng chứng xác nhận chủ quyền cấp quốc tế từ chế độ của các ông. Xem ra khó thuyết phục tòa án. Các ông có thể trưng dẫn hình ảnh thời thơ ấu trong một căn nhà, những câu chuyện tuổi thơ ở đó, trong khi người ta trình ra GIẤY BÁN NHÀ của bố các ông, thì dĩ nhiên tòa án không thể cho các ông vào nhà được.
- Ý ông muốn nói đến Công Hàm Phạm văn Đồng năm 1958?
- Đúng. Các ông biết Công Hàm này đã lâu nhưng có nhiều bằng chứng cho thấy các ông cố NÉ TRÁNH nó. Trong khi ngược lại gần đây Trung Quốc lại trưng công hàm này ra trước quốc tế. Xem ra họ có nắm đàng cán về vụ này!
Đại diện CSVN cười sặc sụa: - Công hàm đó KHÔNG CÓ HIỆU LỰC ông ơi. Phạm văn Đồng dù có nói thẳng là “giao Trường Sa và Hoàng Sa cho Trung Quốc” thì cũng không có hiệu lực. Đó chỉ là ĐÒN NGOẠI GIAO … KHÔN NGOAN của chúng tôi để nhận viện trợ từ Trung Quốc mà đánh Mỹ. Năm 1958 chúng tôi không có chủ quyền ở Hoàng Sa, Trường Sa.
Chờ cho người đại diện CSVN cười xong, uống một ngụm nước, thì đại diện Mỹ mới từ tốn lên tiếng: - Đối với luật pháp Tây Phương chúng tôi thì chúng tôi phân biệt rất rõ sự tách biệt giữa “khế ươc buôn bán” và “chủ quyền”.
- Ý ông nói là các ông có thể bán những gì các không có cơ à. Thật là HOANG ĐƯỜNG và TRẺ CON.
- Chuyện có thật ông à. Khế ước buôn bán là giao kết giữa hai hay nhiều bên về chuyển nhượng một cái gì đó nó có thể trong hiện tại hay trong tương lai để đổi lấy giá trị tiền bạc hay vật chất có thể giao hôm nay hay giao vào một thời điểm trong tương lai. Như vậy vào năm 1958 các ông hứa bán một cái gì đó các ông không có ngay lúc đó, và lời hứa sẽ giao hàng ngay khi các ông có. Vấn đề là phía Trung Quốc tin như vậy và ủng hộ các ông biến điều đó thành hiện thực. Đổi lại họ cung cấp viện trợ cho các ông gần cả tỉ đô la về vật chất và con người để tiến hành chiến tranh chống chúng tôi.
Năm 1958 các ông không có CHỦ QUYỀN nhưng các ông đã làm KHẾ ƯƠC, thì khi các ông có chủ quyền các ông phải thực hiện khế ước buôn bán đó.
- Thế các ông có trường hợp buôn bán kiểu đó trong thực tế không?
- Có chứ ông. Trong sở hữu chứng khoán, thị trường thế giới có cái gọi là “future options”. Ông không dám mua chứng khoán đó vì ông sợ thua lổ, ông có thể trả tiền với LỜI HỨA sẽ mua và công ty đó phải giao “chủ quyền” chứng khoán đó cho ông trước thời điểm nào đó, dù nó lên hay xuống thấp hơn giá trị ông trả. Rồi ông cần tiền ông vẫn có thể bán LỜI HỨA đó cho người khác và cứ thế cho đến khi thời điểm hứa đó đến thì người cuối cùng phải … THỰC HIỆN. Cái đó là buôn bán thứ ông không có chủ quyền …
Đại diện CSVN nghiêm mặt lại biện hộ: - Nhưng ông không đọc thấy trong ngôn từ Thủ Tướng Phạm văn Đồng rất KHÔN NGOAN không hề đề cập để chuyện “giao chủ quyền” như cái ví dụ mà ông nêu. Ông ta chỉ nói …
“có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển”
Đại diện Mỹ cười rồi nói: - Các ông đã có lịch sử CÔNG NHẬN công hàm này. Đó là vào năm 1974 khi Trung Quốc tấn công Hoàng Sa thuộc chủ quyền VNCH. Các ông đã “tôn trọng hải phận của Trung Quốc trong mọi quan hệ trên mặt biển” nên các ông hoàn toàn để mặc cho Trung Quốc hành động chiếm chủ quyền … TƯƠNG LAI của các ông. Thế thì sao các ông có thể biện minh trước tòa rằng một văn bản không hiệu lực lại được tôn trọng?
- Chúng tôi cũng như các ông thôi. Hạm đội 7 các ông nằm đó đâu có động tĩnh gì!
- Hoa Kỳ bị ràng buộc bỡi Thông cáo chung Thượng Hải với Trung Quốc và Hiệp định Paris, phải rút quân và trả lại quyền tự quyết cho VNCH.
Đại diện Mỹ ngừng một lát rồi nói tiếp: - Tôi xem công hàm Phạm văn Đồng nhiều lần và phải công nhận vào thời điểm năm 1958, ông Đồng hay ai đó soạn cho ông Đồng ký công hàm này là “khôn liền” ngay lúc đó mà không có … “khôn lâu”.
- Ý ông là?
- Ngôn từ trong công hàm này vào năm 1958 rất là KHÔN NGOAN. Vì các ông BÁN VỊT TRỜI mà thu được gần cả tỉ đô la viện trợ của Trung Quốc cho một món hàng tương lai không biết có chiếm được hay không. Ví như một người muốn đi cướp nhà người khác không có súng, không có tiền, đi hứa với thằng cướp khác “khi nào tao cướp được nhà đó thì tao tôn trọng quyền của mày được trồng rau ở sân sau”. Khi cướp được thì phải thực hiện lời hứa đó.
Đại diện CSVN mỉa mai: - Nếu “khôn lâu” như ông trong trường hợp đã lỡ ký LỜI HỨA đó thì ông phải làm sao?
- Nếu tôi là các ông mà tôi bắt buộc phải viết công hàm đó để có viện trợ thì tôi vẫn viết như thế …
- Huề tiền!
- Tôi vẫn nhận gần cả tỉ đô la để đánh Hoa Kỳ và kéo nó đến bàn Hội Nghị Paris năm 1973 để nó phải rút quân …
Đại diện CSVN phá liên cười: - Ông khôi hài quá, thế mà lại “dạy ngoại luộc trứng”
Đại diện Mỹ vẫn từ tốn nói tiếp: - CSVN ký công hàm Phạm văn Đồng là khôn liền ngay năm 1958 nhưng ai đó quyết định xé hiệp định Paris chiếm Miền Nam năm 1975 là ĐẠI NGU để Trung Quốc nó …. (xin lỗi tôi hay có tật nói láy) Chiếm Miền Nam là biến công hàm đó thành hiện thực và đối diện gần 1 tỉ đô la nợ Trung Quốc, là từ bỏ 4 đến 6 tỉ đô la bồi thường chiến tranh của Hoa Kỳ … Việt Nam bỏ cơ hội thành một nước Đức và nước Nhật sau thế chiến thứ hai.
Đại diện CSVN hết kiên nhẫn ngắt lời: - Ông có khiếu kể chuyện cổ tích. Xin phép trở lại trọng tâm. Thế thì có giải pháp nào cho chúng tôi trong bế tắc này không?
Đại diện Mỹ nhìn quanh rồi pha trò: - Có tình báo Hoa Nam Cục ở đây không?
Rồi ông nói tiếp: - Theo tôi thì các ông phải tuân thủ công hàm Phạm văn Đồng vì 1974 các ông đã tuân thủ thì hôm nay phải tuân thủ để yên cho Trung Quốc đặt giàn khoan.
- Không còn cách nào hết sao?
- Chỉ còn cách mà tôi đã nói với các ông hôm đầu tiên.
- Cách gì ông nhắc lại đi.
- Một cách vô cùng giản dị, không cần viện trợ của Hoa Kỳ, chẳng cần ủng hộ của thế giới, mà lại đoàn kết, hòa hợp hòa giải với mọi thành phần người Việt trong và ngoài nước và quan trọng là vô hiệu hóa công hàm Phạm văn Đồng.
- Làm cách nào?
- Ngay ngày mai ... Đổi lại tên nước thành Việt Nam Cộng Hòa. Lấy lại tên Sài Gòn và dời thủ đô về đó Lấy CỜ VÀNG làm quốc kỳ … Có như thế thì trước diễn đàn thế giới. VNCH chỉ VẮNG MẶT … 39 năm chứ KHÔNG CHẾT. Công hàm Phạm văn Đồng chỉ là tờ “giấy lộn” vì tên cướp có vô nhà nhưng chủ nhà về lại và đã đuổi cổ nó ra … Trời Việt lại … HỪNG ĐÔNG.
Đại diện CSVN vuốt mồ hôi lạnh trên trán: - Chỉ đơn giản thế thôi sao?
Vịt Bắc Kinh trên bàn đã NGUỘI LẠNH, lớp mỡ trắng đã bắt đầu đóng viền quanh dĩa vì không ai còn đoái hoài đến nó.
Đại diện Mỹ vỗ vai đại diện CSVN nói một câu tiếng Anh: - All road lead to Rome (Đường nào cũng về La Mã) Hãy trả cho Ceazar những gì của Ceazar. Các ông chỉ có một ĐƯỜNG BINH … cầm bài chi lâu cho nó … ƯỚT.
Dưới lá cờ nào?Dân oan Thủ ThiêmTrong bài “ Xin đừng quên”, đăng trên blog Bùi Văn Bồng, tác giả Minh Diện đã viết:” Đất nước đang lâm nguy , mọi người phải gác nỗi đau riêng để bảo vệ Tổ Quốc, nhưng xin đừng quên cảnh giác với những kẻ cơ hội, bán nước cầu vinh. Xin đừng quên!” .
Cảm ơn anh Minh Diện đã nhắc nhở. Nhưng đối với dân oan, chẳng những chúng tôi không bao giờ quên mà còn đắn đo, cân nhắc trước tất cả những lời tuyên bố, kêu gọi… đang được mọi người hoan hô, khen tặng. Bản thân hoặc người thân của chúng tôi, là nạn nhân của chế độ hiện hành. Làm sao quên được ai đã làm cho chúng tôi từ một người yêu nước trở thành kẻ tù tội, từ một cuộc sống bình thường trở thành kẻ vô gia cư, vô nghề nghiệp, từ một người lành lặn trở thành kẻ bệnh tật, thân tàn ma dại, từ một người có gia đình yên ấm trở thành kẻ tan gia bại sản, ly tán khắp nơi, từ một người đang sống khỏe mạnh trở thành một xác chết…
Mỗi người phải gác nỗi đau riêng để bảo vệ tổ quốc. Đúng! Ai cũng có một tổ quốc, và bảo vệ tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng của mọi người, từ kẻ thất phu cho đến những người đàn bà tưởng chừng như chỉ có trách nhiệm trong chuyện bếp núc của gia đình. Trong khi giặc ngoại xâm đang lăm le ngoài bờ cõi, đem chuyện tranh chấp đất đai, đem chuyện oan khuất của cá nhân, gia đình ra để đòi hỏi giải quyết… có vẻ như thiếu hiểu biết, nhỏ nhen, ích kỷ.
Nhưng thực chất không phải như vậy. Suốt trong tháng Năm vừa qua, nhiều người dân Việt như lúc nào cũng nghe tiếng loa kêu vang: “Toàn dân nghe chăng! Sơn hà nguy biến”. Dân oan nào khác, chúng tôi cũng nghe buốt nhói trong lòng, nhưng biết phải làm gì?
Chưa làm gì cả, chỉ mới muốn tham gia biểu tình để bày tỏ sự phản kháng của một công dân yêu nước đối với bọn ngoại xâm, nhà văn cựu đại tá Phạm Đình Trọng đã bị kèm cặp bắt giữ cả ngày với bao nhiêu lời đe dọa và thái độ khiêu khích, hỗn xược. Nhà giáo Vũ Mạnh Hùng ở Hà Nội và rất nhiều người khác cũng bị như thế.
Còn trước đây cô bé Nguyễn Thị Phương Uyên, chỉ cần viết lên giấy mấy chữ “Tàu khựa cút đi!” thì đã bị đưa ra tòa kêu án tù, đến bây giờ vẫn còn chưa hết án. Ai chọn cách ngồi trước của nhà mình với một biểu ngữ để bày tỏ quan điểm phản đối ngoại xâm, có lẽ cũng phải đi tù như chị Phạm Thanh Nghiên lúc trước.
Còn viết blog, đưa lên facebook, trả lời phỏng vấn trên báo đài, hay bày tỏ ý kiến bằng cách khác thì chắc sẽ bị truy tố không theo điều 258, thì cũng điều 77, …
Chuyện có vẻ trái khoái như vậy, nhưng cho tới bây giờ, chắc không còn bao nhiêu người Việt Nam thắc mắc về những điều này. Vì ai cũng biết nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam trên mặt trận tuyên truyền thì hay dùng những khái niệm chung chung để lừa phỉnh nhân dân, nhưng trong “công cuộc đấu tranh để bảo vệ cách mạng” thì bao giờ cũng rất rạch ròi, dứt khoát.
Đối với họ, từ lâu rồi, tổ quốc Việt Nam không còn nữa, mà chỉ có tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Yêu nước thì phải yêu chủ nghĩa xã hội, phải quyết tâm xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải chấp nhận và đi theo Đảng Cộng sản Việt Nam. Mà cái tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đã được xây dựng lên từ sự lừa bịp, phản bội nhân dân, từ sự cướp công lao xương máu và tài sản ruộng đất nhà cửa của nhân dân.
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo toàn bộ các công cụ trong hệ thống chuyên chính để tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa trên tất cả mọi lãnh vực của cuộc sống.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm nên một cuộc thay đổi vĩ đại chưa từng có trong lịch sử loài người: mọi tầng lớp nhân dân, mà trước hết là công nhân, nông dân và người lao động, trở thành vô sản; trong khi “người cách mạng” thì giàu lên thật nhanh, thậm chí có kẻ đã thành tỷ phú đôla.
Yêu nước chung chung là có tội, đó là cái tội không yêu chủ nghĩa xã hội, có khi đồng nghĩa với tội âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng. Yêu chủ nghĩa xã hội, là phải làm theo chủ trương đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam. Yêu chủ nghĩa xã hội là phải chấp nhận “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối”, chấp nhận đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Kể cả khi kẻ tham lam cướp đất, phá nhà, làm tan hoang cuộc sống của mình, người dân cũng không được phản kháng. Vì đảng nói chính quyền làm như thế là đúng chủ trương chính sách. Phải làm như thế thì dân mới giàu, nước mới mạnh và mới có thể tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội, phản kháng là “chống người thi hành công vụ”! Trong khi Đảng Cộng sản Việt Nam coi nhà cầm quyền Trung Quốc là anh em cùng phe, cùng ý thức hệ, cùng…, ai chống Trung Quốc, là làm trái chủ trương đường lối của Đảng, là chống Đảng, là chống lại chủ nghĩa xã hội, tức là chống lại tổ quốc. Những người đó phải bị nghiêm trị. Đó là chủ trương nhất quán trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân (quân và dân ở đây là những người theo Đảng).
Có lẽ không sai khi nói rằng “nhân dân Việt Nam đã bị mất nước từ lâu rồi”. Vì chỉ có những người dân bị mất nước mới bị nhà cầm quyền tước đoạt tài sản, và khi bày tỏ lòng yêu nước và quyết tâm bảo vệ tổ quốc mới bị nhà cầm quyền đàn áp, đánh đập, bắt bớ, bỏ tù… Nếu muốn được yên thân, phải biết sống theo đạo ba không: không thấy, không nghe, không biết. Và như vậy, thì tuyệt đại đa số người dân Việt Nam đã là dân oan, kể cả những người đã phải đau đớn rời bỏ quê hương đất tổ ra đi.
Mất nước là mất tất cả! Đừng nói với kẻ cai trị về quyền làm người, quyền công dân của những người đã mất nước. Có thể ai đó sẽ bảo rằng: “Nhưng mất nước về tay Cộng sản Việt Nam, vẫn hơn để cho Cộng sản Trung Quốc xâm chiếm?”. Nói như thế thì có khác nào đoan chắc “Thái thú người Việt sẽ thương dân và nhân đạo hơn những thái thú người Tàu”! Thực tế đã chứng minh ai còn tin tưởng như thế là quá ngây thơ, khờ khạo.
Chủ nghĩa xã hội là kẻ thù của tinh thần dân tộc. Tinh thần quốc tế vô sản bao giờ cũng cao cả. Còn chủ nghĩa dân tộc là hẹp hòi. Những người lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam đã bị nhà cầm quyền Cộng sản Trung Quốc phản bội, bao phen đánh cho u đầu sứt trán, vẫn cứ coi chúng là anh em. Nay chúng đã lộ nguyên hình là một kẻ cướp, trắng trợn và tàn bạo, nhưng tuyên bố trên các diễn đàn quốc tế, một số lãnh đạo Cộng sản Việt Nam vẫn tỏ ra chưa tỉnh giấc mộng “Trung Quốc là người bạn tốt cùng chung ý thức hệ”.
Dân oan sẵn sàng bảo vệ tổ quốc, nhưng không phải tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa không phải là tổ quốc của dân oan Việt Nam.
Dân oan sẽ chiến đấu và sẵn sàng hy sinh cho tổ quốc, nhưng sẽ không bao giờ cho tổ quốc của những kẻ đã phản bội nhân dân Việt Nam.
Nhất định chúng tôi không thể đứng chung dưới ngọn cờ của những kẻ mới hôm qua đây phản bội lại toàn dân, lợi dụng xương máu nhân dân Việt Nam để thống nhất đất nước, nhưng không cho nhân dân được tự do, hạnh phúc.
Chúng tôi quyết không để bị lợi dụng, và không đứng cùng chiến tuyến với những kẻ đã và đang tiếp tục đàn áp, bắt bớ, giam cầm những người yêu nước đấu tranh cho quyền lợi chính đáng của nhân dân và chống lại kẻ thù xâm lược. Những kẻ cướp đất, phá nát nhà cửa, làm giàu trên xương máu của đồng bào mình sẽ không thể nào lãnh đạo và cùng chung chiến hào với dân oan trong công cuộc chiến đấu bảo vệ tổ quốc.
Khi đẩy hàng triệu người dân vào thân phận dân oan, nhà cầm quyền đã chứng tỏ họ và người dân oan không cùng chung tổ quốc. Dân oan đã biết rõ điều này.
DOTT. 02-6-2014
Liên Minh Cho Một Việt Nam Tự Do Và Dân Chủ Tuyên Bố Về Chương Trình Quốc Tế Vận Yểm Trợ Nỗ Lực Bảo Vệ Tổ Quốc Của Toàn Dân Ngày 1 tháng 6, 2014 Hành động xâm phạm lãnh hải Việt Nam bằng giàn khoan HD 981 nằm trong chiến lược lâu dài của Trung Cộng nhằm lấn chiếm đất nước và khuất phục dân tộc Việt Nam. Trước cảnh đất nước lâm nguy, chúng tôi, ban tổ chức cuộc tổng vận động hàng năm mệnh danh “Ngày Vận Động Cho Việt Nam” từ 2012 đến nay, quyết định thành lập Coalition for a Free and Democratic Vietnam hay CFDV (Liên Minh Cho Một Việt Nam Tự Do và Dân Chủ), một cơ cấu thường trực để quốc tế vận liên tục và trường kỳ cho một Việt Nam tự do, dân chủ và vẹn toàn lãnh thổ. Mục đíchcủa CFDV là vận động quốc tế yểm trợ cho toàn dân Việt Nam trong công cuộc bảo vệ tổ quốc. Chủ trương hành động của chúng tôi dựa trên những nhận định căn bản sau:
(1)Chính sách của Trung Cộng là gặm dần lãnh thổ và lãnh hải của Việt Nam bằng phương cách mà các chuyên gia quốc tế gọi là “salami slicing” (xắt lát cây lạp xưởng). Đây là kế tiệm tiến, với mỗi bước được cân nhắc để tránh gây phản ứng mạnh của quốc tế; đến khi mọi người nhận thức ra thì sự thể đã rồi. Giàn khoan HD 981 không phải là bước đầu hay bước cuối mà nằm trong một chuỗi hành động xâm lấn Việt Nam đã được khởi xướng từ đầu thập niên 1970 và còn tiếp diễn. (2)Sau 4 thập niênbị xâm lấn Biển Đông, chính quyền Việt Nam vẫn chưa có bất kỳ hành động thích đáng nào, mà căn bản và cần thiết nhất là kiện Trung Cộng ra Toà Án Công Lý Quốc Tế hay Toà Án Quốc Tế về Luật Biển. Ngược lại, chính quyền Việt Nam đã thẳng tay đàn áp các công dân tham gia biểu tình ôn hoà để bày tỏ lòng yêu nước. (3)Hai yếu tố tiên quyết để đối phó hữu hiệu với chính sách xâm lấn dài hạn của Trung Cộng là chính quyền Việt Nam phải dứt khoát cắt bỏ sự thống thuộc Đảng Cộng Sản Trung Quốc, và người dân phải thực sự làm chủ đất nước. Có vậy thì mới huy động được sự đồng tâm nhất chí của toàn dân, tranh thủ được sự yểm trợ của thế giới tự do, và đóng lại tuyến phòng thủ để giặc không lẻn vào ngã sau theo quan hệ đảng thống thuộc. (4)Các chính quyền dân chủ sẽ không bao giờ yểm trợ cho một chế độ độc tài cộng sản và có thành tích đàn áp nhân quyền một cách trầm trọng, vì điều này không thuận lòng dân và sẽ bị công luận quốc tế lên án. Ngay cả trong vấn đề Hợp Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hoa Kỳ sẽ rất khó bênh vực cho Việt Nam để được tham gia nhằm cứu vãn nền kinh tế nếu từ giờ đến cuối năm không có những cải thiện nhân quyền một cách cụ thể và căn bản. (5)Tập thể 4.5 triệu người Việt ở hải ngoại đóng vai trò chủ lực trong quốc tế vận, bao gồm huy động quốc tế áp lực chính quyền Việt Nam xoá bỏ các công cụ đàn áp và chấp nhận tiến trình dân chủ hoá trong hoà bình, đồng thời yểm trợ dân tộc Việt Nam đối kháng chính sách xâm lấn tiệm tiến của Trung Cộng. Từ giờ đến cuối năm 2014 là thời điểm thuận lợi và cần thiết để thực hiện công cuộc quốc tế vận này. Trọng tâm từ giờ đến cuối năm của CFDV là: (1) Đòi hỏi chính quyền Việt Nam phải có những hành động thích đáng đối với Trung Cộng, kể cả việc kiện Trung Cộng trước các toà án quốc tế. Đây là tiền đề cần thiết tuyệt đối cho sự yểm trợ của thế giới tự do. (2) Vận động chính phủ Hoa Kỳ và các chính quyền có quyền lợi liên đới như Liên Âu, Úc, Nhật, Ấn Độ… có thái độ mạnh mẽ để chặn đứng chính sách khống chế Biển Đông của Trung Cộng. (3) Vận động chính phủ Hoa Kỳ dứt khoát loại bỏ Việt Nam ra khỏi Hợp Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) nếu từ giờ đến cuối năm chính quyền Việt Nam không: a.Trả tự do cho tất cả tù nhân lương tâm; b.Xoá bỏ các công cụ đàn áp như Nghị Định 72 về internet, Nghị Định 92 về tôn giáo và tín ngưỡng, và các Điều 88, 258 và 79 Bộ Luật Hình Sự; c.Tuyệt đối tôn trọng các quyền tự do ngôn luận và hội họp ôn hoà, kể cả biểu tình ôn hoà; d.Chấp nhận sự hiện hữu của các công đoàn tự do và độc lập, và các tổ chức dân sự; e.Luật hoá các cam kết trong Công Ước LHQ về chống tra tấn, cụ thể là truy tố những hành vi bạo hành, tra tấn bởi công an hay việc mượn tay côn đồ. (4) Can thiệp cho các đồng bào bị bắt bớ, sách nhiễu chỉ vì thực thi quyền tự do ngôn luận, biểu tình ôn hoà hay lập hội. (5) Yểm trợ cuộc tranh đấu của toàn dân để giành quyền làm chủ đất nước và bảo toàn lãnh thổ Việt Nam. Các hành động cụ thể và cấp thời để thực hiện các trọng tâm này gồm có: (1)Vận động dư luận Hoa Kỳ và quốc tế qua các bài quan điểm trên báo chí Anh ngữ và chiến dịch thỉnh nguyện thư gửi các chính quyền Hoa Kỳ và quốc tế; (2)Vận động buổi điều trần và các nghị quyết của Quốc Hội Hoa Kỳ về vấn đề Biển Đông; (3)Triệu tập hội nghị để soạn kế sách chung cho người Việt trong và ngoài nước nhằm thúc đẩy tiến trình dân chủ hoá đất nước và đối phó với chủ nghĩa bành trướng của Trung Cộng; (4) Liên kết với các cộng đồng Phi Luật Tân, Nhật, Mã Lai, và Trung Hoa dân chủ để cùng tranh đấu; và (5) Kêu gọi LHQ và các chính quyền dân chủ can thiệp các vụ đàn áp người biểu ôn hoà tình chống Trung Cộng. Nhằm phát động các nỗ lực trên, CFDV sẽ tổ chức cuộc tổng vận động với Quốc Hội và Hành Pháp Hoa Kỳ, ở Hoa Thịnh Đốn ngày 16 tháng 7 tới đây. Chúng tôi sẽ thiết lập trang web để phổ biến thông tin cập nhật của CFDV và để kêu gọi sự tham gia rộng rãi của người Việt ở trong nước và trên thế giới. Thông tin liên lạc: hay gửi email cho: vn2014@bpsos.org, hay gọi điện thoại: 703-538-2190.
Cơ Hội Vàng Ts. Nguyễn Đình Thắng Phỏng ghi lời phát biểu với một số nhân sĩ ở Ottawa tại bữa cơm chiều sau buổi điều trần trước Quốc Hội Canada, ngày 29 tháng 5, 2014. Tôi hoan nghênh Liên Hội Người Việt Canada đã vận động thành công cho buổi điều trần về nhân quyền hôm nay trước Quốc Hội Canada. Đây là thành quả của 2 năm vận động. Cách đây 2 năm, khi Liên Hội bắt đầu vận động cho buổi điều trần này, cũng như khi cách đây 3 năm chúng tôi bắt đầu vận động để đẩy lùi Hợp Tác Xuyên Thái Bình Dương, tức TPP, cho Việt Nam, thì đâu ai có thể ngờ trước được biến động vừa xảy ra ở Biển Đông. Biến động này đang cho chúng ta một cơ hội vàng để đẩy nhanh hơn cuộc tranh đấu cho nhân quyền, dân chủ và vẹn toàn lãnh thổ cho Việt Nam. Tôi xin trình bày về cơ hội vàng này, về 3 bước để đem dân chủ đến cho Việt Nam, và một ví dụ về cách huy động sức mạnh tổng hợp của tất cả người Việt ở hải ngoại. Từ giờ đến cuối năm chúng ta đang có cơ hội vàng để đòi hỏi những nhượng bộ về nhân quyền từ chính quyền Việt Nam. Trước khi xảy ra việc Trung Cộng cắm giàn khoan vào sâu trong vùng biển của Việt Nam, cuộc vận động chính giới Hoa Kỳ gặp nhiều cam go vì khuynh hướng lấy nhân quyền làm trọng tâm trong chính sách đối ngoại với Việt Nam chỉ là khuynh hướng thiểu số. Đa số những nhà làm chính sách Hoa Kỳ tin hoặc biện luận rằng, mạnh tay về nhân quyền và dân chủ thì e sẽ đẩy Hà Nội ngả thêm về phía Trung Cộng. Đó là tình trạng cách đây 4 tuần. Bây giờ lý lẽ này không còn cơ sở. Chính quyền Việt Nam chắc chắn sẽ cảm nhận được thái độ cứng rắn hơn từ phía Hoa Kỳ trong thời gian trước mắt. Chưa bao giờ chúng ta có thuận lợi như bây giờ. Phái đoàn người Việt tham dự buổi điều trần ở Quốc Hội Canada, Ottawa ngày 29/05/2014 (ảnh DTL)
Chưa bao giờ chế độ độc tài ở Việt Nam lại ở thế kẹt như lúc này. Họ đang rất cần sự yểm trợ của Hoa Kỳ và cùng với Hoa Kỳ là cả khối các quốc gia tự do dân chủ, trong đó có Canada, về an ninh lẫn kinh tế. Kinh tế Việt Nam đang tụt dốc và, do ảnh hưởng của các biến động hiện quanh vụ giàn khoan, có thể đi vào khủng hoảng. Họ kẹt về an ninh nhưng chết về kinh tế. Việt Nam đang cầu cạnh TPP như một chiếc phao cứu sống. Và chính lúc này là lúc chúng ta phải tổng vận động để đòi hỏi những cải thiện nhân quyền cụ thể và cơ bản, làm điều kiện tiên quyết nếu Việt Nam muốn tham gia TPP. Và chúng ta có xác suất thành công cao. Để chặn không cho Việt Nam vào TPP, chúng ta chỉ cần hoặc có đa số phiếu ở Hạ Viện, hoặc một vị thượng nghị sĩ quyết liệt chống đối ở Thượng Viện Hoa Kỳ. Chúng ta đang có cả hai yếu tố này. Chúng ta phải duy trì được vị thế này cho đến cuối năm. Sau đó là cuộc tranh cử tổng thống bắt đầu; không đảng nào muốn mất phiếu của những khối dân chúng chống TPP. Nghĩa là triển vọng cho Việt Nam vào TPP sẽ lại càng giảm đi. Chúng ta sẽ tiếp tục chặn TPP cho đến khi Việt Nam bắt đầu tiến trình dân chủ hoá đất nước. Năm 2005 chúng tôi bắt đầu kế hoạch đem dân chủ đến cho Việt Nam, mà có thể tóm tắt một cách đơn giản hoá bằng 3 bước. Bước thứ nhất là cộng đồng người Việt ở mỗi quốc gia định cư phải phát triển nội lực để ảnh hưởng chính trị đối với chính quyền nơi mình sinh sống, như hôm nay Quý Vị đang làm ở Quốc Hội Canada một cách hiệu quả. Cứ hình dung chúng ta đang là Bách Việt: Canada-Việt, Mỹ-Việt, Pháp-Việt, Anh-Việt, Nhật-Việt, Úc-Việt, Hàn-Việt, Na Uy-Việt… Ngàn xưa khi một chi của Bách Việt bị lâm nguy thì các chi khác quây lại bảo vệ. Cũng vậy, ngày hôm nay tổ quốc lâm nguy thì tất cả chúng ta người Việt ở khắp 5 châu quây vào để giải nguy. Nhưng trước hết chúng ta phải biến mình thành Bách Việt ở những quốc gia dân chủ, tự do và phú cường. Bước thứ hai là với ảnh hưởng của mình, người Việt ở hải ngoại dùng quốc tế vận để buộc chế độ độc tài phải tháo gỡ các công cụ bạo lực mà họ dùng để đàn áp và khống chế người dân. Các công cụ này là Nghị Định 72; Nghị Định 92; Điều 88, Điều 258, Điều 79 Bộ Luật Hình Sự; các biện pháp tra tấn; các hành vi bạo lực của công an… Tháo gỡ các công cụ đàn áp này là tạo điều kiện cho đồng bào trong nước thực thi 3 quyền căn bản cho tiến trình dân chủ hoá: tự do ngôn luận, tự do biểu tình ôn hoà và tự do thành lập các tổ chức xã hội dân sự và đảng chính trị. Trong khi các công cụ đàn áp chưa hoàn toàn được tháo gỡ, chúng ta dùng các mũi nhọn nhân quyền để mở ra các “hành lang an toàn” mà trong đó người dân trong nước có thể thực thi các quyền tự do này. Tôi dùng chữ “hành lang an toàn” vì sự quan tâm theo dõi của quốc tế chính là bức tường che chắn, bảo vệ. Các mũi nhọn nhân quyền ấy là chống buôn người, chống tra tấn, bảo vệ tự do tôn giáo, bảo vệ quyền lao động, bảo vệ tù nhân lương tâm, v.v. mà chúng tôi đã tuần tự mở ra trong nhiều năm qua. Bước thứ ba là hỗ trợ và bảo vệ cho người dân ở trong nước thực thi quyền phát biểu những quan điểm có thể khác với quan điểm của nhà nước, đến với nhau để biểu lộ quan điểm một cách ôn hoà, và thành lập các tổ chức hay đảng chính trị để thúc đẩy cho quan điểm của mình. Những điều này chính là nền móng cho tiến trình dân chủ hoá. Năm 2010, tôi bắt đầu chuyến “du thuyết” ở Hoa Kỳ và Canada, và đã đến Ottawa này, để kêu gọi những người có lòng với đất nước cùng nhau bắt tay thực hiện kế hoạch 3 bước này. Tôi gọi đó là “Thông Điệp Hy Vọng và Trách Nhiệm” và có viết một quyển sách cùng tên để phổ biến đến những nơi chưa đến được. Muốn thực hiện các điều trên, chúng ta cần vận dụng được sức mạnh tổng hợp của Bách Việt ở hải ngoại. Tôi xin đưa ra một ví dụ về cách tạo sức mạnh tổng hợp. Hồi nãy trong bàn ăn có vị cho biết ý định gây quỹ để giúp vài nhà đấu tranh dân chủ hay tù nhân lương tâm. Đây là việc làm chính đáng nhưng sẽ chỉ manh mún và hời hợt nếu không nằm trong một kế hoạch lớn để tạo nên những thay đổi cơ bản như kể trên. Thay vì mạnh ai nấy làm, tốt hơn chúng ta nên gom tài nguyên lại để tài trợ cho một người làm việc toàn thời gian. Người này sẽ vừa xin các nguồn tài trợ quốc tế cho các nhà tranh đấu đang lâm nguy hay bị tù đày, mà kết quả chắc chắn sẽ nhiều lần hơn số tiền đầu tư cho người ấy, vừa vận động quốc tế bảo vệ và can thiệp cho họ. Muốn tạo sức mạnh tổng hợp, mỗi người phải làm việc nhỏ trong một kế hoạch lớn, chứ đừng chỉ làm việc nhỏ trong những kế hoạch nhỏ. Cũng trong tinh thần tạo sức mạnh tổng hợp, ngày 16 tháng 7 tới đây chúng tôi tổ chức cuộc tổng vận động ở Hoa Thịnh Đốn. Dự kiến sẽ có một nghìn người tham gia để vừa lên án hành động xâm lấn của Trung Quốc, vừa đẩy lùi TPP cho Việt Nam. Chúng tôi đang kêu gọi các cộng đồng bạn: Tây Tạng, Phi Luật Tân, Nhật, Mã Lai, và những người Trung Hoa dân chủ cùng tham gia. Xin mời quý vị ở Canada cử phái đoàn nhập cuộc. Đến tháng 9, khi Quốc Hội Canada nghỉ hè xong, chúng tôi từ Hoa Kỳ sẽ lại kéo qua đây để yểm trợ cuộc tổng vận động ở Canada trong thế liên hoàn. Với sự có mặt ở đây của BS. Bùi Trong Cường từ Úc đến, tôi mong rằng sẽ có sự phối hợp đồng bộ giữa những nỗ lực vận động ở Hoa Kỳ, ở Canada với các nỗ lực của người Việt ở Úc, và rồi sẽ lan đến các quốc gia Âu châu và Á châu. Lần nữa xin hoan nghênh cộng đồng người Việt ở Canada đã tổ chức buổi điều trần thành công ở Quốc Hội. Bai lien quan: Thời Điểm Thuận Lợi Cho Nhân Quyền
Kế hoạch của các tay cờ lớn
tử http://www.vietnamnet.vn có bài viết “Âm mưu biển Đông của Trung Quốc- nguồn lợi ngoài dầu khí”. Nội dung bản tin nhắc lại một dự án đáng chú ý, đó là dự án kênh đào Kra. Bài báo được đăng lại trên trang nhà nguyentandung.org. (*) Trong phạm vi bài viết này, tôi tạm gọi nó là kênh đào xuyên Đông Nam Á, để bạn đọc dễ hình dung tầm quan trọng của nó và tác động của nó vào tình hình chính trị của Thái Lan và nhất là Việt Nam hiện nay. Kênh đào này dĩ nhiên nó mang lại lợi ích cho toàn bộ Đông Nam Á nói riêng và giao thương hàng hải quốc tế nói chung, nhưng vì nó sẽ nối Vịnh Thái Lan vào Ấn Độ Dương nên trực tiếp ảnh hưởng tới Thái Lan, và sau đó, tới Việt Nam và Campuchia (không kể Singapore và Malaysia). Vì vị trí địa lý như vậy, nó là một trong những nguyên nhân chính đã và đang tác động chính trị mạnh nhất vào ba quốc gia chưa thật sự ổn định này. Từ đó xuất hiện sự bất ổn chính trị liên tục của Thái Lan trong mấy năm qua, và Việt Nam cũng đang bắt đầu, qua nước cờ giàn khoan HY-981 của Trung Quốc.
Ai cũng hiểu những ý nghĩa và hiệu quả kinh tế và địa chính trị to lớn mà kênh đào này mang lại. Mỹ và Trung Quốc hiểu hơn ai hết và đã tích cực hành động để đạt được điều đó. Nước nào đứng ra đào kênh là một vấn đề quan trọng, và vấn đề quan trọng hơn nữa, kiểm soát được kênh đào cũng sẽ nắm giữ được an ninh hàng hải của tuyến đường từ Ấn Độ Dương qua kênh đào vào Vịnh Thái Lan và ra Thái Bình Dương. Và do đó vị trí Việt Nam thân với Mỹ hay Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược to lớn. Nếu Mỹ có Việt Nam là đồng minh thì sẽ ngăn cản được bành trướng của Trung Quốc xuống phía Nam, và ngược lại, nếu Trung Quốc “thu phục” được Việt Nam, thì Trung Quốc kiểm soát gần trọn tuyến hải trình này và đe dọa cả tới hải lộ Philippin. Trong sự dằng co về chiến lược biển của hai cường quốc này qua kênh đào Kra, tự nhiên vai trò của Việt Nam trở thành quan trọng.
Nhìn sang Thái Lan ta thấy những bất ổn chính trị và biểu tình của dân chúng khắp nơi kể từ khi Thủ Tướng Thaksin Shiwanatra lên cầm quyền và lộ ra xu hướng thân Trung Quốc. Đỉnh điểm là khi Thaksin tỏ ý gật đầu với Trung Quốc về kênh đào ĐNA này, và sau đó Trung Quốc “ồn ào và tự mãn” công bố mình sẽ là quốc gia đào kênh. Trước diễn biến đó, người dân Thái Lan, vốn được thụ hưởng một nền dân chủ lâu dài nên không “hiền lành” như quần chúng Việt Nam, đã vùng lên để dẹp bỏ Thaksin lẫn đường lối ngả theo Trung Quốc. Trung Quốc lại hậu thuẫn cho em gái Thaksin là Yingluck lên cầm quyền. Chính giới và nhân dân Thái Lan lại khuấy động lần thứ hai, tác động để cuối cùng quân đội ra tay xóa bỏ chính phủ của bà Yingluck Shiwanatra. Họ đủ thông minh để hiểu lệ thuộc Trung Quốc sẽ có hậu quả như thế nào. Đấy là chưa kể bàn tay Anh-Mỹ chắc đã và đang không ngừng tác động.
Việt Nam thì như thế nào? Kênh đào Kra ảnh hưởng gì vào chính trị Việt Nam lúc này? Tại sao lại xuất hiện bài báo về kênh đảo Kra đúng vào lúc này? Vì sao tôi nhận định nó là một trong các nguyên nhân chủ yếu đưa đến việc Trung Quốc phải gạt bỏ “tình anh em giữa hai đảng cầm quyền” và đem giàn khoan cắm vào vùng biển Hoàng Sa của Việt Nam?
Võ Văn Kiệt – chính khách của dân tộc
Muốn lý giải về việc tay cờ Ba Dũng vì sao hôm nay đưa ra công khai chủ trương “thoát Trung” và Trung Quốc vì sao cắm giàn khoan dầu lúc này thì phải lật lại quá khứ để nhìn thấu hết các nguyên nhân sâu xa của nó. Mỹ và Trung Quốc đều thấy được tầm mức và lợi ích to lớn của con kênh đào này mang lại ngay từ thập niên 90 của thế kỷ trước nên đã hoạch định những sách lược lâu dài. Nhà cầm quyền Trung Quốc, tận dụng kết quả của hội nghị Thành Đô, liên tục dựng lên các tay cờ đàn em trong nội bộ đảng cầm quyền Việt Nam, để đảm bảo chi phối Việt Nam, và dự tính chỉ phải đối phó với Mỹ tại Thái Lan trong dự án kênh đào ĐNA này.
Dư luận đã có nhiều ngạc nhiên khi ở những năm của nhiệm kỳ thứ hai làm thủ tướng, Võ Văn Kiệt đã trình làng một người trẻ, mới toanh và ít tiếng tăm là Nguyễn Tấn Dũng, lúc đó là bí thư tỉnh ủy Kiên Giang, dự bị cho vị trí thủ tướng tương lai. Hiển nhiên thôi, khi kênh đào xong, thì khu vực Phú Quốc-Hà Tiên, quê hương của Ba Dũng trở thành một tiền đồn yết hầu quan trọng, kiểm soát và phòng thủ kênh đào khi nhìn về phương Bắc, vậy còn lựa chọn nào tốt hơn cho Võ Văn Kiệt và Mỹ, để đầu tư chính trị vào một tay cờ gốc Kiên Giang trong tương lai sẽ dẫn dắt Việt Nam đối đầu với Trung Quốc và cùng chia lợi ích với Mỹ qua kênh đào ĐNA này.
Từ khi “thống nhất đất nước” vào năm 1975, học tập mô hình Mao Trạch Đông, đảng cộng sản Việt Nam đã liên tiếp phạm những sai lầm đã đưa đất nước vào đói nghèo lạc hậu và dân tộc ly tán. Trong tình hình đó, nhìn sang Trung Quốc thấy Đặng Tiểu Bình thực hiện những cải cách kinh tế, đảng đã quyết định cho tay cờ Võ Văn Kiệt tham chính, đi theo sau đàn anh Trung Quốc “cải cách kinh tế nhưng kiềm chặt chính trị”. Thế là Võ Văn Kiệt đi phương tây, đem về những chương trình tài trợ- đầu tư và Mỹ quyết định dỡ bỏ cấm vận. Ít ai biết là kèm theo những cái công khai đó cỏn có những thỏa thuận ngầm bên trong. Chắc là Mỹ đã quyết định trong tương lai Việt Nam sẽ là quốc gia dẫn dắt Asean đối đầu với Trung Quốc, và hợp tác chia lợi ích với Mỹ trong dự án kênh đào ĐNÁ. Tay cờ Võ Văn Kiệt sẽ triển khai nước đi chiến lược đó trong bàn cờ Việt Nam để phối hợp với Mỹ.
Nhóm lãnh đạo cao nhất của đảng cộng sản Việt Nam dĩ nhiên cũng hiểu kế hoạch này của Mỹ. Tuy nhiên trong một tình thế mà đàn anh Trung Quốc có chung lý tưởng nhưng không chung tiền xài thì việc phe bảo thủ thân Tàu nhượng bộ để Võ Văn Kiệt bang giao với Mỹ và phương tây, thực thi các cải cách của ông ta để có được viện trợ, là cần thiết. Với những sự hỗ trợ này, trước khi nhân dân có lợi thì đảng cũng hưởng lợi và đảng có thành tích để “tự hào” với nhân dân coi đó là “thành tựu của đảng”. Đảng cũng tự tin là đàn anh Trung Quốc có cải cách nhưng không sợ mất đảng, thì đàn em như mình học theo cũng không sao. Nhóm bảo thủ thân Tàu trong đảng lúc đó chưa đủ tầm để thấy ra một điều then chốt là Việt Nam không phải là Trung Quốc, một quốc gia lớn và có tiếng nói trong bang giao quốc tế, còn Việt Nam thì khác hơn, tư thế yếu kém hơn, nên cái gì mà đảng cộng sản Trung Quốc làm được thì chưa hẳn là đảng cộng sản Việt Nam làm được. Sự ổn định toàn trị của đảng cộng sản Việt Nam mong manh hơn đảng cộng sản Trung Quốc, trước những biến động dồn dập, trong 1 thế giới phẳng toàn cầu đa cực như hiện nay.
Tận dụng những kẽ hở đó của đảng, thế là những hoạt động đặt nền móng cho kế hoạch “thoát Trung” của Võ Văn Kiệt được xây dựng. Tay cờ Ba Dũng được Mỹ âm thầm ủng hộ và trưởng thành để bây giờ leo lên cầm nắm bàn cờ của Việt Nam trong sự ậm ừ của đảng. Từ kế hoạch kênh đào đến việc Việt Nam có một ông thủ tướng quê Kiên Giang bây giờ bắt đầu “thoát Trung” đã có một móc xích mà tác nhân sắp đặt là Võ Văn Kiệt. Ông Võ Văn Kiệt với tầm nhìn chiến lược và tấm lòng với dân tộc, hiểu rằng kế sách tối ưu cho đảng CS của ông và cho đất nước là đi với Mỹ trong dự án kênh đào và như một đồng minh lâu dài. Do đó ông đã bồi dưỡng tay cờ Ba Dũng từ rất sớm, khi còn là thủ tướng đã luân chuyển Ba Dũng qua nhiều lĩnh vực, bộ ngành quan trọng để Ba Dũng có hậu thuẫn và bộ khung làm việc trong tương lai. Ít ai chú ý Nguyễn Tấn Dũng đã từng làm thứ trưởng bộ quốc phòng, thứ trưởng bộ công an, thứ trưởng bộ tài chính, thống đốc ngân hàng nhà nước… những cơ quan có vị trí quan trọng trong việc cầm nắm quyền lực và duy trì ảnh hưởng lãnh đạo tại Việt Nam.
Như vậy, có thể lý giải vì sao bây giờ Việt Nam có một ông thủ tướng xuất thân Kiên Giang đang có chiến lược “thoát Trung”, cũng như hiểu vì sao Thái Lan có bất ổn chính trị liên tục. Cũng như hiểu vì sao hôm nay Trung Quốc quyết định đặt giàn khoan vào Biển Đông để qua nó gây bất ổn chính trị cho Việt Nam nhằm phá thế cờ “thoát Trung”, cầm lại quyền chi phối VN, kềm chân Mỹ trong chiến lược Asean. Để từ đó thắng nước cờ chiến thuật quan trọng là kiểm soát kênh đào ĐNA. Đứng trước lợi ích to lớn của kênh đào và biển Đông mang lại, tình anh em hai đảng chỉ còn là một thứ “tình hữu nghị mơ hồ, viễn vông” mà tay cờ Ba Dũng vừa công khai kết luận. Bày binh bố trận cho kênh đào
Hiệu quả chiến thuật từ dự án kênh đào mang lại cho Việt Nam nếu đi với Mỹ, sự góp mặt và tham gia vào thực thi kế hoạch đó của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã lộ rõ với các hành động gần đây của ông ta.
Giới quan sát chính trị Việt Nam cần chú ý đến tác động của dự án kênh đào ĐNA (Kra canal) mang lại cho sự cải cách chính trị của Việt Nam. Ít ai chú ý đến sự kiện diễn biến xung quanh nó. Tháng 3/2014, Ba Dũng đã thành công trong việc đưa con trai ông ta là Nguyễn Thanh Nghị về làm phó bí thư tỉnh ủy kiêm phó chủ tịch tỉnh Kiên Giang và đặc trách chỉ đạo đặc khu Phú Quốc-Hà Tiên. Liền ngay sau đó là tháng 4/2014, Singapore ký với Việt Nam thỏa thuận đầu tư vào Phú Quốc, chuẩn bị cho dòng tiền của Mỹ và Singapore đổ vào khu vực này. Nên nhớ các nhà tư bản ngoại quốc và cha con Lý Quang Diệu-Lý Hiển Long là những tay có tầm cỡ khôn ngoan trong hoạch định chính sách. Nếu họ không tin là Việt Nam có bước ngoặc xích lại Mỹ và Ba Dũng sẽ “thoát Trung”, sau này Việt Nam cùng Mỹ khai thác kênh đào thì làm sao mà họ đổ tiền vào khu vực này. Những tay tư bản và cha con nhà họ Lý không dại gì trao tiền vào nơi mà Trung Quốc cầm quyền kiểm soát cả. Những nhà quan sát và quan tâm đến chính trị Việt Nam cần thấy đây là một thắng lợi then chốt của Nguyễn Tấn Dũng và Mỹ trong việc khởi động kênh đào ĐNA. Dĩ nhiên là có đi phải có lại, kèm theo sự đầu tư của Mỹ và Singapore, Nguyễn Tấn Dũng phải cam kết với Mỹ và đồng minh là Phú Quốc sẽ có quy chế chính trị-kinh tế như một Hồng Kông thứ 2 trên thế giới. Kế hoạch đã lộ rõ và đến hồi thực hiện. Trung Quốc không thể nằm im cho kẻ địch thành công. Giàn khoan phải xuất hiện.
Song song với Kiên Giang, nơi quan trọng bậc nhất cho dự án kênh đào thì Sài Gòn cũng có vị trí quan trọng hàng đầu của nó trên bình diện cải cách chính trị sau này của đất nước. Trong một tương lai khi chiến lược “thoát Trung” thành công, Việt Nam sẽ phải cải cách chính trị để phù hợp với quốc tế. Sài Gòn với sự năng động vốn có, những nền tảng dân chủ mà chính thể Việt Nam Cộng Hòa còn dư âm lại, và trình độ dân trí hiện nay hoàn toàn thích hợp làm ngọn cờ đầu. Nguyễn Tấn Dũng hiểu rằng phải đặt ở đó một quân cờ chiến lược trung thành với ông ta và với đường lối “thoát Trung”, có xu hướng cải cách ổn định cũng như được quẩn chúng tin cậy. Trong một bối cảnh khó khăn chèn ép nhau từ phe thân Trung Quốc, Nguyễn Tấn Dũng đã vượt qua ngăn cản bước đầu, đưa về một “người kế vị”, cháu của Võ Văn Kiệt, người từ lâu nay lặng lẽ yểm trợ ngư dân Quãng Ngãi chống các âm mưu gây hấn của Trung Quốc, người được quần chúng Sài Gòn tin cậy, đó là Võ Văn Thưởng.
Phải nhìn nhận đây là một bước đi khéo léo và tế nhị của tay cờ Ba Dũng. Đưa Thưởng về để chuẩn bị vào vị trí lãnh đạo một thành phố sẽ đi đầu trong cải cách thể chế, Ba Dũng đã làm phương tây và các cựu thần trong đảng ủng hộ đường lối Võ Văn Kiệt yên lòng. Bên cạnh đó, Ba Dũng cũng tỏ rõ một thiện chí cho quần chúng thấy là ông ta sẽ không đi theo con đường độc đoán gia đình trị. Sau khi ông ta thoái vị thì Võ Văn Thưởng sẽ bước ra chính trường và dẫn dắt Việt Nam, chứ không phải các con của ông ta, giảm thiểu sự nghi ngờ của quần chúng từ “độc tài đảng trị” chuyển sang “độc tài gia đình trị”. Đây cũng là cách hay nhất để tạo sự đồng thuận tương đối từ các phe này phái kia, điều mà Ba Dũng cần nhất lúc này. Mà biết đâu nhờ thế ông lại bước lên địa vị cao hơn bây giờ.
Bấy lâu nay truyền thông khắp nước đã bàn luận và các chuyên gia trí thức đã góp ý về một mô hình đô thị dân chủ và năng động. Phải chăng Võ Văn Thưởng sẽ nương theo những bàn luận và góp ý đó, và với sự ủng hộ của khối chuyên gia trí thức, đưa thành phố Sài Gòn đi theo mô hình chính quyền tự trị kiểu tiểu bang của Mỹ, đặt nền móng cho chuyển hóa chính trị tại Việt Nam, đưa Việt Nam xích lại gần với các thể chế phương tây?
Kênh đào ĐNÁ và Phong trào dân chủ Việt Nam
Các nước cờ, nguyên nhân sâu xa, nguyên nhân thứ yếu và các yếu tố “thoát Trung”, đang ngày càng lộ rõ. Tại sao lại có bài báo về kênh đào Kra vào lúc này? Những người vận động chính trị cho nền dân chủ cần thấy rằng những nước cờ chiến lược, kênh đào, đặc khu Phú Quốc và thành phố Sài Gòn, sẽ là tiền đồn cho nền dân chủ tại Việt Nam trong tương lai. Để từ đó có ngay những bước đi chiến thuật phù hợp. Những nước cờ này của Ba Dũng đang tạo ra nhiều cơ hội và ưu thế cho tiến trình dân chủ hóa. Những người dân chủ phải biết tận dụng khéo léo để phát huy nó. Vấn đề bây giờ cần thấy và đặt ra không phải là Việt Nam có “thoát Trung” hay không, mà là làm gì để phát huy hiệu quả từ những bước khởi đầu “đang thoát Trung” và những thành quả bước đầu mà nó đang mang lại. Lúc này cần thiết nhất là hãy chân thành vì lợi ích chung của đất nước, cùng ngồi lại với nhau, xác định rõ mục tiêu ngắn hạn, trung hạn và chiến lược dài hạn (mục tiêu nguyên tắc) là gì.
Cũng cần nhận rõ rằng lúc này, tay cờ Ba Dũng tuy có ưu thế trên chiến lược nhưng vẫn còn thất thế ở các vị trí chiến thuật. Do đó, vấn đề đáng quan tâm là phối hợp vận động để góp phần vượt qua các trở ngại chiến thuật nhằm tổn thất ít nhất mà đạt hiệu quả cao nhất. Cái quan trọng thứ hai phải nhìn nhận là đảng cộng sản Việt Nam và chính phủ Việt Nam bây giờ trở đi đã dần dần không thể còn là một nữa. Người đấu tranh dân chủ hướng về Mỹ và phương tây kêu gọi họ ủng hộ cho phong trào dân chủ Việt Nam thì cũng đừng quên một châm ngôn của chính tư bản. Đó là: “không có bạn bè và kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có đồng minh giai đoạn và lợi ích vĩnh viễn là quan trọng”.
Dĩ nhiên để đạt được thắng lợi sau cùng của chiến lược thoát Trung, Ba Dũng đã và đang thực hiện những bước đi chiến thuật. Theo dõi sâu xát tình hình chúng ta có thể nhận ra được những bước đi chiến thuật này, mà nếu thuận tiện, tôi sẽ trình bày trong những bài kế tiếp.
© Nguyễn An Dân (Ngày 25 tháng 5 năm 2014)
|
|