
Hộ tống hạm HQ-10 Nhựt Tảo
Tháng 1/1974 là quãng thời gian rất khó khăn cho Nam Việt Nam. Lệnh ngừng bắn, được thiết lập sau khi quân Mỹ rút khỏi Việt Nam, đã sụp đổ, buộc chính quyền Sài Gòn phải tham chiến với một nền kinh tế hầu như bị tê liệt. Sự kiện ở mấy mỏm đá ngoài khơi cách Đà Nẵng 350 dặm không phải là ưu tiên. Quân lính canh gác Hoàng Sa cũng không có đủ nguồn lực lẫn chiến lược đúng đắn để tự bảo vệ.Trong hàng thập niên, nó vẫn được giữ kín, nhưng gần đây một vài cựu binh đã viết hoặc kể lại câu chuyện của mình. Chính quyền Hoa Kỳ cũng đã công bố một vài tư liệu quan trọng từ kho lưu trữ. Gộp lại những thông tin đó, chúng kể ta nghe câu chuyện về những cá nhân anh hùng bị làm hại bởi kế hoạch tác chiến kém, lãnh đạo tệ hại, và lực lượng không cân sức.
Vào thứ Hai 14/1, một tàu thủy của VNCH phát hiện hai tàu hải quân Trung Quốc đang thả neo gần đảo Hữu Nhật (Robert), thuộc nhóm đảo Lưỡi Liềm trong quần đảo Hoàng Sa do Nam Việt Nam chiếm giữ. Chỉ quen với việc đóng quân trên đất liền, quân VNCH đột nhiên phải đối diện với nguy cơ chiến đấu trên biển. Ngay ngày hôm sau, 15/1, tổng thống Thiệu đã trực tiếp đến thăm hải quân tại Đà Nẵng.
Hôm đó, Jerry Scott từ lãnh sự quán Hoa Kỳ đã đề nghị Tư lệnh Hải quân vùng I duyên hải và là bạn tốt của mình, phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, cho phép Gerald Kosh, một nhân viên dưới quyền, được lên tàu đi Hoàng Sa.
Ông Thoại nhanh chóng đồng ý và Kosh đã có mặt trên tàu HQ-16. Con tàu này là một trong bảy chiếc tàu tuần tra bờ biển cũ của Hoa Kỳ giao lại cho VNCH đầu những năm 1970. Mặc dù ra đời từ thời Thế chiến Đệ nhị, loại tàu này được trang bị những khẩu súng cỡ nòng lên tới 5 inch (127mm), tốt nhất trong cả lực lượng hải quân của VNCH. Kosh sau đó đã viết một bản tường trình dài về trận chiến mà hiện đã được phép công bố.

Sự kiện mất Hoàng Sa đang được bàn luận trở lại ở Việt Nam
Ngày hôm sau, 16/1, HQ-16 đưa 16 lính Biệt Hải của VNCH đến bảo vệ đảo Hữu Nhật. Nhưng quân Trung Quốc đã có mặt trên đảo Duy Mộng (Drummond) và đảo Quang Hòa (Duncan) với lực lượng hỗ trợ ở gần đó. Tất cả những thông tin này đều được khẩn báo về Đà Nẵng.
Ở sở chỉ huy đã có sự hoang mang. Tham mưu phó Hải quân Đỗ Kiểm, người có cấp bậc cao thứ ba trong hàng ngũ hải quân VNCH, đã đề nghị phải phản ứng nhanh và kiên quyết. “Nếu chúng ta hàng động bây giờ thì có thể lấy lại được đảo,” ông Kiểm nhớ lại lời ông nói với tư lệnh hải quân, Đề đốc Trần Văn Chơn. Thay vì thế, theo lời ông Kiểm, ông Chơn đã yêu cầu phải có bằng chứng lịch sử về chủ quyền của Việt Nam với quần đảo đó. Mấy giờ sau ông Kiểm đã phải tìm trong thư viện hải quân và phòng lưu trữ chỉ để tìm các tài liệu.
Vào ngày thứ Năm, 17/1, 15 lính Biệt Hải đổ bộ lên đảo Quang Ảnh (Money). Trong 7 hòn đảo thuộc nhóm đảo Lưỡi Liềm, lúc đó 3 được quân VNCH chiếm giữ và 2 nằm trong tay quân Trung Quốc. Thêm 3 tàu được vội vàng điều tới Hoàng Sa: HQ-5 (tàu tuần tra bờ biển cũ của Mỹ), HQ-4 (tàu khu trục USS Forster cũ, được trang bị súng cỡ nòng 3 inch) và HQ-10 (tàu quét thủy lôi cũ USS Serene của Hoa Kỳ, được cải biên thành tàu tuần tra).
Vào sáng thứ Sáu ngày 18/1, tất cả 4 con tàu trên đã có mặt tại Hoàng Sa. Chỉ huy đội tàu, Thuyền trưởng Hà Văn Ngạc, quyết định thể hiện sức mạnh bằng cách cho lực lượng đổ bộ xuống đảo Quang Hòa. Nhưng hai tàu hộ tống Trung Quốc đã được điều động đến đó và ông Ngạc phải hủy kế hoạch. Quân Trung Quốc thắng hiệp 1.
Vào tối thứ Sáu, mật tin đã được gửi cho ông Ngạc từ Đà Nẵng. Một mệnh lệnh rất kì quặc: tái chiếm đảo Quang Hòa một cách hòa bình. Ông Ngạc quyết định đổ bộ vào sáng hôm sau, thứ Bảy ngày 19/1. Vào lúc 8.29, khi đội lính đi vào đảo, quân Trung Quốc nổ súng, làm một lính VNCH thiệt mạng. Người thứ hai bị giết hại khi cố lấy lại xác đồng đội. Quân thủy đánh bộ VNCH phải rút lui.
Ông Ngạc liên lạc về để tìm mệnh lệnh. Trong trụ sở Hải Quân VNCH ở Sài Gòn, Đỗ Kiểm chạy đi tìm Đề đốc Chơn. Ông ta biến mất. Một trợ lý bảo rằng ông Chơn đã ra sân bay để chuẩn bị đi Đà Nẵng. Ông Kiểm gọi cho phó của ông Chơn ở Đà Nẵng. Ông ta cũng biến mất, để ra sân bay đón ông Chơn. Ngay tại thời điểm mà số phận của Hoàng Sa đang ngàn cân treo sợi tóc, hai lãnh đạo tối cao của Hải Quân VNCH đều mất tích. Cuối cùng, ông Kiểm là người ra lệnh nổ súng.
"Truyền thông Nam Việt Nam được kể lại rằng đội tàu VNCH đã làm chìm hai tàu và ngăn cản được hạm đội Trung Quốc lớn hơn nhiều lần. Trận chiến được thêu dệt ly kì như huyền thoại vào đúng dịp Tết. "
Vào lúc 10.29, hai giờ sau khi hai lính thủy đánh bộ bị giết hại, 4 tàu của phía Việt Nam nổ súng vào 6 tàu Trung Quốc.
Thật không may, súng trên tàu HQ-4 lại bị hỏng và con tàu nhanh chóng bị trúng đạn bởi một trong hai tàu hộ tống Trung Quốc. HQ-5 đã bắn trúng và làm hư hỏng nặng tàu hộ tống còn lại, nhưng rốt cuộc nó cũng bị trúng đạn. Mười lăm phút sau, HQ-5 vô tình đâm trúng tàu HQ-16. HQ-16 bị mất kiểm soát nguồn điện và bị nghiêng 20 độ. Sau đó tàu HQ-5 lại bị trúng đạn, hỏng mất tháp pháo và hệ thống radio. Cuối cùng, tàu HQ-10 nhỏ nhất đoàn, bị trúng tên lửa của quân Trung Quốc khiến cho đài chỉ huy bị phá hủy và thuyền trưởng thiệt mạng.
Chỉ trong vòng một giờ đồng hồ, mặc dù đã làm hư hỏng nặng hai tàu của Trung Quốc, đội tàu của VNCH hầu như đã mất khả năng chiến đấu. HQ-10 bị chìm còn ba chiếc còn lại lê lết về được Đà Nẵng.
Đánh giá một cách khách quan, trận chiến là một thảm họa, tuy nhiên những lính quay trở về được chào đón như những người hùng. Truyền thông Nam Việt Nam được kể lại rằng đội tàu VNCH đã làm chìm hai tàu và ngăn cản được hạm đội Trung Quốc lớn hơn nhiều lần. Trận chiến được thêu dệt ly kì như huyền thoại vào đúng dịp Tết. Nhưng trên thực tế, đó lại là một thảm họa.
Nhà báo Bill Hayton, làm việc ở BBC, là tác giả cuốn Vietnam: Rising Dragon (2010). Tác phẩm mới của ông về tranh chấp Biển Đông, The South China Sea - dangerous ground, sẽ được xuất bản năm nay bởi NXB Đại học Yale.
Hải chiến Hoàng Sa là một trận chiến giữa Hải quân Việt Nam Cộng hòa và Hải quân Trung Quốc xảy ra vào ngày 19 tháng 1 năm 1974 trên quần đảo Hoàng Sa.
Năm 1951, Tại Hội nghị San Francisco về Hiệp ước Hoà bình với Nhật Bản, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu tuyên bố cả hai quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa đều thuộc lãnh thổ Việt Nam, và không gặp phải kháng nghị hay bảo lưu nào từ 51 nước tham dự hội nghị.
Sau khi Pháp rút khỏi Đông Dương, Việt Nam Cộng hòa thừa hưởng chủ quyền toàn bộ quần đảo này từ Quốc gia Việt Nam nhưng một phần quần đảo đã bị Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chiếm giữ năm 1956 khi người Pháp rút đi còn quân đội Việt Nam Cộng hòa chưa kịp trấn giữ. Việt Nam Cộng hòa chỉ chiếm giữ và thực hiện chủ quyền được một phần quần đảo cho đến khi cuộc hải chiến xảy ra. Sau trận chiến, Trung Quốc đã chiếm đóng toàn bộ quần đảo Hoàng Sa cho đến nay.
Bối cảnh
Quần đảo Hoàng Sa gồm hai nhóm đảo. Nhóm đảo mà Việt Nam Cộng hòa bảo vệ và thực hiện được chủ quyền là nhóm Nguyệt Thiềm hay Trăng Khuyết, Lưỡi Liềm (Crescent Group); nhóm còn lại là nhóm An Vĩnh hay nhóm Bắc đảo (Amphitrite Group) (bấy giờ quen gọi là "Tuyên Đức"-tên Trung Quốc của nhóm An Vĩnh). Dưới thời Việt Nam Cộng hòa đã có đài khí tượng trên đảo Hoàng Sa do Pháp xây, trực thuộc ty khí tượng Đà Nẵng và được bảo vệ bởi một tiểu đoàn thủy quân lục chiến.
Năm 1956, Hải quân Trung Quốc chiếm đóng nhóm đảo phía Đông quần đảo Hoàng Sa (nhóm An Vĩnh) trong đó có đảo Phú Lâm (Woody Island) và đảo Linh Côn.
Năm 1958, Trung Quốc cho công bố bản Tuyên ngôn Lãnh hải 4 điểm về việc mở rộng vùng lãnh hải lên 12 hải lí, tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với các quần đảo và phạm vi 12 lãnh hải biển tương ứng với các đảo này, bao gồm Nam Sa (tức Trường Sa), Đài Loan, Tây Sa (tức Hoàng Sa), Trung Sa (tức bãi Macclesfield), quần đảo Bành Hồ (Pescadores)[1]. Vào thời điểm này, Trung Quốc là đồng minh hậu thuẫn cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiến hành cuộc Chiến tranh Việt Nam chống lại Việt Nam Cộng hòa và Hoa Kỳ.
Ngày 22 tháng 9 năm 1958, báo Nhân Dân đăng công hàm của Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Quốc vụ Viện Trung Quốc, ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ Trung Quốc quyết định về hải phận 12 hải lí của Trung Quốc[1].
Năm 1961, chính phủ Việt Nam Cộng hòa ban hành sắc lệnh khẳng định chủ quyền Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam của Việt Nam Cộng hòa.
Trong thời gian 1964-1970, Hải quân Trung Quốc và Hải quân Việt Nam Cộng hòa chạm súng liên tục trên hải phận Hoàng Sa, nhưng không đưa đến thương vong[2]. Trong thời điểm đó, Việt Nam Cộng hòa cũng thiết lập một sân bay nhỏ tại đảo Hoàng Sa.
Theo giáo sư Lý Hiểu Binh (Xiaobing Li), Đại học Central Oklahoma trong bài viết gửi BBC cho rằng vào tháng 3/1969, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc bắt đầu rút khỏi lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, giảm dần từ 16 sư đoàn, gồm 150 nghìn quân xuống không còn đơn vị nào vào tháng 7/1970, đồng thời Trung Quốc giảm viện trợ quân sự và dân sự cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Liên Xô thay thế Trung Quốc trở thành quốc gia hỗ trợ kinh tế, quân sự nhiều nhất cho Bắc Việt Nam. Điều này khiến quan hệ giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Trung Quốc ngày càng lạnh nhạt, thay vào đó Bắc Việt Nam xem Liên Xô là đồng minh quan trọng nhất.Cùng thời điểm này, mối quan hệ giữa Liên Xô và Trung Quốc xấu đi. Trung Quốc xem Hoa Kỳ là cường quốc đang mất dần ảnh hưởng vì thất bại của họ tại Việt Nam còn Liên Xô bị Trung Quốc xem là "chủ nghĩa đế quốc Xô Viết" nổi lên thành mối đe dọa hàng đầu đối với Trung Quốc. Một tài liệu của CIA ngày 12/8/1969 nhận định: “Gần như căng thẳng Trung – Xô sẽ không thể nào giảm trong vòng hai ba năm tới. Vì quyền lợi quốc gia xung đột nhau, vì sự cạnh tranh nhằm lãnh đạo phong trào cộng sản quốc tế, và sự lo sợ có thực về ý định của nhau sẽ khiến việc tiếp cận gần gũi không thể xảy ra. Vấn đề biên giới cũng sẽ không dễ giải quyết.”Từ đầu tháng 3/1969 bắt đầu có nhiều cuộc xung đột quân sự quy mô nhỏ dọc biên giới Trung – Xô. Cả hai nước ở tình trạng chiến tranh có thể nổ ra bất cứ lúc nào. Sang đầu năm 1970, Liên Xô triển khai tới 48 sư đoàn, tương đương gần một triệu quân dọc biên giới Trung Quốc. Còn Trung Quốc tập trung sáu triệu quân tại biên giới với Liên Xô. Thậm chí còn có nguồn tin cho rằng lãnh đạo Liên Xô đã tính đến việc dùng vũ khí nguyên tử tấn công Trung Quốc nếu cần. Mối đe dọa từ Liên Xô đã thúc đẩy lãnh đạo Trung Quốc bình thường hóa quan hệ Mỹ – Trung vào năm 1973.[3]
Năm 1970, Hoa Kỳ và Nhật Bản ký Hiệp ước trao trả Okinawa (Okinawa Reversion Treaty) trao trả quần đảo Senkaku (Sento Shosho hay Senkaku Retto của Nhật Bản) về dưới chủ quyền của Nhật Bản với sự phản đối của Đài Loan và Trung Quốc; và cùng năm Đô đốc Elmo Zumwalt, cựu Tham mưu trưởng Hải quân Hoa Kỳ họp báo tuyên bố tại Guam rằng Hoàng Sa và Trường Sa không nằm trong chiến lược triển khai các hải đảo tiền đồn của Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ. Theo nhận định của Hải quân Việt Nam Cộng hòa thì đây là sự kiện trao đổi giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, và là nguy cơ cho Việt Nam Cộng hòa trong việc bảo vệ Hoàng Sa.[4].
Năm 1971, Hải quân Trung Quốc và Hải quân Việt Nam Cộng hòa tiếp tục chạm súng trên hải phận Hoàng Sa.[2] Những năm cuối của cuộc Chiến tranh Việt Nam, vì nhu cầu chiến trường, tiểu đoàn thủy quân lục chiến của Việt Nam Cộng hòa tại Hoàng Sa được đưa vào đất liền, chỉ còn một trung đội địa phương quân trấn giữ nhóm Nguyệt Thiềm. Sau này, ông Hoàng Đức Nhã giải thích việc Việt Nam Cộng hòa không chú trọng bảo vệ Hoàng Sa là do lúc đó nhà nước này ưu tiên chống đỡ sự tấn công của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hơn bảo vệ Hoàng Sa.[5]
Tháng 2 năm 1972, Tổng thống Mỹ Richard Nixon tới Trung Quốc hội kiến Mao Trạch Đông. Mỹ và Trung Quốc đưa ra tuyên bố chung phản đối "bá quyền" tại châu Á và Thái Bình Dương. Năm 1973, Trung Quốc và Mỹ mở văn phòng liên lạc ở thủ đô mỗi nước mở đầu cho việc bình thường hóa quan hệ giữa hai nước.[6]
Năm 1973, với Hiệp định Paris, Hoa Kỳ và Hạm đội 7 rút quân và thiết bị của Hoa Kỳ ra khỏi khu vực quần đảo Hoàng Sa. Như vậy Hoa Kỳ đã xem việc bảo vệ quần đảo này là việc riêng của Việt Nam Cộng hòa.
Ngày 11/1/1974 Bộ Ngoại giao Trung Quốc ra tuyên bố Hoàng Sa, Trường Sa là lãnh thổ của Trung Quốc và tố cáo Việt Nam Cộng hòa chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.[7] Sau đó, Việt Nam Cộng hòa ra tuyên bố khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam và bác bỏ những cáo buộc của Trung Quốc.[7]
Trước tình hình đó, Bộ tư lệnh Hải quân Việt Nam Cộng hòa quyết định thiết lập một phi trường trên đảo Hoàng Sa có khả năng chuyên chở vận tải cơ hạng nặng C-7 Caribou để chuyển quân nhanh ra nhóm Nguyệt Thiềm. Ngày 16 tháng 1 năm 1974, khi một phái đoàn của Quân lực Việt Nam Cộng hòa thăm dò một số đảo Hoàng Sa trong việc chuẩn bị thiết lập phi trường nói trên thì khám phá ra sự hiện diện của Hải quân Trung Quốc, và giao tranh xảy ra sau đó.
Tương quan lực lượng
Phía Việt Nam Cộng hòa có 4 chiến hạm là Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16), Hộ tống hạm Nhật Tảo (HQ-10), Tuần dương hạm Trần Bình Trọng (HQ-5), Khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ-4), 1 đại đội hải kích thuộc Hải quân Việt Nam Cộng hòa, một số biệt hải (biệt kích hải quân) và 1 trung đội địa phương quân đang trú phòng tại đảo Hoàng Sa.[8]
Phía Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có 4 chiếm hạm trực tiếp tham gia trận chiến là Liệp tiềm đĩnh (tàu chống ngầm) số 274, Liệp tiềm đĩnh số 271, Tảo lôi hạm số 389, Tảo lôi hạm số 396, 2 ngư thuyền ngụy trang số 402 và số 407.[8] Ngoài ra, phía Trung Quốc còn có lực lượng thuộc Trung đoàn 10 Hải quân lục chiến, trinh sát (không rõ số lượng). Sau khi trận chiến đã kết thúc, thì Liệp tiềm đĩnh số 282, Liệp tiềm đĩnh số 281 mới đến tăng viện.
Về vũ khí trên các tàu, 2 chiếc Tuần Dương hạm của Việt Nam Cộng hòa trang bị 1 khẩu pháo 127 ly (5 inch) đặt tại sân trước, đằng sau của khẩu đại pháo là giàn pháo 40 ly 2 nòng nằm một tầng cao hơn ngay dưới đài chỉ huy. Hai bên hông đài chỉ huy là các khẩu đại bác 20 ly đôi (2 nòng). Tại sân sau có các khẩu đại bác 40 ly đơn, một bên tả hạm, một bên hữu hạm. Vũ khí chính của HQ-10 là khẩu pháo 76,2 ly đặt tại sân trước, 2 đại bác 40 ly đơn tại sân giữa và 4 đại bác 20 ly đặt hai bên hông đài chỉ huy và sân sau. Còn tàu khu trục HQ-4 được trang bị radar phòng không (DER - Destroyer Escort Radar) và hai giàn đại pháo 76.2 ly có radar điều khiển (radar control) với khả năng tự dò tìm góc độ và tầm xa để "khóa chặt" (lock on) mục tiêu. Trong khi đó, tàu chống ngầm lớp Krondstadt (Kronshtadt class submarine chaser) của Trung Quốc trang bị 1 pháo 85 ly và 2 pháo 37 ly điều khiển bằng tay.[9]
Như vậy, xét tương quan lực lượng, mỗi bên có 4 chiến hạm trực tiếp tham chiến. Việt Nam Cộng hòa có ưu thế là các chiến hạm lớn, trang bị pháo và súng lớn hơn, mạnh hơn, nhiều hơn so với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Tuy nhiên, nhược điểm của các tàu này là cồng kềnh, vận chuyển chậm. Các chỉ huy Việt Nam Cộng hòa cũng không lập sẵn kế hoạch cơ động tác chiến nếu có nổ súng, dẫn đến việc tác chiến bị động và 2 tàu trong đội hình (HQ-5 và HQ-16) còn bắn nhầm vào nhau.
Diễn biến
Phát hiện hải quân Trung Quốc và chiếm lại các đảo
Ngày 16 tháng 1 năm 1974, Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16) sau khi đưa một phái đoàn công binh Quân đoàn I Quân lực Việt Nam Cộng hòa do Thiếu tá Hồng dẫn đầu (trong đó có một người Mỹ tên Kosh thuộc Văn phòng Tùy viên Quân sự Hoa Kỳ tại Ðà Nẵng) thăm dò một số đảo Hoàng Sa để thiết lập một phi đạo ngắn đã phát hiện hai ngư thuyền ngụy trang số 402 và số 407 của Hải quân Trung Quốc gần đảo Hữu Nhật (còn được gọi không chính xác là "đảo Cam Tuyền"), đồng thời phát hiện quân Trung Quốc chiếm đóng đảo Quang Hòa và cắm cờ Trung Quốc tại các đảo Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang Ảnh (còn được gọi không chính xác là "đảo Vĩnh Lạc").

Bích chương "Tây sa chiến ca" của Trung Quốc nói về trận chiến ở Hoàng Sa
Sau khi cấp báo về Bộ tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải tại Đà Nẵng, HQ-16 dùng quang hiệu yêu cầu các chiến hạm Trung Quốc rời lãnh hải Việt Nam. Các chiến hạm Trung Quốc không chấp thuận yêu cầu, và cũng dùng quang hiệu yêu cầu phía Việt Nam Cộng hòa rời lãnh hải Trung Quốc.
Ngay sau đó, trong ngày 16 tháng 1 năm 1974, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa Vương Văn Bắc tổ chức họp báo tố cáo tàu chiến Cộng hòa Nhân dân Trung hoa xâm phạm lãnh hải quanh các đảo Hữu Nhật, Quang Ảnh, Quang Hoà, Duy Mộng và đổ quân lên các đảo này.[10]
Ngày 17 tháng 1 năm 1974, Khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ-4) đến Hoàng Sa chở theo một toán người nhái (biệt hải) và một đội hải kích đổ bộ xuống Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang Ảnh để nhổ cờ Trung Quốc, dựng cờ Việt Nam Cộng hoà. Sau đó lính Việt Nam Cộng hòa rút trở lên tàu. Theo hạm trưởng HQ-16, Trung tá Lê Văn Thự, toán biệt hải rời HQ-4 bằng xuồng cao su để lên HQ-16. Cùng trong ngày hai Liệp tiềm đĩnh loại Kronstad số 274 và 271 của Trung Quốc xuất hiện.
Trung Quốc quyết định dùng vũ lực[sửa | sửa mã nguồn]
Đêm 17 tháng 1 năm 1974, Chu Ân Lai nhận báo cáo tình hình Hoàng Sa từ Trường Lý Lực, Cục phó Cục tác chiến Bộ Tổng tham mưu Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Sau đó Chu Ân Lai cùng với Diệp Kiếm Anh viết báo cáo gửi Mao Trạch Đông đề nghị phái quân ra quần đảo Hoàng Sa.[7]
Mao Trạch Đông phê vào bản báo cáo của Chu Ân Lai, Diệp Kiếm Anh: “Đồng ý !”, và nói rằng, “trận này không thể không đánh”. Mao Trạch Đông giao cho Diệp Kiếm Anh và Đặng Tiểu Bình trực tiếp chỉ huy trận đánh tại quần đảo Hoàng Sa.[7] Đây là trận đánh đầu tiên của Đặng Tiểu Bình khi mới được phục chức sau 7 năm đi "cải tạo".[7]
Ngày 18/1/1974, Chu Ân Lai triệu tập cuộc họp Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc để thảo luận về tình hình Hoàng Sa và lập ra ban chuyên trách năm người để đối phó với các diễn biến có thể xảy ra tại Hoàng Sa. Ban chuyên trách gồm : Diệp Kiếm Anh (chủ nhiệm ban chuyên trách), Vương Hồng Văn, Trương Xuân Kiều, Đặng Tiểu Bình và Trần Tích Liên. Ban chuyên trách nghe Phó Tư lệnh Hải quân Trung Quốc Tô Chấn Hoa báo cáo sau đó quyết định tấn công hạm đội Việt Nam Cộng hòa. Đồng thời, ban chuyên trách công bố bản hướng dẫn nhằm đánh lại các tuần dương hạm của Việt Nam Cộng hòa. Căn cứ vào bản hướng dẫn này, hải quân Trung Quốc lập kế hoạch chuẩn bị cho chiến dịch.[3]
Thành lập và phô trương lực lượng đối phó với Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]
Ngày 18 tháng 1 năm 1974, Đề đốc Lâm Ngươn Tánh, Tư lệnh phó Hải quân Việt Nam Cộng hòa bay ra Bộ tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải tại Đà Nẵng để chỉ huy toàn bộ lực lượng tham chiến tại Hoàng Sa. Cũng trong sáng ngày 18 tháng 1 năm 1974, lực lượng tăng cường cho Hoàng Sa bao gồm Tuần dương hạm Trần Bình Trọng (HQ-5) và Hộ tống hạm Nhật Tảo (HQ-10) có mặt tại trận địa. Do hải hành lâu ngày chưa kịp tu bổ, HQ-10 tham chiến với một máy không dùng được, chỉ còn một máy hoạt động. HQ-5 do Trung tá Phạm Trọng Quỳnh chỉ huy là soái hạm của Hải đoàn đặc nhiệm bao gồm 4 chiến hạm HQ-4,HQ-5,HQ-10,HQ-16. Đại tá Hải quân Hà Văn Ngạc ở trên HQ-5 là người trực tiếp chỉ huy Hải đoàn.
Khoảng xế trưa ngày 18 tháng 1, Đại tá Ngạc quyết định hải đoàn sẽ phô trương lực lượng bằng một cuộc thao diễn chiến thuật để tiến về phía đảo Quang Hòa với hy vọng có thể đổ bộ chiếm lại đảo một cách hoà bình như đã làm trước đây. Bốn chiến hạm theo đội hình hàng dọc, dẫn đầu là khu trục hạm HQ-4, theo sau là tuần dương hạm HQ-5 trương hiệu kỳ hải đội, thứ ba là tuần dương hạm HQ-16 và sau cùng là hộ tống hạm HQ-10, khởi hành từ nam đảo Hoàng Sa để tiến về đảo Quang Hòa,tốc độ chừng 6 gút. Khoảng cách giữa các chiến hạm là hai lần khoảng cách tiêu chuẩn (1000 yard). Trên đường đến đảo Quang Hòa, Hải đoàn bị 2 chiến hạm Kronstad của Trung Quốc mang số hiệu 271 và 274 chặn đường. Hai chiếc chiến hạm khác nhỏ hơn mang số 389 và 396 vẫn ở sát bờ bắc đảo Quang Hòa. Chiến hạm 271 của trung Quốc và soái hạm HQ-5 trao đổi với nhau bằng quang hiệu. Cả hai đều khẳng định đây là lãnh thổ của mình và yêu cầu đối phương rút lui. Để tránh đụng tàu đại tá Ngạc đưa Hải đoàn trở về phía nam đảo Hoàng Sa để theo dõi các chiến hạm Trung Quốc khi đó quay về đóng tại phía bắc và tây bắc đảo Quang Hòa.
Theo hạm trưởng HQ-16, Trung tá Lê Văn Thự, khoảng 10 giờ sáng ngày 18 tháng 1, Đại tá Hà Văn Ngạc ra lệnh cho ông đưa viên cố vấn Mỹ lên đảo Hoàng Sa sau đó cho toán biệt hải đổ bộ lên đảo Quang Hoà và một toán của HQ-16 lên giữ đảo Quang Ảnh. Sau khi đưa viên cố vấn Mỹ lên đảo Hoàng Sa, HQ-16 tiến đến gần đảo Quang Hòa đổ bộ toán biệt hải lên đảo thì một tàu Trung Quốc xuất hiện, cản trước mũi, không cho HQ-16 tiến gần đến đảo. Hai tàu cọ vào nhau làm tàu Trung Quốc hư hại nhẹ. Theo Trung tá Thự, tàu Trung Quốc mang số hiệu 271, dài chừng 70 mét, có súng tương đương với súng 76.2 ly, 40 ly, 20 ly và đại liên 12.7 của HQ-16. HQ-16 chuyển hướng sau đó cho biệt hải dùng xuồng cao su tấn công từ mặt Nam của đảo Quang Hoà từ khoảng cách 1-2 hải lý. Cuộc đổ bộ thất bại. Một thiếu úy biệt hải bị bắn chết. Toán biệt hải trở về HQ-16. Chiều ngày 18 tháng 1, khoảng 6 giờ, Đại tá Ngạc gọi máy cho Trung tá Lê Văn Thự và ra lệnh cho ông chỉ huy HQ-10, bằng mọi giá phải đổ bộ cho được toán biệt hải lên đảo Quang Hoà. Sau khi nhận lệnh này, HQ-16 không còn liên lạc được với đại tá Ngạc trên soái hạm HQ-5, tàu HQ-4 hay Bộ Tư lệnh Hải quân Vùng I Duyên Hải do máy liên lạc âm thoại giai tần đơn bị Trung Quốc phá sóng. HQ-16 chỉ còn liên lạc được với HQ-10. Những ngày sau đó do bị thương khi hải chiến với tàu Trung Quốc, HQ-16 không thể chấp hành lệnh đổ bộ của đại tá Ngạc.[9]
Vào khoảng 23 giờ ngày 18, Đề đốc Lâm Ngươn Tánh ban hành Lệnh hành quân Hoàng Sa 1 nhằm chiếm lại một cách hòa bình các đảo Hữu Nhật, Quang Hòa, Duy Mộng, Quang Ảnh. Đại tá Hà Văn Ngạc chia lực lượng tham chiến thành hai phân đoàn đặc nhiệm: phân đoàn I là chủ lực gồm khu trục hạm HQ-4 và tuần dương hạm HQ-5 do hạm trưởng khu trục hạm HQ-4 chỉ huy; phân đoàn II có nhiệm vụ yểm trợ gồm tuần dương hạm HQ-16 và hộ tống hạm HQ-10 do hạm trưởng tuần dương hạm HQ-16 chỉ huy.
Theo tài liệu của Tổng cục Chiến tranh Chính trị và tường thuật của Đại tá Hà Văn Ngạc, 8 giờ 30 ngày 19 tháng 1, hai nhóm Biệt hải của Việt Nam Cộng hòa gồm 74 người do Ðại úy Nguyễn Minh Cảnh chỉ huy tiếp tục đổ quân vào đảo Quang Hòa. Đại tá Ngạc chỉ thị lực lượng này không được nổ súng trước và có nhiệm vụ yên cầu toán quân Trung Quốc rời đảo. Trên đảo đang có một đại đội của Hải quân Trung Quốc trấn giữ. Theo báo cáo của Biệt đội trưởng, chiến sĩ Ðỗ Văn Long là người đầu tiên tiến vào đảo và vừa nổ súng vừa tiến vào trong nên đã bị hỏa lực trong bờ bắn tử thương ngay tại bãi biển. Sau đó Trung úy Lê Văn Ðơn cũng tử thương. Việc đổ bộ thất bại. Hai toán Biệt hải được lệnh rút về HQ-5. Tổng số thương vong của Hải quân Việt Nam Cộng hòa gồm 2 người chết và 2 bị thương.[11]
Việt Nam Cộng hoà khai chiến[sửa | sửa mã nguồn]
Việc đổ bộ thất bại được báo cáo ngay về Bộ tư lệnh Hải quân vùng I duyên hải. Chừng ít phút sau đó (vào khoảng 9 giờ 30 sáng) phó đô đốc Hải quân Việt nam Cộng hòa Hồ Văn Kỳ Thoại theo chỉ thị của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu[12][13] ra khẩu lệnh vắn tắt "khai hỏa" cho Đại tá Ngạc trên băng siêu tần số SSB (single side band) và không có chi tiết gì khác hơn.[8]
Ban đầu đại tá Ngạc dự định cho hạm đội bắn pháo lên đảo để dọn đường cho lính thủy đổ bộ. Sau đó do các hạm trưởng khác phản đối, đại tá Ngạc quyết định tiêu diệt các tàu Trung Quốc trước. Lúc 10 giờ 22 cùng ngày, 2 chiến hạm của phía Việt Nam Cộng hòa là HQ-16 và HQ-10 tiến vào lòng chảo Hoàng Sa theo thế gọng kìm, nổ súng trước vào các tàu chiến Trung Quốc đang neo đậu trong khu vực này. Các tàu Trung Quốc tích cực di chuyển và phản kích dữ dội. Hai chiến hạm còn lại của Việt Nam Cộng hòa là HQ-4 và HQ-5 cũng tiến vào lòng chảo, tham chiến từ phía tây nam. Vì tầm quan sát rất hạn chế, nên từ Tuần dương hạm HQ-5 không quan sát được Tuần dương hạm HQ-16 và Hộ tống hạm HQ-10. Do máy liên lạc âm thoại giai tần đơn bị Trung Quốc phá sóng nên Soái hạm chỉ có thể liên lạc với các chiến hạm còn lại bằng máy PRC 25 nên việc liên lạc giữa các chiến hạm không liên tục và ổn định.
Sau vài phút hải chiến HQ-4 chỉ bị thiệt hại nhẹ nhưng do trở ngại tác xạ nên không phát huy được hoả lực buộc phải lùi ra xa. Sau khoảng 15 phút giao chiến, HQ-10 bốc cháy tại chỗ rồi chìm, HQ-16 trúng đạn pháo 127 ly của HQ-5 xuyên thủng hầm máy bị nghiêng trên 10 độ phải rút lui về phía tây. Theo trưởng khối hành quân HQ-5, Bùi Ngọc Nở, HQ-5 sau 15 phút chiến đấu bị trúng đạn đại bác của địch khiến các khẩu pháo 127 ly và 40 ly bị vô hiệu hoá.[14]
Khoảng 11 giờ 25, sau khi nhận được tin HQ-16 trúng đạn và mất liên lạc với HQ-10, đồng thời phát hiện một chiến hạm của Trung Quốc loại có trang bị mỗi bên một dàn phóng hỏa tiễn kép loại hải hải cách xa chừng 8 đến 10 hải lý đang tiến vào vùng giao tranh với một tốc độ cao, Đại tá Ngạc ra lệnh cho HQ-4 và HQ-5, rút lui về phía đông nam, hướng về vịnh Subic, Philippines vì ông nghĩ rằng Hải đội không thể để bị thiệt hại một khu trục hạm trong khi Hải quân Việt Nam Cộng hòa chỉ có tổng cộng 2 chiếc.[8]
Nhưng theo trung tá Thự, đại tá Ngạc ra lệnh rút lui vì "lo sợ cả phản lực cơ và tiềm thủy đĩnh Trung cộng" "nên không còn tinh thần để chiến đấu nữa". Ông cho rằng chuyện phía đông xuất hiện một chiến hạm Trung Quốc có trang bị hỏa tiễn chỉ là tưởng tượng vì "cách xa chừng 8 đến 10 hải lý khó mà thấy được mỗi bên một giàn phóng hỏa tiễn".[9] Các tàu phía Trung Quốc cũng bị hư hại nặng, một tàu phải ủi bãi, một tàu bốc cháy, không đủ sức đuổi theo.
Việt Nam Cộng hoà rút lui
Trong thời gian xảy ra chiến sự, Bộ tư lệnh Hải quân Việt Nam Cộng hòa nhận được thông báo của Văn phòng Tùy viên Quân sự Hoa Kỳ (DAO) tại Sài Gòn, cho biết radar Đệ thất Hạm đội ghi nhận một số tàu chiến và chiến đấu cơ từ Hải Nam đang tiến về phía Hoàng Sa. Số tàu chiến chi viện của Trung Quốc vẫn chưa được xác định chính xác nhưng có thể bao gồm 2 tàu chống ngầm số hiệu 281 và 282 thuộc lớp tàu Hải Nam. Phó đô đốc Hải quân Việt Nam Cộng hòa Hồ Văn Kỳ Thoại cho biết họ phải quyết định rút lui khi cố vấn Hoa Kỳ cho biết 17 chiến hạm của Trung Quốc trong đó có 4 tàu ngầm đang trên đường tới khu vực và khả năng là sẽ có phi cơ phản lực tới từ đảo Hải Nam nếu Việt Nam Cộng hòa quyết định tăng viện 2 chiến hạm cho Hoàng Sa, nhưng phía Việt Nam Cộng hòa chỉ có phi cơ khu trục F5 thuộc Sư đoàn 1 Không quân tuy đang sẵn sàng hỗ trợ cho hải đội tại Hoàng Sa nhưng lại không đủ sức hoạt động lâu tại đây.[13]. Bộ tư lệnh Hải quân Việt Nam Cộng hòa sau đó yêu cầu Hạm đội 7 trợ giúp, nhưng phía Mỹ từ chối,[12] thậm chí Hạm đội 7 từ chối cả việc cứu những thủy thủ của tàu HQ-10 đang trôi dạt trên biển.[15] Sau khi Bộ tư lệnh cân nhắc tương quan lực lượng, các chiến hạm Việt Nam Cộng hòa được lệnh rút bỏ quần đảo Hoàng Sa[16].
Khoảng 14 giờ 30 ngày 19/01/1974 khi ngang qua đảo Tri Tôn thì HQ-5 được lệnh của Tư lệnh hải quân từ Ðà Nẵng: "HQ-4 và HQ-5 phải quay trở lại Hoàng Sa, nếu cần thì ủi bãi". Nhưng không lâu sau đó có một lệnh tiếp theo từ Ðà Nẳng, cho HQ-4 và HQ-5 trở về lại Ðà Nẵng. Trên đường rút lui, HQ-16 đưa 8 quân nhân lên giữ đảo Hoàng Sa.
Kết thúc chiến sự
Đêm hôm đó, 3 chiến hạm Việt Nam Cộng hòa bị hư hại được lệnh rút về căn cứ. Về đến Đà Nẵng, khi kiểm tra thì mới biết HQ-16 trúng một viên đạn bắn cầu vồng từ HQ-5 rơi xuống nước gặp sức cản của nước bị lệch hướng rồi đâm vào lườn tàu HQ-16 dưới mặt nước. Theo tường thuật của Trung tá Lê Văn Thự: "Viên đạn xước qua một góc máy điện, xuyên đứt cánh tay Trung sĩ Điện khí Xuân kế đó rồi chui vào kho điện khí ở một góc hầm máy và nằm ở đó".[9] Còn hộ tống hạm HQ-10 trong ngày 19 đã bị trúng đạn và chìm. HQ-4 rút lui từ đầu do trở ngại tác xạ nên chỉ bị thiệt hại nhẹ. Theo sĩ quan Bùi Ngọc Nở HQ-5 thiệt hại rất nặng: "đếm được tất cả là 102 lỗ đạn đại bác 100 ly, còn đạn đại bác 37 ly lỗ nhỏ hơn và nhiều không đếm được, riêng đài chỉ huy trúng mười mấy trái đại bác 100 ly nhưng may mắn là nhờ hai lớp thép bảo vệ nên khi xuyên qua hai lớp thép này thì hết tầm".[14]
Trung Quốc chiếm toàn bộ Hoàng Sa
Trong khi chiến sự đang diễn ra tại Hoàng Sa, Diệp Kiếm Anh, Đặng Tiểu Bình và Tô Chấn Hoa báo cáo lên Mao Trạch Đông đề nghị cho phép quân đội Trung Quốc chiếm tất cả các đảo do Việt Nam Cộng hòa kiểm soát. Mao đã chấp thuận đề nghị này.[3] Khi hải chiến Hoàng Sa kết thúc, sau khi nghe báo cáo, Đặng Tiểu Bình đã chỉ thị cho quân khu Quảng Châu tiếp tục đánh chiếm các đảo Hoàng Sa, Hữu Nhật và Quang Ảnh.[7] Ngày 20 tháng 1, 4 phi cơ MiG-21 và MiG-23 của Trung Quốc oanh tạc các đảo Hữu Nhật, Quang Ảnh và Hoàng Sa. Tiếp đó, quân Trung Quốc đổ bộ tấn công các đơn vị đồn trú của Việt Nam Cộng hòa trên các đảo này. Sau 20 phút, lực lượng của Việt Nam Cộng hòa trên các đảo bị mất liên lạc[17]. Theo tiến sĩ Balazs Szalontai - một nhà nghiên cứu độc lập ở Hungary, Trung Quốc quyết định chiếm quần đảo Hoàng Sa trước khi Việt Nam Cộng hòa sụp đổ - nghĩa là trước khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có thể chiếm quần đảo.[18]
Theo tài liệu của Việt Nam Cộng hòa thì 274 trúng đạn, không thể điều khiển phải ủi vào bãi san hô để thủy thủ đoàn đào thoát, 271 và 389 bị chìm tại trận hoặc hư hại nặng, 396 bị hư hại nặng. HQ-10 trúng đạn vào pháo tháp và bị chìm sau đó, HQ-16 bị hư hại nặng nghiêng trên 10 độ, HQ-4 bị hư nhẹ. Có nhân chứng khẳng định HQ-5 hư nhẹ còn nhân chứng khác khẳng định HQ-5 hư nặng.
Hải quân Việt Nam Cộng hoà có 74 binh sỹ tử vong trong đó HQ-10 có 62 người chết bao gồm hạm trưởng Ngụy Văn Thà, HQ-4 có 3 người chết, HQ-5 có 3 quân nhân tử vong và 16 bị thương, HQ-16 có 2 người chết, lực lượng người nhái có 4 người chết.[19]
Hai ngày sau trận hải chiến, ngày 20 tháng 1, tàu chở dầu Hòa Lan "Kopionella" vớt được 23 người thuộc thủy thủ đoàn của HQ-10 đang trôi dạt trên biển. Đến mười ngày sau, ngày 29 tháng 1, ngư dân Việt Nam vớt được một toán quân nhân Việt Nam Cộng hòa gần Mũi Yến (Qui Nhơn), gồm 1 sĩ quan, 2 hạ sĩ quan và 12 quân nhân thuộc lực lượng đổ bộ lên đảo Quang Hòa, đã dùng bè vượt thoát đảo sau trận hải chiến[20]
Những năm gần đây, một số ý kiến trong nước đề nghị nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận các binh sĩ Việt Nam Cộng hoà hy sinh trong trận hải chiến này là liệt sĩ.
Theo tài liệu của Trung Quốc thì 274, 271, 389, 396 đều trúng đạn, 281, 282 và 402, 407 bị hư hại trung bình, HQ-10 bị chìm tại trận. Trung Quốc bắt giữ 48 tù binh, trong đó có một người Mỹ[21]. Trung Quốc có trao trả tù binh sau đó tại Hồng Kông qua Hội Chữ thập đỏ.
Phía Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có 18 binh sĩ thiệt mạng, 67 binh sĩ bị thương và 3 người bị xây xát nhẹ. Một trong những binh sĩ trở về từ cuộc chiến là Ngô Tiên Phong, ông đã được nhà nước và quân đội Trung Quốc phong làm anh hùng và được tặng huân chương hạng nhất.[22]
Trung Quốc chiếm đóng toàn phần quần đảo Hoàng Sa từ thời điểm này cho đến tận ngày nay.
Phản ứng ngoại giao
Từ sau trận chiến cho đến sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, Việt Nam Cộng hòa đã ra nhiều tuyên bố cũng như trưng ra các chứng cớ lịch sử về chủ quyền của mình như:
- "Tuyên cáo của Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Cộng Hòa về những hành động gây hấn của Trung Quốc trong khu vực đảo Hoàng Sa" số 015/BNG/TTBC/TT ngày 19/1/1974
- "Tuyên cáo của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa về chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa trên những đảo ở ngoài khơi bờ biển Việt Nam Cộng Hòa" ngày 14/2/1974
- Tài liệu "Thế giới lên án Trung Cộng xâm lăng Hoàng Sa của Việt Nam Cộng hòa", Tổng cục chiến tranh chánh trị, Cục tâm lý chiến, Quân lực Việt Nam Cộng hòa, 1974.
- "Sách trắng về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa", Bộ ngoại giao Việt Nam Cộng hòa, 1975
Việt Nam Cộng hòa cũng tổ chức nhiều cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa, phản đối hành động của Trung Quốc trước Liên hiệp Quốc, huy động các quốc gia đồng minh đưa vấn đề Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa ra Hội đồng Bảo an Liên hiệp Quốc.[5]
Chính sách nhất quán của Việt Nam Cộng hoà là bảo vệ đến cùng sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam trên bộ cũng như trên biển. Việt Nam Cộng hoà không bao giờ thừa nhận Hoàng Sa thuộc về Trung Quốc bằng hành động vũ lực cưỡng chiếm lãnh thổ Việt Nam[23].
Ngày 20/1/1974, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ra bản Tuyên bố phản đối hành động này của phía Trung Quốc.[24] Ngày 26/1/1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tuyên bố lập trường 3 điểm về việc giải quyết các vấn đề tranh chấp lãnh thổ. Ngày 14/2/1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam.
Báo chí và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không đề cập gì đến việc Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa[18]. Nhà sử học Nguyễn Đình Đầu nhận định về phản ứng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước việc Trung Quốc chiếm Hoàng Sa: "Một điều lạ, là trong khi dư luận phản ứng như thế ở miền Nam, mà Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không có phản ứng gì."[25]. Theo tiến sĩ Balazs Szalontai "sự im lặng của miền Bắc chủ yếu là do cân nhắc chiến thuật ngắn hạn của Hà Nội, chứ không phải vì sự đồng ý về pháp lý giữa Trung Quốc và Việt Nam"[18]. Đây là vấn đề của cả hai miền Nam Bắc Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ họp với Trung Quốc để làm rõ vấn đề. Theo ông Dương Danh Dy "Việc không nói để không ảnh hưởng tới sự nghiệp thống nhất đất nước thì rõ rồi. Nhưng việc không nói còn làm cho Ban Lãnh đạo Trung Quốc chủ quan, nghĩ rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa coi nhẹ vấn đề biển đảo mà không tìm cách đánh chiếm luôn quần đảo Trường Sa nữa.".[26] Ngay sau khi Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắt đầu gây khó khăn cho Hoa kiều khi muốn thăm thân nhân ở Trung Quốc, và cũng không cho nhiều người Trung Quốc sang miền Bắc thăm người thân.[18]
Chính phủ Mỹ không có tuyên bố ngoại giao nào lên án việc Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa mà chỉ tỏ thái độ thông cảm với đồng minh Việt Nam Cộng hoà.[23] Hoa Kỳ cũng từ chối yêu cầu của Việt Nam Cộng hòa giúp đưa vấn đề này ra Liên hiệp Quốc.[5] Ông Hoàng Đức Nhã, cựu Bí thư kiêm Tham vụ Báo chí của Việt Nam Cộng hoà, đã gọi điện cho đại sứ Hoa Kỳ để hỏi vì sao Hoa Kỳ không thông báo cho Việt Nam Cộng hòa biết việc Trung Quốc điều quân đến Hoàng Sa để chủ động đối phó, đại sứ Graham Martin trả lời rằng họ "không thể thấy được". Ông Nhã liền chất vấn Đại sứ Martin rằng chuyện cả một hạm đội di chuyển mà người Mỹ "không thấy" thì quả là khó tin.[23] Tuy nhiên, trái với lời giải thích của đại sứ Mỹ, cơ quan tình báo CIA của Mỹ vẫn theo dõi sát tất cả diễn biến tại quần đảo Hoàng Sa từ lúc Trung Quốc đưa quân đến Hoàng Sa cho đến lúc Trung Quốc chiếm toàn bộ quần đảo này để báo cáo cho Tổng thống Mỹ[27] nhưng Mỹ quyết định không can thiệp vào Hoàng Sa[28]. Chính phủ Mỹ giải thích rằng Quốc hội Mỹ đã ra luật cấm Chính phủ tiếp tục hỗ trợ quân sự cho Việt Nam Cộng hòa nên họ không thể nào giúp Việt Nam Cộng hòa bảo vệ Hoàng Sa trước sự tấn công của Trung Quốc.[5]
Theo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, hành động của Trung Quốc là có tính toán từ trước và nhận được sự làm ngơ của Mỹ. Vì vậy, khi đó đại sứ Mỹ Graham Martin ở Sài Gòn đã bác bỏ yêu cầu cứu viện của chính quyền Việt Nam Cộng hòa và hạm đội Mỹ ở Thái Bình Dương đã được lệnh tránh xa quần đảo Hoàng Sa. Đặc biệt, hành động của Trung Quốc diễn ra chỉ một ngày sau khi họ chấp nhận đàm phán với phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về vấn đề vịnh Bắc Bộ, trong đó Trung Quốc yêu cầu được đặc quyền thăm dò trong một khu vực rộng 20.000 km2 trong vịnh Bắc Bộ do họ tự ý định ra (yêu cầu này sau đó bị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bác bỏ và đàm phán lâm vào bế tắc).[29] Bởi một chuỗi các sự kiện trên, năm 1975, khi Quân đội Nhân dân Việt Nam mở chiến dịch Trường Sa và các đảo trên Biển Đông để thu hồi Trường Sa, họ đã ra công điện chỉ thị phải tiến hành khẩn trương để đề phòng "quân đội nước ngoài" có ý định chiếm quần đảo[30].
Sau khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc, Việt Nam đã tuyên bố chủ quyền đối với cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tháng 9 năm 1975, Tổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn nêu vấn đề Hoàng Sa trong chuyến thăm Trung Quốc. Phản ứng không nhượng bộ của Trung Quốc làm lãnh đạo Việt Nam khó chịu.[18] Ngày 15-3-1979, Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố Bị vong lục về vấn đề biên giới Việt -Trung, trong đó lên án việc Trung Quốc đánh chiếm trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Ngày 28-9-1979, Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố Sách trắng, giới thiệu 19 tài liệu chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa[31].
Việc này đã khiến Trung Quốc bất bình và bắt đầu một thời kỳ quan hệ căng thẳng giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc[32]. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay vẫn khẳng định chủ quyền đối với toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và vùng lãnh hải liên quan trên Biển Đông.
Chuẩn bị tái chiếm Hoàng Sa
Sau khi chiếm được Hoàng Sa, Trung Quốc tập trung 43 chiến hạm tại quần đảo này để đề phòng Việt Nam Cộng hòa phản công tái chiếm.[33]
Theo Nguyễn Thành Trung - nguyên là phi công Không lực Việt Nam Cộng hòa, ngày 19/1/1974, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu điều 5 phi đoàn F5 bao gồm 120 máy bay và 150 phi công (mỗi phi đoàn có 24 máy bay), 4 phi đoàn ở sân bay Biên Hoà, 1 ở sân bay Đà Nẵng, ra Đà Nẵng chuẩn bị tái chiếm quần đảo Hoàng Sa.[33] Nhưng phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại khi được hỏi về kế hoạch dùng không quân tái chiếm Hoàng Sa lại cho biết "Riêng tôi thì tôi không được biết. Những gì trao đổi ở Sài Gòn, nếu có xảy ra, thì không được thông báo ... tôi không được nghe biết và tôi cũng không nhớ rằng tôi có nghe những kế hoạch nào từ trong Sài Gòn dùng không quân để tái chiếm lại Hoàng Sa. Quyết định đó có thể có và cũng có thể không."[13] Còn theo ông Hoàng Đức Nhã, thư ký Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và các tướng lĩnh có một số kế hoạch tái chiếm Hoàng Sa nhưng không được thực hiện do ưu tiên lúc đó không phải là tái chiếm Hoàng Sa mà là bảo vệ lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa trước sự tấn công của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[5]
Việt Nam Cộng hòa đã không có liên hệ nào nhằm phối hợp với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên phương diện ngoại giao cũng như quân sự nhằm tái chiếm Hoàng Sa do Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đang tấn công Việt Nam Cộng hòa và không hề lên tiếng phản đối Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa. Còn phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng không giảm cường độ quân sự tấn công Việt Nam Cộng hòa để nhà nước này có thể huy động lực lượng tái chiếm Hoàng Sa.[5]
Đồng thời hải quân Việt nam Cộng hòa thành lập một Hải đoàn đặc nhiệm mới để chuẩn bị tái chiếm Hoàng Sa. Hải đoàn này bao gồm tàu HQ-6, HQ-17 điều động từ Trường Sa và HQ-5 từng tham chiến tại Hoàng Sa trước đó. Đại tá Hà Văn Ngạc tiếp tục được chỉ định làm chỉ huy Hải đoàn này. Hải đoàn thực hiện một cuộc thao dượt chiến thuật và thực tập tác xạ trong một ngày tại một đảo nhỏ nằm về phía bắc vùng cù lao Chàm phía đông nam Ðà Nẵng. Nhưng cuối cùng việc tái chiếm Hoàng Sa bị hủy bỏ.
Đại tá Ngạc tin rằng "cuộc phản kích tái chiếm sẽ thất bại ngoại trừ đó là một chiến thuật thí quân nằm trong một chiến lược cao hơn". Các tàu chiến của Việt nam Cộng hoà là các tuần dương hạm cũ (WHEC) sử dụng trong lực lượng phòng vệ duyên hải Mỹ (US Coast guard) từ lâu, thích hợp cho công tác tuần tiễu hơn là để chiến đấu, vừa chậm chạp vừa nặng nề nên khó chống trả lại với các chiến hạm chiến đấu tối tân hơn. Loại này chỉ có một hải pháo 127 ly, còn 2 hải pháo 40 ly đã được Hải quân Việt Nam Cộng hòa đặt thêm vào lái tàu là nơi đã được dùng làm sàn đáp trực thăng.[23]
Ông Hoàng Đức Nhã, Bí thư kiêm Tham vụ Báo chí của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho rằng Việt Nam Cộng hoà "không đủ lực tái chiếm Hoàng Sa". Hơn nữa Việt Nam Cộng hoà phải bảo toàn lực lượng hải quân để bảo vệ duyên hải (vùng biển gần bờ) và chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng hoà "đang tập trung lực lượng chuẩn bị tiêu diệt Việt Nam Cộng hoà"[23]. Việc tái chiếm Hoàng Sa tạm gác lại để ưu tiên cho các mục tiêu trước mắt quan trọng hơn. Sau khi các mục tiêu này được giải quyết, Việt Nam Cộng hoà "sẽ dùng các biện pháp quân sự kết hợp ngoại giao thu hồi Hoàng Sa".[23] Còn theo Nguyễn Thành Trung, việc tái chiếm Hoàng Sa là hoàn toàn khả thi vì với sức mạnh áp đảo của không quân bao gồm 120 chiếc F-5 đang chờ lệnh ở Đà Nẵng, mỗi máy bay đủ sức không chiến tại Hoàng Sa trong 20 phút thì chỉ cần sau 1 ngày là đánh chìm toàn bộ tàu Trung Quốc ở Hoàng Sa. Việc này không được thực hiện do Mỹ đã cảnh báo Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu không được hành động.[34]
Đánh giá
Trả lời câu hỏi của các sĩ quan khác về Hải chiến Hoàng Sa tại Khóa Chỉ huy tham mưu đặc biệt tại Long Bình, đại tá Hà Văn Ngạc, chỉ huy trận hải chiến Hoàng Sa, nhận định Hoàng Sa cũng gần tương tự trận Ấp Bắc là nơi quân lực Việt nam Cộng hòa đã "bị bất ngờ về chiến thuật của địch, có sự sai lầm về ước tính tình báo và nhầm lẫn về chiến thuật điều quân".[8]
Trung tá Lê Văn Thự, chỉ huy chiến hạm HQ-16, nhận định về trận hải chiến như sau :
- Trong trận Hải chiến Hoàng Sa, Hải Quân Việt Nam không có loại tàu thích hợp cho trận chiến. HQ-5, HQ-16, HQ-10 là loại tàu cồng kềnh, vận chuyển chậm, súng quay bằng tay nên theo dõi mục tiêu khó khăn cũng như nhịp bắn chậm. Chỉ có HQ-4 là tối tân nhất, các súng đều sử dụng bằng điện, tốc độ bắn nhanh, radar có tầm xa, vận tốc chiến hạm cao. Nhưng HQ-4 lại không xung trận.[9]
- Hải đội của Việt Nam Cộng hòa tham chiến trận Hoàng Sa không có kế hoạch hành quân. Chỉ huy HQ-16 chỉ nhận được một lệnh duy nhất từ đại tá Ngạc đổ quân lên đảo Quang Hòa bằng bất cứ giá nào. Ngoài ra ông không biết gì về hoạt động của HQ-4 và HQ-5 cũng như nhiệm vụ của họ. Khi trận chiến diễn ra, ông cũng không biết đại tá Ngạc đã chia Hải đoàn thành 2 phân đoàn : phân đoàn I gồm HQ-4 và HQ-5, phân đoàn 2 gồm HQ-10 và HQ-16. Vì không có kế hoạch hành quân nên máy truyền tin bị Trung Quốc phá sóng không liên lạc được mà không có tần số dự trù thay thế nên hạm đội phải dùng máy PRC-25 liên lạc với nhau vì thế việc liên lạc không được liên tục, ổn định.[9]
- Phân đoàn I được phân công là chủ lực nhưng không tích cực chiến đấu mà chỉ ở bên ngoài chờ đợi rồi "bắn vào lòng chảo 5 - 7 phát trước khi rút lui ". Chỉ có phân đoàn II mang vai trò yểm trợ lại phải một mình phải giao chiến với 4 tàu Trung Quốc nên thiệt hại nặng.[9]
- Số quân HQ-16 đổ bộ để giành lại đảo Quang Hòa và giữ đảo Hoàng Sa quá ít, không có kinh nghiệm tác chiến trên bộ lại không được tiếp tế đạn dược, lương thực, nước uống và vật dụng.[2]
- Không có bác sĩ trên chiến hạm, chỉ có y tá không kinh nghiệm cứu thương cũng như ngoài khả năng của họ nên ai bị thương thì khó mà sống sót.[9]
Theo Trung tá Lê Văn Thự, sau trận chiến, Bộ tư lệnh Hải quân đã không tổ chức thảo luận giữa chỉ huy các đơn vị tham chiến để rút kinh nghiệm học hỏi mà để "mọi chuyện đều cho trôi xuôi luôn".[9]
Trong trận hải chiến Hoàng Sa, hải quân Việt Nam Cộng hoà gặp bất lợi rất lớn là hai khẩu hải pháo 76 ly tự động trên khu trục hạm HQ-4 bị trở ngại kỹ thuật nên HQ-4 phải rút lui ngay từ đầu. HQ-16 chiến đấu một thời gian ngắn thì bị trúng đạn pháo 127 ly của HQ-5 xuyên thủng hầm máy do đó bị loại ra khỏi trận chiến. Điều này cho thấy hải quân Việt Nam Cộng hoà chiến đấu trong thế bị động, không có sẵn kế hoạch tác chiến nên việc phối hợp giữa các chiến hạm kém dẫn đến HQ-5 bắn trúng HQ-16. Chỉ có HQ-10 và HQ-5 chiến đấu từ đầu đến cuối trận chiến. Như vậy lực lượng hải quân Việt Nam Cộng hoà thiếu sự phối hợp giữa các chiến hạm do không có kế hoạch tác chiến và mất ưu thế về hoả lực ngay từ đầu trận chiến trong khi Trung Quốc đã lên kế hoạch chu đáo ở cấp cao nhất là Bộ Chính trị Đảng cộng sản Trung Quốc cho việc chiếm đóng toàn bộ quần đảo Hoàng Sa.
Chiến lược
Đại tá Hà Văn Ngạc nhận định dù Hải quân Việt nam Cộng hoà có thắng được trận đầu thì cũng khó lường trước tổn thất khi đối đầu với lực lượng tiếp viện của Trung Quốc nếu còn ở lại cố thủ tại Hoàng Sa. Vào thời điểm đó Quân Cộng Sản đang tập trung quân tại miền Nam, Hải quân Việt Nam cộng hoà phải dồn lực lượng chống Cộng Sản nên không thể chi viện tối đa cho Hoàng Sa. Theo Đại tá Ngạc, Quân lực Việt Nam cộng hoà đã kiếm chế không tiếp tục mở rộng chiến sự tại Hoàng Sa vì sợ châm ngòi cho một cuộc chiến mới giữa Việt Nam Cộng hoà và Trung Quốc
Tóm lại, về lâu dài, với lực lượng khi đó, Đại tá Hà Văn Ngạc cho rằng Việt Nam Cộng hoà không thể giữ được chủ quyền tại Hoàng Sa trước kế hoạch bành trướng của Trung Quốc.
PS VP: Nhiều lãnh đạo HQ VNCH mang họ Lâm, Chung, Diệp đều là gốc Hoa
Hải chiến Hoàng Sa: Ký ức những ngày bị Trung Quốc bắt làm tù binh
Sau khi chiếm được Hoàng Sa, Trung Quốc đối xnhưử thế nào đối với các tù nhân. Và dưới đây là lời kể của Thiếu tá Phạm Văn Hồng về giây phút và những ngày làm tù binh.
Cuộc đổ bộ lên đảo định mệnhBuổi sáng 15/1/1974 tôi nhận lệnh thượng cấp ra đảo Hoàng Sa để thiết lập một phi trường quân sự, lúc đó tôi là sĩ quan Phòng 3 thuộc Quân Đoàn I.
Khoảng 5, 6 giờ chiều, chúng tôi lên chiếc HQ16 do Trung tá hải quân Lê Văn Thự là Hạm trưởng và đến 9g sáng hôm sau, tàu đã tới đảo Hoàng Sa.
Chiều ngày 18/1/1974 tôi nhận được lệnh của Trung tá Lê Văn Thự nói sẽ cho dzu dzu (một loại xuồng cao su) đến đón chúng tôi lên HQ5. HQ5 là soái hạm (tàu chỉ huy) do Đại tá Hà Văn Ngạc đang ở trên đó để tổng chỉ huy.
Đại tá Ngạc cho dzu dzu đưa tôi và một người tên Kosh - một nhân viên thuộc chính phủ Mỹ, vào đảo. Cặp vào đảo thì đã khuya, anh em địa phương quân cũng đã ngủ hết .
Lúc 10 giờ sáng ngày 19/1/1974, Trung Quốc tấn công lên đảo. Cả một tiểu đoàn lính Trung Quốc dàn hàng ngang lùng sục và bắt tất cả mọi người, khoảng 49 người vào lúc xế trưa.
Cuộc đời tù binh
Sau khi bắt được tôi, chúng không đánh đập nhưng có dọa nạt và áp đảo tinh thần. Khoảng 2- 3 giờ chiều chúng cho ăn cơm. Ăn xong chúng nhốt tụi tôi trong căn nhà có lẽ trước đây dùng chứa phân chim hay làm cái gì đó tôi không biết rõ. Đến khuya chúng nó bắt tất cả anh em ra xếp một hàng dọc ngoài sân. Tôi nghĩ trong đầu chắc chúng đem đi xử bắn. Nhưng cuối cùng chúng không bắn ai hết.
Gần rạng sáng chúng lùa mọi người lên dzu dzu đưa ra tàu Kronstad. Trong đó, nhóm sĩ quan đưa riêng lên một tàu, mấy chục anh em hạ sĩ quan, binh sĩ lên các tàu khác và tàu bắt đầu di chuyển. Khoảng trưa hôm sau, 20/1/1974, thì tới đảo Hải Nam.
Nó cho tôi lên bờ trước, sau đó mới đưa các anh em còn lại lên, rồi nó đưa đám sĩ quan vào phòng ăn riêng gồm tôi và 1 trung úy hải quân, 1 sĩ quan địa phương quân, 2 sĩ quan công binh và anh Kosh, cả thảy 6 người.
Sau khi ăn cơm xong, chúng đưa chúng tôi ra phi trường để bay về Quảng Châu. Khi lên máy bay chúng đưa Kosh lên ngồi trên cabin, còn anh em chúng tôi ngồi ở khoang dưới.
Đến Quảng Châu trời đã tối. Riêng nhóm hạ sĩ quan, binh sĩ và nhân viên đài Khí tượng chúng nhập chung thành một toán cho xuống tàu lớn chở về sông Châu Giang cũng thuộc thành phố Quảng Châu.
Hôm sau tất cả đám tù binh gồm 49 người, tính luôn cả anh Kosh; trong đó có 23 chiến sĩ địa phương quân, 6 người toán chúng tôi, 5 nhân viên khí tượng và 14 quân nhân hải quân, có thêm một sĩ quan nữa là trung úy hải quân Nguyễn Văn Dũng bị Trung Quốc lấy khẩu cung.
Tôi bị gọi lên lấy khẩu cung nhiều lần, chúng cố tình khai thác tôi về tổ chức quân đội Việt Nam Cộng hòa, nhưng tôi viện lý do “bí mật quân sự”, phòng nào biết phòng đó, tôi chỉ nói một cách tổng quát và cứ lập đi lập lại rằng, bên quân đội chúng tôi bảo mật rất kỹ, tôi chỉ biết danh số có những phòng gì, còn mỗi phòng có những ai, làm việc gì, điều đó tôi không biết.
Tôi thấy nó chú tâm vào Trung úy Nguyễn Văn Dũng nhiều hơn, có lẽ muốn điều tra, khai thác kỹ về Hải quân của ta để dự phòng những trận hải chiến sau này có thể xảy ra.
Sau khi bị giam một tuần lễ, chúng lựa ra mỗi toán một người để thả. Người đầu tiên là anh Kosh, chúng cho biết anh này bị một bệnh mà họ gọi nguyên văn là “mãn tính kinh niên” nên cho về sớm, bên khí tượng thả một người, bên địa phương quân thả một người, bên hải quân thả một anh bị thương nhẹ.
Cách đối xử của Trung Quốc với tù binhHọ cho chúng tôi ăn uống theo quy chế tù binh chiến tranh đã được quốc tế qui định, như tôi mang cấp bậc thiếu tá thì để tôi ở một phòng riêng, bốn trung úy thì cứ hai ông một phòng, như vậy chúng tôi có ba phòng ở liền nhau, còn ông Kosh người Mỹ một phòng riêng.
Mỗi ngày họ đem đồ ăn lên tận phòng cho chúng tôi, còn anh em Hạ sĩ quan và binh sĩ thì ăn ở nhà ăn tập thể của quân đội Trung Quốc. Sau thời gian 2, 3 tuần phải học tập mỗi ngày vào buổi tối để nghe cán bộ Trung Quốc tuyên truyền thế này thế nọ.
Tuần lễ thứ tư họ dẫn chúng tôi đi thăm vài nơi (mấy anh chàng Trung Quốc nói tiếng Bắc, bảo là dẫn chúng tôi đi tham quan). Đầu tiên thăm một Bệnh viện rồi thăm mấy hợp tác xã.
Sau khi thăm các hợp tác xã, họ dẫn đi thăm nhà máy cơ khí. Tại đây họ giới thiệu là nơi đúc các khẩu Thượng liên và súng AK, sau đó lại dẫn đi xem nhà máy làm xe đạp, gọi là xe đạp Hồng Kỳ thì phải, rồi thăm một vài cư xá của công nhân.
Trao trả tù binhTôi còn nhớ hôm đó là thứ Bảy, có lẽ ngày 16 hay 17/2/1974, sau khi cho chúng tôi ăn uống xong, họ tập trung lại và tuyên bố sẽ trả chúng tôi về Việt Nam.

Tất cả nhóm tù binh do Trung Cộng trao trả, đã về tâp trung tại trại dưỡng quân Lê Văn Duyệt, Sài Gòn – ảnh do Thiếu tá Phạm Văn Hồng cung cấp
Họ phát cho mỗi người một bộ quần áo màu xanh và cái mũ mà anh em chúng tôi gọi đùa là cái bánh tiêu. Một tên cán bộ hỏi tôi muốn về miền nào, Bắc hay Nam Việt Nam. Tôi trả lời: “Chúng tôi là người Việt Nam, Bắc hay Nam đều là tổ quốc tôi, nhưng hiện tại hai miền có hai thể chế khác nhau, tôi yêu cầu trả chúng tôi về miền Nam”.
Họ đưa chúng tôi từ huyện Hoàng Hóa về thành phố Quảng Châu, đường dài hơn 40 cây số, rồi lại từ Quảng Châu đưa ra Tô Giới tức là Thẩm Quyến để trao trả chúng tôi tại Hồng Kông.
Giây phút cảm động gặp lại vợ conNgay khi chúng tôi bước qua lằn ranh từ Thẩm Quyến sang Hồng Kông, người đầu tiên chúng tôi gặp là ông Tổng Lãnh sự VNCH tại Hồng Kông. Ông niềm nở đón tiếp chúng tôi và cho người mang đến cho tất cả anh em chúng tôi mỗi người một bộ quần áo dân sự mới toanh. Khi lên xe buýt ra phi trường Khải Đức, chúng tôi vứt bỏ lại trên xe bộ quần áo xanh do Trung Cộng cấp phát và thay đồ dân sự.
Ra đến phi trường, chúng tôi hết sức xúc động thấy Phó Đề Đốc Lâm Ngươn Tánh, Tư lệnh phó Hải quân và một sĩ quan cao cấp bên Tổng Cục chiến tranh chính trị (tôi không nhớ tên) đến đón.
Vị này mang cho chúng tôi quân phục đầy đủ, ai binh chủng gì thì mặc quân phục binh chủng đó, ông còn mang cho tôi cặp lon thiếu tá nữa. Chúng tôi lại thay đồ dân sự và mặc quân phục về nước. Chính phủ VNCH thuê nguyên một chuyến Boeing 727 của Hàng không Việt Nam qua Hồng Kông đón chúng tôi trở về sau một tháng bị Trung Quốc bắt làm tù binh.
AloBacsi.vn
Theo Vũ Kiều - Một thế giới

(Đô Đốc Chung Tấn Cang, cùng phu nhân
và 2 cháu tại Bakerfield-CA)
Ghi Nhận Về Những Giờ Phút Chót-cuối tháng 4-75:
Từ Bộ Tư Lệnh Hải Quân VNCH (thủ đô Sài Gòn)
Phạm Kim
1- Tư Lệnh HQ, Đáp Ứng Tình Hình Di Tản
Lễ nhậm chức và bàn giao của tân Tư Lệnh Hải Quân diễn ra vào trưa ngày 24 tháng 3-75 có khoảng 7 Tư Lệnh các vùng đứng một hàng ngang trước bàn có cờ 3 sao Tư Lệnh. Sĩ quan báo chí hiện diện góc cửa bên cạnh Trung Tá Khanh để quan sát và tường thuật, trong văn phòng Tư Lệnh nhỏ nhắn trên lầu hai nằm bên tay mặt của trụ sở Bộ Tư Lệnh trông ra bến Chương Dương.
Phó Đô Đốc Chung Tấn Cang lúc đó đang là Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô, một trong vài “chỗ” sáng giá, quan trọng nhất chung quanh Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Ông được đổi về gấp nhậm chức Tư Lệnh Hải Quân lần thứ nhì sau khi đã rời Hải Quân trên 10 năm về trước. Điều này cho thấy kế hoạch “di tản và lui binh” là mối quan tâm nhất của Tổng Thống Thiệu trong việc bổ nhậm chức vụ này. Ông Cang thổ lộ rằng “nếu tôi còn ở vị trí Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu, thì sẽ ở lại Sài Gòn tử thủ“.
Hồi đảo chính tháng 11 năm 1963, lần đầu ông Cang được giao nắm chức vụ Tư Lệnh Hải Quân cũng là vì được lòng tin cậy của nhóm tướng lãnh đối với ông. Và lần đầu ông làm Tư Lệnh Hải Quân kéo dài khoảng 16 tháng.. Còn lần thứ nhì này với cấp bậc cao hơn và giao tiếp khẩn cấp rộng lớn hơn hẳn trước. Rồi vận nước ông cũng chỉ được ở lại chức vụ khoảng trên một tháng, với một kế hoạch “di tản Quân Lực VNCH và các công nhân viên chức chánh phủ khi có nguy biến, để cùng tập trung Hạm Đội tại Côn Sơn, để “về Miền Tây” hoặc ý định, trừ khi kế hoạch không thành- mới dẫn đoàn tầu đi Phi Luật Tân tị nạn…”
Lễ Bàn Giao trầm lắng, không khí căng thẳng đó gồm cả những người đã có bất hoà trước đây với cá nhân tân Tư Lệnh cũng hiện diện còn có mặt khoảng 10 vị sĩ quan chỉ huy cao cấp trong đó có: Phó Đề Đốc Nghiêm Văn Phú (từ Đồng Tâm-Mỹ Tho), Phó Đề Đốc Đặng Cao Thăng (từ Cần Thơ)…, một vài vị khác như Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại rối bời tại BTL-HQ vùng I không về được…
Chỉ vài ngày sau ngày nhậm chức ông đã thành lập đơn vị Lực Lượng Đặc Nhiệm 99 bao gồm những Giang Đoàn Ngăn Chặn và nhiều Căn Cứ Hải Quân do Đại Tá Lê Hữu Dõng là tư lệnh, với sự đóng góp đáng kể của Phó Đề Đốc “Phú Già“, là minh chứng cho sự xóa bỏ những dị biệt bất hòa thời “âm mưu đảo chánh trong Quân Chủng năm xưa“.
Tân Tư Lệnh Chung Tấn Cang lúc đó có cấp bậc cao nhất Quân Chủng, và ngang cấp với các tư lệnh quân-binh chủng khác, dễ dàng nói chuyện với Dinh Độc Lập và Bộ Tổng Tham Mưu. Trong những ngày giờ dầu sôi lửa bỏng đó, quả ông đã quan tâm thực sự đến kế hoạch “Di Tản” một cách chặt chẽ, với tiêu chuẩn phải mang đi được nhiều tướng lãnh, quân nhân của các quân binh chủng khác, cùng dân chúng và Hải Quân, dĩ nhiên.
Và ông thường xuyên có mặt trong Trung Tâm Hành Quân thuộc Bộ Tư Lệnh Hành Quân Lưu Động Biển, trong tầng Ba một cao ốc tân kỳ mới xây vài năm. Ông có phong thái bề thế chỉ huy oai nghiêm như một Tổng Tham Mưu Trưởng chiến trường Lục Quân. Phó Đô Đốc Cang liên lạc hàng ngang với Tổng Thống và giới chức cao cấp nhất của Tổng Tham Mưu, cũng như bên Biệt Khu Thủ Đô.
2- BTL/HQ Và Cuộc Di Tản QK1 & Tướng Trưởng
Tư Lệnh Chung Tấn Cang theo dõi giải quyết cuộc di tản và tình hình trận liệt ngoài Quân Khu 1 và Đà Nẵng từ Trung Tâm Hành Quân-BTL-HQ. Ông biết từng bước đi của Tướng Bộ Binh, Tướng Không Quân và các đơn vị tác chiến với những khi tạm trú trong căn cứ HQ Đà Nẵng hoặc TTHQ-SĐ/TQLC, hoặc với Phủ Tổng Thống mỗi ngày hoặc qua Trung Tá Khanh-Chánh Văn Phòng Tư Lệnh.
Tướng Trưởng, Tướng Lân, Tướng Khánh, Phó Đề Đốc Thoại… thường xuyên họp tham mưu tại TTHQ/ Sư Đoàn TQLC hiện đóng tại Non Nước (Đà Nẵng). Trong khoảng thời gian này hai sĩ quan của BTL Sư Đoàn TQLC vừa trúng pháo của VC khi đang trên mặt nước để lên chiến hạm, đó là Trung Tá Nguyễn Xuân Phúc và Trung Tá Đỗ Hữu Tùng, theo như lời thổ lộ của Trung Tâm Trưởng TTHQ/SĐ/TQLC Trần Vệ và sĩ quan TQLC, Tô Văn Cấp. Vào phút chót Trung Tướng Trưởng đành bó tay, đã rời bỏ Quân Khu I… Nếp đạo đức, khôn ngoan và thói quen chịu đựng đau đớn cho thấy ông tướng danh tiếng này, vượt thắng hơn sự tính toán của TT Thiệu… Theo lời một sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến kể lại sau này viết lại trên trang Báo “Đa Hiệu” của Hội Cựu SVSQ Võ Bị Đà Lạt, “. Những chi tiết này cũng phù hợp với lời Tướng Thoại kể lại hình ảnh Đà Nẵng rối loạn chiều 28 tháng 3.Tướng Trưởng ngồi lẻ loi trên ghế bố cùng với Đại Tá TLP/TQLC Nguyễn Thành Trí và độc nhất một anh lính truyền tin Bộ Binh, (từ chiều tối 28) chờ ôm poncho lội nước để lên Hải Vận Hạm 402 vào lúc 10 giờ sáng ngày 29-3, thay vì tin theo lời hứa hẹn của Sài Gòn là: “Cứ ở yên trong đó không lội ra khơi chờ đến khi có HQ 404 vô đón”. Và ông đã mặc bộ quân phục vải xám của Hải Quân trong suốt thời gian tạm trú trên tầu“.
Dù theo dõi chặt chẽ, nhưng thực ra Trung Tâm Hành Quân HQ ở Sài Gòn không nắm vững được phương vị di chuyển của Tư Lệnh Quân Đoàn 1, Tướng Ngô Quang Trưởng: Khi ông ra tới Chiến Hạm HQ 402 chuyển sang HQ 404. Trong lúc đó Tư Lệnh Hồ Văn Kỳ Thoại vẫn còn đang chỉ huy toán thám sát với hai cận vệ, lên Núi Tiên Sa tìm bãi biển an toàn (vì lúc ấy các bãi biển Đà Nẵng quân dân chạy giặc đã trở thành vô cùng nguy hiểm, hỗn loạn). Dự trù bãi cát chân núi Tiên Sa an toàn, kín đáo để tàu Hải Quân có thể vô đón thân nhân HQ, Thủy Quân Lục Chiến và anh em SĐ3 BB. Toán “thám sát-tiền phương” bị kẹt lại mãi cho đến khi người bạn là Trung Tá Thiệp (cựu Chỉ Huy Trưởng Giang Đoàn 22 Xung Phong- Nhà Bè sau này chỉ huy Cảng Đà Nẵng) dùng Hải Thuyền vô đón, được chuyển lên PCF rồi lên HQ 802 cùng với Tư Lệnh SĐ3 BB-Nguyễn Duy Hinh về Quy Nhơn cùng tử thủ…
Em trai của Phó Đề Đốc Thoại là Thiếu Tá Hồ Văn Kỳ Tường, Hạm Phó HQ-5, đã cầm tận tay công điện Mật của chính Tổng Thống giao cho Tướng Trưởng và nói: “Tổng Thống muốn Trung Tướng theo tiểu đỉnh trở lại đất liền để tiếp tục chỉ huy”. Sau khi đọc công điện một lúc khá lâu, Tướng Trưởng đã xin với Sài Gòn để được cùng với TQLC “tiếp tục chỉ huy” chuyển từ HQ 402 qua HQ 404 được gọi là: “Bộ Tư Lệnh Nổi: Hải Vận Hạm HQ 404″”… (Thực ra không ai rõ ngày giờ ấy: Tướng Trưởng đang ở chiến hạm nào?. Những chi tiết này cũng được chính Tướng Thoại xác nhận.)
Những quyết định từ Trung Ương sau một khoảng thời gian chờ đợi, đồng ý cho Trung Tướng Trưởng được theo Hải Vận Hạm Hương Giang HQ 404 xuôi về Nha Trang, Phan Rang về đến Sài Gòn. Vào buổi chiều ngày 18 tháng 4, khoảng 4-5 giờ chiều gần đến giờ về nhà, Trung Tá Khanh cho gọi Sĩ Quan Báo Chí lên Trung Tâm Hành Quân. Tôi trình diện và ngồi cách Đô Đốc Tư lệnh một khoảng cách chỉ để ghi nhận và nghe ông căn dặn một vài việc. Nhưng tai tôi nghe qua tiếng máy loa khuếch âm: tin từ Đà Nẵng gọi về Trung Tâm Hành Quân (thuộc Khối Hành Quân-Hải Quân) cho Tư Lệnh Chung Tấn Cang theo dõi tin tức “một oanh tạc cơ không rõ của Không Quân VN hay Hoa Kỳ đã bắn lầm một Chiến Hạm (có tướng lãnh hiện diện trên HQ3, HQ 404 hay HQ 802-có hàng tướng lãnh như Tướng Trưởng, Tướng Minh hoặc Tướng Thoại?). Trên đường trên đường xuôi Nam về BTL ở SàiGòn..” Tôi thấy hình như ông không chen vào các tin tức nội bộ này. Tin này làm cho tôi liên tưởng tới một vụ (có lẽ A-37) oanh tạc nhầm Hộ Tống Hạm Vạn Kiếp trong giai đoạn biến động này, gây cho vài sĩ quan và thủy thủ tử vong… mà không ai nói tới sự kiện máy bay mình oanh tạc lầm… mà lại cho VC “công trạng” bắn trúng Tầu. Tôi thường kiểm chứng lại sự thực xảy ra nơi chiến trường, và cũng từ Tư Lệnh Hồ Văn Kỳ Thoại cũng kể lại sau này…
Cũng khoảng thời gian này nghe tin vào khoảng sau 5 giờ chiều có tin chiến hạm trên đường xuôi Nam HQ 503 bị trúng đạn, gây cho khoảng 4 sĩ quan cùng với nhân viên, thủy thủ trúng thương và tử nạn.
… “Một sĩ quan-tử nạn“, chính tôi được nghe qua loa khuếch âm truyền tin báo cáo trúng đạn là “HQ Trung Úy CB Nguyễn Độ”, dân Sài Gòn cũng là bạn cùng thụ huấn quân trường. Tin chiến sự này cứ ám ảnh trong lòng như chưa quên…
Một sĩ quan trẻ và Tướng Thoại cũng xác nhận họ có nghe về các nguồn tin ấy, và nghĩ rằng “hai sự kiện máy bay oanh kích, và pháo kích trúng đài chỉ huy chiến hạm có thể cách nhau phút chốc thời gian, nhưng lại cách nhau trong không gian- nhiều hải lý?...”
Không đầy một tuần sau, cái ngày Hải Quân và TQLC rời bỏ Đà Nẵng hỗn loạn. Khi chiến hạm có Tướng Trưởng về đến cầu tầu Tư Lệnh HQ, Báo Chí HQ cũng theo ra đón Tướng Trưởng, chứng kiến cảnh tượng Tướng Chức thay mặt Tổng Thống Thiệu tỏ rõ thái độ. Có tin “đồn” là Tướng Trưởng sau đó bị quản thúc cùng với một số tướng khác qua lệnh của Tướng Trần Văn Đôn. Sau này gặp lại Tướng chức, ông không muốn nhắc lại chuyện cũ. Tướng Thoại thì nói có nêu cùng câu hỏi, được Tướng Chứvc trả lời rằng “ông Trưởng là sĩ quan cao cấp hơn, làm sao tôi “dám”!!”
3- “Tuyến Thép Phan Rang” và Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh
Chỉ vài ngày sau khi Đà Nẵng thất thủ, Bộ Tư Lệnh Hải Quân đã muốn Phòng Báo Chí chuẩn bị các bài diễn văn soạn sẵn của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Đại Tướng Viên và Tư Lệnh Hải Quân nhằm nêu cao vai trò “Tư Lệnh Tuyến Thép” và một Sĩ Quan Báo Chí theo ra Nha Trang giao trực tiếp để trao tận tay các diễn văn và đề cao chiến dịch mới: “Tuyến phòng Thủ cuối cùng dự định tại Nha Trang, mang tên Tuyến Thép, do PĐĐ Hoàng Cơ Minh là Tư Lệnh Chiến Trường- là vinh dự cho HQVN”, nhưng lễ nghi quân cách và lệnh chưa kịp chính thức loan tải và phát thanh thì lãnh thổ kiểm soát của VNCH đã phải cắt thêm về tới Tuyến Thép Phan Rang. Rồi cũng từ Phan Rang, chưa kịp thực hiện những nghi lễ mang tính tuyên truyền, tử thủ và bảo vệ Tuyến Thép thì Tư Lệnh Hoàng Cơ Minh, lẫn sĩ quan báo chí BTL-HQ đã phải xuống theo Chiến Hạm HQ-3 xuôi Nam dọc theo bờ duyên hải để đón quân-dân di tản từ Phan Rang và các thành phố khác nữa về BTL-HQ. Thỉnh thoảng, có các ghe chở người được cho phép cặp sát chiến hạm.. Có chiếc ghe nói là “người nhà của TT Thiệu” để “hy vọng” được lên chiến hạm.
Tại Cam Ranh, Hải Quân Đại Tá Bùi Cửu Viên, Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Cam Ranh đã đưa được cả Trung Tâm Huấn Luyện về được Sài Gòn trên những tàu LST. Cùng lúc Thiếu Tướng Tư Lệnh Nguyễn Duy Hinh, các sĩ quan tham mưu và hơn trăm binh sĩ Sư Đoàn 3 Bộ Binh cũng được Đại Tá Viên đưa về Sài Gòn bằng tầu LST.
Tôi được nghe Trung Úy Y Sĩ -Phạm Anh Dũng kể lại, “SĐ3 chúng tôi có lệnh ra Bà Rịa trình diện, nhưng khi tôi ra đến nơi, không gặp sĩ quan nào cả trong Tiểu Đoàn 3 Quân Y, nên phải về lại Sài Gòn.” Kế hoạch Tuyến Thép Cuối Cùng Phan Rang” cũng thất bại!.
Tôi, sĩ quan được Trung Tá Linh cử đi công tác Báo Chí, chưa tới nơi gặp được Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh ở Phan Rang, thì có tin Nha Trang thất thủ. Trên chiến hạm về Sài Gòn tôi gặp Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh, có cơ hội gặp gỡ trong phòng ăn Sĩ Quan của Chiến Hạm, cùng những lúc chen chân giữa quân nhân tác chiến, và heo gà trên chiến hạm kêu oang oác, ồn ào. Tướng Minh và tôi là một trong số những người về trên chiến hạm HQ-3 khẩn cấp về Sài Gòn nhanh chóng hơn, thay vì ngừng lại ở một số nơi, như HQ 503 bị về bến chậm lại một vài ngày. Tôi có nghe tin một số chiến hạm đã đụng độ; HQ 11 và HQ 503 đã bị trúng đạn nặng nề, thê thảm (vào ngày 19-4).
Đây là dịp tôi có giờ trò chuyện riêng tư với Tướng Minh. Chúng tôi kể lại thời ăn cơm chung giữa chúng tôi với nhà văn HQ Trung Úy Chu Sĩ Lương từng là Sĩ Quan Báo Chí BTL HQ khoảng thời gian với Trung Úy Trần Trọng Thức (sau này rời Quân Đội sớm). Chu Sĩ Lương về phụ trách Báo Chí cho Tướng Minh, chúng tôi nhắc nhớ đến HQ Trung Úy Lê Rĩnh; HQ Trung Tá Lê Công Bình (người có mối liên hệ chặt chẽ với ông Chơn, sau này cả hai đều đi tù cải tạo nhiều năm); Thiếu Tá Phi Đoàn Trưởng Thần Trùy 211-Nguyễn Kim Hườn (vài năm đến Cali, đã sát cánh với Tướng Hoàng Cơ Minh), với Thiếu Úy KQ-ca sĩ Trần Thuỵ Chi (em vợ Trung Tá Trịnh Tiến Hùng) thường chở Tướng Minh trên trực thăng quan sát, những ngày tôi được quan sát cuộc hành quân Thủy Bộ. Ông tiếc cho buổi triển lãm tranh ở Hội Việt-Mỹ khai mạc đầu tháng Tư sẽ không có nhân vật chính là tôi về kịp tham dự… Tôi quý mến ông, và lúc ấy nhìn thấy rõ nét mặt thảm thương đau đớn. Chúng tôi ngậm ngùi chung về những mất mát…
Và chúng tôi lênh đênh như thế trên biển hơn 3 ngày, chen lẫn trong số hàng ngàn chiến binh: tướng tá di tản, trên cả 3 soái hạm, HQ 2, HQ 3, HQ 5 và bao gồm cả Dương Vận Hạm HQ 500
4- Hải Quân Họp Tiết Lộ Chi Tiết: Di Tản
Bộ Tư Lệnh Hải Quân và Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn, Tư Lệnh Hạm Đội đã họp với khoảng 100 hạm trưởng các loại chiến hạm lớn nhỏ vào chiều ngày 26 tháng 4, ông Sơn tuyên bố rằng “lấy quyền: Tư Lệnh Hạm Đội thông báo đến quý vị hạm trưởng rõ ba chuyện: “1-Vũng Tầu, Phan Rang và Bộ Tổng Tham Mưu đã tan rã, 2- địa điểm Sư Đoàn 3 Không Quân đang bị dội bom, trong khi Hạm Đội HQ còn an toàn và nguyên vẹn, 3- chúng ta chuẩn bị tinh thần có thể di chuyển về Phú Quốc.”
Chỉ vài ngày sau hôm 28-4 Đại Tá Sơn bị “cách chức”, người thay thế là Đại Tá Khuê. Ông Khuê tuyên bố trong buổi họp đầu tiên để trấn an và đánh lạc hướng: “Di tản không còn là vấn đề phải đặt ra nữa vì Hoa Kỳ đã giúp ta thả bom CBU ở Xuân Lộc, … ta sẽ thắng...”
Vào sáng sớm ngày 29-4 lại có một cuộc họp tham mưu cao cấp cho biết: “Nếu không có một phản lệnh nào khác, thì toàn bộ Hạm Đội sẽ rời Bộ Tư Lệnh Sài Gòn vào lúc “Không Giờ”- Khuya 29 rạng 30, các hạm trưởng cứ thế mà tuân hành.”
Trong khi đó thì Phó Đề Đốc Nguyễn Thanh Châu cũng có mặt gần Sài Gòn, ông thường xuyên có mặt tại “nút chặn” Căn Cứ Hải Quân Cát Lái, cùng với toán Quân Cảnh và toán nhân viên làm một nút chặn ngay tại ngoài tuyến đường lộ gần căn cứ, nơi được đặt là trại tị nạn cho quân nhân và đồng bào về từ Phú Quốc. Trong lúc đó có tin không chính thức sau buổi họp “HQ Đại Tá Trần Văn Triết điều khiển kiểm soát vòng đai Hải Quân Sài Gòn?“. Ông Triết có sẵn một tầu riêng đậu gần HQCX, đề nghị cho cả gia đình 3 người (mẹ già và vợ chồng ông thiếu tá từng thuộc quyền…) cùng đi với Trung Úy Vy cùng vợ con.
Vài sĩ quan giống như Hạm Trưởng Hùng cho biết: Rất nhiều sĩ quan khác, đã bị ngăn cản không vào được “Nút Chặn-Trại Sĩ Quan Cửu Long” theo lệnh của Đại Tá Triết. Chỉ huy trưởng và vài nhân viên cuối cùng rời đơn vị được giao bảo vệ vào “giờ thứ 25” lúc 9 giờ tối 29-4. Trong giờ phút đen tối ấy, lại may mắn gặp Đại Tá Đỗ Kiểm đang liên lạc gia đình (thất lạc) vẫn chưa lên tàu, đi lòng vòng trong Hải Quân Công Xưởng- Đại Tá Kiểm lại hỏi “tại sao anh chưa đi?” và cho biết “Bộ Tư Lệnh HQ đã được lệnh giải tán từ 2 giờ chiều (ngày 29-4)“. Thiếu Tá Liễm, chỉ huy trưởng Biệt Đội Chiến Tranh Chính Trị-Hải Quân, cũng như chính tôi, trước đó cũng không được biết bất cứ một tin tức nào, đâu có ai ngồi chỗ làm việc để chờ điện thoại gọi tới. Chính vậy người biết tin tức nhiều là Trung úy/nhà thơ Phan Minh Hồng tại BTL-HQ cũng không gọi liên lạc được khi có biến chuyển lớn và khi có lệnh “tan hàng”!.
Ông Liễm vẫn còn bám trụ chỉ huy 4 đơn vị bao gồm “Nút Chặn” Trại Cửu Long và NewPort. Cả giờ sau khi gặp Đại Tá Đỗ Kiểm, giống như ông Hùng kể lại, người quân nhân mang lon thiếu tá Hải Quân, dù quen mặt cố gắng muốn được qua cầu thì bị người sĩ quan kiểm soát tại cầu, không xa lạ, lại chĩa súng đòi bắn. May cho ông vừa đúng lúc, được Trung Úy Vy (phụ tá của Đại Tá Triết) trọ ở nhà ông Liễm, lái xe chở vợ con qua cầu vào HQCX, có chìa khóa riêng mở dây xích khóa hai bên cầu Ava-lăng vào HQCX. Một nhân chứng gặp được Thiếu Tá Bá Hạm Trưởng, quen biết nên được cho lên tầu HQ-801, tại vị trí 4, HQCX, và hạm trưởng cho LCVP về đón vợ con, đón Thiếu Tá Vũ Trạch người về từ Đà Nẵng, Linh Mục Dụ, anh em Linh Mục Vũ Thành và mấy chục người bà con của LM Dụ từ Nhà Thờ Hiển Linh. Những nhân chứng này kể lại, họ lên Tầu đầy đủ, thì HQ 801… rời bến. Trước đó nhóm người xuống Tầu không đi kèm hạm trưởng, vẫn bị lính canh “đuổi lên”.
Mỗi khi Hạm Trưởng Bá đích thân dắt tay ai đến tận cầu thang thì mới được lên. Có người hỏi Hạm Trưởng Bá “chừng nào tầu rời bến?, Hạm Trưởng Bá tránh né trả lời: “Không biết bao giờ đi?”… Nhưng chỉ khoảng mươi phút sau, khi hạm trưởng đã lên HQ 801.. rồi, thì tầu liền rời bến.
Theo lời kể của HQ Đại Tá Bùi Cửu Viên, hạm trưởng kinh nghiệm về Dương Vận Hạm (loại LST có tên: Mỹ Tho, Cần Thơ…) thì “HQ 801 khi rời HQCX khoảng 8 giờ 30 tối, với một máy chánh bất khiển dụng… HQ 801 gặp Soái Hạm Trần Hưng Đạo mắc cạn ở Quatre bras – quá nửa đường Sài Gòn-Vũng Tàu)“.
Sự kiện HQ-1 bị mắc cạn được HQ 801 trợ giúp theo lời Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại: ” Có tin nói rằng Hạm Trưởng Soái Hạm Trần Hưng Đạo HQ1, Nguyễn Địch Hùng (khóa 4 Brest) lấy xe jeef về nhà đường Trần Hoàng Quân đón vợ đến hơi chậm sau 8 giờ tối mà chưa tới nên, bị “bỏ” ở lại; vì trên tầu được một trong hai ông Phó Đề Đốc hiện diện “lấy quyền” chỉ huy bắt HQ 1, rời bến sớm hơn- dù hạm trưởng đi đón vợ con-chưa về kịp..”.
Riêng Hạm Trưởng Đinh Mạnh Hùng của HQ 2- mang tên Trần Quang Khải- còn nhớ lại: “Vào lúc 5 giờ 30 chiều 29-4-75, cơn mưa chiều vừa tạnh, khi chuẩn bị xuống chiến hạm, chuẩn bị công tác chiến dịch “Di Tản-Lui Binh”, có nhìn thấy vài Sĩ Quan từng quen thuộc trước đây ở tại Bộ Tư Lệnh.” Hơn ba thập niên sau, theo lời kể lại của Hạm Trưởng Hùng thì: “Ông Ưng Văn Đức cùng một Thiếu Tá nói với Hạm Trưởng Hùng “thi hành lệnh của Đại Tá không cho bất cứ ai được xuống tầu nếu không do chính Đại Tá cho phép“..
Hạm Trưởng Đinh Mạnh Hùng (nay ở Seattle) thuật lại “chính tôi đã bị cản lại không được xuống tầu, tôi đã phải dùng máy liên lạc cho một tiểu đỉnh đến đón ở vị trí khác ở bờ sông trước nhà hàng Majestic, và tử đó lên tầu phía tả hạm, bằng thang dây..“.
5- Tổng Thống Dương Văn Minh Đồng Ý Cho Di Tản “Về Miền Tây”
Cũng khoảng 4 giờ chiều hôm ấy, trong cơn mưa nhỏ và mây xám âm u vùng BTL-HQ, Phó Đề Đốc Nguyễn Hữu Chí, Tư Lệnh Hành Quân Lưu Động Biển đã cùng với gia đình Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh xuống HQ 3. Trong khi trước đó vào lúc 1 giờ chiều, Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh đứng trên một chiếc PCF, đậu ngay cầu tầu Tư Lệnh để dàn xếp mọi diễn biến. Ông nói như ban lệnh rất lớn chỉ về hướng tôi còn đang ngơ ngác hướng mắt nhìn ông: “anh sĩ quan, nhờ gặp sĩ quan trực liên lạc gấp với tư thất Tư Lệnh Chơn ngay bây giờ...”
Khi tôi bước vào chỗ ngồi làm việc cũ khoảng 2 giờ chiều, chuông điện thoại bàn làm việc của chúng tôi reo liên hồi, tôi kịp bốc điện thoại để nghe, đầu dây bên kia là Trung Tá Khanh-Chánh Văn Phòng Tư lệnh, đang đích thân “ra lệnh” cho tôi: “Phải Sĩ Quan Ban Thông Tin Báo Chí đó không?- chiều nay có họp ở Bộ TTM, anh cho mang, máy ảnh và máy thu băng, lên chánh văn phòng Tư Lệnh“. Tôi thi hành ngay vì “chánh văn phòng” chỉ cần bước lên cầu thang bên phía tay mặt dãy nhà của tôi ngồi là tới.
Từ giờ phút ấy Tướng Hoàng Cơ Minh từ PCF trở lại chiến hạm. Từ đó có lệnh từ chiến hạm “Nội bất xuất, ngoại bất nhập”. Và cho đến chiều tối ông mới chuyển qua HQ 5, chiến hạm này “được chọn làm soái hạm chỉ huy”.
Đô Đốc Cang muốn bảo toàn đoàn Chiến Hạm đến giờ chót hoặc lên đường ra Côn Sơn, Phú Quốc hoặc Miền Tây. Những điều này khi trình bày với TT Dương Văn Minh đều được Tổng Thống gật đầu và không phản đối điều gì. Chủ trương của ông Cang cùng với các vị tướng tham mưu là không chấp nhận liên hiệp. Xung quanh ông là những tướng lãnh chủ trương chống Cộng, chống Liên Hiệp với CS… như Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh, Phó Đề Đốc Đinh Mạnh Hùng, Phó Đề Đốc Đặng Cao Thăng, Phó Đề Đốc Nguyễn Hữu Chí.. Và Phó Đề Đốc Nghiêm Văn Phú, là một sĩ quan chỉ huy mà trước đây từng có những bất hòa riêng với Tư Lệnh, nhưng chính cuộc chiến đấu và di tản cuối cùng gay go này đã đưa những người có những bất đồng ngồi lại gần nhau.. cùng hữu hiệu làm việc.
Họ thường xuyên liên lạc với Đại Tướng Minh, nhưng ngày cuối, Đại Tướng Minh đã bày tỏ rõ ý muốn ở lại của riêng ông, và buông xuôi đồng ý cho các đơn vị quân đội và HQ được quyền tự giải quyết hoặc đưa quân nhân các cấp “di tản… lui binh”, sau khi ông cảm thấy đã tuyệt vọng trong giải pháp và bị “lừa” chăng?.
Phó Đề Đốc Nguyễn Hữu Chí, tức nhà thơ Hữu Phương lại là vị tướng độc nhất trong BTL HQ (?)”muốn phá hủy cơ sở Trung Tâm Hành Quân và Phòng Hai để bảo mật, theo như lời ông kể lại. Trong lúc rời nhiệm sở, ông nói ra ý định muốn dùng lựu đạn lân tinh để tiêu hủy hồ sơ theo mục đích bảo vệ những người còn kẹt lại và ngăn chặn khi VC tới“. Phó Đề Đốc Chí sau đó ra chiến hạm bằng tiểu đỉnh và lên bằng thang dây vì cầu tầu đã bị kiểm soát nghiêm ngặt, như lời ông kể lại khi đến Hoa Kỳ.
Các phòng sở khác êm ắng như nhà hoang cửa trống, ai cũng túa ra về vì tất cả họ tâm trạng đều rối bời, không ai tiếc nuối gì hoặc có một hành động gì khác, ngoài nhóm người thân cận với tân Tổng Thống Dương Văn Minh thì còn hy vọng vớt vát tìm giải pháp… chiến đấu (?)… Có lẽ vì vậy vài sĩ quan Hải Quân giờ chót chưa đi, khi “chọn” ở lại hay “không muốn đi”, như trường hợp Đại Tá Tấn không sau buổi họp sáng sớm ở TTM về, ông chủ trương “ở lại BTL-HQ chiến đấu. Vì không đi theo đoàn tầu, ở lại, ra trình diện bị trên 16 năm tù “cải tạo” thế mà còn bị mang tiếng là đặc công nằm vùng!. Ông Tấn đã kể lại và xác nhận “ được khẩu lệnh của Tổng Thống Dương Văn Minh hành xử quyền Tư Lệnh Hải Quân“. Trưởng phòng Tâm Lý Chiến là HQ Trung Tá Lê Như Linh (người dành cho tôi những ưu ái- mà tôi không quên), ông cho tôi trái ngọt lẫn trái đắng: đi Hong Kong với Tư Lệnh Phó HQ Lâm Ngươn Tánh, (hai người đại diện HQ và chính phủ) đón tù binh VNCH tử thủ Hoàng Sa do Trung Cộng trao trả. Ra thăm quần đảo Trường Sa. Lên thăm Đài kiểm Báo TàKú trên đỉnh núi do HQ Trung Úy Phạm Ngọc Đông là Trưởng Đài. Ra Cửa Việt ghi nhận trận giao tranh với tầu địch. Ra Trại Tù Phú Quốc hai lần gặp Đại Tá Nguyễn Văn Thiện quan sát trại tị nạn, đón nhận hàng ngàn quân nhân di tản về. Hai lần ra BTL HQ vùng 1 tại đây ra gặp Tướng Thoại tại Đà Nẵng những ngày cuối tháng 3 suýt soát bị kẹt lại- khi hàng ngàn người dành chỗ lên C-130 về Sài Gòn, rồi còn ra Quy Nhơn Ra Nha Trang và bên ngoài bãi biển Cam Ranh Nha Trang giữa tháng Tư gặp Tướng Hoàng Cơ Minh… gặp Đại Tá Hợp trong vùng Hành Quân Đặc Khu Rừng Sát. Những ngày gần chót là đến trại tị nạn tại Căn Cứ Cát Lái do Người Nhái giữ an ninh. Tôi thấy bao nhiêu cam go phải hứng chịu!. Hai tháng cuối cùng đi liên miên như một “phóng viên chiến trường” mà thôi!
Trung Tá Linh “không rời bỏ đơn vị trước, như một số sĩ quan khác ngay trong BTL-HQ”. Chính vào lúc 10 giờ sáng 30 tháng Tư, Trung Tá Linh còn vì nể tình tôi nhờ cậy, đã đón gia đình Giáo Sư ĐH Luật Khoa, Lê Đình Chi vô phòng làm việc của ông ngồi chờ, hứa sẽ giúp chúng tôi khi thấy có phương tiện. Vài bài báo kể lại sau này rằng có nghe thấy ông “kêu gọi các hạm trưởng không rời bến…”, cho mãi đến khi ông đã định cư ở HK, tôi vẫn “ngại ngần” không dám hỏi: Vì sao thế? !
Trong suốt bao nhiêu năm trong Hải Quân (mãi đến 4 năm sau mất Sài Gòn) tôi mới biết có một người đó là Trung Sĩ Tâm Lý Chiến, Huỳnh Thanh Vân, cũng là tài tử điện ảnh, là cán bộ nằm vùng sau 1975 đã trở thành thủ trưởng phòng Tài Chánh và Ngân Hàng Quận Tân Bình, “cấp bậc ngang hàng tướng lãnh” là dân nằm vùng mà thôi, như lời xác nhận của Trung Úy Tài Chánh Nguyễn Văn Hưng (ở gần nhà Bakerfield-CA, là hàng xóm với Đô Đốc Cang và suôi gia của ông là Chuẩn Tướng Lưỡng- Nhẩy Dù). Còn những tiếng đồn khác về như nhà văn Chu Sinh (Trung Úy Chu Sĩ Lương đơn vị chót BTL-LLThủy Bộ) theo lời Huỳnh Thanh Vân kể, và những người khác ở lại, hoặc không đi được. Gọi họ là “nằm vùng” thì tôi cũng khó tin được và thật là “gieo tiếng ác” không ai hiểu nổi những uẩn khúc chưa được giải thích!.
Đô Đốc Cang, theo sát an ninh vào những giờ cuối cùng. Ông liên lạc với Bộ Tổng Tham Mưu, cũng như Đại Tá TQLC Cổ Tấn Tinh Châu, chỉ huy trưởng Đặc Khu Rừng Sát và Thủy Trình sông Lòng Tảo, Vàm Cỏ – Soài Rạp… để giữ an ninh cho đoàn chiến hạm có khả năng di chuyển trên sông Sài Gòn trong vòng vài giờ ra khơi, cùng hướng về điểm hẹn đặt dưới quyền chỉ huy toàn diện của chính ông, không trở thành mục tiêu của VC sẽ trải dài hai bên bờ sông. Ông Cang là vị tướng đã thu gom quân nhân dưới quyền tập hợp cùng di tản nhẹ nhàng, có tính toán, mà chắc rằng không ai có khả năng điều động quy mô, êm thắm trong tình huống khó khăn và tuyệt vọng như thế!.
“Nếu không có lệnh đầu hàng, và nếu không có “lệnh nào khác” thì một khối lượng lớn tướng lãnh, sĩ quan, quân nhân các quân binh chủng và Hải Quân đã cùng có mặt tại Miền Tây” (?), như chính lời Đô Đốc Cang cho biết như vậy, qua các bài phỏng vấn và tin tức chính thức sau này.
Lực Lượng Đặc Nhiệm 99 cũng là “con đẻ” của ông, một tổ chức cần thiết để giữ an ninh giờ chót cho Sài Gòn. Có lẽ chính vì thế mà nhiều người còn rời Sài Gòn được trong ngày 30-4, như trường hợp nhà thơ Nhất Tuấn, và nhiều người khác còn cơ hội lên được Quân Vận Đỉnh 9604 ra khỏi sông Sài Gòn từ Nhà Bè hoặc Tướng Trung và Tướng Vĩnh Lộc rời Sài Gòn trong khoảng 4 giờ trên sông mà không bị VC bắn từ hai bên bờ sông.
Tới trưa 30-4, những vụ hôi của dọc kho Trịnh Minh Thế và Khánh Hội gây ra những vụ nổ súng và khói lửa trong khi VC vẫn chưa xuất hiện dọc đường như nhiều người lo âu.
6- Hải Quân Ra Khơi
Tư Lệnh HQ Chung Tấn Cang , cũng như Phó Đề Đốc Chí, Đề Đốc Chơn, Đại Tá Tấn–Khối An Ninh HQ đều là những nhân vật quan trọng. Họ không bỏ đi trước bằng máy bay để được an toàn“.
Cựu Đề Đốc Trần Văn Chơn tiếp xúc Julie Phạm-Hoài Hương nghiên cứu luận án của ĐH Berkley- về QLVNCH bị bỏ quên, (ảnh Phạm Quốc Bảo-năm 2000)
Trước đó một ngày, Đề Đốc hồi hưu Trần Văn Chơn “ra Vũng Tầu đón cha mẹ về cùng đi, chờ lên máy bay của Quân Đội HK, nhưng cuối cùng tôi đã quyết định ở lại. Con trai, là hạm trưởng HQ 601, HQ Đại Úy Trần Minh Chánh, cũng từ chối di tản trong chiều tối 29/4, để rồi phải chịu đi tù nhiều năm. Đề Đốc Trần Văn Chơn đã kể lại trong buổi chúng tôi thăm viếng ông cựu Tư Lệnh tại San José năm 2000, cùng hồi tưởng về năm tháng trước 1975, và những ngày cuối cùng tại BTL-HQ)
*
Trong cơn mưa chiều 29, “vài tướng lãnh đã tập trung sẵn trong khu vực Hải Quân để xuống tầu nên có tin đồn hỏa mù là vài ông tướng được lệnh chánh phủ phải “tập trung” tại đây”. Theo một nhân chứng kể lại thì các vị này tự sắp xếp tới tạm lưu trú tại nhà một ông tướng trong khu vực gần BTL Hải Quân gồm có: Trung Tướng Lâm Quang Thi, Lâm Quang Thơ, Nguyễn Bảo Trị, Nguyễn Đức Thắng, Phạm Quốc Thuần, Chuẩn Tướng KQ Nguyễn Đức Khánh… được phó Đề Đốc Chí và hạm trưởng nhanh chóng mời đón lên chiến hạm HQ-2 cùng di tản chiến đấu<. Như sự chứng kiến và giúp cho xuống chiến hạm theo lời kể lại bằng trí nhớ còn đầy cảm xúc của Hạm Trưởng HQ-2, Đinh Mạnh Hùng.
Phó Đề Đốc Lâm Ngươn Tánh vừa rời chức vụ Tư Lệnh Hải Quân tháng trước, ngày đó cũng mới từ xa về, được hướng dẫn xuống Soái Hạm HQ 1, đậu ở vị trí 1 gần sát đường lộ mặt tiền BTL-HQ. Đại Tá Bùi Kim Nguyệt cùng vợ con của ông (khoảng 8 người) và vợ con của Đại Tá Dũ (khoảng 7 người) cũng được hướng dẫn lên chiếc HQ1. Ông Dũ nhà gần ông Tư Lệnh Cang, có hẹn hai người cùng đi vào lúc "Không Giờ". Trong lúc nhiều người chen lấn cũng muốn tìm cách lên tầu. Đại Tá Nguyệt và vợ, các con từng định cư tại Bremerton, rồi đến Seattle mà tôi có dịp gặp gỡ, cùng với Đại Tá Trần Khánh Dũ sau khi đi tù 13 năm tôi cũng được gặp nhiều lần hàn huyên chuyện cũ khi ông sống ở SW Seattle.
Ở vị trí số 2 cặp chính giữa là HQ 3 -Phạm Ngũ Lão, Ngoài cùng vị trí số 3 là HQ 2 -Trần Quang Khải do HQ Trung Tá Đinh Mạnh Hùng là Hạm Trưởng kể lại: "kế hoạch rời bến của Ông Số 1” “vào giờ Zéro”. Có các chiến hạm khác kể cả các chiến hạm PCF trong nhóm tầu của Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh chỉ huy đã rời bến sớm vào khoảng 6 giờ chiều. Mỗi khi có một chiến hạm tách bến lại có vài người trên bờ nổ súng… Và nhiều trực thăng bay lượn xa gần vòng quanh Bộ Tư Lệnh càng lúc càng nhiều như muốn được nhảy xuống nước để được HQ vớt.
“Hải Quân ra đi không chỉ mang theo Hải Quân và gia đình của họ mà còn các quân nhân các cấp, mọi Quân, Binh Chủng và cả thường dân nữa“. Trung Úy Y Sĩ SĐ 3 Bộ Binh, Phạm Anh Dũng cũng là một nhạc sĩ bày tỏ chân tình như “một lời tri ân” không thể quên đối với một Quân Chủng đã hoàn tất một sứ mệnh vì dân. “Tôi và Minh Hà, vợ mới cưới hai tuần thôi… như có Đức Mẹ hay Phật Quan Âm dẫn đường dắt tay chúng tôi cùng ra Bến Bạch Đằng, chạy loạn có nhau, vào lúc nửa đêm- lúc ấy một khoảng rào kẽm gai ở lối vào bỗng nhiên mở ra đủ để 3 người lọt vào.
Trong khi có hàng ngàn người nối đuôi nhau để qua khỏi rào kẽm gai tiến đến lên tầu mà không được. Một may mắn khó hiểu rõ ràng người phụ nữ nắm tay kéo chúng tôi vượt qua rào ra phía sau HQ 1 (nơi không có cầu thang lên tàu mà chỉ có dây kéo)… Rồi ngay tức khắc vợ tôi được kéo dây lên tầu, rồi đến lượt tôi. Nhưng người phụ nữ dắt tay chúng tôi lên tầu đã đi khuất. Chỉ đúng 2 phút ngay sau đó, tầu HQ-1 chặt dây, tiến máy xa bờ không còn ai lên được nữa… Nhờ tầu Hải Quân rất nhiều người không phải Hải Quân như tôi, cũng được… ra đi“.
Sau này một bạn thân cũ của Hạm Trưởng Bá (khoá 11 HQ) kể lại: “HQ 801 rời bến khi gia đình thân thích của hạm trưởng đã có chỗ, dù tầu càng lúc càng đông nghẹt… Chẳng bao lâu thì hạm trưởng xuống tầu, cho lệnh khởi hành. Tầu ra đi từ HQCX đi qua trước BTL, rồi tôi nhìn lại nơi tầng thượng của Majestic, nhớ hồi Tết Mậu Thân Hải Quân đã chận đứng được toán 12 đặc công, tôi và nhiều chiến sĩ HQ phải canh gác phòng thủ kéo dài trên 6 tháng… Tại mặt lộ, sát mặt đường nhìn ra bờ sông là quán ăn vỉa hè CaRic, nơi mà anh em Hải quân từ BTL rất quen và thích các món thịt nguội và lade..“..
Éo le trong chuyến hải hành cuối cùng Soái Hạm-(HQ 1) lại bị mắc cạn… ở góc “cua” chữ L theo lời Đại Tá Viên và con trai của Đại Tá Dũ cũng có mặt ở trên HQ1 kể lại .
Cũng phải mất đến 4 giờ đồng hồ để HQ-1 được tầu HQ-801 kéo khỏi mắc cạn, và Đại Tá Phan Phi Phụng được cử làm Hạm Trưởng và để chuyển một số người sang HQ-801. Sĩ quan hiện diện trên tầu HQ-801, đứng ra phụ trách việc khó khăn kéo tầu HQ-1 ra khỏi chỗ cạn là Đại Tá Hải Quân Bùi Cửu Viên, Chỉ Huy Trưởng TTHL/HQ Cam Ranh, vì ông là người có nhiều kinh nghiệm về loại tầu 800…
Sau vài ngày đoàn Tầu ra đến điểm tập trung ở Côn Sơn đúng như kế hoạch của Tư Lệnh Cang, trong lúc Tư Lệnh tái phối trí Đoàn Hạm Đội, về Miền Tây như kế hoạch để tái hoạt động. Không rõ sẽ chọn là Côn Sơn hay Đảo TaMátSu (nơi Vua Gia Long từng ẩn trú trước khi về chiếm cứ lại Đất Liền). Đó là kế hoạch mật không được Tư Lệnh công bố. Tuy nhiên chiếc tầu nào không khiển dụng thì được đánh chìm, để thành lập một đội ngũ Hạm Đội. Lúc này xảy ra những trục trặc làm vỡ một phần kế hoạch vì đón người từ Năm Căn từ Phú Quốc của Trung Tá Nhượng không thi hành đúng lệnh!
Vì Thủy Thủ Đoàn HQ 801 có nhóm người muốn về, trong đó có Hạm Trưởng Nguyễn Phú Bá (vì nội bộ gia đình) cũng xin được rời bỏ Hạm Đội Di Tản trở về đất liền trên Tầu Dầu HQ 472, hướng về tới Vũng Tầu. Ở Côn Sơn trong những ngày đầu tháng 5-75, “Bộ Tư Lệnh HQ- Ngoài Khơi” do Tư Lệnh Cang đã chỉ định Đại Tá Bùi Cửu Viên làm hạm trưởng HQ 801 từ đó.. Lúc ấy tầu phải lo ngày 2 bữa cơm cho khoảng 2,000 đầu người, trong số này có cha Cao Văn Luận Cha Chu Quang Minh (nghe nói có thể có 2 vị tướng nhưng không xuất hiện). Vì lo ngại Hạm Trưởng Bá-sẽ mang HQ 801 bỏ Đoàn Hạm Đội quay về, khiến nhiều người vội nhẩy sang HQ 9, trong số này có cả Trung Úy ca sĩ Vũ Trọng Thanh (BĐ-CTCT-HQ), sau này đến Hoa Kỳ, có con gái nối nghiệp là ca sĩ Thùy Hương-Trung Tâm Asia. HQ 801 tiếp tục hải trình “thuận buồm xuôi gió” từ khi có Hạm Trưởng Bùi Cửu Viên chỉ huy…
Khi chiến hạm rời bến, người ta nhìn thấy ngọn lửa đang bốc cao từ Kho Đạn Thành Tuy Hạ và Kho Xăng Nhà Bè. Mặc dù trước đó cũng có nhiều người rời Sài Gòn từ khu vực Quân Cảng vùng Cát Lái hướng về Phú Quốc. Trong lúc này Phi Trường Tân Sơn Nhất và Bộ Tư Lệnh Không Quân đã là trọng điểm của những đợt pháo kích, nhiều cấp tướng và cấp tá đã cho biết họ không còn tìm được máy bay để rời Sài Gòn. Hình ảnh Bộ Tư Lệnh Hải Quân và sông Sài Gòn bị pháo kích cũng trong tầm tiên liệu và lo âu như ở phi trường, nhưng làn sóng người vẫn kéo về thật đông.
Sáng sớm ngày 30 tháng 4, tuân lệnh từ nội các chính phủ, HQ Trung Tá Lê Như Linh cho phát ra lời kêu gọi “các chiến hạm đừng rời bến” mà một số hạm trưởng, sĩ quan nghe được trên hệ thống truyền tin nội bộ. Riêng HQ Đại Tá Nguyễn Văn Tấn, quyền Tư Lệnh BTL/HQ kể lại với tôi sau này” sau khi đi họp với Tướng Vĩnh Lộc từ 7 giờ 30 sáng, có cả ông Vanuxem cựu tướng lãnh Pháp trong buổi họp này. Tướng Vĩnh Lộc đã ra lệnh Hải Quân phải cung cấp chiến hạm cho ông“. Trở về BTL/HQ ngay sau đó, Đại Tá Tấn đã ra lệnh cho Sĩ Quan Báo Chí, và phóng viên Võ Hà Anh (người xướng ngôn viên của chương trình Phát Thanh Hải Quân) viết các lời kêu gọi của Tư Lệnh HQ “ban hành lệnh cho anh em chiến sĩ tiếp tục giữ vững tay súng” mà không đi đâu cả“. Sĩ Quan Báo Chí cũng như phóng viên HQ lúc ấy cả hai người không ai viết hoặc đọc lời kêu gọi này.
Cựu Trưởng khối CTCT BTL-Hải Quân là Đại Tá Trần Văn Triết “đã rời nhiệm sở, trước đó đã nắm quyền kiểm soát, cho phép từng người xuống chiến hạm“. Cũng vẫn theo lời Tướng Chí và Hạm Trưởng Hùng cho biết: “ông Triết đã rời bến nhanh chóng và có mặt ở Phi đầu tiên, mà không đi theo 3 phân đội di tản của HQVN…”.
Cho đến lúc bấy giờ, tôi vẫn còn vào nơi phòng làm việc ở Bộ Tư Lệnh HQ không còn ai ngồi tại chỗ làm nữa, phòng nào cũng trống-vắng người, tôi còn trông thấy HQ Thiếu Tá Trần Bá Hạnh, còn ra vào văn phòng làm việc, chuyện trò với anh em đoàn viên, nét mặt trầm tĩnh. Lúc ấy bước vào Tiểu Ban Điện Ảnh, tôi nghe bản tin đặc biệt qua radio lặp đi, lặp lại cách 5-10 phút, loan tin: “tân nội các Vũ Văn Mẫu đòi trục xuất cơ quan DAO và lực lượng Hoa Kỳ..”
Anh em làm ở BTL-HQ đều biết “Thực sự Tướng Cang, là người lâu nay có uy thế liên lạc chặt chẽ với Bộ Tổng Tham Mưu, với Dinh Độc Lập, với cả ông Thiệu… Ông nổi danh từ khi tham gia đảo chánh 1-11-63 thành công, ông rất ít nói… vài người rất thân cận như Ông Diệp Quang Thủy, Đại Tá Bùi Kim Nguyệt, Đại Tá Trần Khánh Dũ, là những người sát cánh từ thời đảo chánh, cho đến chiến thắng bảo vệ Bộ Tư Lệnh HQ khi triệt hạ được 12 đặc công vào trận tấn công Mậu Thân… Gần cuối tháng Tư, ông Cang để cho Phó Đề Đốc Diệp Quang Thủy có HQ Thiếu Tá Phước (Tacoma-WA) đi cùng, thay mặt ông là “con thoi” với ông Dương Văn Minh khi cần..”. Thiếu Tá Phước đã kể lại sau này.
Các chức vụ quan trọng kề cận Tư Lệnh Chung Tấn Cang như: Phó Đề Đốc Nguyễn Hữu Chí, Tư Lệnh Hành Quân Lưu Động Biển; HQ Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn, Tư Lệnh Hạm Đội; HQ Đại Tá Đỗ Kiểm, Tham Mưu Phó Hành Quân BTL-HQ; Đại Tá Luân, Chỉ Huy Trưởng Khối Tiếp Vận; Đại Tá Phạm Mạnh Khuê-tân Tham Mưu Trưởng Hành Quân Biển, thế chỗ Đại Tá Sơn vào ngày chót; Phó Đề Đốc Diệp Quang Thủy, Tham Mưu Trưởng Hải Quân; Phó Đề Đốc Đinh Mạnh Hùng, Tư Lệnh Hành Quân Lưu Động Sông; Đại Tá Dõng, Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Nhiệm 99. Những cách biệt cá nhân không còn nữa, cuộc di tản mang họ lại gần nhau.
Riêng trường hợp cá nhân tôi, chỉ là một sĩ quan rất trẻ, phục vụ trong lãnh vực Thông Tin. Tôi là sĩ quan trưởng Tiểu Ban Báo Chí, trong ban còn có ba Thượng Sĩ-Phóng Viên Báo Chí Hải Quân và một Thượng Sĩ-Báo chí (được tu nghiệp từ Hoa Kỳ) nhưng không phải là phóng viên chiến trường. Tiểu Ban Báo Chí còn có hai đoàn viên và hai nữ nhân viên dân chính. Chúng tôi thuộc Ban Thông Tin BTL/HQ do HQ Trung Úy Nguyễn Tất Ứng là Trường Ban Thông Tin. Ngoài ra còn có hai tiểu ban khác nữa, một người bạn cấp bậc Trung Úy là trưởng Tiểu Ban Ấn Loát Hội Họa, có “Thượng Sĩ Tư Cầu” là phụ tá và Vũ Thái Hòa cũng là nhạc sĩ kiêm họa sĩ trong Ban Ấn-Họa, trong ban này có một đoàn viên tên Hào (cùng định cư tại WA) có người anh là nhà văn Đào Vũ Anh Hùng bên KQ. Trung Úy Chương An Hòa là trưởng Tiểu Ban Điện Ảnh, với phụ tá là Thượng Sĩ Dũng chuyên lo về hình chụp, quay phim (rất gần gũi trực tiếp với các vị tư lệnh), tiểu ban này còn có vài đoàn viên phụ tá.
Tôi muốn nhắc đến một chút về sự quan tâm chọn sĩ quan về làm ngành thông tin báo chí, mà Nguyễn Tất Ứng là một thí dụ. Trước 1968, Ứng quen biết và hoạt động với Cha Hoàng Quỳnh, chỉ qua một buổi gặp gỡ sơ giao giữa linh mục Quỳnh và Tư Lệnh Trần Văn Chơn, khi Cha Quỳnh chỉ vô tư thổ lộ: tôi có một giáo dân cũng là sĩ quan HQ có tinh thần cao tên là Nguyễn Tất Ứng… Không ngờ chẳng bao lâu sau, Tư Lệnh Chơn đã đích thân cho tìm ra Ứng, ban hành lệnh thuyên chuyển Trung Úy Ứng về làm Thông Tin-Báo Chí.
Đó cũng là trường hợp Trần Trọng Thức. Vì tôi là bạn cùng học với Ứng, nên chúng tôi làm việc chung rất hết lòng. Ứng không lên tầu kịp, phải cùng ở “trại Cải Tạo” chung trại với tôi, Hà Thúc Sinh, Nguyễn Văn Khoa, nhạc sĩ Nguyễn Văn Hóa… khi được thả về: người đi theo đường H.O., người chọn vượt biển… Ứng ở trong số những người theo đường vượt biển, đã cùng với vợ mới cưới cùng chìm sâu… trong lòng biển Đông.
Tôi còn nhớ trong những giây phút hoang mang ấy chúng tôi những người bạn thân quen ngoài Ứng, còn có HQ Trung Úy Phạm Vĩnh Xuân (nhà thơ Hà Thúc Sinh), và HQ Đại Úy Đặng Phú Thiệt (ban Nghiên Cứu Kế Hoạch-và ban Tuyên Vận cùng phòng Tâm Lý Chiến) tốt nghiệp từ Đại Học Chiến Tranh Chính Trị được chính Tư Lệnh Chơn “kéo” về phục vụ trong cùng Khối CTCT Hải Quân.
Gần cuối tháng 4-75, Đặng Phú Thiệt cũng từng bàn với tôi “Mình chiếm một tầu loại nhỏ càng sớm càng tốt rời Sài Gòn ra đi khi bị bỏ rơi..”,. Thân hơn nữa, tôi còn có HQ Trung Tá Trịnh Tiến Hùng, ông cũng là “sát cánh” của Đại Tá Sơn. Sau khi lo cho người thân và nhân viên thuộc cấp, chính ông cũng muốn giúp tôi mang gia đình lên tầu HQ với ông (nếu không có phương tiện di tản nào khác). Sau này tôi được biết ông Hùng thay vì lên Chiến Hạm, đã có phương tiện máy bay đi vào ngày cận chót.
Như phóng viên báo chí Hải Quân-Thượng Sĩ Nguyễn Viết Kim tức nhà văn Người Khăn Trắng, trong ngày 29 tháng 4, nhân việc đi săn tin tức, chở tôi trên chiếc xe Honda đàn ông đỏ của anh, tâm sự với nhau những lời từ giã, vì vợ con anh đã ra Vũng Tầu và chờ ra khơi rồi. Anh đang tìm đường gấp rút ra đi. Chúng tôi nói những lời chia tay từ đó. Trong cơn hỗn loạn ngày 29-4, thế mà tôi còn gặp Nick Út, Lara (ban Báo Chí Gia Long, ở gần Dinh Độc Lập), gặp Đệ, ông Ba Lê, Huỳnh (của các hãng thông tấn Hoa Kỳ)… tất cả đều bối rối… chẳng khác gì tôi.
Như nhà văn Võ Hà Anh, vừa là Thượng Sĩ phóng viên Báo Chí và cũng nổi tiếng thời ấy in nhiều tiểu thuyết tên Dung-Võ Hà Anh, Anh rất chu đáo và tìm xin “giấy” cho anh em “trong phòng” Báo Chí. Chúng tôi, còn có Thượng Sĩ phóng viên Triều Dương, Thượng Sĩ Báo Chí Hà Minh Trung, và cô dân chính Cẩm Vân (học xong năm thứ Tư Công Pháp) để giúp có những giấy tờ lên máy bay đặc biệt do cơ quan DAO cấp “giấy” cho thân nhân người Hoa Kỳ… Vợ chồng nhà văn Dung – Võ Hà Anh, sau vài năm ở lại, lặn lội ngược xuôi rồi cũng định cư tại Pháp.
Như HQ Thiếu Tá Nguyễn Đình Sài, tác giả của vài bài thơ hay, thường cho tôi đọc thời ấy vẫn rất giữ “quân phong quân kỷ” cùng với nhóm sĩ quan BTL-HQ phải vào doanh trại kiểm soát các toán sĩ quan và đoàn viên trực gác canh phòng mỗi đêm cho đến hết những đêm cuối… cho tới giờ lên tầu khuya 29 tháng Tư…
Và chúng tôi vẫn gặp bạn cũ, HQ Đại Úy Lê Rĩnh, sĩ quan tùy viên của Phó Đề Đốc Đinh Mạnh Hùng (là người chí thiết với Tướng Hoàng Cơ Minh tại vùng Bắc-Mỹ Châu); Nhà thơ Hà Thúc Sinh say mê làm thơ và dịch sách từ đó, là Trung Úy đơn vị Hải Tiếp Vụ trong Hải Quân Công Xưởng. Tuy nhiên Hà Thúc Sinh giống như Võ Hà Anh, Nguyễn Tất Ứng và trường hợp của nhiều người khác, họ cũng không liên lạc được với máy bay của DAO, (dù có chủ đích) nhưng với con số người quân đội cần bốc khỏi Sài Gòn ngày càng tăng, nhiều quân nhân và giới chức Hoa Kỳ vẫn chưa kịp lên máy bay rời Sài Gòn được…
Và dù biết danh sách các địa điểm trực thăng đón và có danh sách được đón đi, tôi cũng chẳng màng “đi qua điểm hẹn, hoặc chờ nghe bài hát White Christmas sẽ phát trên làn sóng phát thanh quân đội Hoa Kỳ”, được cho biết mật từ một tuần trước.. như phóng viên báo chí Thượng Sĩ Võ Hà Anh đã căn dặn, như lời dặn của một cô dân chính (thông dịch viên tại Phòng 2 thuộc Khối Hành Quân) có uy tín và tiếng nói với Phó Đề Đốc Nguyễn Hữu Chí. HQ Đại Úy T. trước từng ở Phòng Hai trước năm 1970, vào khoảng 9 tới 10 giờ sáng 30 tháng 4 trở lại nhìn lại Phòng Hai “vô BTL coi thế nào” theo yêu cầu của Phó Đề Đốc Nghiêm Văn Phú đang đợi ngoài ngã ba sông Vàm Cỏ thật rộng bắt kịp đoàn chiến hạm từ trưa 30, trong khi vợ con đã theo đoàn tầu ra khơi từ khuya 29-4. Đại Úy T lái Giang Tốc Đỉnh PBR, về đậu ngay bờ vách trước BTL-HQ. Ông T thú nhận tôi về BTL-HQ chỉ để từ giã chốn làm việc năm xưa.. “lúc ấy tôi chỉ gặp Đại Úy Tạo đang đứng kiểm soát cổng BTL-HQ“, vì là bạn thân thiết Tạo cho Đại Úy T. biết “theo lệnh nghiêm ngặt của Đại Tá Tấn “nắm quyền” Tư Lệnh HQ, ra lệnh không cho ai vô Cao Ốc Mới” nơi có Phòng Hai, nhưng Đại Úy T (**) đã ngậm ngùi trở về, nhìn lại Phòng Hai trong những giờ phút cuối cùng của quân chủng rồi vội vã xuống PBR trước giờ Đại Tướng Minh lên tiếng trên radio khoảng một giờ…
Tôi không còn gặp một bạn hữu hoặc nhân viên nào của Phòng Thông-Tin Báo Chí nữa, mỗi người tán loạn mỗi nơi, như phóng viên Hải Quân-Triều Dương, Nguyễn Tất Ứng, Thượng sĩ-Báo Chí, Hà Minh Trung, Dân Chính Cẩm Vân (nhân viên Dân Chính bị cho nghỉ việc vài ngày trước vì lý do ngân sách Quốc Phòng không còn để trả lương dân chính)…
Đêm 29–4, vào lúc đi đi về về liên lạc người thân trong gia đình nên cũng chẳng biết đã có lệnh “giải tán”. Tại Bộ Tư Lệnh, chỉ thấy vào chiều tối, sĩ quan và đoàn viên họ gọi nhau ơi ới, mở lối đi về hướng cầu tầu cho quân nhân “Xuống tầu đi kìa, gấp lên tầu rời bến đêm nay...” Chiếc TV được mang ra đặt giữa cổng ra vào từ đêm 21-4, ông Thiệu đọc diễn văn từ chức vẫn chớp hình mà không ai muốn nhìn. Không gian đến rợn người, tôi lại rời BTL, lái xe về nhà với ý định mang gia đình vội vàng xuống chiến hạm ra đi theo bạn bè, đồng đội. Có tin nói rằng dù Bộ Tư Lệnh HQ đã “giải tán” từ 2 giờ chiều, “nhưng quá nửa khuya vị Tư Lệnh Hải Quân mới thực sự cùng trên sông nước hòa mình trong Nhiệm Sở Hải Hành”… theo lời kể lại sau này
7- Chi Tiết Di Tản Của Hải Quân Và Ông Armitage
Lúc này có một sĩ quan liên lạc cấp tốc từ Hoa Thịnh Đốn cử tới là cựu Thiếu Tá Richard Armitage, cấp tốc đến VN cùng với Thứ Trưởng Quốc Phòng đặc trách về Không Quân, Armitage về Hải Quân trong kế hoạch thu gom chiến cụ và nhân viên HK. Sau này về Mỹ ( thời TT Bush Jr. và Bộ Trưởng Powell ông là thứ trưởng Bộ Ngọai Giao), ông vẫn giao tiếp với thân hữu “người Việt tị nạn”. Đề Đốc Trần Văn Chơn lại có cái nhìn khác, ông nói: “Ai đó đánh bóng tên tuổi ông ta- kệ họ, Armitage chỉ là một sĩ quan liên lạc với Đoàn Chiến Hạm HQVN… không hơn không kém!” Trong khi bản tin tức từ Chiến Hạm USS Kirk viết rằng “Armitage góp công lớn trong việc cho quân nhân và người tị nạn tạm cư tại Phi” trái ngược với lời phát biểu và nhận xét của Đề Đốc Chơn rằng, khi chính quyền Phi ngăn cản, ông đã can thiệp và thuyết phục để Phi Luật Tân dành cho người tị nạn thiện cảm và đón nhận“.
Ai cũng có thể hiểu Armitage đã đóng vai trò theo dõi, đôn đốc cuộc “Di Tản- Lui Binh” êm thắm và “bí ẩn” từ ý muốn của chánh phủ Hoa Kỳ chứ không “đơn giản như mình thấy” qua “phê phán” và “phát biểu” của Đề Đốc Chơn và Tư Lệnh Chung Tấn Cang.
Chính vậy Phó Đô Đốc Cang từng cho biết: “ông Armitage cũng không làm điều gì to tát và không “tỏ lộ” là “người” có quyền chỉ huy trong cuộc di tản như chúng ta lo ngại”… khi nhắc tới vai trò sĩ quan Hoa Kỳ này.
Đối với chính phủ Hoa Kỳ, có thể ông Armitage lãnh trách vụ trong chiến dịch mang về quân nhân, viên chức Hoa Kỳ và “chiến cụ chiến lược”, liên quan đến Hải Quân Mỹ, hoặc gì tàng trữ bí mật còn sót lại. Toàn thể quân nhân HK tại Sài Gòn lúc ấy chỉ còn khoảng 900 người và chánh phủ HK quan tâm nhất, cần mang ra khỏi VN an toàn càng sớm càng tốt. Và chính ông Armitage “được xem là kề cận nhất với Tư Lệnh HQ cho đến quá nửa đêm 29-4” cho đến khi nhập đoàn Hạm Đội…
Riêng Phó Đề Đốc Đinh Mạnh Hùng kể lại: “tôi đã hướng dẫn sĩ quan liên lạc HK, Armitage thăm quan sát vùng cầu Bình Lợi, quan sát khu Quân Cảng và HQCX sau đó đi xuống Chiến Hạm HQ 3 rồi chuyển qua HQ 5, và sau đó đón Tướng Cang và Tướng Diệp Quang Thủy từ một Tiểu Đỉnh lên Soái Hạm, thay vì xuống chiến hạm từ Bộ Tư Lệnh như bao nhiêu người khác để bảo mật vì đã có sự chen lấn ở Bến Tầu“.
8- Ai Là Quyền Tư Lệnh Cuối Cùng Trên Đất Liền?
Chiều hôm 29-4-75, Nhóm Báo Chí Hải Quân nhận lệnh theo dõi các diễn biến đi họp tại Tổng Tham Mưu, như lời kêu gọi. Khuya 29 và rạng sáng ngày 30 tháng 4 lại được lệnh từ Đại Tá Tấn, vai trò của nhân vật số 1 của HQ; Đại Tá Tấn cũng mời Phó Đề Đốc Đặng Cao Thăng từ Miền Tây về cùng ông chỉ huy, Tướng Thăng nói: “Chờ tôi lấy trực thăng và sẽ có mặt tại BTL.” Và đến gần trưa 30 tháng 4 vài giờ trước khi Tổng Thống Minh chính thức đọc lời đầu hàng lại có sự “xuất hiện” của Đại Tá Trịnh Xuân Phong, Đại Tá Trần Bình Phú, Trưởng Khối Nhân Viên Bộ Tư Lệnh được Tư Lệnh Cang (hay ông Tấn) chuyển lại quyền chính thức ra mặt, ở lại kiểm soát, chỉ huy Hải Quân?.
Nhiều người gọi ông Đại Tá Tấn là Tư Lệnh cuối tháng Tư, và ông cũng ra lệnh cho vài hạm trưởng trong ngày 29-4- “nhân danh Tư Lệnh” (dù không nói rõ Tư Lệnh tên gì), nhưng không xác định Tư Lệnh là chính ông hay không? Người ta thấy trong ngày 29 tháng Tư, ông Tấn trong quân phục đại lễ HQ, có hai xe Jeep Quân Cảnh hộ tống vào Bộ Tư Lệnh HQ.
Người ta tin rằng Đại Tá Tấn đã được Tổng Thống Dương Văn Minh bổ nhậm bằng khẩu lệnh ngay sau khi biết ý định của Tư Lệnh Hải Quân Chung Tấn Cang xin có kế hoạch di tản. Tổng Thống Minh nói, “Các anh cứ việc đi và cho mang theo hai người thân cũng là sĩ quan cao cấp VNCH”, đồng thời từ chối lên một chiến hạm chuẩn bị chu đáo “dành riêng để nghinh đón Nội Các và di tản các giới lãnh đạo quốc gia”.
Sau 16 năm tù “cải tạo” cay đắng nhục nhằn, xin đi Hoa Kỳ tị nạn, Đại Tá Tấn cho biết có ý định định cư tại thành phố Seattle cùng với Đại Tá Dũ (Cơ Khí), sau đó ông Tấn chuyển về Cali. Khi liên lạc lại được nhau tại Hoa Kỳ, khi tôi hỏi ông: “Đại Tá có phải là quyền Tư Lệnh ngày 30-4 không?” Đại Tá Tấn “giữ thái độ yên lặng với quá khứ- trải qua 16 năm tù khổ nhục mà…!” và ông đã xác nhận vai trò của ông vào “chỉ huy giờ phút chót trong nỗ lực tuyệt vọng này là đúng“. Sau vài lần trò chuyện qua điện thoại, ông Tấn cho biết ông không có dịp giao tiếp trong cộng đồng nhiều…
Bấy giờ nhiều cánh quân VC đã vào tới Sài Gòn, xe tăng T-54 đã nghiến lòng đường phố Sài Gòn tới góc đường Đinh Tiên Hoàng, Hiền Vương, Hai Bà Trưng và nhiều nơi khác. Mặt khác đoàn quân CS Bắc Việt cũng trên đường tiến qua khỏi cổng sắt Dinh Độc Lập đã mở rộng… (họ đến chính xác vào giờ giấc, đã thoả thuận với giới chức Tòa Đại Sứ HK) và họ đến đòi chánh phủ VNCH phải đầu hàng.
Vài giờ trước đó, HQ Đại Tá Trần Bình Phú, Trưởng Khối Nhân Viên BTL-HQ cũng được các sĩ quan tham mưu và nhân viên có mặt lúc ấy xác nhận ông là người “ra mặt” chỉ huy tại Bộ Tư Lệnh HQ. HQ Trung uý Đỗ Anh Tuấn em vợ của Đại Tá Trần Bình Phú cùng với HQ Trung Tá Phan Ngọc Xuân chỉ huy trưởng Tổng Hành Dinh BTL/HQ tiếp tục cầm súng chỉ huy những vị này và vài sĩ quan, hạ sĩ quan thuộc Khối An Ninh đi theo Đại Tá Tấn là những người cuối cùng tôi gặp và từ giã ở vòng vây rào kẽm gai chằng chịt cản lối ra vào.
9- BTL/HQ Bỏ Ngỏ Từ Lúc Tổng Thống qua Đài Phát Thanh, ban hành lệnh Buông Súng- Chờ Bàn Giao
Giờ phút ấy tôi không nghĩ được: phải làm gì, bỏ chạy ra xe về đón gia đình xuống tàu hay loanh quanh vài điểm nào có Trực Thăng “đón”? Không hiểu tại sao giờ phút đó chúng tôi còn đủ bình tĩnh, không sợ pháo kích và T-54 càn nát người và tiến vào vòng rào Hải Quân không chừng. Một trong những người may mắn cuối do ân huệ của Trung Tá Xuân (Tổng Hành Dinh) có cơ hội lên tàu ngày cuối cùng tại Bến Bạch Đằng đó là nhà thơ Du Tử Lê (là đại úy phòng Báo Chí-Tâm Lý Chiến).
Trong giờ phút căng thẳng tôi nghe theo lời yêu cầu của người bạn, chỉ biết Trung Úy Đỗ Anh Tuấn là người bạn tình nguyện trong “Công Tác Y Tế Xã Hội” (COMITA) ở trường Taberd có cả Thiếu Tá Y Sĩ Trần Đức Tường -SĐ Nhẩy Dù. Tuấn nói tôi giúp anh, đứng cùng trong đội ngũ bảo vệ cuối cùng ở Bộ Tư Lệnh dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Phú. Tôi làm theo yêu cầu, cho đến khi biết rằng: Thật sự tuyệt vọng rồi, như lời anh Đệ thông tấn viên truyền hình ABC, anh Nick Út của hãng thông tấn AP, hai anh hôm trước đến chia tay tôi tại BTL/HQ và muốn rủ cô em Bình Minh cùng theo anh lên máy bay Hoa Kỳ. Họ đưa tôi bản tin từ tờ New York Times từ ngày 24-4-75 viết về sự thất thủ đã là sự thực không chối cãi được khi viện trợ Hoa Kỳ cho VNCH đã bị ngưng. Chấm dứt bao nhiêu năm sát cánh: với 58,000 người lính Hoa Kỳ tử vong có lúc quân số lính Mỹ ở VN lên tới trên nửa triệu người, cũng như tổng cộng gần 200 tỷ đô la đã tiêu pha cho cuộc chiến tranh VN, với khoảng 500 triệu cho tài khoá năm cuối. Thế mà bản tin những ngày cuối cùng tôi nghe được qua radio cho biết “viện trợ của HK sẽ không bằng hiện kim mà viện trợ bằng thuốc lá-(bán ra tính thành tiền?) dự trù cho tài khoá sau 1975 cũng bị cắt đứt. Hải Quân lúc ấy có quân số trên 40 ngàn chiến sĩ… nhưng viện trợ nay thực sự bị cắt ngang rồi!
“Hãy rời Sài Gòn ngay hôm nay đi – không thể là ngày mai!”. Phóng viên AP, Nick Út, và Đệ của Hệ thống Truyền hình Hoa Kỳ ABC và ông phóng viên Ba Lê của Truyền Hình Nhật NHK (mà trước đó hầu như chúng tôi gặp nhau… rất thường xuyên)cùng nói như vậy. “Đừng để quá muộn!”
Cũng vào gần buổi trưa, Trung Tướng Vĩnh Lộc rời Bộ TTM và Trung Tướng Trần Văn Trung cũng đi vào Bến Bạch Đằng tìm gặp Đại Tá Tấn tìm tầu ra đi như họ đã hẹn nhau trước?. Lúc này thì công trường Bạch Đằng cũng vẫn còn nhiều người chen lấn. Trước đó một giờ, Tiến Sĩ Lê Đình Chi, cùng với gia đình ông có Lê Đình Cẩm, Nguyễn Hữu Phúc (Puyallup-WA), Huyên (Pháp)… là những người thân cũ trên một chiếc xe van đến cổng BTL kiếm chúng tôi tìm đường ra đi, họ gặp được tôi, may mắn nhưng cũng đang vô cùng bối rối, may mắn gặp được Trung Tá Linh chờ cùng đi với họ trên bất cứ chiếc tầu nào đó, nếu giờ phút “thua trận” lệnh- tan hàng xảy đến.
Về sự kiện rời Bến Bạch Đằng trưa ngày 30-4, HQ Thiếu Tá Tuần Giang Trần Thiện Hiệp sau này khi gặp nhau, thường kể lại: “Trong một may mắn bất ngờ sau khi chờ đợi được đi theo cựu Tư Lệnh Trần Văn Chơn, biết ý định của ông Chơn, Hiệp đã nhẩy xuống chiếc LCM Giang Cảnh đậu gần HQCX, nhờ vậy mà có cơ hội mang theo được hai vị tướng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vào giờ chót“. Tướng Trần Văn Trung và Tướng Vĩnh Lộc lúc ấy là Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực đã đến gặp Đại Tá Tấn, báo tin đã có văn thư “tan hàng” của Tổng Thống Minh mà ông có mang theo đây. Trong sự việc này Đại Tá Tấn kể lại với tôi: “Chính tôi đã giúp Tướng Vĩnh Lộc Tổng Tham Mưu Trưởng rời Sài Gòn, đúng vào lúc tướng Nguyễn Hữu Hạnh lên thay quyền“.
Tướng Vĩnh Lộc trước đó cũng đã từng kêu gọi “giữ vững tay súng”; trước đó Tướng Lộc cũng miệt thị Đại Tướng Viên về hành động đào tẩu. “Nhưng vào sáng ngày 30 tháng Tư, Tướng Vĩnh Lộc đã nhờ Trung Uý Hùng (Quân Cảnh) trên xe Jeep Quân Cảnh hộ tống đưa ông tới Đài Phát Thanh Sài Gòn để (ông) gửi đi thêm một thông điệp mới”. Thay vì tới đài phát thanh, Tướng Lộc đã đổi hướng về phía Bến Chương Dương và chia tay.. ở Bộ Tư Lệnh Hải Quân” theo lời Trung úy Hùng chua chát, kể lại với các bạn tù thời đi tù “cải tạo” Suối Máu. Trong khi đó Đại Tá Tấn thì kể rằng “(hai người đã gặp nhau từ sáng sớm khi họp chung ở TTM); rồi đến trưa có biến cố mới- Tướng Vĩnh Lộc đã đến BTL-HQ tìm đường ra đi, cho biết: “đã có giấy tờ chính thức sẽ bàn giao (đầu hàng) của Đại Tướng Dương Văn Minh“.
Vào sáng ngày này, hệ thống vô tuyến liên lạc qua các tần số nội bộ hành quân có rất nhiều lời gọi tha thiết từ máy của các tướng tá, sĩ quan Bộ Binh thiết tha kêu gọi: “Các anh Hải Quân ơi, chờ chúng tôi đi với, hãy cứu lấy chúng tôi vì phi trường Tân Sơn Nhất cũng đã tan nát rồi. Đâu còn ngã nào để tránh CS đâu? – VC đã vào tới. Hải Quân đừng đi vội, kiên nhẫn chờ cứu chúng tôi.” Hạm Trưởng Hùng (HQ-2) kể lại với lòng ngậm ngùi như dao cắt, sau bao năm đã trôi qua…
* * *
Nhưng bấy giờ là trưa 30 tháng Tư – “quá muộn thật rồi”… Các nẻo đường đã rền tiếng xe tăng T-54, qua Lăng Cha Cả, qua cầu Trương Minh Giảng (có chiếc bị bắn lửa bốc cháy cao ngút), T-54 qua Bà Quẹo, có nơi bị Biệt Động Quân và Nhảy Dù chống trả và tiếng đạn pháo kích thi nhau rền vang rất gần, và súng đã cùng với quân phục mũ nón vung vãi chất đống khắp nẻo đường từ BTL/HQ về tới Phú Nhuận nơi tôi đang cư trú tạm để gần với BTL-HQ hơn để tiện xuống tầu…
Khác với Đại Tá Tấn có mặt ngày 30-4, rồi ở lại, rồi… đi tù trên 16 năm, Đại Tá Phú cũng xuất hiện như chớp nhoáng từ sáng đến trưa- ngày 30-4; nhưng Đại Tá Phú cùng Trung Úy Tuấn “đã còn kịp rời Bến Bạch Đằng ra biển lớn ngay vào giờ phút ông Minh đọc lời đầu hàng trên radio”. Tuấn đã kể lại cho tôi nghe sau này, khi biết tin anh đã định cư ở miền Đông Hoa Kỳ với gia đình.
Và giờ phút cuối cùng ấy đã đến, đã xảy ra thật. Nhanh chóng như một chợp mắt. Từ đó radio đã nhiều lần đọc lời kêu gọi buông súng và “bàn giao”.
Thôi thế là hết tất cả, không theo tầu di tản về Miền Tây, không ra Phú Quốc, và cũng không được theo tầu ra khơi đi tị nạn. – Thôi… đành thôi.!
Tôi rời Công Trường Bạch Đằng có tượng đài Đức Thánh Trần uy linh, tay chỉ về hướng biển.
Nơi cổng vào Bộ Tư Lệnh, tôi tìm Tuấn, tìm Trung Tá Linh, tìm gia đình các bạn, tìm Tiến Sĩ Lê Đình Chi, sau đó tôi lái xe lách xe qua những tốp người đang hôi của tại khách sạn và căn cứ Mỹ tại các cao ốc xung quanh Bộ Tư Lệnh Hải Quân, để về nhà đón người thân ra đi.
Tôi về thẳng nhà đón gia đình, trở lại Bến Bạch Đằng và chạy tiếp tới Đặc Khu Rừng Sát (nơi tôi khá rành rọt vùng này) để tìm tàu rời Sài Gòn, thì bến bờ đã trở thành hoang vắng… Vô phương trong lúc tiếng pháo kích nổ vang đây đó.
Lòng cảm thấy như ông Dương Văn Minh đã mở “Lỗ Lù” (*) của chiến hạm đời tôi…. Lúc ấy tôi cảm thấy như đã quá muộn, tôi như lặng lờ chết chìm, chìm dần… khoan thai xuống lòng biển.
Như từ đáy biển sâu, tôi cầu mong cho vài chục chiến hạm và vài chục ngàn quân nhân và dân chúng miền Nam đi thoát được, khai mở ra những đợt thuyền nhân kế tiếp. Nếu họ không tập trung chiến đấu ở Miền Tây được, thì cũng tiếp tục “Khai phá mở mang bờ cõi sơn hà theo bước chân tiền nhân” bằng hình thức “mang Việt Nam ra khơi tới khắp Năm Châu, tận cuối chân trời và trên toàn cõi địa cầu.”
Phạm Kim
(Bài cập nhật Google post:15-4-2011)
Chú thích:
(*) “Lỗ Lù”: Van đắm tàu, dùng để mở cho nước tràn vào để tự đánh chìm tàu
(**) Một số tên họ nhân vật, loại chiến hạm có thể sai chút ít vì ngày tháng qua đã lâu, dựa trên các phỏng vấn một số lời kể có thể khác, trái nghịch nhau của các nhân chứng, và một số tên xin ẩn danh, hoặc chỉ dùng tên viết tắt.
(Hình trên đầu bài) Đô Đốc Chung Tấn Cang, cùng với phu nhân và 2 cháu trong ngày sinh nhật của ông, chụp từ tư gia Reachword-Bakerfield CA, gần nhà HQ Trung Úy Nguyễn Văn Hưng, có góp ý cho bài viết và gửi tặng tấm hình do chính ông chọn để đăng trên báo. Đô Đốc Chung Tấn Cang chỉ huy một cuộc di tản: Hy Vọng về Miền Tây- “Tái Phối Trí Hạm Đội-để còn tiếp tục về chiến đấu”. Điểm tập họp dự trù là Côn Sơn-tuy thực hiện được- Nhưng tất cả dự tính kế tiếp về Miền Tây (không rõ kế hoạch Tư Lệnh Cang-sẽ chọn đảo nào?- Để từ đó tái phối trí trở về… Mọi dự tính đều không êm xuôi- khi Đoàn Chiến Hạm phải bàn giao, “xóa tên” từng chiến hạm trước khi vào lãnh thổ Phi…
Rồi đến “Lễ Hạ Kỳ chung và riêng trên các chiến hạm ” vào trưa ngày 7 tháng 5-75.
“Hy vọng” … không thành!
- See more at: http://www.nvnorthwest.com/2011/04/15/nh%E1%BB%AFng-gi%E1%BB%9D-phut-te-d%E1%BA%A1i-xa-sai-gon-di-t%E1%BA%A3n-v%E1%BB%81-mi%E1%BB%81n-tay-va-hy-v%E1%BB%8Dng/#sthash.xCdt8GmI.dpuf