Tương quan lực lượng VN _ TQ
25.05.2014 21:19
Nhìn chung thì lực lượng quân đội VN so với TQ còn quá chênh lệch, nhưng nhiều nhà nghiên cứu chiến lược cho rằng quân đội VN có thể gây tổn thất lớn nếu TQ mở cuộc tấn công. Sự trổi dậy mạnh mẽ đầy tham vọng của TQ gây bất ổn hòa bình trong khu vực, đe dọa an ninh hàng hải tại tuyến đường vận chuyển hàng hóa qua biển Đông, nên các cường quốc bị ảnh hưởng can thiệp vào như Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, Ấn Độ, mới đây thì có Anh Quốc và Canada cũng lên tiếng.
Ngoài ra còn có Israel và Nga cung cấp vũ khí và chuyển giao công nghệ quốc phòng cho VN. Các nước Tây phương này đương nhiên thấy cần ra sức giúp VN hiện đại hóa quân đội trong thế hỗ tương để chống lại “Đại Hán” bành trướng. Liệu có thể chống trả được một cuộc tấn công của TQ không ? Quân khu Cả nước chia làm 8 quân khu: Quân khu 1, bảo vệ vùng đồi núi Đông Bắc, bộ tư lệnh (BTL) đặt tại Thái Nguyên. Quân khu 2, bảo vệ miền thượng du Tây Bắc, BTL đặt tại Việt Trì (Phú Thọ). Quân khu 3, bảo vệ lưu vực sông Hồng, BTL đặt tại Hải Phòng. Quân khu 4, bảo vệ Bắc trung phần, BTL đặt tại TP. Vinh (Nghệ An). Quân khu 5, bảo vệ Nam trung phần và Tây Nguyên, BTL đặt tại TP. Đà Nẳng. Quân khu 7, bảo vệ vùng Đông Nam phần, BTL đặt tại TP. Hồ Chí Minh. Quân khu 9, bảo vệ lưu vực đồng bằng sông Cữu long, BTL đặt tại TP. Cần Thơ. Quân khu Thủ đô, bảo vệ Thủ đô Hà Nội và BTL đặt tại Hà Nội. Bộ binh tác chiến VN có khoảng 455.000 quân tác chiến chủ lực. Gồm 67 lữ đoàn và sư đoàn mỗi đơn vị từ 5.000 đến 12.500 quân. Lực lượng biên phòng có 150.000 quân. Một trung đoàn nhảy dù, nhiều tiểu đoàn đặc công và một sư đoàn Thủy quân Lục chiến. Khoảng 40.000 quân thuộc các đơn vị yểm trợ: Truyền tin, cơ khí, công binh, quân y, quân vận, … Có khoảng 5.000.000 quân trừ bị. Sư đoàn TQLC và các đơn vị đặc công trang bị vũ khí cá nhân loại tân tiến nhất hiện nay TAR-21 dùng loại đạn 5.56 mm do Israel cung cấp. Số còn lại là sử dụng vũ khí cá nhân AK-47. Việt Nam tự chế tạo được các loại súng cộng đồng như đại liên 7.62 mm, 12.7 mm và 14.5 mm, đại bác không giật 57 mm & 75 mm, các loại súng cối từ 60 mm đến 120 mm, có nhà máy chế tạo đạn dược, cùng nhiều quân trang quân dụng khác cung cấp cho quân đội. Binh chủng thiết giáp Lực lượng Tank chủ yếu là loại T-54/55, gồm 850 chiếc, và 350 chiếc loại T-59 (là loại T-55 của Nga do TQ sản xuất). Do ngân sách quốc phòng hạn hẹp nên VN không thể mua các loại tăng mới hiện đại, Israel là quốc gia giúp VN nâng cấp 300 chiếc T-55 trở thành T-55 M3. Thay pháo 90 mm củ bằng pháo 105 mm M68L7. Trang bị vũ khí do VN chế tạo gồm: 1 đại liên 12.7 mm, 1 đại liên 7.62 đồng trục và một súng cối 60 mm. Thay các hệ thống điều khiển tiên tiến do Nga, Thụy Điển, Israel và Ukraina cung cấp, thay động cơ Diesel mới mạnh hơn từ 800 lên 1.000 mã lực của Đức chế tạo. Israel đồng ý bán cả hệ thống dây chuyền nâng cấp để VN tự hiện đại hóa toàn bộ lực lượng tăng còn lại (tại nhà máy Z-751 Sài Gòn), đồng thời Israel mua lại số lượng lớn của VN các thùng đạn, thùng chứa hỏa tiển bằng kim loại và một số quân dụng khác, nên giảm đi phần nào cho kinh phí mua sắm vũ khí từ Israel. VN còn có 300 tăng T-72 mua của Ba Lan, trang bị pháo 125 mm, 200 tăng T-62 mua của Liên sô trang bị pháo 115 mm. Thiết giáp chống mìn RAM-2000 mua của Israel 1.000 chiếc. Xe chiến đấu bộ binh BMP-1 và BMP-2 có 1.200 chiếc cũng được nâng cấp. Khoảng 1.500 thiết giáp chở quân thuộc các loại BTR cũng được tân trang. Có 300 xe thiết giáp PT-76, chuyên dụng lội nước yểm trợ hỏa lực cho TQLC cũng được Nga giúp nâng cấp. Thay pháo tháp củ 76.2 mm bằng pháo tháp tự động 57 mm AY220M có tốc độ bắn nhanh 120 phát/phút, 4 ống phóng hỏa tiển chống tăng ATGM, 1 đại liên 12.7 mm và 1 súng phóng lựu 30 mm. Trang bị hệ thống MSA xe tự động phát hiện và tăng cường khả năng theo dõi mục tiêu gấp 4 lần. PT-76 có nhược điểm giáp bảo vệ yếu, để khắc phục nhược điểm này xe được trang bị hệ thống Antisnaypera nhằm cảnh báo, phát hiện các thiết bị quang học gắn trên các súng chống tăng của địch để xe có thể nhanh chóng thanh toán mục tiêu. Binh chủng Pháo binh Lực lượng pháo binh VN khá mạnh gồm khoảng 15.000 khẩu đại bác đủ loại, nếu tính cả các loại súng cối tổng cộng trên 24.000 khẩu. Pháo không giật 73 mm, 82 mm và 107 mm. Pháo 152 mm D-20 mua của Liên Sô, một số pháo 155 mm của Hoa Kỳ chế tạo (thu được sau khi đánh chiếm Miền Nam). Pháo 130 mm M-46, loại này được Ấn Độ giúp nâng cấp. Pháo tự hành có các loại 100 mm SU-100, loại 122 mm 2S-1và loại 152 mm 2S-3 mua của Liên Sô. Pháo phản lực phóng loạt có các loại 132 mm BM-13, loại 140 mm BM-14, loại 122 mm BM-21. Nhiều hỏa tiển đường đạn chiến thuật đất đối đất Scud SS-1do Liên Sô cung cấp. Hỏa tiển đường đạn Extra mua của Israel đặt cố định hoặc có thể gắn dàn phóng 4 ống trên các loại xe chiến đấu có tầm bắn 150 km. Hỏa tiển hành trình siêu thanh BrahMos mua của Ấn Độ, tầm bắn 300 km. Các loại hỏa tiển này có độ chính xác cao, sai lệch không quá 10 m (Extra/150 km) và 50 m (BrahMos/300 km). Số lượng hỏa tiển Extra và BrahMos không được công bố. Lực lượng Bộ Binh của VN được xem là hùng mạnh nhất Đông Nam Á, chắc chắn quân xâm lược TQ không thể dễ dàng đánh bại được khi tấn công trên bộ. Binh chủng Phòng không: Cũng được tăng cường hiện đại hóa phòng chống một cuộc tấn công đường không, xếp theo chiến thuật có 3 loại: Tầm gần: Có khoảng hơn 200 pháo 23 mm 4 nòng ZSU-23-4, tốc độ bắn 3.400 phát/phút, tầm 2.500 m đặt trên xe bọc thép GM-575 có trang bị Rada theo dõi và bám mục tiêu RPK-2. Có khoảng 200 pháo 20 mm 6 nòng M163, tốc độ bắn 3.000 phát/phút, cũng đặt trên xe thiết giáp. Khoảng hơn 100 pháo 37 mm nòng kép AZP/S-60 và khoảng hơn 100 pháo nòng kép 57 mm (61K) gắn trên xe bánh lốp, khi tác xạ đặt trên sàn có 4 chân chống thủy lực. Hệ thống pháo tên lửa phòng không 2S6 Tunguska mua của Nga số lượng không rỏ. Pháo 2S6 trang bị 2 pháo 30 mm có tốc độ bắn cực nhanh 5.000 phát/phút tầm bắn 4 km. Có nhiều các loại đại liên nòng kép phòng không 12.7 mm và 14.5 mm gắn trên xe thiết giáp BTR-2. Các loại pháo cao tốc phòng không có hiệu quả khi môi trường bị nhiểu sóng nặng. Hỏa tiển phòng không tầm gần SA-7 Grail (Strela-2) có khoảng 200 và SA-Grinch (Igla) có khoảng 400. Ngoài hệ thống pháo 2S6 Tunguska, một số các pháo, đại liên và hỏa tiển phòng không tầm ngắn khác VN tự sản xuất được. Ngày nay súng phòng không được cơ động hóa không còn dùng xe kéo nữa. Tầm trung: Hỏa tiển tự hành SA-6 Gainful (2k12 Kub) và loại hỏa tiển SA-8 Gecko mua của Nga số lượng không rỏ. SA-2 Guideline (S-75 Dvina) có khoảng 280 dàn phóng với 1.000 hỏa tiển. SA-3 Goa (S-125 Neva/Pechora) có khoảng 100 dàn phóng với 1.500 hỏa tiển. Ngoài ra còn có hỏa tiển SA-13 Gopher (Strela-10) có 12 dàn phóng tự hành mua của Nga với khoảng 200 hỏa tiển. Tầm xa: SA-20 Gargoyle (S-300 PMU-1) có 2 hệ thống với 72 hỏa tiển. Loại hỏa tiển siêu âm hiện đại này tương đương với loại hỏa tiển Patriot đánh chặn tên lửa hoặc máy bay siêu âm của Hoa Kỳ. VN có đặt mua thêm của Nga một số hệ thống S-300 PMU nữa nhưng số lượng không được công bố. Nga cũng đồng ý bán loại mới S-400 cho VN. Lực lượng phòng không được trang bị hai loại Radar tân tiến nhất hiện nay: Hệ thống Kolchuga do Ukraina chế tạo, VN mua 4 hệ thống này trang bị cho lực lượng phòng không. Hệ thống có 36 tần số, có độ phân giải rất cao trong môi trường nhiễu sóng nặng. Tự động theo dõi và bám bắt 32 mục tiêu cùng lúc, hổ trợ các tham số cho các hệ thống hỏa tiển tiêu diệt mục tiêu trên không hoặc trên biển, tầm hoạt động 600 km. Rada tự động hiện đại nhất VERA-E Hệ thống Radar thụ động VERA-E do Cộng Hòa Czech chế tạo, VN sở hữu từ 2 đến 4 hệ thống này. Tầm hoạt động 400-500 km, software của hệ thống có khả năng tự động và theo dõi đồng thời lên đến 300 mục tiêu (máy bay, tên lửa hay các mục tiêu khác). Khẳng định có thể phát hiện máy bay tàng hình B2 của Mỹ từ cự li rất xa 250 km. VERA-E có thể phát hiện các máy bay tàng hình B2, F-117, F-35 và ngay cả F-22 chứ còn đối với J-20 của TQ thì không có gì là khó khăn. Đài Radar thụ động VERA-E cung cấp tham số cho tên lửa SAM hiện nay của VN như S-125 Pechora và S-300 PMU-1 tấn công tiêu diệt mục tiêu. Cung cấp tham số chính xác của tàu chiến địch cho lực lượng phòng vệ ven biển, vị trí các dàn Radar, và ngay cả vị trí chiến xa của địch đang di chuyển để máy bay, pháo binh hay tên lửa của ta tiêu diệt mục tiêu. Tháng 7-2012, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ và Ngoại trưởng bà Hillary Clinton đã thỏa thuận bán một số dàn Radar tân tiến nhất cho VN nhằm phát hiện và giúp hệ thống hỏa tiển đánh chặn hỏa tiển tấn công của TQ, loại gì và số lượng chưa được công bố. Lực lượng phòng thủ ven biển: VN là khách hàng đầu tiên mua của Nga 2 hệ thống phòng thủ bờ biển cơ động K-300P Bastion trang bị hỏa tiển chống hạm siêu âm Yakhont. Tốc độ 2.5 Mach, tầm bắn 300 km. VN cũng có hợp đồng mua thêm 2 hệ thống này nhưng không biết khi nào VN tiếp nhận. Nga cũng đã chuyển giao công nghệ để VN tự chủ sản xuất loại hỏa tiển hiện đại này. Nga và VN đang hợp tác chế tạo một biến thể Kh-35 Uran khác, một thế hệ hỏa tiển mới được đặt trên chiến hạm hoặc trên đất liền (tương tự như Nga-Ấn Độ hợp tác phát triển hỏa tiển BrahMos). Mấy tháng gần đây pháo binh và lực lượng hỏa tiển phòng thủ bờ biển thường xuyên diễn tập phòng chống một cuộc tấn công đổ bộ đường biển. Quân chủng Không quân: Có ba không đoàn. Không đoàn Thăng Long chịu trách nhiệm phía bắc. Gồm các Phi đoàn tiêm kích Sao đỏ (Mig-21) căn cứ Nội Bài, Phi đoàn tiêm kích và ném bom Yên Thế (Su-30 MK2V) căn cứ Thọ Xuân, Phi đoàn tiêm kích Lam sơn (Mig-21 nâng cấp) căn cứ Kép, Phi đoàn Yên Bái (Su-22M-4 nâng cấp) căn cứ Yên Bái, Phi đoàn Ba Vì (Các loại trực thăng) căn cứ Hòa Lạc, Phi đoàn vận tải Hồng Hà (Các loại vân tải cơ) căn cứ Gia Lâm. Không đoàn Hải Vân chịu trách nhiệm Miền Trung. Gồm Phi đoàn tiêm kích và ném bom Sơn Trà (Su-30 MK2V) căn cứ Đà Nẵng, Phi đoàn trực thăng tấn công (Ka-28, Ka-32, M-171) căn cứ Đà Nẵng, Phi đoàn tiêm kích Phù Cát (Su-27 nâng cấp) căn cứ Phù Cát. Không đoàn Lê Lợi chịu trách nhiệm Miền Nam. Gồm Phi đoàn tiêm kích và ném bom Hậu Giang (Su-22 nâng cấp) căn cứ Thanh Sơn, Phi đoàn tiêm kích Đồng Nai (Su-30-MK2V) căn cứ Biên Hoà, Phi đoàn trực thăng Đồng Tháp Hai trung tâm huấn luyện Julius (L-39C) ở Đông Tắc, và Yak-52+ Yak-130 ở Cam Ranh. Bốn loại phi cơ chiến đấu chủ lực trong lực lượng không quân VN là Su-30 MK2V (23 chiếc) đang thương lượng mua thêm 18 chiếc Su-30 khác đã qua sử dụng, Su- 27 SKs (15 chiếc), Mig-21 (250 chiếc, Ấn Độ đã giúp nâng cấp 150 chiếc), Su-22 M3/4 (50 chiếc nâng cấp). Các chiến đấu cơ vừa được trang bị loại tên lửa không đối đất & chống hạm Kh-25MPU hiện đại Trực thăng tấn công Mi-24 Trực thăng tấn công 30 chiếc loại Mi-24. Trực thăng vận tải 123 chiếc, gồm các loại Mi-8, Mi-17, Ka-28, Ka-32T , SA-365N2, AS-350B3, SA-330J và UH-1H. Máy bay trinh sát UAV không người lái M-400 có 12 chiếc. Máy bay trinh sát Amphibious VNS-41 (loại Che-22 Korvet của Nga) có 15 chiếc. Máy bay huấn luyện HL-1 (là loại Aerotrek A240 của châu Âu) cũng có thể dùng vào việc trinh sát, số lượng không rỏ. Quân chủng Hải quân được chia làm 5 vùng: Vùng 1, bảo vệ vùng vịnh Bắc bộ bao gồm các hải đảo từ Quãng Ninh đến Hà Tĩnh, BTL đặt tại Hải Phòng. Vùng 3, bảo vệ vùng biển khoảng giửa miền Trung từ Quãng Bình đến Bình Định, bao gồm các đảo Cồn Cỏ, Lý Sơn, BTL đặt tại Đà Nẵng. Vùng 4, bảo vệ vùng biển phía Nam miền Trung từ Phú Yên đến Bình Thuận bao gồm quần đảo Trường Sa, đặt căn cứ tại Cam Ranh (Khánh Hòa). Vùng 2: Bảo vệ vùng biển thềm lục địa phía Nam từ Bình Thuận đến Bạc Liêu, bao gồm các nhà giàn ở bải ngầm ngoài khơi Cà Mau, đặt căn cứ tại Nhơn Trạch (Đồng Nai). Vùng 5: Bảo vệ vùng biển Nam Biển Đông và vịnh Thái Lan, đặt căn cứ tại đảo Phú Quốc (Kiên Giang). Để bảo vệ chủ quyền biển đảo trước âm mưu thôn tính 80% biển Đông của TQ, VN ráo riết tăng cường hiện đại hóa lực lượng hải quân. Từ một lực lượng phòng thủ ven biển với nhiều chiến hạm nhỏ từ vài trăm tấn đến 1.000 tấn, mà các nhà quân sự gọi là “hạm đội muỗi”. Đó là các tàu tuần tra có trọng tải từ 200 đến 500 tấn: gồm tàu phóng lôi cao tốc trọng tải 250 tấn có 22 chiếc (Osa II, Turya, Shershen). Trục lôi hạm (tàu quét mìn Yurk, Sonya, SO-1) 12 chiếc. Có 12 tàu tuần tra khoảng 200 tấn do Vinashin đóng. Tàu chống ngầm Petya II và Petya III trọng tải 1.000 tấn có 5 chiếc. Tàu tuần tra tên lửa Tarantul-1 và Tarantul-5 có 8 chiếc (2 chiếc do VN đóng) trọng tải 455 tấn. Một số tàu vận tải và tàu đổ bộ. Các chiến hạm hiện đại: Đặc điểm tàu chiến mới trang bị cho hải quân VN tuy không lớn nhưng có tốc độ nhanh, hỏa lực mạnh, nhằm chống trả một cuộc tấn công chớp nhoáng của TQ đánh chiếm thêm các đảo còn lại ở Trường Sa (như đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974 và 7 đảo ngầm trong quần đảo Trường Sa năm 1988). Hiện VN chiếm giử trên 22 hòn đảo, là quốc gia chiếm nhiều đảo nhất trong quần đảo Trường Sa, trong đó có 33 cứ điểm phòng thủ (Đài Loan chiếm 1 đảo lớn nhất là đảo Ba Bình, Philippines chiếm 9 đảo gần đảo Palawan, Mã Lai chiếm 5 đảo nhỏ phía nam Trường Sa, TQ chiếm 7 đảo đá ngầm và lập thành các cứ điểm quân sự). Bốn tàu pháo tuần tra Svetlyak (Project 1041.2) mua của Nga, dài 49.5 m, trọng tải 375 tấn. Trang bị 1 pháo 76.2 mm AK 176M, 4×4 phóng tên lửa phòng không Ingal MSR, 1 pháo 30 mm nòng kép AK-630, 1 phóng lựu AGS-17. VN dự định đóng thêm 8 chiếc loại này. Bốn tàu chống đổ bộ Mirage (Project 1431.0) mua của Nga, dài 35.45 m, trọng tải 130 tấn. Trang bị 1 pháo 30 mm 6 nòng AK-306 tốc độ bắn 5.000 phát/phút, 2 súng máy 14.5 mm, hệ thống tên lửa phòng không Igla-1M, 1 súng phóng lựu chống ngầm, hệ thống tên lửa chống tăng với 6 tên lửa ATAKA tầm bắn 5.800 m để đánh chặn xe tăng đổ bộ. Tàu tuần tra tên lửa cao tốc Molnya (Project 1241,8) mua của Nga, công ty Vympel tại Petersburg chuyển giao công nghệ cho nhà máy Ba Son (Sài Gòn) đóng thêm 8-10 chiếc khác từ nay 2012 đến 2016, trung bình mỗi năm đóng được 2 chiếc. Tàu dài 56 m, trọng tải 500 tấn, trang bị hỏa lực khá mạnh gồm 1 pháo 76 mm AK-176, 16 tên lửa chống hạm Kh-35E (do VN chế tạo theo sự chuyển giao công nghệ của Nga), tốc độ cận âm (Mach 0.9) tầm bắn 130 km, 16 tên lửa phòng không, tốc độ 35 hải lý/giờ, tầm hoạt động 2.500 hải lý. Bốn pháo hạm tuần tra TT400TP, do VN tự đóng với bản thiết kế sơ bộ của Ukraina tại nhà máy Hồng Hà (Z-173, Hải Phòng). Tàu dài 54.14 m, trọng tải 400 tấn, tốc độ 32 hải lý/giờ, tầm hoạt động 2.500 hải lý. Đang đóng thêm 2 chiếc khác, có thể hoàn tất 2 chiếc cuối năm nay (2012) và 2 chiếc đầu năm tới. Trang bị 1 pháo 76.2 mm AK-176, tốc độ bắn 120 phát/phút, 1 hệ thống pháo tự động 30 mm 6 nòng AK-306 tốc độ bắn 5.000 phát/phút, tên lửa phòng không Igla SA-N-10, cùng hệ thống radar kiểm soát hỏa lực MR-123-02 Bagina Hai khu trục hạm tàng hình Gepard 3.9, mua của Nga là 2 chiếc Đinh Tiên Hoàng HQ 011 và Lý Thái Tổ HQ 012, tàu dài 102 m, trọng tải 2.100 tấn, tốc độ 28 hải lý/giờ, tầm hoạt động 5.000 hải lý. Trang bị 1 pháo 76.2 mm AK-176, hai hệ thống tên lửa phòng không có điều khiển Mistral, 1 hệ thống pháo phòng không cao tốc palma, 2 súng máy 12.7 mm, 16 tên lửa chống hạm Ka-35E tầm bắn 130 km. Hai hệ thống phóng lôi 533 mm, 12 ống phóng Rocket chống ngầm RBU-6000, phía đuôi tàu có sân đáp cho 1 trực thăng Ka-28. Geprad 3.9 sử dụng công nghệ tàng hình (Stealth Technology). VN đã đặt mua thêm 2 chiếc, sau hợp đồng này, Nga sẽ chuyển giao công nghệ để VN tự đóng loại tàu chiến hạm hiện đại này với sự giám sát kỷ thuật của chuyên viên Nga. Đóng tàu chuyên dụng và hậu cần: VN đã đóng 2 tàu vận tải 2.050 tấn tại nhà máy Z-189 (Đà Nẵng) là chiếc HQ-571và một chiếc dùng làm tàu bệnh viện. Đóng 2 tàu khảo sát và đo đạt hải dương cho hải quân HMS 6613, dài 66.35 m, trọng tải 1.550 tấn cũng tại nhà máy Z-189. Khu truc hạm tàng hình Sigma, báo Hà Lan cho biết VN có đặt mua 4 chiến hạm tàng hình Sigma loại nhỏ Project 9113, trọng tải 1.692 tấn, dài 91m, tốc độ 28 hải lý/giờ, tầm hoạt động 3.600 hải lý. Trang bị 1 pháo 76 mm, 2 đại bác 20 mm, hệ thống phóng lôi chống ngầm, 2 hệ thống tên lửa phòng không có điều khiển Mistral, 4 bệ phóng tên lửa chống hạm 4×4 gồm 16 tên lửa MM40 Block-2 tầm bắn 130 km. Áp dụng công nghệ Sewalth Technology. Mang theo 1 trực thăng. Hai chiếc được đóng tại nhà máy Schelde ở Vlissngen thuộc tập đoàn Damen (Hà Lan), 2 chiếc sẽ được đóng tại nhà máy Damen Vinashipyard (Việt Nam). Hộ tống hạm tàng hình P-28 ASW, theo tài liệu từ Wikimedia (Vũ khí và khí tài quân sự VN), VN có đặt mua hộ tống hạm tàng hình chuyên chống ngầm P-28 ASW của Ấn Độ số lượng không rỏ. Trang bị 1 pháo 76 mm AK-176, 16 tên lửa phòng không Barack SAM, 2 hệ thống Rocket chống ngầm gồm 12 ống phóng RBU-6000, 2 hệ thống phóng lôi 533 mm MU-90, 2 pháo cao tốc 30 mm AK-630M. Tàu ngầm Kilo 636,VN mua của Nga 6 chiếc tàu ngần Kilo 636 (Diesel-Điện loại cải tiến), sẽ bắt đầu chuyển giao từ năm 2014 mỗi năm 1 chiếc, hiện Nga và Ấn Độ đang huấn luyện Sĩ quan và thủy thủ đoàn cho hạm đội tàu ngầm này. Tàu dài 73.9 m, trọng tải 2.300 tấn, trang bị 6 ống phóng ngư lôi 533 mm gồm 18 ngư lôi, có thể dùng ống phóng này để phóng hỏa tiển chống hạm 3M-54 Klub, hỏa tiển đối đất 3M-14E, hỏa tiển phòng không SA-N-8, và 24 thủy lôi. Theo một nguồn tin không chính thức tàu ngầm Kilo mà hải quân VN đặt mua của Nga có thể được trang bị loại siêu ngư lôi tên lửa tối tân nhất Shkval-E. Xưởng đóng tàu Z-52,ngày 31 tháng năm 2012, Bộ tư lệnh hải quân VN khởi công xây dựng nhà máy đóng tàu chiến Z-52 tại quân cảng Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Là một cơ xưởng đóng mới và sửa chửa tàu chiến lớn nhất từ trước đến nay của hải quân. Có thể tiếp nhận sửa chửa các tàu chiến lớn 7.000-10.000 tấn, và tàu ngầm của tất cả tàu hải quân các nước có hợp tác quốc phòng với VN. Ngoài xưởng đóng tàu Z-52 tại Cam Ranh, VN còn có các xưởng đóng tàu Hồng Hà Z-173 và Sông Cấm tại Hải Phòng, nhà máy sông Thu và Z-189 tại Đà Nẵng, nhà máy Ba Son tại Sài Gòn. Cảnh sát biển (CSB) Việt Nam có chủ quyền trên vùng biển khá rộng lớn từ Vịnh Bắc bộ xuống phía Nam biển Đông và một nửa vịnh Thái Lan. Nhu cầu kiểm soát, tuần tra và cứu hộ rất lớn nhưng VN hiện chỉ có một số ít tàu trang bị cho CSB. Tàu CSB VN hiện có: 4 chiếc Shershen 150 tấn mua của Nga, 4 chiếc loại Damen Stan 4207 patrol vessel, 4 tàu dài 90 m, trọng tải 2.500 tấn mua của Hà Lan (2 chiếc Sar-412 và Sar-413 đóng tại Hà Lan, 2 chiếc CSB-8001 và 8002 đóng tại nhà máy Sông Thu). 7 chiếc TT-120 trọng tải 120 tấn, 11 chiếc TT-200 trọng tải 200 tấn, 3 chiếc TT-400 trọng tải 400 tấn. Các tàu TT-120, TT-200 và TT-400 do nhà máy Hồng Hà đóng. 2 chiếc trọng tải 1.200 tấn và 3 chiếc 1.400 tấn cũng do nhà máy Sông Thu đóng. Các tàu CSB được trang bị đại liên 12.7 m, 14.5 mm, đại bác 20 mm và 30 mm, tất cả đều do VN sản xuất. CSB VN có 4 tàu kéo và cứu nạn 3500-CV trọng tải 1.400 tấn. Bộ Quốc phòng có kế hoạnh đóng mới số lượng lớn tàu CSB có trọng tải trên 2.000 tấn, do Nhật Bản hổ trợ kinh phí theo chương trình viện trợ vì phát triển ODA. Nhật Bản cũng dùng chương trình này giúp Philippines và Indonesia hiện đại lực lượng Coast Guard, để đối phó với lực lượng tàu hải giám TQ từ 1.500 đến 5.000 tấn tràn ngập biển Đông. Đầu tháng 7/2012, Philippines thương lượng với VN để mua nhiều tàu tuần tra tăng cường hạm đội “Philippines Coast Guard” và đội tàu tuần tra cho hải quân nước này. CSB VN trong năm 2011 và 2012 được tăng cường các máy bay tuần tra biển gồm: 3 trực thăng EC-225 Super Puma MK II mua của Tây Ban Nha, 3 máy bay C-212-400 từ hảng Airbus Military, 6 chiếc phi cơ lưởng dụng DHC-6 của Canada. Đối phó với tàu đánh cá TQ hung hăng như bọn cướp biển, từng giết hại Sĩ quan tuần tra biển của Hàn Quốc, tấn công tàu của lực lượng cảnh sát phòng vệ ven biển Nhật Bản, các nhà nghiên cứu gọi các tàu cá TQ là lực lượng xung kích tiền phong trên biển Đông. VN có kế hoạch đóng tàu cho lực lượng dân quân biển, và hổ trợ ngư dân trang bị các tàu lớn có thể đánh cá xa bờ với công xuất lớn có các thiết bị hiện đại. Ngư dân VN một số được thành lập những trung đội “dân quân biển”, ngư dân trên các hải đảo cũng được huấn luyện quân sự và võ trang để phòng chống một cuốc tấn công đánh chiếm đảo của quân xâm lược TQ. Từ 14 đến 24 tháng 7 năm 2012, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh thứ trưởng quốc phòng VN, đến Washington họp bàn với các giới chức bộ Quốc phòng, bộ Ngoại giao, bộ Xã hội và một số giới chức lập pháp Hoa Kỳ. Một trong các vấn đề được thương thảo cụ thể là mua sắm các chiến cụ không sát thương hiện đại nhất, trong số đó có Radar dùng trong việc chống hỏa tiển của TQ mà Tổng thống Obama vừa đồng ý bán cho VN. Hỏa tiển DF-16 có tầm bắn 1.200 km, có thể từ căn cứ Quảng Đông tấn công Hà Nội và các thành phố quan trọng khác ở miền bắc VN, hay hỏa tiển JL-2 từ các tàu ngầm TQ tấn công các thành phố quan trọng ở Trung hay Nam phần. Hà Nội hoặc Hải Phòng chỉ cách Quảng Đông có 1.000 km nằm trong tầm bắn của hỏa tiển DF-16. Chuyến đi này của tướng Vịnh đến Mỹ chắc chắn TQ theo dõi sát xao. Tờ Hoàn Cầu thời báo của TQ cũng đã lên tiếng đe dọa VN “phải chịu đau đớn” khi xích lại gần hơn với Hoa Kỳ”. VN đang tăng tốc hiện đại hóa vũ khí và khí tài cho quân đội. Liệu lực lượng Bộ binh của VN có đủ khả năng đánh trả một cuộc tấn công đường bộ? Lực lượng phòng thủ bờ biển có thể bẻ gảy được một cuộc tấn công đổ bộ đường biển vào lãnh thổ VN hay không? VN là quốc gia thành viên của LHQ phải được tổ chức này lên tiếng khi bị một nước nào đó tấn công, nhưng lực lượng không quân và hải quân VN có thể cầm cự khi TQ tấn công toàn diện, để chờ đợi có giải pháp các cường quốc can thiệp? Một điều rất hiển nhiên mà chúng ta có thể thấy, mặc dù hạm đội Nam Hải rất hùng hậu nhưng TQ không thể dốc toàn lực để tấn công VN, còn cần phải có lực lượng phòng thủ vì TQ cũng đang có tranh chấp không xót một nước nào ở đông Á, ở biển Đông, và đối đầu với Hoa Kỳ. Ngày 7 July 2012, tờ Apple Daily của Hong Kong loan tin một tàu nghiên cứu mang số hiệu 871, trọng tải 5.000 tấn, hiện đại còn mới của hải quân TQ bị đâm chìm trong vùng biển Hoàng Sa. TQ “im re” âm thầm lo trục vớt mà không dám cho biết tàu nước nào đâm chìm? (tàu 5.000 tấn lớn lắm không thể không nhìn thấy dù là ban đêm, mà muốn đâm chìm tàu này phải là một tàu “khủng” lắm) Hay nguyên do nào khác? Thiệt hại ra sao? Một điều lạ nữa, đêm 11 July 2012 một hộ tống hạm khoảng 3.000 tấn của TQ đi tuần tra lại bị mắc cạn trên đảo Trăng Khuyết cách Palawan 60 hải lý trong vùng biển Trường Sa. Các Radar hay các thiết bị khác trên các tàu này ra sao mà cả 2 tàu của TQ lại gặp tai nạn chỉ cách nhau trong vòng 1 tuần lễ? Qua hai sự kiện này đánh giá sức mạnh thật sự của hạm đội TQ như thế nào, có lẽ còn là một nghi vấn. Nhưng dù sao hạm đội Nam Hải của TQ cũng có cả hàng không mẫu hạm, nhiều chiến hạm hiện đại to lớn từ 5.000 tấn đến 8.000 tấn, và có nhiều tàu ngầm, hải quân TQ hùng mạnh hơn hải quân VN nhiều. Quân đội VN có thể ngăn chặn quân xâm lược TQ được hay không là điều mà nhiều người đang quan tâm. Đại tá Quách Hải Lượng nguyên là Tùy viên quân sự Việt Nam tại TQ cho biết: “Về kỷ thuật thì hiện nay tôi không dám nói thẳng ta có những gì nhưng tôi xin bảo đảm rằng có những thứ đủ đánh được bọn ấy khi nó xâm phạm chủ quyền của ta ở trong biển gần”. Tuy nhiên, muốn có khả năng quốc phòng hữu hiệu có thể đương đầu với quân thù có sức mạnh vượt trội không phải chỉ trang bị vũ khí và khí tài tối tân là đủ, còn cần phải có dân mới mong đánh thắng. Trung tướng Nguyễn Trọng Vĩnh nhà ngoại giao kỳ cựu, nguyên là Đại sứ VN tại TQ từ năm 1974 đến năm 1987 đưa ra nhật xét: “Từ bây giờ phải lo phát huy dân chủ đối với dân và tìm mọi cách nâng cao đời sống của dân. Bây giờ thì dân chủ bị hạn chế, dân không phấn khởi. Nếu mở rộng dân chủ phát huy dân chủ và nâng cao đời sống của dân để tạo được cái đại đoàn kết thì lúc bấy giờ trang bị thêm vũ khí, phương tiện. Trang bị vũ khí phải ở mức nhất định chứ yếu quá không được. Phải có dân, nếu dân không đoàn kết thì đừng hòng đánh thắng!”. Đối với VN hiểm họa giặc Tàu trước mắt, nguy cơ mất nước cũng hiện rỏ! Hiện đại hóa quân đội mà không có toàn dân đoàn kết, quyết chiến, thì đừng hòng đánh thắng kẻ thù, đó chỉ là xây dựng nền quốc phòng nửa vời. © Trọng Đạt
Việt Nam thông báo với thế giới mối đe dọa thật sự trên biển Đông Bởi XUÂN THU - V.V.THÀNH (ghi và lược dịch) | Tuổi Trẻ – 23 giờ trướcViệt Nam thông báo với thế giới mối đe dọa thật sự trên biển Đông TTO - Theo ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Vinh chủ trì và trả lời các câu hỏi của báo chí quốc tế trong khuôn khổ hội nghị Diễn đàn kinh tế thế giới tại Philippines, trong đó có tình hình biển Đông. Dưới đây là các câu hỏi và trả lời của Thứ trưởng Phạm Quang Vinh tại buổi họp báo:

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm và làm việc tại Philippines từ ngày 21 đến 22-5, và đã đề cập tình hình hiện nay trên biển Đông với lãnh đạo nước chủ nhà cũng như tại Diễn đàn kinh tế thế giới - Ảnh: V.V.Thành * Channel News Asia: Xin cho biết ai đứng đằng sau những vụ việc gây rối tuần trước ở Việt Nam? - Đã có một số người lợi dụng vi phạm pháp luật Việt Nam và đã có hành vi gây rối như trên. Nhưng Chính phủ Việt Nam đã có các biện pháp kịp thời. Hiện nay, tình hình đã ổn định, các doanh nghiệp đã trở lại làm việc bình thường. * Thủ tướng nói những người vi phạm sẽ bị nghiêm trị. Xin ông có thể cho biết về các hình thức nghiêm trị? - Những người này sẽ bị nghiêm trị theo pháp luật Việt Nam, kể cả việc đưa ra tòa xét xử. * Có bao nhiêu người sẽ bị trừng trị và các hình thức trừng trị là như thế nào? - Hàng trăm người gây rối đã bị tạm giữ. Theo đúng trình tự tố tụng, chúng tôi sẽ điều tra, xem xét. Người nào không có tội sẽ được thả, người nào có tội sẽ bị nghiêm trị theo quy định của pháp luật. * CNN: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói rằng Việt Nam xem xét hành động pháp lý. Xin ông có thể cho biết thêm biện pháp pháp lý nào Việt Nam đang xem xét để đấu tranh với phía Trung Quốc trong vấn đề này? - Việt Nam kiên trì các biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp và sẽ tiếp tục như vậy trên cơ sở phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm cả các biện pháp được quy định trong Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển. * Strait Times: Ngài Thủ tướng có phát biểu rằng Việt Nam sử dụng tất cả các kênh đối thoại. Vậy sẽ đi về đâu sau khi đã sử dụng hết tất cả kênh đối thoại? - Việt Nam sẽ tiếp tục sử dụng mọi cơ hội và mọi kênh đối thoại, kể cả đàm phán với Trung Quốc. Cho đến nay, chúng tôi đã có hơn 20 cuộc tiếp xúc với Trung Quốc. Và chúng tôi sẽ tiếp tục làm việc này. Vì sao? Việt Nam sẽ sử dụng mọi biện pháp phù hợp với luật pháp quốc tế. Các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế đã được đề cập trong phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. * Xin được hỏi về khả năng Việt Nam sử dụng các hành động pháp lý. Liệu Việt Nam sẽ tham gia vụ kiện của Philippines hay là Việt Nam sẽ đưa một vụ kiện riêng của mình? Khi nào việc này sẽ diễn ra? - Chúng tôi sẽ bảo vệ vùng biển của mình và sẽ sử dụng mọi biện pháp phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển. * Việt Nam có xem xét tiến hành biện pháp pháp lý tập thể cùng với Philippines và Nhật Bản trong các tranh chấp trên biển, như vậy hành động pháp lý chống Trung Quốc sẽ mạnh hơn? - Chúng tôi sẽ sử dụng mọi biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế để bảo vệ chủ quyền và các vùng biển của Việt Nam. * Thủ tướng Việt Nam có nói về vấn đề thương mại và giao thông ở biển Đông? Các vấn đề này sẽ bị tác động như thế nào? - Tình hình hiện nay là hết sức nguy hiểm đối với hòa bình, ổn định và an ninh, an toàn hàng hải. Các bạn thấy giàn khoan được hạ đặt sâu trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, đi cùng với nhiều tàu hộ tống, trong đó có các tàu quân sự, máy bay. Nếu tình hình này không được ngăn chặn, khi đó nó sẽ là mối đe dọa thật sự đối với đường giao thông biển. * Reuters: Việt Nam đã có các tiếp xúc với Trung Quốc. Kết quả của các hoạt động tiếp xúc này? - Cho đến nay, chúng tôi đã có hơn 20 cuộc tiếp xúc với Trung Quốc. Phó thủ tướng, bộ trưởng Bộ Ngoại giao của chúng tôi đã có hai cuộc điện đàm với người đồng cấp của Trung Quốc, trong đó có bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc. * NHK: Tiếp tục về vấn đề hành động pháp lý, tôi được biết Việt Nam đã gửi một văn bản đến Liên Hiệp Quốc. Xin cho biết tính chất của văn bản này là gì? Việt Nam đưa vấn đề ra Diễn đàn kinh tế thế giới. Có phải là Việt Nam đang quốc tế hóa vấn đề không? - Chúng tôi đang thông tin cho cả thế giới, cộng đồng quốc tế, tất cả các nước về mối đe dọa đối với hòa bình và ổn định, sự vi phạm luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển; do vậy, chúng tôi đã thông báo cho Liên Hiệp Quốc cũng như cho các nước ASEAN. Đây là việc thông báo về một mối đe dọa thật sự, một sự vi phạm luật pháp quốc tế. * Việt Nam dự kiến Trung Quốc sẽ có phản ứng như thế nào? - Đề nghị bạn hỏi họ. * Việt Nam có sẵn sàng với những phản ứng tiêu cực từ Trung Quốc? - Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hợp tác và hữu nghị với Trung Quốc. Chúng tôi sẽ nỗ lực làm tất cả để đưa giàn khoan ra khỏi vùng biển của Việt Nam, đồng thời duy trì quan hệ hữu nghị với Trung Quốc. Chúng tôi đang cố gắng làm việc này. XUÂN THU - V.V.THÀNH (ghi và lược dịch)
Nhận Định Lại Vấn Đề Dân Chủ Giờ đây đã đến lúc toàn thể nhân loại phải suy nghĩ lại vấn đề dân chủ.Phải suy nghĩ lại vì ngày nay tổ chức xã hội của con người không còn phù hợp với phần đất nằm trong biên giới lãnh thổ nữa. Vấn đề định nghĩa lại thuật ngữ dân chủ, sao cho phù hợp với những điều kiện mới của hiện tượng toàn cầu hóa, đang nổi lên như một vấn đề quan trọng nhất mà nhân loại cần lưu tâm về cả hai phương diện lý thuyết và thực tế.Sống trong thời kỳ mà ảnh hưởng của hiện tượng toàn cầu hóa ngày càng trở nên thôi thúc, tư tưởng của con người bắt buộc phải nhận định được rằng: trong những điều kiện mới của cuộc sống xã hội toàn cầu, nền dân chủ trong nước nhất thiết phải liên hệ chặt chẽ với một trật tự thế giới mới và với tư tưởng về một nền dân chủ ngoài lãnh thổ quốc gia. Trật tự thế giới là do ý thức con người thiết kế. Nó là kết qủa của những hành động tương tác giữa một số tác nhân gồm có: quốc gia, nhà nước, nhân vật ngoại giao, tổ chức quốc tế, công ty siêu quốc gia, phong trào xã hội, tổ chức phi chính phủ (NGO) và cả cá nhân nữa. Nó không phải là một cái gì cố định mà là một tiến trình thay đổi theo dòng chảy của thời gian. Gợi ý như vậy để thấy rằng biên cương lãnh thổ không thể dùng để trói chặt dân chủ trong một vùng địa dư nhất định mà, trái lại, phải được mở ra để dân chủ có thể lan tỏa khắp hành tinh. Đó là đòi hỏi của lý thuyết dân chủ mới hiện nay. Toàn cầu hóa và dân chủ lãnh thổ Sự phát triển thần kỳ về kinh tế, kỹ thuật, xã hội và chính trị của nhân loại vào thế kỷ 20 đã đem lại cho con người một mối lo không nhỏ. Lo sợ vì con người đã thật sự mất kiểm soát đối với những quyền lực chi phối cuộc sống của chính mình. Lý do là vì hiện tượng toàn cầu hóa đang phát triển quá nhanh. Khi nhận định về một nền dân chủ toàn cầu, tư tưởng của con người chưa đi đến một sự đồng thuận. Nhiều người cho rằng cản trở lớn nhất đối với một nền dân chủ toàn cầu là kích thước quá rộng lớn của đời sống kinh tế mà nhân loại đã đạt tới (Sandel, Democracy Discontent, 1996, p 338) Nhiều người khác, bi quan hơn, khẳng định rằng với những thay đổi của thế giới đang thành hình về các mặt chính trị, kinh tế và văn hóa, dân chủ hóa toàn cầu là một vấn đề không thể thực hiện được.” (Walker: One world, Many worlds: Struggle For A Just World, 1988, p 133). Tuy nhiên, số đông thì vẫn nhận xét rằng để đối mặt với sự phát triển kinh tế toàn cầu như hiện nay, chúng ta không thể giữ mãi ý niệm dân chủ trong phạm vi một lãnh thổ. Như vậy phải tính sao đây ? Chúng ta hãy thử bàn thêm trong những dòng viết tiếp theo. Toàn cầu hóa và trật tự thế giới hậu Westphalia Ngày nay có nhiều lý do vững chắc để tin rằng định chế về chủ quyền quốc gia của Hiệp Ước Westphalia không còn đứng vững nữa. Trước mắt ta thấy càng ngày các định chế quốc tế xuất hiện càng nhiều và càng đối nghịch với các luật lệ quốc gia. Ngoài ra trong cuộc sống của chúng ta, những việc làm thông thường như mua bán hoặc xem truyền hình, đều chứng minh rằng cái “địa phương” và cái “toàn cầu” cũng đang dần dần hòa nhập. Hệ thống giao thông quốc tế bằng máy bay, bằng điện thoại cầm tay, bằng truyền thông điện toán, đã thực sự thâu hẹp khoảng cách giữa con người và con người bất cứ từ nơi nào trên mặt địa cầu. Rõ ràng là các định chế liên hệ đến chủ quyền quốc gia của hệ thống Westphalia đã trở thành bất bình thường trên mọi phương diện trong cuộc sống kinh tế và xã hội của nhân loại hiện nay. Tiến trình toàn cầu hóa không có nghĩa là bác bỏ hoàn toàn nội dung của Hiệp Ước Westphalia mà chỉ muốn thích ứng nội dung của hiệp ước đó vào thực trạng mới của giai đoạn lịch sử hiện nay. Chủ quyền quốc gia ngày nay phải được chia sẻ với một số tác nhân khác, thuộc các vùng và thế giới, với một số điều kiện hợp lý. Ý niệm này, đi đôi với tính bất khả xâm phạm của lãnh thổ, đã trở thành sức mạnh và tài nguyên thương thảo giữa các thành viên của mạng lưới chính trị toàn cầu. Tinh thần mới này đòi hỏi một thiện chí hợp tác rộng rãi từ các quốc gia có chủ quyền cũ để xây dựng một nền dân chủ mới cho nhân loại. Toàn cầu hóa và sự thay đổi của ý niệm dân chủ Từ hơn hai thập kỷ qua, hiện tượng toàn cầu hóa kinh tế đã ảnh hưởng sâu đậm đến cấu trúc kinh tế quốc gia và tạo nên những hố cách biệt giàu nghèo trên cả hai phương diện quốc tế và quốc nội. Thu nhập một tuần của một thương gia trong sinh hoạt mậu dịch có thể bằng hay hơn lương bổng của một công nhân sau một năm lao động vất vả. Gia sản của 358 người giàu có nhất thế giới hiện nay đã nhiều hơn gia sản của 45% dân số lao động bình thường. Quy chế công dân thế giới không còn trùng hợp với quyền lực và quyền lợi của một công dân quốc gia nữa. Chủ nghĩa dân chủ tự do phóng khoáng đang phải đối mặt với hiện tượng toàn cầu hóa. Nhà nước của mọi quốc gia đang bị tiến trình toàn cẩu hóa gây khó khăn trong việc hoàn chỉnh nền dân chủ quốc nội. Các định chế kinh tế trong nước đã không còn thích ứng để điều hành và phát triển nền kinh tế trong phạm vi lãnh thổ. Do đó nhu cầu tiến đến một hệ thống chính trị thế giới xuất hiện. Tuy nhiên ý niệm này vẫn đang còn bị ý niệm chủ quyền quốc gia ngăn cản. Trong những điều kiện phát triển của cộng đồng nhân loại ngày nay thì rõ ràng là vấn để, định nghĩa lại thế nào là dân chủ, cần phải được dặt ra và điều chỉnh. Ngày nay nếu muốn có một nền dân chủ thực sự thì ý niệm dân chủ tự do cần được quan niệm lại để bao gồm cuộc sống của toàn thế giới, một cuộc sống từ lâu đã thực sự đi ra ngoài lãnh thổ quốc gia. Điểm đầu tiên cần thực hiện là phải có một cái nhìn chuẩn hóa (normative vision) về thế nào là dân chủ ngoài biên giới. Việc này rất cần thiết để mang lại một sức thuyết phục cho toàn thể nhân loại. Hiện tại chúng ta đã có ba mẫu hình được đề nghị: mẫu hình tự do dân chủ quốc tế (liberal internationalist); mẫu hình cộng đồng dân chủ quốc tế triệt để (radical communitarianism); mẫu hình thế giới dân chủ (cosmopolitan). Tuy giữa những mẫu hình nói trên có nhiều khác biệt nhưng nếu ta nhìn vào đại thể thì thấy chúng có một mẫu số chung: tất cả đều nhìn nhận rằng các điều kiện dân chủ đã thay đổi; tất cả đều nhận thấy cần thiết phải nới rộng và đào sâu nền chính trị dân chủ hiện nay; tất cả đều không chấp nhận ý niệm về một chính quyền thế giới; tất cả đều tin rằng phải đi đến mục tiêu bằng những sự dàn xếp hòa bình và dân chủ cao độ; tất cả đều tin tưởng rằng tư tưởng và lý tưởng dân chủ sẽ định hình cho các sinh hoạt trong thực tế. Mẫu hình tự do dân chủ quốc tế: dân chủ trong tình nghĩa xóm giềng (neighbourhood democracy) Năm 1995 Commission of Global Governance (Ủy Ban Hành Chính Thế Giới) đệ trình một bản báo cáo nhan đề: Our Global Neighbourhood. Bản báo cáo đề nghị dân chủ hóa trật tự thế giới nhưng không chấp nhận một chính quyền hay một tổ chức liên bang toàn cầu. Quan niệm về hệ thống chính trị mới của thế giới được đưa ra bao gồm một số “sắp xếp” trong đó các nhà nước, các định chế quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, thị trường và các phong trào quần chúng phối hợp với nhau để điều hành công việc của nhân loại về mọi phương diện. Báo cáo chủ trương cải cách Liên Hiệp Quốc để cải tiến tối đa tính dân chủ của tổ chức này và đồng thời tổ chức thêm các hệ thống chính trị địa phương giống Liên Âu. Liên Hiệp Quốc cần được một hội đồng do dân chúng bầu lên và một diễn đàn của các xã hội dân sự toàn cầu chia sẻ trách nhiệm. Cả hai tổ chức này đều hỗ trợ cho hoạt động của Liên Hiệp Quốc. Một Hội Đồng Thỉnh Nguyện (Council Of Petition) cũng cần được thiết lập để thâu nhận thỉnh nguyện của những cá nhân, nhằm tăng cường thực chất của thuật ngữ “công dân thế giới”. Bên cạnh đó, một Hội Đồng An Ninh Kinh Tế sẽ phối hợp mọi công tác quản lý trong lãnh vực này để gia tăng tinh thần trách nhiệm của các cơ quan hữu trách. Tất cả những định chế nói trên nhằm quân bình hóa quyền của nhà nước với quyền của công dân, quyền lợi của cộng đồng quốc gia với quyền lợi của cộng đồng nhân loại. Nguyên tắc chung được đặt ra là để cho mọi người có thể tham gia vào mọi cấp độ quản lý từ địa phương đến toàn cầu. Những người chủ trương mẫu hình tự do dân chủ quốc tế tin rằng việc tạo lập một thế giới hòa bình và dân chủ không phải là một cái gì “không tưởng”, mà trái lại là một sự cần thiết cho một thế giới càng ngày càng có nhu cầu liên lập và hỗ tương phụ thuộc. Mẫu hình nói trên được xây dựng trên ba nhận định: nhu cầu hỗ tương phụ thuộc giữa các quốc gia càng ngày càng trở nên cần thiết; dân chủ cần được nới rộng từ địa phương tới toàn cầu; luật pháp quốc tế và định chế thế giới rất cần thiết để điều hành sự liên lập giữa các quốc gia và giữ cho thế giới có một trật tự hài hòa và ổn định lâu dài. Mẫu hình cộng đồng dân chủ quốc tế triệt để Trái với chủ trương cải cách nói trên mẫu hình cộng đồng dân chủ quốc tế triệt để đấu tranh cho một trật tự thế giới mới mẻ hoàn toàn, về các phương diện xã hội, kinh tế, chính trị, để thay thế. Mẫu hình này phối hợp các hình thái dân chủ và quản lý trực tiếp với những cơ chế chức năng cai trị toàn cầu. Lý do của sự thay đổi triệt để này là để bãi bỏ những hình thái cai trị hiện tại được đánh giá như chỉ làm lợi cho những người giàu, thiếu tính nhân bản và thiếu thực chất dân chủ. Hệ thống chính trị thế giới được xây dựng trên nguyên tắc chức năng chứ không trên nguyên tắc chủ quyền lãnh thổ. Thẩm quyền chức năng đó phải chịu trách nhiệm trước những công dân có quyền lợi thuộc phạm vi thẩm quyền của họ. Trên thực tế, thẩm quyền chức năng đó sẽ là một hội đồng do những cá nhân có quyền lợi liên hệ bầu lên. Hình thức này tiếng Anh gọi là Demarchy, ngôn từ dùng để chỉ một nguyên tắc cai trị tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân có thể tham gia dễ dàng vào tiến trình lấy quyết định chung tại mọi cấp của hệ thống. Nó tuyệt đối phá bỏ nguyên tắc chủ quyền quốc gia và mọi sự bất cập của hình thức dân chủ gò bó trong phạm vi lãnh thổ. Mẫu hình này đưa ra những chuẩn mực của một nền dân chủ toàn cầu trực tiếp. Nó mang tính nhân bản triệt để và được xây dựng trên quyền lợi của những phong trào xã hội cũng như trên quyền lợi của những “cộng đồng có chung định mệnh”. Nó là sát thủ của nguyên tắc “cá nhân chủ nghĩa”. Mầu hình thế giới dân chủ (cosmopolitanism) Những người chủ trương mẫu hình này nhận định: nền dân chủ trong phạm vi lãnh thổ quốc gia ngày nay mang tính vừa giải phóng vừa kìm hãm. Nó giải phóng vì có sinh hoạt bầu cử dân chủ nhưng đồng thời cũng kìm hãm không cho sức mạnh dân chủ vượt ra ngoài biên giới quốc gia. Tư tưởng này xuất phát từ ý niệm của Immanuel Kant: “tất cả nhân loại, ai cũng là những khách đồng hành trên cùng một con tàu vũ trụ”. Vào thế kỷ 13 triết gia Kant đã nhận định như sau : “vấn đề quan trọng nhất của nhân loại do bản chất của họ đòi hỏi là một xã hội dân sự mang tính toàn thế giới được quản lý phù hợp với những quyền tự nhiên của mỗi cá nhân”. Giải pháp mà Kant đưa ra để quản lý con tàu vũ trụ đó là một hiệp hội các quốc gia dân chủ và các xã hội dân sự được điều hành bởi những đạo luật có giá trị cho toàn thế giới. Kant nhấn mạnh đến việc sử dụng những đạo luật tương tự như bộ luật nhân quyền quốc tế hiện nay. Mẫu hình dân chủ quốc tế không đòi hỏi một hệ thống cai trị quốc tế và cũng không đòi hỏi một hình thức liên bang giữa các quốc gia . Nó chỉ đòi hỏi một cơ cấu chính trị xuyên quốc gia ở mọi mức độ quản lý cần thiết gổm các nhà nước, các công ty quốc tế, các định chế quốc tế, các phong trào xã hội thế giới và cả những cá nhân. Đây là một hệ thống chính trị nằm giữa hình thức liên bang và liên minh (confederation). Một tòa án nhân quyền quốc tế sẽ chịu trách nhiệm ban hành công lý khắp năm châu và trừng phạt kẻ lạm dụng. Cũng sẽ có một tổ chức quân sự được giao phó trách nhiệm trông coi việc thi hành luật pháp. Nền kinh tế toàn cầu được điều hành theo các nguyên tắc của kinh tế thị trường. Mẫu hình này không chủ trương cải cách, cũng không chủ trương thay thế, mà chỉ muốn tái cấu trúc. *** Cả ba mẫu hình nói trên đều muốn mang lại cho nhân loại một trật tự thế giới mới trong thời gian hậu Chiến Tranh Lạnh, đồng thời gỡ bỏ trật tự Westphalia đã quá lỗi thời. Qua ba mẫu hình này ta thấy lý thuyết dân chủ đã phát hiện ra sự chênh lệch quá mức giữa thực tế dân chủ hiện hữu và nguyên tắc chủ quyền quốc gia có từ thời Hiệp Ước Westphalia. Điều đó chứng minh là lý thuyết dân chủ và thực tế dân chủ lúc nào cũng gắn bó với nhau và phát triển song hành. Cho nên, một sự trẻ trung hóa đời sống dân chủ thực tế nhất định phải đưa đến một sự”tái cấu trúc” về phương diện lý thuyết. Nguyễn Cao Quyền Tháng 5 năm 2014
|
|